CBL.24 - Lục Tổ Huệ Năng
Từ đó, để xét đến một nhân vật quá khứ, chúng ta không nên căn cứ vào xuất thân hay chủng tộc. Đặc biệt là, qua những dị bản sai khác, rất khó để chúng ta khẳng định chính xác mức độ giác ngộ của vị ấy trong đạo pháp bởi sự biên chép không đồng nhất.

Các bạn!
Sáng nay, mình lại nhận thêm một số thắc mắc của bạn đọc Tuấn Nguyễn ở Trà Vinh! Các câu hỏi của Tuấn Nguyễn lần này, xoay quanh một số thắc mắc về Lục Tổ Huệ Năng!
Theo tài liệu ghi lại, Lục Tổ Huệ Năng là vị được truyền thừa y bát đời thứ 6 của Trung Quốc sau Huệ Khả, Tăng Xán, Đạo Tín, Hoằng Nhẫn. Và Ngài cũng là tổ đời thứ 33 được tính sau Ngài Ma Ha Ca Diếp.
Theo thông tin từ Wikipedia: “Lục Tổ Huệ Năng sinh ngày 27 tháng 2 năm 638 CN, tại Tân Hưng, Vân Phù, Trung Quốc… Ngài mất năm 713 CN”
Gần đây, căn cứ vào bản Pháp Bảo Đàn Kinh được tìm thấy ở Đôn Hoàng. Tác giả Thích Mãn Giác lại cho rằng, Lục Tổ Huệ Năng là người Việt Nam!
“Qua các đời tổ truyền pháp nối nhau, chính vì Ngũ tổ Hoằng Nhẫn là người Trung Hoa truyền pháp cho Lục tổ Huệ Năng nên theo lịch sử Tàu hầu hết ai cũng nghĩ Lục tổ Huệ Năng là người Trung Quốc”. Song thực tế, theo tài liệu gần đây được khai quật ở Đôn Hoàng thì Lục tổ Huệ Năng là người Việt Nam.
Để minh định sáng tỏ điều này, trong bài viết “Lục Tổ Huệ Năng là người Việt Nam” của tác giả Thích Mãn Giác trên trang (https://phatgiao.org.vn/Lục tổ Huệ Năng là người Việt Nam) ngày 10 tháng 7 năm 2016 đã cung cấp thông tin tổ Huệ Năng là người Việt Nam.
Trong bài viết này, chúng tôi chỉ xin nêu một vài cứ liệu điển hình mà tác giả Thích Mãn Giác đã nêu ra trong bài viết nói trên về Lục tổ Huệ Năng (nếu bạn đọc và đạo hữu muốn tìm hiểu sâu và kỹ lưỡng hơn ở bài viết quan trọng này xin tìm đọc theo địa chỉ đã nêu).
Vậy, những cứ liệu và chi tiết quan trọng để khẳng định Lục tổ Huệ Năng là người Việt Nam mà tác giả Mãn Giác đã nêu trong bài viết trên căn cứ từ đâu?
Theo tác giả Mãn Giác: “Nguyên bản Pháp Bảo Đàn Kinh mà tôi (tức TMG) là người dịch bản kinh này mới nhất tìm được từ động Đôn Hoàng, vùng sa mạc Tân Cương, miền Trung Á. Bản này đã được viết ra vào khoảng năm 830 và trễ nhất là năm 860 (theo sự giảo nghiệm lối viết
chữ thảo ở thời đó, do một chuyên viên danh tiếng là Giáo sư Akira Fujieda của Đại học Tokyo). Đây là bản Pháp Bảo Đàn Kinh xưa nhất của thế giới hiện nay”.
Cũng theo tác giả Mãn Giác, trước đây ở Việt Nam tôi được biết ít nhất có ba bản kinh này được dịch Việt của ba dịch giả (Hòa thượng Thích Mãn Trực, Đoàn Trung Còn và Tô Quế) nhưng cả ba bản dịch này đều dựa theo bản chữ Hán Pháp Bảo Đàn Kinh được viết vào thế kỷ thứ XIII gọi là bản Tông Bảo; bản này không khác lắm với bản Đức Dị được in vào năm 1290 tại Nam Hải (Bản Đức Dị đã được du nhập vào Triều Tiên năm 1316 và tất cả bản Pháp Bảo Đàn Kinh bằng tiếng Triều Tiên đều xuất phát từ bản Đức Dị). Bản Pháp Bảo Đàn Kinh thông dụng nhất hiện nay ở Trung Hoa, Nhật Bản, và Việt Nam chính là bản Tông Bảo được viết vào năm 1291 và được in trong Đại tạng kinh ở đời Minh.
Ngoài những bản vừa kể, ít nhất chúng ta được biết có gần mười bản Pháp Bảo Đàn Kinh khác nhau, ngoài bản xưa nhất tìm được ở động Đôn Hoàng, viết vào khoảng những năm 830-860 (chính là bản tôi dịch – tức tác giả TMG) và ông cho rằng: Bản Đôn Hoàng là bản ngắn gọn nhất và chỉ gồm có mười hai ngàn chữ; bản Hưng Thánh Tự gồm mười bốn ngàn chữ; còn những bản khác (bản đời Nguyên và đời Minh) gồm khoảng hai mươi mốt ngàn chữ. Bản chữ Hàn tôi dịch ở đây được dựa theo bản chữ Hán đã được san định kỹ lưỡng do công phu uyên bác của Giáo sư Philip B.Yampolsky của Đại học Columbia”... Trích: Lục tổ Huệ Năng là người Việt Nam? Tác giả: Cư sĩ: Nguyễn Đức Sinh - Phường Quang Trung, Tp.Uông Bí, Quảng Ninh -
Đăng trên Tapchinghiencuuphathoc.vn!
Như những gì đã trích dẫn ở trên, có thể nói các giai thoại về Lục Tổ Huệ Năng gồm nhiều dị bản (trên 10 bản), giữa bản này và bản kia sai biệt đến 9.000 chữ. Đôn Hoàng 12.000 chữ; Hưng Thánh Tự 14.000 chữ; Bản đời Nguyên và Minh 21.000 chữ (theo tài liệu đã dẫn)...Thiết
nghĩ, sự sai biệt gần gấp đôi giữa các bản Pháp Bảo Đàn Kinh cũng nói lên, những gì ghi lại trong quá khứ về Lục Tổ, có thể đã được thêm bớt theo cách nào đó với các ý đồ khác nhau từ những người biên chép.
Theo thiển ý của Lý Tứ, Phật đạo là một nền giáo dục, là một thứ văn minh đặc trưng của nhân loại. Ánh sáng của nền văn minh này vượt thoát mọi giới hạn văn hoá hay chủng tộc do tính chân lí của nó. Cho nên, một người đã giác ngộ trong đạo này, dù người đó là Trung Quốc, Việt Nam, Ấn Độ hay phương Tây v.v... trong họ đều không còn ý niệm về các sai biệt biên giới, chủng tộc, xuất thân v.v... mà người ấy đang thọ nhận từ nhục thân.
Từ đó, để xét đến một nhân vật quá khứ, chúng ta không nên căn cứ vào xuất thân hay chủng tộc. Đặc biệt là, qua những dị bản sai khác, rất khó để chúng ta khẳng định chính xác mức độ giác ngộ của vị ấy trong đạo pháp bởi sự biên chép không đồng nhất.
Cho nên, quan điểm cá nhân của mình là, để tránh đánh giá sai lệch về một nhân vật quá khứ khi chưa tìm thấy sự chuẩn xác từ các tư liệu, ta chỉ có thể tạm mượn những gì ghi lại từ các văn bản xưa như một đương cơ, lấy đây luận bàn ý nghĩa đạo pháp hôm nay. Hơn, coi đó là sự khẳng định về mức độ giác ngộ của nhân vật ấy, cũng như điển hình cho cơ sở học tập hiện tại.
Về các thắc mắc của bạn Tuấn Nguyễn, bạn ấy hỏi như sau:
“Trong câu trả lời trước, Thầy có nói về ngài Huệ Năng, vậy xin phép Thầy cho tôi hỏi: Tại sao từ nhất Tổ đến ngũ Tổ thì đều ở trong chùa, đến Lục Tổ thì bị săn đuổi chạy vào rừng cùng ở chung với đám thợ săn, lúc này Phật pháp lại có được nhiều người ngộ đạo?
Câu thứ hai: Là ngài Huệ Năng chỉ ăn rau trong nồi thịt?
Câu thứ ba: Thấy ai ngồi thiền là ngài dùng thước bản mà đánh. Vì ngài dạy nấu cơm, gánh nước, bửa củi cũng là thiền, ngài dạy thiền trong động, chớ không cho ngồi thiền trong tịnh.
Xin cảm ơn Thầy.”
13/07/2023 21:32:12
Tuấn Nguyễn - Trà Vinh
*****
Tuấn Nguyễn và bạn đọc thân mến! Mình xin được trả lời từng ý như sau:
- Hỏi:
1) Tại sao từ nhất Tổ đến ngũ Tổ thì đều ở trong chùa? Còn Huệ Năng thì không ở chùa? (Vế sau mình thêm vào cho rõ nghĩa)!
- Trả lời:
Khi được truyền y bát, Huệ Năng vẫn còn là một cư sĩ, nên chưa chính thức trở thành người xuất gia. Vì thế, không có chùa! Đến khi xét thấy kiếp nạn đã qua (sau 15 năm), trên đường du hóa, để nhiếp phục cả tăng lẫn tục, Huệ Năng mới nhờ Ấn Tôn Pháp Sư thế phát (làm lễ xuất gia)!
- Hỏi:
2) Lục Tổ bị săn đuổi chạy vào rừng cùng ở chung với đám thợ săn?
- Trả lời:
Theo những gì ghi lại từ Pháp Bảo Đàn Kinh! Sở dĩ sau khi rời Huỳnh Mai, Lục Tổ phải mất 15 năm ẩn náu trong đám thợ săn là vì, trong thời gian ấy, do tranh giành y bát, do thời cơ giáo hoá chưa đến. Để bảo toàn tánh mạng và y bát, Huệ Năng phải làm như thế!
“Sau khi được Ngũ Tổ truyền y bát, Ngài Huệ Năng đã gặp phải sự phản ứng mạnh mẽ từ những người ủng hộ Ngài Thần Tú. Họ truy đuổi để giành lại y bát vì cho rằng Ngài không xứng đáng được trao y bát. Trên đường du hóa Ngài cũng trải qua vô số khó khăn, cản trở”. Theo Phatgiao. org.vn!
- Hỏi:
3) Chạy vào rừng cùng ở chung với đám thợ săn thì Phật pháp lại được nhiều người ngộ đạo?
- Trả lời:
Thời gian này, Huệ Năng ẩn mình trong đám thợ săn, không công khai giáo hoá, nên không có người ngộ đạo!
- Hỏi:
4) Tại sao Huệ Năng chỉ ăn rau trong nồi thịt?
- Trả lời:
Tại, tài liệu ghi lại như thế...
- Hỏi:
5) Thấy ai ngồi thiền là ngài dùng thước bản mà đánh. Vì ngài dạy nấu cơm, gánh nước, bửa củi cũng là thiền, ngài dạy thiền trong động, chớ không cho ngồi thiền trong tịnh.
- Trả lời:
Lần đầu mình nghe nói đến giai thoại này. Các bản Pháp Bảo Đàn Kinh mình đã đọc cũng không thấy ghi chép sự việc như bạn vừa nêu.
Tuấn Nguyễn và bạn đọc thân mến!
Chung quanh Lục Tổ Huệ Năng có rất nhiều giai thoại! Với mình, “tất cả chỉ dừng lại ở giai thoại”. Hy vọng, những giải thích ở trên, phần nào đó giúp Tuấn Nguyễn và bạn đọc hiểu sơ lược về hoàn cảnh của Lục Tổ trong giai đoạn ấy.
Để khép lại bài viết, xin giới thiệu đến Tuấn Nguyễn và bạn đọc một đoạn trích từ Kinh Kalama!
“Này các thiện nam, tín nữ, các vị phân vân, nghi ngờ là điều tất yếu và hợp lý. Trong trường hợp như vậy, các vị không nên vội tin hay bác bỏ quan điểm của đạo nào, khi mà các vị chưa tìm hiểu đạo ấy một cách thấu đáo. Này các thiện nam tín nữ Ka-la-ma, nhân đây Như Lai sẽ giảng giải về mười nền tảng của đức tin chân chánh.
- Một là: Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó là truyền thuyết.
- Hai là: Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó thuộc về truyền thống.
- Ba là: Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được nhiều người nhắc đến hay tuyên truyền.
- Bốn là: Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó được ghi lại trong kinh điển hay sách vở.
- Năm là: Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó thuộc lý luận siêu hình.
- Sáu là: Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều đó phù hợp với lập trường của mình.
- Bảy là: Chớ vội tin một điều gì, khi mà điều đó được căn cứ trên những dữ kiện hời hợt.
- Tám là: Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy phù hợp với định kiến của mình.
- Chín là: Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy được sức mạnh và quyền uy ủng hộ.
- Mười là: Chớ vội tin một điều gì, chỉ vì điều ấy được các nhà truyền giáo hay đạo sư của mình tuyên thuyết.
Này các thiện nam tín nữ, khi nghe một điều gì, các vị phải quán sát, suy tư và thể nghiệm, chỉ khi nào, sau khi kiểm nghiệm, quý vị thực sự nhận thấy: “Lời dạy này tốt lành, đạo đức, hướng thiện, chói sáng và được người trí tán thán. Nếu sống và thực hiện các lời dạy này sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc ngay hiện tại và về lâu, về dài” thì lúc ấy quý vị hãy đặt niềm tin bất động và thực hành theo”. Trích Kinh Kalama!
Chúc Tuấn Nguyễn và bạn đọc an vui, tinh tấn!
Rất mong, nhận được các câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người!
14/07/2023
LÝ TỨ
CBL.23 - Lợi Ích Của Việc Dụng Công Trên Tướng Và Dụng Công Trên Tâm
Kinh Đại Niết bàn, Phật dạy: “Chư hành vô thường, thị sinh diệt pháp, sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc!” Lời dạy này có nghĩa rằng: Tất cả những gì do tâm ý làm ra (dụng công), đều là pháp sanh diệt, khi nào tâm ý không còn sanh diệt (vô niệm, vô tác), đấy mới là Niết bàn an vui!

Các bạn!
Hôm nay, mình lại nhận thêm một số thắc mắc của bạn đọc Tuấn Nguyễn ở Trà Vinh! Lời đầu tiên, thay mặt chuyên mục trên Fanpage Lý Tứ, chân thành cảm ơn Tuấn Nguyễn đã thường xuyên gửi câu hỏi về chuyên mục! Chúc an vui, tinh tấn!
Về nội dung thắc mắc lần này, bạn Tuấn Nguyễn hỏi như sau:
“Xin phép Thầy Lý Tứ, cho phép tôi được hỏi: Tôi được biết có hai đối tượng, một là, người dụng công trên tướng, giống như người phải ngồi thiền một ngày từ hai tiếng đồng hồ trở lên, hay niệm Phật ra tiếng, và hai là, dụng công trên tâm, giống như thiền giác trong đi đứng ngồi nằm, niệm Phật bằng ý niệm, nên không phát ra tiếng. Do người dụng công trên tướng, gọi có tu, còn người dụng công trên tâm thì gọi không tu (do dụng công trong tâm mắt thường không thể thấy được lên mới gọi là không tu).
So sánh hai trình độ tu như thế, thì lợi ích ra sao? và kết quả khác nhau như thế nào?
Tôi tên Tuấn Nguyễn ở Trà Vinh, xin cảm ơn Thầy đã từ bi giúp đỡ những người còn trong tối tăm, lần mò đi đơn độc!”
03/07/2023 - 19:09:06
Tuấn Nguyễn - Trà Vinh
*****
Về thắc mắc của Tuấn Nguyễn, mình xin lần lượt trả lời như sau!
- Hỏi: “So sánh hai trình độ tu như thế, thì lợi ích ra sao?”
- Trả lời:
Một người dụng công, cho dù phát ra tiếng, có hành động cụ thể v.v... hay dụng công âm thầm trong tâm ý, không phát ta tiếng, không có biểu hiện bên ngoài hay hành động cụ thể v.v... Đối với Phật đạo, đều được coi là một hành động (hay phương pháp dụng công) có tính chất “hữu vi, hữu niệm, năng tạo, sở tạo, năng tác, sở tác!” Kết quả của hai cách dụng công này đều cho ra kết quả “hữu vi, hữu lậu”.
Phật dạy: “Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh...” (Kinh Kim Cang)! Lời dạy này có nghĩa rằng, tất cả các tạo tác, pháp làm ra (hữu vi, hữu niệm v.v...) cho dù có âm thanh, hình tướng hay không âm thanh hình tướng v.v... đều không bền chắc, vô thường, biến hoại không đưa đến vô vi, vô lậu.
Giống như có người ngồi, hay đi đứng một mình, cất lên tiếng hát. Cho dù tiếng hát đó có âm thanh, không âm thanh hay chỉ nhớ nghĩ trong lòng thì, ba trường hợp này xét tận nguồn cơn đều không khác nhau. Vì sao không khác nhau? Vì rằng, ba hành động trên đều bắt nguồn từ tâm ý vọng sinh (tạo tác) của người đó...
- Hỏi: “Và kết quả khác nhau như thế nào?”
- Trả lời:
1) Như đã trả lời ở phần trên, kết quả có được là thành tựu một “hữu vi tâm, hữu vi niệm, hữu tác, hữu thủ” không thể đưa đến “vô vi, vô niệm, vô tác, vô thủ”...
2) Một hành động, một ý niệm, một công phu nào đó v.v... tự nó không có ý nghĩa đúng sai! Khi nào người dụng công cho biết “mục đích của việc mình dụng công để đạt được điều gì” thì, bây giờ mới có thể bàn luận, phân tích, lí luận, phản biện v.v... xem, dựa vào cơ sở nào, việc làm (dụng công) của người đó cho ra kết quả như người đó mong muốn! Giống như các con đường tự nó không đúng sai. Chỉ khi nào, người đi cho biết mình đi đâu, cần đến nơi nào thì, bây giờ mới biết con đường họ đang đi là đúng hay sai...
3) Đối với Phật đạo! Các đạo quả đều vô vi, vô tác, vô niệm. Cho nên không thể sử dụng một phương thức hay một biện pháp (dụng công) hữu vi, hữu tác, hữu niệm (cho dù niệm thầm trong lòng) để mong thành tựu! Vì rằng, nhân hữu vi, hữu niệm không thể cho ra kết quả vô vi, vô niệm.
4) Muốn thành tựu các đạo quả vô vi, vô niệm, vô tác, vô tướng trong Phật đạo phải giác ngộ! Muốn giác ngộ phải học tập chánh pháp để biết rõ nguyên lí hình thành, cơ chế hoạt động cũng như bản chất của tâm thức. Do thấu suốt những thứ ấy, tâm thức vị ấy tự dừng, gọi là “không sanh diệt!”
5) Ngày xưa Huệ Năng nhân nghe câu kinh Kim Cang, hoát nhiên giác ngộ, tâm ý tự dừng. Tâm ý tự dừng của Huệ Năng không do dụng công... Hay một đệ tử của Phật, sau khi nghe bốn câu kệ: “Pháp theo duyên mà sanh, pháp tùy duyên mà diệt, Thầy tôi là Cù Đàm, đã dạy tôi như thế”. Nghe xong, vị ấy hoát nhiên thấy được cơ chế hoạt động của tâm và pháp, từ đó tâm ý dừng lặng, chứng sơ quả Tu Đà Hoàn. Đây là hai điển hình trong vô số mẩu chuyện, giác ngộ trong Phật đạo không do dụng công dù bất kì hình thức nào.
6) Kinh Đại Niết bàn, Phật dạy: “Chư hành vô thường, thị sinh diệt pháp, sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc!” Lời dạy này có nghĩa rằng: Tất cả những gì do tâm ý làm ra (dụng công), đều là pháp sanh diệt, khi nào tâm ý không còn sanh diệt (vô niệm, vô tác), đấy mới là Niết bàn an vui!
Hy vọng, những giải thích ở trên, có thể giúp Tuấn Nguyễn và bạn đọc hiểu ra con đường đưa đến các đạo quả trong Phật đạo là do dụng công hay giác ngộ, là vô vi hay hữu vi, là vô niệm hay hữu niệm, là vô tướng hay hữu tướng, là vô tác hay hữu tác, là vô sanh hay hữu sanh, là vô diệt hay hữu diệt. Đồng thời cũng nhận ra kết quả của việc dụng công cho dù có tướng hay không tướng sẽ thành tựu điều gì? Và thành tựu đó, có phải là đích đến của Phật đạo hay không!
Một lần nữa, chúc Tuấn Nguyễn và bạn đọc an vui, tinh tấn!
Rất mong, nhận được các câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người!
05/07/2023
LÝ TỨ
CBL.22 - Đầu Thai Nhớ Tiền Kiếp
Theo mình, Phật đạo có những mục tiêu nhất định trong nền giáo dục của mình! Vì thế, những vấn đề, những câu chuyện, những quan điểm v.v... không liên hệ đến các mục tiêu của nền giáo dục này, đều không nhận được các câu trả lời.

Các bạn!
Mình vừa nhận được câu hỏi của bạn đọc có tên Đỗ Long! Nội dung câu hỏi như sau:
“Chào bác, bác cho con hỏi tại sao vẫn có một số trường hợp đầu thai có thể nhớ được tiền kiếp? Và việc đấy nó được truyền và lưu giữ theo cơ chế nào? Phật đạo giải thích vấn đề này ra sao? Con cám ơn bác!”
26/06/2023 15:14:23
Đỗ Long
*****
Đỗ Long và bạn đọc thân mến!
Về nội dung thắc mắc của bạn, mình xin được đưa ra quan điểm cá nhân theo từng ý như sau:
1- Đầu thai nhớ tiền kiếp!
Thỉnh thoảng, bản thân mình cũng có đọc trên mạng, hay nghe người khác kể về một số câu chuyện có người sau khi đầu thai, nhớ lại kiếp trước của mình!
- Hầu hết những câu chuyện đã nghe, sau khi hỏi cặn kẽ người kể về tính xác thực của câu chuyện, gần như đều nhận được câu trả lời chung: “Chỉ nghe lại từ một người khác, hoặc đọc ở đâu đó, chứ bản thân không chứng kiến”.
- Mình thử vào google tìm hiểu các câu chuyện như vậy để xem, từ xưa đến giờ đã có một tổ chức uy tín, đáng tin cậy nào mở một cuộc khảo sát, nghiên cứu độc lập, khoa học, khách quan, trung thực. Sau đó, công bố sự thật về các nội dung đã nêu trên các diễn đàn, tạp chí hay báo cáo khoa học v.v... hay không thì, hoàn toàn không tìm thấy. Trừ một vài câu chuyện mà theo mình, độ tin cậy không cao.
- Về kinh điển Phật giáo chính thống, mình cũng chưa tìm thấy bài kinh, lời dạy nào nói rõ hay giải thích cụ thể việc này. Ngoại trừ một vài tài liệu theo mình là không chính thống cũng như không đáng tin cậy.
- Trong cuộc đời hoằng hoá của Đức Phật, các câu hỏi thuộc “phạm trù siêu hình” khi được một ai đó nêu lên. Phật thường im lặng mà không trực tiếp trả lời! Vì rằng, những mẩu chuyện, quan điểm siêu hình không nằm trong các mục tiêu giáo dục mà Phật đạo đề ra.
2- Về quan điểm cá nhân về việc “đầu thai nhớ tiền kiếp!”
Như những gì đã lập luận ở trên, quan điểm cá nhân của mình là: Những câu chuyện, những quan điểm không rõ ràng, chưa được xác chứng, độ tin cậy không cao, vô căn cứ, không liên hệ đến mục đích của đạo v.v... không thể là đề tài để người trí đưa ra thảo luận (hoặc trả lời) chính thức trong quá trình nghiên cứu, học tập hay giảng dạy thuộc về Đạo Trí Tuệ.
3- Về quan điểm của Phật đạo!
Theo mình, Phật đạo có những mục tiêu nhất định trong nền giáo dục của mình! Vì thế, những vấn đề, những câu chuyện, những quan điểm v.v... không liên hệ đến các mục tiêu của nền giáo dục này, đều không nhận được các câu trả lời.
4- Một số kinh tiêu biểu, đại diện quan điểm của Phật đạo chính thống về các vấn đề siêu hình!
- Kinh Trung Bộ, số 62!
“Này Vaccha, nghĩ rằng thế giới là vô thường... thế giới là thường... thế giới vô biên... thế giới là hữu biên... sinh mạng và thân thể là một sinh mạng và thân thể là khác. Như lai có tồn tại sau khi chết, Như lai không tồn tại sau khi chết. Này Vaccha, nghĩ rằng Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết, như vậy là tà kiến, kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phược, đi đôi với khổ, với tàn hại, với não hại, với nhiệt não, không hướng đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết bàn. Này Vaccha, Ta thấy có sự nguy hại này mà ta không chấp nhận (trả lời) hoàn toàn những tri kiến (câu hỏi) như vậy?”
- Kinh Trung Bộ, số 63 và kinh Tiễn Dụ, Trung A Hàm, số 211!
“Bạch Đức Thế Tôn, con đang ngồi thiền tư một mình, bỗng nhiên khởi lên ý niệm, có mười vấn đề mà bấy lâu nay Ngài chưa giải thích rõ với chúng con. Mỗi khi chúng con hỏi Ngài về những vấn đề này thí Ngài đều im lặng. Con cảm thấy không vui khi Ngài làm như thế.
Bạch Đức Thế Tôn, hôm nay nếu Ngài giải thích rõ các vấn đề trên thì con tiếp tục sống đời sống xuất gia tu hành phạm hạnh; nếu Ngài vẫn giữ im lặng thì con mất hết tín tâm không tiếp tục tu hành nữa.
Nếu Thế Tôn biết thế giới này là vĩnh hằng, thì xin Ngài nói cho con được rõ. Nếu thế gian này không vĩnh hằng, thì lý do tại làm sao? Nếu Ngài đối với những vấn đề này mà không biết thì trực tiếp nói là không biết!”
“Thế Tôn dạy: Này Man Đồng Tử! Con thật mê muội! buổi ban đầu có phải là không hiểu những vấn đề huyền hoặc này mà con đi xuất gia không? Lúc con đi theo Ta tu hành phạm hạnh Ta có hứa sẽ nói cho con biết những vấn đề này không?”
Man Đồng Tử trả lời: “Bạch Đức Thế Tôn, không”.
Đức Phật dạy: “Như vậy con chưa được Như Lai trả lời thì con đã chết rồi. Này Man Đồng Tử, giả như có người bị trúng tên độc bị thương, người thân của người này muốn nhổ mũi tên ra và đưa đến bác sĩ, nhưng người kia không muốn cho người nhà nhổ mũi tên ra trừ phi biết ai đã bắn tên này. Người bắn mũi tên thuộc dòng họ Sát đế lợi, Bà la môn, Phệ xá, hay Thủ đà la. Hắn cao, thấp, hay vừa, da của hắn nâu, trắng đen hay vàng; hắn ở thành xóm ấp làng nào? Tôi không muốn nhổ mũi tên ra trừ phi tôi biết tôi bị loại cung tên nào bắn trúng, dây cung làm bằng gì, loại tên hình như thế nào, làm bằng chất liệu gì.
Này Man Đồng Tử; người kia chưa kịp biết rõ đáp án thì đã chết rồi, cũng như người muốn biết vũ trụ có vĩnh hằng hay không vĩnh hằng và những vấn đề liên quan nó, người kia chưa kịp được Như lai trả lời thì đã chết rồi. Cũng như vậy, nếu có người hỏi, tôi không theo Đức Thế Tôn tu hành phạm hạnh nữa trừ phi Ngài trả lời cho tôi về những điều vũ trụ có vĩnh hằng hay không, người kia chưa được Như Lai trả lời thì đã chết rồi.
Vì đời người ngắn ngủi, nếu ai bị những vấn đề huyền hoặc này mà suốt ngày phiền não, cố chấp không xả, muốn tìm cho đến ngọn nguồn, thì càng ngày càng vào mê lộ, cuối cùng không đi ra được!”
5- Kết luận!
Đỗ Long và bạn đọc thân mến!
Phật đạo là một nền giáo dục! Nền giáo dục này có những mục tiêu nhất định của nó. Các mục tiêu căn bản của Phật đạo gồm: Giúp người hết khổ, hết phiền não, hết tham sân, hết lậu hoặc, hết trói buộc, được an vui, và thành tựu trí tuệ. Vì thế, Phật đạo còn có tên: Đạo giác ngộ, đạo giải thoát, đạo trí tuệ...
Những gì ngoài các mục tiêu nêu trên, Phật đạo không giải quyết, không trả lời. Và coi đó là: “tà kiến, kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phược, đi đôi với khổ, với tàn hại, với não hại, với nhiệt não, không hướng đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết bàn”. Kinh Trung Bộ, số 62!
Vì thế, đối với những câu chuyện, câu hỏi mà Đỗ Long đã nêu, mình tạm mượn lời dạy của Đức Phật thay câu trả lời!
- “Này Vaccha, Ta thấy có sự nguy hại này mà ta không chấp nhận (trả lời) hoàn toàn những tri kiến (thắc mắc) như vậy. Trích Kinh Trung Bộ, số 62!
- “Vì đời người ngắn ngủi, nếu ai bị những vấn đề huyền hoặc này mà suốt ngày phiền não, cố chấp không xả, muốn tìm (muốn hỏi) cho đến ngọn nguồn, thì càng ngày càng vào mê lộ, cuối cùng không đi ra được!” Trích kinh Tiễn Dụ!
Hy vọng, những giải thích ở trên, có thể giúp Đỗ Long và bạn đọc nhận ra, Phật đạo đối với những vấn đề siêu hình sẽ có câu trả lời như thế nào!
Đồng thời nhận ra, những thắc mắc, những đề tài, những mục tiêu nào v.v... mới được coi là chính đáng để người trí tìm hiểu, đưa ra thảo luận, chất vấn, làm sáng tỏ, không rơi vào hí luận, không trở thành vô bổ, chỉ giúp thoả mãn tò mò không cần thiết... trong quá học tập, nghiên cứu nhằm lợi mình lợi người.
Chúc Đỗ Long và bạn đọc an vui, tinh tấn!
Rất mong, nhận được các câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người!
27/06/2023
LÝ TỨ
CBL.21 - Tánh Biết - Đại Định - Thường Định
Người Kiến Tánh cho dù Kiến Tánh ở giai đoạn nào cũng đều không phát xuất từ việc dụng công, hay do dụng công mà thành. Vì, Kiến Tánh là hệ quả tất yếu của việc “thay đổi nhận thức” chứ không phải kết quả của việc “dụng công”.

Các bạn!
Tiếp theo câu hỏi từ chuyên mục kì 07/2023! Hôm nay, mình lại nhận tiếp một câu hỏi cũng của bạn đọc Tuấn Nguyễn ở Trà Vinh! Nội dung câu hỏi như sau:
“Xin lỗi do chưa rành về vi tính nên nó phân đoạn, xin hỏi tiếp theo:
Còn người kiến tánh do dụng công ở trên tâm (hay tánh biết) trong cuộc sống là đi đứng nằm ngồi nên nhận ra Thường Định.
Xin Thầy giảng dùm giữa Đại Định và Thường Định khác nhau như thế nào, xin cảm ơn Thầy.”
18/06/2023 15:20:12
Tuấn Nguyễn - Trà Vinh
*****
Bạn Tuấn Nguyễn thân mến!
Như những gì mình đã trả lời ở kì vừa rồi (07/2023), trong Phật đạo, kiến tánh có đến ba giai đoạn! Mỗi giai đoạn kiến tánh biểu hiện cho việc người tu hành đã gọt dũa vô minh thứ lớp, từ cạn đến sâu, từ thô đến tế theo ba giai đoạn là Nhuận Chi Vô Minh, Căn Bản Vô Minh và Vô Minh Trụ Địa:
Kiến Tánh Biết (hay Tánh Giác): Đây là giai đoạn người tu hành đã trừ diệt phần lớn (không hoàn toàn) lậu hoặc, gồm: Khổ, phiền não, kiết sử, mê mờ. Nhờ các lậu hoặc nêu trên đã được trừ diệt phần lớn, nên tâm thức của vị ấy giảm thiểu đến mức thấp nhất việc nhiễm ô. Vì thế, thấy biết tương đối không bị hoặc loạn, một chút thanh tịnh phát sinh.
Thành tựu giai đoạn này, thuộc về Thế Đế (của Nhị Đế, không phải Thánh Đế). Nên, nếu không được hộ trì, không được tiếp tục học tập, người này rất dễ phát sinh tà kiến. Tà kiến vì nhầm tưởng cái thấy đó là Tự Tánh hay Phật tánh. Từ đó, cho rằng việc học tập đã xong, ngỡ rằng tự thân là Phật, là Thánh. Nhưng kì thật, trí tuệ của họ chỉ hơn phàm tình một chút. Và, nguy cơ thối chuyển, phiền não, khổ, kiết sử, mê mờ tái nhiễm ô trở lại là điều khó tránh khỏi. Thành tựu này, hay thấy Tánh Biết, chỉ tương đương với quá trình chấm dứt Nhuận Chi Vô Minh...
2) Kiến Tự Tánh: Đây là giai đoạn sau khi thấy Tánh Biết, vị tu hành này tiếp tục học tập nâng cao, được đạo sư khai thị để “Minh Tâm Kiến Tánh”. Thấy rõ Bổn Tâm (Tự Tâm), Bổn Tánh (Tự Tánh).
Giống như giai đoạn Lục Tổ Huệ Năng sau khi nghe Kim Cang, tự ngộ “tâm tự không” (bổn lai vô nhất vật), sau đó Huệ Năng phải đến Ngũ Tổ để cầu học và được Ngũ Tổ khai thị lần nữa (xem câu chuyện Lục Tổ lên thất Ngũ Tổ) trong lần trao Y Bát. Sau khi nghe khai thị xong, Lục Tổ bèn giác ngộ và thốt lên: “Nào dè tự tánh vốn tự thanh tịnh, nào dè tự tánh vốn không sanh diệt”. Giai đoạn này, người tu hành mới được coi là bất thối chuyển, thành tựu Căn Bản Trí. Dứt hoàn toàn Căn Bản Vô Minh để sau đó thành tựu Sai Biệt Trí hay Hậu Đắc Trí. Chỉ từ giai đoạn này, tà kiến mới không thể phát sinh, giống như vàng trong quặng đã được tinh luyện thành vàng y. Không thể trở lại thành vàng quặng cho dù chúng ở đâu.
3) Kiến Phật tánh: Đây là giai đoạn tối hậu sau khi đã kiến Tánh Biết và Kiến Tự Tánh. Giai đoạn này thành tựu sau khi viên mãn Nhất Thiết Trí. Ở giai đoạn này, trí tuệ không còn mê mờ nên, những gì Phật thấy vị này thấy, những gì Phật biết vị này biết, những gì Phật chứng vị này chứng. Giống như câu chuyện Phật bố cáo trước đại chúng về ngài Ca Diếp (Nhị Tổ): “Những gì ta thấy Ca Diếp thấy, những gì ta biết Ca Diếp biết, những gì ta chứng Ca Diếp chứng!”
Khác hơn, thấy biết của vị đã “Kiến Phật tánh” là thấy biết của một vị Phật, vị này tuyên thuyết như Phật, không còn một chút u tối nào, gọi là dứt Vô Minh Trụ Địa.
Tuy thấy biết không khác Phật, nhưng công đức và công hạnh hoàn toàn thua kém Phật, Phật đạo gọi là “tướng đệ tử”. Để đủ công đức, thành Đẳng Chánh Giác (Phật 10 danh hiệu), vị này phải trải qua 1 vô số kiếp làm công hạnh của Đẳng Giác và Diệu Giác Bồ Tát...
Về thắc mắc của bạn, mình xin trả lời như sau:
Nếu người tu hành Kiến Tánh chỉ ở giai đoạn thấy Tánh Biết (Kiến Tánh Giác) thì, tâm thức vị này chưa được coi là “Thường Định”. Vì rằng, thấy biết đó chỉ là kết quả của Thế Đế, chưa phải Đệ Nhất Nghĩa Đế (Thánh Đế). Tuy nhiên, nhờ cái thấy này nên nếu vị ấy cần cù tinh tấn, các lậu hoặc sẽ tịch diệt dần dần. Điều kiện là, vị này không bị lạc vào tà kiến và không nhầm tưởng rằng đây là Tự Tánh hay Phật tánh.
B- Người Kiến Tánh cho dù Kiến Tánh ở giai đoạn nào cũng đều không phát xuất từ việc dụng công, hay do dụng công mà thành. Vì, Kiến Tánh là hệ quả tất yếu của việc “thay đổi nhận thức” chứ không phải kết quả của việc “dụng công”.
C- Thường Định là khái niệm (hay cảnh giới) của Phật đạo dùng để chỉ cho những vị đã Minh Tâm Kiến Tánh hay Kiến Tự Tánh (dứt Căn Bản và Nhuận Chi Vô Minh). Đây là giai đoạn mà tâm thức của vị ấy không bị chi phối bởi không gian và thời gian, một thứ tâm thức hoàn toàn “không sanh diệt!”
D- Đại Định là khái niệm (hay cảnh giới) nhằm chỉ cho vị đã Kiến Phật tánh. Tức, thấy biết như một vị Phật, đây là cảnh giới của: Thân, khẩu, ý hành động theo trí tuệ (Thân, khẩu, ý tuỳ trí tuệ hành), một trong 18 Bất Cộng Pháp của chư Phật (xem Thập Bát Bất Cộng).
Bạn Tuấn Nguyễn và bạn đọc thân mến!
Kiến Tánh là cảnh giới của Phật đạo rất được người tu hành quan tâm! Tuy nhiên, đây là những cảnh giới thuộc về thực chứng chứ không thuộc về suy luận. Cho nên, người tu hành thường nhầm lẫn, từ đó phát sinh các hiểu biết sai lệch về các giai đoạn Kiến Tánh, vì thế dễ phát sinh tà kiến, từ tà kiến này, họ nhầm tưởng đã về đến “ngôi nhà” của chư Phật, vì thế con đường học tập của họ nhất định ngưng trệ, đi vào lối rẽ, hệ quả là không thể giác ngộ chân thật.
Hy vọng, những giải thích ở trên, có thể giúp Tuấn và bạn đọc của chuyên mục có cái nhìn khái quát về những giai đoạn Kiến tánh trong Phật đạo, cũng như nhận ra sự khác biệt giữa các tầng bậc tu hành. Từ đó, nhất tâm, cần cầu, tinh tấn mới không sai lệch!
Chúc các bạn an vui, tinh tấn!
Rất mong, nhận được các câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người!
21/06/2023
LÝ TỨ
CBL.20 - Kiến Tánh Khởi Tu Hay Kiến Tánh Thành Phật?
Tóm lại, đối với Phật đạo, dù chưa Kiến tánh hay đã Kiến tánh, nếu chưa thành tựu đạo quả sau cùng là Vô Thượng Bồ Đề (Phật quả), người tu hành đều phải học tập và cần cầu tinh tấn!

Các bạn!
Mình vừa nhận được thắc mắc của bạn đọc có tên là Tuấn Nguyễn ở Trà Vinh! Bạn ấy hỏi như sau:
“Xin chào Thầy Lý Tứ!
Xin cho phép tôi hỏi một câu: Khi kiến tánh rồi mới khởi tu (vậy khi mình chưa kiến tánh mà tu thì không có kết quả phải không Thầy)?
Xin nhờ Thầy mình giải dùm, xin cảm ơn!
Tôi tên Tuấn ở Trà Vinh.
11/06/2023 19:24:43
Tuấn Nguyễn - Trà Vinh
*****
Bạn Tuấn Nguyễn thân mến!
Về câu hỏi của bạn, mình xin được trả lời như sau:
Trong Phật đạo, nhất là Thiền Môn, người tu hành thường đề cập đến ba khái niệm sau: Kiến tánh; Kiến tánh khởi tu và Kiến tánh thành Phật. Ba khái niệm này cũng là đề tài thường xuyên xảy ra các cuộc tranh luận, cũng như tốn hao không ít giấy mực của nhiều luận giả.
Tuy nhiên, cho đến hiện tại, mình vẫn chưa tìm thấy một luận giải hay phân tích nào đủ sức thuyết phục, cũng như chỉ ra sự khác biệt giữa ba khái niệm này hay làm rõ mức độ đúng sai của các khái niệm ấy là như thế nào!
Để trả lời câu hỏi của bạn: “Khi kiến tánh rồi mới khởi tu (vậy khi mình chưa kiến tánh mà tu thì không có kết quả phải không Thầy?”
Theo mình, đầu tiên, chúng ta phải tìm xem ba khái niệm trên (hay khái niệm Kiến tánh khởi tu) nhằm chỉ cho điều gì trong Phật đạo!
1) Kiến tánh: Đây là khái niệm chung, nhằm chỉ cho một hay nhiều cấp độ thấy biết (kiến) nào đó khi người tu hành phát hiện một hay nhiều tính chất (tánh) đặc thù, siêu việt của Tự tánh hay Phật tánh (tính chất tự nhiên sẵn có của tự tâm hay tánh chất siêu việt của Phật tánh), đã ẩn sâu trong một hữu tình (nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh) mà hiện tại này người tu hành ấy mới đủ duyên phát lộ ra trong chính bản thân mình!
Trong quá trình tu tập, người tu hành sẽ lần lượt phát lộ một hay nhiều tính chất đặc thù, siêu việt của Tự tánh hoặc Phật tánh tuần tự hiện ra trong chính thân tâm này theo quy trình sau:
2) Kiến tánh giác (người xưa gọi là Kiến tánh khởi tu): Đây là cái thấy (kiến) đầu tiên của người đã làm sạch khổ, phiền não, kiết sử và mê mờ thành tựu đạo quả Vô lậu!
Khác hơn, đây là cái thấy ban sơ của người đã giải quyết xong Khổ đế và Tập đế! Giống như nguồn nước bị ô nhiễm, đã được thanh lọc tạp chất, trở nên trong suốt. Nguồn nước này do trong suốt, không vẩn đục, nên có thể chiếu soi một cách rõ ràng những gì bay ngang qua nó. Ta cũng có thể ví như một tấm gương không bị bụi bẩn có năng lực chiếu soi trung thực tất cả các cảnh duyên khi nó tiếp cận!
3) Kiến tự tánh (người xưa gọi là Minh tâm, Kiến tánh): Đây là cái thấy thứ hai sau khi đã Kiến tánh giác. Kiến tự tánh thuộc về giai đoạn người tu hành sau khi Kiến tánh giác, vị ấy dùng sức thấy biết của Tánh giác trực nhận ra những tính chất tự nhiên, đặc thù của Tự tâm (hay Bổn tâm) như: Thanh tịnh; bất động; không sanh diệt, đầy đủ công đức, tịch tri v.v...
Kiến tự tánh chính là giai đoạn người tu hành đã viên mãn Diệt đế vào Bất động Giải thoát... như người đi tìm lõi cây, đã tìm được một lõi cây như ý.
4) Kiến Phật tánh (Kiến tánh thành Phật): Đây là cái thấy sau cùng khi người tu hành từ bỏ Bất động Giải thoát (kinh gọi là Bồ tát từ Bất động bước ra), lên đường cầu học Trí tuệ và thành tựu viên mãn Nhất thiết trí, thể nhập Nhiếp Thọ Chánh Pháp Vô Dị Biệt (xem kinh Thắng Man).
Ở giai đoạn này, vị tu hành trực nhận (kiến) các tính chất siêu việt, đặc dị của Phật tánh như: Vô lượng từ, bi, hỉ, xả, thường, ngã, lạc, tịnh... hiện rõ trong tâm tánh của mình. Địa vị này tương đương Thiện Huệ Địa (Cửu địa Bồ tát). Đến khi công hạnh đầy đủ, vị ấy thể nhập Pháp Vân Địa (Thập địa Bồ tát). Hoàn thành Bồ tát đạo và Bồ tát hạnh.
Theo những giải thích ở trên, câu hỏi của bạn: “Khi kiến tánh rồi mới khởi tu (vậy khi mình chưa kiến tánh mà tu thì không có kết quả phải không Thầy)? Sẽ được giải thích như sau:
- Người chưa Kiến tánh phát khởi tu hành, việc tu hành này sẽ giúp người ấy gọt rửa thân tâm, tịch diệt các món che chướng Tánh giác, như: Đau khổ, phiền não, kiết sử, mê mờ v.v... từ đó Tánh giác hay Kiến tánh khởi tu thuộc giai đoạn một sẽ thành tựu.
- Tu hành trong giai đoạn chưa Kiến tánh, giống như người mù bẩm sinh, phải chữa lành đôi mắt rồi sau đó mới có thể tiếp tục học màu sắc (Kiến tánh khởi tu) và hội hoạ (Kiến tánh thành Phật). Kinh gọi giai đoạn này là dứt Nhuận Chi Vô Minh!
Tóm lại, người chưa Kiến tánh tu hành là việc vẫn phải làm, việc làm này cho ra những kết quả nhất định của nó (không phải không có kết quả như câu hỏi của bạn)!
Kiến tánh khởi tu và Kiến tánh thành Phật là hai khái niệm thuộc về xuất thế gian và xuất thế gian thượng thượng. Hai khái niệm này vượt khỏi thấy biết hay suy luận thường tình của người chưa Giác Ngộ.
- Kiến tánh khởi tu: Giống như người đi tìm lõi cây, với đôi mắt sáng, trong rừng vị ấy tìm thấy một cái cây thẳng đứng có lõi, vị ấy đã chặt bỏ cành nhánh, vỏ ngoài, vỏ trong, giác cây... hiện tại đang tiếp cận lõi cây và là người sở hữu lõi cây đó.
- Kiến Tánh Thành Phật: Như nhà điêu khắc tài ba, với tay nghề siêu hạng, có thể nhìn thấy những bức tượng vô giá ẩn chứa trong các lõi cây... Đây là việc làm mà, một người không tay nghề hay tay nghề điêu khắc chưa siêu hạng vô lượng lần nhìn ngó cũng không thể thấy.
- Đây là sự khác biệt rất xa giữa Diệt đế và Đạo đế, giữa xuất thế gian và xuất thế gian thượng thượng, giữa sức thiện xảo giáo hoá sai biệt của Bồ tát và Đại Bồ tát trong Phật đạo (xem kinh Đại Niết bàn)!
Tóm lại, đối với Phật đạo, dù chưa Kiến tánh hay đã Kiến tánh, nếu chưa thành tựu đạo quả sau cùng là Vô Thượng Bồ Đề (Phật quả), người tu hành đều phải học tập và cần cầu tinh tấn!
Sự khác biệt về tu hành giữa người chưa Kiến tánh và Kiến tánh chỉ ở chương trình học tập và cách thức ứng dụng mà thôi!
Hy vọng, những giải thích ở trên, có thể giúp Tuấn Nguyễn và bạn đọc của chuyên mục có cái nhìn khái quát về những giai đoạn Kiến tánh trong Phật đạo, cũng như nhận ra sự khác biệt giữa các tầng bậc tu hành...Từ đó, nhất tâm, cần cầu, tinh tấn mới không sai lệch!
Chúc các bạn an vui, tinh tấn!
Rất mong, nhận được các câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người!
13/06/2023
LÝ TỨ
CBL.19 - Giải Thoát Tri Kiến Là Gì?

Các bạn!
Mình vừa nhận được câu hỏi của một bạn đọc có tên Lý Như Như! Nội dung các câu hỏi như sau:
“Thưa bác Lý Tứ: Con có câu hỏi xin bác giải thông giúp con!
1) Tri kiến và Phật tri kiến có khác nhau không? Trong kinh có nói đến Giải thoát tri kiến là giải thoát những gì? Vì sao phải giải thoát tri kiến?
- Giải thoát tri kiến thuộc giai đoạn nào trong tu tập?
- Ngộ nhập Phật tri kiến thuộc giai đoạn nào của tu tập?
- Có khi nào người tu hành lầm nhận hai giai đoạn này không? Vì sao lại lầm nhận?
2) Con nghe một số người nói: “Giác ngộ mới sanh được tri kiến”. Nhưng theo con, tri kiến thuộc thế gian pháp vì cái gì do ý thức nghĩ suy làm ra, cho dù đem nghĩ suy này nghĩ về ông Phật vẫn là thế gian pháp. Giác ngộ thuộc về xuất thế gian vì giác ngộ không do nghĩ suy, ý thức làm ra. Vậy câu nói “Giác ngộ mới sanh được tri kiến” của các vị kia, theo con không hợp lý.
Xin bác sáng tỏ giúp con!
Con cảm ơn bác”.
28/05/2023 13:48:54
Lý Như Như
*****
Lý Như Như thân mến!
Về các câu hỏi của bạn, mình xin lần lượt trả lời vắn tắt như sau:
Hỏi: - Tri kiến và Phật tri kiến có khác nhau không?
Trả lời: - Tri kiến có tri kiến thế gian (thấy biết của người thế gian) và tri kiến Phật (thấy biết từ Phật trí). Vì thế, hai thứ tri kiến này khác nhau.
Hỏi: - Trong kinh có nói đến Giải thoát tri kiến là giải thoát những gì? Vì sao phải giải thoát tri kiến?
Trả lời: - Giải thoát tri kiến là tên gọi một trong những cảnh giới thuộc về Trí tuệ của Phật đạo. Đây là cảnh giới của những Bồ Tát đã thành tựu các Giải thoát môn và Tam muội môn của chư Phật.
Hỏi: - Giải thoát tri kiến là giải thoát những gì? Vì sao phải giải thoát tri kiến?
Trả lời: - Do hiểu sai cụm từ “Giải thoát tri kiến” nên đặt câu hỏi sai. “Giải thoát tri kiến” là “tên gọi cảnh giới”, chứ “không phải giải thoát thấy biết” (tri kiến). Đã có rất...
rất... rất... nhiều người hiểu sai như bạn.
Hỏi: - Giải thoát tri kiến thuộc giai đoạn nào trong tu tập?
Trả lời: - Giải thoát tri kiến thuộc giai đoạn học “Nhất thiết trí”.
Hỏi: - Ngộ nhập Phật tri kiến thuộc giai đoạn nào của tu tập?
Trả lời: - Ngộ nhập Phật tri kiến thuộc giai đoạn thành tựu Trí tuệ (Bát Nhã Trí) của Phật đạo.
Hỏi: - Có khi nào người tu hành lầm nhận hai giai đoạn này không? Vì sao lại lầm nhận?
Trả lời: - Có rất nhiều người lầm nhận giai đoạn này. Mà, bạn là một trong những điển hình cụ thể nhất. Ha ha ha ha! Không biết thì lầm lộn là... chuyện.... tự... nhiên. Việc này, chẳng tại sao hết.
Hỏi: - Con nghe một số người nói: “Giác ngộ mới sanh được tri kiến”. Nhưng theo con, tri kiến thuộc thế gian pháp vì cái gì do ý thức nghĩ suy làm ra, cho dù đem nghĩ suy này nghĩ về ông Phật vẫn là thế gian pháp. Giác ngộ thuộc về xuất thế gian vì giác ngộ không do nghĩ suy, ý thức làm ra. Vậy câu nói “Giác ngộ mới sanh được tri kiến” của các vị kia, theo con không hợp lý. Xin bác sáng tỏ giúp con!
Trả lời: - Cả hai (bạn và số người kia) đều không hợp lí.
Hỏi (mình thêm cho xôm tụ): - Vì sao cả hai không hợp lí?
Trả lời: - Vì cả hai bàn chuyện bản thân chưa biết.
Hy vọng, những trả lời ở trên có thể giúp Lý Như Như và bạn đọc có cái nhìn sơ khởi về Phật tri kiến (thấy biết từ Phật trí) là gì.
Chúc Lý Như Như và bạn đọc an vui!
Rất mong, nhận được các câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người!
01/06/2023
LÝ TỨ
CBL.18 - Ngồi Thiền Có Thanh Thản Không?
Một người, thanh thản thoải mái hay không đều bắt nguồn từ nhận thức. Để có một nhận thức thông thoáng, giúp đầu óc ta luôn thoải mái, tâm hồn luôn thanh thản, người này phải học tập nhằm nắm vững cơ chế hoạt động của tâm thức (tâm hồn và đầu óc).

Các bạn!
Mình vừa nhận được câu hỏi của bạn đọc Nguyễn Trường Giang! Câu hỏi có nội dung như sau:
“Em chào Thầy Lý Tứ ạ. Thầy cho em hỏi đi thiền và ngồi thiền thì con người mình có thanh thản và thoải mái không ạ?
Có người nói với em là em chưa đủ duyên số để đi tu vì em chưa hết kiếp Hồng Trần ạ”
23/05/2023 9:47:27
Nguyễn Trường Giang
*****
Trường Giang thân mến!
Để trả lời các thắc mắc của bạn, mình tạm chia câu hỏi thành 2 phần và xin được trả lời như sau!
Hỏi: 1) Thầy cho em hỏi đi thiền và ngồi thiền thì con người mình có thanh thản và thoải mái không ạ?
Trả lời:
Rất tiếc, câu hỏi này bạn không nêu rõ “đi thiền và ngồi thiền” là làm những gì nên rất khó có câu trả lời thỏa đáng. Vì rằng, thiền có rất nhiều trường phái với nhiều cách thực hành khác nhau và mục tiêu của thiền cũng rất đa dạng.
Tuy nhiên, theo mình biết, người hành thiền nếu được hướng dẫn cách thức thực hành phù hợp với yêu cầu “giúp tâm hồn thảnh thơi và thoải mái” thì, trong “thời gian hành thiền” họ cũng đạt được một số kết quả nhất định. Nhưng khi ngưng hành thiền, trạng thái này sẽ từ từ mất đi.
Một người, thanh thản thoải mái hay không đều bắt nguồn từ nhận thức. Để có một nhận thức thông thoáng, giúp đầu óc ta luôn thoải mái, tâm hồn luôn thanh thản, người này phải học tập nhằm nắm vững cơ chế hoạt động của tâm thức (tâm hồn và đầu óc). Do nắm vững cơ chế hoạt động của tâm thức, người này sẽ tự biết cách vô hiệu hoá những loại tâm thức làm cho bản thân bị trói buộc và không thảnh thơi mà không cần phải sử dụng một thứ công phu nào khác như “ngồi thiền hay đi thiền” mà bạn đã nêu.
Hỏi:
2) Có người nói với em là em chưa đủ duyên số để đi tu vì em chưa hết kiếp Hồng Trần ạ!
Trả lời:
Nếu “chưa đủ duyên số để đi tu” thì, “có thể ở nhà mà tu”. Vì rằng, thế gian có đến ba nơi chốn để người đời chọn lựa làm chỗ tu hành.
Ba nơi chốn đó là: 1) Tu tại gia! 2) Tu chợ! 3) Tu chùa. Nhất định trong ba nơi này, nếu quyết tâm, chắc chắn sẽ có một nơi phù hợp, thuận lợi để... ta... tu... hành!
Hy vọng, những gì đã trả lời ở trên có thể giúp Trường Giang tìm được cho bản thân một nơi chốn tu hành thích hợp.
Rất mong, nhận được các câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người!
Chúc Trường Giang và bạn đọc an vui!
24/05/2023
LÝ TỨ
CBL.17 - Câu Chuyện Tiền Kiếp
Vô minh là một trong những khái niệm quan trọng của Phật đạo! Khái niệm này muốn chỉ ra rằng, những ai còn bị một điều gì đó che khuất tâm trí, không đủ sáng suốt nhận ra “bản chất của thân tâm và thế giới”.

Các bạn!
Mình vừa nhận được 2 câu hỏi của 2 bạn đọc gởi đến Website LyTu.Vn và Email của Ban quản trị Lý Gia do Ban quản trị chuyển lại!
Theo ngày tháng ghi trên Email Ban quản trị Lý Gia thì, câu hỏi của Thanh Nguyen Hoang đã gửi từ Thứ 6 ngày 24 tháng 2 năm 2023 lúc 19:14, nhưng đến nay Ban quản trị mới tìm thấy! Còn câu hỏi của bạn Đức Trọng gửi thẳng vào chuyên mục hỏi đáp của trang Web nên không hiển thị thời gian!
Về nội dung các câu hỏi của Thanh Nguyen Hoang và Đức Trọng, mình xin lần lượt trả lời như sau:
1) Từ: Thanh Nguyen Hoang
Ngày: Th 6, 24 thg 2, 2023 lúc 19:14
Tiêu đề: Tầm sư học đạo
“Kính chào Thầy Lý Tứ !
Hôm nay khi thiền định, trong một khoảnh khắc em nhìn thấy tiền kiếp của mình. Trong đó em là môn sinh của Thầy, nhưng vì tinh tấn không tốt, còn tạo nghiệp xấu nên kiếp này bị vô minh che mờ, cản trở quá trình tu tập. Trước khi luân hồi chuyển kiếp, chỉ nhớ lời Thầy dặn bên tai: “khi nào tỉnh thì đến tìm Thầy”.
Nhờ có một số nhân duyên mà em đã có được giác ngộ nhưng chưa phải là toàn giác, đạt được giải thoát nhưng là giải thoát nửa chừng và còn chưa có được trí tuệ. Rất mong Thầy có thể giúp đỡ em đi tiếp con đường đạo. Tha thiết mong chờ hồi âm của Thầy!
Thanh Nguyen Hoang
*****
Trả lời:
Thanh Nguyen Hoang thân mến!
Mình rất thích thú khi được nghe “câu chuyện tiền kiếp của chúng ta” mà bạn đã nhìn thấy trong thiền định! Và mình cũng rất vui khi biết được rằng, nhờ duyên lành nào đó đã giúp bạn giác ngộ.
Tuy nhiên, theo thiển ý của mình thì, Phật từng dạy: “Quá khứ như mộng”. Lời dạy này có ý nghĩa, với một người hướng đến chánh pháp, quá khứ là chuyện đã qua, nó như một giấc mơ. Mà đã là giấc mơ thì (việc ấy) không còn trong hiện tại. Nếu có còn chăng, chỉ còn những ức tưởng, nhớ nghĩ v.v... về giấc mơ ấy mà thôi! Do đó, cho dù quá khứ đẹp hay xấu, thân hay thù, vinh hay nhục... cũng đều là chuyện của quá khứ, người trí không nên truy tìm hay coi đó như một “giá trị đích thực” trong cuộc sống!
Như vậy, vấn đề đặt ra ở đây là, trong hiện tại này, ta nên xem xét kĩ, mục tiêu cao nhất của ta là gì? Bằng cách nào ta đạt được mục tiêu đó? Và, ta đã làm hết sức để chinh phục mục tiêu mà mình đã đặt ra hay chưa? Nếu, bản thân chưa trả lời thỏa mãn các câu hỏi nêu trên thì, cho dù “quá khứ của ta là gì đi nữa”, cũng chẳng thể giúp bản thân hoàn thành tâm nguyện.
Về việc bạn “mong Thầy có thể giúp đỡ em đi tiếp con đường đạo”. Về việc này, mình rất sẵn lòng, nếu yêu cầu đó “nằm trong khả năng của mình!”
Trước mắt, để có thể giúp bạn bước đầu, Lý Tứ xin mách như sau: Hiện tại, mình và HĐ Lý Gia có mở các khóa học “Hạnh phúc quanh ta - Giọt mưa đầu mùa” dành cho cộng đồng! Bạn có thể đăng kí để học!
Sau khoá học, nếu thấy con đường Lý Gia đang đi phù hợp với mục tiêu của mình, bạn có thể trở thành HĐ Lý Gia. Chừng ấy, chúng ta mới có cơ hội giúp nhau dài lâu trên con đường đạo.
Chúc Thanh Nguyen Hoang an vui, tinh tấn.
Hy vọng, sớm có cơ hội giúp nhau!
2) Câu hỏi của bạn Đức Trọng
Email: ductrong.....@gmail.com
Xin phép! Vô minh có thường ở người thành đạt không, ở người trình độ cao không, ở người rất giàu có không, ở người chức sắc cao không? Nếu có, thì thật sự khổ thật phải không? Hạnh phúc có đến với người vô minh không? Người vô minh có hạnh phúc không?
An lạc là khát vọng trong thế gian trầm luân này có phải là ý thiện không?
Rất biết ơn quí anh chị đã chia sẻ chân thành.
Xin cám ơn.
Đức Trọng
*****
Trả lời:
Đức Trọng thân mến!
Vô minh là một trong những khái niệm quan trọng của Phật đạo! Khái niệm này muốn chỉ ra rằng, những ai còn bị một điều gì đó che khuất tâm trí, không đủ sáng suốt nhận ra “bản chất của thân tâm và thế giới”. Từ đó, họ bị các “hiện tượng hư ảo của thân tâm và thế giới” làm cho mê mờ, dẫn đến khổ, phiền não, kiết sử, lậu hoặc phát tác khiến đời sống không được an vui...
Theo những gì đã giải thích ở trên thì, những ai còn những biểu hiện đã nêu, tức là còn vô minh, không luận kẻ đó là ai! Và đã còn vô minh, nhất định không tìm thấy an vui, hạnh phúc đích thực theo quan điểm Phật đạo!
Để giải quyết vấn đề này, Phật đạo đề ra con đường học tập như pháp nhằm giúp những người còn vô minh mau chóng giác ngộ. Nói khác hơn, giác ngộ chính là kết quả của hành động nhận ra những gì đã che chướng tâm trí và lột bỏ nó. Từ đó, cái thấy không bị sai lệch mới có thể tìm thấy an vui, hạnh phúc như pháp (như pháp là như tinh thần của giáo pháp)!
Hy vọng, những trả lời ở trên, có thể giúp Thanh Nguyen Hoang, Đức Trọng và bạn đọc sớm tìm được câu trả lời cho chính mình!
Rất mong, nhận được các câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người!
Chúc các bạn an vui, tinh tấn!
14/03/2023
LÝ TỨ
CBL.16 - Làm Thế Nào Để Không Sinh Tâm?
Tâm hư vọng (không thanh tịnh) là thứ tâm do trụ nơi thấy nghe ngửi nếm v.v... mà sanh! Tâm thanh tịnh là thứ tâm do không trụ nơi nào hết mà sanh. Thành tựu tâm thanh tịnh, tự tánh thanh tịnh sẽ xuất hiện!

Các bạn!
Trong tuần, chuyên mục bạn đọc hỏi Lý Tứ trả lời có nhận được câu hỏi của bạn đọc có tên Tỉnh Thức. Nội dung câu hỏi như sau:
“Kính chào Thầy!
Xin chúc thày và các HĐ tỷ muội ngày càng tinh tấn trên con đường Phật đạo. Con có biết Phật pháp đã lâu nhưng không biết đường lối tu tập mong Thầy và các bạn chỉ dạy thêm.
Câu hỏi 1: Câu “ưng vô sở trụ, nhi sanh kì tâm”. Qua câu nói này con chỉ hiểu có vế đầu: Có nghĩa là dựa vào sắc thanh hương vị xúc pháp sanh tâm, mà sanh tâm không có chỗ trụ. Nhưng con không hiểu: Sanh tâm không có chỗ trụ như thế nào mà không lệ thuộc vào cái thức, suy nghĩ bộ não hiểu biết của thế gian? nghĩa là sanh tâm như thế nào mà không lìa tự tánh.
Câu hỏi 2: Cũng như trên, xin Thầy cho một ví dụ cụ thể để phân biệt?“
16/02/2023 9:42:49
Tỉnh Thức
*****
Bạn đọc và Tỉnh Thức thân mến!
Mình xin lần lượt trả lời các câu hỏi như sau:
Hỏi:
Câu “ưng vô sở trụ, nhi sanh kì tâm”. Qua câu nói này con chỉ hiểu có vế đầu: Có nghĩa là dựa vào sắc thanh hương vị xúc pháp sanh tâm, mà sanh tâm không có chỗ trụ?
Trả lời:
Câu “ưng vô sở trụ, nhi sanh kì tâm”, là lời Phật dạy ngài Tu Bồ Đề trong kinh Kim Cang!
Nguyên văn chữ Hán:
“Thị cố Tu bồ đề, chư Bồ Tát ma ha tát ưng như thị sanh thanh tịnh tâm: Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm. Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.”
Dịch:
Tu bồ đề! Vì vậy mà các vị đại Bồ Tát nên sanh tâm thanh tịnh như thế này: Chẳng nên trụ nơi hình sắc mà sanh tâm, chẳng nên trụ nơi âm thanh, hương thơm, mùi vị, cảm xúc, các pháp mà sanh tâm. Nên ở nơi không chỗ trụ mà sanh tâm.
Hỏi:
Nhưng con không hiểu: “Sanh tâm không có chỗ trụ như thế nào mà không lệ thuộc vào cái thức, suy nghĩ bộ não hiểu biết của thế gian? nghĩa là sanh tâm như thế nào mà không lìa tự tánh?”
Trả lời:
Sanh tâm có chỗ trụ (hư vọng tâm, tâm bất tịnh) mới lệ thuộc vào thức vào bộ não cùng các pháp thế gian...
Còn tâm thanh tịnh là thứ tâm không do chỗ trụ mà sanh, nên tâm đó không lệ thuộc vào các thứ mà bạn đã nêu. Vì thế Phật mới dạy: “Không nên trụ nơi nào để mà sinh tâm!” Một khi, tâm thanh tịnh đã sanh thì, tâm ấy không lìa tự tánh. Vì tâm ấy (tâm thanh tịnh) và tự tánh (thanh tịnh) chẳng phải hai (bất nhị).
Hỏi:
“Cũng như trên, xin Thầy cho một ví dụ cụ thể để phân biệt?”
Trả lời:
Tâm hư vọng (không thanh tịnh) như một hồ nước bị vẩn đục, nổi sóng v.v... lúc ấy, các tính chất tự nhiên (tự tánh) như trong suốt, chiếu soi, bất động v.v... không hiện! Khi nào tâm đó hết vẩn đục, hết nổi sóng v.v...(thanh tịnh), thì các tính chất tự nhiên (tự tánh thanh tịnh) như vắng lặng, trong suốt, chiếu soi, bất động v.v... sẽ tự hiện.
Tóm lại:
Tâm hư vọng (không thanh tịnh) là thứ tâm do trụ nơi thấy nghe ngửi nếm v.v... mà sanh! Tâm thanh tịnh là thứ tâm do không trụ nơi nào hết mà sanh. Thành tựu tâm thanh tịnh, tự tánh thanh tịnh sẽ xuất hiện!
Hy vọng các giải thích ở trên, có thể giúp Tỉnh Thức và bạn đọc tìm thấy nguồn tâm thanh tịnh sau khi không còn chạy theo hay trụ chấp nơi thấy nghe v.v... để sanh các thứ tâm bất tịnh.
Rất mong nhận được các câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn!
Chúc mọi người an vui, tinh tấn!
19/02/2023
LÝ TỨ
CBL.15 - Phiền Não Trụ Địa Và Vô Minh Trụ Địa
Vô minh có ba phần gồm: Nhuận chi vô minh, Căn bản vô minh và Vô minh trụ địa !!! Người tu hành thành tựu Bất động (chứng Diệt đế), chỉ giải quyết Nhuận chi vô minh và Căn bản vô minh…Đến khi nào, người này thành tựu viên mãn Nhất thiết trí (viên mãn Đạo đế) mới giải quyết xong Vô minh trụ địa…!!!
Các bạn !!!
Chỉ còn vài giờ nữa, giây phút chuyển mình từ Nhâm Dần sang Quý Mão lại đến !!! Như vậy là, tất cả chúng ta sắp chào đón năm mới !!!
Năm mới Quý Mão, thay mặt BQT Lý Gia và Fanpage Lý Tứ…Xin chúc bạn đọc, HĐTM Lý Gia và gia đình an vui, tinh tấn, thành ở đời, đạt ở đạo !!!
Cũng trong giờ phút cuối cùng của năm con Cọp, mình nhận được thắc mắc của bạn đọc Như Nguyện !!! Bạn ấy viết như sau:
“Thưa thầy Lý Tứ!
Trong kinh có nói: “Phiền não tương ưng tâm. Vô minh thì không tương ưng tâm". Vậy một người tu hành giải quyết nguồn tâm rốt ráo bất động đã giải quyết được vô minh chưa. Tu hành đến mức nào mới có thể giải quyết được vô minh..??? Xin thầy giải đáp thắt mắc của tôi. Tôi cảm ơn thầy..!" 17/01/2023 - 20:37:35 - Như Nguyện.
Như Nguyện thân mến !!!
Để có thể giải đáp thắc mắc của bạn, đầu tiên chúng ta phải thấu suốt lời dạy từ kinh Thắng Man: “Phiền não tương ưng tâm. Vô minh bất tương ưng tâm” !!!
- Tại sao phiền não tương ưng tâm ???
Phiền não thuộc về tâm !!! Là hiệu ứng hư dối tuỳ tâm sinh khởi khi sáu căn xúc đối trần cảnh từ nhận thức mê muội !!! Do đó, khi nhận thức không còn mê muội, tâm hư dối thôi hiện khởi, hiệu ứng phiền não hư dối sẽ tịch diệt !!! Đây là lí do vì sao kinh dạy: “Phiền não tương ưng tâm” !!!
Kinh Tương Ưng dạy như sau: “Này các Tỷ-kheo, dục tham đối với mắt là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với tai là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với mũi là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với lưỡi là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với thân là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với ý là tùy phiền não của tâm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào vị Tỷ-kheo đối với sáu xứ này, đoạn tận được tùy phiền não, thời tâm vị ấy hướng về ly dục. Do biến mãn với ly dục, tâm vị ấy được xem là kham nhẫn, chứng tri đối với các pháp cần phải giác ngộ” (Trích kinh Tương Ưng) !!!
Phiền não trụ địa có bốn món: Kiến nhất thiết xứ phiền não trụ địa; Dục ái phiền não trụ địa; Sắc ái phiền não trụ địa; Vô minh ái phiền não trụ địa !!!
Kinh Thắng Man dạy: “Thế nào là bốn? Kiến nhất xứ trụ địa, dục ái trụ địa, sắc ái trụ địa và vô minh ái trụ địa. Bạch thế Tôn! Bốn thứ trụ địa này có thể sanh tất cả biến khởi phiền não.
Bạch Thế Tôn ! Lực của bốn trụ địa có thể làm sở y cho biến khởi phiền não, song so với Vô minh trụ địa thì tính đếm thí dụ chẳng thể bì được”. (Trích kinh Thắng Man) !!!
- Tại sao vô minh bất tương ưng tâm ???
Vô minh thuộc về trí !!! Người tu hành cho dù đã tịch diệt tất cả tuỳ phiền não, nhưng chưa thấy thiệt tướng vạn pháp, chưa thấu suốt tất cả pháp lành, chưa thành tựu Nhất thiết trí, chưa chứng chân thật tuệ thì chưa được coi là hết vô minh !!! Đây là lí do vì sao kinh dạy: “Vô minh bất tương ưng tâm” !!!
Kinh Thắng Man dạy như sau:
“Cũng vậy, vô minh trụ địa đối với hữu ái trụ địa, lực của nó rất lớn. Thí như sắc, lực, oai đức và quyến thuộc của ma vương thì hơn hẳn chư thiên ở cõi Tha Hóa Tự Tại. Cũng vậy, vô minh trụ địa hơn cả bốn trụ địa, làm chỗ nương cho hằng hà sa số phiền não, cũng làm cho bốn trụ địa phiền não tồn tại lâu dài. Vô minh này, trí của Thanh văn và Độc giác chẳng thể đoạn, chỉ có trí của Như Lai mới có thể đoạn.
Bạch Thế Tôn ! Hữu ái trụ địa chẳng đồng với Vô minh trụ địa nghiệp. Vô minh trụ địa khác với bốn trụ địa. Khác với bốn trụ địa chỉ Phật mới đoạn được. Vì sao? Vì A La Hán và Bích Chi Phật đoạn được bốn trụ địa mà đối với lực lậu tận chẳng được tự tại, chẳng thể hiện chứng.
Vì sao? Bạch Thế Tôn, nói lậu tận là lời nói thừa. Cho nên, A La Hán, Bích Chi Phật và chư Bồ tát tối hậu hữu vì bị Vô minh trụ địa che mờ nên với mọi pháp chẳng biết, chẳng thấy. Vì chẳng biết chẳng thấy đối với mọi pháp nên thứ cần đoạn thì chẳng đoạn, thứ cần tận thì chẳng tận. Đối với mọi pháp chẳng đoạn chẳng tận nên được hữu dư giải thoát mà chẳng phải là tất cả giải thoát, được hữu dư thanh tịnh mà chẳng phải là tất cả thanh tịnh, được hữu dư công đức mà chẳng phải là tất cả công đức. Bạch Thế Tôn! Vì được hữu dư giải thoát mà chẳng phải là tất cả giải thoát … Cho đến được hữu dư công đức mà chẳng phải là tất cả công đức, nên chỉ biết hữu dư KHỔ, đoạn hữu dư TẬP, chứng hữu dư DIỆT, tu hữu dư ĐẠO.
Thắng Man lại bạch Phật rằng:
- Thế Tôn! Nếu chỉ biết HỮU DƯ KHỔ, đoạn HỮU DƯ TẬP, chứng HỮU DƯ DIỆT, tu HỮU DƯ ĐẠO thì gọi là diệt độ được ít phần, chứng được ít phần Niết bàn, hướng về Niết bàn giới. Nếu biết TẤT CẢ KHỔ, đoạn TẤT CẢ TẬP, chứng TẤT CẢ DIỆT, tu TẤT CẢ ĐẠO thì người đó ở nơi thế gian vô thường bại hoại này chứng được Niết bàn thường tịch thanh lương. Bạch Thế Tôn! Ở nơi thế gian không chỗ che chở, không chỗ y tựa, người đó sẽ làm chỗ che chở, làm chỗ y tựa”. (Trích kinh Thắng Man) !!!
Về Phiền não trụ địa và Vô minh trụ địa, sách Tâm Tông Và Trò Chơi Trí Tuệ giải thích như sau:
“….Người tu hành có hai thứ cần phải loại ra khỏi tâm và trí, đó là “Phiền não trụ địa” và “Vô minh trụ địa”. Phiền não trụ địa thuộc về tâm, Vô minh trụ địa thuộc về trí...!!!
Có một số Luận giả gộp hai thứ trụ địa này thành năm món, gọi là Ngũ trụ địa phiền não. Cũng có Luận giả cho rằng, Vô minh trụ địa của xuất thế gian, thuộc về hoặc giới ngoại, phải trải qua Bất tư nghì biến dịch sanh tử mới chấm dứt...!!!
Theo mình thì, để riêng hai món, gộp chung thành năm, hay phân thành bốn hoặc giới nội, một hoặc giới ngoại... tất cả đều không quan trọng. Mà, làm thế nào có thể tống khứ, không cho hai món này cư trú bất hợp pháp trong tâm trí của người tu hành mới là điều quan trọng nhất !!!
Ta có thể hiểu, Vô minh trụ địa như bóng tối, Phiền não trụ địa như ma quỷ... Tất nhiên, theo quan niệm thế gian, ở đâu tối tăm ở đó ma quỷ cư trú !!! Và, chúng ta cũng biết, trí tuệ như mặt trời, tâm thức như thế giới... Mặt trời lặn, thế giới tối tăm !!! Mặt trời mọc, thế giới sáng tỏ !!! Bây giờ, chúng ta thử điểm qua hai thứ trụ địa này, và tìm xem Phật đạo dùng cách gì để làm cho thế giới sáng soi, xua tan bóng tối, quét sạch "phiền ma não quỷ" !!!
- Phiền não trụ địa là gì ??? Là nơi cư trú của hết thảy phiền não, trụ địa này thuộc về Phiền não chướng. Có bốn nơi để phiền não cư trú đó là: Kiến nhất thiết xứ phiền não trụ địa, Dục ái phiền não trụ địa, Sắc ái phiền não trụ địa và Vô minh ái phiền não trụ địa !!!
• Kiến nhất thiết xứ phiền não trụ địa: Thấy nghe phân biệt, phiền não phát sinh. Dứt phân biệt, phiền não này chấm dứt !!!
• Dục ái phiền não trụ địa: Năm căn thân ham mê năm trần mà sinh phiền não. Sơ thiền đoạn phiền não này !!!
• Sắc ái phiền não trụ địa: Mê sắc thân mà sanh phiền não. Tứ thiền dứt phiền não này !!!
• Vô minh ái phiền não trụ địa: Tham đắm nghĩ suy, ham ưa vọng tưởng mà sinh phiền não. Thành tựu Tứ không định dứt chín phần, chứng Diệt thọ tưởng định chấm dứt toàn phần !!! Phiền não trụ địa gọi là Pháp tương ưng... Có nghĩa rằng, phiền não dứt thì tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh thì phiền não dứt !!!
- Vô minh trụ địa !!! Gồm ba phần, hai phần của hoặc giới nội, một phần của hoặc giới ngoại !!!
• Vô minh trụ địa của hoặc giới nội gồm Nhuận chi vô minh và Căn bản vô minh, hai thứ vô minh này thuộc về Sở tri chướng !!!
• Vô minh trụ địa hoặc giới ngoại là Vô minh trụ địa của Bất tư nghì biến dịch sanh tử, thuộc về Sở trí ngu !!!
Để dễ hiểu các thứ vô minh nói trên, ta có thể lấy ví dụ về quả trứng. Quả trứng gồm có ba phần cơ bản: Vỏ trứng, lòng đỏ và lòng trắng. Nhuận chi vô minh như lòng đỏ, Căn bản vô minh như lòng trắng, lòng đỏ và lòng trắng bị hư, quả trứng không thể nở ra con gà. Một chúng sanh, do hai thứ vô minh này làm cho tăm tối, hai thứ này chấm dứt, tăm tối của chúng sanh chấm dứt, tăm tối của chúng sanh chấm dứt Thánh trí sẽ hiện !!!
Thánh trí đã hiện nhưng chưa thể thoát ra khỏi cái ngu ba thừa... Giống như quả trứng đã hư, nhưng bản thân cái vỏ hãy còn, cái vỏ hãy còn chính là Vô minh trụ địa hoặc giới ngoại, chính cái vỏ này là lớp ngăn che bên ngoài làm cho ba thừa không thấy được thiệt tướng vạn pháp...!!! Đây là hình ảnh, "con ếch mắt sáng" ngồi dưới đáy giếng, thế giới đối với con ếch không lớn hơn cái giếng, muốn biết tướng chơn thật của thế giới, con ếch phải ra khỏi cái giếng !!! Thánh trí muốn thoát ra khỏi cái hạn hẹp của ba thừa để thành tựu Phật trí, phải phá bỏ lớp vỏ cuối cùng của Sở trí ngu, gọi là ra khỏi “Vô minh trụ địa hoặc giới ngoại” !!!
• Nhuận chi vô minh: Tiền ngũ thức mù tối. Dứt tập, hết vô minh này !!!
• Căn bản vô minh: Ý thức mù tối. Chứng diệt, hết vô minh này !!!
• Vô minh trụ địa: Trí tuệ bị che lấp bởi Sở trí ngu. Thành tựu Đạo đế, hết cái ngu này !!! (Trích Tâm Tông Và Trò Chơi Trí Tuệ - Lý Tứ - NXB Dân Trí - HaNoiBooks phát hành 2022) !!!
Về câu hỏi của Như Nguyện:
“Vậy một người tu hành giải quyết nguồn tâm rốt ráo bất động đã giải quyết được vô minh chưa. Tu hành đến mức nào mới có thể giải quyết được vô minh..???”
Mình xin trả lời như sau:
Vô minh có ba phần gồm: Nhuận chi vô minh, Căn bản vô minh và Vô minh trụ địa !!! Người tu hành thành tựu Bất động (chứng Diệt đế), chỉ giải quyết Nhuận chi vô minh và Căn bản vô minh…Đến khi nào, người này thành tựu viên mãn Nhất thiết trí (viên mãn Đạo đế) mới giải quyết xong Vô minh trụ địa…!!!
Kinh Thắng Man dạy: “Bạch Thế Tôn! Hằng hà sa số pháp mà Bồ đề Như Lai và Trí Kim Cang của Phật nên đoạn, tất cả đều y trì nơi Vô minh trụ địa mà kiến lập. Thí như tất cả hạt giống và rừng cây đều y nơi đại địa mà được sanh trưởng. Nếu đại địa hoại thì những thứ kia cũng hoại theo. Cũng vậy, hằng hà sa số tất cả pháp mà Bồ Đề và Trí Kim Cang của Phật nên đoạn, tất cả đều y nơi vô minh trụ địa mà sanh trưởng. Nếu vô minh trụ địa ấy đoạn thì hằng hà sa số tất cả pháp mà Bồ Đề và Trí Kim Cang của Phật nên đoạn cũng đoạn theo”. (Trích kinh Thắng Man) !!!
Như vậy ta có thể hiểu:
Thanh văn, Duyên Giác và Bồ tát quyền thừa muốn đoạn dứt Vô minh trụ địa, phải phát tâm Vô thượng Bồ đề vào Nhất thừa (Phật thừa) cầu học trí tuệ !!! Đoạn kinh sau nói rõ điều này như sau:
“Vì Thanh văn và Độc giác đều nhập Đại thừa, mà Đại thừa chính là Phật thừa. Cho nên Tam thừa chính là Nhất thừa. Chứng Nhất thừa thì được A Niệu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. A Niệu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề chính là Niết bàn. Nói Niết bàn tức là pháp thân Như Lai thanh tịnh. Chứng pháp thân chính là chứng Nhất thừa, không khác Như Lai, không khác pháp thân. Nói Như Lai chính là pháp thân. Chứng cứu cánh pháp thân là chứng cứu cánh Nhất thừa. Chứng cứu cánh Nhất thừa thì lìa tương tục”. (Trích kinh Thắng Man) !!!
Như Nguyện và bạn đọc thân mến !!!
Trình bày ở trên, chỉ là những gì được coi cơ bản nhất của bốn phiền não và ba vô minh !!!
Để hiểu hết các thứ ấy, để đoạn trừ tận gốc, để đạt được Trí tuệ tối hậu…vv…cần có cơ sở giác ngộ vững chắc, nền tảng tri kiến thâm sâu và công hạnh giáo hoá dài lâu !!! Hy vọng, phần trả lời sẽ là món quà cuối năm, giúp Như Nguyện và bạn đọc nghiền ngẫm đêm trừ tịch, đón giao thừa, chào năm mới Quý Mão nhiều niềm vui cùng thành tựu như nguyện !!!
Rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!! Chúc mọi người an vui, tinh tấn !!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau:
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn !!!
21/01/2023
LÝ TỨ
- CHỢ LONG XUYÊN SÁNG 30 TẾT QUÝ MÃO !!!











