Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời Số 60.2025 với chủ đề: Kinh Sa Môn Quả (Sāmaññaphala Sutta) !!!

Quản trị viên 19.06.2026

Các bạn !!!

Mình vừa nhận được một số thắc mắc của Sư Thầy Tâm Giác ở Huế...Nội dung xoay quanh kinh Sa Môn Quả...!!!

Theo mình, Sa Môn Quả là một bài kinh đặc biệt, ra đời trong một hoàn cảnh cũng rất đặc biệt...!!! Và, đặc biệt hơn nữa là, bài kinh này đã được Lý Gia làm đề tài thảo luận vào buổi thứ hai của lớp Giáo Pháp Nâng Cao khai giảng cách đây hơn một tháng, sau buổi đầu tiên với đề tài: "Tổng Quan Về Bối Cảnh Xã Hội - Các Hệ Thống Tư Tưởng Lớn Trước Và Trong Khi Phật Ra Đời"...!!!

Buổi thứ hai, sau khi cả lớp có được cái nhìn tổng quan về bối cảnh lịch sử, xã hội thời đó, là đề tài: "Bạn Đã Học Tập Được Gì Về Cách Giải Quyết Của Thế Tôn Trước Vấn Nạn Mang Tính Thời Sự Của Vua A Xà Thế Được Ghi Lại Trong Kinh Sa Môn Quả"...!!!

Buổi thứ ba, là đề tài: "Vai Trò Của Tư Tưởng Duy Ma Cật Đối Với Quan Điểm Đại Thừa Thông Qua Pháp Môn Bất Nhị, Pháp Môn Giải Thoát Bất Tư Nghì, Pháp Môn Tận Vô Tận Giải Thoát Và Pháp Môn Nhập Nhất Thiết Phật Cảnh Giới - Trên Hành Trình Thể Nhập Đạo, Vô Đạo Và Phi Đạo"...!!! Đến nay, lớp đã học đến buổi thứ 7 với nhiều đề tài khác nhau...!!!

Trong quá trình thảo luận Kinh Sa Môn Quả...!!! Lớp Giáo Pháp Nâng Cao không đi sâu vào chi tiết, thứ lớp, kĩ thuật tu hành...vv...cũng như các bước điều phục tâm thức mang tính truyền thống...Vì rằng, những nội dung này, tất cả HĐ Lý Gia đã học tập và thấm nhuần từ các cấp học trước đó...!!! Giờ đây, chúng mình chỉ cùng nhau tìm hiểu, khai thác ý vị sâu thẳm của bài kinh thông qua ba phương tiện chủ yếu của lớp là Thấu thị, Thẩm sát và Đẳng ngữ môn để tìm xem, cũng như học tập cách giải quyết của Thế Tôn đối với những vấn đề mang tính thời sự, trước thời cơ, thách thức về sự phát triển, tồn vong, độc lập, hay đồng nhất với các trường phái tu tập khác...khi đối diện với những nạn vấn của vua A Xà Thế, một nạn vấn được coi là tiêu biểu của xã hội thời bấy giờ (đối với giáo pháp), được người đứng đầu vương triều nêu lên...!!!

Hôm nay, nhân duyên lành, bài kinh lại được Sư Thầy Tâm Giác gởi về chuyên mục với các thắc mắc mang tính kĩ thuật...Đọc thư của Sư Thầy, làm mình nhớ lại câu chuyện khảo sát kinh Sa Môn Quả của lớp Giáo Pháp Nâng Cao cách đây hơn một tháng...Xin giới thiệu đến độc giả vài nét tiêu biểu về cách học tập của chúng mình...!!! Sau đây là nội dung thư của Sư Thầy Tâm Giác...!!!

"Kính gửi Thầy Lý Tứ,

Lời đầu, tôi xin được chân thành tri ân Thầy đã dành thời gian và tâm huyết vô bờ để phúc đáp tường tận các vấn nạn xoay quanh Kinh Tất Cả Các Lậu Hoặc. Những giải thích sâu sắc, đặc biệt là sự phân tích tinh tế về "Như lí tác ý" (dùng tuệ giác) và "Như lí giác sát" (dùng giáo pháp để chế ngự), đã khai mở cho tôi một tuệ tri mới mẻ và trọng yếu về con đường đoạn trừ lậu hoặc.

Tôi đặc biệt tâm đắc với nhận định: "Như lí tác ý" (thuộc nhóm Tri kiến đoạn trừ) mang tính ưu việt với hàm lượng trí tuệ cao, có thể giúp hành giả xâm nhập cảnh giới giác ngộ (thánh quả Tu đà hoàn), trong khi "Như lí giác sát" (thuộc nhóm thực hành sáu pháp còn lại) chỉ dừng lại ở biện pháp đối trị, nhất thời, không mang tính cốt lõi. Điều này làm sáng tỏ thêm về sự khác biệt giữa "Xả" của bậc Thánh (kết quả của tuệ tri) và "Trừ diệt" (gần giống như lí giác sát).

Tiếp Tục Vấn Nạn Xoay Quanh Kinh Sa Môn Quả (Sāmaññaphala Sutta)

Với tinh thần cầu học không ngừng và được sự khích lệ từ những lời chỉ dạy vô ngại của Thầy, tôi xin được mạn phép nêu thêm một số câu hỏi liên quan đến Kinh Sa Môn Quả (Sāmaññaphala Sutta – Trường Bộ số 2), một bài kinh được xem là tổng quan về Quá trình tu tập của một vị Tỳ-kheo trong Giới, Định và Tuệ.

Câu 1: Kinh Sa Môn Quả trình bày rõ ràng những quả vị tức thì của đời sống phạm hạnh, bắt đầu từ sự Thanh Tịnh về Giới (Giới Đức), tiếp theo là những Pháp môn Tu tập Định (như Lục Căn Thủ Hộ, Tỉnh Giác, Tứ Thiền), và cuối cùng là Minh (Túc Mạng Minh, Thiên Nhãn Minh) và Giải Thoát (Lậu Tận Minh).

Vấn: Phải chăng "Quả tức thì" của đời sống phạm hạnh mà Đức Phật muốn nhấn mạnh đầu tiên, chính là sự thanh tịnh nội tại và không hối tiếc (Avipatisāra) phát sinh từ việc giữ Giới trọn vẹn (Giới Đức), và đây là cơ sở không thể thiếu để dẫn đến Định và Tuệ có đúng không thưa Thầy?

Câu 2: Trong Kinh Sa Môn Quả, quá trình thành tựu Ba Minh (Túc Mạng, Thiên Nhãn, Lậu Tận) được mô tả là xảy ra sau khi hành giả chứng đạt Tứ Thiền.

Vấn: Thầy có thể giải thích rõ hơn về vai trò cụ thể của các tầng Tứ Thiền (đặc biệt là Thiền thứ Tư với xả niệm thanh tịnh) trong việc làm "sáng tỏ" và "sẵn sàng" tâm thức, giúp hành giả đạt được Ba Minh hay không? Liệu Tâm định với Tứ Thiền có phải là điều kiện để Tuệ tri (phát sinh Ba Minh) trở nên Vô Hạn và Tận Trừ Lậu Hoặc hay không?

Câu 3: Kinh mô tả kết quả tu tập qua những quả vị rõ rệt. Tuy nhiên, đối với một hành giả đang trên đường tu, chưa đạt được Ba Minh, làm sao họ có thể tự thẩm định rằng mình đang đi đúng hướng?

Vấn: Ngoài sự an tịnh nội tại và giảm thiểu lậu hoặc như Thầy đã giảng ở câu 5 phần trước, có những tiêu chí nào khác được đề cập trong Kinh Sa Môn Quả mà hành giả có thể dùng để đối chiếu và củng cố lòng tin trên con đường tu tập? (Phải chăng là: Sự trọn vẹn của Lục Căn Thủ Hộ, sự dễ dàng nhập các tầng Thiền, hay sự chuyển hóa rõ rệt của Năm Triền Cái - Nivaraṇa)?

Câu 4: Kinh nhấn mạnh việc Lục Căn Thủ Hộ (kiểm soát sáu căn) là một phần thiết yếu của Giới Đức, ngay sau việc phòng hộ oai nghi.

Vấn: Sự thủ hộ các căn này có khác biệt căn bản gì so với phương pháp "chế ngự" trong Kinh Tất Cả Lậu Hoặc mà Thầy đã phân tích (chế ngự bằng "như lí giác sát")? Phải chăng Lục Căn Thủ Hộ là một hành động có ý thức và liên tục nhằm ngăn chặn sự phát sinh của các bất thiện pháp do tiếp xúc với trần cảnh, qua đó tạo điều kiện cho Niềm Vui (Pīti) và An Lạc (Sukha) khởi sinh?

Câu 5: Kinh Sa Môn Quả được trình bày như một lộ trình tu tập từ Giới đến Định đến Tuệ, rất mạch lạc và tuần tự.

Vấn: Theo tuệ tri của Thầy, Kinh Sa Môn Quả có thể được xem là một "tấm bản đồ” toàn diện và tiêu biểu cho một hành giả - thấy được kết quả và từng bước đạt được kết quả trong quá trình tu tập Phật, không thưa Thầy? Cuối cùng, theo Thầy Lý Tứ, điểm nào trong Kinh Sa Môn Quả làm Thầy tâm đắc nhất? Xin Thầy chia sẻ ý nghĩa đó để tôi cùng được học tập.

Thưa Thầy Lý Tứ,

Tôi thật sự trân trọng tâm nguyện của Thầy khi kiên trì khai thị Giáo Pháp giữa thời mạt thế, với một phong thái bình dị mà sáng rực trí tuệ.

Tôi xin được lắng nghe từng lời Thầy chỉ dạy như lắng nghe tiếng nước chảy trong đêm — tuy không ồn ào nhưng rửa sạch bụi lâu ngày trong tâm.

Kính chúc Thầy: Pháp thể khinh an – Tinh tiến vô ngại – Trí đăng thường chiếu.

11/11/2025 - 17:37:27 - Tỳ kheo Tâm Giác - Huế"

Sư Thầy Tâm Giác và bạn đọc thân mến !!!

Sau đây là phần trả lời các câu hỏi của Sư Thầy !!!

- Hỏi:

Câu 1: "Kinh Sa Môn Quả trình bày rõ ràng những quả vị tức thì của đời sống phạm hạnh, bắt đầu từ sự Thanh Tịnh về Giới (Giới Đức), tiếp theo là những Pháp môn Tu tập Định (như Lục Căn Thủ Hộ, Tỉnh Giác, Tứ Thiền), và cuối cùng là Minh (Túc Mạng Minh, Thiên Nhãn Minh) và Giải Thoát (Lậu Tận Minh).

Vấn: Phải chăng "Quả tức thì" của đời sống phạm hạnh mà Đức Phật muốn nhấn mạnh đầu tiên, chính là sự thanh tịnh nội tại và không hối tiếc (Avipatisāra) phát sinh từ việc giữ Giới trọn vẹn (Giới Đức), và đây là cơ sở không thể thiếu để dẫn đến Định và Tuệ có đúng không thưa Thầy?"

- Trả lời:

Trong giai đoạn tu tập này (của bài kinh): Như pháp phòng hộ các căn là "Giới"...!!! Thanh tịnh nội tại là "Định"...!!! Không hối tiếc là "Tuệ"...!!! Ba pháp vô lậu Giới, Định, Tuệ xuất hiện đồng thời theo nguyên lí "Cái này có nên cái kia có", chứ không phải đây là: "Cơ sở không thể thiếu để dẫn đến Định và Tuệ" như Sư Thầy đã nêu...Vì rằng, trong Vô lậu pháp, Định và Tuệ luôn luôn tương ưng và xuất hiện đồng thời với Giới...!!!

- Hỏi:

Câu 2: "Trong Kinh Sa Môn Quả, quá trình thành tựu Ba Minh (Túc Mạng, Thiên Nhãn, Lậu Tận) được mô tả là xảy ra sau khi hành giả chứng đạt Tứ Thiền.

Vấn: Thầy có thể giải thích rõ hơn về vai trò cụ thể của các tầng Tứ Thiền (đặc biệt là Thiền thứ Tư với xả niệm thanh tịnh) trong việc làm "sáng tỏ" và "sẵn sàng" tâm thức, giúp hành giả đạt được Ba Minh hay không? Liệu Tâm định với Tứ Thiền có phải là điều kiện để Tuệ tri (phát sinh Ba Minh) trở nên Vô Hạn và Tận Trừ Lậu Hoặc hay không?"

- Trả lời:

a) Đối với đạo pháp...Tầng thiền thứ tư (đệ Tứ thiền) "đặc biệt quan trọng" do tính chất "bất khổ bất lạc" của nó, tính chất này gần gũi với Niết Bàn...Vì thế, đệ Tứ thiền thường đóng vai trò bản lề, làm cầu nối giữa thế gian và xuất thế, giữa lậu hoặc và vô lậu...!!! Thuyết pháp (khai thị) giúp người đưa tâm thức vào cảnh giới "bất khổ bất lạc" của đệ Tứ thiền là một trong những loại "thần thông ngôn thuyết" được coi là khéo (thiện xảo) nhất của đạo pháp...Thế Tôn từng dạy điều này qua câu nói: "Như Lai đặt yên người tu hành ở cõi trời Sắc cứu cánh..." !!! Câu này có nghĩa, muốn đưa người vào cảnh giới xuất thế, trước nhất phải đặt họ ở yên trong cảnh giới bất khổ bất lạc của đệ Tứ thiền...!!!

b) Khi tâm thức người tu hành đã được đặt yên ở Sắc cứu cánh thiên...Bây giờ, tuỳ theo tâm cơ của người thính pháp, bậc Đạo sư sẽ có hai lựa chọn...!!! 1) Đối với kẻ thắng căn, dùng thần thông ngôn thuyết đẩy thẳng họ vào "Diệt tận định", chứng Tam minh...!!! 2) Đối với người căn tính trung bình, tiếp tục khai thị giúp họ tuần tự vượt qua Tứ không định để thành tựu "Diệt thọ tưởng định", và vị ấy sẽ chứng Tam minh sau khi học tập để thanh tịnh hai ấm còn lại là hành và thức...Hoặc, có thể giúp họ thông qua "Bát bội xả" để xả những chướng đạo trong quá trình thành tựu thiền định trước đây rồi mới chứng Tam minh...!!!

c) Tóm lại, giống như người ta phóng con tàu vũ trụ...Bệ phóng và nơi đặt bệ phóng cực kì quan trọng !!! Trong quá trình tiến về Vô lậu quả và Xuất thế gian đạo, đệ Tứ thiền hội đủ hai yếu tố của bệ phóng và vị trí phóng, đó là: Tính chất "bất khổ bất lạc" như một bệ phóng hoàn hảo...!!! Sắc cứu cánh thiên, chính là vị trí đặt bệ phóng tốt nhất, vì nó tận dụng được yếu tố gần Niết Bàn (như gần xích đạo) và an toàn tuyệt đối bởi "không bị ác kiến nuốt sống" (như yếu tố đảm bảo môi trường và con người)...!!!

- Hỏi:

Câu 3: "Kinh mô tả kết quả tu tập qua những quả vị rõ rệt. Tuy nhiên, đối với một hành giả đang trên đường tu, chưa đạt được Ba Minh, làm sao họ có thể tự thẩm định rằng mình đang đi đúng hướng?

Vấn: Ngoài sự an tịnh nội tại và giảm thiểu lậu hoặc như Thầy đã giảng ở câu 5 phần trước, có những tiêu chí nào khác được đề cập trong Kinh Sa Môn Quả mà hành giả có thể dùng để đối chiếu và củng cố lòng tin trên con đường tu tập? (Phải chăng là: Sự trọn vẹn của Lục Căn Thủ Hộ, sự dễ dàng nhập các tầng Thiền, hay sự chuyển hóa rõ rệt của Năm Triền Cái - Nivaraṇa)?"

- Trả lời:

Thông thường, người tu tập trong Phật đạo giống như người lữ hành sắp du hí một nơi xa xăm nào đó...Điều cơ bản giúp hành trình an toàn và tự tin đó là, người lữ hành phải được trang bị những công cụ thiết thân, trong đó bản đồ và la bàn là những món không thể thiếu...Bản đồ giúp xác định đường đi, đích đến...La bàn giúp xác định phương hướng...!!!

Các cấp lớp học tập của giáo pháp, chính là một trong những hình thức người lữ hành trang bị cho mình các vật dụng cần thiết nói trên...!!! Một khi đã được trang bị đầy đủ, việc đối chiếu, lòng tin...vv...như Sư Thầy đã hỏi không còn là vấn đề...!!! Liên quan đến việc trang bị này, các bài học như Tư lương vị (hành trang tối thiểu); Kiến đạo vị (những địa điểm sẽ đi qua); Tu đạo vị (các quả ngọt trong hành trình) là những bài học thiết thân không thể thiếu trong quá trình dạy và học giáo pháp...!!! Nếu tu hành mà không hoặc chưa thấm nhuần các đề tài này, chẳng khác người lữ hành lên đường mà không có bản đồ, la bàn và các trang bị tối thiểu...!!!

Kinh Sa Môn Quả, chủ yếu Phật giới thiệu với vua A Xà Thế những lợi ích thiết thực của người xuất gia trong hành trình tiến tu...Vì thế, nó không bao gồm những trang bị và kĩ thuật tu tập cần thiết...Do đó, rất khó có thể dùng kinh này như bài học chuyên môn để ứng dụng tu hành vì thiếu yếu tố phân tích kĩ thuật...!!!

- Hỏi:

Câu 4: "Kinh nhấn mạnh việc Lục Căn Thủ Hộ (kiểm soát sáu căn) là một phần thiết yếu của Giới Đức, ngay sau việc phòng hộ oai nghi.

Vấn: Sự thủ hộ các căn này có khác biệt căn bản gì so với phương pháp "chế ngự" trong Kinh Tất Cả Lậu Hoặc mà Thầy đã phân tích (chế ngự bằng "như lí giác sát")? Phải chăng Lục Căn Thủ Hộ là một hành động có ý thức và liên tục nhằm ngăn chặn sự phát sinh của các bất thiện pháp do tiếp xúc với trần cảnh, qua đó tạo điều kiện cho Niềm Vui (Pīti) và An Lạc (Sukha) khởi sinh?"

- Trả lời:

a) Việc thủ hộ các căn trong kinh Sa Môn Quả được giới thiệu như một việc làm bắt buộc trên con đường tiến về Thánh quả của một Sa môn hơn là đi sâu vào kĩ thuật tu hành...!!!

b) Thủ hộ các căn luôn là việc làm cần thiết của Thánh giới Vô lậu...!!!

- Hỏi:

Câu 5: "Kinh Sa Môn Quả được trình bày như một lộ trình tu tập từ Giới đến Định đến Tuệ, rất mạch lạc và tuần tự.

Vấn: Theo tuệ tri của Thầy, Kinh Sa Môn Quả có thể được xem là một "tấm bản đồ” toàn diện và tiêu biểu cho một hành giả - thấy được kết quả và từng bước đạt được kết quả trong quá trình tu tập Phật, không thưa Thầy? Cuối cùng, theo Thầy Lý Tứ, điểm nào trong Kinh Sa Môn Quả làm Thầy tâm đắc nhất? Xin Thầy chia sẻ ý nghĩa đó để tôi cùng được học tập."

- Trả lời:

a) Kinh Sa Môn Quả được coi là tấm bản đồ đại cương dành cho một Sa môn...!!!

b) Theo tôi...Những điểm nổi bật trong kinh Sa Môn Quả, nếu hậu thế học tập được sẽ đưa Phật đạo trở về đúng với giá trị tối thượng của nó, đó là:

* Tĩnh lặng của đại chúng có thể bẻ gãy mọi sức mạnh...!!!

* Thể hiện giá trị đích thực trong mỗi hành động như pháp, có sức thuyết phục vượt trội, lên trên mọi hình thức rao giảng khác...!!!

* Việc quy y Phật của vua A Xà Thế là sự công nhận tính chính danh mang yếu tố pháp lí trong thể chế vương quyền, là tuyên ngôn thể hiện sự thù thắng của giáo pháp trước các hình thức tu hành khác trong xã hội thời đó...!!!

Sư Thầy Tâm Giác và bạn đọc thân mến...!!!

Phật đạo là một hệ thống giáo dục vừa minh triết vừa khoa học giúp người học thay đổi nhận thức...Trên quan điểm này, triết lí giáo dục của Lý Gia là: "Sử dụng Phật pháp như một phương tiện tối ưu, giúp người học khai thác triệt để sức mạnh trí tuệ trong mỗi cá nhân, để chính bản thân người ấy tự khai phóng tâm thức !!!"

Với triết lí này, trong từng mỗi pháp, chúng tôi giúp người học thấu suốt từ hiện tượng đến bản chất, từ hư vọng đến chơn thiệt, từ khổ đau đến an vui, từ lậu hoặc đến vô lậu, từ bất hạnh đến hạnh phúc, từ lí thuyết đến thực hành...vv...Nhờ thế, mỗi pháp sau khi thấu triệt đều trở thành cảnh giới thiện lành trong tâm thức người học...!!!

Do đó, những gì được thảo luận từ chuyên mục, chỉ là những nét chấm phá mang tính tiêu biểu, chứ chưa phải là tất cả ý vị của hệ thống giáo dục này...Hi vọng, những trả lời vừa rồi, chỉ có thể giúp Sư Thầy và bạn đọc có cái nhìn khái quát về những gì mà Sư Thầy cùng bạn đọc đã nêu...!!! Chúc Sư Thầy và bạn đọc an vui, tinh tấn...!!!

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

12/11/2025

LÝ TỨ

Bài viết Lý Tứ

(89) CHUYỆN BÊN LỀ CHỦ ĐỀ: LẠI NÓI VỀ CHUYỆN "BÌNH LUẬN" !!!

Quản trị viên 17.11.2020

(89) CHUYỆN BÊN LỀ  CHỦ ĐỀ: LẠI NÓI VỀ CHUYỆN "BÌNH LUẬN" !!!

(89) CHUYỆN BÊN LỀ

CHỦ ĐỀ: LẠI NÓI VỀ CHUYỆN "BÌNH LUẬN" !!!

Các bạn !!!

Ngày Phật còn tại thế, thỉnh thoảng một số ngoại đạo, những người có tâm đố kị, kẻ cao ngạo...v..v...thường đến gặp Phật đặt các câu hỏi, chất vấn !!!

Ta thấy, đối với những câu hỏi liên quan đến giáo pháp, Phật ôn tồn cắt nghĩa !!! Đối với những câu hỏi thuộc phạm trù siêu hình, những câu hỏi Phật biết có giải thích người nghe trong nhất thời cũng không thể lãnh hội, hoặc những câu hỏi xuất phát từ đố kị, mang mầm mống đấu tranh, Phật im lặng không trả lời hoặc chỉ đưa ra ví dụ để người hỏi nếu là kẻ trí sẽ tự hiểu !!!

Và cũng không ít người trí nhận ra điều gì đó sau những ứng xử như vậy của Phật !!! Nhưng, cũng không ít kẻ vì thiếu trí, vì tức giận do đố kị, hoặc vì lí do cá nhân hơn là tôn trọng chân lí họ lại bỏ đi... Và rồi, ở những góc khuất đâu đó đằng sau lưng Phật...những người ấy và đồng bọn lại cao giọng chê bai Phật !!!

Và những chuyện như thế, có lẽ thời nào cũng có !!! Thời nay, khi mạng xã hội bùng nổ, ta có thể bắt gặp hiện tượng trên xảy ra nhan nhản trên các trang mạng... Nếu không khéo ứng xử, nhất định từ nhưng câu hỏi, bình luận như vậy sẽ gây ra các cuộc tranh cãi không đáng và không có hồi kết !!!

Vì thế, chuyện phản biện, đặt câu hỏi, bình luận... giữa người có trí và những người thiếu trí, giữa kẻ mang tâm đố kị và người có tâm xây dựng, kẻ vì không biết mà hỏi để học tập và người không biết nhưng vì tâm cao ngạo hỏi để chứng tỏ bản thân, có người hỏi để tranh hơn thua...v..v...ta rất dễ nhận ra trong các bình luận !!!

Có thể đơn cử một vài câu hỏi (liên quan đến đạo), khi đọc sẽ không khó nhận ra ý đồ cũng như trí tuệ người hỏi !!!

- Anh đã thành tựu xuất thế hay chưa ??? Tôi chỉ cần anh trả lời là đã xuất thế hay chưa (yes, no) ???

- Anh thử nói một câu xuất thế để chứng minh anh đã xuất thế ???

- Bảo rằng đã thành tựu xuất thế sao lại còn dự các buổi lễ lộc ???

Về các câu hỏi trên, ta thử mổ xẻ xem có hợp lí hay không !!!

- Anh đã thành tựu xuất thế hay chưa ??? Tôi chỉ cần anh trả lời là đã xuất thế hay chưa (trả lời theo kiểu yes, no) ???

Phân tích câu hỏi:

1) Về câu hỏi thành tựu đạo quả xuất thế hay chưa, điều này hoàn toàn thuộc quyền riêng tư, người được hỏi "không có nghĩa vụ" phải trả lời người hỏi !!! Ô hay, vì sao nhất định tôi phải trả lời cho bạn điều ấy ???

2) Nếu trả lời đã hay chưa (xuất thế), anh nghe cũng đâu có biết trả lời đó là đúng hay sai (vì anh chưa thành tựu cảnh giới liên quan đến việc anh hỏi)... Cho nên, không nhất thiết trả lời (nếu trả lời đó chẳng lợi gì cho nhau) !!!

3) Để biết một người đã thành tựu một đạo quả nào đó trong Phật đạo hay chưa, ba hạng người sau không cần hỏi cũng biết: Một là: Bản thân người đó !!! Hai là: Người có đạo quả cao hơn !!! Ba là Đạo sư của người đó !!! Không thuộc ba hạng người trên, nhất định người hỏi là người không biết, mà những gì thuộc cảnh giới tâm trí chứng, khi đã không biết thì có hỏi cũng không biết, khi nào thành tựu một trong ba điều trên nhất định sẽ tự biết, không cần phải hỏi !!!

- Về câu hỏi: Anh thử nói một câu xuất thế để chứng minh anh đã xuất thế ???

Phân tích câu hỏi:

1) Trong Phật đạo câu nào là thế gian câu nào là xuất thế ???

2) Không lẽ người thế gian, học thuộc câu nói của bậc xuất thế rồi nói lại, người ấy là người xuất thế !!! Như vậy, con vẹt học câu xuất thế khi kêu cũng trở thành "con vẹt xuất thế" hay sao ???

3) Đối với Phật đạo, “câu xuất thế” dùng vào trường hợp nào bạn có biết hay không ???

4) Xuất thế là ở tâm và trí hay ở câu nói ???

- Bảo rằng đã thành tựu xuất thế sao lại còn dự các buổi lễ lộc ???

Phân tích câu hỏi:

1) Làm sao bạn biết người thành tựu đạo xuất thế không có lễ lộc ???

2) Ngày xưa, đức Phật và thánh chúng từng dự đám cưới, cũng như tham dự các loại lễ lộc trong dân gian khi được mời (kinh ghi lại rất rõ)... Như vậy, Phật và thánh chúng chưa thành tựu đạo xuất thế hay sao ???

3) Lễ lộc và xuất thế có can dự gì với nhau ???

Các bạn !!!

Nói tóm lại, mình thấy rất nhiều bình luận có vấn đề (ở đây không thể liệt kê hết), khi đọc lên thể hiện rất rõ văn hoá từ người viết !!!

Hỏi và trả lời đối với Phật đạo là một nghệ thuật !!! Trí hay ngu trong Phật đạo biểu hiện ở nghệ thuật hỏi và trả lời !!! Vì thế, Phật thường ngợi khen “người khéo hỏi, kẻ khéo trả lời" !!! Cho nên, nhìn vào cách hỏi hay trả lời, ta có thể nhận ra nhiều thứ từ những điều ấy !!!

Để chấm dứt bài viết hôm nay, xin chuyển đến các bạn bài viết “BÌNH” VÀ “LUẬN” đăng trong CHUYỆN TRÊN MÂY của LÝ TỨ dự kiến xuất bản cuối năm 2020 !!!

Chúc mọi người an vui, tinh tấn !!!

17/11/2020

LÝ TỨ

“BÌNH” VÀ “LUẬN”

(Trích Chuyện Trên Mây - Lý Tứ)

Các bạn!!!

Hôm qua đến giờ bận quá nên không có thời gian vào trang nhà… Sáng nay đọc các bài viết trong trang, nhìn thấy bài của Hanh Huynh có tên Duyên Khởi đăng trong trang Lý Gia, bài viết chỉ vỏn vẹn 5 dòng, gồm 50 chữ mà bên dưới có đến 111 bình luận!!!

Thật ra Hanh Huynh là ai, mình cũng không biết, bạn ấy chỉ là một người đăng bài như bao vị khách khác… Về nội dung bài đã đăng, đúng sai như thế nào, chúng ta chưa bàn đến… Mình chỉ nói đến chuyện 111 bình luận ở trong đó như thế nào!!!

Có đọc tất cả bình luận về bài viết của Hanh Huynh, chúng ta mới nhận ra một điều: Trong 111 bình luận, chỉ một vài bình luận có liên hệ đến bài viết của Hanh Huynh… Phần còn lại, hoàn toàn không ăn nhập gì đến bài viết, hầu như chỉ tranh cãi (hay giới thiệu) việc tu tập của một thiểu số nào đó… Thậm chí, có người coi bình luận như một bãi chiến, cốt chỉ để phê phán nhau!!!

Có cặn kẽ phân tích, chúng ta mới thấy được một điều… Hầu như, mọi người sa đà vào việc “muốn được nói” hơn là sử dụng bình luận đúng chức năng của nó là: “Bình và luận”!!!

Ta phải ngầm hiểu, bình luận luôn có hai phần, đó là phần bình và phần luận… Bình, là những đánh giá về bài viết… Luận, là đưa ra lập luận làm cơ sở phản biện hoặc đồng tình có tính khoa học, để bảo vệ lời bình một cách thuyết phục!!!

Ví dụ Hạnh Huynh viết: “Những gì thuộc duyên khởi thì vô thường sanh diệt. Tất cả những pháp tu đều thuộc duyên khởi, những tầng định tầng trí của tâm không ra ngoài duyên khởi… Theo các bạn, làm sao ngộ cái bất sanh bất diệt trong khi tâm trí đang còn phan duyên?”

Khi bình luận về đoạn văn trên, đầu tiên ta đánh giá đoạn văn đúng hay sai theo tinh thần giáo pháp… Đánh giá này gọi là bình!!!

Kế đến, chúng ta lập luận: Nếu bảo lời trên là sai, thì phải chứng minh những phát biểu ấy sai điều gì, sai ở đâu, sai so với cái gì, giai đoạn tu tập nào..v..v…Và (phải nói hay viết) như thế nào mới được coi là đúng so với tinh thần giáo pháp!!!

Khi nào bình luận đủ hai phần như thế, mới đúng nghĩa (và chức năng) của một bình luận… Và có bình luận đủ hai phần bình và luận như thế, người đọc hoặc viết đoạn văn mới biết để mà khắc phục, mới biết để học tập… Và bình luận như thế, người đọc hoặc viết mới “tâm phục khẩu phục”!!!

Đằng này, bài viết một đường, ta bình luận một nẻo… Thậm chí có những bình luận chẳng dính dáng gì đến bài viết… Đọc những bình luận như thế, mình thấy thiệt “oan” cho mục bình luận, và nó cũng phần nào nói lên năng lực cũng như chiều sâu (tri thức) của người bình luận!!!

Các bạn!!!

Lý Gia lập Fanpage là để mọi người cùng trao đổi quan điểm tu tập, người đọc có thể nhân đó đưa ra nhận xét, đánh giá của mình về quan điểm đã đăng!!!

Vì thế, Lý Gia rất hoan nghênh các bài viết của HĐ bốn phương gởi về để đăng trên trang, và cũng rất muốn nghe tất cả bình luận của các bạn!!!

Nhưng, đã là bình luận thì phải đúng nghĩa một bình luận, chúng ta không thể viết lời bình mà chẳng có quan điểm rõ rệt, chỉ lu loa là sai hay đúng (thậm chí chê bai) theo cảm tính mà chẳng có được một lập luận đủ sức thuyết phục, như pháp, mang tính khoa học (biểu hiện của trí tuệ)!!! Thậm chí, càng không nên dùng bình luận như một cơ hội nói lên cái hay, cái tốt của mình mà cái hay cái tốt đó chẳng liên quan gì đến bài viết!!!

Phật đạo được gọi là “đạo trí tuệ” không phải vô cớ!!! Các bạn nghĩ gì, khi có một ai đó muốn tìm hiểu Phật đạo, mà khi vào các trang mạng đọc bài viết, đọc bình luận từ một trang nào đó, rồi phải lắc đầu, ngán ngẩm thốt lên: “Cái đạo được gọi là trí tuệ, mà viết và bình luận (tệ hại) như vậy hay sao”???

Các bạn!!!

Lý Gia rất hoan nghênh những đóng góp của các bạn cho trang… Nhưng, cũng không đồng tình với những bài viết “không đầu không đuôi”, bình luận loạn xạ, chẳng có trọng tâm, chẳng có ý vị!!! Tất nhiên những bình luận như thế, BQT kiên quyết xoá bỏ!!!

Mình xin nói thêm một vài lời!!! Mỗi ngày, Lý Gia nhận rất nhiều bài gửi đăng, trong đó có một số bài không được duyệt, bởi những lý do sau:

– Dung lượng của trang có giới hạn… Vì thế, các bài viết kèm ảnh động, video có dung lượng lớn, v.v... sẽ không được duyệt…Vì khi đăng bài như thế, trang không chạy nổi!!!

– Các bài viết không đầu không đuôi, đọc lên chẳng hiểu người ấy muốn nói gì, viết gì, trong tâm là gì??? Các bài như thế cũng không được BQT duyệt!!!

– Các video hay bài viết có thời lượng khá lớn, BQT không thể nghe (hoặc đọc) hết nội dung trong đó…Vì rằng, chúng tôi không thể vô trách nhiệm khi đăng lên trang của mình mà chưa biết rõ nội dung trong bài được đăng!!!

– Những bài viết có nội dung đả kích cá nhân, hoặc tập thể nào đó!!!

– Sau một tuần, các bài khách gửi đăng, nếu BQT xét thấy bài ấy không có nhiều lợi ích, chúng tôi sẽ xoá… nhằm giảm bớt áp lực (đối với dung lượng) của trang!!!

Tóm lại, BQT rất hoan nghênh các bài viết và bình luận gởi về trang, nhưng có những bài không được duyệt, bình luận bị xoá, là vì những lí do trên… Mong các bạn thông cảm!!!

Chúc mọi người có một Chủ Nhật an vui!!!

- ẢNH "CHÂM BIẾM LÒNG NGƯỜI", COPY TỪ INTERNET !!! Ảnh đã bị cắt "vật dấu sau lưng" để phù hợp với quan điểm của trang, xin tác giả bức ảnh thứ lỗi - Lý Tứ !!!

(89) CHUYỆN BÊN LỀ CHỦ ĐỀ: LẠI NÓI VỀ CHUYỆN "BÌNH LUẬN" !!!

(89) CHUYỆN BÊN LỀ CHỦ ĐỀ: LẠI NÓI VỀ CHUYỆN "BÌNH LUẬN" !!!

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời Số 61.2025 với chủ đề: Bài Học Lớn Cho Toàn Thể Huynh Đệ Lý Gia !!!

Quản trị viên 19.06.2026

Tỳ Kheo Tâm Giác kính mến !!!

Tôi vừa nhận được thư của Thầy...!!! Đọc thư mà trong tôi chấn động theo từng con chữ, từng mạch văn...Có lẽ, đây là lần đầu tiên trong đời, cả thân tâm tôi chấn động đến như vậy...!!!

Chấn động vì bởi, từng chữ, từng câu...Thầy đã thể hiện đầy đủ "oai và nghi" của một Sa Môn, thứ oai và nghi mà chỉ có một Sa Môn chân chánh mới có được...Thứ oai và nghi mà trong ba cõi, chỉ cần ở đâu có bóng dáng của oai nghi ấy, lập tức biến thành "Diệu Thiện Pháp Đường" !!!

Tất cả HĐ Lý Gia thân mến !!!

Đã hơn mười bảy năm chúng ta cùng nhau học tập...Mười bảy năm chúng ta miệt mài ôn luyện giáo pháp để tìm kiếm châu ngọc vô giá...Và, nhờ ân đức chư Phật mười phương, thứ chúng ta cần tìm nay đã tìm được...!!!

Nhưng, cho đến giờ này, nhìn những thành tựu của các bạn, nhìn thứ châu ngọc vô giá mà chúng ta đang có, mình luôn cảm giác trong ấy còn thiếu điều gì đó...!!! Hôm nay, duyên lành đã đến, Lý Tứ nhận được thư của Sư Thầy Tâm Giác...Đọc thư của Sư Thầy, trong lòng mình dấy lên nhiều cảm xúc chen lẫn mừng vui...!!!

Cảm xúc vì, thứ mà chúng ta còn thiếu, trong từng câu chữ của bậc Sa Môn chân chánh đang bổ khuyết cho chúng ta...Chúng ta là, những Cư Sĩ mà Phật đã từng thốt lên: "Cư Sĩ lỗ mãng"...Hôm nay, cơ hội đã đến, trong từng câu chữ, trong từng lời nói, chúng ta nhất quyết học tập theo Sư Thầy để, những viên ngọc chúng ta đã tìm được trở nên lấp lánh bởi đầy đủ bóng dáng của oai và nghi...!!! Vui mừng vì, với những oai nghi trong từng câu chữ ấy, sẽ là bài học lớn chắc chắn tất cả HĐ chúng ta lấy đây làm bài học trọn đời...!!!

Thay mặt tất cả Huynh Đệ Lý Gia...Chúng tôi chân thành kính lễ thứ oai nghi mà Thầy đã thể hiện trong từng câu chữ của bức thư...!!! Chúng tôi, tất cả HĐ Lý Gia nguyện trọn đời sẽ học và thấm nhuần thứ oai nghi ấy, thứ oai nghi đầy đủ thần lực, có thể biến mọi nơi đều trở thành "Diệu Thiện Pháp Đường"...Như chư Bồ Tát xưa đã xây dựng ở Trời Đao Lợi để cùng Thiên chúng luận bàn Chánh pháp...!!! Trân trọng biết ơn Sư Thầy !!!

Sau đây là thư của Sư Thầy Tâm Giác !!!

"Kính gửi Thầy Lý Tứ,

Lời đầu, với tất cả lòng kính trọng và tri ân, tôi xin được đảnh lễ Thầy, bày tỏ sự hoan hỷ lớn lao khi được đọc phần giải đáp thâm trầm và sáng tỏ của Thầy liên quan đến Kinh Sa Môn Quả. Mỗi lần nhận được lời khai thị của Thầy, tâm tôi lại lắng xuống như mặt hồ sau cơn mưa: Trong trẻo, tĩnh lặng và sáng rỡ một cách tự nhiên.

Đọc từng đoạn Thầy phúc đáp, tôi cảm nhận rất rõ phong thái của một bậc tri thức trong đạo pháp: Vừa uyên áo, vừa thẳng thắn, vừa chứa đựng tâm ý muốn dẫn dắt người học đi cho đúng đường, đúng pháp.

Nhất là đoạn Thầy giảng rằng Giới – Định – Tuệ không phải là “cơ sở đưa tới nhau” mà là ba pháp vô lậu tương ưng, đồng thời - đạt được một thứ là hai thứ kia cùng thành tựu. Hiểu được điều này, tôi thấy như được gỡ nút thắt mà bấy lâu nay chưa thông.

Lời Thầy ví đệ Tứ thiền như bệ phóng trong hành trình tiến vào Vô lậu pháp khiến tâm tôi bừng sáng. Nhiều lần đọc kinh, tôi hiểu về “xả niệm thanh tịnh”, nhưng chưa từng thấy được sự liên hệ trực tiếp, cụ thể và uyển chuyển như cách Thầy dùng hình ảnh bệ phóng – vị trí phóng. Có lẽ cũng vì chưa chứng thực được cảnh giới ấy nên mọi suy luận của tôi chỉ là võ đoán. Cảm ơn Thầy đã khai thị.

Tôi cũng xin ghi nhận sâu sắc lời dạy của Thầy về việc Kinh Sa Môn Quả là "tấm bản đồ đại cương" chứ không phải là bài học chuyên môn về kĩ thuật, và ý nghĩa tối thượng mà Thầy tâm đắc: Sự "Tĩnh lặng của đại chúng có thể bẻ gãy mọi sức mạnh" và "Thể hiện giá trị đích thực trong mỗi hành động như pháp" - chính là chìa khóa để Phật đạo trở về đúng với giá trị thực tiễn của nó.

Những lời Thầy chỉ dạy giúp tôi chẳng những hiểu sâu hơn về kinh, mà còn soi sáng được nhiều điểm mơ hồ trong chính trải nghiệm tu tập của bản thân. Thật lòng mà nói, đọc thư Thầy mà tâm tôi có cảm giác như đứng trước một vị thầy chỉ đường trong rừng sâu: Không ồn ào, không phô trương, nhưng mỗi lời đều là ánh lửa.

Tôi xin kính đảnh lễ Thầy với lòng biết ơn chân thành.

Tiếp tục vấn đạo – Hỏi thêm về Đại Kinh Thí Dụ Lõi Cây

Sau khi nghiền ngẫm lời Thầy dạy, tôi tiếp tục đọc Đại Kinh Thí Dụ Lõi Cây (Mahāsāropama Sutta), và lại thấy phát sinh thêm nhiều điều chưa thấu triệt. Kính xin Thầy từ bi chỉ dạy thêm để tôi được tỏ ngộ sâu hơn.

Câu 1:

Tính chất “lõi – giác pháp” và lời cảnh tỉnh của Đức Phật

Trong kinh, Đức Phật ví sự tu tập qua nhiều tầng lớp: Vỏ cây, lá cành, vỏ trong, dác gỗ… cho đến lõi cây — tượng trưng cho giải thoát vô lậu.

Vấn:

Có phải ý chính của bài kinh là cảnh báo hành giả về nguy cơ chấp vào các thành tựu trung gian, nhất là thiền định và thần thông? Tức là dù đạt được thiền sắc – vô sắc hay các năng lực đặc biệt, nếu chưa đạt “lõi” thì vẫn chỉ là dừng lại giữa đường?

Và phải chăng đây là lời nhắc nhở quan trọng cho người ưa thích định mà thiếu tuệ?

Câu 2:

Phân biệt “lõi cây” và “quả vị”

Trong kinh, lõi cây được nói đến như mục tiêu tối hậu. Trong khi đó, các tầng tu chứng (Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm…) được mô tả trong nhiều kinh khác như các “thánh quả”.

Vấn:

“Lõi cây” trong kinh này có tương ứng với Lậu Tận Minh (Arahant) hay mang ý nghĩa rộng hơn — bao gồm cả sự thấu triệt bản chất của pháp, vượt ngoài hình thức của thánh quả? Thầy có thể khai thị sâu thêm về mối liên hệ giữa khái niệm “lõi” và “minh”?

Câu 3:

Vai trò của chánh kiến trong việc không lầm “vỏ cây” thành “lõi cây”

Một hành giả đang trên đường tu, năng lực định tăng trưởng, các chi thiền khởi lên mạnh mẽ — rất dễ cảm thấy “đây chính là mục tiêu”.

Vấn:

Theo Thầy, làm sao người tu có thể phân biệt được đâu là “dấu hiệu ảo” của sự tiến bộ, và đâu mới là hơi thở của “lõi cây”? Có phải “Như lý tác ý” chính là chiếc chìa khóa để không rơi vào mức độ thấp hơn?

Câu 4:

Đại Kinh Thí Dụ Lõi Cây và Kinh Sa Môn Quả: Hai tấm bản đồ bổ sung nhau?

Một kinh nhấn mạnh các mức độ “thành tựu sai hướng”, một kinh nhấn mạnh lợi ích của đời sống sa môn.

Vấn:

Theo tuệ tri của Thầy, hai bài kinh này có phải là hai mặt của cùng một bức tranh — một mặt chỉ rõ cái không phải lõi, một mặt mô tả những lợi ích chân thật của con đường đúng? Và nếu đúng, hành giả nên bắt đầu từ đâu để tránh ngộ nhận?

Câu 5:

Điểm trọng yếu nhất của Đại Kinh Thí Dụ Lõi Cây

Kính xin Thầy chia sẻ điều mà Thầy tâm đắc nhất trong bài kinh này.

Với Sa Môn Quả, Thầy nói về “tĩnh lặng đại chúng”, “hành động như pháp”, “tính chính danh của giáo pháp”.

Vấn:

Còn trong Đại Kinh Thí Dụ Lõi Cây, đâu là điểm thâm diệu mà theo Thầy, hậu thế cần đặc biệt ghi nhớ để không rơi vào “tu sai – chứng nhầm đường”?

Câu 6:

Trong lời kết, Thầy có chia sẻ triết lí giáo dục của Lý Gia là: "Sử dụng Phật pháp như một phương tiện tối ưu, giúp người học khai thác triệt để sức mạnh trí tuệ trong mỗi cá nhân, để chính bản thân người ấy tự khai phóng tâm thức."

Vấn: Xét theo triết lí này, "Lõi Cây" (Sāra) – tức là Tâm giải thoát bất động – được Lý Gia chiết giải thành ý vị sâu thẳm hay chơn thiệt nào, đặc biệt liên hệ đến việc "khai phóng tâm thức" của người học, để họ thấy rõ bản chất vượt lên trên mọi hiện tượng của các quả vị tu tập?

Kính bạch Thầy Lý Tứ,

Những lời Thầy phúc đáp giúp tôi thấy được một con đường: Không phải con đường của khẩu hiệu, mà là con đường của người thật sự đã chứng thực rõ ràng.

Tôi viết những dòng này với tất cả sự khiêm cung của một người học đạo chân thành, bỏ qua hình tướng Tăng - Tục. Như Huyền Không Đại Sư vấn đạo Cư Sĩ Lý Tứ trong tác phẩm Tâm Pháp - vì bỏ chấp hình tướng mà Đại Sư đã Giác Ngộ. Tôi cũng mong một ngày mình đạt được như vậy. Nên không ngại cái thấy hạn hẹp của mình mà dốc bầu đưa ra hỏi hết những gì còn băn khoăn tồn đọng trong lòng. Nguyện được nương nơi ánh sáng trí tuệ của Thầy để từng bước gỡ bỏ si mê.

Kính chúc Thầy:

Pháp thể khinh an – Tuệ đăng thường chiếu – Thuyết pháp vô ngại.

14/11/2025 - 12:10:35 - Tỳ kheo Tâm Giác - Huế"

Sư Thầy Tâm Giác và bạn đọc kính mến !!!

Sau đây, Lý Tứ xin lần lượt trả lời các câu hỏi:

- Hỏi:

Câu 1: "Tính chất “lõi – giác pháp” và lời cảnh tỉnh của Đức Phật

Trong kinh, Đức Phật ví sự tu tập qua nhiều tầng lớp: Vỏ cây, lá cành, vỏ trong, dác gỗ… cho đến lõi cây — tượng trưng cho giải thoát vô lậu.

Vấn:

Có phải ý chính của bài kinh là cảnh báo hành giả về nguy cơ chấp vào các thành tựu trung gian, nhất là thiền định và thần thông? Tức là dù đạt được thiền sắc – vô sắc hay các năng lực đặc biệt, nếu chưa đạt “lõi” thì vẫn chỉ là dừng lại giữa đường? Và phải chăng đây là lời nhắc nhở quan trọng cho người ưa thích định mà thiếu tuệ?"

- Trả lời:

a) Như người đi tìm lõi cây, muốn đưa lõi cây từ rừng về, người ấy phải "đẽo bỏ" cành nhánh, vỏ ngoài, vỏ trong, giác cây...Vì rằng, các thứ đẽo bỏ ấy chẳng phải thứ "người trí cần tìm"...Vả chăng, chính những thứ ấy, sẽ làm cản ngại, gây khó khăn trên hành trình, thậm chí có nguy cơ làm ta dừng lại...!!!

b) Định nào không bao gồm cả Giới và Tuệ...Chẳng phải Định của Phật đạo...!!!

- Hỏi:

Câu 2: "Phân biệt “lõi cây” và “quả vị”

Trong kinh, lõi cây được nói đến như mục tiêu tối hậu. Trong khi đó, các tầng tu chứng (Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm…) được mô tả trong nhiều kinh khác như các “thánh quả”.

Vấn:

“Lõi cây” trong kinh này có tương ứng với Lậu Tận Minh (Arahant) hay mang ý nghĩa rộng hơn — bao gồm cả sự thấu triệt bản chất của pháp, vượt ngoài hình thức của thánh quả? Thầy có thể khai thị sâu thêm về mối liên hệ giữa khái niệm “lõi” và “minh”?"

- Trả lời:

a) Lõi cây được nêu trong kinh Đại Kinh Thí Dụ Lõi Cây (Mahāsāropama Sutta) chính là "mục tiêu tối hậu của Phạm hạnh"...Nó chính là Thánh quả A la hán...Thánh quả này gồm đủ Tam minh...!!!

b) Lõi: "Giải thoát, Bất động"...!!! Minh: Tam minh...!!!

- Hỏi:

Câu 3: "Vai trò của chánh kiến trong việc không lầm “vỏ cây” thành “lõi cây”

Một hành giả đang trên đường tu, năng lực định tăng trưởng, các chi thiền khởi lên mạnh mẽ — rất dễ cảm thấy “đây chính là mục tiêu”.

Vấn:

Theo Thầy, làm sao người tu có thể phân biệt được đâu là “dấu hiệu ảo” của sự tiến bộ, và đâu mới là hơi thở của “lõi cây”? Có phải “Như lý tác ý” chính là chiếc chìa khóa để không rơi vào mức độ thấp hơn?"

- Trả lời:

a) Lõi cây chính là Giải thoát Bất động...!!! Khi nào, trong tất cả các thời, trong tất cả oai nghi: "Ý" luôn "Giải thoát"; "Tâm" luôn "Bất động"...Biết rằng, ta đang sống trong ý vị của lõi cây...!!!

b) Cảnh giới "Giải thoát Bất động" siêu quá "Như lí tác ý"...Đây chính là Tam muội "Không giác không quán"...!!!

- Hỏi:

Câu 4: "Đại Kinh Thí Dụ Lõi Cây và Kinh Sa Môn Quả: Hai tấm bản đồ bổ sung nhau?

Một kinh nhấn mạnh các mức độ “thành tựu sai hướng”, một kinh nhấn mạnh lợi ích của đời sống sa môn.

Vấn:

Theo tuệ tri của Thầy, hai bài kinh này có phải là hai mặt của cùng một bức tranh — một mặt chỉ rõ cái không phải lõi, một mặt mô tả những lợi ích chân thật của con đường đúng? Và nếu đúng, hành giả nên bắt đầu từ đâu để tránh ngộ nhận?"

- Trả lời:

Kinh Sa Môn Quả: Giới thiệu con đường của một Sa Môn đi tìm lõi cây...!!! Kinh Đại Thí Dụ Lõi Cây: Chỉ cho Sa Môn biết cách nhận diện đâu là lõi cây...Và, chỉ rõ những thứ che chướng lõi cây mà ta cần đẽo bỏ (khỏi tâm thức)...!!!

- Hỏi:

Câu 5: "Điểm trọng yếu nhất của Đại Kinh Thí Dụ Lõi Cây

Kính xin Thầy chia sẻ điều mà Thầy tâm đắc nhất trong bài kinh này.

Với Sa Môn Quả, Thầy nói về “tĩnh lặng đại chúng”, “hành động như pháp”, “tính chính danh của giáo pháp”.

Vấn:

Còn trong Đại Kinh Thí Dụ Lõi Cây, đâu là điểm thâm diệu mà theo Thầy, hậu thế cần đặc biệt ghi nhớ để không rơi vào “tu sai – chứng nhầm đường”?"

- Trả lời:

Theo tôi, điểm thâm diệu của kinh Lõi Cây mà người tu học cần thấy được, chính là: Như người đi tìm lõi cây, không mang vác, không đem về, không đề cao, cần loại bỏ những thứ chẳng phải lõi cây ra khỏi tâm thức...Đây là các thứ mà, người tu hành thời nay nhầm lẫn rất nhiều...!!!

- Hỏi:

Câu 6: "Trong lời kết, Thầy có chia sẻ triết lí giáo dục của Lý Gia là: "Sử dụng Phật pháp như một phương tiện tối ưu, giúp người học khai thác triệt để sức mạnh trí tuệ trong mỗi cá nhân, để chính bản thân người ấy tự khai phóng tâm thức."

Vấn: Xét theo triết lí này, "Lõi Cây" (Sāra) – tức là Tâm giải thoát bất động – được Lý Gia chiết giải thành ý vị sâu thẳm hay chơn thiệt nào, đặc biệt liên hệ đến việc "khai phóng tâm thức" của người học, để họ thấy rõ bản chất vượt lên trên mọi hiện tượng của các quả vị tu tập?"

- Trả lời:

Theo quan điểm Lý Gia: "Sau khi tìm được lõi cây, nếu ta không biết biến lõi cây thành vật dụng có ích cho đời thì, lõi cây ấy chỉ là thứ vô dụng...Và, chỉ khi nào ta thiện xảo, biết biến lõi cây thành vật dụng có ích cũng như giá trị vô đối thì, bây giờ mới được coi là khai phóng tâm thức trọn vẹn..." !!! Khi lõi cây đã trở thành vật dụng có ích và giá trị vô đối, theo quan điểm Lý Gia, bản chất và hiện tượng bây giờ bình đẳng...!!!

Tỳ Kheo Tâm Giác và bạn đọc kính mến !!!

Hi vọng, những trả lời vừa rồi, có thể giúp Sư Thầy và bạn đọc giải toả những thắc mắc đã nêu...!!! Chúc Sư Thầy và bạn đọc sớm thành tựu những điều cần thành tựu trong Phật đạo...!!!

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

14/11/2025

LÝ TỨ

Bài viết Lý Tứ

(41) TÂM SỰ CỦA HĐ LÝ GIA CHỦ ĐỀ: MỪNG 20/11 !!!

Quản trị viên 18.11.2020

(41) TÂM SỰ CỦA HĐ LÝ GIA  CHỦ ĐỀ: MỪNG 20/11 !!!

41) TÂM SỰ CỦA HĐ LÝ GIA

CHỦ ĐỀ: MỪNG 20/11 !!!

Các bạn !!!

Hôm nay chỗ ở của mình bị cúp điện...Mà không có điện thì chẳng làm được gì... Thế là đi nhâm nhi cà phê thôi !!!

Ngồi ở quán một mình, đọc được bài viết của Lý Diệu Âm nhân ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11 !!! Bài viết thật xúc động !!!

Mình rất hạnh phúc khi cuộc đời và Phật đạo đã cho mình một Lý Gia với tất cả HĐ đều một lòng hướng về giáo pháp, biết thương yêu mọi người như thương yêu bản thân...!!!

Cảm ơn Lý Diệu Âm !!! Cảm ơn HĐTM Lý Gia và cảm ơn cuộc đời này !!!

18/11/2020

LÝ TỨ

Tb!

* Không đem theo kiếng, nên viết mò, đọc mò... Có thể có sai sót hoặc lỗi chính tả !!!

* Trong lúc viết những dòng này cho các bạn, có một bạn ở Nghệ An tha thiết xin được làm HĐ Lý Gia... Thế là HĐ 618 được đặt cách tại...quán...cà...phê !!! Mọi nghi thức sẽ thực hiện khi có điều kiện !!!

Xin chuyển đến mọi người tâm sự của Lý Diệu Âm và hình ảnh HĐ 618 !!!

Con xin kính đảnh lễ Thầy !

Khi cả nước đang hướng về kỷ niệm ngày nhà giáo VN thì con ngồi đây , lặng nhớ và trong lòng tràn đầy cảm xúc về một người Thầy , một người cha , một vị thuyền trưởng tài ba về cả Tâm và Trí đã cho chúng con - hết lớp học sinh này tới lớp học sinh kia vượt qua Biển lớn và các cơn giông bão Tâm thức của cuộc đời .

Khi con đang loay hoay chống chọi với các cơn bão cuộc đời thì con bỗng được gặp Thầy , bằng Trí tuệ và lòng từ bi vô lượng , Thầy đã dạy cho con một nơi trú ẩn an toàn trong mọi cơn bão Tâm thức khiến cho con cảm nhận được thế nào mới đúng là “ Đạo diệt khổ “ . Trước đây vì mê mờ bốn món tứ niệm xứ khiến con còn xoay vần trong các nỗi khổ thế gian , thầy cho chúng con những ví dụ thật sinh động và chuẩn xác : ông Thần đang an vui thảnh thơi thì tự nhận cái miếu làm miếu của mình rồi buồn vui theo cái miếu đó , tự chui vào chiếc lọ để rồi thấy biết không ra ngoài màu sắc của cái lọ đó ... giờ tâm con lúc nào cũng an lạc , rỗng rang , thanh tịnh .... chỉ trong một thời gian ngắn được học tập ,được Thầy chỉ dạy . Khi nghe Tâm pháp đến đoạn Thất muội được Lão sư khai thị , tìm được cái Tâm như như Bất động giải thoát , con đã lặng đi xúc động trong cái An lạc , tự tại như vậy . Cho đến khi con phát nguyện học trí tuệ , tìm được chiếc chìa khoá mở cửa các Tam muội môn , giải thoát môn , cảm xúc lại một lần nữa dâng trào .... Dường như sau khi phát nguyện giúp mọi người được an lạc giống như mình , con gặp được nhiều người hơn , Mỗi người một hoàn cảnh khổ khác nhau , Tuy nhiên càng giúp họ giải quyết nguồn tâm trước các phiền não đó , con lại càng thấy những phiền não đó giúp con học hỏi nhiều điều trong việc học trí tuệ . Con hiểu thêm ngoài về Lý , phiền não tức Bồ đề , sinh tử tức Niết bàn không chỉ đơn thuần là “ sóng ấy tức nước ấy “ mà còn có ý nghĩa sâu hơn khi xét về Hạnh Nguyện của các Bậc Bồ Tát , khi chưa phát đại nguyện , người giác ngộ chỉ mong an vui trong Niết bàn mà vẫn thấy chán ghét sinh tử . Chán ghét phiền não mà chẳng hiểu phiền não tức Bồ Đề . Khi phát đại Tâm , Vị ấy vì độ vô lượng chúng sanh mà chẳng ham Niết Bàn , cam tâm vào sanh tử , thấy rõ phiền não như củi khô , càng nhiều củi khô thì ngọn lửa trí tuệ càng cháy sáng .

Từ khi được Thầy chữa “sáng con mắt “ trong tu tập , con viết bài bằng lời viết gọn gàng xúc tích hơn .. vì đó chính là lời trong trái tim chúng con , viết bằng chính cảm xúc thực , những gì mình thọ nhận khi được học giáo Pháp thực của Chư Phật để lại . Chúng con cứ từng người từng người theo nhau được giác ngộ , nụ cười ai nấy đều rạng rỡ trên môi . Bỏ lại sau lưng nhưng khổ đau do bão táp cuộc đời , chúng con đã có một chỗ thật bình yên , an lạc , tự tại ...

Lớp học Lý Gia không một nơi nào có được , đó chính là lớp học với văn hoá vô lậu mà chúng con đã được Thầy xây dựng nên .

Trước đây , con chán ghét Ta bà , chỉ mong về Cực Lạc . Khi được gặp Thầy con đã được giác ngộ , được giải thoát và được học Đạo trí tuệ . Mục tiêu cuộc đời con đã thay đổi , giống như người đang đói , chỉ ước được bữa ăn no . Khi được Thầy chỉ đường để tìm thấy cả một kho báu trong tay , ước mong một bữa ăn no đã không còn nữa mà con lại nghĩ đến lúc con còn đói kia , thấy rất nhiều người cũng đang như con ngày xưa , con không còn mong muốn cầm kho báu đó cho riêng mình , mong ước giờ là đem kho báu đang có đó cho những người còn đang đói hoặc chỉ cho họ con đường tìm ra kho báu giống mình , Con đã không còn chán ghét Ta Bà , cũng chẳng ham mê Niết bàn hay Cực Lạc mà phát nguyện cam tâm vào sinh tử , biến phiền não thành Bồ Đề .

Tất cả đều nhờ công ơn giáo dạy của Thầy . Có một vị thiện tri thức đã nói chưa thấy nơi nào mà học trò xưng tán , kính lễ và biết ơn Thầy như ở Lý Gia . Vâng , chỉ khi nào một người được chữa con mắt sáng, không còn sống trong cảnh mù loà tăm tối , nỗi khổ nhân sinh không còn thì sẽ hiểu được cái cảm giác biết ơn đó thế nào , lòng biết ơn này không thể dùng bất kể lời lẽ nào để có thể diễn tả được . Thầy là người Cha tận tụy hết lòng với đàn con dại , là người Thầy đốt đuốc dẫn đường chỉ lối , Thầy thiện xảo trong mọi phương tiện giúp chúng con lìa mê tìm về giác và học trí tuệ , Thầy là người thuyền trưởng tài năng lái những con thuyền tri thức bình an trong mọi cơn sóng dữ .. . Đó , ngôi nhà của Lý Gia như thế đó . Thày còn dạy chúng con mỗi người hãy học làm một người lái tàu giỏi , vững tay lái đưa thêm được nhiều người tìm về bến Giác !

Thầy ơi , chúng con vạn lần biết ơn Thầy

🙏🙏🙏

Con , Lý Diệu Âm

(41) TÂM SỰ CỦA HĐ LÝ GIA CHỦ ĐỀ: MỪNG 20/11 !!!

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời Số 62.2025 với chủ đề: Ngã Hành Vấn Đạo !!!

Quản trị viên 19.06.2026

Các bạn !!!

Mình vừa nhận được "thư vấn đạo" của độc giả có pháp danh Ngã Hành...Ngoài ra, vị độc giả này còn ghi "Hắc Lao - Cô Sơn Mai Trang - Tây Hồ"...!!!

Đọc pháp danh và địa danh, Lý Tứ chợt nhớ đến đại danh của một đại cao thủ trong truyện kiếm hiệp Tiếu Ngạo Giang Hồ của cố nhà văn Kim Dung...Đại cao thủ đó chính là giáo chủ Nhật Nguyệt Thần Giáo - Nhậm Ngã Hành, người đã từng bị giam cầm tại Hắc Lao ở Cô Mai Sơn Trang dưới đáy Tây Hồ, Tô Châu do Giang Nam Tứ Hữu canh giữ...!!!

TẢN MẠN VỀ NHẬM NGÃ HÀNH

"Nhậm Ngã Hành - Cao thủ duy nhất trong Kim Dung chết vì võ công do chính mình tạo ra.

Nhậm Ngã Hành, một nhân vật đầy quyền lực trong tiểu thuyết kiếm hiệp lừng danh Tiếu ngạo giang hồ của cố nhà văn Kim Dung, không chỉ là cha của Nhậm Doanh Doanh mà còn là giáo chủ đầy tham vọng của Nhật Nguyệt Thần Giáo. Ông nổi tiếng khắp giang hồ với việc sáng tạo ra Hấp Tinh Đại Pháp, một môn võ công tà dị khiến bao người khiếp sợ. Tuy nhiên, chính tuyệt kỹ này lại trở thành nguyên nhân dẫn đến cái chết bất ngờ của ông.

Thuở còn tại vị, Nhậm Ngã Hành vì quá mải mê luyện tập Hấp Tinh Đại Pháp mà mất cảnh giác, bị Đông Phương Bất Bại lừa giam vào hắc lao sâu thẳm dưới đáy Tây Hồ, ngai vị giáo chủ cũng rơi vào tay kẻ phản bội.

Tuy nhiên, Hấp Tinh Đại Pháp lại ẩn chứa một nhược điểm chí mạng. Dù có thể thu hút nội lực của người khác, nhưng những luồng chân khí này lại không cùng nguồn gốc, không thể hòa hợp mà trái lại còn xung đột lẫn nhau trong các kinh mạch của người luyện. Mỗi khi các luồng chân khí này phát tác, người luyện sẽ phải chịu đựng những cơn đau đớn tột cùng, chẳng khác nào tẩu hỏa nhập ma. Theo thời gian, mức độ nghiêm trọng của những cơn đau này ngày càng gia tăng.

Chính nhược điểm chết người này đã cướp đi mạng sống của Nhậm Ngã Hành. Sau khi thoát khỏi hắc lao và tái chiếm ngôi vị giáo chủ, cơ thể ông đã tích tụ quá nhiều luồng chân khí dị chủng. Đến cuối truyện, khi Nhậm Ngã Hành tuyên chiến với Hằng Sơn, Lệnh Hồ Xung trở về cùng các anh hùng võ lâm để ngăn chặn âm mưu bá chủ giang hồ của ông. Lệnh Hồ Xung được bầu làm minh chủ, và Phương Chứng đại sư vì đại cục đã phá lệ, bí mật truyền thụ Dịch Cân Kinh - bộ nội công Phật môn thượng thừa - cho chàng để hóa giải những luồng chân khí hỗn loạn trong cơ thể, giúp chàng có đủ sức mạnh đối phó với Nhậm Ngã Hành.

Tuy nhiên, trước khi trận chiến cuối cùng có thể diễn ra, Nhậm Ngã Hành đã đột ngột qua đời do chính những luồng chân khí mà ông đã thu thập trong suốt cuộc đời luyện Hấp Tinh Đại Pháp. Cái chết bất ngờ này đã chấm dứt mộng bá chủ giang hồ của Nhậm Ngã Hành, đồng thời cho thấy cái giá phải trả của việc đi ngược lại lẽ tự nhiên trong võ học..." !!! (Theo Danviet. Vn - Tiêu đề do Lý Tứ đặt) !!!

Độc giả Ngã Hành thân mến !!!

Tất nhiên, bạn đọc Ngã Hành không phải là Nhậm Ngã Hành trong tiểu thuyết...Lý Tứ chỉ bất ngờ với pháp danh và địa danh mà bạn đọc đã ghi trong thư nên liên tưởng vậy thôi !!! Mong bạn đọc Ngã Hành thông cảm...!!!

Về việc trả lời...!!! Thông thường, sau khi nhận được các câu hỏi, chính Lý Tứ sẽ trực tiếp trả lời vì là người phụ trách chuyên mục...Nhưng, sau khi đọc thư, độc giả Ngã Hành đã viết: "Tôi biết Thầy đã dành 17 năm để giảng dạy và chắc chắn đã đào tạo ra những học trò xuất sắc kế thừa được tinh hoa giáo pháp. Với lòng thành kính, tôi xin phép đưa ra một đề nghị nhỏ nhoi: Kính xin Thầy cử một vị đệ tử xuất sắc nhất của mình đứng ra trả lời những câu hỏi khó dưới đây của tôi. Tôi muốn được kiểm chứng và học hỏi từ thế hệ tiếp nối của Thầy, tin rằng họ đã lãnh hội được những điểm cốt yếu nhất..." !!!

Đọc đến đoạn trên, Lý Tứ suy nghĩ: "Cung kính không bằng vâng mệnh"...!!! Vả chăng, đây cũng là cơ hội để các học trò Lý Gia tự thẩm định năng lực của mình sau nhiều năm học tập...Bằng cách, Lý Tứ sẽ đăng toàn văn bức thư lên chuyên mục, sau đó HĐ Lý Gia có thể trả lời các câu hỏi của bạn đọc và email phần trả lời cho mình (hạn chót là 12:00 ngày Thứ Ba, 18/11/2025)...Sau khi đọc trả lời của các bạn, nếu thấy các trả lời ấy thoả đáng, mình sẽ đăng lên chuyên mục...Nếu chưa có trả lời thoả đáng, Lý Tứ sẽ trở lại vai trò "thù tiếp" của người quản trị chuyên mục với bạn đọc...Và, đành cáo lỗi cùng mọi người vì chưa đào tạo học trò đến nơi đến chốn vậy...!!!

Cuối thư, Lý Tứ chân thành cảm ơn những nhận xét tốt đẹp mà độc giả Ngã Hành đã dành cho Lý Tứ thông qua chuyên mục...!!! Hi vọng, sau lần tương ngộ trên không gian ảo này, Lý Tứ và bạn đọc Ngã Hành lại có nhân duyên đàm đạo nhiều hơn trên tinh thần đạo pháp !!! Chúc bạn đọc Ngã Hành an vui, tinh tấn...!!!

Sau đây là toàn văn thư vấn đạo của độc giả Ngã Hành !!!

"NGÃ HÀNH VẤN ĐẠO

Kính gửi Thầy Lý Tứ,

Tôi là một kẻ du phương tìm đạo đã hơn hai mươi lăm năm, pháp danh thường gọi là Ngã Hành.

Trải bước qua không biết bao nhiêu tự viện, am thất, từng được nghe pháp của các bậc tôn túc ở Bắc Tông lẫn Nam Truyền. Cũng từng nương theo vài vị luận sư, mong tìm cho mình một lối đi rốt ráo.

Ấy vậy mà, càng học lại càng thấy chưa một lần được thỏa mãn. Hoặc thì kinh viện quá sâu mà thiếu tính thực hành, hoặc thì nghiêng về hành mà chưa chạm đến cội gốc của nguyên lý tâm – pháp – duyên – thức. Mọi lý luận dường như đều dừng lại ở tầng tri thức khô cứng, không thể chạm đến thực tại “tâm không sinh diệt” mà chư Phật đã tuyên thuyết.

Cho đến khi hữu duyên đọc được các bài đối thoại trong chuyên mục hỏi đáp của Thầy, trong lòng khởi lên một cảm giác vừa kính phục, vừa kinh ngạc.

Kính phục ở cái logic rành mạch;

Kinh ngạc ở cái thâm sâu mà vẫn hết sức đời thường.

Những lời giải đáp của Thầy không chỉ thâm sâu, logic mà còn mở ra những góc nhìn khác biệt, thực tiễn đến lạ thường, khiến tôi nhận ra những điều mình đã lầm chấp bấy lâu. Tôi vô cùng ngưỡng mộ và khâm phục trí tuệ siêu việt của Thầy.

Tôi biết Thầy đã dành 17 năm để giảng dạy và chắc chắn đã đào tạo ra những học trò xuất sắc kế thừa được tinh hoa giáo pháp. Với lòng thành kính, tôi xin phép đưa ra một đề nghị nhỏ nhoi: Kính xin Thầy cử một vị đệ tử xuất sắc nhất của mình đứng ra trả lời những câu hỏi khó dưới đây của tôi. Tôi muốn được kiểm chứng và học hỏi từ thế hệ tiếp nối của Thầy, tin rằng họ đã lãnh hội được những điểm cốt yếu nhất.

Sau đây là bảy câu hỏi—xin được trình bày trong tinh thần hết sức nghiêm túc.

Câu hỏi 1 – Về Như Lai Tạng và Vô Ngã

Thưa Thầy, kinh điển thường nói:

“Như Lai Tạng là bản thể thanh tịnh thường trụ”, nhưng lại cũng nói:

“Tất cả pháp đều vô ngã, vô tự tính.”

Vậy:

Nếu vạn pháp vô tự tính, lấy gì làm nền để khẳng định Như Lai Tạng là thật tánh?

Và nếu Như Lai Tạng là bản thể bất biến, điều ấy có trái với Tứ Pháp Ấn: Vô thường – khổ – vô ngã – bất tịnh chăng?

Tôi đã hỏi điều này với nhiều vị pháp sư, nhưng hoặc rơi vào chấp “chơn ngã”, hoặc né tránh câu hỏi.

Câu hỏi 2 – Về Thức A-lại-da và Sự “Không Khởi” của Chân Tâm

Kinh Lăng Già nói A-lại-da là nền tảng của sinh tử. Kinh Lăng Nghiêm lại khẳng định Chân Tâm vốn không động.

Vậy tôi xin hỏi:

Khi chuyển y A-lại-da thành Đại Viên Cảnh Trí, cái gì được chuyển? Nếu Chân Tâm vốn không sinh khởi, vậy việc “chuyển” có thật xảy ra không, hay chỉ là danh ngôn tạm lập?

Câu hỏi 3 - Về Chuyển Y và Trí Lậu Tận trong Kinh Lăng Già

Kinh Lăng Già dạy về "Chuyển Y" (Y chuyển), tức là chuyển cái Tự Tướng của A Lại Da Thức thành Trí Lậu Tận và chuyển cái Biệt Tướng thành Trí Bất Tư Nghị Biến Dị.

Câu hỏi: Trí Lậu Tận được thành tựu ngay khi nào? Nó khác gì với Trí Không Phân Biệt và Trí Như Lý cũng được đề cập trong kinh? Nếu Trí Lậu Tận là trí dứt hết phiền não lậu hoặc, vậy thì A Lại Da Thức đã thật sự được chuyển tận gốc hay chỉ là không còn chấp thủ vào các hạt giống hữu lậu?

Câu hỏi 4 – Về Giới – Định – Tuệ trong Thực Chứng

Nhiều tôn phái nói rằng phải “giữ giới để an định”, “định sanh tuệ”. Nhưng lại có người chứng ngộ đột ngột mà không qua quá trình “định lực mạnh”.

Do đó, xin Thầy (hay học trò Thầy) giải thích:

Giới – Định – Tuệ là tiến trình tuần tự, hay là ba mặt đồng thời của một thực tại? Nếu tuần tự, sao có người không cần vào thiền định sâu mà vẫn khai mở tuệ giác? Nếu là ba mặt đồng thời của một thực tại, xin được giải thích rõ cơ chế, và viện dẫn kinh điển chứng minh?

Câu hỏi 5 - Về Bảy Đại trong Kinh Lăng Nghiêm và Mối Liên Hệ với Ngũ Đại

Kinh Lăng Nghiêm đề cập đến Thất Đại (Bảy Đại): Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không, Kiến, Thức, để chứng minh tất cả đều là Thể Như Lai Tạng và đồng một bản thể.

Câu hỏi: Xin giải thích rõ ràng và thâm sâu về sự khác biệt cốt tử giữa Ngũ Đại (Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không) theo cách hiểu của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ hay Pháp Tướng Tông và Thất Đại của Kinh Lăng Nghiêm. Cụ thể, việc thêm vào Kiến Đại (thấy biết) và Thức Đại (ý thức) có ý nghĩa và dụng ý như thế nào? Xin được giải thích và chứng minh cụ thể?

Câu hỏi 6 - Về Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối trong Kinh Lăng Nghiêm

Kinh Lăng Nghiêm đưa ra Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối (Bốn lời dạy rõ ràng về sự thanh tịnh) như là hàng rào bảo vệ giúp hành giả tu thiền định không bị đọa lạc.

Câu hỏi: Nếu một vị tu hành đã thật sự đạt đến Kiến Tánh (Kiến Tánh Thành Phật, như Thiền Tông dạy) và đã chuyển hóa căn bản các hạt giống ô nhiễm trong Tàng Thức, vị ấy có còn bị ảnh hưởng hoặc chi phối bởi Bốn Giới Cấm này (Sát, Đạo, Dâm, Vọng) không? Nếu còn chi phối, tại sao lại là Kiến Tánh? Nếu không, xin cho một giải thích triệt để về Cơ Chế nào đã khiến nghiệp lực từ những hành vi này không thể sinh khởi đối với vị đã Kiến Tánh.

Câu hỏi 7 – Về Bản Chất của Niết-bàn

Kinh A-hàm nói Niết-bàn là “diệt tận ái dục”.

Kinh Đại thừa lại mô tả Niết-bàn như “trí tuệ viên mãn”, “pháp thân thường trụ”.

Vậy xin Thầy—hay học trò của Thầy—trả lời cho rõ ràng:

Niết-bàn là trạng thái tâm lý, là bản thể siêu hình, hay là sự vận hành đúng pháp của trí tuệ?

Và Niết-bàn của A-la-hán có khác Niết-bàn của Bồ Tát không? Nếu khác, khác ở điểm nào?

Kính thưa Thầy,

Tôi viết những dòng này với tất cả lòng tôn trọng và chân thành. Nếu bản thân Thầy trực tiếp trả lời, tôi vô cùng hoan hỉ. Nhưng nếu Thầy muốn “thử lửa” người học trò xuất sắc nhất của mình, tôi lại càng hân hoan đón đợi.

Một học trò xuất sắc là minh chứng rõ ràng nhất cho sự trường tồn của đạo pháp, cũng là minh chứng cho chiều sâu trong giáo pháp mà Thầy đã trao truyền.

Kính chúc Thầy pháp thể khinh an, đạo lực tăng trưởng, lợi lạc hữu tình.

Ngã Hành – Người đã đi nhiều nơi, hỏi nhiều thầy, và hôm nay, mong được một lần thấy sự truyền thừa thật sự.

16/11/2025 - 10:09:02 - Ngã Hành - Hắc Lao - Cô Sơn Mai Trang - Tây Hồ" (Hết thư)

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

16/11/2025

LÝ TỨ

Sinh Hoạt Lý Gia

(11) SÂN CHƠI TRỰC TUYẾN LÝ GIA CHỦ ĐỀ: LẬP KẾ HOẠCH CHO MỘT CHUYẾN HẢI HÀNH !!! (PHẦN 1)

Quản trị viên 19.06.2026

(11) SÂN CHƠI TRỰC TUYẾN LÝ GIA

CHỦ ĐỀ: LẬP KẾ HOẠCH CHO MỘT CHUYẾN HẢI HÀNH !!! (PHẦN 1)

Các bạn !!!

Lý Phương Anh trở thành HĐ Lý Gia được chừng một năm (cuối năm 2019) !!! Nhưng có thể nói, Phương Anh là một trong những hiện tượng hiếm gặp trong quá trình hướng dẫn HĐ Lý Gia tu học của mình !!!

Chỉ sau một vài lần trao đổi, Phương Anh đã thấy được vấn đề, và cứ như vậy, ngày qua ngày sức giác ngộ của Phương Anh ngày càng sâu thêm, càng thấu suốt thêm !!!

Phương Anh là một trong 5 vị nữ môn đệ (trong 12 năm qua) được Lý Gia tặng danh hiệu cao quý LÝ NỮ PHƯƠNG DANH (LÝ NỮ PHƯƠNG DANH LÝ PHƯƠNG ANH) !!! Danh hiệu này nhằm khen thưởng những vị nữ HĐ có sức giác ngộ vượt trội cùng công lao giúp nhiều HĐ khác giác ngộ !!!

Kỳ sinh hoạt trực tuyến lần này, Phương Anh được BQT chọn làm chủ toạ buổi thuyết trình !!! Xin giới thiệu đến mọi người bài tham luận của LÝ NỮ PHƯƠNG DANH LÝ PHƯƠNG ANH !!!

P/S!

- Mình có xin bạn ấy tấm hình nào "xinh xinh" để đăng cùng bài viết, nhưng bạn ấy "keo quá", không gởi !!! Ha ha ha ha !!! Thôi tạm xài hình chụp từ iphone vậy !!!

- Bài viết của Phương Anh tương đối dài, nhưng nó là đúc kết từ kinh nghiệm thực tế trong việc giúp người của bạn ấy (do giới hạn của facebook, mình sẽ cắt bài của Phương Anh để đăng nhiều kì). Mong các bạn thông cảm và...chịu...khó...đọc!!! Chân thành cảm ơn !!!

19/11/2020

LÝ TỨ

"LẬP KẾ HOẠCH CHO MỘT CHUYẾN HẢI HÀNH" (Phần 1)

I. Hướng tiếp cận đề tài

Hôm nay, được sự cho phép của Thầy và sự sắp xếp của các huynh đệ, con xin phép trình bày những suy nghĩ của mình về đề tài “Bản đồ hải trình cho người từ sơ cơ đến dứt tập” trong TCTT kì vừa qua trước đại chúng. Con mong được Thầy, muội mong được huynh đệ góp ý và bổ khuyết.

Thực sự tới thời điểm hiện tại, qua những buổi sinh hoạt trong 1 tháng vừa qua, 3 câu hỏi thầy đưa ra trong TCTT, con thấy các huynh đệ cũng đã trình bày và mổ xẻ rất chi tiết cả về độ rộng và độ sâu. Bài trình bày dưới đây của con xin được trích dẫn những lời dạy của Thầy, kế thừa và tiếp nối những đúc kết của các huynh đệ tỉ muội và đóng góp những cảm nhận của cá nhân con.

Bản thân con, với tư duy: Việc có thể thành tựu những điều cần thành tựu trong thời gian ngắn nhất, hiệu quả nhất, phải là kết quả, là sự cộng hưởng của 2 yếu tố: 1 là Sự thấu suốt, tốc lực tâm nơi tự thân người tu hành và 2 là Sự định hướng, lực đẩy của thiện tri thức, của bạn đồng tu. Có thể tạm lấy hình ảnh: Con vịt anh dắt con vịt em qua sông để minh hoạ cho sự kết hợp giữa tự độ và độ tha này. Thực chất cả 2 con cùng nhau đi qua một chặng đường (Khổ đế và Tập đế), nếu mỗi con vịt đều xác định một cách sáng rõ mục tiêu của mình, chiến thuật của mình, những việc mình cần làm để đạt mục tiêu thì chuyến hải trình sẽ suôn sẻ và thẳng tiến một mạch tới đích.

Do vậy, 3 câu hỏi gợi ý của Thầy trong TCTT kì này, con xin phép được không trả lời theo thứ tự câu hỏi mà trình bày dưới dạng một bản thảo luận, định hướng dành cho 2 đối tượng, cụ thể như sau:

Phần 1: Quy trình tu tập của người sơ cơ đến Dứt tập. Hay nói cách khác là: Một người mới tu tập trong Phật đạo thì bắt đầu từ đâu, những mục tiêu cần lần lượt thành tựu là gì?

Phần này con xin thành tâm hướng tới những huynh đệ mới trong Lý gia.

Phần 2: Quy trình hộ trì, giúp đỡ người tu tập, giai đoạn từ sơ cơ đến Dứt Tập. Hay nói cách khác là: Những bước nào, kĩ thuật nào, những y cứ nào để có thể đưa người qua sông thành công.

Phần này con xin thành tâm hướng tới các huynh đệ mới bắt đầu hành trình tu Bồ tát hạnh, hành Bồ tát đạo.

Sau đây, con xin trình bày chi tiết.

II. Quá trình tu tập của người sơ cơ đến Dứt tập

Hay nói cách khác là: Một người mới tu tập trong Phật đạo thì bắt đầu từ đâu, những mục tiêu cần lần lượt thành tựu là gì?

Thưa các huynh đệ!

Cũng giống như mong muốn nơi tự thân mỗi người tu hành khi đến với Phật đạo, mục tiêu của Phật Đạo ra đời trước hết là nhằm giúp cho bản thân người tu hành có được đời sống an vui, có thể nói là đời sống an vui như sự an vui thường hằng của Đức Phật. Câu hỏi đặt ra là: Cái gì làm nên sự an vui như sự an vui của Phật đó?

Theo kinh sách để lại, sau khi Phật thành Chánh Đẳng Chánh giác, Thế Tôn quan sát hết thảy chúng sanh, Đức Phật đã thốt lên lời cảm thán: “Lạ thay, hết thảy chúng sanh đều có những đức tính như Chư Như Lai”. Và 49 năm sau, tức sau hơn 40 hoằng pháp giáo hóa chúng sanh, trong kinh Đại Niết Bàn, Phật lại một lần nữa tuyên thuyết điều đó bằng câu: “Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh”. 2 câu nói tuy tại 2 thời điểm khác nhau tạm coi là đầu và cuối của một quá trình, Phật đều tuyên thuyết một điều, đó là: Phật tánh có sẵn trong mỗi chúng ta, sự an vui, lạc tịnh, thường hằng, từ bi hỉ xả đã có sẵn trong mỗi người.

Như vậy cái chất liệu để làm nên sự an vui như một Đức Phật hay còn gọi là Phật Tánh thực chất đã có sẵn trong mỗi chúng sanh, và vì một hay nhiều lí do nào đó mà những đức tánh này không thể hiện, chúng sanh không thấy sự an vui mà chỉ thấy phiền não rỉ chảy trong tâm. Điều này giống như một người có sẵn rương kho báu trong vườn mà không tự biết nên luôn luôn thấy mình nghèo, và vì rương kho báu bị nhiều lớp đất đá trong vườn vùi lấp mà người này không thấy được, không biết cách đào nó lên để thoát nghèo.

Chính những lời tuyên thuyết này của Phật đã minh định cho chúng ta mục tiêu và hướng đi của chuyến hải hành này. Đó là quay về bản thân mình, nơi biển tâm này, đào bới, bỏ đi hết những gì đã che lấp đã phủ đậy, để thấy được kho báu, thấy được viên ngọc Phật Tánh, sự an vui đã có sẵn nơi bản thân mình.

Câu hỏi tiếp theo được đặt ra là: Nếu như trong mỗi chúng ta đã có sẵn sự an vui, thanh tịnh thì cái gì làm cho chúng ta không thấy, không cảm nhận được cái an vui thanh tịnh hằng hữu đó?

Có rất nhiều lí do: Có thể là do người ta đang bị những sự việc ở đời úp chụp, sự chăm chú dồn hết vào một chỗ nào đó mà không thấy được những thứ khác, cũng có thể những niềm vui những nỗi buồn thay nhau sanh khởi, tâm bị phiền não, cũng có khi là những quan điểm quan niệm những dòng suy nghĩ miên man phủ lấp, trí bị che mờ …. Nói chung nhiều thứ…

Để giúp phân loại và giải quyết các thứ này, trong Phật đạo có cái được gọi là Tứ đế hay Tứ diệu đế.

Tứ đế là gì?

Tứ đế là 4 tầng bậc giải quyết 4 vấn đề của người tu hành, hay chính là 4 tầng đất đá người tu hành cần phải lần lượt đào bới, giải quyết để thấy được viên ngọc Phật tánh. Trong đó có 2 cấp, 2 lớp đầu tiền là Khổ đế và Tập đế.

1. Khổ đế là gì?

Khổ đế là phần việc giải quyết 8 món khổ nhân sinh. 8 món khổ tổng nhiếp hầu hết tất cả những nỗi khổ của kiếp nhân sinh, của nghiệp người, bao gồm: Sanh-lão-bệnh-tử khổ; ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, cầu bất đắc khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ.

Khổ đế giống như lớp cỏ bề mặt che lấp, người ta bị những sự việc, những nỗi khổ ở đời úp chụp, nỗi khổ đó cứ ở ngay trước mặt, lấy đi toàn bộ sự chăm chú và sức lực.

* Sanh-lão-bệnh-tử khổ:

- Sanh khổ là nỗi khổ đau trong sự mang thai và sinh ra đời của mỗi con người bao gồm cả mẹ lẫn con. Mang thai và sanh nở là đau đớn cho cả người mẹ lẫn đứa trẻ. Chăm sóc và nuôi nấng lại cũng là một quá trình mệt mỏi khổ sở. Giả sử như những loài động vật khác không phải là nghiệp người thì có thể con mẹ chỉ mang thai vài tháng, sinh ra đời vài ngày thậm chí vài giờ con con đã trưởng thành độc lập tự sống tự kiếm ăn, nhưng với loài người thì quá trình phụ thuộc này kéo dài hơn rất nhiều với mức độ phụ thuộc cao, đứa trẻ khổ vì sinh ra mà không thể tự đi, tự đứng, người mẹ sinh con ra có trách nhiệm chăm sóc nuôi nấng mười mấy năm trời…

- Lão khổ là sự khổ trong lúc tuổi già. Con người khi già yếu, các căn đều suy yếu, mắt mờ, tai lãng, lưng mỏi, chân run…

- Bệnh khổ là sự khổ trong cơn đau bệnh tật.

- Tử khổ là sự khổ trong lúc chết, tâm sợ hãi, thân thì đau đớn.

* Ái biệt ly khổ: Là sự khổ khi xa lìa người thân yêu.

* Oán tắng hội khổ: Là sự khổ về oan gia hội ngộ, không ưa thích mà phải gặp.

* Cầu bất đắc khổ: Là sự khổ của việc mong cầu mà không đạt được.

* Ngũ ấm xí thạnh khổ: Sự khổ về năm ấm hưng thạnh, tức vượt quá mức bình thường. Ngũ ấm là 5 món: sắc, thọ, tưởng, hành, thức ấm. Theo quan điểm của Phật giáo, một hữu tình được làm nên bởi 5 yếu tố là: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Sắc là cái Thân này; Thọ là các cảm thọ cảm giác; Tưởng là những nhớ nghĩ; Hành là sự dao động của tâm; Thức ở tầng nghĩa dễ thấy nhất là sự hiểu biết này. Ấm là úp là chụp. Ngũ ấm là tình trạng bị 1 trong 5 yếu tố này úp, chụp, không thoát ra được. Ví dụ:

- Sắc ấm như người tối ngày nghĩ đến cái thân này, không nghĩ được việc gì khác...

- Thọ ấm như người tối ngày nghĩ đến những cảm thọ này, ăn sao cho ngon, ngồi chỗ nào cho mát, dễ chịu…

- Tưởng ấm như người tối ngày suy tưởng, nhớ nghĩ vẩn vơ đủ thứ...

- Hành ấm như những người mà cái tâm buồn vui nó rong ruổi tối ngày, chảy từ chỗ này sang chỗ khác, nói như cách người đời là sáng nắng chiều mưa...

- Thức ấm như những người việc chi chi cũng phân tích, chia chẻ, có quan điểm, phải như này mới được, như này mới đúng, như này mới tốt …đại khái như vậy...

2. Tập đế là gì?

Tập đế là phần việc giải quyết 3 món Phiền não, Kiết sử và Lậu hoặc. Đây là 3 món che chướng, trói buộc trong tâm và trí.

2.1. Phiền não là gì?

Là trạng thái Tâm không yên. Một sự việc xảy đến, mất đi cái thanh tịnh yên tĩnh. Phiền não bao gồm 2 trạng thái tâm thức là Phiền và Não.

- Phiền: Là trạng thái Tâm mất thanh tịnh. Khi một sự việc bên ngoài xảy đến mình vui, mình buồn, nói chung mình lợn gợn sao đó nên tự dưng mất đi cái thanh tịnh tự tâm trước đó.

- Não: Là trạng thái Tâm trùng xuống dưới mức bình thường, không hân hoan, não hại.

Tóm lại, Phiền não là do các căn chạy theo trần cảnh mà gây phiền gây não.

2.2. Kiết sử là gì?

Kiết là kết là cột trói, Sử là sai sử là lôi kéo.

Kiết sử là khi mình dính chặt với sự việc không buông ra được (biểu hiện là tham), lời nói, suy nghĩ dính vào tâm mình hoài, làm mình bất an nóng giận (biểu hiện là sân), hoặc đối trước sự việc mà mình mê mờ, si mê (biểu hiện là si).

Nói chung kiết sử là những trói buộc trong nhận thức, dẫn đến những trói buộc về hành vi. Kiết sử gồm 10 món. Trong đó có 5 món thuộc về lỗi nhận thức là: Thân kiến (chấp thủ những hiểu biết sai lầm về thân), Biên kiến (chấp chặt một bên, nắm giữ một định kiến, cực đoan), Kiến thủ kiến (nắm giữ các quan niệm các thấy biết phi chân lý), Giới cấm thủ kiến (không hiểu rõ giới, chấp chặt giới), Tà kiến (hiểu biết sai lệch về Giáo pháp) đưa đến 5 món thuộc về lỗi hành vi: Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi.

Nếu như Phiền não là do các căn chạy theo trần cảnh mà phiền não thì Kiết sử là do các căn hiểu lầm về trần cảnh, mê chấp các nhận thức không có chân lý, mà sinh phiền não, tham, sân, si…

2.3. Lậu hoặc là gì?

Lậu là rỉ chảy, hoặc là che mờ. Lậu hoặc là những vô minh che chướng tâm trí. Phiền não, kiết sử cũng là lậu hoặc, là vô minh, là che chướng, cái che chướng trói buộc này từ đời. Gọi là Phiền Não chướng. Ngoài đời thì còn có cái vô minh, cái che chướng từ đạo, tức người này tuy đã hết bị trói buộc bởi cái đời rồi, nhưng ngày ngày lại đặt cái đạo, đặt kinh sách trước mặt, bị cái đạo bị kinh sách nhiếp nên không thấy được bổn tâm thanh tịnh của mình. Gọi là Sở tri chướng.

Tóm lại, Tập đế bao gồm 3 món Phiền Não, Kiết Sử, Lậu hoặc. Cùng với 8 món khổ nhân sinh, hay còn gọi là Khổ Đế, chính là những lớp đất đá bao phủ làm cho chúng sanh không thấy được viên ngọc Phật tánh, thấy được Thanh tịnh Niết Bàn trong chính mình.

Câu hỏi tiếp theo cần đặt ra là: Vậy làm thế nào để giải quyết những lớp đất đá này. 8 món khổ nhân sinh, Phiền não, Kiết sử, Lậu hoặc ???

3. Giải quyết Khổ Đế, Tập Đế

3.1. Giải quyết 8 món khổ nhân sinh

Để giải quyết được 8 món khổ nhân sinh, người tu hành cần hiểu rõ nguyên nhân gây khổ (hay còn gọi là Đế). Chính hiểu biết minh bạch này sẽ giúp cho người này ra khỏi nỗi khổ.

Ví dụ:

• Sở dĩ thấy sanh-lão-bệnh-tử khổ vì mình có ái tâm với cái thân này, chỉ vì gắn bó lâu với nó mà luyến tiếc nó, hoặc vì không biết thân này bỏ rồi thì đi về đâu... Nếu biết sanh-lão-bệnh-tử là quy luật, thì lão-bệnh-tử này sẽ ko còn làm ngại nữa. Nay mình không bỏ nó thì 80 năm nữa nó cũng bỏ mình. Như người mặc cái áo, lâu ngày sờn rách rồi thì bỏ đi thay cái áo khác. Đời này chưa tu còn được cái thân này, có tu rồi chẳng nhẽ đời sau lại thọ cái thân tệ hơn. Hoặc biết sanh con, cưu mang con, sự phụ thuộc này là quy luật của nghiệp người, đã là quy luật thì không thay đổi được nhưng thái độ của ta đối trước quy luật này lại hoàn toàn có thể thay đổi được thì người này hoàn toàn có thể bước ra khỏi sanh khổ.

• Sở dĩ ái biệt ly khổ hay Oán tắng hội khổ là vì mình có ái có oán. Sự việc biệt ly hay hội ngộ tự nó chưa gây khổ. Chỉ khi nào ta có những quan điểm, quan niệm về quyến thuộc, quan niệm phân biệt là bạn hay là thù, thì lúc này những hiệu ứng tình cảm ái/oán, buồn vui mới sanh. Ái thì tham, tham thì sinh thủ, thủ không được ắt buồn khổ; mà nếu không ưa thì lại sinh tâm ghét, ghét mà gặp ắt sẽ khổ thôi. Như vậy, nếu quay lại giải quyết cái Tâm và Pháp, tức các quan niệm và hiệu ứng tình cảm này của mình thì biệt ly và tắng hội này hoàn toàn có thể không sanh khổ nữa.

• Cũng như vậy, sở dĩ có cầu bất đắc khổ là do mình cho nó một giá trị nào đó, định đặt một quan niệm nào đó mà sự so sánh, mong cầu xuất hiện, mong cầu không được thì khổ. Nhưng nếu mình biết quay lại Tâm này, muốn thì được rồi nhưng không có ham, thì sự cầu bất đắc này có thể xảy ra nhưng khổ thì không…

Tóm lại, khi người tu hành hiểu rõ nguyên nhân gây khổ, bắt đầu nhận ra tất cả là do “tự tâm hiện lượng” chứ không phải là sự việc hay thế giới thì chính hiểu biết này, thái độ này sẽ giúp cho người ta rời khỏi sự bủa vây của cảm giác Khổ, giảm thiểu sự tác động và dần ra khỏi đến hết Khổ. (Còn tiếp phần 2)

- MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA PHƯƠNG ANH !!!

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời Số 63.2025 với chủ đề: Học Trò Lý Gia Trả Lời Thư Bạn Đọc Ngã Hành !!!

Quản trị viên 19.06.2026

Các bạn !!!

"Đến hẹn lại lên"...!!! Như vậy là, như những gì đã hứa trong chuyên mục 62/2025 về đề nghị của độc giả Ngã Hành...Sau 48 giờ gởi câu hỏi đi, Lý Tứ đã nhận về 18 thư trả lời của Huynh Đệ (HĐ) Lý Gia...!!! Đó là trả lời của: Lý Diệu Tâm (MB0475); Lý Thái Đăng (TN0147); Lý Ngọc Hỷ (TN0180); Lý Hoàng Anh (EU1578); Lý Diệu Âm (MB572); Lý Phương Anh (MB424); Lý Tự Như (MB1700); Lý Hiền Long (MĐ863); Lý Minh Thuỳ (MĐ0180); Lý Thu Thuỷ (MĐ0665); Lý Diệu Sinh (MB 0899); Lý Đạt Thịnh (MĐ1138); Lý Minh Tuân (MB1349); Lý Thanh Liêm (MN0102); Lý Minh Vượng (MB1836); Lý Ngọc Linh (MB721); Lý Thiện Huệ (MN120); Lý Mai Phương (EU2190)...!!!

Thật ra, hầu hết HĐ Lý Gia thuộc thế hệ 8X, 9X, 10X...lứa tuổi của học tập và lao động...Và, 48 giờ qua lại là thời gian đầu tuần nên tất cả đều bận rộn...Thậm chí, có rất rất nhiều HĐ chưa đọc được bài viết...!!! Tuy vậy, một số HĐ chúng ta cũng đã rất nỗ lực, dành thời gian ít ỏi để trả lời câu hỏi...!!! Trong 18 thư của HĐ, hầu như tất cả đều trả lời thông suốt, chỉ khác nhau ở cách hành văn, đặt vấn đề...!!! Lý Tứ xin tán thán sức thông đạt, tinh tấn, vượt khó của tất cả các bạn !!!

Theo đánh giá của mình, tất cả những câu hỏi của độc giả Ngã Hành không thể làm khó được HĐ Lý Gia...Vì rằng, với chương trình giảng dạy hiện tại của chúng ta, chỉ cần HĐ học qua các lớp Nhập Môn và Căn Bản là đã giải quyết rốt ráo những gì độc giả Ngã Hành thắc mắc...!!! Điều này, HĐ Lý Tự Như viết như sau: "Thưa Thầy, con xong được 5 câu rồi ạ. Còn 2 câu nữa chiều chắc con hoàn thành. Đọc kỹ câu hỏi, con thấy chỉ cần nắm chắc kiến thức căn bản là giải quyết được hết và hóa giải công phu 25 năm của tiền bối Ngã Hành vậy...."

Và, Lý Tự Như cũng chỉ là học trò nhập môn của Lý Gia mới hơn một năm...Trong thư, Lý Tự Như đã viết: "Kính thưa Thầy, thưa tiền bối Ngã Hành! Con tên là: Nguyễn Quốc Hương năm nay 36 tuổi. Tên trong Lý Gia của con là Lý Tự Như. Con chính thức học tập dưới sự chỉ dạy của Thầy Lý Tứ từ ngày 2 tháng 7 năm 2024 tính đến nay được hơn 1 năm. Mới chỉ hơn một năm học tập Phật Đạo dưới sự giáo dạy của Thầy Lý Tứ mà tâm thức của con hoàn toàn chuyển biến - thanh tịnh, an vui thường hiện. Con xin tri ân công đức vô lượng của Thầy và con xin phép kính Thầy ba lễ!!! Nay con xin được phép trả lời các câu hỏi của tiền bối ngã Hành..."

Độc giả Ngã Hành và bạn đọc thân mến !!!

Trước khi đăng nguyên văn thư trả lời tiêu biểu của HĐ Lý Gia như đề nghị...Lý Tứ xin được "lược trích" một số trả lời của HĐ Lý Gia để mọi người tham khảo và nhận ra cách giải quyết vấn đề của HĐ Lý Gia đồng điệu như thế nào...!!! Viết đến đây mình trực nhớ lời Phật dạy, đại ý: "Có những quốc độ, thiên chúng ở đó khác nhau về thân tướng nhưng đồng một suy nghĩ (thân dị ý đồng)..." !!! Vâng, HĐ Lý Gia tuy mỗi người một phương, mỗi người một hoàn cảnh, khác biệt rất xa về xuất thân, tuổi tác...vv...Nhưng, tất cả những gì liên quan đến giáo pháp, họ đều có cách lí giải giống nhau, ý nghĩa như nhau...Có được điều này là nhờ, tất cả đều tinh tấn học tập, nhận thức, lãnh hội, thấu triệt và giác ngộ giống nhau...Theo mình, việc này cũng chẳng có gì là lạ trong chánh pháp...!!! Sau đây là trích lược:

- Lý Thái Đăng viết:

"A-lại-da thức ví như đám mây. Chân Tâm ví như mặt trời. Đám “Mây hư vọng” không còn thì trời lại sáng, hết mưa thì nắng hửng lên thôi !!!"

- Lý Diệu Tâm đã viết:

"-Vạn pháp vô tự tính là sự thật của các pháp.

- Như Lai Tạng thanh tịnh thường trụ là sự thật của Pháp thân Như Lai, không cần lấy gì làm nền tảng để khẳng định.

- Giống như hư không, không cần cái gì làm nền tảng..."

"Ba học pháp vô lậu (Giới - Định - Tuệ Vô Lậu) luôn thành tựu đồng thời, nghĩa là chỉ cần thành tựu một học pháp vô lậu, các học pháp còn lại tự thành tựu...."

- Lý Hiền Long viết:

"Muốn biết Như Lai Tạng và các pháp có mối liên hệ nào hay không, và cái này có thể làm nền để khẳng định về cái kia hay không, thì phải hiểu rõ thế nào là Như Lai Tạng và thế nào là các pháp.

Với phàm phu vô văn, thì thức thứ 8 (nơi chứa đựng tất cả những kiến thức, tri thức đã học tập) có tên gọi là Hàm Tàng Thức. Gọi là Hàm Tàng Thức vì đó là nơi lưu giữ đủ thứ vừa kiến thức, tri thức, vừa cảm xúc và các đánh giá đúng sai, phải trái, tốt xấu…

Với một vị đã thành tựu viên mãn Diệt đế, thấy được bổn tâm, bổn tánh thì Hàm Tàng Thức chuyển thành Đại Viên Cảnh Trí hay còn gọi là Bạch Tạng Thức, nghĩa là nó trở thành một nơi chỉ thuần lưu trữ kiến thức tri thức và hoàn toàn tịch diệt tất cả những cảm xúc, đánh giá đúng sai, phải trái, tốt xấu …

Còn với một vị viên mãn trí tuệ thì trở thành Như Lai Tạng. Gọi là Như Lai Tạng, hay Như Lai Tàng Tâm, vì với vị này, người đã trở thành một vị Như Lai, Hàm tàng thức trở thành một kho tàng lưu trữ tất cả những kiến thức, tri thức có thể dùng làm phương tiện thiện xảo để giúp người, độ thoát cho người, giúp người thành tựu các mục tiêu trong Phật đạo, như một Như Lai....

Còn pháp là đối tượng của ý căn, là những quan điểm, quan niệm được sinh khởi khi ý căn có nhu cầu tác ý. Vì là đối tượng của ý căn, nên tính chất của các pháp là không tự tánh, không tự tướng và không tự ngã...

Dựa vào ý nghĩa Như Lai Tàng và các pháp như đã trình bày như trên, thì câu hỏi “Nếu vạn pháp vô tự tính, lấy gì làm nền để khẳng định Như Lai Tạng là thật tánh?” không thể thành lập..."

- Lý Diệu Âm viết:

"Trước hết chúng ta phải hiểu A lại da thức chính là thức thứ tám, tức là kho tàng cất chứa tất cả những hành vi, suy nghĩ, tri thức cảm xúc của mỗi người. Khi giác ngộ A lại da thức chuyển thành Đại viên cảnh trí, Đại viên cảnh trí hay Đại viên kính trí là hình ảnh ẩn dụ tâm thức như một tấm gương lớn. Tấm gương không từ chối vật, nhưng không sở hữu vật, sở hữu là thức, vô sở hữu là trí, nên Đại viên cảnh trí còn có tên là Vô sở hữu trí. Trí này như gương sáng, Khi giác ngộ tất cả những hành vi, hành hoạt, suy nghĩ và nhận thức đều được chuyển đổi theo đúng tinh thần của Phật đạo, khi những nhận thức mê muội u tối được chuyển đối thì tâm thức hành giả sáng suốt như gương sáng chứ không phải chân tâm chuyển đổi. Giống như Mặt trời luôn có trên bầu trời chỉ vì mây đen u ám che khuất nên có lúc ta không thấy, khi những mây đen này không còn nữa thì ta sẽ thấy rõ mặt trời chứ không phải chuyển đổi cái “mặt trời“ ở đâu đó đến. Hoặc chuyển đổi từ nước đục sang nước trong thì vẫn là nước đó chứ không phải mang nước trong từ nơi khác về..."

- Lý Tự Như viết:

"Bốn pháp ấn này dành cho các vị hữu học, ở cảnh giới thế gian. Còn Như Lai Tạng là cảnh giới xuất thế gian. Nên việc đem so sánh Như Lai Tạng với 4 yếu tố trên có điều gì đó không hợp lý."

"Khi chuyển y A-lại-da thành Đại Viên Cảnh Trí, chính là toàn bộ Thức được chuyển thành Trí. Cái được chuyển ở đây tất cả “Thức mê” hay “Thức nghiệp” trong kho chứa của A-lại-da thức.

Về ngôn từ, có Thức và Trí, có chuyển Thức thành Trí nhưng thực tế vẫn chỉ là một cái Thức. Khi chưa giác ngộ thì là Thức mê, giờ giác ngộ rồi, gỡ mê ra trả lại về bản nguyên của Thức - tạm gọi là Trí vậy. Như đồ đạc trong căn phòng vẫn ở đó, do bóng tối mà ta không thấy được đồ. Giờ bật đèn sáng lên thì đồ đạc tự hiện.

Chân Tâm chính là trạng thái thanh tịnh vắng lặng khi thức mê được gỡ và các hư vọng tâm, hư vọng pháp không sanh. Tại thời điểm Tâm không động, không khởi (tức Chân tâm) thì Thức lúc ấy là Thức Nguyên - đó chính là Trí, và không có “chuyển” gì cả. Như căn phòng sáng lên thì đồ đạc cũng hiện rõ theo....

"Tam Vô Lậu Học (Giới vô lậu, Định vô lậu, Tuệ vô lậu) không phải đơn thuần là “tu Giới rồi tới Định rồi tới Tuệ” theo một thứ tự cứng nhắc, mà là ba học pháp tương hỗ và “đủ cả ba khi một môn được thành tựu”. Người học thành tựu một học pháp, lập tức thành tựu cả ba học pháp..."

- Lý Ngọc Hỷ đã viết:

"Kiến tánh thành Phật là mới xong phần Phật tâm, đã chuyển hóa căn bản các hạt giống ô nhiễm trong Tàng Thức, chứ Phật trí chưa thành.

Sát đạo dâm vọng là 4 giới cấm của Bồ tát, khi đi giáo hóa chúng sanh, tùy theo từng trường hợp mà Khai, giá, trì, phạm. Tất cả việc làm của Bồ Tát đều vì lợi ích chúng sanh. Tâm Bồ tát đã đồng hư không, không bị bất kỳ điều gì làm động lay..."

- Lý Hoàng Anh viết:

"Trí Lậu Tận thành tựu ngay khi mọi vọng tưởng chấm dứt. Vọng tưởng chấm dứt mọi phân biệt tự dừng. Thấy biết ở đây gọi là Trí Không Phân Biệt. Trí Như Lý là trí nương nhờ chánh pháp để tác ý như pháp. Trí này là trí của người lấy nền tảng chánh pháp làm đời sống, còn gọi là Chánh Pháp Nhiếp Thọ...

Kiến tánh là thấy được tánh bổn nhiên. Khi mọi vọng tưởng phân biệt đã dừng, A-lại-da thức đã chuyển thành Đại Viên Cảnh Trí, lậu hoặc đã hoàn toàn sạch trong tâm thức, đối trước thấy nghe hay biết, tâm thức hoàn toàn không còn động lay, như cảnh qua gương, gương thấy ảnh nhưng không giữ cảnh, cảnh qua gương vẫn sáng trong. Cái sáng trong này ví như tánh bổn nhiên của hữu tình, thường sáng thường chiếu soi như vậy, hoàn toàn không tích chứa bất cứ điều gì và không chịu bất kỳ sự chi phối nào của cảnh. Đối với gương sáng trong, tất cả các cảnh qua gương đều bình đẳng như nhau, hoàn toàn không có sự phân biệt..."

- Lý Minh Thuỳ viết:

"Trước hết về mặt khái niệm: (Trích từ bài viết của thầy Lý Tứ)

Thức nghĩa là cái biết, thức là cái căn bản, cơ sở, hạt giống làm nên một chúng sanh. khi một chúng sinh có mặt trên trên đời thì thức chi phối toàn bộ đời sống của chúng sanh từ ăn, ngủ, học tập,…thức phô diễn tất cả những gì hàm chứa trong nó để làm nên một thực thể sống. Vừa gom nhóm hiện tại để đưa vào kho cất giữ cho vị lai. Thức cất giữ mọi thông tin có được trong quá khứ lẫn hiện tại không cho mất, gọi là A lại da thức.

Trí chính là cái căn bản, cơ sở, hạt giống làm nên một vị thánh trong Phật đạo. Ngày chưa giác ngộ, thức có bao nhiêu công việc, bao nhiêu chức năng, khi giác ngộ, trí đảm đương bấy nhiêu công việc, bấy nhiêu chức năng của thức để lại.

Chuyển thức thành trí: “Con đường chuyển hoá đó là chuyển đổi tận gốc những tính chất hư ảo mê muội của thức, để thức trở thành trí. Khi thành trí, trí đảm nhận công việc trước đây của thức, nhưng: không sai sử, không trói buộc, không chấp mắc, không gây ra phiền não…” Link bài viết gốc: https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/chuyen-thuc-thanh-tri

"Chân tâm hay bổn tâm vốn bất động, không sinh diệt, nhưng khi chưa giác ngộ chúng sinh bị thức sai sử, sản sinh biết bao quan điểm, quan niệm trói con người ta cứng ngắc không thể tự giải thoát, và vì mê các sản phẩm của thức mà bổn tâm không hiện, chỉ có chúng sanh tâm hay các thứ tâm hư vọng như buồn, vui thương ghét, tham lam, ganh ghét tật đố hiện khởi. Chỉ khi chuyển đổi tận gốc những tính chất hư ảo mê muội của thức, để thức trở thành trí thì người tu hành mới có cơ may thấy bổn tâm, kiến bổn tánh..."

- Lý Thu Thuỷ viết:

"Niết bàn không phải là nơi chốn địa lý nào, vì Phật đạo không giáo dạy điều gì ngoài Tâm này. Niết Bàn là cảnh giới thanh tịnh của Tâm khi vị tu hành đúng chánh pháp để giác ngộ.

Niết bàn A La Hán và Bồ Tát là sự thanh tịnh, bất động giải thoát, về cơ bản là giống nhau. Chỉ có thấy biết là khác nhau....

Niết bàn của Bồ Tát: Trong Kinh Đại Niết‑Bàn (Mahāparinirvāṇa Sūtra): có giải thích rằng Niết‑bàn của Bồ tát (hoặc Phật) là “Niết‑bàn vĩ đại” (Great Nirvana) và “lạc” (niềm vui cao) hơn Niết‑bàn của Thanh văn (A‑la-hán). Bởi vì Bồ Tát không ở yên trong Niết bàn mà tiếp tục trở lại thế gian độ tha cho hết thảy chúng sanh...."

- Lý Minh Tuân viết:

"Sự khác biệt cốt tử giữa Ngũ Đại và Thất Đại

* Ngũ đại (Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không): Chỉ đề cập đến 5 đại chủng cấu thành nên phần thân (sắc) của một hữu tình

* Thất đại (Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không, Kiến, Thức): Đề cập đầy đủ 7 đại chủng cấu thành nên 5 món: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức của một hữu tình (được đề cập trong Kinh Lăng Nghiêm).

Sự khác biệt cốt tử ở đây là: Khi thêm vào Kiến đại và Thức đại thì 7 đại chủng này mới đủ duyên để tạo nên một hữu tình – một thực thể sống có tri và có giác (có sự hiểu biết, tiếp thu, học tập… để tiến bộ). Còn khi chỉ đề cập đến Ngũ đại thì chỉ nói đến thân (vô tri) mà thôi...."

- Lý Diệu Sinh viết:

"Chân Tâm (hay Phật Tánh, Như Lai Tạng) là thường hằng bất biến, bản chất "vốn không sanh diệt" vốn "không khởi".

A-lại-da thức là nơi tích chứa tập nhân và là nền tảng của sinh tử. A-lại-da thuộc về thức mê, hay là trạng thái của một hữu tình bị ba lớp vô minh (Nhuận chi vô minh, Căn bản vô minh và Vô minh trụ địa) làm cho "ngu, mê, lầm" che phủ.

Sự khác biệt giữa hai khái niệm này cho thấy Chân Tâm là bản thể chân thật (Thật Tánh), còn A-lại-da là trạng thái của tâm bị che chướng (mê).

Khi chuyển y A-lại-da thành Đại Viên Cảnh Trí, cái được chuyển là tính chất mê lầm, vô minh và hữu lậu của A-lại-da, biến đổi thành trí tuệ vô lậu (Đại Viên Cảnh Trí) — trí tuệ này biểu hiện sự viên mãn của Chân Tâm...."

- Lý Đạt Thịnh viết:

"Như đã trả lời, các quả vị trong Phật Đạo đều bắt đầu từ “thấy biết như pháp” hay Giác Ngộ, vì thấu suốt nên tự xả, vì xả nên tự có định chẳng do dụng công,nhân đây giới tự thành tựu, đây là tính chất 3 trong 1 của Đạo Xuất Thế. Vì vậy, tự trong Tuệ đã bao gồm Định và Giới và ngược lại.

Từ quả vị thấp nhất của Phật Đạo là Tu Đà Hoàn, cũng phải xuất phát từ chánh tri kiến chứ chẳng phải do dụng công theo thứ lớp, nhân nơi tri kiến mà kiết sử, lậu hoặc được đoạn trừ, Thánh giới thành tựu..."

- Lý Thanh Liêm viết:

"Muốn biết cái gì được chuyển thì điều kiện người này giác ngộ. Vì bản chất thức và trí không phải hai món.

Chân tâm hay Bổn tâm là thứ tâm không còn sinh diệt. Nhưng không phải ai cũng thấy và biết được. Từ phàm tâm muốn thấy được Bổn tâm thì người này phải giác ngộ hay nói cách khác tiến trình phải chuyển từ đa tâm về thiểu tâm, nhất tâm, tâm không và không tâm. Giống như muốn có được nước trong người này phải lắng trong đục..."!!!

- Lý Ngọc Linh thì viết:

"A lại da là kho tích chứa các hạt giống nghiệp, chứa chấp mê lầm. Khi chưa giác ngộ thì A lại da là nguồn gốc sinh ra phiền não, khổ đau.

Đại Viên Cảnh Trí: Khi giác ngộ A lại da thay vì tích chứa, lưu giữ lại những thứ đi qua thì lúc này nó trở thành tấm gương lớn chỉ phản chiếu lại những thứ đi qua nó chứ không thủ giữ, tích chứa những thứ đó nữa.

Nếu dùng hình tượng thì có thể ví A lại da khi chưa giác ngộ như một tấm gương nhưng lại bị phủ lên một lớp keo dính, nên thay vì thực hiện chức năng soi chiếu thì nó lại dính chặt những thứ vô tình đi qua nó. Khi đã giác ngộ A lại da vẫn là chiếc gương đó, nhưng đã được làm sạch lớp keo và bụi bẩn bám lên bề mặt, lúc này nó trở lại với đúng chức năng soi chiếu mà không nắm giữ. Vì chỉ soi chiếu nên dù có bao nhiêu thứ đi qua, bao nhiêu thứ soi vào mà nó vẫn không bị động lay, sinh khởi.

Vậy nên việc chuyển ở đây là chuyển về mặt tính chất, từ không chiếu soi, sang chiếu soi, từ mờ tối sang sáng rõ..." !!!

- Lý Thiện Huệ viết:

"-Như Lai Tạng là bản thể thanh tịnh thường trụ”, câu này là thật (thiệt) nghĩa, sự thật nó như vậy!

- “Tất cả pháp đều vô ngã, vô tự tính.” Câu này cũng là thật nghĩa, các pháp (nhận thức, quan điển, quan niệm...) đều vô ngã, vô tự tính!

Hỏi: Nếu vạn pháp vô tự tính, lấy gì làm nền để khẳng định Như Lai Tạng là thật tánh?

Đáp: Đã là sự thật, thì theo mình chỉ nên thấy và biết! Chứ khẳng định làm gì?! Vì có khẳng định hay không, thì sự thật vẫn là sự thật!

Vả chăng, lấy cái vô thường, biến hoại của vạn pháp, đi khẳng định cái chân thật, có vẻ có gì đó khập khiễng gượng ép, lại càng không thể! Không thể lấy cái vô thường sanh diệt, khẳng định cái thường hằng bất biến!"

- Lý Mai Phương viết:

"Qua 3 ví dụ trên ta thấy không hề có sự chuyển đổi theo cách hiểu của ngài Ngã Hành ở đây, tấm gương/hồ nước/mặt trời luôn tồn tại ở đó, vì lý do nào đó chúng bị che chắn nên bản chất không được hiển lộ đầy đủ.

Khi chúng sanh còn vô minh, A-lại-da-thức là kho tàng chủng tử chứa đầy tập khí và nghiệp lực, về bản chất nó đã bị nhiễm ô. Khi ta minh tâm kiến tánh, xóa tan hết các vô minh, ta trả A-lại-da-thức về cái gốc thanh tịnh trong sạch ban đầu của nó chính là đại viên cảnh trí.

Đại viên cảnh trí như là thật trí, ta hình dung nó như một tấm gương lớn tròn đầy có thể soi chiếu vạn vật, vạn pháp một cách chân thật nhất, nó trực nhận đúng bản chất mọi sự vật sự việc nhưng không lưu lại bất cứ dấu tích nào khi sự vật hay pháp đã rời đi."

(Hết phần lược trích) !!!

Độc giả Ngã Hành và bạn đọc thân mến !!!

Vừa rồi, là một số trích lược trả lời của HĐ Lý Gia...!!! Sau đây, Lý Tứ xin đăng nguyên văn thư trả lời của Lý Phương Anh, có thể coi là đại diện môn đệ Lý Gia trả lời các câu hỏi, theo đề nghị của độc giả Ngã Hành...!!!

Đôi nét về Lý Phương Anh...!!!

Lý Phương Anh là HĐ thứ 424 của Lý Gia, nhập môn cách đây chừng 5 năm...!!! Là một trong những nữ môn đồ được BQT Lý Gia trao tặng danh hiệu cao quý "Lý Nữ Phương Danh"...!!!

Trước đây Lý Phương Anh có thời gian dài công tác tại Thuỵ Sĩ và biết đến Lý Tứ thông qua các bài đăng trên mạng...Sau khi mãn công tác, Phương Anh về nước tìm gặp mình rồi trở thành HĐ Lý Gia...!!!

Hiện nay, Phương Anh đã trên 30 tuổi, phụ trách Ban Khoa Giáo, đang cùng các thành viên Ban Giảng Huấn biên soạn giáo trình và giảng dạy tại một số cấp học của Lý Gia..!!!

Sau đây, toàn văn các câu trả lời của Lý Phương Anh !!!

"Kính thưa Thầy,

Kính thưa độc giả Ngã Hành và tất cả bạn đọc,

Kính thưa HĐTM Lý Gia,

Thể theo đề nghị của độc giả Ngã Hành và yêu cầu của Thầy từ chuyên mục Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời - 62/2025,

Con Lý Phương Anh, là học trò thứ 424 của Thầy, xin tham gia trả lời bảy câu hỏi của bạn đọc Ngã Hành.

* Câu hỏi 1: – "Về Như Lai Tạng và Vô Ngã

Thưa Thầy, kinh điển thường nói:

“Như Lai Tạng là bản thể thanh tịnh thường trụ”, nhưng lại cũng nói:

“Tất cả pháp đều vô ngã, vô tự tính.”

Vậy:

Nếu vạn pháp vô tự tính, lấy gì làm nền để khẳng định Như Lai Tạng là thật tánh?

Và nếu Như Lai Tạng là bản thể bất biến, điều ấy có trái với Tứ Pháp Ấn: Vô thường – khổ – vô ngã – bất tịnh chăng?

Tôi đã hỏi điều này với nhiều vị pháp sư, nhưng hoặc rơi vào chấp “chơn ngã”, hoặc né tránh câu hỏi."

* Trả lời:

1. Cần hiểu:

Vạn pháp vô tự tánh: Đây là sự thật (thật tánh) của vạn pháp!

Như Lai Tạng là thật tánh.

Ý nghĩa: Tánh của Như Lai Tạng là chân thật. Đây cũng là sự thật của Như Lai Tạng!

2. Xét:

Như Lai Tạng bản thể bất biến là Tạng vi mật của Chư Phật.

Vô thường - khổ - vô ngã - bất tịnh là bốn pháp ấn dùng ấn tâm của Nhị thừa.

3. Kết luận:

Giữa Như Lai Tạng của Phật và Tứ Pháp Ấn của Nhị thừa là hai cảnh giới hoàn toàn khác nhau, cách biệt đến vô lượng, nên không thể so sánh rằng: Hai thứ ấy (hai cảnh giới ấy) là đồng hay dị, là thuận hay nghịch.

* Câu hỏi 2 – "Về Thức A-lại-da và Sự “Không Khởi” của Chân Tâm

Kinh Lăng Già nói A-lại-da là nền tảng của sinh tử. Kinh Lăng Nghiêm lại khẳng định Chân Tâm vốn không động.

Vậy tôi xin hỏi:

Khi chuyển y A-lại-da thành Đại Viên Cảnh Trí, cái gì được chuyển? Nếu Chân Tâm vốn không sinh khởi, vậy việc “chuyển” có thật xảy ra không, hay chỉ là danh ngôn tạm lập?"

* Trả lời:

1. Cần hiểu:

- Chuyển A lại da thành Đại Viên Cảnh Trí là chuyển thức mê (trói buộc, u tối) thành thức giác (giải thoát, minh liễu)...Tức chuyển cảnh giới của tâm thức từ mê sang giác chứ không chuyển tri thức.

- Chân tâm bản chất không sanh diệt. Nhưng khi mê, hư vọng pháp vọng khởi, tâm thức lập tức sanh diệt.

2. Xét:

Ví dụ kinh điển đã được nêu trong Kinh: Giống như bản chất đèn không có quầng, nhưng khi mắt nhặm lập tức thấy đèn có quầng....

3. Kết luận:

Chuyển ở đây, chính là việc làm cho mắt hết nhặm, chứ không phải chuyển để đèn từ có quầng trở thành không quầng.

Chuyển này là sự thật, nhưng sự thật này chỉ xảy ra đối với những người giác ngộ.

* Câu hỏi 3 - "Về Chuyển Y và Trí Lậu Tận trong Kinh Lăng Già

Kinh Lăng Già dạy về "Chuyển Y" (Y chuyển), tức là chuyển cái Tự Tướng của A Lại Da Thức thành Trí Lậu Tận và chuyển cái Biệt Tướng thành Trí Bất Tư Nghị Biến Dị.

Câu hỏi: Trí Lậu Tận được thành tựu ngay khi nào? Nó khác gì với Trí Không Phân Biệt và Trí Như Lý cũng được đề cập trong kinh? Nếu Trí Lậu Tận là trí dứt hết phiền não lậu hoặc, vậy thì A Lại Da Thức đã thật sự được chuyển tận gốc hay chỉ là không còn chấp thủ vào các hạt giống hữu lậu?"

* Trả lời:

1. - Trí Lậu Tận (Vô Lậu) thành tựu khi tâm thức dứt mê.

- Trí Vô Phân Biệt thành tựu khi tâm thức giác ngộ.

- Trí Như Lí có được khi học tập đúng chánh pháp.

Ba thứ trí này ở ba cảnh giới khác nhau, được sắp xếp từ thấp lên cao như sau:

- Bậc hữu học thành tựu Trí Như Lí;

- Bậc Vô Lậu thành tựu Trí Lậu Tận;

- Bậc Vô Học thành tựu Trí Vô Phân Biệt.

2. Người thành tựu Trí Lậu Tận chỉ mới dứt hết phiền não lậu hoặc thô trọng... Chỉ đến khi nào thành tựu Vô Phân Biệt Trí thì A Lại Da thức mới hoàn toàn chuyển thành trí.

* Câu hỏi 4 – "Về Giới – Định – Tuệ trong Thực Chứng

Nhiều tôn phái nói rằng phải “giữ giới để an định”, “định sanh tuệ”. Nhưng lại có người chứng ngộ đột ngột mà không qua quá trình “định lực mạnh”.

Do đó, xin Thầy (hay học trò Thầy) giải thích:

Giới – Định – Tuệ là tiến trình tuần tự, hay là ba mặt đồng thời của một thực tại? Nếu tuần tự, sao có người không cần vào thiền định sâu mà vẫn khai mở tuệ giác? Nếu là ba mặt đồng thời của một thực tại, xin được giải thích rõ cơ chế, và viện dẫn kinh điển chứng minh?"

* Trả lời:

1. Ba học pháp vô lậu Giới, Định, Tuệ là hệ quả của nhau theo nguyên lí "cái này có nên cái kia có".

Giống như có đèn, lập tức có ánh sáng và sự đốt cháy...Đèn dụ cho Giới vô lậu; Ánh sáng dụ cho Định vô lậu; Đốt cháy dụ cho Tuệ vô lậu.

2. Dẫn Kinh:

- Pháp Bảo Đàn Kinh của Lục Tổ Huệ Năng:

"Này Thiện tri thức! Pháp môn của ta lấy Định Tuệ làm gốc. Chớ lầm bảo rằng Định Tuệ là khác. Định Tuệ là một thể, chẳng phải hai. Định là Thể của Tuệ, Tuệ là Dụng của Định. Tức khi Tuệ, Định ở tại trong Tuệ. Tức khi Định, Tuệ ở tại trong Định."

"Ví như ngọn đèn và ánh sáng. Có đèn tức có sáng, không đèn tức tối. Đèn là Thể của sáng, sáng là Dụng của đèn. Tên gọi tuy có hai, nhưng Thể vốn chỉ là một."

- Kinh Lăng Nghiêm:

"Nhiếp tâm là Giới. Do Giới sanh Định. Do Định phát Tuệ."

3. Định vô lậu không giống Định thế gian, nên người thành tựu Định thế gian được coi là sâu cũng không thể khai mở Tuệ giác vì thiếu yếu tố vô lậu.

Trong khi đó, người chưa hoặc không thành tựu Định thế gian, nhưng nhờ học tập giáo pháp vô lậu nên Tuệ giác được khai mở, bây giờ Định vô lậu và Giới vô lậu cũng tự thành tựu theo.

* Câu hỏi 5 - "Về Bảy Đại trong Kinh Lăng Nghiêm và Mối Liên Hệ với Ngũ Đại

Kinh Lăng Nghiêm đề cập đến Thất Đại (Bảy Đại): Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không, Kiến, Thức, để chứng minh tất cả đều là Thể Như Lai Tạng và đồng một bản thể.

Câu hỏi: Xin giải thích rõ ràng và sâu về sự khác biệt cốt tử giữa Ngũ Đại (Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không) theo cách hiểu của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ hay Pháp Tướng Tông và Thất Đại của Kinh Lăng Nghiêm. Cụ thể, việc thêm vào Kiến Đại (thấy biết) và Thức Đại (ý thức) có ý nghĩa và dụng ý như thế nào? Xin được giải thích và chứng minh cụ thể?"

* Trả lời:

- Ngũ Đại: Nói về cấu tạo của thân chúng sinh.

- Thất đại: Nói về cấu tạo của một hữu tình gồm sắc (thân), tri (thức đại) và giác (kiến đại).

* Câu hỏi 6 - "Về Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối trong Kinh Lăng Nghiêm

Kinh Lăng Nghiêm đưa ra Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối (Bốn lời dạy rõ ràng về sự thanh tịnh) như là hàng rào bảo vệ giúp hành giả tu thiền định không bị đọa lạc.

Câu hỏi: Nếu một vị tu hành đã thật sự đạt đến Kiến Tánh (Kiến Tánh Thành Phật, như Thiền Tông dạy) và đã chuyển hóa căn bản các hạt giống ô nhiễm trong Tàng Thức, vị ấy có còn bị ảnh hưởng hoặc chi phối bởi Bốn Giới Cấm này (Sát, Đạo, Dâm, Vọng) không? Nếu còn chi phối, tại sao lại là Kiến Tánh? Nếu không, xin cho một giải thích triệt để về Cơ Chế nào đã khiến nghiệp lực từ những hành vi này không thể sinh khởi đối với vị đã Kiến Tánh."

* Trả lời:

1. Kiến Tánh: Không phải là kết quả của chuyển hoá Tàng Thức...Mà là kết quả của sự "hoát nhiên trực nhận" các tính chất bất biến của Bổn Tánh hay Phật Tánh đang hiện hữu trong tâm thức.

Sự trực nhận này không bị chi phối bởi việc giữ giới hay phá giới.

2. Nhân đây, Phương Anh xin ghi lại mẩu đối thoại và ví dụ mà Thầy đã khai thị cho Phương Anh trong một đương cơ đặc biệt cách đây hai năm.

Thầy dạy:

"Giống như một tên trộm và một người tu phạm hạnh. Người tu phạm hạnh đang tĩnh tu trên núi, kẻ đạo tặc đang thực hiện hành động đạo tặc ở thôn làng...

Hai người này cùng hoát nhiên nhìn thấy ánh trăng trên trời...Ánh trăng của vị tu hành và tên đạo tặc không hề sai khác...!!!

Đạo tặc và người tu dụ cho phá giới và giữ giới; Hoát nhiên nhìn thấy ánh trăng dụ cho kiến tánh; Sự không sai khác giữa hai ánh trăng dụ cho Phật tánh bình đẳng trong tất cả chúng sanh...!!!"

Sau khi nghe Thầy khai thị xong, Phương Anh nổi da gà, rợn tóc gáy, rùng mình vì trong lòng chưa bao giờ cảm thấy những nghĩa lý thâm u được sáng tỏ đến như vậy !!!

* Câu hỏi 7 – "Về Bản Chất của Niết-bàn

Kinh A-hàm nói Niết-bàn là “diệt tận ái dục”.

Kinh Đại thừa lại mô tả Niết-bàn như “trí tuệ viên mãn”, “pháp thân thường trụ”.

Vậy xin Thầy—hay học trò của Thầy—trả lời cho rõ ràng:

Niết-bàn là trạng thái tâm lý, là bản thể siêu hình, hay là sự vận hành đúng pháp của trí tuệ?

Và Niết-bàn của A-la-hán có khác Niết-bàn của Bồ Tát không? Nếu khác, khác ở điểm nào?"

* Trả lời:

1. Niết Bàn không phải trạng thái tâm lí, không phải bản thể siêu hình, lại càng không phải là sự vận hành đúng pháp...vv...Mà, nó là sự thật hằng hữu trong tâm thức của mọi hữu tình khi hữu tình đó dứt mê!

2. Niết Bàn của ba thừa giống nhau về Thể nhưng khác nhau về Trí và Dụng.

Ví dụ đã được nêu trong Kinh:

"Giống như ba người cùng ăn mật, ăn ít hay nhiều cũng đều có vị ngọt như nhau (đồng Thể)...nhưng khác nhau ở tác dụng (Dụng) và hiểu biết (Trí)."

Phần trả lời câu hỏi của con đến đây kết thúc.

Con thành kính tri ân công đức giáo dạy của Thầy !!!

Kính chúc Thầy sức khỏe, trụ thế dài lâu !!!

Chúc HĐTM an vui, tinh tấn!!!

Chúc tất cả bạn đọc thành ở đời, đạt ở đạo!!!

Lý Phương Anh (MB424) (Hết thư) !!!

Độc giả Ngã Hành và bạn đọc thân mến !!!

Phật đạo là Đạo Trí Tuệ (Duy Tuệ Thị Nghiệp)...!!! Muốn có sự nghiệp ấy, không có con đường nào khác hơn là phải học tập, học tập và học tập...!!!

Ngày xưa, Thế Tôn của chúng ta như một người Thầy giáo...Các môn đệ của ngài là những học trò...Họ quây quần bên nhau để cùng dạy và học...!!! Học để thay đổi nhận thức, học để thấu suốt nhân sinh và vũ trụ dưới nhãn quan Phật đạo, học để biết cơ chế vận hành tâm thức, học để thấy được thiệt tướng muôn pháp, học để xua tan bóng tối vô minh do nhận thức sai lầm...vv...Sau khi học và thấm nhuần những điều ấy, mỗi học trò tự trực nhận ra sự thật hằng hữu của thân, tâm, thế giới và các pháp là gì...Trực nhận này, Phật đạo gọi là giác ngộ...!!!

Xưa đã như thế, hôm nay chắc chắn phải như thế...không thể nói khác hay làm khác...!!! Vấn đề được đặt ra ở đây là: "Cái như thế vừa nêu, ta tìm ở đâu" ??? Giải quyết được câu hỏi này, nhất định "Đạo ngay trước mắt"...!!!

Hi vọng, những trả lời vừa rồi của các học trò Lý Gia...Có thể giúp bằng hữu Ngã Hành và tất cả bạn đọc thoả mãn những gì đã thắc mắc...!!!

Chúc độc giả Ngã Hành và bạn đọc an vui, tinh tấn, thành ở đời, đạt ở đạo...!!!

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

18/11/2025

LÝ TỨ

Bài viết Lý Tứ

42) TÂM SỰ CỦA HĐ LÝ GIA

Quản trị viên 24.11.2020

42) TÂM SỰ CỦA HĐ LÝ GIA

"Con sư tử con của Lý Gia" nguyện đem tinh thần bồ công anh của thầy, đem giáo pháp được thầy dạy dỗ để báo hiếu chư Phật, báo hiếu thầy, như là một cách tri ân công ơn của thầy ạ!

Tâm sự huynh đệ số 40
Các bạn !!!
Một năm trước, cũng vào thời điểm này, trong lần ra mắt sách tại CLB Gamuda Gardens Hà Nội (24/11/2019)... Mình gặp Lý Diệu Tâm vào buổi sáng tại một quán cà phê !!!

Mình tiếp cô gái Hà Thành mảnh khảnh, với cặp kiếng cận ra dáng trí thức, giọng rặc Hà Nội diện bộ com lê màu đen...bằng những câu hỏi xã giao...!!! Đây cũng là lần đầu mình gặp Vũ Tuấn từ Quảng Ninh lên Hà Nội gặp mình trước đó chừng một giờ và đang uống cà phê với mình !!! Thế là Vũ Tuấn và Lý Diệu Tâm trở thành HĐ Lý Gia !!!

Một năm, sau ngày đầu tiên hội ngộ tại quán cà phê, Lý Diệu Tâm “nhờ ăn tàu hủ của Lý Gia” đã lớn nhanh như thổi !!! Có thể nói, Lý Diệu Tâm lớn nhanh như chuyện cổ tích !!! Một thứ cổ tích của thế kỉ 21 !!!

Hôm nay, đọc bài viết của Lý Diệu Tâm vừa đăng trong Lý Gia, kỉ niệm của một năm trước hiện về !!! Xin chuyển đến các bạn bài viết của Lý Diệu Tâm vừa đăng trong Lý Gia !!!

24/11/2020
LÝ TỨ

MỘT NĂM NUÔI LỚN BẰNG GIÁO PHÁP CỦA ĐỨC PHẬT, CÔNG SỨC CHỈ BẢO CỦA THẦY, HỘ TRÌ CỦA LÝ GIA

Người ta nói trẻ lên 1 tuổi thì cân nặng tăng gấp đôi, đôi chân bắt đầu chập chững những bước đi đầu tiên.

Nhưng ....

Một năm qua được nuôi lớn bằng giáo pháp của Đức Phật, của Thầy thì con càng ngày càng ... bé lại. Cái tôi bé lại, cái ngã tiêu tan, buồn phiền chẳng hiện, tâm cũng chẳng còn.

Con nhớ cách đây đúng tròn một năm, vừa cách mấy ngày trước đó là 20/11, con theo dõi trang Lý Tứ và thấy thầy chụp ảnh ở ĐH An Giang, trong lòng con vừa có chút tò mò, vừa có chút tin tưởng, nhưng cũng khấp khởi nhiều điều chưa chắc chắn.

Mỗi lần thầy ra HN là Lý Gia lại có thêm các HĐTM được đến bái thầy, được làm đệ tử của thầy. Và những ngày này con chắc cũng có nhiều HĐ bồi hồi nhớ về những ngày cuối tháng 11 đó.
Từ ngày trở thành con trong gia đình Lý Gia, con là đứa con cứng đầu, khó bảo, hay cãi lại còn lý sự. Nhưng thầy luôn từ bi, lúc thì ân cần chỉ bảo, khi thì nghiêm khắc răn đe. Có nhiều khi con biết thầy dùng phương tiện xua đi cái nghi về bản thân con nhưng mỗi lần như vậy con đều tự nhắc nhở mình là "như lý" (mà thầy nói) để "tác ý".

Chăm chỉ ăn rau ăn cơm giáo pháp từ Thầy và sự hộ trì của HĐ Lý Gia, cũng đến ngày "con sư tử con" hống được vài tiếng "sư tư gầm". Nhưng con biết "tiếng sư tử gầm đó" chỉ là những bước chân chập chững của "trẻ lên 1" để bắt đầu bước chân vào con đường thâm nhập giáo pháp, chiết phục chúng sanh.

"Con sư tử con của Lý Gia" nguyện đem tinh thần bồ công anh của thầy, đem giáo pháp được thầy dạy dỗ để báo hiếu chư Phật, báo hiếu thầy, như là một cách tri ân công ơn của thầy ạ!

Con, Lý Diệu Tâm!
- ẢNH LÝ DIỆU TÂM

Một Năm Nuôi Lớn Bằng Giáo Pháp Của Đức Phật, Công Sức Chỉ Bảo Của Thầy, Hộ Trì Của Lý Gia

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời Số 64.2025 với chủ đề: Cốt Cách Trượng Phu !!!

Quản trị viên 19.06.2026

Các bạn !!!

Thật bất ngờ, sáng nay mình nhận được tâm tình của Tâm Diệu Tịnh ở Phú Thọ...Một độc giả đã có mấy lần gởi câu hỏi về chuyên mục...!!!

Ha ha ha ha !!! Sau trả lời kì 59/2025 có chủ đề Vạn Sự Tuỳ Duyên...Mình nghĩ Tâm Diệu Tịnh sẽ có thể "không thèm nhìn mặt" Lý Tứ này nữa vì cách trả lời "nửa đùa nửa thật" đụng chạm đến cái cớ sự "vạn sự tuỳ duyên" và câu chuyện "địa ngục không phải của Phật"...của ả...!!!

Nhưng rồi, sáng nay lại nhận được thư của Tâm Diệu Tịnh...Chẳng những bạn ấy không giận hờn chi, mà lại "rất đỗi dễ thương" trong cách nhìn nhận vấn đề...!!! Hoá ra, mới nghe cái tên Tâm Diệu Tịnh tưởng đâu "Nữ nhi thường tình" nhưng lại là "một trượng phu" theo tinh thần Phật đạo...Trượng phu từ hình ảnh Long Nữ trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa...!!!

Tâm Diệu Tịnh thân mến !!!

Đọc thư của em...Lý Tứ cảm động và vui...!!! Vui vì, tuy chưa từng gặp nhau ngoài đời thực, nhưng em không vì vài câu trả lời "tửng tửng" trong chuyên mục mà từ mặt Lão Lý...!!! Cảm động vì, em đã nhận ra vấn đề mà "kẻ trí cần phải nhận ra"...!!!

Chúc em "an vui, tinh tấn, thành ở đời, đạt ở đạo..." như tinh thần câu khẩu hiệu mà Lý Gia thường hô vang, hô to, hô lớn, hô rồi...bỏ đó...trước một ngày mới...!!!

Xin chuyển đến mọi người tâm tình của bạn đọc Tâm Diệu Tịnh:

"Kính gửi Thầy Lý Tứ!

Con đọc đi đọc lại bài Thầy trả lời cho con trong chuyên mục “Vạn sự tuỳ duyên”, mà lòng vừa xúc động vừa biết ơn khôn xiết. Mỗi lần đọc, con lại thấy như được ngồi trước Thầy, nghe Thầy giảng, từng lời giản dị mà thấm sâu vào tận tâm can.

Thưa Thầy, trước đây con vẫn nghĩ “vạn sự tuỳ duyên” là cách để con người buông bỏ cho nhẹ gánh, sống an phận, thuận theo thời vận. Nhưng qua lời Thầy giảng, con mới thật sự hiểu: Phật pháp không dạy người buông xuôi, mà dạy người tỉnh thức giữa muôn duyên, biết rõ mình đang làm gì, nghĩ gì, và vì sao mà làm. Câu Thầy viết: “Phật đạo chưa bao giờ chủ trương vạn sự tuỳ duyên mà chỉ yêu cầu người học đạo thường chánh niệm – tỉnh giác” như ánh đuốc soi rọi lại con đường con đã và đang đi.

Con nhận ra, lâu nay mình vẫn thường tự an ủi bằng hai chữ “tuỳ duyên” để trốn tránh trách nhiệm, để nguôi đi những điều chưa trọn. Nhưng nhờ lời Thầy, con hiểu rằng “tuỳ duyên” không phải là mặc kệ, mà là biết rõ nhân quả trong từng hành động, sống giữa đời mà không lạc vào mê muội. Cũng vậy, “buông xả” không phải là bỏ mặc, mà là hiểu thấu để không còn nắm giữ.

Phần Thầy giảng về “giọt nước mắt của chúng sanh” khiến con lặng người rất lâu. Con nhớ mãi câu Thầy viết: “Khi tâm thức mê muội thì, khóc hay cười đều mê... Còn khi tâm đã sáng, khóc hay cười cũng đều là khóc hay cười của bậc minh giác.” Quả đúng như vậy, trong bóng tối vô minh, mọi cảm xúc dù là cao đẹp cũng vẫn là dao động của thức chưa giác.

Thầy không bác bỏ giọt nước mắt cảm động, nhưng chỉ rõ con đường soi sáng để nước mắt ấy hóa thành trí tuệ. Lời ấy như một tấm gương cho con soi lại chính mình. Nước mắt con rơi, có bao nhiêu giọt là vì thương xót, và có bao nhiêu giọt là vì chưa đủ hiểu? Nhờ Thầy, con thấy được rằng trong đạo, quan trọng không phải là xúc động hay lạnh lùng, mà là tỉnh giác. Câu “Giáo pháp như ngọn đuốc, mê muội như bóng tối…” của Thầy khiến con muốn chép lại và để trước bàn học, như một lời nhắc nhở hằng ngày.

Thưa Thầy, con cũng rất cảm phục trí tuệ và cái nhìn hài hước mà sâu sắc của Thầy trong phần nói về “địa ngục”. Cách Thầy nói nhẹ nhàng, dí dỏm, mà vẫn chỉ ra cái gốc của sự thật: “Địa ngục không phải của Phật, nên Phật không thể mở cửa cho mọi người vào xem xả láng.” Chỉ một câu ấy thôi cũng đủ làm con bật cười, mà trong nụ cười là sự kính phục vô hạn — bởi trí tuệ của Thầy không gò bó trong hình thức, mà tự tại giữa lời nói hóm hỉnh và nghĩa sâu.

Những dòng Thầy viết tuy giản dị, nhưng càng đọc con càng thấy rộng sâu vô cùng. Mỗi câu hỏi, Thầy không chỉ trả lời cho riêng con, mà dường như còn thay mặt bao tâm thức đang chập chờn giữa ranh giới của “đời” và “đạo”. Cảm ơn Thầy, thật lòng cảm ơn Thầy — vì giữa cuộc đời đầy rối ren này, Thầy vẫn kiên nhẫn ngồi xuống, đọc từng lá thư của học trò xa lạ, rồi cẩn trọng giải đáp bằng tất cả sự sáng suốt và từ bi. Con tin rằng, không chỉ riêng con, mà nhiều bạn đọc khác cũng đang được Thầy gieo vào tâm một hạt giống giác ngộ.

Con nguyện mỗi ngày sẽ đọc lại những lời Thầy viết, để nhắc mình luôn chánh niệm – tỉnh giác, không để “tuỳ duyên” thành buông trôi, không để “xả” thành bỏ mặc.

Nhân ngày Nhà Giáo Việt Nam. Con xin tri ân Thầy - Người đã có công hiển bày rõ lời Phật dạy trên tinh thần của một nền giáo dục thực tiễn và minh triết. Con kính chúc Thầy pháp thể khinh an, trí tuệ thường minh, và mãi mãi là ngọn đèn sáng cho chúng con nương tựa trên con đường học đạo.

Phú Thọ, ngày 19 tháng 11 năm 2025 - 5:50:17

Con – Tâm Diệu Tịnh kính lễ!

Tái bút: Trong bức thư này con xin phép đổi cách xưng hô, con muốn được gọi Thầy là Thầy từ nay cho đến mãi đời vị lai. Đọc phần hồi đáp của Thầy, bằng trực giác con nhận ra rằng: Thầy là Người Thầy mà bao nhiêu kiếp rồi con đã cố công tìm kiếm - nay mới đủ duyên lành để gặp. Con xin đảnh lễ Thầy ba lạy ạ!!!" (Hết thư)

Chân thành cảm ơn những lời chúc tốt đẹp của Tâm Diệu Tịnh nhân ngày Nhà Giáo (20/11)...!!! Lão Lý lại chúc em: "An vui, tinh tấn, thành ở đời, đạt ở đạo"...!!!

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

19/11/2025

LÝ TỨ

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời Số 65.2025 với chủ đề: Thỉnh Thư !!!

Quản trị viên 19.06.2026

Thầy Tâm Giác kính mến !!!

Tôi vừa nhận được hồi đáp của Thầy sau chuyên mục 61/2025 về Kinh Đại Thí Dụ Lõi Cây...!!! Lý Tứ xin chân thành cảm ơn sự đồng cảm cũng như những khích lệ mà Thầy đã dành cho HĐ Lý Gia !!!

Đặc biệt, Thầy cũng đã chuyển vấn an của tôi đến Ngài Pháp Tánh...Và, được Ngài Pháp Tánh tiếp nhận, tôi thật sự hoan hỉ...!!! Theo đó, Ngài Pháp Tánh cũng khởi nhã ý muốn một lần tao ngộ cùng Lý Tứ để đàm đạo trên tinh thần "lợi hoà đồng quân" không câu nệ hình tướng Tăng tục trong một ngày gần nhất...Nghe tin này, Lý Tứ vô cùng cảm kích...!!!

Nay Lý Tứ viết "Thỉnh Thư" này thay "Thiếp Mời Thế Tục" !!! Trân trọng kính mời Ngài Pháp Tánh cùng Thầy Tâm Giác khi nào thu xếp được...Xin mời hai vị hạ cố đến đến tư gia của tôi ở An Giang, Lý Tứ coi đó là niềm vinh hạnh tột cùng...!!! Kính nhờ Thầy Tâm Giác chuyển hộ Thỉnh Thư này đến Ngài Pháp Tánh...!!!

Kính chúc Ngài Pháp Tánh và Thầy pháp thể khinh an, môn sinh dị độ...!!!

Trân trọng, 21/11/2025 !!!

LÝ TỨ

Sau đây là tâm tình của Sư Thầy Tâm Giác:

"Kính gửi Thầy Lý Tứ,

Lời đầu, với tất cả lòng kính trọng, tôi xin được đảnh lễ Thầy, bày tỏ sự hoan hỷ sâu xa sau khi đọc trọn phần phúc đáp của Thầy liên quan đến Đại Kinh Thí Dụ Lõi Cây, nối tiếp mạch giải đáp về Kinh Sa Môn Quả trước đó. Mỗi lần được đọc thư Thầy, tôi đều cảm nhận rất rõ ràng rằng: Không chỉ là được học một bài kinh, mà là được nếm trải một phong thái giáo dục, một đường lối dẫn đạo rất riêng của Thầy dành cho huynh đệ Lý Gia – vừa nghiêm mật, vừa thâm trầm, lại vừa thấm nhuần tâm ý muốn giúp người học đi cho đúng đường, đúng pháp.

Đọc lời Thầy giải về lõi cây – giải thoát – Tam minh, trong lòng tôi khởi lên sự đồng cảm sâu sắc. Khi Thầy chỉ rõ:

“Lõi cây là mục tiêu tối hậu của Phạm hạnh… chính là Thánh quả A-la-hán gồm đủ Tam minh.” và "Lõi: Giải thoát, Bất động. Minh: Tam minh.”

Tôi thấy ngay lập tức được tháo mở thêm một tầng hiểu biết vốn trước đây còn mơ hồ. Không chỉ nắm được lý, mà còn thấy được sự dứt khoát trong tuệ tri của Thầy: Con đường của hành giả không phải là dừng lại nơi các tầng định, nơi chút thần thông, hay nơi trạng thái tâm tĩnh lặng mang tính tâm lý; Mà phải đi đến Giải thoát Bất động – thứ hơi thở chân thật của “lõi cây”.

Khi Thầy nói:

“Định nào không bao gồm cả Giới và Tuệ… chẳng phải Định của Phật đạo…!!!” tôi lặng người. Đó là một lời cảnh tỉnh thẳng thắn và từ bi. Nó nhắc cho người tu chúng tôi không được đánh đồng sự an tĩnh của tâm với định lực của Thánh đạo. Lời của Thầy khiến tôi tự soi lại chính mình: Cái mà mình từng xem là “định” có thật sự là pháp của Phật dạy, hay chỉ là lớp an ổn tạm bợ mà lầm tưởng?

Điều khiến tôi xúc động sâu xa hơn cả, chính là tâm ý giáo dục rất đặc biệt của Thầy trong suốt bức thư gửi đến huynh đệ Lý Gia. Thầy không chỉ giải kinh, mà còn giải tâm, giải nếp, giải phong thái, chỉ thẳng điều mà học trò còn thiếu để tiến bộ trọn vẹn. Khi Thầy nhắc rằng cư sĩ thời Phật từng bị gọi là “lỗ mãng”, và nay nhờ duyên lành đọc thư của một vị Sa Môn chân chánh như Tâm Giác, toàn thể Lý Gia có được một bài học lớn về oai nghi, tôi thấy nơi đó không phải là trách cứ, mà là một cách dạy học vô cùng bao dung và khéo léo. Thầy chỉ ra cái thiếu, nhưng ngay lập tức mở ra điểm tựa để học trò chuyển hóa: Học theo oai nghi của bậc Sa Môn, học sự trầm tĩnh, nghiêm mật, đúng mực trong từng lời nói – để rồi từ đó, mỗi người tự làm cho “châu ngọc” của chính mình thêm phần sáng tỏ.

Càng đọc, tôi càng thấy rõ: Thầy không dạy bằng khẩu hiệu, cũng không dạy bằng sự trang nghiêm sáo rỗng. Thầy dạy bằng thái độ, bằng câu chuyện thật, bằng một tấm gương cụ thể, rồi gói tất cả lại thành bài học trọn đời cho huynh đệ Lý Gia – rằng nếu học được oai nghi của Sa Môn, thì mỗi nơi mình đặt chân đến đều có thể trở thành “Diệu Thiện Pháp Đường”.

Đoạn Thầy chia sẻ về triết lý giáo dục của Lý Gia khiến tôi vô cùng kính phục: "Sau khi tìm được lõi cây, nếu ta không biết biến lõi cây thành vật dụng có ích cho đời thì lõi cây ấy chỉ là thứ vô dụng.”

Từ xưa đến nay, nhiều người xem giải thoát như một nơi để “rời bỏ thế gian”. Nhưng Thầy lại dạy học trò cách mang lõi cây quay lại đời, dùng trí tuệ và tâm bất động ấy để làm lợi ích, để chế tác công dụng, để phục vụ. Chỉ khi đó, theo lời Thầy, “bản chất và hiện tượng mới trở nên bình đẳng.”

Tôi nhận thấy đây không chỉ là một câu nói hay, mà là triết lý giáo dục khai phóng thật sự: Không đưa người học vào chỗ kiêu mạn tâm linh, mà dẫn họ tới chỗ vừa giải thoát vừa hữu dụng, vừa bất động mà vẫn linh hoạt giữa cuộc đời.

Tôi cũng có theo dõi vài kỳ hỏi đáp gần đây trong chuyên mục của Thầy, và phải nói thật rằng trong lòng khởi lên niềm bàng hoàng lẫn kính phục đối với huynh đệ Lý Gia. Những cư sĩ tại gia còn trẻ, giữa bao việc mưu sinh đời thường, vậy mà có thể đường hoàng tiếp nhận những câu hỏi sắc bén của bạn đọc Ngã Hành.

Theo thiển kiến của tôi, đó đều là những câu hỏi thuộc loại khó; đến ngay cả một vị Tỳ kheo đã hơn bốn mươi năm nương tựa cửa Phật như tôi cũng không dễ gì đáp cho thỏa đáng.

Nhìn thấy huynh đệ Lý Gia vẫn có thể bình tĩnh, sáng suốt, không rơi vào vòng biện luận mà vẫn giữ đúng phong thái người học đạo, tôi càng hiểu rõ: Triết lý giáo dục của Lý Gia không phải lời nói suông, mà thực sự có công năng chuyển hóa, rèn luyện và đưa người học đi vào thực chứng.

Bởi vậy, mỗi lần đọc các kỳ hỏi đáp, tôi đều sinh tâm hoan hỷ, cảm nhận được sự thực tiễn và hiệu quả trong đường lối giáo dưỡng mà Thầy đang truyền trao.

Là một Tỳ kheo, đọc thư Thầy gửi cho hàng cư sĩ, tôi vừa hoan hỷ, vừa tự quán chiếu chính mình. Tôi thấy trong lời Thầy một sự bình đẳng sâu sắc: Thầy xem người hỏi không phải là “kẻ dưới”, mà là bạn đạo, là người cùng đi trên con đường tìm lõi cây. Và chính vì đặt người học ở vị trí xứng đáng như vậy nên lời Thầy mới toát lên được cả trí tuệ lẫn từ tâm.

Nhân đây, tôi kính báo đến Thầy một tin vui.

Chiều qua, Sư huynh Pháp Tánh của tôi đã hồi sơn trở lại nội viện. Việc đầu tiên tôi làm sau khi gặp Ngài là chuyển lại trọn vẹn lời vấn an chân tình của Thầy mà Thầy đã gửi trong các kỳ hỏi đáp trước. Nghe xong, Sư huynh im lặng hồi lâu rồi nói:

“Thầy Lý Tứ là một cư sĩ hy hữu mà tôi từng thấy - bề sâu về Giáo Pháp của Thầy khó có người bì kịp. Tôi vô cùng trân trọng tấm lòng của Thầy Lý Tứ. Nhờ Thầy Tâm Giác chuyển lại lời cảm ơn chân thành của tôi đến Thầy. Sau khi sắp xếp xong các Phật sự đang dang dở, trong một ngày gần nhất, tôi mong được tao ngộ cùng Thầy để đàm đạo cho thỏa thích – như hai người bạn đạo lâu ngày gặp lại, không câu nệ hình tướng, chỉ cùng nhau luận cho rõ chánh pháp.”

Tôi xin kính chuyển nguyên lời ấy đến Thầy, như tâm nguyện của Sư huynh.

Thưa Thầy Lý Tứ,

Một lần nữa, tôi xin được đảnh lễ Thầy vì trí tuệ thâm trầm, vì lòng từ không mệt mỏi trong giáo hóa, và đặc biệt vì phương pháp giáo dục đầy nhân bản và tỉnh giác mà Thầy đang truyền trao cho huynh đệ Lý Gia. Nguyện chúc Thầy:

Pháp thể khinh an – Tuệ đăng thường chiếu –

Thuyết pháp vô ngại – Đạo nghiệp viên thành.

Tôi xin giữ trọn tâm niệm khiêm cung, tiếp tục học hỏi qua từng lời Thầy chỉ dạy, như người đi rừng may mắn được một bậc thầy cầm đuốc đi trước.

21/11/2025 - 6:13:36 - Tỳ kheo Tâm Giác – Huế" (Hết thư)

Chúc tất cả bạn đọc an vui, tinh tấn...!!!

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

Subscribe to