Ý Nghĩa 3 Lạy. Chánh Tư Duy Và Chánh Định

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ
Lý Tứ nhìn mọi người thành tâm, trong lòng cũng muốn thuận ý, nhưng nghĩ đến “cái ràng buộc” mà đâm ra ngán ngẫm... Lý Tứ lại nghĩ, ta vốn không coi nặng lễ nghi hình thức, mọi thứ cốt ở tâm. Những người này sống trong giang hồ đã lâu, lấy nghi lễ làm trọng, nay đã quen rồi thiệt là phiền phức... Tuy vậy, những lễ nghi này cũng phần nào nói được cái tâm của họ.
Họ một lòng chí thành cầu đạo trí tuệ nên mới chịu hạ mình một lễ lạy hai lễ lạy như vậy. Tâm thành của những người này rất xứng đáng được hưởng cái thâm thúy của đạo.
Nghĩ đến đây Lý Tứ lên tiếng:
Thưa các vị!... Tấm lòng của các vị thiệt làm cho Lý Tứ tôi cảm động. Với tâm thành như vậy, không điều gì chẳng thành tựu... Nhưng thưa các vị, Lý Tứ tôi thường tâm niệm, đạo như miếng bánh ngon, dùng giúp người đỡ đói...
Đối với Lý Tứ, nếu người nào lạy mình mà giác ngộ thì Lý Tứ để cho lạy. Nếu người nào đánh mình, chửi mình mà giác ngộ thì Lý Tứ cũng hoan hỷ cho người đánh chửi. Đánh chửi hay lạy lục tôi chẳng thấy sai khác. Cái quan trọng đánh chửi hay lạy lục xong người đó được gì, có tăng ích đạo tâm hay không...
Nếu một bề hễ một chữ thì lạy, hai chữ cũng lạy, mà trí tuệ không sáng, nguồn tâm không trong... Cho dầu mỗi ngày lạy ngàn cái chỉ thêm vô ích...
Nhược bằng, cái lạy thứ nhất rụng rơi tự ngã, cái lạy thứ hai buông bỏ chấp nhất trong sạch nguồn tâm, cái lạy thứ ba lòng hết ngu tối phát sinh trí tuệ... thì chỉ ba lạy thôi cũng hơn người suốt đời vái lạy...
Trong Pháp Bảo Đàn cũng sơ lược điều này. Lục Tổ Huệ Năng có nói: “Lạy cốt bẻ cờ kiêu”. Trong Phật môn, kiêu mạn là thứ đầu tiên phải bỏ.
Người có tâm kiêu mạn là tự rời bỏ tinh tấn vì chẳng cầu tiến thân, người kiêu mạn sẽ nhiều phiền não vì lầm tưởng hơn người, người kiêu mạn sẽ tự hủy trí tuệ vì chẳng cầu học, người kiêu mạn sẽ không thanh tịnh vì luôn nhìn ngó so bì, người kiêu mạn không thể gần gũi cao nhân vì cao nhân không cùng kiêu mạn chung đường, người kiêu mạn sẽ không được quả vị vô thượng vì chẳng có từ bi...
Thành ra, các pháp tự nó rỗng rang, tự nó giải thoát... Chỉ tại tâm người chấp nhất cột trói, lấy ngã làm chỗ dựa, lấy pháp làm chỗ nương, vô tình pháp có ngã... Thì lạy cũng như thế...
Kinh có dạy: “Các pháp không không, lặng lẽ, tàn tạ, niệm niệm sanh diệt”. Các vị, lạy cũng là một pháp. Người trí nhân cái lạy này xét soi tột lý của nó để việc làm có lợi ích. Xét soi đến khi nào thấy rằng cái lạy này tự nó hồn nhiên không tịch; chẳng phải vì sợ mà lạy, chẳng phải vì cầu cạnh mà lạy, chẳng phải vì muốn thân cận mà lạy... Nếu xét soi thấu suốt như thế, thì “cái lạy trở thành vô thượng”. Xét soi như thế Phật đạo gọi là Chánh Tư Duy...
⁎ Người xưa do thấu suốt ý nghĩa của lễ nghi nên đã dạy người đời sau: “Năng lễ, sở lễ tánh không tịch.” Đó chẳng phải là điều để chúng ta suy gẫm hay sao...
Thưa các vị!... Trong Phật đạo có Chánh Tư Duy. Chánh Tư Duy không giống suy nghĩ mông lung ở đời... Chánh Tư Duy của Phật môn chính là giềng mối đưa đến Chánh Định... Chánh Tư Duy là cách thức nghĩ suy phán xét để tìm ra chân lý. Khi thấy được chân lý nguồn tâm tự xả. Điều này chỉ có ở Phật Đạo. Vì thế Chánh Tư Duy có ý nghĩa riêng của nó trên con đường tu học... Nếu chưa biết Chánh Tư Duy, thì chưa thể tu hành... Như thế nào là Chánh Tư Duy? Tôi có thể đưa một vài ví dụ minh họa điều này, nhân ví dụ các vị có thể hiểu ra ý nghĩa của nó.
Giả như có người đi trên đường vắng, giữa trưa đang khát nước. Trước mặt là ly nước có màu sắc đẹp, có mùi thơm quyến rũ. Người này nghĩ rằng uống ly nước này thời ta sẽ hết khát... Người đó định cầm ly nước lên uống, nhưng nhìn thấy ở gốc cây kế bên có một người chết và cái ly trống không. Người đó bèn dằn cơn khát mà suy nghĩ, ở nơi hoang vắng ít người lại qua mà ai lại để mấy ly nước thơm, chắc chuyện này phải có duyên cớ. Người đó bèn cầm ly nước lên rồi quan sát thiệt kỹ, biết đây là ly thuốc độc của bọn cướp đường, màu sắc đẹp nhằm làm lòa con mắt, mùi thơm để quyến rũ tâm tham. Nếu không quan sát nghĩ suy kỹ lưỡng, vội vàng uống ly nước này ta đã vong mạng như người kia, mạng sống và tiền của sẽ không giữ được... Người đó nghĩ suy như vậy, cho dù có khát cháy cổ cũng không ngoảnh lại, mau mau đi xa... Thì ở đây, Chánh Tư Duy chính là suy nghĩ biết cái gì nên làm cái gì không nên làm. Biết cái gì tốt biết cái gì xấu, như người kia suy nghĩ quan sát để biết rằng đó là ly thuốc độc. Chính nhờ suy nghĩ này mà sau đó có khát đi mấy cũng không động tâm bởi ly thuốc độc. Không động tâm bởi ly thuốc độc dụ cho Chánh Định... Chính nhờ Chánh Tư Duy, Chánh Định mà người này an ổn ra khỏi kiếp nạn.
⁎ Chánh Tư Duy và Chánh Định trong Phật đạo là do thấu suốt mà tâm không vọng động. Định của Phật đạo là hệ quả của sự thông hiểu. Ví như có người lượm được một quả màu vàng. Người này xem xét thật kỹ nhờ những kiến thức của mình, biết đây không phải cục vàng mà nó là hỏa pháo bên ngoài phủ vàng để gạt người tham. Vị này ném hỏa pháo ra xa rồi ngoảnh mặt bỏ đi chẳng luyến tiếc... Không luyến tiếc vì biết rằng hỏa pháo kia là vật hại người... Biết nó là hỏa pháo nên chẳng sinh tâm luyến ái gọi là định...
Các vị đừng hiểu lầm chữ định của Phật gia là cột chặt tâm ý, không nghĩ không suy. Không nghĩ không suy cột chặt tâm ý mà gọi là định thì định này chẳng có trí tuệ... Mà Phật Giáo Giới Định Tuệ là hệ quả của nhau. Ba thứ này như ba cái chân của chiếc kiềng nhằm giữ cho thăng bằng. Nếu một trong ba chân có vấn đề, thì chiếc kiềng sẽ đổ...
Thì cũng vậy, giới định tuệ trong Phật đạo nhằm làm quân bình đời sống tu hành của hành giả. Thiếu một trong ba thì đời sống tu hành sẽ chông chênh, không thể thành tựu như ý... Chính sự quan trọng và là yếu tố làm nên an ổn, nên Giới Định Tuệ còn có tên là Tam Vô Lậu Học. Có nghĩa học tập thấu suốt ba điều này sẽ đưa đến đạo quả Vô Lậu. Vô Lậu, chính là đời sống an ổn của người có trí trong Phật Đạo, chính là môi trường tốt nhất để văn hóa Vô Lậu tồn tại và phát triển... Tâm chưa Vô Lậu thì chưa thể học Trí Tuệ Vô Lậu. Chưa có Trí Tuệ Vô Lậu thì chẳng thể hành xử bằng văn hóa Vô Lậu… Giống như đất chưa sạch cỏ thì chẳng thể phát triển cây trồng. Chưa phát triển cây trồng thì chẳng thể thu hoạch... Đây cũng là sự khác nhau rất xa giữa kinh bất liễu nghĩa và kinh liễu nghĩa. Xin các vị nhớ cho...
⁎ Chánh Tư Duy và Chánh Định ở chừng mực nào đó nó cũng là cơ sở của Giác và Ngộ...
Chánh Tư Duy là cơ sở của Giác, Chánh Định là cơ sở của Ngộ... Biết rõ các pháp hư dối, không đem tâm chạy theo, không chạy theo tâm vắng lặng, tâm vắng lặng mới thấy được nguồn tâm này bổn lai thanh tịnh. Biết rõ vạn pháp hư dối là Giác, thấy được bổn tâm thanh tịnh là Ngộ... Cũng còn có nghĩa này, nhờ Chánh Tư Duy biết rõ không chạy theo ngoại duyên nên gọi là Thiền, bên trong không khởi các ham muốn nên gọi là Định. Không khởi các ham muốn nên tâm vắng lặng, vắng lặng trong nghĩa này mới chân chánh vì thế gọi Chánh Định...
⁎ Tu Thiền Định là một cách nói khác của hai thứ chân chánh kia. Chánh Tư Duy, Chánh Định là do thấu suốt rồi dừng, chứ không phải bức tử tâm ý để dừng... Vì thế, khi Phật thuyết kinh, đệ tử thấu suốt nghĩa lý, ngay tại chỗ ngồi hốt nhiên thanh tịnh vắng lặng. Tùy chỗ thanh tịnh mà gọi là chứng các quả vị.
⁎ Tu như thế thì chẳng phải đi đâu, chẳng phải làm gì, chẳng phải nhọc công tốn sức như các loại tu hành của thế gian thường nói... Hiểu sai sẽ làm sai. Làm sai sẽ cho ra kết quả sai. Đây là điều tất yếu... Đạo lý này chắc không nói các vị cũng biết.
Thưa các vị!... Tôi nói như vậy, ở đây có vị nào thấy điều gì không đúng, có gì sai xin các vị cứ thẳng thắn phản biện. Phản biện là cách tốt nhất để tìm ra chân lý... Nếu có điều gì chưa minh bạch thì xin các vị hỏi lại, tôi sẽ đả thông.
⁎ Phật Giáo là chân lý chứ không phải mê tín. Mọi thứ phải rõ ràng. Có rõ ràng thì trong lòng mới dễ cảm thông nhau, cảm thông đạo... Xin các vị đừng vì nể tình, đừng vì cá nhân tôi hay thứ gì khác mà làm như người đời. Vị nào chưa thông nói chưa thông, chưa rõ nói chưa rõ. Đừng để trong lòng mai này nhỏ to với nhau. Làm như thế sẽ mất cái tâm chánh trực, sẽ không có biểu hiện của đấng trượng phu... Nếu các vị hỏi lại, điều gì chưa biết tôi sẽ học tập thêm. Chúng ta lấy “lục hòa” mà đối đãi nhau. Có như thế ngày dài tháng rộng mới không sai đạo nghĩa... Đã là người tu hành thì nên thẳng thắn. Mọi thứ phải tận mắt thấy tai nghe. Đừng như người đời đối đãi với nhau theo cách “đoán mò” hoặc “bằng mặt mà không bằng lòng”. Cái tâm như thế sẽ khó thành tựu đạo chân thật... Đạo chân thật không thể tồn tại trong một nguồn tâm hư dối... Nào!... Xin mời các vị...
Nói đến đây, mọi người không còn quỳ lạy Lý Tứ nữa mà chỉ cung tay xá xá, niềm hân hoan hiện rõ trên từng khuôn mặt...
(còn nữa)
Đọc Tụng Kinh Điển Thế Nào Là Hợp Lý?

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ
Lục Đệ người dong dỏng cao, mặt trắng, độ tuổi chưa đến ba mươi, mang dáng dấp của một thư sinh hơn là kiếm khách giang hồ. Hắn xuất thân từ con nhà khoa bảng. Năm lên mười sáu nghe đâu đã đậu cử nhân, được bổ làm quan, nhưng hắn bỏ công danh thích chuyện ăn sương nằm gió... Mới nhìn vào con người này cũng biết trong bụng gã “chữ nghĩa nhiều hơn canh cơm”... Hắn lên tiếng:
Từ ngày theo Lão Đại làm đệ tử Phật Gia, đệ bắt chước người xưa ngày ngày dày công trì kinh quán nghĩa... Ngưỡng mong lãnh hội một phần nhỏ lời vàng ý ngọc của Phật của Tổ... Nhưng càng đọc càng suy gẫm, lại cảm thấy như lạc vào rừng rậm không biết lối ra. Thậm chí đệ đây càng mù mờ khi đọc quyển này thấy nói rằng có, quyển khác lại nói rằng không… Đệ đem điều này thưa hỏi các bậc cao nhân, nhưng mỗi người giải thích mỗi khác. Ai cũng có lý lẽ riêng, đến nay thắc mắc càng thêm thắc mắc. Xin Lão Sư và các vị ở đây, vị nào cao kiến đả thông giùm đệ chỗ thắc mắc bấy lâu này...
Lý Tứ đảo mắt nhìn mọi người. Hình như mọi người đồng có tâm trạng như Lục Đệ... Tuy thế, Lý Tứ cũng nói:
- Các vị!... Các vị thấy thế nào về câu hỏi của Lục Đệ?
Mọi người đồng hướng về Lý Tứ chờ câu trả lời. Thấy vậy Lý Tứ chậm rãi nói:
- Các vị!... Đây là tâm trạng chung của người tu hành... Thưa các vị!... Phật pháp tuy nói rằng mênh mông nhưng có bờ có mé, có cạn có sâu. Giống người ra biển, đi từ cạn đến sâu, đi từ bờ ra giữa.
Người học đạo cũng vậy!... Muốn tìm hiểu giáo pháp phải tuần tự từ thấp lên cao.
Ngày xưa Phật tuyên nói giáo pháp cũng không làm khác. Vì thế, mới có phân chia thành ngũ thời thuyết pháp.
Vừa thành Đẳng Chánh Giác, sau khi thấy chân Lý Tối Thượng khó có thể diễn nói cho quần chúng, Phật tính nhập Niết Bàn. Nhưng được chư Thiên khuyến thỉnh ba lần, Phật đồng ý trụ thế. Sau đó Phật mới quán, chúng sanh giống như ao sen, có cây còn ở dưới mặt nước, có cây vừa nhô lên, có cây đã ra hoa... Phật nhớ lại Phật xưa dùng ba thừa thuyết pháp. Phật nay cũng dùng ba thừa. Vì thế, ba thừa ra đời.
Ba thừa là phương tiện tu hành căn bản của một chúng sanh. Tùy theo căn trí mà mỗi chúng sinh được trang bị một phương tiện phù hợp với cách giảng nói phù hợp, cụ thể... gọi là kinh.
Do đó thưa các vị!... Giống như các vị vào chốn giang hồ. Muốn bước chân vào giang hồ, đầu tiên phải học quyền cước binh khí... Muốn học quyền cước binh khí phải học tấn thế tới lui. Thành thục tấn thế sau mới học quyền pháp, binh khí... thì…
Kinh Phật có phần giống như vậy, có kinh căn bản, kinh nâng cao, có kinh bác học. Kinh căn bản gọi là A Hàm, kinh nâng cao gọi là Phương Đẳng, kinh bác học gọi là Phương Quảng... Vì thế mới có danh xưng kinh liễu nghĩa và bất liễu nghĩa...
Như người giang hồ, khi võ nghệ chưa vững, mánh lới chưa thông mà vội vã đặt chân vào chốn đao thương rất khó toàn mạng... Giống như chuyện con cá và con nai... Muốn bơi lội như con cá, con nai phải trở thành con cá... Muốn thấu hiểu văn hóa vô lậu của kinh các vị phải học tập tu hành để tâm này vô lậu.
Khi tâm này vô lậu, thì sẽ thụ hưởng lợi ích từ văn kinh vô lậu không khó... Nếu tâm còn lậu hoặc, phiền não mà đọc tụng giảng nói kinh vô lậu hay liễu nghĩa, chẳng khác nào người mù bẩm sinh đi tìm màu sắc, trẻ thơ vô trí lạc giữa rừng sâu... Chẳng khác con nai nói chuyện con cá...
Căn bản giáo dục để đưa đến vô lậu là những lời dạy căn bản từ các kinh căn bản hay giáo lý căn bản, gọi là kinh tam thừa...
Kết quả của ba thừa chính là sự chuyển đổi ngoạn mục từ phàm phu lên thánh. Tức từ một chúng sinh hữu lậu trở thành bậc thánh vô lậu... Ba thừa với kết quả thành tựu tuyệt vời của một hữu tình, từ đây mới có thể thâm nhập kinh tạng liễu nghĩa, từ đây mới có thể thấu suốt thế nào là “có” thế nào là “không”... Đằng này, thói quen của chúng ta là “gặp kinh thì đọc” đọc “không chọn lựa”, đọc “không dựa vào trình độ”, đọc mà không chú ý đến năng lực, đọc mà tâm thế chưa sẵn sàng... thì chuyện càng đọc càng hồ đồ, càng rối là điều tất yếu.
Như người chưa thông võ nghệ mà hành tẩu giang hồ mất mạng là điều không thể tránh khỏi... Như chuyện con nai nghe con cá nói đi, bèn vội vàng lao xuống nước sâu chảy xiết thì lẽ tất nhiên sẽ bị ngập chìm...
Như vậy thì phải đọc như thế nào mới hợp lý?
Thưa các vị!... Người chưa giác ngộ thì chỉ nên trì tụng kinh văn ba thừa để tu tâm dưỡng tánh chờ ngày giác ngộ. Khi giác ngộ rồi mới đọc tụng nghiên cứu kinh tạng cao hơn...
Vì thế, kinh bao giờ cũng có phần duyên khởi. Duyên khởi luôn kể về thành phần Đại chúng nghe kinh. Đây chính là bảng liệt kê trình độ người nghe... Đây là cây thước để đo lường trình độ người đọc và bài giảng trong kinh. Nếu cố chấp, nếu ngã mạn, nếu cố đọc, nếu cố hiểu, nếu cố giảng nói khi chưa hiểu rõ ý nghĩa đích thực của kinh... nhất định phát sinh tà kiến...
Tiêu biểu như kinh Pháp Hoa, năm trăm vị chưa chứng thánh đành phải ra ngoài vì ở đó cũng chẳng lãnh hội được gì...
Nhưng nếu một mực cho rằng, hết thảy người tu hành nhất nhất phải trải qua trình tự thứ lớp, thì tại sao trong Phật sử lại có những vị đang là phàm phu nhưng chỉ nghe một câu, thấy một vật liền vào cảnh giới Đại thừa?
Thưa các vị!... Giáo pháp nhà Phật mà Đại diện là ba thừa có tiệm có đốn, có chậm có mau, tùy căn cơ... Thắng căn thì chỉ một câu một chữ, trong vắt nguồn tâm. Hạ căn thì phải tiệm thứ tu hành để mài mòn kiết sử... Dù đốn hay tiệm, khi đến bờ mé, đồng nhau không khác... Đó là nguồn tâm rỗng rang, một bề thanh tịnh, chẳng còn trói buộc, phiền não không sinh... tham ái tự dứt… Người xưa gọi đó là “tâm vô nhất vật”.
Tôi nói như vậy, các vị thấy có thỏa đáng chăng!... Vị nào có ý kiến tốt hơn, xin cùng luận bàn. Nói đến đây Lý Tứ cung tay mời mọi người... Rồi Lý Tứ nói tiếp:
Lục Lão Đệ!... Lão Đệ nghe tôi nói có lọt lỗ tai không? Có gì chưa thỏa mãn, xin Lục Đệ cứ nêu ra, mọi người cùng nhau bàn luận...
Chờ cho Lý Tứ dứt lời, Lục Đệ lên tiếng:
Lời của Lão Sư đã rạch ròi rồi còn gì. Cái lỗi của đệ tử là ham thích đọc tụng. Lấy cái phàm trí để cố hiểu lời thánh nhân nên thành ra mờ mịt (bây giờ gã không xưng là đệ mà xưng đệ tử).
Nhưng thưa Lão Sư, trong các kinh bác học phương quảng cũng có nói, ai đọc tụng kinh, biên chép, vì người mà giảng nói kinh này... sẽ phát sinh vô lượng công đức, là nghĩa thế nào? Xin Lão Sư rộng giảng...
Lý Tứ lên tiếng:
- Ham thích đọc tụng không phải là lỗi, đọc tụng có cái tốt của đọc tụng. Đọc tụng kinh điển Đại thừa giống như vào núi châu báu, nhặt đâu cũng là châu báu...
Tuy nhiên, có châu báu là một chuyện, còn sử dụng châu báu là một chuyện. Người thiếu trí, được nhiều châu báu rồi đem khoe khoang mà không biết giá trị, lại chẳng tìm chỗ kín cất giấu thì châu báu trở thành mối họa lớn. Kẻ trí có được châu báu, về đến nhà gìn giữ cẩn thận sau đó cầu học các giá trị... Khi cần dùng, số châu báu này sẽ là phước lớn giúp mình giàu sang. Lại còn có của bố thí cho kẻ cơ hàn...
Châu báu chỉ có giá trị với người thấu triệt giá trị của nó. Bằng ngược lại nếu vào tay kẻ vô trí hay trẻ thơ thì châu báu kia không khác hòn đá củ khoai...
- Thì cũng như vậy, kinh văn bác học giống như núi báu, đọc tụng giống như nhặt thâu... Gom góp rồi còn phải tìm hiểu thấu triệt... cái này kinh gọi là “tương ưng”... Tương ưng chính là “sử dụng đúng cách” châu báu kia... Một khi chưa tương ưng, chưa biết nghĩa tương ưng mà đem sử dụng, không khác thuốc tốt mà trị sai bịnh. Chẳng những không ích lợi, lại còn có hại về sau...
Kinh bác học cũng có khuyến cáo, nó như con dao bén, vào tay kẻ trí tất được nhiều việc, vào tay trẻ con sớm muộn cũng đứt tay... Vì thế tóm lại, đọc tụng không có lỗi, lỗi ở chỗ “xử lý” như thế nào với những kiến thức kia...
Trong kinh bác học cũng có nói như lời lão đệ đã nêu là: “Trong đời, nếu ai siêng năng đọc tụng, biên chép, thấu suốt ý nghĩa, vì người giảng nói sẽ phát sinh vô lượng công đức”.
Các vị thử nghĩ coi!... Ngày Thế Tôn còn trụ thế, Thế Tôn thuyết pháp, môn đồ nghe hiểu rồi ghi nhớ ý nghĩa, thường xuyên trì tụng tu tập ý nghĩa. Đến bao giờ tâm tánh tương ưng gọi là khế chứng... Sau khi khế chứng, tức là tự thân thấu suốt ý nghĩa lời dạy rồi, mới đem ra dạy người. Dạy người là dạy cái nghĩa lý cao thâm u ẩn trong đó, chứ không phải dạy người học thuộc văn tự của kinh. Nếu học thuộc văn tự của kinh mà không thấu rõ đạo lý, người xưa gọi là “kinh chuyển”.
Thời Phật chưa có cuốn kinh, nên khi nói đến trì kinh tức là nói đến tư duy lời dạy để thấu suốt ý nghĩa, chứ không phải nói bề dày một quyển hay số lượng văn tự...
Nói trì kinh không phải là bảo người đọc hết quyển này rồi đến quyển kia...
Sáng chiều chỉ lo đọc tụng mà không biết nghĩa thì chẳng khác đổi lốt le le lấy phải thân cò... cùng là thứ trói buộc như nhau... Vì thế, văn kinh có nói đến ba chữ “Văn Tư Tu”… chắc các vị đã nghe qua...
Vả chăng, biên chép đọc tụng có công đức riêng của việc này. Ai có công kết tập phổ biến lời thánh sẽ phát sinh công đức. Vì làm như vậy tức thị giữ gìn truyền tụng thánh ngôn không cho dứt mất; giống như người có công giữ gìn giống mạ, người giữ gìn giống mạ tuy không trực tiếp canh tác nhưng chẳng thể chết vì thiếu đói, công đức của việc này là như vậy. Người thấu suốt ý nghĩa, vì người mà giảng nói, có công đức riêng của việc làm này. Đây là công việc giúp người thấu suốt ý nghĩa thánh hiền để mà tu học. Công việc này của những pháp sư chẳng phải ai cũng có thể làm được; giống như thầy giáo dạy học trò, mình đã thấu triệt mới biết cách làm cho người thấu triệt; giống như người trực tiếp canh tác, kết quả của việc canh tác là được ấm no...
Phật gia mỗi mỗi minh bạch, nhân nào quả đó đây là lẽ thường xưa nay không khác, chẳng thể nhân nọ lại sinh ra quả kia.
- Thưa các vị!... Như tôi đã nói, mỗi mỗi việc làm đều phát sinh công đức. Nhưng chẳng phải các việc đều giống nhau, không nên nhầm lẫn... Các vị cũng đừng nên hỏi rằng, vì sao tôi làm như vậy mà không thấy công đức?
Công đức chẳng phải do thấy, cũng chẳng phải do nghe!... Nói chung công đức không thể đem thấy nghe hay biết mà trù lượng... Cái gì mà thấy nghe hay biết suy lường được thì chỉ là phước đức, tức là quả báo ba cõi. Cái gì từ ngã phát sanh thì chỉ gói gọn trong hai thứ là phước đức hay nghiệp báo... Chính nghĩa này mà Sơ Tổ Đạt Ma đã bảo với Lương Võ Đế rằng: “Việc lập chùa, độ Tăng của ông không có công đức gì ráo trọi”… Không có công đức cũng bởi cái tâm suy lường, nhớ nghĩ, hãnh diện... của Lương Võ Đế thành ra có ngã. Ngã nào mà sanh công đức...
Công đức trong chừng mực nào đó bao gồm ý nghĩa Vô Ngã. Nên cũng xin đừng đem cái ngã, mà đòi hỏi công đức...
Công đức chỉ phát sinh khi nào nguồn tâm thanh tịnh. Làm đến khi nào tâm này thanh tịnh thì công đức phát sinh. Thanh tịnh có sâu cạn, công đức cũng có ít nhiều... Giống như lắng nước trong ao, đành rằng lắng là để nước đục thành trong, nhưng không phải một lúc mà tất cả nước đều trong như nhau. Trong nhiều hay ít tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố, như nguồn nước, chất liệu làm cho nước từ đục thành trong, số lượng tạp chất trong nước, có bị khuấy động hay không... Nói chung đòi hỏi nhiều thứ chứ chẳng phải giản đơn...
Nói khác đi, thanh tịnh tâm chính là công đức. Công đức và thanh tịnh, văn tự có khác nhưng nghĩa chẳng hai... Giống như đèn soi bóng tối, đèn lớn sáng nhiều, đèn nhỏ sáng ít... Đèn như công đức, hết tối như thanh tịnh tâm, đèn nhỏ có sáng nhưng bóng tối vẫn còn... Đến khi nào toàn sáng, không còn lẩn khuất chút tối, mọi thứ minh bạch, tâm chẳng vết ô, không mê không lầm, trí tuệ tợ nhật quang thì chừng đó mới tạm gọi là viên mãn công đức...
Nhưng thưa các vị!... Nói rằng: “đòi hỏi nhiều thứ chứ chẳng phải giản đơn”, xin các vị chớ hiểu lầm rằng: “Phát sinh công đức là công việc phức tạp”, suy nghĩ như thế không đúng. Công đức ra ngoài hai thứ giản đơn và phức tạp. Giản đơn hay phức tạp đều là pháp đối đãi. Đối đãi bởi trong lòng còn có hai pháp, tức là có đây có kia, có mau có chậm, có phải có quấy, có đẹp có xấu... Khi nào trong lòng vắng lặng, thấu triệt đây kia, phải quấy, tốt xấu..., chỉ do tự tâm hiện, nó như mộng ảnh... Giác ngộ như thế, vị này không khởi đối đãi, bặt dứt các duyên, ngoài không chạy theo thấy nghe, trong không sinh tâm vì cái biết... Nếu được như thế, không đòi công đức cũng đến, có trốn chạy công đức cũng theo...
Khi công đức đến rồi mới biết thiệt chẳng có chi là giản đơn cũng chẳng có chi là phức tạp... Nơi thanh tịnh kia chẳng có hai nguyên... Chẳng có hai nguyên, kinh gọi là “bất nhị”...
- Thưa các vị!... Đây là những luận đàm sơ giao, một chút nói năng không thể hết ý. Ngày tháng còn dài, nếu hội đủ duyên, chúng ta sẽ đào sâu những ý nghĩa của tôi vừa trình bày. Vả chăng, dù gì đây cũng chỉ là văn tự ngữ ngôn. Cái khác của Phật học là nơi ngữ ngôn kia, người nghe lắng tâm tĩnh lòng để ngữ ngôn như là dẫn dược, truyền tải ý nghĩa thanh tịnh vào chốn thâm tâm... Không phải như các học thuật thế gian, người nghe nghe xong, tăng trưởng kiến thức, xem đây là chỗ cậy nương làm lớn cái ngã...
Chính điều này mà ngày xưa Thích Gia vẫn thường hay nói: “Ta biết, biết nhiều hơn thế, nhưng chẳng chấp thủ, chẳng nương tựa vào pháp nào, vật gì ở trên đời”.
- Cái thấu triệt của Phật môn chính là “tâm xả”, tốt cũng xả mà xấu cũng xả, đúng cũng xả mà sai cũng xả... Như thuốc trị tâm, tâm lành thuốc hết...
- Thấu triệt đạo lý thì bặt dứt nói năng. Nếu còn chút nghĩ suy nói năng thì cũng như trăng mười sáu, soi sáng khắp nơi mà chẳng hề thấy có soi có sáng... Người đủ duyên thì được sáng, không duyên thì mờ... Sáng hay mờ trăng kia vẫn lặng lẽ, không ngã không nhân... Nghĩ suy, thấy biết như nước chảy qua cầu... Nước chảy qua rồi, cầu chẳng luyến tiếc, nước chưa đi qua, cầu chẳng mong đợi... Cái học Phật gia là nghĩa như thế... Xin các vị hiểu cho!...
Lý Tứ chưa dứt lời, mọi người chắp tay hướng về phía Lý Tứ xá dài... Lão Trượng lên tiếng:
Thiệt chúng tôi sinh ra đời này không uổng. Nay duyên lành được nghe Lão Sư biện thuyết, mỗi mỗi phân minh. Chúng tôi như người trong tối bước ra ánh sáng, kẻ đói được ăn, kẻ nghèo được của... Trước nay lầm tưởng, học Phật như học thế gian, đọc nhiều tụng giỏi. Đọc xong ghi nhớ không sót một chữ không thiếu một lời... chất đầy bụng dạ. Xưa nay những tưởng cái biết này là châu báu, ai dè, ai dè, chỉ là gạch ngói qua lớp vỏ ngữ ngôn của một phàm phu. Than ôi!... Một đời thiệt là may mắn. Ai ngờ Lão Lái Đò hạ bạt mù tối nay lại được thấy trời xanh... Nói xong lão lại xá Lý Tứ một xá.
Lý Tứ thầm nghĩ: Lão này xem qua không phải tầm thường, nói năng trôi chảy, tâm ý thẩm sâu... Những điều mình nói, hình như là lão lãnh hội trọn vẹn... Con người này nhất định mai sau nếu khéo mài dũa sẽ là châu ngọc chớ chẳng phải đồ chơi...
Lục Đệ lại nói:
Lão Sư ơi!... Bao nhiêu công phu trì kinh quán nghĩa của đệ tử xưa nay, nay đã đến hồi đúc kết, như lấy quặng nấu vàng... Nếu chẳng nghe được những lời vàng ngọc của Lão Sư, không biết ngày nào đồ đệ mới bước ra ngoài ánh sáng. Lão Sư mới thiệt là người chèo đò đưa người ra sáng. Một khi chưa ra ngoài sáng cứ ở trong tối nói chuyện ban ngày, chẳng khác nào người mù luận bàn màu sắc. Nói càng nhiều chỉ thêm hý luận... Con hiểu, muốn nói chuyện sáng, phải bước ra nơi có sáng. Không thể ở mãi trong tối mà nghiền ngẫm luận bàn ánh sáng ra sao... Cho dù có bàn hết một đời cũng chỉ là người ở nơi bóng tối... Đạo cốt ở việc dắt người ra sáng rồi họ tự thấy chớ chẳng phải bàn chuyện ngày đêm... Văn tự ngữ ngôn của Lão Sư không có con mắt, không có ngón tay, nhưng lại chỉ được con đường... Xin Lão Sư nhận con làm đồ đệ... Nói đến đây hắn lại quỳ gối lạy dài Lý Tứ... Mọi người còn lại cũng đồng làm theo...
(còn nữa)
Tâm Cầu Đạo Của Trung Nguyên Cửu Tuyệt

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ
“TRUNG NGUYÊN CỬU TUYỆT”… TỪ BỎ… VŨ KHÍ; “DANH - TƯỚNG” VỀ HƯ KHÔNG
Đại bản doanh của Trung Nguyên Cửu Tuyệt gồm một cụm kiến trúc, phía trước là căn chính rộng ba gian. Phía sau là một dãy nhà liên kế có nhiều phòng được xây theo hình cong của trăng lưỡi liềm. Nhà chính và dãy phía sau cách nhau bởi một hoa viên không lớn lắm. Tuy nói là không lớn, nhưng cũng đủ hoa cảnh và hòn giả sơn... Chính giữa hoa viên là một bộ bàn gồm mười hai chiếc ghế bằng đá mài nhẵn và đặt đều đặn chung quanh chiếc bàn tròn lớn cũng bằng đá.
Nhìn tổng thể của cụm kiến trúc này, hình như chủ nhân của nó đã xây dựng trên ý tưởng cách điệu hình chữ sơn, hoặc cách điệu hình dáng chiếc cung và mũi tên đã trương lên đến cực điểm. Dãy nhà phía sau ôm lơi căn nhà chính. Lối kiến trúc như vậy rất hiếm gặp, bởi lẽ cách xây dựng này đòi hỏi cần có một mặt bằng không nhỏ và kinh phí rất lớn. Toàn bộ tòa nhà lưng dựa vào núi Dự Sơn, mặt nhìn thẳng ra Ô Giang. Phía sau là núi phía trước là sông. Tuy tòa nhà đồ sộ nhưng với cảnh quan hữu tình, dưới có sơn thủy trên mây trắng bay đã làm cho khu nhà đầy ắp chất thơ...
Nhà chính có nét gì đó mang nặng dáng dấp kiến trúc thời Đường, bởi những tấm bích họa trên vách và mặt trước của nhà là các họa tiết trang trí được tỉa gọt công phu, cộng thêm một số mảnh thủy tinh được cẩn vào đó tạo nên những nét chấm phá ấn tượng. Thường thì nhìn vào các mảnh thủy tinh và những họa tiết trang trí cũng như tấm bích họa to lớn nhiều màu trên vách cũng đoán biết lối kiến trúc này chỉ bắt đầu xuất hiện ở đời Đường. Bốn mặt của tòa nhà được bao bọc bởi tường rào cao hơn đầu người. Khiến tòa nhà như riêng biệt và tĩnh lặng…
Tiệc chay được bày trên bộ bàn đá giữa hoa viên. Đối diện với bàn tiệc về phía nhà chính là chiếc đỉnh bằng đồng thật to đang tỏa khói... Trung Nguyên Cửu Tuyệt hiện diện đủ chín người. Lý Tứ được mời ngồi ở chiếc ghế chính giữa đối diện với nhà chính có cái đỉnh đồng, bên trái là lão lái đò, bên phải là lão Đại. Tám người còn lại chia nhau trên những chiếc ghế còn lại. Chiếc ghế đá đối diện với Lý Tứ được bỏ trống nhưng ở đó cũng có một bộ chén đũa và đầy đủ thức ăn.
Chờ mọi người yên vị, Lão Đại trịnh trọng đứng dậy, xoa xoa hai bàn tay vào nhau như để lấy can đảm. Lão cung tay chào từng người, rồi lần lượt giới thiệu. Trước nhất lão giới thiệu Lý Tứ. Kế đến lão lái đò. Lão lái đò được Lão Đại gọi với danh xưng tôn trọng là Lão Trượng. Kế đến Nhị đệ, Tam đệ...
Mọi người cung tay trả lễ.
Sau phần nghi thức, Lão Đại lại cất tiếng:
Thưa các vị!... Phần ăn bỏ trống các vị thấy đó, đây là thói quen của anh em chúng tôi. Ghế không có người nhưng vẫn có một phần ăn đầy đủ. Phần ăn này nhằm nhắc nhở chúng tôi rằng, khi có cái ăn không quên người nghèo đói, và cũng để mời những vong hồn vất vưởng không có áo cơm... Nói đến đây, lão mới cất tiếng tuyên bố lý do buổi tiệc:
Thưa các vị!... Bữa tiệc chay hôm nay, anh em Trung Nguyên Cửu Tuyệt rất hân hạnh vì sự hiện diện của Lý Lão Sư và Lão Trượng. Buổi tiệc tuy đơn sơ nhưng mang trong nó nhiều lý do trọng Đại đối với anh em chúng tôi.
Thưa các vị!...
Thứ nhất, ba năm nay chín người chúng tôi đã chán cái cảnh lấy đấu tranh để sinh tồn, treo mình trên đầu gươm mũi giáo. Không phải Trung Nguyên Cửu Tuyệt này sợ gươm đao!... Nhưng sau nhiều trận sanh tử, mạnh được yếu thua, người thua thì người chẳng ra người, người thắng thì trong lòng dính máu của đồng loại. Sau mỗi trận như vậy, anh em chúng tôi tự hỏi lại, mình đã được gì trong cái thua của người... và thắng cái gì trong chính mình...
Những dằn vặt này, đã làm chín người chúng tôi không còn hứng thú làm anh hùng trên ngọn giáo đường quyền. Vì thế, năm rồi chín người chúng tôi hẹn ước với nhau, mỗi người đi một ngả, sau ba tháng lại về đây. Nếu ai tìm được cao nhân có đạo, thì chín anh em đồng bái người đó làm thầy để học. May mắn thay, năm rồi từ một thông tin nhỏ nhoi về Lão Sư Trương Tam tạ thế và có truyền nhân, thế là bằng mọi giá, chín người quyết đi tìm truyền nhân đó.
Trời không phụ lòng người, như các vị đã biết, buổi tao ngộ chiều qua trong cái quán nhỏ, Lý Lão Sư xuất hiện như một báo lành. Thế là mong ước của Trung Nguyên Cửu Tuyệt sắp thành hiện thực... Nói đến đây lão và chín người lại cung tay hướng về phía Lý Tứ xuất lễ...
Thứ hai, buổi tiệc hôm nay đặt dấu chấm hết cho cái tên Trung Nguyên Cửu Tuyệt. Mong Lý Lão Sư và Lão Trượng chứng minh cho sau buổi tiệc này anh em chín người chúng tôi chỉ còn là những huynh đệ tu hành, lấy ngọn rau cây lúa nuôi thân... Bằng hữu giang hồ không còn thấy Trung Nguyên Cửu Tuyệt xuất hiện với gươm bén trên lưng... Thú thật với các vị, bỏ đi hư danh không phải chuyện dễ, lại là thứ hư danh đánh đổi bằng máu xương. Nhưng chín anh em chúng tôi từng là Trung Nguyên Cửu Tuyệt, dựng được tên tuổi trong bằng hữu giang hồ bằng cái tên này, thì nay cũng dám từ bỏ hư danh bằng nghĩa khí của cái tên này...
Tám người còn lại của Trung Nguyên Cửu Tuyệt cùng đứng lên sau lời tuyên bố của Lão Đại và đồng cất tiếng:
Lão Đại nói phải!... Lão Đại nói phải!... Trung Nguyên Cửu Tuyệt tuy từ đây không còn, nhưng vẫn xứng đáng với nghĩa khí của Trung Nguyên Cửu Tuyệt. Nói rồi chín người đồng lột cái đai mang vũ khí. Hai tay trân trọng đặt vào chiếc đỉnh bằng đồng phía sau tòa nhà chính nằm đối diện chiếc bàn ăn trước mặt Lý Tứ đang nghi ngút khói!...
Lý Tứ nghĩ thầm trong bụng, chín người này thiệt không hổ danh anh hùng lại có cái tâm cầu đạo mãnh liệt, dám vứt bỏ hư danh, không phải hạng người tầm thường... Nhưng mà cả bọn đòi tôn ta làm Thầy, thì chuyện này thiệt là khó...
Sau khi chín người đã bỏ hết đai mang vũ khí vào đỉnh đồng để đốt cháy, như đốt cháy một quá khứ...
Chờ mọi người ngồi vào vị trí, Lão Đại cất giọng tiếp:
Xin Lý Lão Sư và Lão Trượng chứng minh cho tấm lòng của huynh đệ chín người chúng tôi. Lần này tuyệt nhiên lão không nhắc đến cái tên Trung Nguyên Cửu Tuyệt. Lão cung tay nói tiếp:
Xin mời Lý Lão Sư!... Xin mời Lão Trượng và các đệ muội nhập tiệc, ăn uống no say rồi, mời các vị lên Đại sảnh chúng ta sẽ hàn huyên tâm sự...
Lý Tứ lại nghĩ, chín người này đúng là hảo hán, chuyện gì ra chuyện đó, tiệc là chỉ để ăn!... Lão không nhắc đến chuyện cầu học, thôi thì cứ “đánh chén” rồi tính tiếp...
*********************
“TRUNG NGUYÊN CỬU TUYỆT”…BÁI “THẦY”
Như mây bay trên trời
Không đẹp cũng không xấu
Người có trí hãy tìm
Cái đẹp, trong cái đẹp.
Vì lợi ích muôn loài
Vì an vui tứ chúng
Vì sanh tử chẳng thật
Nên mây cũng không thật.
Không thật nhưng có vui
Thường cho nhiều lợi ích
Nơi không thật thành thật
Cái người trí cần tìm...
- Lý Tứ -
Mọi người tề tựu về căn giữa của ngôi nhà chính. Ngôi nhà ba gian được phân chia rất cụ thể. Gian bên phải phía trong cùng là một cái tủ lớn đựng Kinh Phật, một số quyển luận và các tài liệu Phật gia... được sắp xếp theo thứ tự kinh trên luận dưới rồi đến tài liệu. Phía trước là một bộ bàn dài với mười hai cái ghế nhẵn bóng không một hạt bụi. Gian bên trái cũng cái tủ lớn nằm phía trong cùng chứa các loại sách thế gian hỗn tạp, gồm đủ, sách của Đạo Gia, Nho Giáo, Triết Học, Binh Thư, Quyền Phổ, Kiếm Thuật, Địa Lý, Lịch Sử... Đối diện tủ sách cũng gồm một chiếc bàn dài và mười hai cái ghế, cũng nhẵn bóng không một hạt bụi...
Gian chính giữa nơi mọi người ngồi, phía trong cùng là bàn thờ lớn thờ Phật rất tôn nghiêm. Phần còn lại được để trống không bàn ghế, khoảng gạch lót sàn được trải chiếc chiếu bông to gần bằng phần diện tích của gian giữa. Với lối bài trí như vậy, mới nhìn qua có cảm giác đây là một ngôi chùa hơn là một trang viện, chỉ khác ngôi chùa ở chỗ, nơi này không có bóng dáng Tăng Sĩ...
Mười một người được mời ngồi trên chiếc chiếu bông ở gian giữa, trước mặt là những tách trà bốc khói phảng phất mùi hoa lài... Vị trí của mười một người là vị trí của buổi tiệc. Đợi mọi người yên vị, Lão Đại với tư cách là chủ nhà, lên tiếng trước:
Thưa Lý Lão Sư, Thưa Lão Trượng cùng các huynh đệ!... Có thể nói cơ duyên hôm nay thiệt là hiếm trên đời. Cơ ngơi này đã thuộc về chúng tôi hơn bốn năm qua. Cũng có rất nhiều buổi tiệc đã được diễn ra ở nơi này, nhưng chỉ có buổi tiệc hôm nay làm anh em chúng tôi hoan hỷ; hoan hỷ bởi lẽ anh em chúng tôi ăn mừng cái cần tìm đã tìm gặp, hoan hỷ bởi lẽ chúng tôi đã khai tử cái cần khai tử, hoan hỷ bởi lẽ chín anh em chúng tôi tâm nguyện sẽ khai sinh cái cần khai sinh...
Tuy thân chín anh em tôi xưa là những kiếm khách giang hồ, nhưng thường tìm cầu đạo lý. Chín anh em chúng tôi nghe ở đâu có cao nhân ẩn sĩ liền tìm đến đó để rửa tai nghe, hầu mong tìm kiếm đạo lý làm thay đổi đời mình.
Tuy là khách giang hồ nhưng chúng tôi là những đệ tử Phật gia, bởi lẽ anh em chúng tôi năm năm trước đồng đến Thiền Môn để nương dựa Tam Bảo. Từ ngày quy y đến nay, trong tâm tưởng chỉ mong gặp cao nhân, chỉ mong gặp được bạn lành cầu làm Thiện Tri Thức. Bởi chúng tôi ý thức rất rõ, như người đi trong đêm tối, nếu không có ngọn đuốc soi đường thì chẳng thể thoát ra khỏi hiểm nạn. Tâm trí của chúng tôi nhỏ hẹp, cái ảo diệu của Phật Môn khó nghĩ suy. Nếu không có cao nhân đưa đường chỉ lối thì cho dù tự thân có nỗ lực cũng chỉ như con thuyền đi vào vùng nước xoáy chẳng thể tự mình thoát ra...
Thưa Lý Lão Sư!... Thưa các vị!...
Mong gặp Thiện Tri Thức như nắng hạn mong mưa rào, như con thơ mong mẹ hiền. Nay gặp được Lý Lão Sư cùng Lão Trượng, nếu các vị không chê chín người chúng tôi, xin nhị vị coi cơ ngơi này là cơ ngơi của các vị... Xin Lý Lão Sư nhận chín anh em huynh đệ chúng tôi làm môn đệ. Bởi lẽ, nếu Lão Sư ở đây mở đường chỉ lối cho chúng tôi, thì chúng tôi cũng không thể thừa kế sản nghiệp trí tuệ của Lão Sư.
Vì danh có chính thì ngôn mới thuận, chỉ có con mới chính danh thừa hưởng tài sản của cha, chỉ có trò mới chính danh thừa hưởng trí tuệ của thầy.
Nếu Lão Sư coi chúng tôi như những huynh đệ khách quan, khi còn ở đây thì còn chút ý vị, khi Lão Sư ra đi thì khách vẫn hoàn là khách. Lẽ nào khách quan lại thừa kế sản nghiệp người ngoài... Chúng tôi ở giang hồ đã lâu, cái đạo nghĩa “thọ giáo” là như vậy. Không chính danh làm đệ tử mà học chiêu thức của người là Đại kỵ... Đạo lý giang hồ mà còn như vậy, chẳng lẽ đạo lý làm thay đổi một con người lại khác đi chăng? Xin Lão Sư thương tình chín cái thân phận nghèo đói đạo nghĩa này mà không nỡ từ chối. Nói đến đây, cả chín người đồng chắp tay hướng về Lý Tứ xá ba xá...
Lý tứ thầm nghĩ, chín người này quả là “tâm ý giống nhau”. Ở đời sao lại có chín con người nhìn bên ngoài thì khác nhau nhưng nghĩ suy lại không khác, đồng như là một... Cách ăn nói của Lão Đại thiệt là đưa ta vào thế khó xử. Ta một đời chỉ thích ung dung không muốn trói buộc, ham ưa cô độc, đứng cũng một mình, đi cũng một mình, có nhà thì ở, không nhà nằm gốc cây đánh giấc. Cuộc đời như con chim bay lưng trời, chẳng thích hơn sao... Nay nếu nhận lời với chín con người này thì thiệt là mệt mỏi... Lý Tứ chưa kịp suy nghĩ hết ý thì Lão Trượng lại nói tiếp:
Lời của Lão Đại thiệt là chí lý. Từ hôm qua đến giờ, sau khi nghe Lão Sư phân tích ngọn nguồn trên dòng Ô Giang, lòng lão thơ thới, tâm trí sáng tợ ánh trăng rằm. Nghe được lời Lão Sư như người đặt gánh nặng xuống. Cái chấp nhất ngày xưa của Lão Lái Đò bỗng dưng tan biến, chỉ còn lại cái hoan hỷ như gió thổi mát lòng... Từ hôm qua đến nay, ngồi bên Lão Sư như được ngồi dưới bóng tùng bóng bách...
Cái phong thái của Lão Sư làm lão đây như cởi bỏ cái trói buộc thế thường để bước vào Phật quốc... Lão đây một đời đã gần đất xa trời nay may nhờ có Lão Sư mới được hưởng chút an lạc nhỏ nhoi của vị ngọt giải thoát. Nếu Lão Sư thương tưởng đến cái thân già này, xin Lão Sư cho già này được ngày ngày nương tựa bên Lão Sư mà nghe diệu lý. Nói đến đây, lão quỳ hai gối lạy dài Lý Tứ...
Trước tình cảnh này, Lý Tứ buộc phải lên tiếng:
Thưa các vị!... Các vị thương tình Lý Tứ này mà ban tặng những lời tốt đẹp, khiến Lý Tứ tôi chột dạ... Nhưng thưa các vị, như hồi qua trên thuyền Lý Tứ tôi đã minh bạch với các vị. Lý Tứ tôi không phải thần thánh, cũng chẳng phải từ trên trời rớt xuống... Xin các vị đừng thần thánh hóa cá nhân tôi.
Đạo lý nhà Phật như biển rộng sông dài, như núi cao rừng rậm. Cái mà Lý Tứ học được chẳng thấm gì so với các Cao Tăng đắc đạo. So với Cổ Đức thì Lý Tứ này chẳng qua là kẻ hậu học... Những điều Lý Tứ tôi biết hôm nay, chẳng phải tự mình có được bởi lẽ sức người có hạn. Mà những điều hôm nay có được là của Thầy Tôi tức Trương Tam Lão Gia khó công dạy dỗ, và một phần do tích góp từ Tam Tạng Kinh Điển Thánh Giáo... Thành ra bảo những thứ này là của tôi thì không đúng. Tôi chẳng qua chỉ là người “nhặt lá trong rừng” được chút ít chẳng dám coi là đủ. Cái được này chẳng phải để Lý Tứ lấy đây làm thầy, mà chỉ cầu mong lấy những gì đã biết làm chỗ răn mình...
Thưa các vị!... Các vị xin học nơi tôi, điều này Lý Tứ cảm ơn vì không ngờ trên đời còn có người coi trọng mình. Nhưng thưa các vị, nhân duyên gặp gỡ giữa tôi và các vị chưa lâu, chừng mấy chục canh giờ thì làm sao các vị có thể khẳng định tôi xứng đáng làm thầy các vị... Phật dạy:
“Muốn biết trí tuệ của một người phải rất nhiều ngày đàm đạo với người đó; muốn biết phạm hạnh của một người thì phải chung sống với họ dài lâu”...
Đằng này chẳng qua tôi và các vị mới vừa bén duyên bèo mây. Lẽ nào mình không lưu ý lời dạy của Đấng Chân Ngữ...
Nếu ngày nay chỉ qua một vài câu nói, một vài hành động quái gở của tôi mà quý vị vội vã nhận đây làm thầy thì e rằng việc làm này hồ đồ chưa chín chắn.
Kẻ học đạo muốn thành tựu, mọi thứ phải soi xét thật kỹ.
Như người đời lập bàn thờ, khi thờ cái gì thì phải hiểu rõ cái này vì sao tôi thờ phụng. Cái tôi thờ phụng có thật xứng đáng hay không? Thờ phụng như vậy thì lợi ích gì cho bản thân và xã hội... Nếu không xét soi thấu đáo, không nhìn ngó trước sau mà làm thì có khác chi kẻ đầu quán trọ... Mà làm kẻ hồ đồ, ngày sau nhất định ân hận. Đã là kẻ trí khi đã làm việc gì rồi thì chớ có ân hận.
Bởi lẽ, việc làm của kẻ trí được thực hiện trên nền tảng lý lẽ thuyết phục và cơ sở đúng đắn, mọi thứ được soi rọi kỹ càng...
Người trí không nên vội vã, mọi thứ phải tường tận rồi mới làm. Nếu chưa tường tận mà làm, thì chẳng khác gì người thiếu trí. Việc làm như vậy sau này sẽ hổ thẹn với lòng...
Thưa các vị!... Lý Tứ tôi một đời chỉ thích cô độc, không thích bằng hữu nhộn nhịp, ham cái hạnh độc cư... Lý Tứ chỉ thích tự do như con chim giữa bầu trời vui thì đậu, buồn thì bay. Tôi trộm nghĩ, thầy trò là nghĩa ràng buộc. Thà làm huynh đệ với nhau. Nếu Lý Tứ tôi nói điều gì phải thì huynh đệ ngồi đó lóng tai nghe, nhược bằng Lý Tứ tôi nói điều chẳng phải thì các vị có quyền phủi y phục một cái rồi cất bước bỏ đi, không thèm ngoảnh lại cũng chẳng có sao... Vui thì gặp mặt, chẳng vui thì xa lánh; không có gì ràng buộc, chẳng nợ nần gì nhau...
Nay nếu tôi và các vị nên danh nghĩa thầy trò, thì chẳng thể làm thế được. Đã là thầy trò thì đến đi phải phép tắc, ngồi đứng phải lễ nghi, nói năng phải cẩn trọng...
Đã là thầy trò thì các vị nhất nhất phải nghe tôi, cho dù điều đó trước mắt vì lý do nào đó các vị thấy chưa đúng với mình... Nhất nhất phải nghe lời vì rằng, nếu cãi lại thì đành phải chịu mang tiếng cãi thầy, lại phải hứng chịu quả báo không nhỏ về sau, vì đây là tính tất yếu của nhân quả, mà Phật giáo rất coi trọng nhân quả...
Cãi thầy là tự bít lối đi, tự đóng cửa trí tuệ...
Các vị thử nghĩ coi? Giữ cái đạo thầy trò có phải tự ràng buộc nhau không?
Thưa các vị!... Học đạo trên đời đã có Cao Tăng. Tôi và các vị có giỏi lắm cũng chỉ là tục gia đệ tử, đồng hàng như nhau. Lấy Tam Bảo làm chỗ cậy nương... Đành rằng tôi có Thầy cũng là tục gia đệ tử, nhưng thầy tôi trong mắt tôi không phải người phàm, chẳng qua mượn cái lốt tục gia để dễ bề lui tới... Chuyện này e rằng ngàn năm có một. Vả chăng, Thầy tôi chỉ nhận mình tôi làm học trò, “cây sanh một trái”... Nay tôi chưa nghĩ đến chuyện làm thầy!... Xin các vị cảm thông...
Tấm lòng các vị, Lý Tứ tôi xin tâm lãnh, còn sự việc như thế nào tôi chưa dám hứa. Và cũng để có thời gian mọi người hiểu nhau rồi mới quyết định cũng không muộn, chớ có vội vàng. Nhưng để thỏa lòng tao ngộ, Lý Tứ tôi xin được phép ở lại đây hầu chuyện các vị vài bữa. Chúng ta thẳng thắn trao đổi với nhau, bổ sung cho nhau những khiếm khuyết của mình về đạo lý...
Lý Tứ cũng xin các vị cho Lý Tứ tôi một điều, khi nào thấy duyên ở đây đã cạn, Lý Tôi sẽ ra đi mà không báo trước...
Lão Trượng lại lên tiếng:
Những lời khẳng khái của Lão Sư đã tỏ lộ cái phong thái bất phàm. Dù Lão Sư có thối thác, trong lòng già này từ đây quyết coi Ngài là Thầy của mình... Dù có thịt nát xương tan, lão đây cũng không ân hận... Dù mai này Lão Sư có như thế nào, trong mắt của lão đây thì Lão Sư cũng xứng đáng cho đồ đệ đội trên đầu mà hãnh diện vì được làm đệ tử của Lý Lão Sư... Nói đến đây lão quỳ xuống lạy ba lạy... Lão tiếp:
Than ôi!... Từ ngày hôm qua, đồ đệ đã quên chuyện danh tướng... Tăng hay tục đối với đồ đệ không còn quan trọng nữa.
Quan trọng của đạo là ở trí tuệ cạn sâu, và cái bất phàm chính là nghi biểu cao vút vượt lên trên mọi nghi thức phàm tình thường hay cột trói phàm nhân.
Lão nói đến đây, cả chín người còn lại cũng đồng làm theo Lão Trượng!...
Lão Trượng vừa dứt lời, Lão Đại lại tiếp:
Phật gia có dạy: “Khi người tu hành ở ngọn núi nào, ở khu rừng nào, ở gốc cây nào, ở với người nào mà không làm cho người tu hành sáng tỏ diệu lý, không hết phiền não, không hết trói buộc, đời sống khó khăn thì người tu hành hãy mau mau từ bỏ ngọn núi đó, từ bỏ khu rùng đó, từ bỏ gốc cây đó, từ bỏ con người đó mà đi, chớ nên luyến tiếc... Còn nếu, ngọn núi nào, khu rừng nào, gốc cây nào, con người nào... mà ở đó làm cho người tu hành sáng tỏ diệu lý, hết phiền não, ra khỏi trói buộc, đời sống dễ dàng, thì cho dù nơi đó có đánh đuổi cũng chớ có bỏ đi”.
Lời Phật Gia đã rõ, nay anh em chúng tôi biết rõ nơi nào cần đến, người nào cần thân cận... Xin Lý Lão Sư nghĩ lại... Rồi Lão tiếp:
Nhưng lời của Lão Sư vừa dạy cũng không phải không có cái lý của nó, và lời khẳng khái của Lão Trượng khi nãy cũng là tâm nguyện của hết thảy chúng tôi.
Chúng tôi chỉ cầu xin, khi nào Lão Sư thấy hợp thời thì cho phép anh em chúng tôi lễ Ngài để được làm môn hạ.
Lý Tứ tiếp lời:
Thưa các vị!... Đã là duyên lành thì cho dù trăm sông ngàn núi cũng không vì thế mà cách ngăn, muôn năm vạn kiếp cũng chẳng thể mất dấu... Cái nghĩa thầy trò không phải một sớm một chiều mà quyết định được như người ta mua củ khoai trái chuối.
Đã nên danh phận thầy trò thì đời đời kiếp kiếp, chưa đến vô thượng chẳng thể bỏ nhau... Thuở xưa, từ ngày còn là bầy chim nhạn, tất cả dắt dìu nhau đến Phật quả há chẳng phải chuyện đùa. Duyên lành cho dù trải qua bao nhiêu thân cũng là anh em huynh đệ thầy trò...
Như vạn mũi tên từ một người bắn ra, cho dù mũi tên đã rời khỏi cây cung, thì tất cả cũng đồng đi về một hướng. Thành ra, cái nghĩa thầy trò là định hướng đời đời kiếp kiếp. Vì thế, chớ có vội vàng. Người trí một lời đã quyết cho dù vạn kiếp không quên... Xin các vị suy nghĩ thật kỹ. Lý Tứ tôi chẳng phải kẻ hẹp hòi, chẳng phải kẻ có bánh ngon lụa tốt giấu kín để riêng mình ăn, riêng mình mặc. Nhưng chuyện này là cả một đời, thậm chí vô lượng... Mong các vị bình tâm suy xét kỹ càng, ngày tháng còn dài, có chi đâu mà vội...
Thưa các vị!... Thôi thì hãy tạm gác chuyện này sang một bên. Tôi còn đây, các vị còn đó.
Nếu chúng ta quyết phải duyên thầy trò, thì không thể mất.
Còn ngược lại, nếu có cố sức thì cũng chỉ như tiếng gió phát ra từ ngọn cây cao, gió dừng tiếng mất...
Duyên chúng ta gặp nhau ở đây, cái cần nhất là đổi trao đạo lý. Để không uổng phí thời gian, mong rằng trong các vị, ai có điều gì hay, ai thấy điều gì tốt có thể giúp nhau an lạc thì chia sẻ cho mọi người. Các vị và tôi, ai có điều gì chưa thông, cũng nên đem ra nơi đây luận bàn để cùng nhau sáng tỏ... Xin mời các vị!... Mọi người nên thẳng thắn vì lợi ích của nhau... Xin mời các vị cùng tôi nâng ly, trà đã nguội rồi!...
(còn nữa)
Trung Nguyên Cửu Tuyệt… Tìm Cầu Chân Lý

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ
Lý Tứ chắp hai tay vào nhau, gập người xá một cái đáp lễ Trung Nguyên Cửu Tuyệt rồi dõng dạc nói:
Thưa các vị anh hùng!... Hôm nay có duyên lành Lý Tứ tôi cùng các vị anh hùng gặp gỡ nơi đây, thiệt là không uổng sinh ra ở đời này. Tuy vậy, chớ có lễ nghi thái quá. Đành rằng lễ giáo là căn bản của người, là biểu lộ của sự tôn trọng. Nếu thiếu lễ nghi thành ra phường vô lại, nhưng nếu để cho lễ nghi cột trói, thì thành kẻ làm tôi mọi cho lễ nghi.
Lý Tứ tôi cũng chỉ là con người bằng xương bằng thịt như các vị, chẳng phải thần thánh từ trên trời rơi xuống.
Vì là con người nên mới rèn luyện tu học, chừng nào chưa thành Phật thành Thánh thì còn phải học, còn phải sửa mình. Sửa mình cốt ở tâm chứ chẳng phải hình dáng bên ngoài. Thành thánh là thành tựu ở tâm chứ chẳng phải ở thân. Đành rằng tâm nương nơi thân, nhưng thân là cái quả đã thành. Dù có tu đến đắc đạo hiện tiền, thì chẳng thể mọc thêm ba mắt sáu tay...
Các vị!... Đạo cốt ở thẳng ngay, gọi là trực tâm, không trau chuốt bên ngoài. Nếu chỉ lo cho cái bên ngoài giả tạm thì cái tâm sẽ theo đó mà duyên nơi giả tạm, cái đạo thật và tâm thật sẽ không hiện.
Thế nào gọi là trực tâm?
Trực tâm là thẳng ngay đến vô thượng. Muốn được điều này phải xả bỏ những dối trá quanh co. Người trực tâm thì thương nói thương, ghét nói ghét, phải nói phải, quấy nói quấy. Trực tâm là tôn trọng chân lý, ai nói đúng mình phải nghe, chẳng vì nể nang mà biến cong thành ngay, biến đen thành trắng. Người trực tâm không mù quáng cả tin, mọi thứ minh bạch. Khi nghe ai nói điều gì phải hỏi lại cho rõ ràng, tại sao phải làm cái này, làm cái này thì được gì... Vì sao không làm cái kia, làm cái kia thì hại chỗ nào... Làm hay bỏ nhất định đều có cái lý của nó...
Tôi và các vị gặp gỡ nơi đây, nếu muốn là tri kỷ của nhau thì phải lấy trực tâm mà đối đãi, không vì nể nang, không vì danh lợi. Lý Tứ tôi nói điều gì không đúng, các vị cứ nói rằng lý Tứ nói không đúng. Nếu nói đúng thì mọi người nghe, rồi lấy đó ứng dụng cho mình. Đúng hay sai phải căn cứ vào chân lý chứ không căn cứ vào tình cảm ghét thương.
*******************
Chân lý là mực thước để đo lường đúng sai. Người tôn trọng chân lý mới xứng đáng gọi là chánh nhân.
Đã là chân lý thì không kể tuổi tác, người nhỏ mà nói đúng thì người lớn phải nghe. Vì sao?... Vì nghe chân lý chứ không phải nghe cái đầu bạc...
Các vị!... Chân lý chính là con đường đưa ta thoát ra khỏi mọi trói buộc phiền não. Người đời phiền não là vì không có chân lý, chỉ trọng cái bên ngoài, chạy theo hư danh... Họ không biết rằng tự tâm xưa nay không hề có mấy thứ này. Không có mấy thứ này gọi là bổn tâm thanh tịnh. Vì không biết được bổn tâm nên người đời lấy hư danh làm tâm, lấy lợi lộc làm tâm, lấy địa vị làm tâm, lấy thấy nghe làm tâm... Tóm lại, những thứ này đều hư dối vì vô thường, trước không nay có, có rồi lại không...
Nếu lấy những thứ đó làm tâm, một khi mất chúng sẽ đâm ra khổ sở phiền não... Vì thế, phải quay lại chính tâm này, quán sát thật kỹ để thấy tâm này bản lai chưa từng sinh khởi. Nay vì mê nơi thân căn, mê nơi trần cảnh mà có sinh tâm. Các thứ tâm được sinh khởi từ thấy nghe và nghĩ suy gọi là hư vọng tâm. Muốn đến vô thượng thì đừng nên sinh khởi tâm hư dối.
Các vị!... Các vị là những anh hùng, không phải vô cớ mà có cái tên Trung Nguyên Cửu Tuyệt. Nhưng cũng chính vì cái danh này, nó đã cột trói cuộc đời các vị.
Gì là Cửu Tuyệt? Các vị nói cho tôi nghe đi? Nếu các vị có được chín điều hơn người thì điều thứ mười, điều thứ mười một... các vị không hơn. Hơn thua là cái gốc của phiền não, cái gốc của đấu tranh. Các vị hô hào “tìm lại chính mình” mà đi lấy cái hơn làm trọng. Cái hơn không phải là mình, cái thua không phải là mình. Cái gọi là mình đích thực, thì bổn lai chẳng có hơn thua. Lấy cái hơn thua làm mình thì nó là cái hơn thua chứ đâu phải là mình.
Ngày xưa Lục Tổ nói một câu chí lý: “Huệ Năng không nghề hay”… Vì chẳng thấy có nghề hay nên mới làm Tổ. Nếu mà Huệ Năng thấy mình có cái hay cái tuyệt, thì chỉ xứng đáng làm một phàm phu...
Các vị!... Các vị ở Trung Nguyên, có danh xưng là Trung Nguyên. Các vị nói đi!...
Cái gì là Trung Nguyên?… Trung Nguyên nếu hiểu rằng nó là cái chính giữa hai nguyên “âm” và “dương” theo cách hiểu của Đạo Gia, thì Trung Nguyên này sẽ bị chính sự vận động của hai nguyên “âm” và “dương” làm cho sinh diệt. Thái hay thiếu đều sinh phiền não. Còn nếu cố cân bằng cho được hai nguyên này, thì cái gốc là Trung được làm ra bởi nỗ lực cân bằng vẫn chưa mất. Chưa mất có nghĩa rằng giềng mối phiền não sanh tử còn đó...
Còn Trung Nguyên nếu hiểu theo Nho Gia, là cái nôi của thiên hạ; là trung tâm chi phối chung quanh, thì Trung Nguyên này là giềng mối của đấu tranh mạnh được yếu thua. Hiểu chữ Trung theo nghĩa này, phát sinh cái ngã, sanh tử không dứt.
Các vị!... Thế thì hiểu như thế nào mới đúng là Trung Nguyên?… Vì trong tâm không thấy có đây kia, không có đây kia nên mới chính danh là Trung. Nếu có hai phương sở đây kia thì chữ Trung ở đây chỉ đúng với phương sở này mà không đúng với phương sở khác, thành ra chữ Trung như vậy không phải là chân lý. Vì thế các vị, khi nào hiểu được rằng, bản lai chẳng có hai nguyên, thì nơi chẳng có hai nguyên này mới chính là Trung. Khi nào thấy thật chẳng có cái gì là Tuyệt, thì cái thấy này mới rốt ráo Tuyệt. Như vậy, các vị thử nghĩ lại coi cái gì mới thật là Trung Nguyên Cửu Tuyệt...
Để cho mọi người thấm cái đạo lý mới nói, Lý Tứ im lặng một hồi rồi tiếp:
Các vị!... Hồi tối đến giờ, chúng ta giong thuyền trên dòng Ô Giang này. Khi nãy Lão Đại ca có kể, “Ô Giang tháng nắng thì trong tháng mưa thì đục”, đục vì bởi nước từ bờ tây chảy xuống mang theo tạp chất làm nhiễm ô. Như vậy, bản chất của Ô Giang là trong hay đục? Nếu bản chất của nó là trong, thì làm sao đục được!... Còn nếu bản chất của nó là đục thì sao tháng nắng lại trong? Nói Ô Giang trong vì có Ô Giang đục. Cũng vậy, thưa các vị!...
Nguồn tâm của một hữu tình bản lai chẳng có trong đục, trong đục chỉ tại nhiễm ô. Khi nhiễm, nước của Ô Giang nhiễm. Khi trong, nước của Ô Giang trong. Chứ thật ra Ô Giang tánh của nó chưa từng trong đục.
Cái đạo lý này nếu chạy theo khái niệm đục trong thì chẳng thể hiểu được. Kinh có dạy: “bất cấu bất tịnh” có nghĩa rằng, nước Ô Giang có cấu có tịnh chứ bản chất thật của Ô Giang ra ngoài cấu tịnh. Cái vượt ngoài cấu tịnh gọi là “thiệt tướng”. Vì thế, kinh nói: “Thiệt tướng là nhất tướng, nhất tướng là vô tướng”.
Như vậy, muốn không bị nhiễm ô thì phải rời lìa các tướng nhiễm ô. Muốn rời lìa tướng nhiễm ô phải thấy được bản chất của tâm chưa từng bị nhiễm ô, gọi là thấy tánh. Tánh đó là tánh gì?... Tánh đó là không tánh...
Sao gọi là không tánh?...
Ví dụ như nước, tánh của nó chẳng bị nhiễm cùng không nhiễm làm ngại... Nhiễm là tướng của nước bị nhiễm chứ chẳng phải tánh nước bị nhiễm. Rời các tướng nhiễm ô thì không tánh tự hiện. Ví như có đèn thì sáng, không đèn thì tối. Sáng tối bởi có đèn hoặc không đèn chứ chẳng phải hư không kia có sáng tối...
Các vị!... Chưa được nửa canh giờ nữa là chúng ta đến Lưu Khanh. Các vị thấy đó, một chữ lưu khi viết ra có hai mươi bốn chữ khác nhau, nhưng khi đọc thì có một âm, phân thành sáu nghĩa... Cũng đọc là lưu nhưng có lúc lưu nghĩa là giữ lại, ví dụ như “lưu nhậm” (ở lại làm việc quan), hay “án vô lưu độc” (văn thư không đọng lại); cũng có lúc đọc là lưu nhưng lại có nghĩa trôi đi..., ví dụ như “hải lưu”, “lưu hành”... ; cũng chữ lưu nhưng có lúc nghĩa là dòng như “cửu lưu” (chín dòng; (1) nhà Nho; (2) nhà Đạo; (3) nhà Âm Dương; (4) nhà học về pháp; (5) nhà học về danh; (6) nhà Mặc; (7) nhà tung hoành; (8) nhà tạp học; (9) nhà nông…)...
Như vậy đồng thời một âm là lưu nhưng lúc có nghĩa chảy, lúc nghĩa dừng, lúc nghĩa dòng. Xét đến đây mới thấy văn tự ngữ ngôn kia không tánh. Chữ lưu là “chảy, hay dừng, hay dòng”? Chảy, hay dừng, hay dòng… chỉ tại tâm này muốn ám chỉ cái gì đó... Ám chỉ, rồi chấp chặt thành ra văn tự có tánh nọ tánh kia... mà kỳ thực, như chữ lưu tự nó không nghĩa, không tánh...
Phật đạo chỉ ra rằng, chỉ vì không biết rõ “bổn tâm không tánh không tướng” như bản chất chữ lưu không tánh không tướng, mà hữu tình phải chịu phiền não. Chỉ vì chẳng thấu triệt nguồn cơn mà một hữu tình ở mãi trong ba cõi. Không rời ba cõi thì gọi là lưu; chỉ vì không biết rõ nguồn cơn mà hữu tình mãi trôi lăn chảy trong ba cõi cũng gọi là lưu; chỉ vì không biết rõ nguồn cơn mà hữu tình bị bốn dòng cuốn trôi trong phiền não cũng gọi là lưu...
Dù ở mãi trong ba cõi hoặc trôi trong tam giới hay bị bốn dòng cuốn vào phiền não đều không ngoài tâm. Nếu không thấy được bản lai tâm này bất động tự không, thì khó mà thoát ra những thứ ấy. Bị lưu giữ nơi ba cõi vì không biết ba cõi do mê tâm tự hiện.
- Vì mê tâm mà ham muốn thêm nhiều nên bị dục giới cột trói.
- Ưa thích thân này và các cảm thọ thuộc về thân nhất định bị sắc giới cột trói.
- Ỷ thị nơi hiểu biết thì khó mà ra khỏi vô sắc giới...
Nếu nơi thấy nghe mà không biết hộ trì, thì bị dòng chảy của thấy nghe cuốn hút gọi là trôi trong dục giới. Nhận thân và các cảm thọ làm ta thì tối ngày chỉ nghĩ đến thân, không thoát ra khỏi dòng suy nghĩ của thân gọi là sắc giới cuốn trôi. Dựa vào hiểu biết lấy đây làm nhân ngã tôi anh hơn thua được mất, thì tâm thức bị chảy trong những nghĩ suy hư dối khó ra khỏi vô sắc...
Nơi thấy nghe mà tâm không dừng được thì bị dòng chảy thấy nghe làm cho phiền não gọi là kiến lưu. Nơi tham dục mà tâm chẳng chịu dừng thì gọi là kẻ trôi trong dục lưu làm nhiễm ô phiền não. Nơi thân cảm mà chẳng biết vượt qua thì sẽ bị cuốn nơi hữu lưu làm cho dậy khởi muộn phiền. Nơi hiểu biết hư dối mà không tịch diệt thì khó thoát ra khỏi vô minh lưu.
Bốn dòng kiến lưu, dục lưu, hữu lưu và vô minh lưu là đầu mối của phiền não, gọi là “phiền não trụ địa”.
Các vị!... Chúng ta đang đi trên dòng Ô Giang và nơi sẽ đến là Lưu Khanh.
Kẻ trí nhân đi nơi Ô Giang mà thấu suốt nghĩa chẳng nhiễm ô. Đến Lưu Khanh mà chẳng bị dừng hay trôi làm ngại.
Các vị!... Nếu nhân duyên tao ngộ giữa tôi và các vị đêm nay mà chẳng có gì lợi ích cho nhau; chẳng nhân gặp gỡ này mà thấu suốt cái chẳng gặp, chẳng thấy được đi trên sông mà dòng tâm thức rỗng rang, đến thôn trang mà tuyệt vô năng sở. Có trăng mười sáu soi đường mà chẳng dứt vô minh, thì thôi thà chẳng gặp còn hơn.
Lý Tứ này lòng dạ khẳng khái đã quen, không đầu môi chót lưỡi, chẳng ham ưa lễ nghi, chẳng văn từ khách sáo. Nếu vị nào thấy Lý Tứ tôi nói sai điều gì thì xin chỉ giáo để Lý Tứ này học tập. Bằng ngược lại thì chúng ta có thể làm bằng hữu của nhau, cùng nhau trao đổi những điều chưa biết để thấu suốt tâm này. Có như thế mới gọi là tri kỷ.
Lý Tứ tôi có thói quen không áp đặt lên người, đấy là cốt lõi của đạo giải thoát. Vị nào thấy hợp duyên thì đồng hành thấy trái duyên thì ngày đến chia tay. Dù đồng hành hay chia tay đều là duyên lành gặp gỡ... Nói đến đây Lý Tứ chắp tay gập mình một lần nữa lấy lễ đối với sáu người.
Ông lái đò từ chặp tối đến giờ ngồi ở cuối con thuyền, lặng thinh làm công việc của mình. Có lẽ kinh nghiệm “đưa khách giang hồ” thường xuyên đã dạy ông bài học “im lặng”... Nhưng khi Lý Tứ vừa dứt lời, ông lão lái đò vội vàng lên tiếng trước:
Tôi đã một đời lái đò trên dòng Ô Giang này hơn mấy chục năm, đã đưa không biết bao nhiêu anh hùng hảo hán qua sông, đã thấy không biết bao nhiêu cao nhân học sĩ, đã nghe không biết bao nhiêu luận giải thánh hiền. Nhưng nay tận mắt thấy, tận tai nghe được những lời luận biện của khách quan thiệt như cởi tấc lòng. Bao nhiêu lần đi trên Ô Giang mà lòng trĩu nặng vì cái nghĩa đục trong. Bao nhiêu lần đi qua Lưu Khanh mà lòng chưa dứt bỏ. Nay nghe được những lời vàng ngọc của khách quan tôi mới thật sự cảm nhận hết ý nghĩa thanh lương của con trăng mười sáu rọi khắp Đại ngàn. Lòng bỗng dưng thanh thản như uống nước cam lồ. Khách quan ơi, nếu chẳng chê cái nghề hạ bạt “chèo đò” của già này, xin khách quan nhận của già này một lễ. Cái lễ của cả cuộc đời ngu tối giữa đêm trăng.
Lý Tứ chưa kịp phản ứng, lão lái đò đã cúi đầu chắp tay xá dài. Lão tiếp:
Các vị Trung Nguyên Cửu Tuyệt!... Không biết bao lần lão đã đưa các vị qua đây, nhưng với thân phận thấp hèn, lão chẳng dám trèo cao. Vả chăng lão vì ngân lượng mà chèo đò chứ chẳng thích đạo nghĩa giang hồ. Nay mới biết các vị với cái vẻ bên ngoài là những hảo hán nhưng trong thâm tâm lại là những kẻ có tấm lòng vàng. Trên mình đeo gươm đao mà trong tâm chứa toàn từ bi hỷ xả... Để tỏ lòng trân trọng với các vị và cung kính cao nhân khách quan Lý Lão Sư, xin cho lão này từ đây được chèo đò đưa các vị tới lui mà không cần ngân lượng. Chỉ mong rằng ngày mai ngày mốt, nếu có đàm luận đạo nghĩa, xin nhắn một tiếng lão già này sẽ đưa các vị đến bất cứ nơi nào các vị muốn. Và xin được ngồi chỗ thấp nhất rửa tai nghe đạo lý. Một đời già này nếu có ra đi cũng không uổng miếng cơm hơi thở...
Lý Tứ và năm người Trung Nguyên Cửu Tuyệt đồng hướng về phía lão chèo đò chắp hai tay và gập mình thủ lễ.
Nét hân hoan hiện lên trên khuôn mặt từng người như sáu ngôi sao tỏa sáng...
(còn nữa)
Trung Nguyên Cửu Tuyệt… Chuyện Kể… Bên Dòng Ô Giang

Tâm Pháp - Tác giả Lý Tứ
“Ai biết lý duyên khởi sẽ biết được pháp;
Ai biết được pháp sẽ biết được không pháp;
Ai biết được không pháp sẽ thấy được nghĩa không;
Ai thấy được nghĩa không sẽ thấy được thật pháp;
Ai thấy được thật pháp sẽ thấu suốt Phật pháp”.
LÝ TỨ
Dưới ánh trăng mười sáu, dòng Ô Giang ngập chìm trong huyền ảo. Xa xa bờ Tây là những dãy núi chập chùng sừng sững giữa màn đêm. Dòng nước bạc lấp lánh, rồi nhỏ dần trong tầm mắt. Trăng trên trời và trăng dưới nước chầm chập nhìn vào nhau ở đầu thuyền. Gần hai canh giờ chiếc thuyền nhẹ nhàng khua nước tiến về phương Nam. Cả hai mặt trăng dưới nước và trên trời như là những kẻ dẫn đường bất động đang dắt con thuyền đi tới bởi sợi dây vô hình...
Lý Tứ và Trung Nguyên Cửu Tuyệt trên con thuyền nhỏ tràn ngập ánh trăng, không nói với nhau một lời. Mỗi người theo đuổi một ý tưởng riêng. Cái đẹp của đất trời và cái đẹp của những tấm lòng đã vẽ nên bức họa tâm linh...
Để phá tan cái tĩnh lặng, Lão Đại lên tiếng trước:
- Thưa Lý Lão Sư, còn chừng nửa canh giờ là chúng ta về đến thôn trang. Con sông chúng ta đang bơi thuyền có tên là Ô Giang. Đây là một nhánh của Cán Giang, một trong bốn con sông lớn của Trung Nguyên. Con sông lớn Cán Giang chảy qua địa phận Giang Tây. Giang Tây là một dãy giang sơn phía nam Trung Nguyên trải dài từ bờ sông Dương Tử ở phía bắc đến các khu vực có nhiều đồi núi hơn ở phía nam. Người ta gọi Giang Tây xuất phát từ cách nói gọn của bốn chữ “Phía tây Giang Nam”, nghĩa là đất này nằm ở phía tây Giang Nam hay phía tây của phía nam Dương Tử. Giang Tây giáp An Huy ở phía bắc, Chiết Giang ở phía đông bắc, Phúc Kiến ở phía đông, Quảng Đông ở phía nam, Hồ Nam ở phía tây và Hồ Bắc ở phía tây bắc.
Từ phương bắc muốn xuôi về nam, đường mòn thì nhiều nhưng phải qua núi cao rừng thẳm, hiểm họa khó lường. Khi Cán Giang chảy qua Giang Tây, như biết rằng phương nam đồi núi khô cằn đang chờ dòng sữa của mình. Nó đã tách ra một nhánh để chia phần cho phương nam, và đồng thời lấy đây làm huyết mạch nối liền hai đầu nam bắc... Con sông Ô Giang tháng đục tháng trong. Những tháng mùa nắng trong vắt, còn tháng mùa mưa đục ngầu do nước từ trên núi cao ở bờ tây chảy xuống. Tuy đây chỉ là một nhánh sông nhỏ, nhưng nó là chứng tích của một anh hùng. Nói đến đây, Lão Đại ngước mặt nhìn trời, rồi nhìn về xa xăm, lão thở dài chầm chậm kể:
Ngày xưa sau khi mất đất ở phía tây, Hạng Vương muốn đi sang phía đông, vượt sông Ô Giang. Người đình trưởng Ô Giang cắm thuyền đợi sẵn, y bảo Hạng Vương:
Giang Đông tuy nhỏ, đất hàng ngàn dặm, dân vài mươi vạn, cũng đủ làm vương. Xin Đại vương mau mau vượt sông. Nay chỉ một mình thần có thuyền, quân Hán đến không có cách gì vượt qua.
Hạng Vương cười nói:
Trời hại ta!... Ta vượt qua sông làm gì!... Vả chăng tịch này cùng tám ngàn con em Giang Đông vượt Trường Giang đi về hướng tây, nay không còn lấy một người trở về!... Dù cho các bậc cha anh ở Giang Đông thương ta, cho ta làm vương, ta cũng còn mặt mũi nào mà thấy họ nữa. Dù họ không nói, Tịch này há chẳng thẹn trong lòng sao?
Rồi ông bảo người đình trưởng:
Ta biết ông là bậc trưởng giả, ta cưỡi con ngựa này, năm năm nay đi đến đâu cũng vô địch, thường một ngày đi ngàn dặm, ta không nỡ giết, xin biếu ông.
Hạng Vương sai kỵ binh đều xuống ngựa đi bộ, cầm khí giới ngắn để tiếp chiến. Một mình Hạng Vũ giết mấy trăm quân, thân bị hơn mười vết thương. Ông quay lại thấy kỵ binh tư mã của Hán là Lã Mã Đồng vốn là tướng cũ của mình, bèn bảo Đồng:
Ta nghe vua Hán mua đầu ta ngàn vàng, phong ấp vạn hộ. Ta cho nhà ngươi đây, đem về mà lãnh thưởng.
Nói rồi, Hạng Vương tự đâm cổ chết. Năm đó ông 31 tuổi, ở ngôi Tây Sở Bá vương được 5 năm.
Các tướng sĩ Hán kéo tới giày xéo lên nhau giành xác ông để lĩnh thưởng, giết nhau mấy mươi người. Cuối cùng có 5 người mang về được 5 mảnh xác dâng Lưu Bang, họp nhau chắp lại xác thì thấy ăn khớp. Lưu Bang phong cho cả 5 người tước hầu…
Lão Đại ngưng một hồi như để nén cơn xúc động, lão nói tiếp:
Một đời Hạng Vương anh hùng, đã tuẫn tiết nơi con sông nhỏ bé này, hậu thế mấy trăm năm sau, người khen kẻ chê.
Hỡi ơi!... Thiệt là khen hay chê cũng chỉ là lời bay trong gió, cái gọi là liệt oanh cũng chỉ là giấc mộng đêm qua!...
Lý Tứ tiếp lời Lão Đại:
Không ngờ đêm nay lại là đêm Lý Tứ này tao ngộ các vị anh hùng, giữa cái hùng vĩ của đất trời, lại được nghe kể chuyện anh hùng của Sở Vương tuẫn tiết làm Lý Tứ tôi sinh lòng cảm khái. Ngồi trên thuyền cùng các vị giữa đêm trăng bàng bạc chiếu khắp Đại ngàn, càng khiến Lý Tứ nhớ lại chuyện xưa. Chuyện kể về cuộc chia tay giữa Ngũ Tổ và Lục Tổ ở bờ sông Cửu Giang. Đêm chia tay tuy buồn nhưng thấm nhuần màu đạo, cũng có biệt ly mà ái chẳng thể sanh... Tình nghĩa thầy trò gói trọn trong câu nói đầy cảm xúc của Ngũ Tổ: “Thôi!... Để ta đưa ngươi một đoạn”… Nói đến đây, Lý Tứ cất giọng ngâm bốn câu thơ có tên Đề Ô Giang của Vương An Thạch thời Tống viết về Hạng Vũ:
“Bách chiến bì lao tráng sĩ ai
Trung nguyên nhất bại thế nan hồi
Giang Đông đệ tử kim do tại
Khẳng bị quân vương quyển thổ lai!...”
Lời ngâm văng vẳng trong đêm hòa cùng tiếng mái chèo khua nước, lúc thì cao vút, lúc lại trầm hùng làm mọi người bồi hồi trong dạ...
Thiếu nữ áo hồng lên tiếng:
Lý Lão Sư, thiệt là Lão Sư phong thái hơn người. Lời ngâm cảm khái của Lão Sư làm tiểu nữ chạnh lòng bởi cái phong thái bất phàm. Lão Sư ơi!... Trước khi kết nghĩa với các Đại Ca, tiểu nữ thường tự hỏi mình, con người sinh ra để làm gì? Thắc mắc này tiểu nữ đã đi khắp đó đây đem ra hỏi rất nhiều Đại sư cao nhân tiếng tăm nhưng chưa một ai trả lời cho tiểu nữ thỏa mãn. Cuộc đời của tiểu nữ và các Đại Ca tuy thân ở giang hồ, nhưng tâm trí là quyết đi tìm câu trả lời cho chính mình... chứ không phải đường gươm mũi giáo. Lão Sư!... Nhất định sau khi về tới thôn trang, Lão Sư phải giải quyết cái gút mắc này cho tiểu nữ. Ngày nào tiểu nữ chưa thông, ngày đó tiểu nữ còn mang gánh nặng trong lòng... Rồi ả nhìn về Lão Đại cất giọng:
Lão Đại Ca!... Trong lúc chờ đến thôn trang, Đại Ca kể thêm về Ô Giang và thôn Lưu Khanh để giới thiệu với Lý Lão Sư đi...
Lão Đại cất giọng trầm trầm:
Chừng độ nửa canh giờ chúng ta sẽ đến Lưu Khanh. Lưu Khanh là một thôn trang nhỏ chừng vài mươi nóc gia nằm giữa nam và bắc Ô giang. Lưu Khanh nói là thôn trang nhưng nơi này rất rộng, ba bề là núi, trước mặt là Ô Giang. Núi cao sông sâu đã làm cho Lưu Khanh cách biệt thế giới bên ngoài nên ít người biết đến. Muốn đến được đây, con sông này là thủy lộ duy nhất.
Nghe nói khoảng ba trăm năm trước, hậu duệ của Đại Nho nhà Hán là Đổng Trọng Thư người đất Quảng Xuyên, người đã từng ba năm từ bỏ điền viên, dốc lòng nghiên cứu “Công Dương Xuân Thu truyện” và là tác giả của bài văn nổi tiếng “Thiên Nhân tam sách”. Bài văn này được dâng lên Hán Vũ Đế và được vua đánh giá cao, kiến nghị về việc “bãi bỏ bách gia, độc tôn Nho học” cũng được Vũ Đế tiếp nhận...
Hậu duệ của ông là Đổng Hòa, nhân những tháng ngày quê hương gặp binh biến, Hòa cùng với gia quyến từ bỏ Lâm Xuyên, Giang Tây xuôi theo Ô Giang lánh nạn. Khi đến chân núi Dự Sơn, ông quyết định dừng chân nơi đây, sinh cơ lập nghiệp. Ông chọn nơi này cũng bởi địa hình địa vật phong thủy có một không hai. Thiệt là người xưa quả có con mắt... “Địa linh nhân kiệt”, thôn Lưu Khanh ra đời từ đó. Nghe nói sau vài trăm năm cũng tại nơi này, con cháu họ Đổng cho ra đời cả chục tiến sĩ, trạng nguyên văn võ đều có, còn cử nhân cũng không ít...
Ba năm trước, đệ tử ghé lại Lưu Khanh trước để viếng công thần, sau để tìm cao nhân học sĩ.
Nhưng than ôi!... Cái duyên với “cao nhân” không có. Đệ tử biết được họ Đổng gặp khó khăn muốn nhượng căn nhà tổ tiên để lại. Đệ tử về ráo riết bàn với các huynh đệ, được mọi người đồng tình, đệ tử và các anh em quyết mua căn nhà này làm nơi đi về. Cũng nhân đây có cơ ngơi anh em xúm nhau tu tâm dưỡng tánh, bởi cái nơi có đủ linh khí núi sông không phải dễ thường, cả đời may mắn mới gặp. Từ đó Trung Nguyên Cửu Tuyệt coi thôn Lưu Khanh dưới chân núi Dự Sơn là quê hương của mình. Sống là nhà, chết là mồ!... Anh em đệ tử chín người đồng như huyết nhục đã ở đây. Nay lão thay mặt chín người anh em xin thỉnh Lý Lão Sư đến cùng, để anh em Trung Nguyên Cửu Tuyệt này có nơi nương tựa và cũng để sớm ngày hầu hạ mong kiếm chút trí tuệ phòng thân...
Hỡi ơi!... Một đời phòng hộ bằng gươm đao cuối cùng cũng chết bằng gươm đao, chỉ còn chút hư danh. Hư danh thì có nhưng lòng đầy phiền não, lại chết rồi chẳng biết đi về đâu. Người xưa há chẳng là cái gương còn đó hay sao!...
Lão Đại vừa dứt câu, cả bọn năm người cùng chắp tay hướng về Lý Tứ rồi bất động…
(còn nữa)
Phần II: Trung Nguyên Cửu Tuyệt Từ Bỏ Vũ Khí; ''Danh - Tướng '' Về Hư Không(Trang 24 - 36)
Tâm Pháp
Tác giả: Lý Tứ
NXB hội nhà văn - 2019
Phần II: Trung Nguyên Cửu Tuyệt Từ Bỏ Vũ Khí; ''Danh - Tướng '' Về Hư Không
Từ trang: 24 - 36
Giọng đọc: Nhã Quỳnh - phát thanh viên Đài tiếng nói nhân dân TP Hồ Chí Minh
Phần III: "Trung Nguyên Cửu Tuyệt" Từ Bỏ Vũ Khí; "Danh - Tướng" Về Hư Không (Trang 37 - 50)
Tâm Pháp
Tác giả: Lý Tứ
NXB hội nhà văn
Phần III: "Trung Nguyên Cửu Tuyệt" Từ Bỏ Vũ Khí; "Danh - Tướng" Về Hư Không
Từ trang: 37 - 50
Giọng đọc: Nhã Quỳnh - phát thanh viên Đài tiếng nói nhân dân TP Hồ Chí Minh
Phần IV: Trung Nguyên Cửu Tuyệt, Từ Bỏ Vũ Khí Danh - Tướng Về Hư Không (Trang 51 - 66)
Tâm Pháp
Tác giả: Lý Tứ
NXB Hội nhà văn Việt Nam, năm 2019
Phần IV: Trung Nguyên Cửu Tuyệt Từ Bỏ Vũ Khí, Danh tướng Về Hư Không
Từ trang 51 đến 66
Giọng đọc: Nhã Quỳnh - phát thanh viên Đài tiếng nói nhân dân TP Hồ Chí Minh
Phần V: Trung Nguyên Cửu Tuyệt, Từ Bỏ Vũ Khí Danh - Tướng Về Hư Không (Trang 66 - 78)
Tâm Pháp
Tác giả: Lý Tứ
NXB Hội nhà văn Việt Nam, năm 2019
Phần V: Trung Nguyên Cửu Tuyệt, Từ Bỏ Vũ Khí Danh - Tướng Về Hư Không
Từ trang 66 đến 78
Giọng đọc: Nhã Quỳnh - phát thanh viên Đài tiếng nói nhân dân TP Hồ Chí Minh
Phần VI: Trung Nguyên Cửu Tuyệt, Từ Bỏ Vũ Khí Danh - Tướng Về Hư Không (Trang 79 - 94)
Tâm Pháp
Tác giả: Lý Tứ
NXB Hội nhà văn Việt Nam, năm 2019
Phần VI: Trung Nguyên Cửu Tuyệt, Từ Bỏ Vũ Khí Danh - Tướng Về Hư Không
Từ trang 79 - 94
Giọng đọc: Nhã Quỳnh - phát thanh viên Đài tiếng nói nhân dân TP Hồ Chí Minh