Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời Số 09.2025 với chủ đề: Từ Bi và Trí Tuệ Món Nào Có Trước !!!
Các bạn !!!
Sau 15 ngày tổ chức sự kiện và tham quan miền Bắc (Từ 12/06 đến 26/06)...Mình đã về đến nhà bình an vào lúc 16:30 ngày hôm qua (26/06/2025) !!!
Chân thành cảm ơn:
- Tất cả bạn đọc, khách mời đã đến tham dự chuỗi sự kiện...!!!
- Các đơn vị đồng hành...!!!
- Các cơ quan báo chí đã đưa tin...!!!
Kính chúc quý vị và toàn gia quyến thật nhiều sức khoẻ, an vui, thành công !!!
Các bạn !!!
Hôm nay, mình lại nhận thêm câu hỏi của Chánh Huy Toàn...!!!
Lời đầu tiên, chân thành cảm ơn Chánh Huy Toàn đã tin tưởng và tiếp tục đồng hành cùng chuyên mục Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời...!!!
Nội dung các câu hỏi như sau:
"Kính gửi tác giả Lý Tứ!
Lời đầu tiên con xin cảm ơn tác giả Lý Tứ rất nhiều vì đã dành thời gian trả lời câu hỏi của con!
Đọc câu trả lời của bác làm con thấy bất ngờ và xúc động quá ạ. Con đã tham gia rất nhiều buổi Pháp Đàm ở nhiều khóa tu khác nhau nhưng chưa bao giờ con nhận được một câu trả lời rành mạch và rõ ràng đến vậy!
Từ trước đến nay, con nghe nói nhiều đến hai từ “vô minh”, và cũng cố gắng tu tập là để giải quyết vô minh. Nhưng quả thực, con chỉ hiểu chung chung vô minh là mê mờ chứ không được ai phân tích, vô minh có 3 lớp rõ ràng như bác. Con cảm thấy bác có một sự chắc chắn và tự tin trong từng câu viết!
Bên cạnh đó, định nghĩa về chánh niệm bác đưa ra rất khác với cách con đang hiểu. Trước nay con được dạy Chánh niệm là ý thức chú tâm vào một đối tượng (một đề mục, như hơi thở, sự phồng xẹp ở bụng hoặc một cảm thọ trên thân hoặc một Pháp nào đó bên ngoài như bông hoa, cái lá…). Chánh niệm còn được hiểu là đang làm gì biết mình làm cái đó, là đưa thân trở về với tâm trong giây phút hiện tại… Còn bác lại định nghĩa Chánh niệm là nhớ nghĩ như pháp (Chánh pháp) và Chánh niệm là hệ quả tất yếu của Chánh kiến và Chánh tư duy… Điều này khiến con phải suy ngẫm!
Với những gì con đã thực tập, con tìm thấy sự an định tại thời điểm thực tập, con cũng tìm thấy niềm vui bằng cách hướng tâm mình đến những điều đẹp đẽ đang diễn ra xung quanh. Tuy nhiên, cuộc sống không phải lúc nào cũng màu hồng, khi tiêu cực ập đến, thì những gì đã thực tập lại không giúp được cho con một cách rốt ráo. Con chỉ biết trách mình căn cơ còn thấp kém, cần phải cố gắng hơn nữa…
Nhân duyên lành được trao đổi với bác, con xin phép bác có thêm 3 câu hỏi ạ:
1- Như bác giải thích, con hiểu rằng học tập Chánh pháp để hết vô minh, khi hết vô minh thì gọi là có Trí. Xin bác giải thích thêm giúp con Trí tuệ trong Đạo Phật được hiểu như thế nào ạ?
2- Trí tuệ và Từ bi trong Đạo Phật có mối liên hệ như thế nào ạ? Trên bước đường tu tập, Trí tuệ đến trước hay Từ bi đến trước ạ?
3- Để có được Chánh kiến và Chánh tư duy như bác nói thì phải học tập Chánh pháp. Nhưng trong bể mênh mông kinh điển thì con cần tiếp cận Chánh pháp như thế nào ạ?
Con xin cảm ơn bác và kính chúc bác luôn mạnh khỏe. Rất mong nhận được câu trả lời từ bác ạ!
Hà Nội, ngày 26/06/2025
Kính thư - Chánh Huy Toàn - 26/06/2025 - 22:53:01 - Hà Nội"
Chánh Huy Toàn và bạn đọc thân mến !!!
Về các câu hỏi của Chánh Huy Toàn, mình xin được trả lời như sau:
- Hỏi:
"1- Như bác giải thích, con hiểu rằng học tập Chánh pháp để hết vô minh, khi hết vô minh thì gọi là có Trí. Xin bác giải thích thêm giúp con Trí tuệ trong Đạo Phật được hiểu như thế nào ạ?"
- Trả lời:
Trí tuệ trong Phật đạo hay Bát Nhã Trí là kết quả của sự thấu suốt giáo pháp...!!!
Người thành tựu trí này có hai biểu hiện đặc thù, đó là: "Thuyết thông và Tông thông"...!!!
* Phật dạy: "Ta có hai thứ thông, gồm Thuyết thông và Tông thông...Thuyết dạy kẻ đồng mông, Tông dạy người tu hành...!!!" (Trích Kinh Lăng Già)
* Tổ Huệ Năng cũng dạy: "Thuyết thông và tông thông, như mặt trời giữa hư không..." (Trích Pháp Bảo Đàn Kinh)
Người thành tựu trí tuệ trong Phật đạo có năng lực giúp người học thấu hiểu Phật đạo một cách chắc thật, nhờ có Thuyết thông...!!! Và, có năng lực giúp người học lần lượt thành tựu các mục tiêu của Phật đạo đề ra, nhờ có Tông thông...!!!
- Hỏi:
"2- Trí tuệ và Từ bi trong Đạo Phật có mối liên hệ như thế nào ạ? Trên bước đường tu tập, Trí tuệ đến trước hay Từ bi đến trước ạ?"
- Trả lời:
Trí tuệ và Từ bi trong Phật đạo là hệ quả của nhau như mặt trời và ánh sáng (mặt trời), chúng hiện hữu theo quy luật: "Cái này có, nên cái kia có...Cái này sinh, nên cái kia sinh...Cái này không thì, cái kia cũng không..." (Thuyết Duyên Sinh"...!!!
* Trí tuệ của Phật đạo có ba tầng, gồm: Vô lậu trí (Giải thoát trí, Thánh Trí); Nhất Thiết Trí (Bồ Tát Trí); Và Nhất Thiết Chủng Trí (Phật Trí)...!!!
* Từ bi có ba tầng, gồm: Pháp duyên Từ bi, Chúng sanh duyên Từ bi và Vô duyên Từ bi...!!!
Mối liên hệ như sau:
* Thành tựu Thánh trí (Vô lậu trí) có được Pháp duyên Từ...!!!
* Thành tựu Nhất Thiết trí (Bồ tát trí) có được Chúng sanh duyên Từ...!!!
* Thành tựu Nhất thiết chủng trí (Phật trí) có được Vô duyên Từ...!!!
- Hỏi:
"3- Để có được Chánh kiến và Chánh tư duy như bác nói thì phải học tập Chánh pháp. Nhưng trong bể mênh mông kinh điển thì con cần tiếp cận Chánh pháp như thế nào ạ?"
- Trả lời:
Kinh Phật như sách giáo khoa...Mỗi cấp học có một số kinh tương ứng...!!! Muốn biết mình cần (nên) đọc sách giáo khoa nào trong cấp học nào...Thầy Cô giáo và nhà trường sẽ hướng dẫn cụ thể trong quá trình học tập...!!!
Giống như muốn chữa bệnh phải đến gặp Thầy thuốc...Không rành y học mà "tự ý bốc thuốc" , nhất định sẽ "tiền mất tật mang"...!!!
Hy vọng, những trả lời vừa rồi có thể giúp Chánh Huy Toàn và bạn đọc giải toả một vài thắc mắc của bản thân...!!!
Chúc Chánh Huy Toàn và bạn đọc an vui, tinh tấn, thành ở đời, đạt ở đạo...!!!
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
27/06/2025
LÝ TỨ
Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời Số 08.2025 với chủ đề: Học Để Làm Gì ???
Các bạn !!!
Vừa rồi, mình có nhận được thắc mắc của bạn đọc có tên Chánh Huy Toàn ở Hà Nội !!!
Thắc mắc của Chánh Huy Toàn có nội dung như sau:
"Thưa tác giả Lý Tứ!
Con vô tình đọc được một bài giới thiệu trên facebook - sự kiện Giới thiệu sách của tác giả Lý Tứ, sắp diễn ra ở Hà Nội. Bài viết đó có trích dẫn một đoạn trong sách Chuyện bên lề bác viết:
“Với Phật đạo, học một điều để bớt ngu một điều, chứ không phải học để khôn lên...Hết ngu, gọi là có trí tuệ! Nếu học để khôn lên mà cái ngu không hết thì, cái khôn ấy sẽ trở thành mối họa cho đời, cho đạo!"
Bác cho con hỏi hai câu hỏi ạ:
1- Bình thường việc học tập là để mở rộng thêm kiến thức, giúp ta để khôn lên, sáng ra. Vậy tại sao đối với việc học tập trong Phật Đạo (theo cách của bác) là để bớt ngu chứ không phải học để khôn lên? Nhờ bác giải thích giúp con ý này ạ?
2- Con là Phật Tử với hơn 10 năm thực tập thiền chánh niệm. Con được hiểu, phải hành thiền trong các tư thế (đi, đứng, nằm, ngồi), đến độ nhất tâm mới phát sinh trí tuệ. Cũng như Đức Phật, do ngài ngồi thiền dưới cội bồ đề trong 49 ngày, nhờ vậy mà trí tuệ từng bước phát sinh. Nhưng ở đây bác định nghĩa, phải học để hết ngu. Khi hết ngu gọi là có trí tuệ. Con tự thấy điều này mâu thuẫn với những gì con được biết. Rất mong bác Lý Tứ giúp con khai thông điểm này ạ?
Con chân thành cảm ơn bác! Chúc bác nhiều sức khỏe và tiếp tục ra được nhiều đầu sách hay ạ!
Nếu con không bận đi công tác, thì con cũng sắp xếp để tham gia sự kiện này. Chúc cho sự kiện ra mắt sách sắp tới của bác thành công ạ!
Hà Nội, ngày 11 tháng 06 năm 2025 - 11/06/2025 - 23:05:03 - Chánh Huy Toàn - Hà Nội"
Chánh Huy Toàn và bạn đọc thân mến !!!
Câu hỏi của Chánh Huy Toàn gởi đi vào ngày 11/06/2025...Nhưng cho mãi đến hôm nay, 25/06/2025 mình mới trả lời được..!!!
Sở dĩ có sự chậm trễ này, là do thời gian vừa qua bản thân bận tham gia chuỗi sự kiện "ra mắt sách và giao lưu với bạn đọc miền Bắc"... Mong Chánh Huy Toàn cũng như bạn đọc thông cảm...!!! Chân thành cảm ơn !!!
Về các câu hỏi của Chánh Huy Toàn...Mình xin được trả lời từng phần như sau:
- Hỏi:
"1- Bình thường việc học tập là để mở rộng thêm kiến thức, giúp ta để khôn lên, sáng ra. Vậy tại sao đối với việc học tập trong Phật Đạo (theo cách của bác) là để bớt ngu chứ không phải học để khôn lên? Nhờ bác giải thích giúp con ý này ạ?"
- Trả lời:
Theo quan điểm của Phật đạo...Chúng sinh hay một hữu tình, sở dĩ không thể trở thành một bậc Đại Giác như một Đức Phật, là do tâm thức bị vô minh che phủ...!!!
Muốn hết vô minh (cách nói dân dã là u tối hay ngu si) người ấy phải học tập (theo chánh pháp) hoặc tự giác ngộ để chấm dứt toàn bộ sự u tối ngu si này...!!! Giống như muốn hết tối tăm phải thắp đèn...!!!
Học tập để giác ngộ hay tự giác ngộ chính là quá trình thắp lên ngọn đèn nhằm soi sáng tâm thức...Vì thế Phật dạy: "Hãy tự thắp đuốc lên mà đi"...!!!
Theo quan điểm của Phật đạo, một hữu tình bị ba lớp vô minh hay ngu si bao phủ, che mờ tâm trí cần phải học tập chánh pháp hoặc tự giác ngộ để làm cho các lớp ngu si này không còn...!!! Ba lớp đó là:
- Lớp thứ nhất: Ngu si do xúc đối trong tăm tối...Gọi là Nhuận Chi Vô Minh (không có chánh kiến)...!!!
- Lớp thứ hai: Ngu si do nghĩ suy không chân chánh...Gọi là Căn Bản Vô Minh, hay Phi như lý tác ý (không có chánh tư duy)...!!!
- Lớp thứ ba: Ngu si do không tự biết (tự thấy, tự ngộ, tự niệm) Phật tánh (Phật tâm, Phật trí) đã sẵn có...Gọi là Vô Minh Trụ Địa (hay không chánh niệm, hai phần Sở Trí Ngu hoặc Vô Tuệ Giác)...!!!
Để giải quyết ba lớp ngu vừa nêu...Học tập như pháp (Văn), tư duy như pháp (Thiền tư) và ứng dụng như pháp (Tu huệ)...Là ba học pháp giúp người học tự đốt lên ngọn đuốc nhằm soi sáng, vĩnh viễn chấm dứt ba thứ ngu si, tự khai phóng tâm thức...Đưa đến giác ngộ rốt ráo...!!!
Còn, quan điểm học tập để "mở rộng thêm kiến thức, giúp ta để khôn lên, sáng ra...vv..." như bạn đã viết, là quan điểm học tập của đời (của thế gian), không phải quan điểm của đạo (xuất thế gian), lại càng không phải quan điểm của đạo trí tuệ (xuất thế gian thượng thượng)...!!!
Thành ra việc lấy quan điểm thế gian để làm cơ sở, làm luận cứ đánh giá, nhận xét...vv...đối với quan điểm của Phật đạo (hay đạo xuất thế)...là việc làm không thoả đáng...!!!
- Hỏi:
2- Con là Phật Tử với hơn 10 năm thực tập thiền chánh niệm. Con được hiểu, phải hành thiền trong các tư thế (đi, đứng, nằm, ngồi), đến độ nhất tâm mới phát sinh trí tuệ. Cũng như Đức Phật, do ngài ngồi thiền dưới cội bồ đề trong 49 ngày, nhờ vậy mà trí tuệ từng bước phát sinh. Nhưng ở đây bác định nghĩa, phải học để hết ngu. Khi hết ngu gọi là có trí tuệ. Con tự thấy điều này mâu thuẫn với những gì con được biết. Rất mong bác Lý Tứ giúp con khai thông điểm này ạ?
- Trả lời:
Muốn có chánh niệm (luôn ghi nhớ, luôn ứng dụng, ta và niệm nhất thể) phải có chánh kiến và chánh tư duy...!!!
Muốn có chánh kiến phải học tập chánh pháp (Văn huệ)...Muốn có chánh tư duy phải nghiền ngẫm đến thông suốt điều mình đã học (Tư huệ)... Thấu đáo hai thứ chánh trên, chánh niệm (Tu huệ) sẽ tự có (chánh niệm là hệ quả tất yếu của chánh kiến và chánh tư duy)...!!!
Chưa học tập như pháp, chưa tư duy như pháp làm sao có được chánh niệm (hiểu biết, nhớ nghĩ, nhất thể như pháp) để ứng dụng vào đời sống trong khi đi, đứng, ngồi, nằm một cách nhất tâm ???
Phật ngồi 49 ngày dưới cội Bồ Đề...Trong 49 ngày ấy ngài đã làm những gì ??? Chắc chắn việc đức Phật làm trong 49 ngày ấy, không giống chúng ta ngồi thiền hôm nay...!!! Vì rằng, nếu ta biết chắc rằng, đức Phật trong 49 ngày ấy đã làm gì, làm như thế nào...vv... ???!!! Nhất định hiểu biết này đã giúp chúng ta thành Phật từ lâu rồi... Đâu phải đợi đến 10 năm tu học như bạn vừa nêu !!!???
Đây là lí do vì sao chúng ta phải học tập chánh pháp để tịch diệt vĩnh viễn ba lớp ngu (vô minh)...Hết ngu rồi, hy vọng mới có thể biết "Phật đã làm gì trong 49 ngày ấy"...Khi biết rồi, cơ may "ta ngồi để thành Phật như đức Phật ngày xưa" mới có khả năng thành hiện thực...!!!
Chánh Huy Toàn và bạn đọc thân mến !!!
Học tập trong Phật đạo để chấm dứt ba thứ ngu vừa nêu là cả một quá trình...Trong phạm vi một bài viết, khó nói hết mọi điều...Nếu có duyên lành, chúng ta sẽ trao đổi nhiều hơn, sâu hơn, cụ thể hơn...!!! Mong Chánh Huy Toàn và bạn đọc thông cảm...!!!
Tiếc quá, hôm sự kiện tại Cung Văn Hoá Hữu Nghị Việt Xô...Chánh Huy Toàn bận công tác nên không tham dự được...!!! Hy vọng lần sau vậy...!!! Chúc Chánh Huy Toàn và bạn đọc an vui, tinh tấn !!!
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website https://lytu.vn/
25/06/2025
LÝ TỨ
Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời Số 07.2025 với chủ đề: Tu Hành Có Nên Tác Ý Hay Không !!!
Các bạn !!!
Trong tuần, mình đã nhận được một số thắc mắc của bạn đọc Thiện Nhân ở Quảng Ngãi...Nội dung như sau:
"Con chào bác Lý Tứ!
1. Con nghe file đọc sách bác viết trên youtube có nói đến "tương tợ Bát Nhã" và "Bát Nhã Trí" Con chưa hiểu xin bác chỉ dạy ạ.
- Thế nào là "tương tợ Bát Nhã"?
- Thế nào là "Bát Nhã Trí"?
- Để thành tựu hai thứ này, cần thành tựu những gì?
2. Con có tham dự vài nhóm tu hành tại gia. Họ đàm luận Phật pháp có nói đến "không tác ý". Cho con hỏi:
- Thế nào là không tác ý?
Có vị trả lời: "Không tác ý là không khởi hiểu biết. Ví dụ như: Ăn là ăn, đi là đi, tu là tu...vv...mà không khởi hiểu biết về những việc đó...."!
Thưa bác cho con hỏi:
- "Không tác ý" có nghĩa là gì? Có đúng như vị ấy trả lời không?
- "Không tác ý" có lợi ích gì cho người tu hành?
Con cảm ơn bác...!" 17/03/2025 - 11:42:00 - Thiện Nhân - Quảng Ngãi.
Thiện Nhân và bạn đọc thân mến !!!
Về những thắc mắc của Thiện Nhân...Mình xin được trả lời như sau:
- Hỏi:
"1. Con nghe file đọc sách bác viết trên youtube có nói đến "tương tợ Bát Nhã" và "Bát Nhã Trí"! Con chưa hiểu xin bác chỉ dạy ạ.
- Thế nào là "tương tợ Bát Nhã"?
- Thế nào là "Bát Nhã Trí"?
- Để thành tựu hai thứ này, cần thành tựu những gì?"
- Trả lời:
Tương tợ Bát Nhã và Bát Nhã Trí là hai cảnh giới của Đại Bát Nhã...!!!
a) Tương tợ Bát Nhã thuộc hữu sư trí...!!! Hữu sư trí là loại trí được phát triển từ căn bản trí...Sau khi đã chuyển thức thành trí, người học có được căn bản trí...Từ căn bản trí, người này tiếp tục học tập 09 thứ trí của Phật đạo gồm: Khổ trí, Tập trí, Diệt trí, Đạo trí, Loại trí, Pháp trí, Tận trí, Vô sanh trí, Nhất thiết trí...!!!
Quá trình thành tựu 9 thứ trí nói trên gọi là thành tựu Nhất thiết trí, huyễn trí hay còn gọi là tương tợ Bát Nhã...!!! (Xem Kinh Hoa Nghiêm phẩm Nhập Pháp Giới)
- Vì do học tập mà thành, nên trí này còn có tên là Hữu sư Trí...!!!
- Vì đã học hết các Tam muội môn, Giải thoát môn và các pháp lành của chư Phật... nên nó có tên Nhất thiết trí...!!!
- Vì trí này chưa chắc thật, chỉ do chư Phật, Thiện tri thức hoá hiện để dạy, nên nó còn có tên là Huyễn trí...!!!
- Vì nó giống như Bát Nhã Trí chứ chưa viên mãn chơn thật Bát Nhã, nên gọi là tương tợ Bát Nhã...!!!
Tóm lại, sở dĩ tương tợ Bát Nhã có nhiều tên gọi khác nhau là do căn cứ vào tính chất cũng như đặc điểm của nó...!!!
b) Bát Nhã Trí hay Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa...Là trí tuệ cao tột của Phật đạo...!!!
Sau khi thành tựu tương tợ Bát Nhã, vị này phát nguyện làm công hạnh Bồ tát...Đến khi đủ công đức, tự thành tựu Đạo Tướng trí...!!! Có Đạo Tướng trí, vị này giáo hoá không sai lệch...Đủ duyên, tâm thức tự bùng vỡ lần cuối cùng, thành tựu Bát Nhã Trí hay Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa...!!!
Bát Nhã Trí còn có tên là Vô Sư trí, Tự nhiên trí, Nhất Thiết Chủng trí...vv...!!!
- Gọi Vô Sư Trí vì, trí này không do thầy dạy mà thành...!!!
- Gọi Tự Nhiên Trí vì, trí này tự có như chư Phật...!!!
- Gọi Nhất Thiết Chủng trí vì, trí này có năng lực xuất sanh vô lượng hạt giống Bồ Đề cho chúng sanh...!!!
Tóm lại, Bát Nhã Trí cũng có nhiều tên gọi như tương tợ Bát Nhã...!!!
- Hỏi:
"2. Con có tham dự vài nhóm tu hành tại gia. Họ đàm luận Phật pháp có nói đến "không tác ý". Cho con hỏi:
- Thế nào là không tác ý?
Có vị trả lời: "Không tác ý là không khởi hiểu biết. Ví dụ như: Ăn là ăn, đi là đi, tu là tu...vv...mà không khởi hiểu biết về những việc đó...."!
Thưa bác cho con hỏi:
- "Không tác ý" có nghĩa là gì? Có đúng như vị ấy trả lời không?
- "Không tác ý" có lợi ích gì cho người tu hành?
- Trả lời:
a) Không tác ý là gì ??? Không khởi lên một ý niệm (bất kì) trước, trong hoặc sau một hành động, một đối tượng, một cảnh duyên...vv...!!!
b) "Không tác ý" có lợi ích gì cho người tu hành ???
- Bậc hữu học: Cần tác ý (như lí tác ý) để tránh sai lầm trong hành động, thấy biết và nghĩ suy...!!! (Không nên Phi như lí tác ý)
- Bậc vô học: Thân, khẩu, ý hết lỗi lầm, tâm thức vắng lặng...Vì thế, khi hành động, đối duyên, xúc cảnh...vv...không phụ thuộc vào việc tác ý hay không tác ý...!!!
Hy vọng, những trả lời vừa rồi có thể giúp Thiện Nhân và bạn đọc nhận ra ở địa vị nào cần tác ý, tác ý như thế nào, địa vị nào không tác ý...!!! Chúc an vui, tinh tấn...!!!
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
18/03/2025
LÝ TỨ
Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời Số 06.2025 với chủ đề: Đại Bát Nhã Và Tinh Thần Rốt Ráo Không !!!
Các bạn !!!
Mình vừa nhận được thắc mắc của bạn đọc Nguyễn Hoàng Nghiêm ở Cần Thơ...!!! Nội dung các câu hỏi như sau:
"Kính thưa thầy Lý Tứ và các HĐTM Lý Gia!
Trước tiên con xin chúc gia đình nhiều sức khỏe, tinh tấn và trụ thế dài lâu để dìu dắt mọi người trên con đường học tập Phật pháp!
Và con xin phép được hỏi thầy một số nhìn nhận của con sau khi học trên trang Lý Gia.
1- Người tu hành chân chính có nghĩ là trong tâm thức họ không nắm giữ bất cứ thứ gì về nội pháp, ngoại pháp hay nói khác đi là trần cảnh (nội trần và ngoại trần) phải không ạ?
2- Con không hiểu lắm câu kinh Đại Bát Nhã: "Nội không, ngoại không, không không...vv...". Xin thầy giải thích cụ thể giùm ạ?
Con xin chân thành cám ơn! 21/02/2025 - 20:14:22 - Nguyễn Hoàng Nghiêm - Cần Thơ"
Hoàng Nghiêm và bạn đọc thân mến !!!
Đọc các câu hỏi của Hoàng Nghiêm, mình cảm nhận bạn ấy đang tìm hiểu Kinh Đại Bát Nhã... !!!
Đại Bát Nhã là một trong những bộ kinh đồ sộ của Phật giáo, bộ kinh này có đến 24 quyển...Nội dung Bát Nhã, tuyên nói về thật nghĩa trí tuệ tối thắng của Phật đạo và cách thâm nhập...!!!
Cảm ơn Hoàng Nghiêm đã tin tưởng và học tập Phật pháp từ fanpage Lý Gia...!!!
Về các thắc mắc của Hoàng Nghiêm, xin được trả lời như sau !!!
Như đã nói ở phần trên, Bát Nhã là trí tuệ tối thắng trong Phật đạo, trí này thuộc cảnh giới "Xuất Thế Gian Thượng Thượng"...!!!
Muốn thâm nhập Bát Nhã Trí, người học cần thành tựu "Căn Bản Trí" (Xuất Thế Gian Trí), tức thành tựu "hai Vô Sanh" hay "hai Vô Ngã"...Có thành tựu hai pháp này, cơ hội thực chứng "tâm không và pháp không", một trong những điều kiện thâm nhập "rốt ráo không" mới trở thành hiện thực...!!!
Tuy nhiên, do tập khí nhiều đời, do huân tập các pháp lành từ trước...vv...Tuy người học đã chứng hai vô sanh, nhưng các thứ tập khí cũng như các pháp lành huân tập trước đó chưa thể tịch diệt ngay tức thời để thâm nhập cảnh giới "rốt ráo không"....!!! Mà, một khi tâm trí chưa thật sự rốt ráo không thì, Bát Nhã Trí không hiện...!!!
Muốn thể nhập rốt ráo không, vị tu hành sau khi thành tựu hai vô sanh (Diệt Đế), phải tu tập mười Ba La Mật...!!! Sau khi viên mãn mười Ba La Mật, thể nhập cảnh giới "rốt ráo không", đó cũng là lúc Bát Nhã Trí xuất hiện...!!!
Đây cũng là lí do vì sao Kinh Đại Bát Nhã có tên Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa...!!! Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa là Phạn ngữ, phiên âm Hán tự là Đại Trí Tuệ Đáo Bỉ Ngạn...Đại Trí Tuệ Đáo Bỉ Ngạn theo Việt ngữ có nghĩa, đây là thứ trí tuệ rộng lớn, có năng lực đưa mình và người đến bờ giác ngộ (bờ kia) một cách rốt ráo...!!!
1- Cho nên, thắc mắc số một (1) của Hoàng Nghiêm: "Người tu hành chân chính "có nghĩ là" trong tâm thức họ không nắm giữ bất cứ thứ gì về nội pháp, ngoại pháp hay nói khác đi là trần cảnh (nội trần và ngoại trần) phải không ạ?".
Thắc mắc này của Hoàng Nghiêm vừa đúng một phần vừa không đúng một phần, đó là:
- Với những người chỉ mới chứng hai vô sanh, tâm trí bắt đầu hướng đến Bát Nhã, vị này "đôi lúc có suy nghĩ rằng", hiện tại ta không nắm giữ một thứ gì, kể cả nội pháp, ngoại pháp, nội trần, ngoại trần...vv...!!! Kinh gọi cảnh giới này là "tương tợ Bát Nhã" (Xem Đại Bát Nhã)...!!!
- Với những vị đã thể nhập rốt ráo không, đã thành tựu Bát Nhã Trí...Họ không hề có suy nghĩ rằng "ta có nắm giữ hay không nắm giữ các pháp hoặc nôi ngoại trần...vv...". Cảnh giới này kinh gọi là "Đại Bát Nhã"...!!!
2- Về câu hỏi số 2 của Hoàng Nghiêm: "Con không hiểu lắm câu kinh Đại Bát Nhã: "Nội không, ngoại không, không không...vv...". Xin thầy giải thích cụ thể giùm ạ?"
Câu hỏi này của Hoàng Nghiêm, liên hệ đến mười tám (18) pháp không của Đại Bát Nhã gồm: "Nội không, ngoại không, nội ngoại không, hữu vi không, vô vi không, tự tánh không, tướng không, vô tánh tự tánh không, thắng nghĩa không, đại không, tất cánh không, vô tế không, tán không, vô biến dị không, bổn tánh không, tự cộng tướng không, nhất thiết pháp không...!!!"
Mười tám pháp không nêu trên là những pháp không thuộc thế gian và xuất thế gian đạo...!!!
Khi nào 18 pháp không nói trên không còn hiện hữu trong tâm trí (xa rời cái không của thế gian và xuất thế), thì rốt ráo không của Xuất Thế Gian Thượng Thượng mới hiện...!!!
Do Kinh Đại Bát Nhã được phiên dịch từ Hán tự...Các dịch giả thường để nguyên phần liệt kê 18 pháp không theo bản gốc (Hán tự) nên người Việt đọc lên khó hiểu, đôi khi hiểu lầm do khác biệt ngữ văn...!!!
Nếu phần liệt kê đó, ta đọc theo cách nói của người Việt như sau: "Trong không có, ngoài không có, trong ngoài đều không có, dẫn đến cái làm ra cũng không có, cái không làm ra cũng không có...tự tánh không có (không tự tánh), tướng cũng không có (không tự tướng), nhận thức về có tánh hay không tánh đều không có (không tự ngã)...cuối cùng là hết thảy các pháp đều không có trong tâm trí... Khi nào trong tâm trí không còn xuất hiện 18 thứ không nêu trên, bây giờ tâm trí ấy mới được coi là thành tựu rốt ráo không...!!!"
Nếu ta phiên dịch và đọc như thế (đọc theo Việt ngữ), chắc chắn những người không am tường Hán ngữ khi đọc đoạn kinh về 18 pháp không (đã dẫn) sẽ dễ hiểu hơn...!!!
Hy vọng, giải thích vừa rồi có thể giúp Hoàng Nghiêm và bạn đọc hiểu ra điều gì đó về hai loại Bát Nhã là Đại Bát Nhã và tương tợ Bát Nhã của Phật đạo...!!! Chúc Hoàng Nghiêm và bạn đọc an vui, tinh tấn, thành công trong học tập...!!!
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
23/02/2025
LÝ TỨ
Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời Số 05.2025 với chủ đề: Tây Phương Cực Lạc Là Có Hay Không ???
Các bạn !!!
Trong tuần, BQT đã nhận được thắc mắc của bạn đọc Hà Thuý ở Hà Nội...Nội dung câu hỏi như sau:
"Cho con hỏi Thầy có cõi Tây Phương Cực Lạc không ạ? Và Đức Phật A Di Đà có thật không?
Đức phật A Di Đà có phải do đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết ra không ạ? Con xin cám ơn ạ!" 19/02/2025 22:30:08 - Hà Thuý - Hà Nội
Hà Thuý và bạn đọc thân mến !!!
Từ xưa đến nay, các thắc mắc của Hà Thuý về Tây Phương Cực Lạc và những liên hệ chung quanh cảnh giới này, hầu như là những câu hỏi thường gặp không riêng gì của Hà Thuý mà của rất, rất nhiều người tu hành trong Phật đạo...!!!
Và, khi đối diện những câu hỏi như vậy...Phần lớn, chúng ta tập trung vào việc phân tích, giảng giải, chứng minh cho bằng được rằng, Tây Phương Cực Lạc, Phật A Di Đà...vv...là có hay không ??? Nếu có thì ở đâu ???
Cho đến bây giờ, theo mình biết...Các thắc mắc thuộc dạng như vậy, chưa hề có một câu trả lời nào hoàn toàn thoả mãn... Cho dù, đó là câu trả lời "hoặc có Tây Phương Cực Lạc, có Phật A Di Đà" hoặc "không có Tây Phương Cực Lạc hay không có Phật A Di Đà"...!!!
Điều này dẫn đến việc, người tu hành đành chọn cho mình niềm tin là có hay không có, nhưng chứng lý thì luôn luôn là ẩn số...Còn hoài nghì thì vẫn tồn tại như một hiển nhiên của thế giới tâm linh...!!!
Với mình, những câu hỏi như vậy đối với người tu hành trong giai đoạn sơ cơ (chưa giác ngộ) là hoàn toàn chánh đáng, rất cần có câu trả lời tạm thoả mãn về phương diện giáo pháp ít ra trên bình diện thiện lành...!!!
Để giải quyết nan đề này, vấn đề đặt ra ở đây là, ta chọn phương án giải quyết đề tài này theo hướng nào để người nghe có thể chấp nhận...Và, từ chấp nhận ấy, sẵn sàng mở ra con đường mà ta sẽ hướng người hỏi đến các mục tiêu chắc thật của giáo pháp...!!!
Hướng giải quyết là, sau khi tạm chấp nhận cách trả lời, cùng với quá trình học tập như pháp...người ấy nhất định sẽ có cơ hội hiểu ra bản chất của cảnh giới ấy là gì ??? Sau đó, "sẽ tự đưa ra các đáp án thuyết phục cho bản thân"...!!!
Các bạn !!!
Một trong những kinh căn bản của phép tu Tịnh Độ là Kinh Quán Vô Lượng Thọ...Kinh Quán Vô Lượng Thọ đã dạy như sau: "Muốn vãng sanh Tây Phương Cực Lạc, người tu hành cần phải thực hiện ba yêu cầu sau: 1- Hiếu kính cha mẹ và sư trưởng; 2- Phát Bồ đề tâm; 3- Tu tập thiện nghiệp và đọc tụng kinh điển Đại thừa...!!!". Theo lời dạy của kinh này, ta có thể thấy, "Phát Bồ đề tâm và đọc tụng kinh điển Đại thừa" là một trong những yêu cầu quan trọng, hầu như bắt buộc đối với những ai mong muốn đến được Tây Phương Cực Lạc...!!! Nếu thiếu hay không đáp ứng hai yêu cầu bắt buộc trên, nhất định việc thực chứng và lý giải rằng, Tây Phương Cực Lạc cũng như Phật A Di Đà là có hay không rất khó thoả đáng...!!!
Bây giờ, ta thử tìm xem, vì sao muốn vãng sanh, phải phát Bồ đề tâm và tụng đọc kinh điển đại thừa ???
1- Tại sao phải phát Bồ đề tâm ???
Phát Bồ đề tâm hay phát tâm Vô Thượng Bồ Đề (phát tâm thành Phật) là một trong những yêu cầu bắt buộc của giáo pháp đối với tất cả phép tắc tu hành trong Phật đạo nếu muốn thấy được thiệt tướng của đạo...!!!
Vì rằng, chỉ khi nào người này chân thật phát tâm thành Phật bằng cách tinh tấn học tập...Vị ấy mới đủ dõng tâm cùng trí tuệ để vượt qua mọi dẫn dụ quyền tiểu (từ kinh tạng)...!!! Có vượt qua dẫn dụ quyền tiểu, vị ấy mới có cơ hội giác ngộ...!!! Có chân thật giác ngộ, mới nhận ra thiệt tướng của Tây Phương Cực Lạc là gì ??? Và Phật A Di Đà thật sự là có hay không cũng như đang ở nơi đâu !!!
2- Tại sao phải tụng đọc kinh điển đại thừa ???
Kinh tạng đại thừa là loại kinh giáo Bồ tát...!!! Kinh này thiên về trí tuệ, chú trọng các chỉ thú mang tính khai phóng tâm thức thông qua những luận cứ mang đậm triết lí nội tại như:
- Hết thảy do tự tâm hiện (kinh Lăng Già)...!!! Câu này có nghĩa, hết thảy mọi cảnh giới trong Phật đạo, đều là cảnh giới từ tâm thức biến hiện (không thuộc về thế giới vật chất)...!!!
- Nhất thiết duy tâm tạo (tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức - Kinh Hoa Nghiêm)...!!! Luận điểm này chỉ ra, tất cả các cõi, tất cả quan điểm về nhân sinh và vũ trụ đều xuất phát từ nhận thức...!!!
- Về bảy cảnh giới đệ nhất nghĩa do Phật tuyên thuyết, từ quyền đến thiệt, từ thế gian đến xuất thế...đều thuộc "đệ nhất nghĩa tâm" (Kinh Lăng Già)...!!! Vì thế, không có cảnh giới nào ngoài tâm (lại càng không thiên về luận điểm có một Cực Lạc hay một A Di Đà ngoài tâm ???)...Bảy cảnh giới đệ nhất nghĩa gồm: Tâm cảnh giới, Tuệ cảnh giới, Kiến cảnh giới, Trí cảnh giới, Siêu nhị kiến cảnh giới, Siêu tử địa cảnh giới, Như lai tự đáo cảnh giới...!!!
- Nhất thiết Phật ngữ tâm (Tổng luận kinh Lăng Già - Hàm Thị)...!!! Luận điểm này chỉ ra rằng, tất cả lời dạy của Phật đều nói đến tâm chứ không nói đến thế giới vật lí hay vật thể ngoài tâm...!!!
Nói chung, tinh thần đại thừa chỉ ra rằng, mê cũng tâm này, ngộ cũng tâm này; Ma cũng tâm này Phật cũng tâm này...!!!
Từ đây ta có thể hiểu, trí thấu suốt đạo pháp thì, trí ấy là Phật (có thể khác tên nhưng đồng thể)...!!! Tâm hết khổ, tâm ấy là Cực Lạc, Niết Bàn (hai thứ này không tồn tại ngoài tâm)...!!!
Vì thế, A Di Đà, Thích Ca, Di Lặc hay Tây Phương, Niết Bàn hoặc vãng sanh, vô sanh...vv...cho dù có bao nhiêu tên gọi khác nhau, cũng nhằm ám chỉ cho tâm và trí của một chuẩn mực giác ngộ nào đó...!!! Vì thế, các tên gọi của các cảnh giới trong Phật đạo đều không hề có ý nghĩa hay hàm ý nói đến thế giới vật lí...!!! Do đó, nếu cố cất công đi tìm các thứ ấy ngoài tâm chẳng khác nào người bỏ công đi tìm thực thể của sừng thỏ, lông rùa (những thứ có tên nhưng không hề tồn tại ngoài thế giới)...!!!
Cũng theo kinh Quán Vô Lượng Thọ...Bà Vy Đề Hy phát nguyện vãng sanh Tây Phương...Sau khi nghe Phật dạy 16 phép quán, tâm thức vị nữ cư sĩ này chuyển biến, liền ngay đó chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn (Niết Bàn hiện tiền) chứ chẳng vãng sanh đi đâu cả...!!! (Xem Thập Lục Quán Kinh)
Như vậy, ta có thể hiểu ra, cầu vãng sanh Tây Phương, chính là lời quyền, lời này nhằn dẫn dụ để hướng người chứng Niết Bàn (vô sanh) hiện tiền (tại tâm này)...chứ chẳng phải hướng người tìm kiếm ở một thế giới vật lí nào đó và bắt gặp một con người cụ thể nào đó có danh hiệu là A Di Đà ngoài kia...Và, chỉ khi nào thực chứng vô sanh rồi, mới chân thật nhận ra "nhất thiết Phật ngữ tâm"...!!!
Chính vì căn trí chúng sanh sai biệt, nguyện ước sai biệt...nên Phật cũng tòng theo sự sai biệt đó, tạm lập bày các tên gọi sai biệt (cho các cảnh giới của đạo)...Nhưng thực chất, các cảnh giới ấy chỉ là các đạo quả hiển nhiên của đạo mà các phép tắc tu hành khác đều đạt được...Điều này, Phật đạo gọi là "mượn lời quyền để hướng người đến cảnh giới thiệt (trong tâm)"...!!!
Hà Thuý và bạn đọc thân mến !!!
Theo kinh nghiệm của bản thân...Phật đạo có lời quyền, lời thiệt...!!!
Lời quyền là những lời dạy do người trí vẽ ra để dẫn dụ người học tìm về lẽ thật...Nó giống như người mẹ dùng hình ảnh nào đó (có khi là những hình ảnh không thật) để dẫn dụ các con của mình trở thành người tốt, người có trí, người thành đạt...!!! Cho nên, nếu ta không nhận ra lời nào là quyền, lời nào là thật...Cố công đi tìm hình dáng cụ thể từ một câu chuyện quyền thì, chẳng khác nào, có người quyết truy tìm cho bằng được Ông Ba Bị (Ông Kẹ) là có thật hay không, đang ở nơi đâu...!!!
Vì thế, cho dù vãng sanh hay vô sanh, cho dù A Di Đà hay Di Lặc, cho dù Cực Lạc hay Niết Bàn...vv...cái cần tìm hiểu của ta lúc này không phải truy xét cội nguồn những thứ ấy có thật hay không... Mà là, ta phải biết mình cần học tập những gì ??? Học tập như thế nào để bản thân đạt đến những cảnh giới ấy (theo tinh thần đạo pháp)...!!! Theo mình, thực hiện như thế mới là thái độ đúng đắn của học tập...!!!
Đến khi, ta thâm nhập và biết rõ bản chất các cảnh giới của đạo...Chắc chắn, chừng đó chúng ta sẽ không còn hoài nghi hay thắc mắc những điều hiện nay ta thắc mắc...!!!
Tóm lại, có những câu hỏi, có những thắc mắc, có những hoài nghi thuộc về giáo pháp mà, chỉ đến khi nào người tu hành thật sự giác ngộ...Bây giờ, các hoài nghi ấy mới có cơ hội chấm dứt (nếu chưa thật sự giác ngộ thì, vô lượng câu trả lời về những cảnh giới như vậy, cũng không thể thoả mãn và chấm dứt hoài nghi)...!!! Vì thế, giáo pháp đã chỉ ra rằng, chỉ có người đã giác ngộ (có thể là sơ ngộ) mới không còn nghi kiến hiện khởi...!!!
Trong phạm vi một bài viết, rất khó giải thích cặn kẻ mọi vấn đề...!!! Hy vọng, Hà Thuý hãy tìm cho mình cơ hội học tập để vị lai tự giải đáp các thắc mắc của bản thân...!!! Chúc Hà Thuý và bạn đọc an vui, tinh tấn, thành công trong học tập...!!!
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
21/02/2025
LÝ TỨ
Con Tàu Giải Thoát !!!
Các bạn !!!
Mình vừa nhận được thư và các câu hỏi của bằng hữu Huyền Đức ở Long Khánh !!!
Lời đầu tiên, thay mặt BQT chuyên mục, chân thành cảm ơn bằng hữu Huyền Đức, một người bạn thân thiết của chuyên mục đã dành tình cảm tốt đẹp và những đánh giá chân tình dành cho Lý Tứ...!!!
Sau đây là nôị dung bức thư của bằng hữu:
"Kính gửi Thầy Lý Tứ,
Xin cảm ơn Thầy đã trả lời những câu hỏi của tôi liên quan đến chủ đề “Phật Giáo và Giác Ngộ”. Thời gian này tôi tiếp tục đọc bài “Phật Giáo và Giải Thoát” cùng một số bài liên quan trong cuốn Anh Lạc Luận, tôi mạn phép nêu một số câu hỏi để được Thầy chỉ dạy thêm.
Thứ nhất: Đối với một người mới học tập Phật Pháp thì cái gì cần giác, cái gì cần ngộ đầu tiên?
Thứ hai: Thầy nhấn mạnh: Thiền định do giác ngộ mới sinh trí vô lậu; còn thiền định do cột trói tâm thì không đưa đến giải thoát. Xin thầy giải thích kỹ hơn về ý trên? Một người thực tập thiền như thế nào để không bị rơi vào trạng thái thiền định cột trói?
Thứ ba: Trong bài, Thầy ví “giải thoát” như con tàu giúp vượt khỏi “dòng chảy ba cõi”. Xin Thầy giải nghĩa: “con tàu” ở đây là tam giải thoát môn (Không, Vô tướng, Vô tác) có phải không? Hay là một pháp môn gì khác? Trong “dòng chảy của ba cõi" thì điều gì “nguy hại nhất” ngăn cản con tàu giải thoát?
Thứ tư: Thầy viết Phật giáo “đặt giải thoát làm trọng tâm”, coi đó là “chuyên ngành đào tạo” đặc trưng. Vậy giải thoát đứng ở vị trí nào trong tiến trình học tập Phật Đạo? Đạt được giải thoát đã phải là cuối cùng chưa? Và người học Phật đo lường tiến trình hướng về giải thoát bằng những dấu hiệu nào cụ thể nào?
Thời gian gần đây tôi theo dõi không bỏ một kỳ hỏi đáp nào của Thầy với các bạn đọc. Đặc biệt trường hợp bạn đọc Trí Đức - nhờ hỏi đáp với Thầy mà được khai ngộ. Tôi lấy làm xúc động và vô cùng tán thán!
Chúc Thầy Lý Tứ thật nhiều sức khỏe! Để tiếp tục chia sẻ về Phật Pháp - giúp ích cho nhiều người!
29/10/2025 - 6:05:34 - Huyền Đức - Long Khánh"
Bằng hữu Trí Đức và bạn đọc thân mến !!!
Sau đây, Lý Tứ xin phép trả lời những thắc mắc của bằng hữu:
- Hỏi:
Thứ nhất: "Đối với một người mới học tập Phật Pháp thì cái gì cần giác, cái gì cần ngộ đầu tiên?"
- Trả lời:
Theo kinh nghiệm của tôi thông qua quá trình dạy và học ở Lý Gia...Một người mới bắt đầu học tập Phật pháp, cần được trang bị các kiến thức cơ bản của hai đế thế gian là khổ đế và tập đế...Việc học tập những điều cơ bản này, giúp họ mỏng nhẹ khổ đau, phiền não, kiết sử, mê mờ...Từ đó, mới có thể lần lượt giác ngộ các tầng bậc giác ngộ trong Phật đạo...!!!
Vì rằng, nói gì thì nói...Một người mà tâm thức còn quá nhiều khổ đau, phiền não, tham sân, mê đắm, trong lòng không hết đấu tranh, ngã mạn, tật đố, thị phi, nhân ngã...vv...thì, cho dù nghe giảng bao nhiêu pháp của Phật, cũng chẳng khác gì "người mù bẩm sinh nghe luận bàn màu sắc"...!!!
Để giải quyết những phần việc này, ngoài chương trình giảng dạy chính thống dành cho HĐ Lý Gia (gồm các lớp Giáo Pháp Nhập Môn và Giáo Pháp Căn Bản...vv...). Chúng tôi có thiết kế nhiều khoá học mang tính cộng đồng thông qua youtube (như các khoá Hạnh Phúc Quanh Ta - Giọt Mưa Đầu Mùa), để giúp các bằng hữu chưa đủ cơ duyên đến với Lý Gia có thể nghe và nếu thấy phù hợp, dùng đấy ứng dụng cho tự thân...Theo phản hồi từ những bằng hữu đã tham khảo các video đó, sau khi nghe và ứng dụng, thành quả đạt được cũng tạm coi là khả quan....!!!
Trong phạm vi một bài viết của chuyên mục, rất khó nói hết mọi điều liên quan đến hành trang cần có của một người muốn tìm đến giác ngộ ban sơ, đây là gói hành trang có được từ một quá trình học tập chứ chẳng phải hành trang thông qua vài câu vài lời...!!! Vì thế, để giới thiệu sơ lượt về quá trình này, Lý Tứ xin gởi đến bằng hữu và bạn đọc chuỗi video của khoá Hạnh Phúc Quanh Ta - Giọt Mưa Đầu Mùa K05...từ đường dẫn sau: (Nhấn đăng kí và nghe từng video)
https://youtube.com/playlist...
- Hỏi:
Thứ hai: "Thầy nhấn mạnh: Thiền định do giác ngộ mới sinh trí vô lậu; còn thiền định do cột trói tâm thì không đưa đến giải thoát. Xin thầy giải thích kỹ hơn về ý trên? Một người thực tập thiền như thế nào để không bị rơi vào trạng thái thiền định cột trói?"
- Trả lời:
Tất cả kết quả dù nhỏ hay lớn của Phật đạo đều bắt nguồn từ giác ngộ, kể cả các món thiền định...!!!
Vì thế, thiền định của Phật đạo có được là do quá trình người học thấu suốt giáo pháp để giải quyết các món lậu hoặc ngăn che trong tâm thức (như câu trả lời số 1)...!!! Cứ một số lậu hoặc nào đó mất đi, tâm thức trở nên sáng suốt và hỉ lạc, khinh an, nội tĩnh nhất tâm...vv...hiện khởi...Khi các thiền chi hiện khởi, Phật đạo gọi là "tự được thiền"...!!!
Tóm lại, được thiền hay đắc thiền trong Phật đạo là kết quả tất yếu của việc giác ngộ, phát xuất từ sự học hiểu giáo pháp hay từ tuệ giác của người đó...Cho nên, mọi hình thái thái đắc thiền của Phật đạo luôn hàm chứa ý vị giải thoát...!!! Còn ngược lại, tất cả biện pháp cột trói tâm thức bằng ý chí đều không thể đưa đến giác ngộ, giải thoát và trí tuệ do tính nhân quả của việc làm hay hành động ấy...!!!
- Hỏi:
Thứ ba: "Trong bài, Thầy ví “giải thoát” như con tàu giúp vượt khỏi “dòng chảy ba cõi”. Xin Thầy giải nghĩa: “con tàu” ở đây là tam giải thoát môn (Không, Vô tướng, Vô tác) có phải không? Hay là một pháp môn gì khác? Trong “dòng chảy của ba cõi" thì điều gì “nguy hại nhất” ngăn cản con tàu giải thoát?"
- Trả lời:
a) "Con tàu giải thoát" chỉ là hình ảnh tượng trưng cho cuộc "vượt biển mê" ngoạn mục của Phật đạo...!!! Để có thể vượt biển mê đến bờ giác an toàn, con tàu đó phải được trang bị đầy đủ những gì cần có của một con tàu đi biển...Và, quan trọng là, người lái tàu phải biết điều khiển cũng như sử dụng các trang bị ấy một cách thuần thục...Các trang bị cần có của một con tàu vượt biển mê, thông thường gồm các món như: Tam vô lậu học, tam giải thoát môn, tứ đế, ba mươi bảy phẩm...vv...cùng các kiến thức chuyên môn "cần và đủ" cho một chuyến hải hành như: Nhân sinh quan, vũ trụ quan, bản chất thân tâm, thế giới, thiện ác...vv...theo tinh thần Phật đạo...!!!
b) Điều nguy hại nhất của một chuyến vượt biển là: Không biết rõ mà cố làm; Chưa trang bị đầy đủ mà đã ra khơi; Dùng thuyền nhỏ hay ghe xuồng thô sơ, lạc hậu của sông lạch...vượt biển lớn...vv...!!!
c) Để giải quyết vấn nạn vượt biển ngoạn mục này...Cách đây 5 năm, Lý Gia đã tổ chức chuyên mục "Lập Kế Hoạch Cho Một Chuyến Hải Hành"...Trọng tâm của chuyên mục, giúp các đội nhóm Lý Gia tự lên cho mình một kế hoạch hoàn hảo, thực tập đưa mình và người vượt biển mê (vào mỗi tối thứ 6 hàng tuần trong vòng 3 năm ròng rã)...Và, sau mỗi buổi sinh hoạt như thế, được mình cùng đại chúng góp ý, bổ khuyết, điều chỉnh...vv...cho từng "đội nhóm" để tránh những sai sót nhỏ nhất nếu có...!!! Có thể nói, chuyên mục này đã giúp HĐ Lý Gia đạt được những bước tiến nhất định trong hành trình học tập giáo pháp...!!!
- Hỏi:
Thứ tư: "Thầy viết Phật giáo “đặt giải thoát làm trọng tâm”, coi đó là “chuyên ngành đào tạo” đặc trưng. Vậy giải thoát đứng ở vị trí nào trong tiến trình học tập Phật Đạo? Đạt được giải thoát đã phải là cuối cùng chưa? Và người học Phật đo lường tiến trình hướng về giải thoát bằng những dấu hiệu nào cụ thể nào?"
- Trả lời:
a) Giải thoát là mục tiêu thứ hai trong ba mục tiêu của đạo pháp gồm: Giác ngộ, giải thoát và trí tuệ...!!!
b) Để giải thoát rốt ráo, người học phải trải qua ba lần giải thoát, tương ưng với ba lần giác ngộ...Lần thứ nhất, học tập để thành tựu giải thoát từng phần (học tập giáo pháp đặc trưng ba thừa); Lần thứ hai, học tập để thành tựu giải thoát bất tư nghì (học tập giáo pháp nhất thừa); Lần thứ ba, học tập nhiếp thọ chánh pháp vô dị biệt để thành tựu giải thoát rốt ráo (học tập giáo pháp Thập địa và Như lai địa)...!!!
c) Những dấu hiệu nhận biết của từng giai đoạn giải thoát gồm:
* Lần thứ nhất, ra khỏi trói buộc của: Cộng nghiệp, biệt nghiệp, ba cõi, các pháp và ngũ ấm...!!!
* Lần thư hai, ra khỏi trói buộc của thế gian đạo (đạo) và xuất thế gian đạo (vô đạo)...!!!
* Lần thứ ba, ra khỏi trói buộc của xuất thế gian thượng thượng đạo (phi đạo)...!!!
Các bạn !!!
Trong lúc viết bài này, mình nhận được thắc mắc của bạn đọc Lê Hoàng Tín (không địa chỉ) gởi qua messenger...!!! Nội dung câu hỏi như sau:
- Hỏi:
"Thầy từ bi cho Em hỏi làm sao hành giả phân biệt được giác ngộ thật sự và ảo tưởng rằng mình giác ngộ? Như phân biệt được một thành phố trong hình và thành phố mà hành giả đã đặc chân đến đó thật sự - Lê Hoàng Tín"
- Trả lời:
Giác ngộ thật sự như người sáng mắt...Vị ấy thấy rất rõ những gì trong tầm mắt của mình...Cụ thể, trong quá trình bước đi, mỗi bước đều tự tại, vững tin, không vấp ngã...Và, nhất định không sa vào "hầm hố ba cõi"..!!! Còn "ảo tưởng giác ngộ" như người mù tưởng rằng mắt mình đã sáng...Cụ thể là, bản thân người mù cứ đi mỗi bước là vấp ngã mỗi bước, miệng nói màu trắng nhưng khi mô tả lại giảng giải thành màu đen...vv...Họ lạc bước vào hầm hố phiền não, khổ đau, tham sân, lậu hoặc, đảo điên của ba cõi mà không thể tự mình thoát ra...!!!
Hi vọng, những trả lời vừa rồi, có thể giúp bằng hữu Huyền Đức, bạn đọc Lê Hoàng Tín và mọi người giải toả những thắc mắc đã nêu...!!! Chúc các bạn an vui, tinh tấn...!!!
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
29/10/2025
LÝ TỨ
Thảo Luận Về Diệu Pháp Liên Hoa !!!
Các bạn !!!
Mình vừa nhận được một số thắc mắc của bằng hữu Trí Đức ở Bắc Ninh...Nội dung các câu hỏi như sau:
"Kính gửi Thầy Lý Tứ,
Sau khi tôi giới thiệu một vài bài viết của Thầy cùng quyển sách “Phật Giáo và Thiền” cho bạn tôi là Trí Thiện. Tôi thật vui vì mấy ngày vừa qua liên tiếp nhận được lời tán thán Thầy Lý Tứ từ Trí Thiện. Bên cạnh đó Trí Thiện cũng tỏ bày với tôi về những khúc mắc trong nhiều năm đã được sáng tỏ sau khi trao đổi với Thầy. Thật cảm tạ Thầy Lý Tứ!
Thời gian gần đây tôi có đọc và nghiền ngẫm về bài viết của Thầy "Chỉ Thú Cốt Lõi Của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa" trên trang LyTu.Vn. Tôi thấy những luận giải của Thầy về Nhất Thừa và sự đúc kết giáo pháp thành ba bước thực hành rất cô đọng và mạnh mẽ.
Tuy nhiên, chính sự cô đọng này đã gợi lên trong tôi một số thắc mắc chuyên sâu, đặc biệt là về mối quan hệ giữa phương tiện và cứu cánh theo tinh thần Pháp Hoa. Tôi xin mạn phép trình bày những điểm còn nghi vấn, kính mong Thầy Lý Tứ từ bi khai thị thêm.
I. Về Mối Quan Hệ Giữa "Dời Thế Gian Pháp" và Bồ Tát Đạo
Thầy khẳng định bước đầu tiên là "Dời thế gian pháp ra khỏi tâm thức" và minh họa bằng việc người lái buôn "đổ bỏ tất cả những thứ trên thuyền xuống biển" để chứa đầy Phật Tri Kiến.
1. Vấn đề Dứt Bỏ Phương Tiện Quyền Xảo:
Kinh Pháp Hoa vốn nổi tiếng với giáo lý Phương tiện quyền xảo (upāya), tức là không từ bỏ thế gian mà là tùy duyên hóa độ. Vậy, hành động "đổ bỏ tất cả" các pháp hữu lậu thế gian – kể cả các hành vi đạo đức, bố thí, hoặc thiền định hữu lậu – có phải là một sự phủ nhận chính các phương tiện mà Đức Phật đã dùng để dẫn dắt chúng sinh (Tam Thừa) không? Hay sự "dời" này chỉ đơn thuần là thay đổi thái độ tâm lý (không chấp trước), nhưng vẫn duy trì các hành động nhập thế?
2. Ranh Giới của "Thế Gian Pháp":
Nếu 'thế gian pháp' bao gồm cả các pháp lành thế gian, việc đổ bỏ nó có đặt người tu vào một trạng thái vô sở đắc (tương tự như không trụ vào quả vị Nhị thừa) không? Và nếu đã là Bồ Tát, việc "dời thế gian pháp" khỏi tâm có thể được hiểu là đạt đến trạng thái "Bất nhiễm" (không bị ô nhiễm bởi thế gian) hơn là "Đoạn diệt" (cắt đứt liên hệ) không?
II. Về Bản Chất Của Niết Bàn và Phật Tri Kiến
Thầy có câu luận giải sâu sắc về "Vị ngọt của mật": Vị ngọt của Niết Bàn đối với người Sơ ngộ (Nhập Lưu) và người Liễu ngộ (Phật) là "không khác".
1. Sự Khác Biệt Giữa Nhị Thừa và Nhất Thừa:
Nếu hương vị thanh lương, an ổn của Niết Bàn là như nhau, vậy đâu là sự khác biệt cốt lõi giữa Quả vị Nhị Thừa (A La Hán) – vốn bị kinh Pháp Hoa phê phán là "hóa thành" (thành giả) – và Phật Thừa (Vô Thượng Quả) theo quan điểm của Thầy? Sự khác biệt này nằm ở bản chất Trí Tuệ Chứng Đắc hay chỉ là ở Phạm vi Từ Bi Hành Động (tâm nguyện hóa độ chúng sinh)?
2. Khái niệm "Trí xuất thế":
Trong bước 2 và 3, Thầy đề cập đến việc dùng Trí xuất thế để chứa Pháp xuất thế. Thưa Thầy, theo Thầy, Trí xuất thế này khác biệt như thế nào so với Trí Tuệ Bát Nhã được nói đến trong các bộ kinh cùng thời kỳ (ví dụ: Trí tuệ của Đại Bồ Tát trong kinh Bát Nhã), hay đây chính là Phật Tri Kiến của Kinh Pháp Hoa?
III. Về Hàm Ý Của Lục Tổ và Sự Viên Mãn Công Hạnh
Thầy gọi Lục Tổ Huệ Năng là "cáo già" khi Ngài chỉ nói Pháp Đạt là "Thầy biết tụng kinh" sau khi Pháp Đạt đã ngộ chỉ thú kinh Pháp Hoa.
1. Hàm Ý Của Lục Tổ:
Phải chăng lời nói đó của Lục Tổ nhằm chỉ ra rằng việc "thấu suốt lí lẽ siêu mầu của kinh" (lý) chưa đủ, mà cần phải viên mãn Công hạnh (sự) thông qua Ba bước thực hành mà Thầy Lý Tứ đã đề ra? Và nếu đã "lãnh hội chỉ thú" (tức là đã kiến tánh, ngộ nhập Nhất Thừa), thì thời gian cần thiết để hoàn tất hai bước còn lại có được xem là tự động viên mãn không, hay vẫn cần phải trải qua nhiều kiếp Bồ Tát hành?
2. Giới Hạn Của Thân Khổ:
Thầy nêu bước cuối là "Dùng chính nhục thân này làm công hạnh, hoá độ chúng sanh". Nếu một hành giả đã đầy đủ Trí Tuệ nhưng không thể hành đạo rộng lớn do bệnh duyên, thân khổ hoặc trở ngại ngoại cảnh, liệu người này có bị xem là chưa thể viên mãn Vô Thượng Quả vì thiếu công đức tích lũy thông qua nhục thân không? Hay sự hóa độ có thể được thực hiện hoàn toàn bằng Pháp Thân hoặc tâm lực?
Những vấn đề tôi đặt ra ở trên, tự cá nhân tôi cũng đã có những thầm kiến. Tuy nhiên vẫn muốn hỏi thêm Thầy để tự đối chiếu với mình. Qua đây cũng là nhân duyên để các bạn đọc hiểu rõ hơn về Kinh Pháp Hoa. Kính mong Thầy Lý Tứ dành thời gian khai mở những nghi vấn này!
Trân trọng kính thư,
03/10/2025 - 6:28:06 - Trí Đức - Bắc Ninh"
Bằng hữu Trí Đức và bạn đọc thân mến !!!
Về các câu hỏi, mình xin được trả lời như sau:
I. Về Mối Quan Hệ Giữa "Dời Thế Gian Pháp" và Bồ Tát Đạo
Thầy khẳng định bước đầu tiên là "Dời thế gian pháp ra khỏi tâm thức" và minh họa bằng việc người lái buôn "đổ bỏ tất cả những thứ trên thuyền xuống biển" để chứa đầy Phật Tri Kiến.
- Hỏi:
"1. Vấn đề Dứt Bỏ Phương Tiện Quyền Xảo:
Kinh Pháp Hoa vốn nổi tiếng với giáo lý Phương tiện quyền xảo (upāya), tức là không từ bỏ thế gian mà là tùy duyên hóa độ. Vậy, hành động "đổ bỏ tất cả" các pháp hữu lậu thế gian – kể cả các hành vi đạo đức, bố thí, hoặc thiền định hữu lậu – có phải là một sự phủ nhận chính các phương tiện mà Đức Phật đã dùng để dẫn dắt chúng sinh (Tam Thừa) không? Hay sự "dời" này chỉ đơn thuần là thay đổi thái độ tâm lý (không chấp trước), nhưng vẫn duy trì các hành động nhập thế?"
- Trả lời:
Điều kiện cần có để ứng viên có thể tham dự pháp hội Diệu Pháp Liên Hoa, nghe khai thị Phật tri kiến là phải thành tựu phần tự độ...Tức, tâm thức không còn lậu hoặc và đã chứng đạo quả xuất thế...Kinh gọi tịch diệt hai thứ này là "dời trời người đi nơi khác", Ngũ tổ nói: "Bất thức bổn tâm, học pháp vô ích"...!!! Đây là "điều kiện" để được theo học, chứ chẳng phải phủ nhận hay thái độ tâm lí gì hết...!!! Giống như muốn vào Đại học phải hoàn thành PTTH...!!! Hoặc, muốn học hội hoạ, phải có đôi mắt sáng...!!! Các pháp phương tiện đã học trước đó nhằm giúp ba thừa chứng đạo quả vô lậu và xuất thế, giống như thuốc chữa mù, giống như học PTTH...những thứ này chỉ là điều kiện cần có để được theo học các cấp học sau, chứ chưa phải Phật tri kiến...!!!
- Hỏi:
"2. Ranh Giới của "Thế Gian Pháp":
Nếu 'thế gian pháp' bao gồm cả các pháp lành thế gian, việc đổ bỏ nó có đặt người tu vào một trạng thái vô sở đắc (tương tự như không trụ vào quả vị Nhị thừa) không? Và nếu đã là Bồ Tát, việc "dời thế gian pháp" khỏi tâm có thể được hiểu là đạt đến trạng thái "Bất nhiễm" (không bị ô nhiễm bởi thế gian) hơn là "Đoạn diệt" (cắt đứt liên hệ) không?"
- Trả lời:
a) Muốn chứng đạo quả xuất thế, tâm thức phải rốt ráo không, tức không còn bóng dáng thế gian pháp cho dù một chút nhỏ (kể cả thiện pháp) như đầu cộng lông (hoàn toàn vô nhất vật)...!!!
b) Bồ tát do giác ngộ, nên thế gian pháp tự tịch diệt trong tâm thức, chứ không phải còn pháp thế gian mà chẳng nhiễm...!!! Kinh gọi: "Trắng bạch như vỏ ốc"...!!!
II. Về Bản Chất Của Niết Bàn và Phật Tri Kiến
Thầy có câu luận giải sâu sắc về "Vị ngọt của mật": Vị ngọt của Niết Bàn đối với người Sơ ngộ (Nhập Lưu) và người Liễu ngộ (Phật) là "không khác".
- Hỏi:
"1. Sự Khác Biệt Giữa Nhị Thừa và Nhất Thừa:
Nếu hương vị thanh lương, an ổn của Niết Bàn là như nhau, vậy đâu là sự khác biệt cốt lõi giữa Quả vị Nhị Thừa (A La Hán) – vốn bị kinh Pháp Hoa phê phán là "hóa thành" (thành giả) – và Phật Thừa (Vô Thượng Quả) theo quan điểm của Thầy? Sự khác biệt này nằm ở bản chất Trí Tuệ Chứng Đắc hay chỉ là ở Phạm vi Từ Bi Hành Động (tâm nguyện hóa độ chúng sinh)?"
- Trả lời:
a) Niết bàn Nhị thừa có hai:
* Độn A La hán: Do tuần tự trải qua Cửu thứ đệ định, chứng Diệt thọ tưởng định mà được...!!! Niết bàn của nhóm này không thật vì không đến từ giác ngộ nên kinh gọi là hoá thành...!!! Do đó, nó còn có tên là Niết bàn Vô tưởng thiên...!!!
* Mật hạnh (hồi tâm) A la hán: Do giác ngộ hai vô sanh nên chứng Diệt tận định...!!! Niết bàn của nhóm này, tương đương Pháp vương tử trụ (Phật tử trụ) của Bồ tát quyền thừa...!!!
b) Vô thượng quả hay Vô thượng Bồ đề: Là quả chứng tối hậu trong Phật đạo...!!! Quả vị này, không có thầy gọi là Vô sư...!!! Vô thượng quả sản sinh ra tất cả các đạo quả trong Phật đạo...!!!
c) Tất cả các loại Niết bàn của Phật đạo đều có ý vị thanh lương, an ổn như nhau...Chỉ khác nhau ở trí tuệ...!!! Kinh gọi: "Đồng cảnh giới vô vi, nhưng chư Hiền Thánh thấy có sai biệt"...!!!
- Hỏi:
"2. Khái niệm "Trí xuất thế":
Trong bước 2 và 3, Thầy đề cập đến việc dùng Trí xuất thế để chứa Pháp xuất thế. Thưa Thầy, theo Thầy, Trí xuất thế này khác biệt như thế nào so với Trí Tuệ Bát Nhã được nói đến trong các bộ kinh cùng thời kỳ (ví dụ: Trí tuệ của Đại Bồ Tát trong kinh Bát Nhã), hay đây chính là Phật Tri Kiến của Kinh Pháp Hoa?"
- Trả lời:
Bát nhã có hai thứ, gồm: Tương tợ Bát nhã (xuất thế trí) và Bát nhã chân thiệt (xuất thế thượng thượng trí)...!!!
* Ba thừa vào Nhất thừa học xuất thế trí, thành tựu Tương tợ Bát nhã...!!! Được nghe "khai thị" Phật tri kiến...!!!
* Nhất thừa sau khi viên mãn Đẳng giác (Như lai địa), vào dòng Diệu giác (Phật địa), bùng vỡ lần cuối, nhập xuất thế gian thượng thượng đạo, thành tựu Bát nhã chân thiệt...!!! Lập tức "ngộ nhập" Phật tri kiến...!!!
III. Về Hàm Ý Của Lục Tổ và Sự Viên Mãn Công Hạnh
Thầy gọi Lục Tổ Huệ Năng là "cáo già" khi Ngài chỉ nói Pháp Đạt là "Thầy biết tụng kinh" sau khi Pháp Đạt đã ngộ chỉ thú kinh Pháp Hoa.
- Hỏi:
"1. Hàm Ý Của Lục Tổ:
Phải chăng lời nói đó của Lục Tổ nhằm chỉ ra rằng việc "thấu suốt lí lẽ siêu mầu của kinh" (lý) chưa đủ, mà cần phải viên mãn Công hạnh (sự) thông qua Ba bước thực hành mà Thầy Lý Tứ đã đề ra? Và nếu đã "lãnh hội chỉ thú" (tức là đã kiến tánh, ngộ nhập Nhất Thừa), thì thời gian cần thiết để hoàn tất hai bước còn lại có được xem là tự động viên mãn không, hay vẫn cần phải trải qua nhiều kiếp Bồ Tát hành?"
- Trả lời:
* Nếu đọc kinh mà "thấu suốt lí lẽ siêu mầu của kinh" thì "lý ấy tức sự ấy"...!!! Pháp Đạt thuộc làu làu văn tự do bỏ công tụng ba ngàn bộ Pháp Hoa mà chẳng thấu tỏ ý kinh, cũng chẳng giác ngộ nên gọi là "bị Pháp Hoa chuyển"...!!!
* Người đã "lãnh hội chỉ thú" của kinh rồi thì, chỉ còn việc làm công hạnh cho đến viên mãn đạo quả cuối cùng, không kể bao nhiêu đời kiếp...!!!
- Hỏi:
"2. Giới Hạn Của Thân Khổ:
Thầy nêu bước cuối là "Dùng chính nhục thân này làm công hạnh, hoá độ chúng sanh". Nếu một hành giả đã đầy đủ Trí Tuệ nhưng không thể hành đạo rộng lớn do bệnh duyên, thân khổ hoặc trở ngại ngoại cảnh, liệu người này có bị xem là chưa thể viên mãn Vô Thượng Quả vì thiếu công đức tích lũy thông qua nhục thân không? Hay sự hóa độ có thể được thực hiện hoàn toàn bằng Pháp Thân hoặc tâm lực?"
- Trả lời:
a) Muốn viên mãn Vô thượng quả, không có con đường khác ngoài việc làm công hạnh...Cho nên, hôm nay thân bệnh chưa làm được thì ngày khác hết bệnh sẽ làm...Đời này chưa làm được hoặc chưa xong thì đời sau làm...cứ thế...cứ thế..."chưa hết giặc là ta chưa về" (Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ mà)...!!! Và, "trí tuệ là thường" nên không lo nó mất, chỉ sợ không hoặc chưa có thứ "trí độc" ấy mới "gay go to"...!!! Vả chăng, người có được thứ trí độc đó, nhất định y ta biết mình cần làm gì "cho phải đạo", đừng có "lo cho bò trắng răng"...!!!
b) Pháp thân và tâm lực không có chân nên không tự đi hoá độ được, không có miệng nên không thuyết pháp được, không có tai nên không nghe chúng kể khổ được, không có mắt nên không thấy đường...thì làm sao mà...hoá...với...độ ??? Đây là lí do vì sao phải "nhờ nhục thân"...!!!
Hi vọng, những trả lời vừa rồi, có thể giúp bằng hữu Trí Đức và bạn đọc có cái nhìn khái quát về pháp hội Diệu Pháp Liên Hoa cũng như điều kiện cần và đủ để Pháp tử tham dự pháp hội này...!!!
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
03/10/2025
LÝ TỨ
Luận Đàm Về 12 Điểm Cần Làm Sáng Tỏ Từ Bạn Đọc Trong Tác Phẩm Tâm Pháp !!!
Các bạn !!!
Mình vừa nhận được một số thắc mắc của bạn đọc Trí Đức ở Bắc Ninh !!! Những thắc mắc của Trí Đức liên hệ đến tác phẩm Tâm Pháp (viết năm 2011 - Hội Nhà Văn xuất bản năm 2020 và Dân Trí tái bản năm 2024) !!!
Tâm Pháp được viết dưới dạng tiểu thuyết cổ trang, gồm 11 nhân vật hư cấu...Bối cảnh được xây dựng từ những địa danh có thật ở Trung Quốc...!!!
Câu chuyện bắt đầu từ dòng Cán Giang (Còn gọi là Cám Giang)..."Đây là một trong 7 chi lưu lớn của sông Trường Giang, là con sông lớn nhất trong tỉnh Giang Tây, chảy theo hướng nam bắc xuyên qua tỉnh Giang Tây. Sông Cám dài 991 km, trong đó chủ lưu dài 751 km, lưu vực diện tích 83.500 km²." (Theo Wikipedia) !!!
Từ Cám Giang, đoàn người (trong truyện) xuôi dòng Ô Giang (thuộc tỉnh Quý Châu) để giong thuyền đến Thôn Lưu Khanh...!!! Lưu Khanh còn có tên gọi "Thiên Hạ Đệ Nhất Cổ Thôn", thuộc tỉnh Giang Tây...Và từ đây, mối lương duyên thầy trò giữa Lý Tứ (nhân vật hư cấu trong truyện) và bảy người của nhóm Trung Nguyên Cửu Tuyệt hình thành...!!!
Sau khi Tâm Pháp đến tay thân hữu (bản photo)...Mọi người gọi đùa mình là Lý Tứ, thấy cái tên này ngộ ngộ, vui vui...Thế là bút danh Lý Tứ ra đời từ đó...!!! (Truyện và nhân vật hư cấu Lý Tứ có trước, tên tác giả Lý Tứ có sau)
Theo giải thích từ AI: "Lưu Khanh đệ nhất cổ thôn" (Lưu Khanh - Cổ thôn số 1) là một thôn trang cổ ở tỉnh Giang Tây, Trung Quốc, được tác giả Lý Tứ lấy làm bối cảnh cho tác phẩm "Tâm Pháp". Thôn Lưu Khanh cùng với sông Cán Giang, núi Dự Sơn, v.v. là những địa danh đã truyền cảm hứng cho các tác phẩm của tác giả, và cộng đồng "Lý Gia" đã thực hiện chuyến đi thăm Lưu Khanh vào đầu năm 2024 để ghi lại những hình ảnh và trải nghiệm cảm xúc..." !!! (Theo AI)
Vài nét sơ lược về Tâm Pháp và bút danh Lý Tứ, để bạn đọc hình dung các câu hỏi của Trí Đức cùng Tâm Pháp có mối liên hệ thế nào...!!!
Các bạn có thể nghe Tâm Pháp (sách nói) từ địa chỉ sau: https://youtu.be/yPYSMWZzahk?si=dpplPJOzMEkAsXSq
Do thư của Trí Đức dài, có đến 12 câu hỏi...!!! Mình sẽ lần lượt trả lời ở các kì tiếp theo (tạm đặt tên 26/2025 (A); 26/2025 (B)...) Để không vi phạm giới hạn dung lượng bài viết của Facebook...!!! Mong Trí Đức và bạn đọc thông cảm...!!!
Nội dung thư và các câu hỏi, bạn đọc Trí Đức đã viết như sau:
"Thư gửi tác giả Lý Tứ
Kính gửi tác giả,
Tôi đã có cơ duyên đọc trọn vẹn tác phẩm Tâm Pháp. Bình thường tôi thường quen tiếp cận kinh điển theo lối luận giải, nhưng lần này, qua Tâm Pháp, tôi được đi vào một không gian khác: Nơi văn chương và giáo lý giao hòa, nơi những cảnh trí, câu chuyện và đối thoại trở thành cửa ngõ dẫn vào minh triết Phật Đà. Đây là một tác phẩm tôi đánh giá rất hay mà tôi từng đọc và tôi có một số cảm nhận như sau:
Thứ nhất: Đọc Tâm Pháp, tôi bị “kéo” vào không khí trăng mười sáu trên dòng Ô Giang, nơi Lão Đại kể chuyện Hạng Vũ và ông đặt lại vấn đề anh hùng - từ chỗ “mạnh được yếu thua” ngoài đời sang trận tuyến trong tâm.
Khung cảnh sử–đạo ấy thật thâm trầm, làm bối cảnh cho quyết tâm học đạo của Trung Nguyên Cửu Tuyệt, mở ra mạch đi từ hùng khí sang trực tâm. Quả thực thú vị!
Thứ hai: Ở “Tìm Cầu Chân Lý”, ông đánh thẳng vào thói “làm tôi mọi cho lễ nghi”, nhấn “trực tâm là thẳng ngay đến vô thượng”, rồi dùng dòng Ô Giang để minh họa “bất cấu bất tịnh / thiệt tướng nhất tướng là vô tướng”: nước khi đục–trong là tướng, còn “tánh nước” chưa từng đục–trong.
Cùng mạch đó, ông chỉ ra bốn “dòng” (kiến lưu, dục lưu, hữu lưu, vô minh lưu) như những “phiền não trụ địa” cuốn phăng kẻ tu nếu không hộ trì căn. Cách triển khai rất “Phật học mà không sách vở”: cảnh–vật–tâm trượt vào nhau tự nhiên. Quả thực tài tình!
Thứ ba: Đến “Tâm cầu đạo…”, nghi lễ đốt đai–vũ khí và “khai tử” danh xưng Cửu Tuyệt thật giàu biểu tượng: Một nghi thức chuyển danh–tướng về hư không để khai sinh đời tu mới. Tôi thích cách ông để họ tự cử hành, còn mình đứng ngoài như người chứng minh—đúng tinh thần “không trói mình vào vai Thầy, chỉ buộc vào chân lý”. Quả thực khéo léo!
Thứ tư: Ở tuyến đối thoại với Đại sư Huyền Không, mạch luận “tự tánh” ≠ “tánh mình” được khắc bằng ẩn dụ hồ Tự Tâm: Hễ có duyên ném xuống thì ảnh hình méo mó (tánh mình–hư vọng), còn khi “dứt duyên” thì các tính chất của tự tánh lần lượt hiện: Thanh tịnh, bất động, liễu tri, an lạc…; rồi nối sang “Phật và chúng sanh đồng một tự tánh”, trích Lục Tổ “Nào dè tự tánh…”. Ông còn mượn kệ Long Thọ để chặn nguy cơ gán “tự tánh” cho cái gì do duyên hợp. Đoạn này vừa giữ được Trung đạo của Bát-nhã, vừa tận dụng ngôn ngữ Phật tánh một cách tài tình. Quả thực tinh tế!
Từ những những phân tích ấy, tôi xin mạo muội gửi vài câu hỏi “đi sâu” để học tiếp:
1. Ở Ô Giang ông viết: “rời các tướng nhiễm ô thì không tánh tự hiện”. Trên lộ trình tu tập cụ thể cho người tại gia, ông muốn nói tới điều gì trước: ① Củng cố giới hạnh, hộ trì căn để giảm thiểu sự thẩm thấu của thấy–nghe thành ái/chấp (một biện pháp tiền đề đạo đức), hay ② Thực hành quán vô tướng ngay trên các cảm xúc và đối tượng (một biện pháp trực tiếp hướng thẳng vào tánh không)? Khi hai cách này giao thoa trong đời sống thường nhật — ví dụ khi một người bị sỉ nhục — ông khuyên nên ưu tiên bước nào trước?
2. Ông phê phán thái độ “Cửu Tuyệt” vì chấp vào hơn–thua. Về phương diện cấu trúc phiền não, ông xếp “hơn–thua” vào loại nào: Kiến thủ (bám chấp vào tướng tư duy), hay mạn (tự tôn/ngã mạn) hay cả hai? Nếu phân loại theo ngũ trụ địa hoặc tùy miên, ông xếp “hơn–thua” ở tầng nào để trị đúng “căn bệnh”?
3. Trong giải nghĩa về “Trung Nguyên” ông nói rằng đó không phải là cân bằng âm-dương hay trung tâm của Nho gia, mà là “không còn hai nguyên”. Ông có thấy khái niệm này tương đồng trực tiếp với Trung đạo của Long Thọ (phủ định dạng: Phi hữu–phi vô, phi thường–phi đoạn) không? Khi hướng dẫn người mới vào pháp, ông khuyên nên bắt đầu bằng phủ định cặp nào trước để cắt dính mắc nhanh nhất?
4. Về bốn “dòng” (kiến lưu, dục lưu, hữu lưu, vô minh lưu): Trong bối cảnh học hiện đại, nhiều hành giả lẫn lộn “kiến lưu” với tư duy phản tỉnh hay phân tích trí tuệ (critical thinking). Ông có thể chỉ ra những tiêu chí nhận biết rõ ràng — cả về biểu hiện tâm lý lẫn chức năng tư duy — để phân biệt “trí quán” (sáng suốt, mở, phục vụ giải thoát) và “kiến chấp” (cố chấp, đóng, phục vụ ngã) không?
5. Khi mô tả “tự tánh”, ông dùng các phẩm tính như thanh tịnh, bất động, liễu tri, an lạc và có nêu từ ngữ như “chân ngã, chân thường”. Làm thế nào để ông diễn đạt các phẩm tính đó mà không vô tình dẫn người học vào “thường kiến” (biến tự tánh thành một bản thể thường hằng)?
6. Câu “Buông thấy–nghe–hay–biết như kia, chỉ thấy–nghe–hay–biết như vầy thì tự tánh hiện”: ở đây “như vầy” ông muốn chỉ dạng trực chỉ (thiền chánh chỉ, chỉ thẳng tâm như Thiền tông) hay là trạng thái niệm-niệm bình thường biến thành đạo (hoạt dụng vô niệm liên tục)?
7. Ông trưng kệ Long Thọ về tánh không do duyên khởi. Xin hỏi trong hệ thống tư tưởng của ông, phương pháp giải thích tánh không thiên về Trung quán (Madhyamaka, bát bất) hay ông mượn cả các khuôn giải thích của Duy thức (tam tánh) như một bước phương tiện để giúp hành giả có “điểm tựa tâm lý” trước khi bước vào trực ngộ tánh không? Theo ông, ưu — nhược điểm của mỗi cách tiếp cận trong giáo dục tu tập là gì, và khi nào ông dùng phương tiện nào trong bài giảng?
8. Nghi thức “đốt vũ khí/khai tử danh xưng” hiện hữu như một biểu tượng xả bỏ ngã chấp. Theo tinh thần Bồ-tát giới, xả đao là chí nguyện bất hại. Nhưng trong thực tế có những tình huống “tùy duyên” có thể đòi hỏi phương tiện cứng (ví dụ can thiệp bảo vệ mạng sống). Ông hướng dẫn hành giả phát nguyện và hành xử thế nào để trong hành động “phương tiện” không tái nhiễm sát nghiệp hay ý niệm thù hằn?
9. Ông trích “bất cấu bất tịnh… thiệt tướng nhất tướng vô tướng”. Với người thọ trì Bát-nhã Tâm Kinh hàng ngày nhưng vẫn sống trong đời — giữa công việc, gia đình, tranh chấp — ông khuyên họ nên “đặt mỏ neo quán” vào đâu (thân, thọ, tâm, hay pháp) để thấy ngay dấu ấn không tánh mà không cần rút hẳn vào tịch tĩnh? Xin minh hoạ bằng một tình huống đời thường (ví dụ: Bị công kích trong họp) và từng bước quán chiếu cụ thể để thấy “không tánh ngay giữa việc đời”.
10. Ông nhắc tới tiêu đề tiếp theo “Kim Cang Chỉ Lực”. Ở đây “chỉ lực” ông muốn nói đến định lực mang tính Kim Cang (bất hoại, bất động) hay là hành vi chỉ thẳng/chỉ quán (một sức chỉ dẫn mang tính thiền thuật như trong Thiên Thai)? Ông có thể đưa ra tiêu chuẩn đo lường hay những dấu hiệu thực tiễn để một học giả biết rằng mình đã có “chỉ lực” đủ mạnh để chống được tác động của bốn dòng (kiến, dục, hữu, vô minh)?
11. Phương pháp văn học của ông (giang hồ—sơn thủy—đối thoại) khiến giáo lý “sống động”. Đây là là điểm làm tác phẩm hấp dẫn và người đọc dễ dàng tiếp nhận Phật Pháp một cách tự nhiên. Nhưng làm thế nào để ông vẫn giữ được tính chân thực của giáo pháp?
12. Ở tầng tri nhận, nếu ông đặt trực tâm làm mực thước trong quan hệ thầy–trò, xin hỏi ông: Ngoài những hiện thô trọng — chẳng hạn còn ưa khen–chê, còn đo lường “được–mất” trong pháp đàm, hay còn dựa vào danh tiếng, thì còn những biểu hiện vi tế nào — đủ để hành giả tự biết mình “chưa trực tâm”?
Đó là tất cả những cảm nhận về tác phẩm Tâm Pháp và những câu hỏi cần học thêm. Tuy hơi dài nhưng kính mong ông giải đáp từng vấn đề cụ thể với ví dụ thực tế hoặc những phép kiểm tra rõ ràng, bởi lẽ đối với những người hành đạo trong đời thường, điều quan trọng không phải chỉ là khái niệm đúng mà là phương pháp kiểm chứng và sửa lỗi trong thực tế tu tập.
Trân trọng cảm ơn ông vì tác phẩm Tâm Pháp và những tư tưởng đã gieo mầm.
Kính,
Trí Đức - Một bạn đọc đang học giữa dòng Như Nguyệt!
Ps: Nhà tôi gần sông Như Nguyệt, nơi đây cũng từng có một chiến tích hào hùng...!!!
29/08/2025 - 18:21:35 - Trí Đức - Bắc Ninh"
Mời các bạn đón xem phần trả lời ở kì sau 26/2025 (B) !!!
Cùng bạn đọc !!!
Từ hôm nay (30/08) đến thứ ba (02/09), mình bận một số việc riêng, nên chuyên mục tạm nghỉ...!!! Sẽ tiếp tục vào ngày thứ tư 03/09/2025 !!!
Chúc mọi người an vui, tinh tấn, có kì nghỉ Lễ Quốc Khánh vui vẻ...!!!
30/08/2025
LÝ TỨ
Tin Muộn Trong Ngày !!!
Các bạn !!!
Mình vừa nhận được hồi đáp của Thầy Nguyễn Phương Cảo - Hà Tĩnh...!!! Nội dung như sau:
"Thưa Thầy Lý Tứ,
Lời đầu tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Thầy Lý Tứ vì đã dành thời gian giải đáp những thắc mắc của tôi.
Những lời hồi đáp này không chỉ giúp tôi tháo gỡ những nút thắt trong lòng mà còn cho tôi thấy được sự cẩn trọng, tỉ mỉ và tấm lòng trách nhiệm của Thầy đối với Giáo Pháp và với độc giả.
Tôi vô cùng tâm đắc với việc Thầy đã dành một năm để đối chiếu những gì trực nhận được với Kinh điển. Đó chính là minh chứng rõ nét nhất cho tinh thần "Cẩn tắc vô áy náy" mà Thầy đã nêu.
Sau khi nhận được thư hồi đáp của Thầy, những thắc mắc trong lòng tôi đã được giải đáp một cách thỏa đáng. Với tư cách là một người học, tôi lại học thêm được một bài học quý giá về tinh thần khiêm tốn, thận trọng trong việc hành đạo.
Hiện tại tôi đang chuẩn bị sang Pháp với gia đình con trai cả bên đó để điều trị bệnh. Hy vọng sau khi khỏe lại, trở về Việt Nam, tôi sẽ chủ động liên hệ để có thể đón Thầy tại quê hương cụ Nguyễn Du và đàm đạo trực tiếp. Đó chắc chắn sẽ là một nhân duyên lành.
Một lần nữa, xin được gửi lời cảm ơn và lời chúc tốt đẹp nhất tới Thầy Lý Tứ!
Hà Tĩnh, ngày 28 tháng 8 năm 2025 - 17:23:24 - Nguyễn Phương Cảo."
Thầy Nguyễn Phương Cảo và bạn đọc thân mến !!!
Vừa đọc tin của Thầy...Tự dưng trong lòng Lý Tứ có chút gì đó bùi ngùi khi biết Thầy chuẩn bị xa quê hương sang Pháp chữa bệnh...!!!
Tuy chỉ mới biết nhau qua vài ba lần đối đáp về đạo pháp...Nhưng trong tôi, cảm giác như đã thân quen với Thầy lâu lắm rồi...!!!
Vẫn biết rằng, với mạng internet bây giờ, khoảng cách địa lí giữa Việt Nam và Pháp quốc không xa hơn chiếc điện thoại này...Nhưng khi hay tin Thầy sắp xa quê hương, trong tôi vẫn cứ cảm giác như thiếu vắng một thâm tình...!!!
Chúc Thầy thượng lộ bình an...Và, mau hết bệnh để khi nào đủ duyên lành, chúng la lại gặp nhau tại quê hương Cụ Nguyễn...!!!
Chào Thầy !!!
28/08/2025
LÝ TỨ
Nhặt Nhạnh: Có Một Lý Tứ Trong Thơ

Thơ! Vâng nhắc đến thơ, người ta sẽ nghĩ đến âm hưởng, đến giai điệu, sự bay bổng, lãng mạn … thậm chí một lời thơ có thể vút bay thành một lời ca bất hủ khiến người ta lặng đi vì xúc động và bất tử trong lòng người Tập thơ “Nhặt Nhạnh” của tác giả Lý Tứ cũng có những phút lắng sâu như thế, đó là sự hoà quyện giữa “đời và đạo” nhưng lại có những bài thơ mang chức năng “dẫn dược” để chữa bệnh cho người còn lang thang trong ba cõi, có những bài thơ giúp độc giả chứng ngộ …
Thơ tác giả Lý Tứ có “kén” độc giả không?
Xuất thân là một cư sĩ tại gia nên “đời và đạo” đều mang hơi thở rất riêng của tác giả Lý Tứ. Trong những lần giảng bài cho học trò, ông luôn nói rằng: “Phật đạo là một nền giáo dục” và “Lý Tứ chỉ là một ông giáo già” để người học tiếp nhận kiến thức một cách minh bạch về giáo pháp từ cạn đến sâu. Vì thế khi tiếp cận những tác phẩm của tác giả Lý Tứ, học trò của ông hoan hỷ như nhận được một món quà quý.
Sau khi đọc xong tập thơ của tác giả, là một trong hàng ngàn học trò được thầy dạy dỗ về giáo pháp, tôi thật may mắn khi hiểu những bài thơ có chủ đề về Đạo và ý tứ sâu xa thầy gửi gắm. Nhưng trong sự hoan hỷ của người học trò hiểu được cách thầy đưa giáo pháp vào thơ và nhận được công dụng của những lời khai thị ấy thì khi tập thơ này xuất bản đến với đại chúng, tôi tự hỏi lòng mình rằng: “Thơ của thầy có kén độc giả không?”. Hỏi vậy vì tôi biết, số đông nếu không có kiến thức giáo pháp cơ bản, chưa giác ngộ cũng sẽ không thể cảm nhận được những bài thơ thầy viết:
Yếu Chỉ Thiền Na
Sen kia tự không tánh
Cũng chẳng có tướng trần
Xưa nay Tâm và Ý
Vắng lặng Thiền tự sanh !!!
Người cố đi tìm Sen
Qua hương và màu sắc
Nếu người này được thiền
Có chi là đáng khen !!!
Quán vạn hữu không tánh
Tâm ý chưa từng sanh
Người này không cầu được
Thiền na cũng viên thành !!!
Xưa nay ba đời Phật
Đều không Pháp không Tâm
Không mảy may hiện khởi
Gọi hết: “Ngu, mê, lầm” !!!
(Thơ Lý Tứ, 2012)
Yếu chỉ Thiền Na tức là chỉ thú quan trọng của thiền na. Đây là trạng thái thiền có được do giác ngộ giáo pháp mà sanh hỷ lạc khinh an, một trạng thái có được giống như ngồi thiền. Tác giả Lý Tứ muốn hướng học trò quay vào bên trong, từ da trở vào, không chạy theo tiền ngũ thức (chạy theo trần cảnh), không làm tôi mọi cho ý thức (làm cơ sở sinh pháp) bằng cách chỉ ra rằng: Trần cảnh đều không có tánh, có tướng. Tâm và Ý thức bổn lai cũng không có cái gì gọi là Tâm, là Ý thức, nó vắng lặng. Nhờ vậy, hành giả nhận ra cái hư dối nên tịch diệt hư vọng mà định tâm. Từ cái giác ngộ này, người tu hành mới bắt đầu nhận thức được: Con đường nào đưa đến hữu lậu, con đường nào đưa đến vô lậu. Bài thơ này, tác giả Lý Tứ muốn tuyên thuyết Thật nghĩa về trần cảnh và Thiền. Như vậy, để hiểu được ít nhiều bài thơ này từ cạn đến sâu, vị ấy phải giác ngộ không tâm, không pháp để “thấm” vị đạo mà tâm cảnh tác giả viết ra!
Nếu như Yếu chỉ thiền na là một bài kệ đòi hỏi vị độc giả phải giác ngộ được “bổn tâm” thì có những bài thơ độc giả sẽ như lạc vào mê cung vì tiếng cười ha ha ha ha bất hủ, rất đặc trưng của tác giả:
Ha Ha Ha Ha …
Trên vai lão gánh đòn … sanh tử
Tại nước Thiên Hoa có Lão Già !!!
Ai mà thưa cụ … đều được thấy …
Sanh tử chỉ bằng tiếng: ha ha !!!
Khi bắt đầu học giáo pháp, tôi bị tiếng cười “ha, ha, ha, ha” của thầy gây tò mò còn hơn là học giáo pháp và không biết vì sao thầy hay có tiếng cười như vậy trong các bài kệ, những cuốn sách Hỏi đáp thầy từng xuất bản. Sau này tôi mới cảm nhận được tiếng cười ấy nó hàm chứa sự sảng khoái của bậc giác ngộ, chỉ đơn giản vậy.
“Nước Thiên Hoa” hay còn gọi là quốc độ Phật, thường được nhắc đến trong các kinh Mật tông và Tịnh độ như một cảnh giới trang nghiêm, nơi chư Phật và Bồ Tát thuyết pháp. “Lão Già” ấy là hoá thân của Phật/Bồ tát đến thuyết pháp. Sanh tử chỉ bằng tiếng: Haha! Tiếng cười cuối cùng của bậc giác ngộ là tiếng cười của người “gánh đòn sanh tử” nhưng “thấu suốt Sanh tử” bởi thấu suốt “thân, tâm, các pháp, thế giới” đều … vô thường biến hoại, chẳng có gì bền vững, chẳng có gì thật có mà nắm giữ, chấp nhất. Vậy gánh đòn sanh tử có còn đáng sợ như gánh trái núi ngàn cân nữa không?
Bài thơ: Tìm Tâm, cũng là một bài thơ giúp người đọc chứng ngộ:
Mấy dạo tìm tâm
Tâm chẳng thấy
Bao phen kiếm pháp
Pháp không sanh
Ngước mặt nhìn trời,
Trời vắng lặng
Phật Quốc là đâu
Hỡi mây xanh !!!
(24/7/2012)
Một bài thơ đi tìm Tâm được triển khai bằng “Hữu vi thần lực – tâm, pháp, Phật Quốc” nhưng cái được thấy lại rỗng rang vắng lặng! Đó là thứ “vô vi thần lực – ý vị sâu thẳm” mà tác giả gửi gắm trong bài thơ Tìm Tâm này. Đó là tại cái nơi vắng lặng, thanh tịnh, tâm pháp không sanh ấy thì là quốc độ Phật, là niết bàn chứ còn nơi đâu nữa mà tìm?
Với cảm nhận về ba bài thơ trên, để độc giả khi cầm tập thơ này, sẽ tự trả lời cho mình rằng: “Tập thơ này có kén độc giả không?” Vậy đối tượng độc giả của những bài kệ khai tâm, bài thơ trong tập thơ trên là ai? Các bạn hẳn đã có câu trả lời.
Cảm xúc trong trẻo yêu đời, yêu người.
Khi viết đến phần này, trong tôi rất xúc động khi chạm đến cảm nhận về phần thực sự rất thơ trong con người tác giả: Đó là thứ cảm xúc thanh thuần, tinh khiết, mà ông dành cho quê hương, bạn bè thời thơ ấu, cho hàng tre, luống đất cày, cho tiếng chim chiền chiện kêu giữa trời xanh vắng … và cho tiếng lòng của tác giả dành cho nhân vật trữ tình thời thanh mai trúc mã: Em!
Ngày mai tôi sẽ về
(Viết cho An Thái quê tôi)
Ngày mai tôi sẽ về, quê hương ơi
Để tìm lại đám bạn bè thời thơ ấu
Để thấy hàng tre, con truông dài quen
những lần chờ đợi
Để nghe lòng mình ngọt lịm,
giữa đường xưa !!!
Ngày mai tôi sẽ về, dưới nắng cháy
buổi trưa
Tìm tiếng con chiền chiện kêu tận
trời xanh thuở trước
Được thấy luống đất cày không
gầy hao cơn khát nước
Cái giếng đầu làng,
Thôi vét cạn tháng năm !!!
Ngày mai tôi sẽ về, rồi sẽ đi thăm !!!
Đầu trên xóm dưới, như những ngày thơ dại
Hái bông dủ dẻ, mùi rạ khô ngai ngái
Ngắt cánh hoa dại bên đường,
cài lên tóc người xưa !!!
Ngày mai tôi sẽ về, tìm lại vạt rừng thưa!!!
Để nhớ một thời cùng em dạo chơi
đêm trăng sáng …
Ngày mai tôi sẽ về, gặp bà con, bè bạn
Ngày mai tôi sẽ về,
Em còn nhớ tôi không !!!???
Khi đọc hết bài thơ, tôi đọc lại thêm nhiều lần nữa để nhìn rõ hơn bức chân dung về ông trong thơ, những câu thơ rất đời, nhẹ nhàng, sâu lắng của cảnh và người, cảnh cũ – người xưa như bức tranh sống động và dịu dàng như những thước phim cuộc đời. Nó thầm lặng nhưng không tĩnh lặng! Bản tình ca yêu đời, yêu người ấy rung lên trong từng câu chữ, nôn nao:
Ngày mai tôi sẽ về, rồi sẽ đi thăm !!!
Đầu trên xóm dưới, như những ngày thơ dại
Hái bông dủ dẻ, mùi rạ khô ngai ngái
Ngắt cánh hoa dại bên đường,
cài lên tóc người xưa !!!
“Bông dủ dẻ, mùi rạ khô, hoa dại bên đường, tóc người xưa” … không phải rất thơ hay sao? Bài thơ này vừa giàu chất thơ, vừa như một bản tình ca được lập trình sẵn trong tâm hồn ông – một người con Quảng Nam xa xứ! Lời hứa của ông cũng là lời hứa dành cho một thời đã xa về mặt thời gian, không gian nhưng với Lý Tứ, người đã mang mái tóc bạc hơn nửa mái đầu, nó như vừa mới hôm qua! Lời nhắn nhủ dường như không chờ đợi một câu trả lời:
Ngày mai tôi sẽ về, tìm lại vạt rừng thưa !!!
Để nhớ một thời cùng em dạo chơi
đêm trăng sáng …
Ngày mai tôi sẽ về, gặp bà con, bè bạn
Ngày mai tôi sẽ về,
Em còn nhớ tôi không !!!???
Nếu đọc tập thơ Nhặt Nhạnh mà bỏ qua những bài thơ đầy “ưu bi sầu não” khi tác giả còn đang trên đường cầu đạo, thì sẽ là điều đáng tiếc. Bài thơ: Trách Phật, là một chân dung rất khác về tác giả Lý Tứ:
Như Lai thản nhiên ngồi
Chúng sanh thêm đau khổ
Nhân loại ôi thôi rồi !!!
Pháp Không chỉ hư vô …
(1976)
Bài thơ này viết khi tác giả Lý Tứ 23 tuổi! Cái tuổi tưởng chừng còn rất nhiều mơ mộng hão huyền về cuộc đời, mấy ai “đau đáu bất lực” vì chúng sanh đau khổ? Vì lúc ấy cầu đạo, đạo vẫn ở nơi xa lắm! Ông cũng như bao người được sinh ra trong ba cõi ấy, vẫn mơ hồ về Như Lai, về vị Phật ở một cảnh giới nào đó xa xôi lắm. Chính vì từng đắm chìm trong mông lung dài đằng đẵng 30 năm tìm cầu, không ít lần rơi vào tuyệt vọng như tên bài thơ ông viết cũng vào năm 23 tuổi:
Vạch mây rẽ lối tìm trời
Lên cao cũng chỉ thấy đời tối tăm
Luân hồi vướng nghiệp ngàn năm
Hỏi bao nhiêu tuổi?
Đã … trăm … mối … sầu !!!
Suốt gần ba mươi năm tìm cầu chân lý nhưng chỉ thấy mơ hồ, mông lung, như giải bài toán mà đáp số mãi là ẩn số! Nhưng ông chưa từng bỏ cuộc. Bởi nếu bỏ cuộc thì đâu có con số 30 năm mới có ngày … bùng vỡ tâm thức. Có lẽ, cũng cảnh chúng sanh cầu đạo, nên khi đã giác ngộ ông đối đãi với học trò cũng như bằng hữu xa lạ hay thân quen, thật từ bi và nhẫn nại. Có đêm ông trả lời 3 bức thư của một bằng hữu để họ thực sự nhận ra mình đã đeo bao cát suốt 40 năm cuộc đời nên chẳng thể … nấu thành cơm! Còn với học trò, có ngày ông dạy ba ca trên zoom, bắt đầu buổi dạy từ 5 giờ sáng thì ông phải dậy từ 3h30 phút để chuẩn bị kiến thức trước mỗi buổi giảng, mỗi ca học kéo dài 2-2,5 tiếng đồng hồ.
Tấm chân tình dành cho học trò và ngôi nhà vô lậu Lý Gia
Có hai câu thơ tôi đọc và nhớ mãi trong đầu dù người thầy ấy chẳng có chữ nào viết cho học trò và ngôi nhà vô lậu Lý Gia nhưng mà ẩn ý lại dành tất cả:
“Kiếp này ta chẳng chăm nhau
Kiếp sau xin nguyện ngựa trâu
đáp đền ...!!!”
(Lời hứa, trích tập thơ Nhặt nhạnh, tác giả Lý Tứ)
Tất cả học trò chúng tôi đều biết nhân vật trữ tình trong hai câu thơ này là ai? Và tất cả học trò chúng tôi, khi biết những thiệt thòi đời thường của người phụ nữ đón nhận lời hứa cao cả này đều thực sự cảm phục. Bởi ở bên người chồng đã dành tất cả lý tưởng cho giáo pháp, cho Lý Gia và những học trò của ông thì đâu còn thời gian dành cho gia đình nhỏ của mình. Vậy nhưng rồi cô đã chọn chấp nhận, thầm lặng đứng sau lời hứa ấy, như một bức phù điêu!
Với chúng tôi, Bài ca Lý Gia chính là hành khúc chứa đựng thông điệp lớn lao nhất của tác giả:
Mang yêu thương đi khắp phương xa
Đem ước mơ đến khắp mọi nhà
Ngàn cánh chim tìm về tổ ấm
Triệu con tim hòa nhịp đập Lý Gia
Hết khổ đau cho tâm trí nở hoa
Thôi ghét ganh bao thù hận xoá nhoà
Bến yêu thương ta cùng nhau vun đắp
Xây tình người là hạnh phúc Lý Gia
Đường ta đi chẳng phải tận trời xa
Nơi ta đến chẳng phải những tháp ngà
Ta không mơ điều hão huyền xa lạ
Chỉ mong đời thôi rên siết kêu la
Bay đi muôn phương hỡi cánh mỏng Lý Gia
Gieo bao yêu thương nơi trần thế khổ sầu
Nơi ta đến là chân trời trí tuệ
Hãy dắt dìu nhau
Những người con của Lý Gia !!!
(Trích: Bài ca Lý Gia)
Ở góc độ người thầy, ông thường nhắc nhở chúng tôi rằng: “Tinh thần của Lý Gia là những đoá bồ công anh, đem yêu thương và ước mơ đến những nơi xa nhất”. Còn trong thơ, ông cũng không quên nhắc nhở học trò:
“Hết khổ đau cho tâm trí nở hoa
Thôi ghét ganh bao thù hận xoá nhoà
Bến yêu thương ta cùng nhau vun đắp
Xây tình người là hạnh phúc Lý Gia”
Bản thân người tu tập phải “hết khổ đau” mới có được “tâm trí nở hoa”. Bởi khổ đau là sự biến hiện nơi tâm thức còn vô minh, mù tối. Như thầy vẫn nhắc nhở chúng tôi rằng:
“Độ ta rồi mới độ nàng
Ta còn chìm nghỉm đừng màng độ ai !!!”
Từ “Hết khổ” tới “Chân trời trí tuệ” trong thơ cũng như trong tâm thức, là một hành trình của Văn – Tư – Tu. Người đi trước dìu dắt người đi sau, người giác ngộ sâu dìu dắt người còn sơ cơ! Nhờ vậy, chúng tôi có một môi trường học tập an vui và chất lượng, một nơi học tập mà học phí chính là … cái tâm dõng mãnh cầu học đạo trí tuệ của học trò, là sự nhất tâm như ý túc chứ không phải cái tâm giải đãi. Như cách thầy tôi vẫn cười: ha ha ha ha! Nhưng các bạn thử nghĩ mà xem, vì sao một bậc đạo sư ngồi trên đỉnh núi và tên cướp ở dưới chân núi, cùng nhìn thấy ánh trăng sáng?!
Sài Gòn, tháng 12 năm 2025
Lý Thu Thủy MĐ0665
Giám Đốc HanoiBooks