Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời số 81.2026 với chủ đề: Lý Hoàng Anh Trả Lời Các Câu Hỏi Của Hành Giả Pháp Quang !!!

MB 857 Lý Diệu Sinh 05.06.2026

Hành giả Pháp Quang và bạn đọc thân mến !!!

Như vậy là, sau 24 giờ gởi câu hỏi của hành giả Pháp Quang đến bạn đọc và HĐ Lý Gia...Sáng nay, đã có những câu trả lời đầu tiên từ Sư Muội Lý Hoàng Anh (EU 1578) đang sinh sống và làm việc tại Vương Quốc Bỉ...!!!

Sau đây là toàn bộ mười lăm (15) câu trả lời của SM Lý Hoàng Anh:

"Con kính thưa Thầy,

Được sự cho phép của Thầy, con xin được tham gia trả lời 15 câu hỏi của bạn đọc, hành giả cao tuổi, bác Pháp Quang, được Thầy đăng trên Chuyên mục kỳ 80/2026.

Sau đây là phần trả lời của con với bạn đọc hành giả Pháp Quang:

Kính thưa bác Pháp Quang,

Con là Lý Hoàng Anh, là học trò thứ 1578 của Thầy Lý Tứ, hiện đang sinh sống và làm việc tại Vương Quốc Bỉ.

Trước tiên, con xin được bày tỏ lòng kính trọng của con đối với bác - một hành giả cao tuổi, tâm huyết và đã dành nhiều năm nghiên cứu hành trì đối với giáo pháp thâm diệu của Đức Phật. Quả thật là một việc đáng trân quý biết bao trong thời vàng thau lẫn lộn này.

Kế nữa, con xin được bày tỏ lòng biết ơn đối với các câu hỏi bác gửi đến chuyên mục của Thầy con. Nhân đây, mà hàng hậu học chúng con lại có thêm những cơ hội để được sở kiến những đường kiếm pháp đẹp, học tập được từ các bậc cao nhân và được luyện rèn kiếm pháp đối với bản thân.

Sau cùng, con biết ơn giáo pháp vi diệu của Đức Từ Phụ. Biết ơn trí tuệ siêu việt của ba đời Chư Hiền Thánh. Nhất là biết ơn trí tuệ siêu việt của Thầy con, đã cho chúng con có được cơ hội học tập và thâm nhập Phật tri kiến, với mục tiêu duy nhất "Duy Tuệ Thị Nghiệp", mà Thầy con đã dày công giáo dạy huynh đệ chúng con: "Mang yêu thương và ước mơ đến những nơi xa nhất!"

Sau đây, con xin được trả lời 15 câu hỏi của hành giả Pháp Quang.

1.

Trích đoạn: "Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quán sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: Vì sao các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp? Vì sao quán sát điều này lại được Vô Lượng Nghĩa? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?

Trả lời:

a. Trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, Phẩm Phạm Hạnh (梵行品), bản dịch của HT. Thích Trí Tịnh, Phật dạy đại ý: “Ta dùng Phật nhãn quán sát khắp tất cả pháp trong tam thiên đại thiên thế giới, từ đất đai, núi non, sông ngòi, cây cối, rừng rú, ao hồ, nhà cửa, thành ấp, chúng sanh cho đến các pháp hữu vi, vô vi; rốt ráo đều không có một pháp nào có thể nắm lấy được, có thể được thấy là thật có.”

b. Từ đây thấy ra: bản lai các pháp không tự có tánh, tự không có tướng. Thấy có to/nhỏ sanh/diệt tới/lui… là do bởi pháp giới chúng sanh không ra khỏi nhận thức của sáu căn khi xúc đối với đối tượng riêng của chúng, như: mắt thấy sắc, tai nghe âm, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý nghĩ suy. Từ đó nhận thức sanh ra quan điểm, quan niệm gọi là Pháp. Các pháp này không thật có, nghĩa là không thật có tánh, tướng như chúng sanh quan niệm và trụ chấp.

c. Đoạn kinh trên Phật dạy cho hàng Bồ Tát thuần thục, ý nghĩa: ra khỏi pháp giới chúng sanh, trực nhận bản lai các pháp tự không (tánh, tướng) ví như hư không. Nhờ thấy biết này mà từ nơi hư không, Bồ Tát vì Từ Bi có thể xuất sanh vô lượng nghĩa để giáo hoá, hoá độ chúng sanh.

2.

Trích đoạn: "Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: Vì sao Vô tướng là Thật tướng? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?

Trả lời:

a. Hình như đoạn trích kinh của hành giả chưa đầy đủ. Câu trích tham khảo từ một số bản dịch xin được nêu ra như sau:

"Vô lượng nghĩa ấy từ một pháp sanh ra. Một pháp ấy, tức là vô tướng. Cái vô tướng như thế là chẳng có tướng nào không phải tướng. Chẳng có tướng nào không phải tướng, gọi đó là thật tướng." (Trích Kinh ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG NGHĨA, Hán dịch: Tiêu Tề Thiên Trúc Sa Môn Đàm-ma-già-đà-da-xá, Việt dịch từ Hán ngữ: Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến, NXB Tôn Giáo)

"Một pháp ấy tức là vô tướng vậy. Pháp vô tướng ấy, không có tướng và không không tướng; không có tướng, không không tướng gọi là thật tướng.” (Việt dịch HT. Mật Thể, tham khảo từ trang mạng hoavouu.com)

b. Vô tướng là không tướng, nghĩa là thật không có tướng (như chúng sanh thấy biết nơi pháp giới chúng sanh). Không tướng đó là Thật tướng, hay Thật tướng là Không (có) tướng.

c. Đoạn kinh trên nghĩa là: thấy tướng của pháp nhưng biết rõ đó chỉ là tướng (giả tạm) của pháp, không phải thật có tướng như vậy. Thấy như thế gọi là thấy “thật tướng”.

3.

Trích đoạn: “Vả lại, thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế… Thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt.” (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: Một mặt, kinh nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”; mặt khác, Bồ tát lại quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt”. Hai cái thấy này có trái ngược nhau không? Nếu có thì vì sao và nếu không thì vì sao, xin giải thích rõ?

Trả lời:

a. Kinh nói: “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”, nghĩa là: bản lai các pháp tự không phải là pháp, tự không phải là pháp nên tự rỗng lặng, chẳng có sanh cũng chẳng có diệt, như hư không chẳng có sanh, chẳng có diệt.

b. Kinh lại nói: Bồ Tát quán “niệm niệm chẳng ngừng, luôn luôn sanh diệt”, nghĩa là: Bồ Tát quán sát tâm thức chúng sanh không ngừng đem sự thấy nghe vào lòng thủ giữ và nhớ nghĩ gọi là ‘niệm’, vọng tưởng sanh ra tướng pháp rồi lại chuyển tướng pháp gọi là ‘niệm niệm’, cứ như thế tương tục không dừng gọi là ‘luôn luôn sanh diệt’.

c. Hai điều này không trái ngược, mà: “(các pháp) tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt” là Sự Thật và chúng sanh “niệm niệm chẳng ngừng, luôn luôn sanh diệt” cũng (tạm nói) là sự thật cho đến khi nào chúng sanh được khai-thị-ngộ-nhập Phật tri kiến.

4.

Trích đoạn: "Vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì có phải tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó? Và “vô tướng” làm thế nào để “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó?

Trả lời:

a. Đúng!

b. Vì Vô tướng nên chư Phật, chư Bồ Tát mới Đại Từ Đại Bi mà khế căn, khế cơ, khế thời khai-thị cho chúng sanh thể-nhập Phật tri kiến. Nếu có một tướng gì, thì chỉ có thể là tướng đó, không thể ‘vô lượng nghĩa’ từ một tướng.

c. Như cái trống, tự không phát ra tiếng kêu (tính rỗng lặng bản nhiên), do có người đánh trống mới phát ra tiếng kêu, đánh lớn kêu lớn, đánh nhỏ kêu nhỏ (bi nguyện của Bồ Tát khế hợp bi ngưỡng của chúng sanh, nghĩa: Vô Lượng Nghĩa).

5.

Trích đoạn: "Lúc ban đầu Ta từ chốn Phụ vương, đi đến thành Ba La Nại... khi quay bánh xe pháp Tứ đế, cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Nay ở nơi đây lại diễn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa và cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Vì vậy lời nói ban đầu, lời nói chặng giữa và lời nói ngày nay văn tự tuy là một, nhưng ý nghĩa có khác." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: Văn tự là một mà lại có sai khác về ý nghĩa. Vậy bản chất sự sai khác này là gì?

Trả lời:

Là sai khác về nhận thức, tức pháp giới không đồng (pháp giới chúng sanh, pháp giới bậc Thánh, pháp giới Bồ Tát, pháp giới chư Phật).

6.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Đó là cảnh giới rất sâu xa bất khả tư nghì của chư Phật, chẳng phải chỗ hay biết của hàng nhị thừa, và cũng chẳng phải chỗ theo kịp của ngôi thập trụ Bồ Tát, chỉ có Phật với Phật mới hay hiểu thấu rốt ráo." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: Nếu cảnh giới “một âm thanh ứng hiện tất cả giọng tiếng” chỉ có Phật mới thấu rốt ráo, vậy thì những Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, họ đang tiếp cận nghĩa lý ở mức độ nào? Làm thế nào để họ có đủ tự tin rằng mình đang “tùy thuận” được Phật trí, dù chưa thực chứng?

Trả lời:

a. Ở mức độ nhận thức (cảnh giới) của từng vị.

b. Căn cứ vào thực chứng của tự thân được như pháp: khổ, phiền não, kiết sử, lậu hoặc mỏng lược dần đến dừng dứt hẳn, tín tâm chuyển thành tín căn, thành tựu giới-định-tuệ vô lậu, xuất thế, cho vị này tín lực, tăng tiến thành tinh tấn lực, tinh tấn không giảm, cho vị này biết quả Phật sẽ thành.

7.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Kinh nầy vốn từ trong nhà chư Phật mà ra, đi đến chỗ hết thảy chúng sanh phát tâm Bồ Đề, và trụ ở nơi các Vị Bồ Tát sở trụ." (Phẩm Mười Công Đức)

Câu hỏi: Ba mệnh đề “từ nhà chư Phật mà ra”, “đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Đề”, “trụ ở Bồ Tát sở trụ” có phải đang mô tả một vòng vận hành khép kín của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân? Xin giải thích rõ hơn về “ngôi nhà chư Phật” ở đây là gì?

Trả lời:

a. Có thể hiểu là đúng như vậy.

b. "Ngôi nhà chư Phật” là nơi Bổn Trụ của chư Phật.

8.

Trích đoạn: "Người trì kinh nầy... tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba)

Câu hỏi: Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ lại có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh sao? Điều này có nghĩa là “đại bi” và “phương tiện” có thể vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn sao?

Trả lời:

a. Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ KHÔNG THỂ làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh !!! Kinh nói: “tuy thân này còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo” là ý nói: nhục thân (thân do cha mẹ sanh ra theo nghiệp) dù là Phật hay Bồ Tát cũng đều phải chịu theo quy luật sanh-lão-bệnh-tử như tất cả mọi hữu tình.

b. "Chứng ngộ viên mãn” mới có đầy đủ Đại Bi và đầy đủ phương tiện để cứu độ hết thảy chúng sinh.

9.

Trích đoạn: "Người đó cũng ví như vị phu nhân của nhà vua mới sanh ra thái tử... Tuy còn thơ ấu chẳng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính, và cùng với các con vua khác kết làm bằng hữu." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ tư)

Câu hỏi: Ví dụ “thái tử sơ sinh” rất thâm thúy: phẩm vị không đến từ năng lực, mà đến từ dòng dõi (Phật tử) chăng? Quan điểm này đối với tinh thần bình đẳng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” trong Phật giáo có mâu thuẫn không?

Trả lời:

a. Đoạn kinh trên ý nói: Phước đức của vị được sinh ra đã là Thái tử thì nhận được sự sùng kính của thần dân trong vương quốc, và được các quốc vương khác kính trọng, muốn thân cận, được làm bằng hữu. Đây là phước đức thế gian.

b. "Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” là tuyên thuyết của Đức Phật về sự thật tối hậu: bất kể hữu tình là loài nào, nghiệp gì thì đều sẵn có đầy đủ ngay trong chính hữu tình đó Phật tánh.

10.

Trích đoạn: "Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy... người đó tuy lại bị đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu, mà lại hay thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ năm)

Câu hỏi: Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh là ẩn dụ cho điều gì? Nếu là sự chuyển hóa tâm thức, thì đây có phải là pháp tu “đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm?

Trả lời:

a. Còn là chúng sanh thì “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” là nghĩa: một ngày trong vô minh với vô số niệm sinh diệt luân hồi, không khác gì trăm kiếp sống trong vô minh, đều tăm tối.

b. Giác ngộ chân thật thì “trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày” là nghĩa: hoát nhiên “thoát kiếp”…” như Lục Tổ Huệ Năng đã thốt lên “nào dè… nào dè…”, hay như cái hoát nhiên của Huệ Minh khi nghe Huệ Năng nói: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, ngay lúc ấy, cái gì là bản lai diện mục của Thượng toạ Huệ Minh?”

11.

Trích đoạn: "Ví như con vua tuy còn thơ ấu, nếu khi nhà vua đi tuần du hay khi bị bệnh thì nhà vua ủy thác cho thái tử lãnh trị việc nước... đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ sáu)

Câu hỏi: Ở đây, người trì kinh chưa trụ Sơ địa nhưng thuyết pháp lại có hiệu quả ngang với Phật. Điều này đặt ra một câu hỏi nghiêm túc: Thẩm quyền giáo hóa nằm ở chứng lượng bản thân, hay ở sự trung thành với lời Phật dạy? Nếu một người phàm phu y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức ấy thuộc về kinh, về Phật, hay về chính vị phàm phu ấy?

Trả lời:

a. Thái tử tuy còn thơ ấu, nhưng bên cạnh là các quan thần được vua tin dụng giúp thái tử (tức giúp vua) an định việc nước, nước được an không hề khác. Bậc Đạo sư chắc chắn rõ biết năng lực và khả năng đệ tử của mình trước khi giao một việc gì.

b. Một phàm phu thì dù có y kinh thuộc lòng đọc tụng, cũng không thể giúp người đắc đạo, muốn giúp người phải có tiền “công đức”, phàm phu một xu công đức trong túi cũng không có, thì làm gì có xu nào mà cho người khác!

c. Một vị thành tựu giác ngộ Phật đạo, thì tuỳ vào giác ngộ tới đâu giúp người tới đó, không nói quá nơi giác ngộ của mình. Việc giúp người (cứu độ, giáo hoá) là phát nguyện, đại nguyện của những vị có tâm địa Bồ Tát.

d. Một người đến nhà hàng, mua một đĩa thức ăn, thức ăn là do đầu bếp nấu và phục vụ, khách ăn xong rồi khách no bụng. Tài nấu bếp là ai tài? Cái no của khách ăn là ai no?

e. Ăn xong rồi khách khâm phục tài của đầu bếp, quyết học cho thành tài được như vậy, khi thành tài rồi, khách bây giờ lại mở nhà hàng, trở thành đầu bếp nấu ăn phục vụ nhiều khách khác, khách ăn thoả mãn, lại khen tài của đầu bếp.

12.

Trích đoạn: “Người thiện nam, thiện nữ đó… chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát.” (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ bảy)

Câu hỏi: Đây như là một tuyên bố đốn ngộ triệt để: từ phàm phu nhảy vọt lên Thất địa. Vậy “vô sanh pháp nhẫn” ở đây tương đương với địa vị nào? Và “lục độ tự nhiên hiện ra” có nghĩa là hành giả không cần trải qua vô số kiếp tu tập hạnh Ba-la-mật như giáo lý thông thường, hay đó là kết quả của vô số kiếp tu tập trong quá khứ nay được kinh này khai mở?

Trả lời:

a. "Vô sanh pháp nhẫn” tương đương quả vị từ “Bất thối trụ” đối với hàng Nhị thừa, bước vào dòng Thánh, hoặc Bồ tát quyền thừa nhập lưu, vào hàng Bồ tát Nhất thừa.

b. "Lục độ tự nhiên hiện” ý là các vị “Bất thối” tự không còn bị cảnh trần tác động, tâm thức của chư vị này đã thuần thục “vô sanh pháp nhẫn”. Tuy nhiên, ở từ bậc quả vị này, các vị cần tiếp tục học các môn học của nhất thiết trí để thành tựu trí Nhất Thiết Trí mới có thể thực hành độ tha, giáo hoá.

c. Quá trình học trí Nhất Thiết Trí là quá trình bất tư nghì qua các cảnh giới của Thập Địa.

d. Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa là kinh giáo Bồ Tát, Bồ Tát quán chúng sanh, không phải quán Bồ Tát.

13.

Trích đoạn: "Những nghiệp chướng nặng nề xưa kia còn lại, nhất thời liền phải tiêu tan, mà được thanh tịnh. Và lại được biện tài lớn, lần lượt trang nghiêm các pháp ba la mật... phân thân rải thể khéo léo ở khắp mười phương quốc độ để cứu vớt hết thảy chúng sanh đang bị khổ cực ở trong hai mươi lăm cõi, đều khiến cho được giải thoát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ chín)

Câu hỏi: Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây là gì? Có phải sức mạnh của kinh như một dòng nước cuốn trôi tất cả nghiệp cũ, hay chính trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh đã làm tan rã gốc rễ vô minh? Nếu là vế sau, thì sự “tiêu tan nhất thời” này khác gì với sự chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới-định-huệ thông thường?

Trả lời:

a. Tâm bất động, trí giải thoát, hay còn gọi là “bất động giải thoát”, hoặc “vô sanh pháp nhẫn”.

b. Sức mạnh của nhận thức như pháp, hay có thể hiểu là trí tuệ Phật đạo.

c. Lời trong kinh là “nhất thời liền phải tiêu tan”, không phải là“tiêu tan nhất thời”. Hai cụm từ này nghĩa khác nhau! “Nhất thời tiêu tan” là cảnh giới bất tư nghì phần đoạn sanh tử của người học tập đúng chánh pháp, nghiệp chướng tiêu tan từng phần ngay tại lúc nhận thức tương ưng nghĩa pháp, nói là “nhất thời”. “Tiêu tan nhất thời” là cái đắc của kẻ dụng công, không phải là một nhận thức như pháp.

d. "Chuyển nghiệp từ sám hối” như pháp là quá trình tu tập giới-định-tuệ vô lậu, chuyển từ nghiệp hữu lậu sang nghiệp vô lậu, là việc làm của người có nhận thức như pháp, tạm nói là người có trí.

14

Trích đoạn: "Ở chốn phàm phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu hay phát khởi ra vô số tăng kỳ đại thệ sâu rộng. Lại hay phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh thành tựu đại bi... dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ mười)

Câu hỏi: “Pháp vân địa” là địa vị gần với Phật quả. Kinh mô tả một phàm phu, thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị ấy. Xin có thể giải thích rõ hơn: Đây là sự thăng tiến thực tế về mặt tâm linh, hay là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai? “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại?

Trả lời:

Kinh nói “ở chốn phàm phu” chứ không nói “là một phàm phu” !!!

15.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Như vậy thì kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nầy có sức đại oai thần, không gì là tôn hơn, hay khiến cho những kẻ phàm phu đều được chứng thánh quả, vĩnh viễn xa lìa sanh tử, được vui tự tại. Vì vậy mà kinh nầy gọi là Vô Lượng Nghĩa." (Phẩm Mười Công Đức, tổng kết mười công đức)

Câu hỏi: Kinh đưa ra một kết luận gần như tuyệt đối: Phàm phu nương kinh này có thể chứng thánh quả. Vậy thánh quả ở đây nên hiểu là quả vị giải thoát rốt ráo, hay là một trạng thái “phàm phu Bồ tát” đặc biệt - tức thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu?

Trả lời:

Phàm phu nếu nương theo kinh này mà học tập đúng đắn và giác ngộ chân thật, rốt ráo thì có thể chứng Thánh quả hay các quả vị Bồ Tát tương đương, cho đến Đại Bồ tát và thành Phật quả, bởi vì: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”!

Kính chúc bác/hành giả Pháp Quang sức khoẻ được dồi dào, an vui trong ánh sáng Đạo Pháp!

Con kính tri ân công đức giáo dạy của Thầy con - Lão Sư Lý Tứ! Kính chúc Thầy Pháp thân thường an!

Kính bút,

Lý Hoàng Anh - EU1578" (Hết thư)

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau:

👉 https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

05/06/2026

LÝ TỨ

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 81.2026 với chủ đề: Lý Hoàng Anh Trả Lời Các Câu Hỏi

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời số 82.2026 với chủ đề: Lý Ngọc Hải Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!

MB 857 Lý Diệu Sinh 05.06.2026

 

Các bạn !!!

Rất dồn dập, sau khi gởi lên chuyên mục trả lời của SM Lý Hoàng Anh thì, mình lại nhận được trả lời của Sư Đệ Lý Ngọc Hải...!!!

Lý Ngọc Hải là môn đệ thứ 1017 của Lý Gia (MB 1017), hiện đang sinh sống, làm việc tại Hà Nội...Và là, một trong những vị HĐ tham gia buổi toạ đàm hôm 12/04 trong sự kiện ra mắt Vô Thanh Luận...!!!

Sau đây là phần trả lời của bạn ấy:

"Kính chào hành giả Pháp Quang !!!

Tôi là Lý Ngọc Hải, học trò thứ 1017 của Thầy Lý Tứ.

Thật hoan hỉ khi nhận được bức thư cùng mười lăm câu hỏi của hành giả. Người xưa có câu "độc kỳ văn, tri kỳ nhân" — đọc văn, hiểu người. Qua từng dòng chữ, Lý Ngọc Hải cảm nhận được tâm hồn của một bậc trưởng bối thất thập tuế mà vẫn giữ trọn ngọn lửa cầu học, không câu nệ vai vế, thẳng thắn gửi những điều mình chưa thông để cùng nhau đàm luận. Đó chính là phẩm hạnh đáng quý của người học đạo.

Xin cảm ơn hành giả đã có lời tán thán đối với huynh đệ Lý gia. Đó không chỉ là những lời đẹp bên ngoài, mà còn là dòng chảy sâu xa từ một tâm đến một tâm.

Con xin thành tâm tri ân thầy Lý Tứ đã tạo ra pháp hội mở, nơi ngọn lửa luận pháp được thắp lên, giúp bao người đồng lợi lạc.

Với những thấy biết hiện thời của mình, Lý Ngọc Hải xin được hồi đáp 15 câu hỏi của hành giả. Mong được bổ khuyết.

Chúc hành giả an vui, tinh tấn!!!

1. Trích đoạn: "Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quán sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Vì sao các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp? Vì sao quán sát điều này lại được Vô Lượng Nghĩa? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"

TRẢ LỜI: Các pháp (quan điểm, quan niệm, nhận thức) do duyên sinh, chỉ là hiệu ứng của ba duyên căn, trần, thức hòa hợp nên nó không có tự thể - không tự tánh. Không tự tánh nên bản lai rỗng lặng, không hai pháp (không cấu – không tịnh).

Vì sao khi quán sát điều này sẽ được vô lượng nghĩa? Vì nếu các pháp có tự tánh, thì nó chỉ có một nghĩa cố định, và bồ tát không thể hoạt dụng vô lượng nghĩa để giúp vô lượng căn cơ sai biệt.

Xin lấy một ví dụ minh chứng cho điều này: Trước thời Phật, ngoại đạo đã dùng rất nhiều khái niệm như “nghiệp”, “ba cõi”, “luân hồi”, “thần thông”. Khi giáo hóa, Phật vẫn dùng những khái niệm ấy nhưng hoạt dụng vô lượng nghĩa giúp người thành tựu các tầng bậc giác ngộ, giải thoát – điều mà ngoại đạo không làm được.

2. Trích đoạn: "Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Vì sao Vô tướng là Thật tướng? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"

TRẢ LỜI: Như đã trả lời ở câu 1, bản lai (thật tướng) của các pháp là không có tự tướng (vô tướng là thật tướng). Nhưng không tự tướng, không có nghĩa là không có gì cả. Bản thể các pháp rỗng lặng chẳng sanh chẳng diệt, nhưng chúng vẫn có tướng hiện tượng - sinh diệt theo duyên, Phật đạo gọi là hư vọng tướng.

3. Trích đoạn: "Vả lại, thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế... Thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt." (PhẩmThuyết Pháp)

Câu hỏi: "Một mặt, kinh nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”; mặt khác, Bồ tát lại quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt”. Hai cái thấy này có trái ngược nhau không? Nếu có thì vì sao và nếu không thì vì sao, xin giải thích rõ?"

TRẢ LỜI: Hai cái thấy này không ngược nhau, vì một cái chỉ ra bản chất - thực tại hằng hữu (tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt), một cái là hiện tượng sinh diệt của các pháp. Ví như những con sóng trên mặt đại dương vẫn lao xao, nhưng dưới lòng sâu lại rất tĩnh lặng. Nhìn đại dương theo hai góc nhìn này, đều có cơ sở.

4. Trích đoạn: "Vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì có phải tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó? Và “vô tướng” làm thế nào để “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó?"

TRẢ LỜI: Vô lượng nghĩa đều từ vô tướng mà sinh, nên giáo pháp của Phật không chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó. Nếu chỉ là phương tiện (quyền) thì chỉ có nghĩa quyền, chứ không thể có vô lượng nghĩa.

Phật dạy: "Y nghĩa bất y ngữ, nhưng phật cũng dạy: Y kinh liễu nghĩa, bất y kinh bất liễu nghĩa. Phật dạy: Trong ngữ có nghĩa, trong nghĩa có ngữ, rồi Phật lại dạy: Ngữ ấy tức nghĩa".

Tất cả những lời dạy này, tùy đương cơ, đều giúp người giác ngộ (trực nhận được tánh rỗng lặng của các pháp – các pháp không làm người giác ngộ động lay). Đó chính là minh chứng vô tướng sinh ra vô lượng nghĩa mà không mất đi tánh rỗng lặng của các pháp.

5. Trích đoạn: "Lúc ban đầu Ta từ chốn Phụ vương, đi đến thành Ba La Nại... khi quay bánh xe pháp Tứ đế, cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Nay ở nơi đây lại diễn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa và cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Vì vậy lời nói ban đầu, lời nói chặng giữa và lời nói ngày nay văn tự tuy là một, nhưng ý nghĩa có khác." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Văn tự là một mà lại có sai khác về ý nghĩa. Vậy bản chất sự sai khác này là gì?"

TRẢ LỜI: Bản chất sự sai khác này là sai khác về tri kiến. Khi ở thành Ba La Nại, Phật quay bánh xe pháp Tứ đế, nói các pháp bản lai rỗng lặng (cảnh giới vô) để giúp chúng sinh tự độ; Sau này, Phật nói các pháp bản lai rỗng lặng để giúp bồ tát hoạt dụng tất cả các pháp thành Phật pháp - "nhất thiết pháp giai thị Phật pháp" để độ tha (cảnh giới phi).

6. Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Đó là cảnh giới rất sâu xa bất khả tư nghì của chư Phật, chẳng phải chỗ hay biết của hàng nhị thừa, và cũng chẳng phải chỗ theo kịp của ngôi thập trụ Bồ Tát, chỉ có Phật với Phật mới hay hiểu thấu rốt ráo." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Nếu cảnh giới “một âm thanh ứng hiện tất cả giọng tiếng” chỉ có Phật mới thấu rốt ráo, vậy thì những Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, họ đang tiếp cận nghĩa lý ở mức độ nào? Làm thế nào để họ có đủ tự tin rằng mình đang “tùy thuận” được Phật trí, dù chưa thực chứng?"

TRẢ LỜI: Bồ tát sơ phát tâm (người chưa giác ngộ) khi đọc tụng và giảng nói kinh này sẽ tiếp cận nghĩa lý ở khía cạnh "như lý tác ý". Dù chưa ngộ, nhưng họ thấy kinh tương ưng ở mức độ nào đó với tư duy, quán sát, hiểu biết và mục tiêu trên Phật đạo của mình (tương ưng với chủng tử Bồ tát).

Khi chưa giác ngộ, Bồ tát chỉ tự tin mình đang tùy thuận Phật trí, khi chính họ thấy phiền não, mê mờ, dính mắc từng bước bị đẩy lùi trong thân tâm mình. Giống như người bệnh, dù chưa khỏi hẳn, nhưng đã thấy bệnh tình bắt đầu thuyên giảm. Khi tín tâm dần chuyển thành tín căn, tín căn dần chuyển thành tín lực, họ sẽ tự tin tiếp tục tiến lên.

7. Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Kinh nầy vốn từ trong nhà chư Phật mà ra, đi đến chỗ hết thảy chúng sanh phát tâm Bồ Đề, và trụ ở nơi các Vị Bồ Tát sở trụ." (Phẩm Mười Công Đức)

Câu hỏi: "Ba mệnh đề “từ nhà chư Phật mà ra”, “đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Đề”, “trụ ở Bồ Tát sở trụ” có phải đang mô tả một vòng vận hành khép kín của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân? Xin giải thích rõ hơn về “ngôi nhà chư Phật” ở đây là gì?"

TRẢ LỜI: Chính xác. Ba mệnh đề này miêu tả vòng vận hành của Pháp thân, Báo thân, Hoá thân. Ngôi nhà chư Phật chính là Phật trí (Pháp thân Phật). Cũng có thể hiểu, từ chỗ giác ngộ của Phật (nhà chư Phật) ; Bồ tát học tập, giác ngộ, kế thừa, làm căn cứ để giáo hoá (trụ ở Bồ tát sở trụ); Và nơi đến của sự kế thừa này là những chúng sanh chân thật phát Bồ đề tâm tinh cần học tập giáo pháp từ Bồ tát.

8. Trích đoạn: "Người trì kinh nầy... tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba)

Câu hỏi: "Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ lại có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh sao? Điều này có nghĩa là "đại bi” và “phương tiện” có thể vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn sao?"

TRẢ LỜI: Một người chưa hết bệnh, vẫn có thể cứu người, nếu biết chỉ cho người tìm được bài thuốc hay. Cũng vậy, một người còn đầy phiền não khổ vẫn có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh, vì vị ấy có trong tay chiếc thuyền lớn (Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa) và luôn sắm các dụng cụ cung cấp cho người sang được bờ kia (đáo bỉ ngạn).

Khi chưa giác ngộ viên mãn, thì dòng chảy “Đại bi” và phương tiện vẫn có thể giúp Bồ tát độ sinh, chỉ có điều hiệu quả độ sinh chưa viên mãn.

9. Trích đoạn: "Người đó cũng ví như vị phu nhân của nhà vua mới sanh ra thái tử... Tuy còn thơ ấu chẳng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính, và cùng với các con vua khác kết làm bằng hữu." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ tư)

Câu hỏi: "Ví dụ “thái tử sơ sinh” rất thâm thúy: phẩm vị không đến từ năng lực, mà đến từ dòng dõi (Phật tử) chăng? Quan điểm này đối với tinh thần bình đẳng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” trong Phật giáo có mâu thuẫn không?"

TRẢ LỜI: Phẩm vị vừa đến từ năng lực vừa đến từ dòng dõi. Dòng dõi hàm chứa năng lực. Năng lực gia cố dòng dõi.

Quan điểm “thái tử sơ sinh” không hề mâu thuẫn với tinh thần bình đẳng. Vì sao vậy? Vì bản lai, mọi chúng sanh đều là “thái tử” (tất cả chúng sanh đều có Phật tánh). Chỉ có điều khi chưa gặp chánh pháp, chúng sanh chưa nhận ra dòng dõi vương giả thực sự của mình.

Giống như câu chuyện gã cùng tử, khi nhận ra mình chính là con ruột ông trưởng giả, người này lập tức rũ bỏ tâm ti liệt, bắt đầu tâm thế tự tôn của một trưởng giả tử. Tâm thế tự tôn ấy là năng lực. Năng lực này cũng bắt nguồn từ dòng dõi. Cũng như vậy, dù mới “sơ sinh”, nhưng việc phát khởi tâm đại bi là một dạng năng lực – là dòng chảy lớn giúp bồ tát cứu mình và độ sinh trên Phật đạo…

10. Trích đoạn: "Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy... người đó tuy lại bị đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu, mà lại hay thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ năm)

Câu hỏi: "Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh là ẩn dụ cho điều gì? Nếu là sự chuyển hoá tâm thức, thì đây có phải là pháp tu “đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm?"

TRẢ LỜI: Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh ẩn dụ cho đại tâm dõng mãnh của Bồ tát (nhận lãnh trách nhiệm Vô thượng Bồ đề và cõng mang chúng sanh ra khỏi con đường hiểm sanh tử) duyên với thần lực bất khả tư nghì của Kinh đại thừa vô lượng nghĩa. Hai thứ này duyên nhau có khả năng giúp người chuyển hóa tâm thức cực kỳ mau lẹ.

Đoạn kinh không nói về pháp tu “đoạn trừ tam tế” trong đương niệm (dụng công), mà nói về năng lực đốn ngộ (vô công đụng đạo) của kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa.

11. Trích đoạn: "Ví như con vua tuy còn thơ ấu, nếu khi nhà vua đi tuần du hay khi bị bệnh thì nhà vua ủy thác cho thái tử lãnh trị việc nước... đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ sáu)

Câu hỏi: "Ở đây, người trì kinh chưa trụ Sơ địa nhưng thuyết pháp lại có hiệu quả ngang với Phật. Điều này đặt ra một câu hỏi nghiêm túc: Thẩm quyền giáo hóa nằm ở chứng lượng bản thân, hay ở sự trung thành với lời Phật dạy? Nếu một người phàm phu thuyết pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức ấy thuộc về kinh, về Phật, hay về chính vị phàm phu ấy?"

TRẢ LỜI: Thẩm quyền giáo hóa nằm ở cả chứng lượng bản thân lẫn sự trung thành với lời Phật dạy, bởi bổn lai chúng không hai. Muốn chứng lượng, thì phải trung thành với lời Phật dạy (ứng xử như pháp).

Trung thành với lời Phật dạy thì sớm hay muộn cũng chứng lượng.

Bồ tát là người có tâm lượng đại bi: Biết rõ 1 điều thì cho ngay 1 điều chứ không đợt thành tựu viên mãn mới giáo hóa. Cho người tức là giúp mình. Muốn mình viên mãn thì phải giúp người.

Nếu một người phàm phu y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức ấy thuộc về cả ba: kinh, Phật và chính vị ấy (theo nguyên lý duyên sinh, vì cái này có nên cái kia có).

12. Trích đoạn: "Người thiện nam, thiện nữ đó... chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ bảy)

Câu hỏi: "Đây như là một tuyên bố đốn ngộ triệt để: từ phàm phu nhảy vọt lên Thất địa. Vậy “vô sanh pháp nhẫn” ở đây tương đương với địa vị nào? Và “lục độ tự nhiên hiện ra” có nghĩa là hành giả không cần trải qua vô số kiếp tu tập hạnh Ba-la-mật như giáo lý thông thường, hay đó là kết quả của vô số kiếp tu tập trong quá khứ nay được kinh này khai mở?"

TRẢ LỜI: Vô sanh pháp nhẫn tương đương với thất địa, và sẽ viên mãn ở bát địa.

“Lục độ tự nhiên hiện ra” vừa là kết quả của sát na đốn ngộ trong hiện tại khi “chạm” kinh này, vừa có mầm từ vô số kiếp tu tập hạnh ba la mật (tiệm tu).

13. Trích đoạn: "Những nghiệp chướng nặng nề xưa kia còn lại, nhất thời liền phải tiêu tan, mà được thanh tịnh. Và lại được biện tài lớn, lần lượt trang nghiêm các pháp ba la mật... phân thân rải thể khéo léo ở khắp mười phương quốc độ để cứu vớt hết thảy chúng sanh đang bị khổ cực ở trong hai mươi lăm cõi, đều khiến cho được giải thoát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ chín)

Câu hỏi: "Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây là gì? Có phải sức mạnh của kinh như một dòng nước cuốn trôi tất cả nghiệp cũ, hay chính trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh đã làm tan rã gốc rễ vô minh? Nếu là vế sau, thì sự “tiêu tan nhất thời” này khác gì với sự chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới-định-huệ thông thường?"

TRẢ LỜI: Nếu chỉ dựa vào sức mạnh của kinh, tại sao bao nhiêu người đọc tụng mà nghiệp cũ không bị cuốn trôi? Cho nên, cái khiến nghiệp cũ bị cuốn trôi, cái khiến gốc rễ vô minh tan rã, chính là trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh, tức là kết quả của sự khế hợp giữa kinh, phát nguyện và sự tinh tấn của hành giả trì tụng.

Sám hối trong Phật đạo thực chất là học tập để thay đổi nhận thức để hết ngu – mê – lầm. Cho nên, sự tiêu tan nhất thời này, về bản thể không khác gì sự chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới định tuệ, chỉ có điều thời gian và quả chứng thì mau lẹ hơn nhiều.

14. Trích đoạn: "Ở chốn phàm phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu hay phát khởi ra vô số tăng kỳ đại thệ sâu rộng. Lại hay phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh thành tựu đại bi... dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ mười)

Câu hỏi: “Pháp vân địa” là địa vị gần với Phật quả. Kinh mô tả một phàm phu, thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị ấy. Xin có thể giải thích rõ hơn: Đây là sự thăng tiến thực tế về mặt tâm linh, hay là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai? “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại?"

TRẢ LỜI: Cả hai. Về nguyên lý, vẫn có những sự thăng tiến thực tế về mặt tâm linh: Từ một phàm phu thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, trở thành vị nổi mây pháp. Nhưng đó là hiện tượng vô cùng hi hữu như lời Phật dạy: “Hoa ưu đàm bát la 3000 năm mới nở một lần”. Còn với tuyệt đại đa số, để thành tựu Pháp vân địa, phải trải qua quá trình làm công hạnh rất dài lâu. Cho nên, với tuyệt đại đa số hành giả, việc“vượt lên” địa vị ấy, là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai (ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành).

15. Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Như vậy thì kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nầy có sức đại oai thần, không gì là tôn hơn, hay khiến cho những kẻ phàm phu đều được chứng thánh quả, vĩnh viễn xa lìa sanh tử, được vui tự tại. Vì vậy mà kinh nầy gọi là Vô Lượng Nghĩa." (Phẩm Mười Công Đức, tổng kết mười công đức)

Câu hỏi: "Kinh đưa ra một kết luận gần như tuyệt đối: Phàm phu nương kinh này có thể chứng thánh quả. Vậy thánh quả ở đây nên hiểu là quả vị giải thoát rốt ráo, hay là một trạng thái “phàm phu Bồ tát” đặc biệt - tức thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu?"

TRẢ LỜI: Thánh quả ở đây là quả vị giải thoát rốt ráo vì đã "vĩnh viễn xa lìa sanh tử, được vui tự tại”.

Con, Lý Ngọc Hải - MB 1017 (Hết thư)

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau:

👉 https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

05/06/2026

LÝ TỨ

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 82.2026 với chủ đề: Lý Ngọc Hải Trả Lời Hành Giả Phá

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 82.2026 với chủ đề: Lý Ngọc Hải Trả Lời Hành Giả Phá

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời số 83.2026 với chủ đề: Thiện Đức Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!

MB 857 Lý Diệu Sinh 05.06.2026

 

Các bạn !!!

Thế là, chuyên mục lại nhận thêm trả lời của Thầy Thiện Đức...!!! Thầy Thiện Đức hiện là Nghiên Cứu Sinh tại Ấn Độ...Cũng là vị khách mời đặc biệt của Ban Tổ Chức trong buổi toạ đàm ngày 12/04 tại sự kiện ra mắt Vô Thanh Luận...!!!

Sau đây là nội dung trả lời của Thầy Thiện Đức:

"Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính thưa Thầy Lý Tứ, thưa chư huynh đệ Lý Gia

Kính thưa Hiền giả Pháp Quang.

Trước khi con mạo muội trình bày đôi điều học hiểu của mình đối với những câu hỏi mà Hiền giả Pháp Quang đã nêu ra, con xin được cúi đầu kính lễ Thầy Lý Tứ, đồng thời xin phép chư huynh đệ tỷ muội Lý Gia cho phép con được góp một phần nhỏ trong pháp đàm này.

Con là Thiện Đức, hiện đang theo học tại Ấn Độ. Con tự xét mình phước mỏng, học cạn, biết đến sách của Thầy Lý Tứ và xin theo học bên Thầy cùng huynh đệ đến nay hơn ba tháng.

Đối trước quý huynh đệ đồng môn đã nhiều năm thân cận học đạo bên Thầy, đứng trước Hiền giả Pháp Quang đã nhiều năm thâm cứu giáo nghĩa Đại Thừa, một đời tinh chuyên đạo pháp thì những điều con học hiểu chẳng khác nào đom đóm trước trăng rằm, giọt sương trên biển cả… Dù vậy, con vẫn hằng kính nghe lời bậc cổ nhân khích lệ: “Nghe đạo có trước sau, đạt lý không phân già trẻ.”

Hôm nay được đọc thư của Hiền giả Pháp Quang, thấy nơi từng dòng chữ đều toát lên tâm học pháp chân thành, lòng kính tín Tam Bảo thiết tha và chí nguyện truy tầm nghĩa lý Đại Thừa không biết mỏi mệt...Con vô cùng cảm phục, kính ngưỡng và đâu đó đánh thức những thao thiết thẳm sâu trong tâm học đạo nơi con. Con kính biết ơn Hiền giả Pháp Quang rất nhiều!

Cầm trên tay 15 câu hỏi của Hiền giả, con nhớ lại con đã có rất nhiều câu hỏi ngổn ngang trong lòng trên đường tu học. Rồi hữu duyên con đọc được những bài viết của Thầy Lý Tứ, con tìm đọc sách của Thầy, rồi tự mình tìm đến Thầy chân thành thỉnh pháp… Nhờ ơn giáo dạy và sự trợ duyên của Thầy để con được học hỏi, kính nhận giáo nghĩa bằng tâm thành, sự khiêm cung và tinh thần cầu học của một người học trò khi được đón nhận Phật đạo như một nền giáo dục vừa chân thật, sáng rõ, logic khoa học nhưng lại vô cùng thâm sâu chẳng thể nghĩ bàn.

Giờ phút này, con mang tâm thái ấy để mạo muội viết ra đôi dòng giải đáp với 15 câu hỏi đầy tâm huyết của Hiền giả Pháp Quang, ấy không phải vì con dám nhận mình có khả năng giải đáp, mà chỉ vì muốn đem chút sở học ít ỏi trình lên trước Tam Bảo, trước Thầy, trước đạo hữu bốn phương để mong nhận được sự chỉ giáo với mong ước rằng từ sự chia sẻ chỉ dạy của quý vị sẽ tịch diệt những ngu mê lầm nơi con, để mặt trời của giác ngộ, giải thoát và trí tuệ được hiển bày.

Nếu những điều con trình bày có chỗ tương ưng với Chánh pháp, đó là nhờ ơn Tam Bảo, nhờ ân đức giáo dưỡng của các bậc trưởng thượng và đại chúng. Nếu có chỗ nào sai lầm, nông cạn hay khiên cưỡng, con xin được đón nhận sự chỉ dạy từ Thầy, từ Hiền giả Pháp Quang cùng chư huynh đệ Lý Gia.

Nguyện cho nhân duyên pháp đàm này trở thành thắng duyên để những người hữu tâm hướng Phật được cùng nhau học hỏi, cùng nhau soi sáng tri kiến, cùng nhau nâng đỡ trên đường tu tập, để rồi một ngày nào đó, tất cả chúng ta đều có thể đồng hội nơi đạo quả Vô Thượng Bồ Đề.

Kính chúc Thầy Lý Tứ thân khoẻ tâm an, trụ thế dài lâu để dìu dắt cho bao học trò hữu duyên thành tựu những điều cần thành tựu trong tu học Phật Pháp; kính chúc Hiền giả Pháp Quang thân tâm thường lạc, đạo hạnh tinh chuyên, tâm bồ đề viên đắc; kính chúc quý độc giả cùng huynh đệ Lý Gia an vui và tinh tấn!!!

Kính thư,

Thiện Đức

Dưới đây là phần trả lời 15 câu hỏi của con

Câu 1:

Trích đoạn: "Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quán sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Vì sao các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp? Vì sao quán sát điều này lại được Vô Lượng Nghĩa? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"

Trả lời:

Rỗng lặng không phải vì các pháp không hiện hữu mà vì các pháp không tự hữu.

Không hai không phải vì mọi thứ thành một, mà vì mọi đối đãi đều do hư vọng tâm phân lập.

Thấy được một pháp vô tự tánh, tức thấy tất cả pháp vô tự tánh. Thấy được như vậy gọi là vào cửa Vô Lượng Nghĩa. Đoạn văn kinh vì thế mà “ấn tâm” biết bao!!!

Câu 2.

Trích đoạn: "Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Vì sao Vô tướng là Thật tướng? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"

Trả lời:

Thật tướng chẳng ở ngoài các tướng. Chỉ vì các tướng vốn không tự tánh nên gọi là Vô tướng. Thấy được tướng mà không bị tướng che lấp, ấy là thấy Thật tướng. Chỉ thú của đoạn văn kinh rõ thay!!!

Câu 3.

Trích đoạn: "Vả lại, thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế... Thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Một mặt, kinh nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”; mặt khác, Bồ tát lại quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt”. Hai cái thấy này có trái ngược nhau không? Nếu có thì vì sao và nếu không thì vì sao, xin giải thích rõ?"

Trả lời:

Kinh ngôn ấy và sự quán sát của Bồ tát nào có trái ngược!!! Vì các pháp niệm niệm sanh diệt nên vốn không tự tánh. Vì vốn không tự tánh nên xưa nay chưa từng sanh diệt!

Câu 4.

Trích đoạn: "Vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì có phải tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó? Và “vô tướng” làm thế nào để “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó?"

Trả lời:

Nước có thể thành sóng, thành mưa, thành sương, thành tuyết… nhưng không vì hiện vô số dạng mà mất bản chất nước. Cũng vậy, từ vô tướng hiện Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Lục Độ, Nhất Thừa, Pháp Hoa… Tất cả đều là ứng dụng của một chân lý duy nhất. Cho nên, Vô lượng nghĩa sinh từ vô tướng, nhưng vô tướng chưa từng biến thành cái gì cả. (Vô tướng không biến thành muôn pháp). Chỉ vì muôn pháp vốn là Vô tướng. Đó là nghĩa "dụng mà thường tịch" như nguồn chưa từng động nên nước mới hiện được muôn dòng. Nghĩa tuy vô lượng, vẫn không rời Vô tướng bởi “Xưa nay ba đời Phật – Đều không pháp không tâm…” (Trích - Yếu Chỉ Thiền Na - Lý Tứ)!!!

Câu 5.

Trích đoạn: "Lúc ban đầu Ta từ chốn Phụ vương, đi đến thành Ba La Nại... khi quay bánh xe pháp Tứ đế, cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Nay ở nơi đây lại diễn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa và cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Vì vậy lời nói ban đầu, lời nói chặng giữa và lời nói ngày nay văn tự tuy là một, nhưng ý nghĩa có khác." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Văn tự là một mà lại có sai khác về ý nghĩa. Vậy bản chất sự sai khác này là gì?"

Trả lời:

Văn tự giống. Cảnh giới người nghe nhận có khác nên ý nghĩa khác. Phật tùy căn cơ mà chuyển nghĩa, liền ngâm rằng:

Thoạt đầu Phá Chấp hề,

Chặng giữa hiển Không hề,

Sau khai Nhất Thừa hề.

Lời tuy vẫn một hề,

Chỗ đến chẳng đồng hề…!!!

Câu 6.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Đó là cảnh giới rất sâu xa bất khả tư nghì của chư Phật, chẳng phải chỗ hay biết của hàng nhị thừa, và cũng chẳng phải chỗ theo kịp của ngôi thập trụ Bồ Tát, chỉ có Phật với Phật mới hay hiểu thấu rốt ráo." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Nếu cảnh giới “một âm thanh ứng hiện tất cả giọng tiếng” chỉ có Phật mới thấu rốt ráo, vậy thì những Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, họ đang tiếp cận nghĩa lý ở mức độ nào? Làm thế nào để họ có đủ tự tin rằng mình đang “tùy thuận” được Phật trí, dù chưa thực chứng?"

Trả lời:

Con đường ấy từng bước thâm trầm trong tín - giải - hạnh - nguyện; như mắt hướng về phía núi, dẫu chưa lên đến đỉnh núi nhưng rõ biết là đúng hướng. Kinh tuyên là tùy thuận Phật trí, dù chưa chứng nhập Phật trí. Đây chính là chỗ đứng của người sơ phát tâm khi đọc tụng và diễn nói Kinh Vô Lượng Nghĩa.

Câu 7.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Kinh nầy vốn từ trong nhà chư Phật mà ra, đi đến chỗ hết thảy chúng sanh phát tâm Bồ Đề, và trụ ở nơi các Vị Bồ Tát sở trụ." (Phẩm Mười Công Đức)

Câu hỏi: "Ba mệnh đề “từ nhà chư Phật mà ra”, “đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Đề”, “trụ ở Bồ Tát sở trụ” có phải đang mô tả một vòng vận hành khép kín của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân? Xin giải thích rõ hơn về “ngôi nhà chư Phật” ở đây là gì?"

Trả lời:

Chư Phật lấy Pháp giới làm nhà. Kinh từ nhà ấy mà ra. Chúng sanh phát tâm là cửa mở. Bồ Tát an trụ là đèn không tắt để khéo tỏ soi, có thể hát:

Từ Phật tâm mà ra.

Đến Phật tâm mà vào.

Trụ nơi Phật tâm mà hành.

Đó gọi là "nhà chư Phật".

Câu 8.

Trích đoạn: "Người trì kinh nầy... tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba)

Câu hỏi: "Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ lại có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh sao? Điều này có nghĩa là “đại bi” và “phương tiện” có thể vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn sao?"

Trả lời:

Phật lấy giác ngộ viên mãn để độ chúng sinh; Bồ Tát lấy tâm không bỏ chúng sinh để độ sinh. Chỗ hơn kém có khác, nhưng từ bi đồng một vị!!! Ví như, một ngọn đèn nhỏ chưa phải là ngọn đại đăng nhưng vẫn có thể thắp sáng đèn khác. Diệu thay! Đại bi không đợi thành Phật mới khởi; phương tiện không đợi viên mãn mới dùng, pha trà ngắm cảnh vốn cùng tương dung…!!!

Câu 9.

Trích đoạn: "Người đó cũng ví như vị phu nhân của nhà vua mới sanh ra thái tử... Tuy còn thơ ấu chẳng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính, và cùng với các con vua khác kết làm bằng hữu." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ tư)

Câu hỏi: "Ví dụ “thái tử sơ sinh” rất thâm thúy: phẩm vị không đến từ năng lực, mà đến từ dòng dõi (Phật tử) chăng? Quan điểm này đối với tinh thần bình đẳng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” trong Phật giáo có mâu thuẫn không?"

Trả lời:

Thái tử không hơn ai ở bản tánh; Chỉ khác ở chỗ đã hướng về ngôi vua!!! Chỗ thâm thuý đã tỏ… “Phật dữ chúng sinh đồng” (Trích - Thiền Sư Huệ Sinh - 1063)!!!

Câu 10.

Trích đoạn: "Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy... người đó tuy lại bị đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu, mà lại hay thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ năm)

Câu hỏi: "Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh là ẩn dụ cho điều gì? Nếu là sự chuyển hóa tâm thức, thì đây có phải là pháp tu “đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm?"

Trả lời:

"Một ngày thành trăm kiếp" chẳng phải vì ngày dài ra; "Trăm kiếp thành một ngày" không phải vì kiếp ngắn lại. Nơi tâm còn đo lường hư vọng nên có dài - ngắn, tốt - xấu, đúng - sai… Khi tâm không trụ nơi quá khứ như mộng, không đuổi theo vị lai như huyễn, thì một niệm hiện tiền không nắm bắt chẳng thuộc một ngày cũng chẳng thuộc trăm kiếp…Chẳng phải đoạn trừ thời gian, muôn kiếp vốn chưa từng rời một niệm. Như thị…! Như thị…!

Câu 11.

Trích đoạn: "Ví như con vua tuy còn thơ ấu, nếu khi nhà vua đi tuần du hay khi bị bệnh thì nhà vua ủy thác cho thái tử lãnh trị việc nước... đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ sáu)

Câu hỏi: "Ở đây, người trì kinh chưa trụ Sơ địa nhưng thuyết pháp lại có hiệu quả ngang với Phật. Điều này đặt ra một câu hỏi nghiêm túc: Thẩm quyền giáo hóa nằm ở chứng lượng bản thân, hay ở sự trung thành với lời Phật dạy? Nếu một người phàm phu y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức ấy thuộc về kinh, về Phật, hay về chính vị phàm phu ấy?"

Trả lời:

Chánh pháp là nhân. Người thuyết pháp là duyên; công đức thành tựu thuộc về Phật pháp, còn tội lỗi vẫn thuộc về người phạm hạnh.

Mưa là Phật,

Hạt giống là kinh,

Người nông dân là người thuyết pháp, không sai nhân quả,

Thiếu một trong ba đều khó (không) thành tựu!

Cho nên, công đức không hoàn toàn thuộc riêng ai…!

Câu 12.

Trích đoạn: "Người thiện nam, thiện nữ đó... chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ bảy)

Câu hỏi: "Đây như là một tuyên bố đốn ngộ triệt để: từ phàm phu nhảy vọt lên Thất địa. Vậy “vô sanh pháp nhẫn” ở đây tương đương với địa vị nào? Và “lục độ tự nhiên hiện ra” có nghĩa là hành giả không cần trải qua vô số kiếp tu tập hạnh Ba-la-mật như giáo lý thông thường, hay đó là kết quả của vô số kiếp tu tập trong quá khứ nay được kinh này khai mở?"

Trả lời:

Hoa nở trong một sớm nhưng đâu phải mới thành trong một sớm ấy. Vô sanh hiện tiền, công phu nhiều đời đều hiện tiền. Vô sanh không phải điều mới được! Chẳng là vốn thế xưa nay??? Cho nên, kinh nói "được vô sanh pháp nhẫn" thực ra là nhận ra và an trụ nơi cái vốn chưa từng sinh, từ đó, Lục độ và Bồ-tát hạnh tự nhiên lưu xuất!!!

Câu 13.

Trích đoạn: "Những nghiệp chướng nặng nề xưa kia còn lại, nhất thời liền phải tiêu tan, mà được thanh tịnh. Và lại được biện tài lớn, lần lượt trang nghiêm các pháp ba la mật... phân thân rải thể khéo léo ở khắp mười phương quốc độ để cứu vớt hết thảy chúng sanh đang bị khổ cực ở trong hai mươi lăm cõi, đều khiến cho được giải thoát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ chín)

Câu hỏi: "Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây là gì? Có phải sức mạnh của kinh như một dòng nước cuốn trôi tất cả nghiệp cũ, hay chính trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh đã làm tan rã gốc rễ vô minh? Nếu là vế sau, thì sự “tiêu tan nhất thời” này khác gì với sự chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới-định-huệ thông thường?"

Trả lời:

Chẳng phải kinh diệt nghiệp! Chỉ vì người nghe nhận thấy được chỗ vốn không sinh nghiệp. “Chỉ tại không đèn nên sáng tối nhầm nhau…” (Trích - Bài Tráng Ca Bất Tử - Lý Tứ)! Mây tan trăng hiện! Hãy gấp tìm ngọn đèn!!!

Câu 14

Trích đoạn: "Ở chốn phàm phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu hay phát khởi ra vô số tăng kỳ đại thệ sâu rộng. Lại hay phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh thành tựu đại bi... dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ mười)

Câu hỏi: “Pháp vân địa” là địa vị gần với Phật quả. Kinh mô tả một phàm phu, thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị ấy. Xin có thể giải thích rõ hơn: Đây là sự thăng tiến thực tế về mặt tâm linh, hay là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai? “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại?"

Trả lời:

Mầm cây chưa là đại thụ nhưng bóng đại thụ đã nằm trong mầm cây. Pháp Vân Địa là chỗ đến. Đại bi là đường đi. Người thật đi trên đường ấy, đã mang khí tượng của chỗ đến; khi cánh cửa đại bi tâm đã mở, cảnh giới tương lai đã bắt đầu hiển hiện ngay trong hiện tại. Ý vị "dần dần thấy được" là sự cảm nhận, lãnh hội phần nào thực tại ấy ngay trong hiện tại, vừa là sự thọ ký về con đường chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai. Không phải chỉ thành tựu địa vị, mà là đã gieo nhân và bắt đầu sống trong ánh sáng của địa vị đó ngay nơi tâm thức này!!!...

Câu 15.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Như vậy thì kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nầy có sức đại oai thần, không gì là tôn hơn, hay khiến cho những kẻ phàm phu đều được chứng thánh quả, vĩnh viễn xa lìa sanh tử, được vui tự tại. Vì vậy mà kinh nầy gọi là Vô Lượng Nghĩa." (Phẩm Mười Công Đức, tổng kết mười công đức)

Câu hỏi: "Kinh đưa ra một kết luận gần như tuyệt đối: Phàm phu nương kinh này có thể chứng thánh quả. Vậy thánh quả ở đây nên hiểu là quả vị giải thoát rốt ráo, hay là một trạng thái “phàm phu Bồ tát” đặc biệt - tức thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu?"

Trả lời:

Một câu hỏi hay!

Và một tứ thơ đã đọc bỗng dưng lưu xuất:

“… À ơi, Ấu biến thành sen,

Lời ru còn đó, nghe quen thuở nào…”

(Trích - Bài Tráng Ca Bất Tử - Lý Tứ)

Điều mà ý kinh muốn nhấn mạnh không phải là sự chuyển đổi từ phàm phu thành thánh giả về mặt danh vị, mà là sự chuyển hóa ngay nơi tâm thức. Khi trí tuệ về thật tướng các pháp được khai mở, người ấy tuy chưa ra khỏi sinh tử trên hiện tượng, nhưng đã không còn bị sinh tử trói buộc trong nhận thức. Vì thế kinh vẫn gọi là "phàm phu", nhưng đồng thời khẳng định họ đã "chứng đắc quả" và "xa lìa sanh tử" - thân còn ở trong dòng sinh diệt, nhưng tâm đã chạm đến chiều kích vô sinh. Đây chính là ý nghĩa sâu xa của hình ảnh "phàm phu Bồ-tát"!

Với tất cả lòng trân trọng,

Con, Thiện Đức" (Hết thư)

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau:

👉 https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

05/06/2026

LÝ TỨ

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 83.2026 với chủ đề: Thiện Đức Trả Lời Hành Giả Pháp

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 83.2026 với chủ đề: Thiện Đức Trả Lời Hành Giả Pháp

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 83.2026 với chủ đề: Thiện Đức Trả Lời Hành Giả Pháp

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời số 84.2026 với chủ đề: Lý Diệu Tâm Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!

MB 857 Lý Diệu Sinh 05.06.2026

 

Hành giả Pháp Quang và bạn đọc thân mến !!!

Lại có thêm các câu trả lời của Sư Muội Lý Diệu Tâm (MB 465)...!!!

Để tránh ùn ứ các câu trả lời quá nhiều...Cho nên, nhận được trả lời của HĐ nào, chuyên mục lập tức đăng các câu trả lời ấy lên fanpage...Điều này, có thể dẫn tới quá tải đối với một số bạn đọc không quen đọc tụng...Tuy nhiên, chẳng biết làm sao hơn...!!! Thôi thì, mong quý bạn đọc và hành giả Pháp Quang kham nhẫn vậy...!!!

Sau đây, là trả lời của Lý Diệu Tâm:

"Thưa thầy, thưa toàn thể các HĐTM Lý Gia,

Con là Lý Diệu Tâm, học trò số 465 của Thầy. Trong Chuyên mục Bạn đọc hỏi – Lý Tứ trả lời số 80/2026, Hành giả Pháp Quang có gửi đến chuyên mục và đặc biệt là dành cho HĐTM Lý Gia 15 câu hỏi. Nhân dịp này, con xin phép được cùng HĐTM Lý Gia làm rõ 15 câu hỏi của Hành giả Pháp Quang.

Kính gửi Hành Giả Pháp Quang!

Trước tiên, Diệu Tâm xin được bày tỏ sự trân trọng đối với vị tiền bối đi trước đã dành thời gian quý báu đến tham dự Sự kiện Ra mắt sách ngày 12 tháng 4 vừa qua. Tiếp theo, khi đọc 15 câu hỏi của Hành Giả, Diệu Tâm nhận thấy 15 câu hỏi này đều có nội dung nằm trong cuốn Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa.

Như HĐTM Lý Gia được dạy, Kinh điển giống như sách giáo khoa, mỗi cuốn Kinh đều tương ưng với một tầng bậc thực chứng nào đó, vì vậy, trước khi cùng nhau khảo cứu 15 câu hỏi của Hành Giả, Diệu Tâm xin phép được xác nhận sơ qua về cuốn Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa. Có thống nhất được những điều này, chúng ta mới có thể thống nhất được các quan điểm để trả lời 15 câu hỏi mà Hành Giả đưa ra.

Chúng ta đều biết, quá trình Đức Phật giáo hoá chúng sanh được chia thành 5 thời kỳ (gọi là Ngũ Thời thuyết pháp): “Theo Đại sư Trí Giả, giáo pháp được Đức Phật thuyết giảng chia làm 5 thời kỳ (Ngũ thời) gồm: Thời Hoa nghiêm (21 ngày đầu tiên sau khi Phật thành đạo), thời A hàm (12 năm kế tiếp), thời Phương đẳng (8 năm kế tiếp), thời Bát nhã (22 năm kế tiếp), thời Pháp hoa và Niết bàn (8 năm cuối cùng)...”! (Trích GiacNgo.Vn!)

Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa được đặt trong Bộ Kinh Pháp Hoa, như vậy, nội dung Kinh này được Phật thuyết trong thời Pháp hoa và Niết bàn, là giai đoạn cuối của hành trình giáo hoá. Kinh cũng ghi rõ là dành cho hàng Đại Thừa, chính vì vậy Kinh hàm chứa những điều sâu xa của đạo pháp, chỉ có những người đã hoàn thành giải quyết tự thân, dấn thân vào quá trình học tập trí tuệ, thậm chí đã thành tựu một vài quả vị trong hệ thống Thập Địa mới có thể thâm nhập giáo pháp được chỉ bày trong Kinh này. Nói cách khác, đây là bộ kinh thuộc về chuyên môn cao cấp của Phật Đạo, “nếu chưa chứng thánh quả xuất thế vạn lần nghe xong chỉ như vịt nghe sấm, đây là lí do 500 con vịt tăng thượng mạn đành rời hội Pháp Hoa” (Trích Rồng Rắn Lên Mây – tác giả Lý Tứ).

Dưới đây là câu trả lời dành cho 15 câu hỏi của Hành Giả:

Hỏi:

1. Trích đoạn: "Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quán sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Vì sao các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp? Vì sao quán sát điều này lại được Vô Lượng Nghĩa? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"

Trả lời:

Bồ Tát nhờ thấu suốt tánh tướng bản lai rỗng lặng, tự không mà thành tựu tâm như hư không. Tâm như hư không là điều kiện để thành tựu Trí như hư không. Trí như hư không nên tương ưng với tất cả tâm ý của vạn loại hữu tình. Tương ưng với tâm ý vạn loại hữu tình chính là ý nghĩa chân thật của Vô Lượng Nghĩa.

Hỏi:

2. Trích đoạn: "Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Vì sao Vô tướng là Thật tướng? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"

Trả lời:

Chúng sanh theo nghiệp mà thấy thế giới có các tướng khác nhau, vì có các tướng khác nhau nên tướng đấy không phải chân thật tướng. Cũng vì có các tướng khác nhau nên biết thế giới chẳng có tướng, chẳng tướng nên gọi là vô tướng. Vô tướng chính là chân thật tướng.

Hỏi:

3. Trích đoạn: "Vả lại, thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế... Thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Một mặt, kinh nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”; mặt khác, Bồ tát lại quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt”. Hai cái thấy này có trái ngược nhau không? Nếu có thì vì sao và nếu không thì vì sao, xin giải thích rõ?"

Trả lời:

Không phải trái, cũng không phải không trái. Kinh nói về bản lai chân thật. Bồ Tát tuyên thuyết về hữu tình khi mê.

Giống như người giàu ngủ mê mình nghèo, nói trái cũng phải, nói không trái cũng phải.

Hỏi:

4. Trích đoạn: "Vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì có phải tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó? Và “vô tướng” làm thế nào để “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó?"

Trả lời:

Vô Tướng là thể, Vô Lượng là dụng. Giống như ánh sáng là thể, hơi nóng là dụng. Có ánh sáng thì có hơi nóng. Cái nóng của đèn không làm mất đi cái sáng của nó.

Hỏi:

5. Trích đoạn: "Lúc ban đầu Ta từ chốn Phụ vương, đi đến thành Ba La Nại... khi quay bánh xe pháp Tứ đế, cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Nay ở nơi đây lại diễn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa và cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Vì vậy lời nói ban đầu, lời nói chặng giữa và lời nói ngày nay văn tự tuy là một, nhưng ý nghĩa có khác." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Văn tự là một mà lại có sai khác về ý nghĩa. Vậy bản chất sự sai khác này là gì?"

Trả lời:

Giống như vị ngọt ở rìa đĩa mật, vị ngọt ở giữa đĩa mật, vị ngọt khi ăn xong cả đĩa mật. Tuy vị ngọt giống nhau nhưng thực chứng của người ăn thì khác.

Hỏi:

6. Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Đó là cảnh giới rất sâu xa bất khả tư nghì của chư Phật, chẳng phải chỗ hay biết của hàng nhị thừa, và cũng chẳng phải chỗ theo kịp của ngôi thập trụ Bồ Tát, chỉ có Phật với Phật mới hay hiểu thấu rốt ráo." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Nếu cảnh giới “một âm thanh ứng hiện tất cả giọng tiếng” chỉ có Phật mới thấu rốt ráo, vậy thì những Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, họ đang tiếp cận nghĩa lý ở mức độ nào? Làm thế nào để họ có đủ tự tin rằng mình đang “tùy thuận” được Phật trí, dù chưa thực chứng?"

Trả lời:

Kinh Đại Thừa dành cho Bồ Tát đã vào Địa (Từ Sơ Hoan Hỉ Địa trở lên), hàng Bồ Tát sơ phát tâm (Thập Trụ) đọc Kinh này được coi là ngồi nhầm lớp.

Hỏi:

7. Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Kinh nầy vốn từ trong nhà chư Phật mà ra, đi đến chỗ hết thảy chúng sanh phát tâm Bồ Đề, và trụ ở nơi các Vị Bồ Tát sở trụ." (Phẩm Mười Công Đức)

Câu hỏi: "Ba mệnh đề “từ nhà chư Phật mà ra”, “đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Đề”, “trụ ở Bồ Tát sở trụ” có phải đang mô tả một vòng vận hành khép kín của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân? Xin giải thích rõ hơn về “ngôi nhà chư Phật” ở đây là gì?"

�Trả lời:

- Từ nhà chư Phật mà ra, nghĩa là Kinh này từ trí tuệ của Đức Phật mà tuyên thuyết (Phật trí).

- Đi đến chỗ chúng sanh phát tâm Bồ Đề, nghĩa là mục đích của Kinh là giáo hoá hàng Bồ Tát phát tâm nguyện Đại Thừa cứu độ chúng sanh.

- Trụ ở Bồ Tát sở trụ, nghĩa là yêu cầu của Kinh là Bồ Tát đang trong quá trình học tập trí tuệ (sai biệt trí).

Hỏi:

8. Trích đoạn: "Người trì kinh nầy... tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba)

Câu hỏi: "Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ lại có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh sao? Điều này có nghĩa là “đại bi” và “phương tiện” có thể vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn sao?"

Trả lời:

Nguyên văn đoạn Kinh là:

“Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy, dù chuyển đọc một lượt, một bài kệ cho đến một câu, thông đạt trăm nghìn muôn ức nghĩa rồi. Tuy có phiền não thì cũng như không có phiền não, ra vào chốn sanh tử không có tư tưởng sợ sệt; đối với chúng sanh thì sanh ra tư tưởng thương xót; đối với nhứt thiết pháp thì được tư tưởng mạnh mẽ; như người tráng sĩ hay mang hay giữ những món nặng nề, người trì kinh nầy cũng lại như thế, hay gánh trọng trách của đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ-đề; hay mang đội chúng sanh ra khỏi đường sanh tử. Tuy chưa độ được mình mà đã hay độ cho người. Ví như thuyền trưởng, tuy mình mắc bệnh nặng, bốn thể chẳng đều, yên nghỉ ở bờ bên đây; nhưng có thuyền bè bền chắc, và thường sắm những dụng cụ để cung cấp cho mọi người đi sang qua bờ bên kia. Người trì kinh nầy cũng lại như thế, tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh. Nếu chúng sanh theo đúng lý thuyết mà tu hành, thì được qua khỏi chốn sanh tử."

Đọc kỹ đoạn Kinh thấy rõ, thuyền trưởng dụ cho Nhục Thân (Báo Thân), thuyền bè dụ cho Pháp thân của Bồ Tát. Bồ Tát lấy trí tuệ là tài sản.

Hỏi:

9. Trích đoạn: "Người đó cũng ví như vị phu nhân của nhà vua mới sanh ra thái tử... Tuy còn thơ ấu chẳng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính, và cùng với các con vua khác kết làm bằng hữu." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ tư)

Câu hỏi: "Ví dụ “thái tử sơ sinh” rất thâm thúy: phẩm vị không đến từ năng lực, mà đến từ dòng dõi (Phật tử) chăng? Quan điểm này đối với tinh thần bình đẳng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” trong Phật giáo có mâu thuẫn không?"

Trả lời:

Đây chính là tinh thần “Tất cả chúng sanh đều có Phật Tánh”. Mặc dù chúng sanh nào cũng có Phật Tánh (hạt giống) nhưng phải học tập (gieo trồng) mới thành quả Phật. Ví dụ này nhắc nhở hàng Bồ Tát trong giáo hoá nhận thức rõ: “chúng sanh chẳng phải chúng sanh” như tinh thần của Kinh Kim Cang.

Hỏi:

10. Trích đoạn: "Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy... người đó tuy lại bị đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu, mà lại hay thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ năm)

Câu hỏi: "Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh là ẩn dụ cho điều gì? Nếu là sự chuyển hóa tâm thức, thì đây có phải là pháp tu “đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm?"

Trả lời:

Kinh dạy là “chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu” chứ Kinh không nói là “phàm phu”. Ví dụ này mô tả điều kiện của Bồ Tát đủ điều kiện cầu học trí tuệ: 1) Phải thành tựu hai vô ngã; 2) Phải ra khỏi Bất Động; 3) Phải phát tâm Vô Thượng Bồ Đề; 4) Phải dám bán thân cầu đạo; 5) Phải thường xuyên thân cận Thiện Tri Thức;… Một trăm kiếp là nói về quá trình sai biệt trí của Bồ Tát.

�Hỏi:

11. Trích đoạn: "Ví như con vua tuy còn thơ ấu, nếu khi nhà vua đi tuần du hay khi bị bệnh thì nhà vua ủy thác cho thái tử lãnh trị việc nước... đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ sáu)

Câu hỏi: "Ở đây, người trì kinh chưa trụ Sơ địa nhưng thuyết pháp lại có hiệu quả ngang với Phật. Điều này đặt ra một câu hỏi nghiêm túc: Thẩm quyền giáo hóa nằm ở chứng lượng bản thân, hay ở sự trung thành với lời Phật dạy? Nếu một người phàm phu y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức ấy thuộc về kinh, về Phật, hay về chính vị phàm phu ấy?"

Trả lời:

Khả năng thuyết pháp khác với hiệu quả thuyết pháp. Bồ Tát hoàn thành thập trụ đủ điều kiện học trí tuệ, có thể gọi là có khả năng thuyết pháp. Khi bắt đầu vào địa, Bồ Tát vừa học vừa làm để nâng cao năng lực thuyết pháp. Kinh nói: Bồ Tát y theo đúng lời Phật dạy dùng để thuyết giáo phô diễn. Bồ Tát thuyết pháp được công đức này.

Hỏi:

12. Trích đoạn: "Người thiện nam, thiện nữ đó... chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ bảy)

Câu hỏi: "Đây như là một tuyên bố đốn ngộ triệt để: từ phàm phu nhảy vọt lên Thất địa. Vậy “vô sanh pháp nhẫn” ở đây tương đương với địa vị nào? Và “lục độ tự nhiên hiện ra” có nghĩa là hành giả không cần trải qua vô số kiếp tu tập hạnh Ba-la-mật như giáo lý thông thường, hay đó là kết quả của vô số kiếp tu tập trong quá khứ nay được kinh này khai mở?"

Trả lời:

- Quá trình tu hành Phật Đạo chia thành hai giai đoạn là Tự Độ và Độ Tha.

- Ở giai đoạn tự độ, mục tiêu của người học là thành tựu cấp học Diệt Đế. Để thành tựu rốt ráo Diệt Đế, đối với riêng Bồ Tát phải tu Ba La Mật để giải quyết hoàn toàn những thừa sót còn lại. Vô sanh pháp nhẫn là thuật ngữ mô tả cảnh giới của người thành tựu rốt ráo Diệt Đế, thành tựu cảnh giới Xuất thế. Xét về các địa vị trong Thập Trụ, Vô Sanh Pháp Nhẫn tương đương từ Chánh Tâm Trụ đến Quán Đảnh Trụ.

- Ở giai đoạn độ tha, Bồ Tát Nhất Thừa lần lượt trải qua thập địa bằng cách tu 4 ba la mật còn lại. Từ Sơ Hoan Hỉ Địa đến Thất Địa (Viễn Hành Địa) người này thấu suốt các cảnh giới xuất thế và có khả năng đưa chúng sanh đi qua các cảnh giới khác nhau.

- Như vậy có thể thấy lời Kinh trên đây là một cách nói tượng trưng để mô tả 2 giai đoạn tốc lực tâm, tốc lực trí của người tu hành, hay nói cách khác là nói lên ý chí của người tu hành nhiều hơn là việc đốn hay ngộ.

(1) Giai đoạn 1 là nhanh chóng hoàn thiện 6 ba la mật, chứng quả vị vô sanh pháp nhẫn, hoàn thành quá trình tự độ.

(2) Giai đoạn 2 là giai đoạn tốc lực cầu học trí tuệ, hoàn thành các quả vị để giúp người một cách hiệu quả.

Hỏi:

13. Trích đoạn: "Những nghiệp chướng nặng nề xưa kia còn lại, nhất thời liền phải tiêu tan, mà được thanh tịnh. Và lại được biện tài lớn, lần lượt trang nghiêm các pháp ba la mật... phân thân rải thể khéo léo ở khắp mười phương quốc độ để cứu vớt hết thảy chúng sanh đang bị khổ cực ở trong hai mươi lăm cõi, đều khiến cho được giải thoát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ chín)

Câu hỏi: "Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây là gì? Có phải sức mạnh của kinh như một dòng nước cuốn trôi tất cả nghiệp cũ, hay chính trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh đã làm tan rã gốc rễ vô minh? Nếu là vế sau, thì sự “tiêu tan nhất thời” này khác gì với sự chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới-định-huệ thông thường?"

Trả lời:

Bồ Tát do thấu suốt bản chất của thân – tâm và thế giới mà không còn bị nghiệp chi phối nên gọi là tiêu trừ nghiệp chướng (nghiệp không còn trở thành chướng ngại). Phật Đạo dạy người tu hành hiểu rõ về nghiệp và cơ chế viên mãn của nghiệp, từ đó mà nghiệp tự chuyển hoá từ hữu lậu sang vô lậu.

Hỏi:

14. Trích đoạn: "Ở chốn phàm phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu hay phát khởi ra vô số tăng kỳ đại thệ sâu rộng. Lại hay phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh thành tựu đại bi... dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ mười)

Câu hỏi: “Pháp vân địa” là địa vị gần với Phật quả. Kinh mô tả một phàm phu, thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị ấy. Xin có thể giải thích rõ hơn: Đây là sự thăng tiến thực tế về mặt tâm linh, hay là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai? “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại?"

Trả lời:

Pháp Vân Địa là mô tả năng lực nổi mây mưa Pháp của Bồ Tát. Kinh nói: “Ở chốn phàm phu” (chứ Kinh không nói là Phàm phu), nghĩa là Bồ Tát nổi mưa pháp ở chốn phàm phu! Điều này hoàn toàn đúng đắn. Tất cả các địa của Thập Địa đều được thực chứng trong hiện tại nếu chịu khó học tập, Phật không hứa suông.

Hỏi:

15. Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Như vậy thì kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nầy có sức đại oai thần, không gì là tôn hơn, hay khiến cho những kẻ phàm phu đều được chứng thánh quả, vĩnh viễn xa lìa sanh tử, được vui tự tại. Vì vậy mà kinh nầy gọi là Vô Lượng Nghĩa." (Phẩm Mười Công Đức, tổng kết mười công đức)

Câu hỏi: "Kinh đưa ra một kết luận gần như tuyệt đối: Phàm phu nương kinh này có thể chứng thánh quả. Vậy thánh quả ở đây nên hiểu là quả vị giải thoát rốt ráo, hay là một trạng thái “phàm phu Bồ tát” đặc biệt - tức thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu?"

Trả lời:

Ý của đoạn Kinh nói lên rằng, Bồ Tát thấu suốt Kinh này có năng lực giúp cho phàm phù đều chứng thánh quả, xa lìa sanh tử khổ, tự tại an vui!

Con, Lý Diệu Tâm - MB 0465" (Hết thư)

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau:

👉 https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

05/06/2026

LÝ TỨ

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 84.2026 với chủ đề: Lý Diệu Tâm Trả Lời Hành Giả Phá

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 84.2026 với chủ đề: Lý Diệu Tâm Trả Lời Hành Giả Phá

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 84.2026 với chủ đề: Lý Diệu Tâm Trả Lời Hành Giả Phá

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời số 852026 với chủ đề: Lý Minh Tuân Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!

MB 857 Lý Diệu Sinh 06.06.2026

Các bạn !!!

Mình lại tiếp tục nhận đươc trả lời của Lý Minh Tuân, Lý Diệu Thảo và Lý Thái Đăng...!!! Hôm nay, chuyên mục sẽ lần lượt đăng trả lời của từng vị, nếu có thêm các trả lời của HĐ khác, chuyên mục sẽ đăng theo cách cuốn chiếu...!!!

Thầy giáo Lý Minh Tuân là môn đệ của Lý Gia (MB 1349)...Và, cũng là vị HĐ tham gia toạ đàm hôm 12/04 trong sự kiện ra mắt Vô Thanh Luận và tập thơ Nhặt Nhạnh tại Hà Nội...!!!

Sau đây, là trả lời của Sư Đệ Lý Minh Tuân:

"Con xin kính chào Thầy!!!

Xin kính kính chào hành giả Pháp Quang!!!

Con là Lý Minh Tuân, học trò thứ 1349 của thầy Lý Tứ. Trước tiên, con xin gửi lời cảm ơn chân thành tới hành giả Pháp Quang đã gửi đến chuyên mục những câu hỏi rất trí tuệ, thấm đậm mùi vị Đạo pháp. Và đây chính là một đương cơ rất tuyệt vời để con cũng như các HĐTM Lý Gia có dịp tự kiểm chứng mình và tiếp tục tư duy, thâm nhập những tầng nghĩa thẳm sâu của Đạo pháp.

Con xin phép được trả lời 15 câu hỏi của hành giả Pháp Quang như sau:

1. Trích đoạn: "Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quán sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Vì sao các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp? Vì sao quán sát điều này lại được Vô Lượng Nghĩa? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"

Trả lời:

a) Vì sao các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp? Điều này muốn nói đến bản chất không tánh, không tướng của các pháp. Một pháp hay một nhận thức tự nó không có tính chất hay tướng mạo...

Ví dụ: Khi nói bông hoa đẹp, trong suy nghĩ ấy không có tính đẹp; khi nói lửa nóng, trong suy nghĩ ấy không có tính nóng; khi nói ăn cái bánh sẽ no thì trong suy nghĩ ấy không có tánh no. Nói chung, đẹp, xấu, nóng, lạnh, no, đói, ghét, thương, to, nhỏ…không nằm trong nghĩ suy hay nhận thức. Chính vì tính chất không tánh, không tướng này nên mỗi pháp tự nó “như như, rỗng lặng” như vậy. Do đó Phật dạy: "Bản lai các pháp tự nó rỗng lặng, ví như hư không, không có hai pháp. Vì “như hư không” nên các pháp bình đẳng như nhau, không thể phân biệt pháp này với pháp kia" (không có 2 pháp).

b) Nếu các pháp có tánh, có tướng thì với mỗi pháp nó sẽ chỉ có một nghĩa nhất định (tức là ta sẽ bị đóng khung vào một nhận thức cố định, không thể nói khác đi). Chính vì tính chất không tánh, không tướng như vậy nên từ một pháp, Bồ tát có thể hoạt dụng để đưa ra vô lượng nghĩa cho vô lượng căn tánh sai biệt nhằm giúp hành giả có thể thành tựu các mục tiêu trong Phật đạo.

Ví dụ: Tuy cùng nói về Tứ đế, nhưng tùy theo từng tầng bậc: Tục đế, Thánh đế, Chân đế mà Bồ tát tuyên nói các ý nghĩa khác nhau cũng chỉ chung một mục đích là đoạn mê, khai giác, giúp hành giả giác ngộ.

c) Ý nghĩa của đoạn Kinh: Bồ tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa thì phải quán sát để thấu suốt bản chất của các pháp là không tánh, không tướng, ví hư hư không, không có 2 pháp đối đãi. Chính vì ý nghĩa này Bồ tát mới có thể thiện xảo sử dụng các pháp để cho ra vô lượng nghĩa. Ở đây, pháp chỉ là phương tiện, là “ngón tay chỉ trăng” còn nghĩa lại do người nghe thầm hội. Cùng một pháp nhưng nếu với vô lượng căn tánh sai biệt thì cũng sẽ cho ra vô lượng nghĩa sai biệt. Lời thuyết pháp của Bồ tát giống như một cơn mưa, cây nhỏ thì hưởng lợi ích nhỏ, cây lớn sẽ hưởng lợi ích lớn.

2. Trích đoạn: "Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Vì sao Vô tướng là Thật tướng? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"

Trả lời:

a) Vì sao Vô tướng là Thật tướng? Ở đây, ta cần rành rõ 2 khái niệm Pháp và Trần (thế giới). Pháp là quan điểm, quan niệm, nhận thức của ta về thế giới (chứ không phải là thế giới). Tự trong 1 pháp (hay một nhận thức) không có tự tánh, tự tướng (vô tướng).

Ví dụ: Khi ta suy nghĩ rằng ngọn núi cao thì trong suy nghĩ ấy không có tướng cao của quả núi. Còn khi ta cảm nhận về thế giới, nó vẫn có 1 tướng nào đó nhưng đó chỉ là hư vọng tướng (vì thế giới do duyên sinh và tuân theo quy luật thành, trụ, hoại, không). Nhưng do chúng sanh mê mờ, bị nghiệp thức chi phối, mải chạy theo hư vọng tướng mà quên mất rằng mình đang nhìn nhận thế giới qua một chiếc “áo pháp”. Phật đạo không dạy ta chạy theo thế giới (hư vọng tướng) mà dạy ta quay lại quan sát thân tâm này (tức là quan sát các pháp). Và khi quan sát thấu suốt các pháp không thông qua lăng kính nghiệp thức ta mới nhận ra rằng: Vô tướng (bản chất thật của các pháp) mới là Thật tướng.

b) Giải thích ý nghĩa đoạn Kinh: Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy.

Đoạn Kinh trên dịch hơi khó hiểu, tuy nhiên, theo những gì đã được Thầy Lý Tứ giáo dạy, ta có thể hiểu ý nghĩa của đoạn Kinh như sau: Trong cái vô tướng ấy chẳng hàm chứa bất kỳ tướng nào; chẳng hàm chứa bất kỳ tướng nào mới gọi là vô tướng. Vô tướng như thế thì mới gọi là “thật tướng”.

3. Trích đoạn: "Vả lại, thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế... Thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Một mặt, kinh nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”; mặt khác, Bồ tát lại quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt”. Hai cái thấy này có trái ngược nhau không? Nếu có thì vì sao và nếu không thì vì sao, xin giải thích rõ?"

Trả lời: Hai cái thấy này không hề trái ngược nhau. Lí do: Khi nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt” là đang nói đến “bản chất, tự tánh” của các pháp (các pháp không tánh, không tướng).

Còn khi nói: Bồ tát lại quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt” là nói đến “bản chất duyên sinh” của các pháp. Các pháp do 3 duyên căn, trần, thức hòa hợp sinh ra nên nó tuân theo quy luật sanh, trụ, dị, diệt.

Như vậy, trong 2 mệnh đề trên tuy đều nói về pháp nhưng một mệnh đề nói về “bản chất, tự tánh” của các pháp còn một mệnh đề nói về “bản chất duyên sinh”của các pháp. Hai mệnh đề này tuy khác nhau nhưng ý nghĩa không hề trái ngược nhau.

4. Trích đoạn: "Vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì có phải tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó? Và “vô tướng” làm thế nào để “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó?"

Trả lời:

a) Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì có phải tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó?

Câu này chỉ đúng trong giai đoạn Phật dùng giáo pháp như một phương tiện quyền tiểu để giúp Ba thừa tịch diệt tâm hư vọng và pháp hư vọng, ra khỏi sự mê muội của một chúng sanh. Khi cái thấy biết hư vọng không còn nữa, bây giờ vị này mới có cơ may hiểu được ý nghĩa chân thật mà chư Phật đã thuyết. Tức là, họ có thể biết đâu là chân thật ngữ, đâu là phương tiện ngữ của Như Lai. Kinh gọi cái thấy chân thật này là “thấy thiệt tướng”, nghe chân thật này là “nghe thật ngữ”.

b) “Vô tướng” làm thế nào để “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó?

Kinh Đại Niết Bàn, Phật dạy “Tứ Y”, trong đó có “Y kinh liễu nghĩa, không y kinh bất liễu nghĩa”. Có nghĩa muốn thấu suốt chân lý, chỉ nên y vào lời chân thật (liễu nghĩa), không nên y cứ vào những gì còn nằm trong phạm vi phương tiện (bất liễu nghĩa). Phật cũng dạy: “Trong ngữ có nghĩa, trong nghĩa có ngữ” hoặc “ngữ ấy tức nghĩa ấy”… Tất cả những lời dạy này, tùy theo đương cơ, đều giúp người giác ngộ, trực nhận được tánh rỗng lặng của các pháp mà không làm người giác ngộ động lay tâm thức. Đó chính là minh chứng cho thấy từ cái nền “vô tướng” vẫn sinh ra vô lượng nghĩa mà không mất đi tánh rỗng lặng của các pháp.

5. Trích đoạn: "Lúc ban đầu Ta từ chốn Phụ vương, đi đến thành Ba La Nại... khi quay bánh xe pháp Tứ đế, cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Nay ở nơi đây lại diễn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa và cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Vì vậy lời nói ban đầu, lời nói chặng giữa và lời nói ngày nay văn tự tuy là một, nhưng ý nghĩa có khác." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Văn tự là một mà lại có sai khác về ý nghĩa. Vậy bản chất sự sai khác này là gì?"

Trả lời: Bản chất sự sai khác này là sai khác về mặt nhận thức (tri kiến) của từng giai đoạn. Khi ở thành Ba La Nại, Phật quay bánh xe pháp Tứ đế, nói các pháp bản lai rỗng lặng để giúp chúng sinh tự độ (cảnh giới Li cho Thanh Văn; cảnh giới Bất cho Duyên Giác; cảnh giới Vô cho Bồ Tát). Và bây giờ (khi thuyết Kinh Đại thừa vô lượng nghĩa), Phật vẫn nói các pháp bản lai rỗng lặng nhưng để giúp Bồ tát hoạt dụng tất cả các pháp thành Phật pháp để hoàn thành sứ mệnh độ tha (cảnh giới Phi).

6. Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Đó là cảnh giới rất sâu xa bất khả tư nghì của chư Phật, chẳng phải chỗ hay biết của hàng nhị thừa, và cũng chẳng phải chỗ theo kịp của ngôi thập trụ Bồ Tát, chỉ có Phật với Phật mới hay hiểu thấu rốt ráo." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Nếu cảnh giới “một âm thanh ứng hiện tất cả giọng tiếng” chỉ có Phật mới thấu rốt ráo, vậy thì những Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, họ đang tiếp cận nghĩa lý ở mức độ nào? Làm thế nào để họ có đủ tự tin rằng mình đang “tùy thuận” được Phật trí, dù chưa thực chứng?"

Trả lời: Bồ tát sơ phát tâm (người chưa giác ngộ) khi đọc tụng và giảng nói kinh này sẽ tiếp cận nghĩa lý bằng niềm tin (tín tâm). Họ y như lời Kinh mà tư suy, suy ngẫm và thực hành (như lý tác ý). Do có chủng tử Bồ tát nên họ thường sinh hoan hỉ tâm, nỗ lực học tập và cũng hiểu được một số nghĩa lý trong Kinh; thấy được an vui; phiền não, mê mờ bắt đầu mỏng lược. Nhờ những thành tựu ban đầu này họ chuyển dần từ tín tâm sang tín căn. Nhờ những dấu hiệu này họ có đủ tự tin rằng, mình đang “tùy thuận” được Phật trí, dù chưa thực chứng.

7. Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Kinh nầy vốn từ trong nhà chư Phật mà ra, đi đến chỗ hết thảy chúng sanh phát tâm Bồ Đề, và trụ ở nơi các Vị Bồ Tát sở trụ." (Phẩm Mười Công Đức)

Câu hỏi: "Ba mệnh đề “từ nhà chư Phật mà ra”, “đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Đề”, “trụ ở Bồ Tát sở trụ” có phải đang mô tả một vòng vận hành khép kín của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân? Xin giải thích rõ hơn về “ngôi nhà chư Phật” ở đây là gì?"

Trả lời:

a) Ba mệnh đề “từ nhà chư Phật mà ra”, “đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Đề”, “trụ ở Bồ Tát sở trụ” có phải đang mô tả một vòng vận hành khép kín của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân? Câu này đúng.

b) “Ngôi nhà chư Phật” ở đây chính là Bản Giác (Phật tánh, Phật trí) hoặc Pháp thân Phật. Ta có thể làm rõ vòng tròn khép kín của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân như sau:

Kinh này “từ nhà chư Phật đi ra”: Hóa thân được hóa hiện (sinh ra) từ Pháp thân. "Đi đến chỗ chúng sanh phát tâm Bồ đề”: Chúng sanh dùng Báo thân để học tập, thể nhập Kinh. Khi vị này đạt được địa vị Đẳng Giác Bồ tát (Chư Phật từ Bản giác chiếu ra, chúng sanh từ thỉ giác đi vào, chỗ gặp nhau gọi là Đẳng) thì vị này chính là Ứng thân Phật (Kinh và vị này là một) cho nên gọi là “Trụ ở Bồ tát sở trụ”.

8. Trích đoạn: "Người trì kinh nầy... tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba)

Câu hỏi: "Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ lại có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh sao? Điều này có nghĩa là “đại bi” và “phương tiện” có thể vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn sao?"

Trả lời:

a) Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ vẫn có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh nếu người này có nguyện lớn: Trên cầu tròn thành Phật đạo, dưới nguyện hóa độ vô lượng chúng sanh. Hình ảnh “Người thuyền trưởng ở đây” không có nghĩa vị này đã hoàn toàn tự tại chèo lái con thuyền “Đại thừa vô lượng nghĩa”. Nhưng nhờ có tâm đại bi mà vị này biết cách cung cấp các phương tiện từ con thuyền (Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa) để giúp người qua sông (đáo bỉ ngạn). Tuy rằng việc cứu độ chúng sanh của vị này vẫn chưa hoàn hảo nhưng vẫn còn hơn là để tất cả chúng sanh đều “chết chìm” trong dòng sông phiền não.

b) Điều này có nghĩa là “đại bi” và “phương tiện” có thể vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn sao?

Nhận định này đúng, vì con đường của Bồ tát là “học đi đôi với hành”. Giống như một người học nghề bác sỹ, học đến đâu họ phải thực hành đến đó thì kết quả cuối cùng mới mau thành tựu. Còn nếu một vị học xong tấm bằng bác sỹ là lại đi làm nghề đánh cá thì sau một thời gian cũng sẽ bị mai một kiến thức và vị ấy không thể trở thành một bác sỹ thực thụ. Khi một vị chưa giác ngộ viên mãn, thì “đại bi” và “phương tiện”vẫn có thể giúp Bồ tát độ sinh, chỉ có điều hiệu quả độ sinh chưa viên mãn.

9. Trích đoạn: "Người đó cũng ví như vị phu nhân của nhà vua mới sanh ra thái tử... Tuy còn thơ ấu chẳng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính, và cùng với các con vua khác kết làm bằng hữu." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ tư)

Câu hỏi: "Ví dụ “thái tử sơ sinh” rất thâm thúy: phẩm vị không đến từ năng lực, mà đến từ dòng dõi (Phật tử) chăng? Quan điểm này đối với tinh thần bình đẳng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” trong Phật giáo có mâu thuẫn không?"

Trả lời:

a) Phẩm vị vừa đến từ năng lực vừa đến từ dòng dõi. Bởi vì có năng lực ắt sẽ có phẩm vị (luật nhân quả). Và ngược lại đã thuộc dòng dõi (con vua) ắt sẽ có phẩm vị (luật kế thừa tài sản và ngôi vị!!!).

b) Quan điểm “thái tử sơ sinh” tuy còn thơ ấu chẳng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính….không hề mâu thuẫn với tinh thần bình đẳng “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”. Lí do: Bản lai, mọi chúng sanh đều là “thái tử” vì đều có Phật tánh như nhau. Tuy nhiên, khi chúng sanh còn ngụp lặn trong vô minh thì không thể biết mình mình cũng đang là dòng dõi vương giả.

10. Trích đoạn: "Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy... người đó tuy lại bị đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu, mà lại hay thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ năm)

Câu hỏi: "Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh là ẩn dụ cho điều gì? Nếu là sự chuyển hóa tâm thức, thì đây có phải là pháp tu “đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm?"

Trả lời:

a) Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh ẩn dụ cho năng lực bất khả tư nghì công đức của kinh này. Nếu như người này vẫn còn đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu nhưng chỉ cần được nghe Kinh này và phát đại tâm dõng mãnh của Bồ tát, nguyện cứu giúp hết thảy chúng sanh ra khỏi khổ đau thì tâm thức của vị này sẽ được chuyển hóa cực kỳ mau lẹ (thị hiện một ngày thành trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày).

b) Việc chuyển hóa tâm thức nêu trên không phải là pháp tu “đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm mà nó nói đến năng lực đốn ngộ của kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa.

11. Trích đoạn: "Ví như con vua tuy còn thơ ấu, nếu khi nhà vua đi tuần du hay khi bị bệnh thì nhà vua ủy thác cho thái tử lãnh trị việc nước... đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ sáu)

Câu hỏi: "Ở đây, người trì kinh chưa trụ Sơ địa nhưng thuyết pháp lại có hiệu quả ngang với Phật. Điều này đặt ra một câu hỏi nghiêm túc: Thẩm quyền giáo hóa nằm ở chứng lượng bản thân, hay ở sự trung thành với lời Phật dạy? Nếu một người phàm phu y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức ấy thuộc về kinh, về Phật, hay về chính vị phàm phu ấy?"

Trả lời:

a) Thẩm quyền giáo hóa nằm ở cả ở sự chứng lượng của bản thân và cả sự trung thành với lời Phật dạy. Xét cho cùng, muốn chứng lượng thì cũng phải trung thành với lời Phật dạy. Khi đã trung thành với lời Phật dạy thì sớm hay muộn cũng sẽ chứng lượng.

b) Nếu một người phàm phu y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức ấy thuộc về cả ba (Kinh, Phật và chính vị phàm phu ấy) vì Phật và Kinh chính là vị thầy của người ấy.

Ví dụ: Một đứa trẻ học cấp 1 mặc dù chưa được học hỏi nhiều về lĩnh vực cấp cứu người bị nạn nhưng nhờ y theo lời thầy dạy mà cứu sống được một người đuối nước. Công lao “cứu sống người” thuộc về cả đứa trẻ, cả về giáo trình giảng dạy và người thầy.

12. Trích đoạn: "Người thiện nam, thiện nữ đó... chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ bảy)

Câu hỏi: "Đây như là một tuyên bố đốn ngộ triệt để: từ phàm phu nhảy vọt lên Thất địa. Vậy “vô sanh pháp nhẫn” ở đây tương đương với địa vị nào? Và “lục độ tự nhiên hiện ra” có nghĩa là hành giả không cần trải qua vô số kiếp tu tập hạnh Ba-la-mật như giáo lý thông thường, hay đó là kết quả của vô số kiếp tu tập trong quá khứ nay được kinh này khai mở?"

Trả lời:

a)Vô sanh pháp nhẫn (không sanh pháp) tương đương với địa vị Thất địa Bồ tát (Viễn hành địa) và sẽ viên mãn ở Bát địa Bồ tát (Bất động địa)

b) “Lục độ tự nhiên hiện ra” vừa là kết quả của việc đốn ngộ trong hiện tại khi được Kinh này khai mở, đồng thừa nó cũng là kết quả của vô số kiếp tu tập trong quá khứ (nay đủ duyên thì sẽ bùng vỡ, hiển lộ).

13. Trích đoạn: "Những nghiệp chướng nặng nề xưa kia còn lại, nhất thời liền phải tiêu tan, mà được thanh tịnh. Và lại được biện tài lớn, lần lượt trang nghiêm các pháp ba la mật... phân thân rải thể khéo léo ở khắp mười phương quốc độ để cứu vớt hết thảy chúng sanh đang bị khổ cực ở trong hai mươi lăm cõi, đều khiến cho được giải thoát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ chín)

Câu hỏi: "Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây là gì? Có phải sức mạnh của kinh như một dòng nước cuốn trôi tất cả nghiệp cũ, hay chính trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh đã làm tan rã gốc rễ vô minh? Nếu là vế sau, thì sự “tiêu tan nhất thời” này khác gì với sự chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới-định-huệ thông thường?"

Trả lời:

a) Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây chính là trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh này đã làm tan rã gốc rễ vô minh. Kinh không thể có sức mạnh như một dòng nước làm cuốn trôi nghiệp cũ. Muốn nghiệp cũ tiêu tan, vị này phải học tập, khế hợp với Kinh để phát sinh trí tuệ thì mới làm tan rã gốc rễ vô minh. Nếu nói rằng “Kinh có sức mạnh như một dòng nước cuốn trôi tất cả nghiệp cũ” thì tại sao rất nhiều người đọc Kinh này mà vẫn mãi khổ đau.

b) Sám hối trong Phật đạo và tu tập giới – định – tuệ thực chất là một quá trình học tập dài lâu để thay đổi nhận thức, đoạn dứt 3 tầng bậc vô minh. Cho nên, sự “tiêu tan nhất thời này” về bản chất không khác gì sự chuyển nghiệp từ từ qua việc sám hối và tu tập giới định tuệ theo quá trình tiệm tu. Tuy rằng việc đốn ngộ thì thời gian mau lẹ hơn nhiều nhưng nó vẫn là “Quả” của một quá trình học tập lâu dài trước đó.

14. Trích đoạn: "Ở chốn phàm phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu hay phát khởi ra vô số tăng kỳ đại thệ sâu rộng. Lại hay phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh thành tựu đại bi... dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ mười)

Câu hỏi: “Pháp vân địa” là địa vị gần với Phật quả. Kinh mô tả một phàm phu, thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị ấy. Xin có thể giải thích rõ hơn: Đây là sự thăng tiến thực tế về mặt tâm linh, hay là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai? “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại?"

Trả lời:

a) “Pháp vân địa” là địa vị gần với Phật quả. Kinh mô tả một phàm phu, thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị ấy. Đây chính là sự thọ ký của Phật cho tất cả những ai nếu thực hiện được lời dạy trên thì chắc chắn sẽ đạt đến địa vị “Pháp vân địa” trong tương lai. Phật đạo không đề cập đến những vấn đề tâm linh, siêu hình mà chỉ dạy con người nỗ lực học tập để giác ngộ và có trí tuệ. Việc một phàm phu thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị Pháp Vân địa cũng đã thể hiện đúng tiến trình từ nhân đến quả theo triết lý nhà Phật.

b) “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại?"

Đúng như vậy. Việc cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại này là một tiến trình đi từ Giác đến Ngộ, từ Nhân đến Quả mà bất kỳ người tu hành chân chánh nào cũng có thể đạt được.

Ví như một người tuy chưa bao giờ đặt chân lên Mặt Trăng nhưng họ lại được những người lên trước cung cấp toàn bộ dữ liệu, hình ảnh về Mặt Trăng thì họ cũng dần cảm nhận được thực địa nơi đó.

15. Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Như vậy thì kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nầy có sức đại oai thần, không gì là tôn hơn, hay khiến cho những kẻ phàm phu đều được chứng thánh quả, vĩnh viễn xa lìa sanh tử, được vui tự tại. Vì vậy mà kinh nầy gọi là Vô Lượng Nghĩa." (Phẩm Mười Công Đức, tổng kết mười công đức)

Câu hỏi: "Kinh đưa ra một kết luận gần như tuyệt đối: Phàm phu nương kinh này có thể chứng thánh quả. Vậy thánh quả ở đây nên hiểu là quả vị giải thoát rốt ráo, hay là một trạng thái “phàm phu Bồ tát” đặc biệt - tức thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu?"

Trả lời: Cả 2 nhận định trên đều đúng!!! Một bản Kinh hay một bài pháp mà Phật thuyết ra giống như một trận mưa rơi xuống, cây to sẽ hưởng được nhiều mưa, cây bé sẽ hưởng được ít mưa. Dù hưởng được nhiều hay hưởng được ít nhưng “mưa” đã đem đến một lợi ích chung, đó là giúp cho cây sinh trưởng. Và điều này cũng thể hiện tính chất “vô lượng nghĩa” của kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa.

Con, Lý Minh Tuân - MB 1349" (Hết thư)

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau:

👉 https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

06/06/2026

LÝ TỨ

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 85.2026 với chủ đề: Lý Minh Tuân Trả Lời Hành Giả Ph

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 85.2026 với chủ đề: Lý Minh Tuân Trả Lời Hành Giả Ph

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 85.2026 với chủ đề: Lý Minh Tuân Trả Lời Hành Giả Ph

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời số 86.2026 với chủ đề: Lý Hiền Long Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!

MB 857 Lý Diệu Sinh 06.06.2026

Các bạn !!!

Lý Hiền Long (MĐ 0863) là HĐ tham gia buổi toạ đàm hôm 12/04 tại Hà Nội...Hiện nay, bạn ấy đang sinh sống và làm việc tại TP Hồ Chí Minh...!!!

Sau đây là trả lời của Sư Muội Lý Hiền Long:

"Con thưa Thầy, con là Lý Hiền Long, là học trò số 863 của Thầy, là thành viên tham gia buổi tọa đàm nhân sự kiện ra mắt sách của Thầy vào ngày 12/4/2026 ở Hà Nội vừa qua. Được sự cho phép của Thầy, con xin trả lời các câu hỏi của hành giả Pháp Quang, gởi về chuyên mục Bạn đọc hỏi Lý Tứ trả lời, kỳ 80 năm 2026.

Kính thưa bác Pháp Quang !!!

Trước tiên, con xin được bày tỏ sự kính ngưỡng trước tâm huyết của bác đối với kinh điển Phật pháp, nhất là khi đọc thấy bác đã dành nhiều năm nghiên cứu giáo nghĩa Đại Thừa, và hiện tại vẫn chưa dừng lại việc đào sâu ý nghĩa của từng lời kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa. Điều này khiến con cực kỳ xúc động, vì con cũng đã dành nhiều thời gian đào sâu bài kinh này. Và, hầu như lần nào đọc lại bài kinh này cũng xúc động. Kinh viết: “Bồ Tát Ma Ha Tát muốn chóng được thành đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, phải nên tu học kinh Đại thừa rất cao siêu sâu xa nầy.” !!!

Con cũng cảm ơn bác đã cẩn thận gởi bản kinh dịch bởi Tỳ kheo Thích Tuệ Hải, trong nhiều bản dịch tiếng Việt hiện có. Sự cẩn thận này giúp người hỏi, người trả lời, người đọc, có cùng một bản tham khảo thống nhất, giúp giảm thiểu thời gian đối chiếu qua lại. Một điều trùng hợp hữu duyên, bản dịch này Thầy Lý Tứ đã có kết tập trong cuốn 11 bài kinh Phật, làm tài liệu để HĐTM Lý Gia học tập, theo trình tự từ thấp lên cao, từ cạn đến sâu, từ phàm phu vô văn đến viên mãn Đạo đế, gồm các phần Giáo Tông, Tâm Tông, Nhất Thiết Trí Môn, Pháp Vân Môn.

Nếu bác đọc cuốn 11 bài kinh Phật của Thầy Lý Tứ kết tập và chú giải, thì trong phần giới thiệu, bác sẽ bắt gặp Thầy Lý Tứ viết điều này: “Riêng, kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa thuộc Pháp Vân Môn, có nhiều HĐ yêu cầu mình chú thích... Nhưng xét cho cùng, cái khó của người tu hành là, làm thế nào "để biến thành Rồng", mà kinh Kim Cang và Thắng Man đã đảm đương tốt công việc này rồi. Một khi "đã thành Rồng" thì, chuyện biết nổi mây, làm mưa là chuyện tự nhiên của loài Rồng như người ta mặc áo ăn cơm, không nhất thiết phải hướng dẫn... Hoặc ngược lại, loài không phải là Rồng, cho dù có dạy cách nổi mây làm mưa, mãn kiếp cũng chỉ là việc làm của kẻ...dư...hơi!”.

Dù vậy, vì bác đã mở lời, và Thầy cũng đã cho phép, nên con cũng xin vụng về mô tả cách nổi mây và cách làm mưa, theo những cảm nhận ở trình độ tri kiến hiện tại của con. Và, trong Lý Gia, Thầy Lý Tứ cũng thường dạy học trò: “Khi trích kinh, hay trích dẫn một câu nói, phải nêu rõ đoạn nào, nằm ở đâu, Phật thuyết cho đối tượng nào, ...có như vậy, ta mới có thể thầm hội được ý nghĩa lời kinh” !!!

Câu hỏi 1.

Trích đoạn: "Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quán sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Vì sao các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp? Vì sao quán sát điều này lại được Vô Lượng Nghĩa? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"

Trả lời:

Lời Phật dạy “hết thảy các pháp.... không có hai pháp”, không phải là một mệnh đề triết học để lý luận, mà là một sự thật cần được quán sát thấu suốt.

Vì sao các pháp rỗng lặng? Vì mọi pháp đều sinh khởi từ sự duyên hợp giữa Ý căn và Nhận thức, tri thức, hiểu biết. Chẳng hạn khi mắt thấy cảnh sắc, cộng thêm thức phân biệt, mới cho ra các pháp là những quan điểm/quan niệm đối với các cảnh sắc. Dừng/dứt thức phân biệt thì pháp không sanh khởi, tự rỗng lặng. Các pháp chỉ là những dòng suy nghĩ nên tự nó không có các tánh chất đẹp/xấu, đúng/sai, tự nó không có các hình tướng lớn/nhỏ, tự nó không dịch chuyển trụ/động, tiến/lui, gọi là không có hai pháp.

Vì tánh các pháp rỗng lặng, như hư không, từ nơi hư không có thể sản sinh sum la vạn tượng, thì cũng như vậy, từ nơi không pháp có thể sản sinh muôn pháp.

Bồ Tát không chỉ quán sát đến đây, mà còn quán sát tiếp ở các đoạn tiếp theo mà Kinh mô tả rất cụ thể (mà bác đã vô tình cắt đi làm mất một phần ý nghĩa), như “vì tánh ham muốn (của chúng sanh) vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng”.

Câu hỏi 2.

Trích đoạn: "Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Vì sao Vô tướng là Thật tướng? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"

Trả lời:

Đoạn kinh trên nên được đọc đầy đủ là “Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy. Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy.”

Thật tướng chính là sự thật bản chất của các pháp không tự tướng (vô tướng) như đã trả lời ở câu 1.

Nếu nghe nói đến “vô tướng” mà tâm ngay lập tức tạo ra một khái niệm "vô tướng" và bám chấp vào đó, thì lại có cái tướng của vô tướng. Nên Phật dạy “vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng”.

Câu hỏi 3.

Trích đoạn: "Vả lại, thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế... Thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Một mặt, kinh nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”; mặt khác, Bồ tát lại quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt”. Hai cái thấy này có trái ngược nhau không? Nếu có thì vì sao và nếu không thì vì sao, xin giải thích rõ?"

Trả lời:

Đọc đến đây, bỗng nhiên con hơi cảm thán !!! Nếu bác đọc trọn vẹn, đừng ngắt/cắt các đoạn kinh thành các câu hỏi rời rạc thế này, thì chắc bác sẽ có thể tự mình trả lời câu hỏi này.

a. “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt” là sự thật về bản chất của các pháp.

b. Bồ tát quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt” là quán sát các pháp của chúng sanh sinh khởi liên tục không dừng. Ba đoạn kinh sau chỉ rõ ý này: Từ đoạn “Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quán sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng… cho đến đoạn “…chỉ vì chúng sanh mê chấp lấy cái giả dối, mà cho là cái nầy, cái kia, là được, là mất, khởi ra tâm niệm chẳng lành, …” và “…thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt.”

Hai cái thấy này không trái ngược, mà là cái thấy bản chất và hiện tượng. Cũng như lòng biển, vốn lặng yên, nhưng trên mặt biển có nhiều con sóng xô đẩy nhau không dừng, nếu gió liên tục thổi lên.

Lòng biển lặng yên, là thí dụ cho các pháp vốn rỗng lặng, không sanh diệt. Các con sóng xô đẩy nhau không dừng, khi có gió liên tục thổi, dụ cho Tâm hư vọng và Pháp hư vọng “niệm niệm luôn luôn sanh diệt", không ngừng sinh khởi khi gió trần cảnh thổi.

Câu hỏi 4.

Trích đoạn: "Vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì có phải tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó? Và “vô tướng” làm thế nào để “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó?"

Trả lời:

Câu này ý muốn nói “vô tướng” là trạng thái nhận thức thấu suốt bản chất của vạn pháp, của thân tâm và thế giới và không bị kẹt mắc bởi bất kỳ tướng nào, cho nên nó có khả năng ứng hiện tất cả pháp tùy theo đối tượng thính pháp. Ví như mặt gương: vì gương không có hình tướng riêng, nên nó có thể phản chiếu vô lượng hình ảnh.

Câu hỏi 5.

Trích đoạn: "Lúc ban đầu Ta từ chốn Phụ vương, đi đến thành Ba La Nại... khi quay bánh xe pháp Tứ đế, cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Nay ở nơi đây lại diễn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa và cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Vì vậy lời nói ban đầu, lời nói chặng giữa và lời nói ngày nay văn tự tuy là một, nhưng ý nghĩa có khác." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Văn tự là một mà lại có sai khác về ý nghĩa. Vậy bản chất sự sai khác này là gì?"

Trả lời:

Bản chất của sự sai khác không nằm ở văn tự, mà nằm ở căn cơ và trí tuệ của người tiếp nhận.

Câu hỏi 6.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Đó là cảnh giới rất sâu xa bất khả tư nghì của chư Phật, chẳng phải chỗ hay biết của hàng nhị thừa, và cũng chẳng phải chỗ theo kịp của ngôi thập trụ Bồ Tát, chỉ có Phật với Phật mới hay hiểu thấu rốt ráo." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Nếu cảnh giới “một âm thanh ứng hiện tất cả giọng tiếng” chỉ có Phật mới thấu rốt ráo, vậy thì những Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, họ đang tiếp cận nghĩa lý ở mức độ nào? Làm thế nào để họ có đủ tự tin rằng mình đang “tùy thuận” được Phật trí, dù chưa thực chứng?"

Trả lời:

Câu hỏi này kinh đã giải đáp ngay từ đầu Phẩm Thuyết Pháp khi mô tả các Bồ tát có mặt trong hội: dù chưa đạt đến cảnh giới rốt ráo, các vị ấy vẫn “giữ chí bất động, hàng trăm nghìn muôn ức kiếp bao nhiêu pháp môn đều hiện rõ ở trước. Được trí huệ lớn, thông suốt các pháp, phân biệt rõ ràng, tánh, tướng chơn thực, không có vắn dài, tỏ rõ phân minh. Lại hay biết mọi căn tánh khéo léo, dùng môn tổng trì vô ngại biện tài của chư Phật chuyển xe diệu pháp mà tùy thuận những người năng chuyển.”

Bồ tát sơ phát tâm tiếp cận giáo pháp thông qua ba pháp Văn-Tư -Tu: nghe/đọc kinh, tư duy nghĩa lý của kinh, áp dụng và đối chiếu với thực tế tâm mình. Sự tự tin đến từ sự trung thành với chánh pháp, kinh văn và chí nguyện độ tha không nhàm mỏi.

Câu hỏi 7

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Kinh nầy vốn từ trong nhà chư Phật mà ra, đi đến chỗ hết thảy chúng sanh phát tâm Bồ Đề, và trụ ở nơi các Vị Bồ Tát sở trụ." (Phẩm Mười Công Đức)

Câu hỏi: Ba mệnh đề “từ nhà chư Phật mà ra”, “đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Đề”, “trụ ở Bồ Tát sở trụ” có phải đang mô tả một vòng vận hành khép kín của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân? Xin giải thích rõ hơn về “ngôi nhà chư Phật” ở đây là gì?"

Trả lời:

“Nhà chư Phật” dụ cho Tâm Đại Bi, là tâm từ bi rộng lớn của chư Phật muốn độ thoát hết thảy chúng sanh.

“Đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Đề” dụ cho các bồ tát muốn viên mãn tự độ và độ tha.

“Trụ ở Bồ Tát sở trụ” dụ cho người gìn giữ giáo pháp”

Câu hỏi 8

Trích đoạn: "Người trì kinh nầy... tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba)

Câu hỏi: "Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ lại có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh sao? Điều này có nghĩa là “đại bi” và “phương tiện” có thể vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn sao?"

Trả lời:

Thuyền trưởng tuy thân mắc bệnh nặng, nhưng có mong muốn mãnh liệt muốn giúp người, lại còn có trong tay phương tiện cao cấp để hỗ trợ đưa người sang sông, liệu vị thuyền trưởng này có giúp người được chăng?

Câu hỏi 9

Trích đoạn: "Người đó cũng ví như vị phu nhân của nhà vua mới sanh ra thái tử... Tuy còn thơ ấu chẳng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính, và cùng với các con vua khác kết làm bằng hữu." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ tư)

Câu hỏi: "Ví dụ “thái tử sơ sinh” rất thâm thúy: phẩm vị không đến từ năng lực, mà đến từ dòng dõi (Phật tử) chăng? Quan điểm này đối với tinh thần bình đẳng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” trong Phật giáo có mâu thuẫn không?"

Trả lời:

“Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh” là nói khả năng thành Phật bình đẳng với mọi chúng sanh, chứ không nói chúng sanh và chư Bồ Tát có trí tuệ bình đẳng.

Đoạn kinh ngay phía trên viết: “Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy dù chuyển đọc một lượt, dù một bài kệ, cho đến một câu thì được tư tưởng mạnh mẽ. Tuy chưa độ mình mà có thể độ cho người khác, và cùng các Bồ Tát để làm thân thuộc.”

Thái tử dù còn thơ ấu đã là người kế vị, không phải vì tài giỏi hơn người khác, mà vì thái tử đã bước vào dòng của những người sẽ trị vì. Bồ Tát phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, là đã trở thành cùng dòng họ, thân thuộc với các Đại Bồ Tát, có thể truyền thừa giáo pháp.

Câu hỏi 10

Trích đoạn: "Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy... người đó tuy lại bị đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu, mà lại hay thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ năm)

Câu hỏi: 'Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh là ẩn dụ cho điều gì? Nếu là sự chuyển hóa tâm thức, thì đây có phải là pháp tu “đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm?"

Trả lời:

Cũng như câu “Mê nghe kinh trọn kiếp, ngộ chỉ một sát na”

Câu hỏi 11

Trích đoạn: "Ví như con vua tuy còn thơ ấu, nếu khi nhà vua đi tuần du hay khi bị bệnh thì nhà vua ủy thác cho thái tử lãnh trị việc nước... đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ sáu)

Câu hỏi: "Ở đây, người trì kinh chưa trụ Sơ địa nhưng thuyết pháp lại có hiệu quả ngang với Phật. Điều này đặt ra một câu hỏi nghiêm túc: Thẩm quyền giáo hóa nằm ở chứng lượng bản thân, hay ở sự trung thành với lời Phật dạy? Nếu một người phàm phu y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức ấy thuộc về kinh, về Phật, hay về chính vị phàm phu ấy?"

Trả lời:

Hình ảnh thái tử nhỏ được vua ủy thác trị nước đã nói rõ: “Thái tử khi ấy y theo mệnh lệnh của vua, theo đúng như pháp truyền lệnh cho các quần thần, bá quan văn võ, đem chánh hóa đi truyền dạy cho nhân dân khắp nước, đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác.”

Câu hỏi 12

Trích đoạn: "Người thiện nam, thiện nữ đó... chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ bảy)

Câu hỏi: "Đây như là một tuyên bố đốn ngộ triệt để: từ phàm phu nhảy vọt lên Thất địa. Vậy “vô sanh pháp nhẫn” ở đây tương đương với địa vị nào? Và “lục độ tự nhiên hiện ra” có nghĩa là hành giả không cần trải qua vô số kiếp tu tập hạnh Ba-la-mật như giáo lý thông thường, hay đó là kết quả của vô số kiếp tu tập trong quá khứ nay được kinh này khai mở?"

Trả lời:

Câu trả lời nằm trong cùng đoạn này, ngay phía trên, kinh đã nói rõ điều kiện và địa vị thành tựu: “Nếu người thiện nam, thiện nữ nào dù khi Phật còn tại thế, hay sau khi Phật diệt độ, được nghe kinh nầy mà vui mừng tin theo, lại hay phát khởi tâm hy hữu, mà thọ trì, đọc tụng, giải nói, viết chép, theo đúng lý thuyết tu hành, phát tâm Bồ Đề khởi ra mọi căn lành, gây ý đại bi muốn cứu độ cho hết thảy chúng sanh khổ não mà chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát.”

Câu hỏi 13

Trích đoạn: "Những nghiệp chướng nặng nề xưa kia còn lại, nhất thời liền phải tiêu tan, mà được thanh tịnh. Và lại được biện tài lớn, lần lượt trang nghiêm các pháp ba la mật... phân thân rải thể khéo léo ở khắp mười phương quốc độ để cứu vớt hết thảy chúng sanh đang bị khổ cực ở trong hai mươi lăm cõi, đều khiến cho được giải thoát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ chín)

Câu hỏi: "Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây là gì? Có phải sức mạnh của kinh như một dòng nước cuốn trôi tất cả nghiệp cũ, hay chính trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh đã làm tan rã gốc rễ vô minh? Nếu là vế sau, thì sự “tiêu tan nhất thời” này khác gì với sự chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới-định-huệ thông thường?"

Trả lời:

Gốc của nghiệp là vô minh. Khi tâm thanh tịnh thì dừng hiện nghiệp, dứt nhuận chi vô minh và căn bản vô minh. Khi trí tuệ phát sinh thì dừng dứt toàn bộ gốc rễ vô minh, vô minh trụ địa không còn chỗ trú thì thanh tịnh được mọi nghiệp quá khứ, vị lai.

Câu hỏi 14

Trích đoạn: "Ở chốn phàm phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu hay phát khởi ra vô số tăng kỳ đại thệ sâu rộng. Lại hay phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh thành tựu đại bi... dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ mười)

Câu hỏi: “Pháp vân địa” là địa vị gần với Phật quả. Kinh mô tả một phàm phu, thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị ấy. Xin có thể giải thích rõ hơn: Đây là sự thăng tiến thực tế về mặt tâm linh, hay là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai? “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại?"

Trả lời:

Đây là sự vi diệu của giáo pháp. Có khả năng biến một phàm phu, lần lượt vượt qua các địa, và trở thành một vị Phật ở vị lai.

Câu hỏi 15

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Như vậy thì kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nầy có sức đại oai thần, không gì là tôn hơn, hay khiến cho những kẻ phàm phu đều được chứng thánh quả, vĩnh viễn xa lìa sanh tử, được vui tự tại. Vì vậy mà kinh nầy gọi là Vô Lượng Nghĩa." (Phẩm Mười Công Đức, tổng kết mười công đức)

Câu hỏi: "Kinh đưa ra một kết luận gần như tuyệt đối: Phàm phu nương kinh này có thể chứng thánh quả. Vậy thánh quả ở đây nên hiểu là quả vị giải thoát rốt ráo, hay là một trạng thái “phàm phu Bồ tát” đặc biệt - tức thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu?"

Trả lời:

Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa xiển dương một sự thật mà Thầy Lý Tứ thường dạy học trò: Phật đạo là đạo giác ngộ. Ranh giới giữa phàm và thánh nằm ở tâm mê hay ngộ, dù mang thân phàm phu, nhưng giác ngộ thì tâm thức có thể trở thành một bậc thánh, và có thể thành tựu những điều cần thành tựu ngay trong hiện đời này.

Cảm ơn bác Pháp Quang. Chúc bác Pháp Quang thật nhiều sức khỏe !!!

Kính Thầy

Con, Lý Hiền Long - MĐ 0863" (Hết thư)

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau:

👉 https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

06/06/2026

LÝ TỨ

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 86.2026 với chủ đề: Lý Hiền Long Trả Lời Hành Giả Ph

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 86.2026 với chủ đề: Lý Hiền Long Trả Lời Hành Giả Ph

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 86.2026 với chủ đề: Lý Hiền Long Trả Lời Hành Giả Ph

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời số 87.2026 với chủ đề: Lý Thái Đăng Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!

MB 857 Lý Diệu Sinh 06.06.2026

 

Các bạn !!!

Sư Huynh Lý Thái Đăng (TN 0147) là một trong những "cây đại thụ của Lý Gia Tây Nguyên"...!!! Hiện SH đã nghỉ hưu và sinh sống tại Đắk Lắk...!!!

Sau đây là trả lời của SH ấy:

"Kính thưa bác Pháp Quang !

Nhận được 15 câu hỏi của bác đặt ra thông qua chuyên mục “Bạn đọc hỏi – Lý Tứ trả lời”, nhưng mong muốn “Quan kỳ đệ tử, tri kỳ sư” (Nhìn vào cách chơi cờ của học trò, chắc chắn biết được cảnh giới cờ của người thầy cao hay thấp). Nhờ vậy mà bản thân tôi cùng các huynh đệ có dịp thực hành ba môn học đang được Thầy Lý Tứ triển khai, đó là “Thấu thị môn – Thẩm sát môn và Đẳng ngữ môn”, quả thật yêu cầu của bác là một duyên lành, một món quà vô cùng ý nghĩa đối với học trò Lý gia trong thời điểm hiện nay.

Trước hết xin giới thiệu với bác: Tôi là Lý Thái Đăng – U70, nay đang nghỉ hưu tại Dak Lak.

Sau đây tôi xin lần lượt trả lời các câu hỏi đề ra:

1.

Trích đoạn: "Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quán sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Vì sao các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp? Vì sao quán sát điều này lại được Vô Lượng Nghĩa? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"

Trả lời:

a) Vì sao các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp?

Chữ Pháp theo ý nghĩa của Phật dạy, được Thầy Lý Tứ giảng giải là những quan điểm quan niệm do ai đó đặt ra... Pháp là sản phẩm của nghĩ suy, do vậy khi nghĩ suy về ngọn lửa thì thông tin về nghĩ suy không có tánh nóng (gọi là không tự tánh; không có hình tướng (gọi là không tự tướng) không là chính nó (không tự ngã).

Phật dạy: “Nhất thiết Phật ngữ tâm”; “Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh”. Khi giác ngộ Lục Tổ giác ngộ đã thốt lên:

1. Nào dè tự tánh vốn tự thanh tịnh

2. Nào dè tự tánh vốn không sinh không diệt

3. Nào dè tự tánh vốn tự đầy đủ

4. Nào dè tự tánh vốn không dao động

5. Nào dè tự tánh liễu tri muôn pháp

Khi vị giác ngộ, thực chứng cảnh giới, thì nhận ra rằng: Tánh của pháp bản lai rỗng lặng, trong lòng không có hai pháp.

b) Vì sao quán sát điều này lại được Vô Lượng Nghĩa?

Trong kinh ghi rõ “Có một Pháp môn hay làm cho Bồ Tát Ma Ha Tát chóng được đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”. Pháp môn đó tên là Vô Lượng Nghĩa.

Điều kiện để "Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quán sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp."

Giống như người mang cặp kính màu nay bỏ cặp kính xuống thì không bị các màu sắc của cặp kính che chướng, ngăn ngại.

Như người bị bệnh nhặm mắt thấy quầng đèn, hoa đốm, khi được chữa lành con mắt, chẳng còn ảo giác về hoa đốm quầng đèn, nên cái nhìn rỗng rang thanh tịnh.

Người có cái nhìn rỗng rang thanh tịnh gọi là người sáng mắt, giác ngộ diệt đế, người này đủ tư cách đi học hội hoạ… Như vị Bồ Tát trong lòng rỗng rang thanh tịnh, không còn đối đãi hai pháp, chấm dứt giác quán, giác ngộ diệt đế, tánh giác hiện ra, người học lấy tánh giác làm phương tiện, trực nhận vấn đề, để học tập Đạo Đế, lúc đó mới gọi là đủ tư cách cắp sách tới trường, cầu bậc Vô Tu Vô Chứng chỉ bày pháp môn Vô Lượng Nghĩa.

2.

Trích đoạn: "Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Vì sao Vô tướng là Thật tướng? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"

Trả lời: Đoạn kinh trên trích trong phẩm Thuyết Pháp: “Bồ tát quán sát kỹ lưỡng nguồn gốc bốn tướng như thế, đều biết cả rồi. Lại quán sát nơi Sanh, Trụ, Dị Diệt. Quán như thế rồi mà vào căn tánh ham muốn của chúng sanh, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là “vô tướng” vậy. Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là thật tướng vậy”.

Giải thích: Vì chúng sanh khổ nên Phật ra đời, chúng sanh nhiều bệnh nên Phật có nhiều thuốc, bệnh nào thuốc nấy, điều trị hết bệnh hết thuốc, gọi là “Vô tướng”. Không còn bệnh, không còn thuốc tức là thật tướng.

3.

Trích đoạn: "Vả lại, thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế... Thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Một mặt, kinh nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”; mặt khác, Bồ tát lại quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt”. Hai cái thấy này có trái ngược nhau không? Nếu có thì vì sao và nếu không thì vì sao, xin giải thích rõ?"

Trả lời: Trước hết về ý nghĩa đoạn trích "Vả lại, thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế...” nói lên quy luật “Sanh, Trụ, Dị, Diệt” của các Pháp. Quan điểm quan niệm được “Sanh” ra, tồn tại hay “Trụ” một thời gian, thay đổi, biến đổi “Dị” theo năm tháng và cuối cùng chấm dứt “Diệt”một pháp hay quan điểm quan niệm.

Còn câu, kinh nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt” là chơn thiệt ngữ, là Niết Bàn an vui có sẵn trong mỗi hữu tình. Kinh Bát Nhã có ghi rõ cảnh giới “Vô Khổ Tập Diệt Đạo, Vô Trí Diệc Vô Đắc”. Nhưng hữu tình do “Lấy thức làm ta, làm ngã của ta, làm tự ngã của ta” nên “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt” che chướng Niết Bàn.

Người học nhận ra: “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt” được gọi là giác, thấu tỏ “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt” là tâm chúng sanh, do vậy tinh tấn học tập lấy “Vô niệm làm tông, vô tướng làm thể, trụ nơi vô trụ” làm kim chỉ nam, khi hoát nhiên nhập được cảnh giới “Vô niệm tức niệm nam mô, vô tâm đích thực qua bờ bên kia”(Trích - Nhạn Quá Trường Không - Lý Tứ) gọi là ngộ.

4.

Trích đoạn: "Vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì có phải tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó? Và “vô tướng” làm thế nào để “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó?"

Trả lời: Trong Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh:

"Thật vô hữu pháp, Như Lai đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề." (Thật không có một pháp nào để Như Lai chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.)

Trong tác phẩm “Phật Giáo và Thiền” Thầy Lý Tứ giảng giải:

“Nói cho cùng, chỉ vì giải quyết vấn nạn ‘thân thọ tâm pháp’ cho ba thừa mà Phật bày ra các món phương tiện;

Y nơi phương tiện đặt tên, nhân nơi tên mà lý giải;

Lý giải có đầu đuôi khúc chiết gọi là giáo lý;

Thông lý gọi giác;

Giác viên gọi ngộ;

Liễu ngộ gọi thông;

Tông thông gọi chứng;

Nơi chứng thấy trống không;

Trống không thành đạo;

Nơi đạo vô ngôn;

Vô ngôn vô tướng;

Vô tướng thấy thiệt;

Thấy thiệt biết vô; nên Phật dạy:

“Thiệt tướng là vô tướng”.

5.

Trích đoạn: "Lúc ban đầu Ta từ chốn Phụ vương, đi đến thành Ba La Nại... khi quay bánh xe pháp Tứ đế, cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Nay ở nơi đây lại diễn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa và cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Vì vậy lời nói ban đầu, lời nói chặng giữa và lời nói ngày nay văn tự tuy là một, nhưng ý nghĩa có khác." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Văn tự là một mà lại có sai khác về ý nghĩa. Vậy bản chất sự sai khác này là gì?"

Trả lời: Văn tự là công cụ, phương tiện giống như một con dao, công cụ (con dao, văn tự…) không có tánh cứu người hay giết người, không có tánh vui hay buồn, thiện hay ác. Vấn đề người cầm dao và động cơ mục đích của người sử dụng con dao khác nhau sẽ cho ra kết quả khác nhau. Con dao trong tay bác sĩ có thể cứu người, con dao trong tay đồ tể có thể hại vật.

Trong Phật đạo Bậc giác ngộ Vô Tu Tô Chứng thiện xảo phương tiện thì “Tất cả pháp đều là Phật pháp”. Đối với phàm phu, lấy Kinh Bát Nhã ra mà đọc tụng, giảng giải thì kết quả cũng cho ra nghĩa thế gian. Giống như người không sáng mắt, dù có chỉ bày tỉ mỉ các loại màu sắc xanh đỏ tím vàng… thì người này cũng chỉ cảm nhận được màu đen.

6.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Đó là cảnh giới rất sâu xa bất khả tư nghì của chư Phật, chẳng phải chỗ hay biết của hàng nhị thừa, và cũng chẳng phải chỗ theo kịp của ngôi thập trụ Bồ Tát, chỉ có Phật với Phật mới hay hiểu thấu rốt ráo." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Nếu cảnh giới “một âm thanh ứng hiện tất cả giọng tiếng” chỉ có Phật mới thấu rốt ráo, vậy thì những Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, họ đang tiếp cận nghĩa lý ở mức độ nào? Làm thế nào để họ có đủ tự tin rằng mình đang “tùy thuận” được Phật trí, dù chưa thực chứng?"

Trả lời: Nền giáo dục của Phật đạo không ngoài Tứ Đế và 37 phẩm – Tứ đế (khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế) như bốn cấp học; 37 phẩm (tứ niệm xứ; tứ chánh cần, tứ như ý túc; ngũ căn; ngũ lực; thất giác chi; bát chánh đạo) như ba mươi bảy môn học.

Bồ tát sơ phát tâm là phát đại nguyện trên con đường học tập của Bồ Tát, bao gồm: Phát tâm; Phục tâm; Minh tâm; Xuất đáo bồ đề; Vô thượng Bồ Đề.

Vậy: “Làm thế nào để họ có đủ tự tin rằng mình đang “tùy thuận” được Phật trí, dù chưa thực chứng?”

Như người bệnh cần tìm thuốc uống: Ban đầu được giới thiệu thầy thuốc, dám lấy thuốc và uống gọi là tín tâm; tiếp theo thấy bệnh thuyên giảm, lòng tin tăng lên mãnh liệt như cây con mọc rễ gọi là tín căn, người này một lòng một dạ tin tưởng thầy thuốc siêng năng điều trị cho hết bệnh gọi là tín lực…

Ngược lại: Uống 3 thang…7 thang, thậm chí uống năm này đến năm khác, uống từ lúc còn trẻ cho đến râu tóc bạc phơ, mà bệnh vẫn y nguyên thì người có trí cần coi lại.

Trong kinh Kinh Tăng Chi Bộ (Anguttara Nikāya), nội dung đại ý:

"Ở khu rừng nào mà các vị Tỳ-kheo có thể nghe được Chánh pháp, học được Chánh pháp, tu tập được Chánh pháp, thì dù bị xua đuổi cũng không nên bỏ đi.

Ở khu rừng nào mà các vị Tỳ-kheo không được nghe Chánh pháp, không được học Chánh pháp, không được tu tập Chánh pháp, thì dù được cung kính, được mời ở lại cũng không nên ở."

7.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Kinh nầy vốn từ trong nhà chư Phật mà ra, đi đến chỗ hết thảy chúng sanh phát tâm Bồ Đề, và trụ ở nơi các Vị Bồ Tát sở trụ." (Phẩm Mười Công Đức)

Câu hỏi: "Ba mệnh đề “từ nhà chư Phật mà ra”, “đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Đề”, “trụ ở Bồ Tát sở trụ” có phải đang mô tả một vòng vận hành khép kín của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân? Xin giải thích rõ hơn về “ngôi nhà chư Phật” ở đây là gì?"

Trả lời: Phật dạy: Tam Bảo Thường Trụ gồm có Phật Bảo; Pháp Bảo và Tăng Bảo. Phật có ba thân: Pháp thân, Báo thân, Hoá thân.

Pháp thân, còn gọi là Trí tuệ ví như kim cương, như vàng ròng;

Báo thân (nhục thân) như bao bì, túi gấm chứa đựng vàng bạc đá quý; Hoá thân (ứng thân) là sản phẩm được chế tác (hoá hiện, ứng hiện, thị hiện) cho người sử dụng hài lòng mong muốn như vương miện, hoa tai, dây chuyền…

Pháp Bảo là Kinh Phật; Tăng bảo là Vị chứa Phật Bảo và Pháp Bảo; Tông thông và Thuyết thông hay còn gọi là Đệ nhất Nghĩa Tăng.

Phật là người Thầy gốc (Bổn Sư); Bồ tát như đội ngũ giáo viên giảng giải và truyền tải nghĩa lý trong sách giáo khoa (Kinh Phật) đến với người học. Giúp người học trường “Phật Học Hiệu”, thành tựu mục tiêu giác ngộ, giải thoát và trí tuệ bát nhã.

Ngôi nhà Phật; Quốc độ Phật; Đại gia đình Vô Lậu… là các tên gọi của cảnh giới Như Lai… Có thể nhận biết thông qua tám tính chất “Thường Ngã Lạc Tịnh Từ Bi Hỉ Xả”.

8.

Trích đoạn: "Người trì kinh nầy... tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba)

Câu hỏi: "Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ lại có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh sao? Điều này có nghĩa là “đại bi” và “phương tiện” có thể vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn sao?"

Trả lời: Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba ghi rõ trong hai đoạn:

- Đoạn thứ 1: “Năng lực thứ ba bất khả tư nghì công đức của kinh nầy là: Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy, dù chuyển đọc một lượt, một bài kệ cho đến một câu, thông đạt trăm nghìn muôn ức nghĩa rồi. Tuy có phiền não cũng như không có phiền não, ra vào chốn sanh tử không có tư tưởng sợ sệt…

- Đoạn thứ 2: “Ví như thuyền trưởng, tuy mình mắc bệnh nặng, bốn thể chẳng đều, yên nghỉ ở bờ bên đây; nhưng có thuyền bè bền chắc, và thường sắm những dụng cụ để cung cấp cho mọi người đi sang qua bờ bên kia. Người trì kinh nầy... tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh. Nếu chúng sanh theo đúng lý thuyết mà tu hành, thì được qua khỏi chốn sanh tử”.

Giải thích:

Đoạn 1: Nếu có ai đó được nghe kinh nầy, đọc được ít hay nhiều về văn tự không quan trọng dù chuyển đọc một lượt, một bài kệ cho đến một câu mà người đó “thông đạt trăm nghìn muôn ức nghĩa”… thì cho ra kết quả: Tuy có phiền não cũng như không có phiền não, ra vào chốn sanh tử không có tư tưởng sợ sệt…

"Thông đạt trăm nghìn muôn ức nghĩa" (通達百千萬億義) có thể phân tích như sau:

• Thông: thông suốt, không bị ngăn ngại.

• Đạt: đạt đến, hiểu thấu.

• Trăm nghìn muôn ức: con số rất lớn, tượng trưng cho vô số.

• Nghĩa: ý nghĩa, đạo lý, chân lý được hàm chứa trong giáo pháp.

Vì vậy:

"Thông đạt trăm nghìn muôn ức nghĩa" là hiểu thấu suốt vô số ý nghĩa và đạo lý được hàm chứa trong một pháp, một câu kinh hay một lời dạy của Phật.

Giải thích Đoạn 2: Bồ Tát có thệ nguyện “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”. Muốn độ chúng sanh phải dấn thân vào ba cõi. Thân Bồ Tát sống trong ba cõi cũng thị hiện quy luật bệnh tật “Tứ đại không điều hoà”, "Vô minh già chết"…nhưng nhờ "Thông đạt trăm nghìn muôn ức nghĩa" và có kinh Đại thừa bền chắc nầy mà trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh như có thuyền bè bền chắc, và thường sắm những dụng cụ để cung cấp cho mọi người đi sang qua bờ bên kia.

“Trang biện Vô Lượng Nghĩa” có thể hiểu là:

Dùng vô số công đức, hạnh nguyện, trí tuệ và phương tiện để làm hiển lộ, làm trang nghiêm, làm sáng tỏ giáo pháp Vô Lượng Nghĩa.

“Nếu chúng sanh theo đúng lý thuyết mà tu hành, thì được qua khỏi chốn sanh tử”.

9.

Trích đoạn: "Người đó cũng ví như vị phu nhân của nhà vua mới sanh ra thái tử... Tuy còn thơ ấu chẳng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính, và cùng với các con vua khác kết làm bằng hữu." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ tư)

Câu hỏi: "Ví dụ “thái tử sơ sinh” rất thâm thúy: phẩm vị không đến từ năng lực, mà đến từ dòng dõi (Phật tử) chăng? Quan điểm này đối với tinh thần bình đẳng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” trong Phật giáo có mâu thuẫn không?"

Trả lời: Phẩm Mười Công Đức, năng lực thứ tư tán thán công đức của các vị Bồ Tát phát tâm !

Bồ Tát học tập theo con đường Phát tâm; Phục tâm; Minh tâm; Xuất đáo Bồ Đề; Vô Thượng Bồ Đề. Giai đoạn Phát tâm như em bé mới sanh, nhưng đã có năng lực cao quý ví như thái tử “dù mới được sinh ra một ngày, hai ngày cho đến bảy ngày; dù là một năm, hai năm cho đến bảy năm. Tuy còn thơ ấu chăng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính và cùng các con vua khác kết làm bằng hữu…”

Vị Bồ Tát có năng lực cao quý: Bởi được hoà quyện của hai thứ thông nuôi dưỡng Bồ Tát ngay từ khi mới phát đại nguyện. Chư Phật hay Tông thông là Quốc Vương; Kinh này hay Thuyết thông là Phu Nhân; Bồ tát sanh ra đã có Quốc Vương và Phu Nhân nuôi dưỡng bằng hai thứ thông, do vậy phẩm chất cao quý của Bồ Tát phát tâm có thể ví như thái tử mới sinh ra trong hoàng tộc.

Bàn về bình đẳng trong Phật đạo, khi chuyển tám thức (Tiền ngũ Thức; Ý thức; Mạt na Thức; A lại da Thức” thành Bốn trí (Thành sở tác trí; Diệu quan sát trí; Bình đẳng tánh trí; Đại viên cảnh trí” thì Bình đẳng tánh trí chỉ xuất hiện khi cái tôi, cái ta hay “Thất chủng ngã mạn” được chuyển hoá thành bất nhị.

10.

Trích đoạn: "Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy... người đó tuy lại bị đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu, mà lại hay thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ năm)

Câu hỏi: "Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh là ẩn dụ cho điều gì? Nếu là sự chuyển hóa tâm thức, thì đây có phải là pháp tu “đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm?"

Trả lời: Năng lực thứ năm bất khả tư nghì công đức của kinh này là: Có người thọ trì, đọc tụng, viết chép kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa rất cao siêu nhiệm màu này…. Thì công đức không thể nghĩ bàn.

Người đó dù bận rộn, kể cả phiền não ràng buộc, đang bị công việc phàm phu cột trói mà vẫn ưa thích Đại Đạo thêm một ngày, nếu ngày đó luân hồi sanh diệt một trăm kiếp, thì trăm kiếp cũng qua mau như một ngày, khiến cho các chúng sanh kia vui mừng tin theo.

Lợi ích của “Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa” là bất khả tư nghì, do vậy không dùng pháp tu “đoạn trừ tam tế” để luận bàn ở đây.

11.

Trích đoạn: "Ví như con vua tuy còn thơ ấu, nếu khi nhà vua đi tuần du hay khi bị bệnh thì nhà vua ủy thác cho thái tử lãnh trị việc nước... đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ sáu)

Câu hỏi: "Ở đây, người trì kinh chưa trụ Sơ địa nhưng thuyết pháp lại có hiệu quả ngang với Phật. Điều này đặt ra một câu hỏi nghiêm túc: Thẩm quyền giáo hóa nằm ở chứng lượng bản thân, hay ở sự trung thành với lời Phật dạy? Nếu một người phàm phu y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức ấy thuộc về kinh, về Phật, hay về chính vị phàm phu ấy?"

Trả lời:

Trích đoạn: (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ sáu) "Ví như con vua tuy còn thơ ấu, nếu khi nhà vua đi tuần du hay khi bị bệnh thì nhà vua ủy thác cho thái tử lãnh trị việc nước. Thái tử khi ấy y theo mệnh lệnh của vua, theo đúng như pháp truyền lệnh cho các quần thần, bá quan văn võ, đem chánh hoá đi truyền dạy cho nhân dân khắp nước, đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác."

Người thiện nam, thiện nữ thọ trì kinh nầy cũng lại như thế… Tuy chưa được trụ ở nơi ngôi Sơ địa bất động, nhưng y theo đúng lời Phật dạy dùng để thuyết giáo phô diễn. Chúng sanh nghe rồi một lòng tu hành để đoạn trừ phiền não mà đắc pháp, đắc quả cho đến đắc đạo”.

Có thể thông qua một ví dụ để thấu rõ đoạn kinh, năng lực thứ sáu:

Có một ông bố đi xa (hoặc mất), trước khi đi có để lại những lời chỉ dạy (hoặc di chúc) cho người con cả. Người con tuy chưa đủ kinh nghiệm cũng như trí tuệ chưa bằng cha, nhưng một lòng một dạ thực hành lời dạy của cha nhờ vậy mà cả nhà an định, đem lại nhiều lợi ích cho gia đình, giống như người cha đang điều hành không sai khác.

12.

Trích đoạn: "Người thiện nam, thiện nữ đó... chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ bảy)

Câu hỏi: "Đây như là một tuyên bố đốn ngộ triệt để: từ phàm phu nhảy vọt lên Thất địa. Vậy “vô sanh pháp nhẫn” ở đây tương đương với địa vị nào? Và “lục độ tự nhiên hiện ra” có nghĩa là hành giả không cần trải qua vô số kiếp tu tập hạnh Ba-la-mật như giáo lý thông thường, hay đó là kết quả của vô số kiếp tu tập trong quá khứ nay được kinh này khai mở?"

Trả lời: Trước hết trong đoạn kinh có ghi lại những ý quan trọng cần được nêu lên đó là: “Được nghe kinh này mà vui mừng, lại hay phát khởi tâm hy hữu, mà thọ trì, đọc tụng, giải nói, viết chép theo đúng lý thuyết tu hành, phát tâm Bồ Đề khởi ra mọi căn lành, gây ý đại bi muốn cứu độ cho hết thảy chúng sanh khổ não mà chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước và ở ngay thân này được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát”.

Đoạn kinh nêu lên lợi ích của việc “Được nghe kinh này mà vui mừng, lại hay phát khởi tâm hy hữu, mà thọ trì, đọc tụng, giải nói, viết chép theo đúng lý thuyết tu hành, phát tâm Bồ Đề khởi ra mọi căn lành, gây ý đại bi muốn cứu độ cho hết thảy chúng sanh khổ não” sẽ đưa đến công đức nhiều không thể tính hết, cụ thể là: “chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước và ở ngay thân này được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát”.

13.

Trích đoạn: "Những nghiệp chướng nặng nề xưa kia còn lại, nhất thời liền phải tiêu tan, mà được thanh tịnh. Và lại được biện tài lớn, lần lượt trang nghiêm các pháp ba la mật... phân thân rải thể khéo léo ở khắp mười phương quốc độ để cứu vớt hết thảy chúng sanh đang bị khổ cực ở trong hai mươi lăm cõi, đều khiến cho được giải thoát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ chín)

Câu hỏi: "Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây là gì? Có phải sức mạnh của kinh như một dòng nước cuốn trôi tất cả nghiệp cũ, hay chính trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh đã làm tan rã gốc rễ vô minh? Nếu là vế sau, thì sự “tiêu tan nhất thời” này khác gì với sự chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới-định-huệ thông thường?"

Trả lời: "Những nghiệp chướng nặng nề xưa kia còn lại, nhất thời liền phải tiêu tan, mà được thanh tịnh” là kết quả của việc “nghe kinh nầy mà vui mừng được điều chưa từng có, rồi thọ trì, đọc tụng, cúng dường, lại vì người khác giải nói phân biệt nghĩa của kinh nầy rộng ra”. Đây là năng lực không thể nghĩ bàn công đức của kinh nầy.

14

Trích đoạn: "Ở chốn phàm phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu hay phát khởi ra vô số tăng kỳ đại thệ sâu rộng. Lại hay phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh thành tựu đại bi... dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ mười)

Câu hỏi: “Pháp vân địa” là địa vị gần với Phật quả. Kinh mô tả một phàm phu, thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị ấy. Xin có thể giải thích rõ hơn: Đây là sự thăng tiến thực tế về mặt tâm linh, hay là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai? “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại?"

Trả lời: Pháp Vân Địa là Địa thứ 10 trong Thập Địa, còn có tên gọi khác là Diệu Giác Bồ Tát; Vô Sư Trí có khả năng Nổi Mây Mưa Pháp lợi lạc cho chúng sanh.

Trong Phật đạo không bàn về Tâm Linh nên không có sự thăng tiến trong lĩnh vực này. Còn có sự thọ ký hay không thì chỉ Phật mới rõ, nhưng tin tưởng vào lời Phật dạy sẽ phát sanh nhiều công đức.

Bồ Tát Pháp Vân Địa làm công hạnh: ‘Lại đem những phương pháp đã được này mà ban cho hết thảy chúng sanh được yên vui rồi dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa, ân đức thấm nhuần khắp cả, lòng từ cứu giúp không bờ bến, tiếp dắt chúng sanh khổ não, khiến cho thâm nhập vào con đường đạo. Vì vậy, người đó chẳng bao lâu được thành đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”.

15.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Như vậy thì kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nầy có sức đại oai thần, không gì là tôn hơn, hay khiến cho những kẻ phàm phu đều được chứng thánh quả, vĩnh viễn xa lìa sanh tử, được vui tự tại. Vì vậy mà kinh nầy gọi là Vô Lượng Nghĩa." (Phẩm Mười Công Đức, tổng kết mười công đức)

Câu hỏi: "Kinh đưa ra một kết luận gần như tuyệt đối: Phàm phu nương kinh này có thể chứng thánh quả. Vậy thánh quả ở đây nên hiểu là quả vị giải thoát rốt ráo, hay là một trạng thái “phàm phu Bồ tát” đặc biệt - tức thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu?"

Trả lời: “Phàm phu nương kinh này có thể chứng thánh quả”.

Thánh quả hay quả vị của bậc thánh được xác định:

Đối với Thanh văn quả vị cao nhất là A La Hán;

Đối với duyên giác quả vị cao nhất là Bích Chi Phật;

Còn phần câu hỏi: “hay là một trạng thái “phàm phu Bồ tát” đặc biệt - tức thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu?” thì chưa rõ ý người hỏi, có thể đoán mò ý muốn nói “Một vị Bồ tát đã thành tựu Trí Vô Lậu nhưng thị hiện như Bậc trưởng giả mặc chiếc áo hôi nhơ để hoá độ Gã Cùng Tử” không biết có đúng không ? – Nếu đúng thì đây là công hạnh của Bồ Tát, không phải quả vị của bậc thánh.

Ngày 05/06/2026

Học trò, TN 0147 – Lý Thái Đăng" (Hết thư)

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau:

👉 https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

06/06/2026

LÝ TỨ

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 87.2026 với chủ đề: Lý Thái Đăng Trả Lời Hành Giả Ph

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 87.2026 với chủ đề: Lý Thái Đăng Trả Lời Hành Giả Ph

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 87.2026 với chủ đề: Lý Thái Đăng Trả Lời Hành Giả Ph

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 87.2026 với chủ đề: Lý Thái Đăng Trả Lời Hành Giả Ph

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời số 88.2026 với chủ đề: Lý Chân Như Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!

MB 857 Lý Diệu Sinh 06.06.2026

 

Các bạn !!!

Chiều nay, nhận được trả lời của Lý Chân Như ở Sài Gòn và Lý Phúc Nhân ở Hà Nội...!!! Mình sẽ lần lượt đăng lên chuyên mục...!!!

Sau đây là trả lời của Lý Chân Như - MĐ 0665:

"Kính thưa Thầy Lý Tứ!

Kính thưa hành giả Pháp Quang!!!

Con là Lý Chân Như, học trò thứ 665 của Thầy Lý Tứ, con đang ở Miền Đông. Con xin phép được trả lời 15 câu hỏi của hành giả bằng thấy biết của con. Xin tri ân công đức của Thầy.

Câu hỏi 1:

Trích đoạn: "Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quan sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Vì sao các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp? Vì sao quán sát điều này lại được Vô Lượng Nghĩa? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"

Trả lời: Các Pháp rỗng lặng, không có hai pháp, vì bản chất các Pháp là: Không tự tánh – Không tự tướng – Không tự ngã vì các pháp là do duyên hợp. Khi các căn xúc đối với Trần, ta chạy theo những thấy nghe ngửi nếm xúc chạm nơi ngũ dục, rồi sinh ra các quan điểm, quan niệm về trần cảnh đó, gọi là các Pháp. Mà Phật chỉ ra rằng: Các Pháp này vô thường, do duyên hợp. Tức những quan điểm, quan niệm sinh khởi khi các căn xúc đối với trần ấy, không có chân lý, đúng với thời điểm này, sai với thời điểm khác. Đúng với người này, sai với người khác, đúng với quốc gia này nhưng lại sai với quốc gia khác. Phật chỉ ra rằng: “Các Pháp là vô thường, khi ta nương vào thứ vô thường là nhân của biến hoại, khổ đau, phiền não”. Phật cũng chỉ ra rằng: bản chất của các Pháp là thanh tịnh, không có tính trói buộc hay giải thoát. Sự trói buộc là do các căn của ta cấu nhiễm với Trần thiếu sáng suốt nên mới sinh ra những quan điểm, quan niệm nhị nguyên: đẹp – xấu, hơn– thua, đúng – sai, béo – gầy. Trong kinh Kim Cang Phật thuyết: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng." – Tức bất kỳ pháp nào có tướng, thì cái tướng ấy đích thị là tướng hư vọng.

Ví dụ: Nếu cái chén uống trà, ta mặc định rằng cái chén này chỉ dùng để uống nước, không dùng để uống rượu, không dùng để uống thuốc được … thì ta chỉ giới hạn góc nhìn về cái chén này ở cái nghĩa uống trà. Sự giới hạn này do quan điểm quan niệm của ta mặc định cái chén này dùng để uống trà. Bởi vậy, khi ta phá bỏ cái “quan điểm quan niệm” cái chén để uống trà, thì cái chén ấy sẽ có … vô lượng nghĩa mà ta có thể hữu dụng trong sinh hoạt.

Câu 2:

Trích đoạn: "Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Vì sao Vô tướng là Thật tướng? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"

Trả lời: Con xin bổ sung đầy đủ bản dịch của Hoà thượng Thích Trí Tịnh trích đoạn như sau: "Vì ham muốn của chúng sinh vô lượng nên thuyết pháp vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng nên nghĩa cũng vô lượng. Vô lượng nghĩa từ một pháp sinh. Một pháp ấy tức là vô tướng. Vô tướng như thế, không tướng mà chẳng phải không tướng, chẳng phải không tướng mà không tướng, đó gọi là thật tướng. Đã gọi là thật tướng thì không lớn không nhỏ, không sinh không diệt, không trụ không động, không tiến không lùi; cũng như hư không, không có hai pháp."

Vô tướng là nhất tướng, nhất tướng là thật tướng, nghĩa rằng: “Bản chất của các pháp là không có tự tướng.” Tức là các Pháp vốn tự nó thanh tịnh, mọi “tướng” do quan điểm, quan niệm định đặt đều là tướng hư vọng, không có chân lý.

Ví dụ: Cái bàn này dùng để học bài, là một pháp. Thực ra cái bàn này đủ duyên thì là cái bàn học, hết duyên gẫy mục thì làm củi đun. Cái bàn học này không có tướng cố định là cái bàn học (tức không có tự tướng, không là chính nó). Đủ duyên thì là bàn học, hết duyên là củi đun.

Câu 3: Trích đoạn: "Vả lại, thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế... Thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Một mặt, kinh nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”; mặt khác, Bồ tát lại quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt”. Hai cái thấy này có trái ngược nhau không? Nếu có thì vì sao và nếu không thì vì sao, xin giải thích rõ?"

Trả lời:

- Tánh tướng của các pháp bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt là nói về bản chất.

Ví dụ: Một bông hoa sen không có tánh thơm hay thối, không có tướng hồng hay trắng, tất cả là do quan điểm định đặt của thế gian cho bông sen ấy. Bông sen và tánh tướng của bông sen ấy tự nó thanh tịnh khi chưa có sự định đặt của con người.

- “Niệm niệm sinh diệt chẳng ngừng không sinh diệt” – là nói về hiện tượng. Vừa khởi lên đã thay đổi. Ý niệm này mất đi thì ý niệm khác sinh ra. Không có một niệm nào tồn tại cố định.

Ví dụ: Hôm qua bác còn rất thân thiết với ông hàng xóm và nói: “Tôi rất tin tưởng ông bạn”. Nhưng sáng nay, bác phát hiện ông hàng xóm vô vườn nhà bác vặt trộm rất nhiều trái sầu riêng đem bán. Thì cái ý niệm “Tôi rất tin tưởng ông bạn” hôm qua chắc chắn sẽ thay đổi khi thấy hành vi ăn trộm của ông bạn hàng xóm.

Câu 4. Trích đoạn: "Vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì có phải tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó? Và "vô tướng” làm thế nào để “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó?"

Trả lời: Ta nhận thức bản chất vạn pháp đều là … vô tướng để ta không bị dính chấp vào bất kỳ tướng cố định nào gây trở ngại cho thính pháp! Trong kinh Kim Cang Phật thuyết: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” … tức là cứ thấy Pháp nào có tướng, thì cái tướng ấy đích thị là … tướng hư vọng.

Câu hỏi 5.

Trích đoạn: "Lúc ban đầu Ta từ chốn Phụ vương, đi đến thành Ba La Nại... khi quay bánh xe pháp Tứ đế, cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Nay ở nơi đây lại diễn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa và cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Vì vậy lời nói ban đầu, lời nói chặng giữa và lời nói ngày nay văn tự tuy là một, nhưng ý nghĩa có khác." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Văn tự là một mà lại có sai khác về ý nghĩa. Vậy bản chất sự sai khác này là gì?"

Trả lời: Văn tự là một mà lại có sai khác về ý nghĩa, bản chất sự sai khác này là đối tượng thính pháp khác nhau, do nguyện của các đối tượng thính pháp này khác nhau: Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát.

Câu hỏi 6.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Đó là cảnh giới rất sâu xa bất khả tư nghì của chư Phật, chẳng phải chỗ hay biết của hàng nhị thừa, và cũng chẳng phải chỗ theo kịp của ngôi thập trụ Bồ Tát, chỉ có Phật với Phật mới hay hiểu thấu rốt ráo." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Nếu cảnh giới “một âm thanh ứng hiện tất cả giọng tiếng” chỉ có Phật mới thấu rốt ráo, vậy thì những Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, họ đang tiếp cận nghĩa lý ở mức độ nào? Làm thế nào để họ có đủ tự tin rằng mình đang “tùy thuận” được Phật trí, dù chưa thực chứng?"

Trả lời: Bất kỳ người tu hành nào đều phải học tập qua tứ niệm xứ và ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Những vị Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, khi có “nhất tâm như ý túc” trên con đường tu học, thì niềm tin vào đức Phật, vào giáo pháp sẽ mọc rễ trong tâm thức vị này. Ban đầu, vị Bồ tát phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh, họ dựa vào “như lý tác ý”, nương vào Phật thần lực để tiếp cận nghĩa ở nhiều mức độ khác nhau. Học Phật Pháp là học từ kiến thức cơ bản đến chuyên sâu theo thứ lớp, cho nên dù chưa thực chứng nhưng cũng có thể thấu hiểu giáo pháp nhờ học tập từ người thầy, từ kinh điển để có những kiến thức chắc thật của mình.

Câu hỏi 7.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Kinh nầy vốn từ trong nhà chư Phật mà ra, đi đến chỗ hết thảy chúng sanh phát tâm Bồ Đề, và trụ ở nơi các Vị Bồ Tát sở trụ." (Phẩm Mười Công Đức)

Câu hỏi: "Ba mệnh đề “từ nhà chư Phật mà ra”, “đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Để”, “trụ ở Bồ Tát sở trụ” có phải đang mô tả một vòng vận hành khép kín của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân? Xin giải thích rõ hơn về “ngôi nhà chư Phật” ở đây là gì?"

Trả lời:

a) Kinh này từ nhà Phật đi ra. Đi đến chỗ chúng sanh phát tâm Bồ Đề. “Trụ ở Bồ Tát sở trụ” .Đây là vòng tròn của: Pháp thân, Báo thân, Ứng thân. Câu này đúng.

b) Xin giải thích rõ hơn về “ngôi nhà chư Phật” ở đây là gì? Ngôi nhà chư Phật ở đây là Phật tánh, là nơi vốn có trong mỗi chúng sanh. Như lời Phật thuyết: Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành. Việc tìm lại Phật tánh sẵn có trong mỗi chúng sanh được ví như việc “trở về ngôi nhà bổn tâm vốn thanh tịnh, vốn tự Niết bàn”.

Câu hỏi 8.

Trích đoạn: "Người trì kinh nầy... tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba)

Câu hỏi: "Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ lại có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh sao? Điều này có nghĩa là “đại bi” và “phương tiện” có thể vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn sao?"

Trả lời: Chỉ cần là người “trì kinh nầy” thì dù thân có vướng mắc nghiệp ngũ lậu, bệnh nặng nơi thân tâm thì cũng sẽ tìm được cứu cánh Niết bàn. Một người mà đã có phương tiện và tâm lượng đại bi rộng lớn rồi thì nhìn thấy người từng khổ như mình, có phát tâm muốn cứu giúp hay không khi phương tiện sẵn có trong tay rồi?

Câu hỏi 9.

Trích đoạn: "Người đó cũng ví như vị phu nhân của nhà vua mới sanh ra thái tử... Tuy còn thơ ấu chẳng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính, và cùng với các con vua khác kết làm bằng hữu." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ tư)

Câu hỏi: "Ví dụ “thái tử sơ sinh” rất thâm thúy: phẩm vị không đến từ năng lực, mà đến từ dòng dõi (Phật tử) chăng? Quan điểm này đối với tinh thần bình đẳng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” trong Phật giáo có mâu thuẫn không?"

Trả lời:

a) Trong Kinh Duy Ma Cật có tư tưởng rằng Bồ-tát có thể thị hiện: Giàu sang, Nghèo khổ, Bệnh tật, Người hèn kém, Người bị xã hội xem thường. Mục đích của sự thị hiện này để tuỳ duyên độ sinh. Vị “Thái tử sơ sinh” xuất thân từ con trai của vua Tịnh Phạn, nhưng họ phải có “hạt giống” Phật thì mới có thể bước chân vào con đường tu tập, rồi cũng đi vào các ngôi làng làm hành khất để có đời sống khiêm hạ, tạo cơ hội cho cư sĩ bố thí. Ví dụ về hạt giống Phật trong thái tử sơ sinh là: Theo kinh điển chính thống: Thái tử sơ sinh không phải là Phật đã thành đạo. Ngài là Bồ-tát trong đời cuối cùng. Sau 35 năm tu học và thiền định, dưới cội Bồ Đề Đạo Tràng, Ngài mới chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác và trở thành Thích Ca Mâu Ni. Vì vậy, nếu nói ngắn gọn: Chủng tánh Phật của Thái tử Tất Đạt Đa là chủng tánh của một vị Bồ-tát đã viên mãn ba-la-mật qua vô lượng kiếp, chỉ còn một đời cuối cùng để thành Phật. Theo Đại thừa, đó cũng là sự hiển lộ gần viên mãn của Phật tánh vốn có nơi tất cả chúng sinh.

b) Không có sự mâu thuẫn về quan điểm: Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, vì trước khi thái tử Tất Đạt Đa thành tựu Chánh đẳng Chánh giác, ông cũng chỉ là một phàm phu.

Câu hỏi 10.

Trích đoạn: "Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy... người đó tuy lại bị đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu, mà lại hay thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ năm)

Câu hỏi: "Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh là ẩn dụ cho điều gì? Nếu là sự chuyển hóa tâm thức, thì đây có phải là pháp tu“đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm?"

Trả lời:

a) Câu khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” là nói khả năng tiến tu của một người không lệ thuộc vào thời gian, không gian vật lý. Mà muốn nói rằng: Nếu vị tu hành nào học đúng chánh pháp, chăm chỉ hành trì kinh này sẽ có ngày bùng vỡ trong một sát na nhận thức. Như Lục Tổ Huệ Năng lúc gánh củi nghe câu kinh: “Bất ưng trụ sắc sanh tâm. Bất ưng trụ thanh hương vị xúc pháp sinh tâm”. Rồi hoát nhiên giác ngộ bổn tâm thanh tịnh, chứng quả Niết bàn.

b) Sự chuyển hoá tâm thức, là sự “đốn ngộ” trong kinh đại thừa, tức là khả năng trực nhận chân lý ngay nơi một niệm, không phải do suy luận từng bước mà thấy thẳng được bản chất của tâm và các pháp. Không phải là pháp tu “đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm như bác nói.

Câu hỏi 11.

Trích đoạn: "Ví như con vua tuy còn thơ ấu, nếu khi nhà vua đi tuần du hay khi bị bệnh thì nhà vua ủy thác cho thái tử lãnh trị việc nước... đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ sáu)

Câu hỏi: "Ở đây, người trì kinh chưa trụ Sơ địa nhưng thuyết pháp lại có hiệu quả ngang với Phật. Điều này đặt ra một câu hỏi nghiêm túc: Thẩm quyền giáo hoá nằm ở chứng lượng bản thân, hay ở sự trung thành với lời Phật dạy? Nếu một người phàm phu y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức ấy thuộc về kinh, về Phật, hay về chính vị phàm phu ấy?"

Trả lời: Câu hỏi ở đây đã nêu rõ trong Phẩm Mười Công Đức: Vị vua thơ ấu cai trị đất nước hay nhà vua lúc cai trị đều không sai khác khi có sự uỷ thác. Vậy vị phàm phu y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức của ai, người ấy hưởng, đâu phân bì phàm phu hay bậc thánh. Vì khi Phật sắp nhập Niết bàn, ngài A Nan có hỏi: “Sau khi ngài nhập niết bàn, tăng đoàn sẽ nương tựa vào đâu?" Đức Phật trả lời rằng: “Sau khi Ta diệt độ, giới luật sẽ là thầy của các ông.” Vậy vị nào y kinh thuyết pháp tức là y vào giới luật, mà giúp người đắc đạo, thì đã làm đúng tinh thần đức Phật truyền trao.

Câu 12.

Trích đoạn: "Người thiện nam, thiện nữ đó... chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ bảy)

Câu hỏi: "Đây như là một tuyên bố đốn ngộ triệt để: từ phàm phu nhảy vọt lên Thất địa. Vậy “vô sanh pháp nhẫn” ở đây tương đương với địa vị nào? Và “lục độ tự nhiên hiện ra” có nghĩa là hành giả không cần trải qua vô số kiếp tu tập hạnh Ba-la-mật như giáo lý thông thường, hay đó là kết quả của vô số kiếp tu tập trong quá khứ nay được kinh này khai mở?"

Trả lời: Nhiều người bị hiểu lầm khi đọc văn tự kinh: “Người thiện nam, thiện nữ… chưa tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước và ngay thân này thành tựu vô sanh pháp nhẫn, lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát”.

Ý kinh không nhất thiết nói rằng: Không cần tu bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ. Tự nhiên thành Thất Địa. Mà muốn nói: Khi người ấy thâm nhập thật nghĩa của kinh. Tâm tương ưng với thật tướng. Thì công hạnh của Lục độ bắt đầu hiện khởi một cách tự nhiên.

Ví dụ: Thấy vô ngã thì bố thí không còn chấp người cho, người nhận.

Thấy duyên sinh thì nhẫn nhục dễ thành tựu.

Câu hỏi 13.

Trích đoạn: "Những nghiệp chướng nặng nề xưa kia còn lại, nhất thời liền phải tiêu tan, mà được thanh tịnh. Và lại được biện tài lớn, lần lượt trang nghiêm các pháp ba la mật... phân thân rải thể khéo léo ở khắp mười phương quốc độ để cứu vớt hết thảy chúng sanh đang bị khổ cực ở trong hai mươi lăm cõi, đều khiến cho được giải thoát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ chín)

Câu hỏi: "Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây là gì? Có phải sức mạnh của kinh như một dòng nước cuốn trôi tất cả nghiệp cũ, hay chính trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh đã làm tan rã gốc rễ vô minh? Nếu là vế sau, thì sự “tiêu tan nhất thời” này khác gì với sự chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới-định-huệ thông thường?"

Trả lời: Vô minh là con đẻ của nghiệp thức. Khi thành tựu tam vô lậu học, ta sẽ biết con đường nào đưa ta đến vô minh, con đường nào đưa ta đến minh. Đồng thời với thành quả sơ ngộ đó, ta bắt đầu nếm vị ngọt “rìa đĩa mật” và biết con đường chắc thật đưa đến Niết bàn thanh tịnh để diệt trừ căn bản vô minh. Khi trí tuệ phát sinh thì các vô minh sẽ tịch diệt. Vô minh cuối cùng là vô minh trụ địa cũng tịch diệt khi thành tựu quả vị Phật.

Câu hỏi 14

Trích đoạn: "Ở chốn phàm phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu hay phát khởi ra vô số tăng kỳ đại thệ sâu rộng. Lại hay phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh thành tựu đại bi... dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ mười)

Câu hỏi: “Pháp vân địa” là địa vị gần với Phật quả. Kinh mô tả một phàm phu, thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị ấy. Xin có thể giải thích rõ hơn: Đây là sự thăng tiến thực tế về mặt tâm linh, hay là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai? “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại?"

Trả lời:

a) Sự thành tựu Pháp Vân Địa (địa thứ 10), là địa cao nhất giúp vị ấy trở thành một vị Biện tài vô ngại. Pháp Vân địa giống như mây lớn che khắp hư không rồi tuôn mưa nuôi dưỡng muôn loài, Bồ-tát ở địa này dùng trí tuệ và giáo pháp để lợi ích vô lượng chúng sinh. Pháp Vân Địa giúp Bồ-tát viên mãn năng lực thuyết pháp như: Thông đạt sâu xa vô lượng pháp môn, có thể tùy căn cơ mà thuyết pháp, không bị ngăn ngại bởi ngôn ngữ, nghĩa lý hay phương tiện giáo hóa. Vì vậy gọi là: Mây pháp che khắp và mưa pháp tuôn khắp. Đây chính là sự vi diệu mà một vị thành tựu giáo pháp có thể đạt được. Như Phật khẳng định: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành” vì thế, việc thành tựu Pháp Vân Địa cũng là một sự thành tựu giúp bồ tát trên con đường làm công hạnh, giáo hoá chúng sanh, để hướng tới những sự bùng vỡ tâm thức lớn lao tiếp đó, thành tựu như một vị Phật.

b) “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại, giống như bác chưa đặt chân đến Hà Nội, nhưng bác đã có được các thông tin về thủ đô, các công trình tham quan du lịch, Hồ hoàn kiếm bằng ảnh chụp, tư liệu trên internet. Việc “giác” là cảm nhận cho đến ngộ là một hành trình học tập lâu dài, sự ngộ sẽ đến khi việc học tập đúng chánh pháp.

Câu số 15.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Như vậy thì kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nầy có sức đại oai thần, không gì là tôn hơn, hay khiến cho những kẻ phàm phu đều được chứng thánh quả, vĩnh viễn xa lìa sanh tử, được vui tự tại. Vì vậy mà kinh nầy gọi là Vô Lượng Nghĩa." (Phẩm Mười Công Đức, tổng kết mười công đức)

Câu hỏi: "Kinh đưa ra một kết luận gần như tuyệt đối: Phàm phu nương kinh này có thể chứng thánh quả. Vậy thánh quả ở đây nên hiểu là quả vị giải thoát rốt ráo, hay là một trạng thái “phàm phu Bồ tát” đặc biệt - tức thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu?"

Trả lời: Phàm phu chứng thánh quả vĩnh viễn xa lìa sanh tử, được vui tự tại… thánh quả ở đây là Niết bàn diệt đế. Hoặc câu nói: Phàm phu Bồ Tát cũng đúng, thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu.

Con, Lý Chân Như - MĐ 0665" (Hết thư)

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau:

👉 https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

06/06/2026

LÝ TỨ

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 88.2026 với chủ đề: Lý Chân Như Trả Lời Hành Giả Phá

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 88.2026 với chủ đề: Lý Chân Như Trả Lời Hành Giả Phá

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 88.2026 với chủ đề: Lý Chân Như Trả Lời Hành Giả Phá

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 88.2026 với chủ đề: Lý Chân Như Trả Lời Hành Giả Phá

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời số 89.2026 với chủ đề: Lý Phúc Nhân Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!

MB 857 Lý Diệu Sinh 06.06.2026

 

Các bạn !!!

Sau đây là trả lời của Lý Phúc Nhân - MB 0888 ở Hà Nội:

"Kính thưa Thầy Lý Tứ!

Kính thưa bác Pháp Quang!

Con là Lý Phúc Nhân, học trò thứ 888 của Thầy Lý Tứ. Trước tiên con xin cảm ơn Thầy đã cho chúng con tham gia trả lời các câu hỏi của bác Pháp Quang!

Cảm ơn bác Pháp Quang đã gửi câu hỏi đến chuyên mục và tạo đương cơ tuyệt vời cho HĐ Lý Gia tham gia trả lời các vấn đề liên quan đến Kinh Đại thừa Vô lượng nghĩa thuộc Pháp Vân môn, để HĐ Lý Gia “rèn thêm đao pháp”!

Sau đâu là phần trả lời của con:

Câu 1.

Trích đoạn: "Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quán sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Vì sao các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp? Vì sao quán sát điều này lại được Vô Lượng Nghĩa? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"

Trả lời:

a) Phật dạy: “Hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp” – đây là lời Chân thật của Đức Phật. Có nghĩa thiệt tướng các pháp (các quan điểm quan niệm) không tự tánh, không tự tướng, không tự ngã. Tự nó xưa nay vốn dĩ đã như vậy nên câu hỏi “vì sao các pháp bản lai rỗng lặng” có lẽ phải coi lại??? Vì nếu có lý do để các pháp rỗng lặng thì chẳng phải là “bản lai”, giống như hư không, nếu có cái gì đó sinh ra hư không thì hư không chẳng phải hư không!

b) Phật dạy Bản lai hữu tình Không Tâm, Không Pháp, nhưng chúng sinh mê nên sinh pháp đối đãi nhị nguyên như đúng sai, phải trái, thiện ác…Giác ngộ Tâm thức không còn nhị nguyên đối đãi…nên gọi là các pháp không hai. Như câu kinh tiếp theo Phật dạy: … “Chỉ vì chúng sanh mê chấp lấy cái giả dối, mà cho là cái nầy, cái kia, là được, là mất, khởi ra tâm niệm chẳng lành, tạo ra mọi điều ác nghiệp, loanh quanh trong sáu ngả, chịu đủ mọi khổ độc, hàng vô lượng ức kiếp, mà không tự biết để tìm lối ra.”

c) Quán sát được các pháp từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng…sẽ được Vô lượng nghĩa, đây là cảnh giới của Bồ tát Nhất thừa thể nhập Trung đạo siêu quá mọi suy luận của thế gian, Tâm Trí vị này luôn rỗng lặng mới có thể sinh vô lượng nghĩa, giống như hư không luôn rỗng lặng nhưng có thể thâm nhập bất kỳ nơi nào có khoảng trống!

Câu 2.

Trích đoạn: "Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Vì sao Vô tướng là Thật tướng? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"

Trả lời:

Để trả lời câu hỏi này rõ hơn, con xin trích đầy đủ đoạn kinh văn:

“Bồ Tát quán sát kỹ lưỡng nguồn gốc của bốn tướng như thế, đều biết cả rồi. Thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt. Lại quán sát ngay nơi Sanh, Trụ, Dị, Diệt. Quán sát như thế rồi, mà vào mọi căn tánh ham muốn của chúng sanh; vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy. Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy.”

a) Các pháp (quan điểm, quan niệm) không tự tướng, có nghĩa tự nó không có tướng xấu, tướng đẹp, tướng cao tướng thấp…nói cách khác là tướng của các pháp bản lai rỗng lặng, do đó mới sinh vô lượng nghĩa. “Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy. Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy”. Có nghĩa bản lai pháp vô tướng nhưng chẳng phải không có pháp lành để hóa độ chúng sinh, Bồ tát khi thuyết pháp hóa độ chúng sinh nhưng trong lòng chẳng thấy có pháp, vì Phật pháp là Không pháp…thì mới gọi là “thật tướng”

b) Vì sao Vô tướng là Thật tướng?

Vì “Thật tướng là Nhất tướng, Nhất tướng là Vô tướng”, đây là chân ngữ của Đức Phật!

Câu 3.

Trích đoạn: "Vả lại, thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế... Thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Một mặt, kinh nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”; mặt khác, Bồ tát lại quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt”. Hai cái thấy này có trái ngược nhau không? Nếu có thì vì sao và nếu không thì vì sao, xin giải thích rõ?"

Trả lời:

Kinh nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”, đây là chân lý vì bản lai hữu tình Không Tâm, Không pháp, Tâm Trí luôn rỗng rang thanh tịnh, nhưng do chúng sinh Mê nên sinh Tâm hư vọng, Pháp hư vọng. Tâm và Pháp niệm niệm sinh diệt không ngừng nên chúng sinh luân hồi trong ba cõi, sáu đường. Bồ tát là những vị đã Giác Ngộ có Trí tuệ nên quan sát “niệm niệm chẳng dừng luôn sinh diệt” của chúng sinh để có phương tiện giúp người. Chúng sinh dứt mê, giác ngộ chân thật sẽ thấy các pháp không sanh diệt. Vì vậy, hai cái thấy này không trái ngược nhau, cũng chẳng phải không trái ngược nhau! Chỉ do Mê, Ngộ khác nhau nên mới thấy khác nhau!

Câu 4.

Trích đoạn: "Vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì có phải tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó? Và “vô tướng” làm thế nào để “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó?"

Trả lời:

a) Có thể hiểu như vậy.

b) Trí tuệ “Vô tướng” là cảnh giới xuất thế, khi bi ngưỡng của chúng sinh hợp với bi nguyện của Bồ tát mà “sinh” ra vô lượng nghĩa để hóa độ chúng sinh, nhưng tánh “rỗng lặng” là thường nên không mất, giống như cái trống vậy, có người đánh sẽ kêu, không đánh không kêu, đánh nhiều kêu nhiều, đánh ít kêu ít…nhưng cái trống vẫn “rỗng lặng”.

Câu 5.

Trích đoạn: "Lúc ban đầu Ta từ chốn Phụ vương, đi đến thành Ba La Nại... khi quay bánh xe pháp Tứ đế, cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Nay ở nơi đây lại diễn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa và cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Vì vậy lời nói ban đầu, lời nói chặng giữa và lời nói ngày nay văn tự tuy là một, nhưng ý nghĩa có khác." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Văn tự là một mà lại có sai khác về ý nghĩa. Vậy bản chất sự sai khác này là gì?"

Trả lời:

- Bản chất sự sai khác này là do nhận thức của người nghe khác nhau!

- Đức Phật có ba lần chuyển bánh xe pháp (chuyển pháp luân), tùy theo căn trí chúng sinh, tùy theo sự giác ngộ của để tử, tùy thời…mà thuyết pháp, nên người nghe cảm nhận ý nghĩa khác nhau, dó đó “văn tự tuy là một, nhưng ý nghĩa có khác."

Câu 6.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Đó là cảnh giới rất sâu xa bất khả tư nghì của chư Phật, chẳng phải chỗ hay biết của hàng nhị thừa, và cũng chẳng phải chỗ theo kịp của ngôi thập trụ Bồ Tát, chỉ có Phật với Phật mới hay hiểu thấu rốt ráo." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Nếu cảnh giới “một âm thanh ứng hiện tất cả giọng tiếng” chỉ có Phật mới thấu rốt ráo, vậy thì những Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, họ đang tiếp cận nghĩa lý ở mức độ nào? Làm thế nào để họ có đủ tự tin rằng mình đang “tùy thuận” được Phật trí, dù chưa thực chứng?"

Trả lời:

a) “Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa rất cao siêu mầu nhiệm sâu xa, văn lý chân chánh, không gì tôn hơn”, nên Kinh này chủ yếu dành cho Bồ tát Nhất thừa. Bồ tát sơ phát tâm chưa thực chứng mà đọc tụng và giảng nói kinh này thì chỉ tiếp cận trên ý nghĩa của văn tự, chứ không thể thâm nhập nghĩa lý thâm u sâu mầu của Đai thừa Vô lượng nghĩa!

b) Để họ (dù chưa thực chứng) có đủ tự tin rằng mình đang “tùy thuận” được Phật trí, chỉ có cách tìm cầu Thiện Tri Thức cầu học chánh pháp cho đến khi giác ngộ và viên mãn Trí tuệ.

Câu 7.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Kinh nầy vốn từ trong nhà chư Phật mà ra, đi đến chỗ hết thảy chúng sanh phát tâm Bồ Đề, và trụ ở nơi các Vị Bồ Tát sở trụ." (Phẩm Mười Công Đức)

Câu hỏi: "Ba mệnh đề “từ nhà chư Phật mà ra”, “đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Đề”, “trụ ở Bồ Tát sở trụ” có phải đang mô tả một vòng vận hành khép kín của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân? Xin giải thích rõ hơn về “ngôi nhà chư Phật” ở đây là gì?"

Trả lời:

a) Có thể hiểu như vậy!

b) “Ngôi nhà Chư Phật” là Bản Giác, là Pháp Bổn Trụ!

Trong Kinh Thủ Lăng nghiêm Phật dạy: “Chư Phật từ bản giác đi (chiếu) ra, chúng sanh từ thỉ (thuỷ) giác đi vào (ngộ được), chỗ gặp nhau gọi là đẳng!”

Câu 8.

Trích đoạn: "Người trì kinh nầy... tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba)

Câu hỏi: "Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ lại có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh sao? Điều này có nghĩa là “đại bi” và “phương tiện” có thể vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn sao?"

Trả lời:

Hình như bác Pháp Quang trích kinh không đầy đủ, nên đặt câu hỏi lại nói “Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ lại có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh sao?”

Đoạn kinh trích từ Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba là ý muốn nói đến năng lực bất khả tư nghì của kinh này: "Ví như thuyền trưởng, tuy mình mắc bệnh nặng, bốn thể chẳng đều, yên nghỉ ở bờ bên đây; nhưng có thuyền bè bền chắc, và thường sắm những dụng cụ để cung cấp cho mọi người đi sang qua bờ bên kia. Người trì kinh nầy cũng lại như thế, tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh. Nếu chúng sanh theo đúng lý thuyết mà tu hành, thì được qua khỏi chốn sanh tử.”

Kinh nói rất rõ: “Ví như thuyền trưởng, tuy mình mắc bệnh nặng, bốn thể chẳng đều, yên nghỉ ở bờ bên đây; nhưng có thuyền bè bền chắc, và thường sắm những dụng cụ để cung cấp cho mọi người đi sang qua bờ bên kia.”

Đây là hình ảnh minh họa, tuy vị Thuyền trưởng mắc bệnh nhưng có thuyền bè bền chắc…vẫn có thể đưa mọi người đi sang qua bờ bên kia.

Người trì kinh này cũng thế, tuy thân còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo,…đây là nói đến Phàm phu tướng của Bồ tát, có nghĩa nhục thân chịu qui luật của ba cõi, nhưng Trí tuệ viên mãn nhờ thấu suốt kinh này, nên được trang biện vô lượng nghĩa để cứu độ chúng sinh. Do đó “Đại bi” và “Phương tiện” không thể vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn.

Câu 9.

Trích đoạn: "Người đó cũng ví như vị phu nhân của nhà vua mới sanh ra thái tử... Tuy còn thơ ấu chẳng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính, và cùng với các con vua khác kết làm bằng hữu." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ tư)

Câu hỏi: "Ví dụ “thái tử sơ sinh” rất thâm thúy: phẩm vị không đến từ năng lực, mà đến từ dòng dõi (Phật tử) chăng? Quan điểm này đối với tinh thần bình đẳng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” trong Phật giáo có mâu thuẫn không?"

Trả lời:

a) “Người đó” là những “chúng sanh nào được nghe kinh nầy dù chuyển đọc một lượt, dù một bài kệ, cho đến một câu thì được tư tưởng mạnh mẽ. Tuy chưa độ mình mà có thể độ cho người khác, và cùng các Bồ Tát để làm thân thuộc. Chư Phật Như Lai thường hướng về người ấy mà diễn nói kinh pháp; người ấy nghe rồi đều hay thọ trì, thuận theo chẳng trái, rồi lại vì người khác mà tùy nghi diễn nói rộng ra.” – Đây chính là năng lực của người đó, nên “phẩm vị không đến từ năng lực…” là không hợp lý.

b) Bất kỳ quan điểm nào đã nêu…thì “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” - đây là Thật ngữ của Phật

Câu 10.

Trích đoạn: "Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy... người đó tuy lại bị đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu, mà lại hay thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ năm)

Câu hỏi: "Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh là ẩn dụ cho điều gì? Nếu là sự chuyển hóa tâm thức, thì đây có phải là pháp tu “đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm?"

Trả lời:

Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp”…là nói đến sự chuyển biến của tâm thức! “Mê nghe kinh trọn kiếp, Ngộ chỉ một sát na”!

Câu 11.

Trích đoạn: "Ví như con vua tuy còn thơ ấu, nếu khi nhà vua đi tuần du hay khi bị bệnh thì nhà vua ủy thác cho thái tử lãnh trị việc nước... đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ sáu)

Câu hỏi: "Ở đây, người trì kinh chưa trụ Sơ địa nhưng thuyết pháp lại có hiệu quả ngang với Phật. Điều này đặt ra một câu hỏi nghiêm túc: Thẩm quyền giáo hóa nằm ở chứng lượng bản thân, hay ở sự trung thành với lời Phật dạy? Nếu một người phàm phu y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức ấy thuộc về kinh, về Phật, hay về chính vị phàm phu ấy?"

Trả lời:

a) Thẩm quyền giáo hóa nằm ở cả chứng lượng bản thân và sự trung thành với lời Phật dạy, vì không trung thành với lời Phật dạy thì chẳng thể có chứng lượng bản thân!

b) Kinh Kim Cang Phât dạy: “Tu Bồ Đề! Nếu phước đức có thật, Như Lai chẳng nói được nhiều phước đức. Vì phước đức là không, nên Như Lai nói là nhiều phước đức.”

Câu 12.

Trích đoạn: "Người thiện nam, thiện nữ đó... chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ bảy)

Câu hỏi: "Đây như là một tuyên bố đốn ngộ triệt để: từ phàm phu nhảy vọt lên Thất địa. Vậy “vô sanh pháp nhẫn” ở đây tương đương với địa vị nào? Và “lục độ tự nhiên hiện ra” có nghĩa là hành giả không cần trải qua vô số kiếp tu tập hạnh Ba-la-mật như giáo lý thông thường, hay đó là kết quả của vô số kiếp tu tập trong quá khứ nay được kinh này khai mở?"

Trả lời:

a) “Vô sanh pháp nhẫn” ở đây tương đương Bất động địa Bồ tát (Bát địa Bồ tát do tu hành sanh), Thất địa đại Bồ tát do Trí tuệ sanh!

b) Trong kinh ghi rõ: “Nếu thiện nam, thiện nữ…phát tâm Bồ Đề khởi ra mọi căn lành, gây ý đại bi muốn cứu độ cho hết thảy chúng sanh khổ não mà chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, …” Có nghĩa, Khi tâm Bồ Đề và đại bi chân thật phát khởi, thì các pháp Ba-la-mật sẽ tự nhiên xuất hiện trong đời sống. Ví dụ: Thấy kẻ nghèo khó thì thực hành bố thí, muốn lợi ích chúng sinh thì giữ giới, gặp nghịch cảnh thì tu nhẫn nhục…từ đó Trí tuệ tăng trưởng.

Câu 13.

Trích đoạn: "Những nghiệp chướng nặng nề xưa kia còn lại, nhất thời liền phải tiêu tan, mà được thanh tịnh. Và lại được biện tài lớn, lần lượt trang nghiêm các pháp ba la mật... phân thân rải thể khéo léo ở khắp mười phương quốc độ để cứu vớt hết thảy chúng sanh đang bị khổ cực ở trong hai mươi lăm cõi, đều khiến cho được giải thoát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ chín)

Câu hỏi: "Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây là gì? Có phải sức mạnh của kinh như một dòng nước cuốn trôi tất cả nghiệp cũ, hay chính trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh đã làm tan rã gốc rễ vô minh? Nếu là vế sau, thì sự “tiêu tan nhất thời” này khác gì với sự chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới-định-huệ thông thường?"

Trả lời:

a) Trí tuệ phát sinh thì gốc rễ vô minh tan rã, vô minh tan rã thì nghiệp chướng tiêu tan, mà được thanh tịnh.

b) … “nhất thời liền được tiêu tan” có nghĩa ngay tại thời điểm trí tuệ phát sinh thì nghiệp chướng liền tiêu tan. Trí tuệ là thường nên không có chuyện “nghiệp chướng tiêu tan nhất thời” giống như dùng phép tu chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới-định-huệ thông thường theo cách thế gian!

Câu 14

Trích đoạn: "Ở chốn phàm phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu hay phát khởi ra vô số tăng kỳ đại thệ sâu rộng. Lại hay phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh thành tựu đại bi... dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ mười)

Câu hỏi: “Pháp vân địa” là địa vị gần với Phật quả. Kinh mô tả một phàm phu, thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị ấy. Xin có thể giải thích rõ hơn: Đây là sự thăng tiến thực tế về mặt tâm linh, hay là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai? “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại?"

Trả lời:

a) Là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong vị lai!

b) Đọc hiểu ý nghĩa, cho đến thấu suốt Kinh Đại thừa Vô lượng nghĩa là đang “dần dần thấy được” cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại.

Câu 15.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Như vậy thì kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nầy có sức đại oai thần, không gì là tôn hơn, hay khiến cho những kẻ phàm phu đều được chứng thánh quả, vĩnh viễn xa lìa sanh tử, được vui tự tại. Vì vậy mà kinh nầy gọi là Vô Lượng Nghĩa." (Phẩm Mười Công Đức, tổng kết mười công đức)

Câu hỏi: "Kinh đưa ra một kết luận gần như tuyệt đối: Phàm phu nương kinh này có thể chứng thánh quả. Vậy thánh quả ở đây nên hiểu là quả vị giải thoát rốt ráo, hay là một trạng thái “phàm phu Bồ tát” đặc biệt - tức thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu?"

Trả lời:

Cả hai nhận định đều hợp lý! Thánh quả là những quả vị mà tâm thức người tu hành không còn khổ, phiền não, kiết sử, lậu hoặc (đạo quả Vô lậu)

Kính Thầy!

Con, Lý Phúc Nhân - MB0888 (Hết thư)

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau:

👉 https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

06/06/2026

LÝ TỨ

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 89.2026 với chủ đề: Lý Phúc Nhân Trả Lời Hành Giả Ph

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 89.2026 với chủ đề: Lý Phúc Nhân Trả Lời Hành Giả Ph

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 89.2026 với chủ đề: Lý Phúc Nhân Trả Lời Hành Giả Ph

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời số 90.2026 với chủ đề: Lý Hoàng Tuấn Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!

MB 857 Lý Diệu Sinh 07.06.2026

 

Hành giả Pháp Quang và bạn đọc thân mến !!!

Chuyên mục vừa nhận được trả lời của Lý Hoàng Tuấn - MB 1360...Đang sinh sống và làm việc tại Hà Nội...!!!

Sau đây là phần trả lời của Lý Hoàng Tuấn:

"Kính thưa hành giả Pháp Quang !!!

Con là Lý Hoàng Tuấn, học trò số 1360 của Thầy Lý Tứ !!!

Giống như hành giả, con cùng gần một ngàn học trò, độc giả, khách mời, hôm 12/04/2026 cũng may mắn được tham dự Buổi Tọa Đàm của Sự Kiện Vô Thanh Luận - Giáo Pháp Của Kỷ Nguyên Số !!!

Chúng con rất vui mừng và hoan hỉ khi được hành giả gửi câu hỏi đến Chuyên mục !!! Được sự cho phép của Thầy, con xin được trả lời 15 câu hỏi về Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa mà hành giả đưa ra cho hàng hậu học chúng con !!!

Dưới đây là phần trả lời:

1.

Trích đoạn: "Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quán sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Vì sao các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp? Vì sao quán sát điều này lại được Vô Lượng Nghĩa? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"

Trả lời:

a) Phật dạy: “Ta dùng Phật nhãn quán sát hết thảy địa đại, sông ngòi, tinh tú, nhật nguyệt, hữu tình, vô tình…vv…không một pháp có được…” !!!. Vậy bản lai có một pháp nào sinh ra chăng??? Pháp vốn đã tự như và mãi vẫn tự như … như vậy !!!

b) Rỗng lặng như hư không là đặc tính sẵn có và thường hằng !!! Không lớn chẳng nhỏ, không sanh chẳng diệt, không trụ cũng chẳng động, không tiến lấy đâu mà lui !!! Có quán sát được như vậy mới xuất sinh Vô Lượng Nghĩa !!! Không kẹt mắc vào một nghĩa cố định nào thì mới là Vô Lượng !!!

2.

Trích đoạn: "Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Vì sao Vô tướng là Thật tướng? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"

Trả lời:

a) Phật dạy: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng !!!” Còn thấy một thứ gì có tướng thì vẫn là hư vọng tướng !!! Hư vọng tướng là nhìn bằng lăng kính của nghiệp thức !!! Vô tướng là nhìn bằng trực nhận của tánh giác !!! Tánh giác là phản chiếu từ xa của Phật Tánh !!! Nhìn bằng tánh giác và tiếp đó nhìn bằng tự tánh thì mới thấy “Thật tướng” vì bởi đã được ánh sáng phát khởi từ Phật Tánh chiếu rọi !!!

b) Không chấp Hữu Tướng, chẳng trụ Vô Tướng thì mới thực là Thiệt Tướng !!!

3.

Trích đoạn: "Vả lại, thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế... Thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Một mặt, kinh nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”; mặt khác, Bồ tát lại quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt”. Hai cái thấy này có trái ngược nhau không? Nếu có thì vì sao và nếu không thì vì sao, xin giải thích rõ?"

Trả lời:

Kinh nói “Tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt” là chân lý thường hằng, là mục tiêu cần hướng đến !!! Còn Bồ tát quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt” là nhận diện thực tế các pháp trên cơ sở quán pháp niệm xứ của mình và của người khi chưa giác ngộ !!!

Hai cái thấy này không trái ngược nhau, chỉ đang mô tả đích đến và điểm xuất phát hay hành trình đến đích !!!

Từ thực tế để tới chân lý là cả một quá trình học tập chánh pháp tinh cần !!! Từ nhận diện hiện tượng đến thấu đạt chân lý cũng cần thời gian, đôi khi là nhiều đời nhiều kiếp !!!

4.

Trích đoạn: "Vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì có phải tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó? Và “vô tướng” làm thế nào để “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó?"

Trả lời:

a) Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó !!!

b) Muốn “vô tướng” “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó, thì khi thuyết pháp hãy như cái trống !!! Trống bản thân nó không kêu, nhưng khi có người đánh, nó mới kêu !!! Đánh mạnh kêu mạnh, đánh nhiều kêu nhiều, ngừng đánh ngừng kêu !!!

5.

Trích đoạn: "Lúc ban đầu Ta từ chốn Phụ vương, đi đến thành Ba La Nại... khi quay bánh xe pháp Tứ đế, cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Nay ở nơi đây lại diễn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa và cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Vì vậy lời nói ban đầu, lời nói chặng giữa và lời nói ngày nay văn tự tuy là một, nhưng ý nghĩa có khác." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Văn tự là một mà lại có sai khác về ý nghĩa. Vậy bản chất sự sai khác này là gì?"

Trả lời:

Văn tự là một mà lại có sai khác về ý nghĩa. Bản chất sự sai khác này chính là sự thay đổi thông qua các lần Chuyển Pháp Luân. Khi quay bánh xe pháp Tứ đế (Chuyển Pháp Luân lần thứ nhất), cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng !!! Diễn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa (Chuyển Pháp Luân lần thứ ba), cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng !!!

Lời nói ban đầu, lời nói chặng giữa và lời nói ngày nay văn tự (rỗng lặng) tuy là một, nhưng ý nghĩa đã khác sau các lần Chuyển Pháp Luân đó !!!

6.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Đó là cảnh giới rất sâu xa bất khả tư nghì của chư Phật, chẳng phải chỗ hay biết của hàng nhị thừa, và cũng chẳng phải chỗ theo kịp của ngôi thập trụ Bồ Tát, chỉ có Phật với Phật mới hay hiểu thấu rốt ráo." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Nếu cảnh giới “một âm thanh ứng hiện tất cả giọng tiếng” chỉ có Phật mới thấu rốt ráo, vậy thì những Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, họ đang tiếp cận nghĩa lý ở mức độ nào? Làm thế nào để họ có đủ tự tin rằng mình đang “tùy thuận” được Phật trí, dù chưa thực chứng?"

Trả lời:

Cảnh giới “một âm thanh ứng hiện tất cả giọng tiếng” chỉ có Phật mới thấu rốt ráo, những Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, họ đang tiếp cận nghĩa lý ở mức độ bề mặt văn tự, giải thích và chỉ ra tấm bản đồ Phật đã vẽ !!!

Dù chưa thực chứng, các Bồ Tát sơ phát tâm trụ kể trên hoàn toàn tự tin mình đang “tùy thuận” được Phật trí !!! Vì Bồ Tát hiểu rằng đó là tấm bản đồ kho báu mà Phật đã vẽ ra !!! Nhờ tấm bản đồ quý giá đó, chúng ta tự tin thâm nhập thực địa mà không sợ lạc đường, không sợ nhầm lối, hướng đến Vô Thượng Trí !!!

7.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Kinh nầy vốn từ trong nhà chư Phật mà ra, đi đến chỗ hết thảy chúng sanh phát tâm Bồ Đề, và trụ ở nơi các Vị Bồ Tát sở trụ." (Phẩm Mười Công Đức)

Câu hỏi: "Ba mệnh đề “từ nhà chư Phật mà ra”, “đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Đề”, “trụ ở Bồ Tát sở trụ” có phải đang mô tả một vòng vận hành khép kín của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân? Xin giải thích rõ hơn về “ngôi nhà chư Phật” ở đây là gì?"

Trả lời:

a) Hoàn toàn đúng !!! Ba mệnh đề đang mô tả vòng vận hành khép kín của Ba Thân Phật !!! Cụ thể: “từ nhà chư Phật mà ra” mô tả Pháp thân, “đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Đề” mô tả Báo thân, “trụ ở Bồ Tát sở trụ” mô tả Ứng thân !!!

b) “Ngôi nhà chư Phật” ở đây chính là Pháp thân, là Phật Trí !!! Tam thế chư Phật khác miệng đồng lời !!! Ba đời Phật quá khứ, Phật hiện tại, Phật vị lai, dù ở thời kỳ nào, dù ở phương trời nao, dùng ngôn ngữ gì, đều ở chung “ngôi nhà Pháp thân”, tức tuyên thuyết chân lý không sai khác !!!

8.

Trích đoạn: "Người trì kinh nầy... tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba)

Câu hỏi: "Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ lại có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh sao? Điều này có nghĩa là “đại bi” và “phương tiện” có thể vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn sao?"

Trả lời:

a) Phần chánh Kinh, Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba nêu rõ: “Người trì kinh nầy…, hay gánh trọng trách của đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề; hay mang đội chúng sanh ra khỏi đường sanh tử. Tuy chưa độ được mình mà đã hay độ cho người.”

Vậy thì: Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ, với tâm Bồ Tát thương tưởng chúng sinh, trì tụng kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa, cũng xuất sinh công đức, cũng có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh, dùng thuyền bè bền chắc (nghĩa kinh), sắm sang những dụng cụ cho người đi sang bờ bên kia (phương tiện).

b) “Đại bi” và “phương tiện” không hẳn vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn. Mà là, Bồ Tát chứng ngộ đến đâu, giúp chúng sinh đến đó !!! Như người học tập trong nền giáo dục phổ thông, cấp ba dạy cho cấp hai, lớp trên dạy cho lớp dưới, biết đến đâu dạy đến đó !!! Quan trọng là đừng dạy quá tri kiến và thực chứng của mình, vì sẽ thành lý thuyết suông, thành hí luận !!!

9.

Trích đoạn: "Người đó cũng ví như vị phu nhân của nhà vua mới sanh ra thái tử... Tuy còn thơ ấu chẳng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính, và cùng với các con vua khác kết làm bằng hữu." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ tư)

Câu hỏi: "Ví dụ “thái tử sơ sinh” rất thâm thúy: phẩm vị không đến từ năng lực, mà đến từ dòng dõi (Phật tử) chăng? Quan điểm này đối với tinh thần bình đẳng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” trong Phật giáo có mâu thuẫn không?"

Trả lời:

a) Phần chánh Kinh, Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ tư ghi rằng: “Người trì kinh nầy cũng lại như thế. Chư Phật là quốc vương, kinh nầy là phu nhân, hòa hợp cùng nhau sanh ra con là Bồ Tát.”

Vậy thì: “Thái tử sơ sinh” đã có Chư Phật là quốc vương, đã có Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa là phu nhân “sanh ra từ giáo pháp”, thì há chẳng phải ngay từ lúc “sơ sinh” đã thuộc dòng dõi (Phật tử - Pháp vương tử trụ). “Sơ sinh” ở đây là sinh ra từ giáo pháp của Phật cha, Kinh mẹ, chứ chẳng phải cách thai sinh như người phàm !!! Phẩm vị này có được và đến từ năng lực học tập chánh pháp của Chư Phật, thông qua sự thấu hiểu Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nầy !!!

b) Với diễn giải phần 9a) nêu trên, quan điểm hành giả đưa ra về “phẩm vị không đến từ năng lực, mà đến từ dòng dõi (Phật tử)” hình như chưa hợp lý !!! “Thái tử sơ sinh” sinh ra từ giáo pháp của Phật Cha Kinh Mẹ !!! Và không hề mâu thuẫn với tinh thần bình đẳng “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã tuyên thuyết hơn hai ngàn sáu trăm (2600) năm qua !!!

10.

Trích đoạn: "Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy... người đó tuy lại bị đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu, mà lại hay thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ năm)

Câu hỏi: "Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh là ẩn dụ cho điều gì? Nếu là sự chuyển hóa tâm thức, thì đây có phải là pháp tu “đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm?"

Trả lời:

Phần chánh Kinh, Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ năm ghi nguyên như sau: “Nếu người thiện nam, thiện nữ nào, dù khi Phật còn tại thế, hay sau khi Phật diệt độ, có người thọ trì, đọc tụng, viết chép kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa rất cao siêu mầu nhiệm nầy, người đó tuy lại bị đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu, mà lại hay thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày, khiến cho các chúng sanh kia vui mừng tin theo.”

a) Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh là ẩn dụ cho sự chuyển hóa kiếp tâm thức của một hữu tình !!! Tâm thức của hữu tình trong một ngày vốn luôn niệm niệm sanh diệt không ngừng !!! Và nếu hữu tình không được học tập chánh pháp để giác ngộ, vẫn sẽ ngày qua ngày, tháng qua tháng, năm qua năm, niệm niệm sanh diệt như thế !!!

b) Do là sự chuyển hóa tâm thức, có thể dùng pháp tu “đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm !!! Tam tế gồm Tiền tế (Vô Minh, Hành, Thức, Danh sắc), Trung tế (Lục nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ) và Hậu tế (Hữu, Sanh, Lão tử). Theo đó, để ngắt vòng lặp liên hồi của niệm niệm sinh diệt không ngừng, có thể dùng cách quán luân chuyển hoặc quán hoàn diệt để tịch diệt/đoạn trừ một trong mười hai duyên của Tam Tế kể trên, để dừng dứt Vô Minh !!!

11.

Trích đoạn: "Ví như con vua tuy còn thơ ấu, nếu khi nhà vua đi tuần du hay khi bị bệnh thì nhà vua ủy thác cho thái tử lãnh trị việc nước... đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ sáu)

Câu hỏi: "Ở đây, người trì kinh chưa trụ Sơ địa nhưng thuyết pháp lại có hiệu quả ngang với Phật. Điều này đặt ra một câu hỏi nghiêm túc: Thẩm quyền giáo hóa nằm ở chứng lượng bản thân, hay ở sự trung thành với lời Phật dạy? Nếu một người phàm phu y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức ấy thuộc về kinh, về Phật, hay về chính vị phàm phu ấy?"

Trả lời:

a) Kết hợp cả hai !!! Vì sao ??? Vì chứng lượng bản thân đến đâu, giáo hóa đến đó, không vượt khỏi tri kiến và cảnh giới chứng ngộ của mình (xem 8b) !!! Trung thành với lời Phật dạy chính là giáo hóa như pháp !!! Hai mệnh đề này không phủ định nhau mà là sự kết hợp biện chứng trong sự tương hỗ !!!

b) Công đức ấy thuộc về Phật và cũng thuộc về chính vị phàm phu ấy !!! Vì sao ??? Vì có Phật (Pháp thân) mới có Kinh (Hóa thân), có Kinh để lại thì người phàm phu ấy mới có chỗ dựa nương y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo. Phật có vô lượng công đức từ Pháp thân trí tuệ và từ Kinh điển để lại 2600 năm qua và mãi về sau !!! Phàm phu ấy tăng trưởng công đức nhờ y kinh thuyết pháp giúp người khác đắc đạo !!! Phàm phu ấy có công đức từ thanh tịnh tâm khi trì tụng kinh, có công đức từ trí tuệ qua thâm nhập kinh và có công đức nhờ giáo hóa giúp người thành tựu trên con đường Phật Đạo !!!

12.

Trích đoạn: "Người thiện nam, thiện nữ đó... chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ bảy)

Câu hỏi: "Đây như là một tuyên bố đốn ngộ triệt để: từ phàm phu nhảy vọt lên Thất địa. Vậy “vô sanh pháp nhẫn” ở đây tương đương với địa vị nào? Và “lục độ tự nhiên hiện ra” có nghĩa là hành giả không cần trải qua vô số kiếp tu tập hạnh Ba-la-mật như giáo lý thông thường, hay đó là kết quả của vô số kiếp tu tập trong quá khứ nay được kinh này khai mở?"

Trả lời:

a) “Vô sanh pháp nhẫn” ở đây tương đương với Thất Địa Bồ Tát do tu hành sanh !!!

b) “Lục độ Ba La Mật tự nhiên hiện ra” là kết quả của vô số kiếp tu tập trong quá khứ nay được kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa khai mở !!!

13.

Trích đoạn: "Những nghiệp chướng nặng nề xưa kia còn lại, nhất thời liền phải tiêu tan, mà được thanh tịnh. Và lại được biện tài lớn, lần lượt trang nghiêm các pháp ba la mật... phân thân rải thể khéo léo ở khắp mười phương quốc độ để cứu vớt hết thảy chúng sanh đang bị khổ cực ở trong hai mươi lăm cõi, đều khiến cho được giải thoát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ chín)

Câu hỏi: "Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây là gì? Có phải sức mạnh của kinh như một dòng nước cuốn trôi tất cả nghiệp cũ, hay chính trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh đã làm tan rã gốc rễ vô minh? Nếu là vế sau, thì sự “tiêu tan nhất thời” này khác gì với sự chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới-định-huệ thông thường?"

Trả lời:

a) Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây là Sám Hối Thiệt Tướng !!!

b) Chính trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh đã làm tan rã gốc rễ vô minh !!!

c) Sự “tiêu tan nhất thời” này (Sám Hối Thiệt Tướng) có tính chất đốn ngộ nhờ trí tuệ, nhanh hơn sự chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới-định-huệ thông thường (Sám Hối Hữu Tướng và Sám Hối Vô Tướng).

14

Trích đoạn: "Ở chốn phàm phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu hay phát khởi ra vô số tăng kỳ đại thệ sâu rộng. Lại hay phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh thành tựu đại bi... dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ mười)

Câu hỏi: “Pháp vân địa” là địa vị gần với Phật quả. Kinh mô tả một phàm phu, thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị ấy. Xin có thể giải thích rõ hơn: Đây là sự thăng tiến thực tế về mặt tâm linh, hay là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai? “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại?"

Trả lời:

a) “Pháp vân địa” là địa vị gần với Phật quả. Kinh mô tả một phàm phu, thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị ấy. Đây là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai theo đúng quy trình học tập của nền giáo dục Phật Đạo !!! Bởi lẽ, Phần chánh Kinh, Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ mười đã chỉ rõ quy trình học tập kể trên rồi !!! Có lẽ không cần giải thích gì thêm !!!

“Nếu người thiện nam, thiện nữ nào, dù khi Phật còn tại thế, hay sau khi Phật diệt độ, nếu được nghe kinh nầy mà phát khởi tâm đại hoan hỷ rất hiếm có, tự mình liền thọ trì, đọc tụng, viết chép, cúng dường, theo đúng lý thuyết tu hành. Lại hay khuyên người tại gia, xuất gia thọ trì, đọc tụng, viết chép cúng dường, và giải nói rộng ra, rồi cũng theo đúng lý thuyết tu hành.

Vì đã khiến người khác nhờ năng lực của kinh nầy mà tu hành đắc đạo, là đều do nhờ sức người thiện nam, thiện nữ đó phát khởi từ tâm khuyến hóa, cho nên người thiện nam, thiện nữ ấy ngay thân nầy liền được các môn Đà la ni. Ở chốn phàm phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu hay phát khởi ra vô số tăng kỳ đại thệ sâu rộng. Lại hay phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh thành tựu đại bi, rộng hay bạt khổ, huân tập nhiều căn lành, làm lợi ích cho hết thảy, mà diễn bày các pháp thanh tịnh để thấm nhuần các chốn khô khan.

Lại đem những phương pháp đã được này mà ban cho hết thảy chúng sanh được yên vui, rồi dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa, ân đức thấm nhuần khắp cả, lòng từ cứu giúp không bờ bến, tiếp dắt chúng sanh khổ não, khiến cho thâm nhập vào con đường đạo. Vì vậy, người đó chẳng bao lâu được thành đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.”

b) “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại?

Có hai cách thức để cảm nhận được cảnh giới của Pháp Vân Địa:

• Nếu ở đời hậu biên thân hoặc tối hậu thân, hành giả đó hoát nhiên bùng vỡ tâm thức, trong Lý Gia gọi là “Vụ Nổ Big Bang”, giác ngộ Vô Sư Trí, thành tựu Diệu Giác Bồ Tát, có thể vào thẳng cảnh giới của Pháp Vân Địa (Địa thứ mười của Thập Địa Bồ Tát) !!!

• Nếu ở một đời nào khác, hành giả đó vẫn đang học Hữu Sư Trí, chưa bùng vỡ tâm thức, thì có thể học Đạo Đế, thành tựu Nhất Thiết Trí, đạt đến Đẳng Giác Bồ Tát, rồi đi giáo hóa chúng sanh. Ở cuối cảnh giới Thiện Huệ Địa (Địa thứ chín của Thập Địa Bồ Tát), hành giả này cũng đã “dần dần thấy được” cảnh giới của Pháp Vân Địa (Địa thứ mười của Thập Địa Bồ Tát)!!! Bởi lẽ, Thiện Huệ Địa (địa thứ chín) đã thành tựu Trí Tuệ như Phật (thấy điều Phật thấy, biết điều Phật biết, chứng điều Phật chứng) và Pháp Vân Địa (địa thứ mười) là địa bắt đầu vào quá trình Giáo Hóa nhiều đời kiếp !!!

15.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Như vậy thì kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nầy có sức đại oai thần, không gì là tôn hơn, hay khiến cho những kẻ phàm phu đều được chứng thánh quả, vĩnh viễn xa lìa sanh tử, được vui tự tại. Vì vậy mà kinh nầy gọi là Vô Lượng Nghĩa." (Phẩm Mười Công Đức, tổng kết mười công đức)

Câu hỏi: "Kinh đưa ra một kết luận gần như tuyệt đối: Phàm phu nương kinh này có thể chứng thánh quả. Vậy thánh quả ở đây nên hiểu là quả vị giải thoát rốt ráo, hay là một trạng thái “phàm phu Bồ tát” đặc biệt - tức thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu?"

Trả lời:

Với “sức đại oai thần, không gì là tôn hơn” của kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa, với việc thâm nhập và có thể đạt cảnh giới tột cao về Trí Tuệ, thánh quả ở đây không nên hiểu chỉ dừng lại ở quả vị giải thoát rốt ráo (thành tựu về tâm - Chơn Tâm) mà nên hiểu là một trạng thái “phàm phu Bồ tát” đặc biệt - tức thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu (thành tựu về trí - Nhất Thiết Trí) !!!

Trên đây là phần trả lời của con !!! Con rất mong được hành giả và Thầy tiếp nhận, góp ý và bổ khuyết thêm cho con !!!

Con, Lý Hoàng Tuấn - MB1360" (Hết thư)

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau:

👉 https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

07/06/2026

LÝ TỨ

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 90.2026 với chủ đề: Lý Hoàng Tuấn Trả Lời Hành Giả P

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 90.2026 với chủ đề: Lý Hoàng Tuấn Trả Lời Hành Giả P

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 90.2026 với chủ đề: Lý Hoàng Tuấn Trả Lời Hành Giả P

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 90.2026 với chủ đề: Lý Hoàng Tuấn Trả Lời Hành Giả P

Subscribe to