Thư viện

Vô Đối Môn MP3 - Giọng Đọc Nhã Quỳnh

MB 1059 Trần Văn Thắng 25.02.2023

Vô Đối Môn - Tác Giả Lý Tứ

1 VĐM01. Các Bước Tu Tập Trong Phật Đạo - Mp3Xem chi tiết
2 VĐM02. Sắc Tức Thị Không, Ngũ Uẩn, Ngũ Ấm Là Gì? - Mp3Xem chi tiết
3 VĐM03. Pháp Môn, Phép Tu, Giác Ngộ Chánh Đạo, Đốn, Tiệm, Các Cảnh Giới Trong Phật Đạo Là Gì? - Mp3Xem chi tiết
4 VĐM04. Giác Ngộ Chánh Đạo - Mp3Xem chi tiết
5 VĐM05. Các Cảnh Giới Trong Phật Đạo - Mp3Xem chi tiết
6 VĐM06. Nhận Biết Một Vị Thành Tựu Trong Phật Đạo - Mp3Xem chi tiết
7 VĐM07. Tăng Bảo; Đệ Nhất Nghĩa Tăng Là Gì? - Mp3Xem chi tiết
8 VĐM08. Nhận Biết: Thường, Ngã, Lạc, Tịnh? - Mp3Xem chi tiết
9 VĐM09. Pháp Môn Tối Thượng Thừa - Mp3Xem chi tiết
10 VĐM10. Lặng Thinh Của Duy Ma Cật - Mp3Xem chi tiết
11 VĐM11. Ba Giai Đoạn Bát Chánh Đạo - Mp3Xem chi tiết
12 VĐM12. Tam Ma Đề "Như Huyễn" - Mp3Xem chi tiết
13 VĐM13. Nhận Biết Một Người Giác Ngộ - Mp3Xem chi tiết
14 VĐM14. Có Công Thức Chung Trong Tu Tập Hay Không? - Mp3Xem chi tiết
15 VĐM15. Chữ "Hiếu" Trong Phật Đạo - Mp3Xem chi tiết
16 VĐM16. Ý Nghĩa Của "Thức, Trí, Giác Trí,... Trong Phật Đạo - Mp3Xem chi tiết
17 VĐM17. Hai Con Đường Tu Phật - Mp3Xem chi tiết
18 VĐM18. "Giáo Trình Khung" Đào Tạo "Bồ Tát, Phật" Quả - Mp3Xem chi tiết
19 VĐM19. Lấy "Tâm" Làm Gốc, "Kiết Sử" Do Đâu Mà Thành? "Dừng Vọng Khởi" Phân Biệt - Mp3Xem chi tiết
20 VĐM20. Bốn Lần Giác Ngộ Quan Trọng - Mp3Xem chi tiết
21 VĐM21. Kiết Sử Từ Đâu Sanh? - Mp3Xem chi tiết
22 VĐM22. Ra Khỏi "Ba Cõi", Như Thế Nào Là "Quy Y Tam Bảo Tự Tánh"? - Mp3Xem chi tiết
23 VĐM23. Lý Do Phải Học "Sâu, Rộng" Kiến Thức Phật Pháp Sau Khi Giác Ngộ - Mp3Xem chi tiết
24 VĐM24. Chánh Pháp Nguyên Chất, Loài "Nga Vương" Là Gì? - Mp3Xem chi tiết
25 VĐM25. Ý Nghĩa Chân Thật Của Câu Nói "Tam Bảo Thường Trụ"? - Mp3Xem chi tiết
26 VĐM26. Ý Nghĩa Của "Hồi Hướng Công Đức", Phật Dạy "Các Bậc Ứng Cúng" - Mp3Xem chi tiết
27 VĐM27. Ba Nhóm Kinh Do "Báo Thân, Hóa Thân, Pháp Thân" Phật Thuyết - Mp3Xem chi tiết
28 VĐM28. Ý Nghĩa Của "Hữu Vi, Vô Vi, Hữu Dư, Vô Dư..."? - Mp3Xem chi tiết
29 VĐM29. Bản Giác, Tánh Giác, Đẳng Giác, Diệu Giác... Là Gì - Mp3Xem chi tiết
30 VĐM30. Kiến Tánh, Bổn Tâm, Bổ Tánh, Biện Thông Thế Trí, Biện Tài Vô Ngại... Là Gì? - Mp3Xem chi tiết
31 VĐM31. Đời Sống Như Pháp, Ý Sanh Thân, Lục Thông, Tam Minh Là Gì? - Mp3Xem chi tiết
32 VĐM32. Bản Tâm, Bản Tánh, Kiến Tánh, Bản Giác... Là Gì? - Mp3Xem chi tiết
33 VĐM33. Người Trí Ở Đời "Học Mười Biết Một Trong Phật Đạo" Là Sao? - Mp3Xem chi tiết
34 VĐM34. Minh Tâm, Kiến Tánh Có Lợi Ích Gì? - Mp3Xem chi tiết
35 VĐM35. Nương Phật Thần Lực Là Gì? - Mp3Xem chi tiết
36 VĐM36. "Giác Ngộ, Giải Thoát, Trí Tuệ" Ở Thời Đại Thông Tin Bùng Nổ Là Như Thế Nào?, Ngũ Minh Là Gì? - Mp3Xem chi tiết
37 VĐM37. "Giác Ngộ Để Bảo Vệ Đạo Tâm", "Thiệt Tế, Kiến Thiệt Tế" Là Gì? - Mp3Xem chi tiết
38 VĐM38. "Ẩn Khuất" Cần Sáng Tỏ Trong Kinh Hoa Nghiêm - Mp3Xem chi tiết
39 VĐM39. "Bùng Vỡ Tâm Thức, Thành Tự Thật Trí", "Giáo Thọ, Giáo Thọ Sư" Ý Nghĩa Là Gì? - Mp3Xem chi tiết
40 VĐM40. Như Thế Nào Được Gọi Là "Vị Có Trí Tuệ" Trong Phật Đạo? - Mp3Xem chi tiết
41 VĐM41. "Giác, Quán", Phép Tu "Ba Tam Muội" Là Gì? - Mp3Xem chi tiết
42 VĐM42. Thực Hành "Lặng Lẽ Quan Sát Không Kết Luận" Là Như Thế Nào? - Mp3Xem chi tiết
43 VĐM43. Nhận Biết Thực Chứng "Tâm Không, Pháp Không"; "Khoa Học Và Phật Đạo" Khác Nhau Như Thế Nào? - Mp3Xem chi tiết
44 VĐM44. Mục Tiêu Tu Phật Là Gì, Sự Khác Nhau Giữa Giáo Dục Tu Phật Và Giáo Dục Thế Gian Là Gì? - Mp3Xem chi tiết
45 VĐM45. Nhận Biết "Vô Minh Trụ Địa", Tám Tánh Chất Thường Hằng Của "Phật Tánh" Là Như Thế Nào? - Mp3Xem chi tiết
46 VĐM46. "Kiến Giải, Giác Trí, Huyễn Trí, Thật Trí", Giác Ngộ "Diệt Đế", Thành Tựu "Hai Vô Ngã" Là Gì? - Mp3Xem chi tiết
47 VĐM47. Vì Sao Nói "Bất Thức Bổn Tâm, Học Pháp Vô Ích"? - Mp3Xem chi tiết
48 VĐM48. "Tâm Lãnh Chỉ Thú Của Đạo" Là Như Thế Nào? - Mp3Xem chi tiết
49 VĐM49. Vì Sao Nói "Tứ Niệm Xứ" Là Cội Nguồn Của Đạo Pháp? - Mp3Xem chi tiết
50 VĐM50. Lời Kết - Mp3Xem chi tiết

Tags:

Tác Phẩm Lý Tứ

Ba Vị Huynh Đệ Luận Về..Tâm Và Pháp

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 24.02.2023

B: Thưa SH! Gần đây, nhiều người bàn luận về hai chữ tâm và pháp trong Phật đạo!

Để làm sáng tỏ hai khái niệm trên, một lần nữa, xin SH giải thích cho chúng đệ hiểu: Thế nào là tâm, thế nào là pháp? Và hai khái niệm này, đóng vai trò quan trọng như thế nào đối với người tu hành?

A: Hai khái niệm “tâm” và “pháp”, là hai khái niệm quan trọng trong Phật đạo! Tâm và pháp là hai niệm xứ, trong bốn niệm xứ: Thân, thọ, tâm và pháp! Người tu hành không hiểu, hoặc hiểu sai bốn khái niệm này, nhất định không thể giác ngộ, thậm chí dẫn đến phát sanh tà kiến!

֎ Thế nào là “Pháp”? Trước khi nói đến tâm, người tu hành phải hiểu rõ pháp là gì! Vì sao lại như vậy? 

Vì rằng, sở dĩ một hữu tình có sinh tâm (hư vọng), cũng tại bởi hữu tình đó có sinh pháp (hư vọng) và rồi mê pháp đó!

─ Để hiểu chữ pháp rõ hơn, chúng ta phải quay trở lại những kiến thức cơ bản của Phật đạo! Kiến thức cơ bản không chuẩn, sẽ không thể tu tập, không thể giác ngộ, không thể thành tựu bất kì một đạo quả nào, cho dù nhỏ nhất!

─Phật đạo chỉ ra rằng, con người có sáu giác quan hay còn gọi là sáu căn, đó là: Nhãn (con mắt), nhĩ (lỗ tai), tỉ (lỗ mũi), thiệt (cái lưỡi), thân (cái thân) và ý (cái suy nghĩ)!

─Mỗi căn hay mỗi giác quan, có một đối tượng để tiếp xúc, đó là: Con mắt, tiếp xúc với cái thấy như bình, bàn; lỗ tai, tiếp xúc với âm thanh như tiếng khen hay chê; lỗ mũi tiếp xúc với mùi hương như thơm, thối; cái lưỡi tiếp xúc với các vị như đắng, ngọt; cái thân tiếp xúc với thân cảm như nóng, lạnh; cái ý tiếp xúc với các nghĩ suy như thiện, ác! Sáu đối tượng tiếp xúc của sáu căn, Phật đạo gọi là sáu trần, đó là: Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp!

─ Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, sẽ cho ra sáu sự nhận biết, đó là: Nhãn thức (nhận biết thuộc về con mắt), nhĩ thức (nhận biết thuộc về lỗ tai), tỉ thức (nhận biết thuộc về lỗ mũi), thiệt thức (nhận biết thuộc về cái lưỡi), thân thức (nhận biết thuộc về cái thân) và ý thức (nhận biết thuộc về cái ý)!

─Theo những điều cơ bản nêu trên, ta thấy chữ pháp mà mọi người bàn luận mấy hôm nay thuộc về ý căn! Khi ý căn khởi lên nhận thức (ý thức) sẽ sinh các pháp! 

● Tóm lại, “pháp” là: Nghĩ suy, nhận thức, quan điểm, quan niệm, khái niệm, suy lường, v.v... Vì thế kinh Pháp Cú dạy: “Ý dẫn đầu các pháp”! Người xưa cũng nói: “Vạn pháp duy thức”!

Để giúp người dễ tu tập và thành tựu cứu cánh không pháp! Phật đạo chia pháp ra hai loại, đó là hữu vi pháp và vô vi pháp!

● Thế nào là hữu vi pháp! Chữ hữu vi trong tiếng Hán có nghĩa là cái được làm ra, cái do tạo tác mà thành! Hữu vi pháp là những nghĩ suy, quan niệm, nhận thức, khái niệm, v.v... do ý thức làm ra!

Thế nào là “hữu vi pháp như mộng, huyễn, bào, ảnh”! 

Câu này có nghĩa, các thứ do ý thức làm ra, tự nó không bền chắc, biến đổi theo thời gian, chỉ đúng với nơi này mà không đúng với nơi kia, v.v... Các quan niệm, nghĩ suy, v.v… trước không nay có, có rồi lại không, tức các hữu vi pháp phải chịu quy luật “sanh, trụ, dị, diệt”! Kinh dạy: “các pháp sanh diệt không ngừng”!

● Thế nào là vô vi pháp! Vô vi là cái không do tạo tác, cái không được làm ra! Nhưng trên thế gian, không có một quan niệm hay nghĩ suy nào, chẳng do từ một thứ khác làm nên, vì thế kinh Đại Bảo Tích, Phật dạy: “Vô vi như sừng thỏ, lông rùa”! Lời dạy này có nghĩa rằng, danh tự vô vi thì có, mà thực thể của cái được gọi là vô vi thì không!

● Như vậy, làm thế nào để người tu hành trong Phật đạo, thành tựu vô vi pháp? Như đã nói ở trên, vô vi như sừng thỏ, lông rùa! Vì thế, để thành tựu vô vi pháp, người tu hành phải tịch diệt hữu vi pháp! Hữu vi pháp rốt ráo tịch diệt, nơi tâm thức không còn bóng dáng của hữu vi, Phật đạo tạm gọi đó là vô vi! 

Kinh Niết Bàn dạy: “Chư hành vô thường, thị sinh diệt pháp, sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc”!

● Vì thế, khái niệm vô vi nhằm để chỉ đến một thứ tâm thức nào đó, mà ở đây không còn bóng dáng của nghĩ suy, khái niệm, quan niệm, suy lường (hành và thức), v.v... gọi chung là “vô sanh pháp”!

● Tóm lại, hai chữ vô vi, hay vô vi pháp trong Phật đạo, thường ám chỉ cho cảnh giới xuất thế như: Niết bàn, chân lí, vô ngã, chân ngã, v.v… 

Để mô tả cảnh giới xuất thế, cũng như để tránh việc người chưa giác ngộ lạm dụng, đem tâm suy lường, sinh các quan niệm hư dối về cảnh giới xuất thế, những cụm từ như “bất khả tư nghì, bất khả thuyết, bất khả bất khả, v.v...” ra đời!

− Hay nói khác hơn, những gì người ta có thể dùng các căn, hay tâm ý tiếp cận được, cái đó thuộc về hữu vi pháp! 

− Để chỉ những gì gọi là vô vi pháp, kinh Đại Niết Bàn dạy về vô vi pháp như sau: “Pháp thiện chẳng thể được, pháp bất thiện chẳng thể được”! 

− Để giúp người đời tránh việc đem tâm ý suy lường về cảnh giới xuất thế hay Niết Bàn, kinh Lăng Già dạy: “không có Niết Bàn Phật, không có Phật Niết Bàn”!

● Kết luận, “pháp” là từ ngữ có tính chuyên môn và cơ bản của Phật đạo, là một niệm xứ quan trọng, mà người tu hành phải hiểu đúng để dùng đây làm chánh niệm tu tập, dùng đây làm chánh tư duy để quan sát tâm ý! 

Nếu không hiểu, hoặc hiểu sai niệm xứ cơ bản này, nhất định không thể giác ngộ, không thể lãnh hội hết thâm ý của Phật đạo, và vĩnh viễn không thể thành tựu đạo quả xuất thế!

֎ Thế nào là “tâm”? Như đã nói ở phần trên, sở dĩ một hữu tình có tâm (hư vọng) là do ý thức có sinh khởi nhận thức hư vọng và mê nhận thức hư vọng ấy! 

● Nếu hữu tình không sinh các nhận thức hư vọng và không mê các nhận thức hư vọng thì, hữu tình đó tự bản chất không có cái được gọi là tâm hư vọng! Khi nào tâm hư vọng hoàn toàn tịch diệt thì, chính nơi ấy, Phật đạo tạm gọi là “chơn tâm hay bổn tâm”!

Làm thế nào để nhận biết hư vọng tâm sinh khởi? Trong mọi lúc, mọi thời, mọi nơi, v.v... Khi xúc duyên đối cảnh mà, trong lòng có những hiệu ứng tình cảm như, thương ghét, buồn vui, giận hờn, đố kị, ganh tị, hơn thua, sân si, v.v... sinh ra! Biết rằng, trong ta đang sinh hư vọng tâm!

Ngược lại, mọi lúc, mọi nơi, mọi thời, v.v... Khi xúc duyên đối cảnh, nhận thức rất rõ cảnh duyên ấy mà không mê mờ, không bị cảnh duyên lôi kéo để sinh các hiệu ứng tình cảm nói trên! Tâm ý thường như như bất động, thường an nhiên tự tại! Biết rằng, ta đang thành tựu vô sanh tâm hay thành tựu không tâm!

Để giúp người tu hành thành tựu không tâm, kinh Kim Cang dạy: “Bất ưng trụ sắc sinh tâm, bất ưng trụ thinh hương vị xúc pháp sinh tâm, ưng vô sở trụ nhi sinh kì tâm”! Để minh hoạ cho cảnh giới bổn tâm hay vô vi tâm chỉ có tên mà không có gì trong đó, kinh Niết Bàn Phật dạy: “Tâm chỉ là danh tự, tánh danh tự rời rạc”! Lục tổ Huệ Năng khi thấy được vấn đề bèn làm kệ mô tả như sau: “Bổn lai vô nhất vật, hà xứ nhá trần ai”!

● Tóm lại, vô sanh tâm, vô vi tâm, không tâm, chơn tâm, bản lai diện mục, Niết Bàn, như như, bất động, v.v... tuy danh tự có khác, nhưng đồng chỉ chung cho cứu cánh “bản lai hữu tình không một thứ tâm có được”! Vì thế cùng với pháp niệm xứ, tâm niệm xứ cũng là một trong bốn niệm xứ quan trọng và cơ bản mà người tu hành trong Phật đạo cần hiểu đúng, và dùng đây làm chánh niệm, chánh tư duy tu hành! Nếu hiểu sai, hoặc không hiểu, nhất định không thể thành tựu bất kì một đạo quả nào, cho dù đó là đạo quả nhỏ nhất!

LM! Thưa SH! Nếu một người thành tựu “hai thứ vô sanh” là không sanh tâm và không sanh pháp! Người đó có trở thành vô tri, vô cảm, như cỏ cây ngói đá hay không?

A: Ha ha ha ha!!! Người tu hành trong Phật đạo, tịch diệt hư vọng pháp và hư vọng tâm để thành tựu hai vô sanh, chứ không phải tịch diệt thấy nghe hay biết, nên không thể vô tri, vô cảm! Thậm chí khi hư vọng tâm và hư vọng pháp tịch diệt, thấy nghe của người ấy sáng suốt lên bội phần và sau đó, bốn tâm vô lượng là từ, bi, hỉ, xả xuất hiện!

Vì sao như vậy? Vì chính pháp hư vọng và tâm hư vọng che chướng nên, thấy nghe bị hai thứ chướng là phiền não chướng và sở tri chướng làm ngại! Bị hai thứ chướng này làm ngại, gọi là người đang hệ phược bởi nhuận chi vô minh và căn bản vô minh!

Tâm hư vọng và pháp hư vọng tịch diệt, người này không bị hai thứ vô minh che chướng giống như, người mù đã được chữa lành đôi mắt, giống như hết đêm đến ngày, giống như nước đã được lóng trong, mọi thứ sẽ minh bạch rõ ràng!

B: Thưa SH! Người tu hành đã tịch diệt hư vọng tâm và hư vọng pháp, có phải đã thành tựu viên mãn Phật đạo hay chưa?

A: Tịch diệt hư vọng tâm và hư vọng pháp, chỉ mới xong phần tự độ, gọi là chứng Diệt đế! Về chủng tánh, tương đương với Thánh chủng tánh của Nhị thừa, hay Tánh chủng tánh của Bồ Tát (quyền thừa)!

Nếu muốn độ người, nếu muốn thành Bồ Tát nhất thừa cho đến Phật quả, vị này phải phát tâm cầu học Nhất Thiết Trí của Đạo đế và phát nguyện độ sanh để lần lượt thành tựu Đạo chủng tánh, Đẳng Giác chủng tánh và Diệu Giác chủng tánh!

● Kết luận! Tâm như vùng tối từ bóng cây, pháp như hình dáng của bóng cây! Tâm và pháp không rời nhau, pháp thế nào tâm thế ấy, cùng sinh cùng diệt! Bóng cây và hình dáng của nó chỉ do các duyên hoà hiệp mà thành, vì thế nó không thật, hết duyên các thứ ấy tự mất!

Lời khai thị của Lục Tổ Huệ Năng cho Trần Đạo Minh sau đây, được coi là mẫu mực về cách làm thế nào để không sanh pháp, không sanh tâm, hầu thấy được bản chơn: 

“Nếu ông đã vì đạo pháp mà đến đây thì! Hãy đình chỉ các duyên (thấy nghe); chớ sinh một niệm (suy lường); không nghĩ thiện, không nghĩ ác (dừng vọng pháp)! Ngay lúc ấy, cái gì là bản lai diện mục (bản chơn) của Minh Thượng Toạ???!!!”

Ha ha ha ha!!! Lão Huệ Năng coi vậy mà từ bi, lại đáo để trong việc dùng phương tiện! Vừa mới chạy bán sống bán chết, thiếu điều “vắt giò lên cần cổ” để giữ y bát! 

Thế mà, khi kẻ rượt mình là Đạo Minh nhấc y bát không lên, sợ quá bèn tráo trở quay đầu cầu pháp, Huệ Năng vẫn thản nhiên, tự tại xuất chiêu khiến Đạo Minh lợi ích! Không biết lúc đó Lão Huệ Năng có vừa khai thị vừa thở hổn hển hay không!!! Thiệt đáng khâm phục!!!

Lời bình của Mao Đại Ca! Công lực của Huệ Năng sở dĩ tăng đáng kể là nhờ sáu tháng luyện “Tả Mễ Thần Công” (thần công giã gạo) ở nhà bếp, cho nên tuy chạy marathon để bảo vệ y bát, mà sức lực vẫn không suy suyển! 

Ngược lại, Đạo Minh tuy trước đây là võ tướng, làm đến chức Tứ Phẩm Tướng Quân, vai u thịt bắp, bụng sáu múi như múi bưởi Biên Hoà, nhưng khi đến Huỳnh Mai chỉ tối ngày lo tu thiền định vì thế công lực… yếu… xìu… Chính lẽ đó, lúc chạy đến núi Đại Dũ, Đạo Minh Đại Ca hết xíu quách, nhấc y bát không lên, mắt nhắm mắt mở, hồn vía lên mây, tưởng có điều mầu nhiệm!!!

Để tỏ lòng ngưỡng mộ môn “Tả Mễ Thần Công”, người sau mới có thơ rằng:

“Cho dù thịt bắp vai u!

  Tối ngày thiền định, xuân thu cũng còi!

  Công phu giã gạo không oai!

  Nhưng mà chạy chí chết, đố ai chạy… cho… bằng”!!!

Gửi tin nhắn đến người dùng

Thông báo bài viết mới

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 05.10.2026

Xin chào Quý Đọc Giả,

Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.

https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/ba-vi-huynh-de-ban-vengu-nhan

Trân trọng,

Tags:

Tác Phẩm Lý Tứ

Ba Vị Huynh Đệ Bàn Về.."Ngũ Nhãn"

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 24.02.2023

B: Thưa SH! Trong Phật đạo, cụ thể là kinh Kim Cang có nói về ngũ nhãn!

Xin SH giải thích thế nào là ngũ nhãn theo tinh thần Phật đạo! Và tu hành như thế nào, để từng bước thành tựu những con mắt này?

A: Trong Phật đạo có nói đến ngũ nhãn hay năm con mắt, gồm: Nhục nhãn, thiên nhãn, pháp nhãn, huệ nhãn và Phật nhãn!

Thật ra, ngũ nhãn hay năm con mắt mà Phật đạo nói đến, không phải là hình ảnh người ta mọc thêm con mắt thứ ba, thứ tư, thứ năm, v.v... trong quá trình tu hành như chuyện thần thoại! Mà ngũ nhãn của Phật đạo, chính là “năm tầng nhận thức” hay “năm lớp nhãn quan”! Các thứ nhãn quan, các tầng nhận thức nêu trên có được, là do quá trình tu tập và giác ngộ như pháp mà hình thành!

Có nghĩa rằng, cùng một sự việc xảy ra, nhưng do nghiệp quả sai khác, nhận thức sai khác, văn hoá sai khác, tâm trí sai khác, v.v...  nên hình thành những thấy biết sai khác, gọi là nhãn quan!

Khi một sự việc xảy ra, người đời nhìn sự việc theo quan điểm thế gian, và đánh giá, kết luận sự việc ấy theo quan điểm của họ! Còn người có giác ngộ, tuỳ theo tầng bậc, tuỳ theo cảnh giới thực chứng, họ sẽ có cách nhìn sự việc, cũng như đánh giá, kết luận sự việc tương ưng với cảnh giới đã chứng!

Mình xin đưa ra một ví dụ, để làm sáng tỏ vấn đề:

Giả sử, đứng trước một thiên tai, từ người đời cho đến người tu hành khi chứng kiến, tình cảm, tâm tư, trí tuệ, ứng xử của những người ấy rất khác nhau!

− Đối với người đời: Trước thiên tai, họ đau khổ, oán trách, người thì cho rằng đây là nghiệp quả phải cam chịu, người thì bảo rằng đây là hậu quả do con người không biết trân trọng, tàn phá thiên nhiên, có người mê tín bảo rằng do ông trời nổi giận, v.v... 

Nói chung, người đời khi đối trước một sự việc, tuỳ vào nhận thức, tuỳ vào văn hoá, tuỳ vào tâm tư, tình cảm, tuỳ vào mức độ thiệt hại, v.v... mà họ nhìn nhận sự việc, rồi đánh giá theo chủ kiến của mình! Phật đạo gọi sự nhìn nhận và đánh giá theo cách như vậy là nhục nhãn!

− Đối với những người đắc thiền định: Với nhãn quan của một thiên chúng, vị ấy do sức huân tu thiền định, tác động của thiên tai lên tâm ý của họ là như thế nào, còn tuỳ thuộc vào thiền thú vị ấy đạt được! Từ đó hình thành nhãn quan, dẫn đến tâm tư, tình cảm, trí tuệ của vị ấy tương ưng với thiền thú hiện có mà an trú tâm! Thấy biết như vậy, Phật đạo gọi là người có thiên nhãn!

Đây là lí do vì sao, một số bài kinh có đề cập đến việc người được sơ thiền, hoả tai không thể bách hại! Người được nhị thiền, thuỷ tai không thể bách hại! Người được tam thiền, phong tai không thể bách hại, v.v... 

Không thể bách hại ở đây là, khi an trú trong thiền thú, với sức thiền định vững chắc, những thứ hoạ tai ấy không thể xâm nhập tâm trí của họ, chứ không phải thân xác họ không bị chết cháy, chết chìm hay gió cuốn!

− Đối với những vị có giác ngộ: Do sức giác ngộ, cho dù đứng trước thiên tai, hoàn cảnh hay bất cứ sự việc như thế nào, tâm trí các vị ấy cũng thanh thản, vắng lặng, bất động! Phật đạo gọi thấy biết và tâm cảnh như vậy là người đắc pháp nhãn!

Tất nhiên, tuỳ thuộc vào cảnh giới giác ngộ, mức độ thanh thản, vắng lặng, bất động sẽ sâu hay cạn! Vì rằng, từ sơ ngộ đến thành tựu viên mãn pháp nhãn, người tu hành phải trải qua nhiều cảnh giới tu chứng khác nhau từ thấp lên cao! Ta có thể hiểu, đó là quá trình thành tựu của tứ thánh quả Thanh Văn, hay sự tiếp nối các địa vị của thập trụ Bồ Tát! Tâm từ bi của pháp nhãn trong hoàn cảnh này, được thể hiện thông qua “Pháp Duyên Từ”!

− Đối với những vị có trí tuệ thì: Trước thiên tai hay hoàn cảnh bất kì! Ngoài việc vị này biết rõ ba thứ nhãn trên cảm nhận sự việc đó như thế nào, vị ấy còn thấy rõ bản chất sự việc, cũng như thật biết mức độ thành tựu của các thứ nhãn kia có được là do huân tu những pháp lành nào! Thấy biết này, Phật đạo gọi là thấy biết của huệ nhãn!

Với những thấy biết như vậy! Do nguyện lực, do từ bi lực, do phương tiện lực... Dưới ánh sáng của trí tuệ, lập tức các phương tiện thù thắng sẽ được vị có huệ nhãn dùng bốn nhiếp pháp tiếp cận, khiến các nhãn kia có những thành tựu vi diệu hơn! Từ bi tâm của huệ nhãn trong hoàn cảnh này, được khai phát từ chủng tử “Chúng Sanh Duyên Từ”!

− Đối với Phật nhãn: Phật nhãn là cái thấy của “Vô Duyên Từ” nên, ở đâu có Phật nhãn rọi đến, dữ biến thành lành, nguy biến thành an!

Điều này được thể hiện qua những câu chuyện: Năm trăm con voi say, chuyện tăng đoàn và khu rừng bị cháy, chuyện bà Vi Đề Hi chứng vô sanh, chuyện Ương Quật Ma La và người phụ nữ vượt cạn, chuyện chim cắt và bồ câu, chuyện Thế Tôn và tăng đoàn bị ngoại đạo dùng chiến thuật huỷ diệt, chuyện Phật nhiếp phục Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp cùng 1200 đồ chúng, chuyện lúa ngựa, v.v... 

Tóm lại, ngũ nhãn hay năm con mắt trong Phật đạo, là năm tầng nhận thức, năm mức độ ảnh hưởng tâm trí của năm cảnh giới từ phàm phu đến Phật khi xúc đối cảnh duyên!

Để có thể cảm nhận các thứ nhãn, đoạn kinh Đại Niết Bàn sau, sẽ giúp các bạn hiểu ra nhãn lực trong Phật đạo là thấy những gì! 

“Phật dạy! Ta dùng Phật nhãn, quán sát hết thảy đại địa, nhật nguyệt, tinh tú, núi non, sông ngoài, hữu tình, vô tình, v.v...  Tất cả không một pháp có được”! 

Lời kinh trên hàm ý rằng, dưới ánh sáng của Phật nhãn, từ vũ trụ cho đến nhân sinh, tự các thứ ấy chẳng phải là pháp, và bản chất của nó không từng là một pháp!

B: Thưa SH! Còn việc tu tập như thế nào để thành tựu từng loại nhãn?

A: Về việc tu tập như thế nào, để thành tựu các loại nhãn, cũng như thân chứng đến đâu mới có thể phát huy nhãn lực! Chúng ta tạm sơ lược như sau:

1) Về nhục nhãn: Nhục nhãn hay thế gian nhãn, là thấy biết của một người bình thường! Nhãn quan của thế gian tuỳ thuộc vào: Nghiệp quả, văn hoá, xã hội, giai cấp, tôn giáo, tín ngưỡng, v.v... Nhãn quan này mọi người đều có, đều biết! Vì thế, không cần thiết phải bàn luận!

2) Về thiên nhãn: Muốn có được thiên nhãn, phải là người chuyên tu “Tứ Thiền Bát Định”! Và, vị ấy phải thành tựu viên mãn ít nhất một thú, trong tám thú của bốn thiền hoặc bốn định!

3) Về pháp nhãn: Muốn thành tựu pháp nhãn, phải là người giác ngộ trong Phật đạo! Từ sơ giác khai pháp nhãn tịnh, đến viên mãn diệt đế thành tựu rốt ráo nhãn lực của pháp nhãn, vị này phải lần lượt trải qua các giai đoạn hết khổ, dứt tập và chứng diệt! Trong quá trình vượt qua ba đế trên, nhãn lực sẽ thăng tiến theo từng giai đoạn! Nếu là Nhị Thừa, nhãn lực ở giai đoạn này có tên là huệ nhãn!

4) Về huệ nhãn: Có ba cấp độ!

− Cấp độ thứ nhất: Bồ Tát đăng địa, huệ nhãn có được là do tu hành sanh, nhãn lực của cấp độ này đồng với hư không nhãn! Nếu là nhãn lực của Nhị Thừa và Bồ Tát Quyền Thừa, nhãn lực này sẽ có tên là pháp nhãn!

− Cấp độ thứ hai: Bồ Tát vào Như Lai Địa, huệ nhãn có được do trí tuệ sanh, nhãn lực của cấp độ này tương đương với Nhất Thiết Trí Lực!

− Cấp độ thứ ba: Bồ Tát vào Phật địa, huệ nhãn có được do công hạnh sanh, đồng với Phật Lực!

5)Về Phật nhãn: Có hai cấp độ!

− Cấp độ thứ nhất: Phật nhãn của Bồ Tát thị hiện hậu biên thân! Tương đương nhãn lực của Pháp Vân Địa!

− Cấp độ thứ hai! Phật nhãn của Đẳng Chánh Giác thuộc tối hậu thân! Đồng Phật nhãn của ba đời chư Phật!

B: Thưa SH! SH có thể cho biết, đối với Phật đạo, công dụng của các thứ nhãn trên dùng vào mục đích gì?

A: Như đã nói ở phần trên, ngũ nhãn là năm tầng nhận thức, tương ưng với năm cảnh giới tu tập!

Giống như người đời, khi đối trước một sự việc bất kì, nhận thức và văn hoá của một người sẽ cho ra thấy biết và nhận định của người đó về sự việc! Chỉ cần nghe quan điểm, chỉ cần nhìn cách ứng xử của họ, ta có thể biết một số nét cơ bản về con người đó!

Trong Phật đạo cũng như thế! Trước một sự việc, trước một lời kinh, trước một nạn vấn, v.v... nhận thức của mỗi cảnh giới tu chứng, sẽ cho ra những kiến giải, cũng như cung cách ứng xử tương ưng với cảnh giới người đó thành tựu!

Vì thế, ta có thể tạm coi, nhãn lực chính là tướng của tu chứng! Nhãn lực thế nào, tu chứng sẽ như thế ấy! Giống như mỗi loài chim, đều có tiếng hót riêng, mỗi loài thú có dấu chân riêng! Nhờ vào đó, người săn thú, bẫy chim biết chắc con vật ta đang đối diện thuộc chủng loại nào! Bồ Tát tiếp cận và đánh giá đối tượng sắp được giáo hoá cũng như thế, giống như người săn thú bẫy chim, từ đó sẽ có những phương tiện thù thắng và tức thì được đưa ra, gọi là đương cơ!

B: Thưa SH! Người có nhãn lực thấp, có thể biết được tâm cảnh của người có nhãn lực cao hơn hay không?

A: Tuyệt đối không! Trong Phật đạo, nhục nhãn vô lượng lần không thể biết tâm cảnh của thiên nhãn! Thiên nhãn vô lượng lần chẳng thể biết tâm cảnh pháp nhãn! Pháp nhãn vô lượng lần không thể biết tâm cảnh huệ nhãn! Huệ nhãn vô lượng lần không thể biết tâm cảnh Phật nhãn!

Ngược lại, người có nhãn lực cao hơn, sẽ biết rất rõ tâm cảnh của người có nhãn lực thấp hơn! Những điều như thế, trong kinh nói rất rõ! Về ngũ nhãn, mọi người còn thắc mắc điều gì không?

LM: Mọi thứ SH đã giải thích cặn kẽ, muội không còn gì thắc mắc!

Nghe SH giải thích, muội so sánh với tâm ý của mình! Đúng như những điều SH vừa cắt nghĩa về nhãn lực, cũng một sự việc xảy ra, trước đây muội thấy khác, sau khi giác ngộ muội thấy khác... và bây giờ, cũng sự việc đó, trong lòng muội thấy khác!

Thấy biết và tâm trí của muội đã thay đổi theo từng giai đoạn tu tập, muội nhận ra điều này rất rõ, nhưng không biết các thay đổi đó là sự thay đổi nhãn lực của người tu tập đúng chánh pháp! Nào ngờ, nhãn lực trong Phật đạo là như thế!

Hèn chi! Nhờ nhãn lực cao thâm, khi nghe một câu chuyện, đọc một bài viết, nhìn qua một lời bình, v.v... tức thì SH liền chỉ ra cái sai, cái không thấu tình đạt lí, lời nào của người thực chứng, lời nào của kẻ dùng thức suy lường, lời nào của kiến giải, lời nào tương ưng cảnh giới nào, mà SH không cần suy nghĩ! Việc này trước đây Lã Muội thắc mắc vì sao SH tài thế, nay đã được giải toả!

Điều này phù hợp với câu nói của SH lúc tiểu muội mới quen! “Người thông thuộc Phật đạo, khi đọc một đoạn văn, nghe một câu chuyện, v.v... có liên quan đến Phật pháp, giống như người ta ăn cơm, chỉ cần trong cơm lộn một hạt sạn dù nhỏ, lúc nhai người đó sẽ phát hiện ra tức thì, mà không cần suy nghĩ”! Hi hi hi hi!!! 

Thì ra bí mật của SH có một phần của nhãn lực! Cho nên, lời văn nào kẹt tứ cú, lời văn nào bị bốn bịnh, lời văn nào dính bốn tướng, lời văn nào của thế pháp, lời văn nào thuộc thánh pháp, v.v... tất cả đều bị nhãn lực của SH soi thấu!

Chúng đệ muội xin đê đầu cảm tạ SH đã bao lần khai nhãn lực cho chúng muội! Muội nguyện phải tu hành để có thể thành tựu nhãn lực cao thâm, nhờ đó khi nghe, đọc... có thể nhận ra lời nào là chánh kiến, lời nào là tà luận! 

Muội suy nghĩ, nếu không có được một nhãn lực như thế, thật khó phân biệt vàng thau lẫn lộn trong mớ hỗn độn luận giải, hay những câu chuyện có liên quan đến Phật đạo! Xin vạn lần tri ân bài pháp hôm nay!!! 

Chúc các bạn an vui!!!                  

           (07-08-2019)

Sinh Hoạt Lý Gia

Nghiệp & Cách đoạn trừ lậu hoặc - Thực Tập Đẳng Ngữ Môn - Sinh hoạt trực tuyến 14/10/2022

MB 857 Lý Diệu Sinh 24.02.2023

THỰC TẬP ĐĂNG NGỮ MÔN (Ngày 14/10/2022)
Chủ tọa: Lý Bạch Huệ Minh
1 - Các vấn đề liên quan đến NGHIỆP, do Lý Ngọc Hải (Hà Nội) trình bày
2 - Cách thức đoạn trừ lậu hoặc, do Lý Diệu An (Hà Nội) trình bày

Tags:

Bài viết Lý Tứ

Phản Hồi Các Bài Viết Từ Lý Gia !!!

MB 857 Lý Diệu Sinh 24.02.2023

Các bạn !!!

Từ ngày bắt đầu hành trình xuyên Việt (17/05/2020) đến nay (27/05/2020) đã được mười ngày !!! Trong mười ngày qua, hầu như chẳng có một chút thì giờ rảnh rang để viết điều gì đó cho các bạn...!!!

Chiều nay, là buổi chiều đầu tiên của chuyến đi có chút thời gian ngồi xem toàn bộ các tương tác trên Fanpage !!! Trong các tương tác từ bạn đọc, có năm bài viết nổi bật, đó là: Bốn bài trả lời bốn câu hỏi Trò Chơi Trí Tuệ - 04/2020 của bạn Lan Nguyen đăng trong Lý Gia... Lời đầu tiên, xin chân thành cảm ơn Lan Nguyen đã nhiệt tình tham gia !!!

Về bốn câu trả lời của bạn Lan Nguyen, mình chỉ mới nhìn thấy, nhưng chưa đọc và cũng chưa duyệt cho đăng... Bởi lẽ, chưa đến thời gian công bố kết quả thì, các bài viết trả lời TCTT chưa thể công khai, điều này giúp tránh ảnh hưởng đến tư duy của các HĐ khác !!! Sau đó, BQT đọc tất cả trả lời, thẩm định kết quả từng bài viết... Những bài viết đạt yêu cầu các câu hỏi đặt ra, mới được đăng công khai vào thời gian kết thúc TCTT !!! Đây là lí do vì sao TCTT lại có link riêng để các bạn viết trả lời vào đó !!!

Mình cũng nhận được tâm sự của Vũ Tuyết Nhung - Hà Nội đăng trong Link trả lời TCTT và mesenger về việc xin được làm HĐ Lý Gia !!! Và mình cũng đã có phản hồi ý kiến của mình trên mesenger cho Tuyết Nhung !!! Mong rằng, sau khi đến Hà Nội, Tuyết Nhung sẽ chính thức làm HĐ Lý Gia như nguyện vọng của bạn !!!

Các bạn !!!

Có thể nói, hành trình xuyên Việt lần này của mình thật nhiều ý nghĩa...!!!

- Thứ nhất, đây là lần đầu tiên mình có một chuyến đi mà có thể ghé thăm tất cả HĐ Lý Gia trên mọi miền đất nước !!!

- Thứ hai, có thêm nhiều HĐ mới ở nhiều địa phương khác nhau !!!

- Thứ ba, đi xuyên Việt bằng đường bộ để đến thăm một số nơi mà mình hằng mong ước như: Đường Trường Sơn, Phá Tam Giang (Huế), Thị Trấn Ái Tử (nơi Chúa Nguyễn Hoàng dựng cơ đồ), Chợ Mỹ Chánh (nơi chiến tranh khốc liệt), sông Thạch Hãn nơi Lê Bá Dương viết bốn câu thơ làm lay động trái tim bao người: "Ðò lên Thạch Hãn… ơi chèo nhẹ/ Ðáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm"...), cổ thành Quảng Trị (nơi xảy ra trận chiến 81 ngày đêm vào năm 1972)... Dự tính, ngày mai sẽ viếng nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, thăm ngã ba Đồng Lộc, nhà thờ La Vang và một số địa danh khác...!!!

Hiện tại, mình và mọi người dừng chân tại Thành Phố Đông Hà, Tỉnh Quảng Trị !!!

Đất nước chúng ta đẹp và mỗi một nơi cho ta một cảm xúc rất đặc biệt các bạn ơi !!!

Chúc mọi người an vui, tinh tấn !!!

27/05/2020

LÝ TỨ

 

Bài viết Lý Tứ

Tứ Cú

MB 857 Lý Diệu Sinh 24.02.2023

(66) CHUYỆN BÊN LỀ

CHỦ ĐỀ: TỨ CÚ

Các bạn !!!

Trong buổi sinh hoạt tối qua, SH Bốn đăng đàn trình bày đề tài: NHẬN DIỆN VÀ KHÁM PHÁ CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA NGŨ TRƯỢC - NGŨ DỤC - NGŨ ẤM - NGŨ UẨN !!!

Trong phần thảo luận, có một vài HĐ nêu lên thắc mắc về ý nghĩa thế nào là Nhất; Nhị; Tam; Tứ và Phi cú của Bát Nhã Môn !!!

Để giúp các bạn có cái nhìn khái quát về đề tài mà các bạn đã thắc mắc, và hi vọng một ngày không xa HĐ chúng ta có cơ hội triển khai... Mình xin giới thiệu bài viết hồi năm 2013 có tên TỨ CÚ KỆ ĐẲNG, được đăng trong Anh Lạc Luận I !!!

Tứ Cú là một trong những đề tài tương đối khó của Phật đạo !!! Bởi lẽ, muốn thấu suốt và thảo luận đề tài này, cần có sức rộng và chiều sâu về giáo pháp... Muốn có sức rộng, người thảo luận phải sở hữu một khối lượng kiến thức nhất định về kinh điển chính thống... Muốn có chiều sâu, người thảo luận phải thông suốt đến nơi đến chốn khối lượng kiến thức ấy !!!

Điều này giống như muốn thảo luận về các con đường ở một quốc gia nào đó, người thảo luận phải am tường hệ thống giao thông, hiểu rõ các luật lệ cũng như văn hoá giao thông của quốc gia ta sắp bàn luận !!! Vì rằng, Phật quốc là một loại quốc độ và có văn hoá riêng của nó !!! Vì thế không thể có chuyện, cư dân của một quốc độ nào đó mà không biết những thứ liên quan có tính thiết thân đến quốc độ mình đã và đang sinh sống !!!

Nếu không lầm, cũng vào những năm 2013 mình có viết đề tài RỘNG SÂU VÀ MƯỜI MỘT THỨ TRÍ... Đề tài này cho thấy, sức rộng, chiều sâu và sự cần thiết phải thông thuộc giáo pháp là nền tảng cốt lõi làm nên trí tuệ trong Phật đạo mà mười một thứ trí là đại diện cho nền tảng ấy !!!

Ví dụ: Đối với người tu hành, chỉ cần nắm vững một phần nhỏ của Tứ Đế là có thể giải quyết tự thân... Nhưng muốn giúp người, ta phải hiểu rõ, thấu suốt cơ chế vận hành cũng như các đạo quả sai biệt của Tứ Đế, do vì chúng sanh có vô lượng căn cơ sai biệt... Hiểu rõ, thấu suốt cơ chế vận hành cũng như nắm vững sự sai biệt của các đạo quả thuộc Tứ Đế chính là nền tảng cốt lõi làm nên Tứ Trí...Có được Tứ Trí, bảy loại trí sau này mới có cơ hội thành tựu !!! Giống như nền móng của một căn nhà có vững, khi xây các tầng cao, căn nhà đó mới không bị ngã đổ !!!

Để có những bước khởi động tốt nhất cho việc chiếm lĩnh đỉnh cao trí tuệ ở vị lai, và việc thảo luận đề tài Tứ Cú trong HĐ chúng ta thành công vào một ngày không xa !!! Mong rằng, mọi HĐ cố gắng trang bị những kiến thức cần thiết và nắm vững các kiến thức liên quan đến đề tài ấy bắt đầu từ hôm nay là vừa !!!

Xin giới thiệu đến mọi người bài viết TỨ CÚ KỆ ĐẲNG... Bài viết như một trong những tài liệu tham khảo, làm động lực ban đầu giúp cỗ máy trí tuệ đi vào vận hành trơn tru !!!

13/05/2020

LÝ TỨ

TỨ CÚ KỆ ĐẲNG

(Trích Anh Lạc Luận I - Lý Tứ)

Các bạn!!!

Mình xin góp thêm chút ý kiến về "tứ cú". Trong kinh, thỉnh thoảng có nhắc đến tứ cú, tứ cú kệ, tứ cú kệ đẳng. Xin tạm kiến giải như sau:

1. Cú.

Là câu căn bản, là câu gốc, là mệnh đề chính. Khi thành lập tứ cú, chư Thánh bèn lấy đó tuyên thuyết một pháp hay một bài kinh. Từ một cú hoặc nhiều cú, tức một mệnh đề hoặc hai ba mệnh đề, người xưa bèn nói lên thành một câu hoặc bốn câu kệ. Ví dụ:

• Mệnh đề không pháp, Kim Cang Đệ Tứ Cú: Phật diễn nói thành bốn câu kệ để tóm lược mệnh đề này như sau: "Nhất thiết hữu vi pháp... Ưng tác như thị quán..."

• Mệnh đề vô phân biệt, Hoa Nghiêm Đệ Nhất Cú: Phật diễn nói thành bốn câu kệ sau: "Người trụ nơi phân biệt... Người này không thấy Phật..."

Và, không nhất thiết khi thuyết kinh, các mệnh đề căn bản người xưa đều phổ thành kệ. Vì thế, trong Nhất Thừa Pháp, nếu biết quy kết mỗi pháp, từng bài kinh thành "những mệnh đề căn bản", thì sẽ hiểu rộng và sâu Pháp đó hơn...

2. Kẹt tứ cú.

Chúng ta thường hay nghe nói ba chữ "kẹt tứ cú". Ba chữ kẹt tứ cú nhằm muốn nói lên điều gì???

Kẹt tứ cú có nghĩa là khi phát biểu, giảng nói về một đề tài nào đó, người phát biểu "không thông suốt" mệnh đề chính làm nên pháp đó. Ví dụ:

• Khi thuyết Kinh Kim Cang, mà lời tuyên thuyết khiến người nghe "sinh chấp tướng", lời thuyết này sai với "Kim Cang Đệ Tam Cú". Vì Kim Cang là mệnh đề "không tánh, không tướng, không pháp", nên kinh dạy: "Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng..."

• Khi thuyết Bát Nhã, mà khiến người và mình kẹt nơi có không tức kẹt vào "Bát Nhã Đệ Nhị Cú", có nghĩa người thuyết còn kẹt hữu vô.

Nói chung, "không kẹt tứ cú" là biểu hiện của sự thông đạt điều mình đang tuyên thuyết, nếu tuyên thuyết mà "kẹt tứ cú", biết người thuyết chưa thông, tất nhiên tâm tông cũng chưa thông.

3. Tứ cú kệ.

Tức là bốn câu kệ, bốn câu kệ này có lúc chỉ nói một cú, có lúc nói hai, ba hay bốn cú. Tuỳ hoàn cảnh, tuỳ pháp mà diễn nói.

4. Tứ cú kệ đẳng.

Là bốn câu kệ có ý nghĩa ngang bằng. Mỗi một câu trong bốn câu, đều có nghĩa lý thông suốt đến các câu kia, có nghĩa thấu suốt một câu là nhất định thấu suốt bốn câu. Vì vậy "tứ cú kệ đẳng" phần lớn chỉ xuất hiện trong Kinh Đại Thừa.

Ví dụ câu:

"Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai". Trong bốn câu này, chỉ cần người tu hành thông một câu, không "chấp trước nơi sắc", thì thanh, hương, vị ..v.v... cũng tự tịch diệt, một thông, tất cả thông. Tịch diệt một pháp, các pháp khác đồng tịch diệt theo gọi là "đẳng". Vì thế Kinh Kim Cang Phật dạy: "Nếu người nào thọ trì bốn câu kệ, hoặc nửa bài, hoặc một câu kệ ngắn mà thâm đạt, sẽ phát sinh vô lượng công đức".

Hy vọng, những kiến giải ngắn ở trên, sẽ giúp các bạn hiểu đôi phần về tứ cú. Thấu suốt thế nào là tứ cú các bạn sẽ có cách nhìn rất rõ về mình, người và các pháp đã được thuyết. Đây là loại "Đại Tổ Tông Thượng Thừa Chiêu Quyết". Ha ha ha ha!!!

Ai thông đạt chiêu quyết này, nhất định dần dần sẽ thành tựu "Thuyết Thông và Tông Thông".

Trong Phật Đạo, chiêu quyết này thuộc loại "bí mật ngữ ngôn" như A, Án, Hà, Lô... Lê, Gia, Hư... Nay mình sơ lược giới thiệu đến các bạn. Vị nào học được, sẽ mở "Đại môn" để vào thành "Đại Niết Bàn" mà "Cuỗm cuốn Bát Nhã thứ 25” của Lão Đại Tổ Tông.

Vì sao thế gian chỉ lưu truyền có 24 quyển Bát Nhã???

Vì rằng ngày xưa, Tát Đà Ba Luân khi đi cầu Bát Nhã Trí, gặp Đại Sư Đàm Vô Kiệt, mừng quá, y ta mắt nhắm mắt mở chụp 24 cuốn, sau đó trốn biệt ngàn không quay đầu lại, 24 cuốn chỉ là tương tợ Bát Nhã chứ chẳng phải Bát Nhã, Bát Nhã chơn thiệt nằm ở cuốn thứ 25. Vì thế, y ta không biết rằng, trong Phật Môn có đến 25 quyển Bát Nhã.

Quyển 25 này, Đàm Vô Kiệt Đại Sư để trong cái trắp bằng chiên đàn, khoá bằng ổ khoá xịn hiệu Rolex kèm theo khoá số điện tử bốn mươi số, cái trắp nằm ở bên phải đầu giường thất bảo, chuyện này Tát Đà Ba Luân không thấy không hay không biết, không ngờ!!! Hu hu hu hu!!! Thiệt tội nghiệp cho cái sự bán thân cầu Bát Nhã mà hấp tấp lấy thiếu bửu bối !!!

(09-12-2013)

Các bạn !!!

• Có vị HĐ hỏi mình, căn cứ vào đâu để biết đó là đệ nhất, đệ nhị cú ..v.v...

• Xin Trả lời: Thứ đệ cú là pháp ấn của một cảnh giới, có cảnh giới phải thành tựu bốn pháp ấn, có cảnh giới một pháp ấn..v.v...Vì thế, khi tuyên thuyết mới có đệ nhất, đệ nhị cú, như Kim Cang Đệ Tam Cú, Hoa Nghiêm Đệ Nhất Cú..v.v...

Để biết được tứ cú trong một bài kinh là những câu nào, câu nào trước câu nào sau, thứ đệ ra sao..v.v... Phải là người thông thuộc giáo pháp, hiểu rõ chỉ thú tu hành, nắm vững các bước phát triển để hình thành bài kinh, gọi là danh cú hình. Và quan trọng, phải thông suốt con đường tiến về Vô Thượng Bồ Đề tuần tự trải qua những cảnh giới nào. Từ đó, mới có thể quy kết và giảng nói cho người mà không phạm tứ cú.

(10-12-2013)

HÌNH ẢNH TIÊU BIỂU BUỔI SINH HOẠT TRỰC TUYẾN ĐỀ TÀI: NHẬN DIỆN VÀ KHÁM PHÁ CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA NGŨ TRƯỢC - NGŨ DỤC - NGŨ ẤM - NGŨ UẨN - DO SH HUỲNH BỐN TRÌNH BÀY VÀ HĐ LÝ GIA THẢO LUẬN !!!

(66) CHUYỆN BÊN LỀ CHỦ ĐỀ: TỨ CÚ

(66) CHUYỆN BÊN LỀ CHỦ ĐỀ: TỨ CÚ

(66) CHUYỆN BÊN LỀ CHỦ ĐỀ: TỨ CÚ

(66) CHUYỆN BÊN LỀ CHỦ ĐỀ: TỨ CÚ

(66) CHUYỆN BÊN LỀ CHỦ ĐỀ: TỨ CÚ

Tags:

Tứ Cú

Bài viết Lý Tứ

Kỷ Niệm Một Mùa Phật Đản

MB 857 Lý Diệu Sinh 24.02.2023

Phật Đản năm 1973 có lẽ là mùa Phật Đản khó quên, đánh dấu bước ngoặt về việc tiếp cận Phật pháp...

Phật Đản năm 1973 có lẽ là mùa Phật Đản khó quên, đánh dấu bước ngoặt về việc tiếp cận Phật pháp... Cũng từ ngày ấy, mình nhận ra Phật pháp có cả một kho tàng triết lí mang tính ứng dụng cao !!!

Năm đó, mình quen một người bạn lớn hơn mình chừng mười tuổi...Đúng ra anh ta chỉ là thư kí và mình có chức vụ cao hơn !!! Sau thời gian tìm hiểu người thư kí “văn hay chữ tốt” và “có vẻ thông thái”... Mình mới biết được anh ta có một lí lịch không vừa !!! Tuy ở đơn vị, anh ta chỉ là một thư kí...Nhưng ở ngoài đời từng là Hiệu Trưởng một trường Trung Học Tư Thục, là thành viên của Mặt Trận Hoà Hợp Hoà Giải Dân Tộc, vừa là Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử một Tỉnh, từng là Đại Uý (chế độ cũ) và bỏ ngũ sau chiến dịch Lam Sơn 719 ở Hạ Lào... Nói chung, anh ta xuất thân trong một gia đình bề thế, bản thân có uy tín ở địa phương... Vì chán ngán chiến tranh, anh ta phải “luồn lách” để có được một chân thư kí văn phòng !!!

Mình và anh ta rất thân nhau, cuối tuần thường về nhà anh ta ở một huyện nhỏ...Ở đó có vườn cây ăn trái, có căn nhà gỗ cổ kính, trong nhà gồm toàn những người học thức cao, lịch thiệp và anh ta có mấy người cháu trạc tuổi của mình !!!

Mình được anh bạn lớn tuổi mời tham dự buổi cắm trại của Gia Đình Phật Tử một tỉnh miền Trung nhân ngày Phật Đản (1973) !!! Sau lửa trại, một số Huynh Trưởng, các vị Đại Đức ngồi lại với nhau đàm đạo !!! Vì là khách mời, nên mình cũng được tham gia vào buổi trà đạo ấy !!!

Khi nghe mọi người đàm đạo, họ nói về kinh điển, họ nói về thiền, họ nói về phương hướng đấu tranh của mặt trận... Thú thật, khi nghe những thứ ấy bản thân mình như “vịt nghe sấm”, chẳng hiểu mô tê gì hết, nhưng cũng gục gặc cái đầu, ra vẻ đăm chiêu như người hiểu chuyện !!!

Sáng hôm sau ở đơn vị, người bạn ấy hỏi mình:

- Hồi tối nghe mọi người nói chuyện, ông có hiểu gì không ??? Ông chức vụ cao hơn tôi mà dốt quá, tôi thật mắc cỡ !!!

Tự ái của một thanh niên nổi lên, mình trả lời:

- Anh Q à !!! Những điều các anh bàn hồi tối, tôi chưa từng nghe qua !!! Nhưng xin hẹn anh, sáu tháng sau mình sẽ nói chuyện !!!

Thế là từ hôm ấy, mỗi ngày người bạn lớn tuổi thay mình giải quyết công việc, chiều về mình đến đơn vị kiểm tra, xem công văn do anh ta soạn thảo, kí tắt và giao cho anh ta trình lên cấp trên kí chính thức !!! Sáu tháng trời, mình chỉ biết đến tủ sách (gần như một thư viện nhỏ) của Tỉnh Giáo Hội ở đó miệt mài đọc kinh sách... Có đêm mình đọc đến khi các vị Sư đuổi ra ngoài vì đã khuya mới lững thững đi về nhà trọ với cái đầu đầy ắp triết lí !!!

Những ngày đầu, các vị Sư đưa cho mình các cuốn sách theo yêu cầu...Nhưng, ngày nào cũng đọc từ sáng đến chiều, đọc lâu thành quen, các vị Sư cho mình được phép muốn đọc cuốn nào thì tự tìm trong tủ mà đọc !!! Và, mình đã đọc hết kinh sách của thư viện trong vòng sáu tháng như đã hứa !!! Cũng xin nói thêm, hồi nhỏ sức đọc của mình cực lẹ... Chỉ một đêm, mình có thể đọc hết bộ kiếm hiệp Tiếu Ngạo Giang Hồ hay Anh Hùng Xạ Điêu của Kim Dung và nhớ vanh vách từng chi tiết !!!

Ở thư viện, mình đọc miệt mài, mình đọc căm cụi, chỉ biết đọc và đọc, không nói chuyện với những người chung quanh !!! Các vị Sư trong chùa có lẽ rất ngạc nhiên trước thái độ và tính cách cần cù đọc sách của mình...Thi thoảng có một vài vị đến làm quen, tìm hiểu, nhưng mình chỉ mỉm cười !!!

Tết năm ấy !!! Cũng một buổi trà đạo... Cũng những vị Huynh Trưởng...Cũng những vị Sư ấy... Mình đã khiến mọi người đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác về sức rộng giáo pháp !!! Hầu như những gì các vị ấy biết, mình biết, thậm chí còn biết rõ hơn (vì mới vừa đọc xong) !!!

Mình nhớ như in, trong lúc đang thao thao bất tuyệt về Kinh Viên Giác và Thiền Đốn Ngộ, một vị Đại Đức đứng lên chắp tay vái mình với vẻ mặt đầy kinh ngạc... Tất nhiên lúc đó mình chỉ biết kiến giải theo sách vở... Bây giờ, mỗi khi nhớ lại cảnh đó thiệt là buồn cười... Với mớ kiến thức vụn vặt, chắp vá lung tung, không có chiều sâu, không biết thật nghĩa và cũng không có giá trị ứng dụng... Nhưng khi trình bày, mọi người cũng lắng nghe một cách cung kính !!! Thế mới biết, cái thâm u của Phật đạo không dễ mấy người lãnh hội !!!

Để trả ơn cho người bạn lớn tuổi đã khơi dậy sức học tập, giúp mình có dịp nhận ra “cái dốt nát” của bản thân về giáo pháp !!! Năm 1975 tự tay mình làm hồ sơ để người bạn lớn tuổi về Sài Gòn học một khoá chuyên môn Hành Chánh Quản Trị (nhằm trụ vững trong ngành) !!! Khi vị ấy đi được một tháng, đơn vị giải tán... Từ đó đến nay, đã 45 năm trôi qua, mình và vị ấy không còn gặp lại nhau !!!

Có lẽ, nhờ những kiến thức trong sáu tháng đọc sách, mình hiểu được một số điều cơ bản về giáo pháp... Nhờ những hiểu biết đã có từ trước, công việc nghiên cứu, tu tập của mình sau này gặp nhiều thuận lợi !!! Và cũng chính nhờ lần bị chê là dốt nát trong mùa Phật Đản năm đó, mình hiểu ra giá trị của học tập !!! Từ đó đến nay, mình không ngừng học tập !!! Nói khác hơn, mình thuộc loại người “ghiền học tập” !!!

Khi viết những dòng tâm sự này, không biết người bạn lớn tuổi sau những biến cố của cuộc tồn sinh có còn sống ??? Có đọc được bài viết và có còn nhớ đêm lửa trại “đầy kỉ niệm” ấy chăng !!!???

Anh Q ơi !!! Cảm ơn nhân duyên thân quen với anh !!! Cảm ơn cầu nối vô hình và câu nói khích tướng nhưng đầy tính giáo dục của anh... Đã giúp tôi đến với giáo pháp và trở thành “tên ghiền học tập” ở tuổi mười chín !!!

06/05/2020

LÝ TỨ

 

Bài viết Lý Tứ

Phật Đạo Và Con Đường Tiến Hóa Như Pháp !!!

MB 857 Lý Diệu Sinh 24.02.2023

Trong cuộc sống, nếu ta thực hiện thành công hai thứ văn minh vật chất và văn minh tinh thần... Nhất định loài người sẽ có một đời sống vật chất đầy đủ trong một tinh thần vô ưu vô não... Đây là điều mà, từ xưa đến nay, nhân loại luôn ước ao và tìm kiếm !!!

Loài người là một trong những động vật tinh khôn nhất trên địa cầu !!! “Loài người thuộc bộ Linh trưởng. Danh pháp khoa học: (Primates) là một bộ thuộc giới động vật (Animalia), ngành động vật có dây sống (chordata), phân ngành động vật có xương sống, lớp thú (hay động vật có vú, Mammalia). Loài người hiện đại thuộc về bộ này”. (Theo Wikipedia).

“Theo dấu vết hóa thạch, tổ tiên của Linh trưởng có thể đã tồn tại vào thời kì Creta muộn cách đây khoảng 65 triệu năm. Linh trưởng cổ nhất được ghi nhận sống vào thời kì Paleocene muộn là Plesiadapis cách đây chừng 55–58 triệu năm. Các nghiên cứu về đồng hồ phân tử đề xuất rằng nhánh Linh trưởng thậm chí có thể cổ hơn, xuất phát vào thời kì Creta giữa, cách đây khoảng 85 triệu năm”. (Theo Wikipedia).

“Cũng thuộc bộ Linh trưởng, nhưng loài Linh trưởng thuộc nhánh Haplorhini (khác Linh trưởng nhánh Strepsirrhini) có họ Người (Hominidae là khỉ dạng người) và loài Người (Homo sapiens)”. (Theo Wikipedia).

Theo như những gì các nhà khoa học ghi nhận ở trên. Ta có thể hiểu, những con Người đầu tiên xuất hiện trên địa cầu chừng 65 đến 85 triệu năm trước !!! Với chừng ấy thời gian, con Người đã trải qua một quá trình tiến hoá rất dài !!! Trong quá trình tiến hoá ấy, con Người với sức mạnh trí tuệ của mình đã gần như thống trị địa cầu, và vượt lên trên các loài khác để có một loài Người của ngày hôm nay, với những thành tựu thật đáng kính nể !!!

Song song với những tiến hoá mang tính khoa học, con Người còn dùng sức mạnh trí tuệ để khai phá thế giới tâm thức. Tâm thức là một thế giới trừu tượng vô hình, không thể dùng các công cụ hiện tại của khoa học để cân đong đo đếm !!! Chính sự không thể cân đong đo đếm được, thế giới tâm thức một phần nào đó đã bất đắc dĩ chuyển hướng để trở thành thế giới tâm linh !!!

Phật đạo thuộc thế giới tâm thức, được chư Phật khai phá và hình thành một quy trình tiến hoá như pháp !!! Từ sự tiến hoá như pháp đó, một hình thái văn hoá khác xuất hiện trên cõi đời này ta tạm đặt tên là “văn hoá vô lậu” !!!

Mà đã là tiến hoá, cho dù đó là tiến hoá vô lậu, tiến hoá này nhất định phải tuân thủ những quy trình nghiêm ngặt mang tính nhận thức logich về quy trình đó !!! Nếu ta không nắm vững quy trình, không nhận thức đúng đắn logich tiến hoá... Nhất định, quá trình tiến hoá sẽ sai lệch và đích đến của tiến hoá sẽ bị biến tướng !!! Vì thế, học giáo pháp, thông hiểu giáo pháp, nắm vững quy trình tiến hoá như pháp và ứng dụng triệt để quy trình này vào đời sống để tiến hoá... Là những điều không thể thiếu cho bất kì một ai muốn bản thân dự phần vào dòng chảy tiến hoá của Phật đạo !!!

Tổ tiên của chúng ta, những con người đầu tiên đã khai sinh ra con đường tiến hoá của nhân loại, để từng bước vượt qua bao nhiêu trở lực từ thế giới tự nhiên và có một nền văn minh của ngày hôm nay !!! Đối với nền văn minh của Phật đạo, chư Phật chính là những người đầu tiên phát hiện, khai sáng con đường tiến hoá của giáo pháp và đã thực hiện thành công quy trình tiến hoá này !!!

Hiện tại, chúng ta đang sở hữu những kết quả mĩ mãn của khoa học !!! Nhưng đối với Phật đạo và quy trình tiến hoá của nền văn minh này, chúng ta chỉ là những con người bán khai (về phương diện tâm thức) không hơn không kém !!! Tuy nhiên rất may mắn là, đối trước những mờ mịt của tâm thức bán khai ấy, một hệ thống tiến hoá mang tính khoa học được chư Phật để lại, như ngọn đuốc sáng giúp chúng ta theo đó từng bước thành tựu như pháp... Nếu chúng ta không học tập, không nắm vững, không thấm nhuần...v..v... Nhất định, chúng ta sẽ không thể thoát ra khỏi thứ văn minh bán khai của tâm thức, cho dù trong lòng rất mong muốn được tiến hoá như pháp !!!

Văn minh khoa học giúp chúng ta có một cuộc sống đầy đủ về vật chất !!! Văn minh Phật giáo giúp chúng ta có một cuộc sống an tịnh về tinh thần !!! Con người thuộc bộ Linh trưởng, Linh trưởng là bộ các động vật có độ tinh anh (trí tuệ) cao hàng đầu trong số các động vật !!! Đã là nhóm thuộc độ “tinh anh cao hàng đầu” thì, hai loại văn hoá là văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần nhất định phải được tiến hoá song song, nếu thiếu một trong hai thứ văn hoá ấy, hoặc một trong hai quy trình tiến hoá bị sai lệch, con Người có còn xứng đáng được gọi là Linh trưởng chăng !!!??? Và con Người có còn được hưởng trọn vẹn đặc ân trí tuệ của một loài được coi là tinh anh nhất chăng !!!???

Trong cuộc sống, nếu ta thực hiện thành công hai thứ văn minh vật chất và văn minh tinh thần... Nhất định loài người sẽ có một đời sống vật chất đầy đủ trong một tinh thần vô ưu vô não... Đây là điều mà, từ xưa đến nay, nhân loại luôn ước ao và tìm kiếm !!!

25/04/2020

LÝ TỨ

 

Bài viết Lý Tứ

Mỉm Cười Trước Cái Chết !!!

MB 857 Lý Diệu Sinh 24.02.2023

Mỉm cười trước cái chết !!! Mới nghe thì rất dễ !!! Nhưng, để thực hiện được điều này thật không dễ chút nào !!!

Các bạn !!!

Hồi tối, mình có cuộc nói chuyện với Xí Muội !!! Sau lần mình và HĐ đến thăm Xí Muội tại Bệnh Viện Ung Bứu Thành Phố Hồ Chí Minh cách đây nửa năm... Từ đó đến giờ, Xí Muội coi Bệnh Viện là nhà, phải chống chọi với căn bệnh hiểm nghèo, đời sống của Xí Muội hầu như được tính từng ngày !!!

Mình rất bất ngờ khi Xí Muội xuất hiện trên màn hình, không phải một Xí Muội với gương mặt nhăn nhó, sầu thảm thường thấy của một bệnh nhân rơi vào tình cảnh “thập tử nhất sinh”... Mà, Xí Muội xuất hiện với nụ cười thật tươi trên môi, trong thần thái an nhiên, thanh thoát của một người hiểu đạo !!! Đúng là: “Chu Choa !!! Chu Choa !!! Du Hí Tam Muội !!! Phu Nhân Bất Tổn Hao Ngân Lượng !!! Đại Thần Thông Lực” !!!

Vừa bắt gặp nụ cười của Xí Muội, mình chợt nhớ đến câu nói bất hủ của Ajahn Chah: “A madman and an arahant both smile but the arahant knows why while the madman doén’t...”!!! Tạm dịch: Tên khùng và vị A La Hán đều biết mỉm cười: Nhưng vị A La Hán biết tại sao mình mỉm cười còn tên khùng thì không....!!!!

Tất nhiên, Xí Muội không phải là một A La Hán !!! Nhưng, nụ cười của Xí Muội là nụ cười được hình thành bởi sự thấm nhuần giáo pháp... Và, nụ cười ấy chính là nụ cười của những ai đã vượt qua khỏi tám món khổ của nhân sinh bằng thứ thuốc thần kì, tối thượng của Phật pháp !!!

Buổi nói chuyện thật dài và cảm động:

- Em khoẻ không ???

- Đau đến chết Thầy ơi !!! Con phải vô hoá chất thường xuyên... Và phải dùng đến Morphin để giúp giảm cơn đau !!!

- Trong lòng Em thế nào ???

- An vui, thanh thản, sẵn sàng đón nhận tất cả !!! Thầy thấy vậy, chứ có thể mê man bất kể lúc nào !!!

- Khi tỉnh dậy, đầu tiên Em nghĩ đến điều gì ???

- Con chộp vội mấy cuốn sách của Thầy để đọc !!! Con quyết học hết giáo pháp do Thầy giảng giải trước khi ra đi !!!

- Em cảm nhận thế nào khi đọc ???

- Càng ngày con càng hiểu sâu hơn về đạo và càng đọc càng an vui, vững tin về bản thân !!! Con biết, nếu không phải là đệ tử của Thầy, người khác có đọc vô chỉ thấy nó hay thôi, nhưng khó có thể lãnh hội hết ý nghĩa Thầy gởi gắm trong đó !!! Thầy ơi !!! Thỉnh thoảng Mẹ của con khuyên con Niệm Phật, nhưng con không thể niệm được !!! Trong lòng con luôn thanh tịnh, rỗng rang, an lạc...Không cách chi con mở miệng Niệm Phật như mọi người được !!!

- Ha ha ha ha !!! An vui, thanh tịnh, rỗng rang... Thường niệm những thứ ấy chính là Niệm Phật !!! Niệm như thế là niệm công đức của chư Phật !!!

Đặc biệt, mẹ của Xí Muội từ Mỹ về để săn sóc Xí Muội trong thời gian Xí Muội bị bệnh... Qua quá trình gần gũi Xí Muội, bà ta cũng bắt đầu có những hiểu biết mới về giáo pháp thay vì trước đây hàng ngày chỉ biết gõ mõ, tụng kinh, cầu nguyện...!!! Bà ta tâm sự: “Sau dịch, con về Mỹ và nhất định phải mang theo sách của Thầy để làm hành trang về bên đó tu học... Nhờ có Xí Muội đọc sách của Thầy và giảng giải, con mới biết Phật pháp nó hay và thâm thuý đến như thế...” !!!

Buổi nói chuyện được kết thúc bằng lời hứa: “Sau khi hết dịch, mình sẽ lên trên đó thăm Em và thăm các HĐ trên đó !!! Em yên tâm dưỡng bệnh...” !!!

Các bạn !!!

Mỉm cười trước cái chết !!! Mới nghe thì rất dễ !!! Nhưng, để thực hiện được điều này thật không dễ chút nào !!!

Chuyện không dễ chút nào, nhưng Xí Muội của chúng ta đã làm được !!! Lý Gia luôn xuất hiện những điều được coi là “kì sự hi hữu” trong thời mạt pháp!!!

Viết đến đây, mình nhớ lại hình ảnh thật cảm động ngày Xí Muội nhập môn !!! Lúc đó, mình và HĐ đang uống cà phê ở Phú Mĩ Hưng (TP.HCM)... Hay tin, Xí muội xin được gặp và mình đồng ý !!! Thế là Xí Muội gấp rút bắt Taxi từ Thủ Đức đến Sài Gòn !!! Trên đường đi, sợ mình không đợi được, Xí Muội Live streaming liên tục bằng câu nói: “Thế Tôn ơi !!! Đợi con, con đang trên đường đi đến...” !!! Ha ha ha ha !!! Tất nhiên, mình không phải là Thế Tôn... Nhưng, vui mừng quá, Xí Muội đã thốt lên những lời đầy thương yêu và cảm động như thế !!!

Xí Muội ơi !!! Mình và HĐ Lý Gia luôn hướng về Xí Muội !!! Nỗi đau thân xác của Em, cũng là nỗi đau chung của tất cả HĐTM chúng ta !!! Chúc Em an vui, tinh tấn !!!

THÔNG BÁO !!!

Những ngày qua, BQT nhận được trả lời TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ - 03/2020 của LÝ THIỆN CẢNH (Cần Thơ), LÝ PHẠM THUỲ (TP.HCM), LÝ ANH TỴ (Quảng Nam), LÝ DIỆU TÂM (Hà Nội)... Mình cứ ngỡ, bốn câu hỏi trong TCTT lần này, sẽ làm khó mọi người... Nhưng không ngờ, có đến 90% HĐ chúng ta trả lời đúng !!! Ha ha ha ha !!! Bốn câu hỏi đó, nếu không thực chứng, chỉ dựa vào kiến thức thôi, khi đọc vào còn không biết các câu hỏi ấy hỏi điều gì, đừng nói đến chuyện trả lời thoả đáng... Thế mà HĐ chúng ta trả lời được !!! Mình có lời khen ngợi các bạn !!!

Sáng nay, mình cũng nhận được bài viết của LÝ HOÀNG NHI !!! Bài viết của Nhi nhằm trả nợ câu hỏi hóc búa của mình dành cho Nhi cách đây một tháng... Câu hỏi đó là: “Đạo xuất thế là gì” ???

Tất nhiên, câu hỏi của Lão Lý không đơn giản !!! Nếu chỉ sử dụng kiến thức đã học để trả lời với Lão Lý rằng, đạo xuất thế là thế này hay thế kia...v..v... mà không trả lời bằng thực chứng của bản thân... Việc trả lời như thế, chẳng khác chi “múa rìu trước cửa Lỗ Ban” chỉ tổ làm cho Lão Lý một phen cười bể bụng !!!

Biết như vậy, Nhi đã gặm cục “gân bò” của Lão Lý đến cả tháng, hôm nay mới tạm gọi là “nuốt trôi khỏi cổ họng” !!! Ha ha ha ha !!! Bài của Nhi sẽ đăng vào kì tới !!! Hãy đón xem, Nhi trả lời câu hỏi hóc búa ấy như thế nào !!!???

18/04/2020

LÝ TỨ

 

Subscribe to