Tác Phẩm Lý Tứ

Khái Niệm Nghiệp Trong Phật Đạo

MB 857 Lý Diệu Sinh 12.02.2023

Khái niệm nghiệp trong Pht giáo rất rng, tất c mi hoạt động ca thân khu ý đu có liên quan đến nghiệp và bnghiệp chi phối, nghiệp có nghiệp chung và nghiệp riêng.

Nghiệp chung đ ch mi tương quan gia cá nhân và cộng đng còn gọi cộng nghip. Biệt nghiệp hay nghiệp rng i đến cái riêng ca tng cá nhân.

Ví dcon ngưi và nhng gì chỉ thuc cá nhân biệt nghiệp, nhân loi và nhng gì nhân loi đang tiếp cận cộng nghip ca biệt nghiệp người.

Nghiệp chung và nghip riêng không ch rời nhau và không nhất thiết chịu chung quy lut thiện ác như nhau, những gì có tính cht tốt đẹp thiện nghiệp và ngược lại ác nghiệp.

Ví d trong mt trn lũ ln, mi gia đình đu b thit hi nng, được coi như ác hay bt thiện nghiệp tùy mức đ thiệt hi, nhưng đồng thời có những người tận dng cơ hội đó ng thuyền chở mướn kiếm được nhiu tin hơn bình thường, tuy có chịu chung nghiệp lũ lt (ác) nhưng bn thân  lại được điều tt nh (thiện). thế khái niệm nghiệp khó mô tả hoàn toàn, ch có thể tự cm nhn, nhưng dù thin hay ác Pht giáo đu gọi chung đó nghiệp.

Khi nói đến nghiệp, Phật giáo muốn nói đến sự ràng buộc hoặc hữu hình hoặc vô hình nào đó tác động trực tiếp lên một chúng sanh hoặc cộng đồng chúng sanh đó, và đưa ra biện pháp giúp chúng sanh này thoát khỏi sự ràng buộc trên theo tinh thần Phật giáo gọi là thoát nghiệp hay giải thoát.

Và thực tế người tu hành nào cũng sợ nghiệp, nht nghiệp ác. thế ch trương tăng thin nghiệp đ hóa giải ác nghiệp được đông đảo Pht tử chp nhn, biện pháp này gọi m na giải nghiệp. Nghiệp ác như nước muối, nghiệp thiện như nưc ngọt, thêm nhiều nước ngt thì nước mn sẽ ngọt dn.

Trong đo giải tht biện pháp này ch mang tính đối phó tạm thi, không phi biện pháp n cơ giúp thoát ra khỏi trói buc ca nghiệp.

Trong thâm sâu Pht giáo quan nim nghiệp thiện hay nghiệp ác cũng đu th ràng buc đối với giải thoát, vì thế Pht giáo không chủ trương dng lại Thiên thừa.

•Về nguyên tc muốn thoát ra khi nghiệp phi biết cơ chế vn hành ca nghiệp, biết cơ chế vn hành thì việc tìm phương tin thoát ra khỏi cơ chế này sẽ kh thi.

Nói đến nghiệp là nói đến tiến trình tổng quát của cỗ máy nghiệp vận hành. Cỗ máy này được vận hành qua nhiều công đoạn mới hình thành, tuy nhiều công đoạn nhưng có bốn công đoạn chính mà cỗ máy nghiệp phải trải qua nếu thiếu một trong bốn công đoạn này thì nghiệp không thành tựu...! ... Thậm chí khi nghiệp thành tựu, Phật giáo chỉ ra thành tựu này có thể thay đổi vì Phật giáo biết chắc nghiệp chỉ là hiệu ứng của mê và nó vô thường. Vô thường nên có thể dừng và chỉ là kết quả của mê nên không thật, không thật thì có thể thay đổi.

֎Bn công đon ca nghiệp đó là: Nhân, duyên, quả, báo. Trong giới tu hành hay gi là: Nghiệp nhân, nghiệp dun, nghiệp qu, nghiệp báo.

•Nghiệp nhân có thể hiểu như đem hạt giống về nhà;

Nghiệp dun như đem ht ging gieo trồng và thực hiện c kỹ thut canh tác;

Nghiệp quả tương tự như giai đoạn đơm hoa kết trái;

Nghiệp báo c tính cht có được ca qu (ti) như ngọt, đng, lớn, nhỏ, tt, xu.

Thu sut cơ chế vn hành ca nghiệp nên Pht giáo tận dng sự hiểu biết này làm vô hiệu a thành tu ca mỗi công đon. Ging như bin pháp canh c, ht ging được canh tác tt sẽ cho ra kết qu tt và ngược lại từ nhân đến quả sẽ không thành.

֎Bn công đon trên tiến trình từ nhân đến qugọi nhân quả. Như vy có th hiểu nghiệp ch thành tu khi nào viên mãn yếu tố nhân qu.

Hiểu nghiệp theo cách vừa nêu giống như trồng cây thì có thể dừng từng công đoạn để cây không ra trái, tức không thành quả báo. Nếu lỡ đem hạt giống về nhà mà không đem hạt giống này trồng tỉa thì hạt giống vô dụng;  nếu trồng tỉa rồi nhưng ngưng chăm sóc không tưới nước bón phân hạt giống không thể nảy mầm; nếu đã nảy mầm mà không đủ duyên tăng trưởng thì chờ ngày hoại diệt; khi đủ duyên kết trái nếu kỹ thuật canh tác đúng khoa học, dùng kỹ thuật cao có thể làm cho trái này thay đổi tính chất của nó, giống như người ta bơm thuốc cho trái cam chua thành ngọt.

Nói chung, từ “nhân” đến “quả” phải trải qua thời gian, trong thời gian này nếu hiểu biết sẽ làm “chậm” hoặc “dừng hẳn” sự vận hành của cỗ máy nghiệp.

✽NHÂN hay hạt giống (chủng tử): Luôn thuộc quá khứ, cho dù việc vừa mới xảy ra nhưng khi ý thức về nó thì sự việc đã thuộc niệm trước, chỉ là hiện tại nhớ nghĩ. Vì chúng sanh niệm niệm không dừng như dòng nước chảy, vừa tác niệm thì niệm này trôi theo quá khứ, không một ai có thể đem quá khứ về hiện tại, giống như chiêm bao khi thức dậy chỉ là sự nhớ nghĩ cho dù giấc chiêm bao này có ảnh hưởng như thế nào.

Vì vy Pht dy các pháp như mộng, khi ý thức tiếp cận pháp thì pháp này thuc niệm đã qua như giấc chiêm bao.

Phân tích vòng đời ca mt chúng sanh Phật ch ra ng đời này gồm 12 công đon duyên cho nhau nên có tên 12 nhân dun.

•Trong kinh Phật chỉ ra rằng vô minh, hành, thức, danh sắc thuộc nhóm “nhân quá khứ”, kinh gọi là tiền tế, có nghĩa là thuộc về mé trước (quá khứ tâm hay niệm trước).

•Mt trong ngũ trin i hối quá, tc nh nghĩ hi hn chuyện đã qua làm tâm yếu ớt, Pht dy người tu thiền phi từ b hi quá thì thiền mới sanh. Không truy tìm quá kh chính là hình thức giúp người tu hành an tnh nơi hiện tại.

✽DUYÊN: Là những tác nhân làm cho hạt giống nảy mầm và tăng trưởng thuộc về hiện tại. Hiện tại có gieo trồng chăm bón thì mầm mới lớn lên thành cây, do đó để dừng nghiệp phải ý thức hiện tại đang mê, không để thân khu ý thi vi tạo c.

Trong 12 nhân duyên các khâu: Xúc, thọ, ái, th thuc vhiện ti, kinh gọi trung tế.

Vì thế Pht thường dy người tu hành trong hiện tại phi h trì c n, dng tâm phân biệt, không chạy theo cảnh duyên đ dừng c đi hay khác hơn phi minh xúc, tc luôn luôn ng sut khi thân n tiếp c ni pháp hoc ngoi pháp.

Khi xúc dng thì thọ dừng, hoc quán th đ dng ái, qu trách ái đ không nm giữ gọi vô c, vô thọ, vô ái, vô thủ.

Duyên có nhiều th, dun gn gi là thân cận dun, dun xa gi dun duyên, dun ngoài gi là sở dun. Tt c mi duyên đu phi dừng vì hiện tại đang mê, các pháp có thy có biết đu nh tưng ca nghiệp thức nên Pht dy các pháp như ảnh, như hưởng, như vang, như bóng.

Biết vy kcó trí không chy theo nh tưng hư di, không chy theo thì c dun tự dừng. Tóm lại dừng c dun hình thức không giúp nghiệp đ dun thành qu, việc làm y phi thực hiện ngay trong hin tại đang mê này.

✽QUẢ (hay Trái): Là kết quviên mãn mt pháp thuc v lai, hin tại dừng c dun v lai qu sẽ không hiện. Như y không tưi nước n phân thì ngày mai cây không ra qu, v lai không tht có vì nó chưa đến, ch là thức giong rui tìm kiếm nơi không hoc chưa có tưng có.

V lai thuộc vpháp tưng, Pht ví như huyễn o, giống như nhà o thut nơi kng có b u mà làm thành b u, o pháp này chỉ làm mờ mt dối gt k trí lm tưởng thiệt có sự tưng.

Trong 12 nhân dun c chi: Hữu, sanh, lão, tử thuộc hu tế. V lai chưa đến nên không thđem v lai ra tu hành hay sa đổi vì i chưa thành hình thì lấy gì đ sa. Dt mong cầu v lai cũng chính cách giúp người tu hành hiện tại dng dun đ an trú trong chánh niệm.

✽BÁO: Là tính chất của quả, báo có báo lành báo dữ. Trên thực tế đã hiện quả thì khó mà thay đổi tính chất của quả, tuy nhiên không nhất thiết như vậy.

•Phật giáo biết rõ các pháp không tánh, chính yếu tố không tánh của các pháp đã giúp Phật giáo giải quyết nan đề quả báo. Giải quyết nan đề này bằng cách làm thay đổi tính chất của một pháp hiện hữu. Bản lai các pháp không tánh chỉ do duyên mà các thứ tánh giả tạm hiện ra, ví như nước gặp duyên nóng thì thành tánh nóng, gặp duyên lạnh thì tánh nó là lạnh.

Các thứ tánh chúng sanh thấy được chỉ là kết quả của mê lầm và vô thường, vì thứ tánh chúng sanh thấy chỉ là giả tánh nên tánh này có thể thay đổi, tức dừng các duyên trả pháp về bản nguyên không tánh của nó. Bởi nếu các pháp tánh thật có thì tánh ấy là thường,

nếu thường thì không th thay đổi được.

Nếu chúng sanh có tánh thì chúng sanh này vĩnh viễn chúng sanh, kh đau có tánh thì kh đau không thchấm dứt, nhưng thực tế kh đau tự hết.

Do thấu triệt nguyên lý này, cho dù nghiệp đã thành quả vẫn có thể thay đổi tính chất hiện tại của nó. Phật pháp lý giải được vấn đề nên mới giúp chúng sinh có điều kiện tu hành.   

Cũng từ lý giải này chỉ ra rằng “thân chúng sinh là quả nghiệp”, tu hành chỉ có thể “thay đổi tính chất bên trong là tâm.”

•Vì thế chúng sanh này có tu hành thành thánh thì cũng không thể mọc cánh tay thứ ba hay cái miệng thứ hai. Chứng thánh giống như thứ bình cũ thay đổi loại rượu bên trong mà dân gian gọi là “bình cũ rượu mới”. Vì thế ngài Xá Lợi Phất khi chứng quả thường nói: Con từ miệng Phật sanh! ... Hay câu nói bất hủ của Ương Quật Ma La: Tôi từ ngày được thánh pháp sinh ra đến nay, chưa sát hại một chúng sinh nào,” mà thật ra trước khi gặp Phật, Ương Quật Ma La đã bị ngoại đạo xúi dục giết gần 100 người.

•Điều này cũng i lên vì sao ngài A Na Lut b mù mt lại có được thiên nn thy khp mười phương, nhưng khi x kim vá chiếc y phi nhờ đến Pht. Qunghiệp không thđi, ch thay đổi nhãn lc bên trong, tc là thay đổi bn cht thy nghe suy nghĩ từ phàm thành thánh chkhông phải thay đổi thân này.

Trong đau kh cũng vậy, Pht giáo ch gii quyết phn kh bên trong ca “tâm”, tc có đau không khổ, chúng sanh đau kh chu c hai; đau thuộc về “thân” phn này có y học giải quyết.

Chuyện kinh kể rằng ngài Xá Lợi Phất đang ngồi thiền bị con quỷ đánh vào đầu, ngài Mục Kiền Liên thấy được hỏi ngài Xá Lợi Phất có kham chịu nỗi không, ngài Xá Lợi Phất nói tuy rất đau nhưng tôi có thể kham nhẫn được. Tuy đã chứng thánh nhưng thân vẫn phải chịu đau khi duyên tác động, do đó đừng nên hiểu lầm tu hành khi chứng quả “thân” như cây cỏ vô tri.

Đoạn kinh sau Pht dy đệ tử vượt qua kh thbng cách chế ng tâm:  T Kheo y nghiến răng, dán cht lưi lên c hng, ly tâm chế ng tâm, nhiếp phc tâm, đánh bại tâm, các ác, bất thiện tm liên h đến dục, liên h đến sân, liên h đến si được tr diệt, đi đến dit vong. Chính nhờ diệt trừ cng, ni tâm được an trú, an tịnh, nht tâm, đnh tĩnh.(Trích kinh An Trú Tâm –HT. Thích Minh Châu dch)

Tóm lại, khái nim “nghiệp không đơn giản, Pht giáo tun nói nghiệp qukhông chđ giới thiu mt kiến thức, giúp người tu hành biến kiến thức này thành cửa vào đo gọi là pháp môn.

֎Mỗi thứ Phật đề cập đến đều giúp chúng sanh mở cánh cửa Niết Bàn. Nghiệp hay nghiệp quả là hành động của thân khẩu ý ngay trong mỗi người tu hành, nếu muốn đóng cánh cửa nghiệp, mở cửa Niết Bàn phải hiểu biết tường tận về nó.

֎Không điều gì Phật vô cớ nói ra và không điều gì Phật nói ra không chỉ cách giải quyết, chỉ vì người tu hành có chịu tìm hiểu tư duy đúng chánh lý hay không.

Tìm hiểu cặn k nht định có cửa vào, cho nên Pht dy ngưi tu hành phi đ bn pháp: Văn, tư, tu, hu là vậy.