Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời Số 50.2025 với chủ đề: Đình Tiền Tạc Dạ Nhất Chi Mai
CHỦ ĐỀ: "ĐÌNH TIỀN TẠC DẠ NHẤT CHI MAI"
(Trích thơ - Mãn Giác Đại Sư)
Các bạn !!!
Sáng nay, một cành mai phương Bắc lại ra hoa !!! và, bài thơ Cáo Tật Thị Chúng của Đại Sư Mãn Giác lại hiện lên trong tâm trí Lý Tứ...!!! Đúng là, giáo pháp xưa nay không khác...!!!
"春去百花落
春到百花開
事逐眼前遇
老後頭上來
莫谓春殘花菭盡
庭前昨夜一枝梅"
"Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai"
Xin giới thiệu đến bạn đọc, cành "Nhất Chi Mai" ở phương Bắc vừa nở tối qua...!!!
THƯ GỬI THẦY LÝ TỨ
Kính gửi Thầy Lý Tứ,
Sau khi đọc và nghiền ngẫm trọn hai kỳ trả lời 49/2025 A và B của Thầy về Đại Bát Nhã, cùng bài thơ bạn Lý Tự Như ghi lại nội dung buổi Thầy khai thị cho Huynh Đệ Lý Gia — tôi đã ngồi lặng thật lâu. Không phải vì lượng kiến giải quá lớn, mà vì tâm thức tôi có một sự chuyển biến rất rõ ràng — như vừa tháo được lớp kính tối bao năm che phủ.
Với tâm ấy, tôi lật ngẫu nhiên vài phẩm trong Kinh Đại Bát Nhã để đọc. Ý kinh hiển lộ trong tâm tôi sáng tỏ như chưa từng sáng như vậy. Trước đây, tôi hiểu “bất nhị” qua suy luận ngôn từ — rằng là vượt thoát nhị nguyên đối đãi phải/quấy, đúng/sai. Nhưng giờ đây, tôi trực nhận được nghĩa “bất nhị” mà không còn thông qua ngữ ngôn. Khi tâm như hư không, tự nhiên không sanh đối đãi — ấy chính là Bất Nhị Pháp Môn.
Một niềm hỷ lạc và xúc động dâng lên. Tôi hiểu ra nguyên nhân bao năm qua mình đã đi lạc: Tôi chỉ cố học để hiểu văn ngữ, chứ chưa từng học để tâm thức đủ điều kiện tương ưng.
Thầy đã nói rất rõ:
“Học Bát Nhã không phải là bê kinh ra đọc, mà là học để chuyển hóa tâm thức.” Lời ấy như mở cửa cho tôi. Đúng thật — học đạo phải có người chỉ đường.
Bao năm đọc, bao năm ghi chép, bao năm diễn giải… mà vẫn đứng bên ngoài cửa, bởi tôi chưa lo phá vô minh trước, chưa lo giải quyết tự thân trước.
Hình ảnh Thầy đưa ra — người mù vừa được sáng mắt, lúc ấy mới có thể bước vào thế giới hội họa — khiến tôi xúc động đến nghẹn.
Tôi nhận ra:
Không phải Đại Bát Nhã huyền bí,
Không phải kinh điển quá cao sâu,
Mà là tự tâm tôi chưa chín, chưa sẵn, chưa đủ.
Thầy dạy:
“Khi điều kiện đã đủ, chỉ cần đọc một đoạn bất kỳ, liền tương ưng.”
Điều đó khiến tôi vô cùng kính phục khi nghe việc Huynh Đệ Lý Gia thể nhập Bát Nhã — chỉ trong một buổi mà hai phần ba đại chúng rơi lệ, thốt lên:
“Không ngờ Bát Nhã lại dễ đến vậy.”
Khi tự mình chứng nghiệm điều ấy, tôi hiểu:
Dễ hay khó không nằm ở Kinh.
Dễ hay khó nằm ở tâm người học, và ở bậc Đạo Sư dẫn đường.
Tôi thành tâm tri ân Thầy Lý Tứ. Gần 70 năm cuộc đời, tôi học Phật trong mờ tối, chấp vào sở học, vào công phu, mà vẫn dẫm chân tại chỗ — thậm chí càng học càng rối. Cho đến khi gặp Thầy.
Khoảnh khắc “Bát Nhã” trong tâm tôi được khai thông — khu rừng Bát Nhã không còn là chướng ngại — hỷ lạc và an tịnh trào dâng. Tôi bước đến bàn thờ Phật, đảnh lễ ba lạy, năm vóc sát đất trong niềm hạnh phúc sâu xa. Rồi tôi hướng về phương Nam, đảnh lễ Thầy ba lạy, phát nguyện:
"Từ giây phút này, xin được làm học trò của Thầy trên con đường tiến đến Vô Thượng Bồ Đề."
Kính chúc Thầy pháp thể khinh an, sức khỏe viên mãn, đạo nghiệp thành tựu.
Kính Thư
Trí Đức
TÁI BÚT
Xin được dâng Thầy bài thơ Lục Bát 24 câu — tượng trưng cho 24 tập Đại Bát Nhã — như lời nguyện tâm thành:
DÒNG SÁNG BÁT NHÃ
(Lục bát — 24 câu)
Bát Nhã nào phải ngữ ngôn,
Mà là tâm sáng đã không mọi bờ.
Không từ sắc tướng không ngờ,
Không từ ý niệm, không nhờ duyên sinh.
Không sanh chẳng diệt thường minh,
Không đi không đến, tự bình lặng soi.
Phút giây tỉnh mộng đây rồi,
Mắt nay hết nhặm, mê thôi trong lòng.
Tâm người tịnh giữa đời giông,
Nghe ra diệu pháp thong dong vốn thường.
Trí và Bi — một thể nguồn,
Như sóng với nước chẳng còn hai nơi.
Học không cốt để thêm lời,
Học là bỏ bớt mê nơi tự mình.
Không cầu mau, chẳng mong nhanh,
Đủ duyên thì ngộ như cành nở hoa.
Đường dài chẳng sợ lâu xa,
Chỉ sợ chẳng dám bước qua chính mình.
Nhớ câu Thầy dạy ân tình:
“Chữa tâm trước đã, pháp liền tự thôi.”
Niệm mê lặng, tánh sáng khôi,
Bát Nhã đâu phải tìm nơi kinh dày.
Con xin giữ bước hôm nay,
Theo Thầy mà học, ngày rày sáng trong.
Hành trình dẫu có long đong,
Con xin một nguyện: "Chẳng lòng thối lui".
XIN KÍNH TRI ÂN CÔNG ĐỨC VÔ LƯỢNG CỦA THẦY LÝ TỨ!
25/10/2025 - 5:46:01 - Trí Đức - Bắc Ninh" (hết thư)
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
25/10/2025
LÝ TỨ
Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời Số 49.2025 với chủ đề: Trả Lời Các Câu Hỏi Của Bằng Hữu Trí Đức !!!
Bằng hữu Trí Đức và bạn đọc thân mến !!!
Hôm nay, Lý Tứ xin trả lời các câu hỏi của bằng hữu !!!
- Hỏi:
Câu 1: "Về cấu trúc – “Đại Bát Nhã” là một chỉnh thể do Phật thuyết hay là một “hợp tuyển” do các Tổ về sau biên tập lại? Theo Thầy, người học nên tiếp cận Kinh Đại Bát Nhã tuần tự từ đầu đến cuối như một chỉnh thể, hay có thể tiếp cận ngẫu nhiên — từ một tập, một chương, hay một phẩm bất kỳ?"
- Trả lời:
a) Theo tôi biết, kinh Đại Bát Nhã là bộ kinh được Phật thuyết trên 20 năm ở nhiều pháp hội khác nhau...Sau đó, người sau tập hợp lại thành một bộ kinh đồ sộ như ngày hôm nay...!!! Cũng theo tôi, tuy thời gian, địa điểm, bối cảnh, văn ngữ, đề tài...vv... của các thời thuyết có thêm bớt để phù hợp với "cơ và thời" của từng pháp hội nhưng, nội dung cốt lõi của mỗi thời vẫn bao hàm nghĩa lí "giúp người nghe tương ưng và thể nhập Bát nhã"...!!!
b) Như đã trình bày ở phần (A) của chuyên mục...Học Bát nhã trí không phải bê nguyên bộ kinh để đọc từng trang rồi diễn giải từ ngữ như học thế gian mà, học Bát nhã là quá trình người học học tập giáo pháp, từng bước "như pháp chuyển hoá tâm thức"...Tức là học tập giáo pháp để tâm thức "đủ điều kiện tương ưng Bát nhã trí"...!!! Khi tâm thức hành giả đã tương ưng, vị ấy đọc ngẫu nhiên một phần, hay toàn bộ bộ kinh cũng đều thông suốt...!!! Còn ngược lại, điều kiện chưa đủ thì, có tiếp cận như thế nào cũng chỉ là người đọc để "hiểu văn tự" chứ không thể tương ưng ý vị của kinh (tương tợ Bát nhã) hoặc thành tựu thật sự Bát nhã trí (Bát nhã chơn thiệt)...!!!
- Hỏi:
Câu 2: "Tính “vô tự tánh” (không tánh) trong Đại Bát Nhã và Trung Quán.
Khi bộ kinh khẳng định “chư pháp bất sanh, bất diệt”, liệu tinh thần ấy có trùng khít hoàn toàn với lập trường Trung Quán như được hệ thống hóa trong Đại Trí Độ Luận hay không?"
- Trả lời:
"Chư pháp bất sanh, bất diệt" là sự thật của Bát nhã trí...Nó không phải lập trường hay quan điểm của một học thuyết, một người hay một nhóm người...!!! Giống như "hư không bất sanh, bất diệt" là sự thật hằng hữu trong chính hư không ấy...!!!
- Hỏi:
Câu 3: "Mười tám Không.
Trong thực hành, theo Thầy, “mười tám Không” nên được quán theo trình tự tiệm tiến hay đồng thời? Thầy có thể chỉ dẫn phương cách nào để người tu học tránh rơi vào “tương tợ Không” — tức chấp vào đoạn diệt hay hư vô?"
- Trả lời:
a) Bát nhã trí rốt ráo không, giống như hư không rốt ráo không...!!! Nếu tâm trí hành giả còn một chút gì chưa không, hoặc còn thừa sót một hay 18 pháp không thì, đấy chỉ là tương tợ Bát nhã chứ chưa phải Bát nhã chơn thiệt...!!! Vì thế, 18 pháp không chính là "cảnh báo" giúp hành giả tự soi xét bản thân chứ không phải 18 pháp để quán...!!! Giống như khi ăn, chỉ cần một hạt sạn lộn vào thức ăn, người ăn lập tức nhả hạt sạn ấy ra...chứ không phải trước hoặc trong khi ăn ta quán các hạt sạn tròn méo, to nhỏ như thế nào...!!! Người biết ăn dụ cho Bát nhã trí, 18 pháp không dụ cho các hạt sạn lẫn lộn trong thức ăn...!!!
b) Giác ngộ chân thiệt là cách tốt nhất giúp người "không rơi vào lối tẻ"...Tức không rơi vào tương tợ không hay tà kiến, chấp không...vv...!!!
- Hỏi:
Câu 4: "Sáu hay Mười Ba-la-mật?
Bộ kinh 600 quyển thường nói sáu Ba-la-mật, nhưng truyền thống Đại thừa lại triển khai thành mười (thêm phương tiện, nguyện, lực, trí). Khi giảng hay tu, Thầy ưu tiên khung sáu hay mười? Việc thêm bốn hạnh sau có làm lệch tâm trục “Trí tuệ – Bát Nhã” của toàn bộ kinh hay không?"
- Trả lời:
Quá trình thể nhập Bát nhã trí, thông thường có hai giai đoạn đó là: Giai đoạn thể nhập trí và thể nhập huệ (hay tuệ)...Trí như đèn, tuệ như cường độ ánh sáng...!!! Lục Ba la mật giúp người viên mãn trí, bốn Ba la mật sau giúp người viên mãn tuệ...!!! Khi nào giúp người viên mãn trí thì dạy sáu Ba la mật, lúc nào giúp người viên mãn tuệ thì dạy bốn Ba la mật...!!! Mười Ba la mật là quy trình bắt buộc trong quá trình dạy và học Bát nhã, chứ nó không phải là thứ được thêm hay bớt theo cách tuỳ hứng của người đời...!!!
- Hỏi:
Câu 5: "Quan hệ giữa Đại Bát Nhã và các “tiểu bản” (Kim Cang, Tâm Kinh).
Nhiều đạo tràng xem Kim Cang và Tâm Kinh là tinh yếu của bộ 600 quyển. Theo Thầy, nếu đọc ngược lại — dùng đại bản để giải minh tiểu bản — có thích hợp chăng? Xin Thầy nêu một vài đoạn then chốt trong đại bản mà nếu thiếu, người học dễ hiểu sai ý Tâm Kinh hay Kim Cang."
- Trả lời:
a) Kinh Kim Cang giúp người thành tựu Kim cang tâm, Kim cang trí và Kim cang tạng...!!! Tâm kinh giúp người thấy rõ bản chất tự không của sắc, thọ, tưởng, hành, thức...!!! Hai kinh này chỉ có chức năng giúp hành giả thành tựu một số điều căn bản để có thể thể nhập Bát nhã trí, chứ nó không phải tinh yếu của Bát nhã...!!! Ta có thể hiểu, Kinh Kim Cang như cấu trúc của một cái trống...Trống phải rỗng ruột, ruột càng rỗng tiếng càng vang...Tâm kinh giống như vật liệu làm trống...Vật liệu có chuẩn, không tạp...vv...thì cái trống mới đạt yêu cầu...!!! Hai thứ này chỉ là cơ bản, chứ chưa phải tất cả những gì một cái trống phải có...!!!
b) Không được học tập đến nơi đến chốn, kiến thức không chuẩn, dùng thế trí hay hữu lậu trí để diễn giải ngữ ngôn vô lậu và xuất thế...vv...nhất định đọc kinh nào cũng hiểu sai không riêng gì Kim Cang hay Bát Nhã...!!!
- Hỏi:
Câu 6: "Bồ-tát đạo trong Đại Bát Nhã: Phương tiện và Hạnh nguyện.
Trong kinh, “Bát Nhã” luôn đi đôi với “Đại bi” và “Phương tiện”. Thầy đánh giá thế nào về nguy cơ thiên lệch “Trí” mà kém “Bi” nơi người học hiện nay? Và Thầy có cách thức nào giúp học trò đã thành tựu phần tự độ nhưng chưa khởi tâm độ tha?"
- Trả lời:
a) Trí và bi của Phật đạo là thể và dụng của nhau như mặt trời và ánh sáng...Có mặt trời lập tức có ánh sáng...!!! Trong đời tôi chưa từng thấy vị nào "có trí mà kém bi", trừ người lầm tưởng hiểu biết ba thừa là Bát nhã trí hoặc mấy cụ...giả...trí...!!!
b) Riêng học trò của tôi, tất cả đều ý thức rõ việc học giáo pháp để làm gì và họ cần làm gì để xứng đáng với giáo pháp đã học...Cho nên, không thấy một ai đã hoàn thành phần tự độ mà chẳng khởi tâm độ tha...Thậm chí, họ còn rất hăng say giúp người trong khi bản thân chưa viên mãn tự độ, trên tinh thần biết bao nhiêu giúp bấy nhiêu...!!!
- Hỏi:
Câu 7: "Vấn đề ngôn ngữ dịch thuật.
Bản Huyền Trang nổi tiếng nghiêm cẩn về chữ nghĩa, bản Việt của HT. Trí Nghiêm cũng cố giữ trung thành với Hán văn. Khi hướng dẫn học trò, Thầy khuyên nên giữ nguyên thuật ngữ Hán (như “bất kiến”, “bất đắc”, “vô sanh pháp nhẫn”) hay nên Việt hóa để người mới dễ tiếp cận hơn? Xin Thầy chỉ rõ ưu và nhược của mỗi hướng."
- Trả lời:
a) Trong dạy và học, đa phần tôi vẫn giữ nguyên các thuật ngữ Hán Việt...Vì, bản thân chưa tìm ra từ ngữ thuần Việt để thay thế...Tuy vậy, khi gặp các từ ngữ đó, tôi chịu khó giải thích cho người học ý nghĩa các từ ngữ ấy là gì, nó thuộc cảnh giới nào của đạo pháp cũng như cách thành tựu cảnh giới đó...vv...!!! Do đó, đối với Lý Gia, từ ngữ không còn là thứ cản ngại...!!!
b) Theo tôi, đối với đạo pháp, từ ngữ thuần Việt hay Hán Việt đều có lợi thế riêng...Vấn đề đặt ra ở đây là, làm thế nào để ta truyền tải đầy đủ ý nghĩa, công dụng, phạm vi, cách sử dụng...vv...các từ ngữ đó một cách tốt nhất nhằm giúp người học nhân đó mà giác ngộ, mà thấu suốt giáo pháp...!!!
- Hỏi:
"Câu 8: “Vô sanh pháp nhẫn”.
Theo kinh, đắc được nhẫn này là bước ngoặt trong hành trình Bồ-tát. Trên phương diện thực hành, Thầy định nghĩa “dấu hiệu nhận biết” sự thành tựu ấy như thế nào, để người học không lầm với trạng thái an tĩnh tâm lý tạm thời?"
- Trả lời:
Bồ tát lấy "rốt ráo không" làm vô sanh...Lấy "không nhẫn" làm pháp nhẫn...!!! Người thành tựu cảnh giới này luôn an lạc, tự tại, bất động, giải thoát...vv...trước mọi cảnh duyên...!!!
- Hỏi:
Câu 9: "Đọc Đại Bát Nhã trong bối cảnh cư sĩ hiện đại.
Bộ kinh đồ sộ (khoảng 4,5 triệu chữ Hán, bản in Tân Tu gồm ba quyển lớn). Nếu Thầy thiết kế một lộ trình giúp học trò thâm nhập Đại Bát Nhã, Thầy dự kiến thời lượng bao lâu? Và Thầy sẽ chọn những phẩm nào làm “xương sống”? Tiêu chí lựa chọn ấy là gì?"
- Trả lời:
Xem phần Đối Với Lý Gia ở chuyên mục trước (49/2025A)...!!!
- Hỏi:
Câu 10: "Tính lịch sử của văn bản.
Nhiều tài liệu cho biết Ngài Huyền Trang dịch bộ kinh này tại chùa Đại Từ Ân, hoàn thành năm Long Sóc thứ ba (khoảng năm 664). Khi giảng đạo, Thầy có xem “bối cảnh dịch thuật” là phần thiết yếu để hiểu ý hướng biên tập của bản Hán không? Nếu có, đâu là bối cảnh quan trọng nhất cần giới thiệu cho người học trước khi đi vào nội dung?"
- Trả lời:
Tôi chỉ chú trọng đến việc giúp học trò hết khổ, giác ngộ rồi thông đạt giáo pháp...!!! Những vấn đề bằng hữu nêu tôi không quan tâm nhiều...!!! Bởi lẽ, biết những việc đó hay không, chẳng liên hệ gì đến giác ngộ hay hết khổ đau...!!! Giống người bị tên độc, điều trị để khỏi mất mạng quan trọng hơn việc cất công tìm hiểu các việc như: Ai làm ra cung tên đó...??? Cung tên đó làm thời điểm nào...??? Vì sao họ làm...vv...???
- Hỏi:
Câu 11: "Đại Bát Nhã và lộ trình “Ngộ – Hành – Chứng”.
Nhiều hành giả cho rằng bộ kinh khó nắm bắt vì ngôn ngữ phủ định triệt để. Thầy sẽ dạy học trò của mình thế nào để lĩnh hội và chứng thực được ""Pháp môn bất nhị"" của Bát Nhã chứ không chỉ là lý thuyết triết học?"
- Trả lời:
a) Bát nhã như hư không...!!! Hư không chẳng đề cao hay phủ định một việc gì hay pháp nào bởi "Bát nhã không tánh"...!!!
b) Tôi ứng dụng triệt để lời dạy của Phật: "Trong ngữ có nghĩa" hoặc "ngữ ấy tức nghĩa ấy" để giúp học trò lãnh hội giáo pháp...Cho nên, việc họ chứng thực "Bất nhị pháp môn" là điều tự nhiên trong quá trình học tập và giác ngộ của Huynh Đệ (HĐ) Lý Gia...như người ta "ăn thì no" chứ chẳng liên quan gì đến lí thuyết hay triết lí...của...cái...sự...ăn...!!!
- Hỏi:
Câu 12: "Một câu hỏi mở về phương pháp giảng dạy.
Nếu Thầy được mời giảng một khóa “Đại Bát Nhã” dành cho người đã học Kim Cang và Tâm Kinh, bài học đầu tiên Thầy sẽ phá chấp nào trước — “Không = rỗng không” hay “Bát Nhã = tri thức biện luận”? Và vì sao? "
- Trả lời:
a) Trên đời chẳng ai dư hơi đi mời một người giảng nói chẳng giống ai đến giảng cho mình hoặc cho bạn bè của mình (nếu không muốn nghe xong tức đến lộn ruột)...!!! Và với tôi, một Lý Gia đã quá đủ cho mình rao giảng đến hết hơi rồi...Nên chẳng có tâm ý hay mong cầu đi đâu nữa...!!!
b) Niệm chấp, pháp chấp, người chấp...vv...không thật...Vì, những thứ ấy chỉ là "hiệu ứng của mê"...!!! Mà đã là "hiệu ứng" thì làm sao mà phá đây ?????? Giống như thấy đèn có quầng là do mắt bệnh...Muốn hết thấy đèn có quầng phải chữa mắt...!!! Cho nên, muốn người hết chấp, phải giúp người giác ngộ, giác ngộ tất sẽ hết mê, hết mê tất hết chấp...!!! Thành ra, không ai đi phá quầng đèn trong khi mắt bệnh nhân đang nhặm...Mà, cái người trí cần làm là: Chỉ nên giúp người chữa cho con mắt hết bệnh...Đây mới được coi là biện pháp đúng đắn nhất...!!!
Hi vọng, những trả lời vừa rồi, có thể giúp bằng hữu Trí Đức và bạn đọc nhận ra điều gì đó về Bát nhã và cách học tập trí này...!!! Chúc bằng hữu Trí Đức và bạn đọc an vui, tinh tấn, sớm thành tựu điều cần thành tựu trong đạo pháp...!!!
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
24/10/2025
LÝ TỨ
Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời Số 49.2025 với chủ đề: Đại Bát Nhã !!!
Các bạn !!!
Vừa rồi, mình có nhận được thư và các câu hỏi của bằng hữu Trí Đức ở Bắc Ninh...Các câu hỏi liên quan đến bộ kinh Đại Bát nhã...!!!
Đại Bát Nhã là bộ kinh nói về trí tuệ (Bát nhã trí), bộ kinh này được Hoà Thượng Trí Nghiêm dịch sang tiếng Việt gồm 24 cuốn, Hoà Thượng Trí Tịnh dịch 3 cuốn...!!! Theo người xưa, trong 49 năm hoằng hoá của Thế Tôn, giáo pháp được chia thành năm thời thuyết gồm: Thời Hoa Nghiêm, bộ kinh này được Phật thuyết 21 ngày sau khi thành Đẳng chánh giác...!!! Thời A hàm, được Phật thuyết 12 năm tiếp theo...!!! Thời Phương đẳng, được Phật thuyết 8 năm sau đó...!!! Thời Bát nhã, được Phật thuyết 22 năm sau Phương đẳng...!!! Và, cuối cùng là thời Pháp hoa - Niết bàn...Phật tuyên thuyết 8 năm cuối đời...!!!
Như vậy, Bát nhã hay Trí tuệ của Phật đạo chỉ được Phật diễn nói sau thời gian dài 20 năm đã thuyết A hàm và Phương đẳng...Điều này nói rằng, để có thể lãnh hội được Bát nhã trí, người học phải trải qua quá trình chuyển hoá tâm thức, giải quyết tự thân và thể nhập viên mãn cảnh giới xuất thế...!!!
Chuyển hoá tâm thức, giải quyết tự thân chính là công việc của 12 năm học tập A hàm...Thời kì này, giống như người mù bẩm sinh được chữa lành đôi mắt (chấm dứt Nhuận chi vô minh và Căn bản vô minh)...!!! Tám năm Phương đẳng, là quá trình học trò sau khi giải quyết tự thân, hoà nhập viên mãn cảnh giới xuất thế...Thời gian đó là thời gian để người học làm quen và viên mãn văn hoá xuất thế thông qua Đệ nhất nghĩa...Và, đây cũng là thời gian quan trọng giúp người học dùng Đệ nhất nghĩa giải quyết những "tập khí hữu lậu" còn thừa sót trong tâm thức, thành tựu "giải thoát bất tư nghì"...!!! Thời kì này, giống như sau khi người mù đã được chữa sáng mắt, họ hoà nhập cộng đồng, làm quen và học tập văn hoá, văn minh, nghệ thuật, nghề nghiệp, cách tồn tại...vv...của thế giới người sáng mắt cho đến khi họ và người sáng mắt không còn sai khác...!!!
Hai mươi hai năm Bát nhã, chính là thời kì người sáng mắt bước vào thế giới mỹ thuật, thế giới của những người có cảm thụ đặc biệt về màu sắc và hội hoạ...Đến đây, người học trò ấy khi nghe người thầy giới thiệu từng nét đặc trưng của các tác phẩm hội hoạ vĩ đại, người học trò "liền tương ưng" với những gì đặc thù nhất trong từng tác phẩm...Thậm chí, họ có thể sao chép hoặc vẽ ra những tác phẩm tương tự một cách dễ dàng mà, một người không phải "bậc thầy hội hoạ" khó có thể nhận ra "đó là một tác phẩm sao chép"...!!! Tương tợ Bát nhã và Bát nhã chân thiệt trong quá trình thể nhập Bát nhã chính là hình ảnh này...!!!
Sở dĩ mình dài dòng như thế để nói rằng, muốn thể nhập Bát nhã trí, người học phải hội đủ những yêu cầu nhất định của giáo pháp...Giống như muốn thể nhập hoặc tương ưng thế giới hội hoạ đỉnh cao, phải hội đủ những yêu cầu nhất định về mỹ thuật đỉnh cao...Điều mà, một người mù, hoặc một người sáng mắt nếu không hoặc chưa từng ở trong thế giới (cảnh giới) đó không thể tiếp cận...!!! Đây là lí do vì sao, có những vị tu hành cất công một đời đọc tụng, nghiền ngẫm Bát nhã mà không thể nào lãnh hội ý nghĩa đích thực Bát nhã...Tất cả chỉ vì họ chưa tích luỹ cho mình đủ điều kiện chứ chẳng phải lí do nào khác...!!!
Đối với Lý Gia...Mười bảy (17) năm qua, Lý Tứ đã có hai lần trao đổi với học trò của mình về Bát nhã trí...Lần thứ nhất cách đây 7 năm, lần thứ nhì cách đây 10 ngày...!!! Trong hai lần đó, mình dành trọn thời gian dài (trước đó 7 năm, bây giờ 10 năm) chuẩn bị cho họ tất cả những gì cần thiết để đủ yêu cầu "tương ưng Bát nhã trí" như: Giúp họ vượt qua Nhuận chi vô minh, giúp họ vượt qua Căn bản vô minh, chứng hai vô sanh, thành tựu Giải thoát bất tư nghì, thành tựu bất nhị, thể nhập hoàn toàn cảnh giới xuất thế...vv...Khi nhận thấy các học trò đủ điều kiện, thời cơ chín muồi...Mình dành 15 đến 30 phút nói về "Bát nhã" và yêu cầu người học chọn một hoặc nhiều phẩm (đoạn văn) bất kì của Đại Bát Nhã đọc lên cho đại chúng cùng nghe...Đại chúng nghe đến đâu, thấu suốt ý nghĩa Bát nhã đến đó, mặc dù trước đó có rất nhiều người chưa từng biết kinh Đại Bát Nhã là gì...!!!
Lần gần đây nhất (10 ngày trước), trong buổi sinh hoạt định kì chủ nhật với Lý Gia Châu Âu, mình chỉ bỏ 20 phút giới thiệu ý nghĩa của Bát nhã trí, sau đó nhờ một HĐ (Lý Tự Như - Lý Quốc Hương) đọc ba phẩm Bát nhã bất kì trong bộ Đại Bát Nhã 24 cuốn...Kết quả vô cùng khả quan, toàn bộ đại chúng trên 250 người tham dự, hầu như hai phần ba số HĐ tham gia buổi sinh hoạt đã tương ưng với những gì ẩn mật của bộ kinh ấy một cách dễ dàng mà không cần mình cắt nghĩa hay giải thích gì thêm...Buổi sinh hoạt thể nhập Bát nhã của HĐ Lý Gia hôm ấy, có thể nói đó là buổi chiều nhiều cảm xúc nhất của thầy trò chúng mình...Những giọt nước mắt đã rơi, những câu cảm thán "không ngờ Bát nhã dễ đến thế thầy ơi"...vv...dư âm và cảm xúc ấy vẫn còn đọng lại cho đến tận lúc Lý Tứ viết bài này...Mọi người ơi !!! Có còn nhớ buổi chiều nhiều cảm xúc của ngày hôm ấy hay không ???!!!...!!! Với Lý Gia, học tập để thể nhập Bát nhã trí là như thế, chứ không phải bê nguyên bộ kinh 24 cuốn hoặc bộ 3 cuốn đọc từng bài rồi ê a diễn giải văn tự từng câu chữ như cách học thế gian...!!!
Bằng hữu Trí Đức và bạn đọc thân mến !!!
Thư của bằng hữu Trí Đức có 12 câu hỏi liên quan đến Bát nhã...Để tránh một kì của chuyên mục quá dài...Bây giờ, mình xin chuyển đến mọi người toàn văn bức thư, và sẽ trả lời ở kì tới 49/2025(B)...!!!
Sau đây là nội dung:
"Kính gửi Thầy Lý Tứ,
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Thầy đã từ bi dành thời gian giải đáp những câu hỏi của tôi về Kinh Pháp Hoa. Những lời khai thị ngắn gọn mà thâm sâu của Thầy đã giúp tôi phá được nhiều kiếnchấp cũ, mở ra một hướng nhìn trong sáng hơn đối với Phật Pháp. Thật lòng biết ơn Thầy!
Thời gian vừa qua, miền Bắc bị lụt lớn. Nhà tôi ở gần sông Như Nguyệt nên cũng không tránh khỏi — nước dâng ngập hết tầng một và cả phòng làm việc. May mắn là nhờ con cháu kịp thời chuyển giá sách cùng kinh Phật lên tầng hai, nên phần lớn kinh sách được giữ nguyên. Tài sản mất tôi không tiếc, nhưng nếu mất kinh sách thì tôi thật sự xót xa. Bởi sau bao năm miệt mài nghiên cứu Phật Pháp mà kết quả vẫn còn hạn hẹp, nay ngay cả phương tiện để học — là kinh sách — cũng suýt không giữ được, thì biết đến bao giờ mới tiến sâu hơn trên con đường học đạo…
Tuy nhiên, cũng thật là duyên lành khi được biết đến Thầy Lý Tứ, và chỉ qua vài kỳ hỏi đáp thôi mà tôi đã sáng tỏ thêm nhiều điều ẩn mật trong Kinh điển — những điều bao năm suy tư mà vẫn chưa chạm tới.
Sau khi dọn dẹp nhà cửa, khắc phục xong thiệt hại do ngập nước, tuần vừa rồi tôi mới có thể quay lại đọc và nghiền ngẫm kinh điển. Tôi muốn nhân dịp ấy tiếp tục nêu một vài điều chưa hiểu, kính xin Thầy khai thị. Tuổi Thầy và tôi đều đã lớn, sức khỏe không còn như trước, trí nhớ cũng giảm, nên tôi càng trân quý hơn thời gian được đối thoại cùng Thầy. Đầu thư, xin mạn phép có đôi lời tâm tình chia sẻ, mong Thầy thông cảm.
Sau đây, tôi xin phép được trình bày một số câu hỏi lần này, liên quan đến Kinh Đại Bát Nhã:
Câu 1: Về cấu trúc – “Đại Bát Nhã” là một chỉnh thể do Phật thuyết hay là một “hợp tuyển” do các Tổ về sau biên tập lại? Theo Thầy, người học nên tiếp cận Kinh Đại Bát Nhã tuần tự từ đầu đến cuối như một chỉnh thể, hay có thể tiếp cận ngẫu nhiên — từ một tập, một chương, hay một phẩm bất kỳ?
Câu 2: Tính “vô tự tánh” (không tánh) trong Đại Bát Nhã và Trung Quán.
Khi bộ kinh khẳng định “chư pháp bất sanh, bất diệt”, liệu tinh thần ấy có trùng khít hoàn toàn với lập trường Trung Quán như được hệ thống hóa trong Đại Trí Độ Luận hay không?
Câu 3: Mười tám Không.
Trong thực hành, theo Thầy, “mười tám Không” nên được quán theo trình tự tiệm tiến hay đồng thời? Thầy có thể chỉ dẫn phương cách nào để người tu học tránh rơi vào “tương tợ Không” — tức chấp vào đoạn diệt hay hư vô?
Câu 4: Sáu hay Mười Ba-la-mật?
Bộ kinh 600 quyển thường nói sáu Ba-la-mật, nhưng truyền thống Đại thừa lại triển khai thành mười (thêm phương tiện, nguyện, lực, trí). Khi giảng hay tu, Thầy ưu tiên khung sáu hay mười? Việc thêm bốn hạnh sau có làm lệch tâm trục “Trí tuệ – Bát Nhã” của toàn bộ kinh hay không?
Câu 5: Quan hệ giữa Đại Bát Nhã và các “tiểu bản” (Kim Cang, Tâm Kinh).
Nhiều đạo tràng xem Kim Cang và Tâm Kinh là tinh yếu của bộ 600 quyển. Theo Thầy, nếu đọc ngược lại — dùng đại bản để giải minh tiểu bản — có thích hợp chăng? Xin Thầy nêu một vài đoạn then chốt trong đại bản mà nếu thiếu, người học dễ hiểu sai ý Tâm Kinh hay Kim Cang.
Câu 6: Bồ-tát đạo trong Đại Bát Nhã: Phương tiện và Hạnh nguyện.
Trong kinh, “Bát Nhã” luôn đi đôi với “Đại bi” và “Phương tiện”. Thầy đánh giá thế nào về nguy cơ thiên lệch “Trí” mà kém “Bi” nơi người học hiện nay? Và Thầy có cách thức nào giúp học trò đã thành tựu phần tự độ nhưng chưa khởi tâm độ tha?
Câu 7: Vấn đề ngôn ngữ dịch thuật.
Bản Huyền Trang nổi tiếng nghiêm cẩn về chữ nghĩa, bản Việt của HT. Trí Nghiêm cũng cố giữ trung thành với Hán văn. Khi hướng dẫn học trò, Thầy khuyên nên giữ nguyên thuật ngữ Hán (như “bất kiến”, “bất đắc”, “vô sanh pháp nhẫn”) hay nên Việt hóa để người mới dễ tiếp cận hơn? Xin Thầy chỉ rõ ưu và nhược của mỗi hướng.
Câu 8: “Vô sanh pháp nhẫn”.
Theo kinh, đắc được nhẫn này là bước ngoặt trong hành trình Bồ-tát. Trên phương diện thực hành, Thầy định nghĩa “dấu hiệu nhận biết” sự thành tựu ấy như thế nào, để người học không lầm với trạng thái an tĩnh tâm lý tạm thời?
Câu 9: Đọc Đại Bát Nhã trong bối cảnh cư sĩ hiện đại.
Bộ kinh đồ sộ (khoảng 4,5 triệu chữ Hán, bản in Tân Tu gồm ba quyển lớn). Nếu Thầy thiết kế một lộ trình giúp học trò thâm nhập Đại Bát Nhã, Thầy dự kiến thời lượng bao lâu? Và Thầy sẽ chọn những phẩm nào làm “xương sống”? Tiêu chí lựa chọn ấy là gì?
Câu 10: Tính lịch sử của văn bản.
Nhiều tài liệu cho biết Ngài Huyền Trang dịch bộ kinh này tại chùa Đại Từ Ân, hoàn thành năm Long Sóc thứ ba (khoảng năm 664). Khi giảng đạo, Thầy có xem “bối cảnh dịch thuật” là phần thiết yếu để hiểu ý hướng biên tập của bản Hán không? Nếu có, đâu là bối cảnh quan trọng nhất cần giới thiệu cho người học trước khi đi vào nội dung?
Câu 11: Đại Bát Nhã và lộ trình “Ngộ – Hành – Chứng”.
Nhiều hành giả cho rằng bộ kinh khó nắm bắt vì ngôn ngữ phủ định triệt để. Thầy sẽ dạy học trò của mình thế nào để lĩnh hội và chứng thực được ""Pháp môn bất nhị"" của Bát Nhã chứ không chỉ là lý thuyết triết học?
Câu 12: Một câu hỏi mở về phương pháp giảng dạy.
Nếu Thầy được mời giảng một khóa “Đại Bát Nhã” dành cho người đã học Kim Cang và Tâm Kinh, bài học đầu tiên Thầy sẽ phá chấp nào trước — “Không = rỗng không” hay “Bát Nhã = tri thức biện luận”? Và vì sao?
Đi vào Đại Bát Nhã như bước vào rừng sâu. Từ xưa đến nay, biết bao bậc đạo sư và người học Phật đã dấn thân mà vẫn chưa tìm được lối ra. Tôi cũng là một trong số ấy. Duyên lành được trao đổi cùng Thầy Lý Tứ — người mà, theo tôi biết, chưa một câu hỏi nào về Phật Pháp có thể làm khó được — nay tôi xin kính nhờ Thầy khai mở thêm cho nỗi niềm “Bát Nhã” của mình.
Xin thành tâm cảm ơn và kính chúc Thầy nhiều sức khỏe, Pháp thể khinh an, đạo nghiệp viên thành!
Kính thư,
22/10/2025 - 18:04:34
Trí Đức - Bắc Ninh" (hết thư)
Chúc bằng hữu Trí Đức và bạn đọc an vui, tinh tấn...!!!
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
23/10/2025
LÝ TỨ
Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời Số 48.2025 với chủ đề: Dấu Hiệu Nhận Ra Đại Tử !!!
Các bạn !!!
Mình vừa nhận được thư và một số thắc mắc của bằng hữu Huyền Đức ở Long Khánh...!!!
Nội dung như sau:
"Kính gửi Thầy Lý Tứ,
Tôi cảm ơn Thầy đã trả lời rất kỹ lưỡng câu hỏi của tôi về chủ đề Tứ Vô Ngại Biện trong kỳ trước. Tôi đọc bài “Phật Giáo và Giác Ngộ” của Thầy, và cảm nhận được cách Thầy đặt lại nền tảng cho khái niệm “giác ngộ” trong đúng tinh thần Phật đạo — không phải chỉ là một trạng thái tỉnh thức mơ hồ, mà là sự nhận ra đúng “cái cần giác” và “cái cần ngộ”.
Xin phép được nêu đôi điều còn thao thức để mong Thầy chỉ dạy thêm:
Thứ nhất, Thầy nói rằng nếu không định hướng rõ theo Phật giáo thì người học dễ lạc vào những cách hiểu ngoài Phật pháp. Tôi muốn hỏi: Có thể xem đâu là những tiêu chí cốt lõi để người tu tự soi xét xem con đường mình đang đi có đúng với tinh thần giác ngộ mà Đức Phật đã chỉ bày không?
Thứ hai, Thầy khẳng định “giác ngộ đúng Phật đạo thì không hề có lý giải sai khác về giáo pháp”, vì “tam thế chư Phật khác miệng đồng lời”. Nhưng trong thực tế, các truyền thống như Nguyên thủy, Đại thừa, Thiền hay Mật tông lại có những cách diễn đạt khác nhau về Không, vô ngã và giải thoát. Xin Thầy chỉ giúp: đâu là ranh giới giữa “dị biệt ngôn thuyết” và “sai khác giáo pháp”?
Thứ ba, Thầy có nói rằng người học cần “biết cái gì cần giác, cái gì cần ngộ”. Tôi mong Thầy chỉ rõ hơn: Trong lộ trình tu tập căn bản, cái cần giác và cái cần ngộ đầu tiên là gì, và nên ưu tiên theo thứ tự nào?
Thứ tư, trong phần nói về “đại tử”, Thầy cho biết chỉ khi cái ngã mất đi thì đời sống tự tại mới bắt đầu. Vậy người tu nên nhận biết hay kiểm chứng “đại tử” qua những dấu hiệu nào?
Sau cùng, Thầy khuyên nên “lấy kinh điển làm mực thước” để đối chiếu và khỏi lầm tưởng trạng thái tâm là giác ngộ. Xin Thầy gợi ý một vài bộ kinh hay đoạn kinh chuẩn mực nhất cho người học đối chiếu về vấn đề Thầy nêu ở trên?
Tôi rất trân trọng tấm lòng và công phu của Thầy trong việc minh định lại ý nghĩa của “giác ngộ” giữa thời đại mà mọi khái niệm dễ bị pha loãng.
Kính mong Thầy từ bi chỉ dạy thêm để tôi cùng các đạo hữu có thể điều chỉnh đường tu được đúng hướng.
Kính lễ Thầy,
21/10/2025 - 5:08:28 - Huyền Đức - Long Khánh"
Bằng hữu Huyền Đức và bạn đọc thân mến !!!
Đầu tiên, xin chân thành cảm ơn những đánh giá tốt đẹp của bằng hữu Huyền Đức về các bài viết, cũng như trả lời của Lý Tứ...!!!
Về các thắc mắc của bằng hữu, Lý Tứ xin được trả lời như sau:
- Hỏi:
1- "Thứ nhất, Thầy nói rằng nếu không định hướng rõ theo Phật giáo thì người học dễ lạc vào những cách hiểu ngoài Phật pháp. Tôi muốn hỏi: Có thể xem đâu là những tiêu chí cốt lõi để người tu tự soi xét xem con đường mình đang đi có đúng với tinh thần giác ngộ mà Đức Phật đã chỉ bày không?"
- Trả lời:
Phật đạo có ba tiêu chí cốt lõi, đó là: "Giác ngộ - Giải thoát - Trí Tuệ..." !!!
Ba tiêu chí này là kết quả của quá trình học tập và thấu suốt Tứ đế...Trong đó, 37 phẩm trợ đạo chính là những học phần hay chuyên đề giúp người học hoàn thành học trình Tứ đế !!!
Tứ đế có bốn mục tiêu gồm:
a) Khổ đế: Giúp người chấm dứt vĩnh viễn 8 món khổ nhân sinh...!!!
b) Tập đế: Giúp người chấm dứt vĩnh viễn phiền não, kiết sử, lậu hoặc...!!!
c) Diệt đế: Giúp người giác ngộ "bổn tâm, bổn tánh"...Chứng Đạo quả xuất thế, Đạo quả giải thoát...!!!
d) Đạo đế: Giúp người sau khi đã giác ngộ, tiếp tục học tập "Trí tuệ xuất thế"...Thành tựu 8 điều chân chánh (bát chánh) của "bậc hiền trí" trong đạo pháp...!!!
Bốn giai đoạn của Tứ đế, giống như người đi tìm châu ngọc...Lớp khổ đế và Tập đế, giúp người xác định vị trí có châu báu và đào bỏ các lớp ngăn che...Hoàn thành 2 giai đoạn này, được coi là dấu hiệu nhận biết của người sơ ngộ...!!! Lớp Diệt đế, giống như người đi tìm châu báu đã tìm thấy và nhận diện đâu là châu báu đích thực...!!! Lớp đạo đế, giống như người đã sở hữu châu báu, học tập cách mài giũa để viên ngọc có được 8 mặt như ý...!!!
Tóm lại, ba tiêu chí của Đạo pháp và bốn mục tiêu của Tứ đế, có thể xem là những tiêu chí (hay mục tiêu) cốt lõi để người học lấy đây làm bản tham chiếu, tự soi xét con đường mình đang đi đã đúng với tinh thần giáo pháp mà Đức Phật đã chỉ bày hay chưa...!!!
Nếu trong quá trình dạy và học... Quá trình nào, "không giúp ta và người hoàn thành các mục tiêu đạo pháp đã đề ra" ở trên...Việc dạy và học này cần coi lại...!!!
- Hỏi:
2- "Thứ hai, Thầy khẳng định “giác ngộ đúng Phật đạo thì không hề có lý giải sai khác về giáo pháp”, vì “tam thế chư Phật khác miệng đồng lời”. Nhưng trong thực tế, các truyền thống như Nguyên thủy, Đại thừa, Thiền hay Mật tông lại có những cách diễn đạt khác nhau về Không, vô ngã và giải thoát. Xin Thầy chỉ giúp: đâu là ranh giới giữa “dị biệt ngôn thuyết” và “sai khác giáo pháp”?"
- Trả lời:
a) Các truyền thống mà bằng hữu đã nêu...Họ giải thích về "Không, vô ngã và giải thoát" như thế nào...Lý Tứ không dám lạm bàn vì, bản thân không phải là thành viên của họ hay chịu ảnh hưởng bởi các truyền thống đó...!!!
b) Phật dạy: "Tam thế chư Phật khác miệng đồng lời"...Nếu, "miệng khác mà lời cũng không đồng" thì, "đây là ranh giới giữa “dị biệt ngôn thuyết” và “sai khác giáo pháp” như bằng hữu đã thắc mắc...!!!
- Hỏi:
3- "Thứ ba, Thầy có nói rằng người học cần “biết cái gì cần giác, cái gì cần ngộ”. Tôi mong Thầy chỉ rõ hơn: Trong lộ trình tu tập căn bản, cái cần giác và cái cần ngộ đầu tiên là gì, và nên ưu tiên theo thứ tự nào?"
- Trả lời:
Trong quá trình học tập, điều cần giác đầu tiên (chánh giác) là: Những nguyên nhân nào làm ta khổ; Những nguyên nhân nào làm ta phiền não; Những nguyên nhân nào phát sinh kiết sử, lậu hoặc và cách tịch diệt các nguyên nhân ấy...Rồi ứng dụng triệt để (những điều đã học) vào thực tiễn đời sống...Từ đó, người học sẽ ngộ ra "tâm thức ta tịch tĩnh, rỗng rang, vắng lặng"...Các thứ như khổ, phiền não, kiết sử, lậu hoặc...vv... "không cánh mà bay" khỏi tâm thức lúc nào không hay...!!!
Do đó, thứ tự ưu tiên trong giác ngộ phải là: Học tập đúng chánh pháp trước nhất để có "chánh giác" và kết quả tự nhiên (theo sau) của chánh giác là "chân ngộ"...!!! Suy ra: Giác và ngộ là hệ quả tất yếu của đạo pháp theo quy luật Duyên sinh: "Cái này có (chánh giác có) nên cái kia có (chân ngộ tự có)"...!!! Ngược lại "không chánh giác" thì sẽ không thể "chân ngộ"...!!!
- Hỏi:
4- "Thứ tư, trong phần nói về “đại tử”, Thầy cho biết chỉ khi cái ngã mất đi thì đời sống tự tại mới bắt đầu. Vậy người tu nên nhận biết hay kiểm chứng “đại tử” qua những dấu hiệu nào?"
- Trả lời:
Phật dạy: "Vô ngã nên vô sanh"...!!! Tổ cũng dạy: "Vô tánh diệc vô sanh"...!!!
Vì thế, dấu hiệu để nhận biết tâm thức đã thay đổi, chính là: Hành giả thấu suốt tâm và pháp đều vô ngã (không tự ngã), vô tánh (không tự tánh)...vv...Từ thấy suốt này, vị ấy thực chứng hai vô ngã là "tâm pháp đều vô ngã"; hoặc hai vô sanh là "tâm vô sanh và pháp cũng vô sanh" hay "tâm không và pháp cũng không"...!!! Có thể hiểu, khi nào trực nhận, tâm thức này hoàn toàn rỗng rang như tinh thần Huệ Năng đã thấy, đó là "bổn lai vô nhất vật" thì, đây là dấu hiệu nhận biết tâm thức đã sang trang (đại tử)...!!!
- Hỏi:
5- "Sau cùng, Thầy khuyên nên “lấy kinh điển làm mực thước” để đối chiếu và khỏi lầm tưởng trạng thái tâm là giác ngộ. Xin Thầy gợi ý một vài bộ kinh hay đoạn kinh chuẩn mực nhất cho người học đối chiếu về vấn đề Thầy nêu ở trên?"
- Trả lời:
Theo tôi, tất cả kinh Phật đều có ý vị giúp người đạt được các mục tiêu của đạo pháp...!!! Vấn đề là, người đọc có nhận ra ý vị đó nằm ở đâu trong mớ ngữ ngôn của kinh điển hay không mà thôi...!!!
Tuy nhiên về căn bản, phần lớn người tu hành thường đọc tụng, nghiền ngẫm và ứng dụng hai bài kinh đó là: Kinh Các Căn Tu Tập (Indriyabhāvanā Sutta)
Kinh Các Căn Tu Tập, giúp ta dễ tịch diệt lậu hoặc...Kinh Kim Cang giúp ta dễ giác ngộ bổn tâm...Hai bài kinh này cũng là một trong những tài liệu học tập chính thức của Lý Gia...!!!
Để giúp bằng hữu Huyền Đức và bạn đọc hiểu rõ hơn về quá trình học tập của Lý Gia...!!! Mời bằng hữu Huyền Đức và bạn đọc tham khảo 22 video Khoá K05 lớp Hạnh Phúc Quanh Ta - Giọt Mưa Đầu Mùa do Lý Gia thực hiện theo đường dẫn sau:
https://youtube.com/playlist...
Hi vọng, những trả lời vừa rồi, có thể giúp bằng hữu Huyền Đức và bạn đọc giải toả một vài thắc mắc trong lòng...!!! Chúc mọi người an vui, tinh tấn, mau chóng tìm ra hướng đi tốt nhất...!!!
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
21/10/2025
LÝ TỨ
Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời Số 47.2025 với chủ đề: Vọng Tưởng Khi Ngồi Thiền !!!
Các bạn !!!
Trong tuần, mình nhận được thắc mắc của bạn đọc Tâm Diệu Tịnh ở Phú Thọ và bạn đọc Nguyễn Quang Sáng ở Hà Nội...!!! Nội dung như sau:
I- Của bạn đọc Tâm Diệu Tịnh !!!
"Kính gửi bác Lý Tứ!
Cảm ơn bác, đã trả lời câu hỏi của con liên quan đến mùa Vu Lan vừa rồi. Hôm nay con cũng có một vài thắc mắc khác muốn hỏi bác.
Câu 1: Kiếp này mình học Phật Pháp rồi thì kiếp sau có bị quên không ạ? Làm thế nào để kết quả học tập Phật Pháp của mình được lưu giữ đến những kiếp sau ạ?
Câu 2: Đức Phật có dạy: "Một người thường xuyên sống trong Thiện Pháp mà lỡ có tai nạn thình lình, tấm thân có tan nát như mảnh lu thì người ấy vẫn có khả năng sanh Thiên. Vì bình thường họ sống với tâm nhẹ nhàng và thiện lương". Như vậy, tại sao Cận Tử Nghiệp lại đóng vai trò quyết định việc tái sinh? Hiểu như thế nào cho đúng về Cận Tử Nghiệp ạ?
Rất mong nhận được câu trả lời của bác!
13/10/2025 - 18:23:22 - Tâm Diệu Tịnh - Phú Thọ"
II- Của bạn đọc Nguyễn Quang Sáng !!!
"Chào thầy Lý Tứ, tôi có một số câu hỏi nhờ thầy giải đáp:
1- Khi ngồi thiền tôi quan sát vọng tưởng đến rồi đi. Khi dừng dừng quan sát thì vọng tưởng lại khởi. Thưa thầy vọng tưởng từ đâu sinh? Có cách nào để tịch diệt tận gốc được nó?
2- Một hành giả khi thực hành thiền tứ niệm xứ thì điều gì là quan trọng nhất cần lưu ý? Nên bắt đầu quán yếu tố nào trước? Có cần tuần tự theo thứ tự Thân, Thọ, Tâm, Pháp - thành tựu thứ này mới đến thứ kia không?
3- Câu kệ về thiền quán:
Thở vào tâm tĩnh lặng
Thở ra miệng mỉm cười
An trú trong hiện tại
Giây phút đẹp tuyệt vời
Theo thầy những phép thực hành trong bài kệ trên có phù hợp với tinh thần thiền quán mà Đức Phật đã dạy không? Tại sao?
Cảm ơn thầy, rất mong nhận được câu trả lời từ thầy.
18/10/2025 - 14:54:15 - Nguyễn Quang Sáng - Hà Nội"
Mình xin trả lời thắc mắc của hai bạn như sau:
I- Trả lời các câu hỏi của Tâm Diệu Tịnh !!!
- Hỏi:
"Câu 1: Kiếp này mình học Phật Pháp rồi thì kiếp sau có bị quên không ạ? Làm thế nào để kết quả học tập Phật Pháp của mình được lưu giữ đến những kiếp sau ạ?"
- Trả lời:
Nếu người học tập Phật đạo mà thành tựu các "đạo quả bất thối", hoặc thành tựu "một trong sáu chủng tánh Anh Lạc" thì, sẽ không quên hoặc thối thất Bồ đề tâm cho dù ở đời nào !!!
- Hỏi:
"Câu 2: Đức Phật có dạy: "Một người thường xuyên sống trong Thiện Pháp mà lỡ có tai nạn thình lình, tấm thân có tan nát như mảnh lu thì người ấy vẫn có khả năng sanh Thiên. Vì bình thường họ sống với tâm nhẹ nhàng và thiện lương". Như vậy, tại sao Cận Tử Nghiệp lại đóng vai trò quyết định việc tái sinh? Hiểu như thế nào cho đúng về Cận Tử Nghiệp ạ?"
- Trả lời:
Phật dạy: "Một người thường xuyên sống trong Thiện Pháp mà lỡ có tai nạn thình lình, tấm thân có tan nát như mảnh lu thì người ấy vẫn có khả năng sanh Thiên. Vì bình thường họ sống với tâm nhẹ nhàng và thiện lương"...!!! Và, có ai đó bảo rằng: "Cận Tử Nghiệp lại đóng vai trò quyết định việc tái sinh"...!!! Theo bạn, người học tập trong Phật đạo nên tin vâng lời Phật dạy hay nghe theo lời "một ai đó" ???
II- Trả lời các câu hỏi của Nguyễn Quang Sáng !!!
- Hỏi:
"1- Khi ngồi thiền tôi quan sát vọng tưởng đến rồi đi. Khi dừng quan sát thì vọng tưởng lại khởi. Thưa thầy vọng tưởng từ đâu sinh? Có cách nào để tịch diệt tận gốc được nó?"
- Trả lời:
a) Vọng tưởng do mê (không giác ngộ) sanh...!!!
b) Muốn tịch diệt vọng tưởng, phải học tập đúng chánh pháp để giác ngộ...!!! Khi tâm thức đã giác ngộ, vọng tưởng "vĩnh viễn không sanh"...Giống như trời sáng, bóng đêm tự biến mất...!!!
- Hỏi:
"2- Một hành giả khi thực hành thiền tứ niệm xứ thì điều gì là quan trọng nhất cần lưu ý? Nên bắt đầu quán yếu tố nào trước? Có cần tuần tự theo thứ tự Thân, Thọ, Tâm, Pháp - thành tựu thứ này mới đến thứ kia không?"
- Trả lời:
a) Muốn thực hành (quán) Tứ niệm xứ thành công...Người thực hành phải thấu suốt các điều (quan trọng) sau:
* Tứ niệm xứ là gì...???
* Vì sao phải quán Tứ niệm xứ mà không quán niệm xứ thứ năm...???
* Bản chất Tứ niệm xứ là gì...???
* Vì sao ta mê Tứ niệm xứ...???
* Có mấy tầng bậc quán Tứ niệm xứ...???
* Công dụng (kết quả) của mỗi tầng quán...???
*Thời điểm hiện tại, ta nên quán tầng nghĩa Tứ niệm xứ nào cho phù hợp với mục tiêu trước mắt...???
* Các dấu hiệu quán Tứ niệm xứ thành công ra sao...???
Tóm lại, chưa thấu suốt các điều nêu trên mà dụng công tu tập, chẳng khác người tinh tấn bước đi mà chẳng biết mình đi đâu, đến đâu cũng như ta đến nơi ấy để làm gì...!!!
b) Tuỳ vào tâm nguyện, mục tiêu tu hành và đạo chủng tánh của mỗi người...vv...Bậc đạo sư sẽ định hướng cho người đó quán niệm xứ nào trước, niệm xứ nào sau, thời điểm nào thay đổi tầng quán...!!!
- Hỏi:
"3- Câu kệ về thiền quán:
Thở vào tâm tĩnh lặng
Thở ra miệng mỉm cười
An trú trong hiện tại
Giây phút đẹp tuyệt vời
Theo thầy những phép thực hành trong bài kệ trên có phù hợp với tinh thần thiền quán mà Đức Phật đã dạy không? Tại sao?"
- Trả lời:
a) Trong các kinh điển của Phật...Mình chưa (hoặc không) thấy kinh nào Phật dạy, "người tu hành miệng phải mỉm cười"...!!! Chỉ thấy Phật dạy: "Đặt chánh niệm trước mặt, nội tĩnh nhất tâm...vv..." !!!
b) Người chưa giác ngộ, trong từng sát na của quá khứ, hiện tại, vị lai đều là những "sát na mê muội"...Chưa giác ngộ mà "an trú trong hiện tại" là chấp nhận "an trú trong mê muội"...!!!
c) Phật dạy: "Hiện tại không dừng" do tâm thức phàm phu sanh diệt liên tục...Như vậy, "an trú trong hiện tại" là "an trú ở đâu" ???
Tâm Diệu Tịnh, Nguyễn Quang Sáng và bạn đọc thân mến !!!
Hi vọng, những giải thích vừa rồi, có thể giúp các bạn hiểu ra điều gì đó từ các thắc mắc...!!! Chúc các bạn an vui, tinh tấn, thành công trong đạo pháp...!!!
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
19/10/2025
LÝ TỨ
Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời Số 46.2025 với chủ đề: Lại Tiếp Tục Luận Bàn Về Thần Thông !!!
Các bạn !!!
Mình lại vừa nhận thêm hai câu hỏi của bạn đọc Hồ Phước Thịnh ở Đà Nẵng về các chủ đề liên quan đến các câu hỏi kì trước (45/2025)...Nội dung như sau:
"Kính gửi tác giả Lý Tứ,
Cháu cảm ơn bác đã dành thời gian trả lời hai câu hỏi kỳ trước của cháu về các tầng thiền và thần thông của Đạo Phật. Cháu đã hiểu hơn phần nào, tuy nhiên lại phát sinh một số câu nhờ bác giảng rõ hơn ạ.
Câu 1: Nhờ bác giải thích rõ hơn giúp cháu câu: “Thần thông của Phật đạo là sự viên thông vô ngại "từ tâm thức đến thanh tịnh Niết bàn" bởi sức giác ngộ tự thân…”. Nó quá cô đọng, cháu vẫn chưa hiểu được ạ. Những thứ thần thông trong Đạo Phật như: Thần túc thông, Thiên nhãn thông, Thiên nhĩ thông, Túc mạng thông, Tha tâm thông và cuối cùng là Lậu tận thông, bản chất chỉ là các trạng thái giác ngộ trong tâm thức phải không ạ?
Câu 2: Nhờ bác phân biệt giúp cháu Độn A la hán; A la hán hồi tâm khác nhau thế nào ạ? Bồ tát quyền thừa; Bồ tát nhất thừa và Bồ tát thập địa khác nhau thế nào ạ? Đó có có phải là thứ tự các quả vị từ thấp đến cao mà một hành giả sẽ đạt được trong quá trình tu tập phải không ạ? Từ quả vị nào sẽ bắt đầu thành tựu được lục thông ạ?
Rất mong nhận được hồi đáp từ bác,
Kính chúc bác nhiều sức khỏe!
11/10/2025 - 11:55:30 - Hồ Phước Thịnh - Đà Nẵng"
Bạn đọc Hồ Phước Thịnh và tất cả bạn đọc thân mến !!!
Trước khi trả lời cụ thể các câu hỏi của Phước Thịnh...Mình xin được sơ lược vài dòng tạm coi là "tâm tình" trong lúc đọc các câu hỏi và viết những dòng trả lời...!!!
Các bạn biết đấy !!! Phật đạo là một hành trình học tập và chứng ngộ tự thân...!!! Có nghĩa rằng, khi được học tập và ứng dụng việc học tập đó vào cuộc sống, người học sẽ có những trải nghiệm thực tế về chuyển biến tâm thức và kết quả tức thời đạt được sau những chuyển biến đó, Phật đạo gọi đó là chứng nghiệm hay chứng ngộ tự thân (gọi nôm na là giác ngộ)...!!! Giống như một người chứng nghiệm hay chứng ngộ việc tự thân hưởng dụng đầy đủ ý vị của một quả mận khi đang ăn...!!! Việc chứng ngộ này, nó hoàn toàn khác xa với những gì khi nghe người khác mô tả về ý vị ăn mận...bởi hạn chế của ngữ ngôn (khi nghe) hoặc hình ảnh (khi thấy) trong việc mô tả bản chất vấn đề...!!!
Việc trả lời các câu hỏi trong Phật đạo có liên quan đến chứng nghiệm tự thân cũng gần giống như vậy...Mọi trả lời, hay giải thích trên phương diện văn bản, hoàn toàn giống như kể nhau nghe ý vị khi ăn một quả mận...Nó chỉ tạm thoả mãn người nghe ở một góc độ nào đó, chứ không hoàn toàn "tương ưng" như thực tế đang diễn ra khi "ta ăn"...!!! Ví dụ, khi mình giải thích với HĐ Lý Gia về việc "viên thông vô ngại từ tâm thức đến thanh tịnh Niết bàn bởi sức giác ngộ tự thân" là như thế nào...!!! Lập tức, HĐ Lý Gia thấy rõ sự viên thông thanh tịnh ấy ngay nơi tâm thức của họ, chứ không phải "nghĩ suy" về việc ấy...Bởi, trong quá trình học tập và tiến tu, họ đã từng chứng ngộ điều này cũng như hiện tại họ đang sử dụng thành quả đó trong đời sống hay nghe pháp...!!! Cho nên nghe xong, họ không hề thắc mắc về những gì được nghe...như người chưa từng ăn mận, thắc mắc ý vị "vừa ngọt vừa chua" trong lúc ăn mận, nghe sao mà mơ hồ đến thế chẳng hạn...!!!
Tóm lại, việc trả lời các câu hỏi "thuộc dạng thực chứng" thông qua chuyên mục...Có giỏi lắm, cũng chỉ giúp người đọc có thêm một kênh tham khảo, hoặc tăng trưởng kiến thức, hay định hướng học tập...hơn là, giúp bạn đọc chứng nghiệm sự việc ấy...!!! Mong Phước Thịnh và bạn đọc thông cảm...!!!
Bây giờ, mình xin trả lời các câu hỏi:
- Hỏi:
"Câu 1: Nhờ bác giải thích rõ hơn giúp cháu câu: “Thần thông của Phật đạo là sự viên thông vô ngại "từ tâm thức đến thanh tịnh Niết bàn" bởi sức giác ngộ tự thân…”. Nó quá cô đọng, cháu vẫn chưa hiểu được ạ. Những thứ thần thông trong Đạo Phật như: Thần túc thông, Thiên nhãn thông, Thiên nhĩ thông, Túc mạng thông, Tha tâm thông và cuối cùng là Lậu tận thông, bản chất chỉ là các trạng thái giác ngộ trong tâm thức phải không ạ?"
- Trả lời:
a) Đối với người chưa giác ngộ: Khi thấy, nghe, hay, biết, nghĩ suy (kiến, văn, giác, tri)...vv...Tâm thức họ bị ngăn bịt bởi các xúc đối...Ví dụ: Mắt thấy sắc, tâm thức họ bị ngăn bít bởi cái đẹp xấu của sắc...Tai nghe âm thanh, tâm thức họ bị ngăn bít bởi tiếng hay, tiếng dở, tiếng khen, tiếng chê của âm thanh...Khi biết về quá khứ của mình hay người, họ bị ngăn bít bởi quá khứ tốt xấu của mình, của người...Khi nhận ra cuộc sống của ai đó, họ bị ngăn bít bởi sự giàu sang hay nghèo hèn trong quá khứ hoặc hiện tại của người kia...vv...!!!
b) Đối với người thật sự giác ngộ: Trong các xúc đối từ kiến, văn, giác, tri...vv...họ không bị ngăn bít bởi đối tượng (của thấy, nghe) như người đời mà, tâm thức họ an nhiên, thanh tịnh, dung thông thẳng đến Niết bàn...!!! Sự không ngăn ngại này, Phật đạo gọi là thần thông hay viên thông (có thể tham khảo Thủ Lăng Nghiêm và các kinh khác)...!!!
c) Từ đó, có thể suy ra bản chất của các loại thần thông đích thực trong Phật đạo là gì...!!! Muốn tương ưng các nghĩa này, phải vượt qua rào cản ngữ ngôn của kinh điển (khi được thuật lại) đã có những mô tả thần thông mang đậm văn hoá thần thoại...!!! Tức là, khi đọc kinh hoặc thâm cứu giáo pháp, người đọc không nên "sa vào hầm hố ngữ ngôn", mà chỉ nên: "Tôi chỉ nghe kể như vầy", chứ không phải "tôi mong sẽ được thấy như kia" theo tinh thần Phật đã di huấn khi mở đầu các bài kinh "Như thị ngã văn"...!!!
- Hỏi:
"Câu 2: Nhờ bác phân biệt giúp cháu Độn A la hán; A la hán hồi tâm khác nhau thế nào ạ? Bồ tát quyền thừa; Bồ tát nhất thừa và Bồ tát thập địa khác nhau thế nào ạ? Đó có có phải là thứ tự các quả vị từ thấp đến cao mà một hành giả sẽ đạt được trong quá trình tu tập phải không ạ? Từ quả vị nào sẽ bắt đầu thành tựu được lục thông ạ?"
- Trả lời:
a) Độn A la hán là những A la hán do tu tập "Cửu thứ đệ định" mà chứng quả A la hán...!!!
b) A la hán hồi tâm: Là các A la hán từ bỏ "tâm nguyện nhỏ nhoi" (chỉ mong tu tập hết khổ tự thân) của mình, để phát đại tâm Vô thượng Bồ đề...!!!
c) Bồ tát quyền thừa (Thập trụ Bồ tát): Là các Bồ tát còn tu học trong giai đoạn tự độ...!!!
d) Bồ tát nhất thừa: Là các Bồ tát sau khi đã xong phần tự độ (của ba thừa)...Nay nhập vào "dòng nhất thừa" để học tập trí tuệ...!!!
e) Bồ tát thập địa: Là những Bồ tát trên con đường học trí tuệ, "mầm trí tuệ" của họ "bắt đầu mọc" và họ "đăng địa" để lần lượt thành tựu các quả vị của Thập địa...!!!
f) Những địa vị nêu trên, không nhất thiết thuộc về thứ lớp tu hành...Mà có khi thuộc về xu hướng, tâm nguyện, tâm cơ, đạo chủng...vv...của người học...!!!
g) Quả vị A la hán của Thanh văn thừa (trừ độn A la hán); Quả vị Bích chi của Duyên Giác thừa; Quả vị Phật tử trụ của Bồ tát quyền thừa là những quả vị căn bản trong đạo pháp đã có thể thành tựu lục thông...!!!
Hi vọng, những trả lời vừa rồi, có thể giúp Phước Thịnh và bạn đọc có cái nhìn sáng tỏ hơn về các địa vị cùng nét căn bản của các thứ thần thông trong Phật đạo...!!! Chúc các bạn an vui, tinh tấn...!!!
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
11/10/2025
LÝ TỨ
Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời Số 45.2025 với chủ đề: Thần Thông Của Ngoại Đạo và Phật Đạo Khác Nhau Như Thế Nào ???
Các bạn !!!
Mình vừa nhận được thư và một số thắc mắc của bạn đọc Hồ Phước Thịnh ở Đà Nẵng...Nội dụng như sau:
"Kính gửi tác giả Lý Tứ,
Cháu cảm ơn bác đã trả lời rất thấu đáo những câu hỏi kỳ trước của cháu! Cháu cũng xem kỹ các video bác gửi kèm. Cháu thấy Lý Gia tổ chức chia sẻ về Phật Pháp rất bài bản. Điều cháu ấn tượng là cách tiếp cận Phật Pháp rõ ràng, thực tế của các bài học - không mang màu sắc tâm linh, tôn giáo.
Hôm nay cháu lại có thêm một số câu hỏi nữa mong bác giải đáp giúp cháu:
Câu 1: Cháu đọc về cuộc đời Đức Phật thấy, trước khi Đức Phật thành đạo, nhờ tu tập theo các vị thầy ngoại đạo ngài chứng được Tứ Thiền. Khi ngài thành đạo rồi, trong một số bài kinh Đức Phật cũng nói một vị A La Hán cũng thành tựu được Tứ Thiền. Vậy đâu là sự khác nhau giữa Tứ Thiền của ngoại đạo và Tứ Thiền của một bậc A La Hán ạ? Nhớ bác giảng rõ thêm giúp cháu về bốn tầng thiền đó ạ?
Câu 2: Cháu thấy trong Phật sử có kể: Ngoại đạo có ngũ thông. Còn Phật có lục thông. Vậy ngũ thông của ngoại đạo và lục thông của Phật giống và khác nhau như thế nào ạ? Nhờ bác giải thích giúp cháu khái niệm “thần thông” theo đúng tinh thần của Đạo Phật ạ?
Rất mong nhận được hồi đáp từ bác,
Kính chúc bác nhiều sức khỏe!
09/10/2025 - 8:15:56 - Hồ Phước Thịnh - Đà Nẵng"
Phước Thịnh và bạn đọc thân mến !!!
Về các câu hỏi của Phước Thịnh, mình xin được trả lời như sau:
- Hỏi:
"Câu 1: Cháu đọc về cuộc đời Đức Phật thấy, trước khi Đức Phật thành đạo, nhờ tu tập theo các vị thầy ngoại đạo ngài chứng được Tứ Thiền. Khi ngài thành đạo rồi, trong một số bài kinh Đức Phật cũng nói một vị A La Hán cũng thành tựu được Tứ Thiền. Vậy đâu là sự khác nhau giữa Tứ Thiền của ngoại đạo và Tứ Thiền của một bậc A La Hán ạ? Nhớ bác giảng rõ thêm giúp cháu về bốn tầng thiền đó ạ?"
- Trả lời:
* Tứ thiền của ngoại đạo: Các tầng thiền và định của ngoại đạo có được là do "dùng ý chí" (hoặc sở pháp, hoặc trú tâm) để vượt qua ba cõi...!!! Trong quá trình vượt qua từng cõi...Tứ thiền gồm: Sơ, nhị, tam, tứ thiền thành tựu ở cõi Sắc...Tứ không định gồm: Hư không vô biên, Thức vô biên, Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ thành tựu ở Vô sắc...!!!
* Tứ thiền của Phật đạo gồm bốn loại:
a) Của các Độn A la hán: Phần lớn là các ngoại đạo đã từng đắc các loại thiền định, nay quy y Phật...!!! Từ nền tảng thiền định có được trước đây, để giúp các ngoại đạo này vượt qua cảnh giới Phi tưởng phi phi tưởng chứng Niết bàn Vô tưởng thiên, Phật dạy cho họ phép định thứ chín có tên Diệt thọ tưởng định...!!!
b) Của A la hán hồi tâm và Bồ tát quyền thừa: Do quá trình học tập và giác ngộ, "tâm thức tự dừng" họ thành tựu "Diệt tận định"...Từ định này, tâm thức cũng trải qua các thiền thú như Sơ, nhị, tam, tứ thiền...vv...!!!
c) Của mật hạnh A la hán và Bồ tát nhất thừa: Do quá trình giác ngộ thấu suốt các Tam muội môn và Giải thoát môn, với tâm trí siêu việt, họ tự tại nhập xuất thứ lớp tứ thiền, bát định, cửu thứ đệ định gọi là "Siêu việt Tam muội"...!!!
d) Của Bồ tát thập địa: Họ tự tại du hí vào các thiền thú như tứ thiền, bát định, cửu thứ đệ định, hoặc các cõi Phật...vv...Việc du hí này, "không theo thứ lớp" như "Siêu việt Tam muội" mà, họ tới lui "xuất kì bất ý" gọi là "Sư tử phấn tấn Tam muội"...!!!
- Hỏi:
"Câu 2: Cháu thấy trong Phật sử có kể: Ngoại đạo có ngũ thông. Còn Phật có lục thông. Vậy ngũ thông của ngoại đạo và lục thông của Phật giống và khác nhau như thế nào ạ? Nhờ bác giải thích giúp cháu khái niệm “thần thông” theo đúng tinh thần của Đạo Phật ạ?"
- Trả lời:
a) Thần thông của ngoại đạo có được do quá trình tu tập các loại thiền và định bằng cách dùng ý chí để vượt qua các cõi (như trả lời ở câu 1)... Quá trình này, ý thức bị ức chế (đóng băng, tê liệt) bởi ý chí (hoặc các sở pháp) nên các ấm không được kiểm soát...Từ đó, dẫn đến việc các ấm "tự do biến hiện" thông qua ảo giác hay ảo tưởng...họ nhầm tưởng đấy là "thần thông"...Các thứ thần thông này, chính là "tướng biến hiện của Ngũ ấm ma" theo quan điểm của Phật đạo...!!! Khi các ảo giác chiếm cứ tâm thức, nó trở thành một dạng "lậu hoặc" che mờ tâm trí...Đây là lí do vì sao ngoại đạo hô hào có đủ các thứ thần thông, nhưng lại không thể thành tựu "Lậu tận thông"...!!!
b) Thần thông của Phật đạo là sự viên thông vô ngại "từ tâm thức đến thanh tịnh Niết bàn" bởi sức giác ngộ tự thân...Do sự viên thông vô ngại ấy, nên tâm trí không còn bị ngăn bít bởi thấy, nghe, nghĩ suy...vv...từ đó lậu hoặc cũng tự tịch diệt...Đây là lí do vì sao, thần thông của Phật đạo lại có "Lậu tận thông"...!!!
c) Thần thông đích thực của Phật đạo hoàn toàn không giống các thứ thần thông được hư cấu, được vẽ ra từ văn hoá thần thoại, tiểu thuyết hay phim ảnh...!!!
Hi vọng, những trả lời vừa rồi, có thể giúp Phước Thịnh và bạn đọc có cái nhìn sáng tỏ hơn về các loại thiền định cùng các thứ thần thông...!!! Chúc các bạn an vui, tinh tấn, thành công trong học tập...!!!
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
09/10/2025
LÝ TỨ
Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời Số 44.2025 với chủ đề: A Tăng Tì Kiếp Trong Phật Đạo Là Gì ???
Các bạn !!!
Sau hai ngày không có thư bạn đọc...Hôm nay, mình vừa nhận được mấy câu hỏi của bằng hữu Trí Đức - Bắc Ninh...!!! Nội dung như sau:
"Kính gửi Thầy Lý Tứ,
Tôi xin chân thành tri ân Thầy về những lời khai thị chí lý, thấu triệt và cô đọng trong lần giải đáp trước.
Các luận giải của Thầy về Phương tiện quyền xảo và Dời thế gian pháp, về sự khác biệt giữa Niết Bàn và Trí tuệ Bát Nhã, đặc biệt là cách phân định giữa Tương tợ Bát nhã và Bát nhã chân thiệt, đã giúp tôi sáng tỏ thêm tinh thần sâu xa của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Tôi đặc biệt tâm đắc với lời Thầy rằng:
“Dời thế gian pháp ra khỏi tâm thức” không phải phủ nhận phương tiện, mà là điều kiện tất yếu để thành tựu tự độ và được khai thị Phật Tri Kiến; rằng sai biệt giữa Nhị Thừa và Nhất Thừa nằm ở bản chất trí tuệ chứng đắc – một bên tuần tự định hoặc, một bên vô sư trí tự khởi; và rằng ngộ nhập Nhất Thừa chính là chuyển lý thành sự, biến tri kiến thành công hạnh viên dung.
Xin được mạn phép nêu đôi điều thắc mắc thêm:
1. Khi đã ngộ nhập Phật Tri Kiến, các vô minh vi tế có còn là đối tượng đoạn trừ như trong Bồ Tát địa chăng, hay đó đã là sự “bừng vỡ cuối cùng” khiến vô minh toàn chuyển thành Minh?
2. Hành giả Nhất Thừa đã thành tựu Tương tợ Bát nhã thì khả năng ứng dụng Pháp xuất thế trong công hạnh khác gì với Bồ Tát quyền thừa?
3. Đối với vị Bồ Tát Nhất Thừa, thời gian hành đạo còn bị ràng buộc bởi Tam A-tăng-kỳ kiếp như các kinh khác nói chăng, hay sự viên mãn nay được đo bằng công năng chuyển hóa (công hạnh) hơn là thời gian vật lý?
Mong Thầy từ bi khai thị thêm.
Thành tâm tri ân và kính chúc Thầy pháp thể khinh an, tuệ nhật thường minh.
Trân trọng kính thư,
07/10/2025 -10:40:34 - Trí Đức - Bắc Ninh"
Bằng hữu Trí Đức và bạn đọc thân mến !!!
Về các câu hỏi của bằng hữu, Lý Tứ xin được trả lời như sau:
- Hỏi:
"1. Khi đã ngộ nhập Phật Tri Kiến, các vô minh vi tế có còn là đối tượng đoạn trừ như trong Bồ Tát địa chăng, hay đó đã là sự “bừng vỡ cuối cùng” khiến vô minh toàn chuyển thành Minh?"
- Trả lời:
Bồ tát đã "ngộ nhập Phật tri kiến" còn có danh xưng là "Bồ tát Nhiếp thọ Chánh pháp vô dị biệt"...Tức, vị này là chánh pháp, chánh pháp là vị này, chánh pháp và vị ấy "không hai, không khác"...Vì thế, vị ấy đã hoàn toàn siêu quá các cảnh giới của thế gian và xuất thế như: Minh, vô minh; Tu, vô tu; Chứng đắc, vô chứng đắc...vv...!!!
- Hỏi:
"2. Hành giả Nhất Thừa đã thành tựu Tương tợ Bát nhã thì khả năng ứng dụng Pháp xuất thế trong công hạnh khác gì với Bồ Tát quyền thừa?"
- Trả lời:
Bồ tát thành tựu Tương tợ Bát nhã...Trong công hạnh và giáo hoá, các lỗi thô trọng thuộc về "Chúng sanh tướng và Thọ giả tướng" của Bồ tát quyền thừa không còn nữa...Nếu còn, chỉ là "tập khí vi tế", tập khí này sẽ hoàn toàn tịch diệt khi Bồ tát thành tựu Bát nhã chơn thiệt...!!!
- Hỏi:
"3. Đối với vị Bồ Tát Nhất Thừa, thời gian hành đạo còn bị ràng buộc bởi Tam A-tăng-kỳ kiếp như các kinh khác nói chăng, hay sự viên mãn nay được đo bằng công năng chuyển hóa (công hạnh) hơn là thời gian vật lý?"
- Trả lời:
A tăng kì kiếp (vô số kiếp) của Phật đạo là khái niệm nhằm chỉ "một lần chuyển hoá quan trọng" trong tâm thức của người tu hành, chứ không phải thời gian vật lí...!!! Từ sơ cơ đến thành tựu viên mãn trí tuệ, người tu hành đúng chánh pháp có ba lần chuyển hoá cực kì quan trọng, Phật đạo gọi là Tam A tăng kì kiếp hay ba vô số kiếp, gồm:
* Một vô số kiếp thứ nhất (A tăng kì kiếp thứ nhất): Chuyển hoá từ "phàm phu vô văn đến viên mãn đạo quả xuất thế", xong phần tự độ, ra khỏi "phần đoạn sanh tử"...!!! Mỗi lần giác ngộ trong giai đoạn này, gọi là một kiếp...Giai đoạn này, tâm thức có vô số lần chuyển biến, hoá kiếp như vậy...!!!
* Một vô số kiếp thứ hai (A tăng kì kiếp thứ hai): Từ bất động (của đạo xuất thế) bước ra...Bồ tát phát tâm Vô thượng Bồ đề, phát nguyện độ thoát chúng sanh, cầu học đạo trí tuệ...Lần chuyển hoá thứ hai này, tâm trí Bồ tát phải trải qua một A tăng kì của "Bất tư nghì biến dịch sanh tử"...Trong đó, cứ mỗi lần "tâm trí chuyển biến" gọi là một kiếp...!!!
* Một vô số kiếp thứ ba (A tăng kì kiếp thứ ba): Bồ tát đã thành tựu Thật trí, lấy công hạnh làm đời sống...Bồ tát thể nhập "Hậu biên thân" giáo hoá chúng sanh cho đến khi công đức viên mãn, chờ thọ kí nhập "Tối hậu thân" thành Đẳng chánh giác như chư Phật xưa...!!! Sự chuyển biến trong A tăng kì kiếp này tuỳ thuộc vào "duyên chúng sanh" và "nguyện lực tự thân", kinh gọi là "bi nguyện và bi ngưỡng"...!!!
Hy vọng, những trả lời vừa rồi, có thể giúp bằng hữu Trí Đức và bạn đọc có cái nhìn khái quát về các A tăng kì kiếp của Phật đạo...!!! Chúc các bạn an vui, tinh tấn...!!!
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
07/10/2025
LÝ TỨ
Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời Số 43.2025 với chủ đề: Tứ Vô Ngại Biện Của Phật Đạo !!!
Các bạn !!!
Mình vừa nhận được một số thắc mắc của bằng hữu Huyền Đức ở Long Khánh...!!! Nội dung như sau:
"Chào thầy Lý Tứ,
Tôi cảm ơn thầy đã giảng rõ cho tôi về chủ đề Thập Như Thị trong hai kỳ hỏi trước. Tôi đã hiểu và trực nhận được phần nào nguyên lý vi diệu này.
Tôi là công chức nghỉ hưu nên cũng có nhiều thời gian. Gần đây tôi thường đọc các bài viết của Thầy, khi đọc về “Tứ vô ngại biện”, và nghiền ngẫm. Tôi có một vài điểm chưa thông muốn nhờ thầy giải đáp:
1- Nếu Nghĩa vô ngại biện là thông đạt bản thể (Pháp tánh), còn Pháp vô ngại biện là thông đạt hiện tượng (Pháp tướng), thì người đã thấu triệt Nghĩa có tự nhiên thành tựu Pháp vô ngại biện không, hay vẫn cần tu chứng riêng phần Sự?
2- Thầy nói ba điều đầu thuộc Đại Trí, còn Biện vô ngại biện là Đại Bi, là trí tuệ tự tại trong biện thuyết. Như vậy, có phải Biện vô ngại biện là sự viên mãn của Trí lẫn Bi, và trí tuệ rốt ráo không thể tách rời lòng từ bi lợi tha?
3- Theo thầy, hành giả cần đạt đến mức tu chứng nào mới có thể thật sự viên mãn Tứ vô ngại biện? Người chưa dứt hết phiền não có thể đạt được “vô ngại” trong biện luận chăng?
4- Làm sao để phân biệt rõ Tứ vô ngại biện của một vị Bồ Tát đã chứng đắc với tài hùng biện của người thế gian — vốn cũng có Từ và Biện xuất chúng nhưng thiếu Nghĩa và Pháp?
Rất mong nhận được câu trả lời của thầy, kính chúc thầy Lý Tứ nhiều sức khỏe!
04/10/2025 - 13:54:29 - Huyền Đức - Long Khánh”
Bằng hữu Huyền Đức và bạn đọc thân mến !!!
Trước khi thảo luận các câu hỏi của bằng hữu...Lý Tứ xin có đôi lời về Tứ vô ngại biện của Phật đạo...!!!
Cũng giống như bất kì ngành nghề chuyên môn kĩ thuật nào trên đời, Phật đạo ở góc nhìn nào đó cũng có những nét đặc trưng mang tính chuyên môn kĩ thuật cao...!!! Mà đã là chuyên môn kĩ thuật thì, chỉ những ai thật sự am tường chuyên môn kĩ thuật của ngành nghề đó, mới có đủ hiểu biết sâu rộng về ngành nghề của mình...mà một người không thật sự am tường, không trải nghiệm trong nghề, không thể giải thích thoả đáng và thuyết phục mọi thắc mắc liên quan đến ngành nghề...!!!
Tứ vô ngại biện của Phật đạo, chính là bốn pháp biểu hiện sự thông tuệ giáo pháp của một người rất am tường về lãnh vực này mà, một người không am tường đến độ thông tuệ không thể có được...!!! Giống như, chỉ có những bậc thầy về y học, mới có thể giải thích một cách thoả đáng và thuyết phục những vấn đề liên quan đến y học...!!! Còn những ai, chưa đạt trình độ như vậy, dù giỏi biện thuyết cũng không thể giải thích một cách thuyết phục, rốt ráo và thông tuệ như vị thầy kia...Vì rằng, có những vấn đề liên quan đến chuyên môn kĩ thuật, cũng như những ứng dụng thực tế mà chỉ những bậc thầy từng trải nghiệm trong ngành nghề mới biết được...!!!
Bây giờ, mình xin trả lời các thắc mắc của bằng hữu Huyền Đức...!!!
- Hỏi:
"1- Nếu Nghĩa vô ngại biện là thông đạt bản thể (Pháp tánh), còn Pháp vô ngại biện là thông đạt hiện tượng (Pháp tướng), thì người đã thấu triệt Nghĩa có tự nhiên thành tựu Pháp vô ngại biện không, hay vẫn cần tu chứng riêng phần Sự?"
- Trả lời:
Tứ vô ngại biện có bốn pháp gồm: Từ vô ngại, nghĩa vô ngại, pháp vô ngại và biện tài vô ngại...!!!
Tuy liệt kê có bốn pháp...Nhưng, thật sự chỉ là bốn mặt của một vấn đề...!!! Khác hơn, bốn pháp trên là "sự hoạt dụng thiện xảo" của Bát nhã trí...Do đó, người thành tựu hay thể hiện một vô ngại, tức vị ấy có đủ Tứ vô ngại...!!!
Người còn tu chứng ở bất kì địa vị nào trong đạo pháp, đều không thể có được Tứ vô ngại biện...!!! Khác hơn, đây là một trong những điều đặc dị của bậc "vô tu vô chứng" trong đạo pháp...!!!
- Hỏi:
"2- Thầy nói ba điều đầu thuộc Đại Trí, còn Biện vô ngại biện là Đại Bi, là trí tuệ tự tại trong biện thuyết. Như vậy, có phải Biện vô ngại biện là sự viên mãn của Trí lẫn Bi, và trí tuệ rốt ráo không thể tách rời lòng từ bi lợi tha?"
- Trả lời:
Biện tài vô ngại hay Biện vô ngại biện của Phật đạo, không phải là loại biện thuyết để chứng tỏ năng lực của mình trước quần chúng, hoặc tranh biện để hơn người...!!! Mà, nó là công cụ tối thiện xảo phát xuất từ Tứ vô lượng tâm, để Phật và Bồ tát giúp người vượt qua hai chướng đạo, đó là "Tồi tà hiển chánh" và "Đoạn mê khai giác"...Sau đó người ấy tìm thấy cơ hội kiến đạo...!!!
- Hỏi:
"3- Theo thầy, hành giả cần đạt đến mức tu chứng nào mới có thể thật sự viên mãn Tứ vô ngại biện? Người chưa dứt hết phiền não có thể đạt được “vô ngại” trong biện luận chăng?"
- Trả lời:
Muốn thành tựu Tứ vô ngại biện, vị này phải thành tựu hai thứ thông là, "Thuyết thông" và "Tông thông"...!!!
* Thuyết thông: Như người chủ nhà biết rõ căn nhà của mình ở vị trí nào, cũng như có năng lực hướng dẫn mọi người tìm đến căn nhà của mình, dù người ấy xuất phát bất kì ở đâu trên thế giới này một cách chính xác, nhanh chóng và an toàn nhất...!!!
* Tông thông: Như gia chủ biết rõ công dụng từng món đồ trong nhà, cũng như các món đồ ấy mua sắm ở đâu, lúc nào, trị giá, địa chỉ mua sắm, hiện tại món đồ đó đang để ở đâu trong nhà...từ những món có giá trị như châu báu, cho đến cây kim sợi chỉ, kể cả một cái nồi thủng đáy chưa kịp bán ve chai...vv...Những thứ mà người ngoài không thể nào biết được...!!!
Tóm lại, vị có đủ hai thứ thông, có thể tuyên thuyết một cách tường tận từng cung đường của đạo pháp và hướng dẫn người hữu duyên, tuần tự thành tựu tất cả các đạo quả trong Phật đạo một cách chính xác như pháp...!!!
Người chưa dứt phiền não, nếu thấu suốt "phiền não, bồ đề tánh không hai", cũng có thể thành tựu Tứ vô ngại...!!! Tuy nhiên, Phật dạy, hạng này xuất hiện trong đời hiếm như hoa Ưu đàm bát la hay Kì Lân trong loài người...không phải ai cũng được...!!! Còn lại, tất cả đều phải dứt phiền não rồi sau đó học trí tuệ mới "có cơ may" thành tựu Tứ vô ngại...!!!
- Hỏi:
"4- Làm sao để phân biệt rõ Tứ vô ngại biện của một vị Bồ Tát đã chứng đắc với tài hùng biện của người thế gian — vốn cũng có Từ và Biện xuất chúng nhưng thiếu Nghĩa và Pháp?"
- Trả lời:
Thật ra, rất khó để một người không am tường Phật đạo có thể nhất thời nhận ra sự khác biệt giữa Tứ vô ngại biện và Biện thông thế trí...!!!
Riêng người có tài hùng biện của thế gian chỉ có thể giỏi "từ ngữ" thuộc pháp thế gian, chứ họ chẳng thể thấu đạt các từ ngữ mang trong nó nội hàm sâu thẳm của giáo pháp, cũng như từ ngữ hàm chứa sự ẩn mật của cảnh giới xuất thế...!!! Cho nên, hùng biện ở đời là giỏi "hùng biện thế gian" chứ không phải "vô ngại biện" trong đạo pháp...!!!
Tuy một người bình thường khó nhận biết, nhưng ta có thể căn cứ vào những chi tiết của hai thứ thông đã nêu ở câu hỏi (3), các chi tiết ấy là những thứ mà một người không thông thuộc giáo pháp, chỉ dựa vào sức hùng biện thế gian không hề biết được, để từ đó ta suy ra người thuyết thuộc hạng nào...!!!
Thứ hai, nhìn vào kết quả sau mỗi lần nghe thuyết, ta có thể tự đánh giá như, sau khi nghe thuyết ta có thấy rõ con đường và mục tiêu của giáo pháp là gì ??? Khổ, phiền não, kiết sử, mê mờ, lậu hoặc trong ta có giảm hay không ??? Thanh tịnh, an vui có hiện ???...vv...Nói chung, lời thuyết nào giúp ta đạt được các mục tiêu của đạo pháp thì ta chấp nhận...Lời thuyết nào khiến ta ngày một mơ hồ, phiền muộn, mê mờ, nhân ngã, chấp nhất, đấu tranh, không thấu triệt nghĩa lí, chẳng biết mục tiêu cũng như con đường ta sẽ đi là gì, đời đạo lung tung, thế gian xuất thế lộn xộn...vv...thì ta có thể coi lại...!!!
Hy vọng, những trả lời vừa rồi, có thể giúp bằng hữu Huyền Đức và bạn đọc có cái nhìn khái quát về Tứ vô ngại của Phật đạo...!!!
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
04/10/2025
LÝ TỨ
Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời Số 40.2025 với chủ đề: Lại Bàn Về Thập Như Thị !!!
Các bạn !!!
Mình vừa nhận được thư phản hồi và hai câu hỏi của bằng hữu Huyền Đức ở Long Khánh !!! Nội dung như sau:
"Chào thầy Lý Tứ!
Lời đầu tiên, Huyền Đức tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến thầy đã không quản ngại thời gian và tâm sức để trả lời tận tường những thắc mắc của tôi. Đặc biệt, tôi rất cảm động trước những lời động viên, khích lệ đầy chân tình mà thầy dành cho "cái lứa cận địa viễn thiên" như chúng ta. Đúng là ở cái tuổi này, sợi dây kinh nghiệm đã gần hết, nhưng chính sự trải nghiệm đủ đầy của đạo và đời lại là động lực thúc đẩy chúng ta càng phải tinh tấn tìm cầu "ý nghĩa đích thực" của đạo pháp để không uổng phí những milimet cuối cùng. Tôi nguyện sẽ "chân cứng đá mềm" như lời chúc của thầy.
Tôi thấy đồng cảm với thầy khi nhấn mạnh rằng, Thập Như Thị không chỉ dừng lại ở nguyên lý trừu tượng, mà còn là phương pháp sinh động để Bồ Tát vận dụng vô lượng pháp lành tùy căn cơ hữu tình. Đọc đến đoạn thầy nhắc bốn câu kệ trong kinh Hoa Nghiêm, tôi thật sự rúng động — như thấy rõ cả một tấm bản đồ thâm diệu của đạo pháp, nơi tâm thức chính là gốc của muôn duyên.
Lại càng xúc động hơn khi thầy ví “nghe như vầy” và “không nghe như kia” với tiếng trống đánh thức người mê ngủ. Câu ví đó vừa giản dị, vừa thấm thía. Đúng như thầy nói, văn tự có hay đến đâu cũng chẳng thay thế được trực nghiệm. Tôi đọc mà như được gõ một tiếng chuông ngay nơi tâm mình.
Để có thể nghiền ngẫm sâu hơn nữa về học thuyết quan trọng này, tôi xin phép được nêu thêm một vài thắc mắc nhỏ:
1. Thầy có đề cập đến việc Bồ tát phải "trực nhận" và "thấu thị để trực nhận" nguyên lí Thập Như Thị. Thầy có thể nói rõ hơn, sự khác biệt giữa hai quá trình nhận thức này là gì?
2. Như thầy nói Thập như thị là học thuyết để Bồ Tát ứng dụng trong quá trình giáo hóa. Tôi hiểu đây là mục đích trong đạo và phạm vi là “tâm thức” chúng sanh. Nhưng thầy cũng có nói Thập Như Thị nếu ứng dụng thông suốt trong thế gian đạo có thể giúp người thành công trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị… Tôi hiểu đây lại là mục đích ở đời và phạm vi rất rộng, không chỉ gói gọn trong “tâm thức”. Xin thầy giảng rõ giúp tôi hai ý này?
Tôi xin ghi ơn thầy một lần nữa và kính chúc thầy luôn an lạc, tinh tấn để tiếp tục khai thị cho chúng tôi trên con đường đạo pháp.
30/09/2025 - 8:33:01 - Huyền Đức - Long Khánh"
Bằng hữu Huyền Đức và bạn đọc thân mến !!!
Về nội dung các câu hỏi, xin được trả lời như sau:
- Hỏi:
"1. Thầy có đề cập đến việc Bồ tát phải "trực nhận" và "thấu thị để trực nhận" nguyên lí Thập Như Thị. Thầy có thể nói rõ hơn, sự khác biệt giữa hai quá trình nhận thức này là gì?"
- Trả lời:
a) Thông thường, khi tiếp cận một vấn đề nào đó từ thấy, nghe...vv...người ta có khuynh hướng căn cứ vào các thông tin đã tiếp nhận, sau đó đưa các thông tin ấy lên não bộ để tổng hợp, phân tích, đánh giá...và dựa vào kinh nghiệm hoặc tri thức để tìm ra các mặt lợi hại...sau đó đưa ra kết luận cuối cùng hoặc biện pháp xử lí...!!! Cách giải quyết này thuần tuý thế gian đạo...Nó tuỳ thuộc vào quan điểm, kinh nghiệm, tri thức, tình cảm, toan tính, lợi ích...Do đó hoàn toàn "không như pháp"...!!!
b) Ở nhãn quan xuất thế thì khác, khi tiếp cận một thông tin...Do quá trình giác ngộ và thức đã thành trí, cũng như phản xạ tự nhiên của nhãn quan xuất thế...Người này, không chạy theo thông tin, không đưa thông tin lên não bộ...vv...như thế gian...mà, chỉ coi thông tin là thứ "nguyên liệu thô"...Với nhãn lực đã thành tựu, họ vượt qua lớp nguyên liệu thô ấy (gọi là thấu thị) để "trực nhận những giá trị" ẩn tàng trong khối thông tin ấy...!!! Ví dụ: Khi Lục Tổ nghe Ngũ Tổ giảng kinh Kim Cang...Lục Tổ với sức giác ngộ của tự thân khi nghe (thấu thị), đã trực nhận ý nghĩa sâu thẳm từ những gì Ngũ Tổ giảng giải và kết luận bằng hai chữ "nào dè"...!!! Hai chữ "nào dè" trong trường hợp này, cho thấy Lục Tổ phát hiện ra điều gì đó mới mẻ, hay ho hơn những thứ đã thấy trước đó...Hai tiếng "nào dè" của Huệ Năng lúc này, biểu hiện toàn bộ tâm trạng vui mừng, thảng thốt, bất ngờ, lí thú...!!!
c) Ở cảnh giới xuất thế gian thượng thượng thì lại càng khác, khi tiếp nhận một thông tin...Trong từng chi tiết (câu, chữ), hoặc một mảnh ghép, hay toàn bộ thông tin...Với nhãn lực siêu việt, vị ấy "trực nhận" "tất cả ý vị thẩm sâu sai biệt" ở từng chữ, từng câu, từng mảnh ghép hay toàn bộ thông tin do uy lực của Tứ vô ngại trí và Tứ vô sở uý...!!!
Đây là lí do vì sao, Phật đạo đỉnh cao có "Đại thừa vô lượng nghĩa" (tức một từ, một dụ, một pháp...vv...) có thể phân tích giảng nói thành vô lượng nghĩa sai biệt tuỳ duyên chúng sanh (tuỳ căn cơ)...!!! Điều thú vị này, ta có thể thấy ở Lục Tổ Huệ Năng trong cơ giáo hoá...Là người không biết chữ nhưng, khi có người cầu giảng kinh, Huệ Năng nhờ người đọc và ngay lập tức cắt nghĩa lời kinh đó một cách như pháp, tương ưng với căn tánh người nghe...!!! Điều thú vị này, được Huệ Năng phát biểu bằng câu nói bất hủ: "Diệu lí chư Phật, can hệ gì đến văn tự"...!!!
Cảnh giới này, ta cũng thường bắt gặp ở cách thuyết pháp của Phật...Cũng pháp đó, với người này Thế Tôn giảng thế này, với người kia hay hội chúng kia Thế Tôn giảng thế kia...Tuy trong cách giảng, ý nghĩa mỗi lần tuyên thuyết rất khác nhau, nhưng sau khi nghe, thính chúng đều thành tựu đạo quả như pháp...!!! Đúc kết tính siêu việt này, Phật dạy: "Như Lai thuyết pháp thượng, trung, hạ đều thiện"...Có nghĩa, tuy mỗi thời Phật giảng giải khác nhau, nhưng tất cả đều cùng một ý vị, một mục đích...!!!
- Hỏi:
"2. Như thầy nói Thập như thị là học thuyết để Bồ Tát ứng dụng trong quá trình giáo hóa. Tôi hiểu đây là mục đích trong đạo và phạm vi là “tâm thức” chúng sanh. Nhưng thầy cũng có nói Thập Như Thị nếu ứng dụng thông suốt trong thế gian đạo có thể giúp người thành công trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị… Tôi hiểu đây lại là mục đích ở đời và phạm vi rất rộng, không chỉ gói gọn trong “tâm thức”. Xin thầy giảng rõ giúp tôi hai ý này?"
- Trả lời:
Một học thuyết, một nguyên lí, một câu chuyện, một pháp...vv...tự bản chất chẳng hữu vi, chẳng vô vi, chẳng phi hữu vô...Chẳng thế gian, chẳng xuất thế gian, chẳng xuất thế gian thượng thượng...!!!
Khi nào, học thuyết, nguyên lí, câu chuyện, pháp...đó được triển khai ở thế gian thì, nhất định nó trở thành pháp thế gian và phạm vi ứng dụng thuộc thế gian đạo...!!!
Ngược lại, cũng những thứ ấy, khi được tuyên thuyết ở hội chúng xuất thế hoặc xuất thế gian thượng thượng thì, nhất định nó phải được thấy, biết, hiểu...vv...và ứng dụng bằng chính ý nghĩa cùng nội hàm của các đạo ấy...!!!
Thập như thị cũng như vậy...Khi tuyên thuyết ở hội chúng xuất thế gian thượng thượng như pháp hội Diệu Pháp Liên Hoa thì phải biết rằng, đây là các pháp mà Bồ tát nhất thừa phải thấu đạt để làm hành trang trên con đường giáo hoá...!!!
Và, nếu Thập như thị được ứng dụng ở thế gian thì, đây là mười nguyên lí mang tính khoa học, logic...giúp dễ thành công trong một số lĩnh vực nào đó...!!! Ví dụ: Khi có người đầu tư một ngân khoản thế này (nhân như vậy); Nếu biết kết hợp với cổ đông, cùng các loại đòn bẩy tài chính khác, trong điều kiện thị trường và sản phẩm như vậy (duyên như vậy); Cộng nỗ lực của toàn công ty như lập kế hoạch, nghiên cứu thị trường, tìm kiếm xác định khách hàng tiềm năng, tiếp cận khách hàng, giới thiệu tư vấn sản phẩm, giải đáp thắc mắc, thuyết phục, chốt đơn hàng, và chăm sóc khách hàng sau bán như vậy (lực như vậy); Gồm hệ thống logistics và chuỗi cung ứng như vậy (tác như vậy)...vv...và...vv...Tất yếu, kết quả cuối cùng nó phải như vậy...như vậy...như vậy (như bổn mạt)...!!!
Trong tất cả các giai đoạn của Thập như thị, nếu thông suốt và khéo ứng dụng, ta có thể biến từng giai đoạn trong hệ thống thành động lực chính cho toàn hệ thống...!!!
Hy vọng, những trả lời vừa rồi, có thể giúp bằng hữu Huyền Đức và bạn đọc nhận ra sức hoạt dụng vô biên của Thập như thị...!!! Chúc mọi người an vui, tinh tấn...!!!
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau:
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
30/09/2025
LÝ TỨ