Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời số 91.2026 với chủ đề: Lý Minh Khoa Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!

MB 857 Lý Diệu Sinh 07.06.2026

 

Hành giả Pháp Quang và bạn đọc thân mến !!!

Gần đến thời hạn chót gởi câu trả lời...Chuyên mục nhận được trả lời của Lý Minh Khoa (MT 1731) ở Đà Nẵng, của Lý Thu Hằng (MB 0699) ở Hà Nội, của Lý Kim Thoa (MB 0620) ở Hà Nội và của Lý Ngọc Linh (MB 0721) ở Hải Phòng...!!!

Chuyên mục sẽ lần lượt đăng từng bài viết...Sau đây là trả lời của Sư Đệ Lý Minh Khoa:

"Kính thưa Thầy Lý Tứ,

Kính thưa hành giả Pháp Quang,

Con là Lý Minh Khoa, số thứ tự 1731 trong Lý Gia. Theo ý kiến của hành giả Pháp Quang, được sự cho phép Thầy, con xin phép trả lời 15 câu hỏi của hành giả. Nội dung cụ thể như sau:

Câu 1.

Trích đoạn: "Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quán sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Vì sao các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp? Vì sao quán sát điều này lại được Vô Lượng Nghĩa? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"

Trả lời:

- Bản lai rỗng lặng, không hai: “Pháp” chính là những nghĩ suy, nhận thức, quan niệm do ý thức sản sinh khi căn xúc đối trần, vốn không thực thể, không tự tánh. Vì là hư vọng pháp, bản chất chúng rỗng không. Khi dứt bặt tâm phân biệt, sự đối đãi nhị nguyên hoàn toàn tịch diệt, hiển lộ tính “không hai” (bất nhị).

- Được Vô Lượng Nghĩa: Khi Bồ Tát thấu suốt tâm rỗng rang, không dính mắc danh tướng (vô tướng), trí tuệ sẽ hóa hiện phát sinh vô số phương tiện (diệu dụng/vô lượng nghĩa) để tùy cơ giáo hóa chúng sanh mà không bị sai lầm hay trói buộc.

Câu 2.

Trích đoạn: "Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Vì sao Vô tướng là Thật tướng? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"

Trả lời:

Vạn pháp sinh diệt do duyên, luôn biến hoại nên không có bất kỳ hình tướng hay đặc tính nào là độc lập, cố định mãi mãi. Chính bản chất “không có một tướng trạng cố định” (Vô tướng) đó lại chính là bản chất chân thật rốt ráo (Thật tướng) của vạn vật.

Câu 3.

Trích đoạn: "Vả lại, thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế... Thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Một mặt, kinh nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”; mặt khác, Bồ tát lại quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt”. Hai cái thấy này có trái ngược nhau không? Nếu có thì vì sao và nếu không thì vì sao, xin giải thích rõ?"

Trả lời:

- Hoàn toàn không trái ngược. Đây là hai góc nhìn về Thể và Dụng.

- “Bản lai rỗng lặng” là Bồ Tát nhìn tột vào bản chất (Thật tướng) của các pháp vốn vô ngã, không tự tánh.

- “Niệm niệm sanh diệt” là Bồ Tát nhìn vào hiện tượng tâm thức của chúng sanh đang mê lầm, liên tục bám cảnh sinh vọng niệm như ảo ảnh vòng lửa. Thấu suốt cả hai giúp Bồ Tát tự tại giải thoát mà vẫn khởi mà vẫn khởi tâm Đại Bi cứu độ.

Câu 4.

Trích đoạn: "Vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì có phải tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó? Và “vô tướng” làm thế nào để “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó?"

Trả lời:

- Đúng vậy, mọi giáo pháp đều chỉ là phương tiện “tùy bệnh cho thuốc” phóng xuất từ tâm vô tướng.

- Nguyên lý sinh nghĩa: Thầy Lý Tứ thường ví von diệu dụng này như “cái trống” hay “hư không”. Cái trống tự nó không có tiếng, bản chất vốn rỗng lặng và vô tướng. Nhưng khi có người đánh (tức chúng sanh mang tâm bệnh đến thưa hỏi), tùy lực đánh mạnh hay nhẹ mà trống phát ra vô lượng âm thanh lớn nhỏ khác nhau để tương ứng. Trống phát ra muôn ngàn tiếng nhưng bản thể của nó vẫn luôn trống rỗng, không hề bị âm thanh làm biến đổi. Tâm trí vô tướng của Bồ Tát cũng rỗng rang và sinh ra vô lượng nghĩa y hệt như thế.

Câu 5.

Trích đoạn: "Lúc ban đầu Ta từ chốn Phụ vương, đi đến thành Ba La Nại... khi quay bánh xe pháp Tứ đế, cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Nay ở nơi đây lại diễn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa và cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Vì vậy lời nói ban đầu, lời nói chặng giữa và lời nói ngày nay văn tự tuy là một, nhưng ý nghĩa có khác." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Văn tự là một mà lại có sai khác về ý nghĩa. Vậy bản chất sự sai khác này là gì?"

Trả lời:

- Bản chất của sự sai khác nằm ở chiều sâu nhận thức (Trí chứng) và căn cơ của đương cơ.

- Với Nhị thừa: Văn tự “rỗng lặng” (như vô thường, vô ngã) được dùng để người tu sinh tâm yểm ly (chán ghét, trốn chạy) sinh tử, nhằm cắt đứt kiết sử, mong cầu sự vắng lặng và giải thoát cá nhân.

- Với Bồ Tát: Văn tự “rỗng lặng” mang ý nghĩa của Trí tuệ Bát Nhã chân thật. Bồ Tát thấu tột vạn pháp xưa nay vốn “không tánh”, tự nó vốn thanh tịnh và giải thoát, nên chẳng cần nhọc công yểm ly hay chối bỏ trốn chạy. Các ngài tự tại dấn thân vào sinh tử độ sanh mà tâm vẫn rỗng rang không dính mắc.

Câu 6.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Đó là cảnh giới rất sâu xa bất khả tư nghì của chư Phật, chẳng phải chỗ hay biết của hàng nhị thừa, và cũng chẳng phải chỗ theo kịp của ngôi thập trụ Bồ Tát, chỉ có Phật với Phật mới hay hiểu thấu rốt ráo." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Nếu cảnh giới “một âm thanh ứng hiện tất cả giọng tiếng” chỉ có Phật mới thấu rốt ráo, vậy thì những Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, họ đang tiếp cận nghĩa lý ở mức độ nào? Làm thế nào để họ có đủ tự tin rằng mình đang “tùy thuận” được Phật trí, dù chưa thực chứng?"

Trả lời:

- Mức độ tiếp cận: Bồ Tát sơ cơ tiếp cận cảnh giới này thông qua con đường Học tập (Văn - Tư) để trang bị Chánh kiến, chứ chưa phải là sự thấu triệt thực chứng rốt ráo (Tu - Trí).

- Cơ sở tự tin: Vì chưa chứng tột cùng, họ dựa vào “Tùy Tín Hành” (tin vào chân lý Phật dạy) và “Tùy Pháp Hành” (tư duy logic theo đúng chánh pháp) để tu học. Thước đo vững chắc nhất để họ tự tin biết mình đang “tùy thuận” đúng Phật trí chính là kết quả thực tế: khi ứng dụng giáo pháp, họ thấy khổ đau, phiền não, kiết sử tự động mỏng nhẹ và tiêu thất, tâm thức ngày càng an vui, tĩnh tại trước cảnh duyên. Tự thân giải quyết được phiền não chính là minh chứng thép cho việc đi đúng đường.

Câu 7.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Kinh nầy vốn từ trong nhà chư Phật mà ra, đi đến chỗ hết thảy chúng sanh phát tâm Bồ Đề, và trụ ở nơi các Vị Bồ Tát sở trụ." (Phẩm Mười Công Đức)

Câu hỏi: "Ba mệnh đề “từ nhà chư Phật mà ra”, “đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Đề”, “trụ ở Bồ Tát sở trụ” có phải đang mô tả một vòng vận hành khép kín của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân? Xin giải thích rõ hơn về “ngôi nhà chư Phật” ở đây là gì?"

Trả lời:

- Ngôi nhà chư Phật: Chính là cảnh giới của Bản tâm thanh tịnh, Trí tuệ Bát Nhã (Đại Viên Cảnh Trí / Vô sư trí).

- Ba mệnh đề trong kinh mô tả trọn vẹn lộ trình của Chánh pháp: Xuất phát từ Trí tuệ tuyệt đối của Phật (Bản thể) tiến đến việc Hóa độ, đánh thức hạt giống giác ngộ cho chúng sanh (Dụng) và cuối cùng Và trở thành nền tảng (Đạo đế) để các Bồ Tát an trụ tu hành, làm lợi ích cho đời.

Câu 8.

Trích đoạn: "Người trì kinh nầy... tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba)

Câu hỏi: "Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ lại có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh sao? Điều này có nghĩa là “đại bi” và “phương tiện” có thể vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn sao?"

Trả lời:

- Không vận hành độc lập: Bồ Tát sơ cơ cứu người không dựa vào sự hoàn hảo của cá nhân (hết sạch phiền não), mà nương tựa hoàn toàn vào sức mạnh của Chánh kiến và giáo pháp Liễu nghĩa.

- Bản chất: Giống như một bác sĩ dù đang mang bệnh nhưng nắm vững y lý, họ vẫn có thể kê đúng thuốc để cứu sống bệnh nhân. Đại bi và phương tiện phát huy tác dụng nhờ đi đúng quỹ đạo của Chân lý.

Câu 9.

Trích đoạn: "Người đó cũng ví như vị phu nhân của nhà vua mới sanh ra thái tử... Tuy còn thơ ấu chẳng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính, và cùng với các con vua khác kết làm bằng hữu." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ tư)

Câu hỏi: "Ví dụ “thái tử sơ sinh” rất thâm thúy: phẩm vị không đến từ năng lực, mà đến từ dòng dõi (Phật tử) chăng? Quan điểm này đối với tinh thần bình đẳng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” trong Phật giáo có mâu thuẫn không?"

Trả lời:

- Hoàn toàn không mâu thuẫn: Tất cả đều có Phật tánh, nhưng người thọ trì Chánh pháp là người đã trực tiếp đánh thức Phật tánh đó, chính thức gia nhập Chủng tánh Đại Thừa (Đạo Trí Tuệ).

- Bản chất: Phẩm vị tôn quý này có được là nhờ hành giả mang trong mình hạt giống (chủng tử Bồ Đề) của chư Phật (Thái tử), đi đúng con đường giải thoát. Dù công năng chưa viên mãn (sơ sinh), nhưng hướng đi là tuyệt đối chuẩn xác so với phàm phu vô minh.

Câu 10.

Trích đoạn: "Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy... người đó tuy lại bị đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu, mà lại hay thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ năm)

Câu hỏi: "Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh là ẩn dụ cho điều gì? Nếu là sự chuyển hóa tâm thức, thì đây có phải là pháp tu “đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm?"

Trả lời:

- Bản chất của thời gian: Trong Phật đạo, “kiếp” không đo bằng thời gian vật lý, mà đo bằng sự chuyển biến tâm thức.

- Đoạn trừ tam tế: Một niệm hoát nhiên giác ngộ Chánh pháp có thể quét sạch u mê của muôn ngàn kiếp trôi lăn. Khả năng này chính là sự bùng vỡ của trí tuệ, cắt đứt những niệm hư dối về quá khứ - hiện tại - vị lai, đạt đến sự giải thoát ngay trong hiện tại này.

Câu 11.

Trích đoạn: "Ví như con vua tuy còn thơ ấu, nếu khi nhà vua đi tuần du hay khi bị bệnh thì nhà vua ủy thác cho thái tử lãnh trị việc nước... đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ sáu)

Câu hỏi: "Ở đây, người trì kinh chưa trụ Sơ địa nhưng thuyết pháp lại có hiệu quả ngang với Phật. Điều này đặt ra một câu hỏi nghiêm túc: Thẩm quyền giáo hóa nằm ở chứng lượng bản thân, hay ở sự trung thành với lời Phật dạy? Nếu một người phàm phu y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức ấy thuộc về kinh, về Phật, hay về chính vị phàm phu ấy?"

Trả lời:

- Thẩm quyền: Nằm ở sự y cứ tuyệt đối vào Chánh pháp, ứng hợp nguyên lý “Y pháp bất y nhân”. Vị phàm phu thuyết pháp hiệu quả vì họ truyền đạt đúng nguyên bản “Thánh chỉ” (Chánh pháp) của đấng Pháp Vương.

- Công đức: Sức mạnh cứu độ chúng sanh đắc đạo thuộc về Diệu dụng của chánh pháp. Tuy nhiên, vị phàm phu nhờ thân - khẩu - ý tương ưng với Phật trí và làm lợi ích cho đời, nên tự thân vị ấy cũng tự động phát sinh vô lượng Công đức.

Câu 12.

Trích đoạn: "Người thiện nam, thiện nữ đó... chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ bảy)

Câu hỏi: "Đây như là một tuyên bố đốn ngộ triệt để: từ phàm phu nhảy vọt lên Thất địa. Vậy “vô sanh pháp nhẫn” ở đây tương đương với địa vị nào? Và “lục độ tự nhiên hiện ra” có nghĩa là hành giả không cần trải qua vô số kiếp tu tập hạnh Ba-la-mật như giáo lý thông thường, hay đó là kết quả của vô số kiếp tu tập trong quá khứ nay được kinh này khai mở?"

Trả lời:

- “Vô sanh pháp nhẫn” tương đương địa vị nào? Tương đương với Giải thoát Bất Động (chứng hai vô sanh: vô sanh tâm, vô sanh pháp), tương ứng với quả vị Bát Địa Bồ Tát (Bất Động Địa).

- Cơ chế “lục độ tự nhiên hiện ra”: Trong Phật đạo, giác ngộ được đo bằng sự chuyển hóa nhận thức (chuyển thức thành trí), không đo bằng thời gian vật lý. Khi tâm đã hoát nhiên thấu suốt vạn pháp vốn Không (tâm đáo bỉ ngạn), thì theo nguyên lý “thành tựu một Ba-la-mật thì sáu món thành tựu”. Các đức tính này vốn có sẵn trong Phật tánh, hễ sạch vô minh che chướng là tự nhiên hiển lộ viên mãn, hoàn toàn không cần nhọc công gom góp, tích lũy qua vô số kiếp.

Câu 13.

Trích đoạn: "Những nghiệp chướng nặng nề xưa kia còn lại, nhất thời liền phải tiêu tan, mà được thanh tịnh. Và lại được biện tài lớn, lần lượt trang nghiêm các pháp ba la mật... phân thân rải thể khéo léo ở khắp mười phương quốc độ để cứu vớt hết thảy chúng sanh đang bị khổ cực ở trong hai mươi lăm cõi, đều khiến cho được giải thoát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ chín).

Câu hỏi: "Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây là gì? Có phải sức mạnh của kinh như một dòng nước cuốn trôi tất cả nghiệp cũ, hay chính trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh đã làm tan rã gốc rễ vô minh? Nếu là vế sau, thì sự “tiêu tan nhất thời” này khác gì với sự chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới-định-huệ thông thường?"

Trả lời:

- Cơ chế cốt lõi: Chính là Trí tuệ phát sinh đập tan tận gốc rễ Vô minh. Phật đạo gọi đây là pháp “Sám hối thiệt tướng” - dùng trí tuệ nhìn thấu vạn pháp như mộng huyễn, nghiệp báo không có tự thể chân thật.

- Sự khác biệt với tu tập thông thường: Sám hối thông thường (tu phước, giữ giới) giống như “châm thêm nước ngọt vào ly nước mặn” để pha loãng dần (mang tính đối phó tạm thời). Trái lại, dùng sức Giác Ngộ từ việc thọ trì kinh giống như “mang ngọn đèn bật lên trong hang tối ngàn năm”, bóng tối (nghiệp chướng) dù lâu đời đến đâu cũng nhất thời tan biến hoàn toàn.

Câu 14. Phàm phu “dần dần thấy được” Pháp Vân Địa

Trích đoạn: "Ở chốn phàm phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu hay phát khởi ra vô số tăng kỳ đại thệ sâu rộng. Lại hay phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh thành tựu đại bi... dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ mười)

Câu hỏi: “Pháp vân địa” là địa vị gần với Phật quả. Kinh mô tả một phàm phu, thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị ấy. Xin có thể giải thích rõ hơn: Đây là sự thăng tiến thực tế về mặt tâm linh, hay là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai? “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại?"

Trả lời:

- Thăng tiến thực tế hay thọ ký tương lai? Đây là sự thăng tiến thực tế về mặt tâm thức ngay trong hiện đời.

- Giải thích “dần dần thấy được”: Phật đạo có nguyên lý “Một địa nhiếp 10 địa” (từ Sơ địa đã có thể thấu suốt cảnh giới của các địa khác). Khi một phàm phu giác ngộ, khởi Đại Bi và dấn thân vào đời làm công hạnh giáo hóa, “Tuệ lực” của họ sẽ tăng trưởng từng ngày. “Dần dần thấy được” nghĩa là họ đang tự thân thực chứng, tự cảm nhận được năng lực “nổi mây Từ bi, rưới mưa Chánh pháp” của Pháp Vân Địa đang hiển hiện sờ sờ ngay trong chính đời sống và tâm thức của mình.

Câu 15. Thánh quả mà phàm phu nương kinh này đạt được là gì?

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Như vậy thì kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nầy có sức đại oai thần, không gì là tôn hơn, hay khiến cho những kẻ phàm phu đều được chứng thánh quả, vĩnh viễn xa lìa sanh tử, được vui tự tại. Vì vậy mà kinh nầy gọi là Vô Lượng Nghĩa." (Phẩm Mười Công Đức, tổng kết mười công đức)

Câu hỏi: "Kinh đưa ra một kết luận gần như tuyệt đối: Phàm phu nương kinh này có thể chứng thánh quả. Vậy thánh quả ở đây nên hiểu là quả vị giải thoát rốt ráo, hay là một trạng thái “phàm phu Bồ tát” đặc biệt - tức thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu?"

Trả lời:

- Bản chất của “Thánh quả”: Là trạng thái tâm thức đã đoạn tận phiền não, kiết sử, đạt đến đạo quả vô lậu và sự an vui tột bậc (chứng Diệt Đế).

- Cảnh giới thực chứng: Người phàm phu nhờ học tập Chánh pháp, thấu triệt tự tâm thì dù mang thân xác giữa đời thường, tâm trí vẫn hoàn toàn Giải thoát Bất động. Đó là cảnh giới của người “sống như loài lưỡng cư” - dấn thân vào thế gian nhưng không bị thế gian làm ô nhiễm./.

Kính bút

Lý Minh Khoa - MT 1731" (Hết thư)

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau:

👉 https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

07/06/2026

LÝ TỨ

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 91.2026 với chủ đề: Lý Minh Khoa Trả Lời Hành Giả Ph

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 91.2026 với chủ đề: Lý Minh Khoa Trả Lời Hành Giả Ph

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 91.2026 với chủ đề: Lý Minh Khoa Trả Lời Hành Giả Ph

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 91.2026 với chủ đề: Lý Minh Khoa Trả Lời Hành Giả Ph

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời số 92.2026 với chủ đề: Lý Thu Hằng Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!

MB 857 Lý Diệu Sinh 07.06.2026

 

Sau đây là trả lời của Lý Thu Hằng:

"Dạ Thưa Thầy, con là Lý Thu Hằng – MB 0699. Con xin được gửi phần trả lời của con cho 15 câu hỏi của Hành Giả Pháp Quang.

1.

Trích đoạn: "Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quán sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Vì sao các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp? Vì sao quán sát điều này lại được Vô Lượng Nghĩa? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"

Trả lời:

Đầu tiên, để hiểu đoạn Kinh này, cần phải minh định rõ khái niệm Pháp. Pháp ở đây phải hiểu rằng: là các quan điểm, quan niệm, khái niệm của hữu tình về thân tâm và thế giới.

Nói: Các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp. Đây là một sự thật! Các pháp tự bản chất không tự tánh, không tự tướng, không tự ngã. Bản chất các pháp tự không. Ta thấy có pháp lớn, pháp nhỏ, pháp sanh, pháp diệt, thấy có trụ, có động, có tiến, có lui,… thì đều là cái ta thấy chứ không phải các pháp có tánh, tướng,… như thế!!!

Nếu các pháp có tánh lớn thì nó phải thường lớn, không thể thấy lúc có nhỏ, có lớn. Thấy các pháp có lớn, có nhỏ,… là do cái tâm thức nhị nguyên đối đãi của chúng sanh mà thấy có lớn có nhỏ, chứ các pháp bản chất tự không (không tự tánh, không tự tướng, không tự ngã) chẳng có những món đó. Ta thấy pháp có lớn, nhỏ, sanh, diệt, trụ, động, tiến, lui,… là ta thấy cái hiện tượng triển chuyển biến hợp vô thường của các pháp, chứ chẳng phải là bản chất các pháp!!!

Chính vì Bồ tát thấy được bản chất tự không của các pháp, ví như hư không, nên không bị kẹt mắc nơi các pháp, không còn bị ngăn ngại bởi các pháp, tự tại trước các pháp. Bồ tát từ đây, vì thấy chúng sanh mê lầm muôn vàn kiểu, căn tánh ham muốn vô lượng, mà sinh lòng lân mẫn, phát khởi đại bi, nương nơi muôn vàn món mê (pháp) của chúng sanh mà diễn nói vô lượng nghĩa, giúp chúng sanh rời vọng đạt chân, thấy được bản chất chân thật của các pháp. Thấy được bản chất chân thật, cái mê tự mất. Như căn phòng tối, đèn bật lên thì bóng tối tự mất.

Tóm lại, đoạn kinh trên muốn nói: Bồ tát nhờ thấy được bản chất tự không (không tự tánh, không tự tướng, không tự ngã) - như hư không của các pháp, vì thương chúng sanh mê lầm trong các pháp hư vọng, mà nương nơi vọng chấp diễn nói các nghĩa sai biệt, giúp chúng sanh dần thấy được chỗ chân thật. Bồ tát làm được điều này gọi là thành tựu Vô Lượng Nghĩa.

2.

Trích đoạn: "Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Vì sao Vô tướng là Thật tướng? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"

Trả lời:

Nguyên văn trích đoạn này trong Kinh là:

“Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là “vô tướng” vậy. Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là “thật tướng” vậy.”

Câu Kinh này muốn nói: Sở dĩ Bồ tát có thể diễn nói vô lượng nghĩa tùy theo căn tánh mê lầm của chúng sanh, do vì vị này: chứng thực được KHÔNG PHÁP mà từ MỘT PHÁP (KHÔNG PHÁP) mà sanh ra MỘT PHÁP (HUYỄN PHÁP) để đối trị vừa khít với cái tâm huyễn của chúng sanh.

Vì chúng sanh mê quá mà nói huyễn pháp (phương tiện) nhằm đưa chúng sanh về chân, nên nói: Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng (chẳng có tướng vô tướng), vì đây chỉ là tạm nói như vậy nhằm giúp người thấy được nghĩa gì đó. Chứ thực bản chất, “Chẳng tướng mà vô tướng” (tức là, chẳng có tướng vô tướng cùng chẳng không có tướng vô tướng), thì mới gọi là “thật tướng” – cái tướng chân thật siêu quá nghĩa tướng, vô tướng, chẳng tướng, chẳng vô tướng.

3.

Trích đoạn: "Vả lại, thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế... Thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Một mặt, kinh nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”; mặt khác, Bồ tát lại quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt”. Hai cái thấy này có trái ngược nhau không? Nếu có thì vì sao và nếu không thì vì sao, xin giải thích rõ? "

Trả lời:

Hai cái thấy này không trái ngược nhau. Cái thấy “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt” là cái thấy bản chất của các pháp. Cái thấy “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt” là cái thấy hiện tượng của các pháp.

Hiện tượng thì chẳng phải là bản chất. Chúng sanh vì mê chấp cái thấy hiện tượng, cho là bản chất, là chân lý, nên mới sinh phiền não khổ. Bồ tát thấy được sự thật này, tùy cái mê chấp của chúng sanh, bày pháp phương tiện đối trị, giúp người dứt mê, diệt khổ phiền não.

4.

Trích đoạn: "Vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì có phải tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó? Và “vô tướng” làm thế nào để “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó?"

Trả lời:

a) “Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì có phải tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó”. => Đúng. Xem lại câu trả lời số 2.

b) Giống như mặt trời vẫn thường tỏa ánh sáng, việc tỏa ánh sáng chẳng làm mặt trời bị “mòn” đi chút nào.

Nghĩa “vô tướng” trong câu trên cũng như vậy. Vô tướng này là thật tướng, là thường, là chân lý. Mà đã là thường, thì chẳng phải làm thế nào “để “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó”!!!

5.

Trích đoạn: "Lúc ban đầu Ta từ chốn Phụ vương, đi đến thành Ba La Nại... khi quay bánh xe pháp Tứ đế, cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Nay ở nơi đây lại diễn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa và cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Vì vậy lời nói ban đầu, lời nói chặng giữa và lời nói ngày nay văn tự tuy là một, nhưng ý nghĩa có khác." (Phẩm Thuyết Pháp)

"

Câu hỏi: "Văn tự là một mà lại có sai khác về ý nghĩa. Vậy bản chất sự sai khác này là gì?"

Trả lời:

Văn tự là một nhưng đối tượng nghe căn tánh sai khác, thời điểm thính pháp sai khác, nên ý nghĩa sai khác.

6.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Đó là cảnh giới rất sâu xa bất khả tư nghì của chư Phật, chẳng phải chỗ hay biết của hàng nhị thừa, và cũng chẳng phải chỗ theo kịp của ngôi thập trụ Bồ Tát, chỉ có Phật với Phật mới hay hiểu thấu rốt ráo." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Nếu cảnh giới “một âm thanh ứng hiện tất cả giọng tiếng” chỉ có Phật mới thấu rốt ráo, vậy thì những Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, họ đang tiếp cận nghĩa lý ở mức độ nào? Làm thế nào để họ có đủ tự tin rằng mình đang “tùy thuận” được Phật trí, dù chưa thực chứng?"

Trả lời:

Mỗi Pháp Phật đều đầy đủ giáo tông và tâm tông.

Thầy Lý Tứ cũng có nói: Giáo Tông thuộc về khoa giáo, thành tựu này thuộc về kiến giải, giống như "học thuộc thực đơn của một nhà hàng", còn Tâm tông thì giống như người có tiền gọi món ăn, nhờ ăn mà no bụng. Học thực đơn thì chẳng phải mất tiền, vì thế ai học cũng được, thậm chí nhà hàng khuyến khích người học.

Cũng vậy, Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, tiếp cận được lời chỉ dạy của Phật trên bề mặt giáo tông, cũng mang lại lợi lạc như trong Phẩm Mười Công Đức có chia sẻ: “Nếu Bồ Tát đó được nghe kinh này, dù là một câu hay một bài kệ, dù chuyển đọc một lượt, hai lượt; dù là mười lượt, trăm lượt, cho đến muôn ức vạn Hằng hà sa vô lượng vô số. Tuy lại chẳng hay thể nhập vào được chân lý cao siêu, và chẳng hay làm chấn động được ba nghìn đại thiên quốc độ, tiếng phạm như sấm vang, chuyển xe đại pháp; nhưng đã được được tất cả bốn chúng, tám bộ kính tin, và cùng các đại Bồ Tát làm quyến thuộc thâm nhập vào pháp bí mật của chư Phật. Những chỗ nên diễn nói ra thì không trái không lỗi, thường được chư Phật hộ niệm.”

Nếu Bồ tát này muốn chắc thật rằng mình đang “tùy thuận” được Phật trí, không có con đường nào khác là thực chứng lời dạy của Phật.

7.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Kinh nầy vốn từ trong nhà chư Phật mà ra, đi đến chỗ hết thảy chúng sanh phát tâm Bồ Đề, và trụ ở nơi các Vị Bồ Tát sở trụ." (Phẩm Mười Công Đức)

Câu hỏi: "Ba mệnh đề “từ nhà chư Phật mà ra”, “đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Đề”, “trụ ở Bồ Tát sở trụ” có phải đang mô tả một vòng vận hành khép kín của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân? Xin giải thích rõ hơn về “ngôi nhà chư Phật” ở đây là gì?"

Trả lời:

3 mệnh đề trên chỉ đến 3 đối tượng:

− “Từ nhà chư Phật mà ra” nhằm chỉ cho Phật trí (Phật bảo) giống như mặt trời,

− Phóng ánh sáng tới hết thảy chúng sanh có nhân duyên (phát tâm Bồ Đề) (Pháp bảo),

− Và “trụ ở các vị Bồ Tát sở trụ” như hình ảnh Hoa tận đăng trong Liên hoa đài tạng, làm cho mạng mạch Phật pháp nối dài không tiêu thất (Tăng bảo).

8.

Trích đoạn: "Người trì kinh nầy... tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba)

Câu hỏi: "Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ lại có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh sao? Điều này có nghĩa là “đại bi” và “phương tiện” có thể vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn sao?"

Trả lời:

Thân là quả của Nghiệp, thuộc về thế gian nên nhận chịu nghiệp thế gian. Giác ngộ là nơi nhận thức, thuộc về xuất thế. Trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh, là phạm trù thuộc về trí tuệ xuất thế gian thượng thượng, siêu quá thế gian cùng xuất thế gian.

Phật là bậc Vô Thượng Trí, nhưng Thân vật lý của Phật vẫn Sinh, Gìa, Bệnh, Chết theo quy luật của Thân. Còn Tâm thức và Trí tuệ vô thượng, chẳng can dự gì tới thân vật lý này.

9.

Trích đoạn: "Người đó cũng ví như vị phu nhân của nhà vua mới sanh ra thái tử... Tuy còn thơ ấu chẳng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính, và cùng với các con vua khác kết làm bằng hữu." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ tư)

Câu hỏi: "Ví dụ “thái tử sơ sinh” rất thâm thúy: phẩm vị không đến từ năng lực, mà đến từ dòng dõi (Phật tử) chăng? Quan điểm này đối với tinh thần bình đẳng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” trong Phật giáo có mâu thuẫn không?"

Trả lời:

“Thái tử” trong hình ảnh ví dụ trên, trong Kinh đã chỉ rõ nhằm chỉ cho chúng sanh khi nghe kinh này dù chuyển đọc một lượt, dù một bài kệ, cho đến một câu thì được tư tưởng mạnh mẽ. Giống như người kế thừa được bản hoài của nhà vua mà ở đây gọi là “thái tử”.

Đây chính là tinh thần bình đẳng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”! Vì tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, nên khi tương ưng với tư tưởng mạnh mẽ, với bản hoài của bao đời chư Phật là “giúp hết thảy chúng sanh thành Phật”, dù người này chưa thể nhập vào được chân lý cao siêu, “cũng thường được chư Phật hộ niệm, được tất cả bố chúng, tạm bộ kính tin, và cùng các đại Bồ Tát làm quyến thuộc thâm nhập vào pháp bí mật của chư Phật”. (Trích Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ tư)

10.

Trích đoạn: "Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy... người đó tuy lại bị đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu, mà lại hay thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ năm)

"

Câu hỏi: "Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh là ẩn dụ cho điều gì? Nếu là sự chuyển hóa tâm thức, thì đây có phải là pháp tu “đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm?"

Trả lời:

“Thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày”. Đoạn kinh này muốn thể hiện sức công phá bất khả tư nghì của đạo Đại Bồ Đề.

Người dù thân tâm còn ở trong 3 cõi, chịu đủ sự khổ phiền não của 3 cõi, nhưng khi tâm thức “lại hay thị hiện đạo đại Bồ Đề” – sống và đi trên con đường giác ngộ và giúp người giác ngộ, thì một ngày khởi tâm nguyện như vậy như người đã trải qua trăm kiếp, và trăm kiếp tu hành cũng cảm thấy như chỉ một ngày. Ở đây muốn nói con đường Chánh Pháp, con đường Đại Bồ Đề vượt ra ngoài ý niệm về thời gian, không thể suy lường nghĩ bàn mà thấy được.

11.

Trích đoạn: "Ví như con vua tuy còn thơ ấu, nếu khi nhà vua đi tuần du hay khi bị bệnh thì nhà vua ủy thác cho thái tử lãnh trị việc nước... đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ sáu)

Câu hỏi: "Ở đây, người trì kinh chưa trụ Sơ địa nhưng thuyết pháp lại có hiệu quả ngang với Phật. Điều này đặt ra một câu hỏi nghiêm túc: Thẩm quyền giáo hóa nằm ở chứng lượng bản thân, hay ở sự trung thành với lời Phật dạy? Nếu một người phàm phu y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức ấy thuộc về kinh, về Phật, hay về chính vị phàm phu ấy?"

Trả lời:

a) Kinh nói: “Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác”. Nói: “không sai khác” chứ không không nói “hiệu quả ngang với Phật”.

b) Phật pháp không của riêng ai, cũng không thuộc quyền sở hữu của ai. Như Phật cũng từng nói trong Kinh Kim Cang: “Tu Bồ Đề! Nếu như có pháp Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, Phật Nhiên Đăng hẳn đã không thọ ký cho ta: Ông về sau sẽ thành Phật hiệu Thích ca Mâu ni. Vì thật không có pháp được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên Phật Nhiên Đăng mới thọ ký cho Ta rằng: Ông về sau sẽ thành Phật, hiệu là Thích ca mâu ni.”

c) Bất cứ ai vâng theo, thọ trì, tin hiểu, hay chứng thực lời Phật dạy, mà nhờ đây giúp mình giác ngộ hay giúp người giác ngộ, thì việc làm này đều phát sinh công đức. Công đức là tiền công trả cho người giác ngộ, như ánh sáng từ đôi mắt sáng người giác ngộ.

12.

Trích đoạn: "Người thiện nam, thiện nữ đó... chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ bảy)

Câu hỏi: "Đây như là một tuyên bố đốn ngộ triệt để: từ phàm phu nhảy vọt lên Thất địa. Vậy “vô sanh pháp nhẫn” ở đây tương đương với địa vị nào? Và “lục độ tự nhiên hiện ra” có nghĩa là hành giả không cần trải qua vô số kiếp tu tập hạnh Ba-la-mật như giáo lý thông thường, hay đó là kết quả của vô số kiếp tu tập trong quá khứ nay được kinh này khai mở?"

Trả lời:

Nguyên văn trong đoạn kinh này: "Năng lực thứ bảy bất khả tư nghì công đức của kinh nầy là: Nếu người thiện nam, thiện nữ nào dù khi Phật còn tại thế, hay sau khi Phật diệt độ, được nghe kinh nầy mà vui mừng tin theo, lại hay phát khởi tâm hy hữu, mà thọ trì, đọc tụng, giải nói, viết chép, THEO ĐÚNG LÝ THUYẾT TU HÀNH, PHÁT TÂM BỒ ĐỀ khởi ra mọi căn lành, GÂY Ý ĐẠI BI MUỐN CỨU ĐỘ CHO HẾT THẢY CHÚNG SANH KHỔ NÃO mà chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát.” (Hết trích)

Câu kinh viết rõ, năng lực bất khả tư nghì công đức của Kinh phát huy, khi người thiện nam thiện nữ này hội tụ đủ 3 điều kiện:

- Theo đúng lý thuyết tu hành (như lý tác ý)

- Phát tâm bồ đề (phát tâm chân thật)

- Gây ý đại bi muốn cứu độ cho hết thảy chúng sanh khổ não (khởi ý đại bi, đi theo bản hoài của chư Phật)

Giống như một người đã nhất tâm, một lòng một dạ trên con đường tự độ, độ tha.

Thì, ngay khi phát tâm Bồ-đề chân thật:

• Nhân đã chứa quả.

• Quả đã hiện trong nhân.

Nên từ đó:

- Không tu hành sáu pháp ba la mật mà tâm thành tựu được sáu ba la mật (xả pháp tồn tại)

- Thân này còn ở trong ba cõi, nhưng tâm thức đã hướng về cõi xuất thế, nên phiền não sanh khởi không còn hiện khởi trong người này, chứng vô sanh pháp nhẫn – không sanh tâm, không sanh pháp, được Niết bàn thanh tịnh. Giống như người đã quyết một lòng nhìn sang trái, thì không thể thấy bên phải.

Và ngay nơi bổn tâm chân thật, phiền não không thể hiện khởi, được ngôi Thất địa đại Bồ Tát – Tâm bất động, Trí giải thoát, tiếp Nguyện lớn của chư đại Bồ Tát.

13.

Trích đoạn: "Những nghiệp chướng nặng nề xưa kia còn lại, nhất thời liền phải tiêu tan, mà được thanh tịnh. Và lại được biện tài lớn, lần lượt trang nghiêm các pháp ba la mật... phân thân rải thể khéo léo ở khắp mười phương quốc độ để cứu vớt hết thảy chúng sanh đang bị khổ cực ở trong hai mươi lăm cõi, đều khiến cho được giải thoát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ chín)

Câu hỏi: "Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây là gì? Có phải sức mạnh của kinh như một dòng nước cuốn trôi tất cả nghiệp cũ, hay chính trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh đã làm tan rã gốc rễ vô minh? Nếu là vế sau, thì sự “tiêu tan nhất thời” này khác gì với sự chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới-định-huệ thông thường?"

Trả lời:

a) Bồ tát do thấu suốt được bản chất thân tâm và thế giới mà ra khỏi trói buộc của nghiệp thức, tiêu trừ nghiệp chướng, thanh tịnh nghiệp.

b) Cả 2. Nhờ nương theo lời kinh mà có giác ngộ như pháp, từ đây trí tuệ phát sinh, trí tuệ như ngọn đèn, ngọn đèn thắp lên thì bóng tối tự mất, bặt dứt vô minh.

c) Giác ngộ chân thật trong Phật đạo chỉ do thấu suốt mà thành. Có giác ngộ, mới có chánh trí, có chánh trí mới tiêu tan nghiệp chướng.

14

Trích đoạn: "Ở chốn phàm phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu hay phát khởi ra vô số tăng kỳ đại thệ sâu rộng. Lại hay phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh thành tựu đại bi... dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ mười)

Câu hỏi: “Pháp vân địa” là địa vị gần với Phật quả. Kinh mô tả một phàm phu, thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị ấy. Xin có thể giải thích rõ hơn: Đây là sự thăng tiến thực tế về mặt tâm linh, hay là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai? “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại?"

Trả lời:

Nguyên văn đoạn kinh này nêu lên quá trình người thiện nam thiện nữ:

1- Khi được nghe kinh nầy mà PHÁT KHỞI TÂM ĐẠI HOAN HỶ rất hiếm có

2- Tự mình liền thọ trì, đọc tụng, viết chép, THEO ĐÚNG LÝ THUYẾT TU HÀNH

3- Lại hay khuyên người thọ trì, đọc tụng, viết chép, giải nói rộng ra, theo đúng lý thuyết tu hành, KHIẾN NGƯỜI NHỜ NĂNG LỰC CỦA KINH NẦY MÀ TU HÀNH ĐẮC ĐẠO

4- Lại hay PHÁT TÂM CỨU ĐỘ HẾT THẢY CHÚNG SANH thành tựu đại bi

5- Huân tập nhiều căn lành, diễn bày các pháp thanh tịnh thấm nhuần các chốn khô khan

6- Lại đen những phương pháp được được này mà ban cho hết thảy chúng sanh được yên vui

7- Dần dần thấy được vượt lên ngôi PHÁP VÂN ĐỊA, tiếp dắt chúng sanh khổ não, khiến cho thâm nhập vào con đường đạo.

Đọc kỹ đoạn Kinh sẽ thấy Kinh đang mô tả quy trình từ người Sơ phát tâm –> Tu hành để tự giác Ngộ -> Phát tâm đại bi -> Hành công hạnh Độ tha giúp người giác ngộ. Mà dần dần vượt lên ngôi Pháp vân địa.

“Dần dần thấy được” để chỉ việc trí tuệ viên mãn từ cạn tới sâu trong quá trình làm tự độ và độ tha.

15.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Như vậy thì kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nầy có sức đại oai thần, không gì là tôn hơn, hay khiến cho những kẻ phàm phu đều được chứng thánh quả, vĩnh viễn xa lìa sanh tử, được vui tự tại. Vì vậy mà kinh nầy gọi là Vô Lượng Nghĩa." (Phẩm Mười Công Đức, tổng kết mười công đức)

"

Câu hỏi: "Kinh đưa ra một kết luận gần như tuyệt đối: Phàm phu nương kinh này có thể chứng thánh quả. Vậy thánh quả ở đây nên hiểu là quả vị giải thoát rốt ráo, hay là một trạng thái “phàm phu Bồ tát” đặc biệt - tức thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu?"

Trả lời:

Ý nghĩa đoạn kinh này để chỉ Bồ tát nương nơi Kinh này có thể giúp cho những kẻ phàm phu được chứng thánh quả, xa lìa sanh tử, an vui tự tại.

Con, Lý Thu Hằng - MB 0699" (Hết thư)

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau:

👉 https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

07/06/2026

LÝ TỨ

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 92.2026 với chủ đề: Lý Thu Hằng Trả Lời Hành Giả Phá

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 92.2026 với chủ đề: Lý Thu Hằng Trả Lời Hành Giả Phá

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời số 93.2026 với chủ đề: Lý Kim Thoa Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!

MB 857 Lý Diệu Sinh 07.06.2026

 

Sau đây là trả lời của Lý Kim Thoa - MB 0620...Ở Hà Nội...!!!

"Kính thưa thầy con xin phép được tham gia trả lời câu hỏi của bạn đọc Pháp Quang

Chào bác Pháp Quang, tôi là Lý Kim Thoa là học trò số 620 của thầy Lý Tứ. Nhận được thư của bác HĐ Lý Gia chúng tôi rất hoan hỉ!

Điều hoan hỉ thứ nhất là vì chủ trương coi Phật đạo như nền Giáo dục của Lý Gia đã được bác – một người đã có nhiều năm nghiên cứu về Phật đạo đồng cảm và trân trọng.

Điều hoan hỉ là vì không chỉ dừng lại ở đó bác còn muốn được tường tận về Thầy Lý Tứ và các HĐ Lý Gia thông qua 15 câu hỏi đã khiến bác “không ít điểm nghĩa lý uyên áo”. Nhân các câu hỏi của bác, thao trường Lý Gia lại được dịp rộn ràng cờ trống, HĐ Lý Gia lại có dịp mang những điều đã thực chứng qua quá trình học tập, tri ân công đức giáo dạy của Thầy và Chư Phật.

Phật đạo là một nền giáo dục, đã là nền giáo dục thì phải có hệ thống cấp lớp, chương trình đào tạo, mục tiêu đầu ra, tiêu chuẩn đánh giá và lộ trình học tập rõ ràng. Người học tập phải biết mình đang ở đạo quả nào, cần thành tựu những gì để thâm nhập đạo quả tiếp theo trong Phật đạo.

Trong nền giáo dục ấy “Kinh điển của Đức Phật để lại chính là một bộ sách giáo khoa hoàn hảo, giúp người học tiếp cận kiến thức từ thấp lên cao, từ cạn đến sâu, từ đại cương đến chi tiết, từ những ứng dụng thô sơ đến các thứ triết lý cao thâm... Vì thế, không biết phân loại, sắp xếp, đọc tụng theo thứ lớp, để có thể lãnh hội và ứng dụng phù hợp từng giai đoạn tu tập, sẽ giống như người bệnh uống nhầm thuốc, hệ quả sẽ là, "tiền mất tật mang" đã không ích lợi nhiều, bệnh tình có khi trầm trọng hơn, điều này không phải là hiếm gặp trong thực tế tu hành!”- trích Thầy Lý Tứ

Để không gặp phải tình trạng này, trước khi khảo cứu Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa, ta cần phải xác định vị trí của bài kinh này trong hệ thống giáo dục. Thật hữu duyên khi bài Kinh này cũng được Thầy Lý Tứ đưa vào trong cuốn 11 bài kinh Phật nhằm giúp các HĐ Lý Gia có được bức tranh tổng thể, có được cái nhìn khái quát về hệ thống kinh điển của Phật Đạo từ thấp lên cao, từ cạn đến sâu...Trong cuốn 11 bài kinh Phật, bài Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa đứng cuối cùng, là đại diện của Pháp Vân Môn – pháp môn giáo hoá nổi mưa pháp làm lợi ích cho muôn loài.

Do có vị trí đặc biệt như vậy nên ngay từ phẩm đầu Kinh đã mô tả hội chúng tham dự nghe pháp là các Đại Bồ Tát (Bồ Tát Ma Ha Tát). Nhân duyên bài kinh ra đời nhằm giúp các vị Đại Bồ tát ấy chóng thành đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Đã là Bồ Tát Ma Ha Tát thì điều kiện tiên quyết phải là tâm như hư không và hết thảy vì chúng sanh.

Từ tiền đề này, sau đây tôi xin được đi vào từng câu hỏi cụ thể:

Câu hỏi 1:

Trích đoạn: "Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quán sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Vì sao các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp? Vì sao quán sát điều này lại được Vô Lượng Nghĩa? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"

Trả lời: Các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp – đây là sự thật hay thật tướng của các pháp.

Theo ý nghĩa đoạn trích muốn tu học pháp môn Vô Lượng Nghĩa, đầu tiên người học phải thấy được thật tướng của các pháp.

Điều kiện tiếp theo đó là: “Chỉ vì chúng sanh mê chấp lấy cái giả dối, mà cho là cái nầy, cái kia, là được, là mất, khởi ra tâm niệm chẳng lành, tạo ra mọi điều ác nghiệp, loanh quanh trong sáu ngả, chịu đủ mọi khổ độc, hàng vô lượng ức kiếp, mà không tự biết để tìm lối ra. Bồ Tát Ma Ha Tát, quán sát kỹ lưỡng như thế rồi sanh ra lòng lân mẫn, phát khởi ý đại từ bi, hầu mong cứu vớt”

Dịch nghĩa: Các pháp tự không nhưng chúng sanh do mê lầm chấp trước nên phải chịu ác nghiệp, quanh quẩn trong 6 ngả, chịu mội khổ não. Do đây Bồ Tát Ma Ha tát tuy tâm như hư không mà phát khởi tâm đại bi cứu độ chúng sanh.

Câu hỏi 2:

Trích đoạn: "Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Vì sao Vô tướng là Thật tướng? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"

Trả lời:

Đoạn kinh này nên được trích dẫn đầy đủ như sau: thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế...Bồ Tát quá sát kỹ lưỡng nguồn gốc của bốn tướng như thế đều biết cả rồi…vào mọi căn tánh ham muốn của chúng sanh; vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà Vô Lượng Nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là vô tướng. Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy.

Thật tướng là vô tướng, do vô tướng nên có thể vào mọi căn tánh thuyết pháp vô lượng, thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng, do đây goi là Vô Lượng Nghĩa.

Câu hỏi 3:

Trích đoạn: "Vả lại, thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế... Thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Một mặt, kinh nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”; mặt khác, Bồ tát lại quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt”. Hai cái thấy này có trái ngược nhau không? Nếu có thì vì sao và nếu không thì vì sao, xin giải thích rõ?"

Trả lời:

Các pháp “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”đây là sự thật. Bồ tát lại quán sát chúng sanh thấy các pháp “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt”. Cho nên Bồ Tát mới biết nguyên nhân hình thành chúng sanh giới và con đường đưa chúng sanh ra khỏi ngu mê lầm.

Câu hỏi 4:

Trích đoạn: "Vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)"

Câu hỏi: "Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì có phải tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó? Và “vô tướng” làm thế nào để “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó?"

Trả lời:

Tất cả giáo pháp của Phật không chỉ là “phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng” mà còn xuất phát từ chỗ sở hành của chúng sanh, cho nên thấy có sinh mà vẫn rỗng lặng, ra ngoài dựng lập và phỉ báng.

Câu hỏi 5:

Trích đoạn: "Lúc ban đầu Ta từ chốn Phụ vương, đi đến thành Ba La Nại... khi quay bánh xe pháp Tứ đế, cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Nay ở nơi đây lại diễn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa và cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Vì vậy lời nói ban đầu, lời nói chặng giữa và lời nói ngày nay văn tự tuy là một, nhưng ý nghĩa có khác." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Văn tự là một mà lại có sai khác về ý nghĩa. Vậy bản chất sự sai khác này là gì?"

Trả lời:

Đoạn kinh phía sau Phật có giải thích như sau: "Lúc ban đầu Ta vì người cầu quả Thanh văn nói ra pháp Tứ đế, tám ức chư Thiên đi đến nghe pháp mà phát tâm Bồ Đề; ở trong khắp nơi khắp chốn vì người cầu ngôi Bích chi Phật nói ra pháp mười hai nhân duyên sâu xa, vô lượng chúng sanh phát tâm Bồ Đề; hoặc có người trụ vào hàng Thanh văn; thứ đến nói kinh Phương Đẳng mười hai bộ kinh, kinh Đại Bát Nhã, kinh Hoa Nghiêm, ở nơi không hải diễn nói lịch kiếp tu hành của các Bồ Tát mà trăm nghìn Tỳ kheo, muôn ức trời, người, vô lượng chúng sanh được quả Tu đà hoàn, quả Tư đà hàm, quả A na hàm, quả A La Hán, trụ vào ngôi Bích chi Phật ở trong pháp nhân duyên. Nầy thiện nam tử! Vì lấy nghĩa đó, cho nên biết rằng lời nói đồng nhau mà ý nghĩa sai khác."

Câu hỏi 6:

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Đó là cảnh giới rất sâu xa bất khả tư nghì của chư Phật, chẳng phải chỗ hay biết của hàng nhị thừa, và cũng chẳng phải chỗ theo kịp của ngôi thập trụ Bồ Tát, chỉ có Phật với Phật mới hay hiểu thấu rốt ráo." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Nếu cảnh giới “một âm thanh ứng hiện tất cả giọng tiếng” chỉ có Phật mới thấu rốt ráo, vậy thì những Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, họ đang tiếp cận nghĩa lý ở mức độ nào? Làm thế nào để họ có đủ tự tin rằng mình đang “tùy thuận” được Phật trí, dù chưa thực chứng?"

Trả lời:

Không chỉ cảnh giới được nói đến trong bài kinh mà mọi cảnh giới trong Phật đạo chỉ có Phật với Phật mới hay hiểu rố ráo. Các thừa trong Phật đạo tuỳ chỗ chứng ngộ mà khi đọc tụng, giảng nói sẽ cho ra pháp tương ưng. Người chưa thực chứng khi giảng nói nhất định sẽ khiến người êm tai vì tương ưng với tâm ưa thích suy lường suy luận của người đời.

Câu hỏi 7:

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Kinh nầy vốn từ trong nhà chư Phật mà ra, đi đến chỗ hết thảy chúng sanh phát tâm Bồ Đề, và trụ ở nơi các Vị Bồ Tát sở trụ." (Phẩm Mười Công Đức)

Câu hỏi: "Ba mệnh đề “từ nhà chư Phật mà ra”, “đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Đề”, “trụ ở Bồ Tát sở trụ” có phải đang mô tả một vòng vận hành khép kín của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân? Xin giải thích rõ hơn về “ngôi nhà chư Phật” ở đây là gì?"

Trả lời:

Kinh nầy vốn từ trong nhà chư Phật mà ra: Bản giác của chư Phật

Đi đến chỗ hết thảy chúng sanh phát tâm Bồ Đề: Bồ tát Trụ ở nơi các Vị Bồ Tát sở trụ: các vị Bồ tát thuộc hàng hữu học. Pháp thân, Báo Thân, Ứng thân không phải một vòng khép kín. Từ nơi Pháp thân Phật, chỗ chúng sanh thấy tương ưng gọi là Báo thân, chỗ thị hiện gọi là Ứng thân.

Câu hỏi 8:

Trích đoạn: "Người trì kinh nầy... tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba)

Câu hỏi: "Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ lại có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh sao? Điều này có nghĩa là “đại bi” và “phương tiện” có thể vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn sao?"

Trả lời:

Người bác sĩ bị bệnh vẫn có thể chữa bệnh. Không phải bác sĩ thì không nên chữa bệnh. Bồ Tát do chỗ chứng mà có 3 pháp khác nhau

* Thành tựu Thánh trí (Vô lậu trí) có được Pháp duyên Từ, Bi, Hỉ, Xả !!!

* Thành tựu Nhất Thiết trí (Bồ tát trí) có được Chúng sanh duyên Từ Bi, Hỉ, Xả.!!!

* Thành tựu Nhất thiết chủng trí (Phật trí) có được Vô duyên Từ.Bi, Hỉ, Xả!!!

Câu hỏi 9:

Trích đoạn: "Người đó cũng ví như vị phu nhân của nhà vua mới sanh ra thái tử... Tuy còn thơ ấu chẳng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính, và cùng với các con vua khác kết làm bằng hữu." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ tư)

Câu hỏi: "Ví dụ “thái tử sơ sinh” rất thâm thúy: phẩm vị không đến từ năng lực, mà đến từ dòng dõi (Phật tử) chăng? Quan điểm này đối với tinh thần bình đẳng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” trong Phật giáo có mâu thuẫn không?"

Trả lời:

- “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” là tất cả chúng sanh đều có những đức tính như Chư Như Lai không phải tất cả chúng sanh không có hết ngu mê lầm

- Trong Bồ tát đạo

Trụ thứ 9 mới được gọi là Pháp Vương Tử Trụ

- Và trụ thứ 10 Quán Đảnh Trụ mới hết phần thập trụ, mới đầy đủ phẩm vị để cầu học trí tuệ vị lai thành tựu 10 danh hiệu của 1 Đức Phật

Câu hỏi 10:

Trích đoạn: "Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy... người đó tuy lại bị đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu, mà lại hay thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ năm)

Câu hỏi: "Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh là ẩn dụ cho điều gì? Nếu là sự chuyển hóa tâm thức, thì đây có phải là pháp tu “đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm?"

Trả lời:

Trong đoạn Kinh này khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” ẩn dụ cho chúng sanh như huyễn, Khổ, phiền não, Kiết sử không thật có.

11.

Trích đoạn: "Ví như con vua tuy còn thơ ấu, nếu khi nhà vua đi tuần du hay khi bị bệnh thì nhà vua ủy thác cho thái tử lãnh trị việc nước... đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ sáu)

Câu hỏi: "Ở đây, người trì kinh chưa trụ Sơ địa nhưng thuyết pháp lại có hiệu quả ngang với Phật. Điều này đặt ra một câu hỏi nghiêm túc: Thẩm quyền giáo hóa nằm ở chứng lượng bản thân, hay ở sự trung thành với lời Phật dạy? Nếu một người phàm phu y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức ấy thuộc về kinh, về Phật, hay về chính vị phàm phu ấy?"

Trả lời:

Đã là Bồ Tát Ma Ha Tát sao còn phải phân biệt thẩm quyền hay công lao? (Xem câu trả lời số 😎

12.

Trích đoạn: "Người thiện nam, thiện nữ đó... chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ bảy)

Câu hỏi: "Đây như là một tuyên bố đốn ngộ triệt để: từ phàm phu nhảy vọt lên Thất địa. Vậy “vô sanh pháp nhẫn” ở đây tương đương với địa vị nào? Và “lục độ tự nhiên hiện ra” có nghĩa là hành giả không cần trải qua vô số kiếp tu tập hạnh Ba-la-mật như giáo lý thông thường, hay đó là kết quả của vô số kiếp tu tập trong quá khứ nay được kinh này khai mở?"

Trả lời:

Đoạn kinh này đồng nguyên lý chúng sanh như huyễn

13.

Trích đoạn: "Những nghiệp chướng nặng nề xưa kia còn lại, nhất thời liền phải tiêu tan, mà được thanh tịnh. Và lại được biện tài lớn, lần lượt trang nghiêm các pháp ba la mật... phân thân rải thể khéo léo ở khắp mười phương quốc độ để cứu vớt hết thảy chúng sanh đang bị khổ cực ở trong hai mươi lăm cõi, đều khiến cho được giải thoát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ chín)

Câu hỏi: "Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây là gì? Có phải sức mạnh của kinh như một dòng nước cuốn trôi tất cả nghiệp cũ, hay chính trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh đã làm tan rã gốc rễ vô minh? Nếu là vế sau, thì sự “tiêu tan nhất thời” này khác gì với sự chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới-định-huệ thông thường?"

Trả lời:

Đoạn kinh này dựa trên nguyên lý tam tâm bất khả đắc, ba thời không thật.

14

Trích đoạn: "Ở chốn phàm phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu hay phát khởi ra vô số tăng kỳ đại thệ sâu rộng. Lại hay phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh thành tựu đại bi... dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ mười)

Câu hỏi: “Pháp vân địa” là địa vị gần với Phật quả. Kinh mô tả một phàm phu, thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị ấy. Xin có thể giải thích rõ hơn: Đây là sự thăng tiến thực tế về mặt tâm linh, hay là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai? “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại?"

Trả lời:

Theo đoạn kinh trên: Phàm phu này đã huân tập nhiều căn lành, làm lợi ích cho hết thảy, diễn bày các pháp thanh tịnh để thấm nhuần các chốn khô khan. Lại đem những phương pháp đã được này ban cho hết thảy chúng sanh cũng được yên vui …cho nên dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa

15.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Như vậy thì kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nầy có sức đại oai thần, không gì là tôn hơn, hay khiến cho những kẻ phàm phu đều được chứng thánh quả, vĩnh viễn xa lìa sanh tử, được vui tự tại. Vì vậy mà kinh nầy gọi là Vô Lượng Nghĩa." (Phẩm Mười Công Đức, tổng kết mười công đức)

Câu hỏi: "Kinh đưa ra một kết luận gần như tuyệt đối: Phàm phu nương kinh này có thể chứng thánh quả. Vậy thánh quả ở đây nên hiểu là quả vị giải thoát rốt ráo, hay là một trạng thái “phàm phu Bồ tát” đặc biệt - tức thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu?"

Trả lời:

Đoạn tổng kết của bài kinh này gồm đầy đủ 2 ý

Gọi là Vô Lượng Nghĩa vì có thể khiến cho những kẻ phàm phu đều được chứng thánh quả.

Gọi là Năng Lực Bất Khả Tư Nghì Công Đức vì khiến cho hết thảy chúng sanh nảy mầm Bồ Tát đạo.

Với sự tổng kết như vậy, bài Kinh đã làm đúng ý nghĩa đại diện của Pháp Vân Môn – pháp môn giáo hoá nổi mưa pháp làm lợi ích cho muôn loài.

Do thời gian hạn hẹp, xin phép dừng phần trả lời ở đây.

Con thành kính tri ân thầy, người thầy không quản ngại ngày đêm, dìu dắt HĐ chúng con đến bờ Phật quả!!!

Con, Lý Kim Thoa - MB 0620" (Hết thư)

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau:

👉 https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

07/06/2026

LÝ TỨ

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 93.2026 với chủ đề: Lý Kim Thoa Trả Lời Hành Giả Phá

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 93.2026 với chủ đề: Lý Kim Thoa Trả Lời Hành Giả Phá

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 93.2026 với chủ đề: Lý Kim Thoa Trả Lời Hành Giả Phá

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời số 94.2026 với chủ đề: Lý Ngọc Linh Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!

MB 857 Lý Diệu Sinh 07.06.2026

 

Hành giả Pháp Quang và bạn đọc thân mến !!!

Như vậy là, sau 48 giờ kể từ lúc gởi câu hỏi của hành giả đến HĐ Lý Gia...Chuyên mục đã nhận được 14 câu trả lời từ HĐ...!!!

Hi vọng, đọc xong 14 câu trả lời này, chắc chắn hành giả sẽ có thể giải quyết tận gốc các vấn đề mà hành giả đã trăn trở nhiều năm tháng về kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa...!!!

Chân thành cảm ơn tất cả HĐ chúng ta...!!! Mình biết, các bạn rất bận rộn vì hầu như mọi người đều còn ở trong độ tuổi lao động...phải lo toan nhiều thứ...!!! Nhưng, những nỗ lực học tập và chia sẻ giáo pháp của các bạn thật đáng ghi nhận...!!!

Chúc hành giả Pháp Quang, bạn đọc và tất cả HĐ chúng ta khoẻ, an vui, tinh tấn, thành ở đời, đạt ở đạo...!!!

Sau đây là trả lời của Lý Ngọc Linh - MB 0721 ở Hải Phòng !!!

"Con kính chào thầy! Kính chào bác Pháp Quang!

Con là Lý Ngọc Linh, học trò thứ 721 của thầy Lý Tứ.

Con xin bày tỏ lòng biết ơn những nhận xét tốt đẹp của bác đối với huynh đệ Lý gia, và đặc biệt là các câu hỏi bác gửi đến chúng con. Đây là cơ hội để chúng con được học tập và rèn luyện trí tuệ của mình, cũng là lời nhắc nhở chúng con phải luôn nỗ lực học tập và học tập!

Nhân đây, con xin tri ân công đức giáo dạy của thầy, chúng con xin nguyện học tập tinh tấn để không phụ công lao dạy dỗ của thầy!

Sau đây là phần trả lời của con:

1.

Trích đoạn: "Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quán sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Vì sao các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp? Vì sao quán sát điều này lại được Vô Lượng Nghĩa? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"

Trả lời:

a. Các pháp bản lai rỗng lặng là sự thật về các pháp. Nhưng khi mê sẽ thấy đây kia, có không, sanh diệt, động tịnh... Giống như đèn vốn không quầng, nhưng mắt nhặm sẽ thấy đèn có quầng.

b. Vì từ nước trong, nước tinh khiết, người ta có thể làm ra vô lượng thứ, với vô lượng tác dụng, và còn có thể chế biến thành diệu dược cứu vô lượng người, chứ còn nước nhiễm ô (như nước sông Tô Lịch) thì chỉ có thể đổ bỏ mà thôi!

c. Điều kiện để Bồ Tát tu học pháp Vô lượng nghĩa là phải quán sát được bản lai các pháp tự rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt,… tự bản nguyên không có hai pháp.

2.

Trích đoạn: "Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Vì sao Vô tướng là Thật tướng? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"

Trả lời:

a. Các pháp xưa nay chưa từng có tướng. Thật tướng là vô tướng, vô tướng là thật tướng, là sự thật của đạo pháp.

b. Vô tướng tức là chẳng hề có tướng, khi nào không còn thấy các tướng (hư vọng) thì sẽ thấy được vô tướng và sẽ biết được thật tướng chính là vô tướng.

3.

Trích đoạn: "Vả lại, thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế... Thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Một mặt, kinh nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”; mặt khác, Bồ tát lại quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt”. Hai cái thấy này có trái ngược nhau không? Nếu có thì vì sao và nếu không thì vì sao, xin giải thích rõ?"

Trả lời:

a. Thấy "tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt" là cái thấy thật tướng. Nhưng khi chưa thấy thật tướng, chỉ thấy hư vọng tướng thì sẽ thấy "niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt".

b. Bồ Tát quán sát các tướng của các pháp hư vọng luôn luôn sanh diệt, niệm niệm không ngừng như người thầy thuốc tìm hiểu biểu hiện, cơ chế, nguyên nhân gây bệnh để từ đó có thuốc phù hợp trị bệnh cho chúng sanh.

4.

Trích đoạn: "Vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì có phải tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó? Và “vô tướng” làm thế nào để “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó?"

Trả lời:

a. Giáo pháp là phương tiện để cứu độ chúng sanh và phương tiện ấy xuất phát từ trí tuệ vô tướng.

b. Như mặt trời phát ra hàng ngàn tia sáng để soi sáng nhân gian nhưng đâu vì thế mà mất đi tính chất chiếu sáng của mặt trời.

5.

Trích đoạn: "Lúc ban đầu Ta từ chốn Phụ vương, đi đến thành Ba La Nại... khi quay bánh xe pháp Tứ đế, cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Nay ở nơi đây lại diễn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa và cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Vì vậy lời nói ban đầu, lời nói chặng giữa và lời nói ngày nay văn tự tuy là một, nhưng ý nghĩa có khác." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Văn tự là một mà lại có sai khác về ý nghĩa. Vậy bản chất sự sai khác này là gì?"

Trả lời:

a. Sai khác này là bởi tâm tình, nhận thức, trí tuệ của người nghe sai khác. Giống như, sau một thời Phật thuyết pháp người nghe chứng rất nhiều các đạo quả sai biệt, đó là bởi căn cơ, trí tuệ của người nghe sai biệt.

b. Ban đầu thuyết các pháp bản lai rỗng lặng để chúng sanh không tiếp tục mê mờ, chạy theo, tham chấp các pháp (hư vọng) mà sinh ra khổ đau, phiền não. Thành tựu vô lậu tâm, hoàn thành Khổ đế, Tập đế.

Sau nói các pháp bản lai rỗng lặng để người nghe nhận ra bản chất các pháp tự chẳng hề cột trói, chẳng là nguyên nhân của khổ đau, phiền não, người nghe nhờ đó mà tự tại trước muôn cảnh duyên, thấy rõ bản tâm vốn tự vắng lặng, các pháp vốn tự giải thoát. Thành tựu nhân không, pháp không, hoàn thành Diệt đế.

Cuối cùng nói các pháp bản lai rỗng lặng, để người tiếp tục học tập, thành tựu trí tuệ, hoàn thành cấp học cuối cùng, Đạo đế.

6.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Đó là cảnh giới rất sâu xa bất khả tư nghì của chư Phật, chẳng phải chỗ hay biết của hàng nhị thừa, và cũng chẳng phải chỗ theo kịp của ngôi thập trụ Bồ Tát, chỉ có Phật với Phật mới hay hiểu thấu rốt ráo." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Nếu cảnh giới “một âm thanh ứng hiện tất cả giọng tiếng” chỉ có Phật mới thấu rốt ráo, vậy thì những Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, họ đang tiếp cận nghĩa lý ở mức độ nào? Làm thế nào để họ có đủ tự tin rằng mình đang “tùy thuận” được Phật trí, dù chưa thực chứng?"

Trả lời:

a. Bồ tát sơ phát tâm tiếp cận kinh này ở mức độ “văn’’ (trong văn – tư – tu), tức là, chỉ nên đọc rồi để đó! Học tập trong Phật đạo cần có thứ lớp, ngồi nhầm lớp sẽ khiến cho người ta càng học càng rối rắm, đảo điên. Do vậy đối với kinh đại thừa, tùy đối tượng mới có thể học tập, thâm nhập, thấu suốt hay giảng nói. Còn với những người học chưa đủ khả năng lĩnh hội chỉ nên dừng ở việc đọc tụng, tham cứu, chờ đến khi đủ điều kiện, đủ trí tuệ mới có thể thâm nhập nghĩa lý của kinh hay giảng nói cho người.

b. Hiểu đến đâu giảng đến đó, biết đến đâu nói đến đó, không nói quá cái gì mình học, mình biết, mình chứng, chính là “tùy thuận Phật trí’’. Như thầy Lý Tứ vẫn dặn dò HĐ Lý gia “đừng làm tài khôn dạy người, chỉ nói đúng những gì mình được nghe, được học, được chứng, mới là thái độ đúng đắn của người học tập trong Phật đạo’’.

7.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Kinh nầy vốn từ trong nhà chư Phật mà ra, đi đến chỗ hết thảy chúng sanh phát tâm Bồ Đề, và trụ ở nơi các Vị Bồ Tát sở trụ."(Phẩm Mười Công Đức)

Câu hỏi: "Ba mệnh đề “từ nhà chư Phật mà ra”, “đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Đề”, “trụ ở Bồ Tát sở trụ” có phải đang mô tả một vòng vận hành khép kín của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân? Xin giải thích rõ hơn về “ngôi nhà chư Phật” ở đây là gì?"

Trả lời:

a. Từ nhà chư Phật mà ra: kinh này phát xuất từ trí tuệ của chư Phật.

Trụ ở Bồ tát sở trụ: được các Bồ tát với sự thấu suốt của mình mà giảng nói lại cho chúng sanh.

Đi đến chỗ chúng sanh phát tâm Bồ đề: trí tuệ ấy chỉ có thể được học tập bởi những chúng sanh đủ căn cơ, có nguyện lớn, học tập để giúp mình sau đó giúp người (phát tâm bồ đề).

b. Báo thân, Ứng thân và Pháp thân là ba thân của một Đức Phật

Báo thân: là thân huyết nhục, do bố mẹ sinh ra, cũng chịu quy luật sanh già bệnh chết như chúng sanh

Ứng thân (Hóa thân): là kinh điển, các bài pháp, các cảnh giới do Phật hóa hiện từ trí tuệ để dẫn dắt chúng sanh lần lượt thành tựu các đạo quả cho tới vô thượng bồ đề

Pháp thân: chính là trí tuệ của một vị Phật.

Do đó đây không phải là vòng vận hành khép kín của Pháp thân, Báo thân, Ứng thân, như độc giả đề cập.

8.

Trích đoạn: "Người trì kinh nầy... tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba)

Câu hỏi: "Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ lại có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh sao? Điều này có nghĩa là “đại bi” và “phương tiện” có thể vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn sao?"

Trả lời:

a. Bồ tát là những người chưa độ mình đã lo độ người. Như tiền thân Phật Thích Ca và Phật Di Lặc khi vẫn còn là Bồ tát. Vì Bồ tát Thích Ca chỉ lo độ chúng sanh, cứu chúng sanh ra khỏi bể khổ nên đã thành Phật trước Bồ tát Di Lặc và còn là người thọ ký cho Bồ tát Di Lặc.

b. Như người thầy thuốc, có trong tay hết thảy các thứ thuốc chữa bệnh, thì bệnh của mình lo gì không chữa khỏi, nhưng vì thương người bệnh, ngày ngày bị bệnh tình hành hạ mà thầy thuốc quên cả bệnh của mình, chỉ lo chữa cho người!

Nhưng lưu ý rằng, để chữa bệnh cho người phải là thầy thuốc, chứ còn chả phải thầy thuốc, thân đầy bệnh tật, mà hùng hục đi chữa bệnh cho người thì có khi “thầy’’ sẽ chết trước, còn kẻ nào vô phước chữa bệnh ở nơi “thầy thuốc dỏm’’ như vậy thì bệnh mình không khỏi mà có khi còn lây cả bệnh của “thầy’’!

9.

Trích đoạn: "Người đó cũng ví như vị phu nhân của nhà vua mới sanh ra thái tử... Tuy còn thơ ấu chẳng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính, và cùng với các con vua khác kết làm bằng hữu." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ tư)

Câu hỏi: "Ví dụ “thái tử sơ sinh” rất thâm thúy: phẩm vị không đến từ năng lực, mà đến từ dòng dõi (Phật tử) chăng? Quan điểm này đối với tinh thần bình đẳng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” trong Phật giáo có mâu thuẫn không?"

Trả lời:

a. Đọc câu hỏi này con có cảm giác độc giả Pháp Quang có điều gì đó nhầm lẫn ở đây. Ví dụ về thái tử sơ sinh đã được tôn kính muốn ẩn dụ cho sức mạnh trí tuệ của Bồ tát, một khi đã mọc mầm thì sẽ giống như vị thái tử, dù vừa mới sinh đã có vị thế, sức mạnh mà không ai có được. Trí tuệ của Bồ tát làm công hạnh cũng như vậy, dù mới chỉ vào sơ địa cũng hoàn toàn có khả năng nhiếp phục người nghe, đưa người ra khỏi khổ đau, có khả năng cứu độ chúng sanh bất tư nghì. Vì vậy người nào đã mọc được mầm trí tuệ trong Phật đạo, dù vừa mới “”mọc’’ một ngày, một tháng, hay một tuổi thì đều được chúng sanh kính ngưỡng, trở thành quyến thuộc của Bồ tát, của Chư Phật.

b. “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” là lời minh định rằng, tự bản chất tất cả chúng sanh đều có những đức tính tốt đẹp như Chư Phật. Nhưng chỉ vì bị vô minh che lấp mà chúng sanh phải chìm đắm trong luân hồi, phiền não, khổ đau.

c. Một bên nói đến vị thế, sức mạnh, trí tuệ của các vị Bồ tát, Phật là bất khả tư nghì, chỉ có trí tuệ của các vị ấy mới ngang bằng, có thể “kết bằng hữu’’.

Một bên nói đến sự thật hằng hữu, “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”, chỉ cần học tập đúng chánh pháp thì Phật tánh sẽ dần hiển lộ, và điều này là bình đẳng đối với tất cả hữu tình.

Do đó 2 lời khẳng định này không có mâu thuẫn hay chống trái nhau như độc giả Pháp Quang lầm tưởng!

10.

Trích đoạn: "Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy... người đó tuy lại bị đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu, mà lại hay thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ năm)

Câu hỏi: "Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh là ẩn dụ cho điều gì? Nếu là sự chuyển hóa tâm thức, thì đây có phải là pháp tu “đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm?"

Trả lời:

“Nhất thiết Phật ngữ tâm”, do đó, những câu như “trong một niệm có thể dạo chơi các cõi Phật” hay “đưa chúng sanh du hí qua vô lượng cõi nước”, hay “thị hiện ngày thành tram kiếp, trăm kiếp thành một ngày” … chỉ sự chuyển hóa tâm thức của người nghe qua các cảnh giới tâm thức, từ khổ đau đến an vui, từ địa ngục đến niết bàn… Và sự chuyển biến nhanh chóng, tức thì như vậy là bởi khả năng ngôn thuyết bất khả tư nghì của người trí, có thể dùng ngôn thuyết của mình mà ngay lập tức đưa chúng sanh từ tâm thức địa ngục, khổ đau, phiền não cho tới niết bàn an vui tịnh tĩnh, chấm dứt sự luân hồi của tâm thức trong ba nẻo sáu đường.

11.

Trích đoạn: "Ví như con vua tuy còn thơ ấu, nếu khi nhà vua đi tuần du hay khi bị bệnh thì nhà vua ủy thác cho thái tử lãnh trị việc nước... đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ sáu)

Câu hỏi: "Ở đây, người trì kinh chưa trụ Sơ địa nhưng thuyết pháp lại có hiệu quả ngang với Phật. Điều này đặt ra một câu hỏi nghiêm túc: Thẩm quyền giáo hóa nằm ở chứng lượng bản thân, hay ở sự trung thành với lời Phật dạy? Nếu một người phàm phu y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức ấy thuộc về kinh, về Phật, hay về chính vị phàm phu ấy?"

Trả lời:

a. Giống như thuốc do thầy thuốc bốc để chữa bệnh cho người, công dụng cũng không khác với thuốc của ông tổ nghề y bốc, đều khiến bệnh nhân khỏi bệnh.Cho dù nhiều việc ông tổ nghề y làm được mà thầy thuốc không làm được.

b. Nếu bệnh nhân được chữa khỏi bệnh thì công lao đó thuộc về thầy thuốc, đơn thuốc hay ông tổ nghề y!?

12.

Trích đoạn: "Người thiện nam, thiện nữ đó... chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ bảy)

Câu hỏi: "Đây như là một tuyên bố đốn ngộ triệt để: từ phàm phu nhảy vọt lên Thất địa. Vậy “vô sanh pháp nhẫn” ở đây tương đương với địa vị nào? Và “lục độ tự nhiên hiện ra” có nghĩa là hành giả không cần trải qua vô số kiếp tu tập hạnh Ba-la-mật như giáo lý thông thường, hay đó là kết quả của vô số kiếp tu tập trong quá khứ nay được kinh này khai mở?"

Trả lời:

a. Tương đương với địa thứ 9 của thập trụ Bồ tát – Phật tử trụ. Biên chế ngang sang hàng thập địa thì tương đương Thất địa Bồ tát.

b. Một người với chí nguyện lớn họ có thể nhanh chóng hoàn thành những công việc mà người khác phải mất nhiều thời gian để hoàn thành. Hoặc cũng có thể hiểu đó là kết quả của vô số kiếp tu tập trước đó.

13.

Trích đoạn: "Những nghiệp chướng nặng nề xưa kia còn lại, nhất thời liền phải tiêu tan, mà được thanh tịnh. Và lại được biện tài lớn, lần lượt trang nghiêm các pháp ba la mật... phân thân rải thể khéo léo ở khắp mười phương quốc độ để cứu vớt hết thảy chúng sanh đang bị khổ cực ở trong hai mươi lăm cõi, đều khiến cho được giải thoát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ chín)

Câu hỏi: "Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây là gì? Có phải sức mạnh của kinh như một dòng nước cuốn trôi tất cả nghiệp cũ, hay chính trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh đã làm tan rã gốc rễ vô minh? Nếu là vế sau, thì sự “tiêu tan nhất thời” này khác gì với sự chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới-định-huệ thông thường?"

Trả lời:

Khi một người mắc lỗi (tạo nghiệp) thì họ có 3 cách để khắc phục, xóa bỏ lỗi lầm đã gây ra.

Cách thứ nhất, đến xin lỗi, đền bù, hứa không tái phạm - sám hối hữu tướng. Cách thứ hai, đi đến một đất nước khác, nơi luật pháp, quy định của đất nước, nơi ở cũ không thể chi phối, tác động được đến họ - sám hối vô tướng. Cách thứ ba, trở thành người rất giàu có, vị thế, sau đó quay trở lại giúp đỡ người mà mình đã lỡ có lỗi với họ. Cách làm này khiến cho không những lỗi lầm cũ được xóa bỏ, mà còn được người khác cảm ơn, nể trọng – sám hối thiệt tướng.

Đây chính là cách sám hối của kẻ trí, học tập để thành tựu trí tuệ, quay trở lại cứu độ chúng sanh. Nhờ đó mà lỗi lầm, nghiệp chướng tự tiêu trừ.

14

Trích đoạn: "Ở chốn phàm phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu hay phát khởi ra vô số tăng kỳ đại thệ sâu rộng. Lại hay phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh thành tựu đại bi... dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ mười)

Câu hỏi: “Pháp vân địa” là địa vị gần với Phật quả. Kinh mô tả một phàm phu, thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị ấy. Xin có thể giải thích rõ hơn: Đây là sự thăng tiến thực tế về mặt tâm linh, hay là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai? “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại?"

Trả lời:

a. Bồ tát thập địa được chia thành 2: Bồ tát thập địa do tu hành sanh và Bồ tát thập địa do công hạnh sanh.

Đối với Bồ tát thập địa do tu hành sanh thì quả vị cao nhất sẽ là bát địa, sau đó người này tiếp tục dấn thân làm công hạnh sẽ lần lượt thành tựu địa thứ chín Thiện huệ địa và địa thứ mười Pháp vân địa.

Đó là lý do vì sao kinh nói, các vị ấy vì cứu độ hết thảy chúng sanh, thành tựu tất cả các tam muội môn, tổng trì môn, lần lượt thâm nhập các quả vị cho đến thành tựu Pháp vân địa.

b. Đây cũng là lời nhắc nhở cho những ai tu hành, phải dấn thân, quên mình, vì tất thảy chúng sanh nếu muốn thành toàn con đường đến vô thượng bồ đề.

15.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Như vậy thì kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nầy có sức đại oai thần, không gì là tôn hơn, hay khiến cho những kẻ phàm phu đều được chứng thánh quả, vĩnh viễn xa lìa sanh tử, được vui tự tại. Vì vậy mà kinh nầy gọi là Vô Lượng Nghĩa." (Phẩm Mười Công Đức, tổng kết mười công đức)

Câu hỏi: "Kinh đưa ra một kết luận gần như tuyệt đối: Phàm phu nương kinh này có thể chứng thánh quả. Vậy thánh quả ở đây nên hiểu là quả vị giải thoát rốt ráo, hay là một trạng thái “phàm phu Bồ tát” đặc biệt - tức thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu?"

Trả lời:

a. Thánh quả là chỉ địa vị của người không còn phiền não, kiết sử, giải thoát hoàn toàn ra khỏi khổ đau, cột trói.

b. Phàm phu Bồ tát là khái niệm không có trong Phật đạo! Một vị dù có thành Thánh, thành Bồ tát hay thành Phật thì vẫn mang cái thân như chúng sanh, tức cũng sanh già bệnh chết, chứ chẳng thể có cái thân bất hoại, hay mọc thêm mắt, thêm tay.

Con, Lý Ngọc Linh - MB 0721" (Hết thư)

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau:

👉 https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

07/06/2026

LÝ TỨ

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 94.2026 với chủ đề: Lý Ngọc Linh Trả Lời Hành Giả Ph

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 94.2026 với chủ đề: Lý Ngọc Linh Trả Lời Hành Giả Ph

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 94.2026 với chủ đề: Lý Ngọc Linh Trả Lời Hành Giả Ph

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 94.2026 với chủ đề: Lý Ngọc Linh Trả Lời Hành Giả Ph

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời số 95.2026 với chủ đề: Lý Diệu Âm Trả Lời Hành Giả Pháp Quang !!!

MB 857 Lý Diệu Sinh 07.06.2026

 

Các bạn !!!

Hồi chiều, sau khi đăng chuyên mục đến số 94/2026...Lúc ấy Lý Diệu Âm - MB 0572 ở Hà Nội mới nhắn tin cho mình: "Thầy ơi !!! Con gởi câu trả lời trong email hồi chiều, lúc đó Thầy đang sinh hoạt với HĐ EU nên con không dám gởi qua zalo...Giờ Thầy check email đi.." thế là, mình check email và quả thật Diệu Âm đã trả lời cách đây hơn bốn tiếng...!!!

Do sơ suất này, nên bây giờ, mình mới chuyển đến mọi người trả lời của Lý Diệu Âm...Mong hành giả Pháp Quang và bạn đọc thông cảm...!!!

Sau đây là trả lời của Lý Diệu Âm:

"Con kính thưa Thầy, thưa HĐTM Lý gia!

Con là Lý Diệu Âm – là học trò số 572 của Thầy , Trong chuyên mục Bạn đọc hỏi Lý Tứ trả lời, Hành giả Pháp Quang có gửi đến 15 câu hỏi dành cho HĐTM Lý Gia. Qua thư Bác viết : bác đã dành rất nhiều năm nghiên cứu giáo nghĩa Đại Thừa , Con rất vui khi được Bác tạo điều kiện cho HĐTM Lý Gia được trả lời câu hỏi kỳ này. Bằng sự hiểu biết hiện tại của mình, con cũng xin được trả lời những câu hỏi của Bác đưa ra. Con mong được Thầy và HĐTM bổ khuyết cho con ạ.

1.

Trích đoạn: "Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quán sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Vì sao các pháp bản lai rỗng lặng, không có hai pháp? Vì sao quán sát điều này lại được Vô Lượng Nghĩa? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"

Trả lời:

Thưa Bác Pháp Quang, Trước khi đi vào trả lời câu này, con nghĩ chúng ta cần phải thống nhất chữ Pháp ở đây nghĩa là gì, sau khi thống nhất rồi, đoạn kinh trên sẽ rất sáng tỏ và không có gì là khó hiểu nữa.

Chữ pháp trong Phật Đạo tuy có một vài ý nghĩa khác như phép tắc, pháp luật, phương pháp, nhận thức… Tuy nhiên chữ Pháp ở đây trong đoạn Kinh này chính là các quan điểm, quan niệm, nhận thức, phán xét về một vật /sự vật hay hiện tượng nào đó chứ không phải là chính sự vật, sự việc đó .

Hiểu chữ pháp như vậy ta sẽ thấy một pháp tự nó không có tánh, không có tướng mạo, bản lai tự rỗng lặng không có hai pháp đối đãi. VD Khi ta suy nghĩ/ nhận xét cái Bình này to, cái ly này nhỏ, thì cái nghĩ suy này của ta bản lai cũng không có tánh lớn, không có tánh nhỏ… không có bất kể một tánh chất nào hết. Không có tánh chất đối đãi, nhị nguyên. Quán sát và thấy được đúng (ngộ) điều này là điều kiện để Bồ tát tu học Vô Lượng Nghĩa và là tiền đề để có được Vô lượng nghĩa về sau.

Ý nghĩa đoạn kinh bây giờ rất dễ hiểu: Bồ tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa, phải nên quan sát hết thảy các pháp từ trước đến nay, tánh tướng của nó bản lai rỗng lặng, tức là tự bản lai nó không có tánh lớn, tánh nhỏ, không sanh không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, cũng ví như là hư không vậy. Trong Kinh Bát Nhã cũng dạy: “thị chư pháp không tánh, không tướng, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm …..“

2.

Trích đoạn: "Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Vì sao Vô tướng là Thật tướng? Xin hãy giải thích ý nghĩa đoạn kinh này?"

Trả lời :

a) Bản lai các pháp không có tự tướng, tức là không tự có bất kể một tướng gì cả, vì vậy thật tướng của các pháp là Vô tướng. Kinh dạy: “Thật tướng là nhất tướng, nhất tướng là vô tướng". Biết rõ bản chất vô tướng của các pháp thì sẽ thấy pháp tướng hay pháp danh đều tự như, tự thanh tịnh. “Nếu thấy một thứ tướng nào đó thì đó chính là hư vọng tướng , hư vọng tướng này do nghiệp sai biệt nên cho ra cái thấy biết sai biệt. Trong Kinh Kim cang dạy: Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, Nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như lai. ( Hễ cái gì có tướng thì đều là hư vọng, Nếu thấy các tướng này không có tướng tức thấy được Như Lai)

b) Ý nghĩa đoạn kinh này: Khi Bồ tát quán sát kỹ lưỡng nguồn gốc của bốn tướng, thấy rõ bản chất không tánh, không tướng của các Pháp, Không có tánh Phật , không có tánh Ma, không có tướng Phật, không có tướng Ma, nên từ đó mà thuyết pháp vô lượng, vì thuyết pháp vô lượng nên nghĩa cũng vô lượng. Vô lượng Nghĩa đó do từ một pháp mà xuất sanh pháp lành để giúp cho chúng sanh, đó tức là vô tướng, Trong cái vô tướng như thế, tức là vô tướng mà không có một tướng nào hết, do đó vô tướng mới là thật tướng vậy.

3.

Trích đoạn: "Vả lại, thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế... Thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: Một mặt, kinh nói “tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh không diệt”; mặt khác, Bồ tát lại quán sát “niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt”. Hai cái thấy này có trái ngược nhau không? Nếu có thì vì sao và nếu không thì vì sao, xin giải thích rõ?

Trả lời : Như đã trả lời ở câu 1 , Bồ tát thấy rõ bản chất các pháp tánh tướng bản lai rỗng lặng, không sanh, không diệt, thế nhưng Bồ tát cũng quán hết thảy đời sống của chúng sinh (chưa giác ngộ) chỉ do mê mà các pháp niệm niệm chẳng dừng luôn luôn sanh diệt, vì chúng sanh mê chấp lấy cái giả dối cho rằng cái này, cái kia là được, là mất mà tạo ra mọi ác nghiệp, loanh quanh trong sáu ngả. Hai cái thấy này hoàn toàn không có gì trái ngược, thấy rõ bản chất và hiện tượng như thế, Bồ Tát mới khởi lòng đại bi xuất sanh vô số phương tiện giáo hoá, giúp cho chúng sanh ra khỏi khổ để có được an vui

4.

Trích đoạn: "Vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Nếu vô lượng nghĩa đều từ “vô tướng” mà sinh, thì có phải tất cả giáo pháp của Phật, đều chỉ là phương tiện được phóng xuất từ cái nền vô tướng đó? Và “vô tướng” làm thế nào để “sinh” ra nghĩa mà vẫn không mất đi tánh “rỗng lặng” của chính nó?"

Trả lời : Theo con đúng vậy, giáo pháp của Phật chính là phương tiện thiện xảo của Trí tuệ trên cái nền vô tướng đó mà hiển bày, Từ trí tuệ thiện xảo với Tứ vô ngại biện (pháp vô ngại, từ vô ngại, nghĩa vô ngại, biện tài vô ngại) của Bậc đại trí tuệ có thể xuất sinh ra vô lượng nghĩa phù hợp nhất với căn cơ người thính pháp, giúp cho người nghe từ đó mà không còn trói buộc, khổ, phiền não, giống như nước sạch rửa mọi phiền não cấu uế cho chúng sanh …mà không hề mất đi tánh rỗng lặng, giống như người mẹ hoá hiện ra ông Kẹ giúp cho đứa con của mình không quấy khóc mà bản thân trong lòng bà mẹ không hề phải đối phó với Ông Kẹ đó.

5.

Trích đoạn: "Lúc ban đầu Ta từ chốn Phụ vương, đi đến thành Ba La Nại... khi quay bánh xe pháp Tứ đế, cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Nay ở nơi đây lại diễn nói KInh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa và cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng... Vì vậy lời nói ban đầu, lời nói chặng giữa và lời nói ngày nay văn tự tuy là một, nhưng ý nghĩa có khác." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Văn tự là một mà lại có sai khác về ý nghĩa. Vậy bản chất sự sai khác này là gì?"

Trả lời : Văn tự tuy là một mà lại có sai khác về ý nghĩa, Bản chất sự sai khác này do căn cơ, chúng tánh sai khác nên sẽ có nhận thức sai khác, do chúng sanh hiểu ngộ khác nhau nên đắc pháp, đắc quả, đắc đạo cũng khác nhau. Kinh dạy “cùng một pháp vô vi mà chư hiền thánh thấy có sai biệt“, hay trong Kinh cũng thường nói: "Phật dùng một âm diễn thuyết pháp, chúng sanh tùy loại các đắc giải"

6.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Đó là cảnh giới rất sâu xa bất khả tư nghì của chư Phật, chẳng phải chỗ hay biết của hàng nhị thừa, và cũng chẳng phải chỗ theo kịp của ngôi thập trụ Bồ Tát, chỉ có Phật với Phật mới hay hiểu thấu rốt ráo." (Phẩm Thuyết Pháp)

Câu hỏi: "Nếu cảnh giới “một âm thanh ứng hiện tất cả giọng tiếng” chỉ có Phật mới thấu rốt ráo, vậy thì những Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này, họ đang tiếp cận nghĩa lý ở mức độ nào? Làm thế nào để họ có đủ tự tin rằng mình đang “tuỳ thuận” được Phật trí, dù chưa thực chứng?"

Trả lời : Kinh này dành cho các Bồ tát đã qua địa vị thập trụ. Các Bồ tát sơ phát tâm khi đọc tụng và giảng nói kinh này tuỳ theo mức độ giác ngộ chỉ có thể hiểu được rất hạn chế nếu không muốn nói không thể lãnh hội được. Giống như một người mắt còn chưa sáng thì kiến thức hội hoạ chưa thể tiếp thu một cách trọn vẹn được. Để họ có đủ tự tin rằng mình đang tuỳ thuận được Phật trí, thì phải cho họ học tập những giáo trình phù hợp với họ để họ từng bước từng bước thấm nhuần và có sự thực chứng, Phật đạo là một nền giáo dục hoàn chỉnh có cấp lớp rõ ràng.

7.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Kinh nầy vốn từ trong nhà chư Phật mà ra, đi đến chỗ hết thảy chúng sanh phát tâm Bồ Đề, và trụ ở nơi các Vị Bồ Tát sở trụ." (Phẩm Mười Công Đức)

Câu hỏi: "Ba mệnh đề “từ nhà chư Phật mà ra”, “đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ Đề”, “trụ ở Bồ Tát sở trụ” có phải đang mô tả một vòng vận hành khép kín của Pháp thân, Báo thân và Ứng thân? Xin giải thích rõ hơn về “ngôi nhà chư Phật” ở đây là gì?"

Trả lời :

Từ nhà chư Phật mà ra: ngôi nhà ở đây chính là Phật trí, là Pháp thân nơi trí tuệ giác ngộ viên mãn của chư Phật. Đi đến chỗ chúng sinh phát tâm Bồ đề: Bồ tát khởi tâm từ bi, phát tâm bồ đề vì chúng sinh mà giáo hoá, độ mình, độ người. Trụ ở nơi các vị Bồ Tát sở trụ: Bồ tát ở nơi thực hành các hạnh nguyện của các vị Bồ tát, không xa rời các hạnh nguyện này.

8.

Trích đoạn: "Người trì kinh nầy... tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ ba)

Câu hỏi: "Một người còn đầy phiền não và bệnh khổ lại có thể làm thuyền trưởng cứu độ chúng sinh sao? Điều này có nghĩa là “đại bi” và “phương tiện” có thể vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn sao?"

Trả lời :

Nguyên văn của năng lực thứ 3 ở đây theo con thì Người nào nghe được kinh này, chuyển đọc thông đạt, hiểu được nghĩa kinh rồi thực hành sanh ra tư tưởng thương xót chúng sanh, muốn giúp đỡ chúng sanh theo đúng lý thuyết mà tu hành thì qua được khỏi chốn sanh tử khổ, thì giống như một vị thuyền trưởng tuy mắc bệnh nặng, tứ đại không điều thích, nhưng vẫn sắm dụng cụ, thuyền bè vững chắc cung cấp cho mọi người sang bờ bên kia, giúp cho họ được an vui, theo đúng lý thuyết mà tu hành, ra khỏi sanh tử khổ. Đoạn này không có ý nghĩa là “Đại bi” và” phương tiện” vận hành độc lập với chứng ngộ viên mãn.

Chỉ là người chứng ngộ viên mãn thì chắc chắn sẽ xuất sanh được đại bi và phương tiện, người chưa viên mãn thì cũng giống như vị thuyền trưởng kia cung cấp thuyền bè cho người qua sông cũng có ích lợi, tuy nhiên chưa có “đại bi” và phương tiện thì chưa thiện xảo.

9.

Trích đoạn: "Người đó cũng ví như vị phu nhân của nhà vua mới sanh ra thái tử... Tuy còn thơ ấu chẳng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính, và cùng với các con vua khác kết làm bằng hữu." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ tư)

Câu hỏi: "Ví dụ “thái tử sơ sinh” rất thâm thúy: phẩm vị không đến từ năng lực, mà đến từ dòng dõi (Phật tử) chăng ? Quan điểm này đối với tinh thần bình đẳng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” trong Phật giáo có mâu thuẫn không?"

Trả lời : Người trì kinh này cũng lại như thế. Chư phật là quốc vương, kinh này là phu nhân, hoà hợp cùng nhau sanh ra con là Bồ Tát. Nếu Bồ tát đó được nghe kinh này dù là một câu hay một bài kệ, dù chuyển đọc một lượt, hai lượt, là mười lượt, trăm lượt cho đến muôn ức vạn Hàng hà sa vô số lượng vô số.. đã được tất cả tứ chúng, tám bộ kính tin và cùng các đại Bồ Tát làm quyến thuộc thâm nhập và pháp bí mật của chư Phật, những chỗ nên diễn nói ra thì không trái không lỗi thường được chư Phật hộ niệm. Thái tử mới sanh ra đây chính là vị Bồ Tát Pháp Vương tử bước ra từ Nhà Chư Phật, được nghe kinh này, một lòng trước độ mình, sau độ người thì vị Bồ tát ấy ví như là thái tử được thần dân sùng kính, việc này hoàn toàn không có ý nghĩa “ phẩm vị không đến từ năng lực mà đến từ dòng dõi” như bác suy nghĩ.

b) câu nói “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh “là lời của Chư phật dạy trong Kinh, bất kể người tu hành hay không tu hành, tất cả hữu tình cũng đều có Phật tánh, đây là chân lý.

10.

Trích đoạn: "Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy... người đó tuy lại bị đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu, mà lại hay thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ năm)

Câu hỏi: "Khả năng “thị hiện một ngày thành trăm kiếp” của một phàm phu trì kinh là ẩn dụ cho điều gì? Nếu là sự chuyển hóa tâm thức, thì đây có phải là pháp tu “đoạn trừ tam tế” ngay nơi đương niệm?"

Trả lời : Khả năng thị hiện một ngày thành trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày không phải nói về thời gian vật lý mà là ẩn dụ cho tâm thức mê như trăm kiếp, ngộ như một sát na. Giống như hang động tăm tối cả ngàn năm, chỉ cần đốt ngọn đèn thì hang động ngay lập tức sáng. Đây không phải là pháp tu đoạn trừ tam tế .

11.

Trích đoạn: "Ví như con vua tuy còn thơ ấu, nếu khi nhà vua đi tuần du hay khi bị bệnh thì nhà vua ủy thác cho thái tử lãnh trị việc nước... đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ sáu)

Câu hỏi: "Ở đây, người trì kinh chưa trụ Sơ địa nhưng thuyết pháp lại có hiệu quả ngang với Phật. Điều này đặt ra một câu hỏi nghiêm túc: Thẩm quyền giáo hóa nằm ở chứng lượng bản thân, hay ở sự trung thành với lời Phật dạy? Nếu một người phàm phu y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo, thì công đức ấy thuộc về kinh, về Phật, hay về chính vị phàm phu ấy?

Trả lời :

a) Đoạn kinh trên không có ý nói người trì kinh chưa trụ sơ địa nhưng thuyết pháp lại có hiệu quả ngang với Phật, mà ở đây là vị Thái tử ấy y theo mệnh lệnh của vua, theo đúng như pháp truyền lệnh cho các thần dân, bá quan văn võ, dùng những lời dạy của vua để lãnh trị việc nước, cũng giống như Phật tử, làm đúng theo lời Phật dạy, đọc và thọ trì kinh điển này, hiểu rõ lời Phật dạy trong Kinh, y theo đúng lời Phật dạy dùng để thuyết giáo phô diễn, khiến họ dứt lìa phiền não, lìa nỗi khổ sanh từ.

Lưu ý: Phật tử, địa vị thứ 9 của Hàng thập trụ (Pháp Vương tử trụ) mới được coi là Phật tử. Bây giờ mới chính thức được làm con của Phật.

Thẩm quyền giáo hoá có thể nằm ở cả sự chứng lượng bản thân và ở sự trung thành với lời Phật dạy. Nếu áp dụng thực hành đúng lời Phật dạy, có thể chứng lượng bản thân.

b) Một phàm phu y kinh thuyết pháp khó có thể khiến người khác đắc đạo (giống như người không biết bơi thì rất khó có thể dạy người khác bơi) nếu có xảy ra thì cũng không có công đức vì công đức là bản vị của bậc giác ngộ thanh tịnh tâm. Nếu là một Phật tử (Pháp vương tử trụ) y kinh thuyết pháp khiến người khác đắc đạo thì công đức thuộc về vị ấy.

12.

Trích đoạn: "Người thiện nam, thiện nữ đó... chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn. Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ bảy)

Câu hỏi: "Đây như là một tuyên bố đốn ngộ triệt để: từ phàm phu nhảy vọt lên Thất địa. Vậy “vô sanh pháp nhẫn” ở đây tương đương với địa vị nào? Và “lục độ tự nhiên hiện ra” có nghĩa là hành giả không cần trải qua vô số kiếp tu tập hạnh Ba-la-mật như giáo lý thông thường, hay đó là kết quả của vô số kiếp tu tập trong quá khứ nay được kinh này khai mở?"

Trả lời :

a) Theo kinh nói Vô sanh pháp nhẫn ở đây là ở địa vị Thất địa Đại Bồ tát, kinh nói những ai được nghe kinh này mà vui mừng tin theo, lại hay phát khởi tâm hy hữu, mà thọ trì, đọc tụng, giải nói, viết chép, theo đúng lý thuyết tu hành, phát tâm bồ đề khởi mọi căn lành, gây ý đại bi muốn cứu độ cho hết thảy chúng sanh khổ não mà chưa được tu hành sáu ba la mật thì sáu ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước.

b) Lục độ tự nhiên hiện ra cũng có mang tính chất đốn ngộ (trong một sát na) có được thanh tịnh, sanh tử phiền não nhất thời tan hoại do theo đúng lý thuyết tu hành.

13.

Trích đoạn: "Những nghiệp chướng nặng nề xưa kia còn lại, nhất thời liền phải tiêu tan, mà được thanh tịnh. Và lại được biện tài lớn, lần lượt trang nghiêm các pháp ba la mật... phân thân rải thể khéo léo ở khắp mười phương quốc độ để cứu vớt hết thảy chúng sanh đang bị khổ cực ở trong hai mươi lăm cõi, đều khiến cho được giải thoát." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ chín)

Câu hỏi: "Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây là gì? Có phải sức mạnh của kinh như một dòng nước cuốn trôi tất cả nghiệp cũ, hay chính trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh đã làm tan rã gốc rễ vô minh? Nếu là vế sau, thì sự “tiêu tan nhất thời” này khác gì với sự chuyển nghiệp từ từ qua sám hối và tu tập giới-định-huệ thông thường?"

Trả lời :

a) Cơ chế tiêu trừ nghiệp chướng ở đây chính là do trí tuệ phát sinh từ việc thọ trì kinh (theo đúng lý thuyết tu hành, theo đúng lời Phật dạy) làm tan rã gốc rễ vô minh.

b) Tu tập giới – định – huê thông thường chỉ là giữ giới hữu lậu, hay cách sám hối của thế gian, cũng không làm tiêu tan hay chuyển hoá nghiệp từ hữu lậu sang vô lậu.

14

Trích đoạn: "Ở chốn phàm phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu hay phát khởi ra vô số tăng kỳ đại thệ sâu rộng. Lại hay phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh thành tựu đại bi... dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa." (Phẩm Mười Công Đức, Công đức thứ mười)

Câu hỏi: “Pháp vân địa” là địa vị gần với Phật quả. Kinh mô tả một phàm phu, thông qua việc khuyến hóa người khác thọ trì kinh, lại có thể “dần dần thấy được vượt lên” địa vị ấy. Xin có thể giải thích rõ hơn: Đây là sự thăng tiến thực tế về mặt tâm linh, hay là sự thọ ký chắc chắn sẽ đạt đến trong tương lai? “Dần dần thấy được” nghĩa là hành giả đã có thể phần nào cảm nhận được cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong hiện tại?"

Trả lời :

a) Nếu bác đọc kỹ cả đoạn phẩm công đức thứ 10 trong bài Kinh, Bác sẽ thấy điều kiện hay quy trình tu tập từ môt phàm vô vô văn đến địa vị pháp vân địa, rồi thành đẳng chánh giác. Đây là sự thăng tiến qua một quy trình tu học đúng chánh pháp để hết phiền não mê mờ, giác ngộ, sau khi giác ngộ rồi thì học đạo, làm công hạnh, hành Bồ tát đạo… Đủ công đức vượt lên ngôi Pháp vân địa, rồi thành đạo vô Thượng chánh đẳng chánh giác. Đây là một quy trình mất 4 giai đoạn (dứt tập, chứng diệt, tu đạo và hành bồ tát đạo) và ba vô số kiếp, một vô số kiếp giải quyết ngu, một vô số kiếp giải quyết mê, một vô số kiếp giải quyết lầm.

b) Dần dần sẽ thấy được, không có nghĩa là hành giả có thể cảm nhận cảnh giới của Pháp vân địa ngay trong thực tại , mà phải tu tập giải quyết từng giai đoạn theo thứ lớp, giống như người về nhà xa xa không thấy rõ, phải càng đi mới càng thấy rõ nhà mình.

15.

Trích đoạn: "Nầy thiện nam tử! Như vậy thì kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nầy có sức đại oai thần, không gì là tôn hơn, hay khiến cho những kẻ phàm phu đều được chứng thánh quả, vĩnh viễn xa lìa sanh tử, được vui tự tại. Vì vậy mà kinh nầy gọi là Vô Lượng Nghĩa." (Phẩm Mười Công Đức, tổng kết mười công đức)

Câu hỏi: "Kinh đưa ra một kết luận gần như tuyệt đối: Phàm phu nương kinh này có thể chứng thánh quả. Vậy thánh quả ở đây nên hiểu là quả vị giải thoát rốt ráo, hay là một trạng thái “phàm phu Bồ tát” đặc biệt - tức thân phàm phu nhưng tâm đã an trụ trong trí vô lậu?"

Trả lời : Kinh đưa ra kết luận Phàm Phu nương kinh này (theo đúng lý thuyết tu hành) có thể chứng thánh quả. Tuỳ từng địa vị tu hành sâu cạn khác nhau của mỗi người mà có được quả vị giải thoát rốt ráo hoặc thân phàm phu nhưng Tâm đã an trụ trong trí vô lậu.

Con, Lý Diệu Âm - MB 0572" (Hết thư)

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau:

👉 https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

07/06/2026

LÝ TỨ

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 95.2026 với chủ đề: Lý Diệu Âm Trả Lời Hành Giả Pháp

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 95.2026 với chủ đề: Lý Diệu Âm Trả Lời Hành Giả Pháp

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 95.2026 với chủ đề: Lý Diệu Âm Trả Lời Hành Giả Pháp

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 95.2026 với chủ đề: Lý Diệu Âm Trả Lời Hành Giả Pháp

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời số 96.2026 với chủ đề: Phản Hồi Của Hành Giả Pháp Quang !!!

MB 857 Lý Diệu Sinh 08.06.2026

 

Hành giả Pháp Quang và bạn đọc thân mến !!!

Đọc thư của hành giả, Lý Tứ tôi cảm kích vô cùng...!!! Cảm kích trước những lời khen tặng của hành giả sau khi đọc mười lăm bài trả lời của HĐ Lý Gia...!!! Thay mặt tất cả HĐ Lý Gia, chúng tôi chân thành tri ân những lời khen tặng từ hành giả, bậc trưởng bối đáng kính...!!!

Thưa hành giả Pháp Quang !!!

Trên hành trình học tập giáo pháp của môn đồ Lý Gia...Được một đấng bề trên, một trưởng bối như hành giả chiếu cố, tạm che sở học, giả chưa thông để tạo đương cơ, nhằm sát hạch kinh nghĩa Đại Thừa với các học trò trẻ của Lý Gia, là phước phần, là vinh dự lớn đối với các bạn ấy trên con đường học tập...!!!

Đọc các câu hỏi, tuy bề ngoài đơn giản, nhưng nội hàm và chiều sâu ẩn chứa trong từng câu chữ chẳng khác vạn lưỡi dao bén, như cánh cung đã giương đến cực hạn...Chỉ cần một sơ suất nhỏ, vạn lưỡi dao, mũi tên ấy lập tức quay lại đả thương người cầm nó...!!! Lý Tứ thật là bái phục sự ẩn mật từ "cuộc cờ pháp" bí ẩn ngàn năm khó gặp mà hành giả đã dày công lập trận cho HĐ Lý Gia...!!!

Cùng các HĐ Lý Gia !!!

Lần này thì, Lý Tứ đã có thể cười vang một trận sảng khoái rồi...!!! Các bạn có người chỉ mới học tập vài năm, có người năm ba năm...Nhưng các bạn đã không làm cho hành giả Pháp Quang thất vọng đã là một thành tích đáng khen ngợi...!!! Con đường phía trước còn rất dài, hãy tinh tấn hơn nữa...!!!

Cuối cùng, Lý Tứ xin chúc hành giả, bạn đọc và tất cả HĐ khoẻ, an vui, tinh tấn...!!!

Sau đây là thư của hành giả Pháp Quang:

"Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật,

Kính gửi Thầy Lý Tứ cùng toàn thể Huynh Đệ Lý Gia,

Sau khi gửi đi 15 câu hỏi tham cứu về kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa, tôi chỉ dám hy vọng sẽ nhận được một vài lời khai thị từ Thầy Lý Tứ hoặc một hai vị Huynh Đệ thiện tri thức đại diện trong gia phong.

Thế nhưng, khi nhận được thông báo từ chuyên mục và tận mắt đọc hết thảy các bài phản hồi, tôi thực sự rúng động và bàng hoàng đến mức không thốt nên lời!

Chỉ trong một thời gian ngắn, có tới 15 Huynh Đệ đồng loạt xuất trận, mang theo tiếng trống trận rộn ràng của tuệ giác. Càng đọc, tôi càng đi từ kinh ngạc này đến thán phục khác. Câu trả lời của mỗi người mang một sắc thái riêng, một cách diễn đạt và lập luận độc đáo: Người thì dùng lăng kính logic khoa học, người bám sát bản nguyện Bồ Tát, người trực chỉ tâm tông, người lại ví von bằng những hình ảnh vô cùng sinh động. Thế nhưng, điều vi diệu nhất là dù muôn hồng ngàn tía về mặt ngôn từ, ý chung của các Huynh Đệ lại đồng một thể, nhất quán như dòng nước muôn sông đều đổ về một biển, thấm đẫm tinh thần cốt tủy của Phật đạo.

Tôi được biết các Huynh Đệ Lý Gia đều là những cư sĩ đang ở trong độ tuổi lao động, ngày ngày phải đối mặt với công việc, lo toan cuộc sống thế gian bộn bề. Vậy mà, qua sự giáo dạy, rèn giũa và truyền thụ của Thầy Lý Tứ, mỗi Huynh Đệ khi bước lên diễn đàn giáo pháp đều phô diễn một tư duy mạch lạc, am hiểu giáo nghĩa uyên thâm, xuất ngôn thành chương, biện tài vô ngại không khác gì những học giả nghiên cứu chuyên nghiệp, đặc biệt các bạn đều giữ được sự khiêm cung đáng kính trọng. Chứng kiến đạo lực và trí tuệ đồng đều của một thế hệ học trò như vậy, tôi mới thực sự thấu hiểu câu nói: "Hổ phụ sinh hổ tử"! Thầy Lý Tứ là bậc đại trí, nên môn hạ của Thầy cũng toàn là những bậc tuệ sáng, khí phách phi phàm.

Sự xuất hiện và hộ trì giáo pháp của 15 Huynh Đệ chính là minh chứng hùng hồn nhất cho sức sống Đạo Pháp vẫn âm ỉ chảy trong lòng cộng đồng yêu thích Phật Pháp nói chung và Lý Gia nói riêng. Tôi xin cúi đầu cảm ơn tấm lòng hoan hỷ, sự lao tác không quản ngại mệt mỏi của các Huynh Đệ Lý Gia đã vì một người bạn đọc phương xa mà mở rộng cửa thiền, phô diễn biện tài.

Trên tất cả, tôi xin thành kính hướng về Thầy Lý Tứ với niềm tri ân vô hạn. Nếu không có một người Thầy trí tuệ, một bậc Thầy thầm lặng chèo lái, ngày đêm khai tâm mở trí bằng tình thương và tuệ giác rốt ráo, thì làm sao mảnh đất thế gian cằn cỗi lại có thể nở rộ lên những đóa hoa tâm rực rỡ, am tường Phật pháp đến thế này! Công đức giáo hóa của Thầy thật sâu dày như biển cả.

Kính chúc Thầy Lý Tứ tôn kính trường thọ, vạn sự cát tường. Chúc toàn thể Huynh Đệ Lý Gia thân tâm an lạc, công hạnh viên mãn, luôn là những hiền giả kiên trì, bền bỉ trên con đường truyền đăng tục diệm, góp phần làm rạng danh Giáo Pháp Đức Bổn Sư.

08/06/2026 - 9:42:57

Pháp Quang kính thư." (Hết thư)

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau:

👉 https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

08/06/2026

LÝ TỨ

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 96.2026 với chủ đề: Phản Hồi Của Hành Giả Pháp Quang

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời số 97.2026 với chủ đề: Thư Của Bằng Hữu Vô Danh !!!

MB 857 Lý Diệu Sinh 09.06.2026

 

Các bạn !!!

Mình vừa nhận được thư của bằng hữu Vô Danh...!!! Bạn đọc còn nhớ không, bằng hữu Vô Danh là vị bằng hữu mà cách đây hơn nửa năm, đã gởi về chuyên mục những câu hỏi "rất chi hóc búa" lúc nửa đêm...!!!

Sau mấy lần đối đáp lại qua "nảy lửa", Lý Tứ tưởng chừng "đụng phải đá", nhưng thật bất ngờ, hòn đá ấy lại mau chóng "nhận ra vấn đề"...Và từ đó, mình và bằng hữu Vô Danh trở thành bằng hữu...!!! Ha ha ha ha !!! Người xưa nói rất chí lí "đánh nhau chảy máu đầu mới nhận ra anh em"...!!!

Hôm Lý Gia tổ chức sự kiện ra mắt Vô Thanh Luận...Mình đã thay mặt BTC gởi thiệp mời đến vị "bằng hữu cổ quái" này...!!! Nhưng, trần gian thì rộng lớn...Mà, "Quán Trọ Trần Gian", nơi cư ngụ của bằng hữu Vô Danh thì "chẳng biết đâu mà lần"...Nên, Lý Tứ nghĩ thầm, mời thì mời nhưng "con chim bay làm sao mà bắt"...!!!

Không ngờ hôm sự kiện, bằng hữu ấy đã âm thầm đến dự mà Lý Tứ chẳng hay chẳng biết...!!! Đúng là, con người cổ quái nên hành tung cũng cổ quái...!!! Hôm nay, sau khi đọc 15 bài trả lời của HĐ Lý Gia trước các câu hỏi của hành giả Pháp Quang...Bằng hữu Vô Danh đã gởi tặng Lý Tứ và HĐ Lý Gia bài thơ có nhan đề VỊNH LÝ GIA XUẤT TRẬN...Chân thành cảm ơn bằng hữu...!!!

Chúc bằng hữu khoẻ để "chân cứng đá mềm" mà ung dung dạo khắp trần gian...!!!

Xin trân trọng giới thiệu đến bạn đọc và HĐ Lý Gia thư và bài thơ của bằng hữu Vô Danh:

"Kính gửi Thầy Lý Tứ cùng toàn thể Huynh Đệ Lý Gia,

Vô Danh tôi, một hành giả hữu duyên từng gửi những câu hỏi thô thiển lên chuyên mục và đã được Thầy khai thị. Mấy ngày nay, sau khi đọc toàn bộ 15 bức thư trả lời của Huynh Đệ Lý Gia dành cho hành giả Pháp Quang, lòng tôi trào dâng một niềm hỷ lạc và bái phục khó thể dùng lời thế gian mà diễn tả cho vẹn tròn. Nhưng vẫn mượn tạm ngôn từ viết vài dòng tới Thầy và quý Huynh Đệ.

Thưa Thầy, thưa các Huynh Đệ!

Tôi tự nhủ mình thật có phước phần lớn lao khi được chứng kiến một “cuộc cờ pháp” kỳ tuyệt ngàn năm khó gặp. Mười lăm câu hỏi của hành giả Pháp Quang, đọc qua tưởng chừng đơn giản, nhưng ẩn sâu trong đó là "vạn lưỡi đao bén" của trí tuệ thâm uyên và sự thử thách tột cùng về kinh nghĩa Đại Thừa. Ấy vậy mà, chỉ trong một thời gian ngắn, mười lăm vị Huynh Đệ Lý Gia đã đồng loạt xuất trận, mỗi người một phong thái, một biện tài riêng, nhưng đều toát ra cái khí phách hiên ngang và tuệ giác sáng ngời của bậc đại sĩ.

Điều khiến tôi rúng động nhất chính là sự nhất quán đến kỳ lạ trong “mười lăm cái khác biệt”. Đọc những lời đối đáp ấy, tôi như thấy được hình bóng của một vị Thầy đang thầm lặng phía sau, người đã khai tâm mở trí, đã “tôi luyện” nên những đóa hoa tâm rực rỡ giữa dòng đời tất bật cơm áo gạo tiền. Thầy không xuất hiện trên diễn đàn, nhưng đạo lực và trí tuệ của Thầy lại thấp thoáng, sống động và uy nghiêm trong từng lời đối đáp của học trò.

Nhìn màn đối biện này, ký ức trong tôi lại ùa về ngày 12/4 vừa qua, tại buổi lễ ra mắt sách Vô Thanh Luận của Thầy ở Hà Nội. Hôm đó, tôi cũng có mặt dưới hàng ghế khán giả, lặng lẽ theo dõi từ đầu đến cuối. Vì một vài lý do cá nhân chưa tiện, tôi đã không bước lên để bái kiến Thầy, chỉ đứng từ xa chiêm bái bậc Thầy mà mình hằng kính ngưỡng.

Buổi lễ hôm đó đã để lại trong tôi một ấn tượng cực kỳ sâu sắc. Từ cách đón tiếp, bố trí không gian cho đến từng khâu tổ chức đều toát lên một sự chuyên nghiệp, tinh tế và chỉn chu hiếm thấy ở một nhóm cư sĩ. Đặc biệt, trong buổi tọa đàm đầy ý nghĩa, Thầy không xuất hiện hay nói quá nhiều. Thầy chỉ ngồi đó, an nhiên như một tháp hải đăng thầm lặng, nhường trọn vẹn diễn đàn cho các học trò của mình. Và quả thực, những người học trò ấy đã đại diện cho Thầy một cách tuyệt vời! Nhìn cách họ tự tin diễn bày giáo pháp, năng lượng an vui và tri thức tỏa ra từ họ, tôi đã tự cảm thán trong lòng: "Học trò đã xuất sắc thế này, thì vị Thầy đứng sau nhào nặn, giáo dạy phải trác tuyệt và uyên thâm đến nhường nào!"

Nay lại tiếp tục chứng kiến màn đối đáp vô tiền khoáng hậu này, tôi càng thêm tin tưởng vào Giáo Pháp của đấng Từ Phụ để lại và phương cách mà Thầy Lý Tứ chỉ lối. Tấm lòng của Huynh Đệ Lý Gia, dù tuổi đời còn trẻ, dù còn vướng bận mưu sinh, nhưng vì hạnh nguyện Bồ Tát, các bạn đã không ngại lao tâm khổ tứ ngày đêm miệt mài lan tỏa Giáo Pháp. Đây thực sự là minh chứng hùng hồn nhất cho sức sống của Đạo Pháp trong thời mạt thế.

Tôi xin cúi đầu tán thán công đức giáo hóa sâu dày như biển cả của Thầy Lý Tứ, và tri ân sự hiện diện, sự tinh tấn không ngừng nghỉ của toàn thể Huynh Đệ Lý Gia. Tôi xin phép được gửi tặng Thầy và các Huynh Đệ mấy dòng thơ vụng về, như một nén tâm hương kính dâng lên mười phương Chư Phật:

VỊNH LÝ GIA XUẤT TRẬN

Quán Trần Gian tỏa ánh linh

Lý Gia khai trận, đẹp tình thiền môn

Mười lăm mũi kiếm ôn tồn

Chặt tan nghi hoặc, pháp môn hiển bày.

Cuộc cờ muôn kiếp nào hay

Thầy ngồi lặng lẽ, trí đầy thái hư

Dạy trò sáng đạo chân như

“Hổ phụ” sinh những hổ sư lẫy lừng.

Ngày hội ấy, thật rưng rưng

Nhìn hàng đệ tử, tưng bừng Pháp khơi

Tự tại ở giữa đất trời

Biện tài vô ngại, giúp đời bớt mê…

Kính chúc Thầy Lý Tứ thân tâm an lạc. Chúc toàn thể Huynh Đệ Lý Gia công hạnh viên mãn, tiếp tục là những bậc thiện tri thức kiên cường, mang yêu thương đến những nơi xa nhất!

Quán Trần Gian, ngày 09 tháng 06 năm 2026

Kính thư, Vô Danh" (Hết thư)

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau:

👉 https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

09/06/2026

LÝ TỨ

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp số 97.2026 với chủ đề: Thư Của Bằng Hữu Vô Danh !!!

Bài viết Lý Tứ

CHUYỆN VUI TRẦN THẾ (03) VĂN THÙ MẤT TÚI XÁCH

Quản trị viên 06.04.2026

CHUYỆN VUI TRẦN THẾ (03)  VĂN THÙ MẤT TÚI XÁCH

Do phải di chuyển liên tục qua những quãng đường dài của hạ giới, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát dạo rày thường dùng phương tiện hàng không !!!

Đi tàu bay chẳng giống đi xe hay ghe, thuyền...Hành khách muốn lên tàu bay, phải qua cổng kiểm tra an ninh...Giày, dép, dây nịt, túi xách, điện thoại, ví da, bóp đầm..v..v... cho đến con người, trong ruột chí ngoài da đều được các thứ máy soi chiếu hiện đại soi không sót chỗ nào !!!

Lần đầu bị kiểm tra an ninh, Văn Thù rất ngỡ ngàng bởi cái trò quái của hạ giới, nhưng vài ba lần như thế, Ngài hiểu ra mọi chuyện !!! Thế là, Văn Thù quyết tìm hiểu "các công cụ soi chiếu hiện đại” của thế gian !!!

Văn Thù không khỏi sửng sốt trước các loại máy soi chiếu mà ở Niết Bàn chưa từng nghe nói đến !!! Trong một cửa hàng bán thiết bị soi chiếu, Văn Thù thích thú với những món đồ chơi thế gian dùng để dòm ngó xuyên vật chất như: E-XAY2012, Rapiscan 632DV , NACScan, Target, Rapiscan 515, Rapiscan 520, Astrophysics, của các hãng Todd Research -UK, Morpho USA..v..v...tất cả đều đạt tiêu chuẩn TSA (Transportation Security Administration) !!!

Trước đây, để đến được Niết Bàn, người tu hành phải đi qua ba trạm kiểm tra, khám xét nghiêm ngặt do 108 vị La Hán đảm nhận, phân theo ca, tất cả đều thủ công...Vì thế, vừa mất thì giờ, vừa không hiệu quả, bởi bọn người hạ giới lắm chiêu trò, có anh lọt đến trạm thứ ba mới bị phát hiện không đủ tiêu chuẩn, buộc quay trở lại trần gian !!!

Quy trình kiểm tra như sau:

Trạm thứ nhất, kiểm tra bất động sản: Ở trạm này, bắt buộc người đi qua phải kê khai trung thực bất động sản mà bản thân đang sở hữu ở hạ giới !!! Anh nào sở hữu số lượng bất động sản vượt quá quy định, đều bị tịch thu và buộc quay về trần gian...!!! Vì thế, bên phải của trạm xây dựng một dãy nhà kho hoành tráng để chứa sổ đỏ tịch thu, nhưng lại không có người canh giữ vì thiếu nhân lực, cho nên tuy số lượng tịch thu nhiều không đếm xuể, nhưng sau mấy ngàn năm, nhà kho vẫn trống !!!???

Trạm thứ hai: Sau khi hoàn tất việc kiểm tra ở trạm thứ nhất, nếu không vi phạm, người tu hành mới được tiếp tục đi lên Niết Bàn, nhưng phải qua trạm kiểm tra thứ hai !!! Ở trạm này, mỗi người được phát một bảng kê khai tài sản, trong đó liệt kê đầy đủ các loại tài sản mà bản thân đang sở hữu, từ chiếc xe hơi, sổ tiết kiệm, vàng, đô la, kim cương, điện thoại đời mới...v..v...Anh nào ở trần gian có quá nhiều tài sản vượt quy định, được coi là “vật bất tịnh”, cũng bị tịch thu và buộc quay trở lại !!! Bên trái trạm cũng xây dựng một dãy nhà kho dùng để chứa vật bất tịnh bị tịch thu...!!! Nhưng, sau nhiều ngàn năm, vì không có người trông coi nên chẳng khá hơn nhà kho trạm thứ nhất...Có nghĩa, vẫn chỉ là cái nhà kho trống !!!???

Trạm thứ ba: Sau khi vượt qua hai trạm trước, đây là trạm cuối cùng kiểm tra năng lực tu hành !!! Muốn đến Niết Bàn, người tu hành phải trả lời trôi chảy mười câu hỏi !!! Anh nào ấm ớ, số phận giống mấy anh ở trạm trước !!! Hầu hết người hạ giới không mấy ai vượt qua ải thứ ba, thành ra cho dù Niết Bàn đã thành lập nhiều thiên niên kỉ, nhưng cư dân ở đó tăng trưởng không đáng kể, nguy cơ dân số bị già đi, thiếu nhân lực trong độ tuổi lao động là thực tế trước mắt !!! Thậm chí có khoảng thời gian, một số cán bộ Niết Bàn bị điều động công tác thập phương, nhân lực phục vụ cho ba trạm kiểm tra thiếu hụt nghiêm trọng, từ đó các loại mánh mung, kê khai không trung thực để vượt trạm phát sinh đột biến, chẳng khác tình trạng buôn lậu qua biên giới miền Tây Nam Bộ mùa nước nổi !!!

Thực tế từ việc kiểm tra an ninh hàng không, sau khi quan sát và tìm hiểu tường tận, Văn Thù đã vẽ ra một kế hoạch chi tiết, nhằm hiện đại hoá ba trạm kiểm tra Niết Bàn bằng công nghệ hiện đại...!!! Sau chuyến công tác hạ giới, sẽ trình lên Phật Tổ Như Lai phê duyệt...!!!

Trạm thứ nhất và thứ nhì, có thể đặt các máy soi chiếu chuyên dụng, kèm máy phát hiện nói dối bằng các bài kiểm tra PDD (psychophysiological detection of deception)... Trạm thứ ba, sử dụng hình thức trắc nghiệm với các mã đề khác nhau từ ngân hàng câu hỏi... Còn các nhà kho, lắp camera quan sát và thiết bị chống trộm ES K7, KM-999, KM-P300..v..v...!!! Với các thiết bị máy móc hiện đại như thế, đố anh nào qua mặt được !!! Chừng ấy, cho dù nhân lực thiếu hụt, công việc vẫn cứ trôi chảy, đúng quy trình, tài sản bị tịch thu không thất thoát !!!

Trên chuyến xe buýt từ phi trường về thành phố, Văn Thù miên man suy nghĩ viễn cảnh tốt đẹp của công việc hiện đại hoá các trạm kiểm tra đường đến Niết Bàn !!! Đến trạm dừng, để giữ phép lịch sự, “Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Đại Bồ Tát” là người xuống xe cuối cùng...!!!

Khom mình lấy chiếc túi xách đặt phía dưới ghế, thì !!! Than ôi !!! Cái túi xách không...cánh...mà...bay !!!

06/04/2026

LÝ TỨ

Tác Phẩm Lý Tứ

Tài Liệu Tham Khảo

MB 857 Lý Diệu Sinh 23.08.2025

1. Đại Trí Độ Luận - Bồ Tát Long Thọ. Hán dịch: Tam Tạng Cưu Ma La Thập, Việt dịch: Ni Trưởng TN Diệu Không. Truy cập từ https://thuvienhoasen.org/a33719/dai-tri-do-luan
 

2. Kinh Kalama. Truy cập từ https://phatgiao.org.vn/duc-phat-day-10-dieu-cho-voi-tin-d54733.html

3. Kinh Pháp Bảo Đàn - Lục Tổ Huệ Năng. Việt dịch: Thích nữ Trí Hải. Truy cập từ https://www.daophatngaynay.com/vn/kinh-dien/dai-thua/3289-kinh-phap-bao-dan
03-pham-thu-hai-bat-nha.html
 

4. Kinh Tạp A-Hàm Số 2, Quyển 32, tr. 583. Sa Môn Thích Tịnh Hạnh dịch, 2000.
 

5. Kinh Tạp A-hàm, kinh số 299. Việt dịch:Thích Đức Thắng. Truy cập từ https://thuvienhoasen.org/images/file/yEYerJ1G0QgQAEIR/kinh-tap-a-ham-thich-duc-thang-dich.pdf
 

6. Kinh Thắng Man Phu Nhân Hội. Hán dịch: Lưu Chí, Việt dịch: Chân Hiền Tâm. Truy cập từ https://thuvienhoasen.org/p17a1154/kinh-thang-man-phu-nhan-hoi
 

7. Kinh Trung A-hàm, kinh số 221 – Kinh Tiễn Dụ. Việt dịch & hiệu chú: Thích Tuệ Sỹ. Truy cập từ: https://www.budsas.org/uni/u-kinh-hamtrung/trungaham221.htm

8. Kinh Trung Bộ, kinh số 152 – Kinh Căn Tu Tập. Việt dịch: Hoà Thượng Thích Minh Châu. Truy cập từ https://phatphapungdung.com/phap-bao/kinh-trung-bo-152-kinh-can-tu-tap-111047.html
 

9. Kinh Trung Bộ, kinh số 71 - Kinh Dạy Vacchagotta về Tam Minh. Việt dịch: Hòa thượng Thích Minh Châu. Truy cập từ https://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung71.htm
 

10. Kinh Trường A-hàm số 1. Việt dịch: Thích Tuệ Sỹ. Truy cập từ https://www.tuvienquangduc.com.au/kinhdien/223truongaham10.html?utm_source=chatgpt.com
 

11. Kinh Tương Ưng Bộ, kinh số 27.1, Chương VI: Tương ưng phiền não. Việt dịch: Hoà  thượng Thích Minh Châu. Truy cập từ https://thuvienhoasen.org/a696/27-chuong-vi-tuong-ung-phien-nao
 

12. Kinh Tương Ưng Bộ, Quyển 3, Phẩm Tham Luyến, Chương VII, trang 125-129. 
 

13. Kinh Viên Giác. Việt dịch: Hoà thượng Thích Trí Quang Truy cập từ https://thuvienhoasen.org/a21627/kinh-vien-giac
 

14. Lý Tứ. Chuyện Chi Đây. NXB Hà Nội, 2021. Tr250-254.

15. Lý Tứ. Tâm Tông Và Trò Chơi Trí Tuệ. NXB Dân Trí, 2022.
 

16. Nguyễn Đức Sinh. Lục tổ Huệ Năng là người Việt Nam? Website Tạp trí nghiên cứu phật học, 2021. Truy cập từ https://tapchinghiencuuphathoc.vn/luc-to-hue-nang-la-nguoi-viet-nam.html

17. Thích Mãn Giác. Lục Tổ Huệ Năng là người Việt Nam. 2016. Truy cập từ: https://phatgiao.org.vn/luc-to-hue-nang-la-nguoi-viet-nam-d23313.html
 

18. Thích nữ Liên Thảo. Vấn đề “siêu hình” trong kinh tạng A Hàm. Website Tạp trí nghiên cứu phật học, 2021. Truy cập từ https://www.tapchinghiencuuphathoc.vn/van-de-sieu-hinh-trong-kinh-tang-a-ham.html
 

19. Thuý Hằng. Thờ cúng tổ tiên – Nét đẹp văn hóa của người Việt Nam. Truy cập từ https://melinh.hanoi.gov.vn/tho-cung-to-tien-net-dep-van-hoa-cua-nguoi-viet
nam-173220130195045071.htm

Tác Phẩm Lý Tứ

CBL.64.8 - Tứ Chánh Cần, Sức Sáng Tạo Vô Tận Của Thiện Trí

MB 857 Lý Diệu Sinh 23.08.2025

Hy vọng một ngày, có HĐ nào đó đọc đến đây, “trực nhận ra điều gì”, sẽ thay mình viết tiếp hai chương cuối của bài tiểu luận này. Và khi viết, phải để đoạn kinh được trích phía dưới thay lời kết luận.

Các bạn!

Sáng nay (28/09/2016), đang ngồi sửa các bài viết cũ để hoàn thành cuốn Anh lạc luận. Đến bài luận này, dự tính viết tiếp những gì còn dang dở.

Nhưng mình chợt nghĩ: Viết nửa chừng rồi tạm dừng, nhất định phải có nhân duyên trong Phật đạo, chứ chẳng phải vô cớ! Tại sao không để hai chương này cho người đi sau viết tiếp?

Nghĩ đến đây, trong lòng thật hoan hỷ! Hy vọng một ngày, có HĐ nào đó đọc đến đây, “trực nhận ra điều gì”, sẽ thay mình viết tiếp hai chương cuối của bài tiểu luận này. Và khi viết, phải để đoạn kinh được trích phía dưới thay lời kết luận. Rất cảm ơn!

“Thiện Hiện! Bồ Tát nên tu nghiêm tịnh cõi Phật như thế, nghĩa là trong cõi kia hằng chẳng nghe có ba thứ ác thú, cũng chẳng nghe có các ác kiến thú, cũng chẳng nghe có độc tham sân si, cũng chẳng nghe có hình tướng nam nữ, cũng chẳng nghe có Thanh văn Độc giác, cũng chẳng nghe có vô thường khổ thảy các việc bất như ý, cũng chẳng nghe có nhiếp nhận của vật, cũng chẳng nghe có chấp ngã ngã sở, cũng chẳng nghe có ngủ nghỉ trói buộc, cũng chẳng nghe có chấp trước điên đảo, cũng chẳng nghe có thi thiết hữu tình quả vị sai khác.

Duy chỉ nghe tiếng nói không, vô tướng, vô nguyện, vô sanh, vô diệt, vô tánh thảy. Nghĩa là theo ý muốn sai khác của hữu tình ở trong cây rừng thảy các vật trong ngoài thường có gió nhẹ khua động lẫn nhau phát khởi các thứ tiếng tăm vi diệu. Trong các thứ tiếng tăm ấy nói tất cả pháp đều vô tự tánh. Vì vô tự tánh nên không. Vì không nên vô tướng. Vì vô tướng nên vô nguyện. Vì vô nguyện nên vô sanh. Vì vô sanh nên vô diệt. Bởi đây các pháp bản lai vắng lặng, tự tánh Niết bàn. Như Lai ra đời hoặc chẳng ra đời, các pháp pháp tánh lẽ vậy thường trú, nghĩa là tất cả pháp vô tánh không thảy. Các loại hữu tình trong cõi Phật kia hoặc ngày hoặc đêm, hoặc đứng hoặc đi, hoặc nằm hoặc ngồi thường nghe tiếng tăm diệu pháp như thế.

Thiện Hiện phải biết: Chúng các Bồ tát Ma ha tát đây mỗi trụ chỗ ở cõi Phật nghiêm tịnh, khi chứng được Vô thượng Chánh đẳng giác, các Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác mười phương đều đồng khen ngợi danh mỗi Phật kia. Nếu các hữu tình được danh các Phật ấy, tất đối Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề được chẳng quay lui.

Chúng các Bồ tát Ma ha tát này mỗi trụ chỗ ở cõi Phật nghiêm tịnh, khi chứng được Vô thượng Chánh đẳng giác, vì các hữu tình tuyên nói Chánh pháp. Hữu tình nghe rồi định chẳng sanh nghi rằng vì là pháp hay phi pháp thảy. Sở dĩ vì sao? Vì loại hữu tình kia đạt tất cả pháp đều tức chơn như, pháp giới, pháp tánh tất cả là pháp không phi pháp thảy.

Như vậy, Thiện Hiện! Chúng các Bồ tát Ma ha tát này đều năng nghiêm tịnh được cõi Phật như thế.

Lại nữa, Thiện Hiện! Chúng các Bồ tát Ma ha tát này giáo hóa bao nhiêu hữu tình đủ căn bất thiện, chưa đối chư Phật, Bồ tát, Độc giác và Thanh văn thảy trồng các căn lành, nên bị bạn ác tri thức thu nhận. Vì xa lìa bạn lành nên chẳng nghe Chánh pháp, thường bị các thứ kiến chấp ngã, hữu tình và bị các kiến thú thu giấu, rơi tại chấp lệch lạc hai bên đoạn thường. Loại hữu tình kia tự khởi tà chấp, cũng thường dạy người khiến khởi tà chấp. Đối phi Tam Bảo khởi tưởng Tam Bảo, đối trong Tam Bảo bảo phi Tam Bảo. Hủy báng Chánh Pháp, khen ngợi tà pháp. Bởi nhân duyên này thân hoại mạng chung đọa ba ác thú, chịu nhiều thứ khổ.

Chúng các Bồ tát Ma ha tát này đều trụ cõi mình chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, thấy các hữu tình lộn quanh sanh tử chịu vô lượng khổ, đem sức thần thông phương tiện hóa đạo khiến xả ác kiến trụ trong chánh kiến. Từ ác thú ra sanh trong đạo người, lại dùng các thứ thần thông phương tiện hóa đạo khiến trụ trong nhóm chánh định, rốt ráo chẳng đọa lại các ác thú. Lại khiến tu tập căn lành thù thắng, mạng chung được sanh cõi Phật nghiêm tịnh, thọ dụng Đại thừa pháp lạc cõi tịnh.

Như vậy, Thiện Hiện! Chúng các Bồ tát Ma ha tát này đều năng nghiêm tịnh được cõi Phật như thế. Nhờ cõi chỗ ở cực thanh tịnh nên sanh hữu tình kia đối với tất cả pháp chẳng khởi hư vọng phân biệt do dự rằng đây là pháp thiện, đây là pháp phi thiện, đây là pháp hữu ký, đây là pháp vô ký, đây là pháp thế gian, đây là pháp xuất thế gian, đây là pháp hữu lậu, đây là pháp vô lậu, đây là pháp hữu vi, đây là pháp vô vi. Các phân biệt do dự như thế thảy rốt ráo chẳng sanh. Do nhân duyên đây loại hữu tình kia định được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, quay xe diệu pháp độ chúng hữu tình.

Thiện Hiện phải biết: Đấy là tướng công đức nghiêm tịnh cõi Phật Bồ tát Ma ha tát lợi ích an vui tất cả hữu tình...”[ ]

20-02-2016

LÝ TỨ

Subscribe to