Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Mục Đích Đọc Kinh Điển; Nhận Biết Một Người Đã Giác Ngộ

Quản trị viên 06.03.2022

Kinh Phật chính là “sách giáo khoa” của Phật đạo… !!! Dạy và học trong bất kì lãnh vực nào, cũng cần có sách giáo khoa, vì dạy và học mà “không căn cứ vào sách giáo khoa”, chắc chắn người dạy chẳng biết mình dạy gì, người học chẳng biết điều mình đã học có đúng với chuẩn mực của ngành học đó đề ra hay không !!!

Lý Tứ Hỏi Đáp Số 6

Các bạn !!! 
Tuần này, chúng ta trao đổi câu hỏi của bạn Nhất Vi, câu hỏi như sau:

1) Người tu có cần đọc kinh điển hay không? Có người bảo rằng chỉ cần hành, không cần đọc kinh, vì tâm chính là kinh, câu nói này đúng hay chưa?

2) Lên mạng tôi thấy ai cũng tự cho rằng mình đã ngộ, chê kẻ khác là chạy theo tưởng tri gì đó rất khó hiểu, làm thế nào để phân biệt được người nào ngộ thiệt người nào ngộ giả? Xin Lý Tứ giải đáp dùm Nhất Vi những thắc mắc vừa nêu, cảm ơn BQT và Lý Tứ đã có nhiều bài viết và trả lời bổ ích.

Mình xin trả lời hai câu hỏi của Nhất Vi !!!  
Về câu hỏi thứ nhất, xin chia làm hai ý:

– Ý thứ nhất: Người tu có cần đọc kinh điển hay không?  
Theo mình, kinh Phật chính là “sách giáo khoa” của Phật đạo… !!!

“Sách giáo khoa trong giáo dục là loại sách cung cấp kiến thức, được biên soạn với mục đích dạy và học tại trường học. Thuật ngữ sách giáo khoa còn có nghĩa mở rộng là một “loại sách chuẩn” cho một ngành học. Sách giáo khoa được phân loại dựa theo đối tượng sử dụng hoặc chủ đề của sách” Theo Wikipedia.

Theo ý nghĩa trên thì, dạy và học trong bất kì lãnh vực nào, cũng cần có sách giáo khoa, vì dạy và học mà “không căn cứ vào sách giáo khoa”, chắc chắn người dạy chẳng biết mình dạy gì, người học chẳng biết điều mình đã học có đúng với chuẩn mực của ngành học đó đề ra hay không !!!

Cho nên theo mình, người tu học trong Phật đạo rất cần đọc kinh (Phật)… Nếu không đọc, không căn cứ vào lời dạy của Phật được ghi chép trong kinh điển thì, khó có thể thành tựu những điều cần thành tựu trong Phật đạo !!!

– Ý thứ hai: Có người bảo rằng chỉ cần hành, không cần đọc kinh, vì tâm chính là kinh, câu nói này đúng hay chưa?

Mình xin trả lời như sau: 
Như đã nói trên, kinh Phật chính là mẫu mực, là lí thuyết (chuẩn) để người học căn cứ vào đó mà thực hành, nếu không đọc kinh thì thực hành như thế nào đây ???

Kinh: Theo Tiến Sĩ Vũ Cao Phan đăng trên Website Khoa Ngôn Ngữ Học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội thì: Kinh điển là một từ Hán -Việt. Giải nghĩa về từ này hầu như tất cả các từ điển xuất bản lâu nay tại Việt Nam (và cả Trung Quốc) đều thống nhất: 1- Tác phẩm có giá trị mẫu mực, tiêu biểu; có ảnh hưởng lớn cho một học thuyết, một chủ nghĩa, một tôn giáo. 2- Tác gia của các tác phẩm ấy (nhà kinh điển). 3- Có tính quy chuẩn, bài bản, cổ điển…

Thành ra, câu “tâm chính là kinh”, có lẽ nên coi lại !!! Theo mình, kinh (hay sách) xuất phát từ trí, chứ chẳng thể từ tâm !!! Và câu: “Có người bảo rằng chỉ cần hành, không cần đọc kinh, vì tâm chính là kinh” câu này có vấn đề !!!

Về câu hỏi thứ hai: 
“Lên mạng tôi thấy ai cũng tự cho rằng mình đã ngộ, chê kẻ khác là chạy theo tưởng tri gì đó rất khó hiểu, làm thế nào để phân biệt được người nào ngộ thiệt người nào ngộ giả? Xin Lý Tứ giải đáp dùm Nhất Vi những thắc mắc vừa nêu, cảm ơn BQT và Lý Tứ đã có nhiều bài viết và trả lời bổ ích”.

Mình xin trả lời như sau: 
Bất kì người tu học nào trong Phật đạo cũng mong muốn giác ngộ, mong muốn này là chánh đáng !!! Tuy nhiên, mong muốn là một chuyện, còn giác ngộ hay không là một chuyện !!!

Việc rất “nhiều người tự cho rằng mình đã giác ngộ, chê lời người khác là tưởng tri”. Theo mình, việc này cũng đâu có gì quan trọng !!!

Vì rằng, có ai đó tuyên bố mình đã giác ngộ và chê lời người khác là tưởng tri, tuyên bố này không phạm pháp, không bị vợ bỏ đói, cũng không đóng thuế đồng xu cắc bạc nào…Cho nên, thích thì cứ tuyên bố, không ưa thì cứ chê, chém gió cho sướng cái lỗ miệng, chê cho vui tai…chẳng sao hết !!! Quan trọng là, sau khi tuyên bố, anh được gì ??? Sau khi chê, anh được gì ???

Nếu là người chân thật giác ngộ, chắc chắn họ không nói càn, không khen ẩu, chẳng chê bừa, không chém gió lung tung… Vì rằng, đối với bậc giác ngộ, dù khen hay chê, mỗi lời đều có căn cứ, dựa trên cơ sở thuyết phục, nhằm giúp người nghe (hay đọc) hiểu ra điều gì đó, chứ không nhằm mục đích hơn thua, hay nói cho thoả mãn…cái…ngã…hư vọng như người đời !!!

Viết đến đây, mình nhớ một đoạn nhạc chế:

“Càng khen mình bao nhiêu, ta càng chê người bấy nhiêu 
Đời phơi phới vui, cứ lên mạng, (là ta) tha hồ í ới 
Giác ngộ rẻ như khoai môn, cứ tung hê chẳng tốn một đồng 
Vui tai như tiếng phèng la, kèng kéng keng…là leng…keng…keng…” !!!

Về việc làm thế nào để biết một người đã giác ngộ hay chưa ??? Mình xin giới thiệu đến Nhất Vi, bài viết trong Vô Đối Môn đề cập đến việc này như sau:

NHẬN BIẾT MỘT NGƯỜI ĐÃ GIÁC NGỘ

Hỏi: Làm thế nào để biết được một người đã Giác Ngộ?

Đáp: Muốn biết được một người có Giác Ngộ chân thật hay không, chỉ có ba hạng người có thể biết rõ.  
– Một là Bậc Đạo Sư của người ấy. 
– Hai là người có Giác Ngộ sâu hơn. 
– Ba là chính bản thân người đó.

Tuy nhiên, có một số dấu hiệu mà người tinh ý có thể nhận ra và tạm đánh giá đây là một vị đã Giác Ngộ thật sự:

− Một, nhìn vào phong thái của người đó trước kia và hôm nay (sau khi Giác Ngộ) thay đổi như thế nào.

− Hai, trong hành động và lời nói của người thật sự Giác Ngộ, không có (hoặc rất ít) bóng dáng của ngã, luôn luôn thể hiện sự nhân hậu.

− Ba, khi nói chuyện về đạo, người này lấy chỗ thực chứng để trình bày, nên văn tự ngắn gọn, không suy luận dài dòng.

− Bốn, lời nói thường “không có mùi phiền não”, vì thế hay làm cho chúng hòa hiệp.

− Năm, chán ghét tham gia chuyện thế gian, trừ trường hợp bất đắc dĩ.

− Sáu, ham ưa vắng lặng, thường độc cư thiền định.

− Bảy, không có tâm tranh giành, người đối diện cảm nhận được an lạc, thích gần gũi.

− Tám, chỉ thích văn tự, ngữ ngôn vô lậu.

− Chín, ham ưa đọc tụng kinh luận của Phật và Bồ Tát.

− Mười, khi đọc kinh luận chính thống của Phật và Bồ Tát, vị này thấy phấn khởi trong lòng, cảm giác Phật và Bồ Tát tuyên thuyết điều này cho riêng mình.

− Mười một, dễ phát hiện ra các sai lầm trong cách giảng nói của người chưa Giác Ngộ.

− Mười hai, ham ưa văn hóa vô lậu, nên thường tán thán người được pháp lành, dần dần từ bỏ thói quen nhân ngã, khen mình chê người.

− Mười ba, thường biết ơn, nhớ ơn Phật, Thiện Tri Thức.

− Mười bốn, tập khí chấp nhất, xả dần cho đến mất hẳn.

Nói chung, có vô số pháp lành xuất sanh từ một vị đã Giác Ngộ chân thật. Nếu một người tinh ý có thể căn cứ vào những đức tính nói trên, để nhận định đây có phải là một vị đã Giác Ngộ thật sự hay chưa.

Các bạn !!! 
Trong tuần, mình cũng nhận được câu hỏi của một bạn không muốn nêu tên (gởi trong messenger), câu hỏi ngộ ngộ như sau:

“Thưa Thầy! Có người quy y tam bảo rồi, sau này người đó tu theo Thiên Chúa. Như vậy người đó có lạc mất quy y không Thầy?”

Mình đã trả lời bạn ấy như sau: “Theo mình, sau khi mãn duyên bên Thiên Chúa, chủng tử quy y tam bảo sẽ hiện trở lại…Vì tam bảo là thường, nên “tạm thời có lạc, mà không có mất” !!!”

Các bạn !!! 
Trước khi kết thúc chuyên mục của tuần này, mình xin kể cho các bạn câu chuyện vui…Câu chuyện xảy ra cách đây trên mười năm !!!

Ngày ấy, mỗi sáng mình và một số bạn đạo thường hay ra quán cà phê quen, làm mỗi anh một ly xây chừng… Trong đám bằng hữu, có một anh lớn hơn mình chừng năm tuổi, nói về tu hành thì anh này cũng thuộc loại ba sồn ba sựt, tánh khí bốc đồng, thường tìm học những câu nói vu vơ, ngớ ngẩn, không đầu không đuôi… Nghe ở đâu có người tu hành, chẳng biết nông sâu thế nào, bèn lân la tìm đến chất vấn, đòi kiểm chứng, và kết quả cuối cùng là…cãi…nhau…một trận sanh tử lửa, mỗi người ôm một cục giận ra về, trăm lần như một !!!

Sáng hôm ấy, như thường lệ, mới ngồi vào bàn, chưa kịp chào hỏi… Không biết anh ta học lóm ở đâu cái câu xưa như trái đất, mà bất kì anh tu hành nào ăn vài hủ chao, đọc vài câu chuyện thiền hạng bét cũng thuộc như cháo, đem ra cật vấn mình liền:

– Tui hỏi già! Già nói cho tui biết, đạo ở đâu ???

Mình giả vờ không nghe rõ, hỏi lại: 
– Bộ anh hỏi tui, gạo (mua) ở đâu hả ???

Anh ta bèn đính chính: 
– Không, tui với già đâu có bàn chuyện gạo thóc mà làm chi !!! Tui hỏi già, đạo ở đâu ???

Mình giả bộ nghiêm mặt, bày đặt lên giọng cha nội, vừa đùa vừa thật: 
– Đạo là thứ thâm u, những người tu hành ba sồn ba sựt như anh, công phu hàm dưỡng không có, kiến thức chưa đầy lá mít, tui có trả lời đúng, trả lời sai…nói đạo trong củ khoai hay trái bí thì anh cũng đâu có biết !!! Thành ra, cho dù tui có biết chắc “đạo ở đâu” thì cũng đâu thể trả lời cho anh được !!!

Anh ta hơi bực tức, nhưng có vẻ cố kìm chế, nói: 
– Già đừng có chê tui !!! Già nói đi, đúng sai tui biết liền à !!!

Mình từ từ uống ngụm cà phê, rồi đủng đỉnh nói: 
– Anh Hai à !!! Tui đã nói rồi !!! Đạo là cái thâm u, hạng như anh không nghe nổi đâu, tui có nói đúng hay sai, anh cũng đâu có biết !!! Thôi, uống cà phê đi !!! Đừng có hỏi nữa mà sinh giận hờn, mất hoà khí, lại tổn công đức…lắm…lắm !!!

Nghe mình nói thế, anh ta phừng phừng nổi giận, đứng dậy đập bàn cái rầm, quơ tay múa chân, xỉ vả mình và la lớn !!! 
– Già khinh người quá đáng !!! Thế là anh ta chửi mình một trận nên thân !!!

Mình từ tốn nói: 
– Anh chửi xong chưa ??? Tôi đã bảo rồi !!! Hạng người thiếu hàm dưỡng như anh, tu hành thì ba sồn ba sựt, chỉ tối ngày lo đi học mấy câu vô nghĩa về làm của, để loè thiên hạ, chưa chi đã giận hờn chửi rủa !!! Tâm địa như thế, làm gì hiểu nổi “đạo ở đâu” mà buộc tui phải trả lời !!! Giờ anh tin lời của tui rồi chớ !!!

Nghe xong, lửa giận bốc lên ngút trời, không nói năng, anh ta ngoe nguẩy leo lên chiếc xe đạp, đi tuốt luốt một mạch, không kiếu từ ai hết !!!

Thế là, anh ta giận mình cả năm trời, gặp mặt không chào hỏi, mặc dù mình cố ra sức làm lành…Từ đó về sau, anh ta kiên quyết, không thèm ghé quán cà phê chỗ mình hay uống mỗi sáng !!!

Thế đấy các bạn !!! 
Trên đời có những hạng người, tu hành thì chẳng ra gì, hiểu biết thì vụn vặt, học chỗ này vài câu, chỗ kia mớ nhắm, chắp vá lung tung…Tối ngày, chỉ lo đi kiếm người tu hành thách đố đạo pháp (bằng những câu mà bản thân người ấy cũng chẳng biết các câu mà họ học được là đúng hay sai) !!! Các bạn thấy có chán hạng người ấy như…cơm…nếp…hay…không…chớ !!!???

Các bạn !!! 
Tuần tới, chúng ta sẽ trao đổi câu hỏi của bạn có nickname Thanh Binh !!! 
Câu hỏi như sau:

1) Xin hỏi, người ta thường nói: “Phật tại tâm”. Xin cho biết, Phật tại tâm là ở nơi nào trong tâm? Tìm Phật trong tâm bằng cách gì?

2) Khi người ta làm ác, Phật trong tâm có ác theo hay không? Một con quỷ trong tâm có Phật hay không? Cảm ơn Lý Tứ và BQT Lý Gia.

BQT rất mong, nhận được những câu hỏi thú vị và bổ ích từ các bạn !!! 
BQT LÝ GIA

Mục Đích Đọc Kinh Điển; Nhận Biết Một Người Đã Giác Ngộ

Kinh

Phật Thuyết Kinh Bốn Mươi Hai Chương - Phần 3

Quản trị viên 18.03.2022
Kinh bốn mươi hai chương

Kinh bốn mươi hai chương

Chương 18: Ý NIỆM VÀ MỌI THỨ VỐN LÀ KHÔNG

Đức Phật dạy: “Pháp của Ta là nghĩ, nghĩ mà không nghĩ; là làm, làm mà không làm; là nói, nói mà không nói; là tu, tu mà không tu. Kẻ biết thì gần, người mê thì xa; đường ngôn ngữ đứt hết, chẳng bị vật gì ràng buộc; sai đi một ly ắt mất trong khoảnh khắc” [[1]]

Chương 19: QUÁN XÉT CẢ THẬT LẪN GIẢ

Đức Phật dạy: "Quán trời đất, nghĩ nhớ lẽ vô thường; quán thế giới, nghĩ nhớ lẽ vô thường;[[2]]

Quán linh giác[[3]] tức là Bồ đề;[[4]] hiểu được như thế thời đắc Đạo rất chóng vậy."

Chương 20: CÁI “TA” VỐN LÀ KHÔNG

Đức Phật dạy: "Nên nghĩ đến tứ đại[[5]] trong thân, mỗi thứ tự nó có tên, không có cái nào là “ta” cả. Cái “ta” đã không có thì nó chỉ như huyễn như hóa mà thôi."[[6]]

 Chương 21: DANH VỌNG HẠI NGƯỜI

Đức Phật dạy: "Người theo tham dục mà truy cầu thanh danh, khi thanh danh rỡ ràng thì thân đã chết rồi! 

Tham thứ thường danh ở đời mà chẳng học Đạo, thì chỉ uổng công mệt xác. 

Ví như đốt hương, tuy người được ngửi mùi hương nhưng

khi hương kia cháy hết, thì thứ lửa hại thân liền theo sau."[[7]]

Chương 22: TIỀN CỦA VÀ SẮC DỤC MANG LẠI ĐAU KHỔ

Đức Phật dạy: "Đối với tiền của và sắc dục, người ta không bỏ được; ví như có chút mật dính trên lưỡi dao, chẳng đủ cho một bữa ăn ngon, đứa bé liếm lấy ắt mắc cái họa đứt lưỡi."[[8]]

Chương 23: GIA ĐÌNH CÒN TỆ HƠN LAO NGỤC

Đức Phật dạy: "Người ta bị vợ con và nhà cửa ràng buộc còn hơn cả lao ngục. Lao ngục còn có thời kỳ phóng thích, vợ con chẳng thể có một ý nghĩ xa lìa;[[9]] há chẳng sợ tình ái cùng sắc dục lôi cuốn? Dẫu có cái họa sa nơi miệng hùm, lòng cũng cam chịu.

Vì tự đắm mình nơi lầy lội nên gọi là phàm phu;[[10]] vượt qua được cửa ải này[[11]] là bậc La hán xuất trần."[[12]] 

Chương 24: SẮC DỤC CHƯỚNG NGẠI ĐƯỜNG ĐẠO

Đức Phật dạy: "Trong các thứ ái dục, không gì đáng ngại bằng sắc dục. Lòng ham thích sắc đẹp to lớn không gì sánh bằng. May thay, chỉ có một mình nó mà thôi. Nếu có hai thứ như thế thì khắp thiên hạ không ai có thể tu Đạo được cả!" 

Chương 25: LỬA DỤC ĐỐT NGƯỜI

Đức Phật dạy: "Người ham mê ái dục ví như kẻ cầm đuốc đi ngược gió, tất sẽ mắc phải nạn cháy tay."[[13]]  

Chương 26: THIÊN MA QUẤY NHIỄU PHẬT

Thiên thần[[14]mang cô gái rất đẹp[[15]] đến dâng cho Phật, muốn phá hoại ý chí của Ngài. Đức Phật nói: "Những túi da chứa đồ ô uế,[[16]] các ngươi đến đây làm gì? Đi ngay! Ta chẳng dùng đâu."

Thiên thần càng thêm kính nể và nhân đó hỏi Phật về ý Đạo. Phật giảng nói xong, vị ấy liền đắc được quả Tu đà hoàn.

Chương 27: KHÔNG CHẤP TRƯỚC, TẤT ĐẮC ĐẠO

Đức Phật dạy: "Người hành Đạo ví như khúc gỗ dưới nước, theo dòng mà trôi. Nếu nó chẳng tấp vào hai bên bờ, chẳng bị người ta vớt lấy, chẳng bị quỷ thần ngăn trở, chẳng bị nước xoáy giữ lại, cũng chẳng bị mục nát, Ta cam đoan rằng khúc gỗ này nhất định sẽ ra đến biển.

Người học Đạo nếu chẳng bị các dục làm mê hoặc, chẳng bị các thứ tà kiến lung lạc, lại tinh tấn tu pháp Vô vi; Ta cam đoan rằng người này tất sẽ đắc Đạo."

+++

Phần chú giải

[[1]] Bài 18 này hoàn toàn là tinh thần Đại thừa Đốn giáo. Trong dị bản, bài này xếp thứ 15 và có ý hướng phù hợp với toàn văn kinh hơn. Xin dẫn ra như sau:  

   "Phật ngôn: Ngô hà niệm niệm đạo? Ngô hà hành hành đạo? Ngô hà ngôn ngôn đạo? Ngô niệm đế đạo, bất hốt tu du” (Phật dạy: "Ta lấy niệm gì để niệm đạo? Ta lấy việc làm gì để hành đạo? Ta lấy lời nào để nói đạo? Ta luôn nghĩ nhớ đến đạo Tứ đế, không một giây phút nào dừng nghỉ.")  Như vậy rất có khả năng là văn kinh đã bị thay đổi qua nhiều lần sao chép, sửa chữa.

[[2]] Kinh văn là “phi thường”, chúng tôi dịch là “vô thường”. Hai từ đều là gốc Hán, từ vô thường được hiểu phổ biến hơn, nghĩa là không thường tồn, hay biến đổi. Còn phi thường đôi khi bị hiểu nhầm theo nghĩa là siêu việt, xuất chúng. Trời đất và thế giới là ví dụ những sự vật to lớn nhất, vẫn phải chịu qui luật biến đổi là “sanh, trụ, hoại, không”, nhận thức về trời, đất và thế giới cũng theo qui luật “Sanh, trụ, dị, diệt.”

[[3]] Linh giác: Cái thần thức hiểu biết của mỗi chúng sanh. Nhìn từ góc độ người học đạo thì đó chính là chân tâm, chân như, Phật tánh mà mỗi chúng sanh đều có sẵn nơi mình. Phật tánh ấy thường trụ, chẳng sanh chẳng diệt, nên quán xét đó chính là Bồ đề.

[[4]] Bồ đề (Tiếng Phạn là Bodhi, Hán dịch là Đạo, Giác, Vô thượng Trí huệ): Kinh Duy Ma chú: "Chỗ tột của Đạo, gọi là Bồ đề, đó là Chánh giác Vô tướng của chân trí."

[[5]] Tứ đại: theo quan niệm thời cổ, có bốn chất (lớn, đại diện) ở trong thế giới là những yếu tố hợp lại thành thân người. Đó là: 1)Địa đại (những gì thuộc về chất rắn); 2)Thủy đại (những gì thuộc về lỏng chảy); 3)Hỏa đại (những gì thuộc về ấm nóng);  4)Phong đại (những gì thuộc về diêu động).

[[6]] Huyễn hóa: không thật, thân người do bốn đại hiệp lại mà thành, nhưng rồi cũng phải tan rã, không lấy gì là bền chắc.

[[7]] Người ta vì ham danh vọng thế tục mà phải khổ công nhọc xác vô cùng. Nhưng chưa chắc đã được thỏa mãn về danh vọng. Ví dầu có được đi nữa, thì ngày chết gần kề cũng chẳng hưởng được gì. Rồi khi qua đời thì mang theo tội báo, đọa vào các đường ác. Trở lại làm người thì phải chịu quả báo đau đớn, vì đã tạo tội trong lúc tranh dành công danh. Chẳng bằng biết lo tu thân hành đạo thì được an lạc thân tâm đời nầy và đời sau.

[[8]] Tài sắc tỷ như chút mật dính nơi lưỡi dao. Kẻ phàm phu ví như đứa trẻ nhỏ tham ăn, liếm dao mà bị đứt lưỡi. Kẻ phàm phu ham mê tài sắc mà phải khổ tâm, lụy thân. Hàng trí giả thấy trước cái quả khổ, nên chẳng bám theo tài sắc, liền được thảnh thơi, tự tại.

[[9]] Chẳng thể có một ý nghĩ xa lìa (Kinh văn là "vô viễn ly chi niệm"):  "niệm" ở đây được hiểu là một quãng thời gian rất ngắn (sát na), như thoáng chốc, chốc lát...

[[10]] Phàm phu: Người còn mê muội, không giác ngộ. Kinh Pháp Hoa nói: “Kẻ phàm phu ý thức cạn hẹp, vướng sâu vào năm dục”. (Năm dục là Sắc dục (Do mắt thấy mà khởi lên ham muốn); Thanh dục (Do tai nghe mà khởi lên ham muốn); Hương dục (Do mũi nhận biết mùi mà khởi lên ham muốn); Vị dục (Do lưỡi nhận biết vị mà khởi lên ham muốn); Xúc dục (Do xúc chạm thân mà khởi lên ham muốn)

[[11]] Tức là vượt qua được sự cám dỗ, lôi cuốn của ‘năm dục’.

[[12]] Xuất trần: ra khỏi trần cấu, trần cảnh. Trần có sáu thứ: Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp. Bậc La hán thoát khỏi phiền não gây ra bởi sáu căn nhiễm với sáu trần. Xuất trần cũng có thể hiểu đơn giản hơn là vượt ra khỏi trần tục, thế thường.

[[13]] Ái dục tỷ như lửa dữ, đốt kẻ say mê, nhất là tình dục đối với nữ sắc thì hạng thiêu thân ở đời kể ra chẳng thể nào hết.

[[14]] Thiên thần, ở đây là thiên ma thuộc Tha hóa tự tại thiên là cõi Trời thứ sáu trong Dục giới. (Phật học đại từ điển, tr. 477).

   “Cõi trời này, sự thọ dụng về ngũ dục rất là vi tế thắng diệu. Vị Thiên chủ tên là Ba Tuần cũng là vị trụ trì năm thứ dục của dục giới. Tất cả chúng sinh ở dục giới muốn cầu được ngũ dục tối thượng đều phải cung phụng vị này. Nhưng Phật đạo lại xuất ly dục giới, nên bị chúng Thiên ma này ghét. Vì thế, chúng đem Ngọc nữ hiến cho Phật.” (Bản chú giải của TK. Thích Hoàn Quan).

[[15]] Kinh văn là "ngọc nữ", người con gái tướng mạo quý đẹp như ngọc.

[[16]] Thân xác thịt, người phàm (phàm phu) cho là đẹp đẽ, nhưng xét kỹ ra chẳng qua chỉ như một cái túi bằng da chứa đựng những món dơ dáy, tanh hôi mà thôi. Những món dơ ấy là: phân, nước tiểu, mủ, máu, đàm, ghèn, nước mũi, nước dãi v.v...

Kinh

Phật Thuyết Kinh Bốn Mươi Hai Chương - Phần 2

Quản trị viên 18.03.2022
Kinh bốn mươi hai chương

Kinh bốn mươi hai chương

Chương 10: HOAN HỶ BỐ THÍ TẤT ĐƯỢC PHƯỚC

Đức Phật dạy: "Thấy người tu đạo bố thí[[1]] mà hoan hỷ trợ giúp thì sẽ được phước rất lớn."

Có thầy Sa môn hỏi rằng: "Bạch đức Thế Tôn, phước ấy hết chăng?"

Đức Phật đáp: "Ví như lửa của một cây đuốc, dù có vài trăm ngàn người ai nấy đều mang đuốc đến chia nhau mồi lấy lửa để về nấu ăn và xua tan bóng tối, thì ngọn đuốc kia vẫn y như cũ. Phước báo cũng như thế!"

Chương 11: SỰ GIA TĂNG CỦA CÔNG ĐỨC

Đức Phật dạy:

  • "Đãi một trăm người ác ăn, không bằng đãi một người thiện ăn.
  • Đãi một ngàn người thiện ăn, không bằng đãi một người trì Ngũ giới ăn.[[2]]
  • Đãi một vạn[[3]] người trì Ngũ giới ăn, không bằng cúng dường cho một vị Tu đà hoàn ăn.
  • Cúng dường một trăm vạn vị Tu đà hoàn, không bằng cúng dường cho một vị Tư đà hàm ăn.
  • Cúng dường một ngàn vạn vị Tư đà hàm, không bằng cúng dường cho một vị A na hàm ăn.
  • Cúng dường một ức[[4]] vị A na hàm, không bằng cúng dường cho một vị A la hán ăn.
  • Cúng dường mười ức[[5]] vị A la hán, không bằng cúng dường cho một bậc Bích Chi Phật[[6]] ăn.
  • Cúng dường một trăm ức bậc Bích Chi Phật, không bằng cúng dường cho một đức Tam Thế Chư Phật[[7]] ăn.
  • Cúng dường một ngàn ức đức Tam Thế Chư Phật, không bằng cúng dường cho một đấng Vô Niệm, Vô Trụ, Vô Tu, Vô Chứng[[8]] ăn."
Chương 12: NÊU RA SỰ KHÓ ĐỂ KHUYẾN TU

Đức Phật dạy: "Người ta có hai mươi sự khó:[[9]]

1) Nghèo khổ mà làm được việc bố thí là khó;[[10]]

2) Giàu sang quyền quý mà học Đạo là khó;[[11]]

3) Dám bỏ mạng sống đi vào chỗ chết là khó;[[12]]

4) Được thấy kinh Phật là khó;[[13]]

5) Sanh gặp đời có Phật là khó;[[14]]

6) Tự chế “sự ham muốn sắc dục” là khó;[[15]]

7) Thấy tốt mà chẳng mong cầu là khó;[[16]]

8) Bị sỉ nhục mà chẳng tức giận là khó;[[17]]

9) Có thế lực mà không ỷ cậy là khó;[[18]]

10) Gặp việc mà lấy tâm vô tư ứng xử là khó;[[19]]

11) Học rộng mà vẫn tham khảo nhiều là khó;[[20]]

12) Dẹp trừ tánh ngã mạn là khó;[[21]]

13) Chẳng khinh người chưa học là khó;[[22]]

14) Thực hành tâm bình đẳng là khó;[[23]]

15) Chẳng nói những chuyện thị phi là khó;[[24]]

16) Gặp được Thiện tri thức là khó;[[25]]

17) Học Đạo, thấy được tánh là khó;[[26]]

18) Tùy duyên hóa độ người là khó;[[27]]

19) Thấy cảnh mà không động tâm là khó;[[28]]

20) Khéo biết phương tiện là khó."[[29]]

Chương 13: HỎI VỀ ĐẠO VÀ TÚC MẠNG         

Một vị Sa môn hỏi Phật: "Do nhân duyên[[30]] gì mà được biết túc mạng và hiểu thấu lẽ Đạo?"

Đức Phật dạy: "Giữ tâm thanh tịnh,[[31]] ý chí vững bền, thì có thể hiểu thấu Đạo cao tột. Ví như lau gương, chùi hết cấu bẩn thì còn lại vẻ sáng; dứt lòng tham dục,[[32]] không còn mong cầu, tất sẽ đắc Túc mạng." [[33]]

Chương 14: HỎI VỀ TÁNH THIỆN VÀ ĐẠI

Một vị Sa môn hỏi Phật: "Điều gì là thiện? Điều gì là tối đại?"[[34]]

Đức Phật dạy: "Thực hành Đạo và giữ bề chân thật, là thiện.[[35]] Chí và Đạo hợp nhau, là đại."[[36]]

Chương 15: HỎI VỀ SỨC MẠNH VÀ SÁNG

Sa môn hỏi Phật: "Cái gì mạnh nhất? Cái gì sáng nhất?"

Đức Phật dạy: "Nhẫn nhục[[37]] mạnh nhất, vì chẳng mang lòng ác, lại được thêm an kiện. Kẻ nhẫn nhục không ác, tất được người đời tôn kính. Cấu nhiễm trong tâm diệt hết,[[38]]

sạch không còn uế trược, đó là sáng nhất.[[39]]  

Từ khi chưa có trời đất cho đến ngày nay, bao nhiêu sự vật trong mười phương, không có gì là chẳng thấy, không có gì là chẳng biết, không có gì là chẳng nghe. Được Nhất thiết Trí[[40]] có thể gọi là sáng vậy."

Chương 16: BỎ ÁI DỤC TỨC ĐẮC ĐẠO

Đức Phật dạy: "Người ôm giữ lòng ái dục[[41]] chẳng thấy được Đạo, ví như nước đã lóng trong lại lấy tay khuấy lên, khiến những người đến xem đều không thấy được bóng của họ. 

Người đời vì bị ái dục xáo trộn, làm cho cấu trược trong tâm nổi dậy, nên chẳng thấy được Đạo.  

Sa môn các ông phải xả bỏ ái dục, cấu bẩn ái dục hết sạch thì có thể thấy được Đạo!"

Chương 17: ÁNH SÁNG ĐẾN, BÓNG TỐI TAN

Đức Phật dạy:  "Người thấy được Đạo ví như kẻ cầm đuốc đi vào phòng tối, bóng tối lập tức tan biến, chỉ còn lại ánh sáng. Học Đạo mà thấy được chân lý[[42]] thì vô minh liền dứt, ánh sáng sẽ thường còn."

---

Phần chú giải

[[1]] Bố thí: Có ba cách thí: 

  1. Tư sanh thí hay Tài thí: Thí của cải cho người khác;
  2. Pháp thí: Đem đạo lý mà giảng giải, truyền bá;
  3. Vô úy thí: Đem sự yên ổn, không lo sợ đến cho người khác, nhất là trong những khi họ gặp nguy nan, hoạn nạn.

[[2]] Năm giới cấm là: 1. Không sát sanh; 2. Không trộm cắp; 3. Không tà dâm; 4. Không nói dối;  5. Không uống rượu (ý mở rộng là dùng chất gây nghiện làm mê mờ trí tuệ).  Năm giới này áp dụng cho hàng cư sĩ tại gia.

[[3]]  Vạn ( 萬 ): Mười ngàn. (10x 1.000 = 10.000; từ điển Hán Nôm;)

[[4]] Ức ( 億 ): Mười vạn là một ức (10x10.000 =100.000; http://hvdic.thivien.net/hv/ức)

[[5]]  mười ức = 10x100.000 = 1.000.000 (một triệu)

[[6]] Bích chi Phật (Prateyka Bouddha (S), Hán dịch âm là Bích chi ca Phật đà)  1)Nghĩa là Độc giác: Vị này sanh ra không gặp Phật tại thế, tự mình tu học mà giác ngộ, nhập Niết bàn, nên gọi là Độc giác Phật. 2)Nghĩa là Duyên giác: Vị sanh ra thời có Phật, nhờ quán “Mười hai nhân duyên” mà giác ngộ, nên còn gọi là Duyên giác Phật.

[[7]] Tam Thế Chư Phật (Phật ba đời):

 − Nghĩa 1: Các Vị Phật quá khứ (…Kàsyapa -Phật Ca Diếp), hiện tại (Sàkyamuni -Phật Thích Ca Mâu Ni) và vị lai (Maitreya -Phật Di Lặc).

 −  Nghĩa 2: Vị Phật của cả ba đời là quá khứ, hiện tại và vị lai. Phật, nghĩa là vị đã chứng nhập Niết bàn hoàn toàn, không còn bị chi phối bởi không gian và thời gian.

[[8]] Bậc Vô Tu Vô Chứng: Vị tu hành này sau khi thành tựu trí tuệ, vào Đẳng Giác Bồ Tát, tức “Bồ Tát biết cái Phật biết, thấy cái Phật thấy, chứng điều Phật chứng...” Thế nên, đạo quả này còn gọi là Vô Tu Vô Chứng... Gọi Vô Tu Vô Chứng là vì Bồ Tát này không còn gì để tu, không còn gì để chứng, chứ chẳng phải Vô Tu Vô Chứng là không biết cái để tu, chẳng biết cái để chứng như đa số người tu hành thường hiểu...

[[9]] Đề tựa chương này là "Cử nan khuyến tu", nghĩa là nêu lên những sự khó khăn để khuyên người cố gắng tu tập... Trong dị bản chỉ thấy có 5 điều, không phải là 20. Ấy là 5 điều đầu tiên kể từ trên xuống. Chúng tôi giữ nguyên theo bản này là 20 điều, mặc dù thấy cũng có một số điều trùng lặp, hoặc theo tinh thần Đại thừa, không nhất quán với toàn văn kinh.

[[10]] Bố thí là việc được phước đức. Có tiền của để bố thí thì không khó lắm, nhiều người làm được. Nhưng kẻ nghèo túng, tự mình chưa đủ cơm ăn áo mặc mà phát tâm bố thí cho kẻ khác, điều đó mới khó làm. Ấy là chuyện "Lá rách đùm lá nát", khó làm lắm thay.

[[11]] Người phát tâm học đạo là khó. Nhưng sanh trong nhà quyền quý, giàu sang, hưởng mọi sự sung sướng, đầy đủ mà học được đạo mới là điều khó. Bởi học đạo thì phải từ bỏ những sự sung sướng vật chất giả tạm, mà nó lại đang cuốn hút quanh mình mỗi ngày. Việc ấy thật khó làm.

[[12]] Kinh văn là "tất tử", nghĩa là chắc chắn sẽ chết. Người dám liều mạng sống đã là việc khó, nhưng hầu như ít nhiều cũng còn có phần hy vọng sống sót, như người lính ra trận chẳng hạn. Kẻ biết chắc chắn sẽ chết mà vẫn dám liều thân, việc ấy mới thật rất khó làm.

[[13]] Thấy được kinh Phật là rất khó, bởi không đủ nhân duyên thì chẳng được thấy. Nhiều người được nhìn thấy, nhưng chẳng có lòng tin, chẳng thể đọc hiểu, thì cũng chẳng gọi là được thấy. Nếu thật được thấy kinh Phật, tức cũng như nghe lời Phật thuyết, học được đạo Phật, tu hành quyết định thành Phật, chẳng phải là khó lắm sao?

[[14]] Chư Phật ra đời rất khó gặp, mỗi vị đều phải hội đủ nhân duyên mới xuất thế. Chỉ riêng ở địa cầu này, từ Phật Thích ca đến nay đã hơn 2.500 năm chưa có vị Phật thứ hai xuất hiện. Lại nữa, dù sanh ra cùng thời với Phật mà không đủ duyên lành cũng không gọi là gặp Phật. Toàn cõi Ấn Độ chẳng phải ai ai cũng được Phật Thích Ca độ! mà ngoại đạo cũng rất đông. Nếu xét trên toàn cầu thì số ấy càng lớn nữa. Lòng từ bi của Phật dẫu bao trùm hết thảy chúng sanh, nhưng tự mình không có căn lành cũng chẳng làm sao gặp Phật. Nên nói được gặp Phật là rất khó vậy.

[[15]] Kinh văn là "nhẫn sắc nhẫn dục", nhẫn ở đây không phải nhẫn nhục, mà là kham nhẫn. Cõi Ta bà này gọi là Dục giới, bởi mạng sống của chúng sanh tồn tại và luân chuyển do nơi sắc dục, nên biết sắc dục lôi cuốn người ta rất mạnh. Tự chế được sự ham muốn sắc dục mà hành xử đúng đắn, hợp chánh đạo là điều rất khó.

[[16]] Kinh văn là "kiến hảo bất cầu", chữ "hảo" là tốt đẹp. Người đời tâm tham thì thấy vật gì tốt đẹp cũng khởi tâm mong cầu, cho dẫu mình không cần đến. Nhận biết được vật tốt mà không mong cầu cho mình là điều rất khó, còn nếu đã khởi tâm ham thích, ưa muốn tức đã đi hết một nửa đường đến chỗ mong cầu rồi.

[[17]] Đây chính là hạnh kham nhẫn của Bồ Tát. Người đời khi bị sỉ nhục tất sanh lòng oán hận, giận dữ. Bởi sự xúc phạm về thân thể như đánh đập, xô đẩy, đôi khi còn có thể nhẫn chịu được, còn sự xúc phạm về tinh thần nó ngấm ngầm mà tác động đến con người mạnh mẽ hơn gấp bội. Khi mình bị kẻ khác làm nhục mà giữ được tâm thản nhiên không hờn giận, chỉ có thể là kẻ biết tu hạnh kham nhẫn. Việc ấy rất khó làm.

[[18]] Người đời khi có thế lực thì trong tâm thường sanh cống cao, ngã mạn, ỷ cậy vào đó rồi coi thường, hiếp chế người khác. Kẻ hiểu đạo nhìn thấy tất cả danh vọng quyền thế như bèo nổi mây trôi mới có thể dẹp trừ tâm kiêu mạn ấy. Cho nên người có thế lực mà không ỷ cậy chính là người hiểu đạo, thật rất khó làm.

[[19]] Kinh văn là "xúc sự vô tâm", "vô tâm" ở đây hiểu là "không có tâm hư vọng",  khi tiếp cận với sự việc chỉ thuận theo lẽ đạo mà làm, chẳng để cho nó cuốn hút mình vào vòng lo nghĩ, ưu tư, cũng không để cho những định kiến hoặc lòng yêu, ghét chi phối vào (sanh tâm hư vọng). Trước đây có bản dịch là "gặp việc không quan tâm", e rằng không đúng vì mắc phải bệnh nhậm (mặc kệ), không thành tựu được đạo quả trong Phật đạo.

[[20]] Người học rộng biết nhiều thường sanh ra tự phụ, ít khi chịu tham cứu kiến giải của người khác. Kẻ tự mình học rộng biết nhiều, nhưng vẫn chịu khó thận trọng mà tham khảo, cứu xét kỹ lưỡng nhiều nơi, quả là việc rất khó làm, vì dẹp bỏ được sự tự cao, tự mãn của mình.

[[21]] Ngã mạn là gốc của muôn tật xấu. Vì chấp lấy cái ta, lúc nào cũng xem ta là hay giỏi hơn kẻ khác nên làm chướng ngại cho sự học đạo. Mạn (có ngã mạn) là một trong mười kiết sử (Tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, giới cấm thủ kiến, biên kiến, kiến thủ kiến và tà kiến) làm người tu hành khó thành tựu đạo quả vô lậu trong Phật đạo. 

[[22]] Người có chút kiến giải, tri thức hơn người khác, do tâm ngã mạn mà khinh thường những kẻ thấp kém hơn mình. Kẻ hiểu đạo nhận biết rằng người thấp kém ấy chẳng qua là vì chưa được học, nên chẳng dám sanh tâm khinh thường. Lại nói, trong đạo Phật theo Đại thừa, hết thảy chúng sanh đều là Phật sẽ thành, nên càng chẳng dám khinh thường. Kinh Pháp Hoa dẫn chuyện Bồ Tát Thường Bất Khinh, dù gặp bất cứ ai cũng đều cung kính lễ bái, biết rằng vị ấy về sau sẽ thành Phật. Như vậy, nếu chẳng khinh thường người chưa học, đó chính là người hiểu đạo, thật khó làm thay!

[[23]] Tâm bình đẳng là không thiên vị, không phân biệt kẻ thân người sơ, kẻ nam người nữ, kẻ sang người hèn, kẻ giàu người nghèo, kẻ già người trẻ. Đem lòng thương tất cả chúng sanh như nhau.

[[24]] Thị là phải, đúng. Phi là sai, trái. Chuyện thị phi ở đây là chuyện phải quấy của người khác. Tự mình hãy lo tu học, sửa mình, chẳng nên lo bàn chuyện thiên hạ. Tâm người đời  rất dễ bị lôi cuốn vào những chuyện thị phi quanh mình. Kẻ dũng mãnh dẹp bỏ, không bị lôi cuốn bởi thị phi ấy mới có thể chuyên tâm tu học. Việc ấy thật khó làm.

[[25]] Thiện tri thức: có 3 nghĩa...   1)Tiếng xưng hô người đủ chánh tri chánh kiến.

   2)Người bạn đạo (S: kalyā ṇamitra; P: kalyānamitta; Hán dịch là Thiện hữu (善友), Ðạo hữu (道友)): Thời Phật, danh từ này được dùng để chỉ một vị tăng đầy đủ những đạo hạnh như nắm vững lí thuyết Phật pháp và tinh thông thiền định... Ðức Phật dạy: “Cả một cuộc đời tầm đạo đều lấy tình bạn làm căn bản… Một Tỷ kheo, một Thiện tri thức, một người bạn đồng hành  – Từ một vị này người ta có thể mong đợi rằng, ông ta sẽ tinh cần tu học Bát chánh đạo để đạt giải thoát cho chính mình và những người bạn đồng hành.”

   3)Thiện tri thức có ba loại: (1)Giáo thọ thiện tri thức (教授善知識), là những người có khả năng hướng dẫn, dạy dỗ trên con đường tu hành, là bậc thầy;  (2)Ðồng hạnh thiện tri thức (同行善知識), là những người đồng chí, đồng hạnh, tức là người bạn tốt, trung thành; (3)Ngoại hộ thiện tri thức (外護善知識), là những người giúp cho những tiện nghi, tạo điều kiện tốt cho người tu hành.

  Nói chung, nếu gặp được người bạn lành, cùng làm việc lành, sách tấn nhau tu tập, đều hiểu chung là những bậc thiện tri thức. Người như vậy thật rất khó gặp.

[[26]] Tất cả chúng sanh đều sẵn có tánh Phật. Nhưng nhận ra tánh ấy thật chẳng phải dễ dàng, chính là sự nghiệp một đời của người tu học Phật. Kẻ thấy tánh học đạo thì quả Phật chắc chắn đạt đến, như vậy chẳng phải là khó được lắm sao? 

   Kinh Pháp Bảo Đàn nói: "Chẳng biết bản tâm, học pháp vô ích. Nếu tự biết bản tâm, tự thấy bản tánh, tức là bậc trượng phu, là thầy của hàng trời người, là Phật."

[[27]] Dù người tà ác nhưng mình không bỏ, cố theo để giáo hóa họ làm thiện. Việc ấy thật khó làm.

[[28]] Người đời hễ gặp cảnh vui thì xúc động mà bám theo, gặp cảnh buồn thì xúc động mà chán ngán. Đối với cảnh, giữ tâm được chẳng động, uy vũ chẳng khuất phục, bần tiện chẳng đổi chí. Việc ấy thật khó làm. Kinh Duy ma cật nói: "Năng thiện phân biệt chư pháp tướng, ư đệ nhất nghĩa nhi bất động." (Có thể khéo phân biệt các pháp tướng, nơi nghĩa chân thật lòng không lay động.)

[[29]] Phương tiện là sự quyền biến thi hành để đạt được kết quả mong muốn. Hành xử theo khuôn thước có sẵn thì ai cũng làm được. Tự mình nghĩ ra phương tiện linh hoạt, khéo léo để đạt đến kết quả mới là điều khó. Như việc biết sao nói vậy là dễ, nhưng tùy theo trình độ của người nghe mà dẫn dắt từ dễ đến khó cho họ hiểu được (thiện xảo phương tiện), việc ấy rất khó làm.

[[30]] Nhân là nguyên nhân sanh ra sự vật, sự việc. Duyên là những điều kiện phụ trợ giúp cho sự vật, sự việc sanh ra. Tỷ như cây mọc lên, nhân là hạt giống, duyên là mưa nắng, đất, phân bón, công chăm của người trồng...

[[31]] Giữ cho lòng được trong sạch, yên tịnh, chẳng để phiền não, ba độc tham, sân, si làm xáo động.

[[32]] Tham dục: “Người tham dục làm bạn / Sẽ luân chuyển dài dài / Khi hiện hữu chỗ này / Khi hiện hữu chỗ khác/ Người ấy không dừng được/ Sự luân chuyển tái sinh / Rõ biết nguy hại này / Chính tham dục sinh khổ / Tỳ kheo dứt tham dục / Không nắm, không thất niệm / Vị ấy thật xuất gia.”(Tăng Chi I, tr. 358)

[[33]] Túc mạng: Kiếp trước, những đời sống đã qua. Biết được túc mạng tức là nhớ biết những kiếp quá khứ của mình, hoặc thấy biết được những kiếp quá khứ của người khác… “Sau khi chứng tứ thiền, với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, nhu nhuyến, dễ sử dụng, không dao động, ta dẫn tâm, hướng tâm đến “túc mạng minh”. Ta nhớ đến các đời sống quá khứ 1 đời, 2 đời, 3 đời, 4 đời, 5 đời, 10 đời, 20 đời, 30 đời, 40 đời, 50 đời, 100 đời, 1000 đời, 100.000 đời,… nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp… Ta nhớ rõ ràng: tại chỗ kia, ta có tên thế này, dòng họ thế này, giai cấp thế này, thọ khổ lạc thế này, tuổi thọ thế này. Sau khi chết, ta sinh ở chỗ khác. Tại chỗ ấy, thân cũng nhớ rõ như trên… Như vậy, ta nhớ đến nhiều đời, nhiều kiếp sống quá khứ với nét đại cương và các chi tiết.” (Tăng Chi III, tr. 33). Cần lưu ý rằng túc mạng minh trong Phật giáo là kết quả của đoạn trừ tham dục. Chứng tứ thiền, tâm an trú định tĩnh. Đó là giải thoát. Khác với quan điểm túc mạng của các cô đồng bà cốt…

[[34]]  Tối đại: Vĩ đại; Rất lớn; Lớn lao.

[[35]] − Với Nhị thừa: Thiện là “Không bệnh hoạn (Arogya), tốt đẹp (Sundara), khôn khéo (Cheka), không lỗi lầm (Anavajja) và có quả an vui (Sukhavipaka)” (Bộ Pháp Tụ, tr. 24).

       − Với Bồ Tát thừa: Thiện là “Thuận đệ nhất nghĩa viết thiện. Bội đệ nhất nghĩa viết bất thiện.” Nghĩa là những hiểu biết, tạo tác nào không dẫn đến chân lý tuyệt đối là bất thiện hay còn gọi là ác. (Bồ Tát Anh Lạc Kinh)

[[36]] Khi tâm chí đã tiếp hiệp các chân lý, tâm hành giả sẽ xu hướng đến thiện pháp, ly bất thiện pháp, xu hướng đến Niết bàn, giải thoát: một sự vĩ đại của các vĩ đại.

[[37]] Nhẫn nhục: chịu được với cảnh nghịch mà chẳng khởi ra sự giận hờn. Dù bị người hủy nhục, bức hại, hoặc gặp những khổ đau do hoàn cảnh bên ngoài đem đến, thì thân tâm vẫn an tịnh và chịu đựng được hết. Kinh Tăng nhất A hàm nói: "Tỳ kheo lấy nhẫn nhục làm sức mạnh."

[[38]] Cấu nhiễm: Phiền não trong tâm sanh ra uế trược. Các phiền não nói chung gom vào ba thứ: tham lam, sân hận và si mê. Dứt sạch ba thứ ấy thì tâm tự trong sáng, yên tịnh.

[[39]] Phiền não còn, tức là uế trược, tối tăm. Phiền não dứt, tức là trong sạch, sáng suốt.

[[40]] Nhất thiết trí (切智; S: sarva jña; P: sabba ñöa; Hán dịch âm là Tát Bà Nhã (薩婆若), Tát Bà Nhã Đa (薩婆若多)): Là trí tuệ thông đạt hết thảy trong ngoài, biết hết thảy các pháp.

[[41]] Ái dục: Sự luyến ái và ham muốn đối với vợ con, nhà cửa, sự sản... Ái dục nơi con người ta là rất lớn, rất mạnh, nên Kinh Hoa Nghiêm nói: "Phá vỡ núi phiền não, tát cạn biển ái dục."

[[42]] Kinh văn là "kiến đế", đây muốn nói đến Tứ diệu đế: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế. Thấu suốt và thể nhập được Bốn đế ấy... là bậc Thánh, chẳng biết, chẳng thấy và chẳng thể nhập tức là phàm phu.

Tác Phẩm Lý Tứ

Trung Nguyên Cửu Tuyệt… Diện Kiến Lý Tứ

Quản trị viên 16.02.2022
TP.42. Trung Nguyên Cửu Tuyệt… Diện Kiến Lý Tứ

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Như mây bay trên trời 

Không đẹp cũng không xấu 

Người có trí hãy tìm 

Cái đẹp, trong cái đẹp. 

Vì lợi ích muôn loài 

Vì an vui tứ chúng 

Vì sanh tử chẳng thật 

Nên mây cũng không thật. 

Không thật nhưng có vui 

Thường cho nhiều lợi ích

Nơi không thật thành thật 

Cái người trí cần tìm... 

- Lý Tứ -

Nhắc lại, sau khi Lão Tiểu Quỷ làm sập cái bàn của tửu quán, cả bọn giật mình như tỉnh cơn mê. Sáu người dụi dụi mười con mắt nhìn chằm chằm vào Lý Tứ. Hết nhìn Lý Tứ cả bọn nhìn con dao sét rẹt để trên bàn... Hết nhìn người đến nhìn con dao rồi cả bọn lại nhìn nhau... Kẻ há hốc mồm đến nỗi không ngậm lại được. Người trố hai con mắt như muốn đứng tròng... Riêng thiếu nữ áo hồng thì như kẻ mất hồn không còn biết cha mẹ ở đâu, tên tuổi là gì? 

Sáu người, mỗi người một tư thế trông rất không giống ai. Cứ như thế!... Như thế!... Những mạng người bất động như thể trời trồng. Một hồi lâu độ chừng tan cục kẹo trong miệng, cả bọn đồng ồ lên một tiếng, như để hoàn hồn sau cơn “đi thiếp”. Cái thất đởm của “thần tử thấy long nhan” đến nỗi tàn nửa điếu thuốc mà vẫn chưa hết trên khuôn mặt...

Lão Đại bây giờ mới khép được cái miệng của mình. Lão nhoẻn miệng cười xã giao nhằm che giấu “cục mắc cỡ” của một hảo hán. Rồi lão cất giọng văn chương để trấn tỉnh cơn sợ hãi của mình cùng đồng bọn: 

- Đúng là anh em ta chia nhau mỗi người một ngã, đã mòn mấy chục gót giày, đạp bằng bao nhiêu ngọn núi, mà chẳng thấy!... Không ngờ cái nơi “đìu hiu hút gió”, “quán vắng bên đường” này lại gặp được quới nhơn. Thiệt là hữu duyên!... Thiệt là hữu duyên!... Người xưa nói không sai: “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng”, quả không sai... 

Hình như cái thất đởm khi nhìn thấy con dao sét trên bàn làm cho văn chương của lão khập khiễng. Quả không hổ danh: “Nhất thiết bất tri”. Nói xong lão phát hiện ra hai câu tỷ dụ lão đưa ra không phù hợp trong hoàn cảnh này. Lão bèn xoa xoa hai bàn tay bẽn lẽn như con gái về làm dâu, lão lại cất giọng: 

- Thiệt là đứng trước Thái Sơn mới thấy mình nhỏ bé!... Các hảo huynh đệ thông cảm cho cái bối rối vừa rồi của ta. Vì hồ đồ trong nhất thời mà thất lễ với quới nhơn. Xin lượng thứ!... Xin lượng thứ!... “Khôn ba năm dại có một giờ” cũng là chuyện thường tình thế thôi. 

Lý Tứ nhìn tình cảnh sáu người đối trước mình đâm ra chột dạ, thầm nghĩ: 

- Thiệt bọn này thần tượng quá đáng. Đâu có gì ghê gớm mà bọn chúng làm thấy ghê. Mình đâu phải thần thánh gì!... Cũng chỉ là con người bằng xương bằng thịt. May mà bọn chúng chưa tặng hoa, chưa đòi chụp hình chung hoặc xin chữ ký... Thôi thây kệ, thần tượng thì thần tượng, fan hâm mộ thì hâm mộ. Làm quen bọn này biết đâu có chuyện hay về sau. 

Ngẫm nghĩ như vậy, Lý Tứ quay lại phía sáu người, cung tay thủ lễ. Bèn khách sáo đánh tiếng trước: 

- Tiểu Đệ là Lý Tứ. Các bằng hữu thương tình tặng cho cái tên Lý Tam Đao xin chào các lão ca ca và tỷ tỷ!... 

Tiểu Đệ khi nãy mạo muội nghe lén đại danh của các anh hùng là Trung Nguyên Cửu Tuyệt. Tiểu đệ thiệt là hổ thẹn khi nghe lén chuyện người khác. Nhưng vì hâm mộ đại danh chín vị đã lâu, đêm mong ngày nhớ. Nhớ như con tán nhớ bù lon, như cây nhớ gió... ngưỡng mong có ngày diện kiến. Không ngờ hôm nay nhờ ngọn gió lành xui khiến nên tiểu đệ được diện kiến các vị. Thiệt là phước đức mười đời của tiểu đệ... 

Đúng là: “Can lộ phùng Đại vũ”, chỉ còn chờ “Tha phương ngộ cố tri”. Nếu các anh hùng không chê hư danh nhỏ mọn của tiểu đệ, xin các vị nhận của tiểu đệ cái xá này gọi là tượng trưng cho buổi sơ giao. Xin được làm quen các Đại anh hùng. Ngưỡng mong sau này có thể là tri kỷ. Nói xong, Lý Tứ chấp hai tay trước ngực xá một xá. May mà chưa niệm danh hiệu A Di Đà Phật... 

Thấy Lý Tứ trịnh trọng xá mình, chẳng ai nói với ai, cả bọn đồng loạt nhảy lên nóc nhà để tránh cái xá của Lý Tứ. Nhìn bọn chúng nhảy mà thấy thương, giống như tép nhảy khỏi rổ... 

Lão Đại chân chưa chấm đất đã chắp tay trước ngực. Cả bọn chắp theo đồng hướng về phía Lý Tứ, Lão Đại cất giọng: 

- Tổn đức quá!... Tổn đức quá!... Quả “lời đồn không sai”, tác phong của quới nhơn có khác. Anh em tại hạ không dám nhận cái lễ này. Đáng ra cái lễ này là của anh em tại hạ mỗi người phải xá Lý Lão Sư mười xá để “thỏa lòng tương ngộ”, “cung kính bề trên”... Ai đời!... Ai đời!... Có chuyện tréo ngoe này. 

Các đệ, còn chần chờ gì nữa, mau mau thủ lễ ra mắt Lý Lão Sư. 

Lão Đại vừa dứt tiếng, cả bọn sáu người chắp tay trước ngực thi nhau cuốc, mỗi người đúng mười cái. 

Vừa xá đủ một người mười cái, vị chi sáu chục cái xá... Sáu người chạy như bay đến bên Lý Tứ. Người sờ con dao, người dán mắt nhìn kỹ từ đầu đến chân, người cầm tay áo của Lý Tứ rồi dặt dặt, người bóp vai... Cảnh tượng giống như người thân xa cách lâu ngày nay mới gặp lại, trông thấy không ai chẳng bùi ngùi... Cả bọn hân hoan ra mặt... 

Riêng thiếu nữ áo hồng Thất Muội, thì vẫn đứng như trời trồng sau cú nhảy. Cái mất hồn chưa tan trên khuôn mặt... Hai hàng nước mắt “lăn dài trên má”... Ả muốn làm một điều gì đó để tỏ lòng tôn kính và thân thiện với môi trường, nhưng hai chân ả nặng như chì, muốn bước tới mà không thể nhấc chân lên, muốn làm quen mà miệng mồm tê cứng, muốn nói bốn ngàn rưởi lời ngưỡng mộ mà chỉ lắp bắp ú ớ như ngậm cục xôi gà... Trước tình cảnh như vậy, vừa thương hại vừa buồn cười. Lý Tứ sực nhớ lời bài hát: “Con gái nói có là không, con gái nói không là có... Con gái nói đứng là đi, con gái nói đi là đứng”… Thiệt là không một ai trên đời hiểu con gái hơn mấy anh chàng nhạc sĩ…

Trung Nguyên Cửu Tuyệt, chín con người đã làm nên tên tuổi của mình trên giang hồ, hai đạo hắc bạch khi nghe đến cái tên này chẳng một ai không cung kính và ngưỡng mộ. 

Họ là đại diện những gì tốt đẹp nhất của khái niệm “chính nhân quân tử”. 

Tên tuổi gắn liền với tác phong và đạo nghĩa. Mọi giao tiếp được đặt trong nền tảng của những hình thức “bất di bất dịch”. Nghĩa là: Nói phải “uốn lưỡi bảy lần”. Đi đứng, co duỗi... đều không thể tách rời tác phong định sẵn, được cho là chỉ có ở những con người mệnh danh “chính nhân”. Mọi cử chỉ của họ phải là biểu tượng cho cái gọi là “quân tử” khiến người khác phải tôn trọng... Lễ nghi và nghĩa khí là “hai sợi dây cột giày” dính chặt trên đôi chân giang hồ... 

Họ là những anh hùng hảo hán thứ thiệt. Họ tâm niệm: “Ninh thọ tử, bất ninh thọ nhục”, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Thà chết để “hậu thế ngưỡng mộ”. Chết làm sao để được khắc vào bia đá dựng nơi công cộng nhiều người qua lại. Chết làm sao vang danh mà cụ ông lẫn cụ bà, trẻ già lớn bé, đui điếc câm ngọng... đều biết. Chết như thế nào để là đề tài ít nhất khi hai người ngồi lại với nhau trở thành câu chuyện đầu môi biểu lộ sự thông tuệ. 

Chết như thế nào để tiệc tùng, ma chay, cưới gả, thôi nôi đầy tháng được luận bàn trên những cái đầu đỏ au vì rượu với hai mắt lim dim gật gù tâm đắc... Chết cho bằng hữu giang hồ đốt nén nhang kính trọng, với bài điếu văn dài thòng đầy những văn từ ai oán nhưng liệt oanh... Thà chết để rồi sống mãi trong lòng mọi người... Nhất định không sống như “mèo chó chỉ biết kiếm ăn”... Và họ đã thực hiện điều này suốt những tháng ngày giong ruổi!... 

Lý Tứ lấy làm lạ, bởi những con người như vậy, sống bằng những tư duy như vậy, được nuôi lớn bởi những nhận thức như vậy, đã học tập và hành động như vậy... thì cái gì làm cho những con người được coi là “cỗ máy đạo đức”, những con người mà khẩu hiệu “thân bất do kỷ” được đặt lên hàng đầu, thậm chí nó là thứ chân lý để giữ mạng sống này tồn tại trên đầu lưỡi kiếm. 

Vì cái gì khiến họ đã quăng bỏ những thứ này như quăng bỏ cái bọc ny lon rách để đến với mình trong buổi sơ giao, bằng tất cả chân tình như những “đứa con xa gặp mẹ”. 

Cái gọi là “tác phong quân tử” để ở đâu? Cái được gọi là “hành vi hảo hớn” để ở đâu? Lý Tứ đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác về những con người bằng xương bằng thịt trước mặt... mà họ đã một thời ngang dọc...

Có lẽ, cuộc đời và những danh vọng từng gặt hái được đã ngầm cho họ biết rằng, cái đích thực của một con người đang thiếu vắng trong họ nghiêm trọng. Khát khao đi tìm “lẽ sống đích thực” đã âm ỉ trong lòng cả bọn. Sự tồn tại của họ bấy lâu nay được che đậy bởi những giá trị hình thức vô ích nay mới có dịp vỡ tan, như con sóng xô đẩy những thứ không tốt đẹp giữa biển khơi trôi dạt vào bờ... 

Có lẽ, cái được coi là những giá trị tiêu biểu một thời mà họ trót cưu mang không làm họ thỏa mãn. Những tiêu chuẩn đo lường giá trị nhân văn nay đã lỗi thời vừa được phát hiện... Có lẽ, họ đã nhận ra rằng cây đao lưỡi kiếm nạm ngọc khắc rồng, những cái cung tay đầy nghi thức, những lời chào hỏi đổi trao mang nặng xã giao khách sáo đã theo họ suốt thời dọc ngang bây giờ trở thành chán ngắt. Họ vô vọng và cô đơn giữa những con người. Quá khứ vàng son không phải là thứ bây giờ cần gìn giữ... Trước tình cảnh như vậy, Lý Tứ thầm nghĩ, không lẽ con đao sét của mình hay con người với hình hài ốm đói mang đầy bụi đời của Lý Tứ đã đánh thức họ... 

Trong phút chốc, với Trung Nguyên Cửu Tuyệt những gì được coi là “tâm tình của một con người đích thực” hiện diện. “Những tâm hồn” thật sự đã đơm hoa kết trái, khoảng cách ứng xử giữa người với người lâu nay được chắt chiu bằng thứ “trí tuệ vay mượn” đến giờ hấp hối. Phút chốc ngắn ngủi làm người hồi sinh. 

Họ đến với nhau thông qua cử chỉ thương yêu bằng tất cả tấm lòng hơn là môi mép. 

Sự thân thiện hồn nhiên sống dậy trong những con người đã một đời từng trải dưới bao nhiêu danh nghĩa rỗng tuếch. Thậm chí đánh đổi mạng sống của mình bằng những nghi kỵ, che giấu, trang sức bằng những hào nhoáng của triết lý hư ảo... Cuộc đời của những con người được “tô hồng đánh phấn” bằng hư danh nay hình như không còn nữa. Những con người thật sự là con người có lẽ bắt đầu từ đây... Bắt đầu từ cuộc tao ngộ của những ước ao tìm lại chính mình... Có lẽ, rồi đây với những người này binh khí của họ là “đao kiếm và miệng lưỡi” trở thành cổ vật... Chỉ để trưng bày như một chứng tích ngu si... 

Sáu con người sau những bất ngờ của bất ngờ, Trung Nguyên Cửu Tuyệt không còn là Trung Nguyên Cửu Tuyệt. Cái ngỡ ngàng đầu tiên thoáng qua, sáu con người trở thành nhất thể vội vàng ôm chầm lấy Lý Tứ, thiếu nữ áo hồng cũng không ngoại lệ. Khẩu hiệu “thọ thọ bất thân” đã bị đánh đổ... Họ ôm Lý Tứ như chưa từng được ôm, giữ chặt Lý Tứ như sợ con người này rồi sẽ vĩnh viễn vụt khỏi tầm tay của họ...

Lý Tứ cực kỳ xúc động!... 

- Lý Tứ ơi là Lý Tứ!... “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật Tánh” có phải đã thành hiện thực trên những hình hài này!... 

(Hết )

Tác Phẩm Lý Tứ

Chuyện Kể Về… Trung Nguyên Cửu Tuyệt

Quản trị viên 16.02.2022
TP.41. Chuyện Kể Về… Trung Nguyên Cửu Tuyệt

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Chuyện hai mươi lăm năm sau, sau cái ngày nước Thiên Hoa bị teo ở bụng… 

Lý Tứ đi từ sáng đến chiều mới kiếm được một tửu quán ven đường. 

Một tháng lang thang khắp hai vùng Đại giang Nam Bắc. Từ Nam đến Bắc đâu cũng phồn vinh. Tửu quán không thiếu, chỉ có nơi đây vắng vẻ. Nghe đồn nơi đây ban ngày có khách giang hồ qua lại nên tạm bình yên. Đêm về cường đạo hoành hành, dân thường không dám sinh sống. Chỉ có vài cặp giang hồ giong ruổi một đời đến già mỏi mệt, dừng chân ở đây mở tửu quán kiếm sống qua ngày... chờ xuống lỗ. 

Tửu quán không lớn, không gắn bảng hiệu, không có thực đơn, bên trên chỉ lợp đơn sơ, bốn bề không vách, gió thổi lồng lộng.Trong quán kê hai dãy bàn mỗi bên bốn cái, bàn này có thể nghe bàn kia nói chuyện. Nhìn cách bài trí khác thường không giống cách sắp xếp bàn ghế mà các tửu quán nơi hay có bọn giang hồ qua lại. Theo quy luật chung thì bàn ghế cho khách uống ăn không thể bày như thế này. Bàn này nghe bàn kia nói chuyện là Đại kỵ trong giới giang hồ vì bí mật của các bang phái xưa nay. 

Lý Tứ chọn chiếc bàn còn trống gần đầu tửu quán, cách xa chiếc bàn kê bên trong đã có bốn người đang ngồi uống rượu. Chọn như vậy là có ý thể hiện tác phong của người biết chuyện... không dòm ngó nghe lén chuyện thiên hạ... Lý Tứ kêu một chiếc bánh bao và một bình rượu nóng... 

Gác cây đao sét rẹt trên bàn, Lý Tứ định bụng ăn cái bánh bao uống bình rượu nóng xong lại tiếp tục ngược lên hướng Tây... tìm nhà người quen trước canh ba đêm nay. Ban đêm may ra hắn còn ở nhà chứ đợi sáng mai thì hắn lại mất tăm... 

Bốn người đàn ông bên kia coi bộ ăn uống đã no say. Một gã trong bốn gã nói lớn: 

- Lão Nhị!... Chuyện người kể về Trương Tam là chắc chứ? Thông tin này ngươi nghe từ đâu? Có chính xác không? 

Người được gọi là Lão Nhị cất tiếng: 

- Chính xác!... Chính xác!... Đệ có người bằng hữu là tục gia đệ tử của Thiếu Lâm, y ta có chút tiếng tăm. Tuy tiếng tăm y không lớn lắm nhưng cũng được phương trượng Thiếu Lâm nể vì. Chính người này nói cho lão đệ hay là hôm đó đích thân Phương Trượng Thiếu Lâm là Phương Chứng Đại Sư cùng mấy vị trưởng lão đi đám. 

- Thế có biết nguyên nhân vì sao Trương Tam qua đời không? 

Nghe nói bệnh tật, chứ chẳng phải đao thương!... 

- Một người công lực như Trương Tam, kiếm thuật bằng thánh thì phong hàn sao có thể nhập được, chuyện này chắc có khuất tất gì đây!... 

Chính tiểu đệ lúc mới nghe nói cũng hồ nghi như Đại Ca, nhưng đây là sự thật về cái chết của Trương Tam. Nghe đâu hôm đó có cả triều đình cử người đến viếng, mà có triều đình nhúng tay vào thì làm gì khuất tất được. 

- Thế trong anh em có nghe ai nói trong đời Trương Tam có truyền nhân không?

Lão ngồi đối diện với Lão Nhị, mắt sáng đầu hói, lưỡng quyền nhô lên mới thoạt nhìn đã biết cao thủ, lão ta cất giọng ôn tồn: 

- Đích xác thì không!... Nhưng phong thanh giang hồ có đồn Đại hình như có truyền nhân, có truyền nhân... Hình như truyền nhân có tên là Lý Tứ. Nghe đâu Lý Tứ trẻ hơn Trương Tam con giáp. Y ta xử Đại đao chứ không phải kiếm. Cái đặc biệt là cả hai cùng xử đao kiếm bằng tay trái... Cái khác là Trương Tam nước da đen thui còn Lý Tứ nước da trắng nhách. Trên hai mươi năm rồi họ thường bôn tẩu với nhau... nhưng chẳng ai biết đó là Trương Tam và Lý Tứ. 

Cái lão có vẻ là Đại ca nghe đến đây trầm ngâm, cả bọn cùng im lặng. 

Lý Tứ ngồi bàn bên kia có không muốn nghe những lời này cũng không được vì bọn chúng nói lớn như chỗ không người. Lý Tứ bèn quay lưng lại chỗ bọn họ giả bộ nhìn ra ngoài nhưng thật ra làm như vậy để bọn chúng không chú ý. Bây giờ Lý Tứ quyết tâm lóng tai nghe cho rõ coi bọn này bàn chuyện gì, hình như có liên quan đến mình và Lão Đại... 

Sau một hồi trầm ngâm chừng tuần trà, người được gọi Lão Đại cất giọng có mùi phiền não: 

- Thiệt là hồ đồ!... Thiệt là hồ đồ!... Nghe các đệ càng nói ta càng hồ đồ. Lão Đại ta đây tuy không tiếng tăm, kiến thức không dám nói là nhiều. Nhưng hai mươi mấy năm nay bằng hữu giang hồ thương tình nên thường đến hỏi chuyện, chưa có chuyện nào ta chẳng thông!... Chỉ có chuyện này chuyện này... chuyện này!... 

Cái lão đầu hói tiếp theo: 

- Võ lâm nhân sĩ thường gọi Đại Ca là bằng cái tên “Nhất thiết bất tri” chẳng phải là hư danh. Đại Ca mà hồ đồ thì các đệ đây chẳng dám luận bàn việc này vậy!... 

Người được gọi bằng Lão Đại lại cất giọng: 

- Thì đó!... Thì đó!... Đúng là ở đời khó thể biết hết, chỉ trừ “dị nhân dị tuệ”. Bọn ta tuy giang hồ tăm tiếng, nhưng cũng không thể biết hết chuyện mười phương, ví như cái vụ này. Thú thật với các đệ, từ xưa đến nay, truyền thuyết cho đến thư tịch. Từ binh khí phổ cho đến bí lục độc môn cũng như các loại quyền cước tâm pháp, các dị nhân trên giang hồ xưa nay không hiếm nhưng ta chưa từng nghe ai nói “kiếm thánh” lại truyền “đao tiên”. Vì sao? Xét cho cùng hai loại võ khí này hoàn toàn khác nhau về bản chất cũng như chiêu thức. Một chuyên về công một chuyên về thủ. Kiếm lấy công làm thủ ngược lại đao lấy thủ làm công... 

Người học được kiếm thì khó thành tựu đao. Người quen dùng đao thì kiếm dở như hạch. Tố chất của người luyện kiếm mảnh mai nhanh lẹ, còn người luyện đao thì phải vai u thịt bắp, bụng có sáu múi như múi bưởi Biên Hòa. Đằng này nghe nói Trương Tam thành tựu kiếm pháp còn tin, vì con người này ta từng thấy qua. Trong khi Lý Tứ nghe đồn mặt tựa Phan An làm sao một người thể chất thể hình như vậy có thể luyện thành đao pháp... Người luyện kiếm nếu có cố luyện đao thì cũng như “ăn cơm có ớt”, chỉ để làm vui hoặc tăng kiến thức lấy đó bổ sung cho chỗ sở trường. Ngược lại người luyện đao khi luyện thêm kiếm cũng không ngoại lệ. Trong giang hồ ai mới nhập môn cũng biết đạo lý này. Đã vậy, ta hỏi các đệ Trương Tam là kiếm thánh làm sao dạy người thành tựu cái sở đoản của mình là đao? Cái ta hồ đồ là ở chỗ này, là ở chỗ này... 

Nói đến đây cặp mắt lão mơ màng nhìn về xa xăm... Lão nhấp một ngụm rượu khà tiếng sảng khoái, tằng hắng lấy giọng, rồi lão tiếp: 

- Huynh đệ ta có chín người, tuy không cùng cha mẹ sinh ra nhưng đã thề đồng sanh đồng tử. Mười mấy năm nay đạo nghĩa giang hồ anh em ta giữ trọn. Huynh đệ bốn phương chưa ai không mến, chẳng một lời chỉ trích. Bằng hữu giang hồ, hai đạo hắc bạch khi nhắc đến cái tên “Trung Nguyên Cửu Tuyệt”, dù chỗ không người, chẳng có ai nghe thấy cũng phải cung tay trước khi kêu cái tên cúng cơm của bọn ta. 

Trong chín anh em ta, cộng lại đã đủ Đại diện cho hết thảy tuyệt học giang hồ. Trong chín người có kẻ xử kiếm, người đao, quyền, cước, giảng, kích, độc, tiêu... Nói chung không thiếu, ai cũng luyện đến chỗ “xuất thần nhập hóa”, “chiêu ý nhứt như”... 

Tuy võ công là như vậy, võ học của chín anh em ta dưới gầm trời này chẳng kém một ai. Các đệ đa phần xuất thân từ giang hồ nòi, thuộc loại “gia đình truyền thống”. Duy chỉ có Lục Đệ và Thất Muội là hai người bước vào con đường đạo nghĩa từ dòng dõi khoa bảng, lại là con nhà “trâm anh thế phiệt”. Ta nhớ cái ngày mới gặp Lục Đệ, khi đó hắn ta mới mười tám đôi mươi mà đã đỗ Tiến Sĩ khoa thi năm ấy. Hắn được triều đình phong cho chức “Hàn Lâm Đại Học Sĩ”. 

Mới tuổi như thế mà công danh như thế, các đệ gẫm coi, người đời nằm mơ cũng không được. Thế mà!... Thế mà!... Thế mà!... Lục Đệ vì cái đạo nghĩa “thế thiên” bỏ công danh sau lưng, quên chuyện nằm giường cao trải chiếu bông, theo ta ăn sương nằm gió. Chu choa!... Chu choa!... Cái đạo nghĩa giang hồ nói ra thiệt cao tột tận mây xanh...

Nói đến đây, lão ta cất giọng cười sảng khoái, tiếng cười như chuông ngân, cười như “chưa từng được cười”... 

Nhấp một ngụm rượu rồi đánh khà như để tăng hào khí, với chất giọng hào sảng lão tiếp: 

- Còn Thất Muội, cái con nha đầu ai thấy cũng thương, công dung ngôn hạnh đủ đầy. Tuy xuất thân là một tiểu thơ, mình hạc xương mai, liễu yếu đào tơ, nhưng trong bụng toàn “binh khí phổ” chứ chẳng phải thi ca. Không biết con nha đầu này học mấy thứ đó hồi nào mà cái đêm ta cùng nó gặp nhau lần đầu vào đêm trăng sáng ở Mai Hoa Thôn. Ta múa kiếm cho ả coi, ta múa đến đâu ả đọc chiêu thức đến đó. Thú thật với các đệ, tuy ta múa để người thưởng thức nhưng tốc độ không vừa. Trong giang hồ hàng cao thủ bậc trung một đời luyện kiếm cũng chẳng mấy ai nhận ra chiêu thức. Thế mà con nha đầu nhìn qua không bỏ một chiêu không sót một thức. Nghe ả đọc khẩu quyết máu anh hùng của ta cao vút. Lúc đó không ngần ngại ta thi triển kiếm pháp “Đơn ảnh vô chiêu” kiếm khí rợp trời, kiếm quang như điện. Dưới ánh trăng một trời hoa mai vàng rực. Sở dĩ lúc này đầy trời hoa mai cũng bởi do hoa mai trong thôn bị hút vào kiếm lực của ta cuốn bay lên trời. Múa đến đây tưởng chừng con nha đầu bí thù lù. Ai dè ta múa càng nhanh ả đọc càng lẹ. Ả đọc đến độ chiêu quyết từ miệng ả trở thành chuỗi âm thanh trầm bổng như tiếng tiêu từ cõi xa xăm vọng lại. Từ đó hai câu thơ ta hay ngâm, các đệ thường nghe có xuất xứ từ chỗ này: 

“Trời xanh, trăng bạc, hoa rơi. 

Tiếng tiêu ai đó xa xôi vọng về.” 

Nói đến đây, lão ta im lặng, hai mắt nhắm riết, lão định thần hồi lâu mới mở ra. Rồi lão cất giọng gọn lỏn: 

- Đã đến!... Đã đến!... Ha ha!... Ha ha!... Hay quá!... Hay quá!... Đã đến... 

Cả bọn ba người còn lại ngơ ngác nhìn nhau rồi nhìn lão, không biết Lão Đại đang nói cái gì??? 

Tiếng nói “Đã đến!... Đã đến!...” của Lão Đại chưa dứt thì ở hướng Nam văng vẳng tiếng tiêu. Tiếng tiêu chợt trầm chợt bổng, lúc khoan thai như tiên nữ hái hoa lúc dồn dập như vạn binh xông trận... Tiếng tiêu mỗi lúc rõ hơn. 

Cả bọn đồng ồ lên:

- Thính lực Đại Ca thiệt gầm trời này có một không hai!... Tiểu đệ ba đứa chẳng một ai thính lực bỏ sót tiếng lá rơi ngoài mười dặm, thế mà chẳng phát hiện được gì, còn thua xa Đại Ca mấy bậc... 

Lý Tứ bây giờ nghĩ thầm trong bụng, thì ra tiếng tiêu ta nghe lúc nãy là tiếng tiêu mà bọn chúng đang nói. Kể ra thính lực người gọi là Lão Đại tuy có thua mình mấy phần nhưng thuộc loại hàng hiếm cần ghi vào sách đỏ để bảo tồn... 

Lão Đại lại tiếp: 

- Ta biết con nha đầu sớm muộn gì nội nhật hôm nay cũng về tới. Ả về nhất định có nhiều chuyện lạ. Ta biết tính ả, chuyện gì đã giao là làm đến nơi đến chốn. Khả năng thu thập tin tức của con a đầu này khó người sánh bằng, các đệ hãy đợi vài giây nữa có tin hay đấy... 

Tiếng lão chưa dứt, một dải lụa hồng bay mau vào trong quán. Cả bọn đồng reo lên: “Thất Muội bình an!... Thất Muội bình an!... Đi chợ có mua được miếng bánh nào ngon không? Mấy Lão Ca Ca đang chờ Thất Muội. Đói lắm rồi!... Đói lắm rồi...!” 

Lý Tứ lại thầm nghĩ, thì ra đây là ám hiệu của bọn người này. Cái câu “Thất Muội bình an... mua được miếng bánh nào ngon không... đói lắm rồi...” chỉ có đám người này hiểu ý. Dải lụa hồng bay vào trong quán chính là thiếu nữ bọn họ gọi Thất Muội đây. 

Thiếu nữ áo hồng cung tay chào đồng bọn, giọng ả như chim hót bình minh, ả nói nhanh: 

- Tiểu muội kính chào Đại Ca, chào Nhị, Tam, Tứ Ca!... Bốn vị vẫn khỏe? Tiểu muội có mua được bánh ngon, lại thêm rượu tốt làm quà cho các Đại Ca đây. Rồi ả õng ẹo... Mấy Đại Ca ơi!... Mới có ba tháng không gặp vì công vụ mà tiểu muội tưởng chừng ba ngàn năm. Tiểu muội nhớ mọi người lắm lắm, mong mua được bánh ngon về sớm. Nhưng lúc này khách hàng nhiều quá, tiệm bánh làm ra không kịp để bán. Vả lại có mấy thứ bánh lạ, tiểu muội phải chờ tới lượt mình mua, làm Đại Ca và mấy Ca Ca phải đợi ở đây đến giờ này!... Xin các Ca Ca đừng trách phạt tiểu muội... 

Lão Đại cất giọng: 

- Cái con nha đầu này lại khéo lẻo mép. Các đệ nhìn xem câu nào con nha đầu này nói ra cũng đẹp lòng người khác. Mấy Lão Đại Ca đây chỉ mong tiểu muội đi sớm về sớm, bình an vô sự. Bánh ngon rượu tốt tuy quý nhưng đâu quý bằng cái bình an của tiểu muội. “Giang hồ hiểm ác”!... Bọn ta chín người chia nhau “đi chợ”, hẹn sau ba tháng tụ hội ở đây. Tuy không nói ra nhưng ta biết trong lòng mỗi người đều nghĩ nhớ lo lắng đến nhau. Giả sử có chuyện chẳng lành như chuyện năm ngoái Ngũ Đệ gặp phải, thiệt anh em ta cùng đau như tay cắt tay, thịt cắt thịt... 

Lý Tứ thầm nghĩ, thì ra bọn này nhất định đi điều tra về chuyện Lão Đại của ta qua đời là thực hay hư. Nếu chuyện này là thực thì bọn họ muốn biết truyền nhân đích thực của Lão Đại là ai. Xem ra bọn này là hạng “chánh nhân quân tử”. Nhưng không biết bọn họ tìm hiểu những chuyện này có dụng ý gì? Suy nghĩ như thế, Lý Tứ quyết tìm hiểu chân tướng sự việc... 

Thiếu nữ áo hồng ngồi xuống. Ả để chiếc ngọc tiêu lên bàn. Từ chiếc ngọc tiêu một luồng hơi lạnh tỏa ra khắp quán. Hồng quang từ tiêu ánh ra mang hơi ấm hòa trong cái se lạnh như thời tiết vào xuân. Chỉ nghe hơi lạnh đan xen cái ấm, cũng biết chiếc tiêu của ả không phải tiêu thường. 

Giang hồ xưa nay vẫn thường đồn Đại “Hồng ngọc ôn hàn tiêu”, chắc là chiếc tiêu này. Nghe đồn muốn xử được tiêu phải là thiếu nữ còn nguyên dấu “thủ cung sa”, sanh vào năm Quý, đến tuổi dậy thì trong lòng không dục, tâm tính thanh lương như hoa sen buổi sáng. Nhược bằng nếu người sử tiêu này tâm khởi dục tình, chiếc tiêu mất tiếng, trở thành cây tiêu thường. Thì ra ả là người sở hữu hồng ngọc ôn hàng tiêu, như thế xuất thân bọn này chẳng thể tầm thường... 

Thiếu nữ áo hồng, miệng cười chúm chím. Ả đưa tay vuốt mái tóc cho gọn, để lộ khuôn mặt như chị Hằng đêm trung thu, giọng như oanh hót, Ả nói: 

- Tiểu muội vâng lệnh Đại Ca, sau khi chia tay một tuần tiểu muội đến được thôn Hoa Thị. Để tránh dòm ngó, tiểu muội phải hóa trang thành một mệnh phụ phu nhân, thuê một cỗ tứ mã suốt ngày giong ruổi đường phố cùng tên Xà Ích giống như người thừa tiền lắm của đi du ngoạn tránh cái rét phương Bắc. 

Nói đến đây ả cười ngặt nghẽo. Tiếng cười lúc trong như suối reo… lúc lảnh lót như tiếng hạc vào xuân, ai nghe qua lòng cũng hết muộn phiền... 

Ả tiếp: 

- Thôn Hoa Thị không hổ danh nơi “ngọa hổ tàng long”, “địa linh nhân kiệt”. Với thân phận mới tiểu muội phải xem tiền như lá mít, xài bạc trắng như nước ngoài sông. Chính vì điểm này mà tiểu muội dò ra được nhà của Trương Tam không khó.

Thú thật với các Đại Ca, bên ngoài giả bộ xem tiền như giấy lộn nhưng trong lòng tiểu muội rất đỗi xót xa. Chẳng phải vì sợ tốn tiền hao của, nhưng tiểu muội nghĩ đến những người nghèo khó, trẻ thơ bất hạnh, người già cô đơn sáng chiều cơm không đủ no, áo không đủ mặc... Nói đến đây, cặp mắt ả long lanh ngấn lệ, giọng ả dường như ngẹn ngào... Ả vân vê tà áo hai má ửng hồng, mới thoạt nhìn qua cứ tưởng như thiện tiên giáng trần... 

Lão Đại nghe mấy câu này lấy làm hả dạ. Lão gật gù cái đầu, đưa tay vỗ đùi đánh đét một tiếng rồi lão cất giọng: 

- Đúng là nhân hậu!... Đúng là nhân hậu!... Thiệt không uổng một đời anh em ta kết nghĩa đệ huynh. Ta tuy không biết quá khứ vị lai như bọn học sĩ hô hào “thông tri tam giới”, nhưng nhìn qua con người và tánh nết của con nha đầu này, ta cũng đoán biết kiếp trước của hắn là Thiện Tiên tái thế, chẳng phải phàm tục, “Thiện nhân thiện quả, ác giả ác báo”... Cái tốt hôm nay là do nhân đời trước vậy... Hay!... Hay!... Hay!... 

Thiếu nữ áo hồng nói tiếp: 

- Tiểu muội dò xét, tìm hiểu rất kỹ về thân thế của Trương Tam. Tiểu muội cũng có thông tin đầy đủ về đám tang, thiệt là hoành tráng!... Thiệt là hoành tráng!... Hoành tráng mà tôn nghiêm đệ nhất. Tất cả tư liệu có được từ văn bản cho đến hình ảnh tiểu nữ cho vào cái này... Nói đến đây, ả thận trọng dòm trước ngó sau, đảo mắt đến bốn năm lượt. Ả mở cái bọc đeo bên mình, lấy từ trong đó ra một vật giống như viên gạch Tàu, sơn màu xám xám, dẹp như quyển vở học trò. Ả trịnh trọng nâng nhẹ lên rồi mở đôi cái hộp ấy ra... 

Cả bọn chụm đầu vào chiếc hộp, mặt trên chiếc hộp bỗng dưng sáng lòa, rồi hình trái táo bị cạp một miếng hiện ra... Ả dùng cái giọng thông tuệ, giới thiệu về xuất xứ cũng như công dụng của chiếc hộp... 

- Các Đại Ca biết không!... Sở dĩ tiểu nữ có được cái máy huyền vi này chẳng phải vô duyên vô cớ, thiệt là nhân duyên hy hữu. Nhờ đóng vai mệnh phụ nên tiểu nữ làm quen được mấy quý bà là phu nhân của hàng khai quốc. Tiểu nữ có tiêu ngọc mấy bà xem qua thèm chảy nước miếng. Nhưng cũng để khoe báu vật, một bà là phu nhân của ngài chủ “Học Viện Tân Minh” [1] cho tiểu nữ coi cái máy huyền vi này. Thiệt là xảo diệu!... 

Trong đời tiểu nữ đã xem qua không biết bao nhiêu báu vật thế gian, nhưng chưa thấy cái nào nhiều tiện ích bằng cái này. Nghe đâu đến những ba vạn tiện ích. Nguyên ngày hôm đó tiểu nữ với phu nhân ở miết trong phòng, người hầu đem cơm nước đến tận nơi. Cả hai cùng khám phá “sức mạnh tiềm ẩn” nằm trong cái máy huyền vi, thiệt là một phen mở rộng tầm mắt. Phu nhân vận chỉ, chỉ lực đến đâu tiện ích xuất hiện đến đó. Nó giống như người, biết khóc biết cười, biết hát biết múa... Thôi thôi để xong việc tiểu nữ sẽ hướng dẫn Đại Ca và mấy Ca Ca sử dụng... Nói đến đây ả lại đảo mắt vài bận nhìn quanh bốn phía như sợ có người giật cái máy huyền vi của ả... Rồi ả cao giọng: 

- Cái máy huyền vi này có tên là “Ái Bạc Nhị Nấm Bổ”[2] . Nghe đâu sản xuất bên trời Tây thuộc Bắc Cu Lô Châu. Nước này có tên là “Mỹ Lợi Kiên Hợp Chúng Quốc” [3] , người ta đọc tắt thành Mỹ Lợi Kiên, cũng có người gọi là A Mỹ Lợi Gia [4] . Nước này văn minh ghê gớm thuộc loại đa sắc tộc nên có tên là Hợp Chúng, cũng có khi gọi là Hợp Chủng. Người ở nước này thân cao hai trượng, mũi lõ mắt thau giống người Man Di, thần công kinh người, trên lên tới trời, dưới xuống đáy biển, thần thông quảng đại bay liệng như chim, Tề Thiên còn phải khiếp... Vị phu nhân nhờ đức ông chồng có lần đến đó vì việc quan nên mới mua được, đem về làm quà cho vợ... Phu nhân một mực hãnh diện khi có vật này... Nói đến đây, ả cắn miếng bánh bao, uống ngụm trà đá lấy hơi rồi ả tiếp: 

- Cái Bỉnh Quả trên mặt hộp khi mới mở ra các Đại Ca thấy nó xuất hiện đầu tiên chính là nhãn hiệu cầu chứng của nhà sản xuất. Ở Bắc Cu Lô Châu, trái Bỉnh Quả [1] gọi là “Ấp Bố” [2] . Ở bên đó cái gì cũng có cầu chứng. Đứa nào ăn cắp chiêu thức sẽ bị đưa ra “ba tòa áo đỏ”. Cái này họ gọi là “thương hiệu”. Bọn này coi thương hiệu là “yếu tố sống còn”, không như bên ta hàng giả, hàng dỏm, hàng nhái đầy ngoài chợ... 

Nghe đâu cha đẻ chiếc máy huyền vi này con cháu mười tám đời của họ Cừu trên núi Thiết Chưởng. Lão Bà Tổ của họ chuyên ăn táo nên di truyền đến mười mấy thế hệ sau mà chưa bị lai, dòng ép một [3] vẫn còn. Vì thế hậu sinh dòng họ Cừu lấy quả táo bị sứt một miếng làm “ký hiệu”. Một là tưởng nhớ tổ tiên, chim có tổ người có tông, hai là làm bằng để cầu chứng... Cái đáng thương tâm là người luyện nên thần thông này đã quá cố mấy bữa trước, lão ta có tên “Xỉ Tề Vạn Chộp”[4] . Thiên hạ lại đồn đoán vì ăn nhằm táo độc, thiệt “sanh ư nghệ tử ư nghệ”. Lão ta chưa đến lục tuần, công danh sự nghiệp bỏ lại đành đoạn ra đi... Nói đến đoạn này ả trầm giọng có phần thương tiếc... 

Thiếu nữ áo hồng chưa dứt tiếng đã nghe ngoài quán có tiếng con nít rao bán hàng: 

- A lô!... A lô!... Dừa khô lên giá, ai có má đem đổi dừa khô!... A lô!... A lô!... 

Cả bọn năm người, mười con mắt sáng như sao nhất tề dòm cửa quán. Lão Đại Ca ra ám hiệu, cả bọn năm người binh khí lăm lăm đồng loạt đứng lên... 

---••• ⁕ ⁕ ۝⁕ ⁕ •••--- 

Cả bọn họ mặt mày biến sắc, tay lăm lăm binh khí, tiếng rao ngày một gần hơn. 

Thấp thoáng nơi đầu tiểu lộ dẫn vào quán, một đứa bé trạc tuổi chín... mười, đầu để chỏm trái đào, tay trái cầm một buồng dừa nhưng chẳng giống dừa, cau cũng chẳng giống cau, quả thì hình dáng như dừa nhưng chỉ lớn bằng trái cau kiểng. Tay phải đứa bé cầm xâu kẹo hồ lô, vừa đi vừa ăn kẹo vừa rao. Đứa bé lang thang như con nít tan trường. 

Lão Đại căng thẳng đến tột độ, hình như không dằn nổi trước thái độ vô tư của đứa bé. Lão quát một tiếng lớn như sư tử gầm, trong tích tắc lão chộp cổ đứa bé như diều hâu xớt con gà con từ ngoài tiểu lộ đưa vào trong quán. Lão đặt đứa bé ngồi trên bàn, cả bọn vây thành vòng tròn chung quanh coi bộ giữ gìn rất nghiêm ngặt. 

Đứa bé lại đưa xâu hồ lô lên miệng ăn một viên, đối với hắn dường như không có việc gì xảy ra. 

Đến lúc này, Lão Đại không dằn nổi. Lão lại quát lên một tiếng như sấm nổ rồi nói lớn: 

- Tiểu Quỷ!... Người không sao chớ, ngươi lại bày cái trò ma quỷ gì nữa đây? Chuyện bọn thảo khấu ở Lưỡng Hà bắt cóc ngươi đòi tiền chuộc là sao? Chuyện này thực hư thế nào? Cả tháng nay cái bọn thảo khấu chuột nhắt ngày nào cũng đòi ba mươi vạn lượng. Nếu không thỏa mãn yêu cầu, bọn chúng nói sẽ đem ngươi nấu canh chua. Ta và các Đại Ca của ngươi đang tính kế “giải cứu con tin”... Nay ngươi vác xác về đây, làm ngày ta càng không hiểu mô tê gì hết... 

Đứa bé có tên Tiểu Quỷ vẫn chăm chú vào xâu kẹo hồ lô. Hình như đối với nó chỉ có xâu kẹo hồ lô là số một, nó tiếp tục ăn như thèm ăn bảy kiếp... Trên đời chẳng có việc gì quan trọng hơn kẹo hồ lô... 

Thiếu nữ áo hồng đưa tay vuốt chỏm ba giá của đứa bé, như chị dỗ em rồi cất giọng ngọt ngào: 

- Cửu Đệ!... Cửu Đệ nói đi, Đại Ca nóng ruột lắm rồi. Từ hôm chia tay đến nay Cửu Đệ làm gì? Mọi người đang chờ Cửu Đệ nói. Nói đi rồi Thất Tỷ sẽ cho tiểu đệ một trăm lẻ một xâu kẹo hồ lô... Lại dẫn đi công viên chơi cầu tuột... 

Lý Tứ lại nghĩ, thì ra thằng bé có tên Tiểu Quỷ là đồng bọn của năm người này. Hắn là tên thứ chín của nhóm chín người, nên thiếu nữ áo hồng mới gọi nó là Cửu Đệ. Nhưng giang hồ xưa nay ai lại phân công con nít còn để chỏm tham gia Đại sự bao giờ. Mới nhìn thì bọn này sai nhiều thứ, lại vi phạm luật “bảo vệ và chăm sóc trẻ em”. Chắc trong này có nhiều thú vị... 

Một loáng, thằng bé đã làm thịt xâu kẹo hồ lô chừng mười viên sạch bách. Hai bên mép dính phẩm đỏ tùm lum như râu ông kẹ. Hắn thè lưỡi liếm quanh mép đưa tay quẹt miệng cho sạch. Thằng bé từ từ đứng dậy giữa bàn, đảo mắt nhìn đồng bọn rồi cung tay thủ lễ. Hắn nói: 

Cửu Đệ trân trọng kính chào Đại Ca cùng các Sư Huynh Sư Tỷ!... Tiếng nói của đứa bé bây giờ lại là tiếng của một trung niên, thanh âm chững chạc. Không giống những gì con người nó thể hiện cũng như tiếng rao trước đó. 

Lý Tứ lại nghĩ: 

À!... Thì ra đứa bé này là một trung niên độ khoảng bốn mươi. Nhưng vì sao thân hình vóc dáng cho đến khuôn mặt như đứa trẻ lên mười? Nếu tính theo tôn ti giang hồ thông thường thì thiếu nữ áo hồng phải gọi đứa bé này là Đại Ca hay Thúc Thúc mới phải!... Lý Tứ rất ngạc nhiên mối quan hệ lẫn nhau cũng như cách giao tiếp của bọn người này... 

Đứa bé lại tiếp: 

- Đại Ca!... Sư huynh Sư tỷ!... Chuyến này thu hoạch lớn, thu hoạch lớn!... Số dừa mang đi hôm đó, tiểu đệ bán sạch trơn, chỉ chừa lại một quầy gọi là để giống... 

Sau cái hôm anh em ta bàn nhau ở “Lý Sự Đường”, tiểu đệ tức tốc lên đường ngay canh ba. Sáng ngày thứ sáu tiểu đệ đến Lưỡng Hà. Chu choa mẹt ơi!... Lưỡng Hà thiệt là phồn vinh hết chỗ nói. Trên bộ dưới thuyền khách thương tấp nập. Giang hồ ẩn sĩ dịp này tụ hội về đây nhiều như lá mùa thu. Hắc bạch hai đạo đủ cả. Khách điếm không còn một chỗ trống. Đêm đến tiểu đệ phải ngủ ở cái sạp bán hàng đầu chợ, gió táp mưa sa. Nhưng cũng may mắn, nhờ đó mà bọn giang hồ không để ý. Ngày ngày đệ lấy tro than trét lên mặt coi bộ đen ngòm, quảy quầy dừa đi bán khắp nơi. Nhờ vậy, đệ len lỏi vào hang cùng ngõ hẻm dò la tin tức mà không một ai phát hiện ra đệ... 

Nói đến đây Lão quỷ thọt tay vào bị, mở bọc ny lon lấy xâu kẹo hồ lô “ăn lấy ăn để”, rồi nói tiếp: 

- Đại ca cùng chư vị ơi!... Chuyến này bọn thảo khấu Lưỡng Hà bị đệ cho mắc hỡm một phen, tức đến lộn ruột. Chắc bây giờ chúng đang tụ tập với nhau lôi ba mươi sáu đời tổ tông nhà đệ ra chửi cho đã cái tức... Mặc kệ tụi chuột nhắt, chửi thì chửi, miễn công việc Đại Ca và anh em giao tiểu đệ hoàn thành là vui lắm rồi. Xong việc này tha hồ tiểu đệ ăn kẹo hồ lô mệt xỉu... Lão nói một hơi rồi lại móc xâu kẹo hồ lô, làm như trên đời không ăn kẹo hồ lô là lão chầu ông bà ông vải vậy. 

Lão lại le lưỡi liếm mép, đưa tay quẹt miệng, uống một ngụm trà rồi lão thọc tay vào túi hình như tiếp tục lấy kẹo hồ lô. Không biết nghĩ gì, lão không lấy kẹo mà buông thõng hai tay nói tiếp: 

- Nửa tháng ở Lưỡng Hà, tiểu đệ mượn cớ bán dừa tiếp cận không biết bao nhiêu cao nhân ẩn sĩ. Thì ra hai đạo hắc bạch bọn họ tụ tập về đây cũng vì cái vụ này... Bạch đạo như Võ Đang, Thiếu Lâm, Nga Mi, Không Động, Thanh Thành... Nói chung, các môn phái có tiếng tăm không sót một mống. Họ cử đến toàn “cao thủ ngoại hạng” cải trang làm đủ hạng người. Nhưng bọn chúng thua tiểu đệ đến mấy bậc về tài mọn hóa trang. Vì thế, bọn này giấu đầu lòi đuôi rốt cùng công cốc, đi không về không... 

Còn hắc đạo thì có đám Độc Thủ Miêu Cương, Ma giáo ở Quang Minh sơn, ba mươi sáu động bảy mươi hai đảo không sót một tên. Bọn này ngày cờ bạc rượu chè, đêm đột nhập vào các khách điếm để dò la động tĩnh... 

Bang hội thì có Kình Ngư bang, Kim Sa, Khất Cái... Bọn này đa số hóa trang thành khách thương mua rau bán hành vì vốn liếng không nhiều so với tiền của bọn khách thương chính thống ở Lưỡng Hà... 

Trang, Gia thì có Đường gia ở Tứ Xuyên, Mạc gia ở Thiểm Tây, Ngô gia ở Liêu Ninh... Lại có Mai trang, Mạn Đà, Lệ Viên trang... Nói chung nhiều vô số kể. Bọn này giàu có nên hằng ngày mua dừa của đệ uống chơi cho khỏi nóng trong mình. Nhân đây đệ chém tụi nó thấu xương, một bán thành ba thành bốn... 

Cái lạ là trong vụ này triều đình cũng tham gia. Bọn họ cải trang trà trộn thành đủ hạng người. Ban đầu tiểu đệ lấy làm lạ, xưa nay chuyện giang hồ thị phi quan phủ không để ý tới. 

Không hiểu sao việc này triều đình lại nhúng tay? Chắc chẳng phải chuyện đơn giản. Cho đến cuối tháng đầu, tiểu đệ làm quen được một vị quan nhỏ do vị này mê dừa của tiểu đệ... Mấy ngày liền tiểu đệ không lấy tiền dừa nên đệ và vị quan đó thân nhau. Nhân lúc cao hứng “mất cảnh giác” vị quan này tiết lộ quân cơ cho đệ. Bây giờ tiểu đệ mới té ngửa ra cái chuyện quan phủ tham gia. Nói ra dông dài, họ đến thiệt ra chẳng phải vì vụ này... mà triều đình đoán biết ở Lưỡng Hà những ngày này đông đúc, đây là dịp bọn “hai ngón” ra tay. Bọn “đá xế” cũng nhân đây mà thi triển “đoản công”... Đây là thời gian tốt nhất có một không hai quan phủ ra tay dẹp yên bọn chúng, để Lưỡng Hà không còn là nơi bị khách du lịch phiền hà về nạn trộm cướp, ăn xin, bán nhang, bán hình đeo bám... Khẩu hiệu của chiến dịch là “Vì một Lưỡng Hà xanh sạch đẹp về mọi mặt”... 

Còn slogan quảng cáo là “Lưỡng Hà!... Nơi đến thú vị nhất hành tinh”... Thế đấy!... Thế đấy!... Sự việc là như thế đấy!... 

Lý Tứ ngấm ngầm quan sát thái độ của đám người này. Khi phát biểu bọn này ngữ ngôn có phần hài hước, nhưng văn tự chính xác và trong sáng. Hầu hết bọn chúng ăn nói lưu loát, không ấp a ấp úng kiểu “dùi đục chấm mắm nêm”. Một điều rất lạ không như thường thấy ở bọn giang hồ khác là, bọn này, một người nói mọi người chăm chú lắng nghe, nghe đến không sót một chữ. Có người phát biểu là cả bọn im lặng. Người nói thảnh thơi nói, người nghe trân trọng lắng nghe. Không “ba xạo” chen vào cắt ngang câu chuyện, cũng không “ăn cơm hớt” hay “làm tài khôn” như mấy đám kia, lúc đầu một người nói mấy người nghe, về sau mấy người nói không ai nghe và cuối cùng mạnh ai nấy nói. Giống như bọn hàng tôm hàng cá giữa chợ... chẳng tôn ti trật tự, chẳng có văn hóa văn minh gì ráo trọi... Quan sát xong, Lý Tứ có chút cảm tình với bọn này. 

Lão Tiểu Quỷ lại tiếp: 

- Đêm ấy khoảng cuối canh ba bước sang canh tư, tiểu đệ đang ngủ ở cái sạp bỏ trống đầu chợ bó gối ngáy khò khò. Khi không chân tiểu đệ nhột nhột. Tiểu đệ tưởng đâu mấy con chuột cống đói quá gặm chân tiểu đệ sống qua ngày. Tiểu đệ định bụng đưa tay xuống phẩy phẩy, định đuổi con chuột rồi ngủ tiếp. Bất ngờ tay tiểu đệ chạm phải cái gì lạnh ngắt, giật mình mở mắt thì ra đó là con dao xắt thịt đang cứa vào chân tiểu đệ... Một nhóm gần mười thằng mặt mày bặm trợn đang bàn nhau cắt chân tiểu đệ về nấu cháo ăn khuya!... Tiểu đệ chưa kịp hoàn hồn thì... 

Lão Tiểu Quỷ hình thù như đứa con nít nói liên tiếp hai ba chữ “Thì!... Thì!... Thì...” đột nhiên lão đứng lên, bỗng chốc cao to như một người bình thường. Cái bàn kêu rắc một tiếng lớn, kẹo hồ lô vung vãi khắp nơi, mọi người giật mình... 

- Thì ra tất cả chỉ là... một giấc mơ!... 

- Tâm Pháp, Trương Tam, Lý Tứ... đều là chuyện trong mộng...

(còn tiếp) 

Tác Phẩm Lý Tứ

Cơ Duyên

Quản trị viên 16.02.2022
TP.40. Cơ Duyên

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

CƠ DUYÊN 

Như đã có lần nói, Tâm Pháp này xuất xứ từ Tiếu Lâm Sơn nơi không có dấu vết của ba cõi, phàm phu vô phương đến được.

Kẻ có Tam Minh thật đủ duyên lành mới mong lãnh hội vài phần. 

Còn bọn chứng Lục Thông cũng đến núi này nhưng đứng dưới chân đảnh dòm lên, chữ được chữ mất, trông gà hóa cuốc, mười phần lãnh hội chưa được phân nửa của một. 

Vì thế cơ duyên có được Tâm Pháp cũng cực kỳ tiếu lâm, hư hư thực thực, thực thực hư hư, nhoẻn miệng cười cái hà, tất cả đồng như mộng. 

Kẻ ngu dốt, cứ y văn tự này mà tìm Tâm Pháp như kẻ mù bẩm sinh đi tìm màu sắc. 

Người lìa văn tự trong đây mong tìm Tâm Pháp giống như ban ngày ngước mặt đếm sao!...

Có kẻ biết cười, tiếng cười như tiếng khánh, trong tựa suối reo, cao vút ngàn mây, hạc nghe chao liệng, kẻ này mới mong lãnh hội. 

Chính thế, chuyện kể về cơ duyên thuộc loại “bất khả lậu”, thì chỉ nên đem tâm “bất khả lậu” mà kể nhau nghe. 

Người chưa được tâm này nếu có duyên biết đến coi như “kể chuyện trên trời” nghe cho vui tai rồi bỏ... 

**************

Cơ duyên (1) “GIẶT Y” 

Duyên như thế này: 

Những năm cuối đời, sau khi nhìn trước ngó sau, dòm tới dòm lui không còn người đủ duyên hoằng pháp. 

Một hôm Huệ Năng sực nhớ, mở bọc ra xem, dùng Thiên Tỷ ngửi qua thì cái y nghe đã bốc mùi “hạ giới”. Nhân cái mùi “bất tịnh hạ thế” thoang thoảng, biết rằng cái y không còn tinh sạch như hồi mới nhận. 

Hôm ấy buổi chiều, trời quang mây tạnh, Huệ Năng thấy không có người để ý, một mình quảy cái bọc âm thầm ra con suối sau chùa, tính giặt cái y đã mấy chục năm chưa một lần giặt giũ. 

Huệ Năng kính cẩn đặt cái y lên phiến đá bằng phẳng. Phiến đá từ đen hóa trắng rồi trong suốt như pha lê. Trên phiến đá nơi nào không có y phủ lên tỏa ra ánh sáng xanh màu ngọc. 

Huệ Năng bây giờ thân thể đã già. Con mắt viễn nặng một bên bảy độ một bên gần mười độ, nhưng khi nhìn vào ánh sáng phát ra từ viên đá, con mắt trở lại bình thường, sáng tợ sao trời. Từ đó đến lúc viên tịch, con mắt Huệ Năng đêm như ngày nhìn không ngăn ngại. Nếu đêm nào trời mưa, giữa hai chân mày phát ra tia hồng ngoại hỗ trợ “nghe nhìn”... 

Huệ Năng chỉnh mục, mắt ngó không quá một tầm. Tâm vững như Tu Di, một đường thẳng đến con suối trước mặt định nhiếp tâm biến con suối thành ao thất bảo lấy nước bát công đức giặt y. 

Cắm cây thiền trượng xuống giữa suối, dòng Tịnh Thủy từ đầu trượng phun lên bao trùm tám mươi bốn trượng, cao tám cây Ta La. Huệ Năng đảo hai con mắt như Minh Châu nhìn khắp mười phương, nhìn đến đâu nước hóa thành hư không đến đó. Phần nước còn lại không thể hóa hư không biến thành vô số Hoa Mây tỏa mùi thượng diệu. Mùi hương bay xa đến Đao Lợi thiên, rồi qua Đâu Suất... 

Chỉ có dòng nước trên cái y không thể tan biến. Vầng nước này cứ quanh quẩn trên y độ một tầm, đến chiều hôm sau mà không rớt xuống. 

Chúng tăng trong chùa vì thiếu công đức, nên một ngày qua, từ lúc Huệ Năng ra sau chùa định giặt y đến lúc đó ham mê tĩnh tọa, quên mất ngày đêm. Thậm chí không ngó ngàng đến chủ chùa còn sống hay chết... cũng chẳng biết sau chùa có điềm lạ... 

Cứ như vậy, Huệ Năng thể nhập “Na Già Đại Định”. Trong Định có Y, trong Y có Định, chờ cho y sạch như hồi mới nhận rồi mới xuất định. 

Sau 351. 592. 053 hơi thở ra vào, trên không trung có ánh vàng chiếu xuống sáng chói một phương. Huệ Năng xuất định, dùng Huệ Nhãn quan sát xem việc gì xảy ra... Giữa đám mây màu vàng phát ra sáng vàng, có một lão Tăng thân vàng trượng sáu, trên vai quảy chiếc giày vàng bằng cây trúc vàng, thư thả bước xuống. Chuyện này trong Pháp Bảo Đàn có kể sơ lược, không kể chi tiết vì “bất khả lậu” vậy... 

Huệ Năng thoáng qua biết đó là Sơ Lão Tổ Tông. Huệ Năng lấy Phật lễ, đảnh lễ ba lần. 

Sơ Lão Tổ Tông quắc mắt nhìn thẳng vào Lục Tổ, hơi không vừa ý, chỉ ậm ừ chiếu lệ. 

Sau khi đảnh lễ ba lần, Lục Tổ lên tiếng trước, theo lệ Tăng chủ chào Tăng khách!... 

Mô Phật!... Mô Phật!... Mô Phật!... 

Chúng đệ tử, nghe y bốc mùi, tính ra suối giặt sau đó cất kỹ, sợ bọn thô tục ăn cắp ạ!... 

Sơ Lão Tổ Tông nghe xong, cất giọng cười lớn ba tiếng. Đàn hạc bay ngang qua trên trời cố sức vùng vẫy vỗ mạnh đôi cánh nhưng cũng không thoát khỏi âm hưởng tiếng cười của Sơ Lão Tổ Tông. 

Chúng tăng trong chùa, thì nghe đó là ba tiếng sấm nổ vang rền bảy núi, bọn chúng ù tai, không thể nhập định... Cười xong ba tiếng, Sơ Lão Tổ Tông bèn mắng yêu Lục Tổ rằng: 

Thiệt ngươi đãng trí quá, ngươi không biết cái y truyền cho ngươi là giống gì sao? 

Nó đâu phải y áo phàm Tăng, mà nó là tấm Đại Y ngày Thế Tôn mới thành Đẳng Chánh Giác, chư thiên Đao Lợi cúng dường... 

Loại y này là Vô Tướng Y, còn cái Bát là Vô Tâm Bát do công đức làm thành. Vì thế hai món này còn có tên Vô Vi Tín Bảo. 

Nó đâu phải thứ y làm bằng vải Sa Tanh của bọn A Phú Hãn, làm gì bốc mùi được!... Cái mùi ngươi nghe hồi nãy là của bọn phàm phu trong chùa hai ngày qua tĩnh tu chưa tắm giặt nên có mùi lạ lạ... Thiệt ngươi đã lẩm cẩm rồi... Tội nghiệp cho ngươi!... Tội nghiệp!... Tội nghiệp!... 

Huệ Năng nghe mấy lời này, như Cam Lồ chảy vào tâm, mới nhớ lại chuyện chiếc y đã nghe kể rồi mà nay tự nhiên quên khuấy... 

Lục Tổ lại đảnh lễ ba lần xin thưa chuyện chiếc y. 

Sơ Lão Tổ Tông bảo: 

Ta biết, ta biết!... Lo xa như ngươi là phải, là phải!... 

Hễ vật quý trên đời, sớm muộn cũng có ngày bọn nó dòm ngó, chôm chỉa, đem về làm của riêng, khoe với hàng xóm cho oai... chớ ăn uống gì được!... 

Nay ngươi còn khỏe mạnh, ngủ thức giữ gìn nên y không mất. 

Một mai, ngươi đổ đau nằm đó, ai kẻ giữ y? Thứ này nếu bọn trọc phú nghe được, giá nào cũng kiếm cách sở hữu... 

Đến hồi đó, đám đệ tử của ngươi có đứa nào đáng tin cậy? 

Huệ Năng nghe lời này như cởi tấc lòng bèn lần nữa ba lần đảnh lễ rồi tuyên Phật hiệu: 

Mô Phật!... Mô Phật!... Mô Phật!... Sơ Lão Tổ Tông nói phải, nói phải!... 

Để tránh cái họa mất y, không lỗi với các Lão Tổ Tông xin Sơ Lão Tổ Tông mách nước. 

Sơ Lão Tổ Tông cười khà một tiếng rồi nhìn quanh bốn phía, xem coi có kẻ nào nghe lén hay không? Khi quan sát kỹ lưỡng biết không có ai, Sơ Lão Tổ Tông bèn hạ giọng nói với Huệ Năng, mật ý Đại khái như sau: 

Ta sống ở Trung Thổ nhiều năm, tiếp xúc với nhiều hạng người, thượng vàng hạ cám nên mánh lớn mánh nhỏ của bọn này ta rành sáu câu. 

Ngươi chỉ được Phật Pháp tinh thông nhưng thế pháp dở bẹt. 

Để ta nói cho ngươi nghe, “binh bất yếm trá”. Ngày xưa Triệu Đà của xứ này đã từng dùng chước này qua mặt bọn Giao Chỉ cái một. 

Sao nay ta không dùng chước ấy để giữ y, khiến bọn chúng “mắc hỡm” một phen coi như “gậy ông đập lưng ông”. 

Nghỉ lấy hơi rồi Sơ Lão Tổ Tông nói tiếp: 

Nhân đây để bọn Trung Thổ trả cái nghiệp “làm hàng giả”, một công hai chuyện, không mất y lại đặng phước lớn. 

Chu choa!... Chu choa!... Tội nghiệp!... Tội nghiệp!... “Khổ hải vô biên, hồi đầu thị ngạn!...” Mô Phật!... Mô Phật!... 

Huệ Năng nghe đến đây, mới biết Lão Tổ Tông cơ trí hơn người, hèn chi đôi giày chỉ mất một chiếc. Quá phục!... Quá phục!... 

Sơ Lão Tổ Tông lại kề tai nói nhỏ với Lục Tổ rằng: 

Ta đã có dự tính từ lâu, nay ta đem y về Đao Lợi, sau này kẻ có duyên sẽ được. Tiện đây ngươi cất “phiên bản” rồi cứ thế!... Cứ thế!... 

Nghe chưa dứt câu “Cứ thế!... Cứ thế!...” Huệ Năng ngẩng đầu lên chỉ thấy “một vầng mây trắng bay”... và cái y mới cáu cạnh không phải đồ “second hand”[1] đang đặt trước mặt... 

Theo Pháp Bảo Đàn thì cái y này trước khi viên tịch Lục Tổ ngậm ngùi xé làm ba, một cho Phương Biện, một để ở chùa, một liệm theo người... Còn cái Vô Tướng Y và Vô Tâm Bát thì còn nguyên ở trời Đao Lợi do Sơ Lão Tổ Tông mang lên đó... Đời sau mới có kệ rằng: 

“Đao Lợi Vô Tướng Y 

Hoa Nghiêm Long Cung hữu 

Dị nhân đồng dị tuệ 

Tiếp y tức y chỉ.” 

Người sau vô trí nghe bốn câu này nhưng chẳng biết mô tê gì hết là vậy. 

---∙∙∙⁕⁕ ⁕ ۝⁕ ⁕⁕∙∙∙---

Cơ duyên (2) “BẤT ĐỘNG HÝ TIẾU” 

Lại cơ duyên như vầy: 

Cơ duyên này cũng không kém phần “tiếu lâm” và thuộc loại “bất khả lậu” nên khi nghe đến cũng chỉ nên dùng tâm bất khả lậu và máu hài hước mà đọc. 

Càng gởi gắm cái “hài hước” chừng nào, mau thành tựu tâm pháp chừng đó. 

Cảnh giới này gọi là “Bất động hý tiếu”. Nếu hý tiếu mà động thì hý tiếu này thuộc phàm phu, không có phần ở đây. 

Vì thế mới có thơ rằng:

“Tây phương Di Lặc kha kha tiếu 

Đông Thổ ha ha khải tâm hoa.” 

Đó là nghĩa gì? 

Nghĩa là nơi Phật quốc ngài Di Lặc há miệng cười vài tiếng. 

Ở hạ giới ai đón nhận trọn vẹn tiếng cười này mà không động lay nhất định hoa lòng sẽ nở, hãy đợi đấy (chữ khải là nghĩa này)!... 

Viết đến đây lại có khách đến viếng, nên tạm gác phần tâm pháp lại, bèn mở tâm ngôn cho thỏa lòng chủ khách. 

- Như thế nào là Tam Bảo tự tâm? 

Giác là Phật, trí là Pháp, thanh tịnh là Tăng. 

Giác là Phật, thanh tịnh trí là Pháp, ai có đủ hai điều này gọi là Tăng. 

- Sao gọi là biết, sao gọi là hiểu biết? 

Hiểu là tri, biết là giác. 

Hữu tình có hiểu có biết gọi là có tri có giác. 

Tri (hiểu) thuộc về thức (ngã), giác thuộc về biết, cái biết chưa từng bị biết nên biết này vô ngã. 

Cho nên kinh nói: “Tri kiến lập tri tức vô minh bổn” có nghĩa lấy cái hiểu làm cái biết tức thì trở thành vô minh. 

Cái biết (giác) tự nó thanh tịnh.

Cái hiểu sanh ngã (có chủ thể đối đãi) nên sanh tâm. 

Cho nên Phật được gọi là bậc Đại Giác, không ai gọi là bậc Đại Tri Giác. Có nghĩa… 

Phật biết, biết rõ chứ không phải hiểu.

Biết, biết rõ tạm gọi là thấy thiệt tướng.

- Như vậy hiểu (tri) do đâu thành lập? 

Hiểu do nghiệp, do huân tập mà thành...

- Như vậy biết (giác) do đâu thành lập? 

Giác không do đâu, không do đâu nên gọi tự giác. 

- Công dụng của giác? 

Cái biết (giác) là thường nên không rơi vào đoạn diệt. 

- Xin nói rõ về giác? 

Cố nói điều này giống như con mắt cố nhìn con mắt, tuy vậy cũng tạm ví dụ như vầy: 

Thấy cái đèn, biết đó là cái đèn, biết này thuộc về giác. 

Thấy cái đèn, hiểu rõ cái đèn có tướng trạng thế này thế kia... và các giá trị không thật đi kèm gọi là hiểu (tri). 

Tướng trạng cái đèn và các giá trị quanh nó thế này hoặc thế kia do huân tập mà có, do tướng đối đãi mà hiện. 

Hiện này gọi là sanh pháp. 

- Cái giác cũng do huân tập mới biết tên là “đèn”? 

Cũng huân tập, cũng không huân tập. 

Nói huân tập vì thuận theo “thế đế lưu bố”. Nếu không có thế đế, giác kia tịch diệt. 

Giống như cái trống có đánh có kêu, không đánh không kêu, chỗ này phải khéo hiểu... Người trí, nhân ví dụ mà hiểu... Trống không huân tập tiếng kêu nhưng đánh lại kêu... 

Vì thế kinh Lăng Già Phật dạy: “Phàm nói trâu, thánh cũng nói trâu. Thánh nói trâu do thế đế lưu bố, phàm nói trâu do thế đế lưu bố có tưởng chấp trước”, chính “tưởng chấp trước” là đầu mối phát sinh vọng tình, từ vọng tình khởi ra vọng tưởng, nhân vọng tưởng có vọng tâm, có vọng tâm có phiền não sanh diệt... 

Dòng tâm thức niệm niệm sanh diệt không ngừng, kinh gọi là “chư hành vô thường...”. 

- Làm sao dừng tâm thức? 

Phải giác được “bổn lai vô sanh.” 

Phải ngộ được “tự tâm tự tịnh.” 

- Thế nào là “giác bổn lai vô sanh”? 

Thấy cho được giác này chưa từng sanh. 

- Thế nào “ngộ tự tâm tự tịnh”? 

Đối trước muôn cảnh biết rõ cảnh kia mà tâm không động lay, không động gọi là tịch, không lay gọi là tĩnh. 

Thường tịch thường tĩnh, không thấy tịnh cùng bất tịnh gọi là thanh tịnh. 

Mời uống trà!... 

---∙∙∙⁕⁕ ⁕ ۝⁕ ⁕⁕∙∙∙---

 Khi chiều lại có người hỏi: 

- Vì sao Sơ Lão Tổ Tông đem y cất ở Đao Lợi, mà không để ở Đâu Suất? 

1) Vì y chỉ là tín vật của phàm nhân cõi dục, cụ thể là con người.

2) Đao Lợi là nơi người trong cõi dục có thể đến được.

3) Nếu để ở Đâu Suất “người hữu duyên” sẽ không thể đến đó được, làm sao thấy mà lấy.

4) Còn để ở cõi dưới như Tứ Thiên Vương thì nhiễm dục nặng nề, giác quán do dục, không lấy được y.

5) Để ở cõi sắc không có giác quán thì lấy y mà làm gì!...

6) Lại nữa, ở Đâu Suất thiên hạ thừa y...

- Vì sao người cõi dục cần y làm tín vật còn cõi khác thì không? Vì ba trợn vậy!... 

--∙∙∙⁕⁕ ⁕ ۝⁕ ⁕⁕∙∙∙---

 Cơ duyên (3) ĐẤT “HOA THỊ” VÀ NƯỚC “THIÊN HOA” 

Lại tiếp chuyện cơ duyên: 

Khoảng bảy trăm kiếp tính bằng lịch Đao Lợi, từ khi Sơ Lão Tổ Tông đem Y về đó. Y để ở Tu Di sơn, bát để ở Hỷ Kiến thành nhờ Đế Thích trông coi. 

Gởi gắm xong rồi, Sơ Lão Tổ Tông trở về Đâu Suất nội viện thăm hỏi hàn huyên với các Lão Tổ Tông, ăn bánh uống trà... Chờ điều công tác khác... 

Nam Diêm Phù Đề có nước vừa vừa tên Thiên Hoa, nước này Đông giáp biển Tây giáp núi, ở giữa đồng bằng. Trên rừng dưới biển khoáng vật vô số. Núi rừng thì có trầm, kỳ, ngà, quế... Biển sâu đầy rẫy san hô, hổ phách, ngọc trai châu báu... Trung du trên lúa dưới vàng... Chính phước lớn này mà Thiên Hoa thường bị bọn tham lam ở ngoài dòm ngó. Vì thế xưa nay hay có loạn lạc. 

Miền nam Thiên Hoa, khoáng vật không nhiều nhưng nhờ phước trời, hai mùa mưa thuận gió hòa. 

Nhằm năm Nhâm Ngọ tiết Xuân Phân, không biết ở đâu có chín con rồng bay lại. Trong chín con có bảy con cái cùng hai con đực. Chúng vần vũ trên cao một hồi rồi chụm đầu vào nhau theo hình rẻ quạt, lăn mình xuống đất khói bụi mịt mù, đất trời hôn ám, tiếng vang dậy trời suốt chín ngày chín đêm...

Nửa đêm thứ chín, tự dưng bốn bề vắng lặng. Sáng ra, người gan lớn mới dám bước ra ngoài. 

Trên cao nhìn xuống, nơi chín con rồng quẫy đập chỗ sâu nhất độ ba mươi trượng. Chỗ cạn mười trượng, bề rộng ước non năm mươi trượng. Chín con dài ngắn không đồng. Con dài nhất từ biển chạy đến gần cuối Tây Diêm Phù. Con ngắn nhất cũng non cả trăm do tuần. 

Bảy con rồng cái đẻ được bảy quả trứng ở hướng Tây. Hai con đực nhả hai hòn ngọc, một ở cuối Đông và một ở Tây Nam... Từ đó, vùng đất này có tên Hoa Thị... 

Một trăm ngày sau, một trong bảy quả trứng phát ra tiếng nổ lớn, trên vang đến Hữu Đảnh dưới thấu đến A Tỳ. Từ miệng quả trứng, một cục đen thùi lùi bay ra, rơi xuống nơi giao đầu của chín con rồng. Sau một trăm ngày chỗ chín con rồng giao nhau đất tự nhiên bằng phẳng, cây cỏ tốt tươi, dân cư đến ở nhà cửa mọc lên. Người ta gọi đó Long Giao. Làng Long Giao rộng ước cả ngàn sân bóng đá. 

Cũng trưa hôm ấy, cái bữa cục đen thùi lùi bay đến Long Giao. Cô thiếu nữ đẹp nhất trong thôn bị cục đen thùi lùi rơi trúng. Đau quá, giật mình tỉnh giấc, thì ra “mơ giữa ban ngày” và thiếu nữ có thai... 

Từ đó về sau, Long Giao trở nên đông đúc, đời sống phồn vinh, xét qua Nam Diêm Phù không có nơi nào sánh bằng!... 

Tối ngày sáng đêm, trẻ con tóc chỏm ba giá, chúng tụ tập với nhau hát đồng dao, bài hát thế này:

“Chín rồng mà trồng bảy núi 

Bảy núi là muội là huynh, 

Cục đen sinh ra Lão Tổ. 

Lão Tổ từ chỗ cục đen. 

Trong bùn lại mọc bông sen. 

Có ai ngờ được... “cục đen thùi lùi”. 

Bên nào trắng, bên nào đen...”. 

Còn người lớn thì, lúc nào trong lòng cũng thơ thới, gặp nhau hát hò ngâm vịnh, họ truyền tụng bài thơ dở bẹt như sau: 

“Ta sẽ đưa nhau về nơi “chín dòng sông hò hẹn”!...

Nhìn dòng sông xưa lững lờ, bền bỉ, trăng theo nước trôi xa.

Và âm thầm, rất đỗi phù sa.

Lặng lẽ tháng ngày dắt dìu nhau, dắt dìu nhau vào miền đất mới.

Đưa nhau đến cái thuở đất trời chưa có đông, chưa có hạ,

Chưa có tang thương, cũng chưa có tiếng cười.

Cái thuở hồn nhiên như con sáo lưng trời

Như con bìm bịp kêu, kêu theo nước ròng nước lớn.

Có ai biết vòng đời con phù du cũng đủ đầy danh lợi!...

Cũng giành giật nhau kiếm chỗ một bóng đèn.

Rồi vô tình rớt xuống trong đêm.

Rốt lại một đời, chỉ là con phù du, con phù du bay mau trong gió.

Ta sẽ đưa nhau về chín con sông hồn nhiên ngày cũ.

Nghe tiếng ầu ơ!... Như trăng sáng đầu thôn.

Con vạc thảnh thốt ngâm, cùng hạc nội mây ngàn,

Cái thanh thản một đời, một đời rồi trở thành bất tử...

Như mặt trời, như hư không vĩnh cửu,

Chẳng có sanh ra cũng chẳng có mất đi.

Ai bảo rằng em, rằng tôi, rằng chúng ta đồng những kẻ thị phi?

Chỉ tại họ không biết cái nơi, cái nơi, cái nơi... đã rời xa mộng mị.

Đưa nhau đến những dòng sông lững lờ, nhưng rất đỗi thương yêu bình dị.

Vẫn lặng lẽ chở phù sa, như bóng nắng xế chiều...

Rọi xuống hàng dừa, rọi đến cõi tịch liêu.

Đong đưa từng kẽ lá... nhìn chiếc bóng gầy.

Cùng nhau thưa cụ ạ!…”

Đố là con gì? Đó chính là... là... là con cá!... 

---∙∙∙⁕⁕ ⁕ ۝⁕ ⁕⁕∙∙∙--- 

Chiều nay lại có khách, bèn tạm đóng tâm pháp, khai ngôn pháp. 

Ngôn pháp như sau: 

- Tánh Giác và Tự Tánh khác nhau chỗ nào? 

Tự Tánh là thể, Tánh Giác là dụng. 

- Tri và Giác sai khác, như vậy ba thừa và Nhất thừa chỗ dụng có khác chăng? 

Phàm phu lấy tri làm giác, ba thừa tịch tri nhưng chưa kiến giác, Nhất thừa đạo kiến giác, Bồ Tát Nhất thừa (Phật thừa) liễu giác. 

- Như vậy có phải hễ ai thấy (kiến) Giác được gọi Nhất thừa?

Hiểu như vậy cũng đúng cũng không đúng, Như thấy ruộng nói có lúa. 

- Thế nào đúng thế nào không đúng? 

Thấy Tánh giác (kiến Tánh) là thấy Nhất thừa đạo (con đường đến Nhất thừa). 

Liễu giác (thấy Phật Tánh) mới đến được Nhất thừa (gọi là người Nhất thừa). 

Vì thế có thể tạm nói: “Tánh giác là nhân, Phật Tánh là quả” (Phật đạo là nhân, Phật quả là quả). 

- Xin nói rõ!...

Ví như lên xe đi Sài Gòn là Sài Gòn đạo lộ (con đường đến Sài Gòn). Đến được Sài Gòn mới gọi người ở Sài Gòn (con người Sài Gòn). 

- Như vậy theo Phật đạo là theo con đường nào? 

Theo Phật đạo là đi theo con đường Phật đã đi (tu hành) để đến Phật quả. 

Không phải đi theo con đường của Phật đi sau khi Phật đã thành (49 năm hoằng hoá). 

- Vì sao? Vì con đường của một Đẳng Chánh Giác đi, trong ba cõi không một ai có thể biết được. 

- Có kinh nào tuyên nói việc này (Tánh Giác và Phật Tánh)? 

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa khai cho ba thừa (Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát Quyền Thừa) đã chứng thánh thấy Tánh Giác (Phật trí). 

Kinh gọi là “khai thị”. Giống như chỉ cho kẻ say biết trong chéo áo của mình có hạt minh châu. 

Ba thừa chưa chứng Thánh chưa thể chỉ, vì thế 500 gã tăng thượng mạn phải đi chỗ khác chơi. 

Kinh Đại Niết Bàn chỉ chỗ ngộ nhập Phật tri kiến (Phật Tánh) cho Bồ Tát Nhất thừa. Giống như bày cách cho kẻ đã hết say sử dụng hạt minh châu. 

- Vì sao không bày liền trong Diệu Pháp Liên Hoa mà phải đợi đến kinh Đại Niết Bàn mới tuyên nói giá trị và cách sử dụng? 

Vì người kia chưa tỉnh hẳn, chưa đủ trí lực nhận biết rõ ràng, chưa đủ năng lực giữ gìn sẽ mất... Vô số, vô số điều chưa thể nói... 

- Ba thừa đã chứng Thánh sao lại dụ như kẻ say, dụ như gã cùng tử? 

Phàm phu say mê, Ba thừa chứng Thánh hết mê nhưng còn say nên dụ người say. 

Ba thừa chứng thánh đói nghèo trí tuệ, nên phải làm mướn (dùng phương tiện) để xin hạt gạo Niết Bàn, nên dụ cho cùng tử. 

- Nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa chỉ mới khai thị sao lại có phẩm Thường Bất Khinh? 

Chỉ mới khai thị nên Thường Bất Khinh mới nói: “Các ông sẽ làm Phật”. Nếu đã ngộ nhập thì Thường Bất Khinh nhất định sẽ nói là: “Các ông đang là Phật”... 

- Như vậy các Bồ Tát thấy Phật Tánh (Phật tri kiến) đồng Thích Ca Mâu Ni vì câu “Các ông đang là Phật”? 

Không đồng, quyết không thể đồng. 

- Vì sao? 

Thích Ca Mâu Ni có đến mười danh hiệu, gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. 

Nói Phật chỉ là một danh hiệu trong mười danh hiệu, còn thiếu đến chín, vì thế quyết không thể đồng. 

- Biết được tri là chướng giác, thì lấy gì hộ trì để tri không hiện? 

Như đã nói, phải Giác Ngộ. 

- Ngoài ra còn cách nào khác nữa không? 

Còn cách, đó là tự dọn con đường giác ngộ bằng cách tu hành viên mãn “Tứ như ý túc”, sau đó dùng “Bất cộng phàm phu pháp” mà vào. 

- Xin nói rõ!... 

Tức phải viên mãn Nhất tâm như ý túc và Niệm như ý túc. Tất nhiên là Dục như ý và Tinh tấn như ý cũng phải viên mãn. 

Nhất tâm như ý để dừng hiện nghiệp, Niệm như ý để tịnh tri. 

Sau khi tịnh tri, vị này dùng Bất cộng phàm phu pháp để kiến Giác. 

- Bất cộng phàm phu pháp là những pháp nào? 

Tư duy đến khi nào biết rõ pháp nào là pháp “Phàm phu”, thì sẽ biết pháp “Bất cộng phàm phu”.

- Xin nói rõ!... 

Nói nghe hiểu được ngay bây giờ đều là phàm phu pháp. 

Cái này chỉ “tự thầm hội”, nói ra “mất linh”... 

- Tứ như ý túc và Tứ thần túc là giống hay khác? 

Tứ như ý túc để chứng Thánh. 

Tứ thần túc để viên mãn pháp lành. 

- Sao Phật không nói liền Nhất thừa mà phải nói ba thừa trước? 

Như làm cỏ trước khi gieo giống. Vì thế Phật thường hay nói: “Ba thừa không thật” là vậy, có nghĩa làm cỏ không phải gieo giống. 

- Ba thừa đồng viên mãn Tứ như ý túc sao không nhân đó kiến Tánh? 

Tùy duyên, tùy căn, tùy cơ... Không nhất thiết Ba thừa không kiến Tánh, cũng có như Đại Ca Diếp hoặc A Nan chẳng hạn... 

- Bồ Tát, Đại Bồ Tát, Bồ Tát Quyền thừa và Bồ Tát Nhất thừa khác nhau chỗ nào? 

Bồ Tát hay Bồ Tát Quyền thừa là những người phát tâm Bồ Tát nhưng còn phải kinh qua phương tiện tu hành như Nhị thừa, trí tuệ chưa đủ. 

Đại Bồ Tát hay Bồ Tát Nhất thừa (còn gọi Phật thừa) là những Bồ Tát viên mãn trí tuệ, nhưng công hạnh chưa viên. 

- Bồ Tát thập trụ khác Bồ Tát Thập địa chỗ nào? 

Thập trụ thấy Tánh Giác, thập địa thấy Phật Tánh. 

Vì thế trong kinh Đại Niết Bàn Phật nói Bồ Tát thập trụ thấy Phật Tánh lờ mờ, có nghĩa Thập trụ thấy Tánh Giác tưởng lầm Phật Tánh.

Thập trụ lấy Tánh giác làm nhân địa tu hành. Thập địa lấy Phật Tánh làm nhân địa giáo hoá... 

- Người tu hành y vào đâu để biết là đã thấy tánh? 

Thấy Tánh tự biết, tự hết ngu si. Bậc Đạo sư nhất định biết, vì thế không thể dối điều này!... 

Cơ duyên (4) 

Bây giờ lại tiếp tục nói chuyện cơ duyên: 

- Vì sao cơ duyên phải nói nhiều đến thế? 

Dư hơi à!... 

Không phải dư hơi!... Vì bởi, cơ duyên chính là đầu mối phát sinh mọi việc. 

Nói cơ duyên sao phải đề cập đến nước Thiên Hoa? 

Vì bởi cơ duyên có được tâm pháp và tâm pháp đang tồn tại trên đất này. 

Nước Thiên Hoa hồi đó có hình chữ nhật theo đúng định nghĩa toán học cổ xưa là: Hai cạnh dài bằng nhau, hai cạnh ngắn cũng bằng nhau và có bốn góc vuông.

Giữa Thiên Hoa có một đạo lộ chạy suốt chiều dài từ Bắc đến Nam ước chừng 2400 do tuần, lưu thông Nam Bắc dễ dàng. 

Như đã kể lúc trước, Thiên Hoa Đông giáp biển Tây giáp núi. Đứng ở núi phía Tây có thể thấy biển phía Đông. 

Năm Giáp Ngọ tiết Trung Thu, cách ngày cái cục đen thùi lùi xuất hiện ở phương Nam đúng một con giáp tức mười hai năm theo lịch Diêm Phù. 

Khoảng gà gáy canh tư bước sang canh năm năm ấy. Từ biển Đông khoảng giữa nước Thiên Hoa, một ông khổng lồ dưới biển bước lên. Ông khổng lồ thân hình cao lớn, đầu đụng mây xanh. Trên vai có chiếc đòn gánh dài rất dài, người mắt sáng cũng chỉ thấy một khúc chớ không thể thấy cả cây. Hai đầu đòn gánh treo hai cái thúng chừng bằng hai quả núi lớn... 

Người khổng lồ một chân trụ ở mé biển, còn chân kia cất cao bước lên ngọn núi phía Tây. Không biết vô tình hay cố ý, người khổng lồ khi bước lên mất đà nên chân trụ không vững làm chiếc đòn gánh nhịp mạnh. Hai cái thúng ở hai đầu rung lắc dữ dội. Người khổng lồ cố đạp mạnh chân trụ để khỏi ngã chúi về phía trước. Càng đạp cho vững thì đất dưới chân càng lún xuống. Cứ thế đất ngày lún một rộng một sâu, nước dưới biển tràn vào chỗ trũng kêu ầm ầm. Địa Đại chao đảo dữ tợn. Khi lún chừng đến bụng, thì cái hình chữ nhật nguyên thủy của nước Thiên Hoa biến dạng. Đầu phía Bắc do đất ở giữa trào ra nên phình lớn. Đầu phía nam cong queo như cái lưỡi hái. Ở chính giữa nước Thiên Hoa nơi người khổng lồ đang đứng teo riết lại giống cái eo người thiếu nữ. 

Hình như đoán được nếu cố sức thoát cho khỏi lún mà còn đôi thúng trên vai thì chuyện không thể được. Nên người khổng lồ lấy hai tay dùng hết sức bình sinh, tung mạnh đôi gánh lên trời. Một tiếng rắc nghe như tiếng gãy quả núi. Chiếc đòn gánh gãy đôi, hai cái thúng bị hất bay lên cao rồi rơi xuống. Nơi nào rơi nhiều thành núi, rơi ít thành đồi... Từ đó nước Thiên Hoa có hình dạng như người thiếu nữ đang nằm, đầu hướng về Bắc, mặt quay về Đông. Phía Tây có dãy núi xanh chạy dài đến tận hai phần thân nom như làn tóc xõa. Còn ở giữa eo thắt lưng ong... Phía Nam giống đôi bàn chân thon thon... 

Người khổng lồ đề khí nhún chân bay cái vút lên tận trời xanh rồi mất hút giống như người ta phóng con tàu vũ trụ. Chỗ gãy của chiếc đòn gánh có một thiếu niên mặt đẹp như Phan An, quần áo toàn xanh, đôi giày cũng xanh, đội mũ màu xanh, nước da trắng như tuyết từ chỗ gãy bước ra. “Nhoẻn miệng cười một cái coi”, không chào không hỏi ai hết trơn, cứ nhằm phương Nam trực chỉ...

(còn nữa) 

Tác Phẩm Lý Tứ

Bí Kiếp Lưỡng Mục Giao Di Tâm Pháp

Quản trị viên 16.02.2022
Bí Kiếp Lưỡng Mục Giao Di Tâm Pháp

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

PHẦN III

BÍ KIẾP LƯỠNG MỤC GIAO DI TÂM PHÁP

 “Nhất thiết hữu vi pháp; 

Như mộng, huyễn, bào, ảnh; 

Như lộ diệc, như điện; 

Ưng tác như thị quán.” [1] 

GIỚI THIỆU

Đây là loại công phu “tối thượng thừa”, “tối bí yếu”, nên có tên là TÂM PHÁP. 

- Tâm pháp này thành tựu sẽ tự chứng “hai con mắt tréo ngoe”, có nghĩa hai con mắt trái và phải khi giao nhau hay độc lập đồng thanh tịnh. 

- Mục: Có nghĩa là con mắt, con mắt tự nó thanh tịnh, trở về bản nguyên gọi là “Tịnh Mục Đà La Ni”, hay còn gọi là “Vô Cấu căn”, “Tịnh sắc căn”. 

- Lưỡng: Hai. 

- Vì sao nói hai: Sở dĩ nói hai, không nói một, cũng không nói không. 

- Bởi lẽ nương theo ngôn thuyết thế gian, nương theo thế gian mà thấu suốt xuất thế gọi là Diệu (diệu lý). 

- Nhân nơi hai thành tựu cái chẳng hai gọi là không hai (bất nhị). 

- Viên thông là nghĩa này, một căn thông sáu căn đều thông (như mở gút trong Thủ Lăng Nghiêm). 

- Tột thông, không gọi “lưỡng mục giao di” nữa, mà có danh xưng là “Na Già Đại Định” phiên âm ra Việt ngữ có tên “Hai con mắt tréo ngoe”. 

Xuất xứ. 

Tâm pháp này xuất xứ từ “Tiếu Lâm Sơn”, cách núi Thiếu Thất (chùa Thiếu Lâm) khoảng 48. 000 do tuần về hướng Tây - Tây Bắc.

Từ Thiếu Lâm Tự, muốn đến đó phải vượt qua 37 ngọn núi thấp cao, khi cầu tâm pháp chỉ một thân một mình, không hành lý, đói ăn rau, khát uống nước suối. 

Xưa nay ít người đến được, vô lượng người đi, chưa được nửa người tới đích, bởi lẽ “mê trận” của 37 ngọn núi kia, và bị “cái ngã” làm chướng ngại. 

TƯƠNG TRUYỀN 

Trước khi chọn Thiếu Lâm làm trú xứ, Đạt Ma Tổ Sư lên Tiếu Lâm đứng ở đỉnh cao nhất gọi là Vô Kiến Đỉnh nhìn mười phương xem nơi đâu có Pháp khí Đại Thừa. 

Một hôm nhân đêm trăng tròn tháng Giêng, phương Bắc phát sáng. Ngài dùng Tịnh Mục nhìn sang đó thì thấy có dị nhân nhưng không có dị tuệ, bởi lẽ bọn này không thoát khỏi “quy luật vạn hữu” nên lấy hai làm một, phát sanh luận điểm “Âm dương”, chấp nhận thuận theo trời đất để sinh tồn, vì thế chữ “LƯỠNG” đi trước. 

Trăng tròn tháng sau, nhằm ngày Đại cát, ngài dùng Tuệ Nhãn nhìn sang phương Nam, thấy có vượng khí. Khi nhìn kỹ biết phương đó thế pháp hưng thịnh. Bọn này cũng lấy hai làm chỗ trọng, một bên quân tử một bên tiểu nhân, một bên sang một bên hèn, một bên phải một bên quấy... 

Cứ thế cứ thế, đắp đổi qua ngày gọi là “lưỡng cẩu tranh xương”, đấu tranh không dứt.

Sang trăng tròn tháng thứ ba, ngài dùng nhục nhãn nhìn xuống phương Đông. Nơi đây người đời gọi là “Lưỡng Quảng”. Hướng này chỉ toàn bọn “thương lái” và “thi nhân mặc khách”, không có ý chí, chỉ ham làm giàu, tối ngày ngâm vịnh, cao lâu vô số, kỹ nữ đầy đường như én mùa xuân... quá chán. 

Trăng tròn tháng tư, trên Vô Kiến Đảnh bỗng dưng mây ngũ sắc từ phương Tây kéo đến, sáng lòa mười phương. Biết nơi đó có Pháp khí Đại Thừa, ngài nhập định bảy ngày viết nên Tâm Pháp Lưỡng Mục, khắc vào vách đá cao nhất. Người không thành tựu Tam Minh chẳng thể đến được. Người có đủ Lục Thông chỉ đứng dưới chân đảnh đọc được một phần nhỏ, bởi lẽ “ảnh quang” của tâm pháp sáng lòa, nhìn chữ này thành chữ kia, nghĩa này thành nghĩa nọ, nếu cố đọc chỉ thấy toàn nghĩa “ba xe”... mà không biết Tâm Pháp vô vi. 

Từ đó đến nay, trải qua Lương, Đường, Hán, Minh, Mãn... không ai biết trên đó có Tâm Pháp. Nếu có biết cũng chẳng thể có người lên được. Tưởng đâu tâm pháp thất truyền, ai dè cũng có người “chặt tay cúng dường” lãnh hội được, vì thế Tâm Pháp về sau truyền được sáu đời, cuối cùng “lặn mất”. 

---••⁕⁕۝⁕⁕••--- 

QUYẾT NGHI 

- Sao không nói lưỡng nhĩ, lưỡng tỷ... mà chỉ nói đến lưỡng mục, có ý chỉ gì chăng…? 

Do nhân duyên mà đặt tên, vì đau con mắt... nếu đau lỗ tai sẽ gọi lưỡng nhĩ... 

Người trí khi nghe một căn biết nói đến sáu căn, một Đại biết nói bảy Đại, một cõi nói đến 25 cõi... 

Ví như khi nghe “kiến” phải biết kiến này tiêu biểu “kiến, văn, giác, tri”, không nên chấp nhất “kiến” chỉ duy cái thấy của con mắt... 

- Vì sao chỉ nói mục (nhãn) mà tiêu biểu cho các căn? Nói một Đại tiêu biểu cho bảy Đại? 

Bởi thể đồng vậy!... 

- Thế nào thể đồng?

Phân biệt có bảy. 

- Sao nói bốn Đại còn nói bảy Đại? 

Bốn Đại (địa, thủy, hỏa, phong) vô tri, như ngói đá cỏ cây. 

Có không Đại nên có thịnh, suy, tụ, tán. 

Có thức Đại nên có tri. 

Có kiến Đại nên có giác. 

Vì thế hữu tình có tri có giác, lại còn có tụ có tán. 

- Căn thân và thế giới sai khác thế nào?

Thế giới năm Đại (địa, thủy, hỏa, phong, và không). Thế giới không căn, tự nó không giới, vô tri. 

Thân đủ bảy Đại sáu căn. 

- Năm Đại thành thân. 

- Thức Đại thành thức. 

- Kiến Đại thành căn. 

- Thức để biết, căn để giác. 

- Sao kinh chỉ nói thân tứ Đại mà không nói năm Đại? 

Vì từ bi, bởi nói đến không Đại, người đời mê sảng. 

- Thức đã biết rồi, sao còn phải giác. 

Thức biết theo nghiệp nên trái đạo, Giác bổn lai tự biết nên vô sanh. 

- Khi nào biết của thức, khi nào biết của giác? 

Cái biết bản nhiên là giác, biết cái bị biết là thức. 

- Sao gọi “mầm danh sắc”? 

Danh thuộc về tâm (thọ, tưởng, hành, thức). Sắc thuộc về thân (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân). 

- Những món này từ đâu ra? 

Từ hư không mà ra. 

- Hư không không tự sanh? 

Hư không không tự sanh, nhưng mê sẽ sanh. 

- Xin nói rõ?

Như giường nằm không có đô thị, ngủ mơ sẽ hiện.

- Mê từ đâu sanh? 

Nếu biết bóng tối từ đâu sanh, thì sẽ biết mê từ đâu sanh. 

- Làm sao dứt mê? 

Đốt nhà trong mộng. 

- Làm sao dứt mê? 

Chỉ cần dừng mê. 

- Làm sao dừng mê? 

Biết rõ (giác ngộ) không mê. 

- Lấy gì biết rõ? 

Lấy giác không thức. 

- Giác làm sao lấy? 

Bất động giác hiện. 

- Hiện như thế nào? 

Không hiện tức hiện. 

- Không hiện sao biết? 

Rời cái biết của ngã, sẽ tự biết. 

- Giác biết cái gì? 

Giác biết cái ngu tự chẳng ngu. 

- Sao gọi là ngu? 

Ngu là tướng của chấp. 

- Chấp cái gì? 

Sanh pháp chấp pháp. 

- Vì sao sanh pháp? 

Vì mê sáu trần. 

- Sao mê sáu trần? 

Chỉ vì nghiệp thức. 

- Làm sao dứt thức? 

Phải dứt cái ngu. 

- Hết chấp hết ngu? 

Hết chấp còn ngu, không chấp không ngu... 

- Làm sao không chấp? 

Bản nhiên chưa chấp, tự chẳng làm sao,

nếu có làm sao, làm ấy là chấp. 

Như vậy đã quyết nghi thế nào là Lưỡng Mục. 

Kinh có dạy: “Khi một căn thông suốt, các căn có thể dung thông với nhau.” 

Có nghĩa một căn thanh tịnh, các căn đồng thanh tịnh. 

Vì thế tu một thần thông lại thành tựu lục thông. Có kẻ đọc kinh hiểu nhầm thành các căn có thể thay thế cho nhau như ăn bằng con mắt, nghe bằng lỗ mũi... Than ôi…!... 

Lại có người hỏi: 

- Thế nào không dị biệt?

- Sao Phật Quốc một tâm?

Hai câu này tuy hai 

Ý nghĩa đồng là một. 

Người nhiếp thọ chánh pháp

Là nhiếp thọ không pháp. 

Phật Quốc đồng một tâm,

Một tâm đó không tâm.

Ví như Thí, Trì giới

Tinh tấn hay Kham nhẫn,

Thiền định và Trí tuệ

Đồng thể tánh hư không.

Như hư không vô biên

Có thể dung vạn vật,

Vì không có ngần mé

Nên nhiếp thọ mười phương,

Vì không có một pháp

Nên chiếu ra vô lượng.

Như mặt trời chiếu ra

Vô số các công dụng:

Ánh sáng soi màu sắc,

Nắng ấm ấm hữu tình,

Vô tình được xanh tốt,

Xua tan sợ bóng đêm.

Mặt trời chưa từng nghĩ

“Ta có công dụng này!...”

Cũng chẳng vì người tốt,

Cũng chẳng vì người xấu,

Chẳng riêng cho hữu tình,

Chẳng riêng cho vô tình,

Thường chiếu thường soi sáng.

Chủng loại nào đủ duyên,

Đủ duyên, đủ căn lành

Đồng được nhiều lợi ích.

Sáng kia không phải pháp,

Sáng tối tự riêng người!...

Ấm kia không phải pháp,

Ấm đó cảm tự thân!...

Tốt tươi không mục đích

Có đích do đủ duyên.

Hết sợ bóng tối kia,

Tự bóng tối chẳng sợ!...

Vì mặt trời không tâm,

Mặt trời cũng không pháp.

Huệ nhựt thường viên chiếu,

Huệ nhựt không có tình.

Không tình cũng không nhiếp,

Nên gọi là nhiếp thọ.

Không có pháp để nhiếp,

Gọi là nhiếp chánh pháp.

Chánh pháp vì không pháp,

Nên nhiếp thọ vô biên.

Chánh pháp vì không tâm,

Nên dung chứa vạn hữu.

Vì thuận theo thế gian

Nơi đồng nói thành dị,

Nơi không nói thành sáu,

Có khi nói thành mười,

Nên tên Ba La Mật.

Dù cho mười hay sáu,

Thể tánh chỉ là một,

Một đó rốt ráo không.

Không kia lìa các tướng,

Vì xa lìa các tướng,

Nên nói là vô tướng.

- Thiệt tướng đó tướng gì?

Không tướng, không nhiếp thọ!...

Xưa Lão Đại Tổ Tông

Tuyên thuyết, “không một pháp.”

Mấy chục “Lão Tổ Tông”

Cũng truyền nhau không pháp.

Trước khi lìa cõi thế,

Lão Đại của chúng ta

Cũng nói là: “Các pháp 

Dường như thấy có đó 

Nhưng thiệt ra là không. 

Ai bảo rằng có pháp 

Tức thị là ma nói!...” 

Nay chúng ta cũng vậy

Giống như các Tổ Tông,

Luyện được Tâm Pháp này

Mới biết thiệt không pháp.

Như voi con theo dấu,

Theo dấu voi đầu đàn.

Cả đàn đồng thẳng đến

Phật sơn ngát hương thơm.

Phật sơn không có Phật

Mà Phật hiện mười phương!...

Phật sơn Hoa như mây,

Không hương tỏa ngát hương!...

Phật sơn không gò nổng,

Cũng không có núi cao,

Chẳng có biển và đảo,

Nhưng các thứ kể trên

Đồng cùng một công đức!...

Công đức nên bảy báu

Xuất hiện khắp Đại địa.

Ao báu bát công đức

Mát lòng khách thập phương,

Hữu tình và vô tình

Đồng chánh báo không báo.

Cái thấy đồng một thể,

Cái nghe đồng một thể,

Giác trí đồng một thể,

Thể ấy là Phật thể.

Phật thể, thể từ bi,

Hỷ xả cũng thể này,

Bốn tâm không riêng khác

Nên nói vô dị biệt.

Cũng gọi là không tâm

Không tâm tức tâm Phật

[1] Trích Kinh Kim Cang

(còn nữa) 

Tác Phẩm Lý Tứ

Bài Tráng Ca Bất Tử

Quản trị viên 16.02.2022
TP.38. Bài Tráng Ca Bất Tử

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

BÀI TRÁNG CA BẤT TỬ 

Khi người Tráng Sĩ dứt áo ra đi hề, con Kiền Trắc bị ghìm cương không còn cơ hội ngoảnh lại. 

Người Tráng Sĩ năm xưa chán cái vui hề, chán đến kẽ tóc chân tơ. 

Anh lên tận non cao nơi không có tiếng khóc và tiếng cười. 

Như con chim bay lưng trời, như con cá lội giữa ngàn khơi… 

Và ở đó anh nghiệm ra, đây không phải ước mơ của một thời trai tráng. 

Anh mơ một ngày, một ngày của người đi tìm chân lý mong đâu là ánh sáng. 

Ánh sáng cuối đường hầm, anh kiêu hãnh bước đi… 

Chân lý đưa đến những hột mè qua ngày đoạn tháng!... 

Chân lý xô đẩy bằng cái kham khổ, sáu năm tóc rụng da nhăn. 

Bất chợt nhận ra chán cái vui tìm cái khổ như con nai khát nước chạy lung tung. 

Chỉ uổng một đời, bỏ cái ngu này tìm cái ngu khác của đêm dài ba cõi. 

Lại một lần nữa, người Tráng Sĩ dứt áo ra đi trước mỉa mai khổ hạnh. 

Đau đớn tột cùng, đâu là hạnh phúc… giữa trời xanh. 

Anh ngồi xuống, bởi cái thân ốm o không thể chở nổi ý chí kiên cường. Quơ vội nắm cỏ khô bên đường, dựa lưng vào gốc cây đa già, cố thắp lên ngọn đèn trong đêm dài tăm tối. 

Người Tráng Sĩ hiểu ra, cái giá phải trả cho một đời người bởi cực đoan từ hai phía. 

Bỏ tất cả bên đường, đặt gánh nặng xuống, cây đa già phút chốc hóa thành ánh sáng mặt trời. 

Người Tráng Sĩ vui mừng, hết thảy tự tâm này chỉ do ngu mê và lầm lẫn. 

Chân lý không đâu xa, không phải thứ ánh sáng ở cuối đường hầm. 

Bóng tối và ánh sáng cũng không phải hai mặt đối lập của một vấn đề như ở đời thường hiểu. 

Chỉ tại không đèn nên sáng tối nhầm nhau!... 

Người Tráng Sĩ đã chết từ khi ngồi xuống, đốm lửa được thắp lên. 

Con chim thứu từ nay vĩnh viễn không cất tiếng u buồn, con dế hết kêu rên. 

Con cá dưới nước hóa thành rồng, trong phút chốc ngỡ ngàng niềm vui òa vỡ. 

Người Tráng Sĩ năm xưa hát bài tráng ca trước bạn bè ngày cũ. 

Tất cả chắp tay. 

Một đời Tráng Sĩ hóa thành bất tử!... 

“À ơi! Ấu biến thành sen… 

Lời ru còn đó, nghe quen thuở nào…” 

LÝ TỨ (07-2011)

Tác Phẩm Lý Tứ

Báo Thân Phật, Hóa Thân Phật và Pháp Thân Phật

Quản trị viên 16.02.2022
TP.37. Báo Thân Phật, Hóa Thân Phật và Pháp Thân Phật

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Nói một hơi không nghỉ, Hòa Thượng Huyền Không ngồi kiết già thẳng lưng trên phiến đá, hai mắt nhắm nghiền. Độ chừng tuần trà, lão mở choàng cặp mắt sáng như điện nhìn về Lý Tứ rồi nói: 

Lý Đệ!... Đúng là còn một chút ngã như đầu cọng lông, cũng chẳng thể học được môn thần công tối thượng này... Môn thần công tối thượng này thành tựu sẽ là Xuất Thế Gian Thượng Thượng Ba La Mật, há những người còn chút vị kỷ mà có thể học được sao... 

Theo lão nạp!... Sao gọi là Xuất Thế Gian Thượng Thượng? 

Xuất Thế Gian Thượng Thượng chính là một thứ Trí Huệ rộng lớn như hư không, một thứ tâm Từ Bi như Đại hải... Trăm sông đều chảy về biển. Dù cho bao nhiêu nước đổ dồn về Đại hải, Đại hải không vì thế mà tăng giảm... Xuất Thế Gian Thượng Thượng vì như hư không vô biên, vô lượng vì sao cùng mặt trời mặt trăng đồng tồn tại nơi hư không mà hư không chẳng thấy chật hẹp... Tâm và Trí như vậy, chẳng thể có phần cho cái chật hẹp vị ngã... Giống như ao lạch, chẳng thể kham nổi các dòng sông...!... 

Lý Đệ!... Thế Tôn đã dạy:

“Nhược dĩ sắc kiến ngã,

Dĩ âm thanh cầu ngã,

Thị nhân hành tà đạo,

Bất năng kiến Như lai.” 

Lời này trong chừng mực nào đó, theo lão nạp, đây là lời quở trách thắm thiết của Thế Tôn đối với những ai không biết “trời cao đất rộng”... Lão nạp này, ngày trước dù muốn hay không cũng là thân Viện Chủ... Cái danh Hòa Thượng Viện Chủ đối với tứ chúng là những gì ghê gớm lắm... 

Chính cái ghê gớm này đã che lấp tâm trí lão nạp, quên mất ý nghĩa lời dạy của Đấng Từ Phụ... Ha ha ha ha!... Chấp thân ba mươi hai tướng cùng lời nói của Như Lai, đã thành kẻ tà... hà huống chấp cái danh Viện Chủ gì gì đó mà chánh được sao!... Thiệt là cái hư danh hư tướng làm người tu hành mê mờ tâm trí...

Lý Đệ!... Cuộc đời thiệt khó nói... Cái ngã này thiệt khó nói... Nói đến đây lão lại nhắm nghiền hai con mắt!... 

Lý Tứ tìm một gốc cây to ngồi dựa lưng, ngước mặt nhìn trời... Bầu trời xanh trên cao, như một mái vòm bao phủ lấy hang Tự Tánh... Lý Tứ thầm nghĩ: Phật đạo rộng lớn như bầu trời vô tận, còn sức lãnh hội của một con người như những gì hiện ra trên miệng hang này... Đã có bao nhiêu người tu hành thoát ra khỏi cái hang tự ngã để thể nhập vào cái rộng lớn như đất trời của Phật đạo... Tự mãn là gốc rễ của mọi sai lầm, giống như miệng hang đã thu nhỏ bầu trời bao la trên kia... 

Lý Tứ lại nói:

- Hòa Thượng Đại Ca!... Đúng như vậy, cái ngã... Chính cái ngã này đã không cho một hữu tình thoát khỏi thân tướng nhỏ bé và trí não hạn hẹp... Vì thế, tu Ba La Mật chính là sự thoát ly triệt để ra khỏi chính mình... Giống như những con sông cần cù chảy vào biển lớn. Chảy vào biển lớn là sự chấp nhận từ bỏ tên tuổi, từ bỏ vị riêng, từ bỏ những gì đang tồn tại hiển nhiên ở con người này... Khi con sông đã vào biển lớn, thì nước của nó là nước Đại hải, tên của nó là tên Đại hải, ý vị của nó là ý vị Đại hải và nó chính là Đại hải... 

- Đại Ca!... Như con sông hòa cùng biển lớn, những gì được gọi là riêng của sông nay sẽ dần mất dấu... Thì cũng vậy, người tu hành tu các Ba La Mật là cách tốt nhất để làm mất chính mình. Cái gọi là mình có mất, thì cái rộng lớn bao la mới hiện... Như nước sông kia bây giờ là biển cả... Đại hải có tính chất nhất định của Đại hải mà không một dòng sông nào trên đời này có được... 

Thành tựu Ba La Mật tâm, sẽ có một Từ lực, có một Bi lực nhất định, mà không một thứ tâm nào trên đời có thể có được!... 

- Hòa Thượng Đại Ca!... Người tu hành một khi cái gọi là mình đã mất, thì bây giờ nó giống như hư không. Hư không rộng lớn kia dung chứa hết vạn hữu và hư không cũng làm thỏa mãn những gì vạn hữu cần đến... Ví như người đào hang, đào hang tròn thì hư không liền hiện trong hình tròn ấy, nếu đào hình dài thì hư không cũng không từ chối và nếu nó là những hình dáng khác thì hư không cũng bình đẳng thể nhập... Điều này có ý nghĩa gì trong Phật đạo? Đại Ca!... 

Đây chính là nguyên lý Ba Thân mà chư Phật tuyên nói... 

- Ba thân là gì? Ba thân Phật chính là sự tiếp cận của một hữu tình trước Phật trí... 

Phật trí giống như hư không ngoài kia. Sự tiếp cận của một hữu tình giống như hư không xuất hiện trong các cái hang, tùy theo hình dáng, tùy theo chỗ dung chứa, tùy theo độ cạn sâu mà hư không thể nhập vào đó... Cho dù cái hang có nhận hư không lớn nhỏ nhiều ít, nhưng tính chất của hư không trong những cái hang và tính chất hư không ngoài kia không sai khác... Nếu thấy có khác, chỉ vì nhận tướng sai biệt của cái hang, rồi nhầm lẫn mà cho rằng hư không này có sai biệt... 

- Ba thân Phật gồm có Báo Thân, Hóa Thân và Pháp Thân... Ba thân này đồng một Pháp Thân mà hiện, như hư không trong các cái hang đồng một hư không mà hiện. Sở dĩ đồng một Phật trí mà hữu tình lại thấy có Ba Thân là vì những lý do nêu trên... Hòa Thượng Đại Ca!... 

- Cái gì làm nên Báo Thân? Báo Thân Phật là do phước báo của tùy loài hữu tình riêng thấy... Vì nó được làm nên bởi phước báo tùy loài, cho nên thân này chẳng khác thân nghiệp của hữu tình kia... Trong kinh Phật có nói: “Trong vô lượng kiếp ta đã lại qua đời này với vô lượng danh hiệu sai biệt... lúc gọi là Ma, lúc gọi là Vua, lúc có tên Tể Tướng, lúc là Cư Sĩ, lúc là Sư Tử”. 

Điều này có ý nghĩa như thế nào? Nó giống như sự xuất hiện của các cái hang do con người đào ra... Người đào hang chỉ thấy cái hang mà chẳng thấy hư không tồn tại trong đó... Nó giống như người đời và ngoại đạo chỉ thấy một Cù Đàm xuất hiện ở cõi đời này như bao con người thời đó!... 

- Hóa Thân do đâu mà thành? Như gặp người trong mộng!... Cái gì làm ra giấc mộng này? Đây chính là ấn tượng tốt đẹp trong tiềm thức của một hữu tình đã đủ đầy công đức!... Công đức này do đâu mà có? Đây chính là sự cần cầu tiếp nhận giáo pháp và thành tựu một phần của giáo pháp... Vì sự thành tựu một phần giáo pháp, mà Hóa Thân Phật mới có đến ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp... Ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp này không phải cái đẹp vật chất... Nó là sự toả sáng của chân trí. Nó là tinh hoa của giáo pháp, nó là kết tụ của Tứ Vô Lượng Tâm... Nó là thứ tình cảm thiêng liêng của một hữu tình khi nhận được sự an vui nào đó từ nơi giáo pháp rồi thấy ra như vậy... Có thể hiểu đây là “nét đẹp tinh thần” từ Phật Trí thông qua cái nhìn của công đức... Cụ thể hơn, nó là cái đẹp trong con mắt của Bồ Tát khi nhìn về Đấng Từ Phụ... Vì thế đồng một đức Phật mà địa phương này có hình dáng thế này, địa phương kia có hình dáng thế khác... Nó giống như đứa con nhìn thấy mẹ của mình là người mẹ đẹp nhất trên cõi đời này!... 

- Pháp Thân Phật thưa Đại Ca!... chính là trí tuệ, thân này chính là Phật trí. Thân này là thường, thân này chư Phật đồng nhau, kinh gọi là thân đẳng... Phật trí giống như mặt trăng, thưa Đại ca!... Mặt trăng chẳng từng mọc hay lặn... Mọc lặn tùy duyên, mọc đây lặn kia, có tròn có khuyết... Mọc hay lặn, tròn hay khuyết là do duyên hữu tình thấy vậy, chẳng phải mặt trăng kia có những thứ này... Điều này Phật đã dạy ở phẩm Nguyệt Dụ của Kinh Niết Bàn... Và cũng chính điều này, nên các kinh bác học, Phật thường hay nói: “Như Lai đã thành Phật từ vô lượng kiếp”. Chỉ cần tin điều này thôi cũng phát sinh vô lượng công đức... Như Lai đã thành Phật từ vô lượng kiếp, giống như hình tròn của trăng rằm hôm nay, không phải là sự kế thừa của những ngày trăng khuyết trước kia... Đại Ca!... 

- Phật trí giống như hoa Ưu Đàm, trên vài ngàn năm mới trổ một lần, tùy duyên chúng sanh mà hiện... Do tùy duyên nên có khi hoa Ưu Đàm mọc trên chuông đồng, trên tấm kiếng, trên thanh nhôm, trên cái lá, trên sắt thép... Nơi đâu có duyên, thì nó sẽ mọc!... 

Cũng tùy duyên mà có khi hữu tình ở thời điểm này thấy hoa Ưu Đàm hình dạng như vầy, thời điểm kia lại thấy hình dáng thế kia... Vô lượng tướng sai biệt nếu có, cũng chỉ tùy duyên... Nó là thứ hoa của tâm linh chứ chẳng phải xuất xứ từ nguồn gốc thực vật. Vì thế chớ có nên tìm kiếm dòng họ của hoa này. Cố kiếm tìm dòng họ của nó, thì nó sẽ là một loài thực vật dị dưỡng chứ chẳng phải Ưu Đàm... Như ngày xưa, người đời chỉ thấy Cù Đàm là con của vua Tịnh Phạn, mà chẳng thấy... Thích Ca Mâu Ni!... Ha ha ha ha!... 

- Hòa Thượng Đại Ca!... Kinh Hoa Nghiêm có một câu để nói về việc này, tức nói về các thân Phật. Câu đó như vầy: “Tinh tấn là Bồ Tát, viên mãn là Phật”. Câu này ẩn chứa cái huyền của Phật trí... 

Khi chúng sanh duyên cạn thì Phật trí sẽ xuất hiện dưới tướng tinh tấn của một Bồ Tát. Nếu duyên này đã viên thì Phật trí sẽ xuất hiện là Phật thân... Nó như trăng kia lúc tròn lúc khuyết... Ha ha!... Cái huyền bí là ở chỗ này!... Là ở chỗ này!... 

- Thưa Đại Ca!... Vì thế cũng có lúc kinh nói: “Một địa nhiếp mười địa, có thể thị hiện thành Như Lai địa”. Ha ha ha ha!... Hoa Ưu Đàm hay hương thơm của một đóa Quỳnh!... Đại Ca nói đi!... Đại Ca nói đi!... Ha ha ha ha!... 

Hòa Thượng Huyền Không vẫn nhắm nghiền hai con mắt trong tư thế kiết già lưng thẳng. Toàn thân lão Hòa Thượng như một cái tượng bằng đồng... Không gian của hang Tự Tánh chìm trong tĩnh lặng. Thời gian dường như ngừng trôi... Văng vẳng trên không, có tiếng ngân nga: 

“Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp,

Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ,

Ngã kim kiến văn đắc thọ trì,

Nguyện giải Như Lai chơn thiệt nghĩa.” 

Tất cả cây trái trong hang Tự Tánh đồng ngã mình hướng về phía lão Hòa Thượng... Mùi hương thơm từ thân lão tỏa ra, dần dần tràn ngập hang động. Bầy chim trời trên cao, vui mừng líu lo vỗ cánh chao liệng!... Lão Hòa Thượng mở choàng đôi mắt, lão nói lớn: 

“Nguyện giải Như Lai chơn thiệt nghĩa chứ chẳng nên giải... Như Lai tướng văn tự!... Ha ha ha ha!...” 

Thân tướng và tiếng nói của lão khuất dần nơi bờ tây hang Tự Tánh... Xa xa... lờ mờ... chỉ thấy một vệt sáng màu vàng bay thẳng rồi mất hút vào phiến đá hoa cương!...

(còn nữa)

Tác Phẩm Lý Tứ

Mười Ba La Mật. Vô Minh Trụ Địa

Quản trị viên 16.02.2022
TP.36. Mười Ba La Mật. Vô Minh Trụ Địa

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Nhìn lão Hòa Thượng ngồi chễm chệ trên ngọn cây, Lý Tứ cười một tràng dài rồi nói: 

- Hòa Thượng Đại Ca!... Trông dáng vẻ của Đại Ca ngồi trên cao, Tiểu Đệ thiệt là ngưỡng mộ. Tăng tướng đúng là Phật tướng...

- Đại Ca ơi!... Tuy rằng Thế Tôn không còn hiện hữu trên cõi đời này nữa, nhưng Ngài đã để lại hình dáng của mình, để lại giáo pháp, để lại cái oai nghi khiến ba cõi phải cung kính lễ lạy, để lại tất cả những gì tốt đẹp nhất, cao quý nhất bằng chính hình tượng của Tăng Già... 

- Chỉ cần một tướng này thôi, chỉ cần giữ trọn những gì cần có của một Tăng nhân, không thêm không bớt, không mong không cầu... Có nói năng tới lui chỉ vì tứ chúng, chỉ vì vạn loại hữu tình, chỉ vì giáo pháp... Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ làm phước điền cho người gieo trồng công đức... 

Hòa Thượng Huyền Không nhẹ nhàng buông mình xuống đất như một con Đại bàng... Ung dung tự tại... Lão Hòa Thượng lên tiếng: 

Lý Đệ!... Lời Lý Đệ thiệt là chí lý... 

Một Tăng nhân chỉ cần như vậy, giữ cái tâm như vậy, giữ cái thế như vậy, nuôi hoài bão như vậy... Cho dù Tăng nhân này không tu Ba La Mật, các Ba La Mật cũng tự hiện... Vì Sao? Vì hai chữ xuất gia đã hàm đủ ý vị Ba La Mật rồi... 

Chỉ tiếc!... Chỉ tiếc!... Lão nói hai lần chỉ tiếc rồi lão hướng mắt nhìn về xa xăm như để gởi gắm tâm sự vào cõi hư vô!... 

Lý Tứ lên tiếng: 

- Hòa Thượng Đại Ca!... Tiểu Đệ hiểu!... Tiểu Đệ hiểu nỗi lòng và những trăn trở của Đại Ca!... Đại Ca ơi!... 

Vì thế muốn viên mãn Phật đạo phải tu Ba La Mật, chứ chẳng phải tự nhiên mà được... Chính vậy, trong kinh Thế Tôn mới dạy: “Chẳng phải nhân duyên, chẳng phải tự nhiên”... 

Nếu chấp vào nhân duyên thì người tu hành sẽ khó vượt qua hoàn cảnh... Còn nếu bảo rằng tự nhiên mà thành, thì Phật Đạo đâu cần xuất hiện ở đời... 

- Đại ca!... Tu Ba La Mật sẽ thành tựu hai điều vô uý. Đó là tự thân vô uý và ban cho người sự vô uý... Còn trong địa vị tu hành thì lúc tu Ba La Mật, vị này sẽ dần được cái tâm không sợ hãi... Đến khi thành tựu, nhờ đạo lực này sẽ ban cho người cái thanh tịnh, cái không sợ hãi... 

Hai điều này giống như chuyện kể về con bồ câu khi đậu trên tay ngài Xá Lợi Phất và khi bay qua chéo áo cà sa của Phật... Vì thế tu Ba La Mật khác với thành tựu Ba La Mật... Tu Ba La Mật có thể ví như người ngồi trong nhà, ngồi nơi an vui mà bố thí... Còn thành tựu Ba La Mật tâm giống như người đem ngôi nhà, đem sự không sợ hãi mà ban bố cho người... Hai điều này chớ có hiểu lầm... 

- Đại Ca!... Trong Phật đạo có đến mười Ba La Mật. 

Mười Ba La Mật chính là con đường hoàn hảo nhất để người tu hành bước đi và viên mãn đạo hạnh... Mười Ba La Mật, được chia thành hai nhóm. Nhóm đầu gồm sáu Ba La Mật và nhóm sau gồm bốn Ba La Mật... 

Sáu Ba La Mật đầu gồm: Bố Thí, Trì Giới, Kham Nhẫn, Tinh Tấn, Thiền Định và Trí Ba La Mật... Thành tựu sáu Ba La Mật này là thành tựu Căn Bản Trí, còn gọi là thành tựu hai Vô Ngã... Đây là công việc của hàng Thập Trụ Bồ Tát... 

Thập Trụ Bồ Tát muốn hoàn thành địa vị của mình phải thực hành sáu điều này... Nó thuộc loại giáo pháp tự cứu. Nếu dùng đây để cứu người thì kết quả sẽ rất hạn chế... Đại ca!... Tâm Ba La Mật chính là Bất Động Tâm, Trí Ba La Mật chính là Trí Giải Thoát... Giải Thoát Bất Động là mục tiêu cuối cùng của Phạm Hạnh. Có nghĩa người thành tựu sáu độ này phần tự cứu đã xong, u mê đã hết, bất giác không còn... Tu sáu Ba La Mật để giải quyết hai tướng đầu của bốn tướng đó là Nhân tướng và Ngã tướng… 

Bốn Ba La Mật sau, dành cho Bồ Tát Nhất Thừa... Bồ Tát Nhất Thừa muốn viên mãn công hạnh phải viên mãn bốn điều. Đó là: Nguyện Ba La Mật, Phương Tiện Ba La Mật, Lực Ba La Mật và Huệ Ba La Mật... Tu tập bốn điều này còn gọi là học Nhất Thiết Trí... Thành tựu thêm bốn món này công năng giáo hoá vô hạn... Nhờ công hạnh giáo hoá này mà Bồ Tát mau đến Vô Thượng quả... 

Có thể hiểu, tu sáu Ba La Mật đầu là phần tự độ, bốn Ba La Mật sau là học cách độ tha... Sáu Ba La Mật đầu khi thành tựu coi như xong phần Tự Giác. Thành tựu bốn Ba La Mật sau sẽ biết cách Giác Tha...

Viên mãn hai phần Tự Giác và Giác Tha gọi là Viên Giác... Chữ Viên Giác Phật tuyên nói trong kinh để chỉ sự thành tựu này... 

Bốn Ba La Mật sau giúp người tu hành mất hai tướng còn lại đó là Tướng Chúng Sanh và Tướng Thọ Giả... Bồ Tát mất hai tướng này mới có thể giáo hoá không lỗi lầm...

- Hòa Thượng Đại Ca!... Mười Ba La Mật giúp người tu hành hoàn thành bốn giai đoạn của tâm. Đó là Bình Đẳng tâm, Đẳng tâm, Vô Đẳng Đẳng tâm và Vô Thượng Chánh Đẳng tâm... 

- Sáu độ đầu, người tu hành sẽ thành tựu hai thứ tâm đó là Bình Đẳng tâm và Đẳng tâm... 

Bình Đẳng tâm là thứ tâm còn so sánh nhưng thấy các pháp không cao hạ... 

Đẳng tâm là thứ tâm bất nhị, tâm này mất đi hai pháp nên không có chữ Bình... 

Bốn Ba La Mật sau giúp người tu hành thành tựu hai tâm khác đó là Vô Đẳng Đẳng tâm, viên mãn đạo quả sẽ thành tựu Vô Thượng Chánh Đẳng tâm...

Vô Đẳng Đẳng tâm là tâm của hàng Thiện Huệ... Vị này thấu suốt các môn giải thoát của chư Phật, có thể tuyên nói Diệu Lý và được Kim Cang Quyết Định nghĩa... Sau đó vị này ban Pháp Vũ, thổi Pháp Loa, nổi Pháp Cổ... Viên mãn công hạnh thành Đẳng Chánh Giác... 

Điều kiện để có thể tu bốn độ sau là phải viên mãn Phạm Hạnh. Có nghĩa vị này thành tựu Giải Thoát Bất Động tâm, giống như những gì trong Kinh Đại Thí Dụ Lõi Cây Phật đã tuyên thuyết, hay nói khác đi đây là công việc tu hành để người Kiến Tánh. 

Bốn Ba La Mật sau giúp người đã Kiến Tánh thấy được Phật Tánh... Thấy Phật Tánh giống như người thợ điêu khắc thấy bức tượng trong gốc cây... 

Kinh Lõi Cây giúp người mang lõi cây từ rừng núi về nhà, về đến nhà mới dùng lõi cây này tạc thành tượng... Thành tựu bốn Ba La Mật sau sẽ giúp Bồ Tát thấy được hình dáng của một vị Phật ẩn chứa sau lớp vỏ của một chúng sanh... Vị này đẽo bỏ lớp vỏ chúng sanh che khuất phần tượng. Đẽo bỏ đến không còn một chút dư thừa, bức tượng sẽ hiện... Vì thế Phật mới tuyên nói: “Hết thảy chúng sanh đồng có đầy đủ tính chất của một Như Lai…” hay Phật nói rằng: “Chúng sanh chẳng phải là chúng sanh”. Giống như gốc cây trong rừng, ở trong rừng thì gốc cây chỉ là gốc cây, gốc cây này vào tay người thợ điêu khắc, nó sẽ trở thành bức tượng vô giá... 

Tu Tập bốn Ba La Mật sau, chính là học cách đẽo gọt phần dư thừa của một gốc cây... Học cách nhìn thấy bức tượng ẩn giấu trong gốc cây... Học các công cụ cùng cách thức đẽo gọt... 

Tóm lại nó giống như việc học của một nghệ nhân, muốn thành công người học phải hội đủ nhiều yếu tố, phải khéo léo và đam mê vì nó là bộ môn nghệ thuật chứ chẳng phải như học các môn lao động phổ thông... Đây cũng là cách để lý giải vì sao trong Phật sử, rất ít người thành tựu môn học này... Sự truyền thừa của nó đòi hỏi rất khắt khe... 

- Hòa Thượng Đại Ca!... Tóm lại mười Ba La Mật giúp người tu hành viên mãn Trí và Huệ... Trí giống như cái đèn, Huệ giống như ánh sáng... Sáu Ba La Mật đầu như tìm kiếm cái đèn, bốn Ba La Mật sau giống như học cách thắp sáng... Có đèn mới có thể thắp sáng... Đèn được coi như là thể, ánh sáng như là dụng... Có đèn có ánh sáng nhất định mọi tối tăm không còn... Công dụng của cái đèn là thắp sáng chính mình và soi sáng chung quanh... Tự Giác và Giác Tha là nghĩa này vậy... Xin Đại Ca hiểu cho... 

Hòa Thượng Huyền Không nghe Lý Tứ thuyết giáo một hồi về các Ba La Mật, lão trầm ngâm, gật gật cái đầu rồi nói: 

Thiệt là diệu lý!... Thiệt là diệu lý!... Hôm nay lão nạp nghe được những lời này của Lý Đệ, hơn cả một đời tu tập của mình!... Lý Đệ quả nhiên xứng đáng với hai câu: 

“Lý!... Viên dung Diệu Pháp

Tứ!... Thâm đạt Tâm Tông.” 

Rồi lão Hòa Thượng cười sảng khoái!... Ha Ha Ha Ha!... Lão lại nói: 

Cõi đời này còn có một con người như Lý Đệ hay sao? Ha ha ha ha!... 

Lý Tứ hướng về phía lão Hòa Thượng, hai tay chắp vào nhau xá xá, miệng mỉm cười rồi nói: 

- Đại Ca!... Đại Ca đừng có khen tặng Tiểu Đệ quá mức, biết đâu cái ngã của Tiểu Đệ nó lại lòi ra... Ha ha ha ha!... 

Hòa Thượng Huyền Không tiếp lời: 

- Lý Đệ!... Nếu có ai đó đủ phước đức thấy được cái ngã của Lý Tứ, thì người này từ đó về sau thôi hết u mê... Ha ha ha ha!... 

Lý Tứ lại nói:

- Hòa Thượng Đại Ca!... Vô Minh Trụ Địa có hai phần, phần đầu là Nhuận Chi Vô Minh, phần sau là Căn Bản Vô Minh... 

Về nguyên tắc mà nói, vị tu hành nào thành tựu sáu Ba La Mật đầu coi như đã giải quyết xong Nhuận Chi Vô Minh... 

Nhuận Chi Vô Minh là thứ vô minh cành lá, thứ này duyên theo thấy nghe hay biết và nghĩ suy mà hiện. Vì thế thành tựu hai Vô Ngã, hay nói khác đi, thành tựu phần Căn Bản Trí sẽ cơ bản giải quyết được cái vụ này... 

Muốn hết cái vụ này, không có con đường nào khác hơn là tu sáu Ba La Mật. Thành tựu cái này gọi là thành tựu Xuất Thế Gian Ba La Mật. 

Vì sao như vậy? Vì rằng Đại Ca ơi!... Ba thừa tuy hết phiền não, tuy tạm thời dứt trói buộc do sức Giác... nhưng trong đời, có những điều bất như ý khó thể vượt qua... Mặc dù trong tâm không thấy phiền não thô trọng, nhưng một chút tập khí thừa sót hãy còn sẽ làm nặng nề tâm trí... 

Ví Dụ như Ngài Xá Lợi Phất bị Thế Tôn quở trách về chuyện “biệt thỉnh”... Sau khi nghe quở trách, Ngài Xá Lợi Phất biết lỗi của mình, tâm chẳng muộn phiền gì... Nhưng vì tập khí hãy còn nên đã móc họng cho thức ăn nôn ra...!... 

Hành động này của Ngài Xá Lợi Phất tuy không phải là thứ phiền não thô trọng, nhưng nó cũng làm nặng nề tự thân... 

- Vì thế Hòa Thượng Đại Ca!... Tu sáu Ba La Mật chính là cách để người tu hành giải quyết cái nặng nề còn thừa sót lại sau khi đã chứng Thánh... Vì thế Tiểu Đệ mới nói: “Muốn hết cái vụ này, không có con đường nào khác hơn là tu sáu Ba La Mật để thành tựu Xuất Thế Gian Ba La Mật”. 

Có thể hiểu, sức Giác chỉ đủ để dứt Tập, nhưng chưa thể chứng Diệt. Vì thế tuy tâm đã thanh tịnh nhưng hãy còn tập khí lâu đời. Chính cái tập khí nặng nề này nên có Thế Gian Ba La Mật... Ha ha ha ha!... Các vị Thánh nếu không tu sáu Ba La Mật đến viên mãn, thì nó chỉ hơn thế gian chút đỉnh... Vì vậy mới gọi là Thế Gian Ba La Mật... 

Tóm lại: Tu sáu Ba La Mật là hành động cụ thể, biến Thế Gian Ba La Mật thành Xuất Thế Gian Ba La Mật... Đây là phương cách tốt nhất để làm sạch Phiền Não Trụ Địa, và cũng là cách để thành tựu Căn Bản Trí... Sạch Phiền Não Trụ Địa, thành tựu Căn Bản Trí chính là ngọn đuốc soi sáng tối tăm gọi là chấm dứt Nhuận Chi Vô Minh... Ha ha ha ha!... 

Tuy có ngọn đuốc soi sáng, hết tối tăm vô minh... nhưng đâu bằng người sáng mắt, lại ở ngoài ánh sáng phải không Đại Ca... Giống như chúng ta ở trong hang Tự Tánh này, tuy rằng có sáng, tuy rằng không tối tăm... nhưng cái thấy đâu có thể sánh cùng con chim ngoài kia đang bay liệng giữa bầu trời xanh... Ha ha ha ha!... Đại Ca ơi là Đại Ca!... 

Hòa Thượng Huyền Không gật gật cái đầu tỏ vẻ thích thú, lão nói: 

Lý Đệ!... Quả như vậy!... Quả như vậy!... Đây là điều mà mấy hôm nay lão nạp này thấy có chút chướng ngại trong lòng... Trụ nơi vô vi, tuy không có chút muộn phiền nhưng nhìn đâu cũng thấy vô vi... Ha ha ha ha!... 

Cái hang vô vi che khuất thiệt tướng. Cái hang Tự Tánh dù có trong lành cũng chỉ là... cái hang... Ha ha ha ha!... 

Lý Đệ!... Lý Đệ lại mồi thêm cho lão nạp này ngọn đuốc thứ hai... Phải rồi!... Phải rồi... Bốn Ba La Mật sau mới hiện đủ tính chất của hồ Tự Tánh... Hèn gì!... Hèn gì lão nhớ có một đoạn kinh nào đó Phật dạy... “Bốn Ba La Mật sau chính là thành tựu Tứ Vô Lượng Tâm”… 

Lý Tứ nói: 

- Hòa Thượng Đại Ca!... Bốn Ba La Mật sau chính là con đường viên mãn Phật Trí. Thành tựu bốn thứ này chính là thành tựu Vô Thượng Trí... Chỉ có Vô Thượng Trí mới dứt Căn Bổn Vô Minh... Cái khó của kẻ tu hành là: Muốn học được môn này, điều kiện đầu tiên, phải thành tựu phạm hạnh, tức thành tựu Căn Bản Trí hay nói nôm na là thành tựu hai Vô Ngã... 

Kẻ nào còn một chút ngã, cho dù nhỏ như đầu cọng lông, cũng sẽ vô phương học mấy món này... Vì thế Đại Ca ơi!... Xưa nay chẳng có mấy người lãnh hội được Phật Tâm Tông!... 

- Đại Ca!... Cái vụ này còn một cửa ải mà tự thân người tu hành khó làm chủ được, đó là Duyên Hóa Độ... Nó là kết quả thành tựu của Nguyện Ba La Mật... Cái duyên này phải gieo nhiều đời...

Người tu hành muốn có nó phải “cà rị cà mọ” lượm từng hột thóc công đức, phải cần cù nhặt từng giọt phước thế gian... Giống như chuyện Thế Tôn xỏ kim cho Ngài A Na Luật... 

Nguyện Ba La Mật là tích tụ công hạnh nhiều đời, gom nhóm nhiều kiếp... chứ chẳng phải một sớm một chiều... Trong kinh cũng có đề cập đến chuyện một vị Phật, công hạnh của ngài chỉ đưa người đi quy y... 

- Hòa Thượng Đại Ca!... Biển lớn là tích tụ của nhiều giọt nước nhỏ... Ha ha ha ha!... Dân gian có câu nói: “Tích thiểu thành đa”... 

Ngày xưa, Thế Tôn là con nhạn đầu đàn, con nhạn này đã kéo cả bầy hướng thiện... Đến khi viên mãn con nhạn đầu bầy là Đẳng Chánh Giác... Ha ha ha ha!... 

Cái “cà rị cà mọ” của Thế Tôn ngày xưa, chẳng phải là bài học lớn cho chúng ta hôm nay hay sao... Ngài Huệ Năng cũng có nói một câu thiệt là chí tình: “Đừng khinh người mới học”. 

Ha ha ha ha!... Ngu đến mấy, ra công học miết sẽ có lúc thành... Nghèo đến mấy, chí thú làm ăn, cần cù tích góp... nhất định có ngày giàu sang... Phật đạo chỉ có Tự mà không Tha... Xin Đại ca hiểu cho...!... 

- Đại Ca!... Còn cái Lực Ba La Mật thì tu thế nào đây? Đại Ca!... Giống như người luyện võ công... Ha ha ha ha!... Ngày ngày đấm đá cái bao cát treo trên cành cây... mà tay chân lại mạnh hơn người... Đại ca một thân võ công, nhưng chẳng va chạm trên đời... Không đặt chân vào chốn giang hồ thì... thì... thì... Ha ha ha ha!... Chẳng thể bì được bọn giang hồ lăn lóc... Vì thế!... Lực Ba La Mật chỉ thành tựu cho người dấn thân. 

Có dấn thân, có chịu vài chục vết thương trên người. Sau đó với kinh nghiệm này, khi thi triển võ công, nội lực mới phát huy tự tại... Nội lực mới theo chiêu thức mà cương nhu điều độ... 

Ha ha ha ha!... Nội lực của Đại Ca, bao năm này chỉ dùng nó để... gõ mõ đánh chuông... Than ôi!... Chuông mõ vẫn còn nguyên, chỉ tội cho cái dùi... nó mòn... Nó mòn... cái... cái... dùi gỗ. Ha ha ha ha!... 

Còn Phương Tiện Ba La Mật thì tu thế nào? 

- Ngày xưa Thiện Tài Đồng Tử học như thế nào thì ngày nay người tu hành muốn thành tựu phải học như thế đó... Kinh Đại Bát Nhã có kể chuyện Tát Đà Ba Luân đi cầu Bát Nhã Thánh Trí... Vị này phải bán thân cúng dường bậc Đại Thánh là Đàm Vô Kiệt... Hỡi ơi!... Chưa bán nổi cái thân này vì giáo pháp thì lấy gì mua nổi Trí Tuệ Vô Tướng... Ha ha ha ha!... 

Ngày xưa Thế Tôn còn là Bồ Tát muốn học Đại Thừa, bèn đăng bảng quảng cáo tìm gia sư... Ai dè bất nhơn gặp lão Gia Sư bắt mình quét nhà xách nước... Thế mà!... Thế mà!... Bồ Tát lại học được pháp Đại Thừa từ Tiên Nhân Đề Bà Đạt Đa... Những mẩu chuyện trên, há chẳng phải là bài học cho người tu hành đời nay hay sao? Muốn cầu Nhất Thiết Trí, thì đừng có... “làm tài khôn”... Ha ha ha ha!... 

- Đại Ca ơi!... Cái câu của Ngũ Tổ nói với Huệ Năng Đại ý: “Người thiệt quá tài, muốn học làm Phật hả? Thôi xuống nhà trù mà giã gạo đi con”… 

Cái câu này thiệt là tối thượng. Nó tối thượng với Huệ Năng, nhưng lại làm bất mãn cho kẻ hậu học khi lỡ rót vào tai... Cái khác!... Cái khác của một Huệ Năng và vô số người tu hành là ở chỗ đó, là ở chỗ đó... Ha ha ha ha!... Đại thắng căn là như thế!... Là như thế!... 

- Hòa Thượng Đại Ca ơi!... Đại Ca!... Tôi bỗng nhớ tới một điều, thiệt may mắn cho Huệ Năng là, trước đó Huệ Năng đã bỏ cái ngã do nghe được một đoạn kinh Kim Cang. Vả lại, lão ta xuất thân từ nghề đốn củi... Nếu chẳng may, Huệ Năng chưa có chút Ngộ, lại xuất thân là hàng vọng tộc vương gia... thì có lẽ... có lẽ... Hoằng Nhẫn phải làm thêm mấy cái răng giả. Đây là cái giá phải trả cho thiệt hại vì phát ngôn trên trời của mình... Ha ha ha ha!... 

Ngày xưa hình như Đạt Ma Lão Tổ Tông cũng xài răng giả... Ghét cái thói bất nhơn, hở chút bẻ răng... nên bắt Thần Quang ngồi trước chùa ngâm mình trong tuyết ba bốn ngày đêm cho vui... Cũng may!... Cũng may!... Thần Quang chặt cánh tay để bồi thường mấy cái răng giả của Lão Tổ Tông nên mới có danh Huệ Khả... Trời ơi!... Chặt cánh tay đau thấu trời xanh mà lại còn bị chê là: “Khả dĩ có chút trí Huệ”... Nghĩ có tức không Hòa Thượng Đại Ca!... 

Hòa Thượng Huyền Không nhắm nghiền hai mắt nghe Lý Tứ thao thao bất tuyệt về cái vụ học Phương Tiện... Lão mở choàng đôi mắt nói lớn: 

Lý Đệ!... Những lời tưởng chừng như là đả kích của Lý Đệ, nhưng nó lại là cam lồ cho lão nạp này... Đúng rồi Lý Đệ!... Phật Gia có quyền có thiệt... như người mẹ và đứa con... Nói có Ông Kẹ hay không có Ông Kẹ cũng chỉ vì thương con... Quyền hay thiệt cũng chỉ vì người... Như lương y trị nội thương... có mổ ra hay may lại cũng chỉ vì người bệnh... Không nên ở đó mà trách người lương y kia dư hơi hay khùng điên, mà nay làm chuyện bất nhơn, mổ thân ta ra rồi may thân ta lại... Cũng như khi đứa trẻ lớn khôn, không thể trách người mẹ của mình sao lúc nói có Ông Kẹ, lúc nói là không!... 

Chỉ trách là trách người thiếu trí, nghe nói có Ông Kẹ rồi đêm đêm ngồi canh, thử xem Ông Kẹ mặt mũi làm sao, có vợ với mấy đứa con. Ngày cưới Bà Kẹ, Ông kẹ rước dâu bằng dàn xế khủng Brabus Bu llit 800 Coupe, Man sory Lamborghini A ven tador LP700- 4, RUF C TR3C lu bsport, A C Schnitzer A CS5 Sport... hay bằng... xe lôi đạp... 

Ha ha ha ha!... Lý Đệ ơi!... Cái hài hước của Lý Đệ nay đã lây qua lão nạp rồi!... Ha ha ha ha!... 

Hài hước mà thắm màu đạo vị... Ha ha ha ha!...

Lý Tứ nhìn lão Hòa Thượng bằng cái nhìn trìu mến. Chắp tay xá xá coi bộ cung kính rồi lại nói: 

Còn nữa Đại Ca!... Huệ Ba La Mật là cái gì? Thưa Lão Ca Ca!... 

Huệ Ba La Mật chính là sự phát tiết nhiệm màu của chín thứ Ba La Mật đã thành tựu trước đó... Nó là tinh hoa của Phật Môn... Giống như Như Lai Kim Cang Thần Lực là tinh hoa của võ học thiên hạ... Thần lực này có sức chiến thắng tất cả thần lực... 

Huệ lực này một khi toả sáng, nó sáng cả bầu trời, nó sáng khắp thiên hạ... Dưới đến địa ngục A Tỳ, trên đến trời Hữu Đảnh. Chúng sanh nào tiếp được Huệ này, kẻ mù sẽ thấy, kẻ điếc được nghe, kẻ câm biết nói... Cái này, cái này!... Thế Tôn đã nói như vậy mà!... Lão Đại Ca... Thôi thì mình chỉ biết... tin vậy... Ha ha ha ha!... 

Lão Hòa Thượng lên tiếng: 

Lý Đệ!... Lý Đệ!... Cái vụ này nhất định phải tin thôi... Ha ha ha ha!... Ai đủ sức tin cái vụ này, thì người đó mới được lão nạp này coi là kẻ có trí... Ha ha ha ha!... Mô Phật!... Mô Phật!... 

“Huyền Môn Vong Duyên,

Không Môn Thất Ý,

Ngữ Môn Dĩ Quyền,

Phật Môn Dĩ Thiệt.”

Mô Phật!... Mô Phật!...

(còn nữa)

Subscribe to