Tác Phẩm Lý Tứ

Hang Tự Tánh. Sáu Ba La Mật. Phật Đạo Là Đạo Xả

Quản trị viên 16.02.2022
TP.35. Hang Tự Tánh. Sáu Ba La Mật. Phật Đạo Là Đạo Xả

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Hòa Thượng Huyền Không và Lý Tứ cùng sánh vai đi một vòng kiểm tra cặn kẽ hang Tự Tánh...

Hang Tự Tánh tuy nói rằng hang nhưng rất rộng. Gọi là hang bởi lẽ nó nằm sâu cả trăm trượng trong lòng núi... Hang Tự Tánh như một cái giếng trời lọt thỏm giữa núi Kiến Tính... 

Hòa Thượng Huyền Không vừa đi vừa nói: 

Lý Đệ!... Theo lão nạp, nếu lão không lầm thì hang này là hang tự nhiên. Nơi đây chính là miệng của một núi lửa đã ngừng hoạt động từ lâu. Lúc lão nạp và Lý Đệ lần dò từ ngoài vào, trên đường đi có nhiều khúc quanh lớn nhỏ không đồng nhất. Trên đường đi, lão nạp suy nghĩ sở dĩ có con đường ngầm này, nó là vết nứt trong lòng núi do hoạt động của núi lửa gây ra. Vách hang là những tảng đá hoa cương. Quá trình chuyển mình của núi lửa, các tảng đá hoa cương xê dịch tạo ra khe trống. Nước mưa từ trên miệng hang đổ xuống, làm trôi lớp đất chung quanh tạo thành con đường đi ngoằn ngoèo. Các gân đá như những con rắn giữa hang là minh chứng cho sự bào mòn bởi dòng nước chảy mạnh qua nhiều năm tháng trong khe... 

Cây trái trong hang, nếu để ý kỹ, thì nhất định những cây trái này do con người mang đến trồng. Bởi lẽ những cây trái mọc ở đây chỉ toàn là loại cây trái mà con người có thể dùng làm thức ăn. Đây là lương thực chính nuôi sống những người cư ngụ trong hang. 

Lý Đệ thấy đó, tiền nhân đã quy hoạch vườn cây ăn trái này rất hợp lý. Nó vừa là nguồn lương thực chủ yếu, những cây này lại làm cho không khí trong động tự điều hoà. Nếu không có vườn cây, vào những ngày nắng nóng, nhiệt độ trong hang tăng lên rất cao, nơi đây trở thành cái lò đốt cháy dưỡng khí... Vào những tháng mùa mưa, lối vào hang trở thành hệ thống thoát nước, nước chảy cuồn cuộn cuốn trôi tất cả những gì trong đó. Vì thế người ở đây không thể sử dụng con đường này để đi lại mùa mưa. Những tháng mùa mưa nơi đây hoàn toàn cô lập với thế giới bên ngoài... Muốn ra khỏi hang phải đợi đến đầu mùa nắng!... 

Lý Tứ ngẫm nghĩ: Kiến thức lão Hòa Thượng thiệt là rộng rãi, nhưng lão không biết còn một bí mật nữa nằm trong những vách đá dựng đứng. Khi nãy xem xét vách đá phía Tây, mình đã phá thiện ra, còn một lối vào động nếu có người muốn vào hang động bằng hướng Tây... Lúc nào rỗi rảnh mình sẽ khám phá con đường này... 

Suy nghĩ đến đây, Lý Tứ chợt nhớ hình ảnh con Đại bàng và bài thơ ngoài cửa động... Khi nhìn hình ảnh con Đại bàng, nét khắc trên đá rất sắc sảo và vuông góc từ mặt chữ đến đáy. Chứng tỏ những nét vẽ chữ viết này không phải của chỉ lực mà nó được thực hiện bởi một công cụ đẽo gọt sắc bén... Nếu suy luận này là đúng, thì hai người đã khắc ngoài động, xâm nhập vào hang bằng hướng Tây. Họ vượt qua dãy Kiến Tính để vào hang... 

Lý Tứ lại đặt câu hỏi cho mình: Không lẽ con Đại bàng người kia đã vẽ là hình con chim thứu… Nếu nó là hình ảnh con chim thứu thì hai vị cao tăng đã đến đây phải là người Tây Trúc. Cao tăng Tây Trúc thường lấy hình ảnh con chim thứu làm biểu tượng tu hành. Một phần ở xứ ấy coi chim thứu là vật linh, một phần để tưởng nhớ nơi chốn ngày xưa Phật thuyết các bộ kinh lớn... Không lẽ hai người đã đến đây là Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan, hai vị cao tăng đã đến trung thổ thời Hậu Hán... Nếu vậy thì, hai chữ “Thập Nhất” có liên hệ gì đến niên hiệu Vĩnh Bình thứ mười một... Năm Vĩnh Bình thứ mười một là thời gian mà hai vị thánh tăng Tây Trúc đặt chân đến Trung Nguyên... 

Lý Tứ đem suy nghĩ của mình về con đường vào hang ở phía Tây và những suy luận vết khắc trước hang nói cho lão Hòa Thượng biết. Lão Hòa Thượng vừa đi vừa trầm ngâm một hồi rồi nói lớn: 

Lý Đệ!... Suy luận của Lý Đệ cũng có cái lý của nó... Nói đến đây lão Hòa Thượng vỗ hai tay vào nhau ra chiều hoan hỷ, lão nói: 

Lý Đệ!... Lý Đệ có thấy hình vẽ và chữ viết ngoài động. Nếu so về chiều cao, thì người này phải hơn lão nạp một cái đầu. Nếu là người Trung Thổ thì lão nạp đây thuộc về loại người có chiều cao không tệ, thế mà khi đọc bài thơ, lão lại phải ngẩng đầu lên... Sang bên kia viết hai câu đối, dù lão đã đưa cánh tay của mình lên, hai câu đối của lão nạp cũng thấp hơn hình con Đại bàng một gang tay... Đúng rồi, hai người viết và vẽ này không phải là người Trung Thổ mà là người ngoại quốc, bởi người ngoại quốc mới có chiều cao như vậy. Chứng cứ này củng cố suy luận của Lý Đệ là đúng... 

Phải rồi, hai vị này đi vào hang bằng hướng Tây, tức họ đi theo con đường buôn bán tơ lụa của người xưa... Nghe đâu ngài Huyền Trang khi sang Tây Trúc thỉnh kinh cũng phải đi theo con đường này... Còn hai chữ Thập Nhất, theo lão nạp đúng là ý nói đến niên hiệu Vĩnh Bình thứ mười một. Trung Thổ thì gọi năm đó là thứ mười nhưng người Tây Trúc thì gọi thứ mười một... Sự không thống nhất này cũng không có gì là lạ... Ha ha ha ha!... Lý Đệ!... Nếu suy luận của chúng ta là đúng, thì không ngờ ngày nay lão nạp và Lý Đệ là hai người đến được nơi mà thánh nhân ngày xưa đã đến... Thật là duyên lành!... Thật là duyên lành!... 

Phải rồi Lý Đệ!... Tây Trúc là nơi chuyên chế tác kim cương nên công cụ đẽo gọt sắc bén của họ vào hàng nhất nhì thiên hạ. Chính kinh nghiệm chế tác kim cương và sử dụng thành thục công cụ này, nên họ đã dùng nó can thiệp vào hang Tự Tánh. Vì thế hang Tự Tánh mới có dáng dấp như ngày hôm nay... Không ngờ!... Không ngờ!... Sáu cái hang cụt và các giường nằm trong đó bằng đá hoa cương đều phẳng lì như tấm phản gỗ đã được một loại công cụ chuyên nghiệp làm nên... Nói đến đây lão Hòa Thượng xây mặt về sáu cái hang xá ba xá như để tri ân và kính phục người xưa!... Lão lại nói: 

Lý Đệ!... Nếu bảo rằng hai vị cao tăng đó đã đến hang Tự Tánh bằng hướng Tây, họ đã trồng cây, đào hang cụt làm chỗ tu hành. Họ còn tạo nên cái bàn bằng đá ở giữa hang ngồi ngắm trăng đàm đạo thiệt là thú vị... Nhưng mà lão thắc mắc một điều, không biết vì sao chỉ có hai người mà đào đến sáu cái hang... bốn cái có giường nằm còn hai cái kia thì không? Nếu nói rằng hai cái cuối cùng để làm kho tích chứa vật thực và nhà bếp thì không có lẽ... Bởi vì ở đây ăn trái cây uống nước suối ngầm đủ sống, họ tích trữ làm gì và cần gì nấu nướng... Nói đến đây, lão Hòa Thượng lại trầm ngâm... 

Lý Tứ lên tiếng: 

- Hòa Thượng Đại Ca!... Tiểu Đệ thiệt tình không hứng thú với chuyện trong hang Tự Tánh có sáu cái hang hay bảy cái hang... Truy tìm vết tích của quá khứ cho dù biết chắc nó là cái gì, do đâu... thì đối với đệ cũng không có lợi ích gì nhiều. Đây là công việc của các nhà khảo cổ chứ không phải của người tu hành... Theo Tiểu Đệ, biết được một ít thông tin mơ hồ về những ai đã vào đây, đối với Tiểu Đệ cũng đã quá đủ cho cái tò mò của mình... Thú thiệt với Đại Ca, khi nhìn sáu cái hang cụt, bốn cái có giường nằm, hai cái trống không, bất chợt Tiểu Đệ ngẫm nghĩ đến chuyện tu hành... 

Hòa Thượng Huyền Không lên tiếng: 

Lý Đệ!... Đúng là Lý Đệ luôn luôn nghĩ đến chuyện tu hành, điều này khiến lão nạp càng khâm phục!... Phật dạy: “Quá khứ không truy tìm, vì quá khứ đã qua, vị lai không móng vọng vì vị lai chưa đến, hiện tại chẳng mê mờ, đây mới thật là đạo”. Sáu cái hang cụt, duyên như thế nào đối với việc tu hành, Lý Đệ có thể chia sẻ cùng lão nạp hay không? 

- Hòa Thượng Đại Ca!... Cảnh vật nơi đây và những cái tên của nó, theo ý đệ không phải vô cớ... Muốn đến hồ Tự Tâm phải chịu nhiều gian khó vượt qua Đại ngàn biết bao hiểm nguy... Để đến núi Kiến Tính phải vượt qua hồ Tự Tâm với bao nhiêu hư ảnh... Rồi vào động Tự Tánh trống trơn nhưng lại có tới sáu cái hang... Nhìn sáu cái hang cụt, tiểu đệ liên tưởng đến sáu Ba La Mật... Lý Tứ lại tiếp: 

- Một người đã giác ngộ, vượt qua tự tâm kiến được tự tánh, về mặt lý thuyết, thấy được tự tánh coi như đã đi được hai phần ba con đường Phật đạo. Nhưng thật ra, để cho giác ngộ này viên mãn, để cho những tính chất tự nhiên của tự tánh xuất hiện trọn vẹn, người tu hành phải tu thêm sáu Ba La Mật... 

  • Sáu Ba La Mật là công cụ hữu hiệu giúp cho giác ngộ kia chóng viên mãn, nó là tường vách che chắn tốt nhất làm cho hồ Tự Tâm không còn nổi sóng thức đối trước hòn đá thấy nghe... Nếu một người thấy được tự tánh mà không tu sáu Ba La Mật thì không thể thành tựu Ba La Mật tâm... 

Tâm chưa thật sự đáo bỉ ngạn, đối trước thấy nghe, nhất định tập khí sóng mòi của thức sẽ làm chao đảo biển tâm... 

Vì thế tu Ba La Mật là việc làm bắt buộc đối với người giác ngộ... Huệ năng ngày xưa phải sáu tháng giã gạo, đợi đến ngày gạo trắng mới có cơ hội lên thất Tổ để nghe diệu âm, mới được truyền tâm ấn!... Gạo chưa trắng, gạo chưa sạch thì chưa thể sử dụng như ý... Khi gạo đã trắng, đã sạch... bây giờ mới dùng nó vào những công việc thiết thực của hạt gạo... 

Cũng gạo đó, một khi trắng rồi người ta mới dùng nó để nấu thành cơm, gạo có trắng cơm mới ngon... Cũng gạo đó lúc cần thì dùng vào việc nấu cháo, cũng gạo đó nhưng có khi xay thành bột, có khi làm thành bún, có khi ép thành bánh... Đồng một thứ gạo đã giã trắng, người khéo biết dùng, thì dụng của nó lợi ích vô cùng, biến hoá khôn lường... Ha ha ha ha!... Nếu là gạo lức, thứ gạo chưa giã trắng, nếu tham cầu sử dụng, chỉ có dùng trong hoàn cảnh hạn hẹp là nghiền thành bột cho trẻ con... ăn... Ha ha ha ha!... 

Lão Hòa Thượng lại nói: 

Lý Đệ!... Lý Đệ có cái giọng hài hước nhưng lại khai mở lòng người. Lý Đệ cho đến hài hước cũng chẳng phải hý luận, thiệt là vi diệu. Lý Tứ tiếp: 

- Hòa thượng đại ca!... Trong con mắt của đệ, cuộc đời này chỉ là vở tuồng dài mà tác giả chính là nghiệp quả!... Vở tuồng này có bi, có hài, có tráng... Người đời như những diễn viên, cứ theo kịch bản kia mà diễn suốt cuộc đời... Nghiệp quả đã bắt những diễn viên của mình vừa mới sinh ra phải đóng vở tuồng này... Đóng ngày đóng đêm, đóng riết nhập vai, khóc cười buồn vui theo vai diễn... Lâu rồi ngỡ rằng thân phận vai diễn là cuộc đời mình... Họ chưa từng một lần trong đời cởi chiếc áo diễn viên trả lại sân khấu, chưa từng thoát khỏi kịch bản đã trói buộc mình... Cứ thế trôi lăn theo tử sanh của vở diễn, hết đời này đến đời khác!... 

Người giác ngộ, giống như kẻ từ bỏ sân khấu, làm một khán giả ngồi đấy xem tuồng... Tuy rằng đã làm khán giả, đã không còn là một diễn viên, nhưng máu nghệ sĩ hãy còn trong mình, thói quen nghề nghiệp đâu dễ dứt hẳn... Vì thế lâu lâu lại quên vai trò khán giả, lâu lâu lại phải máy động tay chân theo từng phân cảnh, theo từng điệu nhạc, theo từng lời ca... 

- Hòa Thượng Đại Ca!... Tu sáu Ba La Mật là những động thái tích cực xoá đi thói quen nghề nghiệp của người nghệ sĩ một thời, nay đã từ bỏ sân khấu cuộc đời nhưng trong lòng hãy còn vương vấn... 

- Tu sáu Ba La Mật chính là gọt rửa trong tâm những vết tích đã hằng sâu một thời bởi các vai diễn làm nên... 

- Tu sáu Ba La Mật là rèn luyện cho thân tâm này chuyên chính trở thành một khán giả... 

- Hòa Thượng Đại Ca!... Hầu hết các kinh Đại Thừa, Phật đều khuyên Bồ Tát nên tu sáu Ba La Mật... 

Tu sáu Ba La Mật khi thành tựu, tâm này sẽ là Ba La Mật Tâm... Người giác ngộ, nếu không tu hạnh này, đối trước nghiệt ngã cuộc đời, đối trước bất như ý của thấy nghe... trong phút chốc bất giác, trong phút giây bất chợt... trước những sự việc vượt quá kham nhẫn; nếu tâm chưa đáo bỉ ngạn, nhất định sẽ phát sinh tổn hại lớn làm cho hồ Tự Tâm lại nổi sóng mòi... 

Tu sáu Ba La Mật... là tập cho tâm này “phản xạ có điều kiện”, như người võ sĩ phản xạ tốt vì đã được rèn luyện quen tay... như người lính cứu hỏa không còn bất ngờ trước tình huống có cháy... Muốn tạo những phản xạ tích cực này, người võ sĩ, người lính cứu hỏa... phải lập những “tình huống giả định”, tập tành rèn luyện thường xuyên trước những tình huống đặt ra. Tập đến khi các vị này không còn bất ngờ trước sự thật xảy ra trước mắt… Nếu không tập luyện như thế, tính chuyên nghiệp sẽ không có trong con người này... 

Vì nó là những tình huống giả định, nó là những kịch bản không thật, nên thuần thục rồi, tình huống giả định này không tồn tại trong tâm. Nhưng nếu có biến cố thật sự thì một “ứng xử chuyên nghiệp” sẽ hiện ra tức thì... Cái phản xạ chuyên nghiệp này, tạm coi như là thứ Ba La Mật tâm... 

- Đại Ca thử nghĩ đi... Ba La Mật là gì? 

Nó chính là thứ tâm không còn bất ngờ trước muôn pháp. Nó là một thứ tâm chỉ như pháp mà ứng xử... Nó không như tâm đời, không như ứng xử của người đời... Điều này chuyện kinh cũng có kể… Một Bà La Môn đến chất vấn Phật:

“Tâm này là huyễn, pháp bạch cốt là huyễn... Cù Đàm dạy người pháp huyễn trong một tâm huyễn thì sao thành cái thật”. 

Phật đáp lại: 

“Đúng!... Tâm này là huyễn, quán bạch cốt là pháp huyễn... Pháp huyễn trong một tâm huyễn nhất định không thành cái thật... Nhưng cái thật ở đây là, sau khi pháp quán thành tựu, người này hết tham dục... Hết tham dục đối với người này là thật”. 

Đoạn kinh trên, ít nhiều cho chúng ta thấy cái được, cái tốt lành của pháp tu Ba La Mật... Đã là tình huống giả định, thì ở đây mới không có kẻ cho, không có người nhận, không có vật thí, không thành tựu pháp bố thí... Nhưng sau khi thành tựu pháp tu, người tu lại được nguồn tâm đáo bỉ ngạn... Tu xong thân thể thịt da liền lại như cũ, giống như trước đây Bồ Tát tu pháp nhẫn nhục, bị Ca Lợi Vương cắt tai xẻo thịt... Ha ha ha ha!... Bồ Tát khi đó tu Ba La Mật mà Hòa Thượng Đại Ca!... 

  • Tu Ba La Mật là tu như thế nào? Kinh điển cũng đã nói rõ cách thức, nhưng người tu hành ít khi để ý... 

Vì không để ý, không ngồi xuống tu hành, những tưởng như vậy tâm này đã Ba La Mật rồi, đến khi đụng chuyện lại không kham nhẫn nổi. Nếu có cố kham nhẫn thì sự việc cũng đã tác thành, bị nghiệp quả hiện tiền tác động... Nếu để sự việc xảy ra rồi, sau đó mới đem tâm kham nhẫn mà nhẫn, thì sao gọi là Ba La Mật tâm... 

Ba La Mật tâm là thứ tâm, dù sự việc có xảy ra hay không xảy ra tâm này vẫn không sai khác. Mọi thời mọi lúc mọi nơi đều như pháp mà ứng xử, đều như pháp mà an vui. Tâm được như thế mới gọi là đáo bỉ ngạn... 

Ví dụ như kinh dạy: “Tu bố thí Ba La Mật là không thấy kẻ cho, không thấy người nhận, không thấy vật thí, không thành tựu quả báo bố thí”. Nay có người bảo rằng, khi ai đó xin gì tôi liền cho, cho mà không thấy những thứ nêu trên gọi là Ba La Mật... Ha! Ha! Ha! Ha!... 

- Đại Ca ơi Đại Ca!... Đại Ca nói đi!... Không thấy người nhận thì cho ai đây, không thấy vật thí thì cho cái gì? Chưa nói phàm tay này trao cho tay kia, dù muốn hay không thì pháp bố thí đã thành tựu rồi... Có thấy hay không nghiệp quả đâu mất... Cái này là có người xin mới cho chứ đâu phải tu Ba La Mật... Lúc có người xin đem cho gọi là Ba La Mật, còn lúc không có người xin thì tâm thế nào đây? Cái này có xin mới cho chứ chẳng phải là tu... Như vậy tu Ba La Mật là tu thế nào? 

Hòa Thượng Huyền Không lên tiếng: 

Lý Đệ!... Nghe Lý Đệ cắt nghĩa về tu Ba La Mật, bây giờ lão nạp này mới ngờ ngợ về pháp tu này... Xưa nay lão nạp này cũng từng giảng nói về Ba La Mật, nhưng chưa một lần suy nghĩ cặn kẽ về cách thức tu hành... Lão nạp này cũng đinh ninh rằng: Cho mà tâm niệm không thấy người cho không thấy kẻ nhận là tu Ba La Mật... Ha Ha Ha Ha!... Lý Đệ có cách cắt nghĩa rất cụ thể rõ ràng minh bạch... mỗi mỗi phân minh. Lão nạp đang mong Lý Đệ giảng giải về pháp tu Ba La Mật cũng như ý nghĩa của sáu cái hang cụt đây... 

Lý Tứ nói: 

- Hòa Thượng Đại Ca!... Thật ra nói tu sáu Ba La Mật, nhưng phần lớn người tu hành chỉ cần tu ba pháp đầu là Bố Thí, Trì Giới, Kham Nhẫn... Tinh tấn tu ba pháp này, chỉ cần thành tựu một Ba La Mật thì sáu Ba La Mật lần lượt thành tựu... Vì sao? Vì sáu Ba La Mật nhưng chỉ một tâm này... Chỉ cần một Ba La Mật đưa tâm này đáo bỉ ngạn thì các món kia tự thành tựu... 

Trong kinh cũng có nói: “Thành tựu một Ba La Mật thì sáu món thành tựu...” Kinh cũng có nói: “Ngày xưa lúc còn là Bồ Tát, trong nhiều đời đã cất công tu Ba La Mật như Bố Thí...” 

Khi thành tựu một Ba La Mật như Bố Thí chẳng hạn, thì các môn Trì Giới, Kham Nhẫn… cũng thành tựu theo... Tinh tấn trong sự tu hành này là: 

- Lặp đi lặp lại mãi một tình huống giả định trong tâm, tâm cứ như pháp mà ứng xử... Đến khi thành tựu, trước sự thật cho dù như thế... tâm không bất ngờ. Vì không bất ngờ nên tâm dừng lặng. Dừng lặng được tâm thì thiền định phát sinh... 

- Khi thiền định viên mãn, có nghĩa sự việc giả định hay là thật có đến, thân tâm đều ở trong thiền... Cho đến lúc này, người tu hành mới thân chứng rằng: “Hết thảy đều do tự tâm hiện”. Lo sợ trước kia hay an vui hiện thời chỉ từ tâm này mà có... Phát hiện này chính là điều kiện để trí tuệ phát sinh. Phát sinh này là nền tảng làm cho thân tâm không còn động lay trước bất kỳ hoàn cảnh nào... Vì sao? Vì nhờ có trí tuệ nên người tu hành biết rõ mọi việc xảy ra chỉ là bóng dáng của nhận thức. 

Vì chỉ là bóng dáng của nhận thức nên vị này không y cứ. Vì không y cứ thấy nghe nên tâm không bị tác động... Luôn luôn không bị tác động bởi các tình huống như thế mới gọi là đáo bỉ ngạn... 

Có được tâm đáo bỉ ngạn là nhờ vị ấy thành tựu pháp tu... Thấy biết trong hoàn cảnh và tâm thế như vậy, mới được gọi là Trí Tuệ Ba La Mật... 

- Hòa Thượng Đại Ca ơi!... Vì thế, trong sáu cái hang, bốn cái có giường nằm và hai cái trống không... Ha ha ha ha!... Hai cái hang trống không, để chứa Thiền Định và Trí Tuệ... Nơi đây chẳng cần giường chõng như mấy cái hang kia!... Ha ha ha ha...!... 

- Hòa Thượng Đại Ca ơi!... Đại Ca suy nghĩ thử xem: Vì sao bóng trăng soi xuống đáy hồ, hồ kia không lay động... Vì sao, ném viên sỏi xuống hồ, hồ kia liền nổi sóng... Ha ha ha ha!... Đại Ca đừng có nói rằng: Bóng trăng và viên đá là hai vật thể khác nhau nhé!... Ha ha ha ha!... Lý Tứ lại nói tiếp: 

- Hòa Thượng Đại Ca!... Kinh cũng có dạy: “Có ba loại Ba La Mật là: Thế Gian Ba La Mật, Xuất Thế Gian Ba La Mật và Xuất Thế Gian Thượng thượng Ba La Mật”. 

Vì sao đồng một Ba La Mật mà lại có đến ba thứ bậc như vậy? Đại Ca!... Kinh nói đến ba thứ Ba La Mật là nhằm chỉ ra rằng, người tu hành tùy theo địa vị của mình, tùy theo chỗ giác ngộ, tùy vào sự hiểu biết... mà khi tu Ba La Mật sẽ cho ra những thành tựu sai khác vừa nêu. 

⁎ Thế Gian Ba La Mật là: đối với phàm phu vô văn, nhân nghe nói đến cách thức tu Ba La Mật, liền sinh tâm vui mừng. Vui mừng vì biết đây là Thánh Pháp. Thánh Pháp này có thể giúp mình dứt khổ. Tuy rằng chưa giác ngộ, nhưng vị này quyết dùng những hiểu biết của mình, nhiệt tâm ứng dụng tu hành, ngày đêm miệt mài theo chư thánh xưa tập hạnh Ba La Mật... Đến khi thành thục, đối cảnh tâm vị này cũng được thảnh thơi. Thảnh thơi này là do chấp trước Ba La Mật mà có chứ chẳng phải tâm thật sự thành tựu Ba La Mật... 

Mặc dù nó là thứ tâm được định hình bởi sự chấp nhất, nhưng nhờ đó, vị này giảm thiểu phiền não... Giống như đứa trẻ xa mẹ, vì người mẹ phải đến phương xa làm ăn. Xa mẹ lâu ngày, đứa bé quen dần với hoàn cảnh thiếu vắng tình mẫu tử. Ngày tháng trôi qua, đứa bé tuy có nhớ mẹ, chưa dứt tâm ái luyến, và cũng rất mong muốn người mẹ sớm trở về... Tuy mong muốn như vậy, nhưng đứa bé vẫn thản nhiên vui đùa. Thản nhiên vui đùa vì đã quen sống một mình, không phải khổ sở nhiều vì thiếu vắng nhớ nhung... 

⁎ Xuất Thế Gian Ba La Mật là: đối với các vị Thánh, tuy rằng đã giác ngộ, có được một phần thanh tịnh, nhưng giác ngộ này chưa rốt ráo. Có những hoàn cảnh vượt quá sức chịu đựng, nếu không tu tập Ba La Mật, vị này có khi không kham nhẫn nổi những bức ngặt đưa đến... Người giác ngộ, tu Ba La Mật không giống người đời. Vị này cũng đặt ra tình huống giả định, nhưng trước tình huống như vậy, vị này không lý giải rằng tình huống này phải ứng xử như thế nào, cũng không phân tích các pháp là có hay không. Nói chung vị này không dùng sức giác để ứng phó cho hợp lý, mà chỉ an trú nơi thanh tịnh tâm. Nhờ thường xuyên an trú nơi thanh tịnh tâm, khi đối cảnh tâm vị này vắng lặng... 

⁎ Xuất Thế Gian Thượng Thượng Ba La Mật là: thấy rõ thiệt tướng, an trụ nơi Trung Đạo. Đối trước muôn cảnh muôn pháp vị này thành tựu trăm ngàn Tam Muội... Nhờ thành tựu vô lượng Tam Muội môn nên Tứ Vô Lượng Tâm xuất hiện, giống như chuyện Đức Phật và năm trăm con voi say... 

- Hòa Thượng Đại Ca!... Để minh hoạ cho ba tầng bậc Ba La Mật, Tiểu Đệ xin nêu ra một ví dụ. Nhờ ví dụ này Đại Ca sẽ hiểu sâu hơn về điều Tiểu Đệ vừa nêu: 

Ví như trên đoạn đường vắng, có một con cọp hung dữ thường xuyên xuất hiện và ăn thịt những ai đi ngang qua đó... Ta đặt ra một số tình huống như sau: 

- Người bình thường, không từng tu tập Ba La Mật. Khi con cọp xuất hiện... người này rất nhiều ghê sợ, có thể hoảng loạn, té xỉu... Vô cùng đau khổ khi phải làm mồi cho thú dữ với tâm trạng nhiều ái luyến, mê mờ... Kinh dạy: “Người này sẽ đi theo nghiệp, giống như cái cây bị đốn, sẽ ngã theo hướng mở miệng.” 

- Nếu là người chưa giác ngộ, nhưng có tu tập Ba La Mật. Khi thấy con cọp... người này cũng hoảng loạn, nhưng nhờ trước đó đã đặt ra tình huống tương tự. Nhờ tu hạnh bố thí, nhờ sức tập luyện thường xuyên, bước đầu người này có bất ngờ, nhưng dần dần tâm vị này trấn tĩnh trở lại. Và vị này nếu không né tránh được, thì sẽ y như pháp mà bỏ thân... Trong hoàn cảnh này, theo kinh nói, “Cho dù có xảy ra điều bất hạnh, sau đó vị này cũng được nhàn cảnh”. 

  • Nếu là một người đã giác ngộ, có tu có thành tựu Ba La Mật, trong tình huống này, vị này không thấy tâm cũng không thấy cảnh, một bề thanh tịnh...

  • Cũng hoàn cảnh kia, nếu là một đức Phật, thì sự tình có lẽ giống như chuyện Phật gặp Ương Quật Ma La, hay đối trước năm trăm con voi say của A Xà Thế... 

- Hòa Thượng Đại Ca!... Ví dụ trên chỉ là ví dụ, không phải thực tế... Nhưng nhờ ví dụ này, ta có thể hiểu và cảm được điều tốt lành khi thành tựu pháp tu Ba La Mật... 

Đây cũng là thước đo tự tâm... Hãy ngồi xuống và tịnh tâm để đo lường chính mình, đối trước tình huống vừa nêu, ta sẽ xử lý bằng tâm nào? 

Nếu chưa được rốt ráo thì nhất định phải tu các pháp Ba La Mật để được rốt ráo phải không Hòa Thượng Đại Ca!... 

Lão Hòa Thượng trầm ngâm một hồi rồi nói: 

Lý Đệ!... Quả nhiên như lời Lý Đệ nói, muốn thành tựu rốt ráo phải tu Ba La Mật thôi. Không tu Ba La Mật sẽ khó kham nhẫn nổi những bức ngặt vượt quá sức chịu đựng của thân này... Cảm ơn Lý Đệ!... Nhờ Lý Đệ mà lão nạp này hiểu thêm nhiều điều… 

Những hiểu biết chủ quan của lão nạp trước đây về giáo pháp thiệt là chỉ thuần lý luận mà chẳng có chút cơ sở để người tu hành ứng dụng. Nói rằng thuần là lý luận, nhưng những lý luận của lão nạp đưa ra rất chung chung và mơ hồ, thiếu sức thuyết phục... Than ôi!... Những gì lão nạp dạy người bấy lâu nay, chỉ giống như “cưỡi ngựa xem hoa”... Thú thật với Lý Đệ, xưa nay đối với giáo pháp, người trước “cưỡi ngựa xem hoa” truyền thừa cho người sau. Cứ như vậy mà xem, cứ như vậy mà ngắm, cứ như vậy mà tán tụng... Từ ngày ngày gặp Lý Đệ, con mắt lão nạp mới thật sự mở ra... 

Lý Tứ tiếp lời: 

- Hòa Thượng Đại Ca!... Đại Ca chớ tự trách mình... Trong Phật đạo, hối quá là tốt, nhưng nếu giữ trong tâm thì sẽ bất lợi. 

- Phật đạo là đạo xả chứ không phải thủ giữ. Kẻ có trí là người biết rằng tốt cũng xả mà xấu cũng xả, đúng cũng xả mà sai cũng xả... Xả đến rốt ráo gọi là Đại xả. Xả đến không còn tâm xả gọi là vô lượng xả... Pháp xả là hình thức khác của Ba La Mật. Xả và Ba La Mật tuy khác tên nhưng cùng chung tính chất, cùng chung thành tựu... 

- Xả là cách nói khác của giải thoát, mà Phật đạo là đạo giải thoát chứ chẳng phải trói buộc...

Lý Đệ!... Lý Đệ thiệt là Từ Bi... trong hoàn cảnh nào Lý Đệ cũng đủ phương tiện để đưa người đến an lạc... Lời của Lý Đệ đơn giản nhưng hiệu quả. 

Đúng rồi, Lý Đệ!... Trí tuệ của Phật đạo là như thế. Trí tuệ của Phật đạo là diệu pháp, là cam lồ... “Nhất thiết pháp giai thị Phật pháp” là chỗ này chứ chẳng phải ở những văn từ cao thâm huyền bí. Nó giống như thuốc chữa bệnh, thuốc nào làm hết bệnh thì đó là thứ thuốc có giá trị cao nhất... Giá trị của thuốc đối với người bệnh không thể căn cứ vào ngân lượng, mà chỉ căn cứ vào hiệu quả chữa trị. Lời của Lý Đệ mở ra cho lão nạp này nhiều ý nghĩa, thấy được nhiều điều, cảm ơn Lý Đệ... Cảm ơn nhân duyên gặp gỡ này...!... 

Nói đến đây, khuôn mặt lão Hòa Thượng thoáng buồn nhưng hai mắt lão lại sáng ngời như vừa bắt gặp điều gì đó từ xa xăm!... 

Lý Đệ ơi!... Bóng trăng kia tự xả nên bóng trăng soi xuống không làm lay động mặt hồ... Hòn đá kia thủ giữ nên khi ném xuống mặt hồ dậy sóng!... Xả là vô tác, vô tác nên vô động. Nhân vô động nên khi chiếu mặt hồ bất động... Thủ giữ là tạo tác, khi tạo tác tác ý liền sanh, nhân sanh nên quả sanh, quả sanh vì thế hồ tâm lay động... 

Một khi hồ tâm lay động thì thấy nghe hay biết bị biến dạng méo mó, cái này gọi là nghiệp... Ở trong nghiệp thì chẳng thấy thiệt tướng. Không thấy thiệt tướng nhất định giả tướng sẽ hiện. Giả tướng là tướng của tạo tác. Tạo tác là pháp hữu vi... Ha ha ha ha!... “Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh”. Ha ha ha ha!... Cảm ơn Lý Đệ, một chữ “Xả” của Lý Đệ đã giúp lão nạp này đi tới đi lui mà thiệt bất động... 

Nói đến đây, trong cơn cao hứng, lão vung hai tay, đập mạnh vào tảng đá trước mặt. Chưởng lực làm phiến đá rung động. Hai bàn tay của lão ấn sâu vào phiến đá, không một hạt bụi rơi ra... Ha ha ha ha!... Lão cười một tràng dài sảng khoái rồi la lớn: “Trụ Vô Vi Kim Cang chưởng lực”. 

Ha ha ha ha!... Lão thành công chiêu thức này rồi... Phải xả thôi!... Phải xả thôi!... Tiếng nói chưa dứt, lão đã chễm chệ ngồi trên cành đào cao vút ở cuối hang động…

(còn nữa) 

Tác Phẩm Lý Tứ

Ngọn Kiến Tính. Hang Tự Tánh. Hồ Tự Tâm. Kim Cang Chỉ Lực

Quản trị viên 16.02.2022
Ngọn Kiến Tính. Hang Tự Tánh. Hồ Tự Tâm. Kim Cang Chỉ Lực

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Ngọn Kiến Tính sừng sững trước mặt, cửa hang Tự Tánh cao hơn chân núi chừng mười trượng... 

Để đặt chân đến miệng hang động, phải là người có nền tảng võ công thượng thừa, khinh công bậc thầy và đặc biệt phải sở hữu một nguồn tâm vững chắc... 

Chính ba điều cần có để tiếp cận ngọn Kiến Tính không dễ gì hội tụ trong một con người. Vì thế xưa nay không mấy ai hoàn thành ước nguyện khám phá thách thức của ngọn núi đầy kỳ bí này... 

Để vượt qua Đại ngàn với bao nhiêu khó khăn, nếu là người không có một nền tảng võ công vững chắc, thì không dễ gì trèo non lặn suối hơn hai tháng trời với bao nhiêu hiểm nguy rình rập từng phút từng giây, cả ngày lẫn đêm trong vô vàn rừng rậm trùng trùng điệp điệp. Những vách đá cheo leo bề mặt phủ đầy rong rêu trơn như dầu mỡ. Hết vách đá này đến vách đá khác, hết độc thú này đến độc thú khác, chúng như kẻ đói lâu năm đang chực chờ con mồi hiện diện là cả bầy bâu vào cắn xé thưởng thức... Còn nơi nào tạm coi là bằng phẳng thì phía dưới lớp thực bì kia ẩn chứa những gì đố ai biết được. Thành ra nơi tạm coi là bằng phẳng lại hiểm họa đang ở dưới chân. 

Để tránh hiểm họa dưới chân, người lữ hành phải chọn những ngọn cây cao nối tiếp nhau làm con đường tiến về phía trước. Du hành trên những ngọn cây giống như người đang phá trận “Mai Hoa Thung...” Cứ như thế, ngày không được nghỉ, đêm không được ngủ... Người nào may mắn đến được ngọn tùng già cách bờ hồ Tự Tâm hơn một buổi đường là kẻ đó coi như vượt qua cửa ải hiểm nguy của chặng thứ nhất... Chính chặng đường thứ nhất này đã chôn vùi không biết bao nhiêu lá gan của cao thủ giang hồ xưa nay... 

Hồi sáng trong lúc chờ đợi Hòa Thượng Huyền Không trên ngọn tùng già, Lý Tứ mới có dịp quan sát hồ Tự Tâm... Cái bí ẩn chết người thứ hai nằm ở hồ này... 

Hồ Tự Tâm ba phần được bao bọc bởi núi non, bờ hồ là vách núi dựng đứng... Chỉ duy nhất khoảng đất trống chừng một trượng vuông lưng chừng vách núi trước hang tự Tánh là nơi chốn đặt chân an toàn cho người vượt hồ. Chỉ cần một định hướng sai, đáp xuống không đúng vị trí, người này coi như vĩnh viễn nằm lại dưới hồ... 

Đứng ở bờ hồ ban đêm, mặt hồ là một khối đen bất tận, không biết đâu là hồ, chẳng biết đâu là núi và đâu là bờ này, đâu là bờ kia... 

Những đêm trời có trăng thì mặt hồ trở thành lớp sương bạc nhìn không quá một tầm... Chỉ có ban ngày, thời gian đứng trưa là cơ hội tốt nhất để khách vượt qua hồ... Nếu dùng khinh công thượng thừa để vượt qua hồ, thì khinh công của người đó chỉ thua chim Đại bàng ở nghiệp quả bay liệng... Vượt đến lưng chừng hồ mà nội lực tích tụ giảm sút một phần, coi như lòng hồ là bãi đáp cuối cùng... vì không đủ khí lực để tiếp tục hành trình trên không... 

Ba mặt của hồ được bao bọc bởi các ngọn núi. Mặt hồ trong vắt, hình dáng dãy núi hiện rõ dưới đáy hồ. Cái rộng lớn của núi thật và cái bao la của sự phản chiếu giả tạo lại là hiểm họa thứ ba. Người vượt hồ, chỉ cần nhìn xuống mặt hồ mà không có một cái tâm như kim cang, không sở hữu một định lực kiên cố, thì những ngọn núi hư hư thực thực dưới đáy hồ kia sẽ làm người đó mất phương hướng tức thì, cái chân và cái giả lẫn lộn... 

Sức trong suốt của nước hồ và hình ảnh phản chiếu là mối hiểm họa khôn lường, cảnh núi trời phản chiếu làm bốn phương chao đảo. Khi tâm thức chao đảo, người đó nhất định nhận giả làm chân!... Đã nhận giả làm chân thì cho dù có sở hữu một thân võ công đầy trời cũng phải một phen chấp nhận làm công dân bất đắc dĩ của đáy hồ... Vì lầm tưởng ngọn núi hư ảo dưới đáy hồ là nơi cần đến... 

Do tính chất trong suốt của nước hồ Tự Tâm và những gì phản chiếu ở đó, khi nhìn xuống mặt hồ cái thấy bị chao đảo. Một khi cái thấy chao đảo rồi thì mất phương hướng là chuyện đương nhiên... Giả chân, thật hư lẫn lộn thì người tỉnh và người say đối với hồ này đồng là bằng hữu... 

Định lực là chìa khóa để vượt qua hồ Tự Tâm. Có vượt qua hồ Tự Tâm mới đặt chân lên ngọn Kiến Tính. Có đến Kiến Tính mới vào hang Tự Tánh... Điều này trở thành quy luật bất di bất dịch cho những ai muốn đến nơi đây... Suy nghĩ đến hiểm họa do sức phản chiếu của hồ Tự Tâm, Lý Tứ chợt liên tưởng đến người tu hành... 

Người tu hành muốn thấy được tự tánh chẳng khác người vượt hồ. 

- Đầu tiên phải biết rõ hư dối của thấy nghe. Nhân biết rõ hư dối của thấy nghe, người này không bị trần cảnh làm chao đảo. Dứt chao đảo của trần cảnh mới biết rằng chân giả thật hư chỉ gạt người ngu. Vì rằng chân giả hay thật hư chỉ là hai mặt của một vấn đề... 

- Không lầm chân không lầm giả, lìa mê lìa giác là con đường duy nhất để vào bất động. 

- Tâm có bất động tánh Giác mới hiện. Thấy được Tánh Giác là đầu mối để nhận ra cái bản nhiên gọi là Tự Tánh, vì rằng Tánh giác là công cụ duy nhất để nhận ra tự tánh. 

- Một khi thấy được Tự Tánh thì đây mới là hang ổ của thiền định Ba La Mật mà sức hộ trì không thể nghĩ bàn của nó là cơ sở tốt nhất dưỡng nuôi trí huệ tối thượng... 

Vì thế, ngay bước đầu tiên, người tu hành đối với cái chao đảo của thấy nghe mà không thấu suốt bị nó dối gạt, thì hồ Tự Tâm tuy hiền lành nhưng lại là nơi nhấn chìm những ai còn điên đảo mà muốn vượt hồ... 

Lão Hòa Thượng cất giọng phá tan những miên man trong lòng Lý Tứ... Lão nói: 

Võ học và Phật học của Lý Đệ quả nhiên bất phàm. Lão nạp vừa đặt chân đến cửa hang là đã thấy Lý Đệ ở đó rồi... Hai ngày trước, lần đầu tiên lão nạp đặt chân đến đây, phải khó khăn lắm mới đến được nơi này... Lý Đệ thấy đó, miệng hang là một mảng đá hoa cương phẳng lỳ... Cái này nhất định không phải của tự nhiên mà đã có bàn tay con người can thiệp... Tự nhiên không thể có một phiến đá nhẵn bóng như thế... Lý Đệ nhìn xem, dấu vết của người xưa còn lưu lại trên mặt đá bên trái. Nhìn độ sâu của dấu vết, phải biết chỉ lực của vị này không tầm thường. Vận chỉ lực để vẽ trên đá có độ sâu như thế phải là người thành tựu “Kim Cang Chỉ Lực”. Thần công này trong giang hồ xưa nay chỉ có Tổ Sư một vài môn phái luyện thành... 

Lão Hòa Thượng nói đến đây, Lý Tứ mới nhìn vào nét vẽ. Nét vẽ sắc sảo trên đá giống như người ta khắc vào tấm gỗ. Hình vẽ là con chim Đại bàng trong tư thế tiếp đất. Bên dưới chỉ vỏn vẹn hai chữ “Thập Nhất”… Nhìn hình vẽ và nét chữ, Lý Tứ trầm ngâm một hồi rồi nói: 

- Hòa Thượng Đại Ca!... Đại Ca có thấy người này vẽ và viết chỉ toàn là những nét đơn giản. Con Đại bàng đơn sơ và hai chữ thập nhất cũng không khó... Theo suy nghĩ của đệ, cao nhân này võ công cao thâm, lại thích dùng hình ảnh ẩn dụ để cho người ta suy gẫm... Người này mượn hình vẽ đơn giản con Đại bàng nói lên thân phận của mình... 

Hòa Thượng Đại Ca kiến văn rộng rãi có từng nghe qua trên đời dị nhân nào như thế không? Lão Hòa Thượng trầm ngâm và lắc đầu... Một hồi lão lại lên tiếng: 

Lý Đệ đọc bốn câu kệ ở dưới. Người viết bốn câu kệ phía dưới võ công không thua người trên, Phật lý nhất định cao thâm. Bốn câu: 

“Tự Tâm hồ vô hữu,

Kiến tính sơn bất không,

Tự Tánh động vô động,

Trí huệ tự viên thông.” 

Dưới bốn câu kệ không ghi tên người khắc... 

Hai ngày nay, lão nạp nghĩ đến hai vị cao nhân đã đến đây, lưu lại bút tích không phải hạng tầm thường... Hai ngày qua, lão nạp chỉ ngồi trước hang để chờ Lý Đệ, chưa dám bước vào bên trong. Lão làm như vậy, một phần để tỏ lòng cung kính tiền nhân, một phần muốn cùng Lý Đệ khám phá những bí ẩn của động này. 

Nơi đây, lão nạp không dám nói là linh thiêng nhưng cũng chẳng phải nơi chốn dành cho hạng người hấp tấp. Bởi lẽ chỉ ỷ vào võ công mà không từng tu tập thiền định thì đã ở dưới lòng hồ rồi. Cho nên theo lão, người đến được hang này xứng đáng cho người đời cung kính lễ lạy... 

Những lời lão Hòa Thượng nói ra giống suy nghĩ của Lý Tứ... Lý Tứ lên tiếng: 

- Hòa Thượng Đại Ca!... Đã thế, người xưa đến đây lưu lại bút tích trước động. Theo Tiểu Đệ suy nghĩ, thì nay Đại Ca và Tiểu Đệ cũng làm như vậy!... Đại Ca và Tiểu Đệ mỗi người để lại bút tích của mình coi như vâng mệnh người xưa và là lễ vật ra mắt tiền nhân vậy... 

Nghe câu này, lão Hòa Thượng đột nhiên cười lớn rồi nói: 

Ý kiến của Lý Đệ quả nhiên hợp với lão nạp này. Lấy lễ làm đầu là cái đạo của người học Phật... Nói đến đây lão Hòa Thượng tung mình về bên phải động, đưa tay khắc vào phiến đá hoa cương. 

Chỉ lực của lão Hòa Thượng đến đâu tiếng rào rào phát ra đến đó và bột đá chảy theo từng nét khắc... Chưa đầy tuần trà lão Hòa Thượng đã khắc xong mấy chữ: 

“Huyền môn vong duyên,

Không môn thất ý”. 

Chỉ lực ấn sâu vào vách đá chừng một đốt tay... Viết xong lão Hòa Thượng ngắm nghía một hồi tác phẩm của mình, nhìn Lý Tứ rồi nói: 

Lý Đệ làm công việc của mình đi chớ!... 

Lý Tứ chậm rãi bước đến phiến đá, đưa ngón tay trỏ lên, viết liền hai câu thơ: 

“Lý nan nhân khả đối,

Tứ bất kiến thị phi.” 

Nét chữ của Lý Tứ nhợt nhạt trên phiến hoa cương giống như người ta dùng nhánh cây viết trên nền gạch... Viết xong cả hai cùng sánh vai bước vào trong động... 

Hang động không lớn lắm, từ cửa hang bước vào bề rộng chỉ đủ hai người cùng đi. Đường vào động tương đối bằng phẳng. Càng vào sâu trong động, ánh sáng yếu dần. Nhờ vào nhãn lực của hai cao thủ nên tuy tối nhưng những gì chung quanh cả hai đồng thấy tỏ một... Đi được một lúc, đường trong động dần dần lên cao. Cả hai cứ theo hang động mà đi, mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng tư không nói với nhau lời nào... Càng lên cao, hang càng hẹp lại. Một lúc sau trong động chỉ vừa cho một người đi... Bây giờ lão Hòa Thượng mới lên tiếng: 

Để Lão nạp đi trước, Lý Đệ theo sau... Biết đâu trong này có hiểm nguy!... Lý Tứ trả lời: 

- Đại Ca thân phận Sa Môn, không thể mạo hiểm, để Tiểu Đệ lãnh phần tiên phuông... Vừa nói dứt, Lý Tứ lách mình qua mặt lão Hòa Thượng... 

Càng vào sâu, hang động âm u. Cái lạnh lẽo của đá tỏa ra, cái ươn ướt của rêu phong lâu ngày bốc lên mùi nấm mốc... Lý Tứ quay lại nói: 

- Đại Ca đang cảm nhận điều gì? 

Lão Hòa Thượng đáp lại: Trong lòng lão chỉ thắc mắc một điều!... 

- Hòa Thượng Đại Ca thắc mắc điều gì? 

Vào trong lão nạp sẽ nói cho Lý Đệ nghe... Chỉ vỏn vẹn mấy câu đối đáp, hai người lại âm thầm tiến bước... 

---•••⁕ ⁕۝⁕ ⁕•••---

Hai người, một trước một sau lặng lẽ bước đi... Bây giờ, hang động hoàn toàn tối mịt, “ngửa bàn tay không thấy”... Lão Hòa Thượng lấy bùi nhùi và đá lửa trong bọc ra đánh lửa. Ánh lửa đầu tiên lóe lên xua tan cái u ám của hang động... Phía trước mặt hai người, hang động đột nhiên rẽ về bên phải. Dưới chân không còn bằng phẳng như bên ngoài. Thay vào đó nhấp nhô những gân đá chạy dọc theo chiều dài của hang, giống như những con rắn khổng lồ đang trườn mình đi tới... 

Đường đi đã như vậy, ánh sáng của túi bùi nhùi chập chờn, bóng tối và ánh sáng đang cưỡng đoạt lấy nhau tranh giành chiến thắng... Khi ánh lửa từ bùi nhùi trên tay Hòa Thượng lóe lên, những con rắn đá lại ngoe nguẩy uốn mình. Ánh lửa bùi nhùi chìm xuống, các con rắn đá kia lại mất hút trong chập chờn u tối... 

Cả hai cố dò dẫm từng bước, bởi lẽ chỉ cần một chút phân tâm bất cẩn, tức thì vấp phải những con rắn đá san sát nhau va đầu vào vách hang là chuyện khó tránh. Nếu không như thế sẽ bị trượt chân ngã xuống đưa đến chấn thương và hoàn toàn có thể rơi vào tình cảnh “tấn thối lưỡng nan” khó bề ứng cứu... 

Hai người tập trung cao độ lần lần từng bước một... Đường đi của hang động ngày một hẹp dần, thậm chí có nơi phải khom mình xuống mới có thể di chuyển... Địa hình địa vật như thế này, cho dù là hai cao thủ cũng đành phải chịu thua, không còn cơ hội thi triển võ công... Hoàn cảnh này, thật hợp với câu nói “không có đất dụng võ”, theo đúng nghĩa đen của nó... 

Đi được chừng ba tuần trà, ánh lửa từ gói bùi nhùi vụt tắt. Lão Hòa Thượng lại lấy đá đánh lửa. Cho dù cố hết sức, nhưng ngọn lửa không thể bùng lên... Không khí trong hang bắt đầu ngột ngạt khó thở... Cứ mỗi giây qua đi, cái khó thở gia tăng. Cứ như thế cả hai cảm nhận có gì đó nặng nề giống như tảng đá lớn ép vào lồng ngực, sức ép mỗi lúc một gia tăng... Lão Hòa Thượng nói nhỏ chỉ đủ cho Lý Tứ nghe: 

Lý Đệ!... Nơi đây không có dưỡng khí, đã quá xa miệng hang... Theo kinh nghiệm của lão nạp, những nơi như vầy rất nhiều độc khí. Độc khí có thể giết chết người trong chốc lát... Lý Đệ mau mau bế khí để tránh hơi độc đột nhập vào cơ thể, và để dành dưỡng khí cho đoạn đường sắp đến... Nói chưa dứt lời, lão Hòa Thượng rùng mình thấp gối để tránh cái chao đảo do thất thoát nguyên khí khi phát ngôn... Như lấy lại chút nguyên khí, lão Hòa Thượng và Lý Tứ lần tay vào vách đá để cố tiến về phía trước... 

Trong trường hợp sanh ít tử nhiều như thế này, dù là người có lá gan bằng trời, nhất định cũng phải thối lui không dám đi tiếp. Thối lui để bảo toàn tánh mạng, vì chẳng ai dám mạo hiểm khi không biết phía trước là gì và còn bao lâu nữa mới đến được nơi chưa từng biết, cho dù trong tưởng tượng... Một điều lạ, là hoàn cảnh này, cả lão Hòa Thượng và Lý Tứ không ai nói với ai lời nào, nhưng trong họ không có một chút ý nghĩ quay lại... Cả hai cứ như thế mệt nhọc và lầm lũi bước tới... 

Thời gian trải qua chừng nửa canh giờ, trong lúc lần theo vách hang, Lý Tứ chạm tay vào vách đá trước mặt đang án ngữ lối đi... Trong bóng tối như mực, trong cái khó thở như bị đá đè... một luồng gió nhẹ thoang thoảng thổi mát đôi chân... 

Theo phản xạ tự nhiên của cơ thể, Lý Tứ hít một hơi thật dài. Dưỡng khí như ồ ạt, tranh thủ nhau ùa vào hai lá phổi đang lép xẹp của mình... 

Nhận được luồng dưỡng khí, Lý Tứ như tăng thêm sức mạnh. Lý Tứ đưa tay về phía sau, nắm lấy lão Hòa Thượng, còn mình thì ép sát vách, tận lực kéo lão Hòa Thượng ngang chỗ đứng của mình rồi nói lớn: 

- Đại Ca!... Ở đây đã có dưỡng khí, Đại Ca mau hít vào... 

Lão Hòa Thượng hình như cũng cảm nhận được luồng sinh khí bất chợt chạm vào thân, lão vận khí hít một hơi thật mạnh... Cả hai không nói lời nào mà cùng nhau cười thật lớn. Tiếng cười của hai Đại cao thủ vang rền trong hang động... Lần đầu tiên, cả hai người cùng cười sảng khoái, họ cười như chưa từng được cười!... 

Lý Tứ như một con thằn lằn, trườn mình sát đất cố chui qua đoạn hang động bất chợt rẽ trái chỉ vừa thân người nằm dài. Gió từ bên kia nhè nhẹ thổi mát mái đầu... Đoạn đường ngắn chừng độ ba thân người nối lại. Cái hang bé tí tẹo tỏa sáng... Phía trước mặt là một khu đất rộng, ước chừng đến cả ngàn trượng vuông nằm lọt thỏm giữa những vách đá dựng đứng. Phía trên xa lắm là bầu trời xanh và những áng mây phiêu lãng... 

Khu đất nằm cao hơn miệng hang chừng một bước chân. Khu vực này tương đối bằng phẳng. Trước mặt Lý Tứ hiện ra không biết cơ man nào là cây trái bao bọc chung quanh. 

Khoảng giữa mảnh đất là một vuông đá hoa cương phẳng lỳ ước chừng bằng bốn cái bàn gộp lại nhô lên cao ngang bụng người lấp lánh ánh sáng... 

Lão Hòa Thượng và Lý Tứ đảo một vòng quanh khu đất. Phía bờ Tây là một số hang cụt khoét sâu vào chân vách đá. Cái này cách cái kia chừng hai mươi bước chân giống như những ổ tò vò... Lão Hòa Thượng nói lớn: 

Lý Đệ!... Vượt qua cái chết phía trước, lại lạc vào cảnh đào nguyên... Đây đúng là nơi cư ngụ lý tưởng cho những ai muốn xa rời cái ồn ào thế tục... 

Hai người đi kiểm tra từng cái hang cụt. Hang nào cũng có một phiến đá bằng phẳng đủ một người nằm... trừ hai cái hang cuối cùng bên trái là hai cái hang trống... Bên phải của hang, dòng nước ngầm trong vắt chảy dưới một cái khe cạn. 

Cái khe này chảy xuyên vào vách hang và không biết nó đi về đâu trong sâu thẳm của ngọn Kiến Tính... 

Lý Đệ!... Nơi đây không có vật dụng của con người lưu lại, nhưng dấu vết có người ở đây là đã hẳn rồi!... Sáu cái hang cụt, bốn cái giống nhau đều có giường nằm, hai cái trống trơn... Có lẽ hai cái trống đó là nơi tích trữ vật thực và nấu nướng của người xưa. 

Lý Đệ!... Cái bất ngờ nhất của lão nạp là, khi vào đây cảnh trí như là đào nguyên, không giống những gì giang hồ đồn Đại về sự kỳ bí và bẫy rập chết người của hang Tự Tánh... 

- Đại Ca!... Đại Ca thấy đó... nơi nào không đến được, nơi ấy trở nên huyền bí và nhiều thêu dệt hoang đường... Ha ha ha ha!... 

Hang Tự Tánh trống không... Ha ha… mấy chữ ngoài kia: 

“Tự Tâm hồ vô hữu,

Kiến Tính sơn bất không,

Tự Tánh động vô động,

Trí huệ tự viên thông.” 

Ai từng vào đây mới biết rằng: “Không một thứ có được, không một pháp hiện tiền”. Ha ha ha ha!... Chẳng như người đời thêu dệt về một tự tánh hoang đường... 

Hai người dắt nhau vào cái hang cụt chính giữa. Ngoài phiến đá làm giường nằm, chung quanh chẳng có một vật dụng gì... Lão Hòa Thượng và Lý Tứ cùng ngồi trên phiến đá. Nắng bên ngoài rọi vào cửa hang. Ngồi trong hang sâu dưới lòng đất cả trăm trượng mà cả hai cứ ngỡ như mình đang ngồi trong một trang viện nào đó... Lão Hòa Thượng lên tiếng: 

Khi nãy, trên đường vào đây, Lý Đệ có hỏi lão cảm nhận điều gì? Lão trả lời là: 

Lão thắc mắc một điều, khi nào vào trong này lão sẽ nói cho nghe... Không biết Lý Đệ còn nhớ hay không? 

- Tiểu Đệ đâu có quên điều này!... Bây giờ Hòa Thượng Đại Ca có thể cho Tiểu Đệ biết điều Đại Ca thắc mắc được rồi chứ!... 

Thắc mắc của lão nạp ở chỗ hai câu thơ Lý Đệ khắc trên đá: “Lý nan nhân khả đối, Tứ bất kiến thị phi”. Về ý nghĩa hai câu này thì lão nạp công nhận tài thi phú và cái tự tại của Lý Đệ... Nhưng lão nạp lại thắc mắc về võ công... 

Theo chỗ lão nạp biết, võ công của Lý Đệ chẳng những không thua kém lão nạp, có khi còn hơn vài phần... Nhưng tại sao khi dùng chỉ lực khắc vào phiến đá ngoài cửa, chỉ lực của Lý Đệ không thể làm cho một chút bụi đá sứt mẻ... Chẳng lẽ Lý Đệ chỉ thuần thục võ học mà không biết nội công... Cái này cũng không có lý. Bởi nếu không có nền tảng nội công hơn người thì làm gì lại đạt đến cảnh giới thâm u của võ học, làm gì có thể vượt qua Đại ngàn ngoài kia, làm gì có thể bay qua hồ Tự Tâm mà không rơi xuống nước, và làm gì mà đến được nơi đây!... 

Thú thiệt với Lý Đệ, lão nạp cực kỳ thắc mắc điều này... Nhìn mấy chữ viết ngoài động của Lý Đệ, dưới con mắt lão nạp, loại công phu như thế chẳng khác gì cái thói mèo quào của đám đồ đệ mới nhập môn của Thiếu Lâm... 

- Đại Ca!... Thần công “Kim Cang chỉ lực” của Đại Ca thiệt là hơn người. Có thể dùng ngón tay phá nát đá hoa cương như người ta dùng dao bén gọt củ khoai lang, thiệt là giang hồ khó cóngười luyện thành... 

- Nhưng hình như kiến thức võ học của Đại Ca vẫn còn điều gì đó không ổn... Ha ha ha ha!... Đại Ca có thắc mắc điều Tiểu Đệ nói không? 

Lão nạp thiệt là mơ hồ... Thú thật, tuy lão nạp ở chùa độ tăng, nhưng cao thủ bậc nhất giang hồ hiện nay chưa một ai dám nói với lão nạp những điều chê bai như đệ, và chưa một ai làm cho lão nạp khâm phục võ công... Lão nạp biết, lời của Lý Đệ không hư dối, nhưng lão vẫn hồ đồ về mấy chữ hồi sáng... Thiệt là lão không phục!... Lão không phục nội lực của người sở hữu “cây đao sét” mà chỉ có như vậy... Ha ha ha ha ha!... Tiếng cười của Lão Hòa Thượng làm rung chuyển hang động... 

Để cho lão Hòa Thượng dứt tiếng cười mãn nguyện... Lý Tứ không nói lời nào, quay mình về phía sau, vận chỉ lực vào ngón tay viết ngay lên vách mấy chữ: 

⁕ “Tận Hữu Vi Kim Cang chỉ lực”. Ngón tay Lý Tứ đưa đến đâu, từng cụm bụi đá rơi xuống đó. Nét chữ hằng sâu hơn một đốt tay... 

Lý Tứ lại viết tiếp: 

⁕ “Trụ Vô Vi Kim Cang chỉ lực”. Ngón tay Lý Tứ ấn đến đâu, nét viết lún sâu đến đó nhưng cái lạ là không một hạt bụi rơi ra. Nét chữ hằng sâu vào đá hơn nét chữ đã viết ở trước... 

Lý Tứ lại viết:

⁕ “Phi Hữu Vô Kim Cang chỉ lực”. Lần này nét chữ của Lý Tứ giống như đứa trẻ dùng nhánh cây viết trên nền gạch, nét chữ nhạt nhòa... 

Viết xong ba câu trên vách đá, tiếng rào rào ngoài miệng hang vọng vào... Tuy xa nhưng nhờ thính lực của hai cao thủ nên tiếng bụi rơi nghe rõ mồn một... 

Lão Hòa Thượng chưa kịp nhận định những gì Lý Tứ thi triển, bằng thói quen giang hồ lão nói lớn:

Lý Đệ!... Ngoài kia có tiếng động!... Coi chừng có điều chẳng may. Nói xong lão dùng khinh công nhanh như chớp đứng chắn ngay lối vào hang... 

- Đại Ca!... Tiếng động vừa nghe, không phải biến cố, mà nó là tiếng rơi của lớp đá bụi do Tiểu Đệ viết mấy câu hồi sáng ngoài cửa động. 

“Phi Hữu Vô Kim Cang chỉ lực” có tác dụng như thế. Đây là thức thứ ba và là thức cuối cùng của “Kim Cang thần công”. Thức này còn có tên “Y Báo thần công”, tức là thần công này chỉ hiện khi giao thoa giữa một tâm thức hữu tình đang phân biệt thị phi... 

- Đại Ca!... Chính mối nghi và tâm so sánh cao thấp của Đại Ca, tâm này làm chánh báo, nên chỉ lực kia phát huy tác dụng. Khi phát huy tác dụng nó trở thành y báo hiện tiền. Lúc nãy, thần công đệ thi triển ngoài kia giao cảm với tâm Đại Ca nên đá trên nét chữ buồn tình mà rơi xuống đất!... Câu: “Tứ bất kiến thị phi” bây giờ chắc Đại Ca hiểu ra rồi chứ!... Tiện đây, Tiểu Đệ sơ lược mấy điều về thần công này cho Đại Ca hay: 

- Người bị thần công này đả thương, bề ngoài không thấy dấu vết hay đau đớn. Nhưng khi người đó bất giác hiện trong tâm, thần công liền phát huy tác dụng. Tác dụng của nó đến đâu còn tùy vào mức độ đảo điên của người bị đả thương... 

Tác dụng của nó chỉ chấm dứt khi nào người này bình tâm trở lại. Khi bình tâm, cơ thể người này trở về nguyên trạng. Nhưng nếu không biết ăn năn sám hối, lại nổi phàm tình thì thần công phát huy hiệu quả nặng hơn. Chừng ấy người này đau khổ phiền não đến mất hẳn khí lực... Đại Ca!... Thần công này còn có tên “Hóa Độ Kim Cang thần công”... Nó không sát thương người, không hủy diệt như hai thức kia, nhưng có tác dụng răn đe dạy dỗ rất lớn. Vì thế, nó còn có tên “Từ Bi chỉ lực”... 

- Hòa Thượng Đại Ca!... Giang hồ xưa nay không biết rằng: Đồng một “Kim Cang thần công” nhưng lại có ba thức dành cho ba hạng người thành tựu khác nhau. 

Giang hồ cao thủ bậc nhất, cao lắm chỉ luyện được “Tận Hữu Vi Kim Cang chỉ lực”, nó là loại thần công mà Đại Ca sử dụng... 

Còn “Trụ Vô Vi Kim Cang chỉ lực” là loại thần công chỉ dành cho hàng tu luyện đến mức tâm như hư không. Thành tựu thần công này, người sử nó hết thấy đúng sai hơn thua phải quấy, nên còn có tên “Bất Nhị thần công”, lại có tên “Tịnh Danh tâm pháp”... 

Thần công thứ ba “Phi Hữu Vô Kim Cang chỉ lực” là thần công của hàng thấu đạt Trí Tuệ tối thượng. Thần công này còn gọi là “Tam Muội Đại Hải Trí lực”. Người thành tựu thần công này thấu suốt tam tạng kinh điển thánh giáo, nên nó còn có tên: “Liễu Nhất Thiết Chư Pháp Đà La Ni”... 

Hai thứ thần công sau, hầu như thất truyền cả ngàn năm nay... Ha ha ha ha!... 

- Đại Ca!... Đại Ca còn thắc mắc gì không? 

Lão Hòa Thượng nghe xong những điều Lý Tứ vừa nói, hai mắt lão như hai luồng điện hướng về phía Lý Tứ. Lão nói lớn: 

Mô Phật!... Mô Phật!... Lời Lý Đệ đã đưa lão nạp này đến chỗ bất động rỗng rang, tâm như hang trống... Ha ha ha ha!... 

Xưa nay lão nạp mang trong lòng chủng tử “Hoại hữu vi” mà không tự biết!... Ha ha ha ha!... “Tận Hữu Vi Kim Cang chỉ lực” chỉ có công dụng phá hòn đá kiết sử mà không biết kiết sử kia chỉ là kết quả của tập nhân... Ha ha ha ha!... 

Lý Đệ!... Lão như người sáng mắt... “Sắc tức thị không, không tức thị sắc...” Từ nay Lý Đệ là bậc thầy của lão nạp rồi... Nhưng đạo tăng tục không cho phép, lão nạp chỉ thờ trong lòng vậy!... Ha ha ha ha!... 

Lý Tứ hướng về phía Hòa Thượng chắp hai tay vào nhau xá Hòa Thượng ba xá nói lớn: 

- Chúc mừng Hòa Thượng Đại Ca đã đặt hòn đá ngã nhân xuống dưới chân mình... Tiểu Đệ là Lý Tam Đao, Lý Cư Sĩ... xin đảnh lễ Hòa Thượng Đại Ca. Xin xưng tán công đức thành tựu Đệ Nhị Kim Cang Thần Công... 

Nói xong Lý Tứ lại khom mình xá lão Hòa Thượng ba xá rồi tiếp: 

- Phật Pháp Tăng thường trụ, Tam Bảo thường trụ. Ngày nay có tăng thành tựu Đại pháp, nhân quả đồng thời, Chánh Pháp chẳng lo diệt mất... Ha ha ha ha!... Đại Ca xứng đáng là “Đệ nhất nghĩa tăng”. Mô Phật!... Mô Phật!... Mô Phật!... Mô Phật!...

(còn nữa) 

Tác Phẩm Lý Tứ

Đại Sư Huyền Không. Tự Tánh Là Gì?

Quản trị viên 16.02.2022
Đại Sư Huyền Không. Tự Tánh Là Gì?

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

PHẦN II

LƯỠNG MỤC GIAO DI TÂM PHÁP 

“Tự tâm hồ vô hữu 

Kiến tính sơn bất không 

Tự tánh động vô động 

Trí huệ tự viên thông.” 

                          - Lý Tứ -

ĐẠI SƯ HUYỀN KHÔNG

Lý Tứ ngồi vắt vẻo trên ngọn tùng cao nhất. Cây tùng giữa Đại ngàn này ước chừng tuổi đời không dưới mấy trăm năm... Phía trước mặt là Dãy núi Kiến Tính. 

Kiến Tính thật ra là tên của ngọn núi cao nhất trong quần thể gồm nhiều dãy núi nối nhau. Kiến Tính nằm ở giữa, bên trái thấp hơn là ngọn Hư Vọng, bên phải là ngọn Giác Tâm... 

Ba ngọn núi hợp cùng những ngọn vô danh khác chạy dài hai bên tạo thành vệt xanh đến tận chân trời. Ngọn Kiến Tính sừng sững ở giữa. Nếu nhìn từ xa, người giàu tưởng tượng sẽ thấy Kiến Tính như một người cao lớn đang ngồi xếp bằng ngay tại trung tâm. Hai bên vô số những con người từ cao đến thấp cùng ngồi trầm mặc... Thiên nhiên đã tạo nên diện mạo riêng của mình... 

Muốn đến được đỉnh Kiến Tính, phải vượt qua một cái hồ rất rộng. Hồ này có tên là hồ Tự Tâm. Hồ Tự Tâm sâu bao nhiêu thì không ai biết, mặt hồ trong suốt soi rõ dãy Kiến Tính tạo thành bức tranh thủy mặc, ngoạn mục và kỳ bí... Sáng sớm, khi mặt trời lên chừng hai sào, cả dãy Kiến Tính lấp lánh bởi ánh sáng phản chiếu từ hồ Tự Tâm. Buổi chiều khi mặt trời gần lặng phía sau dãy núi, hơi nước từ hồ bốc lên, người ta thấy đỉnh Kiến Tính được bao phủ bởi vầng hào quang nhiều màu sắc... 

Hồ Tự Tâm, tích nước từ dãy Kiến Tính chảy xuống. Nước ở hồ trong vắt nhưng rất độc. Độc tố trên núi theo nước mưa tích tụ trong hồ... Chẳng may, sinh vật nào để nước hồ dính vào thì suốt đời coi như tàn phế... Độc tố ăn sâu vào da thịt xương tủy và vô phương cứu chữa. Khi độc tố lan dần đến tim, coi như người này hội ngộ tổ tiên... 

Nghe đồn trên ngọn Kiến Tính có một loại thảo dược có thể làm tiêu độc này, nhưng chẳng mấy ai lên tới... Vì thế, Kiến Tính từ xưa đến nay trở thành khu vực bất khả xâm phạm. Nơi đây được coi như thâm sơn cùng cốc và người đời thêu dệt không biết bao nhiêu câu chuyện huyền bí chung quanh ngọn núi này... 

Có vài khách giang hồ, cao nhân ẩn sĩ tò mò muốn khám phá ngọn núi đầy bí ẩn sừng sững và nhiều thách thức… Vì thế Kiến Tính huyền bí lại thêm huyền bí... 

Mười tháng trước, ngày mười bốn tháng tám năm ngoái... trong lúc nhàn cư, Lý Tứ ngao du lên Long Sơn. Trên núi là một tu viện nổi tiếng cùng tên với ngọn núi. Những ngày lễ lớn cả ngàn khách thập phương đổ dồn về đây để viếng chùa và nghe giảng pháp... Viện chủ là một Lão Hòa Thượng đã gần chín mươi. Nghe đồn Lão Hòa Thượng viện chủ trước đây xuất thân từ Thiếu Lâm, cái nôi võ học của Trung Nguyên. Nhưng sau đó vì chỉ muốn tu hành độ thế, Lão Hòa Thượng không theo nghiệp võ mà lên Long Sơn mở chùa lập viện... thuyết pháp, giảng kinh dạy người tu hành. 

Sau hơn bốn mươi năm hoằng hóa, đệ tử tăng tục của Hòa Thượng không dưới vài vạn người. Vì thế, nhắc đến Đại Sư Huyền Không, chẳng một ai trong giới tu hành mà không nghe tiếng và ngưỡng mộ... Chữ Huyền của Lão Hòa Thượng ngang vai vế với Phương Trượng hiện thời của thiếu Lâm là Huyền Nhân. Nghe đồn nếu tiếp tục ở lại Thiếu Lâm thì chức Phương Trượng đã thuộc về Huyền Không Đại Sư... Đại Sư ngoài cái danh Viện chủ Phật môn, trong mình Lão Hòa Thượng còn mang một thân võ học. Nghe nói Phương Trượng Thiếu Lâm hiện thời còn phải nể nang Lão Hòa Thượng vài thành... 

Nhân duyên lần đó lên núi vãng chùa nghe pháp, Lão Viện Chủ giảng về Tự Tánh. Trong ngày có buổi pháp đàm, đích thân Lão Viện Chủ giải nghi cho thính chúng... Cơ hội này Lý Tứ quen biết với Lão Hòa Thượng Huyền Không thông qua cây đao sét... Đêm đó, đích thân Viện Chủ mời Lý Tứ ở lại chùa và đàm đạo... Cái đêm hội ngộ này khiến một tăng một tục trở thành đôi bạn vong niên... Sáng ngày thứ ba, Lão Hòa Thượng tiễn Lý Tứ xuống núi và có cuộc ước hẹn hôm nay... 

Ngồi trên ngọn tùng già, Lý Tứ miên man suy nghĩ về những gì đã qua... Vài tháng nay giang hồ đồn đại về chuyện Đại Sư Huyền Không giao chức Viện Chủ Long Sơn lại cho người kế thừa, còn bản thân Lão Hòa Thượng đi đâu thì không một ai biết được... Tăng lữ trong viện thì có người nói rằng chính mắt mình thấy Lão Hòa Thượng như một vệt khói đi thẳng vào trong lòng núi và ngọn núi khép lại như chưa hề có sự việc gì xảy ra... Có người lại kể rằng nửa đêm hôm đó một con hạc thật lớn đến chở Hòa Thượng đi thẳng lên trời... Mọi câu chuyện thêu dệt chung quanh sự mất tích đột ngột của Lão Hòa Thượng làm cho Lý Tứ càng thêm kính trọng tư cách một cao Tăng. 

Chỉ vì chân lý Lão Hòa Thượng dám từ bỏ danh phận Viện Chủ, từ bỏ bao nhiêu tâm huyết một đời, từ bỏ cả ngàn con người luôn vây quanh chúc tụng tán dương... Âm thầm lên Kiến Tính, chỉ vì chợt nhận ra cái gì mới thật là chân lý... 

Từ xa, tiếng Lão Hòa Thượng vang dội giữa Đại ngàn như tiếng chuông đồng. Chứng tỏ dù đã gần chín mươi nhưng khí lực của Lão chẳng thua kém trung niên... Lý Đệ!... Lão Đại Ca tự nghĩ, nếu có nhanh lắm, chiều nay Lý Đệ mới đến được nơi này. Không ngờ cước lực của Lý Đệ quả là thiên hạ khó bì, mới sáng sớm Lý Đệ đã vắt vẻo trên ngọn tùng già. Lão nạp này lại một phen tính toán trật lất...

Lý Tứ buông mình xuống đất lên tiếng: 

Hòa Thượng Đại Ca!... Tiểu Đệ đêm ngày mong gặp Hòa Thượng Đại Ca nên gia tăng cước lực. Phí sức một chút, bù lại được diện kiến Hòa Thượng Đại Ca là Tiểu Đệ thỏa nguyện lắm rồi... Hòa Thượng Đại Ca tính toán như thần. Chẳng qua Tiểu Đệ đến sớm hơn một chút chỉ vì cái tâm này hối thúc chứ chẳng phải Hòa Thượng Đại Ca tính toán sai đâu... 

Cả hai, một tăng một tục cùng sánh vai tiến thẳng về ngọn Kiến Tính... Vừa đi, Lão Hòa Thượng vừa tâm sự: 

Lý Đệ!... Lão nạp nhớ mãi cái lần đầu tiên nhìn thấy cây đao sét của Lý Đệ... Câu hỏi hôm đó của Lý Đệ, nếu không nhờ cây đao sét nói lên danh phận của người mang nó, thì lão nạp này cũng thao thao bất tuyệt cắt nghĩa về tự tánh, như bao nhiêu lần lão nạp nói về đề tài này trước mấy ngàn lỗ tai đồ chúng... 

Bây giờ ngẫm lại, thiệt là nhầm lẫn... Ha ha ha ha!... 

“Tự tánh là tánh mình!...?” Tánh mình mà là tự tánh thì tự tánh này nhất định sanh diệt... Ha ha ha ha!... Cây đao sét nhưng cắt đứt được vô minh... 

“Tánh mình” là thứ tánh do nhân duyên nghiệp quả làm nên, đầy đủ tính chất của phàm tình. Một mực cho rằng “tánh mình là tự tánh” thì than ôi Giáo pháp của Thích Ca trở thành vô thường sanh diệt… Ha ha ha ha!... Cái giọng hào sảng của Lão Hòa Thượng vang vang giữa núi rừng như đánh thức Đại ngàn bao đời nay ngủ say theo năm tháng... 

Cả hai đứng bên bờ hồ Tự Tâm, hình bóng một tăng một tục soi rõ dưới mặt hồ... 

Lý Tứ lên tiếng: 

Hòa Thượng Đại Ca!... Đại ca thấy đó... Nếu mặt hồ không bị tác động bởi một duyên nào hết, thì tính chất tự nhiên của hồ sẽ hiện... Tính chất tự nhiên này, Phật gia gọi là tự tánh... Nhưng nếu có một nhân duyên nào tác động lên mặt hồ, thì Hòa Thượng Đại Ca ơi!... Mặt hồ sẽ nổi sóng. 

Khi mặt hồ nổi sóng nhất định hình ảnh của tiểu đệ và Hòa Thượng Đại Ca theo đó mà biến dạng, theo đó mà nổi trôi... 

Cái biến dạng nổi trôi do duyên tác động vào mặt hồ Phật gia gọi là hư vọng tánh, là tánh mình, là chúng sanh tánh, là sân si tánh... là sanh diệt tánh, là phàm phu tánh chứ chẳng phải tự tánh đâu Hòa Thượng Đại Ca... 

Cho nên, “tự tánh” là tánh đồng nhất không sai biệt mà Phật và hữu tình đồng có, trong điều kiện chưa bị một duyên nào tác động. Giả sử như một vạn cái hồ, lớn nhỏ sai khác... nếu một vạn cái hồ này không bị tác động bởi duyên thì vạn cái hồ đó đồng một tự tánh... 

“Tự tánh” là tập hợp của nhiều tính chất, khi dứt các duyên, dần dần những tính chất này lần lượt sẽ hiện... 

Ví như tính chất trong sạch của nước, tính chất giác liễu khi chiếu soi, tính chất bất động đứng lặng, tính chất mát diệu thanh lương... Thì hồ tâm này cũng vậy!... Khi dừng các duyên, đừng ném hòn đá thấy nghe vào tâm thì tự tánh sẽ hiện. Khi tự tánh hiện, những tính chất nhất định của nó lần lượt hiện theo mà người tu hành có thể cảm nhận được... 

Các tính chất đặc biệt đó là: Thanh tịnh, bất động, liễu tri, an lạc, chân ngã, chân thường, từ bi... khi hiện đủ, hiện viên mãn, Phật gia gọi đó là Phật Tánh... 

Sự xuất hiện lần lượt này, kinh Niết Bàn nói rằng: “Phật Tánh của Phật gồm đủ bảy điều, Bồ Tát Thập Địa có sáu điều, Thập Trụ có năm điều”. 

Nó chẳng phải tánh mình. Nếu lầm nhận tánh mình là tự tánh thì cái hiểu này xa rời Phật đạo... Khi nói tánh mình tức có đây có kia, tánh mình khác, tánh người khác, tánh người kia khác tánh người nọ... Những tánh riêng này đã bị tác động bởi các duyên sai khác thì làm sao gọi là đồng... Trong khi đó kinh dạy: 

֍ “Phật và chúng sanh đồng một tự tánh”. 

Hòa Thượng Đại Ca ơi!... Đại Ca có nhớ khi Lục Tổ Huệ Năng thấy được tự tánh bèn la lên rằng: “Nào dè tự tánh vốn tự thanh tịnh!... Nào dè tự tánh vốn không sanh diệt!... Nào dè tự tánh vốn không lay động!... Nào dè tự tánh liễu tri muôn pháp”. 

Chứ đâu có nói: “Nào dè tánh mình vốn hay sân hận!... Nào dè tánh mình vốn hay tham dục!... Nào dè tánh mình vốn thích phân biệt!... Nào dè tánh mình theo duyên động lay!...” 

Nói đến đây, Lý Tứ lượm một viên đá nhỏ ném xuống mặt hồ... Hình ảnh của Lý Tứ và Lão Hòa Thượng chao đảo theo từng đợt sóng. Lý Tứ cười ha ha rồi nói: 

- Hòa Thượng Đại Ca!... Viên đá rớt xuống mặt hồ làm diện mục của tiểu đệ và Đại ca méo mó... Cái “bản lai diện mục” đâu rồi? Ha ha ha ha!... 

Tánh mình lại sanh diệt theo duyên!... Ha ha ha ha!... Nói đến đây Lý Tứ đọc mấy câu của Tổ Long Thọ: 

“Chúng duyên trung hữu tánh,

Thị sự tắc bất nhiên,

Tánh tùng chúng duyên xuất,

Tức danh vi tác pháp,

Tánh nhược thị tác giả,

Vân hà hữu thử nghĩa,

Tánh danh vi vô tác,

Bất đãi dị pháp thành.” 

Ha ha ha ha!... Cổ nhân đã nói như vậy!... Cố đem tánh mình cắt nghĩa tự tánh thiệt oan cho cái tự tánh!... Ha ha ha ha!... Tự tánh lìa mê lìa giác. Đem mê hiểu tự tánh đã sai, nay lấy giác hiểu tự tánh thiệt là mê chồng thêm mê... 

Lão Hòa Thượng trầm ngâm rồi nói: 

Lý Đệ quả nhiên biết dùng phương tiện để giải thích vấn đề. Cái thấu suốt của Lý Đệ, lão nạp đây một đời giảng kinh thuyết pháp mà chẳng thể bì kịp... 

********************** 

Từ ngày lão nạp từ bỏ thân phận viện chủ, từ bỏ những gì có thể từ bỏ để tìm đến ngọn Kiến Tính này, thật ra không phải dễ dàng gì... Tâm huyết một đời của lão nạp, ân tình một đời với bao nhiêu con người gắn bó vì hạnh phúc của bản thân và đồng đạo. Đành lòng từ biệt quá khứ những tháng năm dấn thân đi tìm chân lý và dạy người chân lý... thiệt là việc khó làm!... 

Để có được ngày hôm nay, để có được những phút giây làm bằng hữu với Lý Đệ, để có được cái thong dong giữa Đại ngàn sáng nghe suối reo, chiều nhìn hạc múa, để có được phút giây “tu du phản chiếu”... lão nạp đã phải nhiều đêm trằn trọc, nhiều đêm chọn lựa, nhiều đêm tự nhủ với lòng và nhiều đêm đối diện với chính mình để tìm xem thành tựu bản thân là chân hay giả...

Câu nói của Lý Đệ, lão nạp nhớ mãi không quên: “Tâm này chính là đối tượng để người tu hành nhắm đến mà hàng phục, tâm này chính là đối tượng để người tu hành nghiêm khắc đánh giá mức độ thành tựu chứ không phải là những lý luận hay sự tung hô ngoài kia...” 

Lão nạp cũng từng trằn trọc với câu nói chí thiết của Lý Đệ: “Trượng phu là kẻ dám nhả bỏ những gì cần nhả bỏ mà người đời không dám nhả bỏ, dám nuốt vào những gì mà người khác không dám nuốt vào...” 

Thiệt là nhả bỏ những vị ngọt mình đã từng thụ hưởng không dễ, nuốt vào những thứ cay đắng của ngã này cũng thiệt khó làm... 

Nhưng rồi lão nạp lại nghĩ, một đời dấn thân tu hành là vì cái gì? Chẳng lẽ là vì cái ngã này... ? Chẳng lẽ để giữ gìn cái phù phiếm của sáng được tung hê chiều nghe chúc tụng…? 

Chẳng lẽ cứ tháng ngày giảng nói những lý lẽ cao thâm mà người nói lẫn người nghe đều mơ hồ trong cơn tùy mộng... Rồi đêm đến lại lo sợ bởi cái thân già này một mai nằm xuống chẳng biết sẽ về đâu…? Chẳng lẽ gặp nhau lại tung hô giải thoát, nhưng đêm đêm một mình âm thầm lần chuỗi niệm Phật cầu được vãng sanh... Nhưng mà có được may mắn vãng sanh hay không, chưa đến hồi kết làm sao biết được... 

Từ ngày gặp Lý Đệ, lão nạp mới ngờ ngợ rằng mặt trăng hãy còn xa lắm... Mấy chục năm trời, mở miệng là răn dạy đồ chúng hãy từ bỏ ngón tay để thấy mặt trăng. Nhưng mặt trăng là cái gì thì điều này lão nạp thật tình không dám nghĩ đến... 

Từ bỏ ngón tay này để lại nhìn ngắm ngón tay khác, rồi lại ve vuốt giảng giải ngón tay mà cứ lớn tiếng cho rằng mình đang giảng nói mặt trăng... 

Cho đến khi Lý Đệ hỏi lão: “Tự tánh là cái gì?” 

Câu hỏi này đã đánh thức lão nạp. Câu hỏi của Lý Đệ chính là động lực để lão nạp nhìn lại chính mình... Lão nạp này chợt nhận ra như người đứng trên đỉnh núi, toàn thân ở trong hư không nhưng da bàn chân hãy còn dính chặt vào mảnh đất ba cõi đang nằm dưới chân mình. Một đời lão nạp dấn thân cho Phật đạo, nhưng tâm này lại bị cột trói bởi danh vọng, địa vị, lễ nghi, hình tướng... Ba cõi hãy còn sờ sờ ra đó, có khác chăng, nó là sự biến tướng khôn ngoan của cái ngã này... 

Lần này lão nạp dứt áo ra đi, từ bỏ thân phận, từ bỏ đồ chúng... Không phải lão nạp này yếu hèn làm người chạy trốn trước thực tế của chân lý, mà lão nạp này hãnh diện với những gì mình thấy được... Vì tôn trọng chân lý, lão nạp này từ bỏ tất cả không phải với tâm trạng của người thua cuộc. Buông vũ khí chiến đấu không phải của một kẻ hàng binh... Lão nạp này thề quyết với lòng, chưa thực chứng chân lý là gì, chưa thấu suốt những điều mình đã từng giảng nói... lão nạp quyết bỏ thân nơi thâm sơn cùng cốc này để không phụ lòng chư Phật, không phụ niềm tin của đồ chúng đã gởi gắm cho mình... 

Cả đời lão nạp, vật thực thế gian không thiếu, danh vọng không thua... Nhưng cái lão nạp cần tìm là chân lý chứ không phải những thứ đó, không phải địa vị hư ảo và danh dự hão huyền... 

Khi nãy, lúc mặt hồ đứng lặng... lão nạp soi mặt mình xuống nước và câu nói của Lý Đệ, lão nạp như tỉnh cơn mê... 

Đúng là “bản lai diện mục” không phải ở duyên thấy nghe, không phải tìm thấy qua cái chao đảo của làn sóng tự tâm, mà nó chỉ hiện khi bặt dứt các duyên... 

Đúng là, người ta đã ném hòn đá thấy nghe, thổi ngọn gió nghĩ suy xuống mặt hồ rồi nhìn những hình ảnh biến dạng méo mó của duyên thấy nghe mà cho rằng diện mục... 

Hình ảnh thấy được qua các duyên này chính là tướng hư vọng. Chính là sự phản chiếu những hình ảnh hư vọng rọi xuống mặt hồ… Đừng tác động một chút duyên nào lên mặt hồ, thiệt tướng sẽ hiện... Bản lai hồ kia không tướng. Thiệt tướng chính là không tướng... 

Lão nạp bây giờ mới nghiệm ra thế nào là “Bất ưng trụ sắc sanh tâm”. Bất ưng trụ sắc là ngón tay, bất sinh tâm mới là mặt trăng... Ha ha!... 

Cả đời lão nạp giảng giải không biết bao nhiêu lần câu bất ưng trụ sắc, nhưng lại trụ câu nói đó để rồi sinh tâm mà chẳng dám từ bỏ nó để nhìn thấy mặt trăng... 

Lý Tứ và Lão Hòa Thượng cùng ngồi trên bãi cỏ ven hồ... Cả hai không nói lời nào!... Thi thoảng vài cơn gió nhẹ làm mặt hồ gợn sóng lăn tăn... Cứ như thế trời vẫn xanh, hồ vẫn trong và mây vẫn bay!... 

Lý Tứ lên tiếng: 

Hòa Thượng Đại Ca!... Tấm lòng của Hòa Thượng Huyền Không Lý Tứ này hiểu, tấm lòng Đại Ca Tiểu Đệ cũng hiểu... Cái vĩ Đại của Hòa Thượng Đại Ca trên đời không mấy người có được...

Tiểu Đệ kính trọng cái chân thực của Đại Ca, Lý Tứ kính trọng cái dấn thân vì chân lý của Hòa Thượng... 

Chỉ cần cái chân thực của tấm lòng, chỉ cần sự dấn thân vì chân lý... nhất định Hòa Thượng Đại Ca sẽ thấy được cái cần thấy và tìm được cái cần tìm... 

Hòa Thượng Đại Ca ơi!... Trong Phật đạo có hai chữ, người tu hành nào cũng biết, người tu hành nào cũng nghe, người tu hành nào cũng đọc... Thậm chí biết, nghe, tụng, đọc nhiều lần... nhưng chẳng mấy ai để tâm... Vì sao? Vì nghe riết rồi quen, đọc riết rồi thuộc, biết riết rồi nhàm chán, giảng nói riết rồi nó trở thành sáo ngữ tầm thường. Không một lần để tâm đến nó, rồi nó trở thành vô dụng như tiếng mõ đêm khuya... Đó là hai chữ: 

“Như Thị” và “Nhất Thời”... Không phải vô cớ mà trước khi nhập diệt, Thế Tôn lại di huấn đầu kinh phải đề: “Như thị ngã văn, nhất thời Phật tại”. 

Hòa Thượng Đại Ca!... Ai cũng biết ý nghĩa câu này, ai cũng hiểu câu trên ngụ ý nói rằng những lời kinh kia của ngài A Nan nghe và thuật lại... Nhưng nếu ý nghĩa của nó chỉ gói gọn như thế thì làm gì nhọc công Thế Tôn lại phải di huấn trong lúc lâm chung... Chẳng lẽ, trước khi lâm chung, người cha lại đi trăn trối cho con cái những điều tầm thường như thế… 

Nếu bảo rằng câu đó để chỉ ra rằng ngài A Nan nghe và thuật lại, thì vô hình trung tự loại mình ra khỏi ngữ ngôn văn tự ý nghĩa của lời kinh, mà Phật pháp là thường, Phật thường thuyết nên tôi thường nghe... Thành ra, phải là “Tôi nghe như vầy” 

Chứ không phải ngài A Nan nghe... Tôi nghe như vầy, chính tôi được nghe như vầy, mọi lúc mọi thời mọi nơi tôi chỉ nghe như vầy chứ không nghe khác... Ai thấu suốt được chữ như vậy người đó sẽ dứt vọng... Nghe được như vầy, thấu suốt như vầy, sáng trưa chiều tối đều không thấy sai khác vì chỉ như vầy, thì bây giờ nghĩa “Nhất Thời” sẽ hiện... 

Ai thấu suốt nghĩa “Nhất Thời” Nhất định dứt “tưởng”. Vì sao? 

Vì tưởng do ba thời mà sanh... Không vọng, dứt tưởng, chư Phật hiện tiền... Nên kinh nói rằng: “Như thị ngã văn, nhất thời Phật tại”. 

Lão Hòa Thượng sau một hồi trầm ngâm, ngước nhìn Lý Tứ rồi lên tiếng: 

Lý Đệ!... Đúng rồi Lý Đệ!... Thì ra câu “Nghe cái chưa từng nghe, thấy cái chưa từng thấy, biết cái chưa từng biết”… của kinh Niết Bàn bây giờ đã rõ. Nghe cái chưa từng nghe là nghe cái “Như Vầy”, thấy cái chưa từng thấy là thấy nghĩa “Nhất Thời”, biết cái chưa từng biết là biết “Tự tâm chính là Phật”... Ha ha ha ha!... 

Lý Đệ!... Lý Đệ!... Lời nói của Lý Đệ khiến lão nạp hiểu ra nhiều điều. Thì ra mặt trăng ở đằng sau ngón tay, rời ngón tay mới thấy mặt trăng. Nghe như vầy dứt vọng, thấy như vầy dứt tưởng, không vọng không tưởng, chư Phật hiện tiền... 

Lý Đệ quả có con đao sét rẹt mà bén ngót... Chỉ một đường đao chặt đứt nhân duyên... 

Như vầy!... Như vầy và chỉ như vầy mà thôi... Không như vầy mà thấy, không như vầy mà nghe, không như vầy mà hay, không như vầy mà biết... nhất định vọng sanh. Buông thấy nghe hay biết như kia, chỉ thấy nghe hay biết như vầy thì tự tánh sẽ hiện!... Ha ha ha ha!... 

“Chí đạo vô nan;

Duy hiềm giản trạch,

Đản mạc tắng ái;

Đổng nhiên minh bạch.”

Lời Thánh chẳng phải ngón tay!... Ha! Ha! Ha! Ha!... Đừng ve vuốt giảng nói ngón tay, mặt trăng sẽ hiện... Ngữ ngôn không tánh, nhưng lại biết gạt kẻ ngu!... Ha ha ha ha!... 

Câu nói của Lý Đệ hôm ở Long Sơn viện bây giờ đã rõ... 

⁕ “Ai biết lý duyên khởi sẽ biết được pháp, ai biết được pháp sẽ biết được không pháp, ai biết được không pháp sẽ thấy được nghĩa không, ai thấy được nghĩa không sẽ thấy được thật pháp, ai thấy được thật pháp sẽ thấu suốt Phật pháp”.

Thì ra câu nói của Lý Đệ ẩn chứa cả một quá trình tu tập thấu suốt và tâm chứng... 

Lý Đệ!... Lý Đệ đã dựng lại những gì ngã đổ trong lòng lão nạp. Lý Đệ đã đốt ngọn đuốc cho lão nạp này đi... Tiếc thay!... Tiếc thay!... Lão Hòa Thượng nói hai lần chữ tiếc thay rồi nín lặng... 

Lý Tứ quay qua hỏi Lão Hòa Thượng: 

- Đại Ca tiếc điều gì?

Lão nạp này tiếc!... Lão nạp này chỉ tiếc!... Ấp úng một hồi, cố vượt qua cái gì đó khó khăn. Lão Hòa Thượng mới mạnh dạn nói lớn: 

Lão nạp chỉ tiếc Lý Đệ là Cư Sĩ, tiếc mình là Hòa Thượng nên chẳng thể thành nghĩa thầy trò!... 

- Đại Ca!... Thân Đại Ca là Sa Môn, Tiểu Đệ là cư sĩ!... Cư sĩ phải đảnh lễ Sa Môn Hòa Thượng Đại Ca một cái mới xứng đạo tăng tục... Nói đến đây, Lý Tứ chắp hai tay hướng về lão Hòa Thượng xá ba xá... 

Lão Hòa Thượng đột nhiên tung mình lên cao, chiếc áo cà sa phất phới như chim phượng hoàng vụt qua mặt hồ bay về hướng núi Kiến Tính... 

Chỉ còn văng vẳng hai tiếng Mô Phật!... Mô Phật!... Lão nạp này không dám nhận!... Lão nạp này không dám nhận!... 

Lý Tứ cười ha hả rồi tung mình đuổi theo nói lớn: 

- Hòa Thượng Đại Ca!... Tiểu Đệ đi theo Đại Ca đây... Cả hai cùng hạ xuống chân núi kiến Tính. Trước mặt hai người hiện ra cửa Hang động Tự Tánh...

(còn nữa)

Tác Phẩm Lý Tứ

Phật Tánh Là Gì? Ý Nghĩa Của Bát Nhã Tâm Kinh

Quản trị viên 16.02.2022
Phật Tánh Là Gì? Ý Nghĩa Của Bát Nhã Tâm Kinh

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Như Duyên đứng dậy, hướng về Lý Tứ, cung tay chào mọi người rồi nói: 

Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Mười người trong chúng đồ đệ, ngày nay có được trí này là do Lão Sư sinh ra. Chúng đồ đệ được Lão Sư dưỡng nuôi bằng dòng sữa Phật pháp, lớn lên bằng thức ăn Từ Bi... Giờ đây, Lão Sư thấy hiện duyên đã cạn, muốn tạm rời xa chốn này một thời gian... Quyết định của Lão Sư, chúng đồ đệ không dám lạm bàn, cái thấy của Lão Sư chúng đồ đệ chẳng dám dõi theo... 

Nhưng thưa Lão Sư!... Ơn nghĩa của Lão Sư với chúng đồ đệ như trời như biển, trong lòng của chúng đồ đệ hình ảnh của Lão Sư là ngọn đuốc soi sáng đời mình, là máu thịt làm nên tâm trí này... Nay phải chia tay Lão Sư, cho dù là tạm... trong lòng đồ đệ và các huynh muội cảm thấy nhói đau. Chẳng phải như sợi tóc dễ dàng rời khỏi mái đầu, chẳng phải như chút móng tay dài dễ dàng cắt bỏ... mà nỗi đau xa lìa Lão Sư thấu tận tâm can... 

Lão Sư!... Nếu đồ đệ và các huynh đệ được một điều ước, thì điều ước này là: Sẽ được mãi mãi ở bên Lão Sư... Đồ đệ và các huynh đệ cũng biết rằng, ở đời có hợp tất có tan, có tụ ắt có tán, còn duyên thì gặp hết duyên thì xa... Cho dù biết như vậy, cho dù thấu suốt cái huyễn hóa vô thường của vạn pháp... nhưng xa Lão Sư là điều mọi người chẳng bao giờ muốn nó xảy ra!... 

Thưa Lão Sư!... Trước khi Lão Sư ra đi, đồ đệ thay mặt toàn thể huynh đệ thỉnh cầu Lão Sư hai điều, mong Lão Sư chấp nhận, như một ân huệ của Lão Sư ban cho chúng đệ tử... 

Lão Sư!... Lão Sư như con nhạn giữa trời xanh, chẳng biết từ biệt các đệ tử lúc nào... Hiện giờ còn gặp ở đây, xin Lão Sư cho đồ đệ và tất cả huynh đệ quỳ xuống lạy Lão Sư ba lạy. Ba lạy này vừa để cảm tạ thâm ân giáo dạy, ba lạy này như món quà gởi đến Lão Sư bằng tất cả ân trọng thầy trò... 

Khẩn cầu thứ hai, xin Lão Sư giải tỏa tất cả những gì huynh đệ ở đây còn chưa rõ ràng về Phật pháp rồi hãy ra đi!... 

Lão nói đến đây, bước ra khỏi chiếc bàn, chín người còn lại đồng làm theo. Tất cả quỳ gối, hướng về Lý Tứ thành kính lạy ba lạy, ánh mắt mọi người long lanh ngấn lệ... 

Lý Tứ cũng xá lại ba xá đáp lễ, cười lớn rồi nói: 

Thưa các huynh đệ!... Thâm tình các huynh đệ, Lý Tứ tôi chẳng dám quên. Cho dù Lý Tứ có ra đi vạn dặm lòng này vẫn luôn nhớ về các vị, các vị đừng lo!... Nhất định khi đủ duyên các vị sẽ thấy Lý Tứ này đứng dưới chân Dự Sơn để chờ uống chung trà nóng... 

Mời các vị về lại chỗ ngồi của mình... Nào!... Các Huynh đệ, ai có thắc mắc gì, mau mau nói ra để chúng ta cùng nhau giải đáp... Xin mời các vị!... Như Duyên lên tiếng: 

Thưa Lão Sư!... Những ngày chưa gặp Lão Sư, đồ đệ thường hay lại qua với các bằng hữu giang hồ nhưng có tâm đạo, thường hay lui tới đàm đạo thỉnh ý những vị tu hành cả tăng lẫn tục... Phần lớn những lần gặp gỡ như vậy, mọi người cùng nhau đưa ra sở kiến của mình... 

Tuy rằng cùng tu một đạo, cùng hướng một mục tiêu... nhưng thường bất đồng ý kiến... Điều này sau khi gặp Lão Sư, đồ đệ mới nghiệm ra lý do vì sao người tu hành thường hay bất đồng quan điểm... Thật ra bằng hữu tu hành ngoài kia, chẳng được may mắn như chúng đồ đệ sau khi gặp Lão Sư. Ở đó mỗi người hiểu Phật giáo theo một cách, lý giải Phật pháp theo ý riêng vì thế không thống nhất quan điểm là chuyện tự nhiên... Có một điều, đến giờ đồ đệ vẫn còn thắc mắc trong lòng... Đó là, mỗi khi gặp nhau, ngoài kia người ta thường hay đàm luận về Phật Tánh. 

Những người này thấy tánh hay chưa thì không biết... Nhưng lần nói chuyện nào mà không đề cập đến Phật Tánh, không phát biểu về Phật Tánh, vị nào chẳng cố ý đụng vào Phật Tánh một chút, nói ra thêm mắc cỡ, đồ đệ cảm thấy như nồi canh chua thiếu ớt với me!... 

Đồ đệ trước kia cũng như họ... mở miệng là nói toàn Phật Tánh. Thú thật trong lòng đồ đệ lúc đó, Phật pháp cơ bản chưa thông... nhưng luận có, không, tánh, tướng... thì miệng trơn như thoa mỡ... Nói riết rồi thuộc... Thuộc riết rồi cứ ngỡ mình là thần thánh tổ tông... 

Đồ đệ nhớ không rõ, đã đọc ở đâu đó một số câu đại loại như sau: “Phên vách gạch ngói cũng có Phật Tánh”... 

Rồi cũng từng gặp, có vị bằng hữu cầm chung nước lên, bèn cười ha hả bảo rằng đang uống Phật Tánh, ăn miếng bánh vào miệng bèn hiu hiu bảo rằng đang ăn Phật Tánh... 

Lão Sư, câu như vậy, lời như vậy, hành động như vậy có phải là Phật Tánh không? Xin Lão Sư đả thông cho đồ đệ... 

Lý Tứ cười ha hả rồi đáp: 

Lão Huynh!... Chuyện kể và câu hỏi của Lão Huynh thiệt là thú vị... Bằng hữu tu hành xưa nay thường hay bàn luận tánh, tướng, có, không... nói nhiều về Phật Tánh. Trước đây tôi cũng có khi gặp gỡ và nghe qua... 

Thật ra tu hành trong Phật đạo, đích đến cuối cùng là thấy Phật Tánh... Mong ước điều này thật đáng trân trọng, mong cầu thấy Phật Tánh thật là chánh đáng... Tu hành trong Phật đạo mà không mong cầu ý nghĩa trên coi như thiếu sót lớn... Giống như người đi buôn, mà chẳng mong cầu lợi tức... như người làm thuê mà chẳng mơ ước giàu sang... 

Nhưng, mong cầu là một chuyện, có được là một chuyện... Bàn luận là một chuyện, thật thấy là một chuyện... Cái đáng nói ở đây, như người chưa giàu lầm tưởng mình giàu, như người chưa sang sắm vai người sang... Cách thể hiện hư vọng này, chỉ làm lớn tự ngã, chỉ làm thêm nghèo hèn... Chẳng ích lợi gì... 

Lão Huynh hỏi tôi, những người như Lão Huynh vừa nêu, họ cầm ly nước để uống bảo rằng đang uống Phật Tánh, cầm miếng bánh lên ăn bảo rằng đang ăn Phật Tánh... Thể hiện như vậy, Lão Huynh hỏi là những người này đã thấy Phật Tánh hay chưa?? Và làm như vậy có đúng hay không? 

Lão Huynh ơi là Lão Huynh!... Chắc Lão Huynh biết rõ xưa nay ai là người đích thực thấy Phật Tánh rồi chứ? Xin Lão Huynh nói cho các bằng hữu cùng nghe!...

Thưa Lão Sư!... Theo đồ đệ nghĩ, chắc chắn chỉ có Phật là vị thấy rất rõ Phật Tánh. Sau đó các Tổ nối truyền y bát của Phật là những người thấy Phật Tánh. Vì theo thiển ý của đồ đệ nối truyền y bát không thể không thấy Phật Tánh. 

- Tôi hỏi Lão Huynh, Phật và các vị Tổ y bát chính thống có bao giờ nói rằng mình ăn hay uống Phật Tánh không? 

Thưa Lão Sư!... Không thấy nói qua điều này lần nào!... 

- Lão Huynh!... Như vậy Lão Huynh có thể tự kết luận những người thể hiện như vậy là đúng hay sai rồi chứ!... 

Thưa Lão Sư!... Đồ đệ trước đây đúng là hồ đồ!... Không biết noi gương Phật, Tổ... Chỉ biết chấp nhất hành động của những người kia... rồi đâm ra bâng khuâng!... 

- Còn Lão Huynh hỏi tôi: “Có người bảo rằng phên vách gạch ngói cũng có Phật Tánh” câu nói này đúng hay sai...!... Lão Huynh có đọc kinh Đại Niết Bàn rồi chứ? 

Thưa Lão Sư!... Đã đọc rồi!... 

- Phật dạy trong kinh này, ở đâu có Phật Tánh? 

Trong kinh Đại Niết Bàn Phật dạy: “Hết thảy chúng sanh đều có Phật Tánh”. 

- Có bao giờ Lão Huynh đọc được lời Phật nói rằng: “Mọi thứ trên đời đều có Phật Tánh” hay không? 

Thưa Lão Sư!... Không từng nghe nói như thế!... 

- Phật dạy: “Hết thảy chúng sanh đều có Phật Tánh”, nay có người nói: “Phên vách gạch ngói cũng có Phật Tánh”. Như vậy, trong hai câu nói này có một câu sai, trong hai người nói có một người sai... Vậy Phật sai hay người kia sai? 

Thưa Lão Sư!... Đồ đệ hiểu ra rồi ạ!... 

- Lão Huynh và các huynh đệ!... Phật dạy: “Hết thảy chúng sanh[1] đều có Phật Tánh”; Nay có người nói “Phên vách[2] ... cũng có Phật Tánh”... Trong hai lời này, đúng sai đã rõ... 

Tôi xin trình bày một chút sở kiến của mình về Phật Tánh... Mong rằng những lời này, có thể giúp các vị tạm thời nhận ra được cái gì là Phật Tánh và Phật Tánh tìm ở nơi đâu!... Khi xác quyết phật tánh ở nơi đâu và đâu là nơi cần tìm, chắc chắn những hồ nghi trong lòng các bạn sẽ không còn nữa... 

Các vị!... Kinh Niết Bàn Phật dạy: “Phật Tánh có bốn tính chất là Thường, Ngã, Lạc, Tịnh... Lại viên mãn có bốn đức đó là vô lượng Từ, vô lượng Bi, vô lượng Hỷ và vô lượng Xả”. Bảo rằng vô tình như phên vách gạch ngói... cũng có Phật Tánh, việc này phải quấy ta không lạm bàn... Xét kỹ lại, cho dù đó là “vô tình”... nếu “vô tình” này có đủ các tính chất và bốn đức như trên thì vô tình kia nên tin rằng có Phật Tánh. 

Nhưng trong thực tế... “vô tình” là y báu của “hữu tình”... Có nghĩa “vô tình” có được là do nghiệp “hữu tình” làm nên... Ví như phên vách là y báu của người... Đã là “vô tình” thì không có tri, không có giác hà huống lại có tính giác... Người ta có thể giáo dục một con vật, vì con vật có tri giác... Nhưng sẽ vô phương, nếu cố tình giáo dục một viên gạch... Con người mê muội cách mấy, nếu dấn thân tu hành, khi có cơ duyên giác ngộ... rồi ngày kia cũng sẽ thấy Phật Tánh... Còn ai đó bảo rằng, có thể giáo dục để một viên gạch hay tấm phên che giác ngộ, mai này viên gạch tấm phên che thấy Phật Tánh và thành Phật... thì có lẽ chuyện này chỉ có trong vọng tưởng!... 

  • Như vậy Phật Tánh là gì? Các vị!... Phật Tánh chính là kết quả của Tánh Giác hay người xưa gọi là Tự Tánh... Trong tu hành nếu ai thấy được Tánh này... tạm gọi là Kiến Tánh. 

Một khi thấy viên mãn, trí tuệ cũng tự viên mãn theo... Viên mãn này, Phật gọi là Phật Tánh... Vì thế kinh Niết Bàn Phật tuyên nói: 

“Trước khi thọ thực, thân Bồ Tát là nhục thân, thọ thực xong Bồ Tát nhập vào Kim Cang Tam Muội tiêu hóa thức ăn, thấy Phật Tánh, thành Đẳng Chánh Giác”. 

Ở đây điều kiện bắt buộc để thấy Phật Tánh và sau đó thành Đẳng Chánh Giác là Bồ Tát, chứ không phải là một... viên gạch... 

Vì thế, nếu bảo rằng “vô tình” cũng có Phật Tánh... lời nói này cần coi lại, coi lại có đúng nghĩa kinh, có đúng đối tượng, có đúng sự việc hay không!... 

Cũng có kinh Phật dạy: “Chỉ được ăn cỏ cây vô tình, không được sát hại sanh mạng, không được sát hại ngũ ấm... vì trong sanh mạng chúng sanh, trong ngũ ấm có Phật Tánh”. Ngày xưa Tổ Hoằng Nhẫn cũng có bài kệ nói về điều này: 

“Hữu tình lai hạ chủng,

Nhơn địa quả hoàn sanh,

Vô tình ký vô chủng,

Vô tánh diệc vô sanh...” 

Mấy câu kệ có ý nghĩa sau: 

Hữu tình đến gieo giống, [3]

Nhơn đất[4] quả[5] lại sanh,

Vô tình đã không giống,

[6] Không tánh[7] cũng không sanh.[8] 

Phật và Tổ xưa cùng nói như thế, cớ gì nay chúng ta lại nói khác đi!... 

Các vị!... Từ ngày gặp nhau đến giờ, tôi và các vị chưa có cơ hội chia sẻ với nhau đề tài này... Vì sao như vậy? Trong đời, ai cũng biết có của báu vô giá sẽ là người giàu có... Vấn đề người trí đặt ra là: Làm thế nào để được của báu vô giá... Không nên ngồi đó vọng tưởng về sự giàu sang nhân được của báu như thế nào... 

Nếu ngày nào gặp nhau cũng bàn luận chuyện giàu sang của kẻ có vật báu, mà người bàn luận thực tế đang khốn cùng... phỏng lời bàn này có lợi chăng? Không muốn nói là làm chuyện vô bổ...! 

Các vị!... Người giàu sang tự họ đã có thức ăn thượng diệu... Chư Phật ăn ngủ đều không rời Phật Tánh... Và chư Phật chính là Phật Tánh... 

Không phải chư Phật ăn Phật Tánh, uống Phật Tánh... Người tu hành chớ có nhầm lẫn điều này... Nhầm lẫn hoặc cố tình nhầm lẫn điều này, là tự đóng bít con mắt huệ, sẽ vô phương thấy Phật Tánh... Giống như, người nghèo khó kia muốn đi tìm vàng... nhưng trong lòng cứ đinh ninh gạch ngói là vàng... thì người này suốt cuộc đời sẽ không thể tìm được một chút vàng... Có tìm được chăng chỉ là gạch ngói mà nhầm tưởng đó là... vàng. 

Cái tai hại của nhận thức sai lầm là như vậy thưa các bạn!... Cái tai hại của không biết mà cố chấp là như thế, thưa các bạn!... Mình sai đã đành, đem cái sai, cái không biết... truyền trao cho người thiệt là không nên, thưa các vị!... 

Các bạn!... Lúc này là lúc các vị đang đi tìm vàng... chớ có nhầm lẫn gạch ngói... Hãy nỗ lực tìm thấy vàng... không nên nỗ lực hý luận ý nghĩa của vàng như thế nào khi mình chưa có vàng trong tay hoặc chưa từng thấy vàng... 

Các vị!... Chúng sanh bản chất là vọng tưởng... Vì thế, thích nói những điều mình chưa biết... thích đàm luận những sự việc quá tầm tay!... Các vị, chớ có rơi vào những hoàn cảnh như vậy... 

Có lần tôi từng nói với các vị: Muốn thấy Phật Tánh, điều đầu tiên cần biết cái gì là chúng sanh tánh. Thấy chúng sanh tánh để từ bỏ tánh này, rồi Phật Tánh sẽ hiện... Như người tu hành biết cái gì là chướng đạo, sau khi bằng lòng từ bỏ chướng đạo, đạo đích thực sẽ hiện... Những kiến giải như vậy các vị có thông cảm không? Vị nào có cao kiến xin mời!... Vị nào còn thắc mắc gì, xin nêu lên để mọi người cùng chia sẻ... 

Như Duyên lại tiếp: 

Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Đồ đệ xin hỏi Lão Sư một câu nữa, câu này người tu hành và huynh đệ ở đây cũng thường hay đề cập mỗi khi trao đổi. Tuy rằng mọi người khi luận bàn đều có lý riêng của mình, nhưng cho đến giờ bản thân đồ đệ cũng chưa thông... Xin Lão Sư giải đáp giùm... 

Thưa Lão Sư!... Hầu hết người tu hành đều có đọc qua Bát Nhã Tâm Kinh, thường lấy đây bàn luận... Câu đầu tiên của kinh như thế này: “Quán Tự Tại Bồ Tát, hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách”. 

Theo thiển ý của đồ đệ, nếu thông được câu này thì cơ hội thông cả bài kinh không khó, nhưng hình như trong đó chứa nhiều ẩn ý... Xin Lão Sư thương tình chỉ dạy... 

Lý Tứ ngửa mặt lên trời cười một tràng dài rồi dõng dạc nói: 

Các huynh đệ!... Lời Phật, lời thánh hiền là lời chân thật, chẳng có chút ẩn tình gì... Chẳng qua người tu hành đem cái tâm trắc ẩn, lấy cái trí chưa thông mà suy lường nên cho đây có ẩn ý... Thật ra câu kinh trên nói đến kết quả cái thấy của Bát Nhã, chẳng phải cái thấy của phàm tình. Chỉ vì người tu hành chưa có thật trí, chưa có mắt tuệ... dùng vọng tâm để suy lường giống như người trong bóng tối bàn luận ánh sáng... 

Lời bàn luận này cho dù có đúng cũng chỉ là lời bàn luận... Lời của người suy luận mà biết chứ không phải thật thấy... Chính vì lẽ này, mỗi người suy luận một cách, nên lời kinh trở nên mơ hồ ẩn ý, khó hiểu...

Lý Tứ hướng về phía Thất Muội nói lớn: 

  • Như Lực Cô Nương!... Cây tiêu “Hồng Ngọc Ôn Hàn” của cô có còn hay không? 

Thưa Lão Sư!... Tiểu nữ vẫn mang theo bên mình, vì nó là vật của tổ tiên!... 

- Cô Nương có biết, cây “Hồng Ngọc Ôn Hàn Tiêu” mà Cô Nương đang sở hữu có bí mật gì không? 

Thưa Lão Sư!... Theo tiểu nữ biết được, cây tiêu này, ngoài khả năng làm cho nhiệt độ điều hòa, giải trừ độc tố... nó còn có công dụng khi thổi lên làm cho người đời bỗng dưng phiền não hay hoan hỷ... Những công dụng như thế, giang hồ đều biết, tiểu nữ chưa từng nghe nói đến bí mật nào nữa... Kiến văn của Lão Sư rộng rãi, xin Lão Sư nói ra bí mật của nó cho tiểu nữ và các huynh đệ ở đây mở rộng tầm mắt!... 

Lý Tứ cười lớn rồi nói: 

Cô Nương!... Cô Nương đang sở hữu vật báu có một không hai trên đời mà không biết. Chính không biết bí mật nằm trong cây tiêu, nên cây tiêu quý trở thành vũ khí giang hồ... Vật vô giá trở thành công cụ chém giết, làm phiền não tâm người... Cô Nương và các huynh đệ nghe tôi nói bí mật của cây tiêu có một không hai này... 

Cây tiêu của Cô Nương sở dĩ có tên “Hồng ngọc Ôn Hàn Tiêu” là vì bản thân nó được người xưa tạo ra từ một viên hồng ngọc cực lớn... 

Loại ngọc này chỉ có ở biển Đông, nơi sâu nhất... Khoáng vật của lục địa cũng có loại ngọc này, nhưng tìm được viên ngọc đủ lớn và không tạp chất hầu làm một cây tiêu như thế thì chẳng thể có... Cây tiêu này, có từ hồi nào không ai biết... Nhưng những người am tường cổ vật, chỉ biết nó qua huyền thoại, người này kể cho người kia nghe, cứ thế truyền tụng cho nhau về bí mật này... 

Cây tiêu ngoài những công dụng như Cô Nương đã biết, trong đó còn chứa một năng lực siêu phàm, ít có người biết đến. 

Cô Nương có thấy cây tiêu của cô có đến sáu cái lỗ, trong khi đó cây tiêu Trung Nguyên chỉ có năm lỗ, tiêu của Man Di lại bảy lỗ... Vì rằng, nếu làm cây tiêu để thổi theo nhạc Trung Thổ thì chỉ cần có năm lỗ là đủ, cây tiêu của Man Di thổi theo âm điệu Man Di người ta phải làm đến bảy… Đằng này, cây tiêu của cô lại có sáu lỗ… Cái lỗ thứ sáu chứa đựng một phần bí mật… Chút nữa tôi sẽ nói đến công dụng của lỗ thứ sáu... 

Người làm ra cây tiêu lý luận về sáu cái lỗ như thế này: “Nếu làm năm lỗ như cây tiêu ở Trung Nguyên thường dùng, thì khi thổi lên, tiếng tiêu mang nhiều ai oán, chỉ nhân cái thấy nghe bên ngoài mà diễn đạt tâm tình, chẳng thể thấu suốt cái huyền vi trời đất bên trong... Còn người Man Di, khi tạo tiêu họ làm bảy lỗ... Chính cái lỗ thứ bảy âm thanh cao ngạo... làm đoạn lòng nhân... Vì thế, cây tiêu này mới có sáu lỗ. Cái lỗ thứ sáu nhằm dung hòa tâm vật. Ai sử dụng được nó sẽ thấu suốt trong ngoài, tâm vật nhất như!...” 

Người xử được lỗ thứ sáu của cây tiêu, nhân tiếng tiêu đầu tiên phát ra vĩnh viễn hết ngu... Từ đó về sau người này trở thành thông tuệ... Nhưng cho đến bây giờ, Lý Tứ tôi chưa nghe nói có một người nào xử được lỗ tiêu thứ sáu... 

Muốn xử được lỗ thứ sáu, người sở hữu cây tiêu phải là trượng phu... Đợi đến ngày mùng bảy, tháng bảy của năm nhuần hai tháng bảy, một trăm ngày trước đó, trai giới không khuyết... Đợi đến cuối giờ sửu, đầu giờ dần... người này chọn gò đất cao nhất trong vùng, không bị “che khuất tầm nhìn”... hướng về phía mặt trời mọc... 

Khoảng giờ đó mà không đủ duyên mặt trời chưa mọc hoặc mọc sớm hơn, coi như phải đợi đến ngày mùng bảy tháng bảy của năm nhuần hai tháng bảy lần sau... 

Khi mặt trời vừa nhô lên, người này cầm cây tiêu, hướng về phía mặt trời, mở to hai con mắt nhìn mặt trời không chớp, định thần như thế đúng bảy khắc... Xả trung khí trong đan điền cho hết, tức đan điền trống rỗng... Tâm không tán loạn, vị này hút ánh sáng mặt trời vào lỗ thứ sáu, rồi giữ ánh sáng mặt trời ở đan điền... Làm như vậy ba lần... đến khi tưởng chừng trong đan điền chỉ có ánh sáng... Đợi đến đêm, vào đúng giờ tý, nếu trời không gợn chút mây... người này ngước mặt lên trời, đưa ống tiêu vào miệng... 

Vận khí lực vào đan điền, thổi ánh sáng trở lên không trung thông qua lỗ thứ sáu. Nhờ sức hộ trì của cây hồng ngọc, ánh sáng không bị hư không cản đường, nên ánh sáng này có thể bay vào vô tận... 

Sau khi thổi hết ánh sáng ở đan điền, người này giữ trai giới... Đúng ba năm sau, cũng vào giờ Tý, người này lên gò cao, chỗ hút ánh sáng mặt trời lúc trước, ngước mặt nhìn thẳng lên trời, nhìn không chớp mắt… Khi ánh sáng ba năm trước bay đến “Minh Cảnh Dị Tinh”, cùng lúc đó “Minh Cảnh Dị Tinh” sẽ hiện. Nếu chậm hay sớm một khắc, hoặc ánh sáng chưa tới, hoặc Dị Tinh đã bay qua... sẽ không thấy được ngôi sao quái dị này... 

Đúng thời cơ, người này thấy Dị Tinh xuất hiện trong chớp mắt. Quan sát mau lẹ, sẽ thấy Dị Tinh như một tấm gương hình tròn, trong suốt... Thông qua Dị Tinh này, thật tướng vạn hữu hiện bày... Sau một lần thấy thật tướng vạn hữu thông qua Dị Tinh, từ đây đến tận cùng đời vị lai, người này hết ngu muội, thông tuệ dị thường... việc chi cũng thấu đáo... Thành ra, cây tiêu của Cô Nương, lỗ thứ sáu ẩn chứa bao nhiêu bí ẩn... Bao đời nay cây tiêu đã được nhiều người sở hữu nhưng vì không biết bí mật này nên vẫn cứ u mê... Ha ha ha ha!... Bí mật ở lỗ thứ sáu... Ngu si vì không biết nó… Ha ha ha ha!... 

- Như vậy này Cô Nương!... Muốn thấy được “Minh Cảnh Dị Tinh” cần phải có điều kiện nào? 

Thưa Lão Sư!... Theo như lời Lão Sư vừa nói, muốn thấy được Dị Tinh phải có “Hồng Ngọc Ôn Hàn Tiêu” và biết bí mật của lỗ thứ sáu cũng như cách ứng dụng bí mật này!... 

- Như vậy muốn thấy “Ngũ Uẩn Giai Không”phải có cái gì hả Cô Nương? Thưa Lão Sư!... 

Muốn thấy “Ngũ Uẩn Giai Không” phải có “Bát Nhã Trí”. 

- Không có “Ôn Hàn Tiêu” có thấy Dị Tinh không? 

Thưa Lão Sư!... Như tiểu nữ đây, có ngọc tiêu mà không biết công dụng cũng không thấy được hà huống không có tiêu!... 

- Khi có tiêu và biết công dụng, đem công dụng này thực hành, thấy được thiệt tướng vạn pháp thông qua Dị Tinh có cần bàn về Dị Tinh nữa hay không? 

Thưa Lão Sư!... Thấy được thiệt tướng thông qua Dị Tinh thì mọi thứ tỏ rõ đâu có cần bàn... 

- Như vậy công việc trước mắt để hết ngu si thì nên làm gì? Thưa Cô Nương? 

Thưa Lão Sư!... Nên tìm cây tiêu và học công dụng? 

- Như vậy, theo Cô Nương bí mật cây tiêu nằm ở chỗ nào? 

Thưa Lão Sư!... Bí mật cây tiêu nằm chỗ không biết nên gọi là mật ạ...!... 

- Khi biết rồi còn có bí mật nữa không? 

Thưa Lão Sư!... Vì chưa biết nên gọi là mật!... Biết rồi gọi là thiệt!... 

- Thưa các bằng hữu!... Qua câu chuyện bí mật của hàn tiêu, các vị có còn thắc mắc gì về Tâm Kinh không?

Như Bổn Mạt lên tiếng: 

Thưa Lão Sư!... Qua câu chuyện của Lão Sư vừa kể, đồ đệ nghiệm ra một điều... Câu Tâm Kinh nêu trên muốn hiểu, không phải ngồi đó suy luận, mà người tu hành phải có được các điều kiện cần có để làm nên cái thấy chân thật, tức được Bát Nhã Trí... 

Sau đó dùng trí này rọi vào Ngũ Uẩn, mọi thứ nhất định minh bạch... Vì thế, theo ý đồ đệ, muốn hiểu bài kinh, cần có hai điều, đó là có được Bát Nhã Trí và biết cái gì là Ngũ Uẩn... Chưa có Bát Nhã Trí, chưa biết Ngũ Uẩn là gì... thì cho dù bàn luận suốt đời cũng chẳng thấy thật nghĩa!... 

Thưa Lão Sư!... Phật pháp mênh mông, đồ đệ chưa dám nói là thông suốt... Nhưng chí ít, qua những gì Lão Sư chỉ dạy... những gì biết được, đồ đệ cảm nhận đủ để tu tập, tự cứu mình... Đồ đệ tự nghĩ cứ như vậy mà thực hành, cứ như vậy mà tư duy... Nhất định mọi thứ sẽ sáng tỏ... Đến khi nào Lão Sư cảm thấy có điều gì cần nói thêm, nhất định Lão Sư sẽ quay trở lại... 

Thưa Lão Sư!... Mặc dù Lão Sư như con chim trời, đến đi không dấu vết... Nhưng huynh đệ ở đây có một mong cầu, đó là Lão Sư định đi đến địa phương nào, xin Lão Sư cho các đệ tử biết... Để khi nào mong nhớ Lão Sư... các huynh đệ chúng con có thể đến đó thăm hỏi Lão Sư!... 

Lý Tứ nghe Bổn Mạt nói như thế bèn cười ha hả rồi nói: 

Các huynh đệ, có hợp thì có tan, cuộc vui nào rồi cũng có lúc tàn... Khi nào các bạn còn cần cầu tinh tấn để mau chóng thành tựu những điều cần thành tựu trong Phật đạo, đó chính là lúc Lý Tứ đang ở bên cạnh các bạn... 

Nhược bằng, cứ phóng dật, giải đãi, mãi giong ruổi theo pháp thế gian, cho dù Lý Tứ có ăn chung mâm, ngồi chung chiếu với các bạn, cũng chẳng khác chi người xa lạ!!! 

Thời gian tới, Lý Tứ có hẹn ước với một người, hôm nay phải khởi hành để kịp thời gian đã định... Nói đến đây, Lý Tứ nhìn từng người, những cặp mắt đỏ hoe, trìu mến đang hướng về Lý Tứ như cố giữ chân người lữ khách phiêu bạt!!! 

Để không kéo dài cái bịn rịn lúc chia tay, Lý Tứ chắp hai tay vái chào mọi người, rồi tung mình lên không, trong chớp mắt, Lý Tứ như một mũi tên lao thẳng về hướng tây!!! 

Hình ảnh Lý Tứ như một vệt khói nhỏ dần rồi mất hẳn, chỉ còn văng vẳng tiếng cười quen thuộc và âm vang của bốn câu kệ từ hướng Dự Sơn vọng ra:

 “Chư ác mạc tác,

Chúng thiện phụng hành,

Tự tịnh kỳ ý,

Thị chư Phật giáo.” 

Mười người giật mình, nhìn nhau, tất cả đều ngẩn ngơ!... 

---•••⁕ ⁕۝⁕ ⁕•••---

[1]  hữu tình

[2] vô tình

[3] Phật 

[4] tâm

[5] Phật

[6] không Tánh giác 

[7] giác

[8] Phật quả 

(còn nữa) 

Tác Phẩm Lý Tứ

Tư Lương Vị. Kiến Đạo Vị. Tứ Vô Lượng Tâm.

Quản trị viên 16.02.2022
TP.31. Tư Lương Vị. Kiến Đạo Vị. Tứ Vô Lượng Tâm.

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Hôm nay Như Nhân là người lên tiếng trước: 

Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Ngày hôm qua nghe Lão Sư giảng nói tầng sâu về nghĩa Tứ Đế, đồ đệ cảm thấy con đường tu tập của mình minh bạch... Đồ đệ một phen mở rộng tầm mắt... 

Thưa Lão Sư!... Từ xưa đến giờ, trong tâm tưởng của đồ đệ, Tứ Đế là pháp nhỏ, Tứ Đế là pháp Thanh Văn... Được nghe Lão Sư đào sâu về pháp Tứ Đế mới biết Phật pháp mênh mông, trí huệ là vô tận... Đồ đệ lại nhớ đến nhân duyên thế Tôn thuyết Diệu Pháp Liên Hoa. Trước khi thuyết kinh này, Phật nhập vào Vô Lượng Nghĩa Xứ Tam Muội rồi mới thuyết, thì ra là vậy!... 

Phật pháp có vô lượng nghĩa… Mỗi thời Phật tuyên nói một nghĩa... Như người đào giếng, cũng cái giếng đó, nhưng càng đào càng sâu, càng sâu càng tìm thấy nguồn nước ngọt hơn, trong sạch hơn và tối diệu hơn... Thưa Lão Sư!... 

Lão Sư khai triển tột nguồn Tứ Đế. Giờ phút này, đồ đệ tuy chưa lãnh hội hết ý nghĩa thâm diệu của Tứ Đế, chưa thể nếm trải toàn bộ ý vị thanh lương của Tứ Đế, chưa thể đặt chân đến đạo quả chân thiệt của Phật trí, nhưng ít ra đồ đệ cảm nhận cái cao tột, cái viên mãn của Phật đạo do Tứ Đế làm nên... 

Một phen mở con mắt ra, mới biết xưa nay mình nhầm. Cái nhầm tai hại, như đứa trẻ có được viên ngọc quý chỉ dùng nó để chọi nhau... Đúng là vô trí!... Đúng là không có ngọn đuốc soi đường thì vĩnh viễn lẩn quẩn trong ao đầm sông lạch của tự ngã mà không tự biết... 

Trước nay đồ đệ giống như một người muốn săn bắt con sư tử mà cứ tìm kiếm nơi bụi lùm quanh nhà, muốn bắt con kình ngư lại lặn tìm nơi lạch nước nhỏ... Thiệt là hổ thẹn!... Những gì Lão Sư giảng nói, giống như chỉ rõ nơi trú ngụ của loài sư tử là núi cao, dắt đồ đệ vào Đại hải để tìm con cá kình... 

Thưa Lão Sư!... Đồ đệ cảm thấy mình may mắn được tu tập dưới trướng của Lão Sư... Tuổi đời của đồ đệ đã cao, giống như người nghèo khó ăn mày suốt một đời, nay tìm được hạt châu vô giá... Lão Sư ơi!... Mỗi lần tuyên nói, Lão Sư luôn xưng hô với các đồ đệ của mình là hảo bằng hữu, là các huynh đệ... Tấm lòng của Lão Sư như biển lớn, từ bi của Lão Sư như trời xanh... Đồ đệ nguyện không phụ lòng Lão Sư, không phụ công ơn chư Phật...!... 

Thưa Lão Sư!... Suốt đêm hôm qua, sau khi được nghe Lão Sư giảng nói về ý nghĩa Tứ Đế, cả đêm đồ đệ không chợp mắt... Không ngờ Tập Đế, Diệt Đế và Đạo Đế lại chính là những phương cách giải quyết khổ phiền não này từ thô đến tế, từ thấp lên cao, từ ngu si đến trí tuệ... từ khởi đầu đến viên mãn... Viên mãn Phật trí chính là viên mãn Tứ Đế... 

Thưa Lão Sư!... Đồ đệ nghiệm ra, chỉ một Tứ Đế mà khi hoạt dụng nó trở thành Ba Mươi Bảy Phẩm, hay nói cách khác… Ba Mươi Bảy Phẩm là nghĩa của Tứ Đế... 

Đồ đệ nhớ lại, trong các kinh, Phật thường hay nói: “Các pháp ta nói ra, không ngoài bốn đế, ba mươi bảy phẩm, mười hai nhân duyên”. Đúng là cái vô hạn của Phật trí, ví như Đại hải, sâu không đến đáy... Chỉ Tứ Đế, mà Phật quảng diễn thành vô lượng văn từ ngữ ngôn, vô lượng bài pháp sâu thẳm... Nay Lão Sư là người dắt các môn đệ của mình dò tìm chiều sâu của Đại hải... 

Thưa Lão Sư!... Đồ đệ nghiệm ra rằng: Sau khi tuyên thuyết nghĩa Khổ Đế... Thế tôn chuẩn bị cho người tu hành tất cả những gì được coi là cần thiết nhất để sẵn sàng vượt qua biển lớn. 

⁎ Chuẩn bị này cho người tu hành chính là giáo pháp cơ bản, là Tư Lương Vị... gồm Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần và Tứ Như Y Túc... 

Hèn gì Lão Sư thường hay nói: “Nhất tâm để dừng hiện nghiệp”. Ba món Tư Lương này chính là chiếc vé để người tu hành từ bỏ ba cõi hôi nhơ bước lên con tàu đưa mình về nơi an tịnh... Nếu không dừng hiện nghiệp, thì như người ra đi mà lòng còn quyến luyến nơi xưa, không nỡ bước lên con tàu... 

Hiện nghiệp thấy nghe cũng vậy, nó gắn liền với chúng sanh bao đời nay nó cột chặt chúng sanh vào hiện nghiệp. Không một phen đoạn dứt sợi dây vô hình thấy nghe giong ruổi này thì không thể thoát ra cột trói thường tình... 

Đoạn dứt tập nhân là như thế!... Tập nhân và giao báo đan xen với nhau hình thành cõi nước... Cõi nước chính là tâm này. Tập nhân tốt cho ra cõi nước tốt đẹp, tập nhân xấu cho ra lửa bỏng dầu sôi... Quả nhiên hết thảy từ tâm này... Không dứt cái ngu, không có cái giác... thì cho dù có nhọc công tu hành, cũng như kẻ kia gieo giống vào hư không... Như người mong cầu được vàng mà chẳng biết vàng thật ra sao... 

Đã sắm đủ Tư Lương, đã bước lên tàu... Trước mặt là cõi nước an bình. Bây giờ vị này không còn nghi ngờ gì nữa... Vì thế, Ngũ Căn và Ngũ Lực mọc lên. Như hạt giống đã nảy mầm, cái rễ sinh ra từ hạt giống kia cắm sâu xuống đất, hút lấy dinh dưỡng nuôi thân... Cành nhánh vô minh dần dần được thay thế bởi chi phần giác ngộ... Như cái cây, đã mọc đủ cành nhánh, rễ càng cắm sâu, cành nhánh càng vươn xa... Cành nhánh Thất Giác Chi cho người tu hành bóng mát Niết Bàn... Thưa Lão Sư!... 

⁎ Kiến Đạo Vị chính là kết quả tìm thấy tịch tĩnh vô vi. Tịch tĩnh vô vi chính là Diệt Đế. Diệt Đế chính là bản lai bất động tự tịch... Nếu tập nhân đã dứt, như người chạy xa giặc cướp, thì Diệt Đế như người đến được thành lũy an bình... 

Bất động của Diệt Đế như nơi chốn không giặc cướp, không có sự ghê sợ, không có giặc cướp hai mươi lăm cõi, không có sự ghê sợ của sáu đường nên gọi là vô vi... 

Thưa Lão Sư!... Tuy rằng chưa thấy được trí tuệ, chưa thật sự chứng nhập Đạo Đế “phi hữu phi vô”... 

Nhưng qua những gì Lão Sư giảng nói, con cảm nhận được trí kia và thức chẳng phải hai... 

Tám Thức là một thức, Bốn Trí là một trí... Mê thì một biến thành tám, ngộ thì tám hóa thành bốn, rốt ráo bốn kia chỉ một, một ấy chính là không... 

Kinh dạy rằng: “Vô trí diệc vô đắc”. Vì vô trí vô đắc nên nó là Chân Thật Trí... Trí này chẳng mê nên không phải hữu vi, trí này chẳng ngộ nên chẳng phải vô vi... Trí này tùy duyên mà hiện... 

Thưa Lão Sư!... Những gì đồ đệ trình bày, là những nghĩ suy thô thiển của mình nương dựa một chút trí tuệ của Lão Sư... Mong Lão Sư bổ khuyết cho đồ đệ... Nói xong, Như Nhân hướng về phía Lý Tứ xá ba xá!... 

Lý Tứ lên tiếng: 

Thưa Lão Huynh!... Thưa các huynh đệ!... Lão Huynh không hổ danh là con chim đầu đàn, là bậc Long Tượng... Những nghĩ suy của Lão Huynh về Tứ Đế và Ba Mươi Bảy Phẩm đã thể hiện được độ sâu và chín mùi của tư duy... 

Lão Huynh!... Phật đạo có Chánh Tư Duy... Nghĩ suy con đường diệt khổ là Chánh Tư Duy. Nghĩ suy con đường tiến về trí tuệ tối thượng là Chánh Tư Duy... Những gì Lão Huynh trình bày, khiến Lý Tứ tôi vô cùng khâm phục. Tôi xin tán thán những gì Lão Huynh đã chia sẻ với mọi người!... 

Thưa Lão Huynh!... Thưa các huynh đệ!... Nhân đây, cho tôi được phép trình bày tiếp về ý nghĩa của Tứ Đế và những liên quan... 

Thật ra, như Lão Huynh vừa trình bày là đúng... Tứ Đế chính là sự sống của Đạo. Phật đạo tồn tại trên nguồn sống này... Chính Tứ Đế đã làm nên vô lượng ý nghĩa mà Thế Tôn ngày xưa đã tuyên nói, nay chúng ta gọi là kinh... Phật đạo có vô lượng nghĩa là như thế... Cái còn lại cuối cùng của Phật đạo chính là Tứ Vô Lượng Tâm (Từ, Bi, Hỷ, Xả). Hay nói khác hơn… 

  • Tứ Vô Lượng Tâm là tinh túy của Tứ Đế... Từ Bi Hỷ Xả có ba loại. 

Đó là Pháp Duyên Từ, Chúng Sanh Duyên Từ và Vô Duyên Từ…(Bi, Hỷ, Xả cũng như thế... ). 

- “Pháp Duyên Từ”, trong Tập Đế, nương nơi pháp giác mà người tu hành có được... 

Vì sao nói rằng, nương nơi pháp giác mà lại sinh Pháp Duyên Từ? Giống như người đau nặng, thập tử nhất sinh... Có thân chứng cái khổ của đau yếu và có lành bệnh người ta mới cảm thương cái đau của đồng loại... Pháp Duyên Từ là như thế, thưa các huynh đệ... 

- Thế nào trong Diệt Đế Bất Động lại được “Chúng Sanh Duyên Từ”? 

Giống như người đến được thành lũy an bình mới cảm thương cái khổ của kẻ chạy giặc... Trong Niết Bàn Bất Động mới cảm thương cái lao xao xuôi ngược của chúng hữu tình... 

- Thế nào trong Trí Tuệ của Đạo Đế lại thành tựu Vô Duyên Từ? 

Thưa các bằng hữu!... Trí huệ ấy chính là Phật trí... Phật được gọi là Đấng Từ Phụ... Như người cha thương con không cần điều kiện... Vô Duyên Từ chính là tâm từ thường hằng đối với những đứa con... 

Thành ra, viên mãn Tứ Đế, chính là viên mãn Tứ Vô Lượng Tâm... Tứ Vô Lượng Tâm chính là cái còn lại sau cùng của Phật đạo. Nó chính là Đạo... 

Thưa các vị!... Nếu các vị nhớ lại, những đối đáp của ngài Duy Ma Cật với mọi người luôn luôn đề cập đến ý nghĩa Tận Hữu Vi... Nhưng khi hỏi về Bất Nhị, thì vị Bồ Tát này lặng thinh!... Đây là hình ảnh biểu hiện của Trụ Vô Vi... 

Và cuối cùng Phật tuyên nói nghĩa “Tận Vô Tận Giải Thoát”là “chẳng tận hữu vi, chẳng trụ vô vi”...

Vô Duyên Từ đích thực là “chẳng tận hữu vi, chẳng trụ vô vi”... Trung đạo và Trí Tuệ là như thế... Xin các vị nhớ cho... 

- Các vị!... Chúng ta đã trao đổi khá nhiều với nhau về Tứ Đế... Chúng ta đã mổ xẻ Tứ Đế từ thấp lên cao, từ cạn đến sâu... 

Mong rằng, sau lần tâm sự này... mỗi người trong chúng ta như người đào giếng... Mỗi một nhát cuốc là mỗi một lần đào bỏ cái vị kỷ cá nhân. Mỗi một nhát cuốc đào xuống, nguồn sâu trí tuệ sẽ hiện ra và dòng nước thanh lương của Phật đạo sẽ tưới mát tâm thức làm tăng trưởng Tứ Vô Lượng Tâm... 

- Cũng với trí này, không giác ngộ gọi là thức, giác ngộ gọi đó là trí... Giống như cũng tại nơi này, không đèn là tối có đèn là sáng, sáng tối chẳng phải hai... Đạo chính là sự làm sáng trí này, như viên ngọc bị vùi lâu trong bùn đất, nay phá bỏ ba lớp che chướng “Tập, Diệt, Đạo”, đạo đích thực sẽ hiện... 

Ngày mai đây, không biết duyên giữa tôi và các vị có còn tiếp tục hay tạm chia tay... Nếu sáng mai, ngày kia... các vị không còn thấy Lý Tứ cùng các vị uống chung chén trà dưới chân Dự Sơn... xin các vị hãy nương nhau mà tinh tấn. Chỉ có con đường này, chỉ có Phật đạo mới giúp mình hết khổ, giúp người vĩnh viễn hết khổ... Các vị khỏi phải tìm tôi. Lý Tứ này như con nhạn giữa trời xanh... Còn duyên thì đến, hết duyên thì đi... Khi nào thấy có cơ duyên gặp lại, tôi sẽ tự tìm đến các vị, chỉ mong cùng uống chung trà đàm luận Phật pháp... Nói xong Lý Tứ hướng về mọi người cung tay chào một lượt... 

Thất Muội lên tiếng:

Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Tuy rằng thời gian qua, tiểu nữ có được chút nghĩa giác nên tạm bình an, nhưng khi quên giác, phiền não lại hiện. Tiểu nữ bèn dùng sức giác xua đuổi phiền não... Mấy hôm nay, tiểu nữ trong lòng có chút phiền muộn... 

Được nghe Lão Sư giảng giải đạo pháp... trưa nay, nhân một mình trong phòng, tiểu nữ có chút nghĩ suy... Bất chợt, tiểu nữ nhìn lại tâm mình... 

Tiểu nữ phát hiện ra nguồn tâm này bản lai bất động... Chỉ vì xưa nay, do ngu muội duyên theo nghĩ suy, nên phiền não tâm xuất hiện... Nhân thấy được bản lai, tiểu nữ mới biết rằng thế nào là giác, thế nào là ngộ... thế nào là tập, thế nào là diệt... Tiểu nữ nghiệm ra, tu hành trong Phật đạo, thấy được bất động tâm cực kỳ quan trọng. Như người tìm được kho báu... cứ nơi này đào bới, sẽ trở thành giàu có... Nếu chưa đủ duyên, để đó, ngày khác trở lại đào lên... Của báu chẳng mất đi đâu... Tiểu nữ cũng hiểu ra, tu hành trong Phật đạo không phải hủy diệt nghĩ suy, mà chính là làm mất ảnh hưởng của nghĩ suy đối với tâm này... 

Chính ảnh hưởng của nghĩ suy sẽ cho ra hư vọng tâm, phiền não tâm. Nếu nghĩ suy không ảnh hưởng, phiền não tâm, hư vọng tâm không hiện... 

Phiền não tâm, hư vọng tâm không hiện nên bản tâm hiện. Bản tâm ấy chính là bất động tâm. Bất động tâm chính là Diệt Đế vô vi. Vô vi vì tâm này chẳng do gì làm ra, chẳng do gì làm ra nên chẳng do gì mà mất... 

Lão Sư!... Tiểu nữ thấy như vậy có đúng không? Thấy như vậy có phải cái thấy của Diệt Đế, xin Lão Sư từ bi chỉ dạy!... 

Lý Tứ cười ha hả rồi nói: 

- Thất Cô Nương!... Chúc mừng Cô Nương đã thấy cái cần thấy, đã gặp cái cần gặp, đã biết cái cần biết... Cái thấy này là đúng, cái thấy này vĩnh viễn không mất... Nhưng giống như một người tìm được kho báu vô giá, vì công vụ, bận rộn nhiều điều... vị này rời xa kho báu để đến xứ khác... Tuy đã thấy kho báu, nhưng chưa có thời gian khai thác... vị này có thể rơi vào nghèo khó... Lúc nào đó, vị này rảnh rang, trở về lại chỗ có kho báu và đào lên... Vị này sẽ giàu có... Cô Nương, tình cảnh là như vậy... Theo Cô Nương, có nên rời kho báu để đi xứ khác nhận sự nghèo hèn chăng? 

Thưa Lão Sư!... Theo tiểu nữ là không nên ạ!... 

- Thế thì, nên làm gì thưa Cô Nương? 

Quyết tâm đào bới để giàu có, thưa Lão Sư!... 

- Cô Nương, có thể mai mốt, ngày kia... mây mù có kéo đến... nhưng nhất định sẽ không làm nên một trận mưa nào dù một giọt nhỏ ha ha ha ha!... 

- Cô Nương!... Cô Nương có hiểu lời tôi nói không? 

Thưa Lão Sư!... Tiểu nữ hiểu và rất hiểu!... 

- Cô Nương!... Nếu tâm không có nhu cầu, thì nhà sản xuất ý thức sẽ phá sản... Cô Nương có hiểu không? 

Thưa Lão Sư!... Tiểu nữ đã hiểu... Tiểu nữ thấu suốt quy luật cung cầu ạ!... 

- Chúc mừng Cô Nương!... Chúc mừng các huynh đệ... Một ngày mới tốt đẹp đang chờ đón mọi người!...

(còn nữa) 

Tác Phẩm Lý Tứ

Tứ Đế. Tiểu Niết Bàn, Trung Niết Bàn và Đại Niết Bàn

Quản trị viên 16.02.2022
TP.30. Tứ Đế. Tiểu Niết Bàn, Trung Niết Bàn và Đại Niết Bàn

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Lại một đêm trăng sáng dưới chân Dự Sơn, chuyến du lịch xuôi về phương Nam chấm dứt... mọi thứ diễn ra tốt đẹp... 

Trên chiếc bàn đá giống như buổi tiệc ngày đầu gặp nhau, cũng không gian này, cũng những con người, cũng những vị trí này... Chuyến du lịch và những trải nghiệm tự thân về đạo, làm mọi người tươi tỉnh và sung mãn hẳn lên... 

Ngày mới gặp nhau cũng vào mùa trăng dưới chân Dự Sơn, mười người trong bọn họ là những con người khát khao chân lý và đi tìm chân lý. 

Hơn một tháng trời được nghe nói giảng giải chia sẻ... Bây giờ chân lý đang là những gì nằm trong tầm tay... Có người đã biến chân lý thành hiện thực, có người đang nỗ lực trong cơ hội hiếm hoi... Giờ phút này, mọi người ở đây là những con người mới... những con người do giáo pháp hóa sanh... 

Họ là những con người cũ của thể xác nhưng hoàn toàn mới về tinh thần... 

Lý Tứ lên tiếng: 

Thưa các vị!... Cũng con trăng này, hôm nay chúng ta lại ngồi đây, cái nơi mà lần đầu tôi và các vị uống chung chén trà, thực sự làm bằng hữu của nhau... Thời gian qua nhanh, mới đó mà đã hơn hai tháng kể từ hôm tôi gặp các vị ở cái quán ven đường...

Các vị thử nhìn lại coi, đúng là cuộc đời như một giấc mơ... Nó chợt đến rồi chợt đi, qua mau hơn những gì người đời nghĩ tưởng... Đã hơn hai tháng mà tưởng chừng như mới hôm qua. 

Thế mới biết thời gian không đợi ai, sanh lão bệnh tử không của riêng ai... 

Thưa các vị!... Những gì cần nói với nhau, chúng ta đã trao đổi, những gì cần giải quyết, phần lớn đã giải quyết... Thời gian qua, chúng ta đã vượt qua bao nhiêu khó khăn gai góc trên bước đường tu tập... Tuy con đường của chúng ta hãy còn dài, mọi thứ còn ở phía trước. Nhưng sau chuyến du lịch, con đường trở nên bằng phẳng hơn, dễ đi hơn... vì mọi thứ trở nên sáng tỏ, rõ ràng như ngọn đuốc trước mặt. Cứ như thế, các vị cứ nhắm ngọn đuốc soi đường mà bước tới, không còn mơ hồ, không còn sai lạc... Tôi nói đến cái dễ dàng, cái bằng phẳng là ở chỗ đó... 

Các vị!... Giống như người đi biển bị mất phương hướng, giống như người lạc vào rừng rậm ban đêm không còn dấu tích... Bây giờ mọi thứ đã khác, như người đi biển xác định được phương hướng, như người lạc trong rừng rậm ban đêm nhìn thấy đốm lửa ở bìa rừng. 

Cái còn lại của chúng ta là hãy đứng dậy và bước tới... Nhanh chậm tùy vào tự thân mỗi người. Thiện ác tùy vào tâm tưởng của mỗi người... 

Đứng dậy bước đi là thiện. Dừng lại đồng nghĩa với bất thiện, và quay lại với rừng rậm là ác pháp... 

Cứu cánh Phật đạo luôn luôn là thiện, thoát ra khỏi “rừng rậm ác kiến” là thiện, quyết tâm vượt qua “biển lớn sanh tử” là thiện, và cao cả hơn tiến về Vô Thượng Bồ Đề là chí thiện... 

Các vị!... Đạo ở trước mặt, đạo thể hiện trong từng nghĩ suy. Đạo quả chỉ thành tựu với những ai một lòng một dạ bước tới... Tinh tấn không phải là khẩu hiệu. Tinh tấn là từ ngữ bao gồm sự thấu suốt và dấn thân. Tinh tấn không dành cho hạng người thiếu ý chí cũng như ù lỳ trong nhận thức... Tinh tấn là từ ngữ đặc trưng của Phật đạo. 

Tinh tấn có nghĩa tiến lên trong sự tỏ ngộ, tiến lên trong sáng suốt tỉnh táo và yên lặng. Tinh tấn còn có nghĩa tiến lên trong sự trong sạch, mê mờ đã bỏ lại sau lưng, nó thuộc về quá khứ... 

Vì thế thưa các vị!... Muốn thành tựu đạo quả phải có một cái tâm không mê mờ, phải có cái trí tỏ ngộ, và cần có một ý chí kiên cường... Thời gian qua, những gì chúng ta chia sẻ với nhau chính là làm cho sáng tỏ ý nghĩa hai chữ “Tinh Tấn”. Không thấu rõ con đường phía trước thì chẳng thể tinh tấn. Không tỏ ngộ thì chẳng thể tinh tấn. Không tỉnh táo và yên lặng cũng không được gọi là tinh tấn... Vì thế tinh tấn không giống nỗ lực, siêng năng hay cần cù ở đời, mà tinh tấn có ý nghĩa riêng của nó, tức tinh tấn chỉ có trong phật đạo... 

Những ngày qua chúng ta nói nhiều đến giải thoát bất động. Hầu hết các vị đã nắm vững thế nào là giải thoát, thế nào là bất động. Có vị đã đặt chân vào cảnh giới đó, có vị chuẩn bị bước tới... 

Tuy từng người có cái được và chưa được chẳng giống nhau, nhưng ít ra về nhận thức thì đa phần đều hiểu. Cơ bản mọi người hình dung được thế nào là giải thoát thế nào là bất động... Kinh dạy, “Đây là mục tiêu của phạm hạnh”... Mục tiêu chúng ta đã thấy, thậm chí ở ngay trước mắt từng người. Nó giống như trái a ma lặc trong lòng bàn tay... Mọi người chỉ cần quan sát thật kỹ nhất định biết ngay nó như thế nào... 

Bây giờ, thưa các vị!... Để các vị có cái nhìn tổng quát về Phật đạo, tôi xin trình bày tiếp về Tứ Đế. 

  • Tứ Đế... Như tôi đã từng có lần nói với các vị... Tứ Đế chính là nền móng của Phật đạo. Vì thế người tu hành rất cần thông hiểu Tứ Đế, vì Tứ Đế có nhiều ý nghĩa và nhiều tầng bậc khác nhau... 

Mỗi một giai đoạn tu hành sẽ cho ra một ý nghĩa mới của Tứ Đế... Cho đến bao giờ viên mãn Phật đạo mới hiểu hết Tứ Đế là gì... 

Các vị!... Trước đây có lần chúng ta đề cập đến “Giác là đế của Tập, Bất động là đế của Diệt và Trí là đế của Đạo”. Bây giờ, tôi xin chia sẻ tiếp những điều này... 

Chắc các vị từng nghe nói đến có ba loại Niết Bàn. Đó là tiểu Niết Bàn, trung Niết Bàn và Đại Niết Bàn... Thật ra ba loại Niết Bàn được người xưa đề cập đến chính là sự thăng hoa của Tứ Đế... Bốn món Khổ Tập Diệt Đạo... là bốn chặng đường tu chứng và thể nhập khác nhau của người tu hành. Ở mỗi đế có sự chứng nhập riêng biệt của nó. 

Nếu như Khổ Đế được coi là thông điệp Đức Phật gởi đến ba cõi, nó là hồi chuông cảnh báo cho những ai nhận thức rằng hoặc trong quá khứ, hoặc ở hiện tại hoặc đến vị lai mình có dự phần vào đó thì hãy mau tìm con đường thoát ra... Và con đường được Đức Phật tìm thấy để giải quyết hiểm họa khổ phiền não đó là Tập Đế, Diệt Đế và Đạo Đế... 

Người ta tuần tự diệt Khổ đến rốt ráo bằng ba con đường này. Từ trong ba giai đoạn diệt khổ này mà ba thứ Niết Bàn xuất hiện... 

Ba thứ Niết Bàn hay ba nơi chốn mà mỗi một người tu hành muốn viên mãn đạo quả nhất định phải đặt chân đến... 

Thứ nhất là tiểu Niết Bàn hay cột mốc đầu tiên một người dấn thân tu hành phải đi đến. Đó là Niết Bàn của Tập Đế... Đây là loại Niết Bàn do “Giác” làm nên... Niết Bàn này chính là thanh tịnh tự thân do sức giác mà có... 

Giác là những kiến thức, những hiểu biết do học tập... và ứng dụng kiến thức này vào đời sống tu hành... Nó gồm “có giác có quán và có giác không quán”, kinh thường gọi là Văn, Tư, Tu... 

Người có học tập có nghĩ suy và có ứng dụng những học tập này sẽ cho ra kết quả thanh tịnh tự thân... Niết Bàn thanh tịnh này có năng lực Dứt Tập, nó thuộc về Tập Đế. Vì thế trước đây tôi có nói với các vị “Giác là đế của Tập”.

Cho nên, có thể kết luận “Dứt Tập” là có thanh tịnh. Đây chính là loại Niết Bàn do giác làm nên... Niết bàn này là hệ quả của “tận hữu vi”... Là loại Niết Bàn lấy huyễn diệt huyễn... “Dùng huyễn giác diệt huyễn tâm”. 

Thứ hai, sau khi dứt tập vị này thấy lòng thanh thản, huyễn tâm đã diệt, mọi vướng mắc trong đời được giải quyết bằng giác... Vị này ngồi xuống, tĩnh tâm nương sức giác lắng trong vọng niệm... Bất chợt vị tu hành này nhận ra, bản tâm bất động, trí tuệ không còn bóng dáng của giác... Vị này ở yên nơi bất động và bây giờ một loại thanh tịnh khác được tìm thấy, đó là thanh tịnh do bất động tâm mà thành. Thanh tịnh này chính là “Niết Bàn của Diệt Đế”. 

Sự tìm thấy lần này chính là Diệt Đế... Đây là cột mốc thứ hai người tu hành đặt chân đến... Thanh tịnh bất động này hoàn toàn vô vi, nó là loại Niết Bàn do trụ vô vi mà thành... Vì thế trước đây tôi nói với các vị rằng “Ngộ hay Bất động là đế của Diệt”. Và các bạn!... 

Niết Bàn thứ ba tôi muốn đề cập đến đó là, sau khi người tu hành dứt Tập, chứng Diệt... Vị này từ bất động bước ra... như người chợt tỉnh cơn mê... hoàn toàn sáng suốt... 

Với trí tuệ của mình, vị này thấy được hữu vi chẳng thể có nên vô vi cũng chẳng thể có... 

Vị này thoát hẳn “hữu vi, vô vi”, chứng nhập đạo pháp bằng trí tuệ chơn thiệt... Vị này bước đi trên con đường Trung Đạo, mọi mê lầm hoàn toàn chấm dứt, chỉ có trí tuệ sáng suốt. Vị này thấy rõ cái gì là “Đạo”... 

Đây chính là chứng nhập Đạo Đế... Cho nên có lúc tôi nói với các bạn “Trí là đế của Đạo”. 

Ba loại Niết Bàn tôi vừa trình bày, là ba cột mốc, là ba đoạn đường một người tu hành phải vượt qua. 

Viên mãn Tứ Đế là viên mãn Phật Đạo. Trong chừng mực nào đó, người tu hành có thể hiểu Tứ Đế theo cách hiểu của mình, điều này không sao... 

Nhưng nếu thấu suốt Tứ Đế theo những gì tôi vừa trình bày, nhất định các vị sẽ biết rõ vị trí mình đang ở và con đường mình phải đi... Tứ đế chính là nền móng, là căn bản và chính là xương sống làm nên Phật Đạo... Tứ đế được kết thúc bằng Đạo Đế. Đạo Đế thật nghĩa của nó chính là Trung Đạo, Trung Đạo là con đường chư Thánh trước đã đi... 

Tóm lại, Tập Đế lấy giác làm đế. Dùng giác dứt tập, tập dứt tâm thanh tịnh. Thanh tịnh này chính là “Niết Bàn của Tập Đế”, còn gọi là tiểu Niết Bàn, một sự thoát ly hẳn tập nhân do sức giác... 

Sau khi chứng nhập thanh tịnh này, vị này bất chợt ngộ ra bản tâm bất động và tự tịnh. Sở dĩ có huyễn tâm là vì có huyễn duyên hòa hiệp, như cái bóng cây... Vị này rời bỏ duyên kia chứng nhập một loại Niết Bàn thứ hai đó là “Niết Bàn của Diệt Đế”... Niết Bàn này chính là bất động tâm, lìa hẳn các duyên... Người xưa gọi đây là trung Niết Bàn... 

Cuối cùng vị tu hành, từ bất động bước ra, như người chợt tỉnh cơn mê, với trí tuệ của mình vị này thấy rằng “hữu vi, vô vi” chẳng thể được, vị này chứng nhập nghĩa Trung Đạo... Đây là loại “Niết Bàn của Đạo Đế”... Niết Bàn này thuần là trí... 

Ba loại Niết Bàn vừa nêu, tương ứng với ba loại hình tu tập, từ thấp lên cao đó là Tỳ Bà Xá na, Xa Ma Tha và Thiền Na... Nó cũng chính là ba thứ tam muội: “có giác có quán, có giác không quán và không giác không quán”. 

Ba loại hình tu tập này cho ra ba thứ chứng nhập, một là thân chứng, hai là tâm chứng và ba là trí chứng... Ba thứ chứng nhập này làm viên mãn Tứ Đế... 

Viên mãn trong điều kiện như vậy nên Tứ Đế còn có tên gọi là Tứ Diệu Đế... Diệu bởi lẽ chỉ một tâm này, một trí này, khi chưa giác gọi là khổ, giác rồi gọi là tập, thấy rõ gọi là diệt và thấu suốt gọi là đạo... 

Thân chứng, tâm chứng và trí chứng làm viên mãn quá trình tu hành... Viên mãn quá trình tu hành chính là chứng nhập đạo quả trí tuệ... Đạo quả trí tuệ là Đạo. Đạo này chính là Đạo Đế vậy!... 

Các vị!... Tứ đế tôi vừa nêu, chính là con đường chúng ta phải đi. Đây là tấm bản đồ chỉ rõ từng cung đường mà các bạn phải vượt qua nếu muốn đến chỗ chí đạo... Những gì chúng ta chia sẻ với nhau chỉ là khái niệm ban đầu, chỉ là lời giới thiệu... Trên hành trình sắp tới, chúng ta sẽ lần lượt đề cập cụ thể hơn hình ảnh của Diệt Đế và Đạo Đế... Giống như, một người với hành trình dài của mình, từng chặng đường sẽ có những hình ảnh cụ thể của chặng đường đó... 

Chưa bước đi, tất cả hiểu biết chỉ là khái niệm!... 

Xưa nay khái niệm luôn luôn là khái niệm, vì khái niệm chưa phải là thật... Muốn biết thật là gì, thì phải biến những khái niệm kia thành hiện thực... Một khi hiện thực trước mắt xảy ra, khái niệm chẳng phải là khái niệm nữa mà Phật đạo gọi đó là thân chứng... 

Hôm nay, theo suy nghĩ của tôi... những gì chia sẻ đến các bạn tuy là những giới thiệu ban đầu, nhưng ít ra nó cũng cho các bạn một đôi nét khắc họa con đường phía trước... Mai mốt, chúng ta sẽ trao đổi với nhau cụ thể hơn... 

Chúc các bạn tinh tấn!...

(còn nữa)

Tác Phẩm Lý Tứ

Tinh Tấn

Quản trị viên 16.02.2022
TP.29. Tinh Tấn

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Sáng hôm nay, gặp nhau muộn hơn những ngày trước... Suốt đêm mọi người về phòng mình và thiền định... Đợi tập trung đông đủ, Lý Tứ lên tiếng: 

Thưa các bằng hữu!... Tôi thật lấy làm khâm phục và cảm kích trước những nỗ lực cũng như sức tinh tấn của các bạn... Nỗ lực không mệt mỏi, tinh tấn không giảm sút... Đây là thái độ đúng đắn của người tu hành và là nét đặc thù tôi tìm thấy trong các vị... 

Tôi thành tâm tán thán những gì các vị đã thu hoạch được trong những ngày vừa qua... Các vị!... Đức Phật có Thập Bát Bất Cộng, trong đó Tinh Tấn Không Giảm... Thế Tôn như vậy, lẽ nào chúng ta lại làm khác đi... 

⁎ Thưa các vị!... Tôi có đọc một bài kinh lâu lắm rồi, bài kinh này đã gây cho tôi một ấn tượng tốt đẹp về thế nào là ý nghĩa của tinh tấn. 

Tôi xin lược kể nội dung bài kinh: 

“Một hôm Thế Tôn ốm nặng, phải nằm trên giường, A Nan ngồi một bên chăm sóc... Thế Tôn nói với A Nan: 

A Nan!... Ông hãy tụng kinh cho ta nghe... Xin vâng bạch Thế Tôn!... 

Rồi A Nan với giọng nói trong trẻo của mình đã tuyên đọc lại những bài kinh mà A Nan được nghe Thế Tôn Giảng dạy... Khi A Nan tuyên đọc đến nghĩa tinh tấn... Thế Tôn hỏi: 

A Nan!... Có phải ông đang tụng về pháp tinh tấn phải không A Nan? 

Bạch Thế Tôn con đang tụng về pháp tinh tấn!... Thế Tôn ba lần hỏi và A Nan ba lần đáp như vậy... 

Rồi Thế Tôn, trong cơn đau nhức của tuổi già... Thế Tôn như một người trẻ, khỏe mạnh vụt ngồi dậy và khoanh chân kiết già lưng thẳng... Thế Tôn nói với A Nan: 

֎ Này A Nan!... Thế Tôn cũng phải tinh tấn.” 

⁎ Các vị!... Khi kể lại câu chuyện này, trong lòng Lý Tứ vẫn như ngày đầu mới đọc bài kinh.

Một cảm giác thương mến Đấng Từ Phụ, một cảm giác kính phục Đấng Từ Phụ và một cảm giác hoan hỷ với ý nghĩa tinh tấn. 

֎Các vị!... Thế Tôn đã thành Đẳng Chánh Giác mà còn như vậy... hà huống chúng ta là ai mà được phép phóng dật!... 

Các vị!... Hôm qua sau buổi tâm tình với các vị, khi về phòng của mình... Lý Tứ tôi suy nghĩ những gì chúng ta đã trao đổi với nhau... Những gì đã nói, những gì chưa có cơ duyên chia sẻ và những gì hôm nay cần nói... 

Tôi quyết định, hôm nay chúng ta sẽ tiếp tục trao đổi, mổ xẻ một vài mẩu chuyện được ghi lại trong kinh... Những mẩu chuyện này... hầu như người tu hành ai cũng có một vài lần đọc qua... 

Nhưng hình như rất ít khi được phân tích, để ý và học tập từ nó!... 

Câu chuyện tôi muốn trao đổi hôm nay với các vị, đó là mẩu đối thoại ngắn giữa Phạm Chí Trường Trảo và Thế Tôn... 

Câu chuyện có nội dung như sau: “Phạm Chí Trường Trảo là em ruột của mẹ Xá Lợi Phất, tức là cậu của ngài Xá Lợi Phất... 

Lúc mẹ ngài Xá Lợi Phất còn là thiếu nữ, hai chị em thường đàm luận với nhau... Các cuộc đàm luận diễn ra cả hai “bất phân thắng bại”... Sau đó người chị có chồng, chồng bà ta là một luận sư nổi tiếng... và bà ta mang thai... 

Kể từ hôm bà chị mang thai, Phạm Chí Trường Trảo luôn là người thua cuộc trong những lần đàm luận... Trường Trảo thầm nghĩ... Nguyên nhân gì khiến bà chị của mình trở thành thông tuệ... Có lẽ, do thần lực của thằng bé trong bụng đã ủng hộ bà ta... Nghĩ như thế, kết luận như thế... Trường Trảo quyết định bỏ vào rừng sâu trau dồi luận lý... 

Mười tám năm trong rừng, ông ta thông suốt mười tám tập Phệ Đà... Mười tám năm sau, Trường Trảo nghĩ mình đã thành tựu lý luận và đứa bé đã lớn khôn. Ông bèn quay về quê cũ gặp bà chị và tìm đứa cháu để tranh luận… 

Nhưng khi hỏi ra, thì đứa bé năm xưa tức Xá Lợi Phất ngày nay đã quy y Cù Đàm... Trường Trảo thầm nghĩ... Cù Đàm là ai, mà có thể chiết phục được cháu của mình... Thôi thì ta đến gặp thầy của nó để lý luận... Thế là ông ta tìm gặp Thế Tôn... Khi gặp Thế Tôn, Phạm Chí Trường Trảo là người đặt luận đề trước... Câu chuyện sau đây được nêu lên: 

Trường Trảo: Thưa Cù Đàm!... Không thọ tất cả pháp... 

- Thế Tôn: Nhưng ông có thọ câu nói vừa rồi... 

Sau một hồi suy nghĩ, Phạm Chí Trường Trảo chống chế: Câu nói đó, tôi cũng không thọ... 

- Thế Tôn: Như vậy, có khác gì câu nói trước!... 

Sau đó Phạm Chí Trường Trảo lặng lẽ bỏ đi... Đi được một khoảng khá xa, Trường Trảo dừng lại nói với các đồ đệ của mình: 

Buổi luận khi sáng, ta đã thua Cù Đàm, nhưng vì từ bi, Cù Đàm không nói ra cái thua của ta... 

Và này các ông!... Nay ta sẽ quay trở lại quy y làm đồ đệ của Thế Tôn... Các ông có thể làm những gì thấy là đúng... Sau đó các đồ đệ của Trường Trảo đồng một lòng đến quy y Phật... Phạm Chí Trường Trảo cũng đã chứng La Hán sau đó... 

Thưa các bạn!... Trong mẩu chuyện ngắn trên, ta thấy cái thiện xảo của Thế Tôn, hạ một đao chặt đứt tâm trí của đối tượng... 

Câu nói: “Nhưng ông có thọ câu nói đó”. Nếu tức thời, Trường Trảo quay lại tâm mình, buông bỏ tất cả và không khởi cái ngã biện luận lên... Thì có lẽ, ngay hiện tiền, Trường Trảo đã thấy được vấn đề... Nhưng… 

Chính cái sĩ diện, chính cái ngã, chính thói quen biện minh mà Trường Trảo không thấy được nguồn tâm. Câu nói: “Câu nói đó tôi cũng không thọ...” đã làm cho Trường Trảo bỏ mất cơ hội giác ngộ... 

Các bạn!... Chính thói quen nghe bằng trí, đối đáp bằng ngã, lập luận bằng thức đã đẩy Trường Trảo rời khỏi Phật một đoạn khá xa!... 

Cái đáng khen của Trường Trảo ở đây là, mặc dù trước đây vì sĩ diện với học trò, một phút bất giác... nhưng sau đó Trường Trảo đã quay lại với chính mình và thấy được vấn đề... 

Chính dũng khí của Trường Trảo, dám nói lên sự thật, dám nhận thấy cái sai, dám buông bỏ tất cả như ý nghĩa vô thọ... đã làm nhân duyên lành cho Trường Trảo chứng Thánh... 

Các vị!... Hãy quay lại tự tâm, lắng nghe bằng tâm, tôn trọng sự thật và bỏ cái ngã xuống... Lập tức chân lý sẽ hiện... 

Câu chuyện thứ hai tôi muốn gởi đến các bạn, đó là câu chuyện kinh kể về một Bà La Môn trẻ. Vị này đã đến trước Phật và tranh biện... Câu chuyện sau được nói lên: 

Cù Đàm!... Số là thường... Bởi lẽ một đến hai, đến ba... và đến vô tận. 

- Này Bà La Môn!... Nếu số là thường... thì một chẳng đến với hai... 

Sau câu này, Bà La Môn trẻ khen Thế Tôn và bỏ đi!... 

Các vị!... Sự việc đáng tiếc xảy ra cho vị Bà La Môn trẻ... Chỉ thấy thua về mặt lý luận và vui vẻ bỏ đi... mà không thấy được “một là gì”!... 

Câu nói của Thế Tôn, như nhát kiếm bén chặt đứt những giong ruổi trong tâm niệm của vị Bà La Môn trẻ... Nhưng rất tiếc... Bà La Môn này chỉ nghe bằng tai... suy hiểu bằng trí... và bỏ đi bằng tự ngã... 

Nếu tình huống này xảy ra: Vị ấy nghe bằng tâm... đoạn dứt suy luận bằng trí và bỏ cái ngã xuống... Vấn đề sẽ tốt đẹp hơn... 

Các vị!... Tôi nêu lên hai câu chuyện trên, để thấy cái thiện xảo của Đấng Nhất Thiết Trí, phương tiện sắc bén như lưỡi gươm... 

Cái chúng ta cần ngồi lại và mổ xẻ... chính là thâm ý lời dạy của Thế Tôn... Thế Tôn nói bằng tâm, người nghe phải nghe bằng tâm và thấu suốt bằng tâm... Mọi suy luận, biện biệt đúng sai trong hoàn cảnh này “đều phản tác dụng”. 

Một nhát đao của Thế Tôn có thể ngay tức thì “đẽo gốc cây thành bức tượng”... Cái chúng ta cần học là ở chỗ này... Là ở chỗ này!... 

Các bằng hữu!... Dân gian có truyền tụng bài thuốc chữa rắn cắn... 

Người ta nói rằng, khi nào bị rắn cắn... lập tức quan sát nơi con rắn cắn... Và ở đó nhất định có cây cỏ trị nọc độc của rắn...

Muốn hái được thuốc, người này chỉ cần quay lại sau lưng và bước ba bước... Ngay tại nơi đó... bứt một nắm lá cỏ... bỏ vào miệng nhai... đắp vào vết thương... nọc rắn sẽ bị vô hiệu hóa!... 

Kinh nghiệm dân gian này, các vị có thể dùng ngay bây giờ và sau này chỉ lại cho người... Ha ha ha ha!... Ngay tại nơi con rắn ở, sau ba bước... sẽ thấy thuốc trị rắn!... Nhớ quay lưng và bước ba bước trước mắt là... cỏ thuốc!...

Đạo là như vậy đó... không cần phải đi xa... không cần phải mất công tìm kiếm nơi khác... Ngay tại đó... ngay tại đó sẽ cho ra “liều thuốc vô giá”... Các bạn!... Đừng chạy đôn chạy đáo... Hãy lập tức cứu mình và cứu người bằng “bài thuốc dân gian...” ngay tại chỗ. Nơi nào có rắn, nơi ấy có thuốc... 

Nơi nào có khổ đau nơi ấy có Phật pháp... Nơi hư không mà Thế Tôn hóa hiện vô số pháp lành... 

Nơi cây cỏ vô tình kia lại có món thuốc chữa nọc độc... Ha ha ha ha... “Khổ hải vô biên, hồi đầu thị ngạn”… Lập tức quay đầu, chứ chẳng phải giải quyết cái khổ... Ha ha ha ha!... Tam Tổ trong bài Tín Tâm Minh cũng nói rằng: “Chí đạo vô nan, duy hiềm giản trạch”... 

Ha ha!... giản trạch suy lường là mất ngay... mối đạo!... 

Lý Tứ nói dứt lời, Như Thể lên tiếng:

Thưa Lão Sư!... Tuy con có thấy chút manh mối, dường như bất động, nhưng những nghĩ suy mông lung vẫn hiện lên trong con!... 

- Như Thể!... Ông quay lại chính mình và nghiệm cho kỹ... Nghĩ suy và ông là hai hay một? 

Như Thể suy tư một hồi rồi nói: Thưa Lão Sư dường như là hai!... 

- Ông soi xét lần nữa, và nhìn cho thấu đáo tâm mình rồi hãy trả lời dứt khoát rằng: “Nghĩ suy với ông là hai hay một”. 

Thưa Lão Sư!... Con thấy con và nghĩ suy đúng là hai... 

- Nếu là hai, ông lập tức nhìn ngắm nghĩ suy kia... Nó và ông có mối liên hệ nào chăng?

Như Thể trầm ngâm giây lát rồi nói: 

Thưa Lão Sư!... Hiện tại con thấy nghĩ suy và con không có mối liên hệ... 

- Như Thể!... Nghĩ suy có phải là ông chăng? 

Thưa Lão Sư!... Nghĩ suy chẳng phải con... 

- Như Thể!... Thấy nghe có phải là ông chăng? 

Con thấy thấy nghe và con không có dính dáng gì... 

- Vậy ông là cái gì?

Sanh chẳng phải con... diệt chẳng phải con... Con chính là cái không sanh diệt!... 

- Ông quán sát lần nữa xem, “nghĩ suy, thấy biết” đối với ông nó như thế nào? 

Thưa Lão Sư!... Những thứ này, đối với con bây giờ như “nước chảy qua cầu... cầu chẳng liên hệ đến nước... nước chẳng nhấn chìm được cầu”. 

- Như Thể!... Vì sao người ta “chết chìm”? 

Vì người ta “nhảy xuống nước”!... 

- Nếu đừng nhảy xuống nước, thì điều gì xảy ra... ? Như Thể chiêm nghiệm một hồi rồi nói: 

Thưa Lão Sư!... Con đã hoàn toàn thấy được cái gì là bất động... 

- Vì sao nó bất động? 

Bản lai tự như vậy... 

- Phật dạy: “Tự Tịnh Kỳ Ý”... Vậy ông tịnh ý nào? 

Thưa!... Ngày xưa ngu mê tìm cách tịnh ý kia... ý kia như huyễn... Cố tịnh cái huyễn gọi là mê... Nay biết rõ, thời con “tịnh ý này”!... 

- Ý này làm sao tịnh nó?

Bản lai không động nên chẳng cần tịnh!... 

- Vậy cái gì mới là ông? 

Con chính là cái thường ạ. Thưa Lão Sư!... 

Lý Tứ cười ha hả rồi nói: 

- Như Thể Lão Đệ!... Lão Đệ thấy rồi chứ? 

Thưa!... Con đã thấy rồi!... 

-Nó giống cái gì? Nó chẳng giống cái gì... nhưng nó lại giống cái... xa xưa!... 

- Ha ha ha ha!... Một phen Lão Đệ thấy được... từ đây vĩnh viễn hết thối chuyển!... 

Chúc mừng Lão Đệ... 

-Lão đệ đã đọc kinh Viên Giác chưa? 

Thưa Lão Sư!... Con đã đọc rồi... 

- Kinh Viên Giác nói gì? 

Nói rằng: “Hoa đốm hiện trong hư không nhưng chẳng thể làm ngại hư không và hư không cũng không sinh ra hoa đốm.” 

- Làm thế nào để diệt hoa đốm kia? 

Dứt mê hoa đốm tự diệt... Thấy được chân ngã, ngã hư dối tự mất!... Nếu cố diệt hoặc tìm cách diệt sẽ rơi vào bốn bịnh!... 

- Khi hoa đốm diệt, hoa đốm đi đâu? 

Như người nhặm mắt, mắt hết nhặm quầng đèn tự mất!... 

- Quầng đèn của ông đã mất chưa? 

Cho dù còn, quầng đèn cũng không ảnh hưởng được con... Vì con tự biết: “Đèn kia bản lai không quầng”. 

- Ha ha ha ha!... Như Thể!... Ông làm cho tôi cao hứng... Ha ha ha ha!... 

“Đã bấy lâu nay tìm kiếm khách...

Bao lần lá rụng với cành trơ!...

Một lần chợt thấy hoa đào nở...

Trong dạ từ nay hết chữ ngờ!...” 

- Bài thơ không biết của ai mà lại đúng trong hoàn cảnh này... Ha ha ha ha!... 

Như Thể!... Ông hãy dùng cái không hộ trì mà hộ trì... Hãy dùng cái không tu tập mà tu tập!... 

Đa tạ Lão Sư đã chỉ điểm “cái không thể chỉ”cho con!...

(còn nữa)

Tác Phẩm Lý Tứ

Thế Nào Là Giải Thoát, Thế Nào Là Bất Động?

Quản trị viên 16.02.2022
TP.28. Thế Nào Là Giải Thoát, Thế Nào Là Bất Động?

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Như Bổn Mạt đứng dậy, cung tay chào mọi người, hướng về Lý Tứ và nói: 

Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Sau mấy ngày nghiền ngẫm ý nghĩa Diệt và Đạo Đế, sau những trăn trở về thế nào là Giải Thoát Bất Động, đệ tử nhìn lại tâm mình, nhìn lại những gì mình gặt hái được qua những lần nói chuyện của Lão Sư. 

Đồ đệ nghiệm ra, trước đây nhân nghe những gì Lão Sư nói, nhờ hiểu biết, nhờ lắng nghe, nhờ ứng dụng những điều đã được nghe nói vào đời sống, trong lòng đồ đệ cảm thấy an ổn thanh tịnh... Điều này cũng từng được Lão Sư khen ngợi trước mọi người. 

Nhưng rồi, khi nghe tuyên nói ý nghĩa Giải Thoát Bất Động, nghe Lão Sư giảng giải ý nghĩa Diệt Đế và Đạo Đế... Đệ tử lần này nhìn lại mình. Đệ tử phát hiện ra rằng, giống như những gì Lão Sư đã nói... Đâu đó trong lòng đệ tử vẫn còn những nghĩ suy mông lung... Và rồi tâm của đệ tử không thể tách rời khỏi giác. 

Giác và tâm tạm thời làm nhân cho nhau để có được một chút an bình... Đệ tử biết rằng cái biết của mình là cái biết của giác, cái thanh tịnh của mình là hệ quả do giác làm ra... Mà những gì có được do bởi thứ khác làm ra đều là vô thường, vô thường bởi nó là hữu vi pháp. 

Chính sự thanh tịnh trong ý nghĩa vô thường này, nên tâm của đồ đệ có khi dao động, có khi thụ động, có khi biếng nhác... Nói chung một chút an lành của giác đồ đệ cảm thấy chưa phải là cứu cánh, chưa phải là mục tiêu cuối cùng... 

Lúc đầu, mới thấy được tâm này, con rất phấn khởi, được Lão Sư khen ngợi... và tạm bằng lòng!... Nhưng qua những bước triển khai tiếp theo về mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh, con nhận ra được lỗ hổng trong tâm của chính mình... Nhận ra cái vô thường của nguồn tâm hãy còn, nhận ra trí này đang bị giác bao phủ... Nó giống như người mù đã được sáng mắt nhưng hãy còn ở trong bóng tối... Tâm có được chút thanh tịnh, có chút không phiền não... nhưng đồ đệ cảm nhận rằng bóng dáng phiền não còn lẩn khuất đâu đây... Nó đang chờ cơ hội bất giác sẽ chiếm lấy nguồn tâm... Nó như kẻ thù trong bóng tối... chực chờ một chút sơ hở là lập tức bắt ngay lấy thân tâm này giao cho phiền não. 

Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Con cảm thấy mình hạ liệt, con cảm thấy mình là một hàng binh, con cảm thấy mình như gã cùng tử được no đủ bởi chút cơm thừa của người bố thí... 

Và con cũng thấy mình là kẻ phản bội, không dám từ bỏ bát cơm thừa để nhận những gì cao quý. Con biết rằng bằng lòng với một chút thanh tịnh có được do hiểu biết này là phản bội tâm huyết của Lão Sư, phản bội nỗ lực của các huynh đệ... 

Sau mấy ngày trăn trở, nhìn các huynh đệ đặt gánh nặng xuống, nhìn sự quở trách âm thầm của Lão Sư... Con tự ngồi xuống. Ngồi xuống với quyết tâm cao nhất... Con đã học từ tấm gương Thế Tôn... Chưa thấy được vấn đề quyết không đứng dậy... 

Cho đến đêm hôm, trong cái mệt mỏi của những nỗ lực, trong tuyệt vọng của chính cái giác âm thầm tồn tại trong con... 

Con chợt nhớ câu nói lâu rồi của Lão Sư, đó là: “Nhất tâm để dừng hiện nghiệp”. Con nghiền ngẫm câu nói này, và lần này con thấu suốt ý nghĩa của “Nhất tâm như ý túc”. 

Con quán lại duyên thấy nghe... Con bằng lòng bỏ các duyên thấy nghe xuống... Con quán nhân duyên sanh tâm... Con bằng lòng từ bỏ cả mê lẫn giác... Con quán các pháp... Con thấy các pháp lặng lẽ trôi qua trước mắt mình như dòng nước chảy qua cây cầu... Con quán lại tâm này… Thấy tâm này tự nó dừng lặng...

Một lần nữa, trong tư thế dừng lặng như vậy, con thấy lưu chú âm thầm lặng lẽ vượt qua trong con như đoàn người lũ lượt đi trên một con đường, con với họ không hề có mối liên hệ nào... 

Cứ thế con lặng lẽ quán sát... Bất chợt ý nghĩa câu kinh hiện lên trong con: “Các pháp, không không, lặng lẽ, tàn tạ, niệm niệm sanh diệt”. Thưa Lão Sư!... 

Con hoát nhiên thấy được “Tâm này bản lai bất động, trí này bản lai chưa từng bị cột trói”. Cộng nghiệp, biệt nghiệp... con thấy rõ nó chỉ là danh tự... Tâm này chỉ là danh tự... Pháp kia cũng chỉ là danh tự... Thế giới cho dù có động lay nhưng tâm này vĩnh viễn bất động... Các pháp cho dù có hay không, trí này vẫn tuyệt nhiên tự tại... 

Khi con sống trong những thấy biết như vậy, thưa Lão Sư!... Các thiền chi lại khởi lên trong con... Lần lượt các tam muội hiện rõ... Lúc đầu tập khí giác quán hiện khởi, con quở trách tập khí này, con quyết liệt với chính nó... Chính nhờ quyết liệt này mà trí quán tịch diệt... nhưng một chút cảm nhận và tư duy hãy còn... 

Con tiếp tục quyết liệt với chính mình. Hùng tâm khởi lên, nó mạnh mẽ đến nỗi toàn thân tâm của con bỗng dưng biến mất… chỉ còn cái biết bản nhiên... Cái biết này không hề bị ràng buộc hay chi phối bởi thứ gì trên đời... Nó hoàn toàn độc lập... Con chợt hiểu ra thế nào là giải thoát... Con đem trí này nhìn lại nguồn tâm, thì ý nghĩa bất động hiện rõ trước mắt... Con nhìn nó như nhìn một vật trong lòng bàn tay... Bây giờ con thấu hiểu triệt để ý nghĩa giải thoát bất động... Rồi con tự cười mình... Đúng là xưa nay hết mê đến giác... như con tằm nhả tơ tự trói... 

Thưa Lão Sư!... Con đã hiểu, con đã thấy, và con thật biết thế nào là giải thoát, thế nào là bất động... Con cũng hiểu thật rõ ý nghĩa độc cư thiền định… Con thấu suốt cả câu nói của ngài Duy Ma Cật nói với Xá Lợi Phất: 

“Thưa ngài Xá Lợi Phất, đâu phải ngồi một mình nơi thanh vắng mới gọi là yên... mà yên là nơi ba cõi tự yên... tứ oai nghi đều yên mới chân thật yên”. 

Con nghiệm ra độc cư thiền định trong ý nghĩa này là ý nghĩa của giải thoát bất động. Thấy được giải thoát bất động chính là cứu cánh của nghĩa yên... 

Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Con thật sự vui mừng những gì mình chân thật thấy, những gì mình chân thật biết... Lão Sư vẫn thường hay nói: 

“Giải thoát bất động là thấy rõ biết rõ... Nó là cảnh giới thực chứng chứ không phải suy luận... Nó ra ngoài mọi kiến giải ngữ ngôn”.

Đúng là Thế Tôn vẫn thường ví dụ về sự thấy biết này bằng câu nói: “Như xem trái A Ma Lặc trong lòng bàn tay”. Con đã thấy những gì cần thấy trong lòng bàn tay của mình… 

Con nghiệm ra: Giải thoát bất động chính là Đạo Đế, Đạo này lấy Đạo làm Đế... Thưa Lão Sư!... Những thấy biết của con như vậy đã hoàn toàn đúng chưa? Thấy biết như vậy có hoàn toàn chính xác không? Xin Lão Sư từ bi chỉ dạy... 

Lý Tứ hướng về Như Bổn Mạt nghiêm giọng: “Xin chúc mừng Lão Ca... Xin chúc mừng, một chân Lão Ca đã đặt vào cửa ngõ bất động...”. 

Như Bổn Mạt Lão Ca!... Vì sao tôi nói một chân đặt vào bất động... Giống như người ta ném hòn sỏi xuống hồ nước... hòn sỏi làm hồ nước nổi sóng... Hòn sỏi đã chìm, nhưng những gợn sóng không vì thế mà ngay lập tức lặng dứt... Thì cũng vậy, Lão Ca!... Cái Lão Ca thấy hoàn toàn đúng, cái Lão Ca biết không hề sai... 

Nhưng những đợt sóng còn sót lại của hồ tâm hãy còn... Đừng ném vào cái hồ kia một hòn sỏi nào nữa... Đợi giây lát sau, các con sóng sẽ yếu dần và mất hẳn... 

Thưa các vị!... Giải thoát bất động là như thế... Diệt Đế và Đạo Đế là như thế... Trí như ngọn đèn sáng, tâm như bầu trời xanh... Trí này sáng không ngăn ngại, tâm kia chẳng có áng mây... Tất cả đồng mất hút vào hư không... Chỉ có những ai một lần tự thấy thì vạn kiếp chẳng thể quên... 

Các vị!... Đã đến lúc chúng ta quyết liệt với chính mình, đã đến lúc bỏ cái hạ liệt của gã cùng tử, đã đến lúc không khoan nhượng với những suy luận phải quấy đúng sai... Cái gì là đúng, cái gì là sai... 

Cái gì là thế pháp, cái gì là Phật pháp? Các bạn thử nói đi... Còn một chút pháp nào phát ra từ tâm trí các bạn, phải lập tức biết chắc rằng nó là hư vọng... Các bạn!... Nó chính là ngón tay Thế Tôn nói trong kinh Viên Giác... Hãy từ bỏ những kiến giải về ngón tay để cho tâm trí rảnh rang mà hướng về mặt trăng chơn thiệt... 

Các bạn!... Ba thứ tam muội các bạn phải vượt qua, một cái có giác có quán, một cái có giác không quán và cái cuối cùng không giác không quán... 

Không giác không quán là cửa ngõ vào bất động giải thoát... Dứt giác quán, thiệt trí sẽ hiện, thiệt trí hiện bất động tâm hiện... Hai thứ này hiện rõ trong một hành giả như các bạn nhìn thấy bình hoa trước mắt... Kinh gọi điều này là “Như cái thấy mà thấy, như cái biết mà biết”... Chứ không như cái bị thấy mà thấy, không như cái bị biết mà biết... 

Nói văn hoa hơn là: “Như thị kiến, như thị tri”. 

Mọi bí mật đều ở chỗ này, mọi thấu suốt cũng ở chỗ này... Vào đó một lần, mới biết lời Như Lai chính là chân ngữ... 

Các vị!... Một lần vào đây, các vị sẽ có được ngọn đèn sáng soi vào kinh điển... Lời Phật là chơn ngữ, muốn hiểu nó phải lấy chân tâm mà hiểu. 

Lời Phật là thiệt ngôn, hãy lấy thiệt trí mà soi rọi... Các vị tự soi vào tâm này, bức tượng tự tâm sẽ lần lần hiện rõ trước mắt các bạn. Khi rọi ra ngoài, các bạn sẽ thấy những gì che chướng tâm người... 

Mọi thứ rồi sẽ minh bạch dưới ngọn đèn trí tuệ... 

Các vị!... Sáng hôm này, buổi sáng của hoa Ưu Đàm... Như Bổn Mạt Lão Huynh, từ đây Lão Huynh mới biết rằng mình chính là Phật Tử... 

Mọi nghi ngờ, mọi thắc mắc của Lão Huynh sẽ không còn nữa... Thấy được rồi, như con hương tượng, cứ thẳng tiến vào rừng Đại Giác, không còn gì ngăn trở được Lão Huynh... Phật dạy: 

“Cuộc đời như một Đại dương, không ai khác hơn các ông, hãy tự làm hòn đảo, nơi nương tựa cho chính mình và hãy tự mình đốt đuốc lên mà đi”. 

Chắc bây giờ huynh thấm thía với ý nghĩa của câu nói này chứ!... 

Các vị!... Chúng ta có một buổi sáng thật đẹp... Trong đời lý Tứ mọi thứ xấu đẹp của thế gian không còn ý nghĩa... Cái đẹp của bây giờ, cái đẹp của chúng ta chính là nụ hoa Ưu Đàm đã nở... Với tôi, đây là cái đẹp nhất trong mọi cái đẹp... 

“Như mây bay trên trời,

Không đẹp cũng không xấu...

Cái người trí cần tìm,

Cái đẹp trong cái đẹp.” 

Xin chúc mừng Lão Huynh!... Chúc mừng các bằng hữu!...

(còn nữa) 

Tác Phẩm Lý Tứ

Kinh THÍ DỤ LÕI CÂY Và Đời Sống Tu Hành. Duy Tuệ Thị Nghiệp.

Quản trị viên 16.02.2022
TP.27. Kinh THÍ DỤ LÕI CÂY Và Đời Sống Tu Hành. Duy Tuệ Thị Nghiệp.

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Hai ngày sau, khi mọi người quây quần trở lại, Lý Tứ nói: 

Thưa các vị!... Hai ngày trôi qua, đây không phải là khoảng thời gian dài... Nhưng có lẽ, thời gian này cũng đủ để các vị đọc tụng và tư duy ý nghĩa hai bài kinh mà tôi đã giới thiệu đến các vị... 

Hai bài kinh tôi giới thiệu, có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống tu hành... Một bài có tên là “Tiểu Kinh Thí Dụ Lõi Cây” và một bài có tên là “Đại Kinh Thí Dụ Lõi Cây”... 

Hai bài kinh trên, xét về ý nghĩa chẳng khác nhau là mấy. Thật ra tôi không biết ai là người đặt tên cho hai bài kinh... Không biết có phải hai cái tên này do Thế Tôn tuyên nói, hay Cổ Đức đã đặt... 

Nhưng theo thiển ý của tôi, cho dù ai là người đặt tên không quan trọng... Cái quan trọng ở đây là hoàn cảnh, nhân duyên ra đời của hai bài kinh. 

Có thể nói một bài có tên là Đại Kinh và một bài có tên là Tiểu Kinh ẩn chứa nhiều điều thú vị... 

Bài Tiểu Kinh, ra đời trong bối cảnh, có vị Bà La Môn hỏi Phật về ý nghĩa của một số vị có tiếng tăm, có danh vọng... được xưng là Nhất Thiết Trí và không được xưng là Nhất Thiết Trí... đã lãnh đạo hội chúng của mình... 

Những lời trong kinh, Phật tuyên nói như một nhắc nhở: “Đối với những ai dấn thân tu hành, không nên quá chú trọng đến danh vị của người lãnh đạo”. 

Ở đây Phật ngầm chỉ ra, chẳng phải vì danh xưng là Nhất Thiết Trí hay chẳng phải Nhất Thiết Trí mới là đạo sư đích thực. Cái cần của đạo sư là làm được công việc đưa mình và người đến giải thoát bất động. Bất kỳ ai làm được điều này, mới là cơ sở đáng tin cậy để người tu hành chọn lựa đi theo... Và bài kinh cũng nhắc nhở rằng, người tu hành không dừng lại ở những quả vị trung gian, vì những quả vị đó chưa phải là mục tiêu cuối cùng. Và tâm giải thoát bất động mới chính là mục đích của phạm hạnh này... 

Các vị!... Điều này có ý nghĩa như thế nào? Bài kinh nói rằng, những ai dấn thân tu hành phải có sự lựa chọn thích đáng đối với vị đạo sư và hãy coi lại những tiếng tăm của họ... 

Đây cũng là định hướng cho tự thân mỗi người, nêu ra những cột mốc, vẽ lên những cung đường... mà hành giả phải trải qua, và chỉ ra đâu là mục tiêu cuối cùng... Nếu các bạn tư duy thật kỹ ý nghĩa bài kinh trên, sẽ thấy toàn bộ hành trình phải đi và những gì cần trải qua trong một giai đoạn nhất định... Vì thế bài kinh có tên là Tiểu Kinh Thí Dụ Lõi Cây... 

Chữ Tiểu Kinh, hàm ý chỉ ra chọn lựa tốt nhất để tự cứu bản thân... 

“Như vậy, này Bà-la-môn, phạm hạnh này không phải vì lợi ích, lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng, không phải vì lợi ích thành tựu giới đức, không phải vì lợi ích thành tựu Thiền định, không phải vì lợi ích tri kiến. Và này Bà-la-môn, tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây của phạm hạnh, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh. 

Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Pingalakoccha bạch Thế Tôn: 

– Thật vi diệu thay, Tôn Giả Gotama!... Thật vi diệu thay, Tôn Giả Gotama!... Tôn Giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh Pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày. Và nay con xin quy y Tôn Giả Gotama, quy y Pháp, quy y Tỳ - kheo Tăng. Mong Tôn Giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng...” 

Các bạn!... Ta lại tiếp tục xem xét ý nghĩa của bài Đại Kinh. 

Bài Đại Kinh ra đời trong hoàn cảnh Đề Bà Đạt Đa phá hòa hợp Tăng, đem 500 vị Tỳ Kheo đi Gayàsisa, và Thế Tôn không chấp nhận cho Devadatta lãnh đạo hội chúng Tỳ - kheo. 

Đức Phật đã từ chối điều này với lời nhắn nhủ thông qua bài kinh “Đại Kinh Thí Dụ Lõi Cây”…Nội dung bài kinh này nhằm đưa ra thông điệp cho Đề Bà Đạt Đa, cho 500 Tỳ Kheo đi theo và những người còn ở lại sống đời sống phạm hạnh dưới chân Thế Tôn rằng: 

“Tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh, là lõi cây, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh”. 

Và bài Đại kinh có thêm ý nghĩa: “Phi thời giải thoát là giải thoát tuyệt đối”... Thông điệp đã nêu, có ý nghĩa rằng: Vấn đề ở đây không phải là được lãnh đạo hội chúng, mà cốt tủy của lãnh đạo hội chúng là khả năng đưa người đến mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh, và cái đích của tự thân người tu hành phải đạt được là “Phi thời giải thoát”...

Xét về năng lực của một lãnh đạo, thì Đề Bà Đạt Đa chưa đủ năng lực dắt người đến mục tiêu cuối cùng vì tự thân chưa thành tựu... Nếu Đề Bà Đạt Đa đã thành tựu thì sẽ không có những tham vọng kỳ khôi này trong một nguồn tâm bất động... 

Ý nghĩa thứ hai của thông điệp nhằm gởi đến cho 500 vị Tỳ Kheo lỡ nghe lời Đề Bà Đạt Đa rằng: Cho dù theo ai cũng không quan trọng, vấn đề ở đây là: Phải đạt được mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh... Có lẽ do sức từ bi của Phật, mà sau đó 500 vị này quay về với Thế Tôn... 

Ý nghĩa thứ ba, thông điệp nhằm gởi đến cho những người ở lại rằng, tự tu và hướng dẫn người tu hành không được rời xa mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh như đã nêu... 

Chính ba ý nghĩa trên làm nên cái thú vị của bài kinh khi có tựa đề “Đại Kinh Thí Dụ Lõi Cây”... 

Tiểu kinh đưa đến nhận thức chín chắn về sự chọn lựa đạo sư và con đường tự thân phải đi... 

Đại Kinh định ra năng lực của lãnh đạo và đây được coi là cương lĩnh của phạm hạnh... 

Các vị!... Hai chữ Tiểu và Đại của hai bài kinh nhắc nhở chúng ta rất nhiều về những gì cần làm của tự thân và những gì cần có trong công hạnh của mình... 

Các bạn!... Nếu chúng ta để tâm một chút, mọi người sẽ thấy hai bài kinh thoạt nhìn rất giống nhau. Nhưng tìm hiểu kỹ thì sẽ thấy rằng bài “Tiểu Kinh” chỉ nói đến “Giải thoát bất động” là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh... 

Bài “Đại Kinh” lại đưa thêm một tiêu chí cao hơn đó là: “Phi thời giải thoát, có nghĩa giải thoát tuyệt đối”. 

Như vậy, thưa các bạn!... Giải thoát bất động và phi thời giải thoát khác nhau chỗ nào. Vì sao nói rằng phi thời giải thoát là tiêu chí cao hơn? 

Chắc các bạn còn nhớ, trước đây tôi có đề cập đến: “Giác là Đế của Tập và Ngộ là Đế của Diệt”. Nhân sự kiện này, tôi xin đào sâu thêm ý nghĩa của hai vấn đề này... 

  • Giác là Đế của Tập... Có ý nghĩa rằng: Giác chỉ có giá trị dừng Tập, tức Giác là khắc tinh của phiền não, nhưng lại có giới hạn của nó... Điều này có nghĩa, khi người tu hành khởi Giác thì tập nhân và phiền não dừng lặng, ngược lại hành giả quên Giác thì tập nhân và phiền não sẽ hiện... Sự tình này ta có thể tạm hiểu đó là “thời giải thoát”. 

“Thời giải thoát”… Có nghĩa giải thoát này có thời gian, có chừng ngằn, có hạn lượng... cũng có thể hiểu nó là “sát na giải thoát”. Vì thế, trong tình huống này, giải thoát và bất động là không tuyệt đối... Cho nên tôi thường khuyên các bạn không dừng ở “Giác” mà phải tiến sâu hơn đó là “Ngộ”... Chỉ có “Ngộ” mới giải quyết rốt ráo vấn đề... 

  • Ngộ là Đế của Diệt... Có nghĩa phải dừng Giác và thấy cho được Bất Động tâm... Thấy được Bất Động tâm chúng ta tạm gọi là Ngộ... Một khi thấy được tâm này, vị tu hành sẽ vào thẳng Diệt Đế, tức là hoàn toàn Bất Động hoàn toàn giải thoát... 

Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, người thấy trọn vẹn tâm này sẽ không bị động lay bởi nội pháp hay ngoại pháp, không bị động lay bởi nội duyên hay ngoại duyên, không bị động lay bởi nội sắc hay ngoại sắc... Sự thường hằng của tâm này gọi là “Phi thời giải thoát”, tức là sự giải thoát Bất động tuyệt đối... Điều này kinh cũng gọi là “Phi sát na”... Có thể hiểu: “Phi sát na” là thường vậy!... Các bạn!... Ngộ chính là: “Như thị kiến, như thị tri”. 

Điều thú vị khác của hai bài kinh là: Đức Phật không nói giải thoát bất động hay phi thời giải thoát là “Mục tiêu cuối cùng của giáo pháp này”... Mà ở đây chỉ nói nó là: “Mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh”. Điều này nói lên ý nghĩa gì? 

Mục tiêu của phạm hạnh đến giai đoạn này coi như đã hoàn tất, đã đạt yêu cầu... Nhưng giáo pháp, thì hãy còn rất nhiều, giáo pháp hãy còn rất xa... 

Con đường của một vị tu hành chưa phải dừng lại ở đây... Giai đoạn này chỉ mới thỏa mãn đời sống phạm hạnh... như người thợ điêu khắc“ biết đem được khúc lõi cây từ rừng về”. Nhưng rồi tiếp theo họ làm gì với khúc lõi cây kia? 

Tất nhiên, còn nhiều việc phải làm, còn nhiều điều phải học... Việc phải học đó là cách xử lý lõi cây, công việc phải làm là biến lõi cây trở thành vật dụng có ích cho đời sống... Nó giống như người thợ điêu khắc, sau khi học xong nghề điêu khắc, cái tiếp theo là phải: “Xắn tay áo làm công việc của mình…” 

Điều này trong kinh Pháp Hoa Phật minh định rất rõ: 

“Đại sự nhân duyên Phật ra đời là khai thị, ngộ nhập Phật tri kiến... cho người tu hành”, tức là dạy cho người tu hành thành Phật chứ không dừng lại ở cửa ngõ “Giải thoát bất động”... 

Các vị!... Đề Bà Đạt Đa nhầm lẫn khi đòi hỏi “Lãnh đạo hội chúng”... Điều này đã là quá đối với năng lực của một người như Đề Bà Đạt Đa... 

Nhưng cái còn lại là: “Lãnh đạo giáo pháp” thì như thế nào đây? Hội chúng tồn tại trên nền tảng giáo pháp mà!... Đây lại là điều mà Đề Bà Đạt Đa không nghĩ đến... Tất nhiên “Lãnh đạo giáo pháp” là việc mà: Muôn ngàn lần Đề Bà Đạt Đa không làm nổi, kể cả những người đương thời nếu Phật không thọ ký thì chẳng thể đảm đương... 

Các vị!... Trên đây chỉ là những gợi ý nhỏ về hai bài kinh. Các vị hãy tư duy thật nhiều về hai bài kinh này, nghiền ngẫm từng chữ từng câu nhất định sẽ tìm thấy nhiều thú vị trong đó... 

⁎ Các vị!... Tôi cũng từng nghe có người nói rằng: “Tứ Diệu Đế lẽ ra Đạo Đế có trước và Diệt Đế đi sau, vì rằng Đạo Đế làm nên Diệt Đế...”. 

Thưa các vị hiểu như vậy chúng ta không bàn chuyện đúng sai... vì bởi các pháp tự nó không có đúng sai. Nhưng thưa các bằng hữu!... 

⁎ Nếu ai đã từng giác ngộ thì chắc rằng không nói như vậy, và Thế Tôn cũng không nói như vậy... Phật có dạy trong kinh: “Tứ Đế như một cái thang, muốn leo lên nấc thứ nhì phải bước qua nấc thứ nhất... Nếu muốn đến nấc thứ tư phải bước qua ba nấc trước... không thể nói ngược…”. 

Các bạn!... Ai đã từng ngộ Diệt mới biết thế nào là Đạo... Giống như một người có làm quan mới biết được “đạo làm quan”... Có chứng Diệt mới biết Đạo... Vì rằng chữ Đạo ở đây là đời sống bậc thánh... Đạo này chính là kết quả của Diệt... 

Xin nói thêm, bốn đế rốt cùng chỉ còn một đế, đó là Đạo Đế... 

Đạo này nương tựa trên Đế mà tồn tại... Và cuối cùng rồi bốn đế cũng trở về với hư không, trở về hư không gọi là “Vô Khổ, Tập, Diệt, Đạo”... 

Vô Khổ, Tập, Diệt, Đạo là Đế của Đạo vậy... xin các vị hiểu cho... Cho đến Đế kia cũng mất luôn chức năng nâng đỡ của nó. 

֎Phật Đạo có còn chăng chỉ là: “Duy Tuệ Thị Nghiệp”... 

Lý Tứ nói tiếp: 

Thưa các bạn!... Gần nửa tháng, chúng ta chia sẻ nhiều với nhau về ý nghĩa của Tứ Đế, và cũng đủ thời gian để nghiền ngẫm hai bài kinh. Có thể nói, hai bài kinh mà tôi giới thiệu đến các bạn là lời đúc kết thiết thực nhất về Tứ Đế, như lời Thế Tôn đã dạy: “Đây là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh”. 

Có nghĩa rằng, hãy biến những hiểu biết của mình thành hiện thực. Chúng ta không nên nói suông, chúng ta cũng không sống trên những lý luận, mà hãy sống bằng những gì cụ thể nhất của phạm hạnh... 

Để xác định một lần nữa thế nào là giải thoát bất động, tôi xin trình bày thiển ý của mình... Các bạn cố lắng nghe và ghi nhớ!... Hãy nghe cho kỹ và nắm vững những gì tôi nói!... Có nắm vững vấn đề khi thực hành mới đạt kết quả cao nhất... Các bạn!... 

  • Thế nào là giải thoát, thế nào là bất động? Cái gì cần giải thoát và cái gì sẽ bất động... Đây là những điều trọng đại, đây là hiểu biết cần có, đây là sự minh bạch tối thiểu... Một khi hiểu rõ, không nhầm lẫn, với quyết tâm của mình, nhất định người tu hành sẽ đạt được mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh... Bây giờ, tôi xin được trình bày vấn đề này: 

Giải thoát là gì? Thưa các bạn!... Theo quan niệm Phật Giáo, một chúng sanh khi xuất hiện ở cõi đời này là do kết quả của Vô Minh, Ái và Nghiệp làm nên... Khi bị vô minh trói cột, Phật đạo gọi đó là mê... Khi mê, trí tuệ của chúng sanh này bị mê lầm bao phủ, giống như người ta dùng tấm giấy màu đen bao phủ cái đèn, hay giống như một người mang cặp mắt kính màu đen... Do người này mang mắt kính màu đen nên những gì vị này thấy đều có màu đen... Vì thế vị này hiểu biết và diễn giải mọi thứ đã thấy đã biết trên ý nghĩa màu đen... 

Thì cũng vậy, khi trí tuệ của một chúng sanh đang bị màu đen vô minh bao phủ, chúng sanh này nhận thức tất cả thông qua lăng kính vô minh, gọi là sinh pháp, và sinh pháp trong ý nghĩa của vô minh gọi là pháp cấu... Pháp cấu sẽ cho ra một nguồn tâm cấu uế... pháp mê sẽ cho ra tâm mê... pháp không thật sẽ cho ra tâm hư vọng... Những thứ tâm này đều là kết quả của pháp kia, và hậu quả của nó là phiền não và sanh diệt... 

Tóm lại ta có thể hiểu: Trí tuệ bị cột trói bởi mê nên cho ra những nghĩ suy trong mê gọi là pháp cấu, và kết quả của nó là vị ấy sống trong một cái tâm hư vọng và chất chứa đầy phiền não sanh diệt... Giống như một người sống trong bóng tối, nghĩ suy hành động đều trong bóng tối và tâm hãi sợ những thứ không thật sẽ xuất hiện từ bóng tối... 

Để giúp chúng sanh dứt nỗi hãi sợ bởi những hiểu biết hư vọng kia, Phật giảng nói sự thật về nỗi hãi sợ đó, gọi là Giác... 

Giác là những gì giúp cho một chúng sanh đang mê hết mê... 

Nói chung đó là những gì của giáo pháp mà chúng ta đã biết... Nó chính là tri kiến về Phật pháp của các bạn... 

Sau khi có giác, vị chúng sanh này, giống như đã lột bỏ cái kính đeo mắt màu đen xuống, và mang lên mình cặp kính màu vàng... Với cặp mắt màu vàng, vị chúng sanh này thấy rõ mọi vật hơn... Và hiểu biết, diễn nói tất cả thông qua cái thấy màu vàng... Với lăng kính của giác, vị này tương đối thấy rõ mọi vật... Bây giờ cái biết của vị này là cái biết màu vàng, suy nghĩ và nhìn nhận vấn đề bằng hình ảnh màu vàng. Vị này hết hãi sợ... Vị này nghĩ suy, hiểu biết, nói năng... trong tư thế người không còn hãi sợ, gọi là pháp tịnh... Pháp tịnh sẽ cho ra nguồn tâm thanh tịnh... 

Cái thanh tịnh mà các vị đang sở hữu, đang cảm nhận được và đang yên ổn trong đó... nó là kết quả của Giác!... 

Các vị!... Khi mê, bị mê trói buộc... Bây giờ hết mê lại bị giác trói cột... Trí tuệ của các vị từ bỏ thứ cột trói này để bị một thứ khác cột trói. Tuy rằng cột trói bằng sợi giây giác có êm ái hơn, có thanh tịnh hơn, có ít phiền não hơn, tần suất sinh diệt của tâm không nhiều... nhưng dù gì thì trí tuệ của các vị vẫn đang bị cột trói... Mà đã bị cột trói, cho dù cột trói bằng thứ gì đi nữa, thì không thể gọi là giải thoát... 

Để trí tuệ của mình giải thoát hoàn toàn... Công việc trước mắt, công việc ngay bây giờ của các bạn là hãy cởi bỏ luôn sợi dây Giác đang nhẹ nhàng cột trói chính mình... Nói rằng nó nhẹ nhàng, nhưng nếu không biết bỏ xuống, thì nó lại là sợi dây cột trói các bạn vững chắc hơn bất kỳ sự cột trói nào trên đời... Vì rằng, người ta sẵn sàng từ bỏ một đồng xu vô minh, nhưng rất khó sẵn sàng từ bỏ một ký vàng giác ngộ... Giác nó quý như vàng ròng, nhưng nó cũng là xích xiềng cột chặt các vị không cho các vị thõng tay vào vùng giải thoát... 

Các bạn!... Giải thoát mà Phật nêu trong bài kinh chính là trí tuệ hoàn toàn giải thoát. Khi trí tuệ thảnh thơi hoàn toàn không bị cột trói cho dù mê hay giác... thì hiệu ứng tức thời của nó là cho bạn một nguồn tâm hoàn toàn bất động... một nguồn tâm hoàn toàn trong sáng... Trí không bị che chướng như mặt trời không bị mây che, tâm giống như quả đất đang được soi sáng bởi ánh sáng mặt trời... Mọi đen tối của bóng đêm hoàn toàn tan biến... Thì nhất định người có mắt và có trí sẽ thấy những gì cần thấy và thấy minh bạch bằng chính cái thấy của mình... 

Thấy như vậy, Phật giáo gọi là: “Tự giác thánh trí” hay “Thánh trí tự chứng”... Có nghĩa rằng, giác này là tự giác chứ chẳng phải tha giác... Tự giác là thấy rõ mà không thông qua bởi một sự trợ giúp nào hết... Tha giác là hiểu biết nhờ bởi một cái gì đó... Một người thấy rõ mà không thông qua sự trợ giúp của mê, không thông qua sự trợ giúp của giác... gọi là tự giác... Cái hiểu như vậy, được Phật đạo mệnh danh là cái hiểu bậc Thánh. Cái biết như vậy Phật đạo mệnh danh là cái biết bậc Thánh... Để miêu tả sự thấy biết trọn vẹn này, Phật gọi là: “Tự giác thánh trí”. 

Thưa các bằng hữu!... Mê như bệnh, giác như thuốc... Hết bệnh thì thuốc trở thành vô dụng... Mê cho ra tâm hư vọng, giác cho ra tâm thanh tịnh... Hết mê hết giác sẽ cho ra nguồn tâm bất động... 

- Giải thoát là nói đến trí này hoàn toàn không còn mê không còn giác... 

- Bất động là nói tâm này hoàn toàn không tịnh cũng chẳng bất tịnh... 

Vì thế, thông điệp cuối cùng Phật đưa ra cho mỗi chúng ta là để thành tựu tốt nhất phạm hạnh này, hãy tự giải quyết để có một trí giải thoát và một tâm bất động... “Bất cấu bất tịnh...” là hình ảnh kinh mô tả trí này vậy!... 

Giải thoát bất động, thưa các bạn!... Đây là những việc cần làm ngay bây giờ... Giải thoát bất động là thực chứng chứ không phải kiến giải... Giải thoát bất động là hiện thực của đời sống tu hành chứ không phải những lý luận hoặc nghĩ suy... Vì thế, điều cần nhất bây giờ là các bạn hãy ngồi xuống, hãy biến lời dạy của Thế Tôn thành hiện thực... Và với hiện thực này, các bạn sẽ có một sự thấy biết hoàn toàn độc lập gần giống với “Tự Nhiên Trí”... 

Bất động tâm là Phật tâm, giải thoát trí là Phật trí... Có hai món này là có hạt giống Vô Thượng Bồ Đề... Thành tựu mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh chính là thành tựu “Căn bản trí”... 

Thành tựu hai món này, người xưa gọi là thành tựu “Hai Vô Ngã”... Tên gọi thì có khác, nhưng thực chất vấn đề chỉ là một... Con đường trước mắt còn rất dài... Thành tựu phạm hạnh rồi mới thành tựu Phật hạnh... Giống như mảnh đất chưa được xử lý sạch sẽ rốt ráo, chưa hoàn toàn sạch mầm cỏ dại... thì công việc gieo trồng trên mảnh đất này cực kỳ khó khăn và không hiệu quả... 

Mảnh đất tâm cũng vậy... Một khi chưa hết cỏ dại vô minh, chưa sạch những lưu tồn độc hại của thuốc diệt cỏ giác... nhất định chính ngay mảnh đất này sẽ hủy diệt mọi thứ cây cối được trồng tỉa trên đó... 

Các bạn!... Chúng ta có thể kết thúc câu chuyện về Diệt Đế và Đạo Đế... Kết thúc câu chuyện về Bất Động và Giải Thoát bằng câu nói của Lục Tổ Huệ Năng mà tôi được đọc qua: 

“Tâm như đất, tánh như vua...

Đất còn vua ở, đất mất vua đi”. 

Tâm Bất Động chính là đất, Trí (tánh) Giải Thoát chính là vua... Tâm Bất Động thì Trí Giải Thoát sẽ tồn tại... Tâm loạn động thì trí bị cột trói là điều tự nhiên... 

Giải Thoát Bất Động chính là Đạo Đế. Đây là nơi chốn mà một vị thánh trong Phật giáo phải đến, và nó cũng chính là bước khởi đầu, là bàn đạp để người tu hành tiến sâu hơn trong Đạo...

(còn nữa) 

Tác Phẩm Lý Tứ

Đại Kinh THÍ DỤ LÕI CÂY

Quản trị viên 16.02.2022
TP.26. Đại Kinh THÍ DỤ LÕI CÂY

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Và đây xin giới thiệu đến các bạn: 

֍ Đại Kinh THÍ DỤ LÕI CÂY 

Kinh này được Thế Tôn thuyết giảng khi xảy ra sự kiện Devadatta phá hòa hợp Tăng, đem 500 vị Tỷ - kheo đi Gayàsisa, vì Thế Tôn không chấp nhận cho Devadatta lãnh đạo hội chúng Tỷ - kheo. 

Đức Phật dạy có năm hạng người xuất gia sống Phạm hạnh cùng một tâm nguyện giải thoát khỏi khổ đau, vượt ngoài sự chi phối của sanh già chết: 

- Hạng thứ nhất khi xuất gia vị ấy được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Do được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng, vị ấy hoan hỷ, tự mãn. Do được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng, vị ấy khen mình chê người: “Ta được lợi dưỡng danh vọng như vậy, còn các Tỷ - kheo khác ít được biết đến, ít biết có uy quyền”. Vị ấy vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này trở thành mê say tham đắm phóng dật. Do sống phóng dật, nên vị ấy bị đau khổ. Ví như một người muốn được lõi cây, cầu tìm cõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây đứng trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, chặt cành lá, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: “Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Và người này không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu.” Vị Tỷ - kheo ấy được gọi là vị nắm lấy cành lá của Phạm hạnh. 

- Hạng thứ hai là hạng phát tâm xuất gia được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này khen mình chê người. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu giới đức. Do thành tựu giới đức này, vị ấy khen mình chê người: “Ta là người trì giới theo thiện pháp. Các Tỷ - kheo khác phá giới theo ác pháp”. Do thành tựu giới đức này, vị ấy trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ. Ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây, trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn đứng thẳng có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, chặt vỏ ngoài, lấy chúng mang đi tưởng đó là lõi cây, một người có mắt thấy vậy bèn nói: “Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá, người này bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, chặt lấy vỏ ngoài, lấy chúng mang đi, tưởng đó là lõi cây. Và người này không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu.” Cũng vậy, ở đây vị Tỷ - kheo do thành tựu giới đức này, vị ấy trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật vị ấy bị đau khổ. Vị Tỷ - kheo ấy là vị đã nắm lấy vỏ ngoài của Phạm hạnh. Và do vậy, vị ấy đã dừng lại ở đây. 

- Hạng thứ ba là các vị xuất gia với mục đích thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết. Vị ấy xuất gia như vậy, không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, khen mình chê người. Vị này không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, trở thành mê say tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu giới đức, vị ấy hoan hỷ, nhưng không tự mãn. Do thành tựu giới đức này, vị ấy không khen mình chê người, Do thành tựu giới đức này, vị ấy không trở thành mê say, tham đắm phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu Thiền định. Do thành tựu Thiền định này, vị ấy hoan hỷ tự mãn. Do thành tựu thiền định này vị ấy khen mình chê người: “Ta có Thiền định nhất tâm. Các vị Tỷ - kheo khác không thiền định, tâm bị phân tán”. Do thành tựu Thiền định này vị ấy trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ. 

Ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây, trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn đứng thẳng có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, chặt vỏ trong, lấy chúng mang đi, tưởng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: “Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, chặt lấy vỏ trong, lấy chúng mang đi, tưởng đó là lõi cây. Và người này không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu.” Như vậy vị ấy được gọi là vị Tỷ - kheo đã nắm giữ vỏ trong của Phạm hạnh, và do vậy vị ấy đã dừng lại ở đây. 

- Hạng thứ tư là hạng xuất gia với mục đích thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết. Vị ấy xuất gia như vậy được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này mà hoan hỷ tự mãn. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này mà khen mình chê người. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này mà trở thành mê say tham đắm phóng dật. Do sống không phóng dật vị ấy thành tựu giới đức. Do thành tựu giới đức vị ấy hoan hỷ, nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu giới đức này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu Thiền định. 

Do vị ấy thành tựu Thiền định nên hoan hỷ, nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu Thiền định này, khen mình chê người. Vị ấy không vì thành tựu Thiền định này trở thành mê say tham đắm phóng dật. Do không phóng dật vị ấy thành tựu tri kiến. Vị ấy vì tri kiến này trở nên hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy do tri kiến này, khen mình, chê người: “Ta sống, thấy và biết. Các Tỷ - kheo khác sống, không thấy và không biết”. Vị ấy, do tri kiến này, trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật vị ấy bị đau khổ. 

Ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, chặt giác cây mang đi, tưởng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: “Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, chặt giác cây và mang đi, tưởng đó là lõi cây. Và người ấy không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu”. 

Như vậy vị này được gọi là Tỷ - kheo đã nắm giữ giác cây của Phạm hạnh. Và do vậy, vị ấy đã dừng lại ở đây. 

- Hạng thứ năm là hạng xuất gia với lòng tin: “Ta bị chìm đắm trong vòng sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt”. Vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này khen mình, chê người. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu giới đức. Do thành tựu giới đức, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu giới đức này khen mình, chê người. Vị ấy không vì thành tựu giới đức này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu Thiền định. Vị ấy do thành tựu Thiền định này, hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không do thành tựu Thiền định này khen mình, chê người. Vị ấy không do thành tựu Thiền định này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu tri kiến. Do thành tựu tri kiến này, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu tri kiến này khen mình, chê người. Vị ấy không vì thành tựu tri kiến này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu phi thời giải thoát. 

Ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy chặt lõi cây, mang đi và biết đó là lõi cây. Một người có mắt thấy như vậy, có thể nói: “Người này biết lõi cây, biết giác cây, biết vỏ trong, biết vỏ ngoài, biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy chặt lõi cây, mang đi và tự biết đó là lõi cây. Và người ấy đạt được mục đích mà lõi cây có thể thực hiện”. Tâm giải thoát bất động chính là mục đích của Phạm hạnh, là lõi cây, là mục tiêu cuối cùng của Phạm hạnh. 

  • “Phi thời giải thoát”: Có nghĩa là giải thoát tuyệt đối. Devadatta chỉ nghĩ đến danh vọng lợi dưỡng nên muốn đức Phật nhường lại cho địa vị lãnh đạo hội chúng Tỷ - kheo. Và khi đức Phật từ chối, nên phá hòa hợp Tăng, lôi kéo 500 vị Tỷ - kheo cùng đi đến Gayàsesa với mình. 

Như vậy, Phạm hạnh này không phải vì lợi ích thành tựu lợi dưỡng, danh vọng, không phải vì lợi ích thành tựu giới đức, không phải vì lợi ích thành tựu Thiền định, không phải vì lợi ích thành tựu tri kiến. Chính tâm giải thoát bất động này là mục tiêu của Phạm hạnh. Đức Phật khuyên các Tỷ - kheo không nên dừng lại ở các quả vị trung gian vì đây chưa phải là mục đích cứu cánh của Phạm hạnh. 

Các bạn!... Các bạn hãy nghiền ngẫm tư duy hai bài kinh trên, nó sẽ giúp các bạn tìm được cho mình “lõi cây đích thực”. Có lõi cây mới có cái tượng... Bài kinh này có thể coi là tiêu biểu cho những gì của giáo pháp cơ bản... Nó sẽ giúp bạn định hướng cho mình, cho người...

(còn nữa)

Subscribe to