Tác Phẩm Lý Tứ

Thế Nào Là Tâm? Thế Nào Là Pháp?

Quản trị viên 03.01.2022
Thế Nào Là Tâm? Thế Nào Là Pháp?

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Hôm nay Lý Tứ mặc áo mới, quần mới, đi dép mới... Cả bọn Trung Nguyên Cửu Tuyệt và Lão lái đò gồm mười người, ai nấy quần áo cũng bảnh bao... Mười một người cùng nhau dắt xuống chiếc du thuyền được Trung Nguyên Cửu Tuyệt thuê của một khách điếm ở Giang Tây... Đây là loại du thuyền giong ruổi trên sông nước, nên không lớn lắm. Tuy vậy cũng đầy đủ các tiện nghi... Cũng gồm khoang nhà bếp, khoang chứa thực phẩm nước uống đủ dùng cho mười người trong nửa tháng lênh đênh. Có các phòng ngủ và một phòng khánh tiết, phòng này dùng để tiệc tùng và đàm luận... 

Phòng khánh tiết ở tầng trên con tàu, tương đối rộng cũng có đủ bàn ghế... Chung quanh là những cửa sổ lớn. Ngồi trong phòng, du khách có thể ngắm sông nước chung quanh, cần thiết ngắm trời đất bao la hoặc trăng sáng. Du khách có thể đẩy mui thuyền về phía sau và bầu trời xanh hiện ra bên trên... 

Có thể nói, du thuyền này thuộc hạng sang với các tiện nghi tối đa có được. Cả đoàn dự tính dùng du thuyền này xuôi về phương Nam, không tính thời gian, đến khi nào không muốn đi nữa thì sẽ quay về... 

Chiếc du thuyền lướt nhẹ trên sông... Mọi người tề tựu nơi phòng khánh tiết… Căn phòng được trang trí bởi những bức họa nổi tiếng từ các thời Hán Đường. Xen kẽ là những bức họa đương đại, kèm theo một vài bài thơ nổi tiếng của các thi nhân được viết theo lối thư pháp... Chiếc bàn tròn ở giữa, chung quanh cũng bày đúng mười hai cái ghế. Trên bàn là bình hoa tươi được cắm sẵn... Nhìn cách bài trí này, cái cũ và cái mới đan xen vào nhau ta có cảm giác đang sống trong một không gian đầy sức sống nhưng tĩnh lặng... 

Cái khéo của người cắm hoa là tuy mới nhìn, những bông hoa được cắm không theo một bố cục nhất định, nhưng để ý kỹ thì nó lại mang dáng dấp của nghệ thuật sắp đặt. Hoa chủ là một bông sen lớn, cao vút tinh khiết. Màu cánh sen nổi bật giữa khoảng không gian bao la... 

Phía dưới xa xa là một dãy xen kẽ những cúc vàng và mẫu đơn đỏ nằm nghiêng nghiêng như một vệt sáng đỏ vàng xiên thẳng vào hư vô…

Vệt sáng nghiêng nghiêng vàng đỏ làm tôn thêm oai nghiêm của đóa sen đơn độc trên cao... 

Miệng bình phía dưới cùng, được trang trí dày đặc vô số những hoa dại đủ màu cùng những chiếc lá xanh... Nhìn tổng thể bình hoa cứ tưởng như trước mặt là ngọn lửa rực cháy... nhưng nó lại toát lên cái cao hứng bay bổng hay một ý tưởng vượt thoát... Đỉnh cao là đóa sen, xa xa phía dưới là vệt sáng chênh chếch của mười đóa cúc vàng và mẫu đơn đỏ. Cuối cùng là một trời hoa dại nhô lên cao thấp không đều. Các đóa hoa dại dưới cùng nở xòe hướng lên trên như chờ đón cái tinh khiết của hương sen, cái cao cả đáng trân trọng của mẫu đơn và cái vô ưu của hoa cúc... Ba tầng riêng biệt của bình hoa được phân cách bởi những khoảng không như là dấu lặng. Người xem có cảm giác đây là cung bậc của một dòng nhạc... 

Lão Đại đứng dậy, cung hai tay xá mọi người rồi mỉm cười cất giọng: 

Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Chuyến du ngoạn không hạn định thời gian của chúng ta hôm nay, có rất nhiều ý nghĩa... Thứ nhất, đây là lần đầu tiên Lão Sư và mười đồ đệ của mình đi chung trên một chiếc thuyền trên danh nghĩa chính thức thầy trò sau buổi lễ hôm qua... Thứ hai, hành trình đầu tiên, chúng ta chủ ý chọn con thuyền làm phương tiện, lại đi trên dòng Ô Giang chứ không phải con sông nào khác, có một ý nghĩa đặc biệt... Thứ ba, nhân chuyến đi này, vừa thư giãn, vừa học tập. Xin Lão Sư nhân con thuyền này mà khai thị cho huynh đệ đạo lý... Lần này lão nói ngắn gọn không dài dòng nhưng có chút nghĩa lý. Nói rồi lão cung tay hướng về phía mọi người thủ lễ... 

Lão Trượng tiếp lời:

Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Nhà thuyền bài trí phòng này theo ý tưởng của Thất Muội và Lục Đệ... Các huynh đệ ở đây đóng góp mỗi người một tay... Chỉ mong chuyến đi này gặt hái được nhiều tốt đẹp... Lão nói đến đây, mở nắp đỉnh đồng nhỏ giữa bàn và châm lửa, một mùi thơm mát dịu từ khói đỉnh đồng tỏa ra... khiến cả căn phòng tràn ngập hương thơm... Đợi hương thơm tỏa khắp căn phòng lão tiếp: 

Hôm qua nhân lúc rỗi rảnh, thấy Thất Muội cắm bình hoa đẹp quá, bình hoa có đủ chất thơ nhạc họa, vừa đẹp vừa có hồn. Nhìn bình hoa mà đồ đệ thấy lòng thanh thản, bèn hỏi Thất Muội ý nghĩa của nó. Thất Muội có nói sơ lược cho đồ đệ nghe, đồ đệ gẫm lại thấy hay quá... Tiện đây xin Cô Nương thuật lại ý tưởng của mình, để Lão Sư và các huynh đệ thưởng thức... 

Thất Muội đứng lên, hai má ửng hồng, ả bẽn lẽn cười rồi nói:

Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Chỉ tại Lão Trượng đề cao đó thôi. Thật ra tiểu nữ chỉ biết võ vẽ đôi chút cắm hoa, do hồi còn nhỏ trong lúc rỗi rảnh mẫu thân có dạy sơ qua... Hôm trước Lão Sư và các huynh đệ ngồi giữa sân giảng giải đạo lý, trong lúc lòng thanh thản, tiểu nữ nhìn mọi người như những bông hoa, mà trên cùng là Lão Sư. Lão Sư như búp sen lớn vút thẳng lên trời cao, phía dưới xa xa là mười huynh đệ như mười bông hoa thấp cao sai khác cùng hướng về Lão Sư theo chiều chênh chếch... Rồi tiểu nữ lại nghĩ đến hữu tình. Hữu tình như những bông hoa dại phía dưới đang chờ đón hương thơm tinh khiết từ đóa sen. Mười bông hoa như là vệt sáng của ngọn lửa chạy dài xiên xiên từ thấp lên cao... nối liền vô số hoa dại với đóa sen tinh khiết... Tất cả hòa nhịp trở thành bản trường ca dâng hiến cho đời!... Tiểu nữ xúc động nên lấy đây làm đề tài cắm hoa... 

Ả ngưng một chút như để mọi người thấm thía cái ý tưởng vĩ đại của ả, rồi ả chậm rãi tiếp: 

Nhưng vì sao tiểu nữ lại liên tưởng mười huynh đệ chúng con là những đóa mẫu đơn và cúc vàng mà không phải là những loài hoa khác... 

Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Hoa Mẫu đơn tượng trưng cho ý nghĩa cao cả của người mẹ, bằng trái tim của mình, người mẹ đã dạy cho những đứa con thà chết chứ đừng phản bội quê hương... 

Còn hoa cúc, hoa này còn có tên Cúc Vô Ưu... Ngoài nét đẹp thanh thản, nó còn là loài dược thảo có nhiều dược tính cứu người... Mười anh em chúng con ngoài tấm lòng người mẹ, còn phải là những bông hoa đẹp cứu người... là vệt lửa nối dài từ khổ đau đến an lạc... Và tất cả hoa dại phía dưới cùng như những chúng sinh, tất cả đồng hướng đến đỉnh cao tối thượng đó là đóa sen tinh khiết... 

Lý Tứ nghe ả giảng giải nghĩ thầm trong bụng:

Ả này thiệt là triết lý quá chừng, chỉ có mấy cái bông mà ả tưởng tượng ra không biết bao nhiêu ý nghĩa. Nếu cho ả này vào rừng hoa chắc trong đầu ả đẻ ra không biết bao nhiêu triết lý... Nhưng mà ả giảng giải nghe cũng lọt lỗ tai... Ngẫm nghĩ như vậy, Lý Tứ im lặng để nghe ả giảng giải tiếp... 

Thất Muội lại nói:

Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Khi cắm bình hoa này, tiểu nữ biết nó chưa đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật. Nhưng chỉ mong nói lên được chút ý tưởng nhỏ nhoi của mình là... một lòng huynh đệ ở đây hướng về phía Lão Sư, hướng về chư Phật... Xin Lão Sư dạy bảo!... 

Lý Tứ lên tiếng:

Cô Nương quả không hổ danh là người có kiến thức về hoa lại là thiếu nữ có nhiều ý tưởng... Bình hoa nói lên cái không tầm thường của người cắm... Chỉ có mấy bông hoa mà Cô Nương đã làm cho nó trở thành bay bổng và nhiều ý vị. Lý Tứ thiệt khâm phục tài nghệ của Cô Nương... 

Nhưng tôi xin hỏi Cô Nương:

- Khi cắm những bông hoa lên bình, Cô Nương có hỏi những ý nghĩa vừa nói với các bông hoa không? Và có nghe các bông hoa đồng thuận hay phản đối những ý nghĩa cô vừa nêu không? 

Thưa Lão Sư không ạ!... Theo tiện nữ thì bông hoa là vô tình nên nghĩ suy còn không biết chứ đừng nói gì đến nói năng!... 

- Như vậy những ý tưởng tốt đẹp Cô Nương vừa giảng giải là của riêng cô vừa nghĩ ra hay do trước đây đã có? 

Thưa Lão Sư!... Ýnghĩa các loài hoa thì tiểu nữ đã biết trước, còn nội dung bình hoa như thế nào thì chỉ mới khi nhìn thấy Lão Sư và các huynh đệ đàm đạo tiểu nữ mới nghĩ ra... Riêng bình hoa thì đợi đến khi đủ nguyên liệu cộng với ý tưởng trước đây và tiểu nữ cắm lên, bình hoa mới hình thành... 

- Như vậy trước khi biết ý nghĩa các bông hoa, gặp hoa cúc hoặc mẫu đơn cô có biết ý nghĩa này không? 

Thưa không ạ!... 

- Khi biết ý nghĩa các loài hoa, nhưng cái hoa không ở trước mặt, cô có nhớ ý nghĩa của nó không? 

Thưa Lão Sư!... Bình thường thì không, nhưng nếu có nhân duyên liên hệ nào đó, tiểu nữ mới nhớ!... 

- Với ý nghĩa các bông hoa như cô đã nói và bố cục bình hoa được sắp đặt theo ý tưởng của mình, cắm xong Cô Nương có mãn nguyện không? 

Thưa Lão Sư!... Cắm bình hoa xong, nhìn ngắm nó, tiểu nữ rất mãn nguyện!... 

- Khi cắm xong, giả sử duyên chẳng lành nào đó bình hoa mất đi Cô Nương có buồn phiền tiếc rẻ không?

Thưa Lão Sư!... Có một chút buồn phiền và tiếc nuối... 

- Cái gì làm cho Cô Nương buồn phiền và tiếc nuối? 

Thưa Lão Sư!... Công sức bỏ ra tiếc một phần, nhưng tiếc cho ý tưởng thì nhiều... 

- Cô Nương thử suy nghĩ xem, trước khi có được những ý tưởng đẹp về bình hoa, trước khi các hiểu biết về ý nghĩa các bông hoa mà cô học được, hai thứ này có trong cô không? 

Thưa Lão Sư!... Hồi nhỏ tiểu nữ không biết ý nghĩa các loài hoa. Trước khi mẫu thân dạy cắm hoa tiểu nữ cũng không biết nghệ thuật, và trước khi nhìn thấy buổi đàm đạo tiểu nữ không hề có những ý tưởng này... 

- Nếu không có các nhân duyên như cô vừa nêu thì bình hoa có hình thành không? 

Thưa Lão Sư không ạ!... 

- Không có bình hoa thì sự vui hay tiếc nuối có xảy ra trong lòng Cô Nương không? 

Thưa không ạ!... 

- Vui hay tiếc nuối, nó là cái gì? 

Thưa Lão Sư!... Đó gọi là “Tâm”!... 

- Vậy cái tâm từ đâu ra? 

Thưa Lão Sư!... Do thấy nghe, hoặc nghĩ suy rồi sinh pháp ạ... 

- Nếu thấy nghe, nghĩ suy mà không sanh pháp thì cái gì xảy ra? 

Thất Muội chiêm nghiệm một hồi rồi nói:

Thưa Lão Sư!... Không có cái gì ạ!... 

- Không có cái gì thì thế nào? 

Thưa Lão Sư!... Chẳng như thế nào hết... 

- Cô Nương nghiệm xem, lúc trong lòng chẳng như thế nào hết thì cái tâm thế nào?

Thưa Lão Sư!... Cái tâm lúc ấy rỗng rang thanh tịnh... 

- Như vậy Cô Nương biết cái gì làm cho một hữu tình mê mờ không thanh tịnh không? 

Thưa Lão Sư!... Đó là định đặt các khái niệm, rồi mê mờ chạy theo những khái niệm mà sinh tâm... 

- Các khái niệm có thật hay không? 

Thưa Lão Sư!... Đã là khái niệm thì không thật, vì nếu là thật thì không phải khái niệm... 

- Mê mờ các khái niệm không thật rồi chạy theo, kết quả nó cho ra cái gì? 

Thưa Lão Sư!... Cho ra cái tâm không thật, gọi là hư vọng tâm... 

- Đã có hư vọng tâm thì thế nào? 

Thưa Lão Sư!... Sẽ sinh phiền não và cột trói, phiền não vì vô thường, cột trói vì giữ gìn sợ mất... 

- Nếu không có hai thứ đó thì thế nào? 

Thưa thảnh thơi ạ!... 

Lý Tứ cười ha hả hai tiếng rồi nói: 

- Như vậy Cô Nương biết cái gì là “pháp”, cái gì là “tâm” rồi chớ? 

Thưa!... Tiểu nữ biết rất rõ, ngày càng rõ thêm ý nghĩa của hai chữ “Tâm Pháp”... Thưa Lão Sư!... Tiểu Nữ nghiệm ra: 

Đối trước muôn cảnh mà không sanh các quan niệm thì chẳng thể sinh tâm. Nếu tâm không bị mê mờ bởi cảnh thì chẳng thể sinh pháp... Hai thứ này không sanh thì rốt ráo thanh tịnh... 

Lý Tứ nói tiếp: 

- Các vị!... Các bông hoa là trần, trần do duyên sanh, đủ duyên thì hiệp hết duyên thì tan, tụ tán tự nó chẳng cột trói ai… Nhiều trần hợp lại thành cảnh, cảnh kia tự nó không tánh... 

Hữu tình do mê mờ nơi trần cảnh, không thấy được các duyên tự nó không tánh, lặng lẽ mà tụ, lặng lẽ mà tán... 

Một khi mê mờ thì sinh các món hy vọng, do hy vọng nên sinh các thứ ý nghĩa, cố chấp nơi ý nghĩa này sẽ cố sức giữ gìn, giữ gìn này gọi là ngã, có ngã thì có tâm, ba món: Pháp, tâm và ngã như bóng với hình... Người có trí, trả cái vắng lặng về cho trần cảnh, trả cái tâm về cho hư không, một niệm không sanh, bất giác chẳng thể hiện khởi... 

Trí này không bất giác, duyên kia không sanh pháp, tự tâm sẽ thanh tịnh... Khi tâm thanh tịnh mới biết bản lai vô sanh... không tâm không ngã... 

Cũng như cái bình hoa kia, tất cả chỉ là những bông hoa vô tri. Nhưng một khi ý thức chen vào, các thứ tưởng hiện khởi... Chạy theo, hy vọng nơi tưởng gọi là vọng tưởng... Một khi đã vọng tưởng thì tâm sẽ phiền não... Tưởng thành tựu thì tâm nhân đây mà vui, vui gọi là phiền. Tưởng kia không như mong muốn sẽ não hại tâm, não hại tâm gọi là não... 

Vui là phiền vì khi vui sẽ chướng thanh tịnh, não sẽ khổ vì không toại nguyện... Vì thế chớ có nhân nơi trần cảnh hay nghĩ suy mà sinh tâm, không sinh tâm như vậy kinh gọi là: “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”... 

Đối trước muôn cảnh muôn pháp, tâm không sanh khởi Phật giáo gọi vị này là thánh... Sở dĩ gọi là thánh vì chẳng thuận theo phàm... Cho nên phàm hay thánh cũng chỉ tự tâm này... khác nhau chăng giữa mê và giác... Một phen bất giác... trở thành tôi mọi cho thấy nghe... Lấy cái hư dối làm ta, làm ngã của ta và làm tự ngã của ta... từ đây bao nhiêu muộn phiền sanh khởi... Tôi nói như thế, các vị có nghe rõ không? 

Đại chúng im lặng... 

Lý Tứ lại tiếp: 

- Nhưng cứ một bề chấp nhất không pháp, không tâm, không thần, không vật... rồi đả phá tất cả, bạ đâu cũng chê, bạ đâu cũng trách, cứ mở miệng là nói tất cả đều không... Người như vậy gọi là bọn chấp không. Đây là loại đồ đệ của kiến chấp, là kẻ cực đoan, là khùng điên chứ chẳng phải người giác ngộ... Kẻ như thế chẳng xứng đáng đệ tử Phật gia... 

- Bình hoa kia tự nó không lỗi, lỗi hay không do tâm... Đứng trước muôn cảnh muôn vật... không bị mê mờ. Không bị mê mờ không bị trói buộc nên gọi là không... chứ chẳng phải đem thân tâm này hủy diệt mọi thứ rồi nói là không... Cái do làm ra, hoặc do hủy diệt hoặc do chấp nhất... những hành động nghĩ suy như vậy tự nó là “có” chứ chẳng phải “thiệt không”... 

- Vì thế Phật dạy: “Không là không hai mươi lăm cõi”. Hai mươi lăm cõi hay ba cõi đều tự tâm sanh... 

- Vì thế người xưa thường nói: “Chớ nên hướng ngoại tầm cầu...” là ý nghĩa này... Phật cũng dạy: “Thà chấp có như núi Tu Di, chớ đừng chấp không như hạt cải”. Có nghĩa người chấp có còn có thể giác ngộ vì thuận theo dòng giác, còn người chấp không là kẻ tự mình hủy diệt pháp lành nên vô phương cứu chữa... Các vị có thấu suốt những điều tôi vừa nói không? 

Mọi người đồng hướng về phía Lý Tứ im lặng chắp tay xá xá coi bộ hoan hỷ... Thất Muội lên tiếng: 

Thưa Lão Sư!... Nhân nơi bình hoa mà Lão Sư đã dạy cho đồ đệ ý nghĩa thế nào là tâm thế nào là pháp... Lại dạy thêm ý nghĩa thế nào “chẳng hoại hữu vi”… Con và các huynh đệ từ nay một bề thanh tịnh... Vì tâm thanh tịnh nên ở đâu cũng là đạo tràng, chẳng luận đây kia... Xin Lão Sư chứng minh cho lời tiểu nữ... 

Lý Tứ cất giọng cười lớn: Ha ha! Ha ha! 

---•••⁕ ⁕۝⁕ ⁕•••--- 

(còn nữa) 

Tác Phẩm Lý Tứ

Hy Vọng Là Tâm Chúng Sanh. Lấy Bát Chánh Đạo Làm Đời Sống

Quản trị viên 03.01.2022
Hy Vọng Là Tâm Chúng Sanh. Lấy Bát Chánh Đạo Làm Đời Sống

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Lão Nhị lên tiếng: 

Thưa Lão Sư!... Lão Sư thiệt là Từ Bi. Những điều cao siêu như vậy mà đối với kẻ sơ cơ như đồ đệ Lão Sư cũng ôn tồn cắt nghĩa. Tuy chưa thấu đáo cái gì là Phật Tâm nhưng sau khi nghe cắt nghĩa, ít ra trong lòng đồ đệ cũng có chút manh mối. 

Thiệt là cảm tạ ơn đức Lão Sư. Nhưng thưa Lão Sư khi nghe đến câu, “Hết thảy các pháp do tự tâm hiện”, lòng đệ tử bỗng dưng mát dịu, như biển cả lặng yên. Những con sóng thức ào ạt ngày xưa không thấy hiện khởi. Tuy lỗ tai đồ đệ đang nghe, ý nghĩa đồ đệ lờ mờ nhưng tâm rỗng rang không chấp nhất cái biết, cũng không còn giống như xưa biết rồi muốn biết thêm, tâm mong cầu tự dưng bặt dứt. Xin Lão Sư khai thị tiếp cho đồ đệ... 

Lý Tứ tiếp lời: 

⁎ Phật dạy: “Hy vọng là tâm chúng sanh”. Vì chúng sanh hy cầu nên có ba thời, ba thời hiện khởi thì sanh diệt không ngừng... Mà không biết rằng quá khứ như giấc mơ. 

⁎ Phật dạy, “quá khứ như mộng”. Quá khứ là chuyện đã qua nếu có biết chẳng qua chỉ là những nghĩ nhớ trong lòng. Đã là nghĩ nhớ thì chẳng gọi là thật... Vì thế, bổn tâm đang thanh tịnh, nhớ nghĩ quá khứ trở thành não hại. Vị lai thì chưa đến, tâm ý vọng tưởng họa vẽ những điều chưa có, như nhà ảo thuật nơi không có hóa thành chim bồ câu. 

⁎ Phật dạy, “vị lai như huyễn”... Vị lai đó cũng chỉ là niệm vọng tưởng hiện tiền, không thật... 

⁎ Hiện tại thì chẳng thể được vì “niệm niệm không dừng”. Vừa tưởng nó là hiện tại thì tưởng này đã là quá khứ... Nếu chấp có một hiện tại thì biết rằng hiện tại này chỉ là niệm mê, do mê nên trái chướng tâm thanh tịnh... 

Rốt lại, vọng về vị lai là phiền, nhớ nghĩ quá khứ là não, ngu nơi hiện tại thành chướng. Nếu không dứt tâm này thì phiền não chướng sẽ não hại tâm, như trời đang trong mây đen kéo đến... 

⁎ Người trí nên biết ba thời không thật, chỉ là những khái niệm trong lòng. Những khái niệm không thật này gọi là sinh pháp. Nếu chìm đắm nơi pháp thì buồn vui sẽ hiện, hiện này gọi là tâm. 

Tâm mê lại sanh pháp, rồi pháp huân thành tâm cứ thế không dứt... Nếu một phen giác ngộ, tâm này tự dừng, không chạy theo bóng ma quá khứ, cũng chẳng vọng tưởng hư ảo vị lai, hiện tại không mê trần cảnh, thanh tịnh rỗng rang tự hiện, như trời quang mây tạnh... Các pháp do tự tâm hiện là nghĩa này. 

⁎ Vì thế Phật dạy: “Khéo quan sát tự tâm hiện lượng”, các pháp hiện khởi trong tâm như bọt nước, trẻ con không biết tưởng đó là hạt lưu ly... Không biết gọi là mê, dứt mê tạm gọi là giác... Thưa Lão Huynh!... Lão Huynh có nghe rõ điều tôi nói không? 

Lão Nhị nói: 

Thưa Lão Sư!... Lời Lão Sư như phèn lóng trong nước bẩn. Những lời của Lão Sư lọt qua lỗ tai đệ tử như gió thổi tan mây... Chỉ cần dứt cái ngu này, cái ngu ngàn đời không hiện... Bây giờ đồ đệ mới hiểu câu nói: 

⁎ “Vô lượng kiếp chỉ là một niệm mê”… Dứt mê thì không kiếp cũng không niệm... Như nói nước trong chỉ vì nước kia có đục, xưa chưa từng đục thì nay lấy gì làm trong... Lão Sư đã phóng đao hóa kiếp Lão Nhị ngu mê này... Nói đến đây, lão quỳ mọp lạy lấy lạy để Lý Tứ... 

Lý Tứ lên tiếng: 

Xưa không biết thì thôi, nay biết rồi đừng tự khinh mình... Cái ngu hôm qua không thật có, thì chúng sanh chẳng lẽ thật có hay sao? Xin Lão Huynh đừng xúc động... Ngộ rồi mới biết hết thảy hữu tình đồng một bổn tâm thanh tịnh, chẳng qua một niệm bất giác mà có thân sau... Dứt mê mới biết, tôi và Lão Huynh nào có khác gì đâu!... Ha! Ha! Ha! Ha!... 

Lý Tứ lại nói tiếp: 

Nhị Huynh!... Kẻ giác ngộ, như người uống nước nóng lạnh tự biết, giác ngộ này chỉ có mình biết, bậc đạo sư biết và chư Phật biết... 

⁎ Một phen thấy được, con người cũ đã mất, bây giờ mới xứng đáng với tên gọi Phật tử. Vì thế phải biết giữ mình, từ nói năng thức ngủ đến ăn uống tu hành chẳng nên giống như người đời. Phải gìn giữ chỗ có được như con gà ấp trứng. Không nên có những hành động thô tháo như phàm phu... 

⁎ Lấy Bát Chánh Đạo làm đời sống. Đây là môi trường tốt nhất để trưởng dưỡng thánh pháp, như cá phải sống trong nước, cá ra khỏi nước sẽ tự diệt... Trong giai đoạn này, phải hiểu như thế nào về Bát Chánh Đạo? Bát Chánh Đạo bây giờ có tên là Bát Thánh Đạo phần, tức tám phần của con đường mà bậc thánh phải đi qua. 

- Thế nào là Chánh Kiến? Chánh Kiến là chỉ thấy tướng tâm thanh tịnh không thấy tướng khác. 

- Chánh Tư Duy là gì? Là biết tất cả tư duy tự nó không thiện ác. Vì thế dù có tư duy cũng không làm cho hành tâm giong ruổi, như nước hai đầu của dòng kênh không cao thấp sai lệch. Vì thế hiện tượng chảy xiết không thể xảy ra. Không có sự chảy gọi là dừng... Điều này trong kinh mô tả: “Sanh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc”. Tâm như gương sáng, chiếu bao nhiêu cảnh gương kia cũng không hề lay động... 

- Thế nào là Chánh Ngữ? Chánh Ngữ là tự biết “Bản lai vô ngôn”, bất đắc dĩ nói ra điều gì cũng vì an vui của người. Vì thế tác phong của bậc giác ngộ là không nói phi thời, không hý luận, rời xa thế luận, không cố nói, không ham nói, không như người đời mê nói không biết chỗ dừng, không như người say, say quá quên mất đường về... 

- Thế nào là Chánh Nghiệp? Biết rằng thân khẩu ý này tự nó trống không, tuy thấy có nói năng đi lại nghĩ suy nhưng mà vô tác, tựa như huyễn nhân, như chim bay giữa hư không chẳng để lại dấu vết. Vì thế với thân phải quán nó đồng hư không, với khẩu phải biết như tiếng kêu của cái trống, với ý phải thấy ý này tự thanh tịnh, kinh gọi là “tự tịnh kỳ ý”... 

Thấu suốt như vậy, ba nghiệp không lỗi lầm, không sanh lỗi ác cho nên kinh nói: “Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo”. Một phen thấu suốt, thì ác thiện chẳng phải như quan niệm thế gian... 

- Chánh Mạng là gì? Chánh Mạng của người giác ngộ chính là Xa Ma Tha, Tỳ Bà Xá Na và Thiền na. Lấy ba thứ này nuôi thân, rời ba thứ này gọi là tà mạng... 

- Sao gọi là Chánh Tinh Tấn? Thẳng một đường về với nguồn tâm thanh tịnh, không quanh co không sai lệch, không lấy ba cõi làm chỗ nương cậy... Như con hương tượng đi vào rừng sâu, cứ một đường đi tới bất kể chông gai, không gì có thể ngăn ngại... 

- Thế nào là Chánh Niệm? Chẳng niệm hữu vi chẳng niệm vô vi gọi là Chánh Niệm. Vì sao? Vì bổn tâm thanh tịnh tự chẳng hữu vô. Như thế nào là niệm thanh tịnh? Chẳng niệm tịnh, chẳng niệm bất tịnh gọi là niệm thanh tịnh... 

- Chánh Định là gì? Như đèn soi sáng, không còn tối tăm gọi là Chánh Định... Đối trước muôn cảnh không sinh mê lầm gọi là Chánh Định... 

Nhị Huynh!... Tóm lại Bát Chánh Đạo được dẫn đầu bằng Chánh Kiến. Chánh Kiến như tôi đã nói. Thưa Nhị Huynh!... Như vậy Nhị Huynh có kết luận gì về Bát Chánh Đạo chăng? 

Lão Nhị ngẫm nghĩ một hồi rồi nói: 

Thưa Lão Sư!... Theo đồ đệ hiểu:

Y nơi thanh tịnh tâm mà thấy nghe hay biết là đủ Bát Chánh. 

Lý Tứ khen: Nhị Huynh quả là bất phàm. Người giác ngộ có vô lượng cái chánh, nhưng cũng đều quy về một tâm chân chánh... 

⁎ Như thế nào gọi là tâm chân chánh? Vì không tâm nên tạm gọi là tâm chân chánh... Nếu còn một tâm nào thì tâm này chưa chánh... 

Lão Nhị lên tiếng:

Thưa Lão Sư!... Đồ đệ có nghe người xưa nói “Tâm bình là giữ giới”... Như vậy người giác ngộ có cần phải tụng giới hằng nửa tháng hay không??? 

Lý Tứ nói: Lão Huynh!...

Nếu bảo rằng “Tâm bình là giữ giới” rồi nửa tháng bỏ tụng giới, kẻ làm như thế gọi là “tận hữu vi, trụ vô vi”... 

Người này không thấy nghĩa trung đạo... Sai với cứu cánh của Phật đạo. Tôi nói như vậy Nhị Huynh có hiểu không? 

Lão Nhị nói:

Lão Sư!... Nay đồ đệ đã hiểu... Giác ngộ chẳng phải vì mình... 

Lý Tứ nói tiếp:

Đã nói ý nghĩa của Bát Thánh Đạo Phần. Nay tôi gợi ý, Nhị Huynh có thể hiểu thêm về Thất Giác Chi. Lão Huynh nhớ lại từ đầu câu chuyện trao đổi giữa tôi và Lão Huynh... nhân cái gì mà Lão Huynh được giác ngộ... 

Lão Nhị ngẫm nghĩ một hồi rồi nói:

Thưa Lão Sư!... Ban đầu con còn nghe Lão Sư giải thích ý nghĩa, đến câu “Các pháp tự tâm hiện”, tâm con tự dừng, rồi hỷ lạc khinh an xảy ra, như người uống nước cam lồ, lại được tắm dòng nước mát nên toàn thân nhẹ nhàng mát lạnh... Kế đến nhân nghe Lão Sư khai thị ý nghĩa ba thời, tâm đồ đệ như đặt gánh nặng xuống, kết thúc câu chuyện cũng là lúc đồ đệ không còn là Lão Nhị của người xưa nữa... Một con người mới do Lão Sư sinh ra... 

Bây giờ con mới hiểu Thất Giác Chi là như thế, như thế!... Hèn chi Thất Giác chi đi trước Bát Chánh Đạo... Nếu không nhờ Giác Phần để giác thì làm gì biết được sự thật của chánh tà... 

Thưa Lão Sư!... Bây giờ con đã rời xa hý luận... Lý Tứ khen: 

Chúc mừng Nhị Huynh!... Bây giờ Nhị Huynh mới xứng danh Phật Tử chân chánh!...

(còn nữa) 

Tác Phẩm Lý Tứ

Báo Thân, Hóa Thân và Pháp Thân. Các Cảnh Giới Đệ Nhất Nghĩa

Quản trị viên 03.01.2022
TP.13. Báo Thân, Hóa Thân và Pháp Thân. Các Cảnh Giới Đệ Nhất Nghĩa

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Lão Nhị lại nói tiếp: 

Thưa Lão Sư, hồi còn trẻ đồ đệ cũng từng đọc qua sách thánh hiền, cũng có thi cử rồi làm chức quan nhỏ. Sau đó về làng dạy dăm ba đứa học trò. Nói ra xấu hổ, trong đời đồ đệ nay đã ngoài bốn mươi... trước khi ra giang hồ kết nghĩa với các huynh đệ ở đây, đồ đệ đã trải qua không biết bao nhiêu nghề, thượng vàng hạ cám và đã tiếp xúc không biết bao nhiêu hạng người, cũng không biết bao nhiêu lần ngồi nghe đàm đạo. Nhưng cứ mỗi lần nghe lại thêm rối mù, chẳng những không thông mà hồ nghi thêm nhiều... Đồ đệ dạy học không bao nhiêu năm, nhưng lại nhiễm cái thói mô phạm, mỗi mỗi phải rõ ràng, không rõ ràng trong lòng bứt rứt. Nhưng học hỏi các cao nhân lại thêm bứt rứt... vì bởi các vị ấy nói chỗ cao quá, đồ đệ chẳng tiếp thu được gì. Lại thêm ràng buộc bởi chữ nghĩa thánh hiền, thành ra trói lại thêm trói, buộc lại thêm buộc... Cho đến khi gặp Lão Sư, nghe Lão Sư giảng giải, đồ đệ mới thỏa mãn vài điều. Nếu Lão Sư không chê cười, xin cho đồ đệ được giải các mối nghi trong lòng... Lão nói một hơi không nghĩ, nói như chưa từng được nói... 

Lý Tứ tiếp lời lão: 

- Thưa các huynh đệ!... Lý tôi chẳng phải là thánh hiền nên không thể biết hết chuyện thiên hạ... Nhưng mà đã là huynh đệ với nhau đâu cần khách sáo. Cái học như biển lớn, khó bề tới đáy... Chúng ta cứ nêu lên thắc mắc hồ nghi của mình. Ai biết thì chia sẻ cho người chưa biết, chẳng phải dạy dỗ gì nhau... Mong các vị đồng tình với tôi chuyện này... Nhưng chúng ta gặp nhau ở đây, chẳng phải như người đời... để khỏi mất thì giờ, và tôn trọng mục đích của buổi gặp mặt, xin chư vị chỉ nên hỏi những điều liên quan đến đạo lý nhà Phật. Đừng hỏi chuyện khác!... 

Nếu gặp nhau mà bàn nhiều thứ, trao đổi nhiều vấn đề không liên quan đến mục đích, thử hỏi các vị, không phải một đời, mà biết bao nhiêu đời mới giải quyết cho xong... Để khỏi mất thì giờ, xin Nhị Lão Huynh nêu thắc mắc của mình. Mọi người ở đây, ai biết trả lời giùm... 

Lão Nhị lên tiếng: 

Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Đồ đệ thắc mắc là, theo đồ đệ biết Thích Gia là nhà sư, còn gọi là Sa Môn... Nhưng tại sao đồ đệ thấy chùa am hoặc nơi nào có thờ cúng thì hình tượng của Phật trên đầu có tóc? Không giống nhà Sư... Lại có một số nơi, cũng hình Phật nhưng tướng mạo cho đến mũ nón không đồng... Xin vị nào biết, chỉ giáo giùm... 

Lý Tứ nhìn quanh, thấy mọi người hình như đồng tình với câu hỏi của Lão Nhị, bèn nói: 

Thưa các vị!... Tôi cũng đã có nghe nhiều người hỏi câu này, thắc mắc này chắc không riêng gì của Lão Huynh. Tôi xin trình bày sở kiến của mình, nếu thiếu sót xin các vị bổ túc... 

⁎ Trong kinh có dạy, Phật có đến ba thân. Đó là: Báo thân, Hóa thân và Pháp thân... 

  • Báo thân là cái thân do cha mẹ sinh ra, cũng lớn lên có vợ con rồi xuất gia tu hành sau đó thành Phật... Thân này Phật thị hiện trong cõi người, nên giống nghiệp người... Những ai có phước đức, nhân duyên sinh cùng thời với Phật, và hội đủ phước lành sẽ gặp thân này... Vì thị hiện nghiệp người nên giống như bao nhiêu người. Vì giống người, cho nên có những người trong đời đã từng gặp thân này cũng không biết đó là Phật. Cơ may có người nói mới biết, không nói không biết... 

Ví dụ như quần chúng trên đường Phật đến chỗ Ương Quật Ma La, gặp Phật nhưng mọi người chỉ biết đó là Sa Môn, thậm chí Ương Quật Ma La mới gặp cũng kêu bằng Sa Môn... Hay chuyện chàng thanh niên gặp Phật trong lò gạch. Người thanh niên này đi tìm Phật, nhưng khi gặp Phật không biết. Đợi đến khi nghe Phật thuyết pháp mới biết đó là Thế Tôn... Hoặc trường hợp người giữ rừng trong chuyện kinh. Một hôm Phật muốn đến thăm các đệ tử của mình đang tu trong một khu rừng. Phật đắp y đến đó. Người giữ rừng ra hiệu cho Phật dừng lại và nói rằng: “Hiền giả!... Hiền giả!... Xin đừng vào trong đó, xin đừng làm kinh động khu rừng này. Vì trong rừng có năm Đại đệ tử của Phật đang thiền định làm sáng chói khu rừng”. Sau đó các đệ tử biết Thế Tôn đến thăm mình, vội vã chạy ra. Bây giờ người giữ rừng mới biết đó là Phật... Hoặc chuyện người già không có duyên gặp Phật... 

Thân này, trong Phật lý còn gọi là “Sắc giải thoát”, tức đồng như một A La Hán, có thân mà không bị thân ràng buộc... Cho nên trong một số kinh Phật có nói: “Ta cũng là một A La Hán…” Phật còn gọi là Đại A La Hán... tức là Một A La Hán làm thầy các A La Hán... 

Hiện nay một số phái trong Phật giáo chỉ thờ thân này... Báo thân của Phật cũng đầy đủ 32 tướng tốt... Nhưng vì là ẩn tướng, chỉ có ai biết thuật tướng[1] hoặc đủ phước duyên mới nhận ra... Ví dụ như tiên nhân A Tư Đà hoặc các Thanh Văn đệ tử chứng quả... Còn người thường rất khó nhận dạng... 

  • Thân thứ hai của Phật là Hóa thân, đó là cái thân chúng ta đang thấy khắp nơi thờ phụng... Thân này chỉ những ai đủ công đức mới thấy được. Phật dùng thân này để giáo hóa Bồ Tát... Phần lớn các kinh Đại Thừa Phật thuyết bằng thân này. Phật cũng dùng thân này để đến các cõi Phật... Thân này cũng còn có tên: “Nhứt thiết chúng sanh hỷ kiến Bồ Tát sắc thân tam muội”. Vì thế Phật cũng là một Bồ Tát... 

Tóm lại đây là một loại thân biểu hiện của bi nguyện tương ưng với công đức của người thấy. Chỉ khi nào chúng sanh đủ bi ngưỡng và công đức sẽ được thấy... Về sau các Bồ Tát và người đời nương nơi lời thuyết của Phật trong kinh mà họa lại thân. Vì thế cũng đồng thời một đức Phật mà tùy vào công đức, mỗi dân tộc thấy đức Phật với vẻ đẹp phù hợp với dân tộc hoặc nghiệp chung của mình, nên mặt mũi, mũ nón không đồng... Thân này chính là khắc họa rõ nét về 32 tướng tốt của Phật... Cũng chính Hóa thân này mà xuất sinh 80 vẻ đẹp gọi là tướng hảo tùy hình... Tướng hảo này phần lớn thị hiện trong các loài khác loài người và chư thiên... Ví như loài sư tử, khi thấy Phật sẽ là một con sư tử chúa, hoặc loài nai thì sẽ thấy Phật là con nai vương... 

Vì thân này là Hóa Thân với đầy đủ 32 tướng hiển lộ nên chúng ta thấy trên đầu Phật có tóc, không giống tướng một Sa Môn... Phần lớn các Đại Bồ Tát cũng dùng hóa thân như: Quan Âm, Văn Thù vì thế rất ít khi thấy mô tả các vị này là Tăng... Đặc điểm của Hóa Thân là 32 tướng tốt và 80 tướng hảo tùy hình, thị hiện trong tất cả các loài, nên khi đọc kinh Đại thừa, chúng ta thường thấy Phật thuyết một thời kinh có nhiều loài tham dự... Vì ngữ ngôn các loài sai biệt, nên sau khi thuyết xong tiếng người, Phật thường hay tuyên nói chú... 

Chú là chính ngữ ngôn của các loài, không phải ngữ ngôn của loài người. Chú này các loài nghe hiểu những điều Phật dạy theo nghiệp của mình... 

Thành ra Cổ Đức không dịch chú ra tiếng người. Vì nếu dịch ra tiếng người khi đọc lên, các loài không thể hiểu. Hóa ra ta làm ngược là nói chú của ta cho các loài... Giống như khi gặp người Tây phương lẽ ra nói bằng tiếng Tây phương, ta lại làm ngược là dịch thành tiếng Hán rồi nói bằng tiếng Hán... Bây giờ tiếng Hán trở thành Thần chú với người Tây phương... Ha ha ha ha...!... Ví dụ như câu: “Yết đế ba la...” ta làm tài khôn dịch thành: “Độ đi, rốt ráo độ đi...” gì gì đó, rồi đọc câu này (độ đi độ đi... ), thì một số loài chẳng hiểu mô tê gì hết... Ha ha ha ha!... 

  • Thứ ba, Phật còn một thân nữa, đó là Pháp thân... Thân này chính là Phật trí, nên Phật hay nói thân Phật đồng như hư không... Có nghĩa Phật trí thanh tịnh biến mãn khắp mười phương và nó chẳng phải là thân... 

- Từ thân này mà xuất sinh vô lượng “Hóa Thân” hay còn gọi là “phân thân Phật”... Có thể hiểu một bài kinh chính là một Hóa thân nhỏ được chiết xuất từ Pháp thân lớn... Pháp thân giống như khối vàng lớn, cắt nhỏ một phần trong vô lượng để làm các món đồ trang sức như cà rá dây chuyền...

Khác biệt của cà rá dây chuyền chính là Hóa thân của khối vàng lớn kia... Mỗi món trang sức phù hợp với một ưa thích nào đó. Cho dù khác nhau về hình tướng nhưng tất cả đồng là vàng, và giá trị không khác... 

Hoặc có thể ví dụ kiến thức của một thầy giáo thì bao la (pháp thân thầy giáo). Nhưng khi dạy học trò chỉ cần một chút nhỏ (hóa thân thầy giáo) trong khối lượng kiến thức này là đủ biến hóa cho học trò... ghê chơi!...

- Điều này Phật có dụ trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa... Muốn mở Bảo Tháp, tức muốn thấy được Phật tri kiến, phải gom tất cả Hóa thân khắp mười phương về... Giống như muốn biết khối vàng lớn bao nhiêu phải gom tất cả trang sức làm từ khối vàng này... Thân này còn gọi là “Sắc Thường Trụ”... có nghĩa thời gian có thay đổi nhưng Phật trí thì không thay đổi... 

- Thân này gồm đủ bốn đức: Thường, Ngã, Lạc, Tịnh… Muốn thấy được thân này, phải là những Đại Bồ Tát có đầy đủ trí tuệ... như Văn Thù, Phổ Hiền... Thân này theo lời Phật, trên đỉnh đầu có Vô Kiến Đảnh Tướng, không một ai có thể nhìn thấy đảnh này... Pháp thân chư Phật đồng nhau... cho nên kinh Đại Bát Nhã có nói đến “Tứ Bình Đẳng” của chư Phật, một trong bốn bình đẳng đó là “Thân Đẳng”... 

Tóm lại, cái thân mọi người đang thờ là Hóa Phật hay còn gọi là Hóa thân Phật... vì thế trên đầu có tóc... 

Thân trên đầu không có tóc đó là Báo thân... Báo thân người đời thấy thông qua hình tướng các Tỳ Kheo Tăng... 

⁎ Ba thân Phật đã làm nên mười danh hiệu... Vì thế viên mãn Phật quả gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác... tức giác ngộ chân chánh đồng như chư Phật, không có một ai cao hơn... Về ba thân, và câu hỏi của Nhị Huynh tôi chỉ hiểu có thế. Và hiện nay qua buổi sơ giao này chỉ có thể trình bày phần cơ bản... Khi nào có duyên lành chúng ta sẽ trao đổi sâu hơn... Vị nào có kiến giải tốt, xin mời... Nói đến đây, Lý Tứ chắp tay xá xá mọi người... 

Lão Nhị, gật gật cái đầu, lim dim hai mắt ra chiều thỏa mãn, lão cất giọng: 

Lão Sư trả lời thiệt là minh bạch và thỏa đáng, bản thân đồ đệ hết thắc mắc về chuyện này... Nhưng khi nghe Lão Sư nói về ba thân Phật, đồ đệ lại liên tưởng đến mấy chữ hồi nãy Lão Sư có nói đó là “Như Lai tự đáo cảnh giới”. Câu này đồ đệ đọc trong kinh có thấy đề cập, đó là một trong bảy cảnh giới gồm: Kiến cảnh giới, Tâm cảnh giới, Trí cảnh giới, Huệ cảnh giới, Siêu nhị kiến cảnh giới, Siêu tử địa cảnh giới và Như Lai tự đáo cảnh giới... Xin Lão Sư cắt nghĩa giùm cho. Đọc mấy cảnh giới này đồ đệ rất mơ hồ... 

Nói đến đây lão chắp tay xá xá Lý Tứ có vẻ hoan hỷ lắm... 

Lý Tứ hướng về phía Lão Nhị chắp hai tay xá xá đáp lễ, mặt tươi cười rồi nói: 

Thưa Nhị Huynh!... Nhị Huynh đúng là tác phong của nhà mô phạm. Tư duy của Lão Huynh biểu lộ sự kết nối rất tốt các sự kiện có được. Câu hỏi của Lão Huynh cho thấy cái sắc sảo của một người đọc sách thánh hiền. 

Thưa Lão Huynh!... Đúng là liên tưởng của Lão Huynh giữa các cảnh giới đệ nhất nghĩa và ba thân có sự liên hệ mật thiết. Ba thân Phật chính là biểu hiện toàn bích của bảy cảnh giới nên kinh gọi là có bảy thứ Đệ Nhất Nghĩa. Nhưng vì sao nó lại như vậy? Tôi xin trình bày sơ lược. Hy vọng nếu có cơ duyên lâu dài, chúng ta sẽ mổ xẻ cặn kẽ những vấn đề này. Nếu đào sâu được thì đây là đề tài rất thú vị của người tu hành... 

⁎ Thưa các vị!... Phật dạy có bảy thứ Đệ Nhất nghĩa đó là: Kiến cảnh giới, Tâm cảnh giới, Tuệ cảnh giới, Trí cảnh giới, Siêu nhị kiến cảnh giới, Siêu tử địa cảnh giới và Như Lai tự đáo cảnh giới... 

Trước nhất tôi xin nói vì sao bảy cảnh giới này gọi là Đệ Nhất Nghĩa: Đệ Nhất Nghĩa ở đây phải hiểu là Đệ Nhất Nghĩa Phật tâm, có nghĩa là chư Phật ba đời không thấy bảy cảnh giới này sai khác. Không như phàm phu, ngoại đạo, Nhị thừa... không biết các pháp do tự tâm hiện vì thế cho rằng có sai khác đây kia, và họ cũng không biết cái mà họ đang thấy sai khác đó đều không ngoài Viên Giác thanh tịnh. Vì không biết như thế nên đưa ra các quan điểm sai lầm là ngoài tâm có pháp, chấp các cảnh kia cho đó là tâm, lại chấp thủ cái thấy mà cho rằng có tự tướng cộng tướng sai biệt... Như người ngu soi mặt trong gương, lầm tưởng trong gương có kẻ giống mình... 

Cho nên kinh Lăng Già Phật dạy: “Những người ấy không biết cảnh giới tự tâm mà chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai đều nói. Lại chấp trước cảnh ngoài tâm, nên thường trôi lăn không cùng trong sanh tử... Đại Huệ!... Thân, tài sản, khí thế gian, v.v... tất cả đều là bóng dáng của nhận thức, năng thủ, sở thủ đồng hiện khởi”… 

Bây giờ tôi xin sơ lược giải thích về bảy cảnh giới.

- Kiến cảnh giới: Là cảnh giới của thấy nghe mà sanh.

- Tâm cảnh giới: Là cảnh giới do nhớ nghĩ huân tập mà sanh.

- Tuệ cảnh giới: Là cảnh giới do chủ ý học tập mà sanh.

- Trí cảnh giới: Là cảnh giới do thấu suốt hai vô ngã còn gọi là căn bản trí.

- Siêu nhị kiến cảnh giới: Là cảnh giới do Thanh Văn Duyên Giác thành tựu.

- Siêu tử địa cảnh giới: Là cảnh giới Phiền Não Bồ Đề không hai và

- Như Lai tự đáo cảnh giới: Là cảnh giới chư Phật tự chứng tự tại. 

Kiến và Tâm cảnh giới là cảnh giới của phàm phu chấp trước, nên Báo Phật y nghiệp của họ mà dùng phương tiện Thế Đế để thuyết, khiến lần lượt dứt mê, sau tuyên nói các pháp do tự tâm hiện. Tuệ cảnh giới, Trí cảnh giới, Siêu nhị kiến cảnh giới của hàng hữu học vô học. Vì họ mà Như Lai phương tiện nói nghĩa Thánh Đế để Nhị thừa tu hành lần lượt thành tựu Thánh vị, sau đó dắt ra khỏi hóa thành vào thánh trí. Siêu tử địa cảnh giới Hóa Phật tuyên nói Chân Đế sanh tử tức Niết Bàn. Như Lai tự đáo cảnh giới là cảnh giới Phật Pháp Thân tự tại hóa hiện. 

Tuy nói rằng bảy nhưng đồng Đệ Nhất Nghĩa Phật Tâm, nên kinh dạy: “Đại Huệ!... Đây là Đệ Nhất Nghĩa Phật tâm, tự tánh không tánh, ba đời chư Phật dùng Thánh Huệ Nhãn chiếu soi tự tướng cộng tướng mà kiến lập pháp Thế gian và Xuất Thế gian, an lập để người tu hành đồng về chỗ chân thật, không như phàm phu ngoại đạo dùng ác kiến phân biệt mà an lập”. 

Để minh họa điều này, kinh có dạy: “Người tu hành từ Thủy Giác đi vào, chư Phật từ Bản Giác đi ra, chỗ gặp gọi là Đẳng Giác”. 

Lý Tứ nói tiếp: 

Thưa các vị!... Rất mong những ngày gần gũi, chúng ta sẽ đào sâu thêm vấn đề này. Những điều tôi vừa nói chỉ là cơ bản, muốn thấu suốt phải có quá trình tư duy tu tập. Vì rằng đây là những nghĩa giáo Bồ Tát, tức Phật dạy các Bồ Tát vào sâu Thánh Trí tự chứng để thấu suốt Phật Tâm Tông... Hay nói khác hơn những lời tôi vừa nói cũng chỉ là lời mở đầu, lời giới thiệu, giống như “cưỡi ngựa xem hoa”... Nếu bảo rằng dựa vào văn tự ngữ ngôn vừa nghe mà cho đây là chỗ thấy biết chân thiệt thì suy nghĩ này có lỗi... Rất mong các vị thông cảm và hy vọng nhân những giải thích này chúng ta có thể hiểu một vài phần về Thân Phật và Trí Phật... nhằm có thể tự định hướng cho mình hầu tiến đến mục tiêu tốt đẹp của đời sống tu hành...

[1] Thuật tướng: Học thuật tướng số

(còn nữa) 

Tác Phẩm Lý Tứ

Ý Nghĩa Hai Chữ Bồ Tát

Quản trị viên 03.01.2022
TP.12. Ý Nghĩa Hai Chữ Bồ Tát

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Rồi Ả nói:

Thưa Lão Sư!... Tiểu nữ trước đây thường hay mơ ước, phải chi mình có nhiều tiền chừng vài trăm triệu đặng bố thí cho thỏa thích. Vì thế tiểu nữ thường hay mua vé số... nhưng chưa thấy trúng... Không biết tiểu nữ suy nghĩ như vậy có lỗi gì không? Xin Lão Sư từ bi mà khai thị cho tiểu nữ... 

Lý Tứ cười ha hả rồi nói: 

Cô Nương ơi!... Cô Nương!... Đã mong ước sao không mong ước luôn thể vài trăm tỷ cho nó đã. Tội gì mong ước lặt vặt vài trăm triệu mai mốt xài hết rồi lại mơ ước nữa. Cứ thế làm hoài có phải là nhọc công hạ sách hay không... Ha ha ha ha... Còn cô hỏi tôi: 

Mong ước như vậy có lỗi gì không? Xin thưa với Cô Nương, mong ước có tiền vì lòng tốt và có tiền bằng cách trúng số, thì mong ước này đối với ba cõi chẳng lỗi gì hết... Thậm chí đáng vỗ tay hoan nghênh... Nhưng… 

Điều này với Bồ Tát đạo thì coi là có lỗi. Lỗi vì trong Bồ Tát đạo, móng tâm tức tâm không thanh tịnh. Không thanh tịnh là gốc của mọi thứ sai... “Muốn được” là chướng giải thoát vì chưa “vô sở cầu”. “Muốn có” là còn vọng tâm vì chưa “vô sở đắc”... Vì thế, tốt nhất “có nhiêu cho nhiêu, cho hết thì thôi”… 

⁎ Trong đạo Bồ Tát, móng tâm đồng nghĩa phạm lỗi... Chỉ cần móng tâm liền sai, chẳng luận tham nhiều hay tham ít... Vì thế, giới Bồ Tát gọi là giới tánh... Có nghĩa lấy thanh tịnh tâm làm giới, cái gì làm tâm này mất thanh tịnh đều coi là phạm... 

⁎ Khác với Thanh Văn thừa, lấy một xu tội khác một tiền, lấy một tiền tội khác năm tiền... Cái này gọi là giới tướng... Tức Thanh Văn “tùy vào mức độ sai phạm mà xử lý”... Có nghĩa nhân nơi tướng sai phạm mà luận tội... 

⁎ Vì thế Thanh Văn có Luật mà Bồ Tát thì không... 

Bồ Tát chỉ nói đến phạm hay chẳng phạm, chứ không đem luật ra mà bàn cãi... Tôi nói như vậy, Cô Nương có thông cảm hay không? 

Thất Muội cười bẽn lẽn rồi lí nhí trong miệng: Con hiểu!... Con hiểu!... Từ đây chẳng nên móng tâm cho dù tâm thiện!... 

Thất Muội lại nói: 

Thưa Lão Sư!... Tiểu nữ nghe nói trong thời kỳ đầu, Đức Phật không cho người nữ tu hành trong Phật đạo. Phải đợi đến thời gian sau khi ngài A Nan khẩn cầu, Thế Tôn mới cho Di Mẫu của mình và phụ nữ tu hành. Và cũng tại có người nữ trong giáo pháp mà chánh pháp phải rút ngắn còn năm trăm năm. Vì sao như vậy? Xin Lão Sư giải thích cho tiểu nữ... Tiểu nữ cũng là phụ nữ nên muốn giải tỏa chuyện này trong lòng... Xin lão Sư đừng cười đàn bà nhiều chuyện... 

Lý Tứ cười nói: Cái gì mà đàn bà nhiều chuyện!... Chưa thông thì hỏi.

⁎ Phật dạy, một trong những kiết sử đó là “Nghi”. Khi chưa rõ điều gì phải hỏi cho ra lẽ. Trong lòng dứt mối nghi thì tu hành mới dễ dàng... 

⁎ Theo tôi, nói rằng thời kỳ đầu, Phật không cho người nữ tu hành là không đúng, mà chỉ là Phật chưa sẵn sàng chấp nhận người nữ xuất gia trong giáo pháp của mình... 

⁎ Theo cá nhân tôi, sở dĩ có chuyện như vậy là vì, thời đó giai cấp thống trị Sát Đế Lợi và giai cấp tế tự Bà La Môn cũng như văn hóa Ấn Độ không coi trọng người nữ. Nếu cho người nữ làm Tăng trong khi họ và quần chúng chưa hiểu nhiều về giáo pháp sẽ gặp bất lợi. Mà lúc này Phật giáo rất cần sự ủng hộ của hai giai cấp này cũng như quần chúng... Nếu giáo pháp trong thời kỳ còn phôi thai, mọi người chưa cảm thông mà bị chỉ trích thì sẽ không ổn... 

Sau đó khi A Nan khẩn cầu, thấy đã đủ duyên, Phật mới đồng ý cho người nữ xuất gia, nhưng phải chịu phép “bát kính” và ràng buộc nhiều hơn về giới luật tất có lý do, và cũng không ngoài một phần ý nghĩa như tôi đã nói... 

⁎ Chứ chẳng phải Phật không coi trọng người nữ, vì đối với Phật, mọi người bình đẳng... 

Tôi còn nhớ, trong kinh có kể chuyện, khi Phật nhận ông Ni Đề là người thuộc giai cấp hạ tiện làm Tăng, tức thời bị vua A Xà Thế chất vấn... 

Nam nhân của giai cấp Thủ Đà làm Tăng mà còn bị chất vấn như thế, hà huống nữ nhi... Cũng giống như xưa kia, một thời phụ nữ không được tham gia quân đội, hoặc một số vị trí trong xã hội là do hoàn cảnh nhất định của lịch sử và văn hóa địa phương... Nhưng không nhất thiết chuyện này mãi mãi như vậy... 

Đây chỉ là suy nghĩ của cá nhân tôi, có thể suy nghĩ này chưa thỏa đáng. Khi nào thuận tiện Cô Nương có thể gặp các cao Tăng nhờ họ giải thích thêm... Hoặc ở đây, có vị nào kiến giải tốt hơn, xin mời lên tiếng... 

⁎ Còn chuyện vì sao có người nữ xuất gia tu hành, giáo pháp phải mất đi năm trăm năm thời chánh pháp. Thì cũng theo cá nhân tôi, đây là lời huyền ký của Phật. Mà đã là lời huyền ký thì chẳng thể luận bàn... Bởi lẽ… 

⁎ Phật nói như vậy thì nó như vậy, lý do rất khó biết... Ví dụ như Phật thọ ký một vị nào đó đời nào đó làm Phật... Theo tôi, lời huyền ký này chỉ có Phật biết, sức của tôi đây chẳng thể biết được... Tôi cũng nghĩ, Phật đạo không phải nhất nhất đều có thể bàn luận lý giải, vì có nhiều lý do. Một trong những lý do đó là:

⁎ Phật trí khác, phàm trí khác... Có những điều Phật biết, chúng ta không biết, đây cũng là lẽ đương nhiên... 

Vả chăng, lời Phật là thiệt ngữ, có nghĩa khi Phật tuyên nói như vậy thì sự việc nhất định phải xảy ra như vậy. Còn nguyên nhân như thế nào thì rất khó thấy rất khó biết... Nếu Phật không nói ra chẳng có ai biết được... 

Ví dụ chuyện khu rừng bị cháy lúc Phật và Tăng đoàn trú ngụ... Cả khu rừng bị cháy chỉ có nơi Phật và tăng đoàn đang ở không cháy... 

Sau đó thấy sự việc lạ, các đệ tử hỏi nguyên nhân. Do có hỏi nên Phật mới kể là: “Nhiều kiếp trước Phật đã chú nguyện cho nơi này không cháy...” nên nay không bị cháy!... Nguyên nhân này Phật không tự miệng nói ra thì không ai có thể biết được... 

 Vì thế, trong năm cảnh giới[1], có cảnh giới gọi là: “Như Lai tự đáo cảnh giới...” ra khỏi nghĩ bàn của thế thường... 

Thưa các vị!... Trong Phật đạo, cái gì chưa thông thì nên tìm hiểu trong phạm vi có được để thông. Cái gì tôi biết thì tôi chia sẻ cùng các vị. Cái gì tôi chưa biết mà có vị nào đã biết thì hãy nói cho mọi người cùng nghe cùng được lợi ích. Cái này gọi là “Lợi hòa đồng quân, Ý hòa đồng duyệt”. Không nên giấu giếm chỗ chưa thông cũng như kiến thức của mình... Vì tất cả các điều hôm nay tôi và các vị có biết được cũng đều là Phật pháp, tức của Phật nói ra, mình may mắn học được, chẳng phải của riêng mình tự biết... Lại nữa, tu hành trong Phật đạo cần nhất là chân thật. Cái gì biết thì nói tôi biết. Cái gì chưa biết thì nói chưa biết. Không phải mọi thứ đều biết như Phật. Vì thế chẳng ai chê trách cái chưa biết của mình... 

Một khi ai hỏi điều gì mà mình chưa biết thì nói rằng cái này tôi chưa biết, tôi sẽ học hoặc tìm hiểu thêm... Đừng nên cưỡng cầu nói cái không biết, giải thích với người một điều mà mình chưa biết rõ, vô tình sẽ làm hại người. Tự hại mình thì không sao... nhưng hại người là việc không nên... Lại càng không nên dối với người tu hành trong Phật đạo... Phật đạo chỉ chê trách những người không biết mà cố nói, tài khôn dạy người. Làm như vậy chẳng khác gì người đời, khó lòng thành tựu pháp vô ngã... Thất cô Nương!... Những điều cô hỏi, hiện nay tôi chỉ biết có thế, chưa nghĩ ra ý nghĩa nào tốt hơn, xin Cô Nương hoan hỷ... 

Bây giờ Lão Nhị mới lên tiếng: 

Thưa Lão Sư!... Cái biết của Lão Sư thật là chân chánh và cái chưa biết của Lão Sư cũng rất chân chánh... chúng con nguyện học cái chân chánh này... Thưa Lão Sư!... Trong Phật đạo, nên hiểu về hai chữ Bồ Tát như thế nào mới đúng. Ở đời có rất nhiều người sẵn sàng đem tài sản của mình cho người... làm nhiều điều phước thiện... Không biết những người như thế có phải là Bồ Tát, và có được coi là Bồ Tát hay không. Con vẫn phân vân, xin Lão Sư giải thích giùm... 

Lý Tứ ngẫm nghĩ một hồi rồi nói: 

Thưa các vị!... Muốn minh bạch điều này, trước nhất chúng ta phải xác định ý nghĩa hai chữ Bồ Tát theo quan niệm chánh thống của Phật giáo. 

⁎ Theo tôi hiểu, Bồ Tát là Phạn ngữ, Bồ Tát tức cách viết gọn của hai chữ Bồ Đề và Tát Đỏa, có nghĩa Giác Ngộ Hữu Tình... Ý nói đây là những người tự mình đã giác ngộ diệu lý và giúp người giác ngộ diệu lý... Trong Phật đạo, những ai làm được điều này đều gọi chung là Bồ Tát... 

⁎ Như vậy, mục tiêu của Bồ Tát là sau khi mình giác ngộ còn phải giúp người giác ngộ. Chính vì vậy mà Phật dạy rất nhiều ý nghĩa thâm u cho Bồ Tát. Những lời dạy này nhằm giúp cho Bồ Tát biết phải làm gì mới đúng, trên tinh thần của một Bồ Tát theo yêu cầu Phật đạo... Nếu chiếu theo nghĩa này mà nói, thì người nào dùng phương tiện gì nhằm hoàn thành mục tiêu giúp người hoặc bây giờ hoặc sau này giác ngộ diệu lý, đều gọi chung là Bồ Tát... 

Trong đời không ít người có lòng tốt, biết giúp đỡ người khác, biết chia sẻ quyền lợi, biết vì mọi người, có khi sẵn sàng xả thân... Nhưng không phải vì mục đích cho người giác ngộ diệu lý, mà vì một lý do riêng tư nào đó thì còn phải coi lại... 

Theo quan niệm thế gian, thông thường hễ ai có lòng tốt, bao dung độ lượng... thì họ cho rằng người này có tâm Bồ Tát. Nói rằng làm như vậy là Bồ Tát không có gì sai, nhưng Bồ Tát trong ý nghĩa này hoàn toàn thuộc về quan niệm của người thế gian... Thế gian hiểu theo nghĩa thế gian, Phật đạo hiểu theo nghĩa Phật đạo. Cũng là chữ Bồ Tát, nhưng không đồng nhất trong cách hiểu là nguyên nhân như vậy. 

Thưa các vị!... Chỉ có hai chữ Bồ Tát mà vì sao phải cắt nghĩa dông dài, tỷ mỷ như vậy... Các vị thử nghĩ xem, Phật thuyết pháp cũng mượn văn tự ngữ ngôn của thế gian mà nói. Vì thế xét trên phương diện từ ngữ thì thế gian và đạo không khác nhau, nhưng ý vị ẩn chứa trong đó mỗi thứ lại có phần riêng của mình. Vì thế cũng văn tự đó nhưng người tu hành phải hiểu theo ý nghĩa Phật dạy mới biết lời kinh nói gì. Nếu cứ hiểu từ ngữ Phật giáo theo như cách hiểu thế gian thì không rốt ráo được lý lẽ của nó... Thậm chí có khi sai lệch rất xa về mặt ý nghĩa... 

⁎ Như hai chữ Bồ Tát, thế gian hiểu không sai, nhưng người tu hành muốn làm Bồ Tát mà hiểu như vậy nhất định không ổn. Bởi lẽ hiểu như thế gian làm Bồ Tát không cần gì phải tu phải học, chỉ cần có tấm lòng là được... Nhưng thưa các vị!... 

Trong Phật đạo chỉ một tấm lòng thôi chưa đủ, mà đòi hỏi đã là Bồ Tát ngoài tấm lòng, còn phải thấu suốt một số vấn đề nhất định của Phật đạo. Nếu không như vậy thì chẳng thể giải quyết phần mình, cũng chẳng giúp người giác ngộ diệu lý. 

Giống như thấy người chết đuối, trong tâm muốn cứu người đó nhưng tự mình không biết bơi lội, cũng chẳng có phương tiện tốt thì phỏng có cứu người được không? Hay là cả hai cùng chết chìm... 

Trong kinh Đại Niết Bàn Phật cũng có ví dụ về chữ Tiên Già Bà... Đồng một chữ này mà người lính hiểu nó là cây gươm, người nội trợ hiểu chữ này là muối, người hầu hiểu đó là tấm chăn, người giữ ngựa hiểu là con ngựa... Mỗi người có cách hiểu riêng. Nếu hiểu không đúng hoặc người này hiểu cách của người kia thì nhất định sẽ hỏng việc... 

Cho nên đã là thuật ngữ thì điều rất cần là phải hiểu đúng. Nếu hiểu như cách ở đời thường hiểu, thì còn gì gọi là thuật ngữ... Mà Phật đạo có vô số thuật ngữ như vậy, xin các vị hiểu cho... 

Lão Nhị lại lên tiếng: 

Lão Sư đúng là mỗi mỗi phân minh, đã hiểu thì phải hiểu đến nơi đến chốn... Nếu chỉ qua loa mà cho rằng như thế là đủ thì sẽ không có nhiều lợi ích. Anh em chúng con từ xưa đến giờ, vì thiếu cái cặn kẽ này mà đọc kinh tuy nhiều, nghe giảng không ít... rốt cùng nếu không may mắn gặp Lão Sư thì chẳng khác chi người đời... Vẫn cứ loay hoay trong cái hạn hẹp của chấp nhất, chưa thông lại tưởng đủ...

[1] Nếu thêm Kiến và Tâm (phàm phu cảnh giới) thì tổng là bảy. 

(còn nữa) 

Tác Phẩm Lý Tứ

Công Đức Cúng Dường. Văn Hóa Vô Lậu

Quản trị viên 03.01.2022
TP.11. Công Đức Cúng Dường. Văn Hóa Vô Lậu

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Lão Đại mở choàng đôi mắt nói lớn: 

Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Đúng là như kinh nói “Nghe cái chưa từng nghe, thấy cái chưa từng thấy”. Một đời đồ đệ đã bôn tẩu nhiều nơi, đọc nhiều sách vở, nghe nhiều cao nhân thuyết pháp giảng kinh... nhưng tất cả chỉ là học vấn văn tự ngữ ngôn. Vì thế tuy giảng nói lời Phật mà ý nghĩa chẳng khác thế gian là mấy... Chưa thấy vị nào thông qua một vài lời mà chỉ được bổn tâm như Lão Sư. Đồ đệ thầm nghĩ, dù có học bao nhiêu văn tự mà không thấu suốt nguồn tâm thì cũng như “gãi ngứa ngoài hia”, chẳng có tác dụng gì... Mỗi lời Lão Sư nói ra, tác động thẳng vào tâm người nghe, đúng là “chấn động sáu cách”... Bây giờ đồ đệ mới tận mắt chứng kiến thế nào là đương cơ... thế nào là thuyết pháp... Đồ đệ cũng nhận ra khác nhau giữa thuyết pháp và giảng kinh... 

Và đồ đệ mới hết thắc mắc vì sao sau khi Phật thuyết một thời pháp, đệ tử chứng quả nhiều vô số... Thì ra bí mật của Phật đạo là ở chỗ này!... 

Trước đây đồ đệ cũng lấy làm thắc mắc về việc cúng dường bố thí. Thế Tôn dạy ý nghĩa bình đẳng... nhưng tại sao lại còn dạy, “Cúng dường một Tu Đà Hườn công đức chẳng bằng một phần vô lượng cúng dường một Tư Đà Hàm... Cứ thế chẳng bằng cúng dường một A La Hán, một Bồ Tát, một Đẳng Chánh Giác.” 

⁎ Công đức cúng dường tỷ lệ thuận với địa vị người được cúng dường... Hóa ra là như vậy, người cúng dường cho Tu Đà hườn sẽ thụ hưởng một nền giáo dục chỉ tương đương một Tu Đà Hườn và công đức có được sẽ không thể cao hơn... Thiệt là đạo lý thâm u, nếu không có duyên lành khó mà biết được. 

Đệ tử cũng nhân dịp này mà giải mối nghi trong lòng. Đọc kinh đệ tử thường nghe kinh nói, thần thông của Bồ Tát không thể nghĩ bàn... Với năng lực của mình, Bồ Tát có thể đưa một chúng sanh từ cõi này đến vô số cõi khác, thậm chí đến các Phật quốc chỉ trong chớp mắt rồi đưa trở về bổn xứ mà chúng sanh đó không thấy mình có đi lại... Hoặc cũng có kinh nói, Bồ Tát có thể đem hết tam thiên Đại thiên thế giới để trên đầu một sợi lông rồi thổi cho tam thiên Đại thiên thế giới đó bay vào hư không... Quả là hy hữu!... Quả là hy hữu... Lão Sư đã đem bao nhiêu người ở đây chu du qua vô lượng thế giới đến Phật quốc rồi trở về mà chẳng ai rời chỗ ngồi... chẳng động lấy thân... 

Lão Sư đã để tam thiên Đại thiên thế giới trên đầu sợi lông rồi thổi bay ra khỏi tâm ba cõi này... Thổi một cái biến những tâm trạng ngổn ngang thành hư không thanh tịnh... 

Đệ tử cũng hiểu ra, ngài Mục Kiền Liên thần thông quảng Đại, có thể bay lên núi Tu Di rồi bay qua rất nhiều Phật quốc... mà vẫn nghe Thế Tôn thuyết pháp “văng vẳng bên tai”... Đúng là “Nhất thiết Phật ngữ tâm”. Đúng là “Chẳng nên hướng ngoại tìm cầu”. 

Đúng là “Tam giới duy tâm”. Đúng là “Vạn pháp duy thức”... 

Thiệt là cái ngu này nếu không gặp được Lão Sư thì muôn kiếp đồ đệ không thể dứt nó... 

Lão Sư ơi!... Đúng là Lão Sư đã khai Thiên nhãn cho đồ đệ, Lão Sư đã khai Pháp nhãn cho đồ đệ... Một lời Lão Sư, đồ đệ giải cái nghi trong vô lượng kiếp... Nghĩ lại, đồ đệ tự cười chính mình, cười bao nhiêu người khác giống như đồ đệ. Miệng tuy nói “Tam giới duy tâm”, mà cứ nhìn ngó vọng tưởng bên ngoài để mong tìm thấy các pháp ngoài tâm... 

Hỡi ơi!... Cứ như vậy thì biết đến bao giờ mới có cơ may giác ngộ... Và không giác ngộ, thì làm sao hiểu lời Phật... Không hiểu lời Phật, hèn chi ở đời người ta thích đọc luận hơn kinh!... 

Bây giờ đồ đệ mới có manh mối để hiểu, thế nào là Hóa Phật, Hóa Bồ Tát thuyết pháp. Thế nào là ba mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ đẹp và sáu mươi bốn phạm âm... Thế nào nghĩa “Như Lai là như chư Phật xưa mà thuyết pháp” mà Phật đã dạy trong kinh Đại Niết Bàn... Thế nào là ý nghĩa câu nói của ngài Xá Lợi Phất: “Bạch Thế Tôn!... Con từ miệng Phật sanh”. Thế nào là câu nói của Ương Quật Ma La: “Từ ngày con được chánh pháp sinh ra, chưa từng giết hại sinh mạng nào”. Thế nào là câu nói: “Vì thương chúng sanh nên Như Lai vẽ các hình...”... Thế nào là thân hóa sanh... 

Lão Sư ơi!... Nay con cũng xin nói: “con từ miệng Lão Sư hóa sanh”… Thất Muội và các huynh đệ ơi!... Thất Muội và các huynh đệ chẳng phải phàm nhân. Nhờ hết thảy huynh đệ ở đây tâm cầu đạo mãnh liệt mà mới có duyên lành để Lão Sư đương cơ khai thị... Bây giờ mới hiểu cái câu: “Phật, Tổ chẳng thể độ kẻ vô duyên”. 

Các huynh đệ muội ơi!... Ngày xưa Lão Đại ngu dốt mờ tối, những tưởng mình có cái hơn người, những tưởng mình là huynh trưởng của đệ muội... Nay ngộ ra mới biết rằng chẳng có cái gì là huynh chẳng có cái gì là đệ. Huynh đệ trên dưới chỉ qua đem cái tâm hư dối mà đối đãi với nhau... 

Khi giác ngộ mới biết bổn tâm xưa nay chưa từng có trên dưới đệ huynh... Hết thảy hữu tình đồng một bản lai thanh tịnh... Thiệt là một đời người, bây giờ mới thấm cái nghĩa “Các pháp bình đẳng”... 

Lý Tứ lại bảo: 

Thưa Lão Đại, các huynh đệ!... Tuy nghĩa là thế, chẳng thấy có huynh đệ tỷ muội... Nhưng là người trong ba cõi, thì cũng nên thuận theo thế thường, không nên làm khác... Cũng xưng nhau là huynh là muội, mà trong lòng không thấy có cao hạ mới là ý vị của đạo, cái này chỉ thầm tự biết mà thôi... 

Vì thế Phật dạy: “Phàm nói trâu, thánh cũng nói trâu.” Nay chúng ta cũng thế, chớ nên nói khác... Chỉ khi nào thấy mình có cái hơn người. Chỉ khi nào thấy người chẳng bằng mình dù bất kỳ ở phương diện nào, nên biết rằng cái thấy này là chướng đạo... cần phải từ bỏ... Đạo có văn hóa của đạo... Tôi thường hay nói với các vị văn hóa vô lậu là muốn nói điều này. 

⁎ Thế nào là văn hóa vô lậu? Văn hóa vô lậu là một hình thái văn hóa chỉ có trong Phật đạo. Đó là đời sống được xây dựng trên nền tảng giác ngộ, gồm cộng đồng những người có giác có ngộ. Văn hóa này lấy thanh tịnh tâm làm chuẩn mực. Những gì trái với thanh tịnh được loại bỏ hoàn toàn. Công sức bỏ ra sẽ gặt hái thành quả là công đức. Vì thế các giá trị ở đây được đo lường bởi công đức tức sự thanh tịnh tự thân... 

Văn hóa này cho ra cái tự vui. Tự vui là sự vui chẳng do bất kỳ cái gì làm nên. Vì chẳng gì làm ra cho nên nó là thường... Đây là loại văn hóa của những ai biết tùy hỷ, biết tán thán. Vì biết tùy hỷ tán thán nên một vui là tất cả vui, tất cả vui là một vui... 

Văn hóa vô lậu là một xã hội không tích chứa phiền não, tạm gọi là “Ngũ uẩn giai không”, tức là không đặt giá trị hư ảo lên thân này; không lấy khổ vui của cảm thọ mà sinh hai tâm, biết các tưởng không thật nên chẳng có phương sở sai khác, biết rõ các niệm chính là hành tâm nên chẳng tạo ra hiệu số chênh lệch thiện ác, thấu suốt hiểu biết thế gian là sản phẩm của nghiệp nên thức chẳng sanh... 

Ứng xử của cộng đồng là “Không bốn tướng”. Vì không bốn tướng nên tâm lo sợ tự mất... 

Ngữ ngôn giao tiếp của cộng đồng là “Không tứ cú”. Không kẹt tứ cú nên có thể dạy người giác ngộ... 

Đời sống của cộng đồng là “Không bốn bệnh”. Vì không bốn bệnh nên đạo tràng thanh tịnh tự hiện... 

Quan niệm của cộng đồng là “Không ba thời”. Vì không ba thời nên chẳng có thấy thường hay vô thường... 

Tồn tại của cộng đồng là “Tứ vô lượng tâm”. Vì là tứ vô lượng tâm nên tồn tại này do nguyện... 

Nói chung, văn hóa vô lậu là nền văn minh của bậc thánh có đầy đủ trí tuệ... Vì thế nơi văn hóa vô lậu không hô hào lục hòa, lục hòa cũng hiện... 

Thưa các vị!... Muốn được thứ văn hóa này, muốn tồn tại trong nền văn hóa này, các vị phải nỗ lực bản thân... 

⁎ Chỉ có văn hóa vô lậu mới cho ra những quả vị vô lậu... Quả vị vô lậu là các tầng sâu của thanh tịnh tâm... 

Văn hóa vô lậu chính là nét đẹp trong lòng người giác ngộ. Một khi đã giác ngộ thì văn hóa vô lậu ngay nơi tâm này, chẳng nhọc công tầm cầu nơi khác... 

Thuyết giáo một hơi về văn hóa vô lậu, coi bộ thấm mệt nên Lý Tứ không nói nữa mà bưng bình trà lên, làm một hơi năm sáu ly trà đậm... 

Thất Muội trố con mắt dòm Lý Tứ rồi thầm nghĩ: 

Lão Sư thiệt là “thần thông quảng Đại”, trà đậm làm một hơi năm sáu ly, ớt cay ăn lần cả nắm. Chắc cái bụng của Lão Sư làm bằng sắt thép hay ny lon gì đây. Thiệt là người “Đại ngộ” có khác!... 

Hôm qua khi dọn cơm, mình quên lấy ớt, Lão Sư bèn dõng dạc như sư tử hống gầm lớn: “Bộ nhà to như vậy mà không mua nổi ký ớt hay sao”… Lão Sư ơi!... Tưởng Lão Sư đòi hỏi thứ gì thì tiểu nữ không dám hứa, chứ ớt cay thì mọc hoang đầy vườn, trà đậm thì sau núi không thiếu. Ở lại đây bao lâu Lão Sư cũng đừng lo hai thứ này... Lão Sư ơi!... Coi bộ thuốc dạ dày của thầy Cảnh Thiên mai mốt có chỗ dùng rồi... 

Nghĩ đến đây ả ửng hồng đôi má rồi nghĩ tiếp... “Lão Sư thiệt là bậc Đại Pháp Sư, mới học có một chút xíu trí tuệ của Lão mà mình cũng thông tuệ hẳn lên... biết tính toán đến ớt trà dưa muối... Hi hi hi hi...” 

(còn nữa) 

Tác Phẩm Lý Tứ

Làm Sao Để Thấy Được Như Lai? “Ái Ngữ” Trong Phật Đạo

Quản trị viên 03.01.2022
TP.10. Làm Sao Để Thấy Được Như Lai? “Ái Ngữ” Trong Phật Đạo

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Lý Tứ tiếp lời Thất Muội: 

Thất Cô Nương!... Các huynh đệ!... Lý Tứ tôi thiệt trân trọng nghĩa tình của các huynh đệ đối xử với Lý Tứ này. Cuộc đời tôi chỉ tâm nguyện là những ai đã có cơ duyên gặp Lý Tứ, cho dù người đó lấy cái tình hay lấy phụ bạc đối với mình, đều coi như quyến thuộc, chẳng luận thân thù, chẳng thấy ghét thương... Mong rằng nhân cái duyên gặp gỡ này mà họ được pháp lành... Như con đò đưa người sang sông, con đò chẳng nói đây thù kia thân... Ai chịu bước xuống tất được đến bờ... Ngoài tâm nguyện này, Lý Tứ không có ý khác... 

Tôi vốn không thích nói về mình. Trước đây Lý Tứ có người bạn văn hay chữ tốt, đã tặng mấy câu thơ. Xin đọc cho các vị nghe, cũng xin tác giả cho phép tôi sửa vài chữ để bài thơ hợp tình hợp cảnh: 

“Ngàn thu làm kiếp con đò...

Giữa dòng sanh tử đôi bờ vốn không.

Trăng thanh lương nước tịnh dòng

Như muôn chiếc lá về nguồn đó thôi!…” 

Đọc đến đây, Lý Tứ lại tiếp: 

Nhưng Thất Cô Nương ơi!... Lý Tứ có thói quen sạch sẽ ngăn nắp lại thích trà ngon... Nếu Cô Nương không thấy gì bất tiện, thì lo mấy cái vụ này giùm... Biết đâu nhờ có trà ngon mà Lý Tứ ở lại đây làm bạn với các vị lâu hơn!... Ha ha ha ha... “Dù gì thì phụ nữ cũng chu đáo hơn nam nhân... mà!...” Ha ha ha ha... 

Thất Muội tiếp lời Lý Tứ... 

Lão Sư ơi!... Nhìn phong cách và nghe giọng cười của Lão Sư, tiểu nữ cứ tưởng Lão Sư là khách giang hồ... thứ thiệt… Hi hi hi hi... Hình ảnh của Lão Sư đã xóa đi trong lòng tiểu nữ những chấp nhất từ xưa đến giờ. Trước đây tiểu nữ cứ hình dung trong đầu, một người giác ngộ là phải “tiên phong đạo cốt” râu tóc bạc phơ... đi đứng nói năng như một cỗ máy... cái tướng rất ngầu, ai gặp cũng ớn... ai nhìn cũng ghê... Ai dè... thì ra trí tuệ chẳng can dự gì đến thân này... 

Đúng rồi hình như kinh gì đó, chắc là kinh Can trường có nói: 

“Nhược dĩ sắc kiến ngã,

Dĩ âm thanh cầu ngã,

Thị nhân hành tà đạo,

Bất năng kiến Như Lai.” 

Bây giờ tiểu nữ mới hiểu câu nói hôm trước của Lão Sư: “Cho dù người tu hành có đắc cái quả hiện tiền cũng không vì thế mà mọc ba con mắt sáu cái tay”… 

Hèn chi khi vào chùa, nhìn hình ảnh mấy chục vị Tổ, người nào cũng ngộ ngộ, có cái gì đó quái quái... Tiểu nữ rất thích hình ảnh này... 

Lý Tứ thầm nghĩ, “Thiệt là may mắn, ả này không nói lộn lời kinh, chỉ lộn có cái tên. Thây kệ… lộn cái tên thì chẳng sao, mai mốt có dịp sẽ tìm cách nói khéo cho ả biết đó là kinh Kim Cang chứ không phải kinh Can Trường”. Đúng là ả vào giang hồ lâu rồi nên cứ lấy can trường mà đối đãi với nhau, nói riết quen miệng... Lý Tứ lên tiếng: 

- Thưa Thất Cô Nương!... Nghe Cô Nương đọc bài kệ trong kinh Can Trường gì đó, Lý Tứ tôi thiệt hả dạ... Từ nay có người hiểu mình… Ha ha ha ha... Tôi có cái tánh hay hài hước, mong Cô Nương và các vị chỉ học cái đạo nghĩa đừng học cái hài hước của tôi... Cô Nương ơi!... Cô Nương đọc mấy câu kinh Can Trường gì đó hay thiệt. Xin cô Nương cắt nghĩa cho tôi biết, nếu ai chấp vào thân tướng hay nghe lời nói mà cho đó là Như lai thì đây là kẻ hành tà đạo và nhất định “bất năng kiến Như Lai”… 

- Như vậy “Như Lai là cái gì?” để “thường năng kiến Như Lai” thì phải làm sao? 

Thất Muội mỉm cười rồi nói: 

Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Thú thật, mấy câu kinh này tiểu nữ đã thuộc từ lâu, lại được nghe giảng nhiều lần nơi các tự viện... Và thỉnh thoảng cũng có nghiền ngẫm về nó, nhưng không thể nào hiểu nổi... Đôi khi lại còn hiểu ngược... Chùa am thờ Phật thân tướng oai nghiêm, ai thấy cũng kính trọng, ai gặp cũng muốn lễ lạy... Trong chùa lại có rất nhiều quyển kinh, quyển nào cũng dày mo đều dạy Phật lý... Cớ gì bảo rằng hễ ai y cứ vào hai thứ này mà nói rằng đó là Phật đều là tà đạo hết, lại còn nói người này chẳng thể thấy Phật... Những lời thâm u như vậy thì thiệt tiểu nữ không thể nào hiểu nổi... 

Bất ngờ lúc nãy, khi nghe Lão Sư cười với cái giọng hài hước, trong bụng tiểu nữ thầm nghĩ, “Lão Sư thân tướng chẳng tốt gì mấy, lại nói năng vui tai, không phải một bề nghiêm trang, nhất nhất lễ nghi như mấy vị Hòa Thượng trong chùa. Nhưng lời nào Lão Sư nói ra cũng đầy đủ ý vị, khiến người nghe từ u tối thành sáng, từ phiền não thành an vui”. Bất chợt tiểu nữ hiểu ra nghĩa lý bài kinh... Muốn thấy được Như Lai phải từ bỏ chấp nhất hình tướng bên ngoài; Như Lai không từ cái uy nghiêm nơi thân tướng, Như Lai cũng không từ cái trau chuốt của văn chương chữ nghĩa, Như Lai cũng chẳng tự cái thâm u của văn tự ngữ ngôn trong những cuốn kinh dày mo... mà Như Lai chính là ý vị của ngôn thuyết. Ai cảm được cái ý vị này tức đã diện kiến Như Lai. Một phen diện kiến rồi mới biết Như Lai ra ngoài thấy nghe hay suy nghĩ so lường... 

Như Lão Sư đây, tiểu nữ để ý từ hôm Lão Sư đến đây. Mấy ngày qua, lần nào cũng vậy, nhân cái cảnh trước mắt mà Lão Sư tuyên nói diệu lý. Nghe xong diệu lý cảnh mất trong lòng... Lão Sư chẳng để cuốn kinh trước mặt mà diễn giải từng trang, cũng chẳng cao giọng bằng những lời lẽ đao to búa lớn, chẳng luận có, chẳng luận không... Nhưng qua cách nói của Lão Sư, ai ai cũng biết đó là Phật pháp, nghe xong thấm nhuần đạo lý... Không biết tiểu nữ hiểu như vậy có đúng không? Xin Lão Sư chỉ dạy... 

Lý Tứ khen lớn: 

Cô Nương đúng là một trượng phu!... Chiều sâu trong lòng Cô Nương rất là hiếm thấy. Xin chúc mừng Cô Nương đã dẹp bỏ cái nữ nhi thường tình... Nghĩa lý và oai lực của kinh Kim Cang là ở chỗ đó, nay Cô Nương đã lãnh hội một phần... Ai thấu suốt một phần kinh này, sẽ được cái tâm kiên cố vững chắc như Kim Cang. Vì sao lại được cái tâm kiên cố như vậy? Vì bởi trong lòng không còn vướng mắc, cái thấy không bị ngăn, cái nghe không bị bịt... Con mắt khi đối thân tướng bên ngoài chẳng làm động tâm, lỗ tai nghe qua lời kinh thấy được ý vị... Thấy nghe như gió thoảng đầu non, như tiếng vang trong núi... Lại nữa, được ý vị rồi phải xả bỏ ngôn thuyết... Như người ăn mía bỏ bã... chỉ lấy cái tinh túy làm sạch nguồn tâm... 

⁎ Ngày xưa Phật cũng có dạy: “Người nghe kinh phải như con nga vương uống sữa hòa nước, thọc mỏ vào ly sữa để uống, chỉ hút toàn sữa, còn nước để lại”. 

Thì cũng vậy, nghe kinh chỉ cốt được ý, ý ấy là tâm... Được ý phải biết quên lời, như con nga vương uống sữa trong nước... Chỗ thấy của Cô Nương nhất định nếu có duyên lành sẽ thành tựu lớn... Mong rằng từ nay Lý Tứ tôi không phải tặng Cô Nương mấy hộp thuốc tiêu thực... Ha ha... Ha ha...!... 

Lý Tứ lại tiếp: 

Nhưng Cô Nương cũng chỉ mới nói được cái tâm xả bỏ các tướng hư dối của thân tướng và ngôn thuyết, mà Cô Nương chưa cho tôi biết cái gì mới là Như Lai? Như Lai phải thấy như thế nào? Cô Nương cố suy nghĩ thử xem... Tôi đương rửa tai để nghe Cô Nương nói đây... 

Thất Muội lại nói: 

Thưa Lão Sư!... Tiểu nữ quán kỹ nguồn tâm của mình thì hiểu rằng: Như Lai chính là ngay hiện tiền cái tâm rỗng rang, cái ý hồn nhiên, cái trí sáng suốt... Đối trước cảnh duyên như gương sáng hiện hình, không bận không phiền, không não không hại... chẳng nhớ quá khứ, chẳng vọng vị lai... Thấy biết như thế gọi là thấy Như Lai... Chẳng hiểu tiểu nữ nghĩ như thế có đúng hay không? Xin Lão Sư chỉ dạy... 

Lý Tứ nói: 

Cô Nương quả là tư chất hơn người, những điều Cô Nương vừa trình bày thiệt đáng trân trọng... 

⁎ Nhưng nếu hiểu như Cô Nương thì chỉ mới hiểu một nửa nghĩa của hai chữ “Như Lai”... 

Tức là cái hiểu của Cô Nương mới nhằm nói được nghĩa “Như”. Cô Nương tĩnh tâm nghiệm lại xem tôi nói có đúng không? Nói đến đây Lý Tứ làm thinh... 

Thất Muội chiêm nghiệm hồi lâu rồi bảo: Quả đúng như vậy. Khi thấy được nghĩa này, cái tâm của tiểu nữ dừng lặng... ý có chút nghĩ suy nhưng nghĩ suy này đối với tâm như nước chảy qua cầu... tâm chẳng hề dao động cũng chẳng duyên theo pháp... Một bề vắng lặng bất động... 

Lão Sư ơi!... Tiểu nữ biết thế nào là nghĩa Như rồi... Hèn chi tiểu nữ hay nghe các cao nhân ngâm nga câu: “Thuấn Nhã Đa tánh khả tiêu vong, Thước Ca Ra tâm vô động chuyển...”... Nói rồi ả lạy Lý Tứ một lạy... 

Lý Tứ cười ha hả rồi nói: 

Hay!... Hay!... “Thuấn Nhã Đa tánh khả tiêu vong, Thước Ca Ra tâm vô động chuyển”. Đây là Phật ngôn, đây là Thần Chú chớ chẳng phải lời phàm... Hai câu này chỉ có người giác ngộ mới biết được một phần nhỏ ý nghĩa. Cô Nương mà thấy được một chút ý vị trong đây, có thể nói là “kỳ sự hy hữu”. Như thế là Cô Nương đã nếm chút nước cam lồ thừa của chư Phật, hy vọng một ngày không xa sẽ được đứng dưới chân đảnh Thủ Lăng Nghiêm mà chiêm bái Thế Tôn. Thiệt là duyên lành. Xin chúc mừng Cô Nương... Nhưng Cô Nương ơi!... 

Cô Nương cố nghĩ suy xem, đã Như thì không Lai... Lời Phật là thiệt ngữ, lời Phật là chơn ngữ... Như vậy cái gì là Lai... Do đâu mà nghĩa Lai xuất hiện... Cô Nương cố nghĩ xem... Một phen thấy nghĩa này, thì mới xứng đáng lễ lạy đức Như Lai... 

Thất Muội trầm ngâm một hồi lâu rồi lên tiếng: 

Thưa Lão Sư!... Điều này tiểu nữ cố nghĩ suy mà không thông suốt, chắc căn cơ của tiểu nữ nhỏ hẹp. Xin Lão Sư từ bi chỉ dạy... 

Lý Tứ nghiêm giọng nói lớn: 

Làm sao Cô Nương biết căn tánh mình nhỏ hẹp? Cô Nương lại bị cái nữ nhi thường tình sống dậy rồi... Điều Đại kỵ của người học đạo là câu đó. Trên đời bất kỳ một ai mở miệng nói câu này trong lúc tu hành thì coi như tự đóng cửa đạo... 

Học đạo không như ở đời, khi đối đáp với nhau, không thể dùng những câu thường tình yếu đuối để biểu lộ khiêm tốn mà làm cho cái tâm trở nên hạ liệt như kẻ phàm phu... Những câu nói như vậy hoặc tương tự như vậy, dùng để đối đãi với nhau ở đời là tốt, rất tốt... nhưng với đạo thì không có chỗ xài... 

Thế Tôn ra đời!... Chỉ có hoài bão là mong muốn tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo. Có nghĩa rằng mặc nhiên công nhận cái gì Phật làm được thì chúng sanh cũng có thể làm được... Cớ gì nay có người chối bỏ điều này... Cái câu cô vừa nói chẳng khác chi phủ nhận hoài bão của chư Phật... 

Tất nhiên người học đạo không được ngã mạn. Ngã mạn là lỗi lớn... Nhưng cũng không được sinh tâm hạ liệt, vì hạ liệt đồng nghĩa với chấp nhận tự thân ngu si không trí... Hai thứ tâm này đều phá hoại đạo tâm, phá hoại trí tuệ... 

Đâu!... Cô Nương thử cố nghĩ xem, do nghĩa nào mà chữ Lai xuất hiện... Tôi tin rằng điều này không ngoài tầm tay của Cô Nương... 

Thất Muội ngồi ngay ngắn chiêm nghiệm một hồi rồi nói: Thưa Lão Sư, cái nghĩa Lão Sư vừa nói với tiểu nữ chính là nghĩa Lai vậy. Vì cái ngu muội hạ liệt của tiểu nữ mà chư Thánh phải từ bỏ chỗ ngồi bất động đến với chúng sanh. Đến với chúng sanh để làm cho chúng sanh hết ngu muội hạ liệt. Đến với chúng sanh để ban cái an vui thì gọi là Lai...

Như cái trống kia chẳng có tiếng kêu, tự như bất động, nhưng có kẻ đánh liền kêu, tiếng kêu vừa tâm người đánh... Đánh lớn kêu lớn, đánh nhỏ kêu nhỏ, không đánh không kêu, tuy có kêu mà trống kia vẫn thường tịch diệt... Thường kêu thường tịch diệt nên gọi là Như Lai… 

Thưa Lão Sư, nay con cũng thấu suốt ý nghĩa của hai chữ “Ái Ngữ” trong Phật đạo rồi... Ái ngữ là lời nói xuất phát từ Bi tâm. Chư Thánh mỗi lời mỗi lời đều là ái ngữ. Như cha mẹ thương con... dù lời ngon tiếng ngọt, hay chửi mắng la rầy... hai thứ này cùng là ái ngữ. Ái ngữ vì đều xuất phát từ một tâm đó là Từ Bi tâm vậy... Nhân nơi Từ Bi của Lão Sư mà nay con rụng rơi cái ngã... Nói đến đây, nước mắt ả ràn rụa... Ả lại quỳ xuống lạy dài Lý Tứ... 

Lý Tứ lại nói: 

Xin chúc mừng Cô Nương, chúc mừng huynh đệ!... Kẻ học đạo một phen giác ngộ, như người ra khỏi cơn mê... Ra khỏi cơn mê rồi, mới biết muôn cảnh muôn vật đều là huyễn hóa. Cảnh kia tự như, chỉ do tâm suy lường nên cảnh kia thành pháp... Mê nơi pháp, thì phiền não cột trói dậy lên... Phiền não cột trói dậy lên, buồn vui xuất hiện. Buồn vui gọi là tâm, có tâm là có ngã, tâm diệt ngã vong, ngã diệt tâm vong... nên phiền não gọi là pháp tương ưng... 

Tương ưng vì tâm thanh tịnh phiền não liền dứt; dứt phiền não tâm liền thanh tịnh... Vì thế Kim Cang kinh Phật dạy: “Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh hương vị xúc pháp sanh tâm... Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”. Đạo là như vậy đó... Ha Ha... Như vậy!... Như vậy... Chỉ cần “Như Vậy” là xong... Sao Cô Nương nay đã “Như Vậy” hay chưa? 

Thất Muội cung kính nói: 

Thuật... lấy pháp huyễn để trị huyễn tâm... Nay con đã “Như Vậy” rồi, đã “Như Vậy” rồi ạ…!... Ả cười thật tươi mà nước mắt ả không ngớt tuôn rơi...!...

(còn nữa)

Tác Phẩm Lý Tứ

Hãy Tự Mình Thắp Đuốc Lên Mà Đi. Hai Chữ Trượng Phu Trong Đạo Bồ Tát

Quản trị viên 03.01.2022
TP.09. Hãy Tự Mình Thắp Đuốc Lên Mà Đi. Hai Chữ Trượng Phu Trong Đạo Bồ Tát

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Đêm dưới chân Dự Sơn khung cảnh huyền ảo, ánh trăng tỏa sáng một vùng. Phía trước con sông Ô Giang như đồng cảm với cái bao la của đất trời nên cũng lặng lẽ ngắm trăng. 

Lý Tứ một mình ngồi ở bờ sông giữa cái thanh vắng của tự nhiên lòng dấy lên cảm xúc. Thiệt là đời người như dòng sông này, hết đục đến trong, trong rồi lại đục, chảy mãi không ngừng, tháng ngày giong ruổi nhưng chẳng biết về đâu. 

Con người với bao nhiêu toan tính cũng chỉ là toan tính, bao nhiêu buồn vui cũng chỉ là buồn vui. Sống với những toan tính buồn vui rồi cứ ngỡ đó là cuộc đời, như chiếc thuyền không người cầm lái... Thiệt là nhầm lẫn lớn... 

Thấm thoát mà Lão Trương ra đi đã gần hai năm. Mấy chục năm với bao nhiêu lần trăng sáng, cũng con trăng này, cũng đất trời này, Lão Trương đã nói biết bao điều về đạo…

Tâm huyết một đời của Lão Trương, nhiệm vụ trước mắt là phải hoàn thành. Không làm được điều này thì thiệt uổng công của Lão Trương, lại uổng đạo nghĩa đã nghe... Nhưng đạo nghĩa là cái gì quá thâm u mà sức một người khó bề với tới. Nếu không dốc hết tâm lực thì chẳng thể biết được ý nghĩa đích thực của đạo là gì. Người đời tâm ý chia năm xẻ bảy, khó bỏ thói quen toan tính. Học đạo lý cũng chỉ nhằm làm thỏa mãn suy lường thiệt hơn. Ngồi xuống tu hành cũng chỉ để mua vui qua ngày đoạn tháng... 

Ngày xưa Thế Tôn bằng trí tuệ của một Đẳng Chánh Giác có khi còn phải kêu trời, cái câu “Chúng sanh can cường khó độ” chẳng phải nói ý này là gì... 

Lão Đại đứng đã lâu phía sau, lão lặng thinh không nói một lời. Có lẽ lão không muốn khuấy động cái tĩnh lặng riêng tư...

Lý Tứ lên tiếng: 

Phong cảnh ở đây thiệt là thanh nhàn. Các vị khéo chọn địa phương này làm trú xứ, ai đã đến đây một lần rất khó mà quên. Phong thủy phù hợp với người tu hành, lại làm thỏa mãn những tâm tình gần gũi thiên nhiên. Các vị quả có con mắt... 

Lão Đại nói: 

Thưa Lão Sư!... Đồ đệ đã đi nhiều nơi, vãng nhiều cảnh đẹp, nơi đây nói rằng đẹp nhất thì chưa phải. Nhưng ở đây có cái gì đó đủ sức quyến rũ để lòng người lưu luyến, các huynh đệ cũng rất ưa... Nếu Lão Sư thích thì cứ coi đây như chỗ của mình hoặc khi nào công vụ tạm xong xin Lão Sư lại trở về chân Dự Sơn cho anh em chúng đệ tử nương nhờ trí tuệ... 

Lý Tứ nói: 

Tôi chưa tính được mai mốt làm gì, và cũng không có thói quen tính trước, vì thế chẳng dám hứa... 

Lão Đại lại nói: Mọi người đã dọn sẵn trà, trong sân tề tựu đầy đủ, mời Lão Sư cùng vào uống trà ngắm trăng và nói chuyện đạo lý. Mọi người đang đợi Lão Sư... 

Chiếc chiếu bông được dời ra giữa sân, mọi người cùng ngồi vòng tròn các vị trí không thay đổi... Trên trời trăng soi sáng, dưới đất gió từ Ô Giang thổi lồng lộng, trước mặt trà thơm bốc khói. Đúng là khung cảnh thần tiên. 

Lý Tứ lên tiếng: 

Thưa các vị!... Lý Tứ có chút tâm tình, tạm mượn gió sông giải tỏa khiến các vị đợi lâu thiệt chẳng phải, xin các vị lượng thứ... 

Lão Trượng nói: 

Thưa Lão Sư!... Trước khi Lão Sư vào đây, chúng đệ tử có chút nói lén với nhau. Chúng đệ tử nghiệm lại đời mình thiệt có phước, may mắn gặp được Lão Sư. Chỉ mới vài ngày mà tâm tình mọi người thay đổi. Kiến thức có chút tăng trưởng, huynh đệ thương yêu nhau trong cái tình đạo nghĩa, những đố kỵ ghét ganh ngày xưa cũng theo cái biết mà tự dứt... 

Khi Lão Sư nói điều gì, nhân cái nói này mà có người lợi ích, theo đó anh em cũng hoan hỷ lây, mới biết đạo lý chân thật có năng lực làm tiêu phàm tình. Không cần nhiều lời, không cần giáo điều mà mỗi người tự thấm... Như mưa rớt hột, chẳng nói lời nào mà cỏ cây đều được thấm nhuần. 

Từ ngày Lão Sư đến đây, không ai chẳng thấy lợi ích. Nên mọi người nhất quyết, Lão Sư có đuổi đánh cũng không đi. Lão Sư có chửi mắng cũng là lời dạy, anh em không dám cãi lời... 

Chỉ sợ chúng đệ tử cái tâm nhỏ hẹp, cái trí cạn cợt không thể tiếp thu hết thâm thúy của đạo do Lão Sư truyền trao. Vì thế mọi người quyết tâm một lòng một dạ hướng về Lão Sư. Ngưỡng mong Lão Sư thương tình mà không nỡ bỏ chúng đệ tử... 

Lý Tứ tiếp lời: 

Thưa các vị!... Cũng không nên tán dương người thái quá, cũng không nên tự khinh chính mình. 

Phật dạy: “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật Tánh”. Theo lời này thì các vị có khác gì tôi. Như hang tối ngàn năm, có đèn liền sáng chẳng đợi dài lâu. Dù hang động mỗi cái có khác nhưng ánh sáng thì quyết không hai; ánh sáng chẳng vì cái động kia mà so đo, ánh sáng chẳng vì cái động kia mà khi vầy khi khác, ánh sáng cũng không cầu mong cái động được sáng, nhưng ánh sáng chân thật lợi ích là soi sáng cho người có mắt được hết tối tăm... 

Trong kinh cũng có dạy: “Như người say quên mất trong chéo áo của mình có hạt châu vô giá”… Thì ở đời cũng vậy, người đời sáu căn, bên ngoài thì uống phải thứ rượu trần cảnh nên say mà tưởng gốc cây bụi cỏ là nhà, bên trong lại mê thứ rượu vọng tưởng nghĩ suy rồi lầm có đây kia mà thả mồi bắt bóng. Say mê che mờ tâm trí, buồn vui với tà khúc thế gian mà quên mất tự tâm. Châu báu có sẵn, tỉnh dậy liền được, đâu phải bận tâm kiếm tìm... Một khi hết say, châu báu tự tâm còn đó. Một khi hết mê biết rõ chính mình... Thưa các vị!... 

- Đạo lý nhà Phật là thứ thuốc giã rượu; làm cho người say tỉnh hẳn cơn say, làm cho người mê ra khỏi cơn mê, chứ chẳng phải Phật gia cho người thứ gì mới... 

- Đạo lý nhà Phật là thuốc xổ, công dụng của nó tống khứ tà kiến kiết sử ngu si… ra khỏi ý này. 

- Đạo lý nhà Phật là thuốc tiêu, công dụng tiêu hoại nhân ngã hơn thua ganh ghét tật đố chấp thủ... làm mờ trí này. 

- Đạo lý nhà Phật là hương thơm huân ướp tự tâm. 

- Đạo Lý nhà Phật là đèn sáng xua tan bóng đêm sợ hãi ba cõi bủa vây thức nghiệp 

- Đạo lý nhà Phật là thứ tình thương rộng lớn đốt cháy những cõi lòng vị kỷ... Có thuốc mà không chịu uống; có hương mà không chịu ướp, có đèn mà không chịu thắp sáng, có tình thương mà không biết thương người, thì dù Phật trời xuống đây cũng đành chịu bó tay... 

⁎ Tu hành trong Phật đạo nỗ lực tự thân là chính. Hãy cầu mong ở chính mình, đừng cầu mong nơi khác...

 ⁎ Vì thế Phật dạy: “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi”. 

Thất Muội rót trà mời từng người rồi lên tiếng: 

Thưa Lão Sư!... Tiểu nữ thân phận nữ nhi, ra giang hồ theo các bậc hảo hán nhiều năm nên cũng nhiễm cái thói ngang tàng. Bằng hữu giang hồ đối đãi với nhau không phân biệt gái trai... Lưỡi gươm đi trước, ngôi vị theo sau... Đạo lý này không kể đến xuất thân tuổi tác... không nói đến tiền của công danh... Gẫm lại có cái hay riêng của nó... 

Tiểu nữ cũng thường xuyên lui tới chùa am để nghe đạo lý... Chốn chùa am thì có luật nghi của chùa am, không như chốn giang hồ... Tiểu nữ trộm nghe ở đó người nữ tu hành không thể ngồi ngang với nam nhân, mà phải đối đãi bằng “bát kính”... Tiểu nữ là phận gái, rất muốn tu hành. Lão Sư đến đây trong lòng tiểu nữ một mực kính phục. Bất đắc dĩ ngồi ngang bằng cùng chiếu để nghe lời vàng nhưng trong lòng áy náy, không biết có mang tội bất kính với Lão Sư cùng các huynh đệ ở đây hay không? Một khi tâm tình chưa được cởi mở thì đạo lý dù có qua tai cũng chẳng có lợi ích lớn, mong Lão Sư chỉ bày... 

Lý Tứ cười ha hả rồi nói: 

Cô Nương ơi là Cô Nương!... Nơi chùa am có dạy, có biểu Cô Nương phải làm theo “bát kính” hay không? 

Thưa tiểu nữ chỉ trộm nghe thôi ạ... 

- Trộm nghe ha ha... Chỉ trộm nghe mà chưa chính thức được dạy được biểu, thì việc này nào có can dự đến Cô Nương... 

“Bát kính” ngày xưa chư Thánh chế ra là để cho Tăng lữ giữa nam và nữ có trật tự của Tăng. Nhờ tôn kính này mà mai sau nữ Tăng sớm đổi thành nam Tăng đặng mau đắc quả chánh giác. 

Còn ở đây là tục gia đệ tử, chuyện nam nữ chỉ lấy mỹ tục mà đối đãi, lấy thuần phong mà lại qua... Vả chăng trong đạo Bồ Tát chỉ lấy trí tuệ làm căn cứ. Người nữ mà nhiều trí tuệ, thì cho dù là nam nhân mà ít trí tuệ thì cũng phải cung kính lắng nghe... 

Vì thế mới có Thắng Man Phu Nhân, có Vô Úy Đức Bồ Tát... Họ đều mang thân gái nhưng trí tuệ cao siêu, đôi khi Tăng chúng còn phải lắng nghe... hà huống tục gia... Lắng nghe là lắng nghe cái đạo lý, hay lắng nghe rồi dòm ngó cái nữ nam... Cô Nương nói đi!... 

Trong đạo Bồ Tát, hai chữ trượng phu để chỉ cho người có nhiều trí tuệ, có lòng độ lượng, biết quăng bỏ chấp nhất, không phân biệt nữ nam. Mọi người bình đẳng, thấy các pháp không cao hạ... Người có tâm có trí như vậy dù mang thân nữ cũng gọi trượng phu. Còn ngược lại cho dù đang mang thân trượng phu cũng chẳng khác người nữ... Kinh cũng có nói nhiều về chuyện này... Ngài Xá Lợi Phất nhiều lần nhầm tướng nữ nam, chắc cô cũng có nghe qua... 

Nói như vậy không phải đề cao người nữ, đánh đồng nữ nam. Nhưng đã dốc tâm tu hành trong Phật đạo, những điều nói trên nhằm hiển minh rằng, Phật đạo không chú trọng nhiều đến tướng nam nữ.

Nam nữ không phải do tướng bên ngoài mà cốt ở trong lòng... Tăng có luật của Tăng, Tục có cảnh Tục... Không nên “trộm nghe” rồi áp đặt lên mình lên người... chẳng khác chuyện “Lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia...” Vả chăng ở đây, tôi và các huynh đệ là những huynh đệ anh em, không giống chuyện giang hồ, cũng chẳng phải chùa am... 

Nhưng chẳng khác gì con một cha, tức đều là Thích Tử. Thì huynh đối với đệ ra sao, đệ đối với muội ra sao chắc Cô Nương tự hiểu, đâu cần giải thích dông dài... Cứ lấy như vậy đối đãi với nhau, xin Cô Nương chớ có bận lòng... 

Cốt yếu gặp nhau để làm sao trở thành người có trí. Cốt yếu gặp nhau để làm sao trở thành người có huệ. Nếu một bề chấp nhất mà chẳng thành tựu hai thứ này, thì tốt nhất chỉ nên học tập Nho gia để giữ bề trung hiếu... đến với Phật đạo mà làm gì... 

Thất Muội lại lên tiếng: 

Thưa Lão Sư!... Lão Sư nói thế chứ không ít lần tiểu nữ đến chùa am cũng nghe giảng nói về “Tam Cang Ngũ Thường... Cùng đường Phật đạo.” Không biết như vậy phải hiểu làm sao... 

Lý Tứ cười lớn rồi nói:

Cô Nương ơi!... Các huynh đệ ơi!... Có lẽ chỉ vì các cao nhân đó chắc cảm thấy Phật đạo chưa đủ sức buộc ràng cột trói, nên họ mượn thêm cái lý của Nho gia đặng cột trói thêm cho chắc mà thôi… Ha ha ha ha!... Giống như chuyện người xưa mượn dây cột trâu để trói gà... Ha ha... 

Một Phật đạo chưa đủ giải thoát hay sao... mà phải đi vay mượn... Ha ha... Phen này Nho gia lãi lớn… Ha ha ha ha!... 

Thất Muội lại lên tiếng: 

Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Lời Lão Sư đã làm cho tiểu nữ hết áy náy... Từ nay tiểu nữ tuy mang thân nữ nhưng quyết học cái trượng phu... Một bề lo học pháp lành của Phật gia để cho lòng bình đẳng... Thú thật với Lão Sư, xin huynh đệ đừng cười... Tiểu nữ đã dọn cái phòng của Lão Sư tươm tất, chiếu mùng đầy đủ… Hi hi hi… Làm thế tiểu nữ trong lòng chẳng thấy gì sai, nhưng e ngại huynh đệ lại cười... Trong lòng tiểu nữ coi Lão Sư như cha, như thầy, như người anh lớn... nhưng không biết thế gian có hiểu vậy không... Nay nghe Lão Sư nói, bộ tiểu nữ không làm trượng phu được sao? Mà trượng phu chăm lo cho trượng phu thì có hại gì? Hi hi hi hi... Nhưng dù gì, phụ nữ cũng chu đáo hơn các nam nhân… Hi hi hi hi... Ả nói đến đây, sắc mặt ửng hồng, nụ cười rạng rỡ...

Ả tiếp: Các Lão Huynh ơi... đừng cười tiểu muội...

(còn nữa) 

Tác Phẩm Lý Tứ

Sân Khấu Cuộc Đời. Có – Không – Ngã – Vô Ngã. Tứ Gia Hạnh

Quản trị viên 03.01.2022
TP.08. Sân Khấu Cuộc Đời. Có – Không – Ngã – Vô Ngã. Tứ Gia Hạnh

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Bát đệ từ đầu đến giờ mới lên tiếng. Thiệt là hoan hỷ!... Thiệt là hoan hỷ!... Đệ tử đã gần lục tuần, cái thân lùn thước rưỡi này mới có cơ duyên tận mắt chứng kiến sự việc khó tin... Cái đầu hói của đệ tử tóc không còn mấy cọng, chắc là từ đây có thể mọc lại rồi... Nói đến đây lão cất giọng cười sang sảng... Lão rót trà ra ly, mời mọi người nâng chén... 

Lão tiếp: 

Thưa Lão Sư!... Đệ tử ngày xưa vốn là con hát, nghề ngỗng chẳng tinh thông gì mấy, nhưng cũng không đến nỗi vô duyên... Cuộc đời của đồ đệ toàn là diễn tuồng, không ngờ hôm nay vở tuồng thành thật... Lão mới nghiệm ra giả thật không hai... Ha ha ha ha!... 

Thật giả tùy duyên, nơi hư không mà dựng lên cái sân khấu là đã có thể biến ra thành quách, thì nơi thành quách lẽ nào chẳng hóa thành không... Có hay không cũng chỉ là việc của mê lầm... Như người diễn tuồng giỏi, nhập vai rồi cười rồi khóc... Khi lột cái áo trả lại phường tuồng thì bản chất thật sự nào có khóc cười... Ha ha ha!... Thiên hạ đang diễn tuồng đời mà không tự biết, diễn riết tưởng thật, quên hẳn thân thế của mình... Đã đến lúc hạ màn!... Vai diễn trả về cho sân khấu… Ha ha ha ha!... 

Nói tới đây lão lạy dài Lý Tứ... Lão tiếp: 

Lão Sư đúng là kỳ nhân, chỉ vài lời nói khiến người mê thành ngộ, biến kẻ u tối này trở thành sáng suốt... Thân này như cái áo diễn tuồng, hết vai thì bỏ, nào có tiếc gì... 

Bây giờ đồ đệ mới hiểu ra câu nói của Lục Tổ Huệ Năng: “Lá rụng về cội”... Kẻ chẳng thức ngộ, như lá trên cành bị gió cuốn đi... Rồi lão cất giọng phường tuồng: 

“Gió thu hề, lá vàng rơi hề,

chẳng biết về phương mô hề”… 

Cả bọn nghe lão hát xong đồng vỗ tay tán thưởng... Lão tiếp: 

“Đời nghệ sĩ chỉ mong có tiền hề,

chẳng cần tiếng cười hề”. 

Lý Tứ nghĩ thầm trong bụng, chín người này toàn hàng quái kiệt trên đời. Cái danh Trung Nguyên Cửu Tuyệt không phải vô cớ... 

Bát Đệ trong cơn cao hứng lão lại ngâm tiếp: 

“Nhất thiết hữu vi pháp,

Như mộng huyễn bào ảnh,

Như lộ diệc như điện,

Ưng tác như thị quán”. 

Lão lại hát: 

“Ngày xưa hát để mua vui,

Bây giờ hát để cho người thế gian.

Biết đời như mộng kê vàng,

Hoàng Lương chưa chín đã tan mộng rồi!...

Giấc Nam Kha tỉnh dậy thôi!...

Mộng thì chẳng thật có rồi lại không.

Có không chẳng giữ trong lòng,

Chữ “Như” hiểu thấu có không chẳng màng”. 

Lý Tứ lại nghĩ: Cái lão này ứng phó mau lẹ, nguồn tâm linh hoạt mà hơi hám tinh thông. Nghĩ vậy Lý Tứ lên tiếng: 

Thưa Bát Huynh!... Tôi vừa nghe lão hát: “Có rồi lại không”, tôi không hiểu Lão Huynh muốn nói cái gì có cái gì không, xin Lão Huynh vui lòng luận giải cho mọi người cùng nghe. 

Lão Bát nói liền: 

Thưa Lão Sư!... Nhân khi đọc mấy câu kệ trong kinh Kim Cang, tâm đồ đệ chợt vỡ lẽ. Bổn lai tâm này như chiếc gương sáng, chẳng thấy “có” cũng chẳng thấy “không”. Một phen mê lầm vạn pháp sinh khởi, vì mê cái sinh khởi nên nói rằng “có”... dứt cái mê kia tạm gọi là “không”... Thật ra nơi vắng lặng tự như, cái “không” còn không có thì làm gì có cái “chẳng không”. Xin Lão Sư ấn chứng cho đồ đệ... 

Lý Tứ nghiêm giọng nói: 

Lão Huynh thiệt chẳng phải phường tuồng, mà là bậc Long Tượng trong đời. Lời luận của Lão Huynh chính là chiếc chìa khóa mở toang cửa đạo. Xin chúc mừng Lão Huynh hôm nay con mắt sáng ra... 

Lão Bát nói tiếp: 

Ơn đức của Lão Sư muôn kiếp đồ đệ chẳng thể đáp đền... Từ hôm gặp nhau đến nay, lời nào của Lão Sư cũng như thể cầm chiếc chìa khóa trao tận tay anh em chúng con. Chỉ có cơ duyên chưa đến nên chẳng nhận ra. Mỗi lời luận của Lão Sư là một nhát gươm chặt đứt ràng buộc trong lòng. Tuy thế, cho tận mãi đến hôm nay, khi thấy Lão Sư ân cần cầm tay Ngũ Huynh hỏi han, đồ đệ mới nhận ra cái gì là “Ngã”. 

Một phen thấy nó, mới biết xưa nay không ngã không tâm. Như người diễn tuồng mê vai diễn mà có khóc có cười, nhầm tưởng có ngã rồi đi tu cho vô ngã. Hỡi ôi!... Thiệt ra cái gì là ngã, cái gì là tâm... Khi mê nhận cái hư dối làm tâm, giữ gìn cái tâm hư dối thành ra có ngã. Một khi thức tỉnh, mới biết rằng “ngã” còn không có hà huống “vô ngã”... Bây giờ đồ đệ mới hiểu cái câu: “Bạch Thế Tôn! Từ lâu chúng con bị cái vô ngã làm ngại”. Lão Sư ơi!... Nhất cử nhất động của Lão Sư đều có ý vị, đều để dạy người... Lão Sư thiệt là từ bi. Trong mắt đồ đệ Lão Sư chẳng phải con người... 

Lý Tứ tiếp lời: 

Nếu chưa biết thì thôi, một phen thấy rồi chớ để nó mất... Tuy có giác ngộ nhưng tập khí thế gian vẫn còn. Phải biết cách giữ gìn, giống như con gà ấp trứng, khi chưa nở thành con thì chớ có rời khỏi ổ... 

֎ Xin các vị cố nhớ lời tôi, tất cả các quả vị của Phật môn đều dùng tứ gia hạnh để gia trì, như con gà ấp trứng... 

Khi vừa thoáng thấy chút thanh tịnh trong lòng gọi là Noãn Vị. Đây chỉ là cái phôi thai, phải chăm sóc nó bằng cách xa lìa hai nghiệp đó là cộng nghiệp và biệt nghiệp. Xa lìa cộng nghiệp bằng cách tìm nơi A Lan Nhã vui cảnh độc cư để tránh cái duyên thấy nghe. Không được bàn chuyện quân trận, nắng mưa thế thường... là nghĩa này. Giống như thuần dưỡng con thú hoang phải không cho nó gần gũi nơi hoang dã quen thói bầy đàn... Xa lìa biệt nghiệp là phải siêng năng tu tập thiền định, kinh gọi là “Làm trái hiện nghiệp”... 

Cái thân này ham thích phóng dật nên ưa ngủ nghỉ vì thế không có Chánh Tinh Tấn... Cái miệng này ham thích nói năng bàn chuyện thế gian nên chẳng sanh Chánh Ngữ... Cái ý này suy nghĩ mông lung làm hư thanh tịnh nên không thể có Chánh Định… Xa rời hai nghiệp, giữ gìn cho cái phôi kia thành trứng gọi là Noãn Vị... 

Khi đã thành trứng rồi, đến thời, cái trứng thành con. Con lớn dần khảy mỏ thoát ra khỏi vỏ, đây là thời kỳ đưa thanh tịnh đến cao trào. 

Đi đứng thức ngủ đều chẳng rời cái vị thanh lương này gọi là Đảnh Vị. Giống như người leo núi, lên đến đỉnh núi nhưng chút da bàn chân vẫn còn dính đất. Vì thế thân đã ở trong hư không nhưng chẳng thể rốt ráo vào hư không. Muốn rốt ráo vào trong hư không phải quyết tâm đoạn tuyệt cái tâm sinh pháp... kể cả khái niệm thanh lương thanh tịnh cũng chẳng chút bận lòng. Cái ngã phải sạch từ thô đến tế. Làm như thế mới mong vượt qua Đảnh Vị. Vượt qua Đảnh Vị lòng tựa hư không... 

Như con gà đã ra khỏi vỏ, một cuộc sống mới bắt đầu. Môi trường thế gian như là mật ngọt, như là quả đắng, như là thuốc độc... dễ hại thánh quả nên phải dùng Nhẫn Vị để bảo toàn mạng sống. 

Mạng sống này do Phật pháp hóa sanh nên không thể dùng cách thế của ba cõi mà giữ gìn, vì thế phải dùng cách riêng của Phật đạo đó là Nhẫn Vị... 

Nhẫn Vị có nhiều cách, nhưng tôi lược nói có hai, đó là Nhu Thuận Nhẫn và Âm Hưởng Nhẫn. Dùng hai nhẫn này để bảo vệ thánh quả, như người lính bảo vệ chủ soái của mình, không được lơ là, không được sơ suất, tối sáng cận kề bên mình tay lăm lăm gươm bén... 

Nhu Thuận Nhẫn là y như chỗ đã giác ngộ mà trụ, gọi là lấy vô trụ mà trụ, kinh gọi là “Lấy thanh tịnh tâm để trang nghiêm Phật quốc”... thuật ngữ Phật gia gọi là Xa Ma Tha... 

Âm Hưởng Nhẫn là đối trước thấy nghe hay biết phải biết cách giữ gìn, cách giữ gìn này gọi là Tỳ Bà Xá Na hay là Huệ quán, tức nơi thấy nghe hay biết đều nương nơi trí tuệ để thấu suốt “các pháp do tâm sanh”, kinh gọi là “dùng huệ Bát Nhã hiển bày tánh tịnh...”, cũng gọi là “bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm”. 

Hai thứ nhẫn này khi viên mãn sẽ có tên Vô Sanh Pháp Nhẫn…Vô Sanh Pháp Nhẫn nghĩa là tâm không sanh pháp, Vô Sanh Nhẫn nghĩa là nơi các pháp chẳng có sanh tâm... 

Vô Sanh lấy không tâm làm nhẫn, Vô Sanh Pháp lấy không nhẫn làm tâm... Chỉ thú này chưa giác ngộ thì muôn đời chẳng hiểu, ngộ rồi thoáng qua lỗ tai phát sinh vô số tam muội... 

Từ đây, người tu hành như con sư tử tự tại giữa núi cao gọi là Thế Đệ Nhất Vị. Chỉ dựa vào chính tâm này không dựa vào cái gì khác gọi là Thế Đệ Nhất. Từ đây thế gian ba cõi không chung cùng gọi là Thế Đệ Nhất. Từ đây biết chắc ba cõi duy tâm gọi là Thế Đệ Nhất. Từ đây mới biết cái gì là chánh nên gọi Thế Đệ Nhất. 

Từ đây Bát Chánh Đạo là cái nôi, là môi trường tồn tại của bậc thánh gọi là Thế Đệ Nhất. 

Từ đây mới biết thế nào là tam vô lậu học, thế nào là tâm vô lậu, trí vô lậu, văn hóa vô lậu (huệ) nên gọi là thế đệ nhất... Lấy Tam Giải Thoát môn để tự ấn chứng... 

⁎ Tứ gia hạnh chính là công cụ đoạn dứt phàm tình trưởng dưỡng thánh pháp. Đoạn dứt phàm tình trưởng dưỡng thánh pháp nên có tên là gia hạnh... Gia hạnh có công dụng như thế chớ có coi thường. 

Như người đầu bếp chẳng giỏi, nguyên liệu đầy đủ mà không biết nêm nếm cho vừa thì thức ăn không ngon, đổ đi thì tiếc, giữ lấy phiền lòng. Như ra chiến trận mà chẳng biết sử dụng vũ khí chiến thuật thì chẳng thể thắng quân thù. Như vua mà chẳng biết điều khiển bầy tôi thì quần thần trở thành loạn thần tặc tử. Như qua sông mà không biết lái đò thì làm mồi cho La Sát... 

⁎ Ở đời cũng không thiếu, một vài người may mắn sơ ngộ mà chẳng biết trân trọng giữ gìn thì chính chỗ ngộ này là đầu mối của tà kiến, chẳng những cái ngã không tiêu thất mà còn hẫy hừng. 

Hẫy hừng vì ỷ thị vào chỗ có được... giống như có diệu dược mà không biết chỗ dùng trở thành độc dược, giống như có cây gươm bén mà không học cách sử dụng gươm kia trở lại đâm mình. Những lời tâm huyết xin các vị nhớ cho... 

Lão bát lên tiếng: 

Thưa Lão Sư!... Nay đệ tử đã biết cái lỗi của mình... Chỉ vì miệng ham ca hát nên phát ra thanh âm du dương trầm bổng... Bởi cái tâm chẳng thanh tịnh nên tức cảnh sanh tình vì thế có thi phú nỉ non... Vì cái ý không chuyên nhất nên bày vẽ cho mọi người cùng xem cùng xướng cùng họa... Vì cái ngã không tịch diệt nên ham lời hay để nhận lấy tiếng khen... 

Nay Lão Sư cho con sám hối, từ nay chỉ biết thanh tịnh bổn tâm, tiêu thất cái ngã... Nói xong lão hướng về Lý Tứ lạy ba lạy... 

Lý Tứ lên tiếng: 

Quả nhiên Bát Huynh tư chất bất phàm, biết sai liền sửa, biết lỗi liền sám, sám xong lòng nhẹ như bông... Tâm ý như vậy chẳng gì không thông, khó nào cũng học được. 

Nhưng Bát Huynh ơi!... Thi phú tự nó không có lỗi lầm, bởi các pháp bản lai tự giải thoát. Thành ra không nên một bề chấp nhất rằng hễ tu hành là phải đoạn tuyệt mấy thứ này. 

Hiểu như vậy sẽ thành kẻ cực đoan, mà cực đoan là tự triệt tiêu trí tuệ... 

Bát Huynh có nhớ chuyện kinh kể về ngày xưa Thế Tôn nhận lời thi thố tài năng với Càn Thát Bà... Nếu biết tận dụng thi phú để làm lợi cho người, thì thi phú này hại gì... 

Bát Huynh ơi!... Cốt lõi ở đây không phải là thi phú học thuật hay chẳng thi phú học thuật, mà người trí sử dụng nó như thế nào với mục đích gì... “Nhất thiết pháp giai thị Phật pháp” là ở nghĩa này... 

Trong đạo Bồ Tát có đồng sự nhiếp, nếu chẳng biết việc thế gian thì làm sao đồng sự với người. Đã không đồng sự với người thì cơ duyên nhiếp phục biết lấy đâu ra... 

Một bề chấp nhất rằng phải từ bỏ, một bề nói không nên bỏ rồi sanh lạm dụng, thì từ bỏ hoặc không từ bỏ trong hoàn cảnh này đều thuộc hai bờ. Cả hai bờ như vậy đều chẳng phải đạo. Không thấu thoát sinh tâm chấp nhất vô tình trở thành tử tôn của bọn biên kiến mà không tự biết... 

Bát đệ xá xá rồi nói: 

Lời Lão Sư thiệt thấu tình đạt lý, nhân chuyện thi ca mà Lão Sư lấy đây làm đương cơ tuyên nói nghĩa trung đạo của Phật gia. Đồ đệ trước đây ỷ thị văn hay chữ tốt, nay đối trước luận giải của Lão Sư thiệt lấy làm hổ thẹn. Chẳng khác nào gạch ngói rơm rác so với vàng ròng lụa báu... 

Không biết đời trước đồ đệ làm phước đức gì mà đời nay có nhân duyên gần gũi Lão Sư... Đúng như rùa mù gặp bộng cây nổi, thiệt là hy hữu ngàn năm có một... Nhân chuyện này, đồ đệ hiểu thêm về hoa Ưu Đàm Bát La, đúng là linh thoại... 

Lão Sư ơi!... Từ này đến tận cùng đời vị lai, xin Lão Sư cho phép đồ đệ được gần gũi Lão Sư để hầu cơm xách nước. Không được như thế lòng đệ tử đây muôn kiếp chẳng muốn làm người... Nói xong lão lại xá xá Lý Tứ với ánh mắt khẩn cầu…

(còn nữa) 

Tác Phẩm Lý Tứ

Thân Nghiệp. Quả Vị Ly Thân. “Câu Sanh Lưỡng Chấp”

Quản trị viên 03.01.2022
Thân Nghiệp. Quả Vị Ly Thân. “Câu Sanh Lưỡng Chấp”

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Ngũ Đệ là người đứng hàng thứ năm trong nhóm chín người. Nghe nói người này xuất thân không phải tầm thường, được liệt vào hàng văn võ song toàn... Tuy là người đứng thứ năm, trên bốn người nhưng Ngũ Đệ tuổi đời chưa đến ba mươi. Năm ngoái hắn bị nội thương nghiêm trọng, không chết là may. Đến nay tuy còn sống nhưng đi đứng phải có người dìu đỡ. Ngũ Đệ lên tiếng: 

Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Tôi bị nội thương nặng, xoay xở khó khăn, nói năng không được mạnh dạn, xin các vị lượng thứ... 

Thưa các vị!... Đã một năm rồi, tôi bị nội thương, nhờ các huynh đệ tận tình chăm sóc lại mời lương y danh tiếng về đây chữa trị, nên mới giữ được mạng sống đến hôm nay... Một năm nay, nội thương hành hạ tôi không ít. Có những lúc những tưởng chết sướng hơn sống, nhưng rồi tình nghĩa huynh đệ đã làm tôi nén cơn đau vượt qua tiêu cực... 

Thưa Lão Sư!... Tôi cũng biết sanh lão bịnh tử là chuyện đương nhiên của thân này, hữu thân hữu khổ... Tôi cũng biết Phật gia ra đời giúp người khốn khổ, nhưng con đường đó là gì cả năm nay tôi nghiệm mãi không ra. Nếu Lão Sư có cách giúp tôi, tôi nguyện đem cái thân tàn còn lại này làm bất cứ điều gì Lão Sư cần đến... 

Lý Tứ tiếp lời: Thưa Ngũ Huynh!... Thưa các vị!... Con người sinh ra ở đời có hai món làm cho chẳng được sướng vui, đó là khổ và đau... Khổ thuộc về tâm và đau thuộc về thân... Phật gia chỉ giúp con người ra khỏi khổ phiền não nếu họ giác ngộ thấu thoát nguồn tâm, còn đau thuộc về thân thì đã có y khoa. Y khoa có cả một nền tảng nhiều đời kế thừa chuyên lo việc này... 

Tuy nhiên, Phật gia cũng có lý giải tại sao thân nghiệp con người phải chịu nhiều khổ hoạn... Ở phạm vi nào đó, Phật gia nói rằng cái quả hôm nay thấy đây là do cái nhân ngày trước tác thành. Có nhân mới có quả, từ nhân đến quả gọi là nghiệp... Giống như vay nợ, đến ngày phải trả... không trả hôm nay mai sau cũng trả. Đạo lý này không thể nói khác... 

Nhưng đã là người trí, đối với tự thân khi xảy ra những điều ngoài mong muốn cũng nên có cái suy nghĩ như vầy: Trước đây ta mượn nợ... hôm nay có nhân duyên trả được, thật không thú vị lắm sao... Suy nghĩ được như vậy, cái tiêu cực trong tâm rất đỗi nhẹ nhàng... 

Ngũ Huynh ơi!... Đã là huynh đệ của nhau, cái đau của huynh cũng là cái đau của Lý Tứ tôi... Nhìn cái thân ốm o của huynh, tôi chợt nghĩ ra một điều. Tất cả cỏ cây đều nương nơi đất mà tồn tại, đất tốt thì cỏ cây tốt, đất xấu thì cỏ cây tàn úa... Nếu không có đất, thì cỏ cây sẽ tự diệt mất... cũng giống như vậy… 

⁎ Nghiệp quả của một hữu tình Y nơi thân này mà tồn tại, y nơi thân này mà phát triển, nếu không có thân thì nghiệp dựa vào đâu... 

Nơi thân nghiệp này, nếu Ngũ Huynh quán kỹ, thì đúng như Phật dạy, chỉ là sự cấu tạo của bốn Đại, mà bốn Đại tự tánh rỗng không. Nhân nơi cái rỗng không này, chẳng nên chấp nhất cái thân, có nó hay không cũng không quan trọng... Coi như đây là nhân duyên tốt để bỏ của nợ trên đời... Còn thì dùng vào việc lợi ích cho đời, nhược bằng không có thì thôi... Hôm nay không có nhân duyên bỏ nó, thì tám mươi năm sau nó cũng tự bỏ mình. Luyến tiếc làm chi cái của vô thường... 

Nếu tâm nhất quyết như vậy, Ngũ Huynh sẽ thấy đau yếu thì còn nhưng lòng nhẹ nhàng... Cái này Phật gia gọi là có quả không báo... 

Thưa Ngũ Huynh!... Trong kinh cũng có kể, ngày xưa đệ tử Phật là Tất Lăng Già Bà Ta, một hôm giẫm phải cây gai độc, đau nhức vô cùng... Ông ta tìm gốc cây mà ngồi... Trong lúc đau nhức như vậy, ông ta định tâm quán cái đau nhức... Quán một hồi lâu, ông ta phát hiện ra trong một Tất Lăng Già Bà Ta lại có hai con người, một con người đau nhức và một con người thanh tịnh an nhiên... Ông ta chú tâm nhập vào con người thanh tịnh an nhiên thì chẳng còn thấy đau nhức... Sau hai mươi mốt ngày, đạo quả giải thoát xuất hiện. Ông tất Lăng Già Bà Ta chứng quả A La Hán... 

Cái thân bốn Đại vốn không biết đau, nhưng khi tâm ý gá vào gìn giữ nó thì bốn Đại vô tri trở thành có tánh... Nếu bảo bốn Đại biết đau, tại sao người chết không đau? Như người đau răng lúc ngủ, cái đau đã hết đâu nhưng khi ngủ không đau... bởi lẽ thức dậy cái đau vẫn còn... 

⁎ Căn cứ vào đây mới biết, sở dĩ cái thân có đau vì cái tâm có ái luyến cái thân. Điều này Phật gia gọi là “câu sanh lưỡng chấp”. Tâm chấp thân, nên khi tâm buồn khổ thì cái thân lại chảy nước mắt, rồi cái thân lại đi chấp cái tâm, cái thân này đói, cái tâm phát sinh muộn phiền. 

Tu hành trong Phật đạo là phải nắm vững đạo lý này, để đem tâm quán về cái thân giả tạm... Tâm chẳng gìn giữ thân, thân không thèm gìn giữ tâm. 

⁎ Thấu hiểu đạo lý này, khi cái thân có gặp phải rủi ro, tâm cũng không vì thế mà sanh phiền não... Cảnh giới này Phật gia gọi là quả vị Ly Thân... Các cảm thọ trên thân không làm cho tâm buồn chán... 

Nào!... Ngũ Huynh thử gẫm xem cái đạo lý này của Phật Gia có làm cho Ngũ Huynh bớt buồn khổ chút nào chăng... Nói đến đây Lý Tứ và mọi người đồng lặng thinh như để cho Ngũ Đệ một mình nghiền ngẫm... 

Sau một hồi im lặng, Lý Tứ tiếp: 

Thưa Ngũ Huynh!... Cái tâm thật ra cũng chẳng có phiền não, giống như ngọn đèn chẳng thể có quầng... Nhưng người mắt nhặm, một khi nhìn vào cái đèn, lập tức thấy đèn kia có quầng… Thì cũng vậy, tâm này bổn lai tự không phiền não. Nhưng một khi tâm này mê cái thân, cái thân có vấn đề thì tâm sanh phiền muộn.

Thật ra nếu tĩnh tâm nhìn kỹ, phiền não chỉ có từ khi cái thân bị thương tổn... Nếu cái tâm không thương tiếc cái thân, thì cho dù thân này có thương tổn tâm có phiền não hay không? 

Nếu một bề chấp nhất, thân thương tổn tâm sẽ khổ đau thì chấp nhất này có gì đó không ổn. Bởi lẽ nếu thân thương tổn tâm nhất định phải khổ, thì tại sao thân ông A đau bà B chẳng khổ... Khổ chỉ vì nhận lấy thân này là của ta rồi cố giữ gìn mong sao cho nó mãi mãi tốt tươi. Mà thân bản chất của nó vô thường, cố gìn giữ cũng không thể tồn tại mãi mãi như ý của mình... 

Ngũ Huynh ơi!... Cái nội thương này biết đâu là dịp để Ngũ Huynh trải nghiệm đạo lý của Phật gia. Trải nghiệm thành công gọi là thân chứng... 

Đâu!... Ngũ Huynh thử gẫm lại xem... Một phen lắng tâm bỏ hẳn cái thân thử coi, tâm này có còn phiền muộn hay chăng? 

Lại nữa Ngũ Huynh ơi!... Tâm mê chính là môi trường tốt cho nghiệp tích tụ, giống như ao tù nước đọng là môi trường tốt cho muỗi mòng phát sinh... 

Nếu nguồn tâm một bề trong sạch, không não không phiền, chẳng chấp đây kia, tĩnh lặng như gương soi cảnh vật thì cái nghiệp nương đâu mà lập thành. Một chút trên thân dễ làm cho nguồn tâm như vậy phiền muộn được sao? 

⁎ Phật gia cũng dạy “Chánh báo thế nào y báo thế đấy...”. Như người kia, đủ phước làm vua thì ngai vàng sẽ có. Nhược bằng ôm cái mộng làm vua mà phước báo không đủ, đi lo tạo lập ngai vàng mong có ngày lên đó để ngồi thì than ôi, cái đầu sẽ rụng vì tội âm mưu tạo phản... 

Vì thế mong Ngũ Huynh nghĩ lại, một bề lo chữa trị vết thương, một bề lo trau giồi cái tâm. Một khi tâm được thanh thản, biết đâu nhờ đó mà vết thương Ngũ Huynh mau lành... Cầu xin Tam Bảo gia hộ cho Ngũ Huynh sớm tai qua nạn khỏi... Nói đến đây, Lý Tứ nhắm mắt như để gởi gắm lời cầu xin của mình đến tận Phật trời... 

Ngũ Đệ đứng phắt dậy, cung tay nói lớn: 

Lão Sư ơi!... Lời Lão Sư như rót mật vào tai. Cái tâm của đệ tử một bề chảy theo lời dạy của Lão Sư. Cái thân còn đó nhưng tâm đã quên... Thiệt là đệ tử như người đui sáng mắt... 

Có muộn phiền khổ não thì vết thương cũng đâu vì muộn phiền mà giảm nhẹ... Nay hiểu ra đạo lý này đệ tử thấy trong lòng nhẹ nhàng, cái đau cũng nhẹ nhàng theo, thiệt lời Lão Sư là thuốc chữa tâm bệnh. Tâm này hết bệnh thì nhất định một ngày không xa thân bệnh cũng phải đi qua... 

Nghiệp ở nơi tâm, mà thân lại chịu... Lão Sư ơi đúng là “câu sanh lưỡng chấp”... Cái ngu này từ đây đệ tử xin chừa... Nói đến đây, Ngũ Đệ ngã nhào xuống đất... Lão Đại như con diều hâu chớp mắt đã chộp lấy Ngũ Đệ đặt xuống chỗ ngồi... 

Lý Tứ cầm tay Ngũ Đệ rồi ân cần hỏi: 

Ngũ Huynh!... Ngũ Huynh có làm sao không, nội thương chưa hết đừng có cố sức. Thế nào? Ngũ Huynh cảm thấy có bình yên không? 

Ngũ Đệ mỉm cười rồi nói: 

Lão Sư ơi!... Sau cái té ngã vừa rồi, thiệt may mắn cho đệ tử, nhân cái ngã này mà đệ tử thấy rõ mình hơn... Nếu là ngày xưa, sự việc như vậy nhất định đệ tử hốt hoảng, tâm thần rối loạn. Nhưng lần này thì khác... cái thân thì ngã mà tâm đệ tử vẫn dửng dưng đứng thẳng... Tận đến bây giờ, đệ tử cảm thấy hình như chưa có việc gì xảy ra... Trong lòng sảng khoái, cái thân có đau chút đỉnh nhưng trong tâm lại an vui tự tại... 

⁎ Đa tạ Lão Sư đã cho đồ đệ liều thuốc tinh thần... Cho đồ đệ hiểu thế nào là ý nghĩa đích thực của hai chữ “Giác Ngộ”... 

Lão Đại, nghe vậy cao hứng đến tột bậc. Lão cất giọng thỏa mãn: 

Thiệt là kỳ diệu!... Thiệt là kỳ diệu... Đúng là sức mạnh tinh thần. Một năm rồi, Ngũ Đệ chưa từng tự mình có thể đứng lên. Thế mà, nay chỉ có vài lời ngắn ngủi của Lão Sư đã làm cho Ngũ Đệ trong chốc lát trở thành người khác... Nếu chẳng tận mắt chứng kiến, đồ đệ có nghe nói lại cũng chẳng thể nào tin được... Đúng là sức mạnh tinh thần có thể làm thay đổi tất cả, biến nhu thành cương, biến nhược thành cường... Cũng chỉ là lời nói, nhưng lời nói của Lão Sư trở thành thần dược. Thay mặt Ngũ Đệ và các anh em, xin Lão Sư cho đồ đệ lạy một lạy để cảm tạ ơn đức này... Nếu chẳng may, Ngũ Đệ không qua khỏi kiếp nạn, thì nghiệp quả của Ngũ Đệ trở thành quyết định vậy... Nói xong Lão lạy dài Lý Tứ... 

Lý Tứ lên tiếng: 

Thưa Lão Đại!... Thưa các huynh đệ!... Chẳng qua may mắn đấy thôi... Trong phút chốc nào đó, con người có thể chiến thắng tất cả... 

Nhưng không vì thế mà coi nhẹ bệnh tình, phải mời lương y bốc thuốc. Bệnh của thân thì phải trị trên thân, chớ có coi thường. Sinh mạng con người không nên phó thác vào một vài câu nói... Thân của tôi đây, khi đau ốm cũng phải nhờ đến thuốc men cơm cháo... 

Tôi còn nhớ trong kinh có kể, một hôm Thế Tôn thị hiện có bệnh, phải nhờ đến Thần Y Kỳ Bà... Thân này là của ba cõi, thì phải y nơi luật tắc y thuật của ba cõi mà chữa trị, không thể phó thác cho rủi may... 

Nếu tâm vững vàng thì thân có đau ốm cũng không vì thế mà chao đảo kinh sợ như người đời... Chứ chẳng thể ỷ thị vào tâm mà hắt hủi cái thân... Đã là người có trí thì phải minh bạch cái gì ra cái đó... Mong Ngũ Đệ nghe lời khuyên này... 

Ngũ Đệ lên tiếng: 

Thưa Lão Sư!... Nay con biết mình phải làm gì cho thỏa đáng. Ngày xưa còn u tối, bây giờ sáng ra rồi... Thân này còn bịnh, nhưng tâm cực kỳ hoan hỷ. Cái bệnh chút đỉnh có sá gì đâu... 

Đồ đệ nghiệm ra, con người vừa sinh ra đời, sống theo tháng năm để chờ cái chết. Mọi người chẳng qua nhận cái vui tạm của thế gian để quên đi con đường tất yếu phải đến... như người mất của xem hát để bớt sầu lo, chứ chẳng phải đoạn dứt vĩnh viễn cái lo rầu được... Một khi chưa giác ngộ thì cái lo rầu vẫn còn đó, chút vui thế gian chỉ tạm quên đi chớ chẳng thể dứt mất, như người nhìn ngó phương Đông tạm quên phương Tây...

Bây giờ đệ tử đã biết thế nào là chẳng có Đông Tây phương sở... Cái thân này nếu may mắn còn tồn tại, nhất định nó sẽ là vật có ích cho thiên hạ.

 ⁎ Bốn chữ “Ngũ uẩn giai không” nếu chưa giác ngộ thì chẳng thể rốt ráo hiểu được... 

Bây giờ con mới biết, vì sao khi nãy Lão Sư lại nói, “Đã là chân lý tại sao có người giải thích như thế này, có người giải thích như thế kia”. 

⁎ Chân lý của Phật gia là sự chứng nghiệm tự thân chứ không phải lý luận. Vì thế Lão Sư mới nói Phật đạo không chủ trương tồn tại trên những lý luận... Thiệt là muốn tự tại giữa biển khơi phải làm con cá. 

⁎ Lão Sư ơi!... Con bắt đầu hiểu cái “văn hóa vô lậu” mà Lão Sư thường đề cập... Không thể đem tâm hữu lậu để bàn nghĩa vô lậu... 

Con cũng hiểu cái nghĩa vì sao năm trăm gã tăng thượng mạn phải rời bỏ pháp hội Diệu Pháp Liên Hoa... 

Hồi nãy Lão Sư có nói, biết đâu nhân cái bệnh này mà chứng nghiệm đạo lý Phật gia. Lời của Lão Sư thiệt là huyền ngôn, trong lời có thuốc. Thuốc theo lời mà chảy vào tâm... Thân tuy có bệnh nhưng tâm đã hết. Xin Lão Sư yên tâm, phen này đệ tử biết rồi... Nói đến đây hắn lại hướng về Lý Tứ xá dài...

(còn nữa)

Tác Phẩm Lý Tứ

Con Đường và Mục Tiêu Của Phật Đạo

Quản trị viên 03.01.2022
Con Đường và Mục Tiêu Của Phật Đạo

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Người ngồi phía cuối gần cửa ra vào, đối diện về bên phải của Lý Tứ là Cửu Đệ. Cửu Đệ là người chót hết trong nhóm chín người. Y dáng tầm thước tuổi đời khoảng trên dưới bốn mươi, vẻ mặt từng trải, cặp mắt sáng quắc. Từ đầu tiệc đến giờ lão chỉ lắng nghe, rồi làm theo mọi người. Mới thoạt nhìn mọi người đều nghĩ đây là hạng người thích làm hơn nói, thích nghe hơn hỏi, im lặng là vàng... Nhưng rồi lão cũng lên tiếng. Y cất giọng. Giọng của y sang sảng như tiếng chuông đồng. Chứng tỏ người này có một nội lực vào hạng thượng thừa, công phu hàm dưỡng không tệ... Y nói: 

⁎ Thưa Lão Sư!... Thưa các vị!... Tôi vốn xuất thân là hàng thương mãi, nên thường đi nhiều. Sau mỗi chuyến làm ăn, đều đến các tự viện cúng dường nghe pháp... Cứ mỗi lần như vậy tôi đều được nghe lời khuyên của các vị cao minh là hãy về tu đi, tu đi rồi biết... Và ở đó cũng thường chê trách đời nay kẻ nói thì nhiều, người tu thì ít. Nghe vậy tôi nghiệm ra thấy đúng. Tôi cũng muốn thực hiện việc này, chỉ nên nói ít tu nhiều. Nhưng nói ít thì tôi làm được, còn tu nhiều là làm ra sao thì tôi không biết, cũng chẳng thấy ai đề cập. Có hỏi đến cho rõ ràng thì họ khuyên tôi, tu tức giải nghiệp... 

⁎ Tôi nghiệp mua bán, mua bán là tổ nghiệp của tôi, như vậy tôi biết phải làm sao để tu, xin Lão Sư đả thông cho. Cái đạo thiệt quá thâm u, chẳng giống như chuyện bán mua… 

Lý Tứ ngẫm nghĩ một hồi rồi nói: 

Thưa các vị!... Lời khuyên của các cao nhân với Cửu huynh tôi không biết nhằm ý gì? Tôi không trực tiếp được nghe, cũng không trực tiếp được hỏi. Mà cái gì mình không trực tiếp nghe trực tiếp hỏi thì khó thể luận bàn hay dở đúng sai. Nhưng thưa các vị!... 

⁎ Theo thiển ý của tôi thì tu hành giống như mua bán. Người làm thương nghiệp, khi mua một món đồ phải biết rõ món đồ này tên nó là gì, thị trường có cần hay không, dùng vào việc gì... mua ở đâu, bán ở đâu… 

Có nghĩa, thương mãi thì phải tính chuyện lời lỗ. Muốn có được lời, tránh lỗ lã, thì thương nhân phải nắm vững quy luật thị trường, mà thị trường thì luôn biến động. Nếu người làm thương nghiệp mà không biết rõ quy luật cung cầu, quy luật thị trường, quy luật phân phối, cũng như không đánh giá hết mức độ rủi ro, thì người này trước sau cũng bại sản... Chuyện xưa cũng có kể về “Người ngu buôn vịt trời” chắc các vị đã nghe. Câu chuyện hàm ý chế giễu mỉa mai hạng người không biết mà cố làm, như kẻ kia mua vịt trời hòng đem đi bán, phỏng có phải là làm chuyện để người đời cười chê hay không? 

⁎ Thì cũng vậy, tu hành là đem cái vốn đau khổ ở đời, để mua lấy đạo lý sướng vui. Lấy đạo lý đã mua bán lại cho nguồn tâm, nguồn tâm sử dụng cái đạo lý này mà hết khổ, đủ đầy sảng khoái... Một khi, không biết cái đạo lý đó là gì, mua ở đâu, sử dụng ra sao... thì cái đủ đầy sảng khoái có đến được chăng... Theo tôi, khuyên người tu đi không sai, nhưng trước hết tốt hơn nên chỉ cho người nghĩa lý, vì sao làm vậy mà không làm kia, làm vậy thì được gì, làm kia thì hại gì... 

Khi người ta rõ ràng rành mạch rồi tu cũng không muộn. Giống như chuyện thương mãi ở trên... Một khi hiểu biết cặn kẽ quy luật thương mãi, rành rọt đường đi nước bước, thì người này khi bỏ vốn ra sẽ có đồng lời. Còn bằng ngược lại, chỉ biết xúi người đi buôn mà không dạy cách kiếm lời thì chẳng qua hại người mà thôi. 

⁎ Còn luận về nói nhiều hay ít, không riêng đời này, từ xa xưa con người sinh ra nếu không khuyết tật thì có lỗ miệng. 

Lỗ miệng của người thông thường dùng vào hai việc đó là ăn và nói. Nếu cái miệng chỉ dùng như một công cụ để ăn mà thôi, thì tội nghiệp cho đấng sanh thành. Cha mẹ bao giờ cũng mong muốn con mình các căn hoàn hảo, lớn lên thứ nào cũng khéo, thứ nào cũng hay, ai lại muốn con mình có miệng không nói… Đạo giáo thì chẳng luận ở chỗ nói nhiều hay không nói. Vấn đề được nêu ra là anh nói cái gì, cái đó có lợi hay không… 

Nếu nói nhiều mà nói tầm bậy chẳng ích mình lợi người, người nói như vậy thì thôi đừng nói tốt hơn. Còn nếu không nói, tối ngày ôm giữ cái ngu si cắm đầu cắm cổ luyện công như cóc ngồi trong hang, khi công phu thành tựu thì cái ngu si cũng thành tựu… 

Nói nhiều, tuy lời nói có ý nghĩa nhưng phi thời, bạ đâu cũng rao giảng, bạ đâu cũng lý sự, thì cái nghĩa nói ra trở thành trói buộc người nghe, vô tình phỉ báng đạo lý… Không luận nói ít hay nhiều, quan trọng mỗi lời mỗi lời khi ra khỏi miệng đều có nghĩa có lý, đúng thời thì nói, phi thời thì im… 

⁎ Nói hay nín đều vì người; một lời nói ra khiến người cởi trói, một lời nói ra kẻ nghe tăng trưởng thiện tâm, lời nói vừa dứt người nghe lẫn người nói đồng an lạc thanh tịnh thì lời nói này xứng đáng lễ lạy… 

Cửu huynh ơi Cửu huynh!... Cái đạo lý bán mua chắc Cửu huynh thông thạo. Lời của đạo một khi nói ra như lời kẻ bán buôn biết chuyện bán mua… Bán buôn đâu có luận nói nhiều hay ít, tùy sản phẩm, tùy đối tượng… Nếu người mua chưa thông hiểu, thì người bán cần phải cặn kẽ giải thích công dụng mặt hàng, trình bày chất lượng sản phẩm, phương pháp và hiệu quả sử dụng cũng như cách bảo quản nhằm tăng tuổi thọ mặt hàng… Nói nhiều như thế, đúng thời như thế thì có hại gì... Còn nếu khách hàng đã là người thông tuệ, biết rõ món đồ… thì bán xong phải cầu may cho họ. Vài lời mà thỏa dạ kẻ mua vừa lòng người bán. 

Cái đáng chê trách là kẻ bán món này mà đi giải thích món kia, làm cho người mua ù lỗ tai tối con mắt. Càng nói nhiều khách hàng càng phiền lòng, phủi áo bỏ đi mới là cái hại... Cửu huynh nghĩ lại xem, bán buôn đã như vậy thì đạo chẳng lẽ khác hay sao. 

Luận về nói nín, theo thiển ý của tiểu đệ, trong đạo có bốn hạng người. 

- Một là loại người chỉ có tu mà không nói, đây là hạng ham tu nhưng u tối. Hạng này đích thị phàm phu, tối ngày cặm cụi tham thiền mà không biết nghĩa lý… 

- Thứ hai, nói- tu bằng nhau, đây là hàng Thanh Văn đáng kính trọng, như nước rót vào lu, biết nhiêu nói nhiêu, tu y như nói… 

- Thứ ba, hạng người nói nhiều tu ít, mỗi lời mỗi lời làm lợi cho người, đây là Bồ Tát lấy nói làm tu, dạy người để tăng trưởng trí tuệ. 

- Thứ tư, nói mà không tu đó là chư Phật. Chư Như Lai như vàng ròng không còn phải luyện, chỉ còn cắt nhỏ biến thành trang sức làm đẹp cho người. 

Lão Huynh ơi!... Lão Huynh chuyên nghề mua bán, để tránh lầm đồ dỏm đồ giả, tôi có môn công phu gọi là Thám Phúc Công, môn công phu này có cái hay riêng của nó, đó là sờ cái bụng mà biết cái tâm. Vì thế mới có tên là Thám Phúc. 

Luyện thành công phu này, cái miệng người đời dù nói nhiều hay ít cũng không gạt được Lão Huynh, bán buôn nhất định thắng lợi. Để tôi nói sơ lược công phu này cho Lão Huynh nghe, vui thì luyện, buồn thì thôi thành hay không chẳng hại gì… 

Khi gặp người tu hành, muốn biết thiệt giả, chỉ cần Lão Huynh lấy năm ngón của bàn tay phải của mình, lật ngược gõ gõ vào bụng của họ… 

- Nếu nghe tiếng bịch bịch như trái mít chín cây, Lão Huynh lại chú tâm định thần, thoảng nghe có mùi khai khai thì biết hạng này trong bụng chỉ chứa toàn xôi chuối, mau mau cúng dường một ít rồi đảnh lễ mà lui… 

- Nếu Lão Huynh gõ gõ bàn tay vào bụng mà nghe lộc cộc như cua ốc bò trong thau đồng, lại có mùi hôi mốc thì Lão Huynh biết người này tạp văn chứa đầy trong bụng tà kiến toàn thân, mau mau cúng dường một liều thuốc xổ, để lâu có hại cho người… 

- Còn nếu đó là tiếng cạch cạch như gõ vào gỗ quý, lại có mùi thơm giáng hương, thì biết người này đầy bụng Kinh Điển nhưng chưa tiêu hóa được, phải cấp tốc cúng dường vài hộp thuốc tiêu. 

- Cuối cùng nếu Lão Huynh gõ vào mà nghe như tiếng thùng rỗng, kêu dậy trời lại có mùi chiên đàn thì mau mau sụp gối lễ lạy để nghe đạo lý. Bằng không được thì phải đấm lưng cạo chân để tìm chút phước, họa may nghe được pháp âm… 

Môn này tôi đã luyện thành, chưa sai một ly, chưa trật một lần. Vì thế từ ngày ra giang hồ đến nay chỉ bị gạt ngân lượng, chứ chưa từng bị gạt về đạo lý. Lão Huynh thử xem, học thần công này, may ra làm ăn có lãi… 

⁎ Thưa Lão Huynh!... Thưa các vị!... Còn nói rằng tu để giải nghiệp, lời này không sai, nhưng chưa gọi là đúng… Tu hành có nhiều hạng, nhiều địa vị khác nhau… Nếu người tu phước mong mỏi về sau, thì tu hành của họ như thêm nước ngọt để cho bớt mặn gọi là giải nghiệp… Nếu tu giải thoát thì phải cởi bỏ cột trói ba cõi trong lòng mới mong hết nghiệp… Nếu hạng cầu thanh tịnh thì phải biết nghiệp này do mê tâm mà hiện, chẳng phải có cũng chẳng phải không, giống như người ngủ nằm mơ, thức dậy mọi thứ đồng không… Vì thế cho nên, nói giải nghiệp không sai nhưng tùy hạng mà giải, tùy loại mà hiểu, không phải ai cũng như ai… 

Một chữ giải nghiệp tuy không sai nhưng chưa nói được gì. Nếu gặp ai cũng phán một câu “tu là giải nghiệp” mà không cắt nghĩa giải nghiệp là làm sao, thì thiệt oan cho người, như cầu mua gạo mà lấy nhầm phải đậu… Cửu huynh cao thâm đạo lý bán mua coi thử đúng không? 

Lão Huynh lại nói “tổ nghiệp của mình làm nghề buôn bán biết giải làm sao”… Thưa Lão Huynh. Lão Huynh hiểu sai rồi. Chữ nghiệp tuy đồng nhưng nghĩa lại khác. 

⁎ Cái tổ nghiệp như huynh nói để chỉ nghề thương mãi. Nghiệp ở đây có nghĩa là nghề, mà đạo không nói tới nghề.

Ví như xưa Bồ Tát Duy Ma Cật làm nghề buôn bán, cũng có Bồ Tát làm nghề thợ thuyền… Phật đạo không bắt buộc người tu hành bỏ nghề này chọn nghề khác, nhất là đối với tục gia… 

Vì rằng tục gia còn có nghĩa vụ bản thân, đối với gia đình, đối với xã hội, đối với Tam Bảo… Phật gia chỉ khuyên đệ tử chọn lấy cái nghề mà giới không cấm, cái nghề không phạm lỗi lầm, cái nghề ít ác nhân thất đức là được rồi… 

Cửu huynh ơi!... Đạo chỉ khuyên người tu hành khi làm nghề đừng có vì ham lời mà làm chuyện gian dối; như buôn bán chớ cân non lường thiếu, làm quan chớ nhũng nhiễu dân đen, dạy học là phải hết lòng… Nếu bỏ nhà vào chùa am tu hành, thì chỉ nên nhận của tín thí một cách chân chánh cho họ được nhờ gọi là Tam Bảo phước điền. Người tu hành được nhiêu ăn nhiêu… không nên bày trò mê tín mà kiếm thêm nhét túi… 

Những việc làm thêm bớt hòng kiếm của nuôi thân trái với đạo lý gọi là Tà Mạng… Tà Mạng thì chỉ sanh tà đạo chớ làm gì được chánh đạo, không có chánh đạo thì không có chánh quả đây là chuyện tất nhiên. 

⁎ Chữ “Nghiệp” của đạo nhằm chỉ hành vi của thân khẩu ý, gọi chung là ba nghiệp, chẳng phải nói chuyện bán mua. Trong đạo thường nói đến Chánh Nghiệp để chỉ ra rằng người tu hành ba nghiệp cần phải thanh tịnh không sanh lỗi lầm. Vì thế Chánh Nghiệp và Chánh Mạng chớ có hiểu sai. 

Như Lai Lưỡng Túc Tôn ba nghiệp viên mãn, thân khẩu ý hành động theo trí huệ, gọi là bất cộng. Chúng ta là những người tu hành, nếu ba nghiệp chưa thanh tịnh thì hãy mau mau tìm xem nguyên nhân làm sao nó không thanh tịnh. 

Biết được nguyên nhân sẽ biết kết quả, giống chuyện bán mua… Không thể hàm hồ chỉ biết còng lưng làm riết mà chẳng thấy xong việc… Vài lời ngay thẳng, có gì không đúng xin Lão Huynh bổ túc cho đệ sửa sai… 

Lý Tứ vừa dứt lời, Lão Cửu đứng phắt dậy. Lão cung tay hướng về Lý Tứ nói lớn: 

Lão Sư ơi!... Chuyến này đồ đệ biết cách bán mua, biết cách kiếm lời… 

Nhất định đồ đệ sẽ trở thành tên lái buôn chân chánh theo bước chân người xưa… Bây giờ đồ đệ xin đem hết vốn liếng của mình là tấm lòng cầu đạo, ngưỡng mong Lão Sư bán cho cái đạo lý thanh lương hầu mai này nguồn tâm được đủ đầy thanh tịnh, sảng khoái một đời… Xin Lão Sư từ bi không nỡ từ chối…

Nói xong lão xá xá Lý Tứ rồi xá mọi người, lão còn gật gật cái đầu, chúm cái miệng mỉm cười cầu tài, đúng tác phong của nhà thương mãi. 

Lý Tứ cất giọng cười lớn ba tiếng ha ha ha!... Rồi nói: 

Lão Huynh ơi!... “Phi thương bất phú”, không buôn bán chẳng giàu sang… Nhất định chúng ta cùng nhau hùn hạp làm ăn mong kiếm phần lời để xài, còn dư chia cho huynh đệ, thiệt là không uổng cái nghề tổ nghiệp để lại. Buôn ngay bán thẳng ha ha ha… 

“Tri túc chi pháp, tức thị phú lạc”. Lão Huynh nghĩ xem, đậu hủ chẳng đáng là bao, chuyến này chúng ta giàu to… Ha ha ha ha!... 

Có lẽ đây là lần đầu tiên từ khi gặp mọi người Lý Tứ được dịp cười sảng khoái. Lý Tứ thầm nghĩ: Cái gã lái buôn coi bộ dạng lầm lì này cũng có chút hài hước, mới nghe hắn nói cứ ngỡ đây là con người chấp nhất, đại diện của “trường phái bảo thủ”. Nhưng qua câu chuyện vừa rồi, con người hào sảng đích thực của hắn lộ ra... Bọn chín người này từ lâu bị cái hư danh Cửu Tuyệt Thập Tuyệt gì đó trói buộc. Con người một khi bị cái gì đó trói buộc thì họ trở thành cái đó, làm nô lệ cho sự trói buộc vô hình mà không tự biết... Thiệt là người đời, hãnh diện với những cái không đáng hãnh diện, tự ti với những cái không đáng tự ti... 

⁎ Thế Tôn cũng từng dạy: “Chúng sanh y danh lập tướng, y tướng lập danh”. Danh và tướng là hai món khó vượt qua. Nếu không vượt qua rào cản này thì con người ta tối ngày cứ làm bộ làm tịch với những vẻ dáng bên ngoài, trông chờ những lời khen tặng... Rồi ôm ấp những lời khen tặng này mà làm nên cái ngã, như con tằm nhả tơ tự trói... Con tằm nhả ra sợi tơ, sợi tơ ràng buộc con tằm... Cứ như vậy hai món này đắp đổi cho nhau, thiệt là phiền toái... Nghĩ đến đây, Lý Tứ hướng về mọi người chậm rãi nói: 

Thưa các huynh đệ!... Lời của Cửu huynh vừa thốt ra, Lý Tứ thiệt vui lòng hả dạ... Ở đời, người ta cứ đem hết vốn liếng của mình, dốc túi vào canh bạc thắng thua của cuộc đời để rồi nhận lấy phiền não. Vì sao cớ sự như vậy, thưa huynh đệ!... 

Mong ước của mọi người sinh ra trên đời này là được ấm no hạnh phúc an vui... Mong ước này thật là chánh đáng. Mong ước này rất đáng trân trọng. Tất cả các đạo giáo có mặt trên đời cũng đều hướng con người đến mục tiêu này... Nhưng “lực bất tòng tâm”, mong ước là như vậy nhưng thành quả thì hầu như ngược lại... 

⁎ Phật đạo có ra đời hôm nay, cũng chỉ muốn đem lại ấm no hạnh phúc và an vui cho tất cả hữu tình. Tuy mục đích giống nhau, nhưng Phật đạo có con đường đi riêng của mình. 

Con đường của Phật đạo mới nhìn thì giống mọi con đường, cũng khuyên người làm lành lánh dữ, cũng khuyên người xót thương kẻ nghèo hèn, biết chia sẻ lợi ích riêng tư vì cộng đồng nhân loại... 

⁎ Nhưng nếu chúng ta để tâm nhìn kỹ, thì phương cách của Phật đạo có khác, không muốn nói là khác xa, không hề giống bất kỳ con đường nào từ trước đến nay đã có... Chính vì điều này mà Phật gia tồn tại, bước ra khỏi quê hương của mình và phát triển... Cái dễ nhìn thấy là ngay tại nơi này, Phật gia có mặt hầu hết mọi nơi, ảnh hưởng rất lớn đến nhiều giai cấp... 

Các vị thử nghĩ xem, cái gì đã làm nên điều này. Nếu chưa thấy được, thì chưa xứng đáng là đệ tử Phật môn... 

Nhưng cũng chính sự bùng nổ và sức lan tỏa, để phù hợp với văn hóa bản địa, Phật đạo lại có những thay đổi lớn. Điều này chẳng những làm cho các giá trị chính thống có phần sai lệch, mà lại là nguyên nhân để vô số lối tẻ phát sinh... Những phát sinh này, vô hình trung người tu hành khó lòng tìm được cứu cánh mong mỏi từ nơi một Phật đạo đã biến dạng như thế... Một khi bỏ cả cuộc đời dấn thân tu hành mà không tìm thấy cứu cánh, thì buộc lòng phải tìm cho mình một chút lợi ích nhỏ nhoi nào đó để bù lại công sức là điều không tránh khỏi... 

⁎ Các vị thử nghĩ coi!... Bao năm nay các vị đi đó đi đây cầu đạo giác ngộ, nhưng các vị đã thu hoạch được gì... Chắc không ai trả lời thỏa đáng cho các vị hơn chính các vị... Các vị có bao giờ ngồi lại và tự đặt cho mình câu hỏi, vì sao nó lại như vậy? 

Chân lý là cái gì mà không nơi nào lý giải giống nơi nào... Nếu đã là chân lý, thì phải thống nhất. Ví dụ như hai cộng hai là bốn. Cho dù người ở đây hay người Phương Tây, cho dù da đỏ hay da đen... đều phải công nhận bốn là kết quả của hai cộng hai. Đã là chân lý cho dù ở chân trời hay góc biển kết quả cũng không sai khác... Cái không sai khác mới đích thực là chân lý... Nhưng ngược lại chân lý được đặt ra nhưng con đường tìm về với chân lý thì mỗi nơi một vẻ, mỗi người giải thích mỗi khác... để bảo vệ người ta lại áp đặt bao nhiêu là lý luận... Chúng ta chưa nói những lý luận đó là đúng hay sai, nhưng thành quả của những lý luận này là gì… Ai là người đã thụ hưởng thật sự lợi ích từ những lý luận kia... thì rất mơ hồ và khó nói... 

⁎ Phật đạo không chủ trương sống trên lý luận, không chủ trương tồn tại bởi những lý luận... mà Phật đạo đòi hỏi thành quả của nó phải là sự thấu tình đạt lý để đưa đến yên vui thật sự trong mỗi cá nhân. Muốn được như vậy, cơ sở lý luận phải có tính thuyết phục cao và đòi hỏi thực tế, mỗi mỗi phải cụ thể. Cơ sở lý luận có đúng đắn thì việc ứng dụng lý luận vào đời sống tu hành mới đúng đắn. Việc làm có đúng đắn thì mới cho ra thành quả đúng đắn. Đạo lý này không thể khác được... 

Thưa các vị!... Nói những điều như vậy để làm gì... Không có cây thước nào đo đạc bản thân chính xác hơn là chính bản thân này. Bản thân chính là cây thước đo về mình tốt nhất, vì tu hành là việc làm tác động trực tiếp lên tự thân, tốt hay xấu tự thân đều biết... Tất cả việc làm của mình, không việc gì tự thân không biết. Vì thế, các vị hãy lấy chính mình để làm công cụ xác chứng thành quả tu tập... 

Thưa các vị!... Lý Tứ tôi không màu mè, không tô hồng trát phấn lên mình, cũng không khoa trương mình hay mình tốt... Hay dở tự mình biết, hay thì phát huy, dở thì từ bỏ... Phát huy hay từ bỏ, trước nhất cũng chỉ tự thân này thụ hưởng lợi ích... Vì thế, Lý Tứ tôi khuyên mọi người, hãy làm cây thước đo chính mình, không nên dối trá bản thân... Đạo chỉ tồn tại trên một con người biết tàm quý, biết lẽ phải và tôn trọng chân lý... Nếu thiếu điều này, sẽ là người tự dối gạt chính mình, và sau đó dối gạt người là điều không tránh khỏi... Phải biết thương người, không thể vì một lý do nào đó mà dối gạt người khác, biến cuộc đời tu hành của họ trở thành công cụ cho ý đồ riêng tư... 

Thưa các vị!... Đã là huynh đệ với nhau, phải hết lòng, phải thành thật với nhau... Có như thế mới có thể giúp nhau vượt ra khỏi những phiền não khó khăn mà vốn dĩ đã là con người thì phải cưu mang... 

Thưa các vị!... Có lẽ hôm nay, ngay tại nơi đây, sẽ là dịp để huynh đệ chúng ta tâm tình, giải tỏa những thắc mắc... Chúng ta hãy chia sẻ những tâm tình, giải tỏa thắc mắc của nhau để cùng nhau thông hiểu. Có thông hiểu nhau thì đời sống mới hòa hợp... Giống như trên một bàn tay, năm ngón tay dài ngắn khác nhau, lớn nhỏ khác nhau. Vì năm ngón tay có thông hiểu có hòa hiệp nên bàn tay mới làm được chuyện của nó... Các vị nghĩ coi, khi cần mang vác vật nặng mà năm ngón tay chẳng có thông hiểu, chẳng có hòa hiệp, thì sự mang vác có dễ dàng thành tựu được chăng... Nói đến đây, Lý Tứ nhìn mọi người một lượt, rồi tiếp: 

Nào các vị!... Ai có tâm tình gì, có thắc mắc gì, cần đến mọi người, xin mời lên tiếng...

(còn nữa)

Subscribe to