Kệ - Ấu Sen

Khéo biết bổn lai chẳng ấu sen
Mê thời nói ấu, giác gọi sen
Sen ấu cả hai đều không thật
Vì người tạm nói chuyện ấu sen
(05-2012)
Không Chạy Theo Cảnh Duyên

Không chạy theo cảnh để sinh pháp
Không chạy theo pháp để sinh tâm
Không mê tâm để sinh ngã
Không thủ giữ ngã để bị trói buộc …
…sẽ hết vô minh.
(04-2012)
Khẩu Quyết Lý Gia Đệ Nhị Đao

Như mây bay trên trời
Không đẹp cũng không xấu
Người có trí hãy tìm
Cái đẹp, trong cái đẹp.
Vì lợi ích muôn loài
Vì an vui tứ chúng
Vì sanh tử chẳng thật
Nên mây cũng không thật.
Không thật nhưng có vui
Thường cho nhiều lợi ích
Nơi không thật thành thật
Cái người trí cần tìm ...!!!
(2012)
Bài Tráng Ca Bất Tử

Khi người Tráng Sĩ dứt áo ra đi hề, con Kiền trắc bị ghìm cương không còn cơ hội ngoảnh lại.
Người Tráng Sĩ năm xưa chán cái vui hề, chán đến kẽ tóc chân tơ.
Anh lên tận non cao nơi không có tiếng khóc và tiếng cười.
Như con chim bay lưng trời, như con cá lội giữa ngàn khơi.
Và ở đó anh nghiệm ra, đây không phải ước mơ của một thời trai tráng.
Anh mơ một ngày, một ngày của người đi tìm chân lý mong đâu là ánh sáng.
Ánh sáng cuối đường hầm, anh kiêu hãnh bước đi…
Chân lý đưa đến những hột mè qua ngày đoạn tháng!
Chân lý xô đẩy bằng cái kham khổ, sáu năm tóc rụng da nhăn.
Bất chợt nhận ra chán cái vui tìm cái khổ như con nai khát nước chạy lung tung.
Chỉ uổng một đời, bỏ cái ngu này tìm cái ngu khác của đêm dài ba cõi...
Lại một lần nữa, người Tráng Sĩ dứt áo ra đi trước mỉa mai khổ hạnh.
Đau đớn tột cùng, đâu là hạnh phúc… giữa trời xanh!
Anh ngồi xuống, bởi cái thân ốm o không thể chở nổi ý chí kiên cường.
Quơ vội nắm cỏ khô bên đường, dựa lưng vào gốc cây đa già, cố thắp lên ngọn đèn trong đêm dài tăm tối...
Người Tráng Sĩ hiểu ra, cái giá phải trả cho một đời người bởi cực đoan từ hai phía.
Bỏ tất cả bên đường, đặt gánh nặng xuống, cây đa già phút chốc hóa thành ánh sáng mặt trời.
Người Tráng Sĩ vui mừng, hết thảy tự tâm này chỉ do ngu mê và lầm lẫn.
Chân lý không đâu xa, không phải thứ ánh sáng ở cuối đường hầm.
Bóng tối và ánh sáng cũng không phải hai mặt đối lập của một vấn đề như ở đời thường hiểu...
Chỉ tại không đèn nên sáng tối nhầm nhau...
Người Tráng Sĩ đã chết từ khi ngồi xuống, đốm lửa được thắp lên.
Con chim thứu từ nay vĩnh viễn không cất tiếng u buồn, con dế hết kêu rên.
Con cá dưới nước hóa thành rồng, trong phút chốc ngỡ ngàng niềm vui òa vỡ...
Người Tráng Sĩ năm xưa hát bài tráng ca trước bạn bè ngày cũ.
Tất cả chắp tay!
Một đời Tráng Sĩ hóa thành bất tử!...
“À ơi! Ấu biến thành sen…
Lời ru còn đó, nghe quen thuở nào…”
(10 giờ 08 phút 21/07/2011)
Tác Giả Lý Tứ − Người Dành 30 Năm Nghiên Cứu Phật Đạo

“Là người có 30 năm nghiên cứu về Phật đạo và viết nhiều tác phẩm được độc giả coi là “cẩm nang tu học Phật đạo”, mới đây, tác giả Lý Tứ tiếp tục cho ra mắt bộ sách cùng chủ đề mang tên Anh lạc luận 1. Phóng viên đã có cuộc trò chuyện cùng tác giả về cuốn sách cũng như xu hướng văn hóa đọc hiện nay trong giới trẻ.
Trong hai năm 2019 − 2020, ông cho xuất bản 4 đầu sách: Vô đối môn, Phật giáo và Thiền, Tâm pháp và Anh lạc luận 1. Ông có thể chia sẻ nét riêng biệt của các tác phẩm?
Về bốn đầu sách đã được cấp phép xuất bản năm 2019-2020, mỗi đầu sách có một số nét riêng và phục vụ cho một số đối tượng chính, nhưng cùng có một mục đích chung, đó là giúp những người hữu duyên có thể tìm thấy an vui trong lao động, học tập cũng như tạo dựng một đời sống thanh thản, nhằm giúp cân bằng giữa vật chất và tinh thần trong cuộc sống.
Cuốn Vô đối môn, tôi viết dưới dạng hỏi đáp. Nhằm phục vụ cho những người bắt đầu tìm hiểu Phật pháp. Vì thế, các câu hỏi đáp trong đó nâng dần từ thấp lên cao, từ dễ đến khó, từ cạn đến sâu!
Cuốn Phật giáo và Thiền, tôi viết dưới dạng giáo trình dạy và học. Nhằm phục vụ cho những người nghiên cứu chuyên sâu về Phật đạo. Cuốn sách này, hệ thống hoá giáo trình dạy và học, giải thích một số khái niệm quan trọng, cũng như giúp người đọc nhận ra thế nào là hệ thống giáo dục của Phật đạo!
Cuốn Tâm pháp, tôi viết dưới dạng tiểu thuyết cổ trang, phần lớn các nhân vật trong dó đều hư cấu. Cuốn sách này dễ đọc, dễ hiểu, mang đậm chất văn chương, nhằm giúp người đọc tiếp cận Phật pháp một cách nhẹ nhàng, có thể ứng dụng Phật đạo trong nhiều hoàn cảnh khác nhau từ đó ham thích văn hoá đọc. Và tôi cũng muốn giới thiệu đến người đọc nghệ thuật khai thị, nghệ thuật dẫn tâm, đây là hai bộ môn nghệ thuật giúp người học mau chóng thành tựu điều mình đang học mà không cần đến kiến thức hàn lâm! Phật giáo gọi hai bộ môn này là “trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”!
Cuốn Anh lạc luận gồm hai tập là hai cuốn sách tổng hợp các bài viết của tôi từ năm 2010 đến 2018. Hai cuốn sách này triển khai rất nhiều chủ đề của Phật đạo, nó giống như một bộ tự điển bách khoa Phật giáo. Người đọc có thể tìm thấy hầu hết các chủ đề Phật pháp trong đó.
Ông nhận định thế nào về văn hoá đọc của giới trẻ hiện nay? Và đặc biệt về “thế giới sách viết về Phật đạo” hiện thời?
Trong những năm gần đây, theo đánh giá chủ quan của tôi, giới trẻ chú trọng nhiều đến văn hoá đọc hơn những năm cuối thế kỉ 20 và thập niên đầu thế kỉ 21. Có lẽ sau những choáng ngợp từ thế giới ảo trên mạng internet, những người trẻ bắt đầu tìm lại các giá trị văn hoá từ thế giới thật đó là sách giấy cùng văn hoá đọc. Hình như hiện nay giới trẻ thích thú và tìm thấy giá trị đích thực của bản thân khi cầm trên tay một cuốn sách bổ ích hơn là mang trên vai một túi xách đựng máy tính giống như hồi cuối thế kỉ 20.
Về “thế giới sách viết về Phật đạo”, theo tôi hiện nay rất đa dạng và phong phú, có lẽ do công nghệ in ấn và chính sách tự do tôn giáo của nhà nước. Tuy nhiên, theo nhận xét chủ quan của mình, phần lớn sách Phật giáo chỉ viết nhiều về văn hoá Phật giáo, dạy người tu thiền, học Phật để trở thành một người có đạo đức... hơn là các loại sách giúp người đọc ứng dụng để thành tựu các cấp học trong Phật đạo như mục tiêu mà Phật đạo đề ra.
Hệ thống giáo dục luôn có những thước đo, barem đánh giá về trình độ, năng lực người đọc. Vậy theo ông, dựa trên tiêu chí đánh giá một người nào đó có thành tựu trong Phật đạo? Và thành tựu ở mức độ nào?
Để đánh giá trình độ, năng lực của người học, Phật đạo có nhiều công cụ đo lường cũng như barem đánh giá. Những tiêu chí đánh giá này đều dựa vào bốn cấp học của Phật đạo là Tứ đế.
Người hoàn thành cấp khổ đế, phải giảm thiểu đến mức thấp nhất hoặc tịch diệt hẳn 8 món khổ nhân sinh như đã trình bày ở câu hỏi số một!
Người hoàn thành cấp học tập đế, phải giảm thiểu đến mức thấp nhất hoặc tịch diệt hẳn bốn món phiền não trụ địa đồng thời muội lược mười kiết sử cũng như thành tựu đạo quả vô lậu (không mê mờ)!
Người hoàn thành cấp học diệt đế, nhất định phải thành tựu đạo quả giải thoát bất động, thấy bổn tâm và bổn tánh, ta quen gọi là “minh tâm kiến tánh”!
Người hoàn thành cấp học đạo đế, phải thấu suốt tất cả các Tam muội môn và Giải thoát môn của Phật đạo, ta quen gọi là thành tựu nhất thiết trí. Người học xong đạo đế trở thành Đẳng Giác Bồ Tát, tức chứng điều Phật chứng, biết điều Phật biết, thấy điều Phật thấy. Do thành tựu những điều đã nêu, người này khi tuyên thuyết về Phật pháp nhất định không còn mắc sai lầm!
Ông có lời nhắn gì với độc giả khi đọc tác phẩm của mình?
Sách Phật giáo dù viết ở dưới bất kì hình thức nào, cũng mang trong nó nội dung của sách giáo khoa. Vì thế, khi đọc sách Phật giáo, ngoài việc tăng trưởng kiến thức, phải biết dùng kiến thức đó để ứng dụng nhuần nhuyễn vào đời sống sau khi tư duy thấu đáo. Chỉ khi nào kiến thức được ứng dụng nhuần nhuyễn vào đời sống thì kiến thức đã học mới có cơ may biến thành trí tuệ!
Cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!
(Báo Gia Đình & Xã Hội; Vân Đài (thực hiện);
Thanh Hà (đưa tin); Ngày đăng: 14/7/2020)
Tác Giả Lý Tứ − “Vô Đối Môn” Là Tác Phẩm Tâm Huyết Được Ấp Ủ 30 Năm

“Vô đối môn” là những câu hỏi được sắp xếp từ dễ đến khó, từ cạn đến sâu... được coi là những gì cơ bản nhất, giúp người tìm hiểu Phật pháp có thể hiểu rõ và định hướng cho bản thân được tác giả Lý Tứ ấp ủ và viết trong 30 năm nghiên cứu.
Cuối tháng 7/2019, tác phẩm Phật giáo “Vô đối môn” của tác giả Lý Tứ ra mắt tại TP.HCM và thu hút hàng trăm Phật tử cả nước về dự buổi ra mắt. “Vô đối môn” được những người tu học nhận xét là một cuốn sách giúp họ tìm được sự thảnh thơi, lợi lạc ngay trong chính cuộc sống của mình. Đó là lý do hàng trăm Phật tử đã về Sài Gòn để kịp tham dự buổi ra mắt của tác giả Lý Tứ − người đã bỏ ra 30 năm nghiên cứu về Phật đạo.
Tác giả Lý Tứ sinh năm 1954, là cán bộ Đại học An Giang đã về hưu. Ông được nhiều Phật tử gọi bằng sự cung kính và thân mật: Thầy Tứ. Sách do HanoiBooks và Nhà xuất bản Dân trí ấn hành. Danviet.vn có cuộc trò chuyện với tác giả Lý Tứ về nhân duyên của tác phẩm “Vô đối môn” vừa xuất bản.
Tác phẩm vô đối môn được trình bày theo hình thức hỏi đáp. Xin hỏi cư sĩ, tại sao ông lại giấu tên người hỏi? Người hỏi có thật không? Việc sắp xếp hàng trăm câu hỏi xoay quanh chủ đề Phật đạo trong ‘Vô đối môn’ liệu đã đủ kiến thức cho Phật tử muốn tìm hiểu sâu về Phật đạo?- Năm 2015, có hai vị khách trẻ là vợ chồng đều là bác sĩ, đi cùng một người học trò đến thăm tôi. Trong lúc nói chuyện, hai vị khách có hỏi tôi một số câu hỏi về Phật pháp, mình trả lời cụ thể từng câu, và hai vị khách rất hài lòng với những gì mình đã trình bày (đó là những câu hỏi nằm ở phần đầu cuốn “Vô đối môn”).
Sau khi hai vị khách ra về, tôi suy nghĩ, tại sao ta không ghi lại những câu hỏi và trả lời về Phật pháp mà mình đã trao đổi với mọi người trong thời gian qua thành một cuốn sách. Nhân duyên “Vô đối môn” ra đời trong hoàn cảnh như thế.
Về việc tại sao không có tên người hỏi, tôi xin trả lời như sau: Các câu hỏi được nêu lên trong sách, không phải xảy ra một lúc, mà nó gồm những mẩu chuyện trải dài trên 20 năm, đến nay có những vị đã qua đời. Sau này khi viết lại, tôi cũng không tiện đến gặp họ để xin phép được nêu tên người hỏi trong sách, vì thế cách tốt nhất là chỉ viết lại câu hỏi và câu trả lời, coi như một đương cơ làm sáng tỏ những khúc mắc trong lòng người tìm hiểu Phật pháp hơn là ai hỏi! Các câu hỏi và trả lời là hoàn toàn có thật!
Hàng trăm câu hỏi xoay quanh chủ đề Phật đạo trong “Vô đối môn” liệu đã đủ kiến thức cho Phật tử muốn tìm hiểu sâu về Phật đạo chưa, thưa ông?- Như mọi người đều biết, Phật đạo như biển lớn, các câu hỏi và trả lời trong “Vô đối môn” chỉ là những giọt nước nhỏ nhoi trong biển lớn ấy, nên bảo rằng các câu hỏi đó đã đủ kiến thức giúp một Phật tử hiểu sâu về Phật đạo là không thoả đáng. Nhưng có thể nói, các câu hỏi và trả lời trong “Vô đối môn” được sắp xếp từ dễ đến khó, từ cạn đến sâu..., được coi là những gì cơ bản nhất, giúp người tìm hiểu Phật pháp có thể hiểu rõ và định hướng cho bản thân các bước đi cần thiết trong từng giai đoạn tu tập!
Một cuốn sách ra đời sẽ gây nhiều tranh cãi. Với “Vô đối môn” là cái tên sách: Cửa Vô đối và thông điệp của cuốn sách: Cửa lớn mở tâm trí. Với 30 năm nghiên cứu Phật đạo, điều gì ông muốn gửi gắm trong lần xuất bản tác phẩm Phật đạo đầu tiên này?- Không riêng gì cuốn “Vô đối môn”, mà theo tôi, bất kì một sản phẩm nào ra đời, việc tranh cãi, đánh giá về sản phẩm ấy là chuyện tự nhiên. Với tôi, “Vô đối môn” cũng chỉ là một sản phẩm, và sản phẩm này tốt hay xấu, có ích hay không… xã hội và người đọc là những vị Thầy thông tuệ, nghiêm khắc, công tâm nhất. Vì thế mọi đánh giá, phán xét về “Vô đối môn” sẽ được kết luận sau cùng bởi độc giả.
Khi viết “Vô đối môn”, tôi chỉ có một tâm niệm, những ai có nhân duyên đọc Vô đối môn, hi vọng sẽ tìm thấy trong đó một chút lợi ích thiết thực từ cuốn sách, trong quá trình tìm hiểu Phật pháp.
Với mục tiêu cho người học đạo là Giác ngộ − Giải thoát − Trí tuệ..., ông có sợ mục tiêu này của mình cao siêu quá không dù ông đã bỏ ra 30 năm nghiên cứu? Ông có thể giải thích cho độc giả hiểu thấu chân lý: Giác ngộ − Giải thoát − Trí tuệ?- Giác ngộ, Giải thoát và Trí tuệ là ba mục tiêu của Phật đạo, chứ không phải của tôi tự đề ra, cho nên Phật đạo còn có tên là Đạo Giác Ngộ, Đạo Giải Thoát và Đạo Trí Tuệ!
Mục tiêu này có cao siêu quá hay không? Xin thưa, không riêng gì Phật đạo, mà bất kì nền giáo dục nào cũng có những mục tiêu của nó, và bổn phận của giáo dục là bằng mọi cách giúp người học hoàn thành các mục tiêu đã đề ra. Theo tôi, việc hoàn thành mục tiêu của giáo dục đề ra không liên hệ đến chuyện cao siêu hay tầm thường, mà nó là kết quả tất yếu của quá trình dạy và học.
Về ba phương châm Giác ngộ − Giải thoát − Trí tuệ, tôi xin tóm tắt ý nghĩa của như sau: Giác ngộ, là thấy biết và thấu suốt điều mình đang học, đang hướng đến; Giải thoát là không còn bị ràng buộc bởi những quan niệm (các pháp) hư vọng từ thân tâm đến thế giới; Trí tuệ là biết cách giúp mình và người thành tựu rốt ráo hai phương châm Giác ngộ và Giải thoát.
Tâm và Pháp là 2 vấn đề ông nhấn mạnh trong cuốn sách. Nếu có thể nói ngắn gọn hơn cho một người học đạo Phật thấu hiểu để vận dụng vào thực tế cuộc sống, ông sẽ tóm tắt 2 ý trên như thế nào?- Phật đạo đề ra 4 nơi chốn mà người tu hành phải giải quyết tận gốc nếu muốn được an vui, đó là Tứ niệm xứ, gồm: Thân niệm xứ, Thọ niệm xứ, Tâm niệm xứ và Pháp niệm xứ.
Trong “Vô đối môn”, tôi chỉ đề cập nhiều đến Tâm niệm xứ và Pháp niệm xứ mà ít đề cập đến hai niệm xứ còn lại, vì trong các mẩu đối thoại mà tôi đã trao đổi, toàn bộ là cư sĩ, phần lớn họ chỉ đề cập đến những khúc mắc trong phạm vi của tâm và pháp, cho nên người đọc chỉ thấy Vô đối môn nói nhiều đến tâm và pháp là lý do như vậy.
Về tâm và pháp tôi xin sơ lược: Chữ Tâm trong Phật đạo nhằm chỉ ra một hiệu ứng mê lầm, khi các giác quan xúc đối với trần cảnh rồi chấp chặt, mê mờ và sinh các quan niệm hư dối từ nơi trần cảnh ấy, để rồi cuối cùng một hiệu ứng tình cảm khởi lên. Ví dụ: Một bức tranh tự thân nó không có ý nghĩa đẹp xấu, nhưng khi ta tiếp cận bức tranh, tuỳ vào góc nhìn, tuỳ vào quan điểm, tình cảm..., ta sẽ thấy bức tranh đó đẹp hay xấu (theo quan điểm riêng của ta).
Nếu ta mê mờ, chấp chặt quan điểm này, trong lòng sẽ sinh các hiệu ứng tình cảm như thương hay ghét bức tranh, thương thì khởi tâm tham (muốn có được), chán ghét thì sẽ sân hận (muốn xa lánh), những hiệu ứng như vậy Phật đạo gọi là tâm hay phàm tâm.
Pháp là đối tượng của ý căn, nó là những nhận thức, quan niệm, khái niệm, quan điểm… Phật đạo chỉ ra rằng, các pháp hay nhận thức, quan niệm, khái niệm như thế không có chân lý, chỉ đúng với nơi này, người này, văn hoá này, không đúng với nơi khác, người khác, văn hoá khác. Vì thế một pháp tự nó không có những tính chất nhất định, không bền chắc vì không đại diện cho chân lí, Phật đạo gọi là không tánh. Nếu ta mê say các quan niệm ấy, sẽ bị các quan niệm ấy trói buộc, làm cho u tối và phát sinh phiền não cũng như các thứ kiết sử là tham, sân…
Về ứng dụng, nếu trong cuộc sống, ta tỉnh táo trước mọi cảnh duyên, không mê mờ để cho tâm và pháp hư vọng chế ngự hay làm chủ bản thân, nhất định trước mọi hoàn cảnh ta không động lay hay bị cám dỗ bởi bất kì việc gì. Từ đó, đời sống sẽ an vui.
Một khi không bị cảnh duyên làm vướng bận trong lòng, không phân tâm bởi những tác động bên ngoài, người ta mới có thể toàn tâm toàn ý cho công việc, lao động hay học tập, nhờ đó sẽ cho ra hiệu quả cao.
Văn − Tư − Tu là điều kiện cần và đủ để nuôi dưỡng con đường của một người tu hành. Không một bậc thầy cao siêu nào có thể dạy được học trò nếu học trò không chịu trải qua con đường rèn luyện trên. Xin ông cho hỏi, Văn − Tư − Tu trong giáo lý ông dạy học trò có khác Phật tử tu học từ các tăng ni trên chùa không?- Bản thân là một Phật tử, thấm nhuần lời dạy của Phật: “Thấy Tăng như thấy Phật”, do đó việc làm, việc dạy, và học của tăng, ni, Phật tử như thế nào, mình không được phép can dự và cũng không được quyền có ý kiến (khi chưa nhận được yêu cầu từ các vị tôn túc). Vì thế, tôi chỉ xin phép trả lời những gì có liên hệ đến mình và bạn bè cùng tu học với nhau.
Theo tôi, Văn: Tiếp nhận kiến thức; Tư: Suy nghĩ thấu đáo kiến thức đã tiếp nhận; Tu: Ứng dụng triệt để những nghĩa lý đã thấu đáo vào thực tiễn cuộc sống.
Ví dụ: Phật dạy “Tham là giềng mối của khổ, phiền não”. Nghe được lời dạy này gọi là Văn. Nghe xong, suy nghĩ thấu đáo ý nghĩa: Vì sao tham là giềng mối của khổ phiền não, vì sao tham lại hiện hữu trong ta, hiện hữu bằng cách gì, làm sao để nó tịch diệt vĩnh viễn… Suy nghĩ như thế gọi là Tư (tức tư duy quan sát, thuật ngữ hay dùng là Thiền tư). Suy nghĩ thấu đáo rồi, ứng dụng triệt để hiểu biết này vào đời sống, đến khi nào tham không còn hiện khởi trong ta gọi là Tu.
Học trò ông rất nhiều tầng lớp, người già nhất năm nay đã 102 tuổi, người trẻ nhất vẫn đang là sinh viên. Người là nông dân, kỹ sư, cán bộ, kinh doanh... nhưng đều theo học ông như một con đường giúp họ thấu hiểu rõ hơn chân lý nhà Phật. Ông có điều gì căn dặn học trò khi học pháp của mình không?- Tôi có bốn phương châm học tập và hành xử thường căn dặn bạn bè của mình: Phải xây dựng thái độ học tập; Phải siêng năng, nỗ lực học tập; Phải nắm vững phương pháp học tập, và thấu đáo những điều mình đã học; Phải biết mang yêu thương và ước mơ đến những nơi xa nhất.
Lời nói đầu ông viết về hình ảnh tráng sĩ là thái tử Tất Đạt Đa trên con đường đi tìm con đường giác ngộ. Ông muốn gửi gắm điều gì trong khúc tráng ca đầy cảm xúc ấy?
- Bài “Tráng Ca” tôi viết với một cảm xúc đặc biệt khi gặp phải một sự việc khó giải quyết, tôi có ghi lại hoàn cảnh ra đời của bài ca ấy trong Chuyên mục Chuyện Bên Lề số 09, được đăng trong Fanpage Lý Tứ.
Khi đưa Bài Tráng Ca Bất Tử vào “Vô đối môn”, tôi muốn gửi gắm đến bản thân và bạn đọc, khi gặp một chuyện khó xử trên đời, hình ảnh đi tìm con đường giác ngộ của thái tử Tất Đạt Đa sẽ cho ta một giải pháp tốt nhất, đó là không giải quyết sự việc theo hướng cực đoan... Vì rằng, giải quyết cực đoan sẽ là con đường đưa mọi thứ đến bế tắc và rời xa chân lý.
Xin cám ơn ông!
Thảo Nguyên
(Tác giả: Thảo Nguyên; Báo Dân Việt; Ngày đăng: 03/08/2019)
Ngã Hành − Hiền Nhân Bất Phàm !!!

Các bạn !!!
Lý Tứ vừa nhận được thư của bằng hữu Ngã Hành...!!! Ha ha ha ha!!! Lần này Lão Lý cao hứng đến tột độ... Đành gác mọi việc, phải viết đôi dòng cho bằng hữu Ngã Hành thôi...!!!
Vài tháng trở lại đây, tự dưng Lão Lý này nghĩ đến bằng hữu thật nhiều (mặc dù chưa từng quen biết)... Ha ha ha ha !!! Nghĩ đến bằng hữu từ những lúc bằng hữu chưa hạ cố đến Lý Gia... Không biết đấy là duyên gì ??? Tất nhiên, sau khi Lão Lý đọc thư và các phản biện của bằng hữu, Lão Lý cũng không từng nghĩ Ngã Hành là người mà mình vẫn thường nghĩ đến...!!! Ai dè !!! Ai dè !!! Ai dè... đấy lại là Ngã Hành bằng hữu...!!!
Trước đây, Lão Lý không biết nhiều về bằng hữu... Chỉ một vài thông tin trái chiều chưa thật sự đáng tin cậy... Nhưng, không hiểu sao Lão vẫn có cảm nhận đặc biệt, đây là một “Hiền Nhân Bất Phàm” chỉ chưa đủ duyên để “buồm căn đúng hướng”...!!! Hy vọng, sau cơn “Phong Luân Bạt Thạch” này... Khúc “Cầm Tiêu Phối Phổ” lại được tấu lên...!!! Ha ha ha ha !!! Hắc Mộc Nhai... Hắc Mộc Nhai... cái tên ấy sao mà trước đây Lão Hủ lại không nghĩ ra là nơi ấy...!!! ???
Lão Lý thay mặt tất cả HĐ Lý Gia, trân trọng ghi nhận thâm tình của bằng hữu... Nhất định một ngày không xa, đích thân Lý Tứ và HĐ Lý Gia sẽ đến Hắc Mộc Nhai để thăm viếng Tổng Đàn và vấn an Giáo Chủ... Nghe đến cà phê ngon là Lão Phu lại “giật giật ngón trỏ” rồi...!!! Ha ha ha ha !!! Lão Phu một đời “áo vải giày rách” quen rồi... chẳng cần xe ngựa rình rang...!!!
Sau đây là thư của bằng hữu Ngã Hành !!!
“NGỎ MỐI THÂM GIAO − HỒI KẾT NGÃ HÀNH VẤN ĐẠO
Gửi Thầy Lý Tứ và Chư Huynh Đệ Lý Gia,
Từ đỉnh Hắc Mộc Nhai đầu non cuối gió, Ngã Hành tôi cẩn bút viết đôi dòng kính gửi.
Kính thưa Thầy Lý Tứ − bậc tôn sư đáng kính, cùng toàn thể chư Huynh Đệ Lý Gia − những bậc hiền giả giữa đời thường.
Hôm nay, tôi viết thư này không phải để chất vấn, cũng không để bắt bẻ thêm một lời nào về kinh điển nữa. Bởi lẽ, những gì cần nói, các vị đã nói quá đủ, quá đầy. Hôm nay, Ngã Hành tôi viết thư này để ngả mũ bái phục.
Thú thật, ban đầu tôi nghĩ Lý Gia cũng chỉ là một nhóm tu học bình thường, nhưng khi 18 vị đồng loạt xuất chiêu, tôi mới thấy mình đã lầm. Đây không phải là những bài trả lời chắp vá, mà là một trận pháp quy mô, lớp lang, đâu ra đó.
Từ ngày giang hồ dậy sóng chuyện luận đạo, Ngã Hành tôi đã từng đọc qua không biết bao nhiêu lời bàn về Phật Pháp. Thế nhưng, chẳng thể ngờ được rằng, đến khi hữu duyên chạm trán với lập luận và tư tưởng của Lý Gia, tôi mới thực sự chấn động.
Giữa cõi đời mênh mông vàng thau lẫn lộn này, vẫn còn đó những ngọn đuốc trí tuệ sáng soi tận bến mê, khiến lòng tôi như tìm thấy được minh triết cổ xưa ẩn giấu trong lớp đá tảng rêu phong.
Mười tám bài hồi đáp của các vị, mỗi người một vẻ, mỗi ý một bầu quang minh rực rỡ. Lập luận của các vị chẳng khác nào gươm báu nơi Ân Tàng Các, càng mài càng sắc, càng ngắm càng thấy sáng trong. Ngã Hành tôi đọc xong, không thể không buông lời cảm thán!
Về chư Huynh Đệ − Tôi thấy ở các vị sự Pháp học, Pháp hành Song Tu, Trí Dũng Kiêm Toàn:
Lý Phương Anh, lập luận nhẹ mà sắc, giọng hòa mà ý cương. Trí tuệ của vị này giống như mũi kiếm có thể chẻ đôi sợi tóc trong bóng đêm. Những lập luận ngắn gọn nhưng sắc lịm, tôi biết ngay đây là bậc có thể nối dài mạch học Phật trong tương lai.
Lý Tự Như có lập luận đĩnh đạc, ý luận chặt chẽ, mạch tư duy trong sáng. Bài hồi đáp của vị này như dòng suối chảy qua tuyết tan − trong, vững, khoáng đạt. Không chỉ trả lời câu hỏi, mà còn làm sáng rõ vấn đề bằng những ví dụ thuyết phục, chứng tỏ kiến thức rộng và nội lực học Phật vững chắc.
Lý Diệu Tâm, ngôn từ thanh tịnh, cách trình bày nhẹ nhàng mà hàm chứa nhiều tầng nghĩa. Khi đọc văn vị này, tôi cảm giác như đang đối diện một tâm trí được huân tu bằng sự tĩnh lặng và chánh niệm.
Lý Hiền Long đứng vững nơi lập luận, mạnh nơi phân tích, minh bạch nơi kết luận. Văn của vị này có lực − lực của người tin vào điều mình viết, và lực của người đã nghiền ngẫm pháp nghĩa một cách chân thật.
Lý Minh Tuân, từ cách lập ngôn đến cách dẫn nghĩa đều cho thấy phẩm chất thực hành nghiêm túc. Tôi đặc biệt trân trọng tinh thần “từ học mà ra hành” của vị này − đó là điều mà người học Phật chân thật không thể thiếu.
Lý Ngọc Linh, văn khí điềm tĩnh, ý luận sáng suốt, giản dị mà sắc bén. Lời ít mà tri thức sâu, làm người đọc vừa kính phục vừa an tâm. Phong thái khiêm cung mà chắc chắn, mai sau ắt sẽ trở thành trụ cột vững vàng của Lý Gia.
Với Huynh Đệ Lý Phương Anh và Lý Tự Như: Hai vị chính là “thanh kiếm” sắc bén nhất trong lần xuất trận này. Lập luận của hai vị gãy gọn, dứt khoát, đánh thẳng vào trọng tâm, phá vỡ nghi tình của tôi một cách không khoan nhượng. Đọc văn mà thấy khí phách ngút trời, tôi đặc biệt khoái cái chất “ngông” trong trí tuệ của các vị.
Các Huynh Đệ còn lại, mỗi người một sở trường, một cách trình bày, nhưng tựu chung đều toát lên phẩm chất: Học để hiểu, hiểu để tu, tu để thành nhân có đạo. Một tập thể như thế xuất hiện trong thời nay, quả là điều hiếm quý.
Về Thầy Lý Tứ − Một đời phóng quang giữa trần ai:
Thưa Thầy Lý Tứ, ở nơi nhân gian bụi bặm nhiều mà ánh sáng ít này, Thầy thực sự như một ngọn đăng vàng rực rỡ thắp lên giữa đêm trường tăm tối. Công lao dạy dỗ của Thầy chẳng khác nào việc truyền ngọn lửa từ chính trái tim của Phật. Thầy dạy bằng Trí, truyền bằng Tâm và tiếp dẫn học trò bằng Hạnh.
Chính nhờ có Thầy, thiên hạ mới thấy rõ rằng Phật Pháp chưa bao giờ suy vi, chỉ là nhân duyên chưa hội đủ để gặp người biết thắp đuốc mà thôi. Lý Gia dưới sự dẫn dắt tài tình của Thầy, quả thực là một hiện tượng đáng được khắc ghi vào lịch sử Phật học: Tu nghiêm, Học tinh, Luận vững, Hành chân. Ở thời đại này, điều đó thật hiếm có khó tìm!
Lời riêng − Thân phận thật của Ngã Hành:
Đến đây, Ngã Hành tôi xin được mở lòng, nói rõ một điều mà bấy lâu nay tôi cố ý không đề cập. Tôi không phải là kẻ hành tẩu giang hồ tầm thường. Thân phận thực sự của tôi là Giáo Chủ của một hãng cà phê danh tiếng lẫy lừng trong thiên hạ.
Tôi nói ra điều này không phải để khoe khoang danh lợi, mà để chư Huynh Đệ hiểu rằng: Những gì mà Ngã Hành này đã trân trọng và lên tiếng tán thán, tự nhiên sẽ có trọng lượng trên cõi đời này.
Tôi cũng xin thẳng thắn báo rằng, tôi đã nắm rõ nơi an cư của Thầy Lý Tứ cũng như danh tính, địa chỉ của 18 vị huynh đệ đã ứng bút đối đáp cùng tôi. Nhưng xin các vị chớ lo, tôi tìm hiểu không phải để khuynh đảo hay quấy nhiễu, mà là để chuẩn bị cho một cuộc hội ngộ rực rỡ như mặt trời mọc ở phương Đông.
Lời mời − Hội kiến trên đỉnh Hắc Mộc Nhai:
Trong một ngày không xa, Ngã Hành sẽ cử những thuộc hạ thân tín nhất, mang theo xe ngựa sang trọng đến tận nơi để cung thỉnh Thầy Lý Tứ cùng trọn đủ 18 Huynh Đệ về Hắc Mộc Nhai − tổng đàn của tôi, nơi gió lớn và trời rộng bao la.
Chúng ta sẽ gặp nhau không phải để tranh biện thắng thua, mà để cùng thưởng thức những ly cà phê thượng hạng, cùng luận bàn về Phật đạo. Chúng ta sẽ mở ra một trận “luận đàm Phật đạo” tuyệt diệu giữa nhân gian.
Ngày ấy, tôi sẽ cho người báo trước để Thầy và chư huynh đệ tiện bề thu xếp. Buổi gặp gỡ này không chỉ là chuyện vui, mà sẽ là mối duyên lành hiếm có trong trời đất, tựa như rồng gặp mây, như trăng gặp biển, như kẻ trân quý cầu Đạo gặp trí giả giữ gìn Đạo.
Thư này viết với lòng kính trọng và chân thành. Kính nguyện Thầy và chư Huynh Đệ thân tâm an lạc, đạo nghiệp tăng tiến, trí tuệ ngày càng sáng tỏ.
Thư này viết xong, gấp lại mà lòng vẫn chưa nỡ rời. Gửi lời chào trân trọng đến Thầy và các Huynh Đệ, mong chờ ngày chúng ta tương kiến bằng xương bằng thịt giữa trời cao gió lớn này. Ha Ha Ha Ha...
Kính bút,
27/11/2025 − 17:32:11 − Ngã Hành − Hắc Mộc Nhai” (Hết thư)
Chúc bằng hữu Ngã Hành và tất cả bạn đọc an vui, tinh tấn...!!!
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!
27/11/2025
LÝ TỨ
Thư Lúc Nửa Đêm Của Bằng Hữu Ngã Hành

Các bạn !!!
Cách đây ba (3) ngày (23/11/2025) vào lúc 01:17:24 (khuya)...Tức là, sau khi bằng hữu Ngã Hành gởi các câu phản biện đến môn đệ Lý Gia... Khuya hôm ấy, bằng hữu có gởi cho mình một bức thư, trong thư dặn rằng: “Kính thưa Thầy, xin đừng đăng thư này lên trang Lý Tứ cho đến khi HĐ trả lời xong toàn bộ phản biện...” !!!
Tôn trọng lời dặn dò của bằng hữu Ngã Hành, Lý Tứ đã giữ kín thông tin này cho đến hôm nay...!!! Giờ này thì, môn đệ Lý Gia đã trả lời phản biện xong... Lý Tứ xin công khai bức thư... Mời mọi người cùng xem...!!!
“THƯ NGÃ HÀNH GỬI THẦY LÝ TỨ GIỮA ĐÊM KHUYA
(Kính thưa Thầy, xin đừng đăng thư này lên trang Lý Tứ cho đến khi HĐ trả lời xong toàn bộ phản biện.)
Kính gửi Thầy Lý Tứ,
Cố nhân của một cuộc chơi vượt ngoài cuộc chơi.
Thưa Thầy,
Đọc thư Thầy hồi đáp, rồi đọc đến bài Bài Tráng Ca Bất Tử mà Thầy trân trọng tặng, Ngã Hành này thực sự lặng người. Lặng không phải vì văn từ cổ kính, cũng không phải vì “tráng khí” nơi lời ca. Mà vì thâm ý ẩn sau từng đoạn như sương khuya thấm ngấm vào lòng người biết tự soi.
Thầy đã thấy tôi − con người “nói năng phản biện” hôm nay − chính là cái bóng mờ của một kẻ đã tự nhốt mình suốt 25 năm trong chính Hắc Lao do mình dựng.
Hắc Lao ấy, Thầy gọi đúng tên nó rồi: Lao ngục cô đơn của tâm thức, nơi một người tưởng rằng đã thấy nhiều, đọc nhiều, dấn thân nhiều… nhưng rốt cuộc chẳng phá nổi một sợi tơ của chính mình.
Bài Tráng Ca Bất Tử, Thầy không chỉ “tặng”.
Thầy đặt trước mặt tôi như một tấm gương.
Và thưa Thầy, tôi đã hiểu.
Hiểu rằng người Tráng Sĩ trong bài ca kia chính là bóng chiếu của từng hành giả lang thang − trong đó có tôi. Hiểu rằng “cái chết của người tráng sĩ” không phải là bi kịch, mà là điều kiện duy nhất để một đời được tái sinh trong ánh sáng.
Đúng vậy, tôi đã bước ra khỏi Hắc Lao.
Không phải bước một nửa.
Không phải mở hé cánh cửa rồi lại quay vào.
Mà là thật sự chết đi một con người, để trở về Hắc Mộc Nhai của mình − nơi gốc rễ nằm im suốt bao năm, chờ một ngày gió lớn thổi về.
Cảm ơn Thầy.
Cảm ơn Lý Gia.
Nếu không có cuộc “hợp tấu bất ngờ” này, tôi có lẽ vẫn còn lẩn quẩn giữa hàng vạn mạch kiến giải vô minh nhưng tưởng mình thông sáng.
Thầy nói Thầy thích thú.
Còn tôi, tôi biết mình đã gặp đúng người, đúng thời điểm, đúng cơ duyên.
Bởi vậy, dù đã “chết đi một con người cũ”, trò chơi Ngã Hành tạo ra, tôi vẫn sẽ đi đến tận cùng.
Không phải để thắng hay thua.
Không phải để chứng minh ai đúng ai sai.
Mà là để xem đến cuối cùng, liệu còn cái cái tôi nào còn thừa sót lại nơi người hỏi không!?
Tôi vẫn chơi.
Nhưng chơi với tâm vượt khỏi sự chơi.
Chơi để soi, không phải để hiếu thắng.
Chơi để phá chốt cuối, không phải dựng thêm ảo ảnh.
Thưa Thầy,
Tôi viết đôi lời này chỉ riêng gửi Thầy, xin đừng đăng ngay lên trang Lý Tứ.
Hãy đợi cho đến khi 18 Huynh Đệ hoàn tất toàn bộ hồi đáp cho 15 phản biện xong hết, đóng lại một vòng, trong lúc đợi tôi phản hồi tiếp thì khi đó Thầy đăng bức thư này lên mới thú vị.
Trong cuộc chơi này, Thầy như vị giám khảo lặng lẽ gửi đề rồi đứng ngoài.
Không chấm.
Không gợi ý.
Không nghiêng lệch một lời.
Chính sự im lặng ấy mới làm nên cái môi trường để từng học trò tự phát hiện chính mình.
Và cũng chính sự im lặng ấy khiến tôi phải cung kính mà viết bức thư này.
Cuối thư, xin một lần nữa chắp tay cảm tạ Thầy vì bài Tráng Ca Bất Tử.
Bài ca ấy đối với tôi không chỉ là một món quà sơ giao, mà là lời chứng, rằng có người nhìn thấy những điều tôi không cần nói thành lời.
Kính chúc Thầy và toàn thể Lý Gia một mùa học tập tràn đầy sinh khí.
Ngã Hành xin tiếp tục đồng hành với tinh thần đã trình bày:
Nghiêm, thẳng, không nể nang − nhưng tuyệt đối chân thành.
Ngã Hành
(đêm tĩnh lặng sau một ngày gió mạnh)
23/11/2025 − 1:17:24 − Ngã Hành − Hắc Mộc Nhai” (Hết thư)
HĐ Lý Gia Trả Lời Phản Biện Bạn Đọc Ngã Hành (3) !!!

Các bạn !!!
Rút kinh nghiệm bài đăng hôm qua (69/2025)... Hôm nay, mình không để một bài có dung lượng quá lớn rồi bị facebook cắt mất một phần!!! Vì thế sáng nay, nhận được trả lời phản biện của ba vị huynh đệ là Lý Diệu Tâm, Lý Minh Tuân và Lý Phương Anh...
Thế là mình gom lại và đăng liền, để đến 15:00 nếu có tiếp sẽ đăng tiếp ở chuyên mục 71/2025...!!!
Bất ngờ nhất là, cả ba vị HĐ hôm nay đều là HĐ cốt cán của Lý Gia... Mình xin giới thiệu sơ lược về họ:
- Lý Phương Anh: Trưởng Ban Khoa Giáo của Lý Gia, đã giới thiệu trước đây...!!!
- Lý Diệu Tâm: Hiện tại là Trưởng Ban Truyền Thông của Lý Gia...Tuổi tác cùng lứa với Phương Anh, nhập môn sau Phương Anh vài tháng (0424 − 0465) và cũng là Lý Nữ Phương Danh...!!! Ngoài đời, Lý Diệu Tâm đang là PGS/TS Khoa học, Viện sĩ của một Viện Khoa học... Trước đây mấy ngày, vị Viện sĩ này phải “nhập thất trong phòng thí nghiệm” mấy ngày để nghiên cứu khoa học... Sau khi “đả thất”, lao vào trả lời bạn đọc Ngã Hành... Đã thế còn phải đi chợ, nấu ăn, dạy con, giặt đồ... có chán không...??? !!! Lý Diệu Tâm vừa nhắn tin cho mình: “Thầy ơi, Hôm nay là ngày con được làm con của Lão Lý đúng 6 năm”...!!! Ha ha ha ha !!!
- Lý Minh Tuân: Chủ nhiệm các lớp “Giáo Pháp Nhập Môn” của Lý Gia... Tuổi đời trên 60...!!! Có trên 30 năm làm hiệu trưởng trong ngành giáo dục... Về hưu, được mời làm hiệu trưởng một trường Đại Học tại Hà Nội... Hình như bây giờ, y ta cũng xin thôi việc để tập trung học tập giáo pháp cho thoả tâm nguyện thời còn đi dạy...!!!
Sau đây là trả lời của ba vị HĐ nêu trên
I. LÝ DIỆU TÂM (MB0465) TRẢ LỜI ĐỘC GIẢ NGÃ HÀNH
“Kính thưa Thầy,
Kính thưa độc giả Ngã Hành,
Kính thưa các HĐTM Lý Gia,
Trong cuộc luận bàn về 7 câu hỏi mà độc giả Ngã Hành đã gửi đến Chuyên mục Bạn đọc hỏi − Lý Tứ trả lời, độc giả Ngã Hành đã phản biện 2 ý từ câu trả lời của Lý Diệu Tâm. Trước khi trả lời các câu hỏi của độc giả Ngã Hành, Diệu Tâm xin phép được đặt hai câu hỏi, từ đây Ngã Hành có thể có căn cứ để trả lời những vấn đề đã đặt ra:
VẤN NGÃ HÀNH:
- Câu hỏi 1: Từ “Pháp” trong “Vạn Pháp vô tự tính” là chỉ cho cái gì? Như Lai Tạng và Vạn Pháp có mối liên hệ như thế nào?
- Câu hỏi 2: Trong Phật Đạo, ngoài Giới Vô Lậu, còn có loại giới nào khác?
Dưới đây, Diệu Tâm xin phép được trả lời từng ý độc giả đã hỏi như sau:
TRUY VẤN SỐ 1:
- Hỏi:
“Lý Diệu Tâm nói: “− Vạn pháp vô tự tính là sự thật của các pháp. − Như Lai Tạng thanh tịnh thường trụ là sự thật của Pháp thân Như Lai, không cần lấy gì làm nền tảng để khẳng định. − Giống như hư không, không cần cái gì làm nền tảng...”
Lý Thiện Huệ nói: “Đã là sự thật, thì theo mình chỉ nên thấy và biết! Chứ khẳng định làm gì?! Vì có khẳng định hay không, thì sự thật vẫn là sự thật! Không thể lấy cái vô thường sanh diệt, khẳng định cái thường hằng bất biến!”
NGÃ HÀNH HỎI:
“Tôi đồng ý sự thật không cần khẳng định, nhưng trong tranh biện Phật học, việc chỉ ra cơ sở lý luận là cần thiết để tránh rơi vào “ngoại đạo chấp thường”. Nếu Như Lai Tạng là “Thật Tánh” (bất biến), còn Vạn Pháp là “Vô Tự Tánh” (sinh diệt, không thật có), thì hai sự thật này dường như đối lập hoàn toàn về bản chất. Nếu không thể dùng “Vô Tự Tánh” làm nền, vậy người tu hành lấy gì để “thấy và biết” được cái “Thật Tánh” của Như Lai Tạng?
Phật dạy y pháp bất y nhân. Nếu không có một hệ thống lý luận (như Duy Thức dùng Tàng Thức làm nền, Bát Nhã dùng Tánh Không làm nền) để chỉ ra cái “thường trụ” ấy, thì nó khác gì với niềm tin “Thượng Đế” hay “Linh hồn” bất diệt của ngoại đạo? Cơ chế nào giúp người tu (HĐ Lý Gia) “trực nhận” ra Như Lai Tạng mà không cần dựa trên sự quán chiếu “Vô Tự Tánh” của Vạn Pháp?”
- Đáp:
1. Kinh Kim Cang tuyên thuyết: “Nhất thiết hữu vi pháp, Như mộng, huyễn, bào, ảnh”. Chính từ nghĩa này mà để hiểu Vạn Pháp vô tự tánh là một sự thật.
2. Như Lai Tạng là tạng vi mật tối thượng của Chư Phật, được mô tả bằng các tính chất thường − ngã − lạc − tịnh, cho nên Như Lai Tạng chân thật, bất biến chính là sự thật.
3. Kinh Giải Thâm Mật, Phật dạy: “Như Lai nói thắng nghĩa (nghĩa chân thật) thì tuyệt hết mọi sự biểu thị, còn tầm tư (giác quán) thì chỉ biết bằng sự biểu thị”. Câu Kinh này có nghĩa, ý nghĩa chân thật không thể đến bằng suy lường, suy luận mà chỉ có thể trực nhận mà thấy biết.
Trực nhận là năng lực của hữu tình khi không bị những thứ hư vọng che chướng. Chính vì thế, khi học tập đúng chánh pháp, các món như tâm hư vọng, pháp hư vọng, tà kiến, v.v... sẽ lần lượt tịch diệt. Chỉ khi nào tâm thức người tu hành không còn những thứ ấy, bao gồm cả những hiểu biết sai về khái niệm. Bây giờ sự thật chân chánh mới có thể hiển lộ.
TRUY VẤN SỐ 2:
- Hỏi:
“Các HĐ đều khẳng định: Tam Vô Lậu Học (Giới − Định − Tuệ Vô Lậu) thành tựu đồng thời, là hệ quả của nhau, và chỉ cần thành tựu một học pháp vô lậu, các học pháp còn lại tự thành tựu.
NGÃ HÀNH HỎI:
Lý Phương Anh dẫn Kinh Lăng Nghiêm: “Nhiếp tâm là Giới. Do Giới sanh Định. Do Định phát Tuệ.” Đây là một tiến trình tuần tự rõ ràng. Các vị giải thích rằng đây là Giới-Định-Tuệ thế gian hay Giới-Định-Tuệ hữu lậu. Tuy nhiên, Kinh Lăng Nghiêm nói đến “Giới sanh Định, Định phát Tuệ” lại nằm trong bối cảnh tu Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối (Giới Bồ Tát) và sự Kiến Tánh để tránh đọa lạc. Vậy, xin hỏi: Nếu ba cái đồng thời, thì tại sao Kinh điển lại mô tả một tiến trình nhân quả (Do... sanh..., Do... phát...)?
Xin giải thích rõ cơ chế “cái này có nên cái kia có” trong bối cảnh Vô Lậu Học. Giả sử một người “Tuệ giác được khai mở” (Tuệ Vô Lậu thành tựu) do học tập giáo pháp (theo Lý Phương Anh). “Giới vô lậu” tự thành tựu bằng cách nào? Liệu nó có đồng nghĩa với việc vị ấy hoàn toàn không phạm bất kỳ giới luật nào của Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối (Sát, Đạo, Dâm, Vọng) nữa chăng?”
- Đáp:
1. Nguyên lý cái này có nên cái kia có (3 trong 1) của Tam Vô Lậu học cần được xây dựng trên nền tảng hiểu biết chân chánh về thân, tâm, và thế giới. Một người biết chắc chai thuốc kia có độc (Tuệ Vô Lậu) sẽ không uống chai thuốc (Giới Vô Lậu), đồng thời tâm không động lay khởi mong muốn được uống chai thuốc (Định Vô lậu).
2. Nguyên tắc ba trong một chính là chỉ thị phân biệt giữa các học pháp vô lậu và học pháp hữu lậu thế gian. Bất kỳ thành tựu nào không xuất phát từ sự hiểu biết chân chánh đều khó có thể dẫn đến đạo quả vô lậu.
Con xin kết thúc phần trả lời ở đây!
Con kính tri ân công đức giáo dạy của Thầy!
Chúc toàn thể bạn đọc cùng HĐTM Lý Gia an vui, tinh tấn!
Con Lý Diệu Tâm (MB465)”
II. THƯ TRẢ LỜI CÂU HỎI TRUY VẤN CỦA NGÀI NGÃ HÀNH (Của Lý Minh Tuân)
Kính thưa Thầy!!!
Kính thưa ngài Ngã Hành !!!
Được sự cho phép của Thầy, con xin phép trả lời bạn đọc Ngã Hành về câu hỏi truy vấn mà bạn đọc đã gửi đến chuyên mục BẠN ĐỌC HỎI − LÝ TỨ TRẢ LỜI − 67/2025.
Xin chào ngài Ngã Hành !!!
Tôi rất vui khi nhận được câu hỏi truy vấn của Ngài gửi đến chuyên mục. Thú thực rằng, nhờ câu truy vấn của Ngài mà tôi đã có thêm động lực để học tập. Tôi nghĩ rằng, để có thể nắm vững những vấn đề thuộc lĩnh vực chuyên sâu của Phật đạo, để thấy được “thiệt tướng” của các pháp thì cần phải đầu tư thời gian để đọc tụng, tư duy và suy ngẫm rất nhiều… Tôi rất mong lại tiếp tục nhận được những câu hỏi, những câu phản biện từ Ngài để tôi có dịp tôi rèn và học hỏi từ Thầy tôi được nhiều hơn nữa!!!
Kính chúc Ngài sức khỏe, thân tâm an lạc và trở thành bạn đọc gần gũi, thân thiện với huynh đệ chúng tôi. Sau đây, tôi xin phép được trả lời câu hỏi truy vấn của Ngài.
Truy Vấn Lý Minh Tuân (MB1349) − Về Thất Đại
Lý Minh Tuân tóm tắt: Ngũ Đại nói về Sắc (thân) (vô tri). Thất Đại nói về Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức (hữu tình có tri và có giác).
NGÃ HÀNH HỎI:
Kinh Lăng Nghiêm đề cập Thất Đại để chứng minh vạn pháp đều là Thể Như Lai Tạng, nhằm mục đích quy tất cả về một Bản Thể Thường Trụ. Nếu chỉ đơn thuần là giải thích cấu tạo của hữu tình (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức), thì việc này không khác gì cách giải thích của Pháp Tướng Tông hay các Luận sư Nguyên Thủy về danh-sắc (nāma-rūpa), vậy dụng ý của việc gán cho Kiến và Thức cái tên “Đại” (Mahā-bhūta − đại chủng) là gì?
Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không được gọi là Đại vì chúng có khả năng “chứa nhóm, giữ gìn” (Địa), “ẩm ướt, gom lại” (Thủy), “làm nóng, chín” (Hỏa), “di chuyển, nâng đỡ” (Phong). Vậy, Kiến Đại (thấy biết) và Thức Đại (ý thức) có những khả năng (nghĩa) đặc biệt gì mà được gọi là Đại Chủng (Đại) để xếp ngang hàng với Ngũ Đại?
LÝ MINH TUÂN TRẢ LỜI:
A) Dụng ý của việc gán cho Kiến và Thức cái tên “Đại” (Mahābhūta − đại chủng) là gì?
Trả lời: Khái niệm về Tứ đại (địa, thủy, hỏa, phong) và Không đại đã có trước thời Phật. Tuy nhiên, cách Đức Phật dùng và giải thích Tứ Đại, Không đại lại rất khác so với các truyền thống trước đó và điều này đã được Phật hệ thống hóa thành giáo lý trong Phật giáo.
Mặc dù các giáo lý trước thời Phật họ không hiểu đúng về bản chất của thân, tâm và vũ trụ. Nhưng vì các khái niệm: Địa đại, Thủy đại, Hỏa đại, Phong đại, Không đại đã xuất hiện trước đó nên Đức Phật đã thiện xảo phương tiện “giữ lại” những khái niệm đó. Gọi là “giữ lại” nhưng thực chất chỉ là mượn danh tự, còn nội hàm của khái niệm thì đã hoàn toàn khác.
Đức Phật thấy rằng, nếu chỉ dùng Tứ đại hay Ngũ đại thì chưa đủ phương tiện để mô tả những tính chất của Như Lai Tạng vì thế Ngài đưa thêm vào Thức đại và Kiến đại. Dụng ý của việc gán cho Kiến và Thức cái tên “Đại” có 2 ý nghĩa:
Thứ nhất: Nhằm đồng nhất về mặt tên gọi đối với các khái niệm: Địa đại, Thủy đại, Hỏa đại, Phong đại và Không đại. Việc đồng nhất về tên gọi như vậy thể hiện sự nhất quán và thiện xảo của Đức Phật trong việc lập bày ngôn ngữ để thuyết giảng.
Thứ hai: Tên “Đại” có nghĩa là rộng lớn. 7 đại chủng có nghĩa 7 tính chất rộng lớn của vũ trụ mà 7 tính chất đó cũng nằm trong rất nhiều tính chất của Như Lai tạng mà chỉ có Đức Phật mới thấy được và tuyên thuyết về nó.
Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không được gọi là Đại vì chúng có khả năng “chứa nhóm, giữ gìn” (Địa), “ẩm ướt, gom lại” (Thủy), “làm nóng, chín” (Hỏa), “di chuyển, nâng đỡ” (Phong). Vậy, Kiến Đại (thấy biết) và Thức Đại (ý thức) có những khả năng (nghĩa) đặc biệt gì mà được gọi là Đại Chủng (Đại) để xếp ngang hàng với Ngũ Đại?
Trả lời:
a) Kiến Đại (thấy biết) và Thức Đại (ý thức) có những khả năng (nghĩa) đặc biệt, đó là:
Kiến Đại: Nó mang tính thường hằng, bất biến, nó có khả năng tạo nên phản xạ không điều kiện của một hữu tình. Nhờ Kiến Đại hữu tình mới duy trì được bản năng sinh tồn, mới có thể nhận biết và giao tiếp được với thế giới (bên ngoài và nội tâm).
Thức Đại: Nó có khả năng tiếp thu, gom nhóm tri thức. Nếu như Kiến Đại chỉ giúp hữu tình có khả năng nhận biết thế giới thì Thức Đại sẽ giúp hữu tình nhận biết thế giới như thế nào?
b) Tại sao Kiến Đại và Thức Đại lại được xếp ngang hàng với Ngũ Đại?
Tính chất của 7 đại nằm trong vô số tính chất của Như Lai Tạng do Đức Phật thấy và tuyên thuyết. Nhưng nếu 7 đại đứng riêng rẽ thì nó không có bất kỳ một tính chất nào cả, gọi là “Không tánh”.
Như vậy: Khi Phật tuyên thuyết trước chúng sanh về Thất Đại thì tất cả các Đại (các pháp) đều bình đẳng nên không có Đại nào xếp trên, đại nào xếp dưới. Chính vì vậy Kiến Đại và Thức Đại cũng được xếp ngang hàng với Ngũ Đại.
Có thể lấy một ví dụ minh họa như sau: Để chế tác thành loại nước hoa nào đó thì người ta cần kết hợp nhiều nguyên tố Hóa học với nhau. Nếu đứng độc lập, mỗi nguyên tố hóa học đó (dạng nguyên tử) không có mùi gì cả. Nhưng nếu các nguyên tố đó được kết hợp với nhau trong một điều kiện đặc biệt nào đó (tức là đủ duyên) thì sẽ tạo nên một loại nước hoa có mùi thơm.
Hết phần trả lời.
Kính thư !!!
Lý Minh Tuân − học trò thứ 1349 của Thầy Lý Tứ.”
III. THƯ GỬI BẠN ĐỌC NGÃ HÀNH (Của Lý Phương Anh)
“Kính thưa Thầy!
Thưa HĐTM Lý Gia!
Bạn đọc Ngã Hành thân mến!
Sau khi đọc các phản biện của bạn đọc Ngã Hành được Thầy đăng lên chuyên mục kỳ 67/2025, Phương Anh đã xem lại nhiều lần phần trả lời của mình cũng như trích đoạn trả lời của HĐ Lý Gia.
Nói thật đọc đi đọc lại các trả lời ấy, Phương Anh thấy mọi thứ rất rõ ràng như đồ vật được soi rọi dưới ánh sáng mặt trời, như trái A ma lặc trong lòng bàn tay, dễ thấy, dễ hiểu. Nhưng tại sao bạn đọc Ngã Hành, một người có 25 năm đi nhiều nơi, đến nhiều chỗ tham vấn, học tập đạo pháp (lời này có tin được chăng) mà vẫn không nhận ra để rồi đặt câu hỏi và phản biện? Thiết nghĩ đây (hỏi và phản biện) là việc làm của người không thấy không biết hoặc thấy biết mơ mơ hồ hồ trong cơn tuỳ mộng!
Trong khi đó những thắc mắc của Ngã Hành, đối với một HĐ Lý Gia chỉ cần nhập môn học tập trong vòng nửa năm, bảy tám tháng là đã có thể tự trả lời cho bản thân các thứ ấy là gì bằng chính nền tảng giáo pháp của họ. Cụ thể như Lý Mai Phương, Lý Tự Như và nhiều người nữa!
Thắc mắc này đeo đuổi Phương Anh trong nhiều giờ. Trong lúc chiêm nghiệm Phương Anh đã gỡ được nút thắt lạ lùng đó. Thì ra 25 năm đi mòn gót giày của bạn đọc Ngã Hành là có thật, nhưng đi để góp nhặt kiến thức rồi đem về suy luận, thắc mắc, tìm người đối chất, v.v...cứ thế, như sợi tơ vô hình trói quanh trói quẩn, trói hết lớp này đến lớp khác, mà chẳng thể thoát ra... Đi thì nhiều, góp nhặt thì lắm nhưng chưa một lần biết cách ngồi xuống như pháp tư duy, hay được ai đó dạy cho cách ngồi xuống để tuệ quán mà ứng dụng mà thực chứng nhằm tận mắt chứng kiến nó là thứ gì. Như người đọc vanh vách tên các món ăn của nhà hàng từ Bắc chí Nam rồi đem ra bàn luận, nhưng chưa một lần cầm đũa...Điều này chẳng khác nhiều người học đạo mà Phương Anh đã từng gặp trước khi vào Lý Gia. Trong khi đó Phật dạy, đại ý: “Pháp của ta dạy cho những người đến để mà thấy mà biết, không phải dạy cho những người không đến để mà thấy mà biết”. (Tăng Chi Bộ)
Câu này có nghĩa, Pháp của Phật chỉ dạy cho người thực chứng (đi đến cảnh giới đó để thấy để biết), chứ không dạy cho người học thuộc mà không thực chứng, nghe pháp rồi đem tâm suy luận, hay tưởng tri mà cho rằng mình đã biết đã thấy (không đến để thấy để biết)!
Bây giờ Phương Anh càng thấy muôn phần bái phục sự tài tình của Lão Lý trong cách dạy học trò. Nửa năm học bằng ngọn đuốc chánh pháp đã hơn người 25 năm mò mẫm trong tối tăm của lao ngục suy luận, tưởng tri với những mâu thuẫn nội tại. Thứ mâu thuẫn không hề có trong giáo pháp chân chánh, nếu có chăng mâu thuẫn ấy chỉ là kết quả của tà luận, tà kiến và hiểu sai giáo pháp, mà cụ thể là bạn đọc Ngã Hành đã đặt vấn đề phản biện về Như Lai tàng và Tự tính các pháp, trong khi đó hai món ấy chẳng ăn nhập gì với nhau vì một thứ thuộc về “cảnh giới” một thứ thuộc về “quan điểm”! Phương Anh đọc phản biện này, thật sự bất ngờ trước kiến thức cơ bản của một người được cho là có 25 năm tầm cầu đạo pháp! Thầy ơi, đứng trước phản biện ngớ ngẩn và vô lý như thế con biết phải làm gì đây? Có phải chăng càng trả lời càng làm cho người nghe đảo điên vì gốc rễ là nhận thức cơ bản về giáo pháp của người ấy đã quá sai rồi?
Thầy ơi... Bây giờ con càng khâm phục Thầy hơn về ba môn học của lớp Giáo Pháp Nâng Cao là Thấu thị môn, Thẩm sát môn và Đẳng ngữ môn mà chúng con đã được học tập cũng như thực hành ngay trong đương cơ có tên “Ngã Hành Vấn Đạo” này. Thầy cho con tự cười một tràng sảng khoái về cái cớ sự “linh như đồng cốt” này, học là có đương cơ để thực hành liền.
Thưa Thầy! Bây giờ việc học những điều quá năng lực của mình, những điều thuộc cảnh giới vô lậu, xuất thế, v.v... rồi đem hiểu biết hữu lậu, thế gian bằng chính sự khôn ngoan thế tục ra suy luận, giảng giải, phản biện, v.v... để tự buộc ràng mình, buộc ràng người như lời Thầy từng dạy đã hiển hiện mồn một trong đương cơ này. Thật ra chẳng có lao ngục nào trói mình mà chỉ tự mình cầm nhầm cục xương khô tưởng đó là bó đuốc rồi đem đi soi rọi khắp nơi, soi rọi giáo pháp... kết quả, tối tăm vẫn hoàn tối tăm. Từ Niết bàn thanh tịnh của bổn tâm mà thấy thành địa ngục điên đảo, nơi cảnh giới vô lậu xuất thế lại đem hiểu biết thế tục luận bàn biến thành triết lí, phản biện thế gian. Với cách tiếp nhận giáo pháp kiểu “nửa nạc, nửa mỡ” này, ta có giải thích đến “gãy lưỡi” thì cũng không khác gì “gãi ngứa ngoài hia”, chẳng có tác dụng gì. Giờ đây con tâm đắc với câu chuyện người mù luận bàn màu sắc, luận bàn về hội hoạ, luận bàn những thứ chỉ có ở thế giới người sáng mắt mà Thầy thường kể cho chúng con nghe trong các buổi học. Phương Anh xin lược kể ra đây giúp bạn đọc Ngã Hành giải trí (chỉ tiếc Phương Anh chưa thực chứng cái hài hước của Lý Lão Sư nên câu chuyện thiếu hấp dẫn).
Chuyện kể như sau:
“Ở làng nọ có gia đình phú hộ mới mua được một bức tranh quý, cả làng đến xem, ai cũng trầm trồ khen ngợi. Trong số người đến xem đó có anh chàng mù bẩm sinh cũng bon chen đòi coi cho được. Phú hộ là người hào phóng, nhân đức, thương người, bèn cho anh mù đặc ân cầm bức tranh quý. Anh mù sau khi sờ soạng bức tranh hồi lâu bèn hỏi lớn:
- Bức tranh vẽ thứ gì?
- Bức tranh vẽ cánh đồng lúa chín và đàn cò!
- Con cò màu gì?
- Con cò màu trắng!
- Màu trắng giống thứ gì?
- Màu trắng giống tuyết!
- Ta biết rồi!
Nghe xong, anh chàng mù gật gật cái đầu như một nhà hiền triết, rồi lần nữa sờ soạng thật kỹ bức tranh, đột nhiên người mù la lớn:
- Các người mù hết rồi sao? Các người mù hết rồi sao? Các người bảo bức tranh vẽ cánh đồng lúa chín và đàn cò trắng sao ta sờ mãi chẳng thấy nó lạnh như tuyết cũng chẳng thấy nó xót như lúa? Các ngươi hãy trả lời cho ta đi!
- Đám đông......!!!!!!!!!
Và thầy dạy tiếp: Đối với trường hợp này, kẻ trí cần phải làm gì? Các bạn ơi, ta không thể luận bàn màu sắc, luận bàn hội hoạ với người mù bẩm sinh, càng bàn ta và người càng thêm điên đảo! Cái người trí cần làm bây giờ, hãy đi tìm thầy thuốc, tìm tiên dược A dà đà để chữa lành đôi mắt mù rồi đưa anh ta đến chỗ có ánh sáng. Lúc ấy chẳng cần bàn màu sắc, chẳng cần luận về đẹp xấu hội hoạ, người mù một khi mắt đã sáng tất nhiên sẽ tự giải đáp mọi thắc mắc của mình.” Trong đương cơ này Phương Anh chọn cách làm Thầy đã dạy từ câu chuyện trên!
Thưa các Huynh Đệ!
Thấm nhuần bài học Thấu thị, Thẩm sát của Thầy nhất là câu chuyện vừa kể, Phương Anh xin được phép “không làm cho mình, cho người đảo điên thêm” sau những phản biện của bạn đọc Ngã Hành.
Thưa bạn đọc Ngã Hành!
Những gì trong Bài Tráng Ca Bất Tử mà Thầy đã tặng cho bạn đã quá đủ rồi. Thầy viết: “Bóng tối và ánh sáng, không phải hai mặt đối lập của một vấn đề như ở đời thường vẫn hiểu/Chỉ tại không đèn nên sáng tối nhầm nhau.”; Hay “Quơ vội nắm cỏ khô bên đường, dựa lưng vào gốc cây đa già, cố thắp ngọn đèn trong đêm dài tăm tối/Người Tráng Sĩ hiểu ra, cái giá phải trả cho một đời người bởi cực đoan từ hai phía/Bỏ tất cả bên đường đặt gánh nặng xuống, cây đa già phút chốc hoá thành ánh sáng mặt trời.”; Và “Người Tráng Sĩ đã chết từ khi ngồi xuống, đốm lửa được thắp lên/Con chim thứu từ nay vĩnh viễn không cất tiếng u buồn, con dế hết kêu rên/Con cá dưới nước hoá thành rồng trong phút chốc ngỡ ngàng niềm vui oà vỡ/Người Tráng Sĩ năm xưa hát Bài Tráng Ca trước bạn bè ngày cũ/Tất cả chắp tay/Một đời tráng sĩ hoá thành bất tử/À ơi! Ấu biến thành sen/Lời ru còn đó, nghe quen thuở nào...!!!”. Khi tặng bài thơ này cho bạn đọc Ngã Hành, chắc hẳn lúc đó tim Thầy thắt lại! Ngã Hành ơi, hãy bỏ cục xương khô vô bổ góp nhặt bao năm trời xuống đi, hãy bỏ thứ luận giải phản biện thế tục hữu lậu ấy xuống đi. Mau mau tìm thứ thuốc A dà đà để chữa các thứ bệnh lậu hoặc do suy lường, cột trói bởi văn từ xuất thế, v.v... để làm người Tráng Sỹ như những gì Thầy đã gửi gắm trong bài Tráng Ca.
Bạn đọc Ngã Hành thân mến!
Truy vấn của Ngã Hành được gửi tới HĐ Lý Gia vào 20h thứ 7 ngày 22/11. Sau chưa đầy 70 giờ, các HĐ Lý Gia đã lần lượt hồi đáp và cũng như lần trước, các câu trả lời minh bạch, nhất quán, đúng bệnh đúng thuốc.
Có được điều đó là do học trò Lý Gia đã được Lý Lão Sư trao truyền bộ môn công phu có tên là Thám Phúc Công. Công phu này được “bật mí” trong tác phẩm Tâm Pháp − cuốn sách gối đầu giường của toàn thể HĐ Lý Gia. Cái hay của bộ môn này, là sờ cái bụng mà biết cái tâm. Vì thế mới có tên là Thám Phúc.
Trong Tâm Pháp, Lão Sư đã dạy môn công phu Thám Phúc bí truyền ấy như sau:
“Khi gặp người tu hành, muốn biết thiệt giả, chỉ cần Lão Huynh lấy năm ngón của bàn tay phải của mình, lật ngược gõ gõ vào bụng của họ…
- Nếu nghe tiếng bịch bịch như trái mít chín cây, Lão Huynh lại chú tâm định thần, thoảng nghe có mùi khai khai thì biết hạng này trong bụng chỉ chứa toàn xôi chuối, mau mau cúng dường một ít rồi đảnh lễ mà lui…
- Nếu Lão Huynh gõ gõ bàn tay vào bụng mà nghe lộc cộc như cua ốc bò trong thau đồng, lại có mùi hôi mốc thì Lão Huynh biết người này tạp văn chứa đầy trong bụng, tà kiến toàn thân, mau mau cúng dường một liều thuốc xổ, để lâu có hại cho người…
- Còn nếu đó là tiếng cạch cạch như gõ vào gỗ quý, lại có mùi thơm giáng hương, thì biết người này đầy bụng Kinh Điển nhưng chưa tiêu hóa được, phải cấp tốc cúng dường vài hộp thuốc tiêu...
- Cuối cùng nếu Lão Huynh gõ vào mà nghe như tiếng thùng rỗng, kêu dậy trời lại có mùi chiên đàn thì mau mau sụp gối lễ lạy để nghe đạo lý. Bằng không được thì phải đấm lưng cạo chân để tìm chút phước, họa may nghe được pháp âm…” (Trích Tâm Pháp − Lý Tứ)
Kính Thầy!
Con học lóm chút “Đẳng ngữ môn” mà Thầy đã trao truyền cho HĐ Lý Gia. Chẳng biết Thầy có hoan hỷ khi đọc thư này hay không?
Con xin gieo năm vóc sát đất kính lạy tri ân Thầy !!!
Kính thư,
Lý Phương Anh (MB424)”
(Hết các trả lời)
Chúc bạn đọc và bằng hữu Ngã Hành an vui, tinh tấn...!!!
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!
25/11/2025
LÝ TỨ
HĐ Lý Gia Trả Lời Phản Biện Bạn Đọc Ngã Hành (2) !!!

1. TRẢ LỜI CỦA LÝ TỰ NHƯ
“Kính thưa Thầy, thưa bạn đọc Ngã Hành,
Con là Lý Tự Như (MB1700). Nghe danh của mình được bạn đọc Ngã Hành xưng gọi đến ba lượt, trong lòng chẳng khác nào cảm được “ba đạo chân khí hùng hậu” từ một tuyệt thế cao thủ đã bôn tẩu giang hồ suốt hai mươi lăm năm mà chưa từng gặp kẻ bì kịp.
Nhờ hơn một năm qua, được Thầy Lý Tứ dốc lòng truyền thụ “Lý Gia Tâm Pháp”, hôm nay con xin được kết ấn vận khí, mượn chút bản lĩnh thô sơ của mình mà đứng ra thử vài chiêu. Chỉ mong không phụ kỳ vọng của Thầy và các Sư Huynh Sư Tỷ.
LUẬN VỀ “DO GIỚI SANH ĐỊNH” VÀ CƠ CHẾ TỰ ĐỘNG CỦA VÔ LẬU
Bạn đọc Ngã Hành lại một lần nữa đưa ra một nghi vấn cực kỳ xác đáng, đụng chạm đến ranh giới mong manh giữa “Phương tiện” và “Cứu cánh” trong ngôn ngữ kinh điển. Câu hỏi đặt ra là: Nếu Tam Vô Lậu Học đồng thời, tại sao Kinh Lăng Nghiêm − bản kinh “trảm yêu chiếu quái” hàng đầu − lại vạch ra lộ trình nhân quả: “Nhiếp tâm là Giới. Do Giới sanh Định. Do Định phát Tuệ”? Và cơ chế nào khiến một người “khai Tuệ” lại “tự động” giữ Giới mà không cần gồng mình kìm nén?
Tự Như xin mượn đuốc tuệ của người xưa và tôn chỉ của Lý Gia để soi sáng chỗ “kẹt” này qua hai tầng nghĩa:
I. TUẦN TỰ LÀ LỜI DẠY CHO NGƯỜI “ĐANG ĐI” − ĐỒNG THỜI LÀ CẢNH GIỚI CỦA NGƯỜI “ĐÃ ĐẾN”
Trước hết, phải khẳng định: Kinh Lăng Nghiêm không sai, và quan điểm “đồng thời” cũng không trật. Mâu thuẫn chỉ nảy sinh khi ta lấy bản đồ của người đang leo núi (hữu lậu) để áp đặt vào cái nhìn của người đang đứng trên đỉnh núi (vô lậu).
1. Tại sao Kinh nói theo nhân quả (Do... Sanh...)?
Đức Phật thuyết Kinh Lăng Nghiêm cho ai? Cho A Nan − người đang bị nạn Ma Đăng Già, người còn đầy rẫy vọng tưởng. Với một chúng sinh đang trôi lăn trong sinh diệt, tâm ý lăng xăng, thì việc đầu tiên phải là “Nhiếp tâm” (Giới). Có nhiếp được tâm mới yên (Định), yên rồi mới sáng (Tuệ). Đây là lộ trình tu tập (Tu tướng). Nếu Phật bảo A Nan: “Ông cứ ngồi yên đó, Giới Định Tuệ có đủ rồi” thì A Nan làm sao hạ thủ công phu?
Vì thế, văn kinh phải lập trình tự để hành giả có chỗ bám víu mà leo lên. Đó là phương tiện thiện xảo của Như Lai.
2. Tại sao nói Vô Lậu là đồng thời?
Khi đã chạm đến “Tánh” (Bản thể vô lậu), thì không còn cái gì sanh ra cái gì nữa. Ví như ngọn đèn:
- Lúc chuẩn bị (Hữu lậu): Phải rót dầu (Giới), phải se tim (Định), rồi mới bật lửa (Tuệ). Có thứ lớp rõ ràng.
- Lúc đèn đã sáng (Vô lậu): Ánh sáng (Tuệ), Sức nóng (Định) và Thể của lửa (Giới) cùng tồn tại ngay một lúc. Không thể nói “lửa cháy rồi mới ra ánh sáng” hay “có ánh sáng rồi mới nóng”. Ngay khi Lửa có mặt, cả ba đặc tính ấy cùng hiển lộ.
3. Vậy nên, lời kinh “Do Giới sanh Định” là nói về Công phu. Còn quan điểm “Đồng thời” là nói về Thành tựu. Người đã thấu suốt lý này thì không còn thấy mâu thuẫn giữa văn tự và thực tánh.
II. CƠ CHẾ: KHI TUỆ KHAI MỞ, GIỚI TỰ THÀNH TỰU BẰNG CÁCH NÀO?
Đây là chỗ bạn đọc Ngã Hành truy vấn rất gắt gao: “Liệu Tuệ mở rồi thì có phạm 4 trọng giới (Sát, Đạo, Dâm, Vọng) nữa không?».
Tự Như xin trả lời dứt khoát: Khi Tuệ Vô Lậu thực sự khai mở, hành giả vĩnh viễn không phạm 4 trọng giới này từ gốc rễ.
Tại sao gọi là “Tự thành”? Không phải là vị ấy buông thả mà không phạm, mà là cái Nhân để phạm tội đã bị Tuệ giác thiêu rụi.
Hãy phân tích cơ chế “Tuệ soi chiếu Giới” cụ thể qua Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối:
1. Về Sát Sinh: Người thường giữ giới Sát bằng cách đè nén cơn giận. Người có Tuệ vô lậu thấy rõ: “Ta và chúng sinh đồng một thể tánh”. Chặt tay người cũng là đau tay mình. Cái tâm “Sân” và “Phân biệt ngã − nhân” đã bị Tuệ giác soi thủng là hư vọng. Khi không còn Sân và Ngã, động lực nào để cầm dao giết hại? Giới Sát tự thành mà không cần cố gắng.
2. Về Trộm Cắp: Người thường không trộm vì sợ tù tội, sợ quả báo. Người có Tuệ vô lậu thấu triệt lý “Vô sở đắc” (Không có gì để được). Thấy vạn pháp như huyễn, tiền bạc như lá vàng. Tâm Tham đã bị Tuệ giác chuyển hóa thành sự buông xả. Không tham thì lấy của người làm chi? Giới Đạo tự thành.
3. Về Dâm Dục: Đây là cửa ải khó nhất của Lăng Nghiêm. Người thường dùng Định để đè nén dục vọng. Người có Tuệ vô lậu dùng “Quán chiếu Bát Nhã” thấy thân đồng với hư không, tâm tham ái tự nguội lạnh. Lửa dục tắt thì Giới Dâm tự trong sạch.
4. Về Vọng Ngữ: Người ta nói dối để bảo vệ cái Tôi, để mưu cầu danh lợi. Người có Tuệ vô lậu đã phá cái “Ngã chấp”, danh lợi như bọt nước. Họ sống trong chân thật địa, nói một là một.
Không còn nhu cầu dối gạt. Giới Vọng tự nghiêm.
III. LỜI KẾT
Thưa bạn đọc Ngã Hành,
Sự “tự thành” của Giới vô lậu không có nghĩa là Tuệ giác cho phép ta làm điều xằng bậy mà không mang tội. Ngược lại, Tuệ giác chính là máy lọc nước vĩnh cửu. Khi nguồn nước (Tâm) đã sạch nhờ Tuệ, thì dòng nước chảy ra (Hành động − Giới) tự nhiên tinh khiết.
Nếu một người tự xưng là “khai Tuệ” mà vẫn sát sinh hại vật, tà dâm, lừa lọc, thì đó là Tà Tuệ (thông minh của thế gian hoặc ma sự), chứ tuyệt đối không phải là Tuệ Vô Lậu của nhà Phật. Bởi lẽ:
- Có Lửa (Tuệ) thì không thể có Bóng Tối (Vô minh phạm giới).
- Nếu còn Bóng Tối, tức là chưa thực sự có Lửa.
Cơ chế “Cái này có (Tuệ) thì cái kia có (Giới thanh tịnh)” là quy luật tất yếu của Duyên khởi, chặt chẽ và không thể tách rời.
LUẬN VỀ “CHUYỂN Y” VÀ CƠ CHẾ XỬ LÝ HẠT GIỐNG NGHIỆP
Bạn đọc Ngã Hành quả thực là người nghiên cứu giáo lý rất sâu, không chấp nhận những câu trả lời hời hợt bề mặt. Câu hỏi về “Chuyển y” và cơ chế xử lý hạt giống (chủng tử) trong Tàng thức (A-lại-da) là điểm mấu chốt quyết định sự khác biệt giữa một triết học tâm lý và sự tu chứng giải thoát.
Tự Như xin mượn cái nhìn của Thầy Lý Tứ và chánh văn Duy Thức để làm sáng tỏ chỗ “bí hiểm” này. Chúng ta cần đi qua ba tầng lý luận:
I. “CHUYỂN Y” LÀ ĐỔI CHỖ NƯƠNG HAY ĐỔI CÁCH VẬN HÀNH?
Bạn đọc Ngã Hành hỏi: “Tại sao gọi là Chuyển Y (chuyển chỗ nương tựa) nếu bản thể không đổi?”
Cần hiểu chữ “Y” (chỗ nương) ở đây không phải là một địa điểm vật lý, cũng không phải là đổi cái “bản thể A” lấy cái “bản thể B”.
Trong Duy Thức, “Y” chính là Y Tha Khởi Tánh (sự nương gá vào duyên mà sinh khởi).
Khi A-lại-da thức còn mê: Nó làm chỗ nương cho các pháp Hữu lậu (sinh tử, phiền não).
Khi A-lại-da thức đã ngộ (chuyển thành Đại Viên Cảnh Trí): Nó vẫn là nó, nhưng nay làm chỗ nương cho các pháp Vô lậu (Thanh tịnh, Niết bàn).
Ví như bàn tay:
Khi nắm lại đấm người thì gọi là “Nắm đấm” (Hung khí).
Khi xòe ra nâng đỡ thì gọi là “Bàn tay” (Yêu thương).
Bản thể thịt xương (Thức) vẫn y nguyên, nhưng cái “công năng” và “chỗ nương” của hành động đã chuyển từ hại người sang giúp người.
Chuyển Y là sự chuyển đổi trạng thái tồn tại: Từ trạng thái bị ô nhiễm (nhiễm ô y) sang trạng thái thanh tịnh (thanh tịnh y). Không phải là phá hủy A-lại-da để đẻ ra một cái Trí mới, mà là gột rửa A-lại-da để nó hiển lộ công năng chiếu soi vốn có.
II. CƠ CHẾ HẠT GIỐNG: TIÊU DIỆT HAY VÔ HIỆU HÓA?
Đây là chỗ bạn đọc Ngã Hành lo ngại: “Nếu hạt giống không mất đi, làm sao đảm bảo không tái mê?».
Tự Như xin khẳng định theo đúng tinh thần kinh điển: Hạt giống (chủng tử) nghiệp lực không bị tiêu diệt theo nghĩa đen (vật lý), mà nó bị “chuyển hóa” tính năng.
Cơ chế vận hành như sau:
Hạt giống giống như hạt lúa: Hạt lúa muốn nảy mầm (tái sinh, luân hồi) cần phải có Đất, Nước, và Hơi ẩm (Duyên). Duyên ở đây là gì? Là sự “chấp ngã”, là “vô minh”, là “ái thủ”. Đây chính là chất keo dính.
Khi Giác ngộ (Chuyển Thức thành Trí): Tuệ giác (Trí) soi rọi, đốt cháy cái “ái thủ” và “vô minh”. Lúc này, hạt giống nghiệp (chủng tử hữu lậu) giống như “hạt lúa đã bị rang chín”.
Về mặt hình tướng: Nó vẫn nằm đó trong kho tàng ký ức (A-lại da). Về mặt công năng: Nó mất khả năng nảy mầm.
Đó là lý do các bậc Thánh A-la-hán hay Bồ-tát vẫn nhớ chuyện quá khứ (hạt giống ký ức còn), vẫn chịu quả dư tàn trên thân xác (như Mục Kiền Liên vẫn bị ngoại đạo đánh), nhưng báo đã chuyển − tâm các Ngài hoàn toàn không dính mắc, không khổ đau, và quan trọng nhất: Không còn động lực để tái tạo một đời sống luân hồi mới.
Vậy nên, không phải là “xóa sạch dữ liệu” trong ổ cứng A-lại-da, mà là “xóa bỏ chương trình độc hại” (virus vô minh) để dữ liệu ấy trở thành kho tàng trí tuệ (Pháp giới thể tánh trí) phục vụ cho việc độ sinh.
III. VÌ SAO GƯƠNG ĐÃ SẠCH THÌ KHÔNG DÍNH BỤI TRỞ LẠI?
Bạn đọc Ngã Hành hỏi: “Làm sao đảm bảo gương không dính keo lại?”
Câu trả lời nằm ở Kiến Phần (Cái thấy).
Khi Thức thứ 7 (Mạt-na thức) còn mê, nó chấp cái “Kiến phần” của Thức thứ 8 là “Ngã”. Đây là gốc rễ của keo dính.
Khi chuyển thành Bình Đẳng Tánh Trí, Mạt-na thức thấy rõ: “À, thì ra không có cái Ta nào cả, tất cả chỉ là dòng chảy duyên sinh”.
Một khi đã “Thấy” (Kiến tánh) sự thật này, thì cái “Thấy” đó là vĩnh cửu. Giống như một người đã nhận ra sợi dây thừng không phải là con rắn. Dù sau đó trời có tối lại, anh ta có thể giật mình một chút theo quán tính, nhưng anh ta không bao giờ tin đó là con rắn thật để mà sợ hãi đến chết nữa.
Sự “Giác ngộ” không chỉ là cảm xúc tâm lý nhất thời, mà là một bước nhảy lượng tử về nhận thức.
Hữu lậu (Mê): Do Vô minh che lấp.
Vô lậu (Ngộ): Do Trí tuệ chiếu soi.
Khi ánh sáng đã bật lên, bóng tối tự tan. Không có chuyện ánh sáng đang chiếu mà bóng tối len lỏi vào được. Muốn tối trở lại, trừ khi tắt đèn (mất trí tuệ). Nhưng Trí tuệ Bát Nhã một khi đã khai mở thì như mặt trời, mây có thể che (tập khí mỏng) chứ mặt trời không bao giờ tắt.
IV. TỔNG KẾT VỀ 4 TRÍ TƯƠNG ƯNG
Hệ thống 4 Trí là tên gọi mới cho chức năng mới của 8 Thức khi đã sạch lậu hoặc:
1. Thành Sở Tác Trí (tiền ngũ thức): Mắt, tai, mũi... trước kia dùng để săn đuổi dục lạc, nay dùng để làm việc đạo, độ sanh. (Vẫn là mắt tai đó, nhưng làm việc khác).
2. Diệu Quan Sát Trí (Thức thứ 6 − Ý thức): Trước kia dùng để phân biệt, so đo, đố kỵ. Nay dùng để quan sát căn cơ chúng sinh mà thuyết pháp vi diệu.
3. Bình Đẳng Tánh Trí (Thức thứ 7 − Mạt na): Trước kia chấp Ngã, chia rẽ Ta − Người. Nay thấy vạn pháp bình đẳng, Ta và Người đồng thể.
4. Đại Viên Cảnh Trí (Thức thứ 8 − A lại da): Trước kia là kho chứa rác rưởi sống chết. Nay là tấm gương tròn lớn phản chiếu trọn vẹn vũ trụ mà không lưu dấu vết.
Kết luận:
Chuyển Thức thành Trí là một cuộc cách mạng về “Thái độ (tâm thức) đối với thực tại” chứ không phải cuộc cách mạng thay đổi vật chất của thực tại.
Hạt giống không mất, nhưng chết cái mầm tái sinh.
Gương không đổi, nhưng hết tính dính mắc.
Đó gọi là “Chuyển Y” − Chuyển từ nương vào Vô minh sang nương vào Giác ngộ.
LUẬN VỀ TỨ PHÁP ẤN VÀ TỨ ĐỨC NIẾT BÀN: PHƯƠNG TIỆN VÀ CỨU CÁNH
Bạn đọc Ngã Hành lại một lần nữa truy vấn đến tận cùng gốc rễ, đặt Tứ Pháp Ấn (Vô thường, Khổ, Vô ngã, Bất tịnh) lên bàn cân đối chiếu với Tứ Đức của Như Lai Tạng (Thường, Lạc, Ngã, Tịnh). Câu hỏi: “Phải chăng giáo pháp của Phật ở cấp độ này lại phủ định cấp độ kia? Và đâu là kinh điển xác chứng cho sự ‘trái ngược’ này?” là một câu hỏi sòng phẳng, cần được trả lời bằng sự thấu triệt giữa Phương Tiện và Cứu Cánh, chứ không thể dùng lý luận vòng vo mà khỏa lấp.
Tự Như xin đi thẳng vào trọng tâm: Tứ Pháp Ấn chưa bao giờ mất hiệu lực, nhưng phạm vi hiệu lực của nó nằm ở thế giới “Hữu vi” (sinh diệt). Còn Như Lai Tạng thuộc về phạm trù “Vô vi” (bất sinh bất diệt). Dùng thước đo của thế giới sinh diệt để đo lường cảnh giới bất sinh diệt, ấy là sự khập khiễng về mặt nhận thức luận ngay từ khởi điểm.
I. TỨ PHÁP ẤN: THUỐC TRỊ BỆNH CHẤP NGÃ, KHÔNG PHẢI LÀ CHÂN LÝ CỨU CÁNH
Đức Thế Tôn khi xưa thuyết Tứ Pháp Ấn là để phá cái chấp sai lầm của chúng sinh. Chúng sinh mê lầm cho thân này là thật, tâm này là thường, thế gian là vui. Vì cái “bệnh” ấy, Như Lai phải bốc thang “thuốc” đối trị:
Vì chúng sinh chấp Thường, Phật nói Vô Thường.
Vì chúng sinh chấp Lạc (trong dục lạc), Phật nói là Khổ, Bất Tịnh
Vì chúng sinh chấp Ngã (cái tôi giả tạm do ngũ uẩn hợp thành), Phật nói Vô Ngã.
Tứ Pháp Ấn là chân lý của vạn pháp hữu vi. Tức là hễ cái gì có hình tướng, có sinh ra, có hoại diệt, thì cái đó chịu sự chi phối của Vô thường, Khổ, Vô ngã.
Nhưng nếu bạn đọc Ngã Hành cho rằng Tứ Pháp Ấn là chân lý tột cùng bao trùm cả Niết Bàn, thì sẽ rơi vào một lỗi lầm nghiêm trọng về mặt logic học Phật đạo: Nếu Niết Bàn (hay Như Lai Tạng) cũng là Vô thường, Khổ, Vô ngã, thì Niết Bàn cũng là pháp sinh diệt, cũng là khổ đau sao? Vậy chúng sinh tu hành để đạt đến cái chỗ “vẫn khổ, vẫn vô thường” ấy để làm gì?
II. KINH ĐIỂN NÀO XÁC CHỨNG SỰ “LẬT NGƯỢC” NÀY?
Ngã Hành đòi hỏi kinh điển, Tự Như xin dẫn ngay Kinh Đại Bát Niết Bàn − bộ kinh tối thượng thừa được Phật thuyết vào những giây phút cuối cùng trước khi nhập diệt trong lần Chuyển Pháp Luân Thứ 3 (Chuyển Pháp Luân Cuối Cùng). Đây là lúc Đức Thế Tôn “thu lại phương tiện” để chỉ bày “cứu cánh”.
Trong phẩm Sư Tử Hống hoặc phẩm Tứ Tướng, Đức Phật đã dạy rất rõ về sự chuyển hóa từ Tứ Pháp Ấn sang Tứ Đức Niết Bàn.
Đức Phật ví dụ: Như người thầy thuốc giỏi, khi trị bệnh cho trẻ nhỏ phải dùng sữa pha thuốc (ví như Tứ Pháp Ấn). Nhưng khi bệnh đã lành, cần phải cho trẻ ăn thức ăn bổ dưỡng tinh khiết (ví như Như Lai Tạng). Nếu lúc đã lành bệnh mà vẫn cứ bắt uống thuốc mãi, thì thuốc đó trở thành độc dược.
Kinh Đại Bát Niết Bàn dạy:
“Vô ngã là Luân hồi. Chân Ngã là Niết Bàn.
Vô thường là Thế gian.
Thường trụ là Phật tánh.
Khổ là Hữu vi. Lạc là Tịch diệt.”
Đức Phật quở trách những ai chấp chặt vào “Vô ngã” mà không nhận ra “Chân Ngã” (Phật tánh) cũng giống như người mù sờ voi, hoặc như kẻ ngu si nhặt sỏi đá mà tưởng là ngọc quý. Cái “Ngã” trong Tứ Đức (Thường − Lạc − Ngã − Tịnh) không phải là cái “Tiểu Ngã” (chữ Ngã trong tên nhân vật Nhậm Ngã Hành) tham sân si của phàm phu, mà là “Đại Ngã” (Chân Ngã) − là chân lý, là bản thể thanh tịnh trùm khắp, không còn đối đãi nhị nguyên.
III. KHÔNG PHẢI BÃI BỎ, MÀ LÀ VƯỢT GỘP
Ngã Hành hỏi: “Có phải Tứ Pháp Ấn bị bãi bỏ?”. Tự Như trả lời: Không bãi bỏ, nhưng không còn áp dụng cho cảnh giới Như Lai Tạng.
Hãy tưởng tượng: Định luật vạn vật hấp dẫn của Newton rất đúng ở đời sống vĩ mô mặt đất (ví như Tứ Pháp Ấn đúng ở thế gian). Nhưng khi đi vào thế giới lượng tử hoặc tốc độ ánh sáng, ta cần Thuyết Tương Đối (ví như Tứ Đức Niết Bàn). Thuyết Tương Đối ra đời không làm cho định luật Newton sai đi trong phạm vi đời sống thường nhật, nhưng nó cho thấy định luật Newton không đủ tầm để giải thích vũ trụ ở tầng mức cao hơn.
Tương tự, khi hành giả còn đang lặn ngụp trong sinh tử, còn chấp thân tâm này là mình, thì Tứ Pháp Ấn là khuôn vàng thước ngọc để tu hành. Nhưng khi đã phá tan màn vô minh, nhận ra bản tánh Như Lai Tạng, thì lúc này cảnh giới ấy là:
Thường: Vì không còn bị sinh diệt chi phối.
Lạc: Vì dứt sạch mọi khổ đau của sự biến dịch.
Ngã: Vì làm chủ hoàn toàn, tự tại vô ngại (Chân Ngã).
Tịnh: Vì không còn chút gợn nhơ cấu nhiễm.
IV. LỜI KẾT
Sự mâu thuẫn mà bạn đọc Ngã Hành nhìn thấy thực chất là sự mâu thuẫn giữa “cái ngón tay chỉ trăng” và “mặt trăng”.
Tứ Pháp Ấn là ngón tay chỉ: “Cái kia không phải là trăng (Vô ngã), cái kia giả tạm (Vô thường)”.
Như Lai Tạng chính là mặt trăng: Sáng, tròn, đầy đặn (Thường, Lạc, Ngã, Tịnh).
Người học Phật nếu cứ ôm chặt lấy ngón tay (Tứ Pháp Ấn) mà không chịu nhìn mặt trăng (Như Lai Tạng), thì mãi mãi chỉ là người đứng ngoài cửa đạo, giỏi biện luận trên danh tự mà thiếu đi sự nếm trải mùi vị giải thoát thực sự.
Tự Như xin chốt lại một câu để bạn Ngã Hành tỏ tường:
Giáo pháp sơ cơ dùng để phá chấp.
Giáo pháp cứu cánh dùng để hiển tánh.
Dùng pháp phá chấp để đo lường tánh chân thật, thì e rằng đã chọn sai thước đo vậy.
TỰ NHƯ GỬI GẮM BẠN ĐỌC NGÃ HÀNH
Đọc những tất cả 15 câu hỏi phản biện của bạn đọc Ngã Hành với Huynh Đệ Lý Gia, Tự Như nhận thấy bạn đọc Ngã Hành đang bị mắc kẹt ở ngôn từ và lý luận, mắc kẹt cả ở pháp hữu vi và pháp vô vi.
Nhưng bạn đọc Ngã Hành thân mến, thắng nghĩa tuyệt đối của chư Phật lại vượt thoát những điều đã nêu trên. Để kết lại, Tự Như xin gửi tặng bạn đọc Ngã Hành một đoạn trong Phẩm Thắng Nghĩa − Kinh Giải Thâm Mật để bạn đọc Ngã Hành chiêm nghiệm, và Tự Như cũng không giải thích gì thêm:
“Lúc ấy đại bồ tát Như lý thỉnh vấn lại hỏi đại bồ tát Giải thâm nghĩa ý: Tối thắng tử, như thế nào gọi là sự thể các thánh giả, bằng sự thấy biết rất thánh, tách rời ngôn ngữ nên thể hiện sự chánh biến giác (đối với pháp tánh), rồi chính nơi pháp tánh tách rời ngôn ngữ ấy, các ngài muốn làm cho người khác cũng thể hiện chánh biến giác, nên giả thiết ngôn từ mà hoặc nói là hữu vi, hoặc nói là vô vi?
Đại bồ tát Giải thâm nghĩa ý trả lời đại bồ tát Như lý thỉnh vấn: Thiện nam tử, như nhà ảo thuật, hay đồ đệ của nhà ảo thuật, đứng giữa ngã tư, gom cỏ lá ngói gạch, và những vật liệu cùng việc, làm ra những ảo trạng tượng binh, mã binh, xa binh, bộ binh, ma ni, trân châu, lưu ly, loa bối, bích ngọc, san hô, kho tàng tiền của, kho tàng thóc gạo…
Những kẻ thuộc loại ngu đần, hiểu sai, không trí thức, thì thấy nghe những ảo trạng trên các vật liệu rồi, nghĩ rằng những gì mình thấy nghe thật là tượng binh cho đến kho tàng thóc gạo…, lại y như sự thấy nghe ấy mà cố chấp và diễn tả, cho rằng chỉ sự thấy nghe ấy là đúng, ai nói khác đi là dốt và láo cả. Những kẻ như vậy sau đó rất cần quan sát lại.
Còn những người thuộc loại không ngu đần, hiểu đúng, có trí thức, thì thấy nghe những ảo trạng trên các vật liệu rồi, nghĩ rằng những gì mình thấy nghe toàn không thật tượng binh cho đến kho tàng thóc gạo…, thế nhưng có những ảo trạng mê hoặc thị giác, nên tưởng đây là bản thân con voi và đây là chi tiết trên bản thân ấy, cho đến tưởng đây là bản thân kho tàng thóc gạo và đây là chi tiết trên bản thân ấy; họ không y như sự thấy nghe mà cố chấp và diễn tả, cho rằng chỉ sự thấy nghe ấy là đúng, ai nói khác đi là dốt và láo cả. Nhưng họ muốn làm cho người khác cũng biết sự thật như vậy nên cũng sử dụng ngôn từ. Những người như vậy sau đó không cần quan sát nữa.”
Ngày 24 tháng 11 năm 2025 − Lý Tự Như”
2. TRẢ LỜI CỦA LÝ HOÀNG ANH
“Con kính thưa Thầy,
Thể theo yêu cầu của bạn đọc Ngã Hành, con xin hồi đáp truy vấn của bạn đọc.
Hoàng Anh xin chào bạn đọc Ngã Hành!
Theo truy vấn của bạn đọc, câu hỏi gửi trực tiếp đến Hoàng Anh, trước tiên, cảm ơn bạn đọc Ngã Hành đã có thêm câu hỏi, với mong muốn được rõ ràng hơn vấn đề, Hoàng Anh rất cảm kích tinh thần học tập này.
Hoàng Anh xin hồi đáp bạn đọc Ngã Hành các ý sau:
- Trước tiên cần làm rõ: người học tập Phật giáo cần biết các loại trí trong Phật đạo có ý nghĩa gì và vì sao người học cần thành tựu các loại trí.
- Ấy là vì: Nhận thức là gốc rễ của mọi vấn đề!!! Mê từ nhận thức mà ngộ cũng từ nhận thức!!! Các loại trí Phật đạo nhằm chỉ cho các cảnh giới trong tâm thức ở đâu trong hành trình học tập. Hành trình học tập này theo các bước của 37 Phẩm.
- Vì thế, ba loại trí: Trí Như Lý, Trí Lậu Tận, Trí Vô Phân Biệt là ba tầng nhận thức nhằm giải quyết các vấn đề Tứ Đế, là: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế.
* Trí Như Lý và Trí Lậu Tận xác chứng thành tựu trong việc giải quyết các vấn đề thuộc thế đế, tức Khổ đế và Diệt đế.
* Trí Vô Phân Biệt xác chứng thành tựu trong giải quyết các vấn đề thuộc Diệt đế và bước vào Đạo đế.
Từ đây, mới có thể hiểu được vì sao ba loại trí này đi theo trình tự: Trí Như Lý, Trí Lậu Tận, Trí Vô Phân Biệt.
Tầng nhận thức thứ nhất: Nhận thức có được từ có chánh giác.
1. Phàm phu không có được chánh giác này, nên đời sống y theo các pháp thế gian mà thành đời sống đầy ưu bi khổ não.
2. Một phàm phu được học tập đúng chánh pháp, tin theo chánh pháp, y theo chánh pháp mà thực hiện, ứng dụng vào đời sống của mình theo đúng y như pháp, thì kết quả thấy được sẽ là khổ bi mỏng nhẹ đi dần, xử lý được phần lớn các vấn đề thô trọng của cấp Khổ đế (là 8 món khổ nhân sinh, đặc biệt 4 món khổ về Thân).
3. Thực hành được y như lý (như pháp) và có được kết quả như pháp (như mô tả ở trên) gọi là Trí Như Lý.
Nghĩa là một người nhờ có trí mà thông cảm được với những điều chân lý, tương thông được với những điều chân lý và bằng lòng sống theo những điều như chân lý. Đây là loại trí thuộc thế gian, gọi là trí của hàng hữu học, tức nhờ học tập mà biết, không được học thì không tự biết.
Tầng nhận thức thứ hai: Nhận thức có được từ đời sống sống đúng như chánh pháp một cách triệt để, tức từ nhận thức được gọi là Trí Như Lý tiếp tục làm cho nhận thức này sâu sắc hơn.
1. Hàng hữu học sau khi thấy được kết quả đúng như pháp (như lý), sinh tâm hoan hỉ, yêu thích việc học tập, càng tinh tấn tín thọ phụng hành mọi điều pháp nói một cách vô cùng triệt để.
2. Sự triệt để sâu sắc đến trở thành một thói quen và đời sống đi theo thói quen mới này. Thói quen đó là những điều đúng y với những tuyên thuyết trong giáo pháp, mà dần dần chế ngự được tâm, thoát ly được ra khỏi các lậu hoặc.
Điều này bạn đọc Ngã Hành có thể tham khảo trong Kinh Tất Cả Các Lậu Hoặc (thuộc Kinh Trường Bộ), đây là bản kinh Phật dạy các đệ tử Thanh văn phương cách để phòng hộ các lậu hoặc.
Hàng Thanh văn y theo giáo pháp mà phụng hành, chấp pháp triệt để, thoát ly được các nguyên nhân phát khởi kiết sử, đời sống chấm dứt khát ái, chấm dứt tham sân si, thì chấm dứt được lậu hoặc, tâm dừng sanh-diệt, gọi là chấm dứt luân hồi.
Các tập nhân kiết sử khiến phát sinh lậu hoặc đã được chế ngự, không còn phát khởi trong lòng nữa, đây là thành tựu Tập đế, gọi là dứt Tập. Thành tựu này cũng được xem là thành tựu Diệt đế của bậc Nhị thừa (Thanh văn, Duyên giác) bởi tâm đã được chế ngự dừng sanh-diệt, đã cách ly hoàn toàn với lậu hoặc.
Tới đây, vị thành tựu chứng Diệt dõng dạc tuyên bố như sư tử hống Tứ thành tựu: Chư lậu dĩ tận − Phạm hạnh dĩ lập − Sở tác dĩ biện − Bất thọ hậu hữu, thành tựu quả vị A-la-hán.
3. Thoát ly được các kiết sử và chấm dứt lậu hoặc, đến đây vị thành tựu này được gọi là thành tựu Trí Lậu Tận, nghĩa là trí của một người nhờ chấp pháp triệt để mà đã đoạn tận với lậu hoặc, đã chế ngự được tâm thức không còn luân hồi sanh-diệt. Vì thế, tầng trí của một vị chứng quả A-la-hán là Trí Lậu Tận.
Một vị A-la-hán phân biệt rất rõ chấp pháp và không chấp pháp, và sống hoàn toàn, đầy đủ trong sự chấp pháp. Trí này vẫn còn là là trí của hàng hữu học vì chưa ra ngoài được sự phân biệt chấp pháp và không chấp pháp, tuy tâm thức vô lậu, nhưng chưa hoàn toàn sạch bóng dáng của pháp lành. Vì vậy, trí này chưa được gọi là trí không phân biệt.
Tầng nhận thức thứ ba: Nhận thức vượt thoát ra khỏi mọi nhị nguyên đối đãi.
1. Hoàn cảnh:
Phần lớn, đối với hàng tục gia, do hoàn cảnh sống không thể tách rời khỏi đời sống thế gian (sống trong gia đình, công việc, xã hội) và tiếp xúc thường xuyên với văn hoá thế gian, sẽ không có đủ điều kiện để thực hiện đời sống như một vị cát ái ly gia. Vì thế, vị thế tục gia phải thâm nhập giáo pháp bằng con đường nhận thức. Đó là nhận thức đúng đắn về tâm và pháp theo đúng nhân sinh quan và vũ trụ quan Phật đạo.
2. Bản chất, đó là:
* Về Tâm. Tâm chỉ là những hiệu ứng tình cảm, khởi sinh khi ba duyên căn-trần-thức hoà hợp trong điều kiện mê mờ (tức nhận thức còn vô minh, chưa sáng suốt). Tâm này theo quy luật sanh-trụ-dị-diệt, không bền chắc, nên tâm này là một cái tâm không chơn thiệt.
Phật giáo chỉ ra rằng: Bổn lai một hữu tình vốn không có một cái gì được gọi là tâm, kinh gọi là chơn tâm, là một cách tạm gọi để phân biệt với cái tâm không chơn thiệt do mê sanh. Bạn đọc Ngã Hành có thể tham khảo trong các kinh Lăng Già, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Đại Bát Nhã,… đều có những phẩm Phật dạy về tâm.
* Về Pháp. Pháp là những quan điểm, quan niệm mà thế gian định đặt lên các hiện tượng, sự vật, sự việc. Những quan điểm quan niệm định đặt này không có tính chân lý do không bền chắc, không thật tướng và không tự là chính nó, cũng theo quy luật sanh-trụ-dị-diệt.
Điều này bạn đọc Ngã Hành có thể tìm hiểu qua đoạn kinh Phật dạy, đại ý: Ta dùng Phật nhãn quan sát hết thảy núi non, sông ngòi, địa đại, tinh tú, hữu tình, vô tình… không một pháp có được.
3. Vì hoàn cảnh đời sống của tục gia cư sĩ, nên để giải thoát khỏi tâm thức sanh-diệt vô thường, vị này chỉ có một cách là học tập một cách đúng đắn, hiểu đúng đắn về bản chất thực sự của tâm và pháp, mà sáng suốt trong thấy nghe thì tâm tự dừng, tự giải phóng tâm thức ra khỏi mọi trói buộc của các pháp thì ý tự dừng sanh pháp.
* Trong đời sống, trước mọi thấy nghe, mà không còn bị cảnh làm động lay, thì tâm tự không sanh. Gọi là thành tựu vô sanh tâm. Thành tựu này thuộc về nhận thức, cũng gọi là Trí Lậu Tận, do tâm không sanh mà tâm được vô lậu.
* Chỉ có thể dừng sanh pháp khi tâm thức rốt ráo không còn hai nguyên đối đãi, tức trong lòng rốt ráo không còn cái này cái kia, không còn pháp lành hay không pháp lành. Mà như trong phần trả lời kỳ trước, Hoàng Anh có ví dụ ẩn dụ về gương sáng. Đối trước mọi sự thấy nghe hay biết, đều như gương sáng soi vật, không lưu giữ ảnh, không bị chi phối bởi cảnh, bình đẳng không phân biệt cảnh qua gương. Đây là cảnh giới của bất động giải thoát. Thành tựu này thuộc về nhận thức. Nhận thức này gọi là Trí Vô Phân Biệt do đã rời lìa hai nguyên đối đãi. Nhận thức bắt đầu từ đây, trong việc học tập, các sự hiểu biết đều từ trực nhận mà hiểu biết. Đây là cảnh giới của Xuất thế gian, vượt quá sự nghĩ bàn của người còn ở trong thế pháp.
Kết luận:
Qua các kiến giải trên về ba loại trí, là ba tầng bậc nhận thức của người học tập Phật giáo, nhằm để giải quyết các vấn đề Tứ Đế, cũng như trình bày về sự khác biệt giữa các tầng nhận thức, Hoàng Anh đã làm rõ với bạn đọc Ngã Hành về ba ý bạn đọc truy vấn:
1. Tại sao Lý Gia lại sắp xếp Trí Vô Phân Biệt (căn bản trí) ở cấp độ cao nhất (Vô học − Phật)?
Sự sắp xếp này không phải là Lý Gia tự sắp xếp, mà đây là lộ trình học tập theo đúng tinh thần Tứ Đế và 37 Phẩm trong giáo pháp Phật giáo.
2. Trí Lậu Tận (dứt lậu hoặc, tương đương A-la-hán) lại chỉ là cấp độ thứ hai?
Trí Lậu Tận chỉ mới chấm dứt lậu hoặc, tức sự ngừng rỉ chảy các kiết sử từ trong tâm thức, khiến sanh ra các thứ tâm phiền não, ưu bi, chỉ mới thành tựu được tâm Vô lậu. Nhận thức đã giác ngộ nhưng chưa rốt ráo, bởi chưa hoàn toàn vượt thoát ra khỏi thế pháp do còn nắm giữ pháp lành.
3. Nếu vọng tưởng chấp dứt, tức là lậu hoặc đã hết, thì tại sao Trí Lậu Tận (dứt lậu hoặc) lại là quả vị thấp hơn Trí Vô Phân Biệt?
Trí Vô Phân Biệt ở tầng nhận thức cao hơn bởi đây là tầng nhận thức của những người đã giác ngộ rốt ráo và ở trong văn hoá của Xuất thế gian.
Hoàng Anh cũng xin nói thêm, Trí Vô Phân Biệt chưa phải là tầng trí cao nhất trong Phật đạo. Mà đây chỉ là trí căn bản, từ đây người học tập Phật giáo mới có thể thâm nhập sâu vào những thâm sâu của Phật đạo bằng việc phát tâm cầu học trí tuệ cho đến viên mãn các loại trí, gọi là tu Đạo thuộc Đạo đế, viên mãn huệ và viên mãn công hạnh.
Mong rằng kiến giải ngắn như trên phần nào giải toả được những thắc mắc của bạn đọc Ngã Hành. Để có thể hiểu biết thực sự sâu sắc và thấm nhuần, duy nhất chỉ có một con đường, đó là học tập một cách đúng đắn để có được nhận thức đúng đắn theo đúng tinh thần Phật đạo.
Chúc bạn đọc Ngã Hành an vui, thành ở đời, đạt ở đạo !!!
Thân mến, Lý Hoàng Anh”
3. TRẢ LỜI CỦA LÝ ĐẠT THỊNH
“Dạ con kính thưa Thầy, con là Lý Đạt Thịnh, được sự cho phép của Thầy nên con xin được trả lời truy vấn bạn đọc gởi đến chuyên mục BẠN ĐỌC HỎI − LÝ TỨ TRẢ LỜI − 67/2025 !!!
Truy Vấn Lý Diệu Tâm (MB0465), Lý Phương Anh (MB424), Lý Tự Như (MB1700), Lý Đạt Thịnh (MĐ1138) − Về Tam Vô Lậu Học
Các HĐ đều khẳng định: Tam Vô Lậu Học (Giới − Định − Tuệ Vô Lậu) thành tựu đồng thời, là hệ quả của nhau, và chỉ cần thành tựu một học pháp vô lậu, các học pháp còn lại tự thành tựu.
NGÃ HÀNH HỎI:
Lý Phương Anh dẫn Kinh Lăng Nghiêm: “Nhiếp tâm là Giới. Do Giới sanh Định. Do Định phát Tuệ.” Đây là một tiến trình tuần tự rõ ràng. Các vị giải thích rằng đây là Giới-Định-Tuệ thế gian hay Giới-Định-Tuệ hữu lậu. Tuy nhiên, Kinh Lăng Nghiêm nói đến “Giới sanh Định, Định phát Tuệ” lại nằm trong bối cảnh tu Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối (Giới Bồ Tát) và sự Kiến Tánh để tránh đọa lạc. Vậy, xin hỏi: Nếu ba cái đồng thời, thì tại sao Kinh điển lại mô tả một tiến trình nhân quả (Do... sanh..., Do... phát...)?
Xin giải thích rõ cơ chế “cái này có nên cái kia có” trong bối cảnh Vô Lậu Học. Giả sử một người “Tuệ giác được khai mở” (Tuệ Vô Lậu thành tựu) do học tập giáo pháp (theo Lý Phương Anh). “Giới vô lậu” tự thành tựu bằng cách nào? Liệu nó có đồng nghĩa với việc vị ấy hoàn toàn không phạm bất kỳ giới luật nào của Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối (Sát, Đạo, Dâm, Vọng) nữa chăng?
Trả lời:
Phật thuyết Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối sau khi đại chúng đã được khai thị về Tâm cũng như 25 pháp viên thông. Tức đại chúng đã được giác ngộ sau thời pháp này, như ĐOẠN V − NGHE PHÁP ĐƯỢC CHỨNG: “Lúc ấy, ông A Nan cùng cả đại chúng, thân tâm tỏ rõ” hay “đều được bản tâm xa trần tướng, rời cấu nhiễm, được Pháp nhãn thanh tịnh” (Kinh Thủ Lăng Nghiêm − Việt dịch: Cư Sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám).
Vì vậy, “nhiếp tâm” trong hoàn cảnh này không hề mang ý nghĩa nương nơi một sở pháp theo hình thức thế gian!
Sau khi giác ngộ, vì tập khí lâu đời chưa một lúc tịch diệt hoàn toàn nên Bồ Tát y nơi chỗ giác ngộ mà các tập khí này tự tịch diệt hoàn toàn nên gọi “nhiếp tâm”. Vì vậy, một chữ “nhiếp tâm” này đã mang ý nghĩa của giác ngộ và Tam Vô Lậu Học, cũng như Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối!
Ta có thể bắt gặp hình ảnh Bồ Tát y nơi giác ngộ mà các vọng niệm tự tịch diệt:
Kinh Viên Giác (HT. Thích Thiện Hoa dịch): “Này Thiện nam! Nếu các Bồ Tát ngộ được Viên Giác thanh tịnh rồi, thì y theo tâm Viên Giác thanh tịnh này mà giữ cái hạnh yên lặng và lóng các vọng niệm. Khi các giác quán vọng thức phiền động đã lặng rồi, thì trí huệ thanh tịnh phát sanh. Lúc bấy giờ cái thân tâm hư vọng sanh diệt như khách và nhiễm ô như bụi này, từ đây diệt hết.
Khi đó trong nội tâm của hành giả sanh ra vắng lặng và nhẹ nhàng thư thới (tịch tịnh khinh an) nên chư Phật trong mười phương thế giới đều hiện ra trong tâm của hành giả, rất rõ ràng như bóng hiện trong gương.”
Lời kết: khi đọc một đoạn Kinh thì ta cần biết rõ hoàn cảnh, thuyết cho những ai và mục đích là gì… Đó là yếu tố then chốt giúp ta nắm được ý Kinh mà tránh sa đà vào chữ viết và ngôn ngữ.”
4. TRẢ LỜI CỦA LÝ DIỆU ÂM
“Kính gửi Bạn đọc Ngã Hành
Cảm ơn bạn đọc Ngã hành đã tạo điều kiện cho HĐTM Lý Gia một lần nữa được trả lời những truy vấn mà bạn đọc đưa ra. Mình là Lý Diệu Âm − Học trò số 572 của Thầy Lý Tứ. Với truy vấn của bạn đọc hỏi, mình xin trích lại câu hỏi như sau Truy Vấn Lý Diệu Âm (MB572), Lý Tự Như (MB1700), Lý Minh Thuỳ (MĐ0180), Lý Ngọc Linh (MB721), Lý Mai Phương (EU2190) − Về Cơ Chế Chuyển Thức Thành Trí.
Các HĐ đều thống nhất rằng “chuyển” ở đây là chuyển đổi tính chất (mê sang giác, u tối sang minh liễu, dính chấp sang soi chiếu) chứ không phải chuyển đổi bản thể (Thức vẫn là Thức, gương vẫn là gương).
NGÃ HÀNH HỎI:
Nếu sự chuyển đổi chỉ là “tính chất” (từ dính keo sang hết keo, từ mê sang giác) mà bản thể (Thức) vẫn không đổi, thì tại sao Duy Thức Học lại dùng thuật ngữ “chuyển y” (chuyển cái chỗ nương tựa) và lại chia thành Bốn Trí (Đại Viên Cảnh Trí, Bình Đẳng Tánh Trí, Diệu Quan Sát Trí, Thành Sở Tác Trí) tương ứng với sự chuyển đổi của Tám Thức?
Sự thay đổi về tính chất (Giác Ngộ) là một kinh nghiệm tâm lý chủ quan. Nếu không có sự thay đổi cấu trúc nghiệp lực (hạt giống) bên trong Tàng Thức (cái kho chứa), thì làm sao đảm bảo rằng sau khi “gương hết keo” (giác ngộ), nó sẽ mãi mãi không bị dính keo lại (tái mê) nữa? Việc này có đồng nghĩa với việc tất cả hạt giống (chủng tử) hữu lậu trong A-lại-da đã bị tiêu diệt hay chuyển hóa thành chủng tử vô lậu không? Nếu có, cơ chế đó là gì?
1. Hỏi:
Nếu sự chuyển đổi chỉ là “tính chất” (từ dính keo sang hết keo, từ mê sang giác) mà bản thể (Thức) vẫn không đổi, thì tại sao Duy Thức Học lại dùng thuật ngữ “chuyển y” (chuyển cái chỗ nương tựa) và lại chia thành Bốn Trí (Đại Viên Cảnh Trí, Bình Đẳng Tánh Trí, Diệu Quan Sát Trí, Thành Sở Tác Trí) tương ứng với sự chuyển đổi của Tám Thức?
Đáp:
- Bản chất của Thức là Không tánh, không mê, không giác, nhưng chúng sinh có mặt trên đời thấy biết theo nghiệp quả, bị chính các tri kiến đã huân tập làm nhiễm ô, nên cái biết (Thức) bị sai lệch, mọi nhận thức bây giờ không còn đúng với bản chất của thân tâm và thế giới, tạm gọi là Thức Mê, thức mê làm nhiễm ô Tánh giác (tánh biết) vốn luôn sáng suốt thường hằng.
- Thức mê tạm chia làm tám thức gồm tiền ngũ thức, ý thức, mạt na thức, A lại da thức và 1 thức phụ là lưu chú thức, nhằm giúp người tu hành nhận biết cụ thể từng loại thức để thuận lợi cho việc “chuyển y” từ mê sang giác, tuy nói 8 hay 9 thức nhưng chỉ có 1 thức làm 8 ,9 chức năng khác nhau mà thôi.
- Trong quá trình chuyển thức thành trí: Người tu hành (giác ngộ) chuyển Tiền ngũ thức (năm nhận thức thông qua 5 căn trên thân) thành Thành sở tác trí hay thành sự trí , chuyển Ý thức thành Diệu quan sát trí, Khi Tiền Ngũ Thức và ý thức được chuyển đổi thì 2 thức sau sẽ tự động chuyển theo: Mạt na thức chuyển thành Bình đẳng tánh trí, A lại da thức thành Đại viên cảnh trí.
- Khi chuyển thành công 8 thức thành 4 trí thì Tánh giác không bị nhiễm ô, luôn sáng suốt, khi đó Trí thay thế chức năng của Thức, trí đảm đương mọi hoạt động của thức ngày xưa, vẫn thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, nghĩ suy nhưng không mê muội, không u tối, không loạn động, không trói buộc, không phiền não và không bị sai sử nữa, chuyển cái chấp nhất thành không chấp nhất, do đó mới có câu “Thức tức Trí”, Thức loạn động u tối bây giờ thành trí sáng suốt, chứ không phải như bạn đọc Ngã Hành nói “Thức vẫn là thức, gương vẫn là gương”- Thế nên chỉ người giác ngộ mới có thể chuyển thức thành trí, nếu không hiểu bản chất của thức, trí, bản chất của sự chuyển đổi thì có học thuộc thế nào là thức, thế nào là trí thì cũng chỉ có thể chuyển trên văn tự.
2. Hỏi:
Sự thay đổi về tính chất (Giác Ngộ) là một kinh nghiệm tâm lý chủ quan. Nếu không có sự thay đổi cấu trúc nghiệp lực (hạt giống) bên trong tàng Thức (cái kho chứa), thì làm sao đảm bảo rằng sau khi “gương hết keo” (giác ngộ), nó sẽ mãi mãi không bị dính keo lại (tái mê) nữa? Việc này có đồng nghĩa với việc tất cả hạt giống (chủng tử) hữu lậu trong A-lại-da đã bị tiêu diệt hay chuyển hóa thành chủng tử vô lậu không? Nếu có, cơ chế đó là gì?
Đáp:
- Sự thay đổi về tính chất (từ mê sang Ngộ) KHÔNG PHẢI là một kinh nghiệm tâm lý chủ quan như bạn đọc hiểu, mà là sự thực chứng trong tâm thức khi người học tập chánh pháp đã thay đổi nhận thức như pháp.
- Tàng thức “cái kho chứa” chỉ bị “dính keo” khi Thức mê (bị nhiễm ô bởi tri thức thế gian), khi đã chuyển thành trí thì “keo dính” tự mất trả Thức về đúng bản chất Không tánh của Thức. Tất cả các hành hoạt (thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, nghĩ suy đều sáng suốt, không bị nhiễm ô).
- Thức mê ví như người còn trong chiêm bao, Trí như người đã tỉnh giấc, vì vậy người tỉnh giấc không còn lo lắng hay bị phiền não bởi những chuyện ở trong chiêm bao.
- Khi giác ngộ, A lại da thức như một kho chứa đồ, tất cả mọi hành hoạt thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm hay nghĩ suy giờ được xử lý bằng trí tuệ, thế nên A lại da thức chỉ giữ lại món nào cần thiết cho đời sống, những thứ tạp nhạp vô bổ huân tập từ trước nay được loại bỏ, thanh lý, không còn hữu lậu, không còn phiền não rỉ chảy nữa.
- Bạn đọc có thể tìm đọc bài viết của thầy Lý tứ về chủ đề chuyển thức thành trí trên Website lytu.vn.
Tái bút: Như thầy viết, ngày nghỉ thực sự là ngày bận rộn với HĐTM Lý Gia, chủ nhật, khi 4h30 sáng, chuông báo thức reo, HĐTM chúng mình đã nhanh chóng thức dậy để chuẩn bị cho buổi học Giáo Pháp Nâng cao vào 5h sáng, 1h trưa HĐ lại chuẩn bị vào học Phật giáo và Thiền thầy giảng cho HĐTM Châu Âu, đến tối, chúng mình lại chuẩn bị cho khóa học Giáo Pháp Căn bản triển khai sắp tới, 4h30 sáng khi mọi người còn đang say giấc, nhìn Thầy mình với mái tóc trắng xoá ở cái tuổi quá thất thập cổ lai hy vẫn cần mẫn dạy bảo chúng mình từng ý nghĩa ẩn mật trong lời kinh, mình thật sự rất xúc động. Giáo pháp Thế tôn để lại hơn 2600 năm trước giờ được Thầy Lý Tứ truyền trao vẫn còn nguyên ý vị như thời Thế tôn còn tại thế. Chúng mình là những người con Phật chỉ biết sẽ nỗ lực hết mình để học tập trí tuệ nơi người thầy kính yêu, đem giáo pháp này làm lợi mình, lợi người.
Vài lời tâm sự! Chúc bạn đọc Ngã Hành an vui !!!
MB 0572 Lý Diệu Âm”
5. TRẢ LỜI CỦA LÝ NGỌC LINH
“Lời đầu tiên con là Lý Ngọc Linh xin thành kính tri ân thầy, đọc phản biện của độc giả Ngã Hành càng khiến con thấy mình may mắn thế nào khi được học tập trong Lý gia.
Vì được tiếp cận Phật đạo dưới nhãn quan giáo dục mà chúng con có được cái nhìn rất minh bạch, rõ ràng, khúc triết về các vấn đề Phật đạo, vì thế không bị ngữ ngôn làm rối loạn, không bị văn tự đánh lừa. Chúng con biết rất rõ đường phải đi, đích phải đến, việc phải làm…
Giờ đây con xin được trả lời phản biện của độc giả Ngã Hành:
1. Trước tiên con xin được nêu lên ý kiến của mình với chia sẻ của Độc giả trong phần đầu của phản biện:
Độc giả Ngã Hành viết: “Một hệ thống giáo pháp càng tỏ ra vững vàng, thì những câu hỏi dành cho hệ thống ấy càng phải sắc, phải sâu, và phải đi đến tận cùng những mâu thuẫn nội tại. Nếu không, tất cả chúng ta chỉ đang thỏa mãn với cảm giác “đã thông” chứ chưa thật sự đi qua những nghịch lý cốt tủy của Phật đạo”
Trả lời:
Phật đạo là một chỉnh thể hoàn chỉnh và có tính thống nhất rất cao vì nó được xây dựng như một hệ thống giáo dục có tính kỷ luật, ổn định, đảm bảo hướng tới các mục tiêu cuối cùng là Giác ngộ, Giải thoát, Trí tuệ hay nói cách khác chính là để giải quyết rốt ráo 4 giai đoạn Tứ đế!
Sự thống nhất ấy được thể hiện qua rất nhiều khía cạnh:
- Tính chân lý tối thượng:
+ Kinh điển thường dạy: “Tam thế Chư Phật khác miệng đồng lời”. Điều này minh định rằng nếu mọi người giác ngộ đúng Phật đạo thì không hề có lý giải sai khác về giáo pháp.
+ Ngay khi vừa thành Đẳng Chánh Giác, Phật tuyên nói: “Lạ lùng thay, tất cả chúng sanh đều có những tính chất như Chư Như Lai”. Khi sắp nhập niết bàn, một lần nữa Phật tuyên thuyết: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”. Đã là chân lý thì không nói hai ba lời dù không gian thời gian có sai khác.
- Tính chất đồng nhất của Giác Ngộ:
+ Sự Giác Ngộ thật sự được miêu tả bằng hình ảnh “vật được thấy” không sai khác với Kinh điển miêu tả (tâm và kinh tương ưng)
+ Mùi vị Giác Ngộ không thể sai khác. Phật dạy “Cũng như một đĩa mật, này các Tỳ kheo, người liếm mép đĩa và người ăn trọn đĩa mật, vị ngọt của nó không khác”.
- Tính thống nhất về phương pháp, con đường, đích đến:
+ Tứ Đế là nhất đạo lộ, con đường duy nhất đi đến vô thượng bồ đề. Toàn bộ hệ thống kinh điển và giáo lý của Đức Phật đều đưa người ta theo đúng một con đường, đó là giải quyết rốt ráo bốn giai đoạn của Tứ Đế.
+ Và cứu cánh cuối cùng của con đường đó là thành tựu trí tuệ tối thượng. Duy tuệ thị nghiệp!
Như vậy mệnh đề của độc giả Ngã Hành đặt ra chúng ta cần đi qua “những nghịch lý cốt tủy của Phật đạo” hay giải quyết các “mâu thuẫn nội tại” có gì đó chưa thỏa đáng!!!
2. Trả lời phản biện của độc giả Ngã Hành:
“Nếu sự chuyển đổi Các HĐ đều thống nhất rằng “chuyển” ở đây là chuyển đổi tính chất (mê sang giác, u tối sang minh liễu, dính chấp sang soi chiếu) chứ không phải chuyển đổi bản thể (Thức vẫn là Thức, gương vẫn là gương).
NGÃ HÀNH HỎI:
“Nếu sự chuyển đổi chỉ là “tính chất” (từ dính keo sang hết keo, từ mê sang giác) mà bản thể (Thức) vẫn không đổi, thì tại sao Duy Thức Học lại dùng thuật ngữ “chuyển y” (chuyển cái chỗ nương tựa) và lại chia thành Bốn Trí (Đại Viên Cảnh Trí, Bình Đẳng Tánh Trí, Diệu Quan Sát Trí, Thành Sở Tác Trí) tương ứng với sự chuyển đổi của Tám Thức?
Sự thay đổi về tính chất (Giác Ngộ) là một kinh nghiệm tâm lý chủ quan. Nếu không có sự thay đổi cấu trúc nghiệp lực (hạt giống) bên trong Tàng Thức (cái kho chứa), thì làm sao đảm bảo rằng sau khi “gương hết keo” (giác ngộ), nó sẽ mãi mãi không bị dính keo lại (tái mê) nữa? Việc này có đồng nghĩa với việc tất cả hạt giống (chủng tử) hữu lậu trong A-lại-da đã bị tiêu diệt hay chuyển hóa thành chủng tử vô lậu không? Nếu có, cơ chế đó là gì?”
Trả lời:
2.1. Như đã trình bày ở trên, Phật đạo tự nó đã là một nền giáo dục minh triết, logic và hoàn chỉnh, do đó việc sử dụng thêm các luận giải, học thuyết, hay hệ thống triết học nào để học, hiểu về Phật đạo phải chăng như người dùng tiếng nước ngoài dạy tiếng Việt. Học như vậy thì chỉ là cách của “người nước ngoài” dạy và học tiếng Việt, chứ chẳng phải cách “người Việt” dạy và học tiếng Việt!
2.2. Nói Bốn Trí hay Tám Thức chỉ là cách chia chẻ Thức hay Trí theo vai trò hay chức năng mà thôi. Chứ bản chất cũng chỉ có một.
Giống như một người đóng nhiều vai trò trong đời sống, lúc là ông thủ trưởng cơ quan, lúc là tổ trưởng tổ dân phố, lúc là chồng, lúc là cha. Chứ cũng chỉ có một thằng người.
2.3. Giác ngộ không phải là một kinh nghiệm tâm lý chủ quan, mà đó là trải nghiệm mang tính cá nhân gọi là tự chứng.
Giác ngộ tự nội hàm của nó đã bao gồm 2 yếu tố đó là Giác và Ngộ. Người học tập trong Phật đạo xuất phát từ Giác và đích đến là Ngộ. Do đó Chánh Giác sẽ cho ra Chánh Tinh Tấn và kết quả Chánh Ngộ. Còn Tà Giác sẽ cho ra Tà Tinh Tấn và kết quả Tà Ngộ!
Chánh Giác chính là cơ sở tạo ra sự thay đổi về mặt tính chất, hay nói cách khác Chánh Giác là hạt giống gieo vào Tàng Thức, nếu tiếp tục được nuôi dưỡng tưới tẩm bằng chánh duyên (Chánh Tinh Tấn) để chăm sóc vun trồng cây Giác Ngộ thì sẽ cho ra quả Chánh Ngộ, ví dụ các duyên như: Thân cận thiện hữu tri thức, xây dựng thái độ, tinh thần cầu học của bậc trượng phu (là bậc dám nhả bỏ những thứ người khác không dám nhả bỏ, nuốt vào những thứ người khác không dám nuốt vào), quyết tâm, nhất tâm đi trên con đường đến vô thượng quả...
Vậy nên khi đã có hạt giống gieo trồng đạt chuẩn, được chăm sóc đúng kỹ thuật, quy trình, và cho ra quả ngọt, thì mọi lo lắng đâu còn!!!
Và nguyên lý cốt tuỷ ở đây là: Chánh Ngộ phải được xây dựng trên nền tảng Chánh Giác!
2.4. Khi mê nói gương có keo, ngộ rồi thấy gương chẳng còn keo. Chứ tự nơi bản nguyên của gương chẳng keo hay hết keo!
Con xin hết phần trả lời độc giả Ngã Hành, và cũng nhân đây, con xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Độc giả, đã tạo cơ hội cho chúng con được rèn luyện, mài dũa lưỡi gươm trí tuệ!
Con, Lý Ngọc Linh”
(Hết phần trả lời)
Chúc bạn đọc và bằng hữu Ngã Hành an vui, tinh tấn...!!!
24/11/2025
LÝ TỨ