CBL.34 - Cận Tử Nghiệp
Tóm lại, nghiệp ác hay thiện tùy thuộc vào hạt nhân đã gieo, hạt nhân này được “lặp đi lặp lại một cách thuần thục” trong đời sống, chứ không phải kết quả của “một sự cố tình cờ” như thuyết “cận tử nghiệp diễn giải”.

Các bạn!
Mình vừa nhận được thắc mắc của bạn đọc có tên Minh An! Nội dung như sau:
“Dạ con kính chào Thầy Lý Tứ!
Lời đầu tiên con Kính chúc Thầy nhiều sức khỏe, và chúc cho chính con được phước đức lớn, Thầy trụ thế dài lâu!
Dạ con là Minh An! Con vô cùng kính ơn những bài chia sẻ, tận tâm giảng dạy sâu sắc, thấu đáo của Thầy cho con có thể đúc kết được con đường học tập Giải Thoát, Giác Ngộ mênh mông mà mình trăn trở bấy lâu, giờ được gói gọn trong 3 từ NHẬN THỨC ĐÚNG là đồng nghĩa với Giác Ngộ phải không thưa Thầy! Đúng về Bản Chất Thân Tâm chính mình và Nhân Sinh. Con chưa được nhận hiểu thấu đáo, nên tạm được hiểu như vậy. Chỉ biết tâm vô cùng mừng rỡ, khi đã có dấu vết của 2 từ “Giác Ngộ”. Rất mong sau có cơ duyên được Thầy làm rõ cho con cũng như những Người Hữu Duyên.
Một suy tư thứ 2:
Con kính mong được Thầy dạy cho chúng con được rõ, về việc Cận Tử Nghiệp, nếu không tỉnh táo, thì đầu thai vào cõi không lành, rồi gián đoạn rất lâu nhiều đời kiếp chí nguyện Tu Tập Giác Ngộ! Cái hiểu trước đây của con như vậy, không biết đã đúng không? Nhưng con rất trăn trở không biết hiện tại đời này, mình có thể tu tập như thế nào để lúc lâm chung đến mình được nhẹ nhàng để tỉnh táo hoặc dù nhẹ nhàng hay bí bách... những duyên không lành, mà mình vẫn có thể tỉnh táo để tiếp tục con đường tiến Tu Giải Thoát Giác Ngộ ở đời sau thưa Thầy!
Con rất mong được Thầy giảng dạy rõ 2 điều trên.
Con Thành Tâm kính ơn Thầy, và lần nữa kính mong Thầy luôn An Vui khỏe mạnh ạ!
Con, Minh An Thành Kính Tri Ơn Thầy!”
21/07/2024 3:30:00
Minh An
*****
Minh An và bạn đọc thân mến!
Về hai câu hỏi của bạn, mình xin được trả lời:
- Hỏi:
1) “Dạ con là Minh An! Con vô cùng kính ơn những bài chia sẻ, tận tâm giảng dạy sâu sắc, thấu đáo của Thầy cho con có thể đúc kết được con đường học tập Giải Thoát, Giác Ngộ mênh mông mà mình trăn trở bấy lâu, giờ được gói gọn trong 3 từ NHẬN THỨC ĐÚNG là đồng nghĩa với Giác Ngộ phải không thưa Thầy! Đúng về Bản Chất Thân Tâm chính mình và Nhân Sinh. Con chưa được nhận hiểu thấu đáo, nên tạm được hiểu như vậy. Chỉ biết tâm vô cùng mừng rỡ, khi đã có dấu vết của 2 từ “Giác Ngộ”. Rất mong sau có cơ duyên được Thầy làm rõ cho con cũng như những Người Hữu Duyên.”
- Trả lời:
Về đoạn văn của Minh An, mình có thể tóm tắt nội dung như sau: “Có phải giác ngộ (trong Phật đạo) là nhận thức đúng về bản chất thân tâm của chính mình và nhân sinh hay không?”
Minh An thân mến!
Nếu ý của Minh An trong đoạn văn giống như phần tóm tắt vừa nêu thì, một người có nhận thức đúng về bản chất thân tâm của mình và nhân sinh chỉ là một trong những yêu cầu cần có của giác ngộ, chứ nhận thức này chưa hoàn toàn đại diện hoặc đầy đủ cho việc giác ngộ. Vì rằng, một người muốn giác ngộ trong Phật đạo, người ấy phải nhận thức đúng và thực chứng bản chất của nhiều thứ như: Thân, tâm, thế giới, ba cõi, nhân sinh, nhân quả, các pháp v.v...
Vấn đề đặt ra ở đây là: Như thế nào mới được coi là “nhận thức đúng” về bản chất của điều gì đó theo tinh thần Phật đạo. Vì rằng, chỉ câu “nhận thức đúng” thôi, chưa nói lên được điều gì. Rất tiếc, bạn không nói rõ, bản thân đã nhận thức như thế nào về thân tâm của bạn và nhân sinh. Chữ “nhân sinh” ở đây không biết Minh An muốn đề cập đến kiếp người, hay đời sống, thân tâm các hữu tình khác nên chúng ta chưa đủ dữ liệu nhằm rộng bàn các vấn đề tiếp theo về giác ngộ.
Hy vọng, sau phần trả lời này, Minh An có thể trao đổi rõ ràng hơn về những gì liên quan đến các nhận thức của bạn đối với các vấn đề đã nêu để chúng ta có đủ thông tin, làm cơ sở trao đổi cụ thể.
- Hỏi:
2) “Con kính mong được Thầy dạy cho chúng con được rõ, về việc Cận Tử Nghiệp, nếu không tỉnh táo, thì đầu thai vào cõi không lành, rồi gián đoạn rất lâu nhiều đời kiếp chí nguyện Tu Tập Giác Ngộ! Cái hiểu trước đây của con như vậy, không biết đã đúng không? Nhưng con rất trăn trở không biết hiện tại đời này, mình có thể tu tập như thế nào để lúc lâm chung đến mình được nhẹ nhàng để tỉnh táo hoặc dù nhẹ nhàng hay bí bách những duyên không lành, mà mình vẫn có thể tỉnh táo để tiếp tục con đường tiến Tu Giải Thoát Giác Ngộ ở đời sau thưa Thầy!”
- Trả lời:
Về thuyết “cận tử nghiệp”, mình xin được nêu lên quan điểm cá nhân: Thuyết này đối với mình có gì đó chưa thuyết phục cũng như không ổn về mặt giáo pháp chính thống. Vì rằng:
Để hình thành một nghiệp (một đời sống, một văn hoá, một nhận thức đầy đủ, một tập quán bền vững v.v...) dù nghiệp đó là tốt hay xấu, không phải là kết quả của một hành động, một tư tưởng nào đó bất chợt trong giây phút thất niệm, bất giác hay mất bình tĩnh trước khi chết v.v... Mà, nghiệp xấu hay tốt là kết quả của một quá trình huân tập (tích luỹ) dài lâu trong đời sống, tích luỹ đến khi nào sự huân tập đó trở thành chủng tử (hạt giống) trong tâm thức, nghiệp ấy mới viên mãn. Khi hạt giống nghiệp viên mãn, đủ duyên hạt giống đó mới có thể nảy mầm...
Vì thế, cho dù trong phút giây nào đó, đối với hạt giống nghiệp đã viên mãn, cho dù người đó có thất niệm, bất giác, hãi sợ hay bình tĩnh các trạng huống nhất thời này “không thể làm thay đổi hay phá hoại” chủng tử nghiệp đã có trong tâm thức. Điều này giống như một người ra sức học tập để trở thành bác sĩ, kĩ sư không thể nào trong giây phút bất giác hay sợ hãi, người này sau đó trở thành người thất học. Ngược lại, một người cả đời lêu lổng, không học tập không thể nào trong phút giây bất chợt, cho dù bình tĩnh đến lạ thường cũng không thể biến người này trở thành bác sĩ, kĩ sư. Hoặc, một người suốt đời làm thiện, nghĩ thiện không lẽ nào, trong phút giây hãi sợ lại biến thành người có tâm địa hay văn hoá của một ác nhân hoặc ngược lại.
Tóm lại, nghiệp ác hay thiện tùy thuộc vào hạt nhân đã gieo, hạt nhân này được “lặp đi lặp lại một cách thuần thục” trong đời sống, chứ không phải kết quả của “một sự cố tình cờ” như thuyết “cận tử nghiệp diễn giải”. Đây là lí do vì sao, Phật đạo đưa ra học thuyết “Chủng Tánh Anh Lạc”, thuyết này giúp người học tập Phật đạo tạo lập cho mình hạt giống tốt ở hiện tại và vị lai mà không bị chi phối bởi bất kì hoàn cảnh nào.
Nếu thuyết cận tử nghiệp là đúng, nó có năng lực thay đổi đời sống một hữu tình từ sự cố tình cờ hay phút giây bất giác nào đó thì, các nền giáo dục mang tính luân lí đạo đức kể cả giáo dục Phật đạo đều trở thành vô ích, vô dụng, vô nghĩa hay sao?
Minh An và bạn đọc thân mến!
Những đề tài như giác ngộ, nghiệp khó có thể trả lời tường tận trong một vài câu hỏi từ bạn đọc gửi về... bởi lẽ đây là các chủ đề lớn trong Phật đạo! Muốn hiểu biết tường tận, cần có quá trình học tập nghiêm túc và giác ngộ chắc thật. Trên đây chỉ là vài luận bàn sơ giao, nếu có cơ duyên, chúng ta sẽ mổ xẻ các đề tài này đến nơi đến chốn!
Chúc Minh An và bạn đọc an vui, tinh tấn!
Rất mong, nhận được nhiều câu hỏi lí thú về Phật đạo từ mọi người.
22/07/2024
LÝ TỨ
CBL.33 - Làm Thế Nào Để Dứt Kiết Sử?
Như vậy, muốn tịch diệt kiết sử ta phải làm gì? Như đã nêu ở trên, kiết sử không thật có, nó chỉ là “bóng dáng của nhận thức sai lầm!” Khi ta nhận thức sai lầm về thân, tâm, các pháp và thế giới nhất định kiết sử sẽ hiện, giống như người ta lầm sợi dây trong bóng tối, mắt nhặm nên thấy đèn có quầng!

Các bạn!
Hôm qua mùng 3 tết Giáp Thìn, mình nhận được thắc mắc của bạn Nguyễn Thị Ngọc Lợi từ địa chỉ email nguyenthingocloi.vn@gmail.com đến Website LyTu.Vn!
Nội dung câu hỏi như sau:
“Cho mình hỏi làm thế nào để gỡ được ái kiết sử ạ. Mình xin cảm ơn tác giả Lý Tứ ạ.”
*****
Ngọc Lợi thân mến!
Từ ngày khởi động chuyên mục. Mình nhận được rất nhiều câu hỏi có nội dung tương tự như nội dung Ngọc Lợi vừa nêu! Mới biết rằng, “làm thế nào để tịch diệt kiết sử” là câu hỏi mà hầu như tất cả người tu hành quan tâm!
Hay khác hơn, kiết sử là một trong “những món nợ” mà người tu hành trong Phật đạo nhận ra “phải giải quyết nó” mới mong có được an vui, hoặc xa hơn mới có thể bước một chân vào cảnh giới giải thoát hay xuất thế...
Về thắc mắc này, mình xin được trả lời như sau:
Kiết sử có 10 món, năm món thuộc lỗi hành vi gồm: Tham, sân, si, mạn, nghi. Người xưa gọi là “độn sử!” Và, năm món thuộc lỗi nhận thức gồm: Thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến và tà kiến. Người xưa gọi là “lợi sử”...
Kiết sử là những món trói buộc, người chưa giải quyết được nó không thể chấm dứt lậu hoặc. Mà, lậu hoặc chưa chấm dứt thì không thể an vui, không thể có được đạo quả giải thoát, lại càng không thể thành tựu đạo xuất thế!
Nhận ra hiểm hoạ của kiết sử là như thế! Nên, hầu hết người tu hành đều nhắm thẳng vào nó để tịch diệt (Ngọc Lợi gọi là gỡ)! Chính cách làm này, tức nhắm thẳng vào kiết sử để diệt hầu như không giúp người tu hành “tịch diệt vĩnh viễn” kiết sử, biện pháp này chỉ tạm thời làm cho kiết sử lắng xuống trong một thời gian ngắn, sau đó có cơ hội nó lại hiện lên, thậm chí kiết sử đợt sau cao hơn đợt trước, không khác gì sóng biển trong mùa mưa bão.
Vì sao sự tình lại như vậy? Vì rằng, kiết sử bản chất không thật có! Kiết sử giống như trong bóng tối người ta nhận lầm sợi dây thành con rắn, từ đó đâm ra sợ hãi, rồi tìm cách đuổi xua con rắn ấy! Hoặc, như người mắt nhặm thấy đèn có quầng, rồi từ đó tìm cách đuổi xua cái quầng đèn. Thực chất, kiết sử hiện lên trong tâm thức giống như con rắn hay quầng đèn trong hai ví dụ trên! Chính vì vậy, tìm cách đuổi xua con rắn hay quầng đèn là biện pháp không khả thi, không muốn nói là vô ích.
Như vậy, muốn tịch diệt kiết sử ta phải làm gì? Như đã nêu ở trên, kiết sử không thật có, nó chỉ là “bóng dáng của nhận thức sai lầm!” Khi ta nhận thức sai lầm về thân, tâm, các pháp và thế giới nhất định kiết sử sẽ hiện, giống như người ta lầm sợi dây trong bóng tối, mắt nhặm nên thấy đèn có quầng!
Vì thế, muốn tịch diệt kiết sử, người ta phải học tập giáo pháp để thấu suốt bản chất của thân, tâm, các pháp và thế giới! Học tập để thấu suốt bản chất thân, tâm, các pháp và thế giới chính là biện pháp hữu hiệu làm bóng tối hết tối, con mắt hết nhặm. Một khi, bóng tối không còn, con mắt hết nhặm thì, sợi dây vĩnh viễn không thể là con rắn, cái đèn vĩnh viễn không thể có quầng! Từ đây, muốn tham tham cũng không thể hiện, muốn sân si thì sân si cũng cao chạy xa bay.
Tóm lại!
- Đạo Phật là đạo giác ngộ. Muốn giác ngộ, người tu hành phải học tập Phật pháp một cách chân chánh để không còn mù tối, gọi là chánh giác, có chánh giác sẽ có giác ngộ.
- Đạo Phật là đạo giải thoát. Muốn giải thoát, người tu hành phải học tập Phật pháp một cách chân chánh để biết cái gì cột buộc tâm thức này, từ đó kiết sử không còn hiện khởi, kiết sử không hiện khởi gọi là giải thoát.
- Đạo Phật là đạo trí tuệ. Muốn có trí tuệ, người tu hành phải học tập Phật pháp một cách chân chánh để không còn ngu, mê, lầm. Hết ngu mê lầm, trí tuệ tự hiện, trí tuệ tự hiện như đèn soi bóng tối, ba tầng vô minh (nhuận chi vô minh, căn bản vô minh, vô minh trụ địa) tự dứt.
Hy vọng những trả lời vừa rồi, có thể giúp Ngọc Lợi và bạn đọc tìm thấy con đường học tập để tịch diệt ái kiết sử!
LÝ TỨ
CBL.32 - Phật Tánh - Phật Pháp - Lý Duyên Khởi
Cũng trong kinh Đại Niết bàn, Phật dạy: “Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh!” Lời dạy này có nghĩa, hết thảy chúng sanh đều có những đức tính siêu việt, cao quý như một đức Phật!

Các bạn!
Sau ngày nghỉ tết dương lịch 2024! Mình nhận được thắc mắc của bạn đọc có tên Thiện Nhân! Nội dung như sau:
“Con chào bác Lý Tứ. Con xem kinh có vài chỗ chưa hiểu, mong bác sáng tỏ giúp con!
1) Vì sao trong kinh nói “kiến Phật tánh”, mà không nói “ngộ Phật tánh” hay “chứng Phật tánh?” Ba khái niệm: Kiến, ngộ, chứng phải hiểu như thế nào mới đúng?
2) Trong kinh dạy: “Ai thấy được 12 nhân duyên sẽ thấy pháp. Ai thấy pháp sẽ thấy Phật”. Chữ “pháp” ở đây là thiệt pháp hay là huyễn pháp hay là hữu vi pháp hay là vô vi pháp? Là nguyên nhân sanh, lưu chuyển hay diệt một pháp?
3) Vì sao thấy được 12 nhân duyên không thấy luôn Phật mà phải thấy pháp? Thấy pháp rồi mới thấy Phật?
4) Vì sao 12 nhân duyên luân chuyển 3 thời (quá khứ, hiện tại, vị lai) mà không tự đoạn? Cái gì làm tương tục cho các duyên hiện và lưu chuyển?
5) Còn quá nhiều điều từ 12 nhân duyên mà con chưa thông suốt.
Xin bác Lý Tứ giải nghĩa cho con tổng quát hơn!
Con cảm ơn bác!”
30/12/2023 23:51:06
Thiện Nhân
*****
Bạn đọc và Thiện Nhân thân mến!
Về các câu hỏi của Thiện Nhân, mình xin được trả lời như sau:
- Hỏi:
1) Vì sao trong kinh nói “kiến Phật tánh”, mà không nói “ngộ Phật tánh” hay “chứng Phật tánh?” Ba khái niệm: Kiến, ngộ, chứng phải hiểu như thế nào mới đúng?
- Trả lời:
Để có thể trả lời câu hỏi của bạn, đầu tiên chúng ta cần phải hiểu khái niệm “Phật tánh” trong Phật đạo nhằm chỉ cho điều gì? Một khi hiểu được khái niệm này, chúng ta sẽ hiểu cụm từ “kiến Phật tánh” một cách không khó khăn!
Khái niệm Phật tánh trong Phật đạo, nhằm để chỉ cho các đức tánh siêu việt, cao quý của một đức Phật! Các đức tánh siêu việt, cao quý ấy gồm: “Từ, bi, hỉ, xả, thường, ngã, lạc, tịnh” (xem kinh Đại Niết bàn)! Cũng trong kinh Đại Niết bàn, Phật dạy: “Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh!” Lời dạy này có nghĩa, hết thảy chúng sanh đều có những đức tính siêu việt, cao quý như một đức Phật!
Tuy tất cả chúng sanh đều có những đức tính cao quý, siêu việt ấy! Nhưng, trong quá trình sống ở đời... Chúng sinh do không giác ngộ, nên bị vô minh, điên đảo, mê lầm v.v... nhiễm ô, khiến cho tâm thức bị bao phủ bởi các thứ như khổ, phiền não, kiết sử, lậu hoặc v.v... Do đó, tuy có Phật tánh nhưng chúng sanh không thấy được, mà chỉ thấy các thứ “tâm tánh hư vọng” từ “tâm thức hư vọng” hiện ra như khổ, phiền não v.v... mà thôi! Giống như ngày mùa đông, mặt trời tuy có đó nhưng bị mây đen, sương mù v.v... che khuất, người có mắt nhìn lên trời, chỉ thấy mây đen, sương mù... mà không thấy mặt trời.
Để giúp chúng sanh thấy được thứ cao quý mà mình đã có, hiện tại đang bị che khuất. Phật pháp ra đời giúp chúng sanh giác ngộ! Trong quá trình học tập và giác ngộ! Các thứ che chướng như khổ, phiền não, kiết sử, lậu hoặcv.v... dần dần mỏng nhẹ và tịch diệt vĩnh viễn!
Các thứ vừa nêu mỏng nhẹ rồi tịch diệt, Phật tánh dần dần hiện ra, từ đó người tu hành “kiến” (thấy, nhận ra) các đức tính cao quý ấy hiện hữu trong tâm trí của mình. Như người mù nay sáng mắt thấy được những gì cần thấy. Đây là lí do vì sao Phật đạo sử dụng cụm từ “kiến Phật tánh” (hay thấy Phật tánh), mà không dùng cụm từ “ngộ Phật tánh” hay “chứng Phật tánh!” Tất nhiên, cũng có người sử dụng ba chữ “ngộ Phật tánh” hay “chứng Phật tánh”. Nhưng, cách sử dụng này không chính xác vì thế các vị “đã giác ngộ chân chánh” không thường dùng...
Về ba chữ ngộ, kiến và chứng là từ Hán Nôm, ý nghĩa như sau:
悟 (Ngộ): Hiểu ra, vỡ lẽ, khai mở, làm cho tỉnh thức...
見 (Kiến): Thấy, trông thấy, gặp gỡ...
証 (Chứng): Chứng kiến, chứng thực, bằng chứng, đạt được...
- Hỏi:
2) Trong kinh dạy: “Ai thấy được 12 nhân duyên sẽ thấy pháp. Ai thấy pháp sẽ thấy Phật”. Chữ “pháp” ở đây là thiệt pháp hay là huyễn pháp hay là hữu vi pháp hay là vô vi pháp? Là nguyên nhân sanh, lưu chuyển hay diệt một pháp?
- Trả lời:
Chữ pháp trong câu này có nghĩa: Ai chứng ngộ (thấy) được 12 nhân duyên (hay lý duyên khởi), sẽ thấy được nguyên uỷ phát sinh các nhận thức (pháp)... Ai thấu suốt (thấy) các nhận thức (pháp) từ đâu sanh, sẽ thấy được Phật (Phật đạo, con đường đưa đến Phật quả, chỗ tịch diệt các nhận thức sai lầm). Vì vậy, chữ pháp và chữ Phật trong câu nói trên phải “khéo hiểu”...
- Hỏi:
3) Vì sao thấy được 12 nhân duyên không thấy luôn Phật mà phải thấy pháp? Thấy pháp rồi mới thấy Phật?
Trả lời:
Phật (Phật đạo) và pháp (của Phật) là hai mặt của một vấn đề! Tuy nhiên muốn thấy được Phật (Phật đạo), người tu hành phải thấy (chứng ngộ thông qua) pháp của Phật (Phật pháp). Muốn hiểu rõ (chứng ngộ) pháp của Phật, người tu hành phải chứng ngộ (thấu đạt) lý duyên khởi hay 12 nhân duyên. Vì rằng: 12 nhân duyên hay lý duyên khởi là giáo lí cơ sở quan trọng chỉ ra quy trình sinh diệt của tâm và pháp.
Đây là lí do vì sao kinh không nói “thấy 12 nhân duyên là thấy luôn Phật!”. Mà phải nói “Thấy pháp rồi mới thấy Phật”.
Về lý duyên khởi hay 12 nhân duyên, Phật dạy như sau:
“Một thời, Phật ở tại xóm Điều Ngưu, Câu Lưu Sưu. Bấy giờ có Tỳ kheo đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ Phật, rồi ngồi qua một bên, bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn, pháp duyên khởi mà Ngài nói, là do Thế Tôn làm ra hay do người khác làm ra?
- Phật bảo Tỳ kheo: Pháp duyên khởi chẳng phải do Ta tạo ra, cũng chẳng phải do người khác tạo ra. Nhưng dù Như Lai có xuất hiện hay chưa xuất hiện ở thế gian thì pháp giới này vẫn thường trụ.
Như Lai tự giác ngộ pháp này, thành Đẳng chánh giác, vì tất cả chúng sanh mà phân biệt, diễn nói, chỉ dạy hiển bày; đó là: Cái này có nên cái kia có, cái này khởi nên cái kia khởi. Tức là do duyên vô minh nên có hành... cho đến việc tụ tập thuần một khối khổ lớn. Do vô minh diệt nên hành cũng diệt... cho đến việc thuần một khối khổ lớn tụ tập cũng bị diệt”. (Trích Kinh Tạp A Hàm, kinh số 299)
- Trong kinh Đại Duyên (Trường Bộ III), khi Tôn giả A Nan khen ngợi giáo lý duyên khởi thâm thúy, thì Thế Tôn lại nhấn mạnh hơn:
“Này Ananda, chính vì không giác ngộ, không thâm hiểu giáo pháp duyên khởi này mà chúng sanh hiện tại bị rối loạn như một tổ kén, rối ren như một ống chỉ, giống như cỏ munja và lau sậy babaja, không thể nào ra khỏi khổ xứ, ác thú, đọa xứ, sinh tử”.
- Hỏi:
4) Vì sao 12 nhân duyên luân chuyển 3 thời (quá khứ, hiện tại, vị lai) mà không tự đoạn? Cái gì làm tương tục cho các duyên hiện và lưu chuyển?
- Trả lời:
Vì mê, nên 12 nhân duyên luân chuyển qua 3 thời! Dứt mê, 12 nhân duyên sẽ tự đoạn! Giác ngộ rốt ráo, các duyên tương tục, hiện và chuyển tự trở về bản chơn, thanh tịnh, giải thoát...
- Hỏi:
5) Còn quá nhiều điều từ 12 nhân duyên mà con chưa thông suốt.
- Trả lời:
Để có thể chứng ngộ và liễu tri (thông suốt) 12 nhân duyên hoặc Phật pháp, phải học tập thôi! Trong phạm vi một bài viết của chuyên mục, không thể giảng giải hết mọi thứ.
Để học tập, giác ngộ và thông suốt Phật pháp! Thiện Nhân có thể đăng kí theo học các khoá “Hạnh phúc quanh ta - Giọt mưa đầu mùa” do Lý Gia tổ chức (online). Theo dõi trên các trang truyền thông của Lý Gia để biết chi tiết, thời gian mở lớp và cách thức đăng kí. Sau đó, học tiếp các lớp cao hơn, mọi thứ sẽ minh bạch.
Hy vọng, những trả lời vừa rồi, có thể giúp Thiện Nhân và bạn đọc có cái nhìn khái quát về lý duyên khởi cũng như các thắc mắc đã nêu!
Chúc an vui, tinh tấn!
03/01/2024
LÝ TỨ
CBL.31 - Tam Giới Duy Tâm - Vạn Pháp Duy Thức
Tâm và thức là hai món khác nhau. Thức mê như cái cây, tâm mê như bóng cây. Không cây không bóng, thức hết mê tâm tịch diệt...

Các bạn!
Sau khi gửi trả lời kì 18/2023 có chủ đề Bát Nhã Trí... Mình liên tiếp nhận được các thắc mắc của bạn đọc có nickname Đệ Phạm Thượng và của Tuấn Nguyễn Trà Vinh! Nội dung các câu hỏi như sau:
I- Các câu hỏi của Đệ Phạm Thượng:
“Con đọc bài trả lời câu hỏi của anh Phạm Thượng, có vài điều chưa hiểu mong Thầy giải đáp!
1. Tại sao cũng đồng là thấy biết nhưng lúc lại phân biệt viết thấy biết là tri kiến, có lúc lại viết thấy biết là trí tuệ. Xin hỏi, hai thấy biết này có gì khác nhau không?
2. Trong kinh có nói đến: Tri kiến, trí tuệ, tuệ giác thì 3 loại này giống hay khác nhau? Nên dùng vào trường hợp nào mới đúng nghĩa của nó vậy Thầy?
3. Thầy dạy: “thấy biết người giác ngộ gọi là Bát Nhã Trí, không gọi là trí tuệ”, lúc Thầy dạy: “muốn có Bát Nhã Trí phải cầu học”. Vậy người giác ngộ đã có Bát Nhã Trí chưa? Hay phải cầu học mới có? Bát Nhã Trí là thành tựu của giác ngộ hay là thành tựu của việc cầu học?
4. Thưa Thầy, có phải người giác ngộ chỉ là tương tợ Bát Nhã, muốn có Bát Nhã Trí phải cầu học các môn phương tiện giáo hoá (huyễn trí). Thông thuộc các môn giáo hoá nên gọi là Bát Nhã Trí?
5. Thế nào là Sai Biệt Trí? Thế nào là Nhất Thiết Chủng Trí?
- Từ Khổ Trí đến Đạo Tướng Trí có tính kế thừa nào không? Cái gì kế thừa?
- Tại sao Sai Biệt Trí lại có tính kế thừa còn Nhất Thiết Chủng Trí thì không, mà có đủ công đức thì thành tựu?
Con cảm ơn thầy giải đáp ạ!”
29/08/2023 11:08:03
Đệ Phạm Thượng
II- Các câu hỏi của Tuấn Nguyễn ở Trà Vinh:
“Tôi xin chào Thầy Lý Tứ, xin Thầy giải thêm về Trí Bát Nhã mà Thầy vừa trả lời cho bạn Thượng, trong đó có câu nói rằng: Đây là thời kỳ đưa ba thừa, từ phương tiện tu học khác nhau, quan điểm khác nhau cùng đến một tri kiến chung làm chuẩn mực cho trí tuệ sau này, đó là “Tam giới Duy Tâm, Vạn Pháp Duy Thức!”
1- Khi nói phương tiện khác nhau hay quan điểm khác nhau? Đây có phải nói trên hình tướng có nhiều sai biệt, không thể hoà hợp với nhau (như thiền, tịnh, mật tông) sự khác biệt trên ngọn là như vậy, hay muốn nói cái gốc?
2- Xin hỏi: Câu “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” ý nghĩa là gì?
3- Xin hỏi Tâm và Thức khác nhau hay giống nhau? Khác nhau ra sao? Giống nhau như thế nào?
Tôi xin cảm ơn sự chia sẻ về Phật pháp của Thầy đến với đọc giả hầu phát triển tinh thần học hỏi giáo lý nhà Phật.”
29/08/2023 12:03:40
Tuấn Nguyễn- Trà Vinh
*****
Đệ Phạm Thượng và Tuấn Nguyễn thân mến!
Về các câu hỏi của hai bạn, mình xin lần lượt trả lời như sau:
I- Các câu hỏi của Đệ Phạm Thượng!
- Hỏi:
1. “Tại sao cũng đồng là thấy biết nhưng lúc lại phân biệt viết thấy biết là tri kiến, có lúc lại viết thấy biết là trí tuệ. Xin hỏi, hai thấy biết này có gì khác nhau không?”
- Trả lời:
* Khi nói về hành trạng (dụng), dùng tri kiến!
* Khi nói về danh xưng (tên gọi), dùng trí tuệ!
* Xin xem kĩ định nghĩa từ bài 18/2023!
“Bát nhã hay Trí Tuệ là từ ngữ được phiên âm từ tiếng Phạn Prajñā (tiếng Nam Phạn: paññā, chữ Hán: 般若). Đây là thuật ngữ đặc trưng của Phật đạo, nhằm chỉ chung cho thấy biết (tri kiến) của một vị đã giác ngộ thành tựu Đạo Xuất Thế đang trên hành trình học Bát Nhã và trí tuệ của bậc Xuất Thế Gian Thượng Thượng!”
- Hỏi:
2. Trong kinh có nói đến: Tri kiến, trí tuệ, tuệ giác. 3 loại này giống hay khác nhau? Nên dùng vào trường hợp nào mới đúng nghĩa của nó vậy Thầy?
- Trả lời:
* Tri kiến, trí tuệ: Từ ngữ khác, ý nghĩa đồng...
* Tuệ giác: “Có thể hiểu đó là cái nhìn bên trong thấy rõ bản chất sự vật hiện tượng hay cái nhìn bằng nhận thức thông tuệ chứ không phải cái nhìn bằng mắt thông thường chỉ thấy cái bên ngoài sự vật hiện tượng”. Theo Wikipedia!
Muốn sử dụng các thuật ngữ tri kiến, trí tuệ, tuệ giác hợp lí trong từng trường hợp cụ thể. Phải thấu suốt ý nghĩa từng thuật ngữ và phải thành tựu các thứ ấy...
- Hỏi:
3. Thầy dạy: “thấy biết người giác ngộ gọi là Bát Nhã Trí, không gọi là trí tuệ”, lúc Thầy dạy: “muốn có Bát Nhã Trí phải cầu học”. Vậy người giác ngộ đã có Bát Nhã Trí chưa? Hay phải cầu học mới có? Bát Nhã Trí là thành tựu của giác ngộ hay là thành tựu của việc cầu học?
- Trả lời: Xem câu trả lời số 2 và 4 - Kì 18/2023!
- Hỏi:
4. Thưa Thầy, có phải người giác ngộ chỉ là tương tợ Bát Nhã, muốn có Bát Nhã Trí phải cầu học các môn phương tiện giáo hoá (huyễn trí). Thông thuộc các môn giáo hoá nên gọi là Bát Nhã Trí?
- Trả lời: Xem toàn bộ các câu trả lời kì 18/2023!
- Hỏi:
5. Thế nào là Sai Biệt Trí? Thế nào là Nhất Thiết Chủng Trí?
- Từ Khổ Trí đến Đạo Tướng Trí có tính kế thừa nào không? Cái gì kế thừa?
- Tại sao Sai Biệt Trí lại có tính kế thừa còn Nhất Thiết Chủng Trí thì không, mà có đủ công đức thì thành tựu?
- Trả lời:
* Sai Biệt Trí: Bồ Tát Trí!
* Nhất Thiết Chủng Trí: Phật Trí!
* Từ Khổ Trí đến Đạo Tướng Trí thuộc về Hữu Sư Trí (Sai Biệt Trí), tức trí này do người dạy mà được nên có tính kế thừa (giữa người dạy và học)!
* Nhất Thiết Chủng Trí thuộc về Vô Sư Trí, do đủ công đức tự thành, nên không có tính kế thừa.
II- Các câu hỏi của Tuấn Nguyễn!
“Tôi xin chào Thầy Lý Tứ, xin Thầy giải thêm về Trí Bát Nhã mà Thầy vừa trả lời cho bạn Thượng, trong đó có câu nói rằng: Đây là thời kỳ đưa ba thừa, từ phương tiện tu học khác nhau, quan điểm khác nhau cùng đến một tri kiến chung làm chuẩn mực cho trí tuệ sau này, đó là “Tam giới Duy Tâm, Vạn Pháp Duy Thức!”
- Hỏi:
1- Khi nói phương tiện khác nhau hay quan điểm khác nhau? Đây có phải nói trên hình tướng có nhiều sai biệt, không thể hoà hợp với nhau (như thiền, tịnh, mật tông) sự khác biệt trên ngọn là như vậy, hay muốn nói cái gốc?
- Trả lời:
Phương tiện và quan điểm khác nhau: Là nói đến cách thức và xu hướng tu hành của ba thừa khác nhau.
Ví dụ:
* Thanh Văn thừa: Lấy yểm li làm phương tiện, quan điểm tu hành “chán khổ tìm vui”...
* Duyên Giác thừa: Lấy đoạn duyên làm phương tiện, quan điểm tu hành tịch diệt các chi thuộc trung tế của 12 nhân duyên, khối ưu bi khổ não sẽ dứt, an vui liền hiện...
* Bồ Tát thừa: Lấy thấu suốt nguyên nhân sinh tâm sinh pháp làm phương tiện, quan điểm ba cõi không thật, ngũ uẩn tự không.
- Hỏi:
2- Xin hỏi: Câu “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” ý nghĩa là gì?
- Trả lời:
* Tam giới duy tâm: Ba cõi (dục giới, sắc giới, vô sắc giới) chỉ do tâm mê biến hiện!
* Vạn pháp duy thức: Tất cả các điểm, quan niệm từ hiểu biết mà sinh!
- Hỏi:
3- Xin hỏi Tâm và Thức khác nhau hay giống nhau? Khác nhau ra sao? Giống nhau như thế nào?
- Trả lời:
* Tâm: Hiệu ứng tình cảm xảy ra khi ba duyên căn, trần, thức phối ngẫu trong điều kiện mê.
* Thức: Nhận biết, phân biệt khi thức ấm bị mê... Theo giải thích ở trên, tâm và thức là hai món khác nhau. Thức mê như cái cây, tâm mê như bóng cây. Không cây không bóng, thức hết mê tâm tịch diệt...
Hy vọng, những giải thích vừa rồi có thể giúp Đệ Phạm Thượng và Tuấn Nguyễn làm rõ những gì còn thắc mắc.
Chúc hai bạn an vui, tinh tấn.
Rất mong, nhận được các câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người!
30/08/2023
LÝ TỨ
CBL.30 - Ấn Tượng Từ Những Bài Chia Sẻ Giáo Pháp Trên Youtube Của Lý Gia
Về việc tại sao các bạn trẻ của Lý Gia tạm coi là thông suốt một phần giáo pháp. Theo mình thì, có lẽ nhờ Lý Gia có một giáo trình đào tạo bài bản, khoa học, bám sát giáo pháp, đặc biệt chú trọng việc đưa tinh thần giáo pháp đến gần gũi với thực tế cuộc sống.

Các bạn!
Tiếp theo câu hỏi kì 16/2023 của bạn đọc Phạm Thượng. Hôm qua, mình lại nhận được thắc mắc của bạn đọc có tên Văn Quang gởi về chuyên mục trên Website LyTu.Vn bằng địa chỉ vanquang...@yaoo.com!
Có thể nói, trong hai thắc mắc của Phạm Thượng và Văn Quang. Ngoài nội dung giáo pháp, còn có điểm chung là, hai bạn ấy đã quan tâm đến sinh hoạt và học tập của Lý Gia thông qua các phương tiện truyền thông thực tế hay mạng xã hội.
Điều này cho thấy rằng, những thông tin Lý Gia cung cấp đến quý bạn đọc và cộng đồng, ít nhiều cũng có những ích lợi nhất định trong việc giúp người tìm hiểu Phật pháp và ứng dụng vào cuộc sống đời thường! Điều này, là nguồn động viên quý báu, là những khích lệ rất lớn, giúp toàn thể HĐ Lý Gia nói chung và công tác truyền thông, khoa giáo nói riêng có thêm động lực trong mục tiêu hướng đến cộng đồng của mình.
Lời đầu tiên, thay mặt HĐ Lý Gia, chân thành gửi đến Phạm Thượng và Văn Quang cũng như bạn đọc quan tâm đến hoạt động hướng về cộng đồng của Lý Gia lời biết ơn sâu sắc nhất. Chúc các bạn an vui, tinh tấn, thành ở đời, đạt ở đạo...
Nội dung email của Văn Quang như sau:
“Thưa Thầy, do hữu duyên, tôi được nhìn thấy những video của khóa học Hạnh Phúc Quanh Ta trên Youtube. Suốt hơn một tháng nay tôi thường xuyên xem các chia sẻ của HĐ Lý Gia thông qua Youtube. Tôi đặc biệt ấn tượng với những chia sẻ của các giảng viên khoa học. Càng ấn tượng hơn nữa khi còn được nghe những bài trình bày khác về Phật Pháp của những HĐ tuổi đời còn chưa đến 30. Tôi có thắc mắc, tại sao những người trẻ như vậy lại có thể thông suốt giáo pháp như vậy? Đây là điều mà có những người mái đầu đã bạc trắng vẫn không thể làm được.
Điều này đã từng xuất hiện trong Phật Sử hay kinh điển nào chưa? Xin Thầy cho dẫn chứng. Những người mà tuổi trẻ mà đã thấu suốt Phật Pháp, do nhân duyên gì mà được quả báo thù thắng như vậy, xin Thầy giải nói giúp”.
*****
Văn Quang và bạn đọc thân mến!
Các thắc mắc của Văn Quang, mình xin tạm thời chia thành từng tiểu mục để trả lời như sau:
- Hỏi:
1) “Suốt hơn một tháng nay tôi thường xuyên xem các chia sẻ của HĐ Lý Gia thông qua Youtube. Tôi đặc biệt ấn tượng với những chia sẻ của các giảng viên khoa học.
Càng ấn tượng hơn nữa khi còn được nghe những bài trình bày khác về Phật Pháp của những HĐ tuổi đời còn chưa đến 30. Tôi có thắc mắc, tại sao những người trẻ như vậy lại có thể thông suốt giáo pháp như vậy? Đây là điều mà có những người mái đầu đã bạc trắng vẫn không thể làm được”.
- Trả lời:
Thay mặt Ban khoa giáo, Nhóm Giáo pháp nhập môn, Lớp “Hạnh phúc quanh ta - Giọt mưa đầu mùa”. Lý Tứ và HĐ Lý Gia rất vui khi biết Văn Quang cùng đông đảo bạn đọc đã ghé thăm trang nhà, đồng thời có những đánh giá tích cực về những gì kênh Youtube Lý Gia đăng tải...
Về việc tại sao các bạn trẻ của Lý Gia tạm coi là thông suốt một phần giáo pháp. Theo mình thì, có lẽ nhờ Lý Gia có một giáo trình đào tạo bài bản, khoa học, bám sát giáo pháp, đặc biệt chú trọng việc đưa tinh thần giáo pháp đến gần gũi với thực tế cuộc sống. Nhờ thế, các bạn ấy học đến đâu thấu đáo đến đó rồi ứng dụng nhuần nhuyễn vào đời thường. Chính sự thấu đáo những gì đã học và ứng dụng nhuần nhuyễn này sẽ giúp các bạn ấy thông suốt giáo pháp như một quy luật tự nhiên của giáo dục là “học đi đôi với hành”.
- Hỏi:
2) “Điều này đã từng xuất hiện trong Phật sử hay kinh điển nào chưa? Xin Thầy cho dẫn chứng”.
- Trả lời:
Theo mình biết, thời Thế Tôn còn tại thế, các môn đệ của Ngài là Bồ Tát còn rất trẻ thông suốt giáo pháp rất nhiều như: Nàng Long Nữ trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Thắng Man Phu Nhân trong kinh Thắng Man, Vô Uý Đức trong kinh Đại Bảo Tích, Thiện Tài Đồng Tử trong kinh Hoa Nghiêm, Tát Đà Ba Luân trong kinh Đại Bát Nhã v.v...
Nói chung, dưới thời Phật các Đại Bồ Tát thông suốt có thể thay mặt Phật giảng nói giáo pháp nhiều vô số. Về các Bồ Tát tuổi đời chưa đến 30 mà có thể lãnh hội trọn vẹn lời dạy của Đạo Sư, sau đó tuyên nói trước đại chúng điều mình đã lãnh hội cũng không phải là ít. Theo mình, hai việc này cũng đâu có gì là lạ đối với bất kì một nền giáo dục minh triết, khoa học, khai phóng và chân chánh nào trên thế gian này.
- Hỏi:
3) Những người mà tuổi trẻ mà đã thấu suốt Phật Pháp, do nhân duyên gì mà được quả báo thù thắng như vậy, xin Thầy giải nói giúp”.
- Trả lời:
Theo kinh điển, những người tuy tuổi đời còn trẻ nhưng đã thấu suốt giáo pháp. Là do, những vị đó nhiều đời kiếp quá khứ đã từng gieo trồng căn lành dưới nhiều đức Phật. Thời nay nhờ duyên lành ấy, ra đời gặp được bạn lành (Thiện Tri Thức). Chính nhờ vào hai thứ công đức này, cây trí tuệ hiện đời của các vị ấy tiếp tục đơm hoa kết trái. Ta có thể hiểu, giống như một ngôi nhà xây dựng xong, hệ thống chiếu sáng đã được đấu nối hoàn hảo, chỉ cần đủ duyên, có người ấn công tắc, lập tức ngôi nhà tràn ngập ánh sáng.
Hy vọng, những giải thích vừa rồi, có thể giúp Văn Quang và bạn đọc mau chóng tìm thấy bạn lành trợ duyên, để ngọn đèn trí tuệ sớm soi sáng nhân gian.
Rất mong, nhận được các câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người!
19/08/2023
LÝ TỨ
CBL.29 - Pháp Không Hai
Riêng khái niệm không hai hay bất nhị của Phật đạo, là tên gọi để chỉ cảnh giới của người giác ngộ! Cảnh giới ấy ra ngoài nhị nguyên đối đãi của “thế gian tâm thức” như: Đúng sai, phải quấy, thiện ác, anh tôi, hữu vi vô vi, có không, bờ này bờ kia v.v...

Các bạn!
Mình vừa nhận được một vài thắc mắc của bạn đọc có tên Phạm Thượng! Nội dung câu hỏi như sau:
“Thưa Thầy Lý Tứ!
Em tên Phạm Thượng, vừa rồi về dự đám cưới của một đứa em tại Đà Nẵng, trên đường đến lễ cưới vô tình nhìn thấy hai hàng banner giới thiệu sự kiện của Thầy.
Vì tò mò sau khi vào đám cưới một hồi, em chạy sang xem sự kiện tổ chức về việc gì mà sân khấu hoành tráng, ăn uống linh đình. Một hồi thật lâu, em mới mang máng hiểu ra là học trò tổ chức sinh nhật cho Thầy của mình và kỉ niệm 15 năm Lý Gia gì đó.
Có thể nói đây là lần đầu tiên em nhìn thấy lễ sinh nhật do học trò tôn vinh Thầy của mình hoành tráng, bài bản và trang trọng như vậy. Sau đó em được một học trò của Thầy giới thiệu vắn tắt về Thầy, chương trình giáo dục và còn dặn có thắc mắc gì về đạo Phật có thể gởi câu hỏi trong chuyên mục hỏi đáp, Thầy trả lời tất cả. Khi nói chuyện, em nhận ra học trò của Thầy kính trọng Thầy một cách lạ thường, thể hiện sự mến thương trong từng câu nói, sau đó em có xin số điện thoại của người bạn ở Hà Nội và hẹn trao đổi thêm nếu có cơ hội.
Em cũng là một người đang trong quá trình tìm hiểu đạo Phật để chọn cho mình một hướng đi. Nên gặp sự kiện của Thầy em nghĩ đây có thể là nhân duyên lành. Thầy có thể giải đáp cho em một vài thắc mắc được không? Em xin cảm tạ!
1- Thầy có điều gì khác lạ mà học trò của Thầy tôn vinh đến như vậy? Làm sao trở thành học trò của Thầy như các bạn tham dự sự kiện?
2- Em nghe có người nói, “Phật pháp cho rằng nhân sinh và thế giới đều huyễn giả”. Thầy cho em hỏi nếu nhân sinh và thế giới là huyễn giả, thì tại sao từ xa xưa đến giờ thế giới và nhân sinh vẫn tồn tại, đến bao giờ sự huyễn giả mới hiện ra để chứng minh Phật pháp nói đúng?
3- Em cũng nghe họ nói “Phật pháp là pháp phủ định, không 2, không 1, không ngã, không ta”. Xin hỏi Thầy điều này đúng không?
Em kính chúc Thầy thêm tuổi mới khoẻ mạnh”
15/08/2023 21:21:00
Phạm Thượng
*****
Phạm Thượng và bạn đọc thân mến!
Về các câu hỏi của bạn, mình xin được trả lời như sau:
- Hỏi:
1- Thầy có điều gì khác lạ mà học trò của Thầy tôn vinh đến như vậy? Làm sao trở thành học trò của Thầy như các bạn tham dự sự kiện?
- Trả lời:
Sau khi nghe Phạm Thượng đặt câu hỏi, mình mới có dịp nhìn lại bản thân! Ha ha ha ha! Dòm tới ngó lui, chẳng thấy bản thân có gì khác lạ! Nói chung, Lý Tứ cũng giống như mọi người trên cõi đời, không ăn thì ốm tong ốm teo, không ngủ thì mặt mày hốc hác, không học thì dốt đặc cán mai, không thở thì chết ngủm củ tỏi.
Còn chuyện vì sao học trò tôn vinh mình thì, “tôn sư trọng đạo” là đạo của người học trò từ ngàn xưa đến nay đều như vậy. Ca dao cũng nói:
“Muốn sang thì bắc cầu Kiều,
Muốn con hay chữ phải yêu mến Thầy”.
Vì thế theo mình, học trò tôn vinh và yêu thương mình như bạn đã nghe thấy từ sự kiện, chắc tại họ thuộc lòng mấy câu trên.
Để có thể làm học trò của mình, làm HĐ Lý Gia, bạn có thể đăng kí vào học khoá “Hạnh phúc quanh ta - Giọt mưa đầu mùa”. Sau khi học xong, xét thấy phương pháp, nội dung giáo dục v.v... có phù hợp với bản thân hay không.
Chừng ấy nếu Phạm Thượng thấy phù hợp, có nguyện vọng, các HĐ sẽ hướng dẫn cụ thể để bạn chính thức làm học trò của mình! Khóa học chừng 2 tháng không mất tiền, tài liệu học tập hoàn toàn miễn phí!
- Hỏi:
2- Em nghe có người nói, “Phật pháp cho rằng nhân sinh và thế giới đều huyễn giả”. Thầy cho em hỏi nếu nhân sinh và thế giới là huyễn giả, thì tại sao từ xa xưa đến giờ thế giới và nhân sinh vẫn tồn tại, đến bao giờ sự huyễn giả mới hiện ra để chứng minh Phật pháp nói đúng.
- Trả lời:
Theo mình biết, Phật pháp không nói rằng “nhân sinh và thế giới đều huyễn giả!” Mà, Phật pháp chỉ dạy rằng “các pháp”, trong đó cả “pháp nhân sinh” và “pháp thế giới” đều huyễn giả (không thật)! Ví dụ các câu: “Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn, bào, ảnh...” (Kinh Kim Cang)!
Hoặc Phật dạy trong kinh Tương Ưng III: “Này các ông, cái gì được thấy, được nghe, được nghĩ, được biết, được tìm cầu, được ý tư duy, cái ấy là thường hay vô thường?
- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
- Cái gì vô thường là khổ hay vui?
- Là khổ, bạch Thế Tôn.
- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy, thì có thể khởi lên suy nghĩ: Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?
- Thưa không, bạch Thế Tôn!”
Xét hai lời dạy trên, ta thấy rằng, Phật chỉ dạy các pháp là huyễn giả, còn thế giới và nhân sinh là vô thường! Theo mình, có lẽ vị nào đó “nói lộn” các pháp thành thế giới và nhân sinh vô thường thành huyễn giả. Nên một phen vô tình làm bạn phát sinh thắc mắc.
Mà, đã nói lộn thì, cái câu hỏi của bạn: “Thầy cho em hỏi nếu nhân sinh và thế giới là huyễn giả, thì tại sao từ xa xưa đến giờ thế giới và nhân sinh vẫn tồn tại, đến bao giờ sự huyễn giả mới hiện ra để chứng minh Phật pháp nói đúng”. Coi như... như... như... huyễn giả luôn, hỏi...
cho... vui cửa... vui nhà.
Chú ý: Pháp là quan niệm về cái ấy chứ không phải cái ấy! Huyễn giả là không thật (như trò ảo thuật)! Vô thường là biến hoại, không bền chắc (nay còn mai mất)! Hiểu lộn ba khái niệm này thì cái sự hiểu ấy cũng huyễn... giả... luôn...
- Hỏi:
3- Em cũng nghe họ nói “Phật pháp là pháp phủ định, không 2, không 1, không ngã, không ta”. Xin hỏi Thầy điều này đúng không?
- Trả lời:
Phật pháp là pháp chơn thiệt, không phải pháp phủ định, cũng không phải pháp khẳng định! Pháp chơn thiệt là, chỉ thẳng thiệt tướng của pháp ấy! Mà thiệt tướng thì siêu quá hai mệnh đề mang tính phủ định và khẳng định của thế gian!
Riêng khái niệm không hai hay bất nhị của Phật đạo, là tên gọi để chỉ cảnh giới của người giác ngộ! Cảnh giới ấy ra ngoài nhị nguyên đối đãi của “thế gian tâm thức” như: Đúng sai, phải quấy, thiện ác, anh tôi, hữu vi vô vi, có không, bờ này bờ kia v.v... Chữ “không hai” hay “bất nhị” trong Phật đạo là cảnh giới chứ không phải con số toán học. Vì thế, đặt hai hay một theo ý nghĩa toán học ở đây là hoàn toàn không phù hợp! Vì rằng, cảnh giới ấy ra khỏi tứ cú (bốn câu hay bốn mệnh đề) gồm: 1. Có (有; hữu); 2. Không (無; vô); 3. Vừa có vừa không (亦有亦無; diệc hữu diệc vô), 4. Chẳng phải có cũng chẳng phải không (非有非無; phi hữu phi vô). Mà, vị nào đó đã nói lộn cái vụ bất nhị này thì... thì... thì... cũng cho phép mình miễn bàn đúng sai luôn.
Cuối cùng! Cảm ơn duyên lành đã đưa Phạm Thượng đến tham dự sự kiện 15 NĂM LÝ GIA MỘT KHOẢNH KHẮC - 70 NĂM LÝ TỨ MỘT HÀNH TRÌNH - CỦA LÝ GIA - TỔ CHỨC TẠI ĐÀ NẴNG!
Và, mình cũng trân trọng cảm ơn những đánh giá tốt đẹp của bạn đối với sự kiện vừa rồi qua buổi tao ngộ đầy bất ngờ ấy!
Hy vọng, những giải thích ở trên, giúp Phạm Thượng và bạn đọc có cơ hội hiểu đúng một vài khái niệm cơ bản của Phật đạo. Cũng như tránh việc dùng ý chí chủ quan suy lường cảnh giới xuất thế thành phép tính... toán... học.
Chúc mọi người an vui, tinh tấn!
Rất mong, nhận được các câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người!
17/08/2023
LÝ TỨ
CBL.28 - Vì Sao Người Ngủ Nằm Mơ?
Các mục tiêu của Phật đạo, không có mục tiêu nào liên hệ đến giấc mơ. Vì thế, Phật đạo không chú trọng đến việc một người ngủ nằm mơ, giấc mơ đó là tốt hay xấu, là thiện hay ác, có đúng với thực tế hay không!

Các bạn!
Trong tuần, mình nhận được câu hỏi của bạn đọc có nickname Hoài Anh! Bạn ấy thắc mắc như sau:
“Xin chào bác Lý Tứ. Tôi có câu hỏi này mong bác giải đáp giúp. Tôi thường có nhiều giấc mơ, có những giấc mơ lặp đi lặp lại, và có một số giấc mơ nó đã đúng sau 1 thời gian. Vậy dưới góc nhìn Phật đạo có thể giải thích như thế nào về những hiện tượng này?
Mong bác giải đáp giúp, cám ơn bác!”
04/08/2023 15:21:00
Hoài Anh
*****
Hoài Anh và bạn đọc thân mến!
Không riêng gì Hoài Anh, mà bản thân mình, cũng vài lần từ một giấc mơ, mấy ngày sau, sự việc trong đời xảy ra gần như đúng 100% với giấc mơ đó. Thậm chí, còn nghe rất nhiều người kể những hiện tượng tương tự như vậy. Về việc này, xin được trả lời theo góc nhìn cá nhân như sau!
1) Cơ chế ghi nhận thông tin của một hữu tình (con người)?
Theo quan điểm của Phật đạo. Con người có 9 thức gồm: Nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý, mạt na, a lại gia và lưu chú thức.
Trong đó, các thức thuộc về sáu căn là nhãn thức (nhận thức thuộc về con mắt), nhĩ thức (nhận thức thuộc về lỗ tai), tỉ thức (nhận thức thuộc về lỗ mũi), thiệt thức (nhận thức thuộc về cái lưỡi), thân thức (nhận thức thuộc về thân) và ý thức (nhận thức thuộc về suy nghĩ). Có công dụng giúp người ta nhận biết khi căn xúc đối với trần cảnh (gồm nội trần và ngoại trần). Mạt na thức (thức chấp ngã), có nhiệm vụ phân biệt tốt xấu, thiện ác, đúng sai, chọn lựa v.v... A lại gia thức (Hàm tàng thức), có nhiệm vụ ghi nhận và lưu trữ các thông tin đã bắt gặp trong đời sống như một ổ cứng máy tính. Lưu chú thức, có công dụng chuyển các thông tin đã lưu trữ từ quá khứ về hiện tại khi tâm ý có nhu cầu.
Thật ra, nói có 9 thức để người học dễ nhận biết. Chứ thực tế, hữu tình chỉ có 1 thức nhưng làm đến 9 chức năng. Như một người kiêm nhiệm 9 công việc khác nhau. Thành ra, khi 1 thức dứt mê, 9 cái kia đồng hết mê.
2) Vì sao người ngủ nằm mơ?
Cũng theo quan điểm của Phật đạo. Khi người ta ngủ, năm căn hay năm giác quan trên thân (gồm con mắt, lỗ tai, lỗ mũi, cái lưỡi và thân) tạm nghỉ ngơi, không hoạt động, nên tiền ngũ thức (nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức) không thể nhận thức thế giới bên ngoài. Bây giờ, thức nghiệp nương tánh giác quay lại tiếp xúc thế giới bên trong (tiềm thức). Điều này, kinh Phật gọi là “tập nhân chiêu cảm với giao báo”. Từ đó sản sinh ra các giấc mơ.
3) Phật đạo lí giải thế nào về “sự đúng sai” các giấc mơ so với thực tế?
Ngoài những giải thích ở trên về việc vì sao người ta ngủ mơ. Bản thân mình, chưa từng đọc qua một bài kinh hay lời dạy nào nào được coi là chính thống của Phật đạo bàn luận, lí giải về “sự đúng sai” hay hiện tượng của một giấc mơ.
Kể cả các mục tiêu giúp người thành tựu những đạo quả hoặc các cảnh giới trong Phật đạo như: Giúp người hết khổ (8 món khổ nhân sinh); Giúp người dứt tập (phiền não, kiết sử, lậu hoặc); Giúp người chứng diệt (chứng ngộ Niết bàn); Giúp người thành tựu trí tuệ vô tướng (Bát Nhã Trí) v.v... cũng không có một mục tiêu nào liên hệ đến các giấc mơ hay hiện tượng nằm mơ.
Vì thế, mình không thể trả lời yêu cầu từ nội dung câu hỏi của Hoài Anh trên quan điểm Phật đạo: “Vậy dưới góc nhìn Phật đạo có thể giải thích như thế nào về những hiện tượng này?” Mong Hoài Anh và bạn đọc thông cảm!
4) Quan điểm của Phật đạo đối với các giấc mơ?
Như những gì đã giải thích ở trên. Các mục tiêu của Phật đạo, không có mục tiêu nào liên hệ đến giấc mơ. Vì thế, Phật đạo không chú trọng đến việc một người ngủ nằm mơ, giấc mơ đó là tốt hay xấu, là thiện hay ác, có đúng với thực tế hay không! Và, Phật đạo cũng không khuyến khích người học tập giáo pháp của mình bỏ công tìm hiểu, phân tích, giải thích các hiện tượng như vậy.
Vì rằng, đối với Phật đạo, tất cả những gì “căn trần thức” hoà hiệp (ba duyên hoà hiệp) cho dù trong lúc ngủ hay thức đều là “hữu vi pháp”. Mà, một hữu vi pháp tự nó không tánh, vô thường, biến hoại, không bền chắc, không chân lí và vô ngã. Cho nên, Phật đạo luôn cảnh báo đối những ai học tập trong đạo của mình rằng: Đối với các hữu vi pháp, không nên lấy đó “làm ta, ngã của ta và tự ngã của ta”. Nếu, những ai lấy các sự việc hay hiện tượng hữu vi làm ta, làm ngã của ta, làm tự ngã của ta đều không thể thấy được bản chất (thiệt tướng), không thể có được an vui vĩnh hằng và giác ngộ như pháp.
Đoạn kinh Tương Ưng III sau đây nêu rõ quan điểm này:
“Phật dạy:
- Này các ông, cái gì được thấy, được nghe, được nghĩ đến, được biết, được tìm cầu, được ý tư duy. Cái ấy là thường hay vô thường?
- Là vô thường, bạch Thế Tôn!
- Cái gì vô thường là khổ hay vui?
- Là khổ, bạch Thế Tôn!
- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy, thì có nên khởi lên suy nghĩ: Cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta?
- Thưa không, bạch Thế Tôn! Tất cả các thứ ấy đều vô thường, vô ngã, nên người trí không nên niệm tưởng hay tìm cầu ý nghĩa từ các thứ ấy!”
Đây cũng là lí do vì sao, Phật đạo không lí giải, không cắt nghĩa, không khuyến khích môn đồ của mình tìm hiểu, giải thích những hiện tượng như bạn đã hỏi.
Hy vọng, những giải thích sơ lược vừa nêu, có thể giúp Hoài Anh và bạn đọc nhận ra quan điểm của Phật đạo về những giấc mơ hay các hiện tượng liên quan đến nó.
Chúc Hoài Anh và bạn đọc an vui, tinh tấn!
Rất mong, nhận được các câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người!
07/08/2023
LÝ TỨ
CBL.27 - Người Chết Có Phật Tánh Không?
Cũng theo quan điểm của Phật đạo, “Phật tánh là thường”. Vì là thường, nên Phật tánh không bị ảnh hưởng bởi các thân nghiệp khác nhau! Cho nên, thân này cho dù có chết đi, cũng không vì thế mà Phật tánh mất theo thân nghiệp.

Các bạn!
Mình vừa nhận được ba câu hỏi từ một bạn đọc có tên là Tân, địa chỉ Email: thanhtan....@icloud.com gởi đến từ website LyTu.Vn! Nội dung câu hỏi như sau:
“Tôi muốn hỏi Thầy Lý Tứ vài vấn đề?
1) Thầy đã Giác Ngộ chưa?
2) Tôi có đọc lướt qua sách của Thầy có nói: Loài vô tình không có Phật tánh, chỉ có loài hữu tình (con người) mới có Phật tánh. Câu hỏi? Con người có Phật tánh vậy người chết có Phật tánh không?
3) Niệm mê (vô minh) là một niệm lầm chấp có một cái ngã và có một cái ngã đi luân hồi sinh tử. Niệm vô minh tuân theo quy luật vô thường, có rồi không, sinh rồi diệt, điều này có nghĩa là vô minh chẳng thể thường trụ mãi mãi, có tu hay không thì cũng sẽ có lúc sẽ không còn.
Niệm giác (ngộ) là cái thấy tánh, thấy vô thường vô ngã, thấy bổn lai vô nhứt vật, thấy vô sở đắc, thấy tu vô tu tu, chứng vô chứng chứng. Cái giác thấy này nó cũng vô thường, có rồi không, sinh rồi diệt. Vậy thì chẳng niệm mê và niệm giác nào mãi mãi thường trụ, cho dù có tu hay không. Người tu là người cầu chuyển mê khải ngộ, hoá ra chuyện tu hành là chuyện dã tràng se cát hay sao? Vấn đề tu cũng như “dã tràng se cát” này chúng ta giải quyết thế nào đây?
*****
Tân và bạn đọc thân mến!
Về các câu hỏi nêu trên, mình sẽ lần lượt trả lời như sau!
- Hỏi:
1) Thầy đã Giác Ngộ chưa?
- Trả lời:
Câu hỏi này, trong đời mình gặp rất, rất, rất nhiều. Và, đây là câu “rất khó trả lời” để “bạn đọc thoả mãn”.
Bởi lẽ, muốn biết chắc thật một người đã giác ngộ hay chưa, không thể căn cứ vào tuyên bố của người ấy... Mà, điều kiện tiên quyết phải là: Một, đạo sư của người đó! Hai, người có giác ngộ bằng hoặc cao hơn! Ba, người đó đã dạy mình giác ngộ.
Nó giống như chỉ có người thợ săn lành nghề hoặc học trò người thợ săn lành nghề, khi thấy bóng dáng, dấu chân, tiếng kêu v.v... của một con thú nào đó, người thợ săn lành nghề lập tức biết được chủng loại, tập tính cùng cách săn bắt. Còn những ai không phải thợ săn lành nghề, cho dù có nghe qua cũng khó mà biết chắc các thứ ấy. Cho nên, đối với câu hỏi này, mình xin không chính thức trả lời rằng, “bản thân đã giác ngộ hay chưa!”
Tuy nhiên, cũng xin “mách” với Tân rằng: Từ ngày khai sinh Lý Gia đến nay (15 năm), mình đã dạy cho rất nhiều HĐ Lý Gia giác ngộ với nhiều tầng bậc khác nhau. Bạn có thể kết nối với các HĐ ấy trên Group Lý Gia để tìm hiểu cụ thể hơn!
- Hỏi:
2) Tôi có đọc lướt qua sách của Thầy có nói: Loài vô tình không có Phật tánh, chỉ có loài hữu tình (con người) mới có Phật tánh. Câu hỏi? Con người có Phật tánh vậy người chết có Phật tánh không?
- Trả lời:
Theo quan điểm của Phật đạo, một hữu tình (con người) được coi là “chết”, chỉ là hiện tượng người ấy từ bỏ thân nghiệp hiện tại sau khi mãn duyên, để đón nhận thân nghiệp ở vị lai sau khi đủ duyên, chứ không phải hữu tình ấy “đoạn diệt vĩnh viễn”.
Cũng theo quan điểm của Phật đạo, “Phật tánh là thường”. Vì là thường, nên Phật tánh không bị ảnh hưởng bởi các thân nghiệp khác nhau! Cho nên, thân này cho dù có chết đi, cũng không vì thế mà Phật tánh mất theo thân nghiệp.
Giống như một người thay chiếc áo hoặc đến một nơi ở khác, chiếc áo có thay đổi, nơi cư trú có thay đổi trong mắt mọi người nhưng những gì thuộc về bản chất của người ấy thì không thay đổi!
- Hỏi:
3) Niệm mê (vô minh) là một niệm lầm chấp có một cái ngã và có một cái ngã đi luân hồi sinh tử. Niệm vô minh tuân theo quy luật vô thường, có rồi không, sinh rồi diệt, điều này có nghĩa là vô minh chẳng thể thường trụ mãi mãi, có tu hay không thì cũng sẽ có lúc sẽ không còn.
Niệm giác (ngộ) là cái thấy tánh, thấy vô thường vô ngã, thấy bổn lai vô nhứt vật, thấy vô sở đắc, thấy tu vô tu tu, chứng vô chứng chứng. Cái giác thấy này nó cũng vô thường, có rồi không, sinh rồi diệt.
Vậy thì chẳng niệm mê và niệm giác nào mãi mãi thường trụ, cho dù có tu hay không. Người tu là người cầu chuyển mê khải ngộ, hoá ra chuyện tu hành là chuyện dã tràng se cát hay sao? Vấn đề tu cũng như “dã tràng se cát” này chúng ta giải quyết thế nào đây?
- Trả lời:
Đúng là, niệm mê hay niệm giác đều vô thường, sanh diệt.
Nhưng với một người “giác ngộ chân thật” thì:
- “Giác lực” là thường, nên “không sanh diệt”.
- “Bát Nhã lực” ra khỏi sanh diệt, nên cũng “bất sanh bất diệt”.
Như vậy ta có thể hiểu, người tu hành chuyển mê thành giác để sau đó thành tựu Giác lực và Bát Nhã lực. Chứ không phải thành tựu niệm giác rồi thôi! Cho nên, câu hỏi “dã tràng xe cát” không phù hợp với cảnh giới “giác ngộ chân thật”.
Hy vọng, những giải thích vừa rồi, có thể giúp Tân và bạn đọc thoả mãn các thắc mắc của mình về một vài vấn đề liên quan.
Chúc an vui, tinh tấn!
Rất mong, nhận được các câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người!
31/07/2023
LÝ TỨ
CBL.26 - Giác Ngộ Không Do Tu Luyện Mà Thành
Giác ngộ trong Phật đạo chính là sự bùng vỡ tâm thức được khơi nguồn từ ngọn lửa giáo pháp chứ chẳng phải là sản phẩm của “dụng công tu luyện”, “nhân quả thế gian” hay “chia chẻ so bì”.

Các bạn!
Sau khi trả lời bạn đọc Đỗ Long về thắc mắc giữa Chúa và Phật trong chuyên mục - Kì 12/2023. Trong bài viết có câu: “Giác Ngộ theo quan điểm của Phật đạo, là: Sự bùng vỡ tâm thức tột cùng (tối hậu). Bùng vỡ này không do tu luyện mà thành”.
Nhân câu nói trên, hôm nay bạn Tuấn Nguyễn lại có thêm thắc mắc với nội dung sau:
“Xin chào Thầy Lý Tứ!
Xin cho tôi hỏi câu của Thầy mới trả lời (về Chúa và Phật có đoạn như trên): “Sự bùng vỡ tâm thức tột cùng (tối hậu) bùng vỡ này không do tu luyện mà thành”.
Theo đúng nhân quả, nhờ sự nỗ lực tu hành là nhân, mới sanh quả là tâm sáng hay giác ngộ, nếu không có tu mà được sự bùng vỡ tâm thức tột cùng?
Xin Thầy vì tôi cùng bạn đọc mở lòng từ bi minh giải cho rõ ràng minh bạch trên con đường đi về Phật đạo, tôi và độc giả xin cảm ơn Thầy Lý Tứ khai mở con đường về đạo Phật”.
Tôi tên Tuấn Nguyễn ở Trà Vinh.
18/07/2023 13:43:42
Tuấn Nguyễn - Trà Vinh
*****
Tuấn Nguyễn và bạn đọc thân mến!
Bùng vỡ tâm thức hay giác ngộ trong Phật đạo, là hình thức thực chứng cảnh giới xuất thế!
Cảnh giới xuất thế vượt ra khỏi các khái niệm nằm trong phạm trù nhị nguyên của thế tục như: Tu và không tu, nhân quả thiện ác, chánh tà đúng sai. Vì rằng, các phạm trù nêu trên là kết quả của đối đãi, không bao gồm yếu tố chân lí! Vì thế, nó không phải là hạt nhân đưa đến đạo quả xuất thế!
Để làm sáng tỏ luận điểm này, mình xin nêu một số ví dụ đơn cử!
1) Về tu và không tu đối với đạo giác ngộ, đều là sản phẩm của phàm phu, tứ cú và bốn bệnh!
- Nếu bảo rằng giác ngộ do “không tu”: Lập tức rơi vào bệnh nhậm! Đây là bệnh mặc kệ của phàm phu vô văn, của những người mà đời sống và tâm thức không có định hướng cũng như ý chí tiến thủ. Kinh Viên Giác!
- Nếu bảo rằng giác ngộ do “tu luyện mà thành”: Lập tức sẽ rơi vào bệnh tác! Đây là bệnh của những người mang trong mình “chủng tánh ngoại đạo”. Như lập một hạnh, dùng một sở pháp để chế ngự hay bức tử ý thức, đề cao việc dụng công, lấy công phu làm cơ sở tu chứng, hay mong cầu cứu cánh từ việc tu luyện đặc thù. Kinh Viên Giác, Kinh Thủ Lăng Nghiêm!
- Nếu bảo rằng giác ngộ là do “cũng tu cũng không tu”: Quan điểm này không đưa đến giác ngộ như pháp và phát triển trí tuệ vô tướng, bởi nó kẹt vào tứ cú và bốn bệnh!Điển hình của quan điểm này là hai thứ bệnh “chỉ và diệt!”
* Chỉ là bệnh phong bế các căn, đình chỉ thấy nghe, nắm lấy cái u nhàn mê muội mà ngỡ rằng Viên Giác! Kinh Viên Giác, Kinh Thủ Lăng Nghiêm!
* Diệt là bệnh tịch diệt tâm ý thức mà không rõ nguồn cơn cũng như nguyên lí vận hành. Thủ giữ cái ngu ngơ mà tưởng đó là “cảnh giới không” của Phật đạo!
* Hai thứ bệnh này thuộc về những người cầu Phật đạo nhưng “vô duyên bạc phước” bị dẫn dắt bởi các quan điểm không xuất phát từ “giác ngộ chân thật!” Kinh Viên Giác và Đại Bát Nhã!
2) Về nhân quả thiện ác thế gian, không phải là chiếc chìa khoá mở cửa giác ngộ đạo xuất thế!
Nhân quả thiện ác thế gian là sản phẩm của thế pháp! Nhân quả thiện ác chỉ đúng với nơi này không đúng với nơi kia, bị chi phối bởi thời gian và không gian, không đại diện cho chân lí. Nên nó chỉ cho ra phước đức hoặc ác nghiệp thế gian, không thể là hạt nhân phát sinh công đức để có thể giác ngộ đạo xuất thế!
Đơn cử cho cảnh giới giác ngộ rời lìa nhân quả thiện ác thế gian là các câu nói: “Không niệm thiện, không niệm ác. Ngay lúc ấy cái gì là bản lai diện mục của Minh thượng toạ”. Hay câu nói: “Ghét yêu chớ quan tâm, duỗi chân tâm tự tịnh!” Hoặc câu: “Người mê tu phước không cầu đạo. Đời sau được phước tội còn nguyên”. Trích Pháp Bảo Đàn Kinh!
Trên đây được coi là những câu nói tiêu biểu của Lục Tổ về cảnh giới giác ngộ siêu quá nhân quả thiện ác thế gian...
3) Về đúng sai chánh tà: Đúng, sai, chánh, tà... Thuộc về “Tỉ lượng bệnh!”
Đây là căn bệnh chia chẻ, phân biệt của hạng người biết nhiều nhưng không thấu suốt, học nhiều nhưng không sáng tỏ. Căn bệnh này, là lực cản rất lớn trên hành trình tiến về đạo xuất thế.
Để cảnh báo sự nguy hại của căn bệnh tham ưa giản trạch chia chẻ chánh tà, trong Tín Tâm Minh tam tổ Tăng Xán đã viết:
- Nguyên văn chữ Hán:
至道無難
唯嫌揀擇
但莫憎愛
洞然明白
毫釐有差
天地懸隔
欲得現前
莫存順逆
違順相爭
是為心病
不識玄旨
徒勞念靜
- Âm Hán Việt:
“Chí đạo vô nan
Duy hiềm giản trạch
Đản mạc tắng ái
Đỗng nhiên minh bạch.
Hào ly hữu sai
Thiên địa huyền cách
Dục đắc hiện tiền
Mạc tồn thuận nghịch.
Vi thuận tương tranh
Thị vi tâm bệnh
Bất thức huyền chỉ
Đồ lao niệm tịnh...”
Dịch:
“Chí đạo không khó
Chỉ hiềm chọn lựa
Nhưng chớ yêu ghét
Rỗng suốt sáng tỏ.
Mảy may vừa sai
Đất trời xa cách
Muốn được hiện tiền
Chớ còn thuận nghịch.
Trái thuận tranh nhau
Đó là tâm bệnh
Chẳng rõ ý huyền
Nhọc công niệm tĩnh...”
Lục Tổ Huệ Năng trong Pháp Bảo Đàn Kinh cũng tuyên thuyết: “Chánh tà đều chẳng niệm, trí Bồ Đề rõ ràng”.
Kết luận!
Giác ngộ trong Phật đạo chính là sự bùng vỡ tâm thức được khơi nguồn từ ngọn lửa giáo pháp chứ chẳng phải là sản phẩm của “dụng công tu luyện”, “nhân quả thế gian” hay “chia chẻ so bì”. Ngọn lửa này có công năng đốt cháy vô minh soi sáng tâm thức! Nó (tâm thức) giống như một hang động tối tăm ngàn năm, chỉ cần đốt lên một ngọn đuốc (giáo pháp chân chánh), hang động tối tăm ngàn năm ấy lập tức được soi sáng mà không phải trải qua bất kì một sự đối đãi, suy lường hay tu luyện nào.
Bởi lẽ, bóng tối “vô nhân” nên ánh sáng cũng “vô quả”. Bởi lẽ, bóng tối “vô thuỷ” nên ánh sáng cũng “vô chung”. Bởi lẽ, bóng tối “không tà” nên ánh sáng cũng “chẳng chánh”.
Hy vọng, những giải thích sơ lược vừa nêu giúp Tuấn Nguyễn và bạn đọc ngay hiện tại này có thể tiếp cận cảnh giới giác ngộ của đạo xuất thế. Cảnh giới mà, mọi hiểu biết thế gian đều bất lực trong quá trình đi tìm sự “hoát nhiên bùng vỡ!”
Chúc Tuấn Nguyễn và bạn đọc an vui, tinh tấn!
Rất mong, nhận được các câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người!
19/07/2023
LÝ TỨ
CBL.25 - Chúa Và Phật - Ai Tu Luyện Cao Hơn
Để so sánh hai (hoặc nhiều) cảnh giới, con người hay vật thể v.v... là khác hay giống, điều kiện tiên quyết: Người so sánh phải biết chắc (thông đạt, nắm vững, tự chứng) các cảnh giới, con người hay vật thể cần so sánh.

Các bạn!
Mình vừa nhận được các câu hỏi của bạn đọc có tên là Đỗ Long! Nội dung các câu hỏi như sau:
“Xin kính chào Thầy Lý Tứ. Theo tôi được biết Phật Thích Ca Mâu Ni là bậc tu luyện cao nhất của Phật. Trên thế giới cũng có các bậc như chúa Giêsu, mẹ Teresa. Họ có được gọi là giác ngộ không? và cấp bậc tu luyện của họ đến đâu nếu so sánh với Phật đạo? Và con đường của họ có phải là cách tu hành của Phật đạo không?
Xin cảm ơn Thầy”.
14/07/2023 13:43:27
Đỗ Long
*****
Đỗ Long và bạn đọc thân mến!
Về các thắc mắc của Đỗ Long, mình xin được trả lời như sau:
- Hỏi:
“Theo tôi được biết Phật Thích Ca Mâu Ni là bậc tu luyện cao nhất của Phật. Trên thế giới cũng có các bậc như chúa Giêsu, mẹ Teresa. Họ có được gọi là giác ngộ không?”
- Trả lời:
Phật Thích Ca Mâu Ni là một trong những vị Phật chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác (đủ 10 danh hiệu), ta quen gọi là Vô Thượng Bồ Đề hay Bậc Đại Giác. Tức, Thích Ca Mâu Ni thành Phật là do “Giác Ngộ viên mãn” như chư Phật quá khứ, chứ không phải là “bậc tu luyện cao nhất”.
Giác Ngộ theo quan điểm của Phật đạo, là: Sự bùng vỡ tâm thức tột cùng (tối hậu)... Bùng vỡ này không do tu luyện mà thành. Sau khi bùng vỡ, vị ấy thấy được thiệt tướng của thân, tâm, thế giới và vạn pháp. Đồng thời tuyên thuyết chân thật về những gì vị ấy đã thấy biết, sau đó dạy người cũng đạt được thấy biết như mình gọi là Phật đạo (hay Phật pháp).
Về việc bạn hỏi, chúa Giêsu và mẹ Teresa có được coi là giác ngộ hay không thì, điều này mình không thể trả lời chính xác. Không chính xác vì, bản thân không phải là tín đồ Thiên Chúa Giáo, cũng như những gì mình tìm hiểu về các vị ấy (Giêsu và Teresa) không đủ để kết luận hay lạm bàn về đường đi cũng như cảnh giới các vị ấy.
- Hỏi:
“Và cấp bậc tu luyện của họ đến đâu nếu so sánh với Phật đạo?”
- Trả lời:
Để so sánh hai (hoặc nhiều) cảnh giới, con người hay vật thể v.v... là khác hay giống, điều kiện tiên quyết: Người so sánh phải biết chắc (thông đạt, nắm vững, tự chứng) các cảnh giới, con người hay vật thể cần so sánh. Mà, bản thân mình thì, chỉ biết có Phật đạo (biết không nhiều về Thiên Chúa). Vì thế, khó có thể đưa ra một so sánh hay kết luận chủ quan nào về các “cấp bậc tu luyện” giữa các vị ấy.
- Hỏi:
“Và con đường của họ có phải là cách tu hành của Phật đạo không?”
- Trả lời:
Tuy mình không biết nhiều về con đường tu hành của chúa Giêsu cũng như những việc làm cụ thể của Thánh Nữ Teresa. Nhưng, mình tin rằng con đường và cách tu hành của hai vị này (Giêsu, Teresa) và của Phật là hoàn toàn khác nhau. Bởi lẽ:
Phật dạy: “Tam thế chư Phật khác miệng đồng lời”. Lời dạy này có nghĩa rằng, ba đời chư Phật do giác ngộ giống nhau, mục tiêu hành đạo giống nhau nên tuyên thuyết giống nhau.
Theo lời dạy này thì, nếu giữa Phật và Chúa có đường lối tu hành cũng như mục tiêu hành đạo giống nhau thì chắc chắn họ sẽ tuyên thuyết và dạy người không khác nhau về thân, tâm, thế giới và các pháp.
Nhưng thực tế thì, giữa Phật giáo và Thiên Chúa Giáo có rất nhiều sai khác từ cách thức tu hành đến mục tiêu hành đạo cũng như quan điểm về thân, tâm, thế giới hay các pháp... Điều này có thể tìm hiểu để thấy sự khác biệt các quan điểm nêu trên giữa Kinh Phật, Phúc Âm, Tân Ước, Cựu Ước...
Trên đây chỉ là “quan điểm cá nhân!”
Hy vọng, Đỗ Long và bạn đọc thông cảm! Chúc Đỗ Long và bạn đọc an vui, tinh tấn!
MỘT VÀI NÉT TIÊU BIỂU VỀ CHÚA GIÊSU VÀ THÁNH NỮ TERESA THEO WIKIPEDIA!
- Chúa Giêsu:
“Giêsu (Chữ Nôm: 支秋, còn được viết là Giê-su, Giê-xu, Yêsu, Jesus, Gia-tô; khoảng 4 TCN - 3/4/33 SCN), còn được gọi là Giêsu Kitô, Jesus Christ, hay Gia-tô Cơ-đốc là một nhân vật lịch sử người Do Thái, nhà giảng thuyết, người sáng lập ra Ki Tô giáo vào thế kỉ thứ 1. Tên gọi Giêsu trong tiếng Habrew đọc là Yehoshua (יהושע – có nghĩa “Đức Chúa là Đấng Cứu Độ”), thường được gọi vắn tắt là Yeshua (ישוע). Đối với người đương thời, Giêsu còn được gọi là Giêsu thành Nazareth, hoặc Giêsu con ông Guise. Từ Ki Tô tiếng Latinh: Christus, tiếng Hy Lạp: Χριστός Khristós, hay Cơ đốc theo phiên âm Hán Việt là một danh hiệu của Giêsu, có nghĩa là “người được xức dầu”, nhằm chỉ ông là đấng Messiạ, đã được tiên báo trong Cựu Ước. Những gì chúng ta biết được về Giêsu là do được ghi chép trong Thánh Kinh Tân Ước, đặc biệt là trong bốn sách Phúc Âm.
Những nguồn thông tin chính về cuộc đời và những lời dạy của Giêsu là bốn sách Phúc Âm quy điển, đặc biệt là trong Phúc Âm Nhất Lãm, mặc dù nhiều học giả cho rằng những văn bản như Phúc Âm Tôma và Phúc Âm Hebrew cũng xác đáng.
Trong Hồi giáo, Giêsu (tiếng Ả Rập: عيسى, chuyển tự là Isa) được xem là một nhà tiên tri quan trọng của Thiên Chúa, người mang lại Injil (Phúc Âm), và là người làm những phép lạ. Hồi giáo cũng xưng nhận Giêsu là Đấng Masih (Messiạ), nhưng họ không dạy rằng Giêsu mang đặc tính thần linh. Quan điểm của Hồi giáo cho rằng Giêsu đã lên thiên đường cả linh hồn và thể xác nhưng không trải qua việc đóng đinh vào thập tự giá và phục sinh, khác với niềm tin truyền thống của Ki Tô giáo về cái chết và sự phục sinh của Giêsu”. Theo Wikipedia!
- Thánh Nữ Teresa!
“Thánh Têrêsa thành Lisieux, hoặc đúng hơn là Sainte Thérèse de l’Enfant-Jésus et de la Sainte Face, tên thật Marie-Françoise-Thérèse Martin, là một nữ tu Công giáo được phong hiển thánh và được ghi nhận là một Tiến sĩ Hội thánh. Têrêsa thành Lisieux cũng được biết đến nhiều với cái tên “Bông hoa Nhỏ của Chúa Giêsu”.
Ngày/nơi sinh: 2 tháng 1, 1873, Alecon, Pháp.
Ngày mất: 30 tháng 9, 1897, Lisieux, Pháp.
Bà: Marie-Anne-Fanie Boureau.
Cha mẹ: Marie-Azelie Guerin, Louis Martin.
Anh/chị/em ruột: Sister Genevieve of the Holy Face, Léonie Martin, Marie-Olide Martin, Marie-Mélanie Therese Martin, Marie-Pauline Martin, Joseph Jean-Baptiste, Joseph Louis”. Theo Wikipedia!
Rất mong, nhận được các câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người!
17/07/2023
LÝ TỨ