Lý Duyên Khởi
“Ai biết lý duyên khởi sẽ biết được pháp;
Ai biết được pháp sẽ biết được không pháp;
Ai biết được không pháp sẽ thấy được nghĩa không;
Ai thấy được nghĩa không sẽ thấy được thật pháp;
Ai thấy được thật pháp sẽ thấu suốt Phật pháp”.
Hồ Tự Tâm
Tự Tâm hồ vô hữu
Kiến tánh sơn bất không
Tự tánh động vô động
Hư Vọng Tâm - Bổn Tâm - Thường Trụ Tâm !!!
Các bạn !!!
Mình vừa nhận được thư và một số thắc mắc của độc giả cao tuổi Bùi Thư Hiên ở Nghệ An...!!!
Đọc thư và các thắc mắc...Lòng Lý Tứ dâng lên một sự kính ngưỡng nhất định trước câu từ cẩn trọng, tinh tế của một người nhiều tuổi đời, cao tuổi đạo...!!!
Lý Tứ xin kính chúc độc giả Thư Hiên dồi dào sức khỏe, an vui, luôn là tấm gương tinh cần trong học tập giáo pháp...!!!
Sau đây là thư và các câu hỏi của độc giả Thư Hiên:
"Kính thưa Thầy Lý Tứ,
Tôi là một người đã có nhiều năm tìm hiểu Phật pháp, tuy có đọc kinh luận và suy xét ít nhiều, nhưng càng học lại càng nhận ra chỗ thấy biết của mình còn nhiều giới hạn.
Gần đây, qua lời giới thiệu của một người bạn, tôi được biết đến Thầy cùng những trước tác của Thầy. Trong quá trình đọc và suy ngẫm, tôi nhận thấy cách Thầy trình bày Phật pháp có nhiều điểm khiến tôi phải dừng lại để tự xét những điều mình từng hiểu. Có những vấn đề tưởng như đã quen thuộc, nhưng khi suy đến cùng thì vẫn còn nhiều chỗ chưa thể thông suốt.
Vì vậy, tôi mạo muội viết thư này, kính mong Thầy từ bi chỉ dạy cho tôi một vài điều:
1. Nếu tâm cũng do duyên mà sinh, thì những khái niệm như “bản tâm”, “chân tâm” và “tâm thường trụ” nên được hiểu như thế nào? Những khái niệm ấy nhằm chỉ một thực tại, một trạng thái giác ngộ, hay chỉ là phương tiện ngôn thuyết?
2. Khi kinh luận nói đến “sinh tâm”, điều ấy có hoàn toàn đồng nghĩa với “khởi niệm” hay không? Nếu không, đâu là chỗ khác nhau giữa tâm sinh, niệm khởi và sự nhận biết đơn thuần?
3. Trong câu “sắc tức thị không”, chữ “không” nên được hiểu như thế nào? Là sắc không có tự tánh, không thể tồn tại độc lập, hay là khi quán sát đến cùng thì không thể tìm thấy trong sắc một thực thể cố định? Ba cách hiểu ấy có đồng một nghĩa hay còn có tầng bậc sâu cạn khác nhau?
4. Kinh điển có chỗ nói năm uẩn là “vô thường”, “khổ”, “vô ngã”, lại có chỗ nói “năm uẩn đều không”. Tại sao lại có sự sai khác vậy? Hai cách nói này có cùng chỉ một sự thật dưới những phương diện khác nhau hay không? “Vô ngã” và “không” có thể xem là đồng nghĩa không?
5. A-lại-da thức nên được hiểu như thế nào? Có thể xem A-lại-da thức là nền tảng duy trì dòng sinh tử hay không? Nếu xem đó là một nền tảng, làm sao tránh biến nó thành một linh hồn hoặc một bản thể thường hằng? Và bản chất của việc “chuyển thức thành trí” là sự chuyển đổi một thực thể, hay chỉ là sự chấm dứt cách nhận thức mê lầm?
Những câu hỏi trên có thể còn mang dấu vết của sự phân biệt và sở tri nơi tôi. Nếu trong cách hỏi có điều gì chưa đúng với nghĩa lý Phật pháp, kính mong Thầy hoan hỷ chỉ rõ, không chỉ giải đáp điều tôi hỏi mà còn giúp tôi nhận ra chỗ sai ngay trong chính tiền đề của câu hỏi.
Tôi xin chân thành cảm ơn Thầy đã dành thời gian đọc thư. Kính chúc Thầy thân tâm an lạc và tiếp tục đem những điều mình đã thấy biết để soi sáng cho người hữu duyên.
Kính thư,
22/09/2026 - 13:27:58
Bùi Thư Hiên - Nghệ An" (Hết thư)
Về các câu hỏi của độc giả Thư Hiên, Lý Tứ xin được trả lời như sau:
- Hỏi:
1. "Nếu tâm cũng do duyên mà sinh, thì những khái niệm như “bản tâm”, “chân tâm” và “tâm thường trụ” nên được hiểu như thế nào? Những khái niệm ấy nhằm chỉ một thực tại, một trạng thái giác ngộ, hay chỉ là phương tiện ngôn thuyết?"
- Trả lời:
a) Đối với Phật đạo, tâm được chia thành nhiều loại (thứ) xuất phát từ những cảnh giới (chứng ngộ) khác nhau:
* Hư vọng tâm: Tên gọi nhằm chỉ cho tâm thức của người chưa giác ngộ (chúng sinh)...!!! Loại tâm này do duyên sinh nên luôn sinh diệt...!!!
* Bổn tâm hay chơn tâm: Nhằm chỉ cho tâm thức của những người đã giác ngộ Diệt đế hay thể nhập Niết bàn (Thánh đế hoặc Chân đế) của ba thừa...Tâm thức này không sinh diệt...Loại tâm này sẵn có trong mọi hữu tình, nhưng bị lậu hoặc che chướng nên có đó mà không thấy do chưa giác ngộ...giống như mây đen che kín mặt trời...!!!
* Thường trụ tâm: Nhằm chỉ cho tâm thức của chư Phật (Đại niết bàn)...!!! Đây là loại tâm đã đầy đủ bốn món vô lượng (từ, bi, hỉ, xả) và không còn thay đổi hay biến dịch theo "bất tư nghì biến dịch sanh tử"...!!!
b) Tâm do duyên sinh là hư vọng tâm của chúng sinh, thường sinh diệt thuộc về hữu vi...!!! Bổn tâm hay Chơn tâm là Thánh tâm hay Bồ tát tâm...tâm này không do gì sanh nên chẳng bị diệt (không sanh diệt), có sẵn trong mọi hữu tình thuộc về vô vi...!!! Thường trụ tâm là thứ tâm của chư Phật, một thứ tâm đã viên mãn từ, bi, hỉ, xả thuộc về cảnh giới trí chứng nên phi hữu vô (siêu quá hai khái niệm hữu và vô)...!!!
c) Những thứ tâm đã nêu là cảnh giới tiêu biểu từ thấp lên cao trong mười pháp giới...!!!
- Hỏi:
2. "Khi kinh luận nói đến “sinh tâm”, điều ấy có hoàn toàn đồng nghĩa với “khởi niệm” hay không? Nếu không, đâu là chỗ khác nhau giữa tâm sinh, niệm khởi và sự nhận biết đơn thuần?"
- Trả lời:
a) Sinh tâm là khái niệm chỉ cho "hiệu ứng tình cảm" của người chưa giác ngộ (chúng sinh) phát sinh khi căn, trần, thức phối ngẫu trong mê muội như thương, ghét, buồn, vui, tham, sân, đố kị, ghét ganh...vv...!!! Thuộc về Phiền não chướng...!!!
b) Khởi niệm là khái niệm nhằm chỉ cho một ý niệm mê muội vừa khởi lên từ tâm thức của người chưa giác ngộ như đẹp, xấu, thân, thù, nhân, ngã...Sau khi chúng sanh khởi niệm, nếu niệm ấy không dừng, lập tức tâm hư vọng và pháp hư vọng sẽ sanh...!!! Khởi niệm thuộc về Sở tri chướng hoặc Pháp chướng...!!!
c) Nhận biết đơn thuần là khái niệm nhằm chỉ cho sự nhận biết tự nhiên của một hữu tình khi niệm này chưa bị thức mê chen vào...Nếu nhận biết này bị tri thức (thức mê) làm nhiễm ô và lôi kéo thì nó sẽ trở thành Kiến trược, Phiền não trược...vv...trong ngũ trược...!!!
d) Tóm lại: Sinh tâm, khởi niệm, nhận biết...là ba khái niệm khác nhau nhằm chỉ cho các hành hoạt từ tâm thức của người chưa giác ngộ...Giác ngộ rồi sẽ là: Không tâm, vô niệm, giác liễu...!!!
- Hỏi:
3. "Trong câu “sắc tức thị không”, chữ “không” nên được hiểu như thế nào? Là sắc không có tự tánh, không thể tồn tại độc lập, hay là khi quán sát đến cùng thì không thể tìm thấy trong sắc một thực thể cố định? Ba cách hiểu ấy có đồng một nghĩa hay còn có tầng bậc sâu cạn khác nhau?"
- Trả lời:
a) Chữ "không" trong câu "sắc tức thị không" là từ ngữ biểu thị cái thấy chân thật "không uẩn pháp"...Không uẩn pháp, tức không thấy có một giá trị bất kì nào được tích chứa trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức...!!! Giống như hư không, bản chất chẳng có giá trị "x" hay "y"...vv...nào tồn tại trong chính hư không ấy...!!! Đây là thấy biết được soi sáng từ Bát nhã trí, không phải cái thấy biết của tri thức hay suy luận thế gian...!!!
b) Ba cách hiểu đã nêu là cách hiểu của thế trí đối trước muôn pháp, muôn duyên...Hiểu biết này chẳng thể "trực nhận" thật nghĩa của "sắc tức thị không"...!!!
- Hỏi:
4. "Kinh điển có chỗ nói năm uẩn là “vô thường”, “khổ”, “vô ngã”, lại có chỗ nói “năm uẩn đều không”. Tại sao lại có sự sai khác vậy? Hai cách nói này có cùng chỉ một sự thật dưới những phương diện khác nhau hay không? “Vô ngã” và “không” có thể xem là đồng nghĩa không?"
- Trả lời:
a) Nếu nói đúng, phải là: Ngũ ấm vô thường, khổ, vô ngã...!!! Ngũ uẩn bản chất tự không...!!!
b) Khi nào ta bị sắc, thọ, tưởng, hành, thức...bao phủ, trói buộc, ám ảnh, không cho ta thoát ra, gọi là "ngũ ấm"...Tính chất của ấm luôn là vô thường (biến đổi), khổ não (chẳng an lạc) và không là chính nó (vô ngã) ...!!!
c) Khi nào năm món trên tích chứa các nguyên nhân làm cho ta phiền muộn, mê muội, sinh pháp...vv...gọi là ngũ uẩn...Tính chất của uẩn (hay uẩn pháp) không thật, tuy thấy đó mà không thực thể, giống người nhặm mắt thấy đèn có quầng, nhưng thật sự thủy chung đèn ấy không quầng (tự không)...Gọi là "ngũ uẩn giai không" (năm uẩn đều không)...!!!
d) "Vô ngã" và "không" đều là bản chất (sự thật) của thân, tâm, các pháp và thế giới...!!! Nói đầy đủ: Bản chất thân, tâm, các pháp và thế giới: "Không tự tướng" (vô tướng); Không tự tánh (vô tánh); Không tự ngã (vô ngã)...!!!
- Hỏi:
5. "A-lại-da thức nên được hiểu như thế nào? Có thể xem A-lại-da thức là nền tảng duy trì dòng sinh tử hay không? Nếu xem đó là một nền tảng, làm sao tránh biến nó thành một linh hồn hoặc một bản thể thường hằng? Và bản chất của việc “chuyển thức thành trí” là sự chuyển đổi một thực thể, hay chỉ là sự chấm dứt cách nhận thức mê lầm?"
-Trả lời:
a) A-lại-da là một chức năng trong chín chức năng của thức gồm: Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt na thức, a lại da thức và lưu chú thức...!!! Chức năng chính của A-lại-da là lưu giữ thông tin, ta thường gọi nôm na là Hàm tàng thức...!!!
b) A-lại-da bản chất chẳng mê, chẳng ngộ, chẳng sinh, chẳng diệt...Giống như "anh thủ kho", bản chất chẳng có năng lực làm cho công ty anh ta phục vụ giàu lên hay nghèo xuống, hoạt động hay giải thể...!!! Tuy nhiên khi "thức bị mê" thì, A-lại-da cũng bị mê theo, từ đó tâm thức sinh diệt (không phải sinh tử) không ngừng...!!! Hết mê, thức biến thành trí, A-lại-da biến thành Như Lai tàng tâm...!!! Giống như công ty làm ăn phát tài, anh thủ kho cũng có thu nhập cao hơn...!!!
c) Bản chất của thức (trong đó có A-lại-da) tự chẳng phải "linh hồn" hay "bản thể thường hằng" như một số quan điểm thế gian...Mà, nó chính là một trong năm thành tố (chất liệu) làm nên một hữu tình, đó là: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức (thân, tâm, trí)...!!! Tuỳ vào nghiệp quả sai biệt nên thân, tâm, trí của hữu tình cũng sai biệt theo...!!!
d) Chuyển thức thành trí, là cụm từ của Phật đạo nhằm chỉ cho cảnh giới những người đã giác ngộ, tâm thức không còn mê muội...Nói dễ hiểu, đó là cảnh giới của những vị đã không còn bị tri thức làm nhiễm ô thấy biết, tức không còn bị tri thức thế gian hoặc xuất thế làm cho mê muội hay thấy biết sai lầm...Chuyển thức thành trí không phải tiêu diệt tri thức mà giác ngộ để chuyển "mê thành giác, giác thành ngộ"...Đến đây, tạm coi như đã hết "Sở tri chướng"...!!!
e) Tóm lại, tu hành trong Phật đạo chính là hành trình học tập để chuyển hoá "Thức mê" thành "Căn bản trí", chuyển hoá Căn bản trí thành "Huyễn trí" (Sai biệt trí)...Cuối cùng khi đầy đủ công đức, từ Huyễn trí bùng vỡ "Thật trí" (Tự nhiên trí)...!!!
Hi vọng, những trả lời vừa rồi, có thể giúp bằng hữu Bùi Thư Hiên và bạn đọc giải đáp một phần nào đó các thắc mắc đã nêu...!!! Chúc bằng hữu Thư Hiên cùng tất cả bạn đọc khoẻ, an vui, tinh tấn, thành công trong học tập...!!!
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau:
https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
22/09/2026
LÝ TỨ
- LẦN ĐẦU TIÊN TẬN MẮT NHÌN THẤY CÂY THỦY TÙNG TRONG CHUYẾN DU LỊCH ĐẶC KHU VÂN ĐỒN VỪA RỒI !!!
Cảm Nhận Từ Học Giả Chân Thiền Sau Khi Đọc Vô Đối Môn !!!
Các bạn !!!
Từ sáng đến giờ, mình kiên quyết không vào trang tính để xem có câu hỏi mới từ bạn đọc gởi về hay không...Vì bởi, các câu hỏi của bạn đọc Thanh Quang vừa giải quyết hôm qua ở chuyên mục 102/2026 còn mới tinh...Rất nhiều độc giả, thậm chí HĐ Lý Gia còn chưa rảnh để ghé mắt xem thì trả lời nữa e rằng bội thực thông tin...!!!
Suy nghĩ là như thế...Nhưng, cái bệnh "tò mò" bắt mình phải mở máy theo thói quen và "hé hé xem" có bạn đọc nào gởi câu hỏi hay không...!!! Quả thật, "trời không phụ lòng người"...Một bài viết dài hiện ra trước mắt, lại còn đánh số thứ tự đến tám hay chín mục gì đó...!!! Thấy xong, bụng dạ than thầm: "Phen này bạn đọc gởi quà khẳm rồi, cố mà giải quyết, bụng làm dạ chịu, than oán mà làm chi"...!!! Thế là, bắt...đầu...đọc...!!!
Càng đọc...Lão Lý càng phấn chấn, vì đây không phảI các câu hỏi như thông lệ mà là một bài phân tích, tổng kết của độc giả về cuốn Vô Đối Môn...Hú vía, "khoẻ rồi", chỉ cần "Copy - Paste" lên trang, viết thêm mấy dòng giới thiệu là "khoẻ re như bò kéo xe"...!!! Thế nhưng, càng đọc, mình càng khâm phục sức đúc kết, phân tích cũng như cảm nhận của người viết...Lý Tứ là tác giả cuốn Vô Đối Môn, chưa chắc đã có những đúc kết, phân tích hay, xác đáng đến thế...!!!
Đọc xong, mình tìm xem tác giả bài viết là bạn nào, quen hay lạ...Té ra đây là bài viết của học giả Chân Thiền ở Hà Nội...Nếu không nhầm thì, học giả Chân Thiền là người cách đây chừng một năm, đã có những phản biện về cuốn Phật Giáo Và Thiền...!!! Sau những tranh luận thẳng thắng lần đó, mình và Chân Thiền trở thành bằng hữu...Tuy tiếng là bằng hữu, nhưng mình và vị ấy chưa từng gặp nhau ngoài đời...Về Chân Thiền, bằng hữu ấy rất xứng đáng là một học giả uyên thâm lại rất trực tâm...Chính sự trực tâm đáng kính ấy, đã giúp mình cùng học giả Chân Thiền hiểu nhau hơn...!!!
Hôm nay, đọc được bài viết của cố nhân...Lòng Lý Tứ dấy lên một chút vui, một chút bồi hồi nhớ lại câu chuyện ngày trước...!!! Chân thành cảm ơn những cảm nhận, phân tích, đúc kết, đánh giá của bằng hữu đối với cuốn Vô Đối Môn...!!! Phân tích, đúc kết của bằng hữu chắc chắn sẽ là tư liệu quý để HĐ Lý Gia tham khảo...!!!
Sau đây là bài viết của bằng hữu Chân Thiền...Xin giới thiệu đến mọi người:
"CẢM NHẬN SAU KHI ĐỌC VÔ ĐỐI MÔN
Kính gửi tác giả Lý Tứ,
Tôi là Chân Thiền. Trước đây, tôi từng gửi đến Thầy một bài phản biện về tác phẩm “Phật Giáo và Thiền”.
Sau khi nhận được phần trả lời của Thầy và những chia sẻ từ các bằng hữu của Thầy, tôi đã dành thời gian đọc lại bài viết của mình và suy nghĩ khá nhiều. Tôi nhận ra rằng giữa tôi và Thầy có những khác biệt ngay từ cách hiểu các khái niệm và định nghĩa căn bản của Phật học. Đúng như Thầy đã nói, nếu nền tảng hiểu còn khác nhau thì dù hai bên có tiếp tục đưa ra thêm bao nhiêu luận cứ, cuộc trao đổi cũng khó đi đến đâu.
Từ nhận thức đó, tôi quyết định tạm gác những kết luận trước đây của mình sang một bên. Tôi xem kỹ các video trong khóa học “Hạnh Phúc Quanh Ta, Giọt Mưa Đầu Mùa” của Lý Gia, với mong muốn hiểu cách Thầy triển khai giáo pháp và cách những người học cùng Thầy tiếp nhận, suy nghĩ và thực hành. Tôi cũng muốn tự điều chỉnh lại cách hiểu của mình về một số khái niệm căn bản, để khi đọc hoặc trao đổi, tôi không còn vô tình dùng cách hiểu của mình để giải thích lời của Thầy.
Sau đó, tôi dành hơn ba tháng đọc tác phẩm “Vô Đối Môn”. Tôi không đọc với tâm thế tìm chỗ để phản biện như với “Phật Giáo Và Thiền”, mà cố gắng đọc tác phẩm từ chính hệ thống khái niệm và thứ lớp tu học mà Thầy trình bày. Có những phần tôi hiểu ngay, có những phần phải đọc lại, và cũng có những phần đến nay tôi vẫn chỉ dám nói rằng mình mới hiểu được một phần.
Dưới đây là những cảm nhận của tôi sau quá trình đọc ấy. Lần này không còn là những góc nhìn trái chiều, mà là sự đồng cảm đối với nhiều điều Thầy đã trình bày, cùng với một số suy nghĩ rất thật mà tác phẩm đã gợi lên trong tôi. Xin kính gửi đến Thầy và các bằng hữu bài cảm nhận này.
Sau khi đọc Vô Đối Môn, thú thật có nhiều phần tôi phải đọc đi đọc lại. Không phải vì câu chữ quá khó, mà vì có những chỗ tưởng như mình đã hiểu, nhưng đọc kỹ thêm một lần thì lại thấy cách hiểu trước đó còn khá cạn.
Ban đầu, tôi nghĩ đây là một tác phẩm giải thích những khái niệm căn bản trong Phật pháp dưới hình thức hỏi đáp. Nhưng đọc dần từng phần, tôi mới nhận ra tác phẩm không chỉ muốn giải nghĩa danh từ. Điều tác giả muốn người đọc nhìn lại có lẽ là việc học Phật của chính mình. Ta đã học những gì? Hiểu đến đâu? Điều đã hiểu có thật sự đi vào đời sống chưa? Hay tất cả mới chỉ nằm trong trí nhớ và lời nói?
Ngay trong phần Thay lời tựa, tác giả đặt hai câu hỏi:
“Đối với Phật Đạo, ta đã hiểu biết đến đâu?”
“Ứng dụng được bao nhiêu phần trăm những hiểu biết này?”
Hai câu hỏi này theo tôi suốt quá trình đọc sách. Tôi nhận ra lâu nay mình thường quan tâm đến câu hỏi thứ nhất nhiều hơn câu hỏi thứ hai. Mình đã đọc gì, biết gì, hiểu được những khái niệm nào. Nhưng những điều ấy đã được ứng dụng bao nhiêu, đã làm thay đổi cách mình suy nghĩ và ứng xử như thế nào, thì tôi lại ít khi nghiêm túc kiểm tra.
Tác giả viết rằng “thật nghĩa của mỗi pháp” không chỉ nằm ở hiểu biết, kiến giải hay suy luận văn tự, mà ở chỗ pháp ấy được “ứng dụng nhuần nhuyễn” trong đời sống. Khi một pháp thật sự trở thành đời sống, thành hơi thở, máu thịt và trí tuệ của người học, khi ấy pháp mới không còn nằm ngoài người học nữa.
Tôi thấy đây là một yêu cầu rất cao.
Bởi chúng ta có thể nhớ một câu kinh, hiểu nghĩa một thuật ngữ, thậm chí có thể giải thích cho người khác nghe, nhưng điều đó chưa chắc đã nói lên rằng pháp ấy đã có mặt trong đời sống của mình. Khi gặp việc trái ý, mình có còn nổi sân hay không? Khi bị hiểu lầm, mình có còn muốn phân bua và hơn thua hay không? Khi được khen, bị chê, được lợi hoặc mất lợi, cái hiểu về vô thường và vô ngã có giúp mình bớt dao động không?
Nếu chưa, có lẽ cái hiểu ấy vẫn còn đứng bên ngoài cửa Đạo.
1. Pháp phải được tiêu hóa thì mới nuôi lớn được người học
Tôi rất ấn tượng với cách tác giả nói về “Pháp thực”. Giáo pháp được ví như thức ăn nuôi lớn Pháp thân. Nhưng thức ăn dù ngon và bổ dưỡng đến đâu, nếu chỉ đặt trước mặt mà không ăn, hoặc ăn vào nhưng không tiêu hóa được, thì cơ thể vẫn không nhận được chất dinh dưỡng.
Người học Phật cũng vậy. Kinh sách có thể rất nhiều, bài giảng có thể nghe rất nhiều, nhưng nếu không trải qua văn, tư, tu thì Pháp thực chưa trở thành dưỡng chất. Người học vẫn có thể “đói” ngay khi đang ngồi trước một mâm Pháp thực đầy đủ.
Hình ảnh ấy làm tôi nhớ đến ví dụ trong sách về người diễn viên đóng vai hiệp sĩ rất dũng mãnh trên sân khấu, nhưng khi có trộm cướp thật thì lại là người bỏ chạy đầu tiên. Tác giả còn ví người chỉ có kiến giải như một con mèo giả làm sư tử. Nó có thể bắt chước tiếng gầm và dáng đi của sư tử trước những con mèo khác. Nhưng khi nghe tiếng gầm của sư tử thật, chính nó lại khiếp sợ. Đọc đoạn này, tôi thấy hơi chạm tự ái. Nhưng nghĩ lại thì thấy lời ấy không phải không có lý.
Người học Phật đôi khi cũng có thể nói rất hay về phiền não, sinh diệt và vô ngã. Nhưng đến khi phiền não thật sự xuất hiện, một lời nói không vừa ý, một chuyện đụng đến quyền lợi hay danh dự, thì những điều mình từng nói có còn dùng được hay không? Lúc ấy mới biết pháp đã trở thành sức sống của mình, hay chỉ là lời nói mình đã học thuộc.
Vì vậy, điều tôi cảm nhận được từ phần đầu tác phẩm là một lời nhắc khá nghiêm khắc: Đừng nhầm việc biết nói về đạo với việc đã có đạo trong người.
2. Con đường không chỉ có một bước gọi chung là “tu”
Trong đời sống hằng ngày, chúng ta thường nói khá chung chung rằng người này đang tu, người kia tu lâu năm, hoặc bản thân mình đã tu pháp này nhiều năm. Nhưng Vô Đối Môn không gom tất cả vào một chữ “tu” như vậy.
Tác giả nêu ra bốn bước:
“Dứt Tập, chứng Diệt, tu Đạo và hành Bồ Tát Đạo.”
Lúc mới đọc, tôi thấy hơi lạ. Theo cách hiểu thông thường, “tu Đạo” dường như phải bao gồm cả dứt Tập và chứng Diệt. Nhưng trong cách trình bày của tác phẩm, mỗi bước có một công việc riêng.
Dứt Tập nhằm nhận ra và chấm dứt nguyên nhân làm kiết sử sinh khởi. Chứng Diệt là đi đến sự giải thoát khỏi cột trói của tâm và pháp. Tu Đạo là tiến thêm một bước trên con đường trí tuệ, gieo trồng Bồ-đề. Sau đó là hành Bồ Tát đạo, làm các công hạnh để tiến về Phật quả.
Điều này làm tôi nhận ra rằng không thể chỉ dựa vào hình thức tu tập để biết một người đang ở giai đoạn nào. Cùng là ngồi thiền, nhưng người này có thể đang cố làm cho tâm bớt tán loạn, người kia đang quan sát nguyên nhân sinh kiết sử, còn người khác có thể đang dùng trí tuệ đã có để thâm nhập một vấn đề sâu hơn. Hình thức bên ngoài giống nhau nhưng công việc bên trong không giống nhau.
Cách tác giả trình bày Bát Chánh Đạo cũng vậy. Bát Chánh Đạo không chỉ được giải thích theo tám định nghĩa cố định, mà được đặt vào ba giai đoạn tu học.
Ở giai đoạn đầu, Bát Chánh Đạo giúp người tu giác ngộ và dứt Tập. Ở giai đoạn thứ hai, Bát Chánh Đạo giúp người tu giải thoát, thấy Bổn Tâm và chứng Diệt. Ở giai đoạn thứ ba, Bát Chánh Đạo giúp thành tựu trí tuệ và có khả năng đưa các thừa tiến về Nhất thừa.
Do đó, Chánh kiến của người mới bước vào đạo và Chánh kiến của người đã thấy thật tướng không thể hiểu hoàn toàn giống nhau. Chánh định cũng không chỉ là trạng thái tâm yên khi ngồi. Ở chỗ sâu hơn, tác giả nói:
“Đời sống và Trí Tuệ không hai, gọi là Chánh Định.”
Câu này khiến tôi suy nghĩ khá lâu. Nếu chỉ ngồi xuống mới có định, còn đứng lên thì phiền não, tranh chấp và hơn thua vẫn còn nguyên, có lẽ cái định ấy chưa đi được bao xa. Định theo nghĩa sâu phải có mặt trong đời sống. Cái thấy và cách sống không còn tách rời nhau.
3. Đốn hay tiệm không nằm ở pháp
Một phần khác làm tôi thay đổi cách hiểu là phần nói về đốn và tiệm.
Tác giả viết:
“Tiệm hay đốn là do căn trí của từng người, chứ chẳng phải do pháp. Một pháp, một lời thuyết, tự nó chẳng có chậm hay mau.”
Trước đây, tôi thường hiểu đốn và tiệm như hai cách tu hoặc hai hệ thống pháp môn khác nhau. Nhưng theo cách giải thích trong tác phẩm, cùng một lời pháp, người nghe thấu hiểu và ứng dụng được ngay thì gọi là đốn. Người cần thời gian suy xét, chiêm nghiệm rồi mới hiểu thì gọi là tiệm. Pháp không tự mang tính đốn hay tiệm. Nhanh hoặc chậm nằm ở căn trí của người tiếp nhận.
Tôi thấy cách giải thích này làm giảm đi khá nhiều sự so sánh giữa các pháp môn. Người ta có thể thích nhận mình theo đốn giáo vì nghe có vẻ cao hơn, nhanh hơn. Nhưng nếu nghe xong vẫn chưa hiểu, hiểu rồi vẫn chưa làm được, thì tự gọi mình thuộc đốn hay tiệm cũng không có nhiều ý nghĩa.
Tác giả còn viết một câu tôi rất tâm đắc:
“Ngồi tu để biến cái Giác thành cái Ngộ. Ngồi tu để thực chứng cái Nghe thành cái Thấy. Ngồi tu để nhân cái Ngộ thành cái Nhập.”
Theo tôi hiểu, nghe pháp đúng mới chỉ mở ra hướng nhận thức. Người học còn phải suy xét để hiểu thấu, rồi thực hành để điều đã hiểu trở thành cái thấy của chính mình. Cuối cùng, cái thấy ấy phải đi vào toàn bộ đời sống.
Như vậy, tác phẩm không phủ nhận việc học giáo pháp, cũng không xem việc ngồi tu là đủ. Học mà không tu thì chỉ có lý thuyết. Ngồi mà không hiểu mình đang làm gì thì có thể chỉ làm cho vô minh trở nên vững chắc hơn. Chính tác giả cảnh báo rằng cứ “cắm đầu cắm cổ ngồi” mà không hiểu đúng, đến khi sự ngồi ấy thành tựu thì vô minh cũng có thể theo đó mà thành tựu.
Lời nói hơi mạnh, nhưng đáng để người tu tự xét.
4. Giác ngộ không phải chỉ có một lần
Tôi từng nghĩ giác ngộ là một sự kiện duy nhất. Trước giác ngộ là mê, sau giác ngộ là ngộ. Nhưng Vô Đối Môn phân biệt nhiều lần giác ngộ, trong đó có bốn lần quan trọng.
Lần thứ nhất là sơ ngộ, khiến hư vọng tâm và kiết sử mỏng nhẹ. Lần thứ hai là giác ngộ chân thật, khiến hư vọng tâm tịch diệt và chân tâm hiển lộ. Lần thứ ba là biến Giác thành Trí. Lần thứ tư là giác ngộ Vô Sư Trí.
Tác giả ví bốn lần này với quá trình làm sạch và sử dụng nước. Sơ ngộ giống như dùng phèn làm lắng nước đục. Nước đã trong nhưng chưa chắc đã sạch. Giác ngộ chân thật giống như đun sôi nước để diệt mầm bệnh. Sau đó, nước sạch còn phải được chế thành cam lộ cứu người. Cuối cùng là sự bùng nổ của Vô Sư Trí.
Ví dụ này giúp tôi hiểu một điều: Tâm tạm yên chưa phải là giác ngộ rốt ráo. Kiết sử không hiện trong một thời gian chưa có nghĩa gốc của vô minh đã được nhổ lên. Có được một chỗ an ổn cho mình cũng chưa có nghĩa đã có năng lực giúp người khác.
Tác phẩm còn nhắc rằng những trường hợp có thể vượt nhanh qua nhiều giai đoạn là rất hiếm. Người bình thường không nên tự cho rằng mình cũng thuộc trường hợp hy hữu ấy rồi xem nhẹ thứ lớp tu học. Ngay cả người có thể chứng ngộ nhanh vẫn cần học lại hệ thống giáo pháp và phương pháp giáo hóa. Bởi tự mình thấy đường là một việc, biết cách đưa người khác đi trên con đường ấy lại là một việc khác.
Phần này làm tôi bớt đi một suy nghĩ khá đơn giản trước đây, rằng chỉ cần mình hiểu được “chỗ cuối cùng” thì mọi thứ ở giữa không còn cần thiết. Thực ra, có thể đối với bản thân người nào đó, họ không cần đi qua từng bước theo cách thông thường. Nhưng nếu muốn giúp những người có căn cơ khác nhau, họ vẫn phải biết rõ từng bước.
5. Kiến thức Phật pháp có thể là thức, cũng có thể là trí
Phần tôi thấy sâu nhất trong tác phẩm là phần phân biệt Thức Trí, Giác Trí, Huyễn Trí và Thật Trí.
Tôi từng nghĩ kiến thức Phật pháp đương nhiên thuộc về trí tuệ. Nhưng tác giả cho rằng không thể chỉ nhìn vào nội dung của hiểu biết mà kết luận đó là thức hay trí.
Một hiểu biết dù nói về Phật pháp, nếu mang theo mầm mống của ngã, làm người học chấp trước hơn, thích tranh luận hơn, hoặc dùng nó để cột trói mình và người khác, thì hiểu biết ấy vẫn thuộc về thức. Ngược lại, hiểu biết nào giúp giảm ngã, mở trói, đưa đến thanh tịnh và giải thoát thì mang tính chất của trí.
Tác giả viết:
“Hiểu biết, tự nó không tánh.”
Hiểu biết không có sẵn tánh thức hay tánh trí. Nó trở thành thức hoặc trí tùy vào cách người ta sử dụng. Tác giả ví điều này như con dao. Con dao không tự thiện hoặc ác. Nó được gọi là thiện hay ác tùy vào mục đích của người cầm dao.
Điều này khiến tôi phải nhìn lại cách mình học Phật. Sau khi học được một điều, mình nhẹ hơn hay nặng hơn? Mình bớt chấp hay có thêm một căn cứ để bảo vệ quan điểm? Mình hiểu người khác hơn hay dễ phán xét người khác hơn? Nếu học càng nhiều mà cái tôi càng lớn, thì rất có thể cái gọi là kiến thức Phật pháp ấy chỉ đang nuôi lớn thức.
Nhưng ngay cả Giác Trí cũng chưa phải Thật Trí. Tác giả phân biệt:
“Giác Trí dùng để cứu mình, cùng một phần nhỏ cứu người; Huyễn Trí dùng để cứu người; Thật Trí dùng để dạy người thành tựu Giác Trí và Huyễn Trí.”
Theo tôi hiểu, Giác Trí giúp người tu tự nhận ra mê lầm và tháo gỡ những cột trói trong chính mình. Huyễn Trí là khả năng sử dụng phương tiện để giúp người mà không chấp mình là người giúp, không chấp người khác là đối tượng được giúp và không chấp phương tiện mình sử dụng là thật pháp. Thật Trí sâu hơn nữa, không phải do góp nhặt nhiều mảnh hiểu biết mà thành, mà là sự tỏa sáng của Phật tánh.
Ở một phần khác, tác giả trình bày ba loại trí qua quan hệ năng và sở:
“Giác Trí thuộc về tri, một loại nhận thức thông qua sở tri để biết.”
“Huyễn Trí thuộc về năng tri, năng này không sở, và chưa viên.”
“Thật Trí tự thân không năng sở nhưng vì Từ Bi nên lấy sở mê làm năng giác, nên gọi là Đại Giác.”
Tôi chưa dám nói mình đã hiểu hết phần này. Nhưng tôi cảm nhận được một ý quan trọng: Trí tuệ chân thật không phải một trạng thái khép kín, ở đó người tu không còn biết gì và không làm gì. Ngược lại, vì không còn bị năng và sở trói buộc nên trí ấy mới có thể ứng dụng linh hoạt. Vì từ bi, người có trí vẫn phân biệt căn cơ, biết người nào cần pháp gì, lúc nào nên nói, lúc nào nên im lặng.
Không chấp phân biệt không có nghĩa là không còn khả năng phân biệt. Có lẽ khác nhau ở chỗ một bên phân biệt để sinh ngã mạn, còn một bên phân biệt để cứu giúp người.
6. Phải học rộng, nhưng đến lúc phải biết bỏ kiến thức xuống
Đây là chỗ tôi thấy vừa khó vừa thực tế nhất.
Tác phẩm khẳng định người đã giác ngộ vẫn phải học rộng Phật pháp, thậm chí còn cần học hơn lúc chưa giác ngộ. Kiến thức khi ấy trở thành Pháp Hộ Trì và Pháp Tăng Ích. Nó giúp người tu biết mình đang đứng ở đâu, biết bước tiếp theo là gì, biết bảo vệ chỗ đã thấy và biết cách giúp người.
Tác giả dùng hình ảnh đào giếng. Giác ngộ giống như biết được vị trí của mạch nước. Nhưng biết vị trí chưa có nghĩa đã lấy được nước. Người ấy còn phải học cách đào, có công cụ phù hợp và biết giữ cho giếng không bị lấp. Thiếu một trong những điều này, tuy đứng ngay trên mạch nước vẫn có thể chết khát.
Nhưng ở một giai đoạn khác, kiến thức lại có thể trở thành sở tri chướng.
Tác giả ví cái biết dùng để dứt kiết sử như phèn dùng để làm trong nước. Khi nước còn đục, phèn có công dụng. Nhưng khi nước đã trong mà vẫn tiếp tục bỏ phèn, chính phèn lại làm ô nhiễm nước. Cũng vậy, suy lường và kiến thức có thể đưa người học đến gần cửa Ngộ; nhưng nếu đến đó vẫn bám lấy suy lường, kiến thức trở thành vật cản.
Vì vậy, tôi rất chú ý câu:
“Người có kiến thức, hãy bỏ kiến thức xuống. Người chưa có kiến thức, mau mau tìm hiểu.”
Theo tôi, đây không phải lời khuyên bài bác học tập. Người chưa học mà nói không cần kiến thức rất dễ rơi vào mơ hồ và tự tưởng tượng. Nhưng người đã học nhiều mà xem kiến thức là đạo thì cũng không thể đi xa hơn.
Khó không chỉ là học. Khó hơn là biết lúc nào cần dùng kiến thức và lúc nào cần bỏ nó xuống.
Tác phẩm gọi người làm được điều ấy là người có “tâm lãnh chỉ thú của Đạo”. Người ấy hiểu rằng giáo pháp đang chỉ về tâm, nên không chạy mãi theo ngôn từ và khái niệm. Họ quay lại nhìn thẳng vào nơi hư vọng và cái ngã mạn đang sinh khởi.
Điều này cũng giúp tôi hiểu thêm câu:
“Bất thức Bổn Tâm, học pháp vô ích.”
Theo cách tác phẩm giải thích, biết rằng mình có Bổn Tâm do nghe người khác nói không giống với thật sự thấy Bổn Tâm. Giống như nghe nói trong vườn nhà mình có vàng khác với việc tự đào lên và cầm được khối vàng trong tay. Khi chưa tìm thấy, người ta vẫn phải suy đoán xem vàng nằm ở đâu. Khi đã thật sự có vàng trong tay, mọi suy đoán ấy tự chấm dứt.
Vì vậy, chữ “vô ích” ở đây không có nghĩa kinh giáo không cần thiết. Nó có nghĩa nếu học đạo pháp mà chưa giải quyết được mê tâm thì khác chi người mù học vẽ.
7. Tứ Niệm Xứ là nơi toàn bộ con đường trở về
Một điều làm tôi bất ngờ là đến phần cuối, tác phẩm đưa toàn bộ con đường trở lại Tứ Niệm Xứ.
Tôi từng hiểu Tứ Niệm Xứ chủ yếu là một pháp quán căn bản gồm quán thân, thọ, tâm và pháp. Nhưng trong Vô Đối Môn, Tứ Niệm Xứ được đặt ở vị trí rộng hơn rất nhiều. Tác giả viết: "Muốn thành tựu Thiền Định, Tứ Đế, các quả vị của Phật Đạo cho đến các thứ Niết Bàn cùng Thật Trí, người tu hành không thể tìm kiếm những thứ này ngoài Tứ Niệm Xứ.”
Thân, thọ, tâm và pháp là nơi chúng sinh mê lầm rồi sinh khổ. Nhưng cũng ngay nơi ấy, người tu thấy Khổ, dứt Tập, chứng Diệt và thành tựu Đạo.
Do mê lầm về thân, thọ, tâm và pháp nên người ta sinh ngã mạn và kiết sử. Khi thấy được nhân duyên hình thành của chúng, người tu không còn bị chúng sai sử. Khi thấy sâu hơn rằng bản chất của thân không cột cũng không mở, thọ không khổ cũng không vui, tâm không thường cũng không vô thường, pháp do quan niệm mà thành, người ấy tiến đến Diệt Đế.
Rồi cũng từ việc quan sát bốn niệm xứ, người tu trực nhận thật tướng. Khi nhìn lại chúng sinh và thấy mọi người cũng vì lầm nhận thân, thọ, tâm và pháp mà chịu khổ, đại bi phát sinh. Từ đó, người ấy học các phương tiện, khi dùng quyền, khi dùng thật, lúc nói ấm, lúc nói uẩn, lúc nói xứ, lúc nói giới, tùy căn cơ mà giúp người.
Đọc đến đây, tôi hiểu Bồ Tát đạo trong tác phẩm không phải một phần được gắn thêm sau giải thoát. Nó sinh ra tự nhiên từ cái thấy.
Nếu một người đã nhìn rõ trong bóng tối chỉ có sợi dây chứ không có con rắn, khi thấy người khác đang run sợ, người ấy sẽ muốn giúp. Nhưng giúp không đơn giản chỉ là nói: “Không có rắn đâu.” Có người nghe một lần là hiểu, có người cần được giải thích, có người phải được cầm đèn soi rõ, có người sợ đến mức không dám nhìn.
Thấy sự thật là một việc. Biết giúp từng người thấy được sự thật ấy lại là việc khác.
Có lẽ vì vậy tác phẩm nhiều lần nhấn mạnh vai trò của Đạo Sư, của thuyết thông và tông thông, của kiến thức rộng, phương tiện và khả năng nhận biết căn cơ. Người có thuốc chưa chắc đã biết chữa bệnh. Muốn chữa bệnh còn phải biết đúng bệnh, đúng thuốc, đúng liều lượng và đúng thời điểm.
8. Tôi hiểu gì về tên gọi Vô Đối Môn?
Đọc xong, tôi không nghĩ “vô đối” chỉ có nghĩa đơn giản là không phân biệt hay không còn đối đãi.
Trong suốt tác phẩm, tác giả phân biệt rất kỹ:
- Tri và kiến;
- Biết và thấy;
- Kiến giải và thực chứng;
- Giác Trí, Huyễn Trí và Thật Trí;
- Dứt Tập, chứng Diệt, tu Đạo và hành Bồ Tát đạo;
- Kiến thức làm lợi ích và kiến thức trở thành sở tri chướng;
- Người có thể truyền đạt giáo pháp và người có khả năng khai thị tâm người.
Những phân biệt ấy rõ ràng là cần thiết. Nếu chưa phân được đâu là kiến giải, đâu là thực chứng, người học rất dễ nhận lầm. Nếu chưa biết Giác Trí chưa phải Thật Trí, người tu có thể dừng lại quá sớm. Nếu chưa biết kiến thức có giới hạn, người ta có thể lấy kiến thức làm đạo.
Nhưng theo tôi, tác giả phân biệt không phải để người đọc giữ lấy những cặp khái niệm ấy. Phân biệt là để nhận đúng bệnh và dùng đúng thuốc. Khi bệnh đã khỏi thì thuốc cũng không còn là thứ để ôm giữ.
Vì vậy, tôi cảm nhận Vô Đối Môn là cánh cửa mà người bước qua vẫn thấy rõ mọi sai biệt, nhưng không còn dùng sai biệt để tạo thêm ngã chấp. Người ấy có thể học mà không chấp cái học, có thể nói mà không mắc vào lời nói, có thể dùng quyền và thật mà không đứng về một phía, có thể làm lợi ích cho người mà không thấy mình là người ban ơn.
Đây chỉ là cảm nhận của cá nhân tôi. Tôi chưa dám nói đó là ý nghĩa đầy đủ của tên sách.
9. Điều còn lại trong tôi sau khi đọc
Kính thưa tác giả,
Sau khi đọc "Vô Đối Môn", tôi không có cảm giác mình đã hiểu được thật nhiều. Ngược lại, tôi thấy rõ hơn sự khác nhau giữa điều mình biết và điều mình thật sự làm được.
Mang danh một học giả, tôi có thể nói về vô niệm, nhưng khi ý kiến bị phản đối thì vẫn muốn bảo vệ mình. Tôi có thể hiểu vô thường, nhưng khi một việc không diễn ra theo ý muốn thì vẫn khó chấp nhận. Tôi có thể nói pháp như huyễn, nhưng được mất và khen chê vẫn còn ảnh hưởng đến tâm.
Điều đáng ngại nhất có lẽ không phải là mình chưa biết. Người chưa biết còn có thể học. Điều đáng ngại là biết chưa tới nhưng tưởng đã tới, có kiến giải nhưng tưởng là thực chứng, được một chút thanh tịnh nhưng cho rằng đã giác ngộ.
Tác phẩm khiến tôi thấy rằng người học Phật có thể thiếu dinh dưỡng ngay trước một mâm Pháp thực đầy đủ. Có thể chết khát ngay trên mạch nước. Có thể biết rất nhiều về cánh cửa đạo nhưng vẫn đứng bên ngoài cánh cửa ấy.
Những hình ảnh đó nghe gần gũi, đôi khi còn có phần hài hước, nhưng nghĩ kỹ lại thấy khá nghiêm khắc.
Tôi cũng cảm nhận tác giả không cố làm cho con đường tu học trở nên dễ dàng một cách giả tạo. Tác phẩm không nói rằng chỉ cần hiểu một câu là mọi việc đã xong. Sau sơ ngộ còn có giác ngộ chân thật. Sau giác ngộ còn phải biến Giác thành Trí. Có trí rồi còn phải học phương tiện để giúp người. Đi đến chỗ tự lợi chưa phải đã hoàn thành lợi tha.
Trong tất cả những điều đã đọc, câu khiến tôi nhớ nhất là:
“Hãy mau chóng Giác Ngộ, Giác Ngộ là vì tất cả mọi người, chứ không phải vì bản thân này.”
Câu này làm cho ý nghĩa giác ngộ trở nên rộng hơn rất nhiều. Nếu giác ngộ chỉ để bản thân có được một chỗ yên ổn, thì vẫn chưa đi hết con đường. Giác ngộ phải sinh trí tuệ. Trí tuệ phải mở ra từ bi. Từ bi lại cần phương tiện, nếu không, dù có lòng tốt cũng chưa chắc giúp được người.
Tôi xin cảm ơn tác giả đã viết một tác phẩm buộc người đọc không chỉ tìm câu trả lời trong sách, mà còn phải nhìn lại việc học và tu của chính mình.
Tôi nghĩ Vô Đối Môn không phải cuốn sách đọc một lần là xong. Có phần hiện tại tôi chỉ hiểu bằng kiến thức. Có phần cần suy nghĩ thêm. Có phần phải đem vào đời sống để kiểm tra. Và chắc chắn có những phần, nếu bản thân chưa đi đến cảnh giới tương ứng, thì dù cố giải thích vẫn chỉ là kiến giải.
Vì vậy, tôi không dám nói mình đã hiểu hết tác phẩm.
Tôi chỉ có thể nói rằng sau khi đọc, tôi không còn dễ dàng tin vào cái hiểu của mình như trước. Tôi bắt đầu thấy cần phải tự hỏi nhiều hơn: điều này mình thật sự thấy hay chỉ nghe người khác nói? Điều này đã trở thành đời sống hay vẫn chỉ là kiến thức? Việc học này đang làm mỏng cái tự ngã hay đang âm thầm làm cái tự ngã lớn thêm?
Đối với tôi, chỉ riêng việc tác phẩm làm nảy sinh những câu hỏi ấy đã là một lợi ích lớn.
Kính chúc tác giả luôn mạnh khỏe, thân tâm an lạc và tiếp tục chia sẻ những điều tâm huyết, để người học Phật có thêm cơ hội nhìn lại con đường của mình, biết chỗ nào cần đi tiếp, chỗ nào cần dừng và điều gì cần xả.
Trân trọng và thành kính tri ân tác giả.
11/09/2026 - 11:09:10
Người viết Chân Thiền - Hà Nội" (Hết thư)
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú "liên hệ đến sách hoặc các bài viết" của mình từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
11/09/2026
LÝ TỨ
Đọc Sách Mà Được Thiền !!!
Các bạn !!!
Mình vừa nhận được thư của bạn đọc Thanh Quang ở Hà Nội...Trong thư, Thanh Quang cho biết, nhân đọc sách của mình và nghe youtube mà "được thiền"...!!!
Theo mình, một người nhân đọc sách, nghe youtube mà được thiền, người này thuộc loại "hàng hiếm" trên đời...Bởi lẽ, phần lớn người tu hành, muốn được thiền, đa số phải học tập để giác ngộ, thiền tự sanh...hoặc, một số người do công phu miên mật nên tâm thức dừng lặng vì thế được thiền...!!!
Xin chúc mừng Thanh Quang, tin này làm mình cũng vui lây...Vì, ít ra những gì mình viết trong sách cũng đã có thể giúp bạn đọc cảm nhận và gặt hái thành quả bước đầu...!!!
Về các thắc mắc của Thanh Quang, xin được giải thích như sau:
1- Được thiền:
a) Tất cả hữu tình, khi tâm thức dừng lặng, các thiền thú lần lượt xuất hiện...Hình ảnh được thiền khi Thái Tử tham dự Lễ Tịch Điền cùng Vua Cha lúc chín tuổi là một ví dụ...!!! Và thời lượng thiền trú, thứ lớp các thiền thú mà tâm cảnh đạt đến tuỳ thuộc vào ngưỡng huân lắng tâm thức...!!!
b) Không nhất thiết người được thiền khi ngủ thiền trú chấm dứt như Thanh Quang đã viết mà, có đôi khi trong giấc ngủ tâm thức vẫn an trú trong thiền, chỉ vì lúc đó tâm thức không ghi nhận được...Giống như tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ, ta ngủ hay thức nó cũng gõ đều đặn, nhưng lúc ngủ, các căn tạm đóng nên ta không ghi nhận tiếng tích tắc của nó...!!!
c) Sơ thiền có năm chi gồm: Tầm (giác), tứ (quán), hỉ (vui vẻ), lạc (an lạc), nội tĩnh nhất tâm (an định)...Hiện tượng ý căn hoạt động linh mẫn, nhạy bén...vv...như bạn đã mô tả chính là hoạt dụng từ giác quán của thiền đầu tiên...!!!
d) Khi một thiền thú nào đó viên mãn thì một số thiền chi của thiền thú đó cũng mất đi do "trạng thái bão hoà" tâm thức...Thông thường: Sơ thiền đủ năm chi, nhị thiền còn ba (mất giác quán), tam thiền còn hai (mất hỉ còn lạc), tứ thiền cả lạc cũng tịch diệt (bất khổ bất lạc)...Vì thế, chuyện các thiền chi lần lượt mất đi là lẽ tự nhiên của tâm thức...Giống như người nghèo khổ, bỗng dưng được khối tài sản lớn, vừa được khối tài sản người ấy vui vẻ, an lạc, tính toán, nói cười sung mãn...vv...Sau một thời gian, tâm thức bão hoà, tính toán nợ nần không còn (hết giác quán), niềm vui cũng mất (mất hỉ), lạc thú có tiền cũng không xuất hiện (mất lạc), trở lại đời sống bình thường (li hỉ trú xả), tâm trạng lo sợ nghèo đói cũng "cao chạy xa bay" (bất khổ bất lạc)...!!!
2- Tứ gia hạnh:
Đây là pháp hộ trì của người vừa giác ngộ...Người vừa giác ngộ, sức giác ngộ còn yếu ớt, mỏng manh như quả trứng mới sanh...Để bảo vệ quả trứng an toàn đến khi thành con, gà mẹ phải ấp những quả trứng ấy...!!! Người mới giác ngộ "ấp đạo quả" mình vừa thành tựu thông qua bốn pháp của Tứ gia hạnh cũng như thế...!!! Bốn pháp của Tứ gia hạnh gồm: Noãn vị, nhẫn vị, đảnh vị, thế đệ nhất vị...!!!
3- Để có thể đọc, hiểu kinh Đại thừa:
a) Kinh Đại thừa là loại kinh dùng để giáo hoá Bồ tát sau khi vị này đã giải quyết phần tự độ...Cụ thể, đã giải quyết xong ba cấp học là: Khổ đế, Tập đế và Diệt đế...!!!
Ta có thể hiểu, đạo của chư Phật là đạo của "những người mắt sáng" (không có Nhuận chi vô minh và Căn bản vô minh)...Chúng sanh như người mù bẩm sinh, người mù bẩm sinh muốn học đạo của người mắt sáng phải chữa cho hết mù (dứt hai thứ vô minh kể trên)...!!!
Khổ và tập đế giúp chúng sanh mù tối hết Nhuận chi vô minh...Diệt đế giúp chúng sanh mù tối hết Căn bản vô minh...!!! Sau khi hết hai thứ vô minh làm cho mù tối gọi là "minh tâm kiến tánh"...Hữu tình ấy với đôi mắt sáng, người này mới đủ điều kiện để học "đạo của những người mắt sáng" gọi là học Đạo đế hay Tu đạo...!!! Giống như người mù muốn học "đạo hội hoạ" phải chữa lành đôi mắt, vì mù loà không thể lãnh hội trọn vẹn vẻ đẹp của thế giới hội hoạ...!!! Đây là lí do vì sao trình tự bốn đế gồm: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế không thể đảo ngược như lời dạy từ kinh Đại Bát Niết Bàn...!!! Giống như, chưa hoàn thành cấp Tiểu học (Khổ đế), cấp Trung học cơ sở (Tập đế), cấp Phổ Thông Trung Học (Diệt đế), chưa đủ điều kiện thi tuyển Đại học và sau Đại học (Đạo đế)...!!! Và, đây cũng là lí do vì sao 500 gã Tăng thượng mạn (chưa chứng A la hán, Diệt đế, tự xưng đã chứng) phải rời pháp hội Diệu Pháp Liên Hoa (Pháp hội dạy Đạo trí tuệ của chư Phật, gọi nôm na là khai, thị, ngộ, nhập Phật tri kiến)...!!!
b) Sau khi chứng Diệt đế, để diệt tận các "tập khí thiện lành" trong quá trình chữa mù còn thừa sót (giống dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong cây trồng), cản trở con đường học tập đạo tối thượng của chư Phật (Đạo đế)...Người này phải thực hành các pháp Ba la mật...Các pháp Ba la mật chính là liều thuốc làm tiêu thất những tập khí thiện lành như: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục...vv...mau chóng "đáo bỉ ngạn"...!!! Các pháp lành có đáo bỉ ngạn, tâm thức người chứng Diêt đế mới thật sự "rốt ráo không", thể nhập "vô vi cảnh giới"...Vì thế, rốt ráo không vừa là nền tảng, vừa là điều kiện để người học lãnh hội trọn vẹn Đạo đế hay Đạo trí tuệ của chư Phật (Đạo vô vi)...!!! Đây cũng là lí do vì sao Tứ đế được chia thành hai đế gọi là Nhị đế, đó là Hữu vi đế hay thế đế và Vô vi đế hay Xuất thế gian đế...!!!
d) Như vậy, ta có thể hiểu, điều kiện để có thể đọc tụng các kinh thuộc giáo pháp Đại thừa, tức học phép độ tha (gọi là học Nhất thiết trí), người học phải giải quyết phần tự độ thông qua ba cấp học Khổ đế, Tập đế và Diệt đế rồi mới có thể học đạo độ tha của chư Phật tức Đạo đế...!!! Giống như trước khi Thiện Tài Đồng Tử cầu Nhất thiết trí, tâm vị ấy như hư không (rốt ráo không), tất cả công đức có được đều hồi hướng cho chúng sanh (nguyện độ tha)...!!!
4- Thay vì trả lời các câu hỏi của Thanh Quang, sau khi đọc những phân tích ở trên, chắc chắn Thanh Quang sẽ nhận ra mục tiêu của Phật đạo là gì, các bước học tập như thế nào và từ đó có thể tự trả lời các thắc mắc của bản thân đã nêu trong bài viết...!!!
Chúc Thanh Quang và bạn đọc an vui, tinh tấn, thành công trong học tập...!!!
Sau đây là thư của bạn đọc Thanh Quang !!!
"Kính chào thầy Lý tứ!
Lời đầu tiên cho con xin chân thành gửi lời chúc sức khỏe, lời vấn an của con tới thầy. Thật vô cùng vui sướng khi biết thầy đã tiến triển về bệnh mắt, để tiếp tục trả lời các vướng mắc của một chúng sinh đang tìm đạo như con. Thầy ơi, xin cho phép con đặt 03 câu hỏi của mình trong thời gian vừa qua:
1- Về trạng thái thiền:
Từ khi học các sách Tâm pháp, Anh lạc luận của thầy, nghe giảng trên Youtube; Con đã hiểu các pháp (quan điểm, quan niệm của mình), các tâm là hư vọng; và nó không thật có; nên trong lòng đã vắng lặng, an yên đôi lần. Thi thoảng, trạng thái thiền xuất hiện, khoảng 1 tuần 1 lần, có lần hiểu ra thì vài lần 1 tuần; Nhưng khi đi ngủ thì hết và nó có đặc tính mà con không thấy trong sách vở, cụ thể như sau:
- Nếu trước khi trạng thái thiền, mà khởi tâm tạo tác, mong cầu, suy nghĩ vẩn vơ thì nó không xuất hiện; Khi nó xuất hiện rồi, thì ý căn, suy nghĩ vẫn hoạt động linh mẫn, nhanh nhẹn mà trạng thái này không mất; chỉ mất đi khi ngủ.
- Ban đầu có hỷ lạc, khinh an đầy đủ; Nhưng càng ngày, trạng thái khinh an, lâng lâng bị mất, chỉ còn cảm giác an định, vui nhẹ nhẹ mà thôi, rồi dần dần chỉ có an định. Câu hỏi của con là trạng thái này của con có vấn đề gì khác thường không?
2- Về pháp Tứ gia hạnh:
https://lytu.vn/tam-phap-ly-tu-san-khau-cuoc-doi-co-khong.... Trong trang web này, mô tả 1 chương trong sách tâm pháp; phần đảnh vị lại có câu : “..quyết tâm đoạn tuyệt cái tâm sinh pháp...”, hay “..Vô Sanh Pháp Nhẫn nghĩa là tâm không sanh pháp..”
Con hiểu trong tinh thần pháp Tứ gia hạnh, là khi thấu suốt 1 điều gì, thì phải phân tích thấu đáo cho đúng nguồn cơn, thấu suốt rồi thì niệm niệm không rời cái thấu suốt này, rồi biến nó thành đời sống, để trong lòng không khởi tâm nghĩ đến nó mà hành xử tự nhiên như cái thấu suốt, chứ không phải gặp cảnh thì lại đem ra phân tích, lý luận diễn giải nữa; Sâu hơn ở giai đoạn giải thoát, là tự thấy cái tâm vốn không có gì, tự nó không có gì nên gặp cảnh không sinh pháp, chứ không cần giác, cần quán điều gì. "Tâm sinh pháp” con hiểu như vậy, chứ không phải là định nghĩ về tâm là hiệu ứng tình cảm khi 3 duyên hòa hợp, hoặc pháp “tha tâm thông” mà thầy nói là biết tâm này là do các pháp (quan điểm, quan niệm) mà sinh ra, vì ý nghĩa nó hơi có sự trái ngược, có phải vậy không ạ ???
3- Tiếp mạch suy nghĩ trên, con cho rằng có thể dùng nó để khai thác, đọc hiểu các kinh Bát nhã hay đi vào trạng thái sâu hơn. Tức là phải thấy các pháp, thấy tâm vốn không có, do duyên mà hợp – không thật có (mất đi do duyên), nên đến pháp lành cũng phải bỏ, Phật pháp cũng phải bỏ; Nếu cứ dựa vào cái pháp đó, thì nó vẫn sinh ra một cái gì đó, vẫn là đối đãi nhị nguyên.
- Ví dụ ta bố thí, trì giới, nhẫn nhục nhưng vẫn chấp vào là ta làm như vậy, sẽ sinh ra đủ các loại tâm. Giả dụ khi bố thí, nhưng chấp vào bố thí thì sẽ sinh tâm bất như ý khi bị hiểu lầm, khi gặp chuyện không may (vì bố thí mà vẫn bị họa báo), vẫn sinh tâm mong cầu phúc báo...vv...khiến nguồn tâm ko thanh tịnh, an yên ???
- Giả dụ như ta trì giới, nhẫn nhục nhưng chấp vào trì giới, sinh tự mãn là ta hành pháp đúng, nhẫn nhục giỏi, tức là vẫn có tạo tác, vẫn chấp có 1 cái ta nào đó làm đúng ???
Con hiểu vậy có gì sai, có gì cần sửa không ạ ???
Một lần nữa, xin tri ân công đức thầy!
Kính mong thầy khỏe mạnh, trụ thế dài lâu !!!
08/09/2026 - 15:35:38
Thanh Quang - Hà nội" (Hết thư)
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú "liên hệ đến sách hoặc các bài viết" của mình từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau:
https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
10/09/2026
LÝ TỨ
Một Bài Viết Lạ Lùng !!!
Các bạn !!!
Chuyên mục nhận được một bài viết rất dài, dài ước chừng trên mười trang A4, đã gởi vào trang tính của Lý Gia vào hồi 11:07:18 ngày 02/09/2026 ghi tên là Diệu Nhật (19 tuổi) ở Hà Nội...!!!
Điều đáng nói thứ nhất là: Bài viết không mở bài theo thông lệ một bức thư hay văn bản...Tức, chẳng có mở đầu cũng như không ghi rõ người nhận là ai và có yêu cầu gì với những lời lẽ trong đó...!!! Cuối bài, cũng chẳng khác gì đầu bài...!!! Một văn bản "trổng trổng", đọc lên không thể biết người viết muốn gì...!!! Có thể nói, lần đầu tiên, Lão Lý bắt gặp cách hành văn kiểu này từ ngày chuyên mục ra đời đến nay...!!!
Thứ hai là: Nội dung bài viết "hình như chất vấn Lý Tứ về một số quan điểm trong vài cuốn sách như Phật Giáo Và Thiền, Anh Lạc Luận, Tâm Tông Và Trò Chơi Trí Tuệ (nhưng ghi là Trò Chơi Ngôn Ngữ)..." Đọc cách hành văn cũng như lập luận thì, cảm giác đây là bài viết của một người thuộc loại từng trải của lứa U80, U90 từng đọc nhiều, học nhiều, thuộc nhiều nhưng không thể tiêu hoá những gì đã học...Vì thế, chỉ biết lấy sở học để tranh biện hơn thua mà chẳng một lần "tự kiểm rằng những điều ta đã học giúp ích gì cho mình cho người ???"...Nghi chẳng phải văn vẻ của một người trẻ 19 tuổi như tác giả đã ghi...!!!
Thứ ba là: Bài viết dài lê thê, nội dung khó hiểu, dẫn chứng lung tung...Lý Tứ phải đọc rất nhiều lần mới có thể cảm nhận tác giả muốn gì...!!! Rốt lại, do viết tràng giang, dẫn giải quá nhiều theo cách dùng thế luận, mọt sách để phản biện (hay hỏi) về nghĩa xuất thế (như con nai cãi con cá...ông nói gà bà hiểu vịt) nên lời lẽ thì nhiều mà chẳng có trọng tâm...!!! Lý Tứ sẽ tóm lược cho dễ hiểu và trả lời ở phần sau !!!
Thứ tư là: Lý Tứ đắn đo mãi, với một bài viết "vu vơ, trổng trổng" thế này, chẳng yêu cầu người đọc, chẳng yêu cầu trả lời, chẳng có mục đích rõ ràng, thậm chí chẳng "chào hỏi xã giao"...Hành xử theo kiểu văn hoá "bờ bụi", lại còn viết "sai tên sách", nghi đánh tráo tuổi tác...vv...Liệu có nên trả lời hay không ???
Thứ năm là: Sau khi đắn đo, Lý Tứ quyết định "trả lời một lần" coi như "thù tạc người dưng" (sẽ không có lần thứ hai)...Để mai mốt khỏi mất công nhận được những "bài viết vớ vẩn" kiểu này, một thứ chất vấn ta thường gặp từ những cái bụng căng cứng vì bội thực giáo pháp, đòi chứng minh "tâm thức" thông qua "thế giới tự nhiên" buộc "cái râu của đạo pháp phải mọc trên cái cằm của bình bàn" thì đúng là phiền toái...Mắt đã kém, đọc bài viết kiểu này thì đúng là "ô hô ai tai" (phiền)...!!!
Thứ sáu là: Bạn trẻ Diệu Nhật (19 tuổi) à...!!! Đọc sách là một chuyện, hiểu sách là một chuyện...Đạo pháp có vô lượng cảnh giới, vô lượng cách dẫn dụ, vô lượng phương tiện...Ta đứng ở cảnh giới nào để đọc, để phán xét đúng sai đây...???!!!
Thứ bảy là: Muốn chất vấn, phản biện hay so sánh bất cứ một thứ gì trên đời (hoặc đạo pháp), phải biết rõ hai thứ ấy chứ...Nhược bằng, ta chỉ biết một mà không biết hai, hoặc không biết cả hai thì hành động tốt nhất của kẻ trí là, hãy để đó, tìm cách học tập xem nó là gì... khoan vội kết luận, phán xét...!!!
Thứ tám là: Mình biết Lý Gia có rất nhiều khoá học hoàn toàn miễn phí...Diệu Nhật có thể đăng kí vào các lớp ấy để học...Mình tin rằng, chỉ sau vài ba tháng thôi, những băn khoăn, thắc mắc về những gì bạn nêu, nhất định bản thân sẽ tự trả lời thoả đáng...Đăng kí theo hotline: 0706009900...!!! Đừng ngại...!!!
Thứ chín là: Chúc Diệu Nhật an vui, tinh tấn...!!! Đạo pháp tránh dài dòng, nhất là nói hay viết mà chẳng biết ta đang nói hay viết gì...!!!
Thứ mười là: Tóm tắt những điều Diệu Nhật muốn hỏi và trả lời:
1- Phật dạy: "Y nghĩa bất y ngữ"...Câu này có nghĩa nên y theo ý nghĩa mà học tập, mà ứng dụng, chứ đừng chạy theo câu chữ...Cứ bắt ta và người nói, viết theo đúng nguyên văn mới chịu thì "khó tiêu hoá" văn tự kinh đấy...!!!
2- Kinh Nikaya hay Đại thừa...Không nên bảo rằng, "kinh nào gần Phật, độ chính xác sẽ cao hơn" mà, kẻ trí hãy xem trong các bài kinh đó, lời nào giúp ta hết khổ, phiền não, kiết sử, an vui, có trí tuệ...vv...thì lấy đó ứng dụng...Còn lời nào ta chưa hiểu hay không ứng dụng được thì để cho đương cơ khác...Thế thôi...!!!
3- Mình viết, "Phật dạy: Người tu nên y theo giới luật và nghĩa kinh tu học" (Tinh thần Di Giáo) thì sai chỗ nào ??? Tại sao lại phải nói hay viết y như văn tự kinh ??? Tóm tắt cho dễ nhớ lỗi gì ???!!!
4- Toàn bộ kinh điển không phải dùng để dạy người lần lượt trải qua các tầng cảnh giới của tục đế, thánh đế, chân đế...vv... hay sao ??? Tại sao phải lấy một hoặc vài bài kinh rồi chứng minh rằng không có các tầng ấy, buộc người viết phải dẫn chứng các tầng ấy ở kinh nào ??? Nên tự đọc tự tổng kết đi chứ...!!!
5- Người tu hành nào không biết: "Giới luật và Ba la đề mộc xoa có mối quan hệ mật thiết, tuy không hoàn toàn giống nhau về mặt ngữ nghĩa rộng, nhưng Ba la đề mộc xoa chính là phần cốt lõi, là tập hợp các giới điều căn bản nằm bên trong hệ thống Giới luật Phật giáo"...Vì thế, trong một vài hoàn cảnh nào đó, người viết dùng giới luật hoặc Ba la đề mộc xoa thì có gì sai ???
6- Cách giải thích Tứ Đế mà bạn đã nêu...Thử hỏi, có ai từng học đạo mà không biết, không thuộc, không nói lại vanh vách...!!! Nhưng việc biết, thuộc, nói lại ấy đã thật sự giúp ta thành tựu các mục tiêu đạo pháp hay không...??? Tại sao ta lại không chấp nhận cách giải thích khác và thử ứng dụng xem cách giải thích khác mà ta vừa nghe có giúp ta được gì chăng ??? Cố chấp, theo lối mòn...vv...không phải là lối thoát của người trí...!!!
7- Phật dạy "Duy tuệ thị nghiệp"...Nếu trí tuệ trong lời dạy này là vô thường như suy luận, tranh biện của bạn thì, không lẽ Phật đi dạy "sự nghiệp vô thường" cho chúng sanh...!!!??? Người trí có nên ngồi đó xét nét, tranh biện (hí luận) xem thứ trí mà Phật đã dạy là thường hay vô thường...Hay nên một lòng đi cầu thứ trí tuệ đó !!!???
8- Tóm lại: Rất mong Diệu Nhật đăng kí vào Lý Gia học tập để mọi thứ dần sáng tỏ...Hơn là, ngồi đó tranh biện đúng sai những điều ta chưa thấu đáo...!!! Chúc Diệu Nhật và bạn đọc an vui, tinh tấn...!!!
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú "liên hệ đến sách hoặc các bài viết" của mình từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
03/09/2026
LÝ TỨ
Bệnh Cũ Tái Phát !!!
Các bạn !!!
Chuyên mục "Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời" do Lý Tứ phụ trách trên Fanpage đã tạm dừng từ tháng 06/2026...Tính đến nay đã được ba tháng...!!!
Trong ba tháng qua, có lẽ do tôn trọng quyết định của mình...Nên, bạn đọc bốn phương không gởi bất kì câu hỏi nào liên hệ đến giáo pháp về chuyên mục, nếu có chỉ vài ba thư thăm hỏi từ bằng hữu thân thiết của chuyên mục như những gì mình đã đăng lên trang...Nhờ thế, quá trình chữa trị, cũng như tĩnh dưỡng đôi mắt tiến triển rất tốt...!!! Cũng trong ba tháng qua, căn bệnh mãn tính "ghiền đọc viết" cũng được "cai" tạm tạm...!!!
Bất ngờ sáng nay, chuyên mục nhận được thư của bạn đọc trẻ Pháp Vân ở Vũng Tàu...Ngoài việc thăm hỏi, bạn ấy còn đề cập đến một số thắc mắc liên quan đến cuốn sách Vô Đối Môn...!!! Thế là, "bệnh cũ tái phát", cơn "nghiện đọc viết" lại có cơ hội sống dậy với lí do: "Trả lời bạn đọc trước những thắc mắc liên quan đến sách, là trách nhiệm của tác giả...Con ai nấy chịu, không thể rụt đầu, thè lưỡi, từ chối..." Với lí do rất chi vững chắc vừa nêu, đã hoàn toàn thuyết phục mình...Cho nên, Lão Lý chấp nhận để bệnh cũ tái phát mà không chút do dự...!!! Ha ha ha ha !!!
Sau đây là, nội dung thư của bạn đọc trẻ Pháp Vân:
"Kính gửi Thầy Lý Tứ,
Trước hết, con xin phép được hỏi thăm sức khỏe Thầy. Con được biết Thầy đã tạm dừng chuyên mục “Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời” để điều trị mắt. Không biết hiện nay mắt Thầy đã bình phục chưa ạ?
Nếu sức khỏe Thầy đã ổn và thuận tiện, con xin mạo muội được hỏi Thầy ba điều. Nếu hiện tại Thầy chưa tiện trả lời, con xin Thầy hoan hỷ bỏ qua vì con đã đường đột làm phiền Thầy.
Con là người trẻ cũng có nhiều năm tiếp xúc với Đạo Phật - đi chùa, tụng kinh, ngồi thiền nhưng chưa đạt được kết quả như mong muốn. Gần đây con được một người bạn tặng một vài đầu sách của Thầy. Con rất ấn tượng vì sự thay đổi tích cực của bạn con, nên con quyết định nghiêm túc đọc, nghiền ngẫm sách của Thầy.
Khi đọc Vô Đối Môn, con gặp đoạn Thầy nói về dừng vọng khởi phân biệt, trong đó có ba cách. Con xin Thầy chỉ dạy rõ hơn:
1. Về cách thứ nhất:
Thầy nói dùng Giác Trí để phân biệt đúng sai, dùng thiện pháp chế ngự ác pháp.
Vậy sự “phân biệt đúng sai” bằng Giác Trí này có còn là phân biệt hay không? Giác Trí phân biệt khác vọng phân biệt ở điểm nào?
2. Về cách thứ hai:
Thầy nói chặn đứng vọng phân biệt từ ý thức, sử dụng phép tu Tam Ma Đề.
“Chặn đứng vọng phân biệt” có phải là khi vọng niệm vừa khởi thì không để ý thức tiếp tục suy nghĩ, phân tích, yêu ghét theo nó? Nếu vậy, làm sao phân biệt việc chặn vọng phân biệt với việc dùng ý thức để đè nén vọng tưởng? Đối tượng của Tam Ma Đề ở đây là gì ạ?
3. Về cách thứ ba:
Thầy nói giác ngộ đầy đủ về Tứ Niệm Xứ thì vọng phân biệt không sinh, kiết sử tịch diệt.
Xin Thầy chỉ rõ: Giác ngộ đầy đủ về Tứ Niệm Xứ ở đây là giác ngộ cái gì ạ? Vì sao giác ngộ Tứ Niệm Xứ lại khiến vọng phân biệt không sinh? Có phải khi thấy rõ thân, thọ, tâm, pháp đúng như thật thì sự mê chấp không còn, nên không còn nguyên nhân để vọng phân biệt và kiết sử sinh khởi?
Và cuối cùng, con xin hỏi: Ba cách trên là ba phương pháp độc lập, hay là ba mức độ khác nhau của việc dừng vọng phân biệt? Một người mới học như con thì nên bắt đầu từ cách nào?
Con biết những câu hỏi này có thể còn đơn giản, ngây ngô. Con chỉ mong được Thầy chỉ cho chỗ con hiểu sai để có thể học và thực hành cho đúng.
Nếu hiện tại Thầy vẫn đang điều trị mắt và chưa thuận tiện trả lời, con xin phép được chờ khi Thầy khỏe hơn.
Con kính chúc Thầy đôi mắt sớm bình phục, thân tâm thường an lạc ạ.
Con kính lễ Thầy.
31/08/2026 - 16:02:15
Pháp Vân - Vũng Tàu" (Hết thư)
Pháp Vân và bạn đọc thân mến !!!
Lời đầu tiên, Lý Tứ xin chân thành cảm ơn những lời thăm hỏi của Pháp Vân...!!! Về việc điều trị, đôi mắt tiến triển rất tốt, gần như có thể làm việc bình thường...!!!
Những thắc mắc của Pháp Vân...Lý Tứ xin được trả lời như sau:
- Hỏi:
1. "Về cách thứ nhất:
Thầy nói dùng Giác Trí để phân biệt đúng sai, dùng thiện pháp chế ngự ác pháp.
Vậy sự “phân biệt đúng sai” bằng Giác Trí này có còn là phân biệt hay không? Giác Trí phân biệt khác vọng phân biệt ở điểm nào?"
- Trả lời:
a) Để có giác trí, người tu hành cần học tập giáo pháp một cách bài bản và kiến thức được học phải chuẩn...!!! Việc học này, giúp ta có được nhận thức như pháp, tạm gọi là "chánh giác"...Nhân ứng dụng triệt để sở học vào thực tiễn cuộc sống, sẽ cho ra "giác lực, định lực và huệ lực"...Quá trình đã nêu hình thành "giác trí"...!!!
b) Dùng giác trí để thay đổi nhãn lực, cụ thể từ "nhục nhãn" chuyển trực tiếp đến "pháp nhãn" mà không cần thông qua "thiên nhãn"...!!!
Cái thấy từ pháp nhãn hoàn toàn không giống cái thấy vọng phân biệt của thế gian (nhục nhãn)...Mà nó là "sự hóa kiếp tâm thức" một cách hoàn hảo từ "phàm sang thánh"...Cho nên, phân biệt ở cảnh giới này không hề giống vọng phân biệt của ý thức...Vì thế, mọi so sánh giống hay khác khi "tâm thức chưa được hoá kiếp" đều không thỏa đáng...!!! Kinh gọi cảnh giới này là "Thánh trí sự phân biệt bất khả tư nghì"...!!!
c) Bạn nào đó của Pháp Vân có sự thay đổi tích cực trong đời sống mà Pháp Vân cho là "ấn tượng"...Có lẽ nhờ bạn ấy đã được học tập trong môi trường lí tưởng như mình đã nêu...!!! Pháp Vân có thể hỏi bạn ấy học ở đâu để cùng nhau học tập...!!!
- Hỏi:
2. "Về cách thứ hai:
Thầy nói chặn đứng vọng phân biệt từ ý thức, sử dụng phép tu Tam Ma Đề.
“Chặn đứng vọng phân biệt” có phải là khi vọng niệm vừa khởi thì không để ý thức tiếp tục suy nghĩ, phân tích, yêu ghét theo nó? Nếu vậy, làm sao phân biệt việc chặn vọng phân biệt với việc dùng ý thức để đè nén vọng tưởng? Đối tượng của Tam Ma Đề ở đây là gì ạ?"
- Trả lời:
Đối với giáo pháp, Tam ma đề hay các phép tu thông dụng (công phu) khác chỉ được sử dụng như "biện pháp tình thế", mang tính đối trị khi người tu hành "không hoặc chưa" được học tập giáo pháp chân chính nhằm chuyển hóa tâm thức như pháp...!!!
Tam ma đề, là một trong những hình thức "dùng ý chí hay một sở pháp bức tử, cô lập, chế ngự ý thức"...!!! Khi ý thức bị bức tử, cô lập hoặc tạm thời chế ngự, vọng phân biệt cũng tạm thời không sinh khởi...Nhưng, khi ý thức thoát khỏi vòng cương tỏa của ý chí, hoặc biện pháp nào đó như công phu, nó sẽ sống dậy mãnh liệt hơn...Biện pháp tình thế này không nhổ tận gốc phân biệt, phiền não khổ...Người xưa gọi là "lấy đá đè cỏ", hay "dùng thuốc giảm đau thay thuốc đặc trị"...!!!
- Hỏi:
3. "Về cách thứ ba:
Thầy nói giác ngộ đầy đủ về Tứ Niệm Xứ thì vọng phân biệt không sinh, kiết sử tịch diệt.
Xin Thầy chỉ rõ: Giác ngộ đầy đủ về Tứ Niệm Xứ ở đây là giác ngộ cái gì ạ? Vì sao giác ngộ Tứ Niệm Xứ lại khiến vọng phân biệt không sinh? Có phải khi thấy rõ thân, thọ, tâm, pháp đúng như thật thì sự mê chấp không còn, nên không còn nguyên nhân để vọng phân biệt và kiết sử sinh khởi?"
- Trả lời:
a) Không học tập giáo pháp để giác ngộ chân thật...Tâm thức con người sẽ có vô số thứ dẫn đến mê lầm, phân biệt hư vọng...Trong đó, Tứ niệm xứ là bốn đầu mối quan trọng sản sinh ra mọi bế tắc vừa nêu...!!!
Vì thế, muốn chấm dứt hoàn toàn mê lầm, vọng phân biệt...Phật đạo chỉ ra, phải học tập giáo pháp để có nhận thức đúng với bản chất (sự thật, thiệt tướng) của Tứ niệm xứ (gốc rễ mọi mê lầm)...!!! Giống như người nhặm mắt thấy đèn có quầng, mắt hết nhặm, quầng đèn tự diệt...!!!
b) Giác ngộ Tứ niệm xứ là giác ngộ bốn xứ ấy: Không tự tánh (không tánh), không tự tướng (không tướng), không tự ngã (vô ngã)...!!!
- Hỏi:
4. "Và cuối cùng, con xin hỏi: Ba cách trên là ba phương pháp độc lập, hay là ba mức độ khác nhau của việc dừng vọng phân biệt? Một người mới học như con thì nên bắt đầu từ cách nào?"
- Trả lời:
a) Ba pháp trên là ba pháp độc lập...Tùy đối tượng và hoàn cảnh học tập...Người tu hành sẽ được hướng dẫn cụ thể...!!!
b) Người chưa học tập giáo pháp chân chính...Chỉ có thể tạm sử dụng phép tu Tam ma đề như giải pháp tạm thời "chữa đám cháy điên cuồng" vọng phân biệt...!!! Muốn giải quyết tận gốc phàm tình, không có cách nào khác hơn là: "Phải học tập"...!!!
Hi vọng, những trả lời vừa rồi, có thể giúp Pháp Vân và bạn đọc tìm được môi trường học tập lí tưởng trong hành trình chuyển hoá tâm thức...!!!
Chúc Pháp Vân và bạn đọc khỏe, an vui, tinh tấn, thành ở đời, đạt ở đạo...!!!
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú "liên hệ đến sách hoặc các bài viết" của mình từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau:
https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
01/09/2026
LÝ TỨ
Tạm Dừng Tiếp Nhận Thắc Mắc !!!
Các bạn !!!
Do làm việc và tiếp xúc thời gian dài với màn hình máy tính...Hiện nay mắt của mình không khoẻ, cần điều trị và nghỉ ngơi một thời gian...!!!
Vì thế, chuyên mục BẠN ĐỌC HỎI - LÝ TỨ TRẢ LỜI tạm thời ngưng tiếp nhận các thắc mắc từ bạn đọc kể từ hôm nay (11/06/2026)...!!! Khi nào, đôi mắt khoẻ, chuyên mục hoạt động trở lại, BQT sẽ có thông báo cụ thể...!!!
Để tránh tiếp xúc (đọc và trả lời) màn hình...Rất mong mọi người sau khi nhận thông báo này, không bình luận, nhắn tin qua messenger hay gởi lời thăm hỏi trên các nền tảng trực tuyến...Mong bạn đọc và các bằng hữu thông cảm...!!!
Chúc mọi người khoẻ, an vui, tinh tấn, thành công...!!!
Trân trọng !!!
11/06/2026
LÝ TỨ
Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời Số 54.2025 với chủ đề: Thay Đổi Nhận Thức Tận Gốc !!!
Các bạn !!!
Mình vừa nhận được một số thắc mắc của bạn đọc Minh An ở Bình Dương...!!!
Lời đầu tiên, cảm ơn Minh An đã tìm đọc những cuốn sách của mình và còn ứng dụng những điều đã đọc vào cuộc sống...!!! Với người viết sách như mình, hạnh phúc nhất đó là được độc giả quan tâm đến tác phẩm, coi trọng những điều đã viết...Một lần nữa, cảm ơn Minh An...!!! Chúc bạn gặt hái được kết quả tốt trong quá trình chuyển hoá tâm thức...!!!
Nội dung các câu hỏi của Minh An như sau:
"Dạ con kính chào Thầy ! Đã hơn 5 tháng con được Thầy chỉ dạy nơi thỉnh sách về để được học hiểu thấu đáo hơn. Kính ơn những tâm huyết Thầy đã trao trọn trong từng quyển sách cho những người hữu duyên như chúng con ạ !
Thầy ơi, trong quá trình thực hành, còn có vướng ở chỗ này, kính mong được Thầy chỉ dạy:
1- Lý ra khi mình đã "nhận thức" rõ bản chất của một vấn đề thì mình sẽ không bị nó ràng buộc nữa. Nhưng sao con biết móc nón len, tạo ra sản phẩm mới, dễ thương...để tặng các Bé vùng cao... dù tận cùng đi nữa, nó cũng không có lợi ích nhiều cho mục tiêu Giác Ngộ, Giải Thoát, Trí Tuệ. Suy cho cùng nó vẫn còn là việc thiện nhỏ ở đời. Vậy sao cứ không thấy mẫu mới thì thôi, cứ thấy là con lại không dừng được cái ý nghĩ phải đi lấy cây kim, cuộn len ra để tạo sản phẩm liền?
2- Có phải đó là kết quả của "nhận thức chưa thật sự tận gốc"? Hay là mình vẫn còn tham cái danh muốn là người có giá trị, biết tạo ra giá trị, ưng với cái cảm giác an tâm, mình đang không có vô dụng...Nên việc đó thúc đẩy mình hành động hả Thầy? Con cần quay lại học để "nhận thức đúng hơn", hay ngay lúc này mình cần tư duy cho đến khi nào có câu trả lời thấu đáo, đủ thuyết phục mình tự dừng từ nay trở về sau?
3- Thực hành ngay lúc này là nên làm gì ạ? Chỉ là một chuyện nhỏ, nhưng nó cũng đại diện cho những xúc đối của 6 căn với rất nhiều cảnh duyên khác mỗi ngày?
Con rất mong Thầy chỉ dạy cho con có được cái hiểu, và hành đúng hơn đối với mục tiêu Giác Ngộ, Giải Thoát, Trí Tuệ ạ!
Con kính ơn Thầy !
Kính nguyện Thầy và Anh Chị nhà Lý Gia luôn an vui, thành tựu mục tiêu ạ! 01/11/2025 - 23:49:54 - Minh An - Bình Dương"
Minh An và bạn đọc thân mến !!!
Mình sẽ lần lượt trả lời các câu hỏi của Minh An như sau:
- Hỏi:
1- "Lý ra khi mình đã "nhận thức" rõ bản chất của một vấn đề thì mình sẽ không bị nó ràng buộc nữa. Nhưng sao con biết móc nón len, tạo ra sản phẩm mới, dễ thương...để tặng các Bé vùng cao... dù tận cùng đi nữa, nó cũng không có lợi ích nhiều cho mục tiêu Giác Ngộ, Giải Thoát, Trí Tuệ. Suy cho cùng nó vẫn còn là việc thiện nhỏ ở đời. Vậy sao cứ không thấy mẫu mới thì thôi, cứ thấy là con lại không dừng được cái ý nghĩ phải đi lấy cây kim, cuộn len ra để tạo sản phẩm liền?"
- Trả lời:
a) Thông thường, từ nhận thức đến hành động gồm cả một quá trình rèn luyện...!!! Vì rằng, có rất nhiều thói quen, tập khí...vv...đã huân tập trong đời hình thành nghĩ suy, hành động mà một lúc ta chưa thể thay đổi được...!!! Vấn đề ở đây là, ta có quyết tâm thay đổi hay không mà thôi...Theo mình, nếu ta quyết tâm thì, sớm muộn gì cũng thay đổi được...!!!
b) Bất kì một hành động, một việc làm nào đó, nhất là những việc có ích, lợi mình, lợi người...Bản chất các việc làm ấy tự nó chẳng có tánh trói buộc hay giải thoát...!!! Trói buộc hay giải thoát là do nhận thức của ta...Nếu ta "không mê" thì, tự thân các việc làm đó sẽ trở về với bản chất "không tánh" của chính nó...!!!
c) Theo mình, nhỏ hay lớn là do tâm địa chứ chẳng phải từ việc làm...Nếu tâm địa rộng lớn, biết vì người...vv...thì, một việc làm nào đó, cho dù thấy là nhỏ, nhưng giá trị tinh thần của nó không hề nhỏ...!!! Và, để đạt các mục tiêu của đạo pháp như giác ngộ, giải thoát, trí tuệ...không phải ta "chẳng làm gì hết" hoặc "chỉ làm các việc to lớn"...mà, phải nhận thức rằng, trong mỗi việc làm ấy dù nhỏ hay lớn, đều có ý vị của các mục tiêu vừa nêu, nếu ta giác ngộ chân thật...!!!
- Hỏi:
2- "Có phải đó là kết quả của "nhận thức chưa thật sự tận gốc"? Hay là mình vẫn còn tham cái danh muốn là người có giá trị, biết tạo ra giá trị, ưng với cái cảm giác an tâm, mình đang không có vô dụng...Nên việc đó thúc đẩy mình hành động hả Thầy? Con cần quay lại học để "nhận thức đúng hơn", hay ngay lúc này mình cần tư duy cho đến khi nào có câu trả lời thấu đáo, đủ thuyết phục mình tự dừng từ nay trở về sau?"
- Trả lời:
a) Khi nhận thức chưa đầy đủ, chưa thông suốt sẽ rất khó chuyển biến thành hành động...!!!
b) Theo mình, bản thân danh hay lợi không có lỗi...Mà nó là kết quả xứng đáng từ sự nỗ lực nào đó...!!! Vấn đề đặt ra là, đứng trước danh lợi ấy, nó có làm cho ta mê muội, trói buộc hay không mà thôi...!!! Nếu, trước danh hay lợi mà, hai thứ ấy không làm cho ta mê muội hay trói buộc thì, danh lợi ấy tự nó đã giải thoát rồi, đâu có gì quan trọng...!!!
c) Nhận thức đủ, đúng, thấu triệt, như pháp...Tâm thức sẽ tự dừng...!!!
- Hỏi:
3- "Thực hành ngay lúc này là nên làm gì ạ? Chỉ là một chuyện nhỏ, nhưng nó cũng đại diện cho những xúc đối của 6 căn với rất nhiều cảnh duyên khác mỗi ngày?"
- Trả lời:
Theo mình, việc làm của "người có trí" ngay lúc này là: Học tập, học tập và học tập...!!! Vì bởi, một người muốn chuyển đổi tâm thức mà không học tập giáo pháp, học không đến nơi đến chốn, học tập chẳng như pháp...vv...Nếu, người ấy muốn làm điều gì đó thì, cũng chẳng biết làm như thế nào...cho...phải...đạo...!!! Điều này dẫn đến, một việc làm nào đó tưởng chừng đang tinh tấn, nó lại trở thành "tà tinh tấn"...!!!
Cảm ơn lời chúc lành của Minh An đối với đại gia đình Lý Gia...!!!
Hi vọng, những trả lời vừa rồi, có thể giúp Minh An và bạn đọc giải toả những thắc mắc vừa nêu...!!! Chúc các bạn an vui, tinh tấn...!!!
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
02/11/2025
LÝ TỨ
Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời Số 51.2025 với chủ đề: Hiện Tại Không Dừng !!!
Các bạn !!!
Mình vừa nhận được một số thắc mắc của bạn đọc Nguyễn Quang Sáng ở Hà Nội...!!!
Lời đầu tiên, thay mặt BQT chuyên mục, xin cảm ơn bạn đọc Nguyễn Quang Sáng đã gởi các câu hỏi...!!! Và, sau đây là nội dung các thắc mắc:
"Chào thầy Lý Tứ,
Cảm ơn thầy đã trả lời những câu hỏi của tôi. Qua câu trả lời của thầy tôi lại phát sinh thêm một số câu hỏi, nhờ thầy tiếp tục chỉ giúp.
Câu 1: Thầy nói: “Muốn tịch diệt vọng tưởng, phải học tập đúng chánh pháp để giác ngộ...!!!” Tại sao thầy nói phải “học tập” mà không nói là phải “tu hành”. Chữ “học tập” của thầy có gì khác với chữ “tu hành” không?
Câu 2: Những gì thầy đang dạy học trò của mình có được coi là đúng chánh pháp không? Nếu đúng chánh pháp, thì căn cứ vào đâu để thầy xác chứng điều đó?
Câu 3: Với một người tu có mục tiêu là quả vị Tu đà hoàn. Người đó đã có nhiều thời gian công phu thiền quán, nhưng chưa thu được kết quả. Vậy theo thầy, thời điểm hiện tại, người ấy nên quán tầng nghĩa Tứ niệm xứ nào cho phù hợp với mục tiêu trước mắt là Tu đà hoàn? Các dấu hiệu nào cho thấy người đó quán Tứ niệm xứ thành công?
Câu 4: Thầy nói: “Trong các kinh điển của Phật...Mình chưa (hoặc không) thấy kinh nào Phật dạy, "người tu hành miệng phải mỉm cười"...!!!”. Vậy, theo thầy “nụ cười của ngài Ca Diếp” trong Pháp Hội Linh Sơn khi thấy Đức Phật đưa lên một cành hoa Sen, ý vị là gì? Miệng mỉm cười ở đây là thực tập nụ cười của ngài Ca Diếp thì có gì chống trái so với Kinh Điển?
Câu 5: Thầy nói: “Phật dạy: "Hiện tại không dừng" do tâm thức phàm phu sanh diệt liên tục...Như vậy, "an trú trong hiện tại" là "an trú ở đâu" ???”. Thưa thầy, câu “ “Hiện tại không dừng” do tâm thức phàm phu sanh diệt liên tục.” được Phật dạy trong Kinh nào?
Tôi biết trong Kinh “Nhất Dạ Hiền Giả” Phật có dạy:
Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến.
Chỉ có pháp hiện tại,
Tuệ quán chính ở đây,
Không động, không rung chuyển…
Vậy, câu Kinh thầy dẫn ở trên và lời Kinh này có chống trái gì với nhau không? Tại sao?
Rất mong nhận được câu trả lời từ thầy Lý Tứ.
Xin cảm ơn thầy!
27/10/2025 - 6:21:56 - Nguyễn Quang Sáng - Hà Nội"
Nguyễn Quang Sáng và bạn đọc thân mến !!!
Mình xin được trả lời các câu hỏi như sau:
- Hỏi:
Câu 1: "Thầy nói: “Muốn tịch diệt vọng tưởng, phải học tập đúng chánh pháp để giác ngộ...!!!” Tại sao thầy nói phải “học tập” mà không nói là phải “tu hành”. Chữ “học tập” của thầy có gì khác với chữ “tu hành” không?"
- Trả lời:
a) Mình và Lý Gia chỉ học tập giáo pháp để giác ngộ (như học tập văn hoá), chứ không tu hành theo thời khoá (truyền thống)...!!! Đó là lí do vì sao mình sử dụng khái niệm học tập mà không sử dụng khái niệm tu hành...!!!
b) Chữ học tập mình sử dụng bao hàm quy trình gồm ba pháp, hay ba giai đoạn, đó là: Văn, tư, tu...!!! Văn: Học tập để tiếp nhận thông tin (kiến thức)...Tư: Tư duy đến tận nguồn cơn để nắm vững và thấu suốt điều đã học...Tu: Ứng dụng triệt để điều đã học vào thực tế cuộc sống...!!!
- Hỏi:
Câu 2: "Những gì thầy đang dạy học trò của mình có được coi là đúng chánh pháp không? Nếu đúng chánh pháp, thì căn cứ vào đâu để thầy xác chứng điều đó?"
- Trả lời:
Theo mình, bất cứ làm việc gì trên đời cũng đều lấy mục tiêu làm thước đo đúng sai...!!! Ví dụ:
* Muốn biết con đường ta đi là đúng hay sai...Phải xem con đường đó có đưa ta đến mục tiêu mà ta cần đến hay không...!!!
* Muốn biết thứ thuốc đang uống đã đúng hay chưa....Phải theo dõi xem thuốc đó có giúp ta hết bệnh...!!!
* Muốn biết điều ta học tập có đúng chánh pháp hay không...Cần xem xét quá trình học tập có giúp ta thay đổi như pháp, có giúp ta đạt được các mục tiêu của giáo pháp đề ra hay không...!!!
Nếu con đường nào, loại thuốc gì, học tập thế nào...vv...mà không giúp ta đạt được các mục tiêu (đã đề ra) thì, phải xem lại...!!!
- Hỏi:
Câu 3: "Với một người tu có mục tiêu là quả vị Tu đà hoàn. Người đó đã có nhiều thời gian công phu thiền quán, nhưng chưa thu được kết quả. Vậy theo thầy, thời điểm hiện tại, người ấy nên quán tầng nghĩa Tứ niệm xứ nào cho phù hợp với mục tiêu trước mắt là Tu đà hoàn? Các dấu hiệu nào cho thấy người đó quán Tứ niệm xứ thành công?"
- Trả lời:
Phật dạy: "Một Tu đà hoàn đoạn ba kết, đó là: Thân kiến, giới cấm thủ và nghi"...!!! Như vậy theo mình, muốn thành tựu Tu đà hoàn quả người này phải:
* Học tập đến khi nào thấu suốt bản chất của thân, lúc đó sẽ không bị "thân kiến" làm ngại...!!! Có thể quán "thân bất tịnh" để hết tham đắm thân và thân không trói buộc...!!!
* Học tập đến khi nào thấu suốt bản chất giới luật, lúc đó sẽ ra khỏi "cố chấp, mê muội" khi giữ giới (quy ước)...!!! Có thể ứng dụng "vô lậu giới" để dần dần tiêu thất lậu hoặc...!!!
* Ứng dụng hai điều trên đến khi nào tâm thức dừng lặng, an vui, thảnh thơi, thanh tịnh...Từ đó, mọi nghi hoặc trong lòng về ba điều gồm: Nghi mình, tức biết chắc do học tập đúng nên ta mới có được thanh tịnh này...!!! Nghi người, biết chắc rằng, người dạy ta không sai giáo pháp...!!! Nghi pháp, không còn nghi ngờ gì giáo pháp ta đã học...!!!
- Hỏi:
Câu 4: "Thầy nói: “Trong các kinh điển của Phật...Mình chưa (hoặc không) thấy kinh nào Phật dạy, "người tu hành miệng phải mỉm cười"...!!!”. Vậy, theo thầy “nụ cười của ngài Ca Diếp” trong Pháp Hội Linh Sơn khi thấy Đức Phật đưa lên một cành hoa Sen, ý vị là gì? Miệng mỉm cười ở đây là thực tập nụ cười của ngài Ca Diếp thì có gì chống trái so với Kinh Điển?"
- Trả lời:
Nụ cười của ngài Ca Diếp trong hội Linh Sơn (nếu có !!!???) hay Phật cười trong pháp hội Diệu Pháp Liên Hoa là "nụ cười của đại sự nhân duyên" thuộc về câu chuyện hi hữu ngàn năm có một...Chứ không phải "Hít vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười" theo kiểu một ngày...cười...cả...ngàn...cái...!!!
Đọc câu hỏi của Nguyễn Quang Sáng, mình chợt suy nghĩ hơi hài hước một tí, nếu thình lình bản thân gặp một người hoặc một tập thể nào đó mà cứ hít vào thở ra lại cười, hít vào thở ra lại cười...cứ thế...cứ thế...cứ thế...thì, con người hoặc tập thể ấy trông như thế nào nhỉ...!!!???
- Hỏi:
Câu 5: "Thầy nói: “Phật dạy: "Hiện tại không dừng" do tâm thức phàm phu sanh diệt liên tục...Như vậy, "an trú trong hiện tại" là "an trú ở đâu" ???”. Thưa thầy, câu “ “Hiện tại không dừng” do tâm thức phàm phu sanh diệt liên tục.” được Phật dạy trong Kinh nào?
Tôi biết trong Kinh “Nhất Dạ Hiền Giả” Phật có dạy:
Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến.
Chỉ có pháp hiện tại,
Tuệ quán chính ở đây,
Không động, không rung chuyển…
Vậy, câu Kinh thầy dẫn ở trên và lời Kinh này có chống trái gì với nhau không? Tại sao?"
- Trả lời:
a) Người xưa nói: "Được ý quên lời", Phật dạy: "Y nghĩa bất y ngữ"...!!! Theo lời dạy này, ta thấy cả hệ thống giáo pháp phần lớn đều dạy "tâm thức niệm niệm sanh diệt không dừng"...Và, người học tập nào cũng biết tâm thức vô thường, không dừng lặng như dòng nước chảy...Và, kinh Niết Bàn cũng dạy "Chư hành vô thường, thị sinh diệt pháp"; Kinh Tương Ưng phẩm Cây Lau, Phật dạy: "Không đứng lại, không bước tới...Đứng lại ta chìm xuống (trong tâm thức này), bước tới ta trôi giạt (trong vọng tưởng của vị lai)..."; Kim Cang Phật dạy: "Tam tâm bất khả đắc"...vv...!!! Rất, rất nhiều kinh có lời dạy mang ý nghĩa "hiện tại không dừng" hoặc "tâm thức (phàm phu) sanh diệt liên tục"...!!!
b) Kinh Nhất Dạ Hiền Giả, Phật dạy:
"....Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có kẻ vô văn phàm phu không đi đến các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh; không đi đến các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân; quán sắc là tự ngã, hay quán tự ngã là có sắc, hay quán sắc là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong sắc; hay vị ấy quán thọ là tự ngã, hay quán tự ngã là có thọ, hay quán thọ là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thọ; hay vị ấy quán tưởng là tự ngã, hay quán tự ngã là có tưởng, hay vị ấy quán tưởng là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong tưởng; hay vị ấy quán hành là tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là có hành, hay vị ấy quán hành là trong tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là trong hành; hay vị ấy quán thức là tự ngã, hay quán tự ngã là có thức, hay quán thức là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thức. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có vị Ða văn Thánh đệ tử đi đến các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đi đến các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân. Vị này không quán sắc là tự ngã, không quán tự ngã là có sắc, không quán sắc là trong tự ngã, không quán tự ngã trong sắc; không quán thọ … không quán tưởng … không quán hành … không quán thức là tự ngã, không quán tự ngã là có thức, không quán thức trong tự ngã, không quán tự ngã trong thức. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại...."
Để đúc kết, Phật lại dạy:
"Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển
Biết vậy, nên tu tập,
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết,
Trú (trong pháp) như vậy nhiệt tâm,
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng...."
Theo ý nghĩa bài kinh: "Pháp hiện tại" là những pháp mà chư hiền thánh đã được học tập trong hiện tại (như đã dẫn)...Tức, cần phải quán sát những pháp ta đã học trong hiện tại (để thấm nhuần), chứ không phải an trú trong "hiện tại tâm"...Hình như mọi người đọc không hết bài kinh nên đã hiểu nhầm ý kinh...Để rồi, lời dạy "pháp hiện tại" hiểu thành "hiện tại tâm"...!!!???
Hi vọng, những trả lời vừa rồi có thể giúp Nguyễn Quang Sáng và bạn đọc giải toả các thắc mắc trong lòng...!!! Chúc các bạn an vui, tinh tấn...!!!
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
27/10/2025
LÝ TỨ