Tiểu Kinh THÍ DỤ LÕI CÂY

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ
Xin giới thiệu đến các bạn:
֍ Tiểu Kinh THÍ DỤ LÕI CÂY
Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn trú tại Savathi (Xá- vệ), Jetavana (Kỳ- đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Rồi Bà-la-môn Pingalakoccha đi đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến nói lên với Thế Tôn những lời hỏi thăm, chúc tụng xã giao, rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Pingalakoccha bạch Thế Tôn:
– Tôn Giả Gotama, có những Sa-môn, Bà-la-môn này là vị Hội chủ, vị Giáo trưởng, vị Sư trưởng Giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khi Tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, như Purana Kassapa, Makkhali Gosala, Ajita Kesakambali, Pakudha Kaccayana, Sanjaya Belatthiputta, Nigantha Nataputta, tất cả những vị này tự xưng là nhứt thiết trí hay tất cả không phải là nhứt thiết trí, hay một số là nhứt thiết trí và một số không phải nhứt thiết trí?
– Thôi vừa rồi, này Bà-la-môn, hãy dừng lại ở đây: “Tất cả những vị này tự xưng là nhứt thiết trí hay tất cả không phải là nhứt thiết trí? Hay một số là nhứt thiết trí và một số không phải nhứt thiết trí?” Này Bà-la-môn, Ta sẽ thuyết pháp cho Ông, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
– Thưa vâng, Tôn Giả.
Bà-la-môn Pingalakoccha vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau:
– Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, chặt cành lá, lấy chúng mang đi và tưởng rằng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: “Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng có lõi cây, người này bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, chặt cành lá lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người này không đạt mục đích mà lõi cây có thể thành tựu”. Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, chặt vỏ ngoài, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: “Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người này bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, chặt vỏ ngoài, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người này không đạt mục đích mà lõi cây có thể thành tựu”.
Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, chặt vỏ trong, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: “Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người này bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, chặt vỏ trong mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Vàngười này không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu”.
Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, chặt giác cây mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: “Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người này bỏ qua lõi cây, chặt giác cây mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người này không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu”.
Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn đứng thẳng, có lõi cây, người ấy chặt lõi cây, mang đi và biết rằng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy, có thể nói: “Người này biết lõi cây, biết giác cây, biết vỏ trong, biết vỏ ngoài, biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy chặt lõi cây, mang đi và biết rằng đó là lõi cây. Và người này đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu”.
Cũng vậy, này Bà-la-môn, ở đây, có người do lòng tin xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình: “Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt”. Vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Do lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, vị ấy hoan hỷ, tự mãn. Do lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, vị ấy khen mình, chê người: “Ta được lợi dưỡng như vậy, được danh vọng như vậy, còn các Tỷ - kheo khác ít được biết đến, ít có uy quyền”. Và vị ấy không phát khởi lòng ao ước và không cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn những lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng.
Vị ấy trở thành biếng nhác và thụ động. Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, chặt cành lá, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người ấy sẽ không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu. Này Bà-la-môn, Ta nói rằng: Người này giống như ví dụ ấy.
Nhưng ở đây, này Bà-la-môn, có người vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt”. Rồi vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, khen mình, chê người. Và vị ấy phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn những lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng.
Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu giới đức. Vì thành tựu giới đức này, vị ấy hoan hỷ, tự mãn. Vì thành tựu giới đức này, vị ấy khen mình, chê người: “Ta trì giới, theo thiện pháp. Các Tỷ - kheo khác phá giới, theo ác pháp”. Và vị ấy không phát khởi lòng ao ước và không cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn giới đức.
Vị ấy trở thành biếng nhác và thụ động. Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, chặt lấy vỏ ngoài, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người này sẽ không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu. Này Bà-la-môn, Ta nói rằng, người này giống như ví dụ ấy.
Nhưng ở đây, này Bà-la-môn, có người vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt”. Rồi vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy, không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, khen mình, chê người. Và vị ấy phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn những lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu giới đức. Vì thành tựu giới đức này, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu giới đức này, khen mình, chê người. Và vị ấy phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn giới đức.
Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu Thiền định. Do thành tựu Thiền định này, vị ấy hoan hỷ, tự mãn. Do thành tựu Thiền định này, vị ấy khen mình, chê người: “Ta có Thiền định, nhứt tâm. Các Tỷ - kheo khác không có Thiền định, tâm bị phân tán”. Và vị ấy không phát khởi lòng ao ước và không cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn sự thành tựu Thiền định.
Vị ấy trở thành biếng nhác và thụ động. Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, chặt vỏ trong, lấy vỏ trong mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người này sẽ không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu. Này Bà-la-môn, Ta nói rằng, người này giống như ví dụ ấy.
Nhưng ở đây, này Bà-la-môn, có người vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt”. Rồi vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy, không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy, không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, khen mình, chê người. Và vị ấy phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn những lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu giới đức. Do thành tựu giới đức này, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không do thành tựu giới đức này, khen mình, chê người. Vị ấy phát khởi lòng ao ước và tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn sự thành tựu giới đức.
Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu Thiền định. Vì thành tựu Thiền định này, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không do thành tựu Thiền định này khen mình, chê người. Vị ấy phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn sự thành tựu Thiền định. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu tri kiến. Vị ấy, do tri kiến này, hoan hỷ tự mãn. Vị ấy, do tri kiến này, khen mình, chê người: “Ta sống, thấy và biết. Các Tỷ - kheo khác sống không thấy và không biết”. Và vị ấy không phát khởi lòng ao ước và không cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến.
Vị ấy trở thành biếng nhác và thụ động. Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, chặt giác cây mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người này sẽ không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu. Này Bà-la-môn, Ta nói rằng người này giống ví dụ ấy.
Nhưng ở đây, này Bà-la-môn, có người vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: “Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt”. Do vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, khen mình, chê người. Và vị ấy phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn những lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu giới đức. Do thành tựu giới đức này, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn.
Vị ấy không do thành tựu giới đức này, khen mình, chê người. Và vị ấy phát khởi lòng ao ước và cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn sự thành tựu giới đức. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu Thiền định. Do thành tựu Thiền định, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không do thành tựu Thiền định, khen mình, chê người. Vị ấy phát khởi lòng ao ước và tinh tấn, chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn sự thành tựu Thiền định. Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Vị ấy thành tựu tri kiến. Vị ấy do tri kiến này hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không do tri kiến này, khen mình, chê người. Vị ấy phát khởi lòng ao ước, cố gắng tinh tấn để chứng được các pháp khác cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến.
Vị ấy không trở thành biếng nhác và thụ động. Và này Bàla-môn, những pháp gì cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến? Ở đây, này Bà-la-môn, Tỷ - kheo ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc, do ly dục sanh, có tầm có tứ. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến. Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ - kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhất tâm. Này Bàla-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến. Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ - kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến. Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ - kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến.
Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ - kheo vượt lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, Tỷ - kheo nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến.
Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ - kheo vượt lên mọi Không vô biên xứ, nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến.
Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ - kheo vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: “Không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến.
Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ - kheo vượt mọi Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng Phi phi tưởng xứ. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến.
Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ - kheo vượt lên mọi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng (định), sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn trừ. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến. Này Bà-lamôn, các pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến.
Lại nữa, này Bà-la-môn, Tỷ - kheo vượt lên mọi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng (định), sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn trừ. Này Bà-la-môn, pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến. Này Bà-lamôn, các pháp này cao thượng hơn, thù thắng hơn tri kiến.
Này Bà-la-môn, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy chặt lõi cây, lấy và mang đi và tự biết đó là lõi cây. Và người ấy đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu. Này Bà-la-môn, Ta nói rằng, người này giống như ví dụ ấy.
Như vậy, này Bà-la-môn, phạm hạnh này không phải vì lợi ích, lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng, không phải vì lợi ích thành tựu giới đức, không phải vì lợi ích thành tựu Thiền định, không phải vì lợi ích tri kiến. Và này Bà-la-môn, tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây của phạm hạnh, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh.
Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Pingalakoccha bạch Thế Tôn:
– Thật vi diệu thay, Tôn Giả Gotama!... Thật vi diệu thay, Tôn Giả Gotama!... Tôn Giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh Pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày. Và nay con xin quy y Tôn Giả Gotama, quy y Pháp, quy y Tỷ - kheo Tăng. Mong Tôn Giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!... [1]
[1] Tiểu Kinh Thí Dụ Lõi Cây
(còn nữa)
Câu Chuyện… Vào Lúc Canh Ba

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ
Sáng ngày thứ bảy trên chiếc du thuyền, mọi người tề tựu tại phòng khánh tiết... Không đợi thập Như lên tiếng trước như thông lệ. Lý Tứ đứng dậy và nói lớn:
Thưa các bằng hữu!... Sau mấy ngày các vị chiêm nghiệm nghĩa Tập và Diệt... Tôi không có ý định trình bày tiếp Tứ Đế... Nhưng một nhân duyên xảy ra... hôm nay, tôi lược kể duyên lành này.
Đây là nhân duyên rất đặc biệt liên hệ đến Tứ Đế... Mong rằng sau câu chuyện ngắn, trong các vị, có thể có vị nào đó lãnh hội phần nào ý nghĩa của Đạo Đế...
Thưa các vị!... Đêm hôm qua, vào lúc canh ba... Một Thiên Nhân của Đâu Suất vì mất chánh niệm, vị này không có Chánh Tư Duy nên đã thất niệm và bay đến chỗ của tôi...
Vị Thiên Nhân này với thân hình không sáng chói, ánh sáng trên thân vị này mờ tối...
Gặp tôi, vị ấy lịch sự chào hỏi và câu chuyện sau đây xảy ra:
Thưa Tôn Giả, vị Thiên ấy nói:
Cõi Đâu Suất có thắng khí không?
- Này Thiên Nhân!... Thắng khí thuộc về sắc!...
Sau câu này Thiên Nhân đó lạc vào cõi sắc!... Sau một hồi ra đi, vị Thiên Nhân ấy quay trở lại chỗ tôi và hỏi:
Tôi muốn biết Đâu Suất để trở về chỗ ở của mình...
- Này Thiên Nhân!... Muốn biết thuộc về cõi dục!...
Nghe câu này, vị chư Thiên này lại đi về cõi dục!... Vị Thiên Nhân một hồi ra đi, rồi trở lại hỏi tôi:
Vậy Đâu Suất có thuộc Vô Sắc chăng?
- Thiên Nhân!... Vô Sắc thuộc về Vô Minh!...
Nghe đến đây, vị ấy mê mờ và ngồi yên!... Thưa Tôn Giả!... Thiên Nhân hỏi tôi:
Tánh giác là thường, sao Tôn Giả dạy người tịch diệt cái đã giác?
- Thưa Thiên Nhân!... Tịch diệt cái đã giác, Diệt Đế sẽ hiện, Diệt Đế đã hiện, Tánh giác sẽ hiện, Tánh giác hiện trí tuệ hiện...
Trí tuệ và nghĩ suy khác chăng?
- Trí tuệ là vô vi còn nghĩ suy thuộc về tạo tác...
Xin Tôn Giả nói rõ…
- Trí tuệ thuộc về Tánh giác, nghĩ suy thuộc về ý căn... Nếu thất niệm, sẽ thành ý thức!...
Ý và ý thức khác nhau thế nào?
- Ý thanh tịnh cho ra Chánh Tư Duy, còn ý thức không thanh tịnh!...
Giác và Tánh giác khác nhau chỗ nào? - Giác do huân tập nên phải tịch diệt, tịch diệt giác rốt ráo, Tánh giác hiện!...
Thưa Tôn Giả!... Đâu Suất là như thế nào?
- Đâu Suất thuộc về Đạo và Đâu Suất là nơi giữ Đạo!...
Đạo do đâu mà thành?
- Lấy Trí làm Đế mà thành!...
Trí ấy ở đâu?
- Trí ấy không thuộc ba cõi, chẳng rời ba cõi!... Như Pháp Giới mà thấu suốt!...
Xin Tôn Giả nói rõ...
- Pháp giới tự không nhiễm dục, không mê mờ sắc, không ám độn bởi vô minh!...
Muốn đến đó phải làm sao?
- Tịch diệt giác, vào Diệt Đế! Thấy Tánh giác!...
Tánh giác như thế nào?
- Tánh giác vô vi!...
Vô vi như thế nào?
- Tịch diệt hữu vi!...
Có phải chăng thấy Tánh giác là thấy Đạo Đế?
- Thấy Tánh giác là Chánh Kiến. Bây giờ Tánh giác là Đế, phát khởi Chánh Tư Duy để thấu suốt Đạo... Thấu suốt Đạo nên có Chánh ngữ...
Có Đạo Đế sẽ về đâu?
- Đạo Đế là con đường trở lại chỗ cũ của ông, thưa Thiên Nhân...
Có phải Thường, Ngã, Lạc, Tịnh là thể của tánh giác?
- Thường, Ngã, Lạc, Tịnh là Giác, Thiên Nhân hãy quên nó đi!...
Cảm ơn Tôn Giả, tôi đã biết rồi!...
- Thiên Nhân biết cái gì? Tôi biết nghĩa Đạo Đế!... Vị Thiên Nhân ấy nghe đến đây thân hình chói sáng trở lại và xin phép trở về chỗ cũ của mình…
- Tạm biệt Thiên Nhân... Ông hãy làm những gì xét thấy cần thiết!...
Thưa các bạn!... Mẩu đối thoại tôi vừa kể, xảy ra canh ba đêm nay...
Sau mẩu đối thoại trên, vị Thiên Nhân ấy đã hiểu rõ Đạo Đế và thế nào là Chánh Tư Duy...
Nhờ có Chánh Tư Duy mà Thiên Nhân ấy giữ được Đạo và không thối thất Đạo quả!...
Các bạn!... Nhân duyên rất lành... Nhờ vị Thiên Nhân mất chánh niệm mà tôi có thể nói với các bạn câu chuyện trọng đại trên...
Cảm ơn Thiên Nhân và câu chuyện vào canh ba đêm nay!...
*********************
Ngày thứ bảy sau khi nghe Lý Tứ kể câu chuyện canh ba, từ đó đến nay mọi người tập sống độc cư. Thỉnh thoảng họ mới gặp nhau tại phòng khánh tiết, nhưng chẳng ai nói với ai lời nào, lặng lẽ uống trà và lặng lẽ chiêm nghiệm. Tự thân từng người nghiền ngẫm ý nghĩa Diệt Đế và tập sống trong Đạo Đế... Chiếc du thuyền êm ả rẽ nước xuôi về phương Nam... Sáng nay mọi người lại gặp nhau...
Như Tác lên tiếng trước:
Thưa Lão Sư!... Mấy ngày nay, con sống trong Đạo Đế, thấm nhuần từng lời Lão Sư chỉ dạy... Đối với con thật tuyệt vời, những ngày hạnh phúc đã trải qua trong con... Một vài tập khí “kiến giải” sống dậy, nhưng nó giống như hạt sương trên đầu ngọn lá, chóng tan biến bởi ánh ban mai. Ánh sáng trí tuệ đã làm cho giọt sương tập khí tan vỡ... Cứ như thế, con dùng Chánh Tư Duy để hộ trì và lấy Bất Động Tâm làm nguồn sống...
Thưa Lão Sư!... Nhưng rồi điều này lại khởi lên trong con: Phải chăng Tục Đế lấy vô minh làm đế, nên nói rằng phàm phu không đế... Thánh Đế lấy yểm ly làm đế của khổ, và giác là đế của tập, Niết Bàn xuất thế là đế của diệt, và trí là đế của đạo... Nơi chơn đế không có khổ, nhưng có giác là đế của tập. Như là đế của diệt, Lai là đế của đạo... Thiệt đế, có chơn mà không có đế... Vì thế chơn thật mới chính là đạo...
Thưa Lão Sư!... Đồ đệ suy nghĩ như thế có đúng không, xin lão Sư chỉ dạy... Lý Tứ cười nói:
- Như Tác!... Điều ông vừa nói cho dù có thật đúng thì lợi ích gì cho ông lúc này... Cái giác chưa quên thì hãy mau mau tịch diệt cái đã giác... Còn một chút kiến giải trong lúc này, chẳng khác gì “con thằn lằn mọc lại cái đuôi”. Hãy để nó vĩnh viễn rụng cái đuôi kiến giải...
Thưa các vị!... Tôi từng nói với các vị: “Đạo Đế lấy Bất Động làm Đạo, lấy Trí tuệ làm Đế”. Trí này quan sát những tập khí xưa cũ, những kiến giải thừa sót, các thứ giác còn lưu tồn trong tiềm thức... nay khởi lên làm dao động nguồn tâm... Hãy chặt đứt nó đi... đừng thương tiếc...
Hãy nhen nhúm ngọn lửa Vô Sanh thiêu đốt rừng rậm kiến văn giác tri... Một hữu tình bị lạc vào rừng rậm vô minh, rừng rậm vô minh chính là kiến văn giác tri... Thấy nghe hay biết luôn bủa vây trí tuệ, không cho trí tuệ hiện khởi, làm cho mảnh đất tâm đầy những cỏ dại giác tri... Và hữu tình kia bị lưu lạc trong đó...
Hãy đốt lên đốm lửa vô sanh, giữ gìn nó trong tâm như người bán khai giữ lửa...
Ngọn lửa vô sanh sẽ thiêu đốt khu rừng kiến văn giác tri, chừng nào cây cỏ kiến văn giác tri cháy hết thì ngọn lửa vô sanh sẽ tự tắt... gọi là “củi hết lửa tắt”... Diệt Đế là như vậy...
Các bằng hữu!... Khi mảnh đất tâm hoàn toàn trong sạch, hạt giống giác không thể nảy mầm, chừng ấy bất động tâm sẽ hiện và trí tuệ phát khởi... Cây Giác Ngộ chỉ mọc ở mảnh đất không còn hạt mầm vô minh... Không bị che rợp bởi cành lá kiến giải... Hết lầm, cái thật mới hiện...
Kiến giải trong lúc này, chính là những cành lá che khuất ánh sáng trí tuệ... Xin các vị nhớ cho... Đây là lúc dùng tuệ này để tịch diệt nguồn tâm và tiến về bất động... Đừng thất niệm này các bạn!... Niệm đúng niệm sai đồng là niệm, khởi niệm chính là thất niệm... Nghĩ suy về niệm ấy là tà tư duy này các bạn...
Các bạn!... Vì sao tôi nói nhiều về bất động? Bất động chính là nhà chư Phật, bất động chính là tâm chư Phật... “Vào nhà Như Lai” chính là vào nhà bất động... Tâm bất động như hồ nước trong đứng lặng... Hồ nước này khi thật sự trong và đứng lặng thì các tính chất của nó sẽ tự hiện. Nó có bốn tính chất, đó là Từ, Bi, Hỷ, Xả... Khi chưa trong sạch và bất động thì bốn tính chất này sẽ không hiện... Có vào nhà Phật mới có cơ may mặc áo Phật và ngồi tòa Phật... Đó là mặc áo kham nhẫn và ngồi tòa không pháp...
Bất động chính là lõi cây, Trí Tuệ chính là Tuệ nhãn thấy rõ trong lõi cây này có tượng... Giống như nhà điêu khắc, nhìn thấy trong gốc cây kia có bức tượng... Thì cũng vậy, trong lõi cây bất động có hình tượng của Phật Tánh... Trong Phật Tánh có đầy đủ tính chất của nó là Tứ Vô Lượng Tâm... Khi bạn dùng tuệ nhãn thấy được điều này là lúc bạn phát hiện ra rằng lõi cây và bức tượng không phải là hai... Những gì che chướng làm cho bức tượng kia không hiện rõ, lập tức các bạn hãy đẽo bỏ nó đi. Đẽo đến khi nào bức tượng hoàn hảo... Tâm và tượng không hai, chính là Bình đẳng tâm...
Vì sao gọi là “Bình đẳng tâm”? Vì tâm này và tâm Phật không hai không khác... Vì có so sánh nên nó là bình đẳng chứ không phải đẳng...
Giai đoạn này giống như người học nghề điêu khắc quan sát thật kỹ một bức tượng mẫu... Vị này nhìn ngắm và học thuộc hình ảnh thực tế từ nơi bức tượng làm mẫu... Cho đến bao giờ, người học trò kia rời xa tượng mẫu, không còn nhìn thấy, không còn khởi các niệm nhớ nghĩ mà không thể quên hình dáng cũng như các đặc điểm về bức tượng. Nói khác đi bức tượng đã nhập vào tâm người đó và tâm người đó chính là bức tượng, thì coi như đã thành công một phần nhỏ trong quá trình học tập...
Các bạn!... Những điều tôi vừa nói, chỉ là ví dụ về bất động tâm và bất động trí... Điều này các bạn phải khéo hiểu...
Sau khi vị này thể nhập vào bất động và thấy rõ những gì cần thấy... Giai đoạn thứ hai, như người học điêu khắc tập nhìn bức tượng trong một khúc cây... Để thấy bức tượng ẩn khuất trong khúc cây, vị này phải không nhìn thấy những gì của một khúc cây đã che lấp bức tượng... Đó là vị này hướng về phía chúng sanh tập quan sát họ. Cái cần phải thấy lúc này, không phải thấy chúng sanh đó như thế nào, mà chính là nhìn thấy cái thanh tịnh bất động trong một hữu tình... Muốn thấy như vậy, người này phải không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, không thấy tướng nam, không thấy tướng nữ, không thấy dòng giống, không thấy xuất thân... Nói chung bốn tướng:
Nhân, ngã, chúng sanh, thọ giả không hiện khởi... Vị tu hành này chỉ thấy cái thanh tịnh vắng lặng đang ẩn tàng trong sự chuyển động dưới cái được gọi là chúng sanh... Thấy như vậy, các bạn đang rời dần ý nghĩa Bình đẳng để tiến vào nghĩa Đẳng...
Sao gọi là “Đẳng tâm”? Đẳng là sự thấy nào đó mà không thông qua so sánh... Vị này đưa đến kết luận: Những vị chúng sanh kia chính đang thanh tịnh mà không tự biết...
Như người học điêu khắc thưa các bạn!... Bây giờ người tu hành đã nhìn ra sự thanh tịnh bất động đang hiện hữu trong một hữu tình. Vị ấy lại quán sát, cái gì che chướng thanh tịnh vắng lặng của chúng sanh kia... Vị ấy dùng tâm và trí bất động này quan sát đối tượng... Những gì hiện khởi làm dao động một chúng sanh sẽ hiện khởi trong tâm mình, như cái gương soi cảnh vật...
Giống như một người lớn ăn cơm, trong khi đang ăn, một hạt sạn, một mảnh răng bể, một chút ớt, một hạt tiêu... lẫn lộn trong thức ăn. Vị này biết rất rõ nó là hạt sạn, nó là mảnh răng, nó là miếng ớt, nó là hạt tiêu... và lập tức lừa ra ngay khỏi miệng...
Thông qua bất động tâm của mình để phát hiện ra động tâm của người... Như thế là bạn đã chuẩn bị vào giai đoạn mới của tu hành gọi là “Vô đẳng đẳng”.
“Vô đẳng đẳng” chính là sự thấu suốt cực kỳ chính xác của Bát Nhã Trí...
“Bát Nhã Trí” là công cụ tốt nhất để giúp cho một hữu tình từ lăng xăng dao động trở về với thanh tịnh bất động bản nhiên...
Ngôn thuyết từ vị này phát ra người kia tiếp nhận trọn vẹn... Nó là thứ thần chú giúp người thoát mê... Nó là Vô thượng chú. Nó là Vô đẳng đẳng chú...
Muốn học được Bát Nhã Trí, hay học Vô Thượng Trí... Vị này phải kinh qua bất động, phải kinh qua vô sanh, phải có một nguồn tâm vắng lặng không hai pháp... Điều này được nói rõ trong kinh Bát Nhã... Kinh dạy rằng: “Người học trí này phải trụ nơi vô sanh, không hai, Bất Động”.
Các Bạn!... Bát Nhã Trí chính là nhân của Tự Nhiên Trí... Bát Nhã Trí chính là nhân của Phật Trí... Kinh dạy: “Như Lai do Bát Nhã huân...” là ý nghĩa này... Chư Phật ba đời thành tựu Phật Trí và đủ mười danh hiệu chính từ nền tảng này...
Đủ mười danh hiệu như Thế Tôn gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Tâm... Vì Vô Thượng Chánh Đẳng Tâm nên mới có danh hiệu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác...
Bốn thứ tâm: Bình đẳng tâm, Đẳng tâm, Vô đẳng đẳng tâm và Vô thượng chánh đẳng tâm... là bốn giai đoạn phải trải qua của một Phật Tử...
Nó bắt nguồn từ Bất Động Tâm... Bất Động Tâm và Bất Động Trí chính là bước khởi đầu, là nền móng, là cơ sở tốt nhất để hoàn thành Đạo Đế... Phật Đạo chính là Đạo Đế... Bốn thứ tâm đã nói chính là bốn tầng làm nên tòa nhà Phật Đạo...
Các bạn!... Các bạn còn nhớ bài kinh Đại Thí Dụ Lõi Cây... Bài kinh này, có thể coi như một tiêu biểu của người thợ điêu khắc đem từ rừng về một lõi cây để khắc tượng... Các bạn tư duy từng phần của bài kinh này sẽ thấy được những gì cần giác cho mình và cho người... Sau khi có được lõi cây, lõi cây đã ở trước mặt. Bây giờ công việc còn lại là nhìn ngắm, đánh giá và ra công đục đẽo những gì che chướng bức tượng đang ẩn tàng bởi những phần thừa của khúc cây...
Các bạn!... Giáo pháp căn bản hay giác chính là chuẩn mực, là công thức, là nguyên tắc của người thợ điêu khắc đi tìm lõi cây... Đây chính là cái chung trong Phật Đạo...
Mong rằng các bạn hãy tự đánh giá chính mình, tự thẩm định chính mình... Coi lại chính mình đã thật sự đạt được lõi cây bất động hay chưa... Nếu chưa, hãy nỗ lực để thành tựu bất động... Khi nào thật sự ở trong đó, thật sự ngập chìm trong bất động, thật sự ở trong Đạo Đế... các bạn sẽ thấy tòa nhà Như Lai như thế nào, và chắc rằng các bạn sẽ tự xây dựng tòa nhà này nơi một hữu tình khác...
Xây dựng tòa nhà trên mảnh đất bán khai của một hữu tình khác chính là Từ Bi... Bất Động Tâm là nhân và Vô Duyên Từ là quả...
Các Bạn!... Đây là hai bản kinh Tiểu Thí Dụ Lõi Cây và Đại Thí Dụ Lõi Cây. Hy vọng hai bài kinh này sẽ giúp các bạn thật nhiều trên con đường tiến về bất động giải thoát.
Cũng chính nó là giềng mối, là định hướng để các bạn tư duy phương cách “đem một khúc lõi cây từ rừng về...” và sau đó... “Tạc tượng”...
(còn nữa)
Tứ Diệu Đế. Bất Nhị. Kiến Trù Lâm. Kiến Hoang Vu. Tướng Thức.

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ
Lý Tứ lại tiếp:
Thưa các vị!... “Tập và Diệt”, “Giác và Ngộ”... tính chất của nó cực kỳ quan trọng trong Phật Đạo... Người tu hành chưa thấu suốt những nghĩa này thì cứ luẩn quẩn trong vòng sanh diệt của hành tâm... Điều này kinh Lăng Già có đề cập đến khi ngài Đại Huệ hỏi Phật về thức có mấy thứ sanh trụ diệt... Phật chỉ ra rằng, thức có hai thứ sinh trụ diệt. Đó là Tướng sanh trụ diệt và Lưu Chú sanh trụ diệt, không thể suy nghĩ biết được...
Các vị!... Một hữu tình, khi xuất hiện ở thế giới này, bị bao vây bởi những hư vọng... Rừng rậm bủa vây này Phật gọi là Kiến Trù Lâm...
Giác chính là loại thuốc khai hoang cực mạnh tiêu diệt và xóa sạch dấu vết của cái thấy rừng rậm này... Nhưng mà này các bằng hữu!... Không thấy khu rừng nữa thì người ta thấy điều gì?
Các bạn!... Một khi không còn thấy khu rừng nữa, thì người ta sẽ không thấy gì hết, không thấy gì hết gọi là Kiến Hoang Vu... Không thấy gì hết chứ không phải không thấy...
Bảo rằng không thấy gì hết là vì đối tượng để thấy đã không còn nữa, chứ không phải cái bị thấy đã tiêu mất. Có nghĩa không thấy vật, lại thấy cái không vật, tức là chỉ mất đi cái làm ra hư vọng chứ tính chất hư vọng vẫn còn đó...
Vì thế không thấy gì hết cũng là một loại thấy vậy, có khác chăng là khác cái bị thấy...
Giống như người nhắm mắt vẫn thấy màu đen... như người đi trong sa mạc không thấy cây cỏ nhà cửa nhưng vẫn còn thấy sự hoang vắng của sa mạc... Khi người kia bảo rằng không thấy gì, lập tức “pháp không thấy” hiện hữu, “pháp không thấy” hiện lên, “tâm không có gì” lập tức sanh... “Tâm không có gì” này cũng là một thứ tâm, nó đang giong ruổi trong cái không có, chứ không phải không tâm, không phải không tâm nên nó không được gọi là bổn tâm...
Tâm “không có gì” là thứ tâm gì? Đó là thứ tâm u tịch, một loại hoang vu tâm được sản sanh bởi hoang vu quan niệm... Để phê phán sự u tịch này, kinh có nói: “Nắm giữ tướng u nhàn cũng là bóng dáng của tiền trần”.
Các vị!... Cái u nhàn kia, chính là tướng của thức đã diệt, nhưng Lưu Chú Thức chưa diệt. Lưu Chú Thức chưa diệt mầm sanh diệt hãy còn... Hiện tình sau sẽ xảy ra cho một vị dùng giác quét sạch các tướng, như người ta dùng thuốc khai hoang làm sạch môi trường... Khi vị này đã trừ sạch các tướng, vị này thường ở trong giác không nắm giữ các tướng, thức tướng không thể khởi, như cây cối không thể mọc... Nhưng sau cơn mưa, hoặc thời gian lâu hơn… cỏ dại sẽ mọc...
Các tướng bên ngoài không làm ngại, cảnh duyên không thể xâm hại. Nhưng nếu vị này buông lơi thiền định, hoặc mất cảnh giác thì lập tức bất giác sanh khởi, bất giác sanh khởi vọng niệm lại sanh...
Vì sao đã trừ sạch tướng thức mà vọng niệm lại sanh? Xin thưa!... Chỉ vì tướng diệt nhưng Lưu Chú chưa diệt... Nếu vị này cảnh giác, quở trách vọng niệm, thì vọng niệm lại mất... Và cứ thế, khi vị này không ở trong giác, ngay lập tức Lưu Chú lại hiện...
Để trải qua khó khăn này, người tu hành buộc phải nhứt tâm, không dám buông rời niệm giác... Nhờ nhất tâm nên hiện nghiệp dừng, hiện nghiệp dừng nghiệp mê dừng... Nhưng lại bị cột trói bởi nghiệp Giác...
Ta có thể hiểu, vị tu hành này thoát khỏi hai khu rừng trước mặt đó là Kiến Trù Lâm và Kiến Hoang Vu nhưng lại đi vào một khu rừng khác... đó là Giác Lâm...
Điều này giống như việc gì? Nó giống như khu rừng bị thuốc khai hoang tàn phá, cây cối không tồn tại, nhưng khu vực đó hãy còn lưu tồn độc tố của thuốc khai hoang và mầm cây cỏ trong đất chưa mất...
Thì cũng vậy, cái thấy hư ảo đã mất, thay vào đó xuất hiện một loại thấy khác, cái thấy khác này chính là cái thấy của Giác... Giác tuy thắng diệu, nhưng nếu để nó cột trói thì trước hiện tình này, giác trở thành một thứ trói buộc... Điều này giống như con chó thoát khỏi sợi xích bằng sắt trói cột, thay vào đó, nó bị cột trói bằng sợi dây xích làm bằng vàng... Hai sợi dây cột trói khác nhau được thay thế, nhưng rốt cùng con chó vẫn không thể rời cây trụ đã cột mình...
Thưa các bạn!... Giác là liều thuốc tốt để chữa trị con mắt Tập bị bệnh...
Khi mắt Tập hết bệnh, người bệnh bây giờ phải dứt luôn thứ thuốc giác kia... Nếu không từ bỏ nó, vẫn tiếp tục uống, vẫn tiếp tục thoa, vẫn tiếp tục xức... thì nguy cơ một bệnh mới về mắt sẽ xuất hiện là điều khó tránh khỏi...
Bệnh Tập đã hết, thuốc Giác cũng tiêu... Bây giờ người có trí không phải loay hoay đi tìm thuốc nữa, mà hãy tìm ngọn đèn và đốt ngọn đèn lên.
Với con mắt đã hết bệnh, không còn mù lòa và ngọn đèn đủ sáng... nhất định vị này sẽ thấy biết và cảm nhận rất rõ về màu sắc. Hãy đốt đèn lên để thấy rõ màu sắc là gì... chứ không phải ngồi đó mà cố suy nghĩ màu sắc là như thế nào khi vẫn còn ở trong bóng tối... Thấy Diệt hay chứng Diệt cũng như vậy, thưa các bạn!... Như vậy, có thể hiểu:
“Giác là thuốc của Tập, Ngộ là đèn của Diệt”. Thuốc Giác trừ bệnh Tập, đèn Ngộ soi rõ Diệt... Với con mắt sáng, với ngọn đèn trước mặt... người có mắt, có trí sẽ nhìn thấy màu sắc đích thực ngay trước mắt mình.
Đó là thấy “bản lai tâm này vô sanh, bản lai tâm này bất động”. Dùng Ngộ để thấy Diệt là thấy như thế...
Thưa các bạn!... Diệt Đế chính là sự Bất Động bản nhiên của nguồn tâm. Bất Động bản nhiên này phải được nhìn thấy bằng chính sức Ngộ, tức là một cái thấy đặc biệt nào đó của con mắt sáng chứ không phải cái thấy cái biết của cảm nhận hoặc suy luận... Việc này, kinh gọi là thân chứng, hay tự kiến... Kinh cũng nói rằng: “Dứt Tập, chứng Diệt”... chứ chưa bao giờ kinh nói “Dứt Tập, hiểu Diệt”.
Hai chữ Tri Kiến, có thể được dùng trong hoàn cảnh này...
Tri kiến tức là cái biết của người thấy rõ, chứ không phải cái biết của nghe nói hay suy luận... Giống như tôi thấy cái ly nước trước mặt, chứ không phải tôi biết có ly nước trước mặt vì nghe ai đó nói...
Các bạn!... Vì sao tôi lại phải đề cập đến Tập Đế và Diệt Đế nhiều như vậy? Vì bởi tính chất quan trọng của nó trong đời sống tu hành... Cái Giác rất khó quên, cái Giác luôn là chiếc nôi bảo vệche chở cho người tu hành nên rất khó từ bỏ nó... Người tu hành thường bị sức Giác làm ngại, giống như người kia bị mạt vàng ghim vào con mắt...
Người chưa ra khỏi trói buộc của Giác, sự tình này sẽ xảy ra: Đó là tuyên nói về sợi dây, họ sẽ mô tả con rắn... Cái này kinh gọi là bệnh Tứ Cú và bệnh Bốn Tướng... Sức Giác chưa quên là như thế...
Vì sao điều này xảy ra? Chỉ vì người này không dám rời khỏi chiếc nôi Giác. Khi bảo rằng ông hãy từ bỏ những gì đã Giác để được thảnh thơi, thì y như rằng vị tu hành lại thu mình trong chiếc nôi Giác mà lầm tưởng mình đã ra khỏi... Như con đà điểu vùi đầu trong cát để mong rằng kẻ thù không trông thấy!... Đi tìm sự an ổn như con đà điểu là một ngộ nhận rất lớn trong phật đạo... Các bạn!...
Muốn thấy được Diệt Đế... muốn thấy được Bất Động Tâm... người tu hành phải làm gì? Hãy tức thì rời bỏ chính mình, rời bỏ những gì đã Giác... Hãy từ bỏ “cái ngã” và “cái thấy của ngã” đã và đang ở ngay trong bạn, nó theo bạn như bóng với hình...
Các bạn!... Hãy buông Giác xuống, như người chiến binh rời bỏ vũ khí, khi chiến chinh đã đi qua... không được thương tiếc... Các bạn không thể là một chiến binh cầm mãi vũ khí khi trước mặt đã hết kẻ thù...
Các bạn!... Kẻ thù Tập đã buông súng đầu hàng bởi vũ khí Giác... Như chiến tranh đã đi qua, hãy làm lại một cuộc đời mới sau chiến thắng... Đó là xây dựng những gì mà thanh bình cho phép... Căn nhà ngũ ấm đã đổ sập, căn nhà ba cõi đã không còn nữa. Nơi ẩn náu cuối cùng của quân thù đã bị phá tan…Ngay bây giờ kẻ trí hãy quay lưng với trận địa, đừng thương tiếc chiến trường, đừng nắm giữ những chiến công của quá khứ...
Các bạn!... Chắc các bạn đã đọc kinh Duy Ma Cật rồi chứ... Vì sao những A La Hán là Thánh Đệ tử của Phật, người nào sau một lần gặp Duy Ma Cật và đối đáp, hầu hết những vị này đều công nhận những điều Duy Ma Cật nói là đúng, lời Duy Ma Cật là chân lý... Nhưng tại sao lại không dám gặp ông ta lần nữa, cho dù đến để thăm bệnh... và cho dù đó là “khẩu dụ của Thế Tôn”...
Thưa các vị!... Không phải sự hèn yếu thể hiện trong lòng các vị Thánh, mà mọi người e sợ phải chấp nhận thực tế từ thứ chân lý mới này. Một khi chấp nhận những điều Duy Ma Cật đã nói, thì mặc nhiên từ bỏ những gì đã có...
Họ không thể nhất thời từ bỏ chiếc nôi chân lý của Nhị Thừa đã nuôi lớn mình mà quay lưng đi nơi khác. Họ cố gìn giữ thứ chân lý đã trót cưu mang. Chấp nhận Duy Ma Cật là chấp nhận đánh đổ những yên bình có được do sự yểm ly của “một vị Thánh” mà họ đã từ bỏ tất cả mới thành tựu...
Chấp nhận chân lý “bất nhị”, chân lý Nhị thừa “bỏ đây lấy kia...” sẽ bị đánh đổ. Đánh đổ này làm đời sống xáo trộn... Cái an lạc của Giác bị tước đoạt, các vị ấy không đành... Đây là cơ sở mà các vị Thánh thốt lên trước mặt Phật: “Bạch Thế Tôn!... Con không thể kham lãnh đến thăm vị Cư Sĩ ấy”.
Các bạn!... Từ bỏ Kiến Trù Lâm là một bước rất khó, từ bỏ Kiến Hoang Vu lại càng khó và từ bỏ Giác Lâm thì vô cùng khó.
Nhưng nếu những ai không đành lòng từ bỏ những thứ này, sẽ mãi mãi quanh quẩn trong khu rừng Tướng thức và Lưu Chú Thức... Như người anh hùng không dám từ bỏ chiếc mề đay vinh quang đang mang lủng lẳng trên cổ... Như người bệnh cùi nay đã hết cùi không dám từ bỏ hố than ngày trước... Các vị!... Không ai sống mãi với cái đã vinh danh... Nếu cứ đeo bám những gì đã có, thì một cuộc đời mới tốt đẹp hơn sẽ không thành tựu bởi bóng ma quá khứ!...
Các bạn!... Bất Động hay Diệt Đế là một thứ tâm phải thấy bằng cái thấy... Muốn thấy bất động, phải rời cái thấy của Giác... Bất Động chính là Như... Chưa vào cảnh giới Như thì nghĩa Lai chân thật chẳng bao giờ hiện. Nếu có một sự xuất hiện nào đó các vị lầm tưởng là nghĩa Lai, thì nghĩa Lai này chẳng phải của hai chữ Như Lai...
“Như như bất động”. Thưa các vị!... Đây là điểm đến nhất định các bạn phải đến, nếu muốn tiếp tục bước đi trên con đường Đạo Đế...
********************
Thưa các bằng hữu!...
⁎ Đừng nhàm chán Tứ Đế, hãy đào sâu hơn nữa diệu lý tốt đẹp này, nhất định sẽ không làm bạn thất vọng. Cơ hội hiếm hoi trong cuộc đời đang chờ đón các bạn. Một khi thấu suốt nguyên lý bốn đế, và thân chứng về nó, các bạn sẽ có một đời sống an bình sau đó mới có thể làm lợi mình lợi người...
⁎ Các bạn!... Tứ Đế chính là viên ngọc quý các bạn đang đi tìm, đừng quay lưng với nó, đừng bỏ rơi chân lý này... Các bạn hy sinh một đời, hy sinh tuổi thanh xuân và tất cả công danh sự nghiệp, như con kiến từ bỏ đĩa mật... Từ bỏ tất cả, chấp nhận đời sống tu hành để tìm kiếm thứ gì nào? Các bạn hãy tự hỏi lại chính mình, phải chăng chính đời sống khó khăn và nhiều đau khổ đã làm các bạn chán ngắt và muốn từ bỏ nó để đi tìm một chân lý nào đó ý vị hơn!... Cái các bạn đang tìm kiếm ở ngay trước mặt, đó là chân lý tối thượng Tứ Đế.
Chân lý này chính chư Phật đã phát hiện ra, chư Phật đã tìm thấy và chân lý này là nền tảng làm nên tất cả các đạo an ổn trong Phật đạo...
Các bạn!... Trước tôi đã nói đến Tướng thức và Lưu Chú thức... bây giờ chúng ta tiếp tục mổ xẻ điều này. Vì sao phải mổ xẻ hai thứ này, thưa các bạn!... Vì hai thứ này làm ra cái gọi là điên đảo của một hữu tình...
Tướng thức chính là tác nhân làm ra tướng đảo, và Lưu Chú thức làm ra bệnh hoang tưởng điên dại... Một hữu tình bị hai thứ này gọi là điên đảo!...
Vì sao nói rằng Tướng thức cho ra một đảo tưởng?
Thưa các vị!... Ngoại sắc tự nó thanh tịnh, tự nó không là sắc, nhưng vì hữu tình mê mờ trong cơn khát ái, như con nai khát nước, thấy sóng nắng tưởng nước... Sự đảo lộn kỳ khôi này chỉ vì con nai kia khát nước... Một hữu tình cũng như thế, khát ái trong tâm đã khởi tưởng và ngoại sắc trở thành có tướng, như con nai thấy sóng nắng lầm tưởng là nước và mải miết chạy theo đến chết, rồi cuối cùng không biết mình đã chết vì lý do gì...
Nếu con nai biết đó là ánh nắng và dừng lại, thì thật tốt đẹp phải không các bạn!...
Vì sao nói rằng Lưu Chú thức cho ra hoang tưởng điên dại?
Thưa các vị!... Nơi bản nhiên thanh tịnh, đột nhiên bất giác khởi lên, nội sắc thành lập... Vị chúng sanh này ngồi lâu, sanh ra buồn chán, nghĩ rằng: “Ta là thế này, ta phải như thế này. Thế giới thế kia, ta phải như thế kia”.
Giống như một người điên, đang đi trong thành phố lại nghĩ tưởng rằng mình đang là vị tướng tài ba thời Trung Cổ... Các vị vẫn thường thấy một người điên, đi giữa thành phố mà tay chân múa may, miệng gào thét ba quân tiến lên... Nếu người kia không điên thì cái hiện hữu trước mắt là thành phố an lành hay chiến trường thời Trung Cổ!...
Trong pháp giới chư Phật, trong pháp giới thanh tịnh... tuyệt nhiên hoàn toàn vắng lặng... Nhất định ở đây không có hai món điên đảo này... Vì thế kinh có nói rằng: “Như Lai là như tánh thấy kia mà thấy, như tánh biết kia mà biết...” có nghĩa mọi thấy biết điên đảo không còn hiện khởi... Một khi điên đảo chấm dứt thì pháp giới tự nó thanh tịnh...
Mà này, thưa các bằng hữu!... Làm sao thoát khỏi hai món điên đảo này, làm sao dừng Tướng thức và đoạn tuyệt hẳn Lưu Chú thức? Các bạn!... Đây là lý do vì sao tôi lại nói nhiều đến Tứ Đế và không ngừng nhắc đến Tập Đế và Diệt Đế...
Bây giờ chúng ta quay trở lại câu nói từ đầu: “Giác là đế của Tập và Ngộ là Đế của Diệt”.
Thế nào Giác là Đế của Tập? Như tôi đã nói, thuốc Giác chữa bệnh Tập... Nếu không có Giác, không biết lấy gì để điều trị lành cái thấy đảo lộn... Chữa cái thấy đảo lộn là chữa như thế nào? Chữa cái thấy đảo lộn là chữa ngay tại chủ thể sinh ra cái đảo lộn, tức trả các căn trở về với nguyên minh của nó. Cụ thể hơn, bắt nhãn căn làm đúng chức năng của nhãn căn, chứ không phải nhãn căn làm công việc của nhãn thức... Năm căn thân cũng đồng như vậy. Nếu làm được như vậy thì trong tự điển của chúng ta vĩnh viễn không còn cụm từ “Tiền Ngũ Thức...” mà chỉ thuần túy là ngũ căn... nói văn hoa là Thành Sở Tác Trí... Tóm lại Giác chính là công cụ hữu hiệu tiêu diệt Tướng Thức...
Thế nào Ngộ là Đế của Diệt? Tướng thức đã diệt, nhưng Lưu Chú thức hãy còn âm thầm chảy trong lòng các bạn. Diệt Đế chính là công cụ hữu hiệu để đoạn trừ tận gốc Lưu Chú thức. Muốn làm được điều này, chỉ có cách duy nhất là bạn hãy đốt ngọn đèn Ngộ lên để thấy rõ Bất Động Tâm... Bất Động Tâm chính là kết quả của một thứ tâm Vô Sanh Pháp...
Vô Sanh pháp hay Bất Động tâm gọi chung là Diệt Đế... Nó giống như một hồ nước tinh khiết, không bị gió cảnh thổi, cũng không bị các chấn động địa tầng làm chao đảo... Nó hoàn toàn Bất Động và trong sạch... Nó chính là hồ nước bát công đức của các cõi Phật... Bất động tâm chính là thứ tâm không còn hệ phược bởi ý căn.
Ý căn không mê mờ nội pháp, người ta nói văn hoa là Diệu Quan Sát Trí... Ha ha!...
Tâm và Trí bây giờ là hai món nhưng mà... bất nhị!... Cái này còn thì cái kia còn, cái này mất thì cái kia... tiêu!...
Điều này khiến tôi nhớ lại Lục Tổ Huệ Năng có nói mấy câu thú vị mà thâm u. Đó là: “Tâm như đất, tánh như vua. Đất còn vua ở, đất mất vua đi”.
Bất động tâm còn, thì trí tánh vô lậu còn, bất động tâm mất thì trí tánh... đi chỗ khác chơi... nhường chỗ cho bọn ác đảo điên làm giặc... Phàm phu mất đất nên chẳng có Pháp Vương!...
Các bạn!... Bất Động tâm hay Diệt Đế chính là ngôi nhà Như Lai... Ngôi nhà này không có gì cả, có chăng ở đó chỉ có hương vị của bốn đức Từ Bi Hỷ Xả...
Ở trong ngôi nhà này, người có trí âm thầm quan sát và thấy rằng: Chúng sanh vô trí kia, chỉ vì khát ái tham dục... mà đành đoạn xa lìa mái ấm này, như gã cùng tử từ bỏ cha mình là ông trưởng giả đi làm thuê làm mướn kiếm sống qua ngày... ham vui nơi nghèo đói...
Bấy giờ người có trí, khởi tâm từ, đành lột chiếc áo cao quý xuống, bận chiếc áo hôi nhơ đồng sự với gã cùng tử, quyết dùng phương tiện dắt nó trở về mái nhà an ổn này... Vì thế mới nói rằng: “Một khi thấu suốt nguyên lý bốn đế, và thân chứng về nó, các bạn sẽ có một đời sống an bình sau đó mới có thể làm lợi mình lợi người”.
Các bạn!... Các bạn đã đọc kinh Diệu Pháp Liên Hoa rồi chứ? Nếu đã đọc, các bạn sẽ thấy phẩm Pháp Sư, Đức Phật có nói rất rõ rằng:
“Một Pháp Sư, phải hội đủ ba yếu tố, đó là:
Vào nhà Phật, mặc áo Phật và ngồi tòa Phật”.
Vào nhà Phật chính là vào ngôi nhà ngoài bốn thứ Từ Bi Hỷ Xả chẳng thấy thêm món gì.
Mặc áo Phật chính là thành tựu các Ba La Mật mới đủ sức kham nhẫn mà đồng sự với gã cùng tử.
Ngồi tòa Phật chính là chiếc tòa rỗng không, không pháp. Chỉ có chiếc tòa này mới có thể phát sinh vô lượng pháp lành...
Tứ Diệu Đế có rất nhiều tầng nghĩa... tầng nghĩa của thế gian, tầng nghĩa xuất thế gian, tầng nghĩa Nhất thừa và tầng nghĩa của chư Phật...
Nếu vị nào đã đọc Hoa Nghiêm kinh thì chắc rằng sẽ không ngạc nhiên điều này khi nghe ngài Văn Thù Sư Lợi tuyên nói về bốn đế... Giống như bốn biển lớn trong thiên hạ, mỗi Đại hải có một nét đặc trưng của nó... tuy rằng đồng vị mặn, nhưng rất khác nhau về độ sâu và màu sắc... Thì Tứ Đế đối với mọi người ở giai đoạn này cũng như vậy. Trong chừng mực nào đó, lúc này cái chúng ta cần khảo sát về Tứ Đế là những gì thiết thân liên quan đời sống tu hành trong hiện tại...
Nếu có duyên lành, chúng ta sẽ khảo sát những tầng nghĩa còn lại... Tầng nghĩa xuất thế đang chờ đón các bạn... Diệt Đế trong chừng mực này là xuất thế gian... Đạo Đế trong chừng mực này là Vô Lậu Trí...
Có xuất thế mới nhập thế... Kinh dạy: “Bồ Tát xưa ở cõi Phật Vô Động thác sanh xuống cõi này...”, câu nói này chẳng phải vô cớ... Có xuất mới có nhập, có ra khỏi pháp giới chúng sanh mới có chuyện quay trở về quê cũ…
Đừng hoang tưởng chuyện chưa đi mà đòi trở lại... Hãy thể nhập nghĩa Như, để rành rõ căn nhà chư Phật. Một khi thông thuộc “đường đi nước bước” mới có những hiểu biết nhất định; Lai dắt chúng sanh trở lại chốn an bình...
(còn nữa)
Tứ Diệu Đế. Thế Gian Pháp. Xuất Thế Gian Pháp. Rốt Ráo Không

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ

Sau tuần trà... Như Tánh lên tiếng:
Thưa Lão Sư!... Thưa huynh đệ!... Sau khi nghe Lão Sư khai triển ý nghĩa Tứ Đế, trong lòng đồ đệ đứng lặng...
Nhưng những gì đã diễn ra, các cảnh giới vụt qua quá mau, nhường chỗ cho cái vắng lặng tuyệt đối... Bây giờ đồ đệ mới nghiệm ra, ý nghĩa văn tự mà Lão Sư đã đề cập. Tuy đồ đệ như con ong, chỉ hút cái tinh túy bất động... Nhưng về mặt từ ngữ và phân tích ý nghĩa thì đồ đệ cảm thấy còn có gì đó chưa thông...
Xin Lão Sư một lần nữa cắt nghĩa cho đồ đệ hiểu: Thế nào là thế gian pháp, thế nào là xuất thế gian pháp, thế nào Giác là Đế của Tập, thế nào Ngộ là Đế của Diệt... và thế nào là rốt ráo Không?
Lý Tứ nói:
Các huynh đệ!... Đây là chuyện đương nhiên... Như con ong chỉ hút lấy tinh túy của hoa đó là mật, còn bông hoa thì để lại chẳng nên làm tổn thương... Nhưng thưa các huynh đệ!... Tuy hút lấy cái tinh túy, nhưng con ong kia cũng phải biết rõ hình tướng các loài hoa và hoa nào cho nhiều mật, cũng như con ong cần biết thời khắc hoa nở... Vì thế, sau khi hút cái tinh túy bất động, các vị cũng phải cần biết rõ ý nghĩa của ngữ ngôn văn tự, như con ong xác định các loài hoa...
Thưa các bằng hữu!... Bốn đế gồm: Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế và Đạo Đế... Khổ là những gì các vị đã thân chứng trước khi giác ngộ, nay tôi không đề cập đến. Cái chúng ta cần hiểu ở đây là Tập và Diệt, vì sao như vậy? Vì rằng có biết Tập mới chứng Diệt, có Giác mới có Ngộ, cũng như có đèn mới thấy được màu sắc...
Tập Đế là gì? Tập là nói chung những nguyên nhân nào làm cho một hữu tình bị khổ đau phiền não, bị sanh diệt cuốn trôi... Có thể hiểu Tập bao gồm những thứ có năng lực trói buộc và làm mê mờ một chúng sanh... Những thứ đó Đại loại là: Tập nhân, Kiết sử, Ba duyên hòa hiệp, Mê lầm các pháp...
Cũng có thể hiểu Tập chính là Vô Minh... Vì sao như vậy? Cũng như trong bóng tối, người ta lầm sợi dây thành con rắn, sự lầm nhận khiến đau khổ hãi sợ này chính là Tập... Cho nên trước đây tôi có nói “Tập thuộc về thế gian”... Và sau đó cũng có nói:
⁕Giác là Đế của Tập... Điều này có ý nghĩa như thế nào? Tập giống như bóng tối, vì bởi trong bóng tối nên người ta lầm nhận sợi dây thành con rắn... Muốn dứt bóng tối này, người trí nên làm gì? Người có trí chỉ nên đốt ngọn đèn lên, một khi hết tối, mọi lầm nhận sẽ chấm dứt... Giác chính là ngọn đèn được đốt lên để xua tan bóng đêm vô minh...
Muốn thoát khỏi bóng tối của Tập, người ta phải đốt ngọn đèn Giác... Muốn dứt vô minh, người tu hành phải có Minh... Minh này chính là Giác, cho nên nói Giác là Đế của Tập, có nghĩa có đèn lập tức hết tối... Vô minh thuộc về thế gian nên Minh giác cũng thuộc về thế pháp... Mà thế gian là vô thường, cho nên giác kia cũng vô thường.
Kinh dạy: “Các pháp làm ra đều vô thường”. Kinh cũng dạy: “Lấy pháp huyễn để diệt huyễn tâm”...
Sau khi giác, như hang động kia đã được thắp sáng bởi ngọn đèn trí huệ. Bây giờ người có mắt, có trí mới tiến gần lại, nhướng mắt nhìn thật kỹ... Con mắt cộng với ánh sáng, vị này phát hiện ra rằng: “Con rắn trước kia ta đã thấy, thật sự nó chỉ là sợi dây...”
Một khi đã thấy nguyên hình sợi dây, người này không còn sợ hãi, không còn lo nghĩ, và người này cũng tự biết rằng: “Có đèn hay không đèn, sợi dây vẫn chỉ là sợi dây... từ trước đến giờ chỉ là sợi dây”... Cái hết sợ, cái không toan tính, cái chẳng cần đối phó với con rắn hư vọng kia... gọi là Bất Động... Thấy rõ sợi dây gọi là Ngộ, hết mọi lo toan nghĩ ngợi gọi là Diệt... Vì thế nên nói:
⁕ Ngộ là Đế của Diệt...
Nhưng vì sao lại nói Diệt Đế và Đạo Đế thuộc về xuất thế gian? Thấy con rắn là cái thấy của bóng tối, cái thấy của mê mờ hư vọng nên nó thuộc thế gian. Thấy sợi dây chính là cái thấy sáng suốt, không bị mờ tối, thấy như thật... nên gọi là xuất thế pháp...
Khi thấy được sự thật này, vị tu hành kia mới hoát nhiên hiểu ra, thiệt chỉ vì lầm tưởng sợi dây là con rắn, nên mới có Khổ có Tập và mong rằng có Diệt có Đạo để được an ổn...
Nhưng khi biết được sự thật này, bây giờ vị này tự cười mình rằng: “Thiệt chẳng có gì là Khổ, Tập, Diệt, Đạo... Đã là sợi dây thì chẳng đợi có ánh sáng hay không ánh sáng, sợi dây từ xưa đến giờ chỉ là sợi dây... Vì thế kinh dạy: “Vô vô minh, diệc vô vô minh tận... Vô Khổ Tập Diệt Đạo... Vô trí diệc vô đắc...“
Có nghĩa rằng: Đã thấy biết đó thật là sợi dây thì chẳng cầu ánh sáng, chẳng cầu diệt tối, chẳng có sợ hãi và cũng chẳng làm cho hết sợ hãi, cũng chẳng phải trí ngu gì mới hóa kiếp sợi dây, cũng chẳng thể có sự thành tựu nào biến con rắn trở lại sợi dây...”
Sự tình này chỉ có thể xảy ra đối với người thấy được thật nghĩa của Diệt Đế như thấy rõ sợi dây. Bây giờ vị tu hành này mới thật giải thoát hết mọi thứ sợ hãi. Vì thoát khỏi mọi thứ sợ hãi nên trong lòng an vui bất động... Cho nên kinh có dạy:
“Những ai còn tư niệm, tư lường, thầm ý... đây là cảnh sở duyên cho thức an trú, thức an trú thức tăng trưởng, thức tăng trưởng thức chọn lựa...”; Và kinh cũng dạy: “Thức nuôi lớn nghiệp, nghiệp là thai tàng của chúng sanh...”!...
Tóm lại có Mê thì phải nhờ Giác, muốn thấy rõ Diệt phải nhờ đến Ngộ... Chánh Giác sẽ đưa đến Giải Thoát, Liễu Ngộ sẽ cho ra Bất Động. Giải Thoát Bất Động chính là vạch xuất phát, chính là bước khởi đầu hoàn hảo để vị tu hành này đặt một chân trên con đường Phật Đạo gọi là Đạo Đế. Vì thế Diệt Đế và Đạo Đế thuộc về xuất thế gian...
Thưa các vị!... Bây giờ tôi xin nói đến nghĩa không!...
Phật Đạo chính là rốt ráo không, rốt ráo không là nghĩa Vô Vi... Như có lần tôi đã nói: “Vô Vi như sừng thỏ, như lông rùa...” có nghĩa Vô Vi hay Không trong Phật Đạo chỉ có danh tự mà không có thật thể... Không thật thể nên nó là Vô Tướng... Không thật thể nên tự Không Tánh… Vì thế kinh dạy: “Nghĩa không không thể dùng phương tiện đến được”.
Điều này có nghĩa “Vô Vi” hay “Không”, không phải pháp làm ra, cái gì được làm ra, cái đó chẳng không... Vị nào đem tâm đi tìm cái không chẳng khác đi tìm sừng thỏ lông rùa...
Tuy rốt ráo của không là như vậy, nhưng vì Từ Bi, chư Thánh cũng có khi nói đến: “Mười tám pháp không”. Mười tám pháp không đã được nói lên chính là giản trạch nghĩa không trên ý nghĩa thế gian để người tu hành khỏi lầm nhận.
Ví dụ như một hạt đậu nhỏ trong đống thóc lớn, bảo rằng thóc kia không đậu, nghĩa không này không sai nhưng chưa rốt ráo... Ví dụ như công viên chỉ có hoa mà không có trâu ngựa, không có trâu ngựa cũng gọi là không, nhưng chẳng phải không hoa... Tóm lại, chư Thánh giản trạch mười tám pháp không để chỉ ra rằng: “Nghĩa thật không... tự nó là không... chứ chẳng phải nhân nơi đối đãi, biện luận thấy được Không, Vô Vi...”
Thưa các vị!... Nghĩa không trong Phật Đạo chính là Diệt Đế, Diệt Đế là nghĩa Niết Bàn, nên Phật dạy:
“Niết Bàn là Vô Vi...”, có nghĩa Niết Bàn, Không, Vô Vi... là Thánh Pháp. Nó là sự tuyệt nhiên rốt ráo vắng lặng trong một tâm thức đã trải qua Chánh Giác... Vô Vi, Niết Bàn, Không... chính là sợi dây... chứ chẳng phải “con rắn”.
Các vị!... Tôi đã nói ý nghĩa của những điều huynh Như Tánh đã hỏi... Trong các vị, có vị nào chưa thông? Có vị nào như con ong còn mù mờ về hình tướng các loài hoa... Còn mù mờ thì ngay bây giờ có thể nêu lên... Một khi biết rõ các loài hoa và tính chất của nó, con ong tuyệt nhiên không nhầm lẫn, không thể bay đi mà không đem mật trở về...
- Như Tánh!... Huynh hiểu như thế nào về những điều tôi đã trình bày?
Thưa Lão Sư!... Lão Sư đã xóa sạch tánh tướng trong lòng đồ đệ!...
- Sạch tánh tướng thì còn lại gì?
Thưa Lão Sư!... Người xưa có nói: “Con vẫn thường tự biết, lời nói không đến được”. Nay đồ đệ có nói cũng chỉ nói như vậy!...
Lý Tứ tiếp:
Thưa các huynh đệ!... Nơi bản chân thì không “lý”... Nhưng do vì sức Từ Bi, chư Thánh bèn tuyên nói chân lý... Nơi chân mà có lý, lý kia chỉ vì người mê... Giống như có người bệnh, mới có thầy thuốc, và có thuốc...
“Lý” ở đây là gì? Đó là nơi không Đế hóa hiện bốn Đế... Hóa hiện bốn đế để kẻ mê kia dứt mê, chợt nhận ra: “Đã chân thì không lý”... Vô Khổ, Tập, Diệt, Đạo, vô trí diệc vô đắc... Nhưng Từ Bi thì chẳng mất... Ha ha!...
Vì thế đã Như mà sao lại có nghĩa Lai? Đã đứng sao lại nói đi? Như Lai chính là Từ Bi vậy!... Ha ha ha ha!...
Ha ha!... Lý Tứ hay Lý Ngũ đây!...
Ngũ Tứ đồng bản chân,
Tột chân không có lý.
Sức Từ Bi hóa hiện,
Vì Khổ nên nói Diệt…!...
(còn nữa)
Tứ Diệu Đế. Giác & Ngộ. Giải Thoát Bất Động

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ
Buổi chiều... quyết tâm đào sâu ý nghĩa Tứ Đế... Lý Tứ lại nói:
Thưa các huynh đệ!...
Diệt Đế và Đạo Đế chính là Thánh Pháp. Thánh Pháp này chỉ hiện hữu cho những ai biết từ bỏ con thuyền đã đưa mình sang sông mà đi lên bờ. Tức là từ bỏ kiến giải, từ bỏ những gì đã giác.
Vì rằng Diệt Đế là pháp bất cộng. Diệt Đế không phải pháp làm ra hay suy luận. Diệt Đế chính là sự vượt thoát cuối cùng của người đã lên đỉnh cao nhất của ngọn núi ba cõi... Hãy cố sức thoát khỏi sự níu kéo của ngọn núi kia đang trì kéo đôi chân của bạn...
Các bạn!... Cái gì đang trì kéo, cái gì các bạn đang mang vác trên vai của mình, cái gì là gánh nặng cần phải bỏ xuống... Các bạn!...
Đó là thức, đó là tự ngã, đó là chủ thể sản sinh ra nhận thức, đó là chủ thể gìn giữ giác này... Những thứ này đã và đang dẫn dắt các bạn tiếp tục vòng vo quay cuồng trong ba cõi...
Giống như người sang sông, đã đến bờ bên kia, nhưng vị này thương tiếc chiếc thuyền đã giúp mình từ bờ này sang bờ kia. Chính tiếc thương này, vị tu hành không dám từ bỏ, không nỡ lòng từ bỏ, cố mang theo, cố vác chiếc thuyền kia trên đôi vai, mong rằng đây là sự trả ơn thù thắng...
Thưa các bằng hữu!... Hiểu như thế, quan niệm như thế chính là trói cột cuối cùng làm trở ngại hành trình phía trước... Điều này Phật dạy A Nan: “Này A Nan!... Chớ có thương tiếc, hãy để chiếc thuyền ấy lại cho người đi sau, đừng mang vác nó theo”.
Kinh Đại Thí Dụ Lõi Cây Phật cũng căn dặn:
“Này các Thiện Nam Tử!... Thật bất hạnh cho những ai, lấy tri kiến làm chỗ nương tựa, coi tri kiến có được là hiểu biết tối thượng cần phải gìn giữ... Ta nói như người đi tìm lõi cây, người này chỉ lấy được giác cây... Này các Thiện Nam Tử!... Giải thoát bất động chính là mục tiêu tối thượng cần phải đạt tới của một Sa Môn, Bà La Môn... Như người đi tìm lõi cây, người này đã lấy đúng lõi cây, cái cần tìm đã tìm được, cái cần thấy nay đã thấy, cái cần gặp nay đã gặp”.
Chính những nguyên nhân này, chính những lý do này, hồi sáng tôi có nói với các bạn một câu, không biết các bạn còn nhớ hay đã quên... Không sao, tôi xin lặp lại câu này:
“Giác là Đế của Tập, và Ngộ là Đế của Diệt”.
Các bạn!... Vì sao tôi lại nói như vậy!... Đó chính là ý nghĩa của thế gian và xuất thế gian trong giáo pháp... Nương nơi sức giác, các bạn chỉ có thể ngăn chặn nhiễm ô của Tập, giống như người dùng phèn lóng trong nước, khi nào quên bỏ phèn, thì lại uống phải nước đục... Vì thế Giác chỉ có năng lực đưa một người đến bờ mé cuối cùng của thế gian, tức là cho dù có một chút thanh tịnh do sức giác làm nên cũng chẳng thể ra khỏi ba cõi. Như người leo lên đỉnh núi, toàn thân đã ở trong hư không, nhưng da bàn chân vẫn còn dính chặt vào đỉnh núi... Nếu vị tu hành này tiếp tục bước đi, nhất định sẽ đi trở về chân núi. Nếu vị này bằng lòng ở lại nơi đây thì vị này sẽ là người của ngọn núi... Đây cũng là lý do vì sao tôi nói, Khổ Đế và Tập Đế thuộc về thế gian...
Bằng lời lẽ của mình Phật cũng minh định rằng: “Đó là Đại bất hạnh của một Thiện Nam Tử đi tìm lõi cây, mà lại mang về giác cây”.
Các vị!... Diệt Đế và Đạo Đế thuộc về thánh pháp, tức hai đế này vượt ra khỏi phạm vi của suy hiểu, vượt ra khỏi giới hạn của biện luận... kinh gọi là: “Bất khả tư nghì, bất khả lý giải, bất khả thuyết”.
Vô lượng thứ bất khả như thế... Vì sao lại nhiều bất khả như thế?... Vì Niết Bàn, Diệt Đế là Vô Vi chứ chẳng phải Hữu Vi...
Vô Vi là gì? Nó như sừng thỏ, nó như lông rùa... chỉ có danh xưng mà không có tự thể... Kẻ nào khi nghe nói hai thứ này, cố đi tìm sừng thỏ lông rùa, giống như người trông ngóng chuyện làm giàu trong mơ...
Như vậy, Thưa các bạn!... Đã không có tự thể thì tìm kiếm nơi nào và bằng cách gì? Đúng, đây là một nan đề... Nếu chúng ta cố tìm, cố xem, cố kiếm, cố hết sức muốn biết nó ở đâu và đón nhận bằng cách nào... Thì xin thưa với các vị... suy nghĩ này, việc làm này chỉ thêm xa rời ý nghĩa Diệt Đế... Mà Diệt Đế chưa thấy chưa biết, thì đừng mong có được Đạo Đế để giữ gìn...
Giống như con mắt, thấy tất cả vạn hữu, nhưng con mắt sẽ không thấy chính nó... Giống như chiếc gương sáng, tự thân không ảnh, nhưng nếu cố chứng minh gương kia không ảnh, lập tức gương sẽ có ảnh... Diệt Đế cũng như vậy, nó là chỗ bổn lai tự diệt, sở dĩ tự diệt vì chưa từng sanh. Nếu đem cái sanh để tìm kiếm cái diệt, thì cái diệt này chính là sanh vậy... Điều này được Lục Tổ Huệ Năng minh họa bằng bốn câu kệ nổi tiếng của mình:
“Bồ Đề bổn vô thọ,
Minh kính diệc phi đài,
Bổn lai vô nhất vật,
Hà xứ nhá trần ai”
Như vậy tóm lại Diệt Đế là gì? Nó chính là bổn tâm của các bạn, nó chính là các bạn... Nhưng vì sao các bạn không thấy? Như trước tôi đã nói... “Hồ nước đục, người có mắt sẽ không thấy đáy hồ, trời nhiều mây sẽ không thấy trăng tròn và các vì sao”. Thế thì nước hết đục, trời hết mây tại sao không thấy? Thưa các bạn!...
Chỉ vì các bạn chưa mở con mắt huệ... Vì thứ này, không thể dùng nhục nhãn hay pháp nhãn mà thấy... Nhục nhãn chỉ thấy những gì trong nghiệp quả, pháp nhãn chỉ thấy những gì của pháp đã giác... Xa lìa, từ bỏ hai con mắt này thì Huệ Nhãn tự hiện và tự thấy... Huệ nhãn chính là Vô Vi nhãn, dùng con mắt vô vi mới thấy được Niết Bàn vô vi... Huệ nhãn chính là Bất động nhãn, dùng con mắt bất động mới thấy được nguồn tâm bất động...
Điều này kinh Niết Bàn có nói đến, đây cũng là lời của chư Phật xưa: “Chư hành vô thường, thị sinh diệt pháp, sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc”.
Hãy chấm dứt tìm kiếm, hãy chấm dứt nghĩ suy, hãy chấm dứt giong ruổi của hành tâm, lập tức thấy được Diệt Đế an vui...
Các bạn!... Tính chất quan trọng của Tứ Đế, tính chất quan trọng của Diệt Đế đối với người tu hành là như thế... Xin các bạn lưu ý, xin các bạn đừng nên bỏ qua... Nếu một phen coi đây là pháp nhỏ, coi đây như căn bản của Thanh Văn thừa giống như người đời thường hiểu... thì xin thưa các bạn!... Đó là một nhầm lẫn lớn nhất... Và nhất định các bạn vẫn mãi loay hoay trên con đường tìm kiếm chân lý... Như người muốn ra khỏi ba cõi mà trước mặt là ngọn núi Tu Di sừng sững chặn ngang lối đi...
Sẽ vô phương đối với những ai coi nhẹ Tứ Diệu Đế...
Các bạn!... Trước đã nói đến Diệt Đế... Nay tôi xin nói đến đạo Đế...
Thưa các bạn!... Kinh dạy: “Đạo Đế[1] là độc đạo, an ổn và bất tử”. Vì sao kinh nói như thế?... Các bạn!...
Đạo Đế, chính là hệ quả tất yếu của Diệt Đế... Có chứng ngộ Diệt Đế, mới biết thế nào là Đạo Đế... Giống như người giàu sang, mới biết thế nào là giàu sang, người giàu sang mới biết thế nào là cuộc sống sang giàu...
Chẳng phải vô cớ mà kinh Pháp Hoa đề cập đến câu chuyện “Gã Cùng Tử”. Thì cũng vậy, các thừa sau khi đã chứng quả của thừa mình bằng điểm nhấn Diệt Đế, bây giờ là lúc các vị thánh đó “bảo vệ thành quả” và “con đường phải đi”. Bảo vệ thành quả chính là “Đạo”, con đường một vị thánh phải đi gọi là “Đạo”...
Đạo Đế có Thanh Văn Đạo, Duyên Giác Đạo, Bồ Tát Đạo, Nhất Thừa Đạo và có Phật Đạo... Giống như giai cấp trung lưu có đời sống trung lưu, triệu phú có đời sống triệu phú, quý tộc có đời sống quý tộc và vương triều có đời sống vương triều... Đạo Đế của mỗi thừa chính là đời sống và sự tiếp nối vươn lên của chính thừa đó bằng bước khởi đầu được công nhận của quả chứng... đó là Diệt Đế... Ví như một người chính thức được sanh ra trong dòng giống của mình... Vì thế Đạo Đế chính là định hướng, là con đường, là nếp sống, là tư duy, là nghĩ suy, là ứng xử... bắt buộc trong một mực thước nhất định của một dòng giống nhất định, nên kinh nói là “Độc đạo...”
Đạo Đế, chính là văn hóa vô lậu của một cộng đồng, cho nên thành viên của cộng đồng đó sẽ có cách nhìn, cách nghĩ suy một sự việc theo chuẩn mực của cộng đồng...
Điều này có ý nghĩa gì trong Phật Đạo? Giống như tám con sông đồng chảy về Đại hải... Mỗi con sông có một dòng chảy riêng, có một nguồn nước riêng, có một lưu lượng riêng... Chừng nào những con sông này chảy vào biển cả, thì chừng ấy “cái riêng” của con sông này mới mất đi. Mất cả tên gọi lẫn tính chất rất riêng của nó...
Những con sông này đến một điểm nào đó, đồng hòa nhập vào một dòng... đó là “Nhất Thừa Đạo”... Nhất thừa đạo chưa hoàn toàn là Phật Đạo nhưng chí ít nó không còn cái riêng của từng con sông riêng lẻ... Vì thế, Nhất thừa đạo là Đạo Đế, là dòng chảy cuối cùng trước khi hòa vào Phật Đạo đó là Biển Đại Giác...
Thưa các vị!... Tôi đã khái quát ý nghĩa của Đạo Đế. Đây cũng chỉ là những khái niệm đầu tiên về Đạo Đế, bởi lẽ Đạo Đế là “Độc đạo, an ổn và bất tử”. nên các vị chớ có nên nhầm lẫn. Nhầm lẫn đáng tiếc nào đó sẽ là bài toán khó sau này khi tiến vào dòng chảy chung Nhất Thiết Trí...
Vì sao? Nếu con sông nào đó bỗng dưng lệch dòng, có nghĩa không chảy theo quy luật, thì dòng sông đó chẳng thể tiến về biển cả...
Các vị!... Những điều tôi đã nói, xin các vị ghi nhớ... Trong các vị còn có ai chưa thấu hiểu về Tứ Đế, hãy nêu lên... Mọi thắc mắc của các vị sẽ được cùng nhau chia sẻ vì lợi ích chung...
Xin mời các vị!... Nói đến đây, Lý Tứ đảo mắt nhìn một lượt mọi người... Tất cả đồng im lặng...
*****************
Tất cả im lặng... Một hồi lâu, Như Lực đứng lên hướng về phía Lý Tứ lên tiếng:
Thưa Lão Sư!... Lão Sư có đề cập đến “Giải Thoát Bất Động”, Tiểu nữ chiêm nghiệm tâm này, chỉ có tịch diệt. Như vậy vì sao kinh không nói đến tịch diệt mà lại nói đến giải thoát bất động... Và Lão Sư cũng đề cập đến sự việc này.
Thưa Lão Sư!... Theo chỗ thấy biết của tiểu nữ là nguồn tâm đang tịch diệt, nhân nơi tịch diệt gọi là bất động. Như vậy giải thoát bất động có khác ý nghĩa tịch diệt do tiểu nữ đã chứng nghiệm hay không? Hay còn ý nghĩa gì khác? Xin Lão Sư giảng giải cho tiểu nữ và mọi người ở đây đồng thấu suốt...
Lý Tứ nhìn mọi người rồi thong thả nói:
- Cô Nương!... Cô Nương bảo rằng nguồn tâm của Cô Nương đang tịch diệt, do đâu mà Cô Nương có được tịch diệt này?
Thưa Lão Sư!... Tiểu nữ nhân nghe nói đến “Giác là Đế của Tập và Ngộ là Đế của Diệt”. Tiểu nữ hướng tâm mình đến vắng lặng, không giác không quán nên tâm được tịch diệt...
- Cái không giác không quán Cô Nương vừa nói đó, hiện nay có còn hiện khởi trong tâm Cô Nương không?
Thưa Lão Sư!... Tuy rằng không hiện khởi, nhưng âm hưởng của nó vẫn còn để tiểu nữ có thể nhận biết mình đang không giác không quán...
- Cô Nương có thể tạm quên âm hưởng này để rốt ráo tịch diệt được không?
Như Lực chiêm nghiệm một hồi lâu rồi nói:
Thưa Lão Sư!... Con hiểu ý nghĩa này rồi ạ!...
- Khi hiểu ý nghĩa tôi vừa nói, Cô Nương thấy cái gì?
Đúng!... Giải thoát bất động mới là cứu cánh rốt ráo của Diệt Đế. Đây chính là lõi cây, và chính lõi cây này sẽ làm nên việc của lõi cây...
Lý Tứ khen Như Lực:
- Cô Nương đúng là Như Lực, vì Như Lực nên Như Tác, vì Như Tác nên Như Nguyện, vì Như Nguyện nên Như Tướng, vì Như Tướng nên rốt ráo tịch diệt, rốt ráo tịch diệt gọi là không... Không này chính là Giải Thoát Bất Động, đây là lõi cây Diệt Đế mà người tu hành cần tìm... Lý Tứ lại nói tiếp:
- Thưa các bằng hữu!... Các bằng hữu có bao giờ nghe nói đến “Tâm, Ý, Ý thức” chưa?
Mọi người im lặng, Lý Tứ lại tiếp:
- Nếu cụm từ “Tâm, Ý, Ý thức” chúng ta đảo lộn vị trí của nó theo trình tự sau: “Ý thức, Ý, Tâm...” Các vị sẽ dễ hiểu vấn đề hơn...
Tôi xin cụ thể hóa tiến trình sinh tâm của một hữu tình bằng sự đảo lộn này:
Ý thức cho ra hư vọng tâm.
Nếu dừng thức, Ý căn hoàn toàn độc lập, không bị chi phối bởi thức nghiệp. Nghiệp không hiện hành thì hư dối tâm sẽ không hiện.
Hư dối tâm không hiện, tịch diệt tâm sẽ hiện...
Tịch diệt tâm đã hiện, nhưng giác biết vẫn chưa quên nên tâm này chưa bất động, ý này chưa giải thoát...
Vì sao có sự tình như vậy?
Thưa các vị!... Chỉ vì tập khí sinh ngã vẫn còn, tập khí nhận biết vẫn còn, tập khí chứng minh vẫn còn, tập khí sinh pháp vẫn còn... Như người soi gương cố tìm gương không cảnh... Sự tình này chẳng thể xảy ra...
Tập khí này trói buộc Ý, như con trâu tự biết đường về, con trâu sẽ chẳng được tự tại...
Cái này Lục Tổ gọi là: “Con trâu tiếc cái đuôi”...
Vì thế, người tu hành phải từ bỏ cái cuối cùng là: “Một sự thành tựu nào đó từ chân lý do ý cảm nhận được”. Từ bỏ khái niệm cuối cùng về “sự thành tựu nào đó” hiện tại vẫn còn lẩn khuất đâu đó trong Ý, từ bỏ này gọi là giải thoát...
Đoạn kinh sau mô tả rõ sự từ bỏ cuối cùng này: “Như vậy, này Bà-la-môn, phạm hạnh này không phải vì lợi ích, lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng, không phải vì lợi ích thành tựu giới đức, không phải vì lợi ích thành tựu Thiền định, không phải vì lợi ích tri kiến. Và này Bà-la-môn, tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây của phạm hạnh, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh”.
Các bạn thấy đấy, đoạn kinh trên nói nhiều đến khái niệm “không phải vì...”, và đoạn kinh cũng không nói rằng: “Phạm hạnh này không phải vì lợi ích giải thoát bất động...” mà đoạn kinh chỉ nói đến: “... Tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này”. Điều này nói lên ý nghĩa gì?...
Đừng dùng Ý soi vào tâm để thấy “lợi ích” của tịch diệt, đừng để Ý bị cột trói bởi một khái niệm nào hết...
Giải thoát Ý ra khỏi mọi quan niệm, thoát ly hẳn mọi khái niệm quen thuộc phát sinh từ nơi Ý căn... Chính sự quên đi, thoát ly triệt để khỏi mọi ràng buộc gọi là giải thoát, chính giải thoát này sẽ cho ra một nguồn tâm thật sự bất động...
Vì thế “Giải Thoát Bất Động”, chính là mục tiêu cuối cùng cần tìm, chứ không phải là tịch diệt nguồn tâm như ý nghĩa Cô Nương đã hiểu trước đây...
Các vị!... Như vậy ta có thể hiểu ý nghĩa của giải thoát bất động như sau:
Giải thoát: Thoát ly khỏi mọi nhận thức của ý căn đang hiện khởi...
Bất động: Tâm này chẳng phải sản phẩm của ý sanh...
Nếu chỉ giải thoát ra khỏi mọi nghĩ suy do thức tưởng trong chừng mực nào đó, thì giải thoát này giống như sự lầm nhận về “Niết Bàn Phi Tưởng Phi Phi Tưởng” của ngoại đạo... Vì thế tâm chỉ tạm thời tịch diệt mà chưa rốt ráo bất động...
Bao giờ hoát nhiên thấy được: “Tâm này bản lai bất động, ý này bản lai vô sanh”... thì chừng đó mới gọi là “rốt ráo tịch diệt” hay còn gọi là “Giải Thoát Bất Động”.
Nếu Ý chỉ giải thoát mà Tâm chưa bất động, gọi là “Vô Sanh Nhẫn”.
Nếu Ý giải thoát hoàn toàn, Tâm bất động không sanh pháp, gọi là “Vô Sanh Pháp Nhẫn”...
Điều này kinh Kim Cang có dạy: “Đồng một pháp Vô Vi, mà chư Hiền Thánh thấy có sai biệt”.
Chính sai biệt này mới có hai vô ngã... Như vậy, thưa các bạn!...
Tâm và Ý có sự liên hệ nào trong một hữu tình?
Thật ra Ý chỉ là một căn như năm căn kia, nhưng vì mê lầm lâu ngày, thức chen vào ý căn và năm căn thân, chỉ đạo các căn nhận biết theo mệnh lệnh của mình, gọi là thấy biết theo nghiệp...
Do thấy biết theo nghiệp nên tâm nghiệp sanh. Tâm nghiệp sanh, bất động tâm không hiện...
Tu hành trong Phật Đạo chính là, loại thức ra khỏi các căn, thức nghiệp không hiện hữu, tâm nghiệp không hiện hữu, không hiện hữu này gọi là tịch diệt...
Từ tịch diệt này, vị tu hành hướng về nội tâm, từ đó mới nhận ra rằng tâm này bổn lai bất động, và bây giờ mới biết Tâm và Ý chẳng có mối liên hệ nào hết...
Tâm và Ý không có mối liên hệ nào hết, nên Trí xuất hiện.
Trí chính là sự nhận biết độc lập, nhận biết này không can dự đến Tâm, vì thế Tâm thường bất động…Chừng đó:
- Năm căn thân: Trở thành Thành Sở Tác Trí.
- Ý căn: Trở thành Diệu Quan Sát Trí.
- Mạt Na: Trở thành Bình Đẳng Trí.
- A Lại Da: Trở thành Đại Viên Cảnh Trí.
Vì sao có sự trở thành như vậy? Vì vị tu hành này chợt nhận ra: “Sợi dây chưa từng biến thành con rắn”... Ha ha ha ha!...
Các vị có cảm nhận gì nơi những điều tôi vừa nói hay không?
Tất cả im lặng!...
- Như Lực Cô Nương!... Cô Nương có còn thắc mắc Giải Thoát Bất Động hay không?
Thưa Lão Sư!... Tiểu nữ thấu suốt!...
- Cô thấu suốt điều gì?
Thưa Lão Sư!... Chẳng có chỗ thấu suốt nên tạm gọi là thấu suốt!...
- Sau khi thấu suốt, Cô Nương có phải Như Lực chăng?
Thưa Lão Sư!... Tiểu nữ cũng là Như Lực cũng chẳng phải Như Lực!...
- Thế thì Cô Nương là cái gì?
Thưa Lão Sư!... Thánh nói trâu, phàm cũng nói trâu... Tuy vậy, trâu thánh trắng, trâu phàm đen!...
- Ha ha ha ha!... Cô Nương đúng là Như Lực!... Nếu cũng là Như Lực, cũng chẳng phải Như Lực, thì Cô Nương nên làm gì trong lúc này mới phải đạo?
Thưa Lão Sư!... Tiểu nữ chỉ nên rót trà mời Lão Sư và các huynh đệ thưởng thức!... Rồi ngồi đó mà nghe Lão Sư giảng tiếp Hi hi hi hi...
[1] Đạo Đế (Bát chánh đạo)
(còn tiếp)
Tứ Diệu Đế. Tục Đế. Thánh Đế. Chân Đế. Thiệt Đế

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ
Ngày thứ hai trên du thuyền, tất cả quây quần trong phòng khánh tiết, cũng chiếc bàn cũ... Mọi người chuẩn bị cho ngày mới bằng buổi điểm tâm sáng... và bình hoa được thay mới...
Cũng ấm trà tỏa hương, cũng cái đỉnh được đốt trầm thơm ngát...
Như Nhân đợi mọi người yên vị, lão đứng lên, cung tay hướng về Lý Tứ lên tiếng:
Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Hôm qua sau buổi đàm đạo, Lão Sư vào phòng nghỉ, anh em đồ đệ ngồi nán lại nơi này để ôn lại những gì Lão Sư đã nói... Mọi người rất phấn khởi, cảm giác an lạc toàn thân, tâm mọi người như hồ nước lắng trong...
Có lẽ đây là lần đầu tiên trong đời của huynh đệ chúng con đón nhận cảm giác này. Lần đầu tiên được nếm mùi đạo vị thanh tịnh. Lần đầu tiên biết thế nào là hương thơm chánh pháp...
Cuộc đời của chúng con có nhiều thay đổi... Tất cả nhận ra thân này do cha mẹ sanh, nhưng tâm trí lại do Lão Sư hóa sanh... Cái khổ đã thối lui, nhường chỗ cho an lạc xuất hiện. Tuy mỗi người trong chúng con còn một ít tập khí của thân... nhưng tất cả đều hiểu, những tập khí này như áng mây phiêu lãng bay ngang bầu trời trong xanh giữa hạ. Một đám mây nhỏ, chẳng thể ảnh hưởng đến bầu trời kia... Áng mây vụt bay qua, đằng sau nó là khoảng trời xanh biếc, chẳng còn chút dấu tích của chính mình...
Thưa Lão Sư!... Chúng con nghiệm ra, an lạc này chính là Diệt Đế... Đích thị nó là Diệt Đế... Thưa Lão Sư!... Chúng con hộ trì cái an ổn đã thấy và quở trách đám mây tập khí thừa sót gọi là Đạo Đế... Đích thị nó là Đạo Đế... Thưa Lão Sư!... Chúng con đồng hiểu bốn đế như vậy, cái hiểu này đã đúng đắn chưa, đã rốt ráo chưa? Xin Lão Sư tiếp tục giáo dạy... Nói xong lão cung kính xá xá Lý Tứ...
Lý Tứ chậm rãi lên tiếng:
Thưa các bằng hữu!...
Hiểu như vậy là Tứ Đế, thấy như vậy gọi là Tứ Diệu Đế... Nhưng bảo rằng thấy biết như vậy rốt ráo Tứ Đế, xin thưa các bằng hữu thật chưa phải... Vì sao nói rằng chưa phải?
⁕ Thưa các vị!... Tứ Diệu Đế là xương sống làm nên Phật Đạo. Tứ Diệu Đế là nguyên lý hình thành ba thừa. Tứ Diệu Đế là căn bản trí tuệ của Nhất Thừa và Tứ Diệu Đế chính là Phật Đạo... Vì thế muốn rốt ráo biết được ý nghĩa đích thực của Tứ Đế, chỉ có trí tuệ chư Phật, chỉ có Đẳng Chánh Giác mới thấu đáo thiệt tướng của bốn đế, thưa các bằng hữu...
Ở đây, tôi chỉ xin đề cập ý nghĩa Tứ Đế trong phạm vi những gì mình biết được, còn rốt ráo Tứ Đế như thế nào, có lẽ chúng ta cần phải miệt mài tu tập...
Muốn hiểu biết Tứ Đế, đầu tiên chúng ta phải thấu suốt hai chữ Giác và Ngộ... Vì rằng giác ngộ trong Phật đạo có nhiều tầng bậc, nên Tứ Đế cũng có nhiều tầng bậc...
Cho nên đồng một Phật Đạo mà lại có tứ quả Thánh, có năm mươi lăm địa vị Bồ Tát, lại có Vô Thượng Bồ Đề... Vì sai biệt như thế, nên Tứ Đế được gọi với danh xưng trang trọng là Tứ Diệu Đế. Và cũng vì sự thâm u khó thấy khó biết này mà Tứ Diệu Đế sản sanh ra Tục đế, Thánh đế, Chân đế và có Thật đế...
Sự sai khác của các nghĩa trên, chính là nét chấm phá tuyệt vời trong bức tranh Phật đạo. Nó chính là điểm nhấn đánh dấu mức độ giác ngộ của từng cá nhân, của từng thừa trong Phật đạo... Trong chừng mực nào đó, giác ngộ có thể hiểu là hai giai đoạn cần có trong một người tu hành.
- Giác là cơ sở lý luận, giác chính là cơ sở dữ liệu, giác chính là những nguyên lý cơ bản, giác chính là chân lý mà người tu hành tiếp thu được từ giáo pháp... Rồi nương tựa vào đó để hàng phục tâm này. Giác có thể hiểu là công cụ, là phương tiện, là phép tắc... để biến một hữu tình nhiều phiền não đến chấm dứt phiền não, từ một chúng sanh bị cột trói đến chấm dứt ràng buộc. Hết Phiền não tạm gọi là thanh tịnh, hết trói buộc gọi là giải thoát... Giác là chất liệu làm hết nhiễm ô nguồn tâm, giống như phèn là chất liệu lắng trong nguồn nước... Nhờ có chất liệu “giác” mà nguồn tâm hết nhiễm ô, nhờ có lưỡi gươm “giác” mà hữu tình chặt đứt sợi dây cột trói..
. Thanh tịnh này, hết cột trói này sở dĩ có được là do sức giác làm nên, do sức giác huân lắng phiền não... Một khi nguồn tâm không nhiễm ô, nguồn tâm thanh tịnh, nguồn tâm không bị cột trói... Phật đạo tạm gọi là Niết Bàn, Giải Thoát...
Nhưng thứ Niết Bàn này được làm nên bởi một công cụ nào đó, cho dù công cụ này là “giác trí”, thì đối với tổng thể Phật đạo, Niết Bàn này chính là kết quả làm ra của một phương thức. Vì thế đây được coi là thứ Niết Bàn do tạo tác mà thành, cho nên nó chưa chân thiệt...
Trong kinh gọi đó là “Hóa Thành”... Hóa thành này do Hóa Phật, Hóa Bồ Tát từ bi hóa hiện để người tu hành tạm an ổn, tạm nghỉ ngơi, tạm an tâm tĩnh trí... Sau đó chuẩn bị một hành trình mới dài hơi hơn, xa hơn để đi đến một chân trời khác chơn thiệt hơn trong Phật đạo... Đó là Ngộ.
Giống như một hồ nước, giống như bầu trời đêm nhiều mây... Nếu hồ nước kia chưa trong, còn vẩn đục, thì người có mắt chẳng thể thấy rõ con sò con ốc dưới đáy hồ... Nếu bầu trời kia chưa tan mây thì người có mắt chẳng thể thấy trăng tròn và các vì sao... Giác giống như hồ nước đã trong, giác như trời đêm không mây... Ở đây người có mắt và có trí sẽ thấy tất cả những gì cần thấy... Cái cần thấy kia, nay đã được thấy gọi là Ngộ...
- Ngộ chính là sự thấy biết như thật những gì tốt lành trong một nguồn tâm không cấu nhiễm... Đó là thấy bổn lai tâm này Vô Sanh, thấy bổn lai tâm này Bất Động... Một khi đã thấy, vị tu hành này biết rõ, thấy rõ thật nghĩa Vô Sanh, thật nghĩa Bất Động... Chừng này, ý nghĩa Diệt Đế và Đạo Đế chân thật sẽ tự hiện...
Có thể dùng ví dụ sau minh họa cho hai nghĩa Giác và Ngộ.
Thưa các vị!... Giống như người ngủ mê, nằm mơ thấy mình bị giặc cướp đuổi theo sát hại, người này sợ hãi, hoảng loạn chạy trốn... Bọn cướp thì cứ đuổi theo sau. May mắn, gặp người có trí, người có trí bèn chỉ nơi ẩn nấp an toàn và người kia không bị giặc cướp sát hại... Giặc cướp đi rồi... người này vui mừng khen ngợi người kia là kẻ có trí... Đến khi giật mình tỉnh dậy thì mới biết rằng, sợ hãi và vui mừng kia cũng chỉ là giấc mơ, giặc cướp còn không có làm gì có sự trốn chạy và an vui... Bây giờ người này mới thật là vui... Kẻ trốn chạy và gặp người trí tuy được an ổn, nhưng đó là an ổn trong mơ... Giật mình thức giấc, mới thật an ổn... An ổn trong mơ dụ cho người giác, giật mình thức dậy dụ cho người ngộ... Giác và Ngộ, là hai trạng thái an vui khác nhau trong một con người giữa mê và tỉnh, thưa các vị!... Vì thế, cần phải thức giấc. Sớm thức giấc trong cơn mơ dài ba cõi mới thật an vui... Đây mới thật là Đế trong Phật đạo...
Thưa các bằng hữu!... Tôi vừa trình bày ý nghĩa của hai chữ “Giác Ngộ”. Một người có giác có ngộ, mới hiểu biết một phần của Diệt Đế và Đạo Đế... Vì thế, trong chừng mực nào đó, người tu hành có thể hiểu Giác là Đế của Tập và Ngộ là Đế của Diệt...
Thưa các vị!... Hồi nãy tôi có nói đến Tứ Đế có nhiều ý nghĩa nhiều tầng bậc nên Tứ Đế còn có tên gọi là tứ Diệu Đế...
Diệu vì bởi thiện hạnh trải qua các địa vị kia, cho nên kinh gọi cái thấy đầu tiên của Phật đạo là thiện Kiến, và cái thấy cuối cùng là Diệu quả Bồ Đề... Chính vì nghĩa “Diệu” này mà Tứ Đế có Tục Đế, Thánh Đế, Chân Đế và Thiệt Đế, Thiệt Đế còn có tên gọi khác là Chân Trí...
Tứ Diệu Đế cũng gồm có hai phần, đó là Thế Đế và Xuất Thế Đế. Thế Đế bao gồm Khổ Đế và Tập Đế. Xuất Thế Đế gồm có Diệt Đế và Đạo Đế.
Điều này có nghĩa Khổ Đế và Tập Đế người tu hành có thể suy hiểu gọi là kiến giải, còn Diệt Đế và Đạo Đế là do giác ngộ chơn thiệt mà chứng nhập... Nương nơi hai thứ này…
Tứ Diệu Đế xuất sanh Tục Đế, Thánh Đế, Chân Đế và Thiệt Đế hay còn gọi Chân trí... Bây giờ tôi xin nói rõ những món này...
Tục Đế là gì? Đó là người tu hành, do không có được chánh giác nên nương tựa vào những cái không đáng nương tựa và cho đây là chân lý. Điều này kinh dạy là, “phàm phu có khổ có tập mà không có đế”
Có nghĩa phàm phu lấy sanh lão bệnh tử khổ làm chân lý, lấy ái, lấy cầu, lấy tụ, lấy tán... làm chân lý nên không thể dứt khổ... Nói chung phàm phu nương tựa vào pháp đối đãi mà cho rằng chân lý, cho rằng đây là nơi đáng nương tựa nên chỉ có khổ có tập mà không có đế...
Thánh Đế là gì? Chính là lấy đời sống bậc thánh làm chân lý. Muốn thực hiện chân lý này phải nương tựa vào ba điều, nương tựa ba điều để yểm ly các thứ ràng buộc, hết ràng buộc gọi là giải thoát...
Đó là nương tựa nơi đồng phạm hạnh, xuất thế tục gia, từ bỏ nhà cửa, quyến thuộc, tài sản, lấy phạm hạnh làm đời sống... Đời sống này giúp người tu hành thoát khỏi trói buộc của cộng nghiệp.
Sau khi từ bỏ các thứ cần từ bỏ, vị này một lần nữa phải xuất ngũ ấm gia, tức phá bỏ căn nhà ngũ ấm. Căn nhà này đã giam nhốt chân tâm, giống như người ta phá bỏ năm lớp tường rào che khuất báu vật. Phá bỏ tường rào này, trí tuệ sẽ sáng suốt, không còn bị biệt nghiệp che chướng... bóng ma phiền não không còn bủa vây. Phá bỏ này chính là sự đập phá Phiền Não Trụ Địa...
Và cuối cùng, vị tu hành này xuất tam giới gia. Xuất tam giới gia chính là sự xác lập chánh kiến, thoát ra khỏi những quan niệm sai lầm về giải thoát và Niết Bàn... mà trước đây lầm nhận bởi những ác kiến hư vọng. Ác kiến đó là gì? Chính là lầm tưởng năm dục trưởng dưởng là Niết Bàn, là chính lầm tưởng các cảm thọ từ thân là Niết Bàn, và chính là sự lầm tưởng Phi tưởng là Niết Bàn... Thoát ra khỏi căn nhà tam giới chính là sự thoát ly vĩnh viễn Nhuận Chi Vô Minh, một phần của Vô Minh Trụ Địa... Thưa các bằng hữu!...
Chân Đế là gì? Chân đế có nghĩa thấy được chân lý không hai (bất nhị), không còn hai pháp, tâm vị này rỗng rang, như trời quang mây tạnh. Lấy chỗ không nương tựa làm nơi nương tựa...
Thấu suốt bản lai tự tịnh, tâm chẳng sinh pháp, pháp chẳng đến tâm... Một phen hoát nhiên, “vô khổ tập diệt đạo” chính là đế vậy... Từ đây, biết rằng Bất Động Tâm chính là Diệt Đế, Vô Sanh Tâm chính là Niết Bàn... Không một đế mới là chân đế... Không có một đạo mới gọi chánh đạo... Như con hương tượng, cứ thẳng một đường...
Chân trí hay Thiệt Đế là gì? Có nghĩa Bồ Tát từ Bất Động bước ra, lấy Trí làm Đế... Biết rõ bốn trí là căn bản để thành tựu mười một loại trí... Chứng nhập các Tam Muội cho đến rốt ráo...
Cũng biết rằng chư pháp “phi hữu phi vô”, tự an lập bản thân và an lập hữu tình... Dùng Thánh Huệ Nhãn xem thấy thiệt tướng như xem trái A Ma Lặc trong lòng bàn tay... Giống như trăng rằm soi sáng vạn hữu, chất vị thanh lương chính là Từ Bi Hỷ Xả... Các bằng hữu!... Tứ Diệu Đế như tôi đã trình bày, đây là chuỗi nhận thức của một hành giả tu tập. Từ sơ tu đến quả chứng, rốt ráo không lìa Tứ Đế cho nên mới nói Tứ Đế chính là xương sống, là nguyên lý làm nên Phật Đạo... Các vị!... Phải giác ngộ, giác ngộ chính là con đường duy nhất để thấu triệt ý nghĩa sâu thẳm của bốn đế... Không giác ngộ, lấy nghĩ suy để kiến giải bốn đế chính là tự làm tổn thương pháp lành và làm thương tổn chánh pháp... Ai thấu suốt Tứ Đế sẽ được gọi là thuyền bè, được gọi là đạo sư... Không thấu suốt bốn đế, chính là Khổ Đế vậy...
Hãy ngồi xuống, các vị... Chúng ta chưa đem thân tướng này yểm ly triệt để trói buộc, thì ít ra hãy tự yểm ly triệt để từ nhận thức. Làm như vậy, tu như vậy gọi là Tu Ba La Mật. Ba La Mật chính là sự tập luyện thường xuyên để tạo ra một nhận thức không bất ngờ và choáng ngợp. Đó là “Phản xạ có điều kiện”, các tình huống giả định được lặp đi lặp lại trong tâm. Chính điều này giúp hành giả tiến sâu hơn trong Phật đạo...
Các vị!... Chúng ta là những Cư Sĩ, không có Y Cà Sa che nhục thân thì hãy lấy Pháp Phục che Pháp Thân. Không có cơ hội cạo đầu như các bậc thánh, thì hãy mau mau cạo sạch kiết sử bằng các Ba La Mật...
Không có bình bát để nuôi thân thì hãy mau mau giác ngộ để lấy Vô Tâm Bát đựng thức ăn bảo toàn mạng sống...
Đao Lợi Vô Tướng Y,
Đâu Suất Vô Tâm Bát,
Ba cõi thường thanh tịnh,
Hữu Đế mà vô Đế...
Các vị!... Tứ Diệu Đế như tôi đã trình bày... Các vị thấy thế nào... Hãy thấu suốt chữ Đế... Thấu suốt chữ Đế chính là thấu suốt Tứ Đế vậy...
Lý Tứ dứt lời, mọi người im lặng... Suốt buổi sáng hôm ấy, chân lý tối thượng được mọi người đón nhận bằng sự im lặng bất động…
(còn nữa)
Nhất Xiển Đề, Ác Kiến và Tà Kiến

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ
Như Lực vâng mệnh, châm một bình trà nóng, rót mỗi người một ly... Hương trà thơm phức, mọi người vui vẻ uống... Đợi cạn tuần trà, Như Bổn Mạt lên tiếng:
Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Lão Sư vừa rồi đã giảng nói ý nghĩa của chữ nghi. Đến nay trong lòng đệ tử đã dứt ba thứ nghi, nhưng còn vài điều chưa thông suốt, xin Lão Sư cắt nghĩa cho chúng con minh bạch...
Lý Tứ mỉm cười nói: - Lão Huynh Như Bổn Mạt!... Lão Huynh có gì chưa thông, xin nêu lên để mọi người cùng kiến giải.
Như Bổn Mạt nói:
Thưa Lão Sư!... Trong lòng đồ đệ còn thắc mắc về sự khác biệt giữa ba thứ, đó là:
Như thế nào gọi là “Nhất Xiển Đề”, như thế nào gọi là “ác kiến”, như thế nào gọi là “tà kiến”... Ba thứ này có liên quan với nhau, cùng một nguồn gốc hay mỗi thứ đều riêng khác?
Lý Tứ ôn tồn nói:
- Thưa Lão Huynh!... Trong Phật đạo có ba hạng người như huynh vừa nêu ra. Ba hạng người này có ba cách nhìn và hiểu biết khác nhau về Phật đạo.
- Hạng thứ nhất, đó là những người không tin Phật đạo. Vì không tin nên đánh mất thiện căn, hạng này Phật đạo gọi là Nhất Xiển Đề.
- Hạng thứ hai, chạy theo các kiến chấp sai lầm, tựu trung có 62 thứ kiến chấp. Dùng đây trói buộc mình, người không tìm thấy con đường giải thoát nhẫn đến quả vị tối thượng, hạng này Phật đạo gọi là ác kiến.
- Còn hạng thứ ba đó là hạng người tu hành trong Phật đạo nhưng do thiếu trí nên có những kiến giải lệch lạc, hoặc vì si mê nên tin vào những điều không đáng tin, tin vào những điều không có cơ sở và chẳng được kiểm chứng bằng kinh điển. Phật giáo gọi hạng này là tà kiến...
Ba hạng người này không có mối liên hệ gì với nhau về nhận thức, nếu có mối liên hệ nào đó thì liên hệ này không lớn lắm...
Thứ nhất, tôi xin nói về Nhất Xiển Đề. Nhất Xiển đề là phiên âm từ Phạn văn của chữ “A tyan tka”, người Hán đọc là Nhứt Xiển Đề, A Xiển Đề Ca, A Xiển Đề hoặc Triển Đề... Chữ này có nghĩa là chẳng thành quả Phật... Cũng có khi dịch là“bất tín cụ”, tức niềm tin không đầy đủ.
Trong kinh Phật, chia làm hai loại Nhất Xiển Đề. Đó là: Bồ Tát Nhất Xiển Đề và Nhất Xiển Đề... Bồ Tát Nhất Xiển Đề là loại Bồ Tát chẳng mong muốn thành Phật quả và Nhất Xiển Đề tức hạng người niềm tin không đầy đủ (bất tín cụ)...
Hạng thứ nhất là Bồ Tát Nhất Xiển Đề chỉ cho những Bồ Tát chẳng mong thành Phật quả. Danh xưng Nhất Xiển Đề trong trường hợp này nhằm nói đến các Bồ Tát vì Bi nguyện mà chẳng chịu thành Phật. Ví dụ như ngài Địa Tạng vì thâm nguyện của mình mà không nỡ vào Niết Bàn khi thấy chúng sanh còn khổ đau nơi địa ngục... Hoặc như ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, phát nguyện rằng: “khi nào còn một chúng sanh chưa thành Phật thì bản thân mình chưa thành Phật”...
Hạng thứ hai, Nhất Xiển Đề có nghĩa là “bất tín cụ”. Nghĩa này để chỉ cho những chúng sanh niềm tin không đầy đủ. Đó là những hạng chúng sanh không tin có Phật quả và có các quả Thánh trong phật đạo, không tin giáo pháp của Đức Phật có thể dứt phiền não và các cột trói, thậm chí không tin nhân quả...
Hạng này do vì không tin Phật, Pháp, Tăng nên đánh mất căn lành, vì thế chẳng thể quy y Tam Bảo, chẳng thể tu hành trong Phật đạo. Không thể tu hành trong Phật đạo nên không có các quả vị an lạc, không quy y Tam Bảo nên chẳng có chỗ nơi để sám hối ba nghiệp lỗi lầm... Vì thế Phật dạy hạng này phải chịu quả báo về những nhận thức không đầy đủ nói trên...
Tuy nhiên Phật cũng dạy, đối với hạng chúng sanh như thế, sau khi tạm thời đánh mất căn lành do ngu mê, phải chịu quả báo khốc liệt nơi đường dữ thời gian dài lâu, sau đó thức tỉnh nếu có duyên lành, phát khởi tín tâm, người này tu hành rồi cũng được các quả vị bậc Thánh cho đến Phật quả. Vì Phật Tánh là thường... Và “Nhất Xiển Đề cũng có Phật Tánh...”
Thứ hai, tôi xin trình bày về nghĩa “ác kiến”. Chữ “ác kiến” trong Phật đạo thông thường để chỉ cho các ngoại đạo và những kiến chấp sai lầm...
Những kiến chấp nào có tính trói buộc, đi ngược lại ý nghĩa giải thoát đều gọi chung là ác kiến... Cho nên, có thể hiểu ác kiến là những hiểu biết không làm cho chúng sanh giải thoát, đưa chúng sanh đến mờ tối, trái với quan điểm giải thoát của Phật giáo... Vì thế kinh Lăng Già Phật nói: “Các ngoại đạo kia bị ác kiến nuốt sống”.
Ác kiến thuộc về lợi sử, tức những người bị các món lý luận được cho là cao siêu của thế gian trói buộc...
Thứ ba là tà kiến. Chữ tà có nhiều nghĩa, ở đây chúng ta chỉ đề cập đến ba nghĩa. Ba nghĩa này liên quan đến nhận thức tu hành đó là: Một, tà có nghĩa là: Lệch, cong... Nghĩa thứ hai của chữ tà là trái với chánh: Bất chánh... Thứ ba chữ tà được dùng trong các từ ngữ sau đây: Tà thuật, tà ma, yêu tà, tà thuyết...
Tà kiến là một trong những kiết sử... Vì thế chữ tà kiến trong Phật đạo nhằm nói nhiều đến nghĩa của chữ tà trong ý thứ nhất và ý thứ nhì... đôi khi cũng có đề cập ý nghĩa thứ ba nhưng rất hiếm...
Như vậy, nếu xét ở nghĩa thứ nhất và thứ nhì của chữ tà, thì tà kiến ở đây được hiểu rằng, tà kiến là chỉ cho những người tu trong Phật đạo mà thiếu trí tuệ, căn trí ám độn... nên hiểu biết giáo pháp sai lệch, hiểu biết không chân chánh... Vì hiểu biết sai lệch, hiểu biết không chân chánh nên dù người này có cố công cũng chẳng thể giác ngộ, chẳng thể thấu suốt... Cố công trong trường hợp này gọi là tà tinh tấn, tức là tiến lên trong sự không trong sạch, nỗ lực không đúng chánh pháp… kiến giải giáo pháp theo ý nghĩa tà vạy... tức những kiến giải này không thật sự đưa đến giác ngộ và thanh tịnh như pháp...
Để làm rõ nghĩa tà kiến, chúng ta có thể tham khảo đoạn kinh Kim Cang: “Nhược dĩ sắc kiến ngã; Dĩ âm thanh cầu ngã; Thị nhân hành tà đạo; Bất năng kiến như Lai”. Đoạn kinh này có nghĩa, đã là người tu hành trong Phật đạo mà không thấu suốt ý nghĩa Phật dạy, nên chấp thân tướng của Phật gọi là Phật, chấp văn tự lời nói của Phật cho rằng đó là Phật... Hạng người như vậy được gọi là đi đường tà (tà đạo), tà vì chẳng thể thấy được Như Lai, tức chẳng rốt ráo chân chánh biết được trí tuệ tối thượng...
Như vậy chữ “tà” trong đoạn kinh này nhằm đề cập đến những người tu trong Phật đạo mà hiểu biết sai lầm chứ không nhằm chỉ người ngoài đạo...
Hoặc ta có thể hiểu chữ “tà” qua câu chuyện kinh sau:
Phật dạy “Tỳ Kheo, ăn ngày một bữa, ít bịnh, ít não, thân thể khinh an, dễ đắc thiền định”. Có vị Tỳ Kheo nghe như vậy rồi ngẫm nghĩ và bạch với Phật: “Bạch Thế Tôn!... Con nghĩ, ăn ngày ba bữa, ít bịnh, ít não”.
Hiểu sai lệch, rồi thấy biết sai lệch, gọi là tà kiến...
Chữ tà kiến trong Phật đạo còn dùng để chỉ cho hạng người tu hành trong Phật pháp mà thiếu trí, cả tin... bị người khác dùng tà thuật, tà pháp, tà đạo, tà thuyết dối gạt... Do thiếu trí nên tin những thứ này là Phật pháp rồi chạy theo... Vì tin và chạy theo những thứ không chân chánh như vậy nên chẳng thể hết phiền não, chẳng được giải thoát...
Có thể nói, chữ tà kiến trong Phật đạo nhằm chỉ cho những người tu hành pháp Phật mà ít trí tuệ, hiểu biết sai lệch, tin vào những kiến giải hoặc hiện tượng không chân chánh... Kết quả của tà kiến là nhọc công tu hành mà không đưa đến giác ngộ...
Các vị!... Nói tà là vì có chánh. Tự thân những kiến chấp như thế, tự thân những niềm tin như thế không gọi là tà, vì đây là tự do của mỗi chúng sanh... Nhưng một khi đã dấn thân tu hành trong Phật đạo mà theo đuổi những kiến chấp này, tin vào những hiện tượng không chân chánh này, rồi coi đó là Phật đạo thì mới được gọi là tà...
Đã là Phật tử thì phải quang minh, mọi thứ đều có chuẩn mực của nó, không quơ đũa cả nắm...
Một người không tu hành trong Phật đạo, có quyền tin và có quyền nghe vào những gì mình cho là đúng cho là phải... Nghe và tin như vậy chẳng có gì là tà, thậm chí còn là chánh đối với bản thân họ... bởi chuẩn mực của họ là những thứ này...
Nhưng nếu đã là Phật Tử, lấy Tam Bảo là chuẩn mực và là chỗ cho mình nương cậy. Nhưng vì lý do nào đó, chỉ quy mà không y, vì không y nên dẫn tới hiểu sai, vì không y nên gởi gắm niềm tin vào những thứ không chân chánh.
Phật Tử mà y vào những thứ không chân chánh bây giờ mới gọi là “tà”... Có thể hiểu “tà” ở đây là lệch lạc so với cái “chánh”.
Tóm lại Nhất Xiển Đề, ác kiến và tà kiến như tôi vừa trình bày ở trên... xét tổng thể thì, nếu chúng sanh nào bị một trong ba thứ này đều không đưa đến đạo quả an lạc. Nếu xét riêng biệt thì mỗi loại phát sinh từ một nhận thức khác nhau... Cả ba thứ như vậy, Phật đạo đều gọi chung là “vô minh”...
Trên đây chỉ là kiến giải cá nhân tôi về ý nghĩa của ba thứ này. Huynh đệ!... Vị nào có kiến giải tốt hơn, xin mời tham gia để mọi người cùng tăng trưởng kiến thức... Nói đến đây, Lý Tứ đảo mắt nhìn mọi người rồi cung hai tay thủ lễ hướng về phía Thập Như nói lớn:
- Xin mời các vị… Xin mời!...
Như Bổn Mạt lại lên tiếng:
Thưa Lão Sư!... Ba thứ này trước nay đồ đệ có suy nghĩ nhưng không phân minh, nay được lão Sư cắt nghĩa, đồ đệ sáng tỏ rành mạch từng thứ... Từ đây biết đâu là Nhất Xiển Đề, biết đâu là ác kiến và cũng biết đâu là tà kiến... không còn nhầm lẫn nữa...
Lý Tứ thấy mọi người im lặng nên nói:
- Các vị!... Nếu không còn gì nghi hoặc, không còn gì thắc mắc, hoặc hiện tại chưa có thắc mắc, chúng ta tiếp tục uống trà... Nào Như Lực Cô Nương... Bày tuần trà thứ hai!...
(còn nữa)
Người Tu Hành Muốn Thành Tựu Phải Dứt Nghi. Muốn Có Trí Tuệ Phải Dứt Si Mê

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ
Lý Tứ lại nói tiếp:
Các vị!... Cho đến bây giờ, trong các vị, có ai còn thắc mắc điều gì thì hãy nêu lên để được giải đáp... Một trong mười kiết sử đó là nghi. Nghi chính là lực cản lớn nhất che mờ tâm trí. Người tu hành muốn thành tựu các thứ phải dứt nghi... Nghi chính là hòn đá lớn cản đường làm trở ngại tinh tấn và cũng là một trong những nguyên nhân khiến người tu hành đi vào lối tẻ và từ đây phát sinh tà kiến...
Nghi có nhiều thứ, nhưng tựu trung có ba:
- Một là nghi mình. Nghi mình là nghi tự thân không đủ sức thành tựu đạo quả bậc thánh. Chuyện này thường thấy ở đời, có những người cứ mở miệng rao giảng Đại thừa, mở miệng là “đao to búa lớn”, tối ngày bàn luận có không... thường xuyên chê bai kẻ khác là thanh Văn, là chạy theo văn tự... Thậm chí bắt chước Phật chỉ trích các quả vị của Nhị thừa... Điều họ rao giảng chưa xét đến đúng sai... Nhưng một khi có ai đó đề cập đến việc làm sao để thoát khỏi khổ phiền não, thì người này một mực chối quanh, trườn uốn như con lươn, cho rằng các quả vị Phật đề cập là của bậc thánh, mình là người thì làm sao có thể đến đó...
Các vị!... Hạng này ngoài miệng thì ngã mạn, nhưng thâm tâm thì hạ liệt... Hạng như thế, khó thành tựu Phật đạo... Giống như kẻ sợ ma, đi một mình trong đêm tối thường hay nói lớn... Nói lớn để trấn áp nỗi sợ hãi trong lòng, nói lớn để tự khỏa lấp cái lo sợ bản thân, chứ chẳng phải người này không sợ, chứ chẳng phải tự tại mà nghêu ngao...
Lại cũng có hạng vì tự mình không kham nổi ý nghĩa kinh điển, muốn khiến người khác cũng giống như mình... Vì thế, bác bỏ việc tìm tòi học tập, bác bỏ việc đọc tụng nghiên cứu, bài xích những ai ham ưa giáo pháp, sợ đụng đến ý nghĩa thâm u... Để che giấu cái yếu kém của mình, bày ra các thứ lỗi lầm khi đọc tụng văn kinh, khiến người nghe sợ hãi mà từ bỏ như mình... Hạng này là đồ đệ của ác kiến, phá hoại chánh pháp... Hành động như vậy mặc nhiên vô hiệu hóa pháp Phật mà không tự biết, lỗi lầm này khó bề sám hối...
Các vị!... Chớ có nên như vậy!... Hãy tin vào chính mình... Những gì người xưa làm được thì nay mình cũng nhất định làm được. Các quả vị Phật nói ra là chung cho vạn loại hữu tình, chẳng của riêng ai... Ai quyết tâm như pháp, người ấy sẽ thành tựu... Khi Ngũ Tổ hỏi Huệ Năng: “Ông đến đây cầu gì?” Huệ Năng đáp: “Đến để cầu làm Phật, không cầu cái khác.” Chính sự tự tin, chính cái mạnh mẽ mà thẳng thắn của Huệ Năng đã đưa con người quê mùa thất học này đến ngôi vị Tổ Sư... Có người cho rằng nói như thế là ngã mạn, xin thưa các vị, lời này không ngã mạn. Vì sao? Vì nói như những gì trong tâm suy nghĩ thì lời này không gọi là ngã mạn. Không nói hơn cái mình có thì chẳng thể gọi đó là ngã mạn. Không nói quá cái biết cái thấy của mình thì chẳng thể gọi đó là tăng thượng mạn... Bao giờ Huệ Năng nói rằng tôi đang là Phật, hoặc tôi bằng thậm chí hơn Phật, thì câu này mới đáng trách, đáng gọi là ngã mạn, tăng thượng mạn... Còn nói để cầu học, nói để thực hiện bản hoài của chư Phật, thì những câu như vậy, những ý tưởng như vậy thiệt đáng cho ta học tập...
- Thứ hai là nghi người. Nghi người ở đây là nghi bậc đạo sư... Khi nghe bậc đạo sư giảng giải, không lãnh hội hết cũng chẳng hỏi lại. Vì chẳng hỏi lại nên tâm trí không thông, không thông thì trong lòng nghi hoặc là điều khó tránh khỏi...
Phật đạo là đạo của trí tuệ nên mọi thứ liên quan đến việc tu học cần phải minh bạch.
Vì thế, điều gì chưa thông thì nên hỏi lại cho thông, không vì lý do nào đó mà để trong lòng...
Chúng ta tôn trọng nhau không có nghĩa là tôn trọng cả cái đúng lẫn cái sai... Tôn trọng nhau không có nghĩa những điều trong lòng chưa minh bạch mà không dám hỏi… không có nghĩa chấp nhận một vấn đề mà không cần biết lý do, không cần xét nét đúng sai... Làm như thế, vô hình trung trở thành kẻ si mê...
Như thế nào gọi là “Si” trong Phật giáo. Tôi xin đưa một ví dụ, các vị có thể nhân ví dụ này mà hiểu nghĩa. Ví như có người nam bắt gặp người nữ, rồi đem lòng yêu thương, thương quá hóa cuồng... Nam nhân không cần tìm hiểu thân thế người nữ, không cần biết người nữ đức hạnh ra sao, xuất thân tốt xấu, tiền sử dữ lành... Gặp người hiểu biết, chỉ ra rằng người nữ kia là giống La Sát, đêm đến ăn thịt người... Người này vì quá si mê, bỏ ngoài tai tất cả những gì đã nghe, bất chấp đúng sai, bất chấp phải quấy... Vì si mê người nữ, nên bằng mọi giá chỉ cần sống chung là mãn nguyện... Và hậu quả của si mê là nam tử ấy phải chuốc lấy khổ hoạn vào thân... Si mê có tác hại lớn như vậy...
Các vị!... Vì thế muốn có trí tuệ phải dứt si mê. Muốn dứt si mê cần phải minh bạch, điều gì chưa thông thì phải hỏi lại... Không nên chấp nhận vấn đề được nêu ra một cách mù quáng... Khi ai dạy mình điều gì, phải cần hỏi lại, vì sao ông dạy tôi cái này, tôi thực hiện theo lời nói của ông thì được những gì, không làm theo thì hại gì... Có nghĩa thực hành một điều, hay từ bỏ một điều, nhất nhất phải biết rõ lý do của nó. Cần hiểu rõ lợi ích của việc thực hiện hay từ bỏ sẽ đưa đến dứt nghi, và hiểu rõ thì mới thực hành đúng. Việc làm có đúng mới cho ra kết quả đúng đắn...
Cần nhất, hiểu rõ việc đang làm thì hồ nghi tự dứt... Có hỏi lại chỗ chưa thông, vị đạo sư mới nhân đây mà giải đáp cặn kẽ. Cặn kẽ rồi thì trong lòng nhất định dứt mối nghi về đạo sư của mình... Dứt nghi là một trong những hình thức tôn trọng. Dứt nghi mới có cung kính, có cung kính mới thực hành rốt ráo những lời được chỉ dạy...
- Thứ ba là nghi pháp. Nghi pháp là nghi cái mình đang thực hành có rốt ráo đưa đến giải thoát hay lại thêm trói buộc. Nghi pháp là nghi những gì đạo sư chỉ dạy có đưa đến an lạc hay chỉ chuốc lấy phiền não. Nghi pháp là nghi rằng những điều mình được nghe nói có phải là chánh pháp hay tà thuyết... Các vị!... Muốn dứt cái nghi này phải căn cứ vào lời dạy của Phật. Muốn dứt cái nghi này phải có sự thông cảm của hai bên. Muốn dứt cái nghi này trước tiên cần phải giác ngộ... Vì thế muốn dứt cái nghi này, cần có sự nỗ lực của cả hai bên, đó là nỗ lực của đạo sư và nỗ lực của người cầu học... Và cả hai, mỗi mỗi đồng căn cứ vào lời Phật dạy… gọi là nương thần lực chư Phật...
Thế nào là phải căn cứ vào lời Phật dạy? Lời Phật chính là mực thước để người tu hành y theo đó xác định đúng sai. Giống như người thợ hồ, muốn xây chiều đứng phải có dây dọi, muốn cân chiều ngang phải có thước thủy... Đây là công cụ để người thợ xác định đúng sai... Phật pháp cũng có những công cụ như vậy. Trước khi nhập Niết Bàn, Phật có di huấn lại, để đời sau biết đâu là lời Phật, đâu là chẳng phải...
Phật dạy: “Người tu hành nên căn cứ vào hai điều, đó là: Giới luật và nghĩa kinh... Giới luật lấy Ba La Đề Mộc Xoa làm thầy, nghĩa kinh lấy tứ Niệm Xứ làm chỗ nương tựa... Lời nào phù hợp với giới là lời của Phật, Pháp nào đưa đến thanh tịnh, sáng tỏ bốn niệm xứ là phù hợp nghĩa kinh…”.
Phật cũng dạy: “Nơi nào, những ai làm cho các ông an lạc, làm cho các ông thấu triệt diệu lý, thì dù người đó có đánh đuổi các ông cũng không được bỏ đi...”. Cái này phụ thuộc vào hai bên. Thứ nhất thuộc về người thính pháp... Người thính pháp phải thỉnh hỏi đạo sư cặn kẽ để dứt cái nghi về người. Người thuyết pháp phải thiện xảo giúp người thính pháp giải tỏa nghi hoặc và mau chóng đưa họ đến giác ngộ như pháp... Khi đã thật sự giác ngộ thì nghi hoặc chấm dứt, kiết sử trói buộc không còn thì thế lực trì kéo sẽ bị triệt tiêu...
Điều này Phật có đưa ra ví dụ: Như con chó, khi ném một vật, tức thì con chó chạy theo vật bị ném... Con sư tử khi ném một vật, sư tử sẽ vồ ngay chủ thể ném ra vật đó... Thì cũng vậy, người tu hành, như con sư tử, khi nghe thuyết pháp, liền vồ ngay nguồn tâm của mình, chẳng như con chó kia chạy theo văn tự... Vồ ngay nguồn tâm sẽ giết chết đối tượng làm cho tâm này điên đảo. Người thuyết pháp, đối trước người thính pháp, không chạy theo tiền đề hươu vượn đảo điên của người nói đưa ra, mà hãy vồ ngay nguồn tâm khiến họ mau giác ngộ...
Với người chưa giác ngộ, chớ có giảng giải đạo lý nhiều... Giống như người uống rượu, say quá hóa mê. Vì mê, lầm tưởng gốc cây bụi cỏ là nhà... Người đời chưa giác ngộ như kẻ nghiện rượu, sáu căn uống sáu thứ rượu trần cảnh cả ngày lẫn đêm, uống riết từ say đến mê. Vì mê nên chẳng biết “mặt mũi xưa nay”, lấy ba cõi làm nhà, lấy dục ái làm cha mẹ... Đối với người đang say mê vì rượu như thế, chớ có nên giảng giải đạo lý, mà biện pháp trước mắt là hãy làm cho họ tỉnh dậy hết say. Thì cũng vậy, đối với người đời say mê trần cảnh danh tướng, thì không vội giảng giải đạo lý cao siêu, mà hãy làm cho họ dừng lại, thôi không uống trần cảnh nữa... Một khi người kia tĩnh tâm tĩnh trí, bây giờ giảng giải đạo lý cũng không muộn... Bằng làm ngược lại thì thứ đạo lý nói ra chẳng khác người say nói chuyện với người say, người mê giảng giải đạo lý trong mê, không có nhiều ích lợi...
Giảng giải trong hoàn cảnh như thế cũng gọi là điên đảo. Chẳng những tự mình điên đảo mà thêm khiến người điên đảo... Tự mình điên đảo mình chịu được rồi, khiến người điên đảo tội nghiệp cho họ... Các vị!... Chớ có làm như vậy!...
Đó là lý do vì sao Phật chưa sẵn sàng nói thật nghĩa khi tâm đồ đệ còn hư dối. Đó là lý do vì sao Phật phải ba lần chuyển Pháp Luân. Đây là lý do vì sao đồng một Phật đạo lại có quyền có thiệt... Ngày trước, khi còn tại thế, Phật dùng Tứ Đế để chuyển pháp luân lần thứ nhất tại vườn Lộc Uyển, giống như làm cho người say giã rượu.
Lần chuyển thứ hai tại núi Kỳ Xà Quật khai nói Diệu Pháp Liên Hoa, như người say đã tỉnh, bây giờ mới giảng giải đạo lý để người kia hồi tưởng tên họ thân thế quê quán của mình mà biết đường về...
Lần chuyển thứ ba tại thành Câu Thi Na, giống như người say kia đã về đến quê quán, bây giờ biết đích thực mình là ai. Vì thế thật nghĩa mới được nói ra, đó là “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật Tánh”. Có nghĩa ba cõi chính là Phật quốc, ông đang là Phật, trước đây vì say mê ngủ bờ, ngủ bụi mà quên mất cái cao quý của tự thân... Như gã cùng tử, làm thuê làm mướn kiếm sống qua ngày mà chẳng biết cha mình là trưởng giả...
Các vị!... Nhưng vì sao đồng là Phật đạo, mà người tu hành lại hiện khởi các mối nghi? Ngoài những ý nghĩa như tôi đã nói, còn một lý do khác khiến người chưa thông hiểu Phật lý phát sinh nghi ngờ... Đó là: Chính cái thâm u muôn màu muôn vẻ của Phật đạo!...
Nếu có người nào đó, nhìn Phật đạo dưới nhãn quan tôn giáo thì thấy Phật đạo là một tôn giáo, vì ở đây có đầy đủ màu sắc của tôn giáo, vì rằng cũng có các nghi lễ, cũng có giáo chủ, cũng có giáo điều... Nếu ai đó nhìn Phật đạo dưới nhãn quan triết học, thì thấy Phật đạo đúng là triết lý, vì ở đây cũng có lý luận khúc triết, cũng có suy tư và trăn trở, cũng có các khái niệm vũ trụ nhân sinh... Nếu nhìn Phật đạo dưới con mắt của một nhà giáo dục thì Phật đạo lại là một nền giáo dục, vì ở đó có đầy đủ giáo trình giảng dạy, có học thuật, có các thứ cần có của một nền giáo dục chính thống...
Như vậy Phật giáo đích thực là cái gì... Xin thưa các vị, Phật đạo là Phật đạo chẳng là cái gì hết!... Nếu Phật đạo là cái gì, thì thứ đã nhìn thấy là cái đó chứ chẳng phải Phật đạo...
Giống như viên ngọc dưới ánh sáng mặt trời, nó có màu gì... Xin thưa viên ngọc kia không màu... Vì không màu, nên tùy vào góc nhìn, tùy vào ánh sáng mà người ta cảm nhận viên ngọc kia có nhiều màu sắc khác nhau... Nếu quả thật viên ngọc có một màu nhất định thì mọi người dù nhìn ở góc độ nào cũng chỉ thấy đồng nhất một màu...
Điều này đưa đến kết luận gì? Xin các vị hãy rời xa nhãn kiến của mình thì sẽ thấy ý nghĩa đích thực của Phật đạo...
Dùng nhãn quan của một cá nhân hay một nhóm người rồi đánh giá Phật đạo là gì thì nhãn kiến này sẽ làm chúng ta chấp nhất và nghi ngờ... không giúp tự thân và mọi người thấu suốt đạo lý... Chính vì điều này mà…
⁎ Phật thường tuyên nói: “Không pháp mới là Phật pháp”. Có nghĩa: Nếu còn một pháp nào, thì đó là pháp chứ chẳng phải Phật pháp...
Giống như người ngủ mê thấy mình chạy qua nhiều thành ấp, bảo rằng những thành ấp là có thì kết luận này không đúng, nhưng ngược lại một bề quyết rằng thành ấp này là không thì điều này cũng trật... Muốn thấy chân thật là có hay không, xin các vị hãy thức dậy đi. Khi thức dậy thành ấp là có hay không, là đẹp hay xấu, nó như thế nào... sẽ tự biết rõ!...
Nhưng thưa các vị!... Vì sao Phật đạo lại muôn màu muôn vẻ như thế? Chỉ vì chúng sanh tâm nghiệp chẳng đồng, chỉ vì chúng sanh căn cơ sai khác, chỉ vì chúng sanh ham ưa mỗi loài một thứ... Để khiến hết thảy đồng rời những dị biệt hư dối kia, mà Phật phải nhọc lòng hóa hiện muôn hình muôn vẻ, dùng sai khác để dẫn hữu tình về cái chẳng khác. Dùng quyền để dần dần nói cái thiệt... Cái thiệt nói ngay, như đứa trẻ ăn đồ sống sẽ phát bệnh cuồng... Vì thế, kinh Phật có dạy: “Vì thương chúng sanh nên Như Lai vẽ các hình”. Đã đến lúc, các vị!...
Hãy từ bỏ thấy nghe sai khác, đã đến lúc phải quay về với chỗ đồng... Thanh tịnh tâm chính là bến bờ, chính là bãi đỗ, chính là cội nguồn của những kẻ lạc loài...
Các vị!... Mười người các vị, ít ra đến giờ phút này cũng thấy được tác hại của sáu thứ rượu trần cảnh. Có người dừng uống, có người đã tỉnh hẳn, có người sắp làm một cái gì đó khi biết mình hết say sưa... Con đường trước mặt còn rất dài...
Ai còn nghi ngờ gì trong hoàn cảnh này, cần thiết phải nêu lên. Nêu lên để tất cả cùng mổ xẻ, cùng nhau làm sáng tỏ... Sáng tỏ để chuẩn bị làm một hành trình mới dài hơn trong Phật đạo... Nào xin mời các vị, nếu chưa dứt nghi quyết chưa đi tiếp...
Nói đến đây, Lý Tứ đảo mắt nhìn mọi người một lượt, rồi nói:
Như Lực Cô Nương!... Cô Nương hãy tận dụng hết những gì có được trong khả năng của mình... Chế một bình trà thật ngon rồi mời các bằng hữu... nâng chén... Nào Cô Nương hãy nhanh lên... Như Lực!...
(còn nữa)
Phật Pháp Là Pháp Xả. Thiệt Tướng Của Vạn Pháp Là Không Tướng

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ
Lý Tứ lại quắc mắt nhìn sang phía Như Báo, gục gặc cái đầu ôn tồn hỏi:
- Như Báo!... Ông đang suy nghĩ cái gì?
Như Báo trả lời:
Thưa Lão Sư!... Con đang tư duy câu nói của Lão Sư đó là: “Phật đạo có thể biến quả người thành báo thánh, quả ác thành báo lành”.
- Ông hiểu như thế nào về câu nói này?
Thưa Lão Sư!... Bây giờ con mới thoát hẳn ra khỏi nghi hoặc xưa nay, đó là vì sao Phật dạy trên Cực Lạc cây vàng sanh trái bạc, cây lưu ly sanh trái mã não... Nhân sinh ra thân con là tham ái, thân của con đây là quả, quả này không thể làm khác. Nhưng nếu thấu suốt bốn Đại không tánh, tâm này bổn lai tự không, ngã kia không thật... thì cho dù đang mang thân phàm tục, sinh ra từ ái dục mẹ cha... Nhưng diệu lý chư Phật là loại công nghệ cao, có thể biến tính chất chua ngọt ở trong thân này là tâm, từ phàm sang thánh... từ ngu si thành trí tuệ... Như người ta có thể biến quả cam từ chua thành ngọt, như Phật đã biến kẻ giết người không gớm tay Ương Quật Ma La thành một A La Hán...
Bây giờ con mới hiểu vì sao trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Phật Đa Bảo mang nguyên nhục thân đến nơi đâu có Phật tuyên nói kinh này để xưng tán... Con cũng thấu suốt luôn vì sao chư Phật khi thị hiện thành Đẳng Chánh Giác cũng thị hiện sinh ra bằng thân tướng như con người... Cũng sinh ra lớn lên... nhưng Phật lại tuyên nói đã thành từ vô lượng kiếp chứ không phải nay mới thành... Kinh cũng nói chỉ cần ai tin điều này thôi, được vô lượng công đức...
Con cũng hiểu luôn vì sao Phật không để cho các tha Bồ Tát hộ trì kinh Diệu Pháp Liên Hoa mà nói rằng chỉ có các Bồ Tát ở phương này mới đủ sức hộ trì...
Lý Tứ nói tiếp:
- Như Báo!... Ông có thể tuyên nói cặn kẽ những điều trên cho mọi người cùng nghe được không?
Thưa Lão Sư!... Khi nghe Như Quả Lão Huynh nói về nghĩa như thị, tâm con chợt rỗng rang... Con thầm nghĩ, chỉ một niệm bất giác, hữu tình trôi lăn trong ba cõi... Nếu tự tâm không bất giác, thì nhân kia do đâu mà có... Nhân đã không thì duyên cũng không... Quả báo... cũng như thế mà tự không... Tính chất của ba cõi là cột trói, nên cây nào sanh quả ấy... Nếu thoát ra khỏi sự cột trói này, không một tính chất có thể có được... thì tại sao cây vàng không sanh trái bạc, cây lưu ly tại sao không sanh trái mã não... Nhân quả không còn tương tục thì nhân này sinh quả kia cũng đâu có gì là lạ...
⁕ Từ đây cho thấy thiệt tướng của vạn pháp là không tướng... đã là không tướng thì tướng vàng bạc lưu ly... có thể hóa sanh...
Nhưng vì sao, từ cung trời Đâu Suất đản sanh vào cung vua Tịnh Phạn, Phật cũng phải thị hiện thân người?
- Thứ nhất: Vì hữu tình ở đây là nghiệp người nên không thể thấy khác...
- Thứ hai: Nếu thị hiện bằng thân hóa sanh, thì hiệu quả thuyết pháp không được con người chấp nhận, bởi lẽ chúng sanh chấp Tướng... Đạo vô thượng lại khó thấy... Cho nên nếu thị hiện thân nghiệp khác, khi tuyên nói Phật pháp, chúng sẽ đổ thừa, ông là huyễn nhân nên thành Phật được, còn thân tôi do cha sanh mẹ đẻ làm sao mà có thể bắt chước được...
- Thứ ba: Thân ông từ trời sa xuống nên không tham hoặc chẳng cần các thứ... vì thế có thể từ bỏ tham sân, còn đã là người thì không thể nào bỏ các thứ ấy...
- Thứ tư: Thân ông không khổ, vì chẳng có tính chất của khổ... Thân người đầy đủ tính chất kia thì hết khổ là làm sao...
- Thứ năm: Ông chưa từng tham nên nói rằng tham là khổ... Làm sao ông biết tham là khổ? Chưa thân chứng điều này thì lời Pháp một khi thốt ra trở thành hư dối... Các thứ pháp khác như ái biệt ly, cầu bất đắc... cũng đồng được chúng sanh hiểu như vậy...
Đây cũng là nguyên nhân vì sao Phật không chấp nhận cho tha Bồ Tát hộ trì Phật Tri Kiến mà chỉ dành cho Bồ Tát cõi này, vì Bồ Tát cõi này dưới con mắt của chúng sanh, xuất thân Hữu Vi Bồ Tát không khác gì họ... Nay Bồ Tát tu được thì các chúng sanh này cũng tu được, Bồ Tát thành tựu trí tuệ thì người đời cũng có thể thành tựu trí tuệ...
Cõi này, Phật Tri Kiến thành tựu nơi nhục thân chứ không phải thành tựu từ cái gì khác, nên nói quả phàm mà báo thánh... Như sen kia chỉ mọc trên bùn chứ chẳng thể mọc nơi hư không hay gò nổng... Phật tri kiến chỉ thành tựu nơi cõi đời ác thế ngũ trược... Như thầy thuốc hay chỉ hay giữa những người bệnh... Nếu không có bệnh nhân thì cái hay của thuốc men chẳng thể thành tựu... Chính ý nghĩa này mà Phật Đa Bảo mang nguyên nhục thân đến xưng tán công đức thuyết kinh Diệu Pháp Liên Hoa...
⁎ Thưa Lão Sư!... Vì sao Phật nói: “Chư Phật đã thành Phật từ vô lượng kiếp... thân Phật chẳng phải như thân huyết nhục, chẳng phải do cha sanh mẹ đẻ... lớn lên bằng cơm cháo... nuôi sống bằng thuốc men”… Câu này có hai điều:
Thứ nhất: Phật dạy trong kinh Kim Cang: “Ta không có một chút pháp chi gọi là thành tựu, Phật Nhiên Đăng mới thọ ký cho ta đời sau thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni”.
Điều này có nghĩa là: Thành Phật là thành cái không thành... Phật pháp là pháp xả... như viên ngọc quý vùi lâu trong sình bùn... cạo bỏ sình bùn đeo bám bên ngoài thì viên ngọc tự hiện ra với đầy đủ tính chất quý báu của nó...
Có nghĩa rằng, thành Phật là xả bỏ những gì ngu si đeo bám trí huệ, làm mờ tối trí huệ... Thành Phật là tìm lại cái tự đã có từ vô lượng trước chứ chẳng phải làm ra cái mới... Vì thế, nghe pháp là bỏ đi cái được nghe chứ không phải đeo bám kiến thức... Nghe pháp là bỏ đi cái chấp nhất chứ không phải học thêm cái mới để nó trói buộc như học vấn thế gian... Nói chung, thành Phật là thành cái đã tự thành...
Thứ hai: Cũng trong kinh Kim Cang Phật dạy: “Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai”. Cũng kinh này Phật lại dạy:
“Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai”.
Có nghĩa: Hai điều trên Phật đồng cảnh báo, đừng nên thấy thân tướng hay âm thanh mà cho đó là Như Lai... Thân tướng, âm thanh... không phải là Như Lai thì cái gì mới là Như Lai... Thưa Lão Sư!... Như Lai đích thị là trí tuệ tối thượng hay còn gọi là Pháp Thân Phật vậy... Cho nên Phật ân cần căn dặn, chỉ cần ai tin Như Lai chẳng phải do cha sanh mẹ đẻ... thôi, cũng phát sinh vô lượng công đức... Vì Sao? Vì công đức do trí tuệ sanh chứ chẳng phải do tướng tạo tác sanh...
Vì thế, tin trí tuệ tối thượng mới thật là Phật, thì niềm tin vào trí tuệ này sẽ nhân trí tuệ mà thành tựu trí tuệ, có trí tuệ là có công đức...
Thưa Lão Sư!... Con trước đây là kẻ u mê vô trí... chỉ đem cái thân hì hờm này ra giang hồ mà dọa nạt người khác, chẳng có một chút trí tuệ... Tháng ngày phiền não, chỉ lấy tranh đấu hơn thua làm vui... Nhưng cái vui này thật giả tạm... Từ ngày Lão Sư hóa sanh ra con, cái ngu tự dứt... Trí tuệ bỗng dưng sáng suốt...
Bây giờ con mới hiểu được ý vị câu nói của Lão Sư: “Chỉ có tâm vô lậu, trí vô lậu, mới hiểu kinh Phật, vì kinh Phật là ngữ ngôn vô lậu”. Ví như chỉ có con cá mới thấm nhuần văn hóa thủy tộc... Con tự biết từ đây vĩnh viễn thôi hết mê lầm...
Ơn đức hóa sanh của Lão Sư, con xin đem cái quả không thể đổi thay trong đời này là thân con, lấy nó giữ gìn cái báo an lạc là trí tuệ này, để làm lợi ích cho tất cả hữu tình... Con tự nghĩ chỉ có làm như vậy mới đền đáp công ơn Lão Sư, công ơn chư Phật... Con nguyện từ đây đến tận đời vị lai, có sinh ra nơi nào cũng vì tất cả chúng sanh... Xin Lão Sư và các huynh đệ chứng minh cho tâm nguyện của con... Nói đến đây, Như Báo bước khỏi chỗ ngồi hướng về phía Lý Tứ và mọi người lạy ba lạy...
Đợi Như Báo ngồi vào vị trí của mình, Lý Tứ nghiêm giọng:
Như Báo!... Sức thông tuệ của ông đúng là “báo lành”. Thân tâm có như thì trí mới như, trí có như thì lực mới như, lực có như thì tác sẽ tự như... Như chiên đàn tự tỏa hương, những ai có tỷ căn sẽ ngửi được mùi thơm của nó...
Như Báo!... Cứ như thế!... Như thế!... Mọi tốt lành sẽ đến với ông...
(còn nữa)
Thập Như Thị. Tập Nhân. Giao Báo

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ
- Trung Nguyên Cửu Tuyệt và một lão lái đò vị chi mười người... nay giang hồ không còn bóng dáng những cái tên này nữa, mà Phật đạo lại xuất sanh Thập Như. Ha ha... ha ha...
⁕ Thập Như!... Thập Như... Các vị có đồng ý cái tên mới này không?
Mọi người hoan hỷ, Lão Trượng lên tiếng trước:
Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Rất hay!... Hay mà thanh tịnh!... Lão Sư đúng là Lý Thập Như... còn con là Lý Như Nhân...
Lão Đại vội vã nói:
Voi chúa đi đâu, voi con theo đó... Lão Trượng giành mất cái tên Như Nhân thì đồ đệ cũng xin được tiếp nối với cái tên là Như Duyên... Hay thiệt, từ nay con sẽ là Lý Như Duyên con của Lý Thập Như, em của Lý Như Nhân... Ha ha ha!... Anh Em chúng ta đồng Họ Lý... Nào Là Như Nhân, Như Duyên, Như Tánh, Như Tướng, Như Lực, Như Tác... Ha ha Thập Như vậy... Đúng là “Tôi nghe như vậy...” Ha ha ha ha!...
---•••⁕ ⁕⁕ ⁕•••---
Cả mười người theo thứ tự chọn một tên.
Đầu tiên Lão Trượng là Như Nhân, Lão Đại là Như Duyên, Lão Nhị là Như Quả, Lão Tam là Như Báo, Lão Tứ là Như Tánh, Lão Ngũ là Như Tướng, Lục Đệ là Như Thể, Thất Muội là Như Lực, Bát Đệ là Như Tác, Cửu Đệ là Như Bổn Mạt... địa vị trước sau không đổi... chỉ có Lão Trượng lên làm anh cả... Mọi người hoan hỷ với cái tên mới này... Chọn xong Như Nhân lên tiếng:
Thưa Lão Sư!... Thưa các huynh đệ!... Hôm qua là ngày huynh đệ chúng con vui nhất trong đời, đó là ngày Lão Sư chính thức nhận mười anh em chúng con làm học trò... Hôm nay là ngày vui thứ hai, mười người làm con một cha, đồng là họ Lý... Nói đến đây lão rót trà ra ly rồi mời mọi người nâng cốc... Đợi mọi người uống xong, lão nói tiếp:
Thật là nhân duyên hy hữu, hoàn cảnh hôm nay, làm đồ đệ nhớ lại phẩm “Tòng Địa Dõng Xuất” trong kinh Pháp Hoa... Đó là người cha còn nhỏ mà các con có người râu tóc bạc phơ... Không ngờ chuyện kinh trở thành hiện thực...
Thưa Lão Sư!... Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, khi khai Phật Tri Kiến, Phật cũng có nói đến “Lý Thập Như”... hay còn gọi là: Thập Như Thị. Nay mọi người nhờ nhân duyên này mà có tên riêng của mình theo trình tự Thập Như... Xin Lão Sư giảng giải ý nghĩa của Thập Như Thị cho chúng đồ đệ tường tận...
Lý Tứ lên tiếng:
Các vị!... Thập Như Thị được Phật đề cập đến trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa... Sau khi ngài Xá Lợi Phất ba lần thưa thỉnh... Phật im lặng một hồi rồi nói:
“Thôi đi Xá Lợi Phất, không nên hỏi nữa. Vì sao? Vì pháp mà chư Phật đã chứng khó thấy khó biết, không phải dùng cái biết của phàm phu mà biết được[1]... Chỉ có Phật với Phật mới thấu suốt thiệt tướng của vạn pháp... Vì sao? Vì các pháp thành tựu được không ngoài mười phạm trù đó là: Nhân, duyên, quả, báo, tánh, tướng, thể, lực, tác, bổn mạt cứu cánh như vậy...”
Các vị!... Nếu mười phạm trù này mà hiểu theo ý nghĩa thế gian thì:
- Các pháp sở dĩ có được là bởi nhờ có hạt nhân ban đầu, giống như có hạt giống mới có cây trái.
- Hạt giống này muốn thành tựu phải đầy đủ duyên lành.
- Nhờ duyên lành mà cho ra kết quả gọi là quả.
- Trong cái kết quả đó sẽ có ý vị của nó, ý vị này gọi là báo...
- Nơi báo kia tùy nghiệp hiện các tính chất gọi là tánh. Ví như trái khổ qua, người ăn thấy ngọt kẻ ăn thấy đắng.
- Từ tánh chất ngọt đắng mà sinh các thứ tướng ghét ưa, ưa thì vui vẻ, ghét thì nhăn nhó, “vui vẻ”, “nhăn nhó”gọi là tướng...
- Thể của ưa là mong cầu, thể của ghét là xa lánh...
- Do mong cầu hay xa lánh nên xuất ra các ý tưởng hoặc tham hoặc sân gọi là lực.
- Lực này vô hình nhưng có thể tạo nghiệp lành dữ nên gọi là tác.
- Một khi tác rồi thì cứu cánh khổ vui trước sau không thể tránh khỏi...
Phật tuyên nói Thập Như Thị theo trình tự trên, là có nguyên nhân của nó... Vì bởi người đời khổ vui sanh diệt không ra khỏi mười phạm trù này, và nằm trong một quy luật nhất định... Nếu chẳng có nhân, thì duyên kia vô nghĩa... giống như không có hạt giống thì cấy cày phân bón không có chỗ dùng…
Sở dĩ chúng sanh hiện tướng khổ vui tham sân vì trong lòng có tích chứa hạt giống tham sân, giống như đứa bé mới sinh ra, không ai dạy mà tự biết dỗi hờn...
⁎ Hạt giống vô hình này Phật đạo gọi là “Tập Nhân”. Trong lòng đứa bé đã tích chứa tập nhân khổ vui nên nay vừa sinh ra tự biết biểu lộ tình cảm...
⁎ Các duyên thấy nghe Phật gọi là “giao báo”.
Tập nhân tích chứa trong lòng thông qua giao báo của thấy nghe... cho ra “cõi nước” tức là các thứ tướng khổ vui. Biểu hiện của tướng khổ vui đó là mười kiết sử. Các kiết sử này chính là quả của nhân kia gọi là quả báo... Và từ đó biện biệt cùng trói buộc dẫn dắt hữu tình luống sâu vào phiền não... Tánh, tướng, thể, lực, tác, rốt ráo trước sau hiện khởi... như con tằm nhả tơ tự trói...
Các vị!... Tu hành trong Phật đạo là làm sạch tập nhân vô hình đó... Một khi trong tâm không còn tập nhân, nhân đã không thì mười phạm trù kia tự không. Có nghĩa tâm thanh tịnh thì kiết sử sẽ không hiện khởi. Kiết sử không hiện khởi thì cõi nước cũng thanh tịnh. Cõi nước thanh tịnh thì tánh, tướng, lực, tác đồng đưa người đến thanh tịnh. Nhân quả bây giờ sai khác, như cõi Cực Lạc cây vàng sanh trái bạc, cây lưu ly sanh trái mã não, tiếng chim lại kêu thành tiếng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng... chẳng như quả báo ba cõi.
Vì thế Phật đạo có thể biến “Quả người mà báo thánh, quả ác thành báo lành”.
Quả báo vô lậu không như quả báo thế gian người đời thường hiểu... Giống như mặt trời lên thì nỗi ám ảnh hãi sợ bóng ma tự dứt... Nỗi ám ảnh không còn thì tánh tướng và các mối đe dọa vô hình từ con ma không còn. Cũng cảnh đó mà thể, lực, tác bây giờ là an vui chứ không phải đau khổ sợ hãi...
Tóm lại Thập Như Thị chính là nguyên lý hình thành khổ vui ba cõi, và Thập Như Thị cũng chính là nguyên lý để bậc Thánh thoát ra khỏi trói buộc ba cõi... Vì thế Thập Như Thị được Phật đề cập đến trong giáo trình giảng dạy Phật tri kiến. Có nghĩa là học Phật tri kiến hay học Nhất thiết trí, là một giáo trình Phật giảng dạy cho Bồ Tát gồm nhiều thứ, trong đó có Thập Như Thị. Thập Như Thị chính là một học phần trong toàn bộ giáo trình nhiều học phần này…
Học Thập Như Thị cơ bản là học nguyên lý hình thành ba cõi và nguyên lý thoát ra khỏi trói buộc ba cõi. Thành tựu cơ bản này mới có thể học các học phần khác. Đó là học thêm các thứ phương tiện thiện xảo, giúp hữu tình hết phiền não và tiến đến Phật quả...
Muốn học được nguyên lý này, người học phải hội đủ một số điều kiện nhất định... Đó là: Nếu Nhị thừa thì vị này phải là một A La Hán, nếu là Bồ Tát thừa thì vị này phải thấu suốt hai vô ngã, tâm pháp rỗng không...
Vì thế, kinh Diệu Pháp Liên Hoa chỉ tuyên thuyết chủ yếu với Nhị thừa gồm toàn “hạt chắc”, có nghĩa hội chúng là những đệ tử đã chứng Thánh... hoặc trí tuệ tương đương một vị Thánh... Còn đối với Bồ Tát muốn học cái này thì phải như Thiện Tài Đồng Tử trong kinh Hoa Nghiêm, đó là Tâm vị này phải như hư không... Các công đức có được đều hồi hướng về Vô Thượng Bồ Đề... Đây là điều kiện “ắt có và đủ” để có thể lãnh hội toàn bộ giáo trình Phật tri kiến trong đó có học phần “Thập Như Thị”...
Các vị!... Thập Như Thị được khởi đầu bằng hai chữ “Như Thị”... Muốn thấu suốt Thập Như Thị, phải thấu suốt ý nghĩa hai chữ Như Thị (Như Vầy)... Như vậy…
⁎ “Như Thị” là nghĩa như thế nào? Trong kinh Phật di huấn lại, ngày sau khi kết tập, đầu kinh phải để: “Như thị ngã văn” có nghĩa “Tôi nghe như vầy”... Ý nghĩa này theo thông lệ của thế gian đó là Ngài A Nan nghe như vậy, rồi cứ y như điều đã nghe mà thuật lại... Nhưng phật thuyết pháp, là thuyết cho mọi hữu tình. Nếu cứ theo thông lệ ở đời, cho đó là cái nghe của A Nan thì mặc nhiên tự loại bản thân ra khỏi dòng nước pháp của Phật... Nếu không muốn tự loại bản thân ra khỏi dòng nước pháp, thì người tu hành cần nên hiểu như thế nào về nghĩa “Tôi nghe như vầy”?...
Nói đến đây Lý Tứ đảo mắt nhìn mọi người rồi im lặng...
Một hồi lâu, Như Quả lên tiếng: Thưa Lão Sư!... Tôi nghe như vầy, trong ý nghĩa này con hiểu là chính con nghe như vầy!... chứ không phải Ngài A Nan nghe như vầy!...
- Ông nghe như vầy, là nghe thế nào?
Như Quả im lặng ngẫm nghĩ một hồi rồi nói: Con nghe như vầy là không nghe theo “cái bị nghe”!... - Những gì được gọi là “cái bị nghe”?
Thưa Lão Sư!... “Cái bị nghe” chính là âm thanh cùng ngữ nghĩa từ miệng Lão Sư phát ra!...
- Ông nên suy nghĩ thật kỹ... một khi không nghe theo “cái bị nghe”, thì cái nghe nó như thế nào?
Như Quả ngẫm nghĩ rồi nói:
Thưa Lão Sư!... Con thấy cái nghe tự nó rỗng rang, không có bóng dáng của nhĩ thức...
- Nhĩ thức không sanh, thì cái gì sanh?
Thưa Lão Sư!... Nhĩ thức không sanh thì biện biệt không sanh, biện biệt[1] không sanh thì chẳng thấy ý nghĩa của tịnh cùng bất tịnh... Tịnh cùng bất tịnh chẳng thấy nên không có gì sanh...
- Trong cái không sanh đó, ông thấy cái gì?
Thưa Lão Sư!... Con thấy tâm con thanh tịnh!...
- Tâm ông thanh tịnh thì nó như cái gì? Thưa Lão Sư!... Tâm con thanh tịnh thì nó như vậy, như vậy ạ!... Thưa Lão Sư!... Con ngộ ra chữ Như Thị trong câu “Như thị ngã văn” rồi ạ!... Chữ Như Thị theo con hiểu là không như cái gì hết, không như cái gì hết mới chính là như thị!...
- Nếu còn thấy nó như cái gì thì tâm như cái gì?
Thưa Lão Sư!... Nếu còn thấy nó như cái gì thì đó là như nhân, như duyên, như tánh, như tướng... chứ chẳng phải như thị ạ!...
- Thấy Thập Như Thị chỉ là một như thị, thì nhân cái gì mà nói là mười?
Thưa Lão Sư!... Mười chẳng khác một, một chẳng khác không... Nhân đã không, thì quả cũng không. Quả không thì tánh tướng tự không!... Nên chẳng nói nó là cái gì, vì ra ngoài văn tự ngữ ngôn...
- Tánh tướng tự không, văn tự cũng không thì gọi là gì?
Thưa Lão Sư!... Là không tánh, là không tướng, là vô ngôn...
- Đã không tánh, không tướng, vô ngôn thì ba thời từ đâu lập bày?
Thưa Lão Sư!... Ba thời chỉ một niệm bất giác... Vì bất giác nên ba thời hiện khởi. Để dứt cái ngu này của phàm phu, chư thánh phải một phen nhọc công mở miệng nói có nói không... Chúng sanh nhân ý nghĩa này mà hết ngu si. Chừng nào giác ngộ tự tâm rỗng rang, mới biết rằng chẳng có đây kia sáng chiều... Bây giờ mới hiểu ra ngữ ngôn văn tự như là dẫn dược chứ chẳng phải thuốc men... Nước kia chẳng làm hết bệnh...
- Vậy ba thời là mấy thời?
Thưa Lão Sư!... Ba thời do mê... Dứt mê, ba thời chỉ là nhất thời... Nhất thời đó là không thời ạ.
- Không thời thì gọi là gì?
Thưa Lão Sư!... Không thời chính là Phật thời ạ.
- Không thời chính là Phật thời, thì trong thời đó, Phật ngụ tại đâu?
Thưa Lão Sư!... Phật là vô tướng, vì vô tướng nên vô phương sở... Vì vô phương sở nên đâu cũng là Xá Vệ Quốc, Kỳ Thọ viên...
- Như vậy kinh dạy: “Như thị ngã văn, nhất thời Phật tại xá Vệ Quốc, kỳ thọ Cấp cô Độc viên...” là nghĩa gì?
Thưa!... Là Tự Tâm như thị ạ... như thị ạ…!...
Lý Tứ cười ha hả rồi nói:
- Văn tự không gạt được Như Quả... Ha ha... Đúng là Như Quả chứ chẳng phải như văn tự... Ha ha ha ha!... Không như kẻ ngu kia, miệng thì nói như thị mà tâm lại như văn tự... Ha ha ha ha!...
Chúc mừng Lão Đệ thấu suốt ý nghĩa hai chữ Như Thị... Ha ha ha ha!...
(còn nữa)