Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời Số 66.2025 với chủ đề: Hồi Âm !!!

Quản trị viên 19.06.2026

Các bạn !!!

Sau khi gởi Thỉnh Thư đến Ngài Pháp Tánh và Sư Thầy Tâm Giác...!!! Sáng nay, Lý Tứ nhận được hồi âm của hai vị...!!!

Lý Tứ chân thành cảm ơn hai vị đã nhận lời !!! Kính chúc Ngài Pháp Tánh và Sư Thầy thân tâm an lạc, Phật sự viên thành !!! Ngưỡng mong sang xuân diện kiến...!!!

Sau đây là hồi âm của Sư Thầy Tâm Giác:

"TỲ KHEO TÂM GIÁC

KÍNH GỬI THẦY LÝ TỨ

An cư tịch tĩnh thất,

sương sớm vờn đầu núi,

nhận được “Thỉnh Thư” của Thầy,

tâm tôi lặng đi một nhịp.

Thư không dài,

lời không nhiều,

song khí vị chân thành

như hương trầm ban sớm,

lan nhẹ mà thấm sâu.

Tôi đã đem thư đến trình Sư huynh Pháp Tánh.

Ngài đọc chậm rãi,

rồi khép mắt hồi lâu.

Khi mở mắt, chỉ nói một câu:

“Tri kỷ chi ngôn,

không do miệng tạo,

mà do tâm khởi.”

Lời ấy, tôi xin chép lại gửi Thầy,

như mối tâm giao vô ngôn

giữa người học đạo.

Cuối năm, Phật sự đa đoan;

chúng tôi chưa thể rời phương ngoại viện.

Dẫu vậy, tâm đã hẹn,

nguyện đã thành.

Đợi sang Xuân,

ngày rộng tháng dài,

hai huynh đệ sẽ vào Nam bái kiến Thầy.

Không phải vì lễ nghi,

cũng chẳng vì hình tướng,

mà vì muốn gặp nhau

như người đồng đạo,

đem tấm lòng phơi dưới ánh Chánh pháp,

luận một đôi điều

cho sáng lẽ vô thường.

Cửa đạo vốn không cửa;

tri âm vốn chẳng đợi lời mời.

Nhưng Thầy hạ bút mời,

thì đó là duyên.

Chúng tôi nhận lời,

ấy là tín.

Tâm hạnh của Thầy –

thanh tịnh mà cương trực,

nhu hòa mà không yếu,

khiến kẻ học đạo như tôi

sinh lòng kính trọng.

Đêm nay gió Huế chuyển mùa,

đèn dầu lay bóng,

tôi ngồi trước án thư,

viết mấy dòng mộc mạc này

đáp lại tấm thịnh tình của Thầy.

Nguyện Thầy:

Pháp thể an hòa,

Tuệ tâm thường sáng,

đèn pháp chưa từng tắt

nơi người hữu duyên tìm đến.

Chắp tay đảnh lễ,

trân trọng hồi âm.

22/11/2025 - 4:20:32 - Tỳ kheo Tâm Giác - Huế"

Chúc tất cả bạn đọc an vui, tinh tấn...!!!

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

22/11/2025

LÝ TỨ

Sinh Hoạt Lý Gia

(14) SÂN CHƠI TRỰC TUYẾN LÝ GIA CHỦ ĐỀ: LÝ THUYẾT VÀ THỰC HÀNH !!!

Quản trị viên 19.06.2026

(14) SÂN CHƠI TRỰC TUYẾN LÝ GIA

CHỦ ĐỀ: LÝ THUYẾT VÀ THỰC HÀNH !!!

Các bạn !!!

Trong ba kì sinh hoạt trực tuyến vừa rồi, cũng với chủ đề “Lập Kế Hoạch Cho Một Chuyến Hải Hành” do SM Lý Phương Anh làm chủ toạ, theo đánh giá chung của đại chúng là, “ba buổi sinh hoạt đã rất thành công” !!!

Trong ba buổi sinh hoạt ấy, có nhiều câu hỏi được đại chúng nêu lên như:

- Thế nào là hành Bồ tát đạo, tu Bồ tát hạnh và ngược lại...???

- Khi đối trước một sự việc, tâm trí người đã dứt tập (hết kiết sử, phiền não, lậu hoặc) và tâm trí người đã chứng diệt (giải thoát bất động) khác nhau như thế nào...???

- Nếu thấy rõ sự khác biệt hai thứ tâm trí thuộc hai cảnh giới nêu trên (dứt tập và chứng diệt), thì sẽ được lợi ích gì trong quá trình tu tập và làm công hạnh ???

- Giác quán và mối liên hệ của hai phép tu này đối với các đạo quả trong Phật đạo, cũng như người tu hành đến giai đoạn nào mới có thể hoàn toàn chấm dứt giác quán ???

- Làm thế nào để có thể hoàn toàn tịch diệt các thứ tâm hư vọng như đố kị, ganh ghét, thù hằn...v..v...???

- Người tu hành quán tứ niệm xứ như thế nào để dứt Tập ???

- Làm thế nào để xả hoàn toàn sở tri chướng ???

- Ngũ vô gián tội là gì ???...v..v... !!!

Các câu hỏi nêu trên, đã được chủ toạ cùng đại chúng phân tích, thảo luận, trả lời thoả đáng !!!

Nhìn chung, cứ sau mỗi buổi sinh hoạt, tất cả HĐ chúng ta lại tăng trưởng cả chiều rộng lẫn chiều sâu... Nhờ nội dung sinh hoạt đúng với tinh thần giáo pháp, vì thế, sân chơi trở nên hấp dẫn, sôi động đã được đông đảo HĐ chúng ta tham gia !!!

Lần này, mình xin ghi lại nội dung và trả lời một câu hỏi tiêu biểu từ buổi sinh hoạt... Theo mình thì, câu hỏi và trả lời này, rất đáng được mọi người quan tâm !!! Đây chính là câu hỏi đã nêu bật những gì được coi là “tinh hoa của giáo pháp”... Nhưng rất tiếc, không ít người tu hành đến nay vẫn chưa nhận ra !!!

Nội dung câu hỏi như sau:

Có phải Phật pháp là loại giáo pháp mà giữa lí thuyết và thực hành có sự sai khác ??? Tức là, lý thuyết học một nơi, khi thực hành (công phu) lại làm một nẻo !!!

Trả lời:

Phật đạo là một nền giáo dục, cho nên lí thuyết luôn được coi là nền tảng cốt lõi để khi thực hành theo đó đạt được các mục tiêu của giáo pháp đề ra !!!

Đây là lí do vì sao, thực hành trong Phật đạo chính là việc ứng dụng thành công ba Tam muội môn gồm Tam muội có giác có quán, Tam muội không giác có quán và Tam muội không giác không quán được xây dựng trên tinh thần giáo pháp !!!

Đối với Phật đạo, việc thực hành ba Tam muội người tu hành gọi nôm na là công phu, không phải là một hành động nào đó nằm ngoài giáo pháp...!!! Mà, công phu hay thực hành ba Tam muội môn chính là công việc ứng dụng triệt để những gì đã được học tập từ giáo pháp, gọi là “giác”... Sau đó, tập trung tư duy, quán sát để thấu suốt ý nghĩa những gì đã học gọi là “quán”... Khi “giác quán thành tựu”, người tu hành “ứng dụng triệt để” những gì bản thân đã thấu đáo từ giác quán trước đó vào đời sống, từ đó người tu và pháp đã học trở thành nhất thể, gọi là tu chứng !!! Hay nói khác hơn, từ học tập đến tư duy và ứng dụng nhuần nhuyễn giáo pháp đã học vào đời sống làm nên ba pháp cốt lõi “văn, tư, tu” trong Phật đạo !!!

Như vậy có thể nói, giữa lí thuyết và thực hành trong Phật đạo là hành động nhất quán (phát xuất từ chánh pháp)... Sự nhất quán này, giúp người tu hành thành tựu một đạo quả nào đó trong Phật đạo !!! Vì thế, Phật đạo không có chuyện lí thuyết học một nơi, công phu (thực hành) làm một nẻo như mọi người vẫn lầm tưởng và tu tập !!!

Ví dụ: Khi học về Tứ niệm xứ (thân, thọ, tâm, pháp), đây là bài học nhập môn sau khi người tu hành được Thiện tri thức trang bị các kiến thức chuẩn và cơ bản... Tiếp theo, được nghe giảng giải cặn kẻ về ý nghĩa cũng như tiến trình ứng dụng bốn món này trong quá trình tiến tu 37 phẩm, cũng như sự tương ưng giữa 37 phẩm và bốn mục tiêu của Tứ đế... Học tập xong, tuỳ giai đoạn, người tu hành thiết lập đạo tràng tu tập từ một trong bốn niệm xứ ấy để ứng dụng ba Tam muội môn !!!

- Trong giai đoạn đầu... Người tu hành giác quán thân, thọ, tâm, pháp đến khi nào không còn hiểu sai, không còn lầm chấp về bốn món ấy trên tinh thần Thân bất tịnh, Thọ thị khổ, Tâm vô thường, Pháp vô ngã... Giống như lời dạy đầu tiên của Phật với năm anh em Kiều Trần Như ở vườn Lộc Uyển có đại ý: “Sắc, thọ, tưởng, hành thức vô thường... Nên (người trí) không lấy năm món ấy làm ta, làm ngã của ta và tự ngã của ta....” !!! Khi dùng ba Tam muội môn quán rốt ráo bốn điều trên, nhất định sẽ thành tựu Khổ đế và Tập đế... Thành tựu hai đế này, chấm dứt khổ, phiền não, kiết sử, lậu hoặc !!!

- Sau khi hết Khổ, dứt Tập... Người tu hành cũng thiết lập đạo tràng tu tập trên bốn món ấy, rồi cũng dùng ba Tam muội môn quán Tứ niệm xứ trên tinh thầm “Thân, thọ, tâm, pháp chỉ do duyên hợp” (tinh thần kinh Duyên Sinh) !!! Khi quán rốt ráo tinh thần này... Nhất định sẽ đặt chân vào cảnh giới xuất thế !!!

- Đã vào cảnh giới xuất thế, để rốt ráo chứng Diệt... Người tu hành lại dùng ba Tam muội môn quán Tứ niệm xứ trên tinh thần “Thân: Đồng với hư không; Thọ: Chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở chặng giữa; Tâm: Chỉ là danh tự, tánh danh tự rời rạc; Pháp: Thiện chẳng thể được, bất thiện chẳng thể được...” (theo kinh Niết Bàn) !!! Khi ba Tam muội môn được thực hành đến rốt ráo, nhất định sẽ thành tựu Giải thoát Bất động hay Minh tâm Kiến tánh (tuỳ thừa) !!!

- Sau khi chứng diệt, để có thể thành tựu Nhất thiết trí... Người tu hành “dùng Tánh giác” tu tập ba Tam muội môn cho đến khi nào thấu suốt tánh, tướng, nhân, duyên, quả, báo, thể, lực, tác, dụng...v..v...của thân, thọ, tâm, pháp... Đồng thời được học những gì là Bồ tát hạnh và thế nào là tu Bồ tát đạo cùng nhân sinh quan, vũ trụ quan của Phật đạo... Từ đây, vị tu hành sẽ “tự thấu suốt” tất cả các Tam muội môn và các giải thoát môn của chư Phật !!!

Nói chung, giữa lí thuyết và thực hành trong Phật đạo chỉ là hai giai đoạn giúp người tu hành thấu suốt một vấn đề nào đó trong một giai đoạn nhất định nào đó từ giáo pháp để thân chứng một đạo quả nào đó của Phật đạo...Chứ không phải Phật đạo là thứ giáo pháp mà: Lí thuyết (hay giáo lí) học một nơi, đêm về công phu hay thực hành một việc khác !!!

Và, chỉ khi nào người tu hành dùng ba Tam muội môn thực hành triệt để giáo pháp trên tinh thần giác quán hay “văn tư tu như pháp” thì, mới có thể “thành tựu các đạo quả” chắc thật trong Phật đạo !!! Tức cái mình thành tựu (quả chứng) chính là kết quả thấu suốt từ chân lí (chánh pháp) chứ không phải từ một thứ gì khác (dị pháp) !!!

Tuy nhiên, trong thực tế, không ít người tu hành học giáo pháp một nơi, đêm về công phu một nẻo... Coi giáo pháp như một thứ trang sức hay văn chương thế luận, còn ứng dụng thì dùng một phép tu hoặc cách ứng phó nào đó hầu như chẳng liên hệ gì đến giáo pháp đã học !!! Điều này dẫn đến hệ quả, công sức bỏ ra rất nhiều nhưng kết quả hầu như chẳng có gì... Lúc còn công phu tâm thức tạm yên, dứt thời công phu đâu lại về đó... Giống như lấy đá đè cỏ, hay người bệnh chỉ uống thuốc giảm đau !!! Đây là một trong những khiếm khuyết từ lỗ hổng kiến thức trong việc dạy và học giáo pháp... Dẫn đến việc “đi sai đường nên đến sai mục tiêu” của những người “không dựa vào chân lí mà mong thấy chơn tâm”!!!

Sở dĩ có hiện tượng này trong phần lớn người tu hành là vì: Người tu hành không được trang bị đầy đủ các kiến thức chuẩn !!! Bản thân người hướng dẫn không hiểu hết ý nghĩa, không biết giá trị ứng dụng của giáo pháp !!! Và tự thân họ cũng không thể ứng dụng giáo pháp thông qua ba Tam muội môn để thành tựu các đạo quả trong Phật đạo...v..v...!!! Thành ra, mới có cớ sự người tu hành học giáo pháp một nơi, công phu (hay đối phó với phiền não) một nẻo... Tuy nói rằng “tu trong chánh pháp” mà lại “thành tựu dị pháp” hoặc “không thành tựu gì hết” !!!

Hy vọng phần lược ghi trên, sẽ giúp bạn đọc “bình tĩnh” xem lại quá trình tu học của mình... để có thể, học đúng, hiểu đúng, ứng dụng đúng và thành tựu đúng tinh thần giáo pháp... Đồng thời biết chắc rằng: “Thực hành dị pháp chỉ cho ra....dị...quả” !!!

Chúc các bạn an vui, tinh tấn, thành tựu như nguyện !!!

28/11/2020

LÝ TỨ

- HÌNH ẢNH BUỔI SINH HOẠT !!!

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời Số 67.2025 với chủ đề: Ngã Hành Phản Biện Huynh Đệ Lý Gia !!!

Quản trị viên 19.06.2026

Các bạn !!!

Thật thú vị...!!!

Lý Tứ vừa nhận được 15 câu hỏi, khác hơn đó là 15 phản biện trực diện của bằng hữu Ngã Hành trước các trả lời của HĐ Lý Gia kì 63/2025...!!! Lý Tứ xin phép được thân mật gọi bạn đọc Ngã Hành bằng danh xưng bằng hữu như cách gọi "một cố nhân"...!!!

Có thể nói, đọc thư của bằng hữu Ngã Hành, Lý Tứ cảm thấy hạnh phúc và thích thú...!!! Hạnh phúc vì bởi, như bằng hữu Ngã Hành đã viết trong thư: "Cảm ơn HĐ Lý Gia đã giúp tôi mở mắt sau 25 năm - thoát khỏi Hắc Lao - Cô Sơn Mai Trang dưới đáy Tây Hồ!"...!!!

Thứ hạnh phúc mà, một người phải chịu "tự giam nhốt chính mình" trong "lao ngục cô đơn của tâm thức" giữa "muôn hồng nghìn tía kiến giải", nhưng chẳng tìm đâu ra một kiến giải phá vỡ ngục tù ấy...Nay đã được HĐ Lý Gia khai thông nguồn mạch trong buổi sơ giao...!!!

Điều này, Lý Tứ rất hiểu...Vì, bản thân đã từng có trên 30 năm rong ruỗi và rồi cũng tự giam nhốt mình trong tâm thức cô đơn ấy...!!! Có khác bằng hữu Ngã Hành chăng, đó là cái may mắn của Lý Tứ hơn 17 năm về trước...Trong một đêm trăng sáng, giữa cô đơn, tĩnh mịch và lao ngục ấy, Lý Tứ đã tự phá vỡ xích xiềng để rồi cười vang khi mọi xích xiềng tan biến trong sát na bừng tỉnh...Và, từ đó, Lý Gia được khai sinh...!!!

Thích thú vì, "trời đất xui khiến thế nào" bằng hữu Ngã Hành trong nỗi cô đơn của sự giam nhốt ấy, lại tìm thấy Lý Gia...Để rồi, bản hợp tấu "Ngã Hành Vấn Đạo" lại vang lên đúng lúc giữa "muôn hồng nghìn tía kiến giải" chẳng biết "nên cười hay khóc" của kiếp tu hành...!!! Và, càng thích thú hơn nữa, bản hợp tấu "Ngã Hành Vấn Đạo" chưa dừng lại mà, bản hợp tấu ấy lại tiếp tục vang lên như "cơ hội vàng" giúp môn đồ Lý Gia mài giũa lưỡi gươm trí tuệ, chỉnh sửa những nốt thăng trầm chưa được "cố nhân" vừa ý...!!! Lý Tứ chân thành cảm ơn bằng hữu Ngã Hành thật nhiều...!!!

Bằng hữu Ngã Hành và bạn đọc thân mến !!!

Chủ nhật là ngày nghỉ của thế gian...!!! Nhưng đối với Lý Tứ và HĐ Lý Gia lại là ngày bận rộn nhất bởi, tất cả HĐ Lý Gia đều là dân tục gia...Cho nên, mọi người tận dụng ngày nghỉ ấy để "ôn luyện giáo pháp"...!!! Cụ thể là, sáng mai (Chủ nhật) từ 5 giờ sáng, mọi người lại phải lao vào lớp Giáo Pháp Nâng Cao với trên 12 câu hỏi hóc búa từ Kinh Giải Thâm Mật mà Lý Tứ đề ra, buộc mọi người phải trả lời thấu đáo...Rồi sau đó lại nhận về cũng chừng ấy câu hỏi để tự...xây...xẩm...mặt...mày...!!! Buổi chiều họ lại phải tham gia lớp Phật Giáo Và Thiền cùng Lý Gia Châu Âu vì thế rất bận rộn...!!!

Cho nên, để giảm bớt áp lực cho HĐ, Lý Tứ xin được chuyển câu hỏi của bằng hữu đến HĐ ngay bây giờ...Và, sau 72 giờ, tức từ 20:00 ngày 22/11/2025 đến 22:00 ngày 25/11/2025 sẽ có hồi đáp thoả đáng của HĐ Lý Gia...!!! Mong bằng hữu Ngã Hành thông cảm cho đề nghị này...!!!

HĐ Lý Gia thân mến !!!

Cơ hội lại đến với các bạn nữa rồi...Sau đây là những phản biện mà bằng hữu Ngã Hành đã giúp các bạn mài thêm lưỡi gươm trí tuệ...!!! Giống như kì trước, các bạn gởi email "bảo vệ" cho mình trước 20:00 ngày 25/11/2025...!!!

Trước khi chuyển các câu phản biện đến HĐ Lý Gia...Lý Tứ xin kính tặng bằng hữu Ngã Hành bài "Bài Tráng Ca Bất Tử" (theo thể văn cổ) được Lý Tứ viết năm 2011 như món quà sơ giao...Mong bằng hữu không chê "văn dốt võ dát" của Lão Lý !!! Ha ha ha ha !!!

"BÀI TRÁNG CA BẤT TỬ

Khi người tráng sĩ dứt áo ra đi hề, con Kiền trắc bị ghìm cương không còn cơ hội ngoảnh lại.

Người Tráng Sĩ năm xưa chán cái vui hề, chán đến kẽ tóc chân tơ.

Anh lên tận non cao, nơi không có tiếng khóc và tiếng cười.

Như con chim bay lưng trời, như con cá lội giữa ngàn khơi.

Và ở đó anh nghiệm ra, đây không phải ước mơ của một thời trai tráng.

Anh mơ một ngày, một ngày của người đi tìm chân lý mong đâu là ánh sáng.

Ánh sáng cuối đường hầm, anh kiêu hãnh bước đi....

Chân lý đưa đến những hột mè qua ngày đoạn tháng.

Chân lý xô đẩy bằng cái kham khổ sáu năm tóc rụng da nhăn.

Bất chợt nhận ra chán cái vui, tìm cái khổ như con nai khát nước chạy lung tung.

Chỉ uổng một đời, bỏ cái ngu này tìm cái ngu khác trong đêm dài ba cõi...

Lại một lần nữa, Người Tráng Sĩ dứt áo ra đi trước mỉa mai khổ hạnh.

Đau đớn tột cùng, đâu là hạnh phúc... giữa trời xanh!

Anh ngồi xuống, bởi cái thân ốm o không thể chở nổi ý chí kiên cường.

Quơ vội nắm cỏ khô bên đường, dựa lưng vào gốc cây đa già, cố thắp ngọn đèn trong đêm dài tăm tối...

Người Tráng Sĩ hiểu ra, cái giá phải trả cho một đời người bởi cực đoan từ hai phía.

Bỏ tất cả bên đường đặt gánh nặng xuống, cây đa già phút chốc hoá thành ánh sáng mặt trời.

Người Tráng Sĩ vui mừng, hết thảy tự tâm này chỉ do ngu mê và lầm lẫn.

Chân lý không đâu xa, không phải thứ ánh sáng chờ đợi cuối đường hầm.

Bóng tối và ánh sáng, không phải hai mặt đối lập của một vấn đề như ở đời thường vẫn hiểu...

Chỉ tại không đèn nên sáng tối nhầm nhau...

Người Tráng Sĩ đã chết từ khi ngồi xuống, đốm lửa được thắp lên.

Con chim thứu từ nay vĩnh viễn không cất tiếng u buồn, con dế hết kêu rên.

Con cá dưới nước hoá thành rồng trong phút chốc ngỡ ngàng niềm vui oà vỡ...

Người Tráng Sĩ năm xưa hát Bài Tráng Ca trước bạn bè ngày cũ.

Tất cả chắp tay!

Một đời tráng sĩ hoá thành bất tử.

"À ơi! Ấu biến thành sen,

Lời ru còn đó, nghe quen thuở nào..."

(10 giờ 08 phút 21/07/2011 - LÝ TỨ)

Sau đây là nội dung thư của bằng hữu Ngã Hành:

"NGÃ HÀNH PHẢN BIỆN HUYNH ĐỆ LÝ GIA

Kính gửi Thầy Lý Tứ và chư Huynh Đệ Lý Gia,

Sau khi đọc trọn vẹn phần lược trích 18 thư trả lời của các Huynh Đệ (HĐ) Lý Gia cùng nguyên văn thư của HĐ Lý Phương Anh, người mang danh Ngã Hành này buộc phải thừa nhận một thực tế hiển nhiên: “Hổ phụ quả thực sinh hổ tử”. Tập thể học trò Lý Gia, xét trên bố cục lập luận, độ chặt chẽ trong việc định nghĩa khái niệm, và đặc biệt là khả năng nắm đúng mạch chính của vấn đề, đều vượt xa mặt bằng chung mà tôi từng chứng kiến trong hơn 25 năm lang thang học đạo.

Chính vì vậy, tôi lại càng không thể cho phép mình thỏa mãn dễ dãi. Một hệ thống giáo pháp càng tỏ ra vững vàng, thì những câu hỏi dành cho hệ thống ấy càng phải sắc, phải sâu, và phải đi đến tận cùng những mâu thuẫn nội tại. Nếu không, tất cả chúng ta chỉ đang thỏa mãn với cảm giác “đã thông” chứ chưa thật sự đi qua những nghịch lý cốt tủy của Phật đạo. Bởi thế, trong thư này, tôi trước hết xin tán thán Thầy và 18 Huynh Đệ; sau đó, lần lượt nêu lên những vấn đề phản biện, đặc biệt đối với lập luận của HĐ Lý Phương Anh, nhưng đồng thời cũng chạm đến những điểm thiếu sót xuyên suốt toàn bộ 18 câu trả lời.

Trước hết, tôi phải nói rằng trí tuệ tập thể của Lý Gia là một hiện tượng hiếm thấy. Một người đã lênh đênh pháp hội này qua pháp hội khác, nghe không biết bao nhiêu pháp sư, đọc không ít luận giải, nay lần đầu chứng kiến một tập thể 8X, 9X, 10X - những người vừa làm việc, nuôi gia đình, bon chen thế gian - nhưng vẫn có thể trả lời hệ thống, mạch lạc, không rơi vào võ đoán hay sùng bái. Điểm đáng quý nhất là hầu hết các HĐ đều không rời nền tảng duyên khởi – vô ngã – vô tự tính khi xử lý những khái niệm phức tạp như Như Lai Tạng, A-lại-da, Thất Đại, hay Giới – Định – Tuệ; đồng thời tránh được chiếc bẫy “chơn ngã” mà rất nhiều hệ phái Đại Thừa hiện đại đang vướng phải. Chỉ riêng chừng đó, tôi đủ lý do để nói: Lý Gia là một hiện tượng giáo dục Phật học đáng được quan sát nghiêm túc.

Tuy nhiên, tán thán không có nghĩa là im lặng. Bởi vậy, tôi xin bước sang phần phản biện trực diện.

Truy Vấn Lần Lượt 18 HĐ Lý Gia

1. Truy Vấn Lý Thái Đăng (TN0147) - Về A-lại-da và Chân Tâm

Lý Thái Đăng ví: "A-lại-da thức ví như đám mây. Chân Tâm ví như mặt trời. Đám 'Mây hư vọng' không còn thì trời lại sáng, hết mưa thì nắng hửng lên thôi!!!"

NGÃ HÀNH HỎI:

Nếu Chân Tâm ví như Mặt Trời (luôn sáng, thường trụ) và A-lại-da ví như Đám Mây (che khuất), thì theo logic này, khi Mây (A-lại-da) tan biến, Mặt Trời (Chân Tâm) sẽ tự hiển lộ. Vậy, lý thuyết "Chuyển y A-lại-da thành Đại Viên Cảnh Trí" (chuyển một cái gì đó sang một cái khác) trong Duy Thức tông có vẻ dư thừa và không cần thiết chăng?

Mặt Trời có "chuyển" thành Trí tuệ gì không? Nếu không, tại sao lại dùng danh từ "Đại Viên Cảnh TRÍ" thay vì chỉ nói "Chân Tâm hiển lộ"? Sự khác biệt cốt lõi giữa "Trí" và "Tâm" (trong ngữ cảnh Duy Thức) nằm ở đâu mà phải dùng đến thuật ngữ "chuyển" phức tạp như vậy?

2. Truy Vấn Lý Diệu Tâm (MB0465) & Lý Thiện Huệ (MN120) - Về Vô Tự Tính và Như Lai Tạng

Lý Diệu Tâm nói: "-Vạn pháp vô tự tính là sự thật của các pháp. - Như Lai Tạng thanh tịnh thường trụ là sự thật của Pháp thân Như Lai, không cần lấy gì làm nền tảng để khẳng định. - Giống như hư không, không cần cái gì làm nền tảng..."

Lý Thiện Huệ nói: "Đã là sự thật, thì theo mình chỉ nên thấy và biết! Chứ khẳng định làm gì?! Vì có khẳng định hay không, thì sự thật vẫn là sự thật! Không thể lấy cái vô thường sanh diệt, khẳng định cái thường hằng bất biến!"

NGÃ HÀNH HỎI:

Tôi đồng ý sự thật không cần khẳng định, nhưng trong tranh biện Phật học, việc chỉ ra cơ sở lý luận là cần thiết để tránh rơi vào "ngoại đạo chấp thường". Nếu Như Lai Tạng là "Thật Tánh" (bất biến), còn Vạn Pháp là "Vô Tự Tánh" (sinh diệt, không thật có), thì hai sự thật này dường như đối lập hoàn toàn về bản chất. Nếu không thể dùng "Vô Tự Tánh" làm nền, vậy người tu hành lấy gì để "thấy và biết" được cái "Thật Tánh" của Như Lai Tạng?

Phật dạy y pháp bất y nhân. Nếu không có một hệ thống lý luận (như Duy Thức dùng Tàng Thức làm nền, Bát Nhã dùng Tánh Không làm nền) để chỉ ra cái "thường trụ" ấy, thì nó khác gì với niềm tin "Thượng Đế" hay "Linh hồn" bất diệt của ngoại đạo? Cơ chế nào giúp người tu (HĐ Lý Gia) "trực nhận" ra Như Lai Tạng mà không cần dựa trên sự quán chiếu "Vô Tự Tánh" của Vạn Pháp?

3. Truy Vấn Lý Diệu Tâm (MB0465), Lý Phương Anh (MB424), Lý Tự Như (MB1700), Lý Đạt Thịnh (MĐ1138) - Về Tam Vô Lậu Học

Các HĐ đều khẳng định: Tam Vô Lậu Học (Giới - Định - Tuệ Vô Lậu) thành tựu đồng thời, là hệ quả của nhau, và chỉ cần thành tựu một học pháp vô lậu, các học pháp còn lại tự thành tựu.

NGÃ HÀNH HỎI:

Lý Phương Anh dẫn Kinh Lăng Nghiêm: "Nhiếp tâm là Giới. Do Giới sanh Định. Do Định phát Tuệ." Đây là một tiến trình tuần tự rõ ràng. Các vị giải thích rằng đây là Giới-Định-Tuệ thế gian hay Giới-Định-Tuệ hữu lậu. Tuy nhiên, Kinh Lăng Nghiêm nói đến "Giới sanh Định, Định phát Tuệ" lại nằm trong bối cảnh tu Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối (Giới Bồ Tát) và sự Kiến Tánh để tránh đọa lạc. Vậy, xin hỏi: Nếu ba cái đồng thời, thì tại sao Kinh điển lại mô tả một tiến trình nhân-quả (Do... sanh..., Do... phát...)?

Xin giải thích rõ cơ chế "cái này có nên cái kia có" trong bối cảnh Vô Lậu Học. Giả sử một người "Tuệ giác được khai mở" (Tuệ Vô Lậu thành tựu) do học tập giáo pháp (theo Lý Phương Anh). "Giới vô lậu" tự thành tựu bằng cách nào? Liệu nó có đồng nghĩa với việc vị ấy hoàn toàn không phạm bất kỳ giới luật nào của Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối (Sát, Đạo, Dâm, Vọng) nữa chăng?

4. Truy Vấn Lý Hiền Long (MĐ863) - Về Danh Xưng Tàng Thức

Lý Hiền Long phân loại: Phàm phu vô văn có Hàm Tàng Thức (chứa đựng tri thức, cảm xúc, đánh giá). Vị thành tựu Diệt đế có Bạch Tạng Thức (thuần lưu trữ tri thức, tịch diệt cảm xúc, đánh giá). Vị viên mãn trí tuệ có Như Lai Tạng (kho tàng lưu trữ kiến thức, tri thức dùng làm phương tiện thiện xảo).

NGÃ HÀNH HỎI:

Các danh xưng Hàm Tàng Thức, Bạch Tạng Thức, Như Lai Tạng này có phải là thuật ngữ chính thống được tìm thấy trong các bộ kinh luận chính yếu của Duy Thức và Đại Thừa (như Duy Thức Tam Thập Tụng, Thành Duy Thức Luận, Lăng Già Kinh, Pháp Hoa Kinh) không?

Đặc biệt, "Bạch Tạng Thức" được định nghĩa là trạng thái sau khi thành tựu Diệt Đế và thấy được bổn tâm, bổn tánh. Diệt Đế là quả vị A-la-hán, một vị đã sạch lậu hoặc, nhưng chưa phải là "viên mãn trí tuệ" (Phật). Vậy, "Bạch Tạng Thức" có phải là Thức thứ Tám của A-la-hán không? Nếu là Thức thứ Tám của A-la-hán, tại sao nó lại chỉ thuần lưu trữ kiến thức, tri thức mà không còn vai trò "tổng báo" (duy trì thân mạng) và "năng tàng" (chứa nghiệp chủng tử) nữa? Vai trò đó đã được chuyển cho ai?

5. Truy Vấn Lý Diệu Âm (MB572), Lý Tự Như (MB1700), Lý Minh Thuỳ (MĐ0180), Lý Ngọc Linh (MB721), Lý Mai Phương (EU2190) - Về Cơ Chế Chuyển Thức Thành Trí

Các HĐ đều thống nhất rằng "chuyển" ở đây là chuyển đổi tính chất (mê sang giác, u tối sang minh liễu, dính chấp sang soi chiếu) chứ không phải chuyển đổi bản thể (Thức vẫn là Thức, gương vẫn là gương).

NGÃ HÀNH HỎI:

Nếu sự chuyển đổi chỉ là "tính chất" (từ dính keo sang hết keo, từ mê sang giác) mà bản thể (Thức) vẫn không đổi, thì tại sao Duy Thức Học lại dùng thuật ngữ "chuyển y" (chuyển cái chỗ nương tựa) và lại chia thành Bốn Trí (Đại Viên Cảnh Trí, Bình Đẳng Tánh Trí, Diệu Quan Sát Trí, Thành Sở Tác Trí) tương ứng với sự chuyển đổi của Tám Thức?

Sự thay đổi về tính chất (Giác Ngộ) là một kinh nghiệm tâm lý chủ quan. Nếu không có sự thay đổi cấu trúc nghiệp lực (hạt giống) bên trong Tàng Thức (cái kho chứa), thì làm sao đảm bảo rằng sau khi "gương hết keo" (giác ngộ), nó sẽ mãi mãi không bị dính keo lại (tái mê) nữa? Việc này có đồng nghĩa với việc tất cả hạt giống (chủng tử) hữu lậu trong A-lại-da đã bị tiêu diệt hay chuyển hóa thành chủng tử vô lậu không? Nếu có, cơ chế đó là gì?

6. Truy Vấn Lý Tự Như (MB1700) - Về Tứ Pháp Ấn

Lý Tự Như viết: "Bốn pháp ấn này dành cho các vị hữu học, ở cảnh giới thế gian. Còn Như Lai Tạng là cảnh giới xuất thế gian. Nên việc đem so sánh Như Lai Tạng với 4 yếu tố trên có điều gì đó không hợp lý."

NGÃ HÀNH HỎI:

Phật giáo Nguyên Thủy và Đại Thừa đều thừa nhận Tứ Pháp Ấn là nguyên tắc cơ bản để ấn chứng một giáo pháp có phải là Phật pháp không. Nếu Như Lai Tạng (Phật Tánh) được coi là "bất biến" (thường), "không khổ" (lạc), "có ngã thật" (chân ngã), và "thanh tịnh" (tịnh), thì rõ ràng các tính chất này lại trái ngược hoàn toàn với Tứ Pháp Ấn (Vô thường, Khổ, Vô ngã, Bất tịnh).

Nếu cho rằng Tứ Pháp Ấn chỉ dành cho "cảnh giới thế gian" và "hữu học", thì chẳng lẽ giáo pháp của Phật (Tứ Pháp Ấn) chỉ có giá trị ở cấp độ sơ cơ và mất hiệu lực ở cấp độ cao hơn (Như Lai Tạng)? Các vị có thể dẫn ra Kinh điển Đại Thừa nào để khẳng định một cách trực tiếp và không bàn cãi rằng Tứ Pháp Ấn bị thay thế hay bãi bỏ khi đạt đến cảnh giới Như Lai Tạng không?

7. Truy Vấn Lý Ngọc Hỷ (TN0180) - Về Bồ Tát Giới và Kiến Tánh

Lý Ngọc Hỷ viết: "Sát đạo dâm vọng là 4 giới cấm của Bồ tát, khi đi giáo hóa chúng sanh, tùy theo từng trường hợp mà Khai, giá, trì, phạm. Tất cả việc làm của Bồ Tát đều vì lợi ích chúng sanh. Tâm Bồ tát đã đồng hư không, không bị bất kỳ điều gì làm động lay..."

NGÃ HÀNH HỎI:

Lý Phương Anh nói: "Sự trực nhận này [Kiến Tánh] không bị chi phối bởi việc giữ giới hay phá giới." và đưa ra ví dụ "Đạo tặc và người tu cùng thấy ánh trăng" (Phật tánh bình đẳng). Vấn đề là: Kiến Tánh có đồng nghĩa với việc thành tựu quả vị Bồ Tát chưa?

Nếu một vị đã Kiến Tánh (thấy Phật Tánh bình đẳng) nhưng chưa phải là Bồ Tát (người đã chuyển hóa triệt để A-lại-da thành Trí, đạt Vô Lậu Trí), thì vị ấy có còn bị chi phối bởi nghiệp lực khi phạm 4 giới cấm Sát, Đạo, Dâm, Vọng không? Việc "Khai, giá, trì, phạm" có được áp dụng cho vị đã Kiến Tánh nhưng chưa dứt hết lậu hoặc thô trọng (theo Lý Phương Anh) hay không?

8. Truy Vấn Lý Hoàng Anh (EU1578) - Về Ba Trí

Lý Hoàng Anh đưa ra định nghĩa cho Trí Lậu Tận, Trí Không Phân Biệt, Trí Như Lý gần giống với Lý Phương Anh:

Trí Không Phân Biệt thành tựu khi mọi vọng tưởng chấm dứt. Trí Như Lý là trí nương nhờ chánh pháp để tác ý.

NGÃ HÀNH HỎI:

Lý Phương Anh sắp xếp: Trí Như Lý (Hữu học); Trí Lậu Tận (Vô lậu - A-la-hán/Bích Chi Phật); Trí Vô Phân Biệt (Vô học - Phật/Đại Bồ Tát). Tuy nhiên, trong Duy Thức Học, Trí Vô Phân Biệt thường được coi là trí căn bản (trí thể) phát khởi khi nhập định, và sau đó mới sinh ra Trí Hậu Đắc (Trí Như Lý Quan Sát) để giáo hóa.

Xin giải thích: Tại sao Lý Gia lại sắp xếp Trí Vô Phân Biệt (căn bản trí) ở cấp độ cao nhất (Vô Học - Phật)? Và Trí Lậu Tận (dứt lậu hoặc, tương đương A-la-hán) lại chỉ là cấp độ thứ hai? Nếu vọng tưởng chấm dứt (như định nghĩa Trí Không Phân Biệt của Lý Hoàng Anh) tức là lậu hoặc đã hết, thì tại sao Trí Lậu Tận (dứt lậu hoặc) lại là quả vị thấp hơn Trí Vô Phân Biệt?

9. Truy Vấn Lý Minh Thuỳ (MĐ0180) - Về Chân Tâm và Hư Vọng Tâm

Lý Minh Thuỳ viết: "Chân tâm hay bổn tâm vốn bất động, không sinh diệt...chỉ khi chuyển đổi tận gốc những tính chất hư ảo mê muội của thức, để thức trở thành trí thì người tu hành mới có cơ may thấy bổn tâm, kiến bổn tánh...chỉ có chúng sanh tâm hay các thứ tâm hư vọng như buồn, vui thương ghét, tham lam, ganh ghét tật đố hiện khởi."

NGÃ HÀNH HỎI:

Nếu Chân Tâm (Bổn Tâm) là bất động, không sinh diệt và vốn không khởi, vậy thì cái gì đã "thấy" được cái Chân Tâm ấy khi "kiến bổn tánh"? Chân Tâm (Thể) không thấy Chân Tâm (Thể), vậy "cái thấy" (Kiến) này là do Trí (Dụng) nào phát khởi? Phải chăng đó là Trí Vô Phân Biệt (theo Lý Hoàng Anh)?

Nếu Chân Tâm "vốn bất động, không sinh diệt" thì nó có phải là đối tượng (cảnh) của cái thấy (Kiến Tánh) không? Nếu có, thì cái thấy này có phải là sự "tác ý" (như các pháp là đối tượng của ý căn theo Lý Hiền Long) hay không? Nếu không phải tác ý, vậy cơ chế của "trực nhận" (theo Lý Phương Anh) là gì?

10. Truy Vấn Lý Thu Thuỷ (MĐ0665) - Về Niết Bàn A-la-hán và Bồ Tát

Lý Thu Thuỷ nói: "Niết bàn A La Hán và Bồ Tát là sự thanh tịnh, bất động giải thoát, về cơ bản là giống nhau. Chỉ có thấy biết là khác nhau...Bồ Tát không ở yên trong Niết bàn mà tiếp tục trở lại thế gian độ tha."

NGÃ HÀNH HỎI:

Lý Phương Anh chốt lại: "Niết Bàn của ba thừa giống nhau về Thể nhưng khác nhau về Trí và Dụng." Nếu Niết Bàn A-la-hán và Bồ Tát giống nhau về Thể (Thanh tịnh, Giải thoát), thì thấy biết khác nhau (Trí) và hành động khác nhau (Dụng) là do đâu mà có?

A-la-hán nhập Niết Bàn (Vô Dư Y Niết Bàn) thì Tàng Thức không còn sinh khởi, không còn tái sinh. Bồ Tát nhập Niết Bàn (Vô Trụ Xứ Niết Bàn) thì vẫn thị hiện sinh tử để độ chúng sinh. Thể Niết Bàn của A-la-hán là sự Diệt Tận hoàn toàn (theo Tứ Đế), còn Thể Niết Bàn của Bồ Tát là sự Thường Trụ (theo Đại Thừa). Hai sự thật này về Thể (bản chất) có thật sự "giống nhau về Thể" không? Nếu giống, xin giải thích rõ sự tương đồng ấy.

11. Truy Vấn Lý Minh Tuân (MB1349) - Về Thất Đại

Lý Minh Tuân tóm tắt: Ngũ Đại nói về Sắc (thân) (vô tri). Thất Đại nói về Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức (hữu tình có tri và có giác).

NGÃ HÀNH HỎI:

Kinh Lăng Nghiêm đề cập Thất Đại để chứng minh vạn pháp đều là Thể Như Lai Tạng, nhằm mục đích quy tất cả về một Bản Thể Thường Trụ. Nếu chỉ đơn thuần là giải thích cấu tạo của hữu tình (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức), thì việc này không khác gì cách giải thích của Pháp Tướng Tông hay các Luận sư Nguyên Thủy về danh-sắc (nāma-rūpa), vậy dụng ý của việc gán cho Kiến và Thức cái tên "Đại" (Mahā-bhūta - đại chủng) là gì?

Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không được gọi là Đại vì chúng có khả năng "chứa nhóm, giữ gìn" (Địa), "ẩm ướt, gom lại" (Thủy), "làm nóng, chín" (Hỏa), "di chuyển, nâng đỡ" (Phong). Vậy, Kiến Đại (thấy biết) và Thức Đại (ý thức) có những khả năng (nghĩa) đặc biệt gì mà được gọi là Đại Chủng (Đại) để xếp ngang hàng với Ngũ Đại?

Truy Vấn Riêng Lý Phương Anh (MB424)

12. Truy Vấn Về So Sánh Tứ Pháp Ấn và Như Lai Tạng (Câu 1)

Lý Phương Anh kết luận: "Giữa Như Lai Tạng của Phật và Tứ Pháp Ấn của Nhị thừa là hai cảnh giới hoàn toàn khác nhau, cách biệt đến vô lượng, nên không thể so sánh rằng: Hai thứ ấy (hai cảnh giới ấy) là đồng hay dị, là thuận hay nghịch."

NGÃ HÀNH HỎI:

Luận điểm này có nguy cơ rơi vào phủ nhận tính phổ quát của giáo pháp. Nếu Tứ Pháp Ấn (Vô thường, Vô ngã) chỉ là chân lý của Nhị thừa và cảnh giới thế gian, không áp dụng cho cảnh giới Phật (Như Lai Tạng), thì làm sao lý giải được việc Đức Phật A-di-đà vẫn được mô tả là Pháp Thân thường trụ nhưng vẫn đang vận hành giáo hóa (không phải là hư vô tĩnh lặng tuyệt đối)?

Xin hỏi, Phật Thân của chư Phật có bị chi phối bởi Tứ Pháp Ấn không? Nếu Pháp Thân (Đồng nhất với Như Lai Tạng) không bị chi phối (nghĩa là thường, lạc, ngã, tịnh), thì Báo Thân và Ứng Hóa Thân của chư Phật có còn là vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh không? Mối quan hệ giữa thường (Như Lai Tạng) và vô thường (Phật Thân Hóa Hiện) được Lý Gia giải thích như thế nào?

13. Truy Vấn Về Cơ Chế "Chuyển" và Ví Dụ Đèn Có Quầng (Câu 2)

Lý Phương Anh ví việc "Chuyển A-lại-da thành Đại Viên Cảnh Trí" giống như "làm cho mắt hết nhặm" để thấy bản chất đèn vốn không có quầng.

NGÃ HÀNH HỎI:

Nếu việc chuyển chỉ là "làm cho mắt hết nhặm" (tâm hết mê), thì đó là sự thay đổi ở chủ thể nhận thức (hành giả) chứ không phải thay đổi ở đối tượng nhận thức (A-lại-da Thức). Tuy nhiên, A-lại-da Thức lại được coi là căn bản của sinh tử (là kho chứa nghiệp lực).

Xin giải thích: Tác dụng nào đã khiến cho những hạt giống nghiệp lực (chủng tử hữu lậu) trong kho A-lại-da Thức bị tiêu diệt hoặc chuyển hóa thành vô lậu chủng tử ngay khi "mắt hết nhặm"? Nếu việc chuyển không thật sự xảy ra ở bản thể Tàng Thức, thì nghiệp lực cũ có còn khả năng trồi lên sau khi hành giả "ngủ quên" (lại bị nhặm mắt) không?

14. Truy Vấn Về Thứ Tự Ba Trí (Câu 3)

Lý Phương Anh sắp xếp Ba Trí theo thứ tự: Trí Như Lí (Hữu học); Trí Lậu Tận (Vô Lậu/A-la-hán); Trí Vô Phân Biệt (Vô Học/Phật).

NGÃ HÀNH HỎI:

Theo Kinh Lăng Già (nơi Lý Phương Anh dẫn chứng), Trí Lậu Tận (dứt phiền não) và Trí Bất Tư Nghị Biến Dị (thần thông Bồ Tát) đều là kết quả của "Chuyển Y". Việc chuyển y này được khởi đầu bằng Trí Không Phân Biệt (Vô Phân Biệt Trí) để thấy chân tánh.

Xin hỏi: Tại sao Lý Gia lại xếp Trí Vô Phân Biệt là cảnh giới cao nhất (Vô Học) sau cả Trí Lậu Tận (Vô Lậu)? Nếu đã thành tựu Trí Lậu Tận (dứt hết phiền não thô trọng), thì cái gì còn lại để phải thành tựu thêm mới đạt được Trí Vô Phân Biệt? Liệu sự sắp xếp này có đang đánh đồng Trí Lậu Tận với A-la-hán (người còn sở tri chướng vi tế) và Trí Vô Phân Biệt với Phật (người đã đoạn cả sở tri chướng) không?

15. Truy Vấn Về Kiến Tánh và Giữ Giới (Câu 6)

Lý Phương Anh nói: Kiến Tánh là sự "hoát nhiên trực nhận" Bổn Tánh, "không bị chi phối bởi việc giữ giới hay phá giới". Sau đó cô ấy đưa ra ví dụ: "Đạo tặc và người tu cùng hoát nhiên nhìn thấy ánh trăng".

NGÃ HÀNH HỎI:

Tôi đồng ý Phật Tánh là bình đẳng (ánh trăng không sai khác), nhưng "Kiến Tánh" (thấy được cái Tánh ấy) có đồng nghĩa với việc "Kiến Tánh Thành Phật" (lợi dụng cái thấy ấy để chuyển hóa nghiệp)?

Một tên đạo tặc (người mang nghiệp sát, đạo) có thể hoát nhiên kiến tánh, nhưng liệu nghiệp lực từ hành vi trộm cắp, sát sinh của anh ta có tự động tiêu tan ngay tại thời điểm "thấy ánh trăng" không? Nếu không, thì điều gì sẽ xảy ra: Người đã Kiến Tánh nhưng chưa dứt hết lậu hoặc (theo Lý Phương Anh), nếu vẫn tiếp tục hành vi Sát, Đạo, Dâm, Vọng, có bị đọa lạc như Kinh Lăng Nghiêm cảnh báo không? Hay là Giới Vô Lậu đã tự động bảo vệ anh ta dù hành vi vẫn còn sai phạm?

Tôi cũng cần nói thẳng đôi điều với HĐ Lý Phương Anh. Về kết cấu, cách tóm tắt, gom ý, và sự nhất quán trong lập trường giáo pháp, Phương Anh viết rất tốt. Nhưng một số câu trả lời chọn giải pháp an toàn quá mức: Tách cảnh giới Nhị Thừa – Phật Thừa để né trả lời trực diện; dùng ẩn dụ thay cho luận lý; và chưa xử lý đến tận gốc mâu thuẫn của hai trục lớn: Như Lai Tạng và Chuyển Y. Tôi tán thán danh hiệu “Lý Nữ Phương Danh”, nhưng mong Phương Anh dám đi xa hơn nữa: Đến nơi mà lập luận bị căng ra, nơi buộc ta phải hoặc phá bỏ tiền giả định, hoặc tái cấu trúc hệ thống khái niệm.

Kết lại,

Kính thưa Thầy Lý Tứ và chư Huynh Đệ Lý Gia, nếu những dòng trên có vẻ gay gắt, xin hiểu rằng đó là sự gay gắt của người đã đi quá lâu trong sương mù, nay lần đầu thấy một đoàn người đi đúng hướng, nên bằng mọi giá muốn đoàn ấy đi xa hơn, sáng hơn, và vững chắc hơn. Tôi không đặt mình ở vị trí “chấm điểm” Lý Gia; tôi chỉ xin giữ vị trí của người đặt những câu hỏi khó, để người đi trên đường Trí Tuệ có cơ hội hiển lộ thực lực của chính mình.

Nếu trong những nhận định này có chỗ sai lầm hay khập khiễng với tinh thần giáo pháp của Đức Thế Tôn, tôi xin sẵn sàng được chỉ ra, phản biện ngược lại, thậm chí giải cấu trúc toàn bộ nhận thức của chính mình. Chỉ cần một điều: Chánh pháp được sáng hơn, người học đạo bớt mê hơn, và tất cả chúng ta tiến gần hơn đến chỗ tri kiến như thật.

Cảm ơn HĐ Lý Gia đã giúp tôi mở mắt sau 25 năm - thoát khỏi Hắc Lao - Cô Sơn Mai Trang dưới đáy Tây Hồ!

Hắc Mộc Nhai, 22-11-2025 - 15:15:25

Ngã Hành kính thư.

Tái bút:

Vương Trùng Dương đứng đầu Ngũ Tuyệt, nhưng nhìn sang Toàn Chân Thất Tử, giang hồ chỉ biết thở dài. Trương Tam Phong dựng cả một Thái Sơn võ học, vậy mà Võ Đang Thất Hiệp vẫn không đủ sức kế thừa bóng dáng của Thầy mình…

Tôi viết điều này không để ví ai với ai, mà để thưa rằng: Mong những cảnh tượng ấy đừng lặp lại ở Lý Gia. Chân truyền chỉ thật sự sống khi học trò kế thừa và phát huy sở học của thầy, chứ không chỉ nhắc lại lời thầy trong cảm giác an toàn." (Hết thư)

Chúc bạn đọc và bằng hữu Ngã Hành an vui, tinh tấn...!!!

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

22/11/2025

LÝ TỨ

Bài viết Lý Tứ

(82) CHUYỆN BÊN LỀ VIẾT TIẾP CÂU CHUYỆN HẠNH PHÚC TÌM Ở ĐÂU?

Quản trị viên 12.09.2020

Trên đời này, chỉ có nơi nào không có giáo pháp của Cù Đàm, nơi nào không có đệ tử của Cù Đàm giác ngộ !!! Nhất định ở đó, là nơi cất giấu hạnh phúc mà loài người vĩnh viễn không thể tìm thấy !!!

Các bạn !!!

Chiều nay đọc được câu chuyện hay có tên HẠNH PHÚC TÌM Ở ĐÂU do Ong Lững Mật đăng trên trang cá nhân !!! Đây đúng là câu chuyện hay, không muốn nói là rất hay và thấm thía !!!

Nhưng, sau khi đọc xong phần hiến kế của bọn yêu tinh... Mình cảm thấy tiếc tiếc cho câu chuyện !!! Thế là Lão Lý cao hứng muốn viết tiếp phần 2 để hiến kế giúp bọn yêu tinh tìm ra chỗ giấu hạnh phúc mà nhất định con người vĩnh viễn sẽ không tìm thấy !!!

Mình tạm đặt câu chuyện thành hai phần !!!

Phần I: Câu chuyện gốc !!!

Phần II: Do Lão Lý thêm vào !!!

11/09/2020

LÝ TỨ

HẠNH PHÚC TÌM Ở ĐÂU

Phần I: (Câu chuyện gốc)

Ngày xưa, có lần “tập đoàn” yêu tinh họp nhau lại để lên kế hoạch làm hại con người.

Một yêu tinh nói:

- Chúng ta nên giấu một thứ gì đó quý giá của con người, nhưng giấu cái gì bây giờ?

Sau khi suy nghĩ, một yêu tinh nói:

- Biết rồi, hãy lấy đi hạnh phúc của họ, họ sẽ ngày đêm phải khổ sở, u uất. Nhưng vấn đề là giấu nó ở đâu bây giờ? Phải giấu ở nơi nào mà họ không tìm được!

Một yêu tinh cho ý kiến:

- Thử quẳng nó lên đỉnh một ngọn núi cao nhất của thế giới xem!

Nhưng ý kiến đó bị phản đối ngay:

- Không được! Con người rất khỏe mạnh, chuyện leo núi có nhằm nhò gì đâu.

Một yêu tinh khác lại có ý tưởng:

- Vậy ta giấu nó xuống vực biển sâu nhất nhé?

Các yêu tinh lại đồng loạt phản đối:

- Không, con người rất tò mò. Họ sẽ tạo ra những chiếc tàu hiện đại để xuống tận đáy biển. Rồi tất cả mọi người cũng sẽ biết.

Một yêu tinh nhỏ tuổi đứng lên:

- Hay để nó ở một hành tinh khác?

Nhưng một yêu tinh lớn tuổi đáp:

- Không được, con người rất thông minh. Càng ngày họ càng thám hiểm nhiều hành tinh đấy thôi.

Bầy yêu tinh lại im lặng suy nghĩ. Chợt một yêu tinh già lụ khụ đưa ra ý kiến:

- Tôi biết ta nên giấu hạnh phúc ở đâu rồi! Hãy giấu nó ở chính bên trong con người. Đa số con người đều luôn cố gắng lùng sục hạnh phúc ở khắp mọi nơi và bao giờ cũng thấy người khác hạnh phúc hơn mình. Bản thân họ thì chẳng bao giờ tự tìm hiểu chính mình. Giấu ở đó thì con người chẳng bao giờ tìm thấy đâu!

Tất cả yêu tinh đều nhất trí với giải pháp này. Và kể từ đó, rất nhiều người mải mê đi tìm hạnh phúc mà không biết nó đã tồn tại ngay trong tâm hồn mình!

(Sưu tầm) !!!

Phần II: (Lão Lý viết thêm)

Cả bọn yêu tinh đang hò reo, tán dương diệu kế của yêu tinh già...Bất chợt tên yêu tinh trưởng lão từ bên ngoài bước vào, lên tiếng:

- Chuyện gì mà các người ồn ào như cái chợ thế ???

Một con yêu tinh có bộ dáng thông thái trong đám yêu tinh kể lại toàn bộ sự việc !!! Tên yêu tinh trưởng lão lên tiếng !!!

- Các người chỉ biết một mà không biết hai !!! Cái được gọi là diệu kế của các ngươi, chỉ có thể gạt được bọn phàm phu tục tử, chứ làm gì có thể gạt được bọn đệ tử của Cù Đàm !!! Ta biết, từ ngày Cù Đàm xuất hiện trên thế gian, đưa ra học thuyết ba thừa...Bọn ba thừa không chạy ra bên ngoài, chỉ quay vào bên trong lùng sục tu hành !!! Vì thế, cái kế giấu hạnh phúc bên trong con người của các ngươi chẳng khác chi “lạy ông tôi ở bụi này”, kế này không hoàn hảo !!!

Cả bọn yêu tinh lại nhốn nháo !!!

- Trưởng lão có cao kiến gì không ???

Yêu tinh trưởng lão cất giọng ôn tồn !!!

- Cao kiến thì không !!! Nhưng ta có một kế mọn, nếu làm theo nhất định bọn đệ tử Cù Đàm cho dù có chứng thánh cũng bó tay !!! Kế mọn là thế này !!! Con người thường tâm đắc với câu nói: “Nơi nguy hiểm nhất là nơi an toàn nhất” !!! Theo ta, bây giờ chúng ta sử dụng chiêu “gậy ông đập lưng ông”, tức chúng ta giấu hạnh phúc của loài người nơi khổ đau nhất, nhất định con người sẽ chẳng bao giờ nghĩ đến, vì thế chúng sẽ không tìm ra !!!

Tất cả yêu tinh đều nhất trí với giải pháp này !!! Một lần nữa, chúng tán dương diệu kế của yêu tinh trưởng lão !!!

Thình lình, con yêu tinh giáo chủ đi công chuyện về tới !!! Nó cũng hỏi đám yêu tinh như những gì con yêu tinh trưởng lão đã hỏi trước đó !!! Và cũng được một con yêu tinh dáng vẻ thông thái kể lại toàn bộ câu chuyện !!!

Con yêu tinh giáo chủ cất tiếng !!!

- Kiến văn của các ngươi quả là quá tầm thường !!! Các ngươi không biết, đệ tử Cù Đàm đâu chỉ có ba thừa mà bọn chúng có thêm nhất thừa !!! Bọn này trí tuệ siêu việt, với phương châm “phiền não tức bồ đề, đau khổ tức niết bàn” !!! Cái được gọi là diệu kế của các ngươi chỉ làm trò cười cho bọn nhất thừa !!! Kế này không được !!! Quyết chắc thất bại !!!

Bọn yêu tinh lại nhốn nháo !!!

- Giáo chủ thần thông quảng đại !!! Xin giáo chủ chỉ cho chúng đệ tử cách giấu hạnh phúc mà con người vĩnh viễn không tìm thấy !!!

Tên yêu tinh giáo chủ khoát tay ra dấu cho bọn yêu tinh im lặng, rồi dõng dạc nói !!!

- Chỉ có một nơi giấu hạnh phúc, vĩnh viễn con người không thể tìm ra !!! Các ngươi biết nơi đó là ở đâu không ???

- Cả bọn im lặng !!!

Tên giáo chủ yêu tinh ra vẻ trịnh trọng, rồi cất tiếng với giọng đầy quả quyết !!!

- Theo ta !!! Trên đời này, chỉ có nơi nào không có giáo pháp của Cù Đàm, nơi nào không có đệ tử của Cù Đàm giác ngộ !!! Nhất định ở đó, là nơi cất giấu hạnh phúc mà loài người vĩnh viễn không thể tìm thấy !!!

Cả bọn yêu tinh mở cờ trong bụng, chúng lại hò reo !!!

- Giáo chủ hai muôn năm !!!

- Giáo chủ ba muôn năm !!!

- Giáo chủ bốn muôn năm !!!

- Con người chỉ biết có...muôn...năm !!!

Viết xong: 00 giờ 30 phút 12/09/2020

TẶNG HĐ LÝ GIA

LÝ TỨ

 

Viết Tiếp Câu Chuyện Hạnh Phúc Tìm Ở Đâu?

Viết Tiếp Câu Chuyện Hạnh Phúc Tìm Ở Đâu?

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời Số 68.2025 với chủ đề: HĐ Lý Gia Trả Lời Phản Biện Bạn Đọc Ngã Hành (1) !!!

Quản trị viên 19.06.2026

Các bạn !!!

Hôm nay, mình nhận được một bài thơ (không đề tựa) của bạn đọc có Pháp danh Tần Mục ở Hà Nội...Và, trả lời của Lý Thái Đăng, Lý Hiền Long và Lý Thu Thuỷ về các phản biện của bằng hữu Ngã Hành...!!!

Lẽ ra, đợi đến hết kì hạn là 15:00 ngày 25/11/2025 sẽ tổng kết rồi gởi đi một lượt...Nhưng, sau khi đọc trả lời của HĐ, mình thấy các câu trả lời rất dài, nếu tổng hợp và đăng vào một kì chuyên mục, sẽ vượt quá dung lượng cho phép một bài đăng của facebook...Cũng như, một lần phải đọc đến 15 câu trả lời, người đọc rất khó có thể phân tích, đánh giá cụ thể từng trả lời, dẫn đến rối rắm...!!!

Cho nên, mình quyết định...Sau khi nhận được một số trả lời nào đó, xét thấy đủ dung lượng cho một kì, mình sẽ gom các trả lời đó đăng lên...Làm như thế, bằng hữu Ngã Hành cùng bạn đọc có thời gian, thư thả để đọc phân tích, đánh giá...vv...từng trả lời một...!!!

Sau khi đưa ra thời hạn chót để các HĐ gởi trả lời về mình là 20:00 ngày 25/11/2025 trên chuyên mục kì 67/2025...Sáng nay, mình mới trực nhớ 20:00 ngày Thứ Ba, 25/11/2025 trùng với buổi sinh hoạt định kì Vô Đối Môn của Lý Gia...Cho nên, buộc phải dời hạn chót gởi trả lời vào lúc 15:00 (thay vì 20:00)...Mong các bạn thông cảm...!!!

Trong mỗi chuyên kì mục đăng trả lời của HĐ Lý Gia, phần chủ đề mình sẽ để tên "HĐ LÝ GIA TRẢ LỜI PHẢN BIỆN BẠN ĐỌC NGÃ HÀNH (1)" !!! Các kì chỉ khác nhau ở con số trong ngoặc đơn (..)...Ví dụ: (1); (2);....!!! Để tránh nhầm lẫn...!!!

Sau đây là bài thơ của bạn đọc Tần Mục ở Hà Nội và trả lời của Lý Thái Đăng, Lý Hiền Long và Lý Thu Thuỷ...!!!

1- THƠ TẦN MỤC

Tây Hồ lạnh, hai mươi lăm năm

Hắc lao sâu, một bóng lầm than

Thư Lý Gia, cửa ngục bỗng mở

Xiềng rơi xuống, gió thoảng ngát hương

Thầy hoá khách, áo vải thâm trầm

Không quở mắng, chỉ mỉm cười thầm

“Ta từng khổ, ba mươi năm ngục

Đêm trăng sáng, tự phá tan xiềng”

Mười lăm kiếm, Ngã Hành vung tới

Sắc lạnh lùng, gió rít đêm đen

Thầy chẳng đỡ, chỉ đưa vào lò

“Rèn đi con, lửa hãy còn nguyên”

Từ bi ấy, không lời hoa mỹ

Chỉ một thoáng, địch đã thành thân

Người phản biện, thành người hộ pháp

Ngọn lửa cũ, bỗng cháy ngàn lần

Lý Gia ơi, đứng lên đáp kiếm

Mài lưỡi gươm, sáng thêm chánh pháp

Ngã Hành ơi, xin nhận ngọn đèn

Thầy trao rồi, chớ để đêm tàn

Một que củi, ta nguyện cháy hết

Cho Tây Hồ, hoa nở ngút ngàn.

23/11/2025 - 0:00:04 - Pháp Danh Tần Mục - Hà Nội"

2- TRẢ LỜI CỦA LÝ THÁI ĐĂNG:

"Con Xin trả lời truy vấn:

Kính thưa Thầy !!!

Con xin trả lời truy vấn của độc giả Ngã Hành:

“1. Truy Vấn Lý Thái Đăng (TN0147) - Về A-lại-da và Chân Tâm

Lý Thái Đăng ví: "A-lại-da thức ví như đám mây. Chân Tâm ví như mặt trời. Đám 'Mây hư vọng' không còn thì trời lại sáng, hết mưa thì nắng hửng lên thôi!!!"

NGÃ HÀNH HỎI:

Nếu Chân Tâm ví như Mặt Trời (luôn sáng, thường trụ) và A-lại-da ví như Đám Mây (che khuất), thì theo logic này, khi Mây (A-lại-da) tan biến, Mặt Trời (Chân Tâm) sẽ tự hiển lộ. Vậy, lý thuyết "Chuyển y A-lại-da thành Đại Viên Cảnh Trí" (chuyển một cái gì đó sang một cái khác) trong Duy Thức tông có vẻ dư thừa và không cần thiết chăng?

Mặt Trời có "chuyển" thành Trí tuệ gì không? Nếu không, tại sao lại dùng danh từ "Đại Viên Cảnh TRÍ" thay vì chỉ nói "Chân Tâm hiển lộ"? Sự khác biệt cốt lõi giữa "Trí" và "Tâm" (trong ngữ cảnh Duy Thức) nằm ở đâu mà phải dùng đến thuật ngữ "chuyển" phức tạp như vậy?”

Trả lời:

Theo thống kê của AI: “Chuyển Thức Thành Trí” (將識成智 / 轉識成智) là giáo lý đặc trưng của Du-già – Duy Thức tông (Yogācāra), được trình bày trong nhiều kinh – luận, nhưng không nằm trọn trong một bài kinh duy nhất. Tuy nhiên, có những kinh quan trọng nêu rõ giáo lý này:

Kinh Giải Thâm Mật (Saṃdhinirmocana Sūtra – 解深密經)

Đây là nguồn kinh điển quan trọng nhất trình bày về:

• 8 thức

• Tam tánh (biến kế – y tha – viên thành)

• Chuyển y (āśraya-parāvṛtti) – tức sự chuyển hóa căn bản, nền tảng của “chuyển thức thành trí”.

Kinh mô tả rất rõ quá trình:

• A-lại-da thức được chuyển thành Đại Viên Cảnh Trí

• Mạt-na được chuyển thành Bình Đẳng Tính Trí

• Ý thức chuyển thành Diệu Quan Sát Trí

• Tiền ngũ thức chuyển thành Thành Sở Tác Trí

Nền tảng lý luận về “chuyển thức thành trí” xuất phát từ kinh này…”

Độc giả Ngã Hành truy vấn Thái Đăng, nhưng câu trả lời đã có tại bài viết của ST Lý Phương Anh (câu 2):

“1. Cần hiểu:

- Chuyển A lại da thành Đại Viên Cảnh Trí là chuyển thức mê (trói buộc, u tối) thành thức giác (giải thoát, minh liễu)...Tức chuyển cảnh giới của tâm thức từ mê sang giác chứ không chuyển tri thức.

- Chân tâm bản chất không sanh diệt. Nhưng khi mê, hư vọng pháp vọng khởi, tâm thức lập tức sanh diệt.

2. Xét:

Ví dụ kinh điển đã được nêu trong Kinh: Giống như bản chất đèn không có quầng, nhưng khi mắt nhặm lập tức thấy đèn có quầng....

3. Kết luận:

Chuyển ở đây, chính là việc làm cho mắt hết nhặm, chứ không phải chuyển để đèn từ có quầng trở thành không quầng.

Chuyển này là sự thật, nhưng sự thật này chỉ xảy ra đối với những người giác ngộ.” (Lý Phương Anh).

Xin tán thán ST Phương Anh có câu kết rất chân lý “Chuyển này là sự thật, nhưng sự thật này chỉ xảy ra đối với những người giác ngộ.” !!!

Dưới góc nhìn của Thái Đăng, bài viết của Thầy Lý Tứ trích dẫn những câu trả lời của học trò và bài viết của ST Lý Phương Anh đã hoạ nên một bức tranh cảnh giới về tâm thanh tịnh trí bát nhã, có thể ví mỗi câu trả lời (được Thầy Lý Tứ trích dẫn) là một chìa khoá. Ai nắm được chìa khoá đúng lúc và tra ngay vào ổ khoá thì nhà Như Lai mở toang !!!

Tây nguyên 23/11/2025

Học trò Lý Thái Đăng"

3- TRẢ LỜI CỦA LÝ HIỀN LONG:

"Con thưa thầy, con là Lý Hiền Long, MĐ863, được sự cho phép của Thầy, con xin phép trả lời bạn đọc Ngã Hành về câu truy vấn bạn đọc gởi đến chuyên mục BẠN ĐỌC HỎI - LÝ TỨ TRẢ LỜI - 67/2025 !!!

Xin chào bạn đọc Ngã Hành,

Tôi là Lý Hiền Long, rất hoan hỷ nhận được câu truy vấn của bạn đọc gởi đến chuyên mục. Tin rằng với tinh thần cầu thị, những câu hỏi của bạn đọc không chỉ giúp chúng tôi có cơ hội cọ sát thêm với các loại câu hỏi khác nhau của người cầu học Phật đạo, mà biết đâu có thể giúp bạn đọc nhận ra được điều gì đó vượt ra ngoài văn tự ngữ ngôn thường tình.

Câu hỏi Truy Vấn Lý Hiền Long (MĐ863) - Về Danh Xưng Tàng Thức

Lý Hiền Long phân loại: Phàm phu vô văn có Hàm Tàng Thức (chứa đựng tri thức, cảm xúc, đánh giá). Vị thành tựu Diệt đế có Bạch Tạng Thức (thuần lưu trữ tri thức, tịch diệt cảm xúc, đánh giá). Vị viên mãn trí tuệ có Như Lai Tạng (kho tàng lưu trữ kiến thức, tri thức dùng làm phương tiện thiện xảo).

NGÃ HÀNH HỎI:

Các danh xưng Hàm Tàng Thức, Bạch Tạng Thức, Như Lai Tạng này có phải là thuật ngữ chính thống được tìm thấy trong các bộ kinh luận chính yếu của Duy Thức và Đại Thừa (như Duy Thức Tam Thập Tụng, Thành Duy Thức Luận, Lăng Già Kinh, Pháp Hoa Kinh) không?

Đặc biệt, "Bạch Tạng Thức" được định nghĩa là trạng thái sau khi thành tựu Diệt Đế và thấy được bổn tâm, bổn tánh. Diệt Đế là quả vị A-la-hán, một vị đã sạch lậu hoặc, nhưng chưa phải là "viên mãn trí tuệ" (Phật). Vậy, "Bạch Tạng Thức" có phải là Thức thứ Tám của A-la-hán không? Nếu là Thức thứ Tám của A-la-hán, tại sao nó lại chỉ thuần lưu trữ kiến thức, tri thức mà không còn vai trò "tổng báo" (duy trì thân mạng) và "năng tàng" (chứa nghiệp chủng tử) nữa? Vai trò đó đã được chuyển cho ai?

Trả lời:

Trước khi trả lời bạn đọc, tôi xin chân thành cáo lỗi cùng bạn đọc vì không dò lỗi đánh máy, nên đã viết nhầm Bạch Tịnh thức thành Bạch Tạng Thức. Bạch Tịnh Thức mang ý nghĩa như tôi đã viết ở lần trả lời trước: Là một nơi thuần thanh tịnh (Tịnh), trắng bạch (Bạch), chỉ lưu trữ tri thức, hoàn toàn tịch diệt cảm xúc và các đánh giá đúng sai, tốt xấu. Nếu bạn đọc là người đã thực chứng ý nghĩa của Bạch Tịnh Thức, thì tôi tin rằng cho dù tôi viết nhầm thành Bạch Tạng Thức, bạn đọc vẫn sẽ hoan hỷ, hiểu được ý nghĩa và sẽ không bị kẹt mắc ở từ ngữ. Phật dạy y nghĩa bất y ngữ chính là như vậy.

Về ý thứ nhất trong câu hỏi: “Các danh xưng Hàm Tàng Thức, Bạch Tạng Thức, Như Lai Tạng này có phải là thuật ngữ chính thống được tìm thấy trong các bộ kinh luận chính yếu của Duy Thức và Đại Thừa (như Duy Thức Tam Thập Tụng, Thành Duy Thức Luận, Lăng Già Kinh, Pháp Hoa Kinh) không? Xin trả lời như sau:

• Như Lai Tạng (如來藏) là thuật ngữ CHÍNH THỐNG xuất hiện nhiều trong Kinh Lăng Già, Kinh Thắng Man.

• Bạch Tịnh Thức (白淨識), cũng gọi là Vô Cấu Thức (無垢識) là thuật ngữ CHÍNH THỐNG trong Duy Thức Tam Thập Tụng.

• Hàm Tàng Thức (含藏識) là thuật ngữ CHÍNH THỐNG - đây chính là một trong các dị danh của A Lại Da Thức, Tàng Thức. Thứ thứ tám này có nhiều dị danh khác nhau nhưng đồng chỉ một thứ. Trong Kinh Lăng Già là A Lại DaThức, Tàng Thức, trong Kinh Giải Thâm Mật là “A Đà Na Thức”.

Nói “Hàm Tàng Thức” là để giải thích rõ thêm về ý nghĩa 含 (hàm) là chứa đựng, bao hàm; 藏 (tàng) là nơi tàng trữ, là kho chứa; 識 (thức) là những nhận thức, kiến thức, tri thức. Vì A Lại Da có khả năng "hàm chứa tất cả chủng tử", nên có gọi nó là Hàm Tàng Thức thì cũng không sai ngữnghĩa so với định nghĩa về A Lại Da Thức trong Kinh Lăng Già, lại vừa giúp người học hiểu rõ về nghĩa chân thật của thức thứ tám này.

Tóm lại, cả ba thuật ngữ này đều là danh xưng chính thống được tìm thấy trong kinh điển và luận thư chính yếu của Duy Thức và Đại Thừa. Chúng không phải là thuật ngữ tự sáng tạo mà có căn cứ rõ ràng trong Tam Tạng.

Về ý thứ hai trong câu hỏi: “…Vậy, "Bạch Tạng Thức" có phải là Thức thứ Tám của A-la-hán không? Nếu là Thức thứ Tám của A-la-hán, tại sao nó lại chỉ thuần lưu trữ kiến thức, tri thức mà không còn vai trò "tổng báo" (duy trì thân mạng) và "năng tàng" (chứa nghiệp chủng tử) nữa? Vai trò đó đã được chuyển cho ai?” Xin trả lời như sau:

Bạch Tịnh thức là tên gọi khác của Tàng Thức, là thức thứ tám của một A-La-Hán sau khi đã được chuyển hóa, hoàn toàn tịch diệt lậu hoặc và tất cả những cảm xúc, đánh giá.

Tuy ta gọi tên nó là thức thứ tám, nhưng phải hiểu rằng mỗi hữu tình tựu trung cũng chỉ có một cái thức, chính là món thứ năm trong ngũ ấm: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Thức đảm nhận nhiều công việc khác nhau, tại mỗi thời điểm sẽ có một tên gọi khác như nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt na thức, a lại da thức. Khi hiểu được điều này, thì sẽ hiểu được Thức cũng đảm nhận công việc gìn giữ mạng căn và chủng tử nghiệp, khi rời thân nghiệp này Thức sẽ được thúc đẩy để tìm đến thân nghiệp sau. Với phàm phu chưa giác ngộ, chủng tử nghiệp thiện hay ác sẽ thúc đẩy thức tìm thân sau tương ứng với Nghiệp. Với một vị đã giác ngộ viên mãn Diệt đế, Thức chuyển thành Trí, Trí này sẽ thúc đẩy hữu tình tìm thân mới theo Nguyện.

Do đó, với một vị A-La-Hán, sau khi thành tựu họ tuyên bố một trong tứ thành tựu đó là “bất thọ hậu hữu”, nghĩa là các chủng tử nghiệp hình thành đời sống luân hồi trong ba cõi đã hoàn toàn tịch diệt, điều này không có nghĩa là tất cả các chủng tử như nghiệp thiện, chủng tánh anh lạc, … cũng hoàn toàn tịch diệt.

Để hiểu thêm, mời bạn đọc Ngã Hành tham khảo PHẨM NHẤT THIẾT PHẬT NGỮ TÂM - Quyển Hai, Kinh Lăng Già, đoạn Phật trả lời ngài Đại Huệ:

Phật bảo Đại Huệ: Ta nói ‘‘Như Lai Tạng’’, chẳng đồng với cái thuyết ‘‘Chơn Ngã” của ngoại đạo. Đại Huệ! Ta có lúc nói Không, vô Tướng, vô nguyện, Như thật tế, Pháp tánh, Pháp thân Niết Bàn, Lìa tự tánh, Bất sanh bất diệt, Bổn Lai tịch tịnh, Tự tánh Niết Bàn v.v... dùng những danh từ này để thuyết Như Lai Tạng xong, ấy là vì Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác muốn đoạn dứt sự e sợ danh từ vô ngã của phàm phu, nên nói cảnh giới lìa vọng tưởng, vô sở hữu là Như Lai Tạng.

Đại Huệ! Bậc Bồ Tát vị lai, hiện tại, chẳng nên sanh ngã kiến chấp trước. Ví như thợ gốm nơi một đống đất dùng phương tiện nhơn công, nước, cây, bánh xe quay để làm ra các món đồ gốm, thì Như Lai cũng như thế; ở nơi pháp vô ngã lìa tất cả tướng của vọng tưởng, dùng đủ thứ trí huệ, phương tiện khéo léo, hoặc thuyết Như Lai Tạng, hoặc thuyết vô ngã. Do nhân duyên này, nên cái thuyết Như Lai Tạng của ta chẳng đồng với cái thuyết chơn ngã của ngoại đạo. Vì khai mở cái trói chấp ngã của các ngoại đạo, nên có cái thuyết Như Lai Tạng, khiến họ lìa vọng tưởng ngã kiến chẳng thật, ngộ nhập cảnh giới ba cửa giải thoát, mong họ chóng được vô Thượng Bồ Đề."

4- TRẢ LỜI CỦA LÝ THU THUỶ:

"Kính gửi thầy!

Thân mến gửi bạn đọc Ngã Hành!

Con là Lý Thu Thuỷ, học trò thứ 665 của thầy, tại Miền Đông. Hôm nay độc giả Ngã Hành gửi truy vấn về câu trả lời của con. Con xin gửi lại phần trả lời thắc mắc của bạn đọc Ngã Hành bằng thái độ cầu thị, sự trân quý. Bởi với người học đạo, đây chính là cơ hội để học hỏi. Một cơ hội hiếm có trong cuộc đời người tu hành.

Sau đây, con xin trình bày phần thấy biết của mình:

Câu hỏi: Truy Vấn Lý Thu Thuỷ (MĐ0665) - Về Niết Bàn A- La - Hán và Bồ Tát:

Lý Thu Thuỷ nói: "Niết bàn A La Hán và Bồ Tát là sự thanh tịnh, bất động giải thoát, về cơ bản là giống nhau. Chỉ có thấy biết là khác nhau ... Bồ Tát không ở yên trong Niết bàn mà tiếp tục trở lại thế gian độ tha."

NGÃ HÀNH HỎI:

Lý Phương Anh chốt lại: "Niết Bàn của ba thừa giống nhau về Thể nhưng khác nhau về Trí và Dụng." Nếu Niết Bàn A- La- Hán và Bồ Tát giống nhau về Thể (Thanh tịnh, Giải thoát), thì thấy biết khác nhau (Trí) và hành động khác nhau (Dụng) là do đâu mà có?

Con xin tách câu hỏi của bạn đọc Ngã Hành làm 2 câu:

Câu 1: Nếu Niết Bàn A-la-hán và Bồ Tát giống nhau về Thể (Thanh tịnh, Giải thoát), thì thấy biết khác nhau (Trí) và hành động khác nhau (Dụng) là do đâu mà có?

Trả lời:

Sự giống nhau Niết Bàn Ba Thừa (A La Hán, Bồ Tát): Thanh Tịnh, Bất Động, Giải Thoát.

Thấy biết (Trí) và Hành động (Dụng) khác nhau do nguyện khác nhau:

Vì A La Hán khi chứng niết bàn diệt đế đã đạt được ý nguyện: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm xong, không còn trở lui sinh hữu này nữa.” (kinh: Saṃyutta Nikāya – Tương Ưng Bộ). Tức là vị ấy không còn mong cầu điều gì thêm nữa.

Niết bàn của Bồ Tát: Dù cùng thể thanh tịnh, bất động, giải thoát nhưng phát nguyện của Bồ Tát khác với A La Hán, tiêu biểu là Tứ Hằng Thệ Nguyện (Kinh Pháp Hoa, Kinh Đại Niết Bàn, Kinh Hoa Nghiêm):

“Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ.”

Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.

Pháp môn vô lượng thệ nguyện học.

Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.”

Với phát nguyện trên, Bồ Tát không ở yên trong Niết bàn thanh tịnh, mà trở lại ba cõi để giáo hoá chúngsanh. Phát nguyện của Bồ Tát không dừng lại ở phần tựđộ mà phát tâm “độ tha” mãnh liệt đến độ hết vô biên chúng sanh”.

Tức là mục tiêu/phát nguyện khác nhau thì đích đến/kết quả đạt được khác nhau.

Ví dụ:

- Một người có phát nguyện chỉ cần học lấy bằng cử nhân để kiếm 1 nghề để tự nuôi thân là mãn nguyện rồi (đấy là A La Hán). Khi đỗ đại học, lấy được bằng cử nhân ra trường đi làm kỹ sư, nhà giáo là mãn nguyện rồi.

- Một người có tâm nguyện học lên thạc sĩ sư phạm, ra trường dạy nhiều người có được cái nghề nuôi thân để cuộc sống người ấy tốt hơn (đấy là Bồ Tát).

Câu 2: La- Hán nhập Niết Bàn (Vô Dư Y NiếtBàn) thì Tàng Thức không còn sinh khởi, khôngcòn tái sinh. Bồ Tát nhập Niết Bàn (Vô Trụ Xứ Niết Bàn) thì vẫn thị hiện sinh tử để độ chúngsinh. Thể Niết Bàn của A – La - Hán là sự Diệt Tận hoàn toàn (theo Tứ Đế), còn Thể Niết Bàn của Bồ Tát là sự Thường Trụ (theo Đại Thừa). Hai sự thật này về Thể (bản chất) có thật sự "giống nhau về Thể" không? Nếu giống, xin giải thích rõ sự tương đồng ấy.

Trả lời:

Thể - Trí – Dụng của Niết Bàn A – La – Hán và Thể Bồ Tát là thường trụ theo phân tích cụ thể sau:

Thể A La Hán: Thanh tịnh, giải thoát (Niết-bàn)

Trí A La Hán: Nhận biết phiền não đã đoạn tận

Dụng A La Hán: Tu tập, giáo hóa tùy duyên, mục tiêu giải thoát cá nhân.

Thể Bồ Tát: Thanh tịnh, giải thoát (Niết bàn)

Trí Bồ Tát: Biết vô lượng chúng sinh và pháp giới.

Dụng Bồ Tát: Hóa độ chúng sinh vô tận, tuỳ duyên hóa hiện, mục tiêu cứu khổ vô biên chúngsanh.

- Kinh nói Thể A La Hán và Bồ Tát giống nhau ở Thanh Tịnh – Giải Thoát: Phẩm Phổ Hiền.

- Kinh nói Trí A La Hán là kinh SaṃyuttaNikāya: Mô tả A-la-hán đã đoạn trừ lậu hoặc, thấy biết hết khổ, không còn trở lại sinh tử. Trí A-la-hán là trí vô lậu, trí giải thoát.

- Kinh nói Trí Bồ Tát: Kinh Duy Ma Cật có câu Phật dạy Duy Ma Cật: “Không trụ vô vi, không tânh hữu vi”

- Kinh nói về Dụng của Bồ Tát: Kinh Phổ Hiền thể hiện ở Bốn lời thệ nguyện của Bồ Tát.

- Kinh nói về Dụng của A La Hán là kinh Saṃyutta Nikāya: A-la-hán tu tập, giữ giới, thực hành thiền định, đạt Niết-bàn cá nhân. Nếu giáo hóa, chỉ tùy duyên, không như Bồ-tát hoá độ vô lượng chúng sinh. Mục tiêu cuối cùng của Dụng A-la-hán là giải thoát cá nhân, đoạn tận phiền não, sinh tử đã hết.

Kết Luận: Dựa vào sự phân tích trên, ta có thể nhìn thấy rõ sự giống nhau ở Thể, khác nhau ở Trí và Dụng rất rõ ràng." (Hết trả lời)

Chúc bằng hữu Ngã Hành và bạn đọc an vui, tinh tấn...!!!

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

23/11/2025

LÝ TỨ

Bài viết Lý Tứ

(03) KHAI TRƯƠNG LÝ SỰ ĐƯỜNG CHỦ ĐỀ: PHI HỮU PHI VÔ !!!

Quản trị viên 12.10.2020

(03) KHAI TRƯƠNG LÝ SỰ ĐƯỜNG  CHỦ ĐỀ: PHI HỮU PHI VÔ !!!

(03) KHAI TRƯƠNG LÝ SỰ ĐƯỜNG

CHỦ ĐỀ: PHI HỮU PHI VÔ !!!

Các bạn !!!

Từ hôm khai trương Lý Sự Đường đến nay, mình nhận được rất nhiều bài viết của HĐ !!!

Hôm sinh hoạt trực tuyến vừa rồi, nghe các bạn luận về nhất tâm và thời điểm nào người tu hành cần đến nhất tâm, phấn khởi quá, mình đột nhiên nhớ đến tạng A tỳ đàm !!!

Trong Phật đạo, ba tạng: Tu đa la tạng (Sutra Pitaka), Tỳ nại da tạng (Vinaya Pitaka), A tỳ đạt ma tạng (Abhidharma Pitaka)...được coi là ba pháp bảo làm nên sự rộng sâu và khuôn mẫu của giáo pháp !!! Trong đó A tỳ đàm hay A tỳ đạt ma là một trong những luận thư không thể thiếu !!! A tỳ đàm hay A tỳ đạt ma chính là Vô tỷ pháp, là Thắng pháp là (Vô) Đối pháp...là loại luận thư mà HĐ chúng ta đang hướng đến và đã làm rất tốt !!!

Chánh luận là loại luận xuất phát từ chánh kiến !!! Chánh kiến là cái thấy từ sự thành tựu như pháp !!! Có chánh kiến ắt có chánh luận !!! Nghe chánh luận biết có chánh pháp !!! Có chánh pháp tất có Thắng pháp, Vô tỷ pháp, Vô đối pháp !!! Giống như ở đâu có Sư Tử, ở đó có mười một công đức từ tiếng gầm rống của mãnh sư !!!

Ha ha ha ha !!! Lý Sự Đường khai trương, trống pháp nổi lên, báo hiệu ngọn gió Năng Diệt đang thổi qua ba cõi xua tan tà kiến cùng đại dịch khổ, phiền não, kiết sử, lậu hoặc và vô trí... !!!

Xin chuyển đến các bạn, bài viết của Đường Chủ Diệu Pháp Đường Lý Giác Tuyên !!!

12/10/2020

LÝ TỨ

Kính thầy!

Trong miền hân hoan an lạc vô cùng !!! Con thấy thật viên mãn khi được làm trò của thầy! Chính có thầy và bạn đạo đã dẫn con thoát khỏi bóng tối ngàn đời trong đêm dài vạn kiếp! Cho con lạy Phật và thầy 3 lạy ! Mong thầy mạnh khỏe, mạnh khỏe để thị hiện dài lâu dẫn dắt chúng con đến bến bờ trí tuệ!

Kính thầy! Trong mấy ngày này, khi thầy ra Hà Nội và chỉ dạy. Con đã thấy được nhiều điều sâu thẳm của đạo pháp, con thật sự an lạc rỗng rang tự tại.

Con thấu hiểu hơn ba câu kiến thức, tri kiến, trí tuệ! Đây là ba cấp độ thấy biết, ba cảnh giới khác nhau mà trước đó nó chỉ nằm trong kiến giải.

Kiến thức là tích lũy kinh nghiệm, học tập văn hóa, là đối đãi mang ý vị của trói buộc chấp ngã.

Tri kiến đích thực, chính là tánh giác, thứ thấy biết thật rõ ràng thanh tịnh đúng bản chất của nó là như vậy, làm tròn bổn phận của sáu căn thấy rõ các trần mà không mang mùi vị của pháp theo cùng.

Thấy biết của cảnh giới trí tuệ lại thật đặc biệt, thật khó để mô tả niềm hân hoan an lạc trong tâm con bây giờ khi bản thân được nếm một phần nhỏ của đạo trí tuệ!

Từ trao đổi với huynh đệ mà thành đương cơ để thầy chỉ dạy về hữu, phi hữu, rốt ráo không, phi vô và phi hữu phi vô. Con bây giờ mới hiểu được tại sao đại thừa không giảng giải, thầy thật từ bi, giảng giải thì chỉ làm người ta chấp văn tự, chỉ khi nào tư duy đến tận nguồn cơn mới thành được thứ của mình, mới là thâm nhập cảnh giới!!!

Con ngàn lần đội ơn thầy, thầy thật thiện xảo. Con có một thời gian dài thắc mắc trong lòng tại sao Phật nói hữu vô, phi hữu phi vô... đó là thứ mà con trăn trở. Có hỏi hỏi thầy, thầy cũng chỉ giải thích cho có!!!

Thầy thật từ bi! Bây giờ con biết tại sao khi chúng sinh còn đau khổ và nhiều kiết sử, phiền não lậu hoặc Phật lại thiện xảo mang phi hữu ra để nói, thì ra chúng sinh dính chặt ở hữu!

Sau khi rời cõi hữu, Phật lại tiếp tục nói rốt ráo vô. Tới được rốt ráo vô thì lại trụ ở chỗ an lành tự tại ở hai vô sanh. Đây cũng là lúc Phật lại nói phi vô để giúp người tu hành đến với con đường trí tuệ!!!

Rồi lại thăng tiến tiếp tới phi hữu phi vô! Đây mới là sự họat dụng của trí tuệ tự tại vô ngại ! Tuỳ bệnh mà cho thuốc. Cõi hữu có thuốc của cõi hữu, rốt ráo vô có thuốc của rốt ráo vô, cõi vô có thuốc của cõi vô....Ha ha ha ha !!! Thì ra bốn tiếng cười ha ha ha ha của thầy là như vậy! Như vậy! Nó trở thành thương hiệu của Lý Tứ, chỉ như vậy chứ không thể như kia được! Ha ha ha con rồi cũng cười như thầy vậy!!!

Thầy ah! Thầy trí tuệ, từ bi và thiện xảo quá!! Bây giờ con đã hiểu câu nói của thầy, thế nào là “trí dẫn đường cho đạo”! Con hiểu thật nghĩa của từ bi hỉ xả rồi thầy ah! Không tới diệt đế thì không thể có từ được! Không tới trí tuệ thì không tới bi được phải không thầy? Khi không giúp được người thì không thể hỷ được và không phi hữu phi vô thì không thể xả và xả cũng chẳng phải là xả phải không thầy!!! Đây mới là đẳng đẳng và ..!

Con kính thầy trụ thế dài lâu để chúng tiếp tục nương nhờ thần lực trên con đường vô thượng !!! Con xin kính lạy thầy vô vàn vì sự giáo dục của thầy!

P/s Đạo thâm u quá: “Không tu thì tất nhiên là không thấy đạo, mà bảo tu thì cũng không tới” !!!

Con kính trình thầy !

Những hiểu biết mới làm con an lạc quá thầy ah! Kính thầy và mong thầy chỉ dạy tiếp!!!

Con xin kính lễ thầy!

Con, Lý Giác Tuyên

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời Số 69.2025 với chủ đề: HĐ Lý Gia Trả Lời Phản Biện Bạn Đọc Ngã Hành (2) !!!

Quản trị viên 19.06.2026

1- TRẢ LỜI CỦA LÝ TỰ NHƯ:

“Kính thưa Thầy, thưa bạn đọc Ngã Hành,

Con là Lý Tự Như (MB1700). Nghe danh của mình được bạn đọc Ngã Hành xưng gọi đến ba lượt, trong lòng chẳng khác nào cảm được “ba đạo chân khí hùng hậu” từ một tuyệt thế cao thủ đã bôn tẩu giang hồ suốt hai mươi lăm năm mà chưa từng gặp kẻ bì kịp.

Nhờ hơn một năm qua, được Thầy Lý Tứ dốc lòng truyền thụ “Lý Gia Tâm Pháp”, hôm nay con xin được kết ấn vận khí, mượn chút bản lĩnh thô sơ của mình mà đứng ra thử vài chiêu. Chỉ mong không phụ kỳ vọng của Thầy và các Sư Huynh Sư Tỷ.

LUẬN VỀ "DO GIỚI SANH ĐỊNH" VÀ CƠ CHẾ TỰ ĐỘNG CỦA VÔ LẬU

(Lời đáp cho bạn đọc Ngã Hành – Lý Tự Như)

Bạn đọc Ngã Hành lại một lần nữa đưa ra một nghi vấn cực kỳ xác đáng, đụng chạm đến ranh giới mong manh giữa "Phương tiện" và "Cứu cánh" trong ngôn ngữ kinh điển. Câu hỏi đặt ra là: Nếu Tam Vô Lậu Học đồng thời, tại sao Kinh Lăng Nghiêm – bản kinh "trảm yêu chiếu quái" hàng đầu – lại vạch ra lộ trình nhân quả: "Nhiếp tâm là Giới. Do Giới sanh Định. Do Định phát Tuệ"? Và cơ chế nào khiến một người "khai Tuệ" lại "tự động" giữ Giới mà không cần gồng mình kìm nén?

Tự Như xin mượn đuốc tuệ của người xưa và tôn chỉ của Lý Gia để soi sáng chỗ "kẹt" này qua hai tầng nghĩa:

I. TUẦN TỰ LÀ LỜI DẠY CHO NGƯỜI "ĐANG ĐI" – ĐỒNG THỜI LÀ CẢNH GIỚI CỦA NGƯỜI "ĐÃ ĐẾN"

Trước hết, phải khẳng định: Kinh Lăng Nghiêm không sai, và quan điểm "đồng thời" cũng không trật. Mâu thuẫn chỉ nảy sinh khi ta lấy bản đồ của người đang leo núi (hữu lậu) để áp đặt vào cái nhìn của người đang đứng trên đỉnh núi (vô lậu).

1. Tại sao Kinh nói theo nhân quả (Do... Sanh...)?

Đức Phật thuyết Kinh Lăng Nghiêm cho ai? Cho A Nan - người đang bị nạn Ma Đăng Già, người còn đầy rẫy vọng tưởng. Với một chúng sinh đang trôi lăn trong sinh diệt, tâm ý lăng xăng, thì việc đầu tiên phải là "Nhiếp tâm" (Giới). Có nhiếp được tâm mới yên (Định), yên rồi mới sáng (Tuệ). Đây là lộ trình tu tập (Tu tướng). Nếu Phật bảo A Nan: "Ông cứ ngồi yên đó, Giới Định Tuệ có đủ rồi" thì A Nan làm sao hạ thủ công phu?

Vì thế, văn kinh phải lập trình tự để hành giả có chỗ bám víu mà leo lên. Đó là phương tiện thiện xảo của Như Lai.

2. Tại sao nói Vô Lậu là đồng thời?

Khi đã chạm đến "Tánh" (Bản thể vô lậu), thì không còn cái gì sanh ra cái gì nữa. Ví như ngọn đèn:

- Lúc chuẩn bị (Hữu lậu): Phải rót dầu (Giới), phải se tim (Định), rồi mới bật lửa (Tuệ). Có thứ lớp rõ ràng.

- Lúc đèn đã sáng (Vô lậu): Ánh sáng (Tuệ), Sức nóng (Định) và Thể của lửa (Giới) cùng tồn tại ngay một lúc. Không thể nói "lửa cháy rồi mới ra ánh sáng" hay "có ánh sáng rồi mới nóng". Ngay khi Lửa có mặt, cả ba đặc tính ấy cùng hiển lộ.

3. Vậy nên, lời kinh "Do Giới sanh Định" là nói về Công phu. Còn quan điểm "Đồng thời" là nói về Thành tựu. Người đã thấu suốt lý này thì không còn thấy mâu thuẫn giữa văn tự và thực tánh.

II. CƠ CHẾ: KHI TUỆ KHAI MỞ, GIỚI TỰ THÀNH TỰU BẰNG CÁCH NÀO?

Đây là chỗ bạn đọc Ngã Hành truy vấn rất gắt gao: "Liệu Tuệ mở rồi thì có phạm 4 trọng giới (Sát, Đạo, Dâm, Vọng) nữa không?".

Tự Như xin trả lời dứt khoát: Khi Tuệ Vô Lậu thực sự khai mở, hành giả vĩnh viễn không phạm 4 trọng giới này từ gốc rễ.

Tại sao gọi là "Tự thành"? Không phải là vị ấy buông thả mà không phạm, mà là cái Nhân để phạm tội đã bị Tuệ giác thiêu rụi.

Hãy phân tích cơ chế "Tuệ soi chiếu Giới" cụ thể qua Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối:

1. Về Sát Sinh: Người thường giữ giới Sát bằng cách đè nén cơn giận. Người có Tuệ vô lậu thấy rõ: "Ta và chúng sinh đồng một thể tánh". Chặt tay người cũng là đau tay mình. Cái tâm "Sân" và "Phân biệt ngã - nhân" đã bị Tuệ giác soi thủng là hư vọng. Khi không còn Sân và Ngã, động lực nào để cầm dao giết hại? Giới Sát tự thành mà không cần cố gắng.

2. Về Trộm Cắp: Người thường không trộm vì sợ tù tội, sợ quả báo. Người có Tuệ vô lậu thấu triệt lý "Vô sở đắc" (Không có gì để được). Thấy vạn pháp như huyễn, tiền bạc như lá vàng. Tâm Tham đã bị Tuệ giác chuyển hóa thành sự buông xả. Không tham thì lấy của người làm chi? Giới Đạo tự thành.

3. Về Dâm Dục: Đây là cửa ải khó nhất của Lăng Nghiêm. Người thường dùng Định để đè nén dục vọng. Người có Tuệ vô lậu dùng "Quán chiếu Bát Nhã" thấy thân đồng với hư không, tâm tham ái tự nguội lạnh. Lửa dục tắt thì Giới Dâm tự trong sạch.

4. Về Vọng Ngữ: Người ta nói dối để bảo vệ cái Tôi, để mưu cầu danh lợi. Người có Tuệ vô lậu đã phá cái "Ngã chấp", danh lợi như bọt nước. Họ sống trong chân thật địa, nói một là một. Không còn nhu cầu dối gạt. Giới Vọng tự nghiêm.

III. LỜI KẾT

Thưa bạn đọc Ngã Hành,

Sự "tự thành" của Giới vô lậu không có nghĩa là Tuệ giác cho phép ta làm điều xằng bậy mà không mang tội. Ngược lại, Tuệ giác chính là máy lọc nước vĩnh cửu. Khi nguồn nước (Tâm) đã sạch nhờ Tuệ, thì dòng nước chảy ra (Hành động - Giới) tự nhiên tinh khiết.

Nếu một người tự xưng là "khai Tuệ" mà vẫn sát sinh hại vật, tà dâm, lừa lọc, thì đó là Tà Tuệ (thông minh của thế gian hoặc ma sự), chứ tuyệt đối không phải là Tuệ Vô Lậu của nhà Phật. Bởi lẽ:

- Có Lửa (Tuệ) thì không thể có Bóng Tối (Vô minh phạm giới).

- Nếu còn Bóng Tối, tức là chưa thực sự có Lửa.

Cơ chế "Cái này có (Tuệ) thì cái kia có (Giới thanh tịnh)" là quy luật tất yếu của Duyên khởi, chặt chẽ và không thể tách rời.

LUẬN VỀ "CHUYỂN Y" VÀ CƠ CHẾ XỬ LÝ HẠT GIỐNG NGHIỆP

(Lời đáp cho bạn đọc Ngã Hành – Lý Tự Như)

Bạn đọc Ngã Hành quả thực là người nghiên cứu giáo lý rất sâu, không chấp nhận những câu trả lời hời hợt bề mặt. Câu hỏi về “Chuyển y” và cơ chế xử lý hạt giống (chủng tử) trong Tàng thức (A-lại-da) là điểm mấu chốt quyết định sự khác biệt giữa một triết học tâm lý và sự tu chứng giải thoát.

Tự Như xin mượn cái nhìn của Thầy Lý Tứ và chánh văn Duy Thức để làm sáng tỏ chỗ “bí hiểm” này. Chúng ta cần đi qua ba tầng lý luận:

I. "CHUYỂN Y" LÀ ĐỔI CHỖ NƯƠNG HAY ĐỔI CÁCH VẬN HÀNH?

Bạn đọc Ngã Hành hỏi: "Tại sao gọi là Chuyển Y (chuyển chỗ nương tựa) nếu bản thể không đổi?"

Cần hiểu chữ "Y" (chỗ nương) ở đây không phải là một địa điểm vật lý, cũng không phải là đổi cái "bản thể A" lấy cái "bản thể B".

Trong Duy Thức, "Y" chính là Y Tha Khởi Tánh (sự nương gá vào duyên mà sinh khởi).

Khi A-lại-da thức còn mê: Nó làm chỗ nương cho các pháp Hữu lậu (sinh tử, phiền não).

Khi A-lại-da thức đã ngộ (chuyển thành Đại Viên Cảnh Trí): Nó vẫn là nó, nhưng nay làm chỗ nương cho các pháp Vô lậu (Thanh tịnh, Niết bàn).

Ví như bàn tay:

Khi nắm lại đấm người thì gọi là "Nắm đấm" (Hung khí).

Khi xòe ra nâng đỡ thì gọi là "Bàn tay" (Yêu thương).

Bản thể thịt xương (Thức) vẫn y nguyên, nhưng cái "công năng" và "chỗ nương" của hành động đã chuyển từ hại người sang giúp người.

Chuyển Y là sự chuyển đổi trạng thái tồn tại: Từ trạng thái bị ô nhiễm (nhiễm ô y) sang trạng thái thanh tịnh (thanh tịnh y). Không phải là phá hủy A-lại-da để đẻ ra một cái Trí mới, mà là gột rửa A-lại-da để nó hiển lộ công năng chiếu soi vốn có.

II. CƠ CHẾ HẠT GIỐNG: TIÊU DIỆT HAY VÔ HIỆU HÓA?

Đây là chỗ bạn đọc Ngã Hành lo ngại: "Nếu hạt giống không mất đi, làm sao đảm bảo không tái mê?".

Tự Như xin khẳng định theo đúng tinh thần kinh điển: Hạt giống (chủng tử) nghiệp lực không bị tiêu diệt theo nghĩa đen (vật lý), mà nó bị "chuyển hóa" tính năng.

Cơ chế vận hành như sau:

Hạt giống giống như hạt lúa: Hạt lúa muốn nảy mầm (tái sinh, luân hồi) cần phải có Đất, Nước, và Hơi ẩm (Duyên). Duyên ở đây là gì? Là sự "chấp ngã", là "vô minh", là "ái thủ". Đây chính là chất keo dính.

Khi Giác ngộ (Chuyển Thức thành Trí): Tuệ giác (Trí) soi rọi, đốt cháy cái "ái thủ" và "vô minh". Lúc này, hạt giống nghiệp (chủng tử hữu lậu) giống như "hạt lúa đã bị rang chín".

Về mặt hình tướng: Nó vẫn nằm đó trong kho tàng ký ức (A-lại-da). Về mặt công năng: Nó mất khả năng nảy mầm.

Đó là lý do các bậc Thánh A-la-hán hay Bồ-tát vẫn nhớ chuyện quá khứ (hạt giống ký ức còn), vẫn chịu quả dư tàn trên thân xác (như Mục Kiền Liên vẫn bị ngoại đạo đánh), nhưng báo đã chuyển - tâm các Ngài hoàn toàn không dính mắc, không khổ đau, và quan trọng nhất: Không còn động lực để tái tạo một đời sống luân hồi mới.

Vậy nên, không phải là "xóa sạch dữ liệu" trong ổ cứng A-lại-da, mà là "xóa bỏ chương trình độc hại" (virus vô minh) để dữ liệu ấy trở thành kho tàng trí tuệ (Pháp giới thể tánh trí) phục vụ cho việc độ sinh.

III. VÌ SAO GƯƠNG ĐÃ SẠCH THÌ KHÔNG DÍNH BỤI TRỞ LẠI?

Bạn đọc Ngã Hành hỏi: "Làm sao đảm bảo gương không dính keo lại?"

Câu trả lời nằm ở Kiến Phần (Cái thấy).

Khi Thức thứ 7 (Mạt-na thức) còn mê, nó chấp cái "Kiến phần" của Thức thứ 8 là "Ngã". Đây là gốc rễ của keo dính.

Khi chuyển thành Bình Đẳng Tánh Trí, Mạt-na thức thấy rõ: "À, thì ra không có cái Ta nào cả, tất cả chỉ là dòng chảy duyên sinh".

Một khi đã "Thấy" (Kiến tánh) sự thật này, thì cái "Thấy" đó là vĩnh cửu. Giống như một người đã nhận ra sợi dây thừng không phải là con rắn. Dù sau đó trời có tối lại, anh ta có thể giật mình một chút theo quán tính, nhưng anh ta không bao giờ tin đó là con rắn thật để mà sợ hãi đến chết nữa.

Sự "Giác ngộ" không chỉ là cảm xúc tâm lý nhất thời, mà là một bước nhảy lượng tử về nhận thức.

Hữu lậu (Mê): Do Vô minh che lấp.

Vô lậu (Ngộ): Do Trí tuệ chiếu soi.

Khi ánh sáng đã bật lên, bóng tối tự tan. Không có chuyện ánh sáng đang chiếu mà bóng tối len lỏi vào được. Muốn tối trở lại, trừ khi tắt đèn (mất trí tuệ). Nhưng Trí tuệ Bát Nhã một khi đã khai mở thì như mặt trời, mây có thể che (tập khí mỏng) chứ mặt trời không bao giờ tắt.

IV. TỔNG KẾT VỀ 4 TRÍ TƯƠNG ƯNG

Hệ thống 4 Trí là tên gọi mới cho chức năng mới của 8 Thức khi đã sạch lậu hoặc:

1. Thành Sở Tác Trí (tiền ngũ thức): Mắt, tai, mũi... trước kia dùng để săn đuổi dục lạc, nay dùng để làm việc đạo, độ sanh. (Vẫn là mắt tai đó, nhưng làm việc khác).

2. Diệu Quan Sát Trí (Thức thứ 6 - Ý thức): Trước kia dùng để phân biệt, so đo, đố kỵ. Nay dùng để quan sát căn cơ chúng sinh mà thuyết pháp vi diệu.

3. Bình Đẳng Tánh Trí (Thức thứ 7 - Mạt na): Trước kia chấp Ngã, chia rẽ Ta - Người. Nay thấy vạn pháp bình đẳng, Ta và Người đồng thể.

4. Đại Viên Cảnh Trí (Thức thứ 8 - A lại da): Trước kia là kho chứa rác rưởi sống chết. Nay là tấm gương tròn lớn phản chiếu trọn vẹn vũ trụ mà không lưu dấu vết.

Kết luận:

Chuyển Thức thành Trí là một cuộc cách mạng về "Thái độ (tâm thức) đối với thực tại" chứ không phải cuộc cách mạng thay đổi vật chất của thực tại.

Hạt giống không mất, nhưng chết cái mầm tái sinh.

Gương không đổi, nhưng hết tính dính mắc.

Đó gọi là "Chuyển Y" – Chuyển từ nương vào Vô minh sang nương vào Giác ngộ.

LUẬN VỀ TỨ PHÁP ẤN VÀ TỨ ĐỨC NIẾT BÀN: PHƯƠNG TIỆN VÀ CỨU CÁNH

(Lời đáp tiếp theo cho bạn đọc Ngã Hành – Lý Tự Như)

Bạn đọc Ngã Hành lại một lần nữa truy vấn đến tận cùng gốc rễ, đặt Tứ Pháp Ấn (Vô thường, Khổ, Vô ngã, Bất tịnh) lên bàn cân đối chiếu với Tứ Đức của Như Lai Tạng (Thường, Lạc, Ngã, Tịnh). Câu hỏi: "Phải chăng giáo pháp của Phật ở cấp độ này lại phủ định cấp độ kia? Và đâu là kinh điển xác chứng cho sự 'trái ngược' này?" là một câu hỏi sòng phẳng, cần được trả lời bằng sự thấu triệt giữa Phương Tiện và Cứu Cánh, chứ không thể dùng lý luận vòng vo mà khỏa lấp.

Tự Như xin đi thẳng vào trọng tâm: Tứ Pháp Ấn chưa bao giờ mất hiệu lực, nhưng phạm vi hiệu lực của nó nằm ở thế giới "Hữu vi" (sinh diệt). Còn Như Lai Tạng thuộc về phạm trù "Vô vi" (bất sinh bất diệt). Dùng thước đo của thế giới sinh diệt để đo lường cảnh giới bất sinh diệt, ấy là sự khập khiễng về mặt nhận thức luận ngay từ khởi điểm.

I. TỨ PHÁP ẤN: THUỐC TRỊ BỆNH CHẤP NGÃ, KHÔNG PHẢI LÀ CHÂN LÝ CỨU CÁNH

Đức Thế Tôn khi xưa thuyết Tứ Pháp Ấn là để phá cái chấp sai lầm của chúng sinh. Chúng sinh mê lầm cho thân này là thật, tâm này là thường, thế gian là vui. Vì cái "bệnh" ấy, Như Lai phải bốc thang "thuốc" đối trị:

Vì chúng sinh chấp Thường, Phật nói Vô Thường.

Vì chúng sinh chấp Lạc (trong dục lạc), Phật nói là Khổ, Bất Tịnh

Vì chúng sinh chấp Ngã (cái tôi giả tạm do ngũ uẩn hợp thành), Phật nói Vô Ngã.

Tứ Pháp Ấn là chân lý của vạn pháp hữu vi. Tức là hễ cái gì có hình tướng, có sinh ra, có hoại diệt, thì cái đó chịu sự chi phối của Vô thường, Khổ, Vô ngã.

Nhưng nếu bạn đọc Ngã Hành cho rằng Tứ Pháp Ấn là chân lý tột cùng bao trùm cả Niết Bàn, thì sẽ rơi vào một lỗi lầm nghiêm trọng về mặt logic học Phật đạo: Nếu Niết Bàn (hay Như Lai Tạng) cũng là Vô thường, Khổ, Vô ngã, thì Niết Bàn cũng là pháp sinh diệt, cũng là khổ đau sao? Vậy chúng sinh tu hành để đạt đến cái chỗ "vẫn khổ, vẫn vô thường" ấy để làm gì?

II. KINH ĐIỂN NÀO XÁC CHỨNG SỰ "LẬT NGƯỢC" NÀY?

Ngã Hành đòi hỏi kinh điển, Tự Như xin dẫn ngay Kinh Đại Bát Niết Bàn – bộ kinh tối thượng thừa được Phật thuyết vào những giây phút cuối cùng trước khi nhập diệt trong lần Chuyển Pháp Luân Thứ 3 (Chuyển Pháp Luân Cuối Cùng). Đây là lúc Đức Thế Tôn "thu lại phương tiện" để chỉ bày "cứu cánh".

Trong phẩm Sư Tử Hống hoặc phẩm Tứ Tướng, Đức Phật đã dạy rất rõ về sự chuyển hóa từ Tứ Pháp Ấn sang Tứ Đức Niết Bàn. Đức Phật ví dụ: Như người thầy thuốc giỏi, khi trị bệnh cho trẻ nhỏ phải dùng sữa pha thuốc (ví như Tứ Pháp Ấn). Nhưng khi bệnh đã lành, cần phải cho trẻ ăn thức ăn bổ dưỡng tinh khiết (ví như Như Lai Tạng). Nếu lúc đã lành bệnh mà vẫn cứ bắt uống thuốc mãi, thì thuốc đó trở thành độc dược.

Kinh Đại Bát Niết Bàn dạy:

“Vô ngã là Luân hồi. Chân Ngã là Niết Bàn.

Vô thường là Thế gian.

Thường trụ là Phật tánh.

Khổ là Hữu vi. Lạc là Tịch diệt."

Đức Phật quở trách những ai chấp chặt vào "Vô ngã" mà không nhận ra "Chân Ngã" (Phật tánh) cũng giống như người mù sờ voi, hoặc như kẻ ngu si nhặt sỏi đá mà tưởng là ngọc quý. Cái "Ngã" trong Tứ Đức (Thường - Lạc - Ngã - Tịnh) không phải là cái "Tiểu Ngã" (chữ Ngã trong tên nhân vật Nhậm Ngã Hành) tham sân si của phàm phu, mà là "Đại Ngã" (Chân Ngã) – là chân lý, là bản thể thanh tịnh trùm khắp, không còn đối đãi nhị nguyên.

III. KHÔNG PHẢI BÃI BỎ, MÀ LÀ VƯỢT GỘP

Ngã Hành hỏi: "Có phải Tứ Pháp Ấn bị bãi bỏ?". Tự Như trả lời: Không bãi bỏ, nhưng không còn áp dụng cho cảnh giới Như Lai Tạng.

Hãy tưởng tượng: Định luật vạn vật hấp dẫn của Newton rất đúng ở đời sống vĩ mô mặt đất (ví như Tứ Pháp Ấn đúng ở thế gian). Nhưng khi đi vào thế giới lượng tử hoặc tốc độ ánh sáng, ta cần Thuyết Tương Đối (ví như Tứ Đức Niết Bàn). Thuyết Tương Đối ra đời không làm cho định luật Newton sai đi trong phạm vi đời sống thường nhật, nhưng nó cho thấy định luật Newton không đủ tầm để giải thích vũ trụ ở tầng mức cao hơn.

Tương tự, khi hành giả còn đang lặn ngụp trong sinh tử, còn chấp thân tâm này là mình, thì Tứ Pháp Ấn là khuôn vàng thước ngọc để tu hành. Nhưng khi đã phá tan màn vô minh, nhận ra bản tánh Như Lai Tạng, thì lúc này cảnh giới ấy là:

Thường: Vì không còn bị sinh diệt chi phối.

Lạc: Vì dứt sạch mọi khổ đau của sự biến dịch.

Ngã: Vì làm chủ hoàn toàn, tự tại vô ngại (Chân Ngã).

Tịnh: Vì không còn chút gợn nhơ cấu nhiễm.

IV. LỜI KẾT

Sự mâu thuẫn mà bạn đọc Ngã Hành nhìn thấy thực chất là sự mâu thuẫn giữa "cái ngón tay chỉ trăng" và "mặt trăng".

Tứ Pháp Ấn là ngón tay chỉ: "Cái kia không phải là trăng (Vô ngã), cái kia giả tạm (Vô thường)".

Như Lai Tạng chính là mặt trăng: Sáng, tròn, đầy đặn (Thường, Lạc, Ngã, Tịnh).

Người học Phật nếu cứ ôm chặt lấy ngón tay (Tứ Pháp Ấn) mà không chịu nhìn mặt trăng (Như Lai Tạng), thì mãi mãi chỉ là người đứng ngoài cửa đạo, giỏi biện luận trên danh tự mà thiếu đi sự nếm trải mùi vị giải thoát thực sự.

Tự Như xin chốt lại một câu để bạn Ngã Hành tỏ tường:

Giáo pháp sơ cơ dùng để phá chấp.

Giáo pháp cứu cánh dùng để hiển tánh.

Dùng pháp phá chấp để đo lường tánh chân thật, thì e rằng đã chọn sai thước đo vậy.

TỰ NHƯ GỬI GẮM BẠN ĐỌC NGÃ HÀNH

Đọc những tất cả 15 câu hỏi phản biện của bạn đọc Ngã Hành với Huynh Đệ Lý Gia, Tự Như nhận thấy bạn đọc Ngã Hành đang bị mắc kẹt ở ngôn từ và lý luận, mắc kẹt cả ở pháp hữu vi và pháp vô vi.

Nhưng bạn đọc Ngã Hành thân mến, thắng nghĩa tuyệt đối của chư Phật lại vượt thoát những điều đã nêu trên. Để kết lại, Tự Như xin gửi tặng bạn đọc Ngã Hành một đoạn trong Phẩm Thắng Nghĩa - Kinh Giải Thâm Mật để bạn đọc Ngã Hành chiêm nghiệm, và Tự Như cũng không giải thích gì thêm:

“Lúc ấy đại bồ tát Như lý thỉnh vấn lại hỏi đại bồ tát Giải thâm nghĩa ý: Tối thắng tử, như thế nào gọi là sự thể các thánh giả, bằng sự thấy biết rất thánh, tách rời ngôn ngữ nên thể hiện sự chánh biến giác (đối với pháp tánh), rồi chính nơi pháp tánh tách rời ngôn ngữ ấy, các ngài muốn làm cho người khác cũng thể hiện chánh biến giác, nên giả thiết ngôn từ mà hoặc nói là hữu vi, hoặc nói là vô vi?

Đại bồ tát Giải thâm nghĩa ý trả lời đại bồ tát Như lý thỉnh vấn: Thiện nam tử, như nhà ảo thuật, hay đồ đệ của nhà ảo thuật, đứng giữa ngã tư, gom cỏ lá ngói gạch, và những vật liệu cùng việc, làm ra những ảo trạng tượng binh, mã binh, xa binh, bộ binh, ma ni, trân châu, lưu ly, loa bối, bích ngọc, san hô, kho tàng tiền của, kho tàng thóc gạo…

Những kẻ thuộc loại ngu đần, hiểu sai, không trí thức, thì thấy nghe những ảo trạng trên các vật liệu rồi, nghĩ rằng những gì mình thấy nghe thật là tượng binh cho đến kho tàng thóc gạo…, lại y như sự thấy nghe ấy mà cố chấp và diễn tả, cho rằng chỉ sự thấy nghe ấy là đúng, ai nói khác đi là dốt và láo cả. Những kẻ như vậy sau đó rất cần quan sát lại.

Còn những người thuộc loại không ngu đần, hiểu đúng, có trí thức, thì thấy nghe những ảo trạng trên các vật liệu rồi, nghĩ rằng những gì mình thấy nghe toàn không thật tượng binh cho đến kho tàng thóc gạo…, thế nhưng có những ảo trạng mê hoặc thị giác, nên tưởng đây là bản thân con voi và đây là chi tiết trên bản thân ấy, cho đến tưởng đây là bản thân kho tàng thóc gạo và đây là chi tiết trên bản thân ấy ; họ không y như sự thấy nghe mà cố chấp và diễn tả, cho rằng chỉ sự thấy nghe ấy là đúng, ai nói khác đi là dốt và láo cả. Nhưng họ muốn làm cho người khác cũng biết sự thật như vậy nên cũng sử dụng ngôn từ. Những người như vậy sau đó không cần quan sát nữa.”

Ngày 24 tháng 11 năm 2025 - Lý Tự Như"

2- TRẢ LỜI CỦA LÝ HOÀNG ANH:

“Con kính thưa Thầy,

Thể theo yêu cầu của bạn đọc Ngã Hành, con xin hồi đáp truy vấn của bạn đọc.

Hoàng Anh xin chào bạn đọc Ngã Hành!

Theo truy vấn của bạn đọc, câu hỏi gửi trực tiếp đến Hoàng Anh, trước tiên, cảm ơn bạn đọc Ngã Hành đã có thêm câu hỏi, với mong muốn được rõ ràng hơn vấn đề, Hoàng Anh rất cảm kích tinh thần học tập này.

Hoàng Anh xin hồi đáp bạn đọc Ngã Hành các ý sau:

-Trước tiên cần làm rõ: người học tập Phật giáo cần biết các loại trí trong Phật đạo có ý nghĩa gì và vì sao người học cần thành tựu các loại trí.

-Ấy là vì: Nhận thức là gốc rễ của mọi vấn đề !!! Mê từ nhận thức mà ngộ cũng từ nhận thức !!! Các loại trí Phật đạo nhằm chỉ cho các cảnh giới trong tâm thức ở đâu trong hành trình học tập. Hành trình học tập này theo các bước của 37 Phẩm.

-Vì thế, ba loại trí: Trí Như Lý, Trí Lậu Tận, Trí Vô Phân Biệt là ba tầng nhận thức nhằm giải quyết các vấn đề Tứ Đế, là: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế.

*Trí Như Lý và Trí Lậu Tận xác chứng thành tựu trong việc giải quyết các vấn đề thuộc thế đế, tức Khổ để và Diệt đế.

*Trí Vô Phân Biệt xác chứng thành tựu trong giải quyết các vấn đề thuộc Diệt đế và bước vào Đạo đế.

Từ đây, mới có thể hiểu được vì sao ba loại trí này đi theo trình tự: Trí Như Lý, Trí Lậu Tận, Trí Vô Phân Biệt.

Tầng nhận thức thứ nhất: Nhận thức có được từ có chánh giác.

1- Phàm phu không có được chánh giác này, nên đời sống y theo các pháp thế gian mà thành đời sống đầy ưu bi khổ não.

2- Một phàm phu được học tập đúng chánh pháp, tin theo chánh pháp, y theo chánh pháp mà thực hiện, ứng dụng vào đời sống của mình theo đúng y như pháp, thì kết quả thấy được sẽ là khổ bi mỏng nhẹ đi dần, xử lý được phần lớn các vấn đề thô trọng của cấp Khổ đế (là 8 món khổ nhân sinh, đặc biệt 4 món khổ về Thân).

3- thực hành được y như lý (như pháp) và có được kết quả như pháp (như mô tả ở trên) gọi là Trí Như Lý.

Nghĩa là một người nhờ có trí mà thông cảm được với những điều chân lý, tương thông được với những điều chân lý và bằng lòng sống theo những điều như chân lý. Đây là loại trí thuộc thế gian, gọi là trí của hàng hữu học, tức nhờ học tập mà biết, không được học thì không tự biết.

Tầng nhận thức thứ hai: Nhận thức có được từ đời sống sống đúng như chánh pháp một cách triệt để, tức từ nhận thức được gọi là Trí Như Lý tiếp tục làm cho nhận thức này sâu sắc hơn.

1- Hàng hữu học sau khi thấy được kết quả đúng như pháp (như lý), sinh tâm hoan hỉ, yêu thích việc học tập, càng tinh tấn tín thọ phụng hành mọi điều pháp nói một cách vô cùng triệt để.

2- Sự triệt để sâu sắc đến trở thành một thói quen và đời sống đi theo thói quen mới này. Thói quen đó là những điều đúng y với những tuyên thuyết trong giáo pháp, mà dần dần chế ngự được tâm, thoát ly được ra khỏi các lậu hoặc.

Điều này bạn đọc Ngã Hành có thể tham khảo trong Kinh Tất Cả Các Lậu Hoặc (thuộc Kinh Trường Bộ), đây là bản kinh Phật dạy các đệ tử Thanh văn phương cách để phòng hộ các lậu hoặc.

Hàng Thanh văn y theo giáo pháp mà phụng hành, chấp pháp triệt để, thoát ly được các nguyên nhân phát khởi kiết sử, đời sống chấm dứt khát ái, chấm dứt tham sân si, thì chấm dứt được lậu hoặc, tâm dừng sanh-diệt, gọi là chấm dứt luân hồi.

Các tập nhân kiết sử khiến phát sinh lậu hoặc đã được chế ngự, không còn phát khởi trong lòng nữa, đây là thành tựu Tập đế, gọi là dứt Tập. Thành tựu này cũng được xem là thành tựu Diệt đế của bậc Nhị thừa (Thanh văn, Duyên giác) bởi tâm đã được chế ngự dừng sanh-diệt, đã cách ly hoàn toàn với lậu hoặc.

Tới đây, vị thành tựu chứng Diệt dõng dạc tuyên bố như sư tử hống Tứ thành tựu: Chư lậu dĩ tận - Phạm hạnh dĩ lập - Sở tác dĩ biện - Bất thọ hậu hữu, thành tựu quả vị A-la-hán.

3- Thoát ly được các kiết sử và chấm dứt lậu hoặc, đến đây vị thành tựu này được gọi là thành tựu Trí Lậu Tận, nghĩa là trí của một người nhờ chấp pháp triệt để mà đã đoạn tận với lậu hoặc, đã chế ngự được tâm thức không còn luân hồi sanh-diệt. Vì thế, tầng trí của một vị chứng quả A-la-hán là Trí Lậu Tận.

Một vị A-la-hán phân biệt rất rõ chấp pháp và không chấp pháp, và sống hoàn toàn, đầy đủ trong sự chấp pháp. Trí này vẫn còn là là trí của hàng hữu học vì chưa ra ngoài được sự phân biệt chấp pháp và không chấp pháp, tuy tâm thức vô lậu, nhưng chưa hoàn toàn sạch bóng dáng của pháp lành. Vì vậy, trí này chưa được gọi là trí không phân biệt.

Tầng nhận thức thứ ba: Nhận thức vượt thoát ra khỏi mọi nhị nguyên đối đãi.

-Hoàn cảnh:

Phần lớn, đối với hàng tục gia, do hoàn cảnh sống không thể tách rời khỏi đời sống thế gian (sống trong gia đình, công việc, xã hội) và tiếp xúc thường xuyên với văn hoá thế gian, sẽ không có đủ điều kiện để thực hiện đời sống như một vị cát ái ly gia. Vì thế, vị thế tục gia phải thâm nhập giáo pháp bằng con đường nhận thức. Đó là nhận thức đúng đắn về tâm và pháp theo đúng nhân sinh quan và vũ trụ quan Phật đạo.

2- Bản chất, đó là:

*Về Tâm. Tâm chỉ là những hiệu ứng tình cảm, khởi sinh khi ba duyên căn-trần-thức hoà hợp trong điều kiện mê mờ (tức nhận thức còn vô minh, chưa sáng suốt). Tâm này theo quy luật sanh-trụ-dị-diệt, không bền chắc, nên tâm này là một cái tâm không chơn thiệt.

Phật giáo chỉ ra rằng: Bổn lai một hữu tình vốn không có một cái gì được gọi là tâm, kinh gọi là chơn tâm, là một cách tạm gọi để phân biệt với cái tâm không chơn thiệt do mê sanh. Bạn đọc Ngã Hành có thể tham khảo trong các kinh Lăng Già, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Đại Bát Nhã,… đều có những phẩm Phật dạy về tâm.

*Về Pháp. Pháp là những quan điểm, quan niệm mà thế gian định đặt lên các hiện tượng, sự vật, sự việc. Những quan điểm quan niệm định đặt này không có tính chân lý do không bền chắc, không thật tướng và không tự là chính nó, cũng theo quy luật sanh-trụ-dị-diệt.

Điều này bạn đọc Ngã Hành có thể tìm hiểu qua đoạn kinh Phật dạy, đại ý: Ta dùng Phật nhãn quan sát hết thảy núi non, sông ngòi, địa đại, tinh tú, hữu tình, vô tình… không một pháp có được.

3- Vì hoàn cảnh đời sống của tục gia cư sĩ, nên để giải thoát khỏi tâm thức sanh-diệt vô thường, vị này chỉ có một cách là học tập một cách đúng đắn, hiểu đúng đắn về bản chất thực sự của tâm và pháp, mà sáng suốt trong thấy nghe thì tâm tự dừng, tự giải phóng tâm thức ra khỏi mọi trói buộc của các pháp thì ý tự dừng sanh pháp.

*Trong đời sống, trước mọi thấy nghe, mà không còn bị cảnh làm động lay, thì tâm tự không sanh. Gọi là thành tựu vô sanh tâm. Thành tựu này thuộc về nhận thức, cũng gọi là Trí Lậu Tận, do tâm không sanh mà tâm được vô lậu.

*Chỉ có thể dừng sanh pháp khi tâm thức rốt ráo không còn hai nguyên đối đãi, tức trong lòng rốt ráo không còn cái này cái kia, không còn pháp lành hay không pháp lành. Mà như trong phần trả lời kỳ trước, Hoàng Anh có ví dụ ẩn dụ về gương sáng. Đối trước mọi sự thấy nghe hay biết, đều như gương sáng soi vật, không lưu giữ ảnh, không bị chi phối bởi cảnh, bình đẳng không phân biệt cảnh qua gương. Đây là cảnh giới của bất động giải thoát. Thành tựu này thuộc về nhận thức. Nhận thức này gọi là Trí Vô Phân Biệt do đã rời lìa hai nguyên đối đãi. Nhận thức bắt đầu từ đây, trong việc học tập, các sự hiểu biết đều từ trực nhận mà hiểu biết. Đây là cảnh giới của Xuất thế gian, vượt quá sự nghĩ bàn của người còn ở trong thế pháp.

Kết luận:

Qua các kiến giải trên về ba loại trí, là ba tầng bậc nhận thức của người học tập Phật giáo, nhằm để giải quyết các vấn đề Tứ Đế, cũng như trình bày về sự khác biệt giữa các tầng nhận thức, Hoàng Anh đã làm rõ với bạn đọc Ngã Hành về ba ý bạn đọc truy vấn:

1- Tại sao Lý Gia lại sắp xếp Trí Vô Phân Biệt (căn bản trí) ở cấp độ cao nhất (Vô học - Phật)?

=> Sự sắp xếp này không phải là Lý Gia tự sắp xếp, mà đây là lộ trình học tập theo đúng tinh thần Tứ Đế và 37 Phẩm trong giáo pháp Phật giáo.

2- Trí Lậu Tận (dứt lậu hoặc, tương đương A-la-hán) lại chỉ là cấp độ thứ hai?

=> Trí Lậu Tận chỉ mới chấm dứt lậu hoặc, tức sự ngừng rỉ chảy các kiết sử từ trong tâm thức, khiến sanh ra các thứ tâm phiền não, ưu bi, chỉ mới thành tựu được tâm Vô lậu. Nhận thức đã giác ngộ nhưng chưa rốt ráo, bởi chưa hoàn toàn vượt thoát ra khỏi thế pháp do còn nắm giữ pháp lành.

3- Nếu vọng tưởng chấp dứt, tức là lậu hoặc đã hết, thì tại sao Trí Lậu Tận (dứt lậu hoặc) lại là quả vị thấp hơn Trí Vô Phân Biệt?

=> Trí Vô Phân Biệt ở tầng nhận thức cao hơn bởi đây là tầng nhận thức của những người đã giác ngộ rốt ráo và ở trong văn hoá của Xuất thế gian.

Hoàng Anh cũng xin nói thêm, Trí Vô Phân Biệt chưa phải là tầng trí cao nhất trong Phật đạo. Mà đây chỉ là trí căn bản, từ đây người học tập Phật giáo mới có thể thâm nhập sâu vào những thâm sâu của Phật đạo bằng việc phát tâm cầu học trí tuệ cho đến viên mãn các loại trí, gọi là tu Đạo thuộc Đạo đế, viên mãn huệ và viên mãn công hạnh.

Mong rằng kiến giải ngắn như trên phần nào giải toả được những thắc mắc của bạn đọc Ngã Hành. Để có thể hiểu biết thực sự sâu sắc và thấm nhuần, duy nhất chỉ có một con đường, đó là học tập một cách đúng đắn để có được nhận thức đúng đắn theo đúng tinh thần Phật đạo.

Chúc bạn đọc Ngã Hành an vui, thành ở đời, đạt ở đạo !!!

Thân mến, Lý Hoàng Anh”

3- TRẢ LỜI CỦA LÝ ĐẠT THỊNH:

“Dạ con kính thưa Thầy, con là Lý Đạt Thịnh, được sự cho phép của Thầy nên con xin được trả lời truy vấn bạn đọc gởi đến chuyên mục BẠN ĐỌC HỎI - LÝ TỨ TRẢ LỜI - 67/2025 !!!

3. Truy Vấn Lý Diệu Tâm (MB0465), Lý Phương Anh (MB424), Lý Tự Như (MB1700), Lý Đạt Thịnh (MĐ1138) - Về Tam Vô Lậu Học

Các HĐ đều khẳng định: Tam Vô Lậu Học (Giới - Định - TuệVô Lậu) thành tựu đồng thời, là hệ quả của nhau, và chỉ cần thành tựu một học pháp vô lậu, các học pháp còn lại tự thành tựu.

NGÃ HÀNH HỎI:

Lý Phương Anh dẫn Kinh Lăng Nghiêm: "Nhiếp tâm là Giới. Do Giới sanh Định. Do Định phát Tuệ." Đây là một tiến trình tuần tự rõ ràng. Các vị giải thích rằng đây là Giới-Định-Tuệ thế gian hay Giới-Định-Tuệ hữu lậu. Tuy nhiên, Kinh Lăng Nghiêm nói đến "Giới sanh Định, Định phát Tuệ" lại nằm trong bối cảnh tu Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối (Giới Bồ Tát) và sự Kiến Tánh để tránh đọa lạc. Vậy, xin hỏi: Nếu ba cái đồng thời, thì tại sao Kinh điển lại mô tả một tiến trình nhân-quả (Do... sanh..., Do... phát...)?

Xin giải thích rõ cơ chế "cái này có nên cái kia có" trong bối cảnh Vô Lậu Học. Giả sử một người "Tuệ giác được khai mở" (Tuệ Vô Lậu thành tựu) do học tập giáo pháp (theo Lý Phương Anh). "Giới vô lậu" tự thành tựu bằng cách nào? Liệu nó có đồng nghĩa với việc vị ấy hoàn toàn không phạm bất kỳ giới luật nào của Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối (Sát, Đạo, Dâm, Vọng) nữa chăng?

Trả lời :

Phật thuyết Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối sau khi đại chúng đã được khai thị về Tâm cũng như 25 pháp viên thông. Tức đại chúng đã được giác ngộ sau thời pháp này, như ĐOẠN V - NGHE PHÁP ĐƯỢC CHỨNG: “Lúc ấy, ông A Nan cùng cả đại chúng, thân tâm tỏ rõ” hay “đều được bản tâm xa trần tướng, rời cấu nhiễm, được Pháp nhãn thanh tịnh” (Kinh Thủ LăngNghiêm -Việt dịch : Cư Sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám).

Vì vậy, “nhiếp tâm” trong hoàn cảnh này không hề mang ý nghĩa nương nơi một sở pháp theo hình thức thế gian !

Sau khi giác ngộ, vì tập khí lâu đời chưa một lúc tịch diệt hoàn toàn nên Bồ Tát y nơi chỗ giác ngộ mà các tập khí này tự tịch diệt hoàn toàn nên gọi “nhiếp tâm”. Vì vậy, một chữ “nhiếp tâm” này đã mang ý nghĩa của giác ngộ và Tam Vô Lậu Học, cũng như Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối!

Ta có thể bắt gặp hình ảnh Bồ Tát y nơi giác ngộ mà các vọng niệm tự tịch diệt:

Kinh Viên Giác (HT. Thích Thiện Hoa dịch) : “Này Thiện nam! Nếu các Bồ Tát ngộ được Viên Giác thanh tịnh rồi, thì y theo tâm Viên Giác thanh tịnh này mà giữ cái hạnh yên lặng và lóng các vọng niệm. Khi các giác quán vọng thức phiền động đã lặng rồi, thì trí huệ thanh tịnh phát sanh. Lúc bấy giờ cái thân tâm hư vọng sanh diệt như khách và nhiễm ô như bụi này, từ đây diệt hết.

Khi đó trong nội tâm của hành giả sanh ra vắng lặng và nhẹ nhàng thư thới (tịch tịnh khinh an) nên chư Phật trong mười phương thế giới đều hiện ra trong tâm của hành giả, rất rõ ràng như bóng hiện trong gương.”

Lời kết : khi đọc một đoạn Kinh thì ta cần biết rõ hoàn cảnh, thuyết cho những ai và mục đích là gì…Đó là yếu tố then chốt giúp ta nắm được ý Kinh mà tránh sa đà vào chữ viết và ngôn ngữ.”

4- TRẢ LỜI CỦA LÝ DIỆU ÂM:

“Kính gửi Bạn đọc Ngã Hành

Cảm ơn bạn đọc Ngã hành đã tạo điều kiên cho HĐTM Lý Gia một lần nữa được trả lời những truy vấn mà bạnđọc đưa ra . Mình là Lý Diệu Âm – Học trò số 572 củaThầy Lý Tứ. Với truy vấn của bạn đọc hỏi, mình xin trích lại câu hỏi như sau Truy Vấn Lý Diệu Âm (MB572), Lý Tự Như (MB1700), Lý Minh Thuỳ (MĐ0180), Lý Ngọc Linh (MB721), Lý Mai Phương (EU2190) - Về Cơ Chế Chuyển Thức Thành Trí.

Các HĐ đều thống nhất rằng "chuyển" ở đây là chuyển đổi tính chất (mê sang giác, u tối sang minh liễu, dính chấp sang soi chiếu) chứ không phải chuyển đổi bản thể (Thức vẫn là Thức, gương vẫn là gương).

NGÃ HÀNH HỎI:

Nếu sự chuyển đổi chỉ là "tính chất" (từ dính keo sang hết keo, từ mê sang giác) mà bản thể (Thức) vẫn không đổi, thì tại sao Duy Thức Học lại dùng thuật ngữ “chuyển y" (chuyển cái chỗ nương tựa) và lại chia thành Bốn Trí (Đại Viên Cảnh Trí, Bình Đẳng Tánh Trí, Diệu Quan Sát Trí, Thành Sở Tác Trí) tương ứng với sự chuyển đổi của Tám Thức?

Sự thay đổi về tính chất (Giác Ngộ) là một kinh nghiệm tâm lý chủ quan. Nếu không có sự thay đổi cấu trúc nghiệp lực (hạt giống) bên trong Tàng Thức (cái kho chứa), thì làm sao đảm bảo rằng sau khi "gương hết keo" (giác ngộ), nó sẽ mãi mãi không bị dính keo lại (tái mê) nữa? Việc này có đồng nghĩa với việc tất cả hạt giống (chủng tử) hữu lậu trong A-lại-da đã bị tiêu diệt hay chuyển hóa thành chủng tử vô lậu không? Nếu có, cơ chế đó là gì?

Trả lời:

1- Hỏi: Nếu sự chuyển đổi chỉ là "tính chất" (từ dính keo sang hết keo, từ mê sang giác) mà bản thể (Thức) vẫn không đổi, thì tại sao Duy Thức Học lại dùng thuật ngữ "chuyển y" (chuyển cái chỗ nương tựa) và lại chia thành Bốn Trí (Đại Viên Cảnh Trí, Bình Đẳng Tánh Trí, Diệu Quan Sát Trí, Thành Sở Tác Trí) tương ứng với sự chuyển đổi của Tám Thức?

Đáp:

-Bản chất của Thức là Không tánh, không mê, không giác, nhưng chúng sinh có mặt trên đời thấy biết theo nghiệp quả, bi chính các tri kiến đã huân tập làm nhiễm ô, nên cái biết (Thức) bị sai lệch, mọi nhận thức bây giờ không còn đúng với bản chất của thân tâm và thế giới, tạm gọi là Thức Mê, thức mê làm nhiễm ô Tánh giác (tánh biết) vốn luôn sáng suốt thường hằng.

-Thức mê tạm chia làm tám thức gồm tiền ngũ thức, ý thức, mạt na thức, A lại da thức và 1 thức phụ là lưu chú thức, nhằm giúp người tu hành nhận biết cụ thể từng loại thức để thuận lợi cho việc “chuyển y” từ mê sang giác, tuy nói 8 hay 9 thức nhưng chỉ có 1 thức làm 8 ,9 chức năng khác nhau mà thôi.

- Trong quá trình chuyển thức thành trí: Người tu hành (giác ngộ ) chuyển Tiền ngũ thức (năm nhận thức thông qua 5 căn trên thân) thành Thành sở tác trí hay thành sự trí , chuyển Ý thức thành Diệu quan sát trí, Khi Tiền Ngũ Thức và ý thức được chuyển đổi thì 2 thức sau sẽ tự động chuyển theo: Mạt na thức chuyển thành Bình đẳng tánh trí, A lại da thức thành Đại viên cảnh trí.

- Khi chuyển thành công 8 thức thành 4 trí thì Tánh giác không bị nh

Bài viết Lý Tứ

(18) SÂN CHƠI TRỰC TUYẾN LÝ GIA CHỦ ĐỀ: DANH HIỆU CAO QUÝ !!!

Quản trị viên 26.12.2020

(18) SÂN CHƠI TRỰC TUYẾN LÝ GIA CHỦ ĐỀ: DANH HIỆU CAO QUÝ !!!

Chuyên mục Sân Chơi Trực Tuyến Lý Gia — Chủ đề: Danh Hiệu Cao Quý !!!

Mời các bạn xem lại video buổi sinh hoạt qua liên kết bên dưới:

https://www.youtube.com/watch?v=hePgwWydRkg

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời Số 70.2025 với chủ đề: HĐ Lý Gia Trả Lời Phản Biện Bạn Đọc Ngã Hành (3) !!!

Quản trị viên 19.06.2026

Các bạn !!!

Rút kinh nghiệm bài đăng hôm qua (69/2025)...Hôm nay, mình không để một bài có dung lượng quá lớn rồi bị facebook cắt mất một phần !!! Vì thế sáng nay, nhận được trả lời phản biện của ba vị huynh đệ là Lý Diệu Tâm, Lý Minh Tuân và Lý Phương Anh...Thế là mình gom lại và đăng liền, để đến 15:00 nếu có tiếp sẽ đăng tiếp ở chuyên mục 71/2025...!!!

Bất ngờ nhất là, cả ba vị HĐ hôm nay đều là HĐ cốt cán của Lý Gia...Mình xin giới thiệu sơ lược về họ:

- Lý Phương Anh: Trưởng Ban Khoa Giáo của Lý Gia, đã giới thiệu trước đây...!!!

- Lý Diệu Tâm: Hiện tại là Trưởng Ban Truyền Thông của Lý Gia...Tuổi tác cùng lứa với Phương Anh, nhập môn sau Phương Anh vài tháng (0424 - 0465) và cũng là Lý Nữ Phương Danh...!!! Ngoài đời, Lý Diệu Tâm đang là PGS/TS Khoa học, Viện sĩ của một Viện Khoa học...Trước đây mấy ngày, vị Viện sĩ này phải "nhập thất trong phòng thí nghiệm" mấy ngày để nghiên cứu khoa học...Sau khi "đả thất", lao vào trả lời bạn đọc Ngã Hành...Đã thế còn phải đi chợ, nấu ăn, dạy con, giặt đồ...có chán không...???!!! Lý Diệu Tâm vừa nhắn tin cho mình: "Thầy ơi, Hôm nay là ngày con được làm con của Lão Lý đúng 6 năm"...!!! Ha ha ha ha !!!

- Lý Minh Tuân: Chủ nhiệm các lớp "Giáo Pháp Nhập Môn" của Lý Gia...Tuổi đời trên 60...!!! Có trên 30 năm làm hiệu trưởng trong ngành giáo dục...Về hưu, được mời làm hiệu trưởng một trường Đại Học tại Hà Nội...Hình như bây giờ, y ta cũng xin thôi việc để tập trung học tập giáo pháp cho thoả tâm nguyện thời còn đi dạy...!!!

Sau đây là trả lời của ba vị HĐ nêu trên

I- LÝ DIỆU TÂM (MB0465) TRẢ LỜI ĐỘC GIẢ NGÃ HÀNH

"Kính thưa Thầy,

Kính thưa độc giả Ngã Hành,

Kính thưa các HĐTM Lý Gia,

Trong cuộc luận bàn về 7 câu hỏi mà độc giả Ngã Hành đã gửi đến Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời, độc giả Ngã Hành đã phản biện 2 ý từ câu trả lời của Lý DIệu Tâm. Trước khi trả lời các câu hỏi của độc giả Ngã Hành, Diệu Tâm xin phép được đặt hai câu hỏi, từ đây Ngã Hành có thể có căn cứ để trả lời những vấn đề đã đặt ra:

VẤN NGÃ HÀNH:

- Câu hỏi 1: Từ "Pháp" trong "Vạn Pháp vô tự tính" là chỉ cho cái gì? Như Lai Tạng và Vạn Pháp có mối liên hệ như thế nào?

- Câu hỏi 2: Trong Phật Đạo, ngoài Giới Vô Lậu, còn có loại giới nào khác?

Dưới đây, Diệu Tâm xin phép được trả lời từng ý độc giả đã hỏi như sau:

TRUY VẤN SỐ 1:

- Hỏi:

"Lý Diệu Tâm nói: "-Vạn pháp vô tự tính là sự thật của các pháp. - Như Lai Tạng thanh tịnh thường trụ là sự thật của Pháp thân Như Lai, không cần lấy gì làm nền tảng để khẳng định. - Giống như hư không, không cần cái gì làm nền tảng..."

Lý Thiện Huệ nói: "Đã là sự thật, thì theo mình chỉ nên thấy và biết! Chứ khẳng định làm gì?! Vì có khẳng định hay không, thì sự thật vẫn là sự thật! Không thể lấy cái vô thường sanh diệt, khẳng định cái thường hằng bất biến!"

NGÃ HÀNH HỎI:

"Tôi đồng ý sự thật không cần khẳng định, nhưng trong tranh biện Phật học, việc chỉ ra cơ sở lý luận là cần thiết để tránh rơi vào "ngoại đạo chấp thường". Nếu Như Lai Tạng là "Thật Tánh" (bất biến), còn Vạn Pháp là "Vô Tự Tánh" (sinh diệt, không thật có), thì hai sự thật này dường như đối lập hoàn toàn về bản chất. Nếu không thể dùng "Vô Tự Tánh" làm nền, vậy người tu hành lấy gì để "thấy và biết" được cái "Thật Tánh" của Như Lai Tạng?

Phật dạy y pháp bất y nhân. Nếu không có một hệ thống lý luận (như Duy Thức dùng Tàng Thức làm nền, Bát Nhã dùng Tánh Không làm nền) để chỉ ra cái "thường trụ" ấy, thì nó khác gì với niềm tin "Thượng Đế" hay "Linh hồn" bất diệt của ngoại đạo? Cơ chế nào giúp người tu (HĐ Lý Gia) "trực nhận" ra Như Lai Tạng mà không cần dựa trên sự quán chiếu "Vô Tự Tánh" của Vạn Pháp?"

- Đáp:

1. Kinh Kim Cang tuyên thuyết: "Nhất thiết hữu vi pháp, Như mộng, huyễn, bào, ảnh". Chính từ nghĩa này mà để hiểu Vạn Pháp vô tự tánh là một sự thật.

2. Như Lai Tạng là tạng vi mật tối thượng của Chư Phật, được mô tả bằng các tính chất thường - ngã - lạc - tịnh, cho nên Như Lai Tạng chân thật, bất biến chính là sự thật.

3. Kinh Giải Thâm Mật, Phật dạy: “Như Lai nói thắng nghĩa (nghĩa chân thật) thì tuyệt hết mọi sự biểu thị, còn tầm tư (giác quán) thì chỉ biết bằng sự biểu thị”. Câu Kinh này có nghĩa, ý nghĩa chân thật không thể đến bằng suy lường, suy luận mà chỉ có thể trực nhận mà thấy biết.

Trực nhận là năng lực của hữu tình khi không bị những thứ hư vọng che chướng. Chính vì thế, khi học tập đúng chánh pháp, các món như tâm hư vọng, pháp hư vọng, tà kiến...vv...sẽ lần lượt tịch diệt. Chỉ khi nào tâm thức người tu hành không còn những thứ ấy, bao gồm cả những hiểu biết sai về khái niệm. Bây giờ sự thật chân chánh mới có thể hiển lộ.

TRUY VẤN SỐ 2:

- Hỏi:

"Các HĐ đều khẳng định: Tam Vô Lậu Học (Giới - Định - Tuệ Vô Lậu) thành tựu đồng thời, là hệ quả của nhau, và chỉ cần thành tựu một học pháp vô lậu, các học pháp còn lại tự thành tựu.

NGÃ HÀNH HỎI:

Lý Phương Anh dẫn Kinh Lăng Nghiêm: "Nhiếp tâm là Giới. Do Giới sanh Định. Do Định phát Tuệ." Đây là một tiến trình tuần tự rõ ràng. Các vị giải thích rằng đây là Giới-Định-Tuệ thế gian hay Giới-Định-Tuệ hữu lậu. Tuy nhiên, Kinh Lăng Nghiêm nói đến "Giới sanh Định, Định phát Tuệ" lại nằm trong bối cảnh tu Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối (Giới Bồ Tát) và sự Kiến Tánh để tránh đọa lạc. Vậy, xin hỏi: Nếu ba cái đồng thời, thì tại sao Kinh điển lại mô tả một tiến trình nhân-quả (Do... sanh..., Do... phát...)?

Xin giải thích rõ cơ chế "cái này có nên cái kia có" trong bối cảnh Vô Lậu Học. Giả sử một người "Tuệ giác được khai mở" (Tuệ Vô Lậu thành tựu) do học tập giáo pháp (theo Lý Phương Anh). "Giới vô lậu" tự thành tựu bằng cách nào? Liệu nó có đồng nghĩa với việc vị ấy hoàn toàn không phạm bất kỳ giới luật nào của Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối (Sát, Đạo, Dâm, Vọng) nữa chăng?"

- Đáp:

1. Nguyên lý cái này có nên cái kia có (3 trong 1) của Tam Vô Lậu học cần được xây dựng trên nền tảng hiểu biết chân chánh về thân, tâm, và thế giới. Một người biết chắc chai thuốc kia có độc (Tuệ Vô Lậu) sẽ không uống chai thuốc (Giới Vô Lậu), đồng thời tâm không động lay khởi mong muốn được uống chai thuốc (Định Vô lậu)

2. Nguyên tắc ba trong một chính là chỉ thị phân biệt giữa các học pháp vô lậu và học pháp hữu lậu thế gian. Bất kỳ thành tựu nào không xuất phát từ sự hiểu biết chân chánh đều khó có thể dẫn đến đạo quả vô lậu.

Con xin kết thúc phần trả lời ở đây!

Con kính tri ân công đức giáo dạy của Thầy!

Chúc toàn thể bạn đọc cùng HĐTM Lý Gia an vui, tinh tấn!

Con Lý Diệu Tâm (MB465)"

II- THƯ TRẢ LỜI CÂU HỎI TRUY VẤN CỦA NGÀI NGÃ HÀNH (Của Lý Minh Tuân)

Kính thưa Thầy!!!

Kính thưa ngài Ngã Hành !!!

Được sự cho phép của Thầy, con xin phép trả lời bạn đọc Ngã Hành về câu hỏi truy vấn mà bạn đọc đã gửi đến chuyên mục BẠN ĐỌC HỎI - LÝ TỨ TRẢ LỜI - 67/2025.

Xin chào ngài Ngã Hành !!!

Tôi rất vui khi nhận được câu hỏi truy vấn của Ngài gửi đến chuyên mục. Thú thực rằng, nhờ câu truy vấn của Ngài mà tôi đã có thêm động lực để học tập. Tôi nghĩ rằng, để có thể nắm vững những vấn đề thuộc lĩnh vực chuyên sâu của Phật đạo, để thấy được “thiệt tướng” của các pháp thì cần phải đầu tư thời gian để đọc tụng, tư duy và suy ngẫm rất nhiều….Tôi rất mong lại tiếp tục nhận được những câu hỏi, những câu phản biện từ Ngài để tôi có dịp tôi rèn và học hỏi từ Thầy tôi được nhiều hơn nữa!!!

Kính chúc Ngài sức khỏe, thân tâm an lạc và trở thành bạn đọc gần gũi, thân thiện với huynh đệ chúng tôi. Sau đây, tôi xin phép được trả lời câu hỏi truy vấn của Ngài.

Truy Vấn Lý Minh Tuân (MB1349) - Về Thất Đại

Lý Minh Tuân tóm tắt: Ngũ Đại nói về Sắc (thân) (vô tri). Thất Đại nói về Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức (hữu tình có tri và có giác).

NGÃ HÀNH HỎI:

Kinh Lăng Nghiêm đề cập Thất Đại để chứng minh vạn pháp đều là Thể Như Lai Tạng, nhằm mục đích quy tất cả về một Bản Thể Thường Trụ. Nếu chỉ đơn thuần là giải thích cấu tạo của hữu tình (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức), thì việc này không khác gì cách giải thích của Pháp Tướng Tông hay các Luận sư Nguyên Thủy về danh-sắc (nāma-rūpa), vậy dụng ý của việc gán cho Kiến và Thức cái tên "Đại" (Mahā-bhūta - đại chủng) là gì?

Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không được gọi là Đại vì chúng có khả năng "chứa nhóm, giữ gìn" (Địa), "ẩm ướt, gom lại" (Thủy), "làm nóng, chín" (Hỏa), "di chuyển, nâng đỡ" (Phong). Vậy, Kiến Đại (thấy biết) và Thức Đại (ý thức) có những khả năng (nghĩa) đặc biệt gì mà được gọi là Đại Chủng (Đại) để xếp ngang hàng với Ngũ Đại?

LÝ MINH TUÂN TRẢ LỜI:

A) Dụng ý của việc gán cho Kiến và Thức cái tên "Đại" (Mahā-bhūta - đại chủng) là gì?

Trả lời: Khái niệm về Tứ đại (địa, thủy, hỏa, phong) và Không đại đã có trước thời Phật. Tuy nhiên, cách Đức Phật dùng và giải thích Tứ Đại, Không đại lại rất khác so với các truyền thống trước đó và điều này đã được Phật hệ thống hóa thành giáo lý trong Phật giáo.

Mặc dù các giáo lý trước thời Phật họ không hiểu đúng về bản chất của thân, tâm và vũ trụ. Nhưng vì các khái niệm: Địa đại, Thủy đại, Hỏa đại, Phong đại, Không đại đã xuất hiện trước đó nên Đức Phật đã thiện xảo phương tiện “giữ lại” những khái niệm đó. Gọi là “giữ lại” nhưng thực chất chỉ là mượn danh tự, còn nội hàm của khái niệm thì đã hoàn toàn khác.

Đức Phật thấy rằng, nếu chỉ dùng Tứ đại hay Ngũ đại thì chưa đủ phương tiện để mô tả những tính chất của Như Lai Tạng vì thế Ngài đưa thêm vào Thức đại và Kiến đại. Dụng ý của việc gán cho Kiến và Thức cái tên “Đại” có 2 ý nghĩa:

Thứ nhất: Nhằm đồng nhất về mặt tên gọi đối với các khái niệm: Địa đại, Thủy đại, Hỏa đại, Phong đại và Không đại. Việc đồng nhất về tên gọi như vậy thể hiện sự nhất quán và thiện xảo của Đức Phật trong việc lập bày ngôn ngữ để thuyết giảng.

Thứ hai: Tên “Đại” có nghĩa là rộng lớn. 7 đại chủng có nghĩa 7 tính chất rộng lớn của vũ trụ mà 7 tính chất đó cũng nằm trong rất nhiều tính chất của Như Lai tạng mà chỉ có Đức Phật mới thấy được và tuyên thuyết về nó.

Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không được gọi là Đại vì chúng có khả năng "chứa nhóm, giữ gìn" (Địa), "ẩm ướt, gom lại" (Thủy), "làm nóng, chín" (Hỏa), "di chuyển, nâng đỡ" (Phong). Vậy, Kiến Đại (thấy biết) và Thức Đại (ý thức) có những khả năng (nghĩa) đặc biệt gì mà được gọi là Đại Chủng (Đại) để xếp ngang hàng với Ngũ Đại?

Trả lời:

a) Kiến Đại (thấy biết) và Thức Đại (ý thức) có những khả năng (nghĩa) đặc biệt, đó là:

Kiến Đại: Nó mang tính thường hằng, bất biến, nó có khả năng tạo nên phản xạ không điều kiện của một hữu tình. Nhờ Kiến Đại hữu tình mới duy trì được bản năng sinh tồn, mới có thể nhận biết và giao tiếp được với thế giới (bên ngoài và nội tâm)

Thức Đại: Nó có khả năng tiếp thu, gom nhóm tri thức. Nếu như Kiến Đại chỉ giúp hữu tình có khả năng nhận biết thế giới thì Thức Đại sẽ giúp hữu tình nhận biết thế giới như thế nào?

b) Tại sao Kiến Đại và Thức Đại lại được xếp ngang hàng với Ngũ Đại?

Tính chất của 7 đại nằm trong vô số tính chất của Như Lai Tạng do Đức Phật thấy và tuyên thuyết. Nhưng nếu 7 đại đứng riêng rẽ thì nó không có bất kỳ một tính chất nào cả, gọi là “Không tánh”.

Như vậy: Khi Phật tuyên thuyết trước chúng sanh về Thất Đại thì tất cả các Đại (các pháp) đều bình đẳng nên không có Đại nào xếp trên, đại nào xếp dưới. Chính vì vậy Kiến Đại và Thức Đại cũng được xếp ngang hàng với Ngũ Đại.

Có thể lấy một ví dụ minh họa như sau: Để chế tác thành loại nước hoa nào đó thì người ta cần kết hợp nhiều nguyên tố Hóa học với nhau. Nếu đứng độc lập, mỗi nguyên tố hóa học đó (dạng nguyên tử) không có mùi gì cả. Nhưng nếu các nguyên tố đó được kết hợp với nhau trong một điều kiện đặc biệt nào đó (tức là đủ duyên) thì sẽ tạo nên một loại nước hoa có mùi thơm.

Hết phần trả lời.

Kính thư !!!

Lý Minh Tuân – học trò thứ 1349 của Thầy Lý Tứ."

III- THƯ GỬI BẠN ĐỌC NGÃ HÀNH (Của Lý Phương Anh)

"Kính thưa Thầy!

Thưa HĐTM Lý Gia!

Bạn đọc Ngã Hành thân mến!

Sau khi đọc các phản biện của bạn đọc Ngã Hành được Thầy đăng lên chuyên mục kỳ 67/2025, Phương Anh đã xem lại nhiều lần phần trả lời của mình cũng như trích đoạn trả lời của HĐ Lý Gia.

Nói thật đọc đi đọc lại các trả lời ấy, Phương Anh thấy mọi thứ rất rõ ràng như đồ vật được soi rọi dưới ánh sáng mặt trời, như trái A ma lặc trong lòng bàn tay, dễ thấy, dễ hiểu. Nhưng tại sao bạn đọc Ngã Hành, một người có 25 năm đi nhiều nơi, đến nhiều chỗ tham vấn, học tập đạo pháp (lời này có tin được chăng) mà vẫn không nhận ra để rồi đặt câu hỏi và phản biện? Thiết nghĩ đây (hỏi và phản biện) là việc làm của người không thấy không biết hoặc thấy biết mơ mơ hồ hồ trong cơn tuỳ mộng!

Trong khi đó những thắc mắc của Ngã Hành, đối với một HĐ Lý Gia chỉ cần nhập môn học tập trong vòng nửa năm, bảy tám tháng là đã có thể tự trả lời cho bản thân các thứ ấy là gì bằng chính nền tảng giáo pháp của họ. Cụ thể như Lý Mai Phương, Lý Tự Như và nhiều người nữa!

Thắc mắc này đeo đuổi Phương Anh trong nhiều giờ. Trong lúc chiêm nghiệm Phương Anh đã gỡ được nút thắt lạ lùng đó. Thì ra 25 năm đi mòn gót giày của bạn đọc Ngã Hành là có thật, nhưng đi để góp nhặt kiến thức rồi đem về suy luận, thắc mắc, tìm người đối chất...vv...cứ thế, như sợi tơ vô hình trói quanh trói quẩn, trói hết lớp này đến lớp khác, mà chẳng thể thoát ra...Đi thì nhiều, góp nhặt thì lắm nhưng chưa một lần biết cách ngồi xuống như pháp tư duy, hay được ai đó dạy cho cách ngồi xuống để tuệ quán mà ứng dụng mà thực chứng nhằm tận mắt chứng kiến nó là thứ gì. Như người đọc vanh vách tên các món ăn của nhà hàng từ Bắc chí Nam rồi đem ra bàn luận, nhưng chưa một lần cầm đũa...Điều này chẳng khác nhiều người học đạo mà Phương Anh đã từng gặp trước khi vào Lý Gia.

Trong khi đó Phật dạy, đại ý: "Pháp của ta dạy cho những người đến để mà thấy mà biết, không phải dạy cho những người không đến để mà thấy mà biết". (Tăng Chi Bộ)

Câu này có nghĩa, Pháp của Phật chỉ dạy cho người thực chứng (đi đến cảnh giới đó để thấy để biết), chứ không dạy cho người học thuộc mà không thực chứng, nghe pháp rồi đem tâm suy luận, hay tưởng tri mà cho rằng mình đã biết đã thấy (không đến để thấy để biết)!

Bây giờ Phương Anh càng thấy muôn phần bái phục sự tài tình của Lão Lý trong cách dạy học trò. Nửa năm học bằng ngọn đuốc chánh pháp đã hơn người 25 năm mò mẫm trong tối tăm của lao ngục suy luận, tưởng tri với những mâu thuẫn nội tại. Thứ mâu thuẫn không hề có trong giáo pháp chân chánh, nếu có chăng mâu thuẫn ấy chỉ là kết quả của tà luận, tà kiến và hiểu sai giáo pháp, mà cụ thể là bạn đọc Ngã Hành đã đặt vấn đề phản biện về Như Lai tàng và Tự tính các pháp, trong khi đó hai món ấy chẳng ăn nhập gì với nhau vì một thứ thuộc về "cảnh giới" một thứ thuộc về "quan điểm"! Phương Anh đọc phản biện này, thật sự bất ngờ trước kiến thức cơ bản của một người được cho là có 25 năm tầm cầu đạo pháp! Thầy ơi, đứng trước phản biện ngớ ngẩn và vô lý như thế con biết phải làm gì đây? Có phải chăng càng trả lời càng làm cho người nghe đảo điên vì gốc rễ là nhận thức cơ bản về giáo pháp của người ấy đã quá sai rồi?

Thầy ơi... Bây giờ con càng khâm phục Thầy hơn về ba môn học của lớp Giáo Pháp Nâng Cao là Thấu thị môn, Thẩm sát môn và Đẳng ngữ môn mà chúng con đã được học tập cũng như thực hành ngay trong đương cơ có tên "Ngã Hành Vấn Đạo" này. Thầy cho con tự cười một tràng sảng khoái về cái cớ sự "linh như đồng cốt" này, học là có đương cơ để thực hành liền.

Thưa Thầy! Bây giờ việc học những điều quá năng lực của mình, những điều thuộc cảnh giới vô lậu, xuất thế...vv...rồi đem hiểu biết hữu lậu, thế gian bằng chính sự khôn ngoan thế tục ra suy luận, giảng giải, phản biện...vv...để tự buộc ràng mình, buộc ràng người như lời Thầy từng dạy đã hiển hiện mồn một trong đương cơ này. Thật ra chẳng có lao ngục nào trói mình mà chỉ tự mình cầm nhầm cục xương khô tưởng đó là bó đuốc rồi đem đi soi rọi khắp nơi, soi rọi giáo pháp...kết quả, tối tăm vẫn hoàn tối tăm. Từ Niết bàn thanh tịnh của bổn tâm mà thấy thành địa ngục điên đảo, nơi cảnh giới vô lậu xuất thế lại đem hiểu biết thế tục luận bàn biến thành triết lí, phản biện thế gian. Với cách tiếp nhận giáo pháp kiểu "nửa nạc, nửa mỡ" này, ta có giải thích đến "gãy lưỡi" thì cũng không khác gì "gãi ngứa ngoài hia", chẳng có tác dụng gì.

Giờ đây con tâm đắc với câu chuyện người mù luận bàn màu sắc, luận bàn về hội hoạ, luận bàn những thứ chỉ có ở thế giới người sáng mắt mà Thầy thường kể cho chúng con nghe trong các buổi học. Phương Anh xin lược kể ra đây giúp bạn đọc Ngã Hành giải trí (chỉ tiếc Phương Anh chưa thực chứng cái hài hước của Lý Lão Sư nên câu chuyện thiếu hấp dẫn).

Chuyện kể như sau:

"Ở làng nọ có gia đình phú hộ mới mua được một bức tranh quý, cả làng đến xem, ai cũng trầm trồ khen ngợi. Trong số người đến xem đó có anh chàng mù bẩm sinh cũng bon chen đòi coi cho được. Phú hộ là người hào phóng, nhân đức, thương người, bèn cho anh mù đặc ân cầm bức tranh quý. Anh mù sau khi sờ soạng bức tranh hồi lâu bèn hỏi lớn:

-Bức tranh vẽ thứ gì?

-Bức tranh vẽ cánh đồng lúa chín và đàn cò!

-Con cò màu gì?

-Con cò màu trắng!

-Màu trắng giống thứ gì?

-Màu trắng giống tuyết!

-Ta biết rồi!

Nghe xong, anh chàng mù gật gật cái đầu như một nhà hiền triết, rồi lần nữa sờ soạng thật kỹ bức tranh, đột nhiên người mù la lớn:

-Các người mù hết rồi sao? Các người mù hết rồi sao? Các người bảo bức tranh vẽ cánh đồng lúa chín và đàn cò trắng sao ta sờ mãi chẳng thấy nó lạnh như tuyết cũng chẳng thấy nó xót như lúa? Các ngươi hãy trả lời cho ta đi!

-Đám đông......!!!!!!!!!

Và thầy dạy tiếp: Đối với trường hợp này, kẻ trí cần phải làm gì? Các bạn ơi, ta không thể luận bàn màu sắc, luận bàn hội hoạ với người mù bẩm sinh, càng bàn ta và người càng thêm điên đảo! Cái người trí cần làm bây giờ, hãy đi tìm thầy thuốc, tìm tiên dược A dà đà để chữa lành đôi mắt mù rồi đưa anh ta đến chỗ có ánh sáng. Lúc ấy chẳng cần bàn màu sắc, chẳng cần luận về đẹp xấu hội hoạ, người mù một khi mắt đã sáng tất nhiên sẽ tự giải đáp mọi thắc mắc của mình." Trong đương cơ này Phương Anh chọn cách làm Thầy đã dạy từ câu chuyện trên!

Thưa các Huynh Đệ!

Thấm nhuần bài học Thấu thị, Thẩm sát của Thầy nhất là câu chuyện vừa kể, Phương Anh xin được phép "không làm cho mình, cho người đảo điên thêm" sau những phản biện của bạn đọc Ngã Hành.

Thưa bạn đọc Ngã Hành!

Những gì trong Bài Tráng Ca Bất Tử mà Thầy đã tặng cho bạn đã quá đủ rồi. Thầy viết: "Bóng tối và ánh sáng, không phải hai mặt đối lập của một vấn đề như ở đời thường vẫn hiểu/Chỉ tại không đèn nên sáng tối nhầm nhau."; Hay "Quơ vội nắm cỏ khô bên đường, dựa lưng vào gốc cây đa già, cố thắp ngọn đèn trong đêm dài tăm tối/Người Tráng Sĩ hiểu ra, cái giá phải trả cho một đời người bởi cực đoan từ hai phía/Bỏ tất cả bên đường đặt gánh nặng xuống, cây đa già phút chốc hoá thành ánh sáng mặt trời."; Và "Người Tráng Sĩ đã chết từ khi ngồi xuống, đốm lửa được thắp lên/Con chim thứu từ nay vĩnh viễn không cất tiếng u buồn, con dế hết kêu rên/Con cá dưới nước hoá thành rồng trong phút chốc ngỡ ngàng niềm vui oà vỡ/Người Tráng Sĩ năm xưa hát Bài Tráng Ca trước bạn bè ngày cũ/Tất cả chắp tay/Một đời tráng sĩ hoá thành bất tử/À ơi! Ấu biến thành sen/Lời ru còn đó, nghe quen thuở nào...!!!". Khi tặng bài thơ này cho bạn đọc Ngã Hành, chắc hẳn lúc đó tim Thầy thắt lại! Ngã Hành ơi, hãy bỏ cục xương khô vô bổ góp nhặt bao năm trời xuống đi, hãy bỏ thứ luận giải phản biện thế tục hữu lậu ấy xuống đi. Mau mau tìm thứ thuốc A dà đà để chữa các thứ bệnh lậu hoặc do suy lường, cột trói bởi văn từ xuất thế...vv... để làm người Tráng Sỹ như những gì Thầy đã gửi gắm trong bài Tráng Ca.

Bạn đọc Ngã Hành thân mến!

Truy vấn của Ngã Hành được gửi tới HĐ Lý Gia vào 20h thứ 7 ngày 22/11. Sau chưa đầy 70h, các HĐ Lý Gia đã lần lượt hồi đáp và cũng như lần trước, các câu trả lời minh bạch, nhất quán, đúng bệnh đúng thuốc.

Có được điều đó là do học trò Lý Gia đã được Lý Lão Sư trao truyền bộ môn công phu có tên là Thám Phúc Công. Công phu này được "bật mí" trong tác phẩm Tâm Pháp - cuốn sách gối đầu giường của toàn thể HĐ Lý Gia. Cái hay của bộ môn này, là sờ cái bụng mà biết cái tâm. Vì thế mới có tên là Thám Phúc.

Trong Tâm Pháp, Lão Sư đã dạy môn công phu Thám Phúc bí truyền ấy như sau:

"Khi gặp người tu hành, muốn biết thiệt giả, chỉ cần Lão Huynh lấy năm ngón của bàn tay phải của mình, lật ngược gõ gõ vào bụng của họ…

- Nếu nghe tiếng bịch bịch như trái mít chín cây, Lão Huynh lại chú tâm định thần, thoảng nghe có mùi khai khai thì biết hạng này trong bụng chỉ chứa toàn xôi chuối, mau mau cúng dường một ít rồi đảnh lễ mà lui…

- Nếu Lão Huynh gõ gõ bàn tay vào bụng mà nghe lộc cộc như cua ốc bò trong thau đồng, lại có mùi hôi mốc thì Lão Huynh biết người này tạp văn chứa đầy trong bụng, tà kiến toàn thân, mau mau cúng dường một liều thuốc xổ, để lâu có hại cho người…

- Còn nếu đó là tiếng cạch cạch như gõ vào gỗ quý, lại có mùi thơm giáng hương, thì biết người này đầy bụng Kinh Điển nhưng chưa tiêu hóa được, phải cấp tốc cúng dường vài hộp thuốc tiêu...

- Cuối cùng nếu Lão Huynh gõ vào mà nghe như tiếng thùng rỗng, kêu dậy trời lại có mùi chiên đàn thì mau mau sụp gối lễ lạy để nghe đạo lý. Bằng không được thì phải đấm lưng cạo chân để tìm chút phước, họa may nghe được pháp âm… " (Trích Tâm Pháp - Lý Tứ)

Kính Thầy!

Con học lóm chút "Đẳng ngữ môn" mà Thầy đã trao truyền cho HĐ Lý Gia. Chẳng biết Thầy có hoan hỷ khi đọc thư này hay không?

Con xin gieo năm vóc sát đất kính lạy tri ân Thầy !!!

Kính thư,

Lý Phương Anh (MB424)"

(Hết các trả lời)

Chúc bạn đọc và bằng hữu Ngã Hành an vui, tinh tấn...!!!

Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!

- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn

25/11/2025

LÝ TỨ

Bài viết Lý Tứ

(95) CHUYỆN BÊN LỀ CHỦ ĐỀ: CÂU CHUYỆN NGÀY CHỦ NHẬT !!!

Quản trị viên 27.12.2020

(95) CHUYỆN BÊN LỀ CHỦ ĐỀ: CÂU CHUYỆN NGÀY CHỦ NHẬT !!!

(95) CHUYeN BeN Le CHu de: CaU CHUYeN NGaY CHu NHaT

Subscribe to