Thông báo bài viết mới
Xin chào Quý Đọc Giả,
Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.
https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/ba-vi-huynh-de-ban-veloi-cay
Trân trọng,
Tỉnh Giấc Mộng Dài Mình Chẳng Là Cái Đinh Rỉ Gì Cả

Tâm Sự Huynh Đệ số 47
Con chào thầy,
Cũng lâu lâu rồi con không có viết thư gì cho thầy, chỉ thi thoảng có điều gì cần hỏi thì bốc máy gọi luôn để nghe thầy giảng luôn cho nhanh tiện lẹ. Hihi. Bữa rồi có tâm sự với thầy là sắp kỷ niệm 1 năm ngày con gia nhập Lý gia, 1 năm nợ lạy thầy rồi đó thầy, mà do điều kiện mà toàn nghe lại file ghi âm, không có điều kiện tham gia sinh hoạt trực tiếp. Thầy bảo viết bài chia sẻ tâm sự đi còn chờ gì nữa. Hihi. Con viết luôn. Đây cũng là dịp để con nhìn lại quá trình học tập của bản thân con 1 năm qua, chia sẻ những thấy biết của con và mong nhờ thầy cùng HĐTM Lý gia góp ý, bổ khuyết để con tiếp tục tinh tấn trên con đường tu học giáo lý nơi thầy. Làm đệ tử thầy được tròn năm vào ngày 31/12 tới đây nhưng vì điều kiện không cho phép nên con không tham gia sinh hoạt zoom cùng HĐTM được. Và có lẽ con cũng chưa bao giờ có cơ hội chia sẻ cùng thầy và HĐTM Lý gia về bản thân con nên con mong bức thư này sẽ giúp con tâm sự phần nào về mình tới thầy và HĐTM.
Con được sinh ra trong một gia đình trung lưu buôn bán kinh doanh tại Hà Nội. Con là nữ nhi duy nhất trong hơn mười mấy anh chị em họ trong gia đình lớn. Con may mắn có được người mẹ chú trọng vào giáo dục mà con được học tập trong những môi trường học tập tốt từ khi còn nhỏ. Cùng nỗ lực tự thân và môi trường giáo dục mà con cũng có được chút thuận lợi trong học tập và sau này là công việc. Từ khi còn nhỏ và sau này khi lớn lên, con luôn được mọi người dành cho những lời đánh gía và có thể nói là khen ngợi về sự tự lập, mạnh mẽ, quyết đoán và thẳng thắn.
Bản thân con trước kia luôn coi trọng Phật đạo nhưng chưa từng có ý nghĩ là sẽ học Phật đạo và coi đó là cứu cánh. Cho đến khoảng giữa năm 2018, gia đình con gặp biến cố lớn khi con ở xa và gần như không có ai hỗ trợ sẻ chia về mặt tinh thần mà con tìm đến các bài giảng pháp về Buông Xả để giúp tinh thần con dịu lại, tiếp tục con đường học tập và nuôi con. Con đã nghe triền miên trong một thời gian dài, nghe nhiều đến nỗi mà có lúc nghe mà đầu óc tâm trí con vẫn nghĩ đến những việc khác, từ tai nọ ra tai kia mà chẳng có chút tác dụng gì. Rồi công việc bận rộn và các dự định kế hoạch cũng cuốn con đi, dù không còn nghĩ nhiều đến biến cố kia nhưng nó vẫn ở đâu đó trong tâm trí con, chưa hoàn toàn đi vào quá khứ. Vô tình đến khoảng giữa năm 2019, con có đọc được bài Hai vị huynh đệ luận về Buông Xả trên facebook của Phương Anh. Con vẫn nhớ như in lúc đó, đang trong giờ nghỉ trưa tại trường học mà tâm trí con hoàn toàn tĩnh lặng, con có thể tưởng tượng ra con đang đứng trên bờ và mọi sự việc, biến động đã trôi theo dòng nước chảy mà thầy đã mô tả. Dòng tâm thức của con đột nhiên dừng lại và hoàn toàn vắng lặng. Đó là bước khởi đầu để con tìm đọc nhiều hơn các bài giảng của thầy trên trang facebook nhưng quả thực, học đạo với con vẫn còn là điều gì đó xa vời. Con vui mừng vì đã thoát khỏi cửa ải đã đầy đọa con suốt mấy năm trời và cứ ngỡ rằng đó là xong, đã hoàn toàn hài lòng với chút sơ ngộ ban đầu. Nhưng không! Như con đã chia sẻ phía trên, những cái ngợi khen của người đời về bản thân con, lúc thì tự lập, khi thì mạnh mẽ, rồi nhiều nhiều nữa đã khiến con cho rằng đó là mình mà sinh cái tăng thượng mạn, nhưng ở đâu đó trong con thì lại vẫn có cái bóng dáng của ti liệt mạn, thể hiện ra ngoài bằng những cái đấu tranh, phân định hơn thua, đúng sai, được mất, và cho rằng những điều mình nói, mình làm là thể hiện sự thẳng thắn, mạnh mẽ của bản thân. Và rồi, trong những cái đấu tranh hơn thua đó, con được gì, mất gì trong cái thắng của mình và thua của người? Và đâu mới là mình? Nhưng đó mới chỉ là những cái nhân câu hỏi mà trước kia do vẫn ham thích phóng dật ra bên ngoài, chạy theo thấy nghe mà con chưa chăm bẵm tưới bón để tìm câu trả lời.
Đến ngày cuối cùng của năm 2020, sau một thời gian tìm hiểu đạo pháp của thầy và có đôi lần được Phương Anh hỗ trợ, con xin phép được nói chuyện với thầy xin thầy cho gia nhập Lý gia để con được chính thức học tập nơi thầy và các HĐTM. Và thầy đã nhận con dù con vẫn còn nợ thầy 3 lạy. Đến đây con xin sám hối nơi thầy là sau khi gia nhập Lý gia nhưng một khoảng thời gian dài sau đó, đâu đó khoảng 9 tháng, do điều kiện không được sinh hoạt zoom trực tiếp, do công việc và học tập bận rộn cùng lúc, con gần như chỉ nghe lại các file ghi âm, dù có ghi chép lại nhưng con chưa toàn tâm toàn ý vào học tập giáo pháp. Và rồi có lúc cái tâm hối quá hiện lên, sao nghe giáo pháp hoài như vậy mà vẫn sinh tâm sinh pháp, cùng với công việc bộn bề mà có đôi lúc con định tặc lưỡi tự nguyện quay lại 3 cõi. Đây có lẽ cũng là bài học lớn cho con để thay đổi cách học, cách tiếp cận và tư duy để học tập hiệu quả hơn.
Đúng như lời Phật và thầy dạy, "Tự mình thắp đuốc lên mà đi." Đến tháng 10 năm nay, khi dịch bệnh đã được kiểm soát phần nào, con mới gửi được sách của thầy sang. Cầm những cuốn sách của thầy trên tay mà con xúc động và tự đặt quyết tâm xây dựng lại lộ trình học tập của mình bài bản, tư duy nghiêm túc và ứng dụng nhuần nhuyễn những điều mình được học, học chậm hiểu sâu. Con dừng nghe các file ghi âm, con tự mình viết ra pháp đồ theo cách hiểu của mình, tự hỏi bản thân những chiều hướng sinh pháp sinh tâm tại mỗi điểm dừng trên pháp đồ, tự nghĩ ra các phương án khác nhau mà kẻ địch có thể tấn công tâm trí của mình tại mỗi điểm, và mình sẽ làm gì để chiến thắng. Lúc thì dùng Chỉ, khi thì dùng Quán. Và quyết tâm không có Tâm hối quá vì đã nhận ra rằng dù lần này mình thua địch nhưng chắc chắn mình đã biết thêm 1 cách để điều phục nó lần sau để giúp mình, sau là giúp người.
Con chọn sách Tâm pháp làm sách gốc vì với con, Tâm pháp là cuôn sách đã giúp con có những sơ ngộ ban đầu. Con ghi chép lại các khái niệm quan trọng trong Phật đạo từ Tâm pháp và liên kết các bài viết của thầy trong các cuốn sách khác để hiểu chặt chẽ từng khai niệm và ứng dụng. Khi không hiểu hoặc tư duy không ra, con gọi thầy hoặc Phương Anh trao đổi luôn.
Con tự đặt ra cách học tư duy triệt để từng khái niệm giáo pháp trong đời sống hàng ngày, quyết tâm tìm kiếm giá trị chân thật của Phật đạo là ở việc giải quyết thực tế cuộc sống, giúp mình và sau là giúp người thành tựu các mục tiêu Phật đạo đề ra. Ví dụ khi đọc và nghiên cứu về Ngũ ấm, Ngũ uẩn, con sẽ chỉ tư duy và quán tâm thức theo khái niệm này, lội ngược dòng lại vì sao tâm minh dao động, vì sao mình sinh pháp trong tình huống này dựa trên ngũ ấm, ngũ uẩn. Mình đang vướng vào điều gì trong 5 món trên và làm sao để thoát khỏi sự trói buộc, che mờ và so sánh trong từng món. Hay như câu kinh "Nơi trí bồ đề chăm chú phát sinh tướng mỏi mệt." con tư duy và ứng dụng cho được trong đời sống và trong quá trình học giáo pháp và quả đúng là sự việc tự nó xoay sở và cảm giác đơ đơ mà con có trong một thời gian cảm giác mình không tiến bộ giáo pháp cũng mất.
Nhờ sự giáo dạy của thầy và các HĐTM mà tự bản thân con cũng nhận ra mình đã có sự tiến bộ rõ rệt, mà như thầy bảo cũng như ông Phật ổng tu 49 ngày thì chắc thực tu 3 ngày, còn lại ông làm việc khác. Hihi.
Trước khi gặp thầy, con tự nhận mình là chuyên gia vệ sinh môi trường. Chuyên hốt rác mà rác ở đây là bao gồm rác tốt và rác đã phân hoại. Chẳng cần biết đúng sai phải quấy, hốt hết về gặm nhấm để sinh cái tâm ngã mạn. Giờ con hết ngu, quyết không để cái gì trói mình, từ vật chất, suy lường, quan điểm, quan niệm.
Trước khi gặp thầy, dù sống ở đất nước văn minh bậc nhất mà con lại sống thiếu văn minh. Chuyên xả rác bừa bãi. Xả rác để trói buộc người rồi tưởng đó là hay. Giờ con đã biết sống văn minh hơn. Con học cách phân thân, tách mình ra khỏi sự việc, quan sát tâm thức và dòng chảy của tâm thức và chỉ nói, làm những điều gì giúp lợi mình lợi người. Quyết tâm chỉ làm quan sát viên quốc tế, không tham chiến trên mọi mặt trận.
Biết được dòng chảy của tâm thức, biết được vì duyên mà sinh ra hiệu ứng nên thay vì bị cuốn theo dòng lũ tâm thức mà con biết cách điều chế dòng chảy, thấy mình như kỹ sư thủy điện lúc nào thích dừng thì dừng, lúc nào cần sinh tâm sinh pháp vẫn cứ sinh để giải quyết việc đời, nhưng thấy mình thật chủ động, thấu suốt trong công việc và đời sống. Thực sự có cảm giác được về nhà, làm chủ bản thân và tâm trí mình.
Trước khi học giáo pháp nơi thầy, nơi con đầy tâm mong cầu, mong những gì tốt nhất cho mình và cho người, làm mọi điều tốt nhất cho mình và cho người và mong cầu được báo đáp, được trả công xứng đáng, được công nhận thế này thế kia. Con cái phải học trường tốt nhất, nền giáo dục tốt nhất, phương pháp giáo dục tiên tiến nhất. Bản thân con học gì làm gì cũng chọn cái nào tốt nhất, xịn nhất, mong đạt được nhiều thành tựu nhất và tốt hơn những người khác. Và chỉ một câu nói của thầy, "Rồi xong sao? Đến cuối cùng rồi thế nào?" Con bừng tỉnh giấc mộng dài và quyết sống một đời sống thiểu dục tri túc, bằng lòng với đời sống hiện tại và những gì mình có. Không cầu, không ham hố. Trong công việc, làm hết lòng hết dạ hết sức nhưng quyết không gửi gắm, nuôi dưỡng tâm hy vọng. Con trở nên an nhiên, vui vẻ, chủ động, sáng tạo và khách quan trong công việc. Câu nói "Mình chẳng là cái đinh rỉ gì cả." thật khiến con sáng mắt.
Nhờ làm người quan sát, không sinh quan điểm quan niệm phân biệt mà con nhận ra phiền não kiết sử lậu hoặc không chừa một ai, một độ tuổi nào từ những đứa trẻ học trò của con cho đến bố mẹ, bạn bè xung quanh con. Con từ việc thông cảm, thấu hiểu rằng mọi hành động lời nói của người khác cũng là do nghiệp thức của họ, không ai cố tình, không ai mong muốn và con muốn giúp người cũng được an vui như mình. Vì mới ở bước sơ ngộ nên dù con có hiểu nhưng cũng vẫn gặp khó khăn trong trình bày giáo pháp. Con phát nguyện quyết tâm học Nhất thiết trí, làm một vị bác sĩ trong Phật pháp để giúp đỡ chúng sanh.
Và lời cuối cùng con muốn gửi gắm đến thầy và các HĐTM Lý gia là sự tri ân sâu sắc. Con cảm ơn thầy đã tạo dựng một gia đình Lý gia với văn hóa vô lậu, nơi mà HĐTM chúng con được đón nhận tình yêu thương, cảm thông, chia sẻ, giúp đỡ trên con đường học tập giáo pháp nơi thầy. Có lẽ không ở đâu, không nơi nào trên thế gian này có thể mang lại một nền văn hóa như vậy.
Con cảm ơn thầy đã đọc thư con!
Lý Thu Trang
P/S: Ôi đọc lại bài viết thấy mình làm lắm nghề quá thầy ạ. Tấm hình con chụp vài năm trước mà giờ không cần bịt mắt, bịt tai, bịt miệng để được an vui nữa rồi ạ.
Ba Vị Huynh Đệ Bàn Về..Lõi Cây

B: Thưa SH! Mấy hôm nay, vâng lời SH, đệ và Lã Muội chuyên tâm tụng đọc, nghiền ngẫm bài kinh Thí Dụ Lõi Cây!
Có thể nói, sau khi trì tụng kinh Kim Cang, dùng kinh này hộ trì để tâm thức không còn dao động, tiếp đến tụng đọc, nghiền ngẫm kinh Lõi Cây theo chỉ định của SH, một trình tự tụng đọc tưởng chừng như ngược ngạo, nhưng không ngờ hiệu quả của nó ra khỏi nghĩ bàn của tiểu đệ!
Tuy trước đây nhờ tụng đọc kinh Kim Cang, tâm thức của đệ không còn dao động trước thấy nghe, nhưng một số chấp nhứt nhỏ nhiệm trong lòng của đệ vẫn chưa được hoá giải!
Tuy đã giác ngộ, tuy đã biết rõ con đường nào mới là con đường dẫn đến vô lậu, xuất thế! Nhưng, các quan niệm tu hành đã được tiểu đệ học tập từ trước, cứ mãi vương vấn trong lòng! Đến khi tụng đọc, nghiền ngẫm kinh Lõi Cây, biết được mục tiêu đích thực của người tu hành là gì, điều gì cần đẽo bỏ, điều gì cần giữ lại trong tâm thức... Nhờ biết được như thế, những chấp mắc, hồ nghi trong lòng tiểu đệ mới hoàn toàn tịch diệt!
Việc ứng dụng bài học từ kinh Lõi Cây, trong hiện tại, tâm thức của đệ như “trời quang mây tạnh”! Những chấp mắc thường nhật, những định kiến cho rằng, người tu hành phải như thế này hay như thế kia, lúc này thôi không còn nữa!
Giờ này đây, trước mặt SH và Lã Muội, đệ xin thưa, cái lõi cây đích thực trong lòng của đệ đã được gọt đẽo hoàn hảo! Từ đây, những vấn vương bởi cành nhánh (xuất gia hay tại gia), vỏ ngoài (có giới hay không giới), vỏ trong (thiền định hay không thiền định) và giác cây (thấy biết hay không thấy biết) mà từ lâu đệ cũng như bao người tu hành giữ gìn như sinh mạng, hoàn toàn đã được giải phóng khỏi tâm trí!
Xin cảm ơn SH! Xin cảm ơn kinh Lõi Cây! Xin vạn lần cảm ơn sự gọt giũa cuối cùng để tâm thức của đệ tan biến những chấp nhất vi tế trong lòng!
A: Sau mấy ngày nghiền ngẫm kinh Lõi Cây, đệ nhận ra điều gì?
B: Thưa SH! Khi vừa giác ngộ, đệ biết chắc rằng con đường mình đang đi là đúng! Sở dĩ đệ biết chắc con đường mình đang đi là đúng vì, lúc nhận ra cái thanh tịnh bản nhiên của tâm này, tuy không phải trừ khử, tuy không cần dụng công nhưng phiền não lậu hoặc bỗng dưng tan biến!
Tuy phiền não, lậu hoặc đã tan biến, nhưng những quan niệm nhỏ nhiệm về những gì người tu cần có cứ vương vấn trong lòng tiểu đệ! Đến khi đọc kinh Lõi Cây, lời Thế Tôn như văng vẳng bên tai tiểu đệ! “Và này các Tỷ kheo, tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh”
Thưa SH! Những lời của Thế Tôn, chính là “ngọn gió năng diệt” đã thổi qua tâm thức tiểu đệ, ngọn gió năng diệt đã giúp tiểu đệ vĩnh viễn rụng rơi những chấp mắc về xuất gia, về giữ giới, về thiền định, về tri kiến!
Thưa SH! Đúng là người tu hành muốn đi tìm “lõi cây giải thoát bất động”, mà cứ khư khư ôm giữ trong lòng cành lá xuất gia, vỏ ngoài giữ giới, vỏ trong thiền định, giác cây tri kiến! Nếu không biết đẽo bỏ những thứ này ra khỏi tâm thức, nếu cứ mãi ôm giữ và hãnh diện vào mấy thứ ấy, nếu vẫn còn nhầm lẫn các việc đó là sở hành hay sở đắc! Nhất định sẽ chẳng bao giờ có thể nhìn thấy “cái lõi cây giải thoát bất động”!
A: Ha ha ha ha!!! Hai vị HĐ ơi! Nếu không nhờ kinh Lõi Cây ấn chứng! Nếu không nhờ kinh Lõi Cây thổi bay những chấp mắc trong lòng các vị! Không biết đến bao giờ đệ và Lã Muội mới trọn tin lời SH về con đường chấm dứt lậu hoặc, về con đường đưa đến giác ngộ, về con đường đưa đến giải thoát bất động... nhất định không phải là kết quả của xuất gia hay tại gia, của giữ giới hay không giữ giới, của thiền định hay không thiền định, của hiểu biết hay không hiểu biết! Bây giờ hai vị đã tin lời của vị SH lẩm cẩm này hay chưa!
LM! Thưa hai vị SH! Bây giờ muội hoàn toàn tin những gì SH nói! Bây giờ tiểu muội đã biết chắc cái gì mới đích thực là lõi cây giải thoát bất động! Và, bây giờ tiểu muội đã tường tận đường đi của nó!
Lần đầu đọc kinh Lõi Cây, muội vẫn tưởng xuất gia, giữ giới, thiền định, tri kiến là năm món làm nên lõi cây giác ngộ!
Nhưng khi đọc lại nhiều lần, đối chiếu với những gì mình đã giác ngộ, tiểu muội mới vỡ lẽ ra, phải gọt bỏ không thương tiếc trong lòng những quan niệm ấy! Khi nào còn giữ trong lòng một chút như đầu sợi lông bốn thứ quan niệm cần có của người tu hành nêu trên, sẽ vĩnh viễn u tối như người ôm cành nhánh, vỏ ngoài, vỏ trong và giác cây mà nhầm tưởng đó là lõi cây!
Xin vạn lần cảm ơn SH! Vạn lần cảm ơn cái “quy trình ngược ngạo nhưng chứa đầy trí tuệ” của SH!
Đúng là, con đường đưa đến giác ngộ, con đường đưa đến chấm dứt lậu hoặc, phải được hướng dẫn bởi một vị đã giác ngộ và không còn lậu hoặc! Nếu không được hướng dẫn bởi một vị như thế, người tu hành cứ mãi quanh quẩn trong chuyện xuất gia tại gia, giữ giới, thiền định và tri kiến, v.v... sẽ chẳng khác nào con trâu mến tiếc cái đuôi của nó! Xin vạn lần tạ ơn SH!
A: Trước khi chia tay, mình xin đố hai vị! Những quan niệm, những chấp nhất cho rằng, người tu hành trong Phật đạo phải như thế này hoặc như thế kia... giống như các thứ trong lòng hai vị trước khi tụng kinh Lõi Cây, Phật đạo gọi các thứ đó là cái gì?
Hai vị về chiêm nghiệm câu hỏi của mình, khi nào tìm ra đáp án, nhất định cơ hội mọc mầm trí tuệ của hai vị sẽ là rất lớn!
Ha ha ha ha!!! Đến chừng nào mầm trí tuệ của hai vị mọc lên, nhất định ngày đó chúng ta sẽ cùng nhau đem cái “lõi cây giải thoát bất động vô dụng” mà hai vị đang sở hữu trong hiện tại, một lần nữa dùng Kim Cang Trí đẽo gọt, để biến nó trở thành bức tượng vô giá cho thế gian quy ngưỡng!
Thông báo bài viết mới
Xin chào Quý Đọc Giả,
Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.
https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/tan-man-ve-viecan-don
Trân trọng,
An Ổn Tự Tâm Chẳng Cần Sách Vở
Tâm sự đong đầy niềm vui của Lý Nguyệt Hằng

Tâm Sự Huynh Đệ Số 46
Con xin đảnh lễ tri ân công đức trời biển của Thầy, Con xin tri ân công đức của Người Cha sinh ra con thêm lần nữa ạ.
Con cũng xin đảnh lễ tri ân Huynh đệ tỷ muội Lý Gia, những người duyên từ bao đời kiếp đến nay để con được cùng là anh em là con của Thầy.
Muội cũng xin đảnh lễ tri ơn công đức của sư tỷ Phương Anh, muội không biết nói sao ơn sâu dày của sư tỷ đã dành bao nhiêu công sức thời gian cho huynh đệ tỷ muội mới trên con đường học Chánh Đạo này.
Thưa thầy, con cũng không biết chính xác tự khi nào con đã và đang nhìn thấy rõ ràng thân tâm và thế giới nơi con như thế này nữa. Con thấy mình đứng tách được ra ngoài khỏi thế giới này, thấy những Pháp - những quan điểm quan niệm như tia sợi mảnh chạy dọc bao quanh con, những người sống quanh con bấy lâu nay. Khi đứng tách ra con thấy mình đang lấy những sợi Pháp kia trói mình trói con trói tất cả. À hoá ra là vậy, con thấy như thế là như thế Thầy ạ. Chẳng thế này cũng chẳng thế kia, chỉ thấy là thấy. Con thấy mình như đang bay lâng lâng tách riêng mình sao ý thầy ạ.
Con nghe thấy những âm thanh những câu chuyện của mọi người nói giờ đúng như gió thoảng, tâm con chẳng mảy may gì, có lúc xao động theo thói quen thì lại nhẹ nhàng quay lại an ổn nơi tự thân này.
Những gì con trải qua những ngày này kì lạ như giấc mơ với con, nó an nhiên khủng khiếp. Chồng con có nói gì xấu hay tốt con đều thấy vui, không vui vì nội dung câu chữ mà con vui vì con không thấy nội dung kia có gì sai khác nữa. Con thấy thảnh thơi khi đi tiệc nữa Thầy ạ, ai mặc đẹp ai nói gầy béo có sao ôi cũng không sao, con hạnh phúc vì thoát được mớ bầy nhầy trước nay con tự trói mình vì mình gầy mình xấu kia. Rồi đến việc dạy con học, mục tiêu con vẫn lập ra nhưng con con có sao thì con cũng chẳng sao thì con cũng thấy mình bớt đi bao nhiêu phần Mẹ Hổ trong con rất nhiều, đến nói con con còn nói “con thích mẹ hiền thế này”. Ừ mẹ cũng đang thích chết đi được đây con ạ :))) thấy không ổn, đến bây giờ con chẳng làm gì mà an ổn kia tự đến. Bao nhiêu sách cùng bao nhiêu phương pháp giúp an ổn tự tâm để nuôi dạy con cái, con đều áp dụng mà đều thấy không ổn, đến bây giờ con chẳng làm gì mà an ổn kia tự đến.
Trước đây khi đọc sách “Đường xưa mây trắng” con luôn thắc mắc tại sao Đức Phật chỉ ngồi dưới gốc Bồ Đề không nghĩ suy niệm gì mà lại có trí tuệ, con không hiểu và cũng chưa thấy thoả mãn ý nghĩ này. Đến khi con học Chánh đạo nơi Thầy, con mới nhận ra việc Văn Tư Tu tư duy đến nguồn cơn nó quan trọng ra sao, nó khơi mầm trí như thế nào. Nói đến đây Con không biết diễn tả sao bằng lời cảm xúc của con bây giờ. Con chỉ xin cúi rạp người nhận cái gõ đầu yêu thương từ người Cha kính yêu. Con xin nguyện theo bước chân Thầy cùng Huynh đệ tỷ muội đời này đến hết vị lai.
Con Lý Nguyệt Hằng.(543)
Tản Mạn Về Việc..Ăn Độn

Ăn độn là khái niệm dùng để mô tả việc thiếu gạo để nấu cơm, người ta phải dùng các thứ khác trộn với gạo, nấu chín mà ăn cho no bụng!
Vào những năm chiến tranh, ruộng vườn bị hoang phế, lương thực không đủ cung ứng… nên phần lớn người dân phải dùng các loại thực vật khác, như khoai lang, khoai mì, bắp, bo bo, v.v... độn chung với gạo làm thức ăn! Chỉ những gia đình giàu có, thỉnh thoảng mới được ăn cơm không bị độn!
Tất nhiên, những thứ như khoai lang, củ sắn, bắp, bo bo… không thể thay thế gạo! Nhưng, trong hoàn cảnh đói kém, không ăn những thứ trên thì chẳng còn cái gì để nhét vào bao tử, vì thế buộc lòng người ta phải ăn độn!
Hệ quả của việc ăn độn, thiếu cơm thừa độc tố từ các loại độn, đã làm cho con người ốm yếu, suy dinh dưỡng, sinh nhiều thứ bệnh tật nguy hiểm đến tính mạng!
Ngày nay, khái niệm ăn độn chỉ còn là quá khứ, rất nhiều người đã quên hẳn nó, thậm chí nhiều bạn trẻ còn không biết ăn độn là gì! Do không thấy biết, nên không cảm nhận hết những tác hại chết người tiềm ẩn trong việc ăn độn!
Sáng nay, nghe một số bằng hữu giới thiệu! Lã Muội dạo một vòng mạng xã hội, phát hiện ra “nhiều mâm cơm giáo pháp đã bị độn tạp vật đến thảm hại”!
Các bạn ơi! Gạo thơm giáo pháp chúng ta đâu có thiếu! Cơm nóng chánh luận đã ở trên bàn! Tại sao chúng ta lại phải đi ăn cơm độn??????
Tại sao chúng ta phải ăn độn, để rồi một ngày đẹp trời nào đó, chính chúng ta lại là những người phải vào nhà thương, tìm gặp thầy thuốc để điều trị suy dinh dưỡng và các thứ bệnh chết người không đáng có do ăn độn gây ra!
Vài dòng tản mạn buổi sáng! Chúc các bạn an vui! Tinh tấn!
(05-08-2019)
Thông báo bài viết mới
Xin chào Quý Đọc Giả,
Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.
https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/ba-vi-huynh-de-ban-ve-tam-vo-lau-hoc
Trân trọng,
Ba Vị Huynh Đệ Bàn Về Tam Vô Lậu Học

B: Thưa SH! Đệ đã đọc rất nhiều tài liệu, nghe các bậc tôn đức giảng nói về “tam vô lậu học” hay còn gọi là “ba học pháp vô lậu”! Các vị giảng ba học pháp này thường đề cao việc nhân giới sanh định, nhân định sanh huệ!
Xin hỏi SH! Việc chủ trương như vậy có hợp lí hay không? Phạm vi ứng dụng của ba học pháp này như thế nào? Và kết quả của nó là gì?
A: Về ba học pháp vô lậu hay còn gọi là tam vô lậu học thì, đây là ba học pháp cơ bản giúp người tu hành trong Phật đạo thành tựu đầy đủ ba món vô lậu là: Giới vô lậu, định vô lậu và huệ vô lậu... Thiết nghĩ, điều này không có gì phải bàn!
Nói khác hơn, thành tựu vô lậu giới, người tu hành sẽ tự thành tựu hai học pháp còn lại là định vô lậu và huệ vô lậu!
Nhưng phạm vi ứng dụng ba học pháp đó như thế nào, đây là việc chúng ta cần sáng tỏ! Bởi lẽ, nếu không sáng tỏ ba học pháp trên, nhất định con đường tu tập để đưa đến vô lậu tâm “có vấn đề”! Có vấn đề ở đây là, dù rất tinh tấn, dù rất nổ lực cũng không thể thành tựu đạo quả vô lậu!
Để đi sâu vào nội dung câu chuyện, để làm sáng tỏ mọi thứ, mình xin đưa ra một số câu hỏi, đệ hãy thẳng thắn trả lời, trả lời đúng với hiểu biết của mình, không quanh co, không bao che cho những gì không phù hợp với chân lí, nhất định mọi thứ sẽ sáng tỏ!
Nếu đệ đồng ý với các yêu cầu của mình đưa ra, chúng ta bắt đầu cùng nhau trao đổi là vừa, có thẳng thắn trao đổi, mới mong tìm ra ý nghĩa đích thực, có được nghĩa lí đích thực, mới có phương cách ứng dụng tốt nhất, có phương cách ứng dụng tốt nhất, mới hi vọng thành tựu ba học pháp nói trên!
B: Xin SH cứ hỏi! Đệ sẽ thẳng thắn trả lời!
A: Như vậy là rất tốt! Mình xin đưa ra các câu hỏi đây!
Đệ bảo rằng, nhân giới sanh định, nhân định sanh huệ! Như vậy, giới là căn bản của định và huệ! Theo đệ, những giới nào được coi là “nhân tố quyết định” để khi thành tựu giới ấy, định và huệ sẽ thành tựu? Đệ có hiểu hết ý nghĩa từ câu hỏi của mình hay không?
B: Thưa SH! Đệ hoàn toàn hiểu ý nghĩa từ câu hỏi của SH! Theo đệ, các giới làm “nhân tố quyết định” để định và huệ sanh gồm, năm giới, mười giới, Bồ Tát giới và cụ túc giới!
A: Mình hỏi đệ! Đệ đã thọ mấy giới? Từ ngày thọ giới đến giờ, đệ có từng phạm các giới ấy hay không?
B: Thưa SH! Đệ từng quy y và thọ năm giới lẫn Bồ Tát giới tại gia! Đối với giới, từ lúc hiểu biết đến giờ đệ chưa từng phạm! Có lẽ do bản chất của đệ nó như vậy, chứ không phải khi thọ đệ mới giữ!
A: Như vậy, đối với giới, đệ coi đó là lẽ tự nhiên trong đời sống, không có tâm niệm giữ gìn, nhưng cũng chẳng bao giờ có ý sai phạm!
Mình hỏi đệ, xin hãy nói thật, sự không khiếm khuyết về giới của đệ, nó có giúp tâm đệ được vô lậu, có giúp đệ thành tựu một chút định và huệ nào hay không?
B: Thưa SH! Từ nhỏ đến lớn, nhờ tâm tính hiền lương, nhờ sống có đạo đức, đệ thường được mọi người yêu mến, khen ngợi, kính trọng, v.v... Nhưng, vô lậu tâm là cái gì, định là như thế nào, huệ ra làm sao... Xin thú thật, những điều ấy, trước khi gặp SH, trước khi giác ngộ cho dù đệ đã miệt mài ngồi thiền, miệt mài học tập, nhưng đệ không thể nào thành tựu được!
A: Trên đời, bạn có biết, có thấy người tu hành nào chỉ chuyên tâm giữ giới, coi giới như mạng sống, nhờ nương tựa vào giới mà thành tựu đạo quả vô lậu hay không?
B: Tất cả mọi người thì đệ không dám nói, nhưng những người đệ quen biết cả tăng lẫn tục, những vị ấy giới luật rất nghiêm, nhưng chính họ cũng thừa nhận bản thân không thể thành tựu định và huệ thế gian, chứ nói gì đến định và huệ vô lậu!
A: Mình xin hỏi đệ! Giới có năm giới, mười giới, Bồ Tát giới, cụ túc giới, v.v... Nếu bảo rằng, nhân giới sanh định, nhân định sanh huệ! Như vậy, người tu hành cần bao nhiêu giới mới được gọi là đủ chuẩn để sanh định và huệ?
• Nếu bảo rằng, chỉ cần năm giới là đủ, đây chính là chuẩn mực để định và huệ sanh thì, những người thọ và giữ nhiều hơn năm giới, đã làm công việc thừa thải rồi ư!
• Nếu bảo rằng, cụ túc giới không khuyết mới đủ chuẩn để định và huệ sanh thì, những người chưa đủ cụ túc giới sẽ vĩnh viễn không thể nào có định và huệ vì chưa đạt chuẩn theo yêu cầu!
• Nếu bảo rằng, nhân giới sanh định, nhân định sanh huệ thì, người tu hành chỉ cần thọ và giữ cấm giới đến thuần thục là đạt yêu cầu, cần gì phải tu thiền định, cần gì học giáo pháp! Vì rằng, cái cần ta đã có, những thứ như định và huệ theo đó tự nhiên thành tựu! Nhưng sự đời chuyện ấy không thể xảy ra, vì thế người tu hành mới tu tập thiền định, và học tập giáo pháp! Đệ có thấy rằng, cách lí luận nhân giới sanh định, nhân định sanh huệ như đệ đã nghe trước kia, tự nó mâu thuẫn trong thực tế này hay không!
• Nếu bảo rằng, có giới mới sanh định, có định mới sanh huệ thì, khoảng mười lăm đến hai mươi năm trước khi Phật chế giới, người tu hành thời đó tuy không có giới cấm nhưng họ chứng thánh quả vô lậu rất nhiều! Đệ có đồng ý với quan điểm mang tính lịch sử này hay không! Nếu đệ đồng ý với quan điểm có tính lịch sử này thì, giới cấm (quy ước giới) nhất định không phải là hạt nhân để sanh định huệ!
• Nếu bảo rằng, nhân giới sanh định, định sanh huệ thì Huệ
Năng lúc chưa được Ấn Tôn Pháp Sư làm lễ thế phát (quy y và xuất gia, thọ giới), cái gì làm cho Huệ Năng giác ngộ!?
• Nếu bảo rằng, tâm thanh tịnh chính là đắc giới thì, giữa tâm thanh tịnh và giới cấm là hai món chẳng liên hệ gì đến chuyện nhân giới sanh định, nhân định sanh huệ! Vì thanh tịnh (định) rồi mới đắc giới!
• Nếu bảo rằng, nhân giới sanh định, nhân định sanh huệ thì cái câu “múa đao xông trận cũng thanh tịnh” của Lục Tổ Huệ Năng, hay câu “dâm, nộ, si tự tánh thanh tịnh” trong kinh Duy Ma, hoặc chuyện kẻ giết người Ương Quật Ma La trở thành A La Hán sau vài câu nói của Phật, v.v... chúng ta nên hiểu như thế nào đây?
Một thực tế không thể phủ nhận, không riêng gì Phật giáo, những người học tập luân lí đạo đức ở đời, các tôn giáo khác, những người thiện lương, chân chánh, v.v... phần lớn trong cuộc sống ít ra đều giữ trọn năm giới hoặc nhiều hơn!
Nhưng, cũng đâu vì thế mà tâm thức họ thanh tịnh hay định, chứ nói gì đến chuyện thành tựu vô lậu tâm! Do đó ba học pháp vô lậu không nằm trong ý nghĩa thường thấy từ các vị ấy đã giảng nói!
Theo mình, hiểu và thực hành ba học pháp vô lậu như những gì bạn đã nghe đã biết, nếu có được kết quả cao nhất, cũng chỉ trở thành một người tốt ở đời! Mà một người tốt, một người giới không khuyết, v.v... chưa hẳn đã là người thành tựu vô lậu tâm, vô lậu giới, vô lậu định, vô lậu huệ!
B: Những gì SH đã nêu, thực tế đúng như vậy! Là người tu hành, người tôn trọng chân lí, chúng ta không nên vì một lí do riêng tư nào đó mà phủ nhận thực tế này!
Thưa SH! Như vậy, đối với ba học pháp vô lậu, chúng ta nên hiểu như thế nào? Và ứng dụng ra làm sao?
A: Như mình đã nói ở phần trên, ba học pháp vô lậu là ba học pháp căn bản giúp người thành tựu vô lậu tâm! Vì nó là ba học pháp vô lậu, nên không thể dùng trí hữu lậu để hiểu và cắt nghĩa cảnh giới hoặc phép tắc tu học vô lậu! Vì rằng, người chưa thành tựu đạo quả vô lậu, nhất định sẽ không thể biết được con đường nào đưa đến đạo quả vô lậu, con đường nào là hữu lậu!
Chính sự nhầm lẫn tai hại giữa hữu lậu và vô lậu, tai hại này chẳng những không giúp người tu hành thành tựu đạo quả vô lậu, mà đôi khi trong vô tình nó làm sai lệch con đường dẫn đến cứu cánh của giáo pháp!
B: Xin hỏi SH! Thế nào là hữu lậu giới và thế nào là vô lậu giới trong Phật đạo?
A: Theo mình biết, giới trong Phật đạo có hai thứ, một là ‘giới cấm’ hay quy ước giới và ‘giới tánh’ hay vô lậu giới!
● Thứ nhất: Giới cấm hay quy ước giới thuộc hữu lậu giới, gồm năm giới, mười giới, Bồ Tát giới và cụ túc giới, v.v...
Những giới này, gọi là “quy ước giới” bởi vì bản thân nó chỉ mang tính phục vụ một vài yêu cầu nào đó trong tổ chức, chứ nó không đại diện cho chủ trương hay đường lối của tổ chức, và nó càng không phải là giềng mối hoàn thành chủ trương của tổ chức đó! Và, chỉ những người trong tổ chức mới bị nó chi phối, còn những người ngoài tổ chức thì hoàn toàn không phụ thuộc!
Ví dụ: Một người muốn gia nhập tổ chức tăng (tăng đoàn), việc đầu tiên là, người đó phải chịu sự chi phối bởi các luật lệ do tăng đề ra! Người không phải là tăng, không bị ràng buộc bởi các quy định kia!
Bồ tát hay cư sĩ mà ở trong tổ chức cũng đều phải tuân thủ như vậy! Đây cũng là lí do vì sao có bố tát, có sám hối! Giữ giới, bố tát, sám hối để gìn giữ huệ mạng, chứ nó không thể là cơ sở để làm thành huệ tâm hay huệ trí!
Những luật lệ như thế ra đời là vì:
• Một, về đối nội, nhờ mọi người tuân thủ những luật lệ đã đề ra, việc tu tập, tính thống nhất, tính kỉ luật, tính ổn định, tính đoàn kết, v.v... của tổ chức sẽ không bị phá vỡ!
• Hai, về đối ngoại, chính các giới cấm hay các luật lệ như thế, sẽ giúp xã hội có cái nhìn thiện cảm và kính trọng! Nhờ thế, chủ trương gặp nhiều thuận lợi, đường lối được xã hội ủng hộ, điều này làm tăng uy tín của tổ chức!
Về tính chất, giới hữu lậu thuộc thế gian giới, vì bản thân nó có nhiều tầng, nhiều cấp như có khai, có giá, có trì, có phạm, có thọ, có xả, v.v... nên tự các giới ấy phải thay đổi theo từng hoàn cảnh, theo từng nhân duyên, theo từng nhận thức để phù hợp cuộc sống, vì thế trong nó luôn ẩn chứa tính chất vô thường!
Do nhân duyên như trên, nên giới của các tông phái trong Phật đạo từ trước đến nay không có sự thống nhất với nhau, Nam tông ăn mặn, Bắc tông ăn chay đã là sự sai khác ta dễ dàng nhận ra! Mà điều gì trong đó ngầm chứa sự sai khác, ngầm chứa sự không thống nhất, bị thay đổi vô thường thì, điều đó khó có thể “coi là hạt nhân, coi là cơ sở đáng tin cậy” để thành tựu đạo quả vô lậu!
● Thứ hai: Vô lậu giới hay tánh giới là gì?
Nói đến vô lậu, là nói đến cảnh giới tâm thức không còn khổ, phiền não, kiết sử, lậu hoặc!
Muốn thành tựu cảnh giới này, người tu hành phải thành tựu giới vô lậu chứ không phải giới hữu lậu!
Giới vô lậu là gì, ứng dụng nó ra làm sao, mình không giải thích, vì “giải thích mất linh”! Vì sao giải thích mất linh! Sự linh nghiệm của vô lậu giới nằm trong chánh tư duy!
Ha ha ha ha!!! Đoạn kinh giáo giới sau đây của Phật, sẽ giúp các bạn tư duy để hiểu ra cái gì là vô lậu giới, và phạm vi ứng dụng của nó như thế nào!
Hiểu và ứng dụng thuần thục đoạn kinh sau, nhất định giới vô lậu, định vô lậu và huệ vô lậu không ngoài tầm tay các bạn!
“Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời! Bạch Thiện Thệ nay đã đến thời để Thế Tôn thuyết vô thượng căn tu tập trong giới luật bậc Thánh.
Vậy này Ananda, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
− Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
Ở đây, này Ananda, vị Tỷ kheo, mắt thấy sắc, khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý bất khả ý...
Vị ấy tuệ tri như sau: "Khả ý này khởi lên nơi ta, bất khả ý này khởi lên, khả ý bất khả ý này khởi lên. Cái này khởi lên, vì là hữu vi nên thô. (Nhưng) cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là xả".
Cho nên, dầu cho cái gì khởi lên là khả ý, bất khả ý hay khả ý và bất khả ý, tất cả đều đoạn diệt (trong vị ấy), và xả tồn tại.
Này Ananda, như một người có mắt, sau khi mở mắt, lại nhắm mắt lại, hay sau khi nhắm mắt, lại mở mắt ra; cũng vậy, như vậy là tốc độ, như vậy là sự mau chóng, như vậy là sự dễ dàng đối với cái gì đã khởi lên, khả ý bất khả ý hay khả ý bất khả ý, (tất cả) đều đoạn diệt (trong vị ấy), và xả tồn tại.
Trong giới luật bậc Thánh, này Ananda, như vậy gọi là vô thượng căn tu tập đối với các sắc do mắt nhận thức...”
(Trích kinh Vô Thượng Căn Tu Tập Trong Giới Luật Của Bậc Thánh)
Theo tinh thần đoạn kinh trên, chắc giờ này các bạn có thể hiểu vô lậu giới là thế nào rồi chứ!
Với vô lậu giới này, khi người tu hành thành tựu, tâm thức sẽ hết mê muội! Tâm thức hết mê muội, thấy nghe sẽ không điên đảo, thấy nghe không điên đảo, tâm ý tự dừng! Tâm ý tự dừng trong cảnh giới này, Phật đạo gọi là “định vô lậu”!
Nhờ có định vô lậu, tâm trí vị tu hành bây giờ trở nên sáng suốt, nhờ tâm trí sáng suốt, vị ấy hiểu ra con đường nào đưa đến hữu lậu, con đường nào đưa đến vô lậu gọi là “huệ hay tuệ vô lậu”!
Tam vô lậu học là như thế! Đây chính là ba học pháp căn bản, nếu người tu hành biết rõ, chỉ từ một giới vô lậu có thể tiến tu để thành tựu định vô lậu và tuệ vô lậu! Nói khác hơn, trong một niệm, người ấy có thể thành tựu cả ba học pháp vô lậu!
Về tam vô lậu học, các bạn còn thắc mắc gì không?
B: Thưa SH! Đúng là như vậy! Ngày trước dù không phạm cấm giới, nhưng đệ cũng chẳng thể nào biết được vô lậu tâm là gì!... Sau khi được SH khai ngộ, bỗng dưng ba duyên là căn trần thức của đệ tự dừng, rồi từ đó vô lậu tâm của đệ tự hiện!
Bây giờ, được nghe SH giảng giải, đệ mới biết là mình đã từng thực hành vô lậu giới, rồi thành tựu vô lậu định và vô lậu tuệ mà không tự biết!
Thành tựu rồi, mới biết giới vô lậu này chính là tự tánh vô lậu giới! Xin đa tạ SH đã cho đệ “ĐƯỜNG ĐẾN HẠNH PHÚC ĐÍCH THỰC”!
Xin vạn lần đội ơn SH!
LM! Hai huynh ơi! Đúng là sai một li, đi một dặm! Phật dạy tu giới vô lậu, mà người tu hành cứ đem giới hữu lậu để phân tích, để giảng nói, để thực hành, hèn chi tu hoài mà không thành!
A: Tu hành giống như người bịnh uống thuốc! Uống một thời gian mà không khỏi bịnh, người bịnh phải coi lại thứ thuốc mình đang uống đã đúng hay chưa! Nếu chưa, nhất định phải tìm thuốc khác mà uống! Hà cớ gì cứ phải chấp nhất, cứ bao che cho những thứ thuốc vô bổ mà ta đã uống! Bao che làm gì, để rồi một đời tinh tấn mà kết quả chẳng được là bao!
Biết sai, sửa sai để giúp mình và người thành tựu những điều tốt đẹp trong Phật đạo là điều rất cần! Biết sai và sửa sai vì lợi ích của đạo pháp là thái độ của người trí! Chẳng có gì phải ngại trong tu học!
Hy vọng, sau lần trao đổi này, mọi người biết được “vô lậu giới của bậc thánh là gì”, đã biết được rồi, xin mọi người hãy bắt tay tu tập để mau chóng thành tựu vô lậu tâm!
Hoàn thành ba học pháp vô lậu, thành tựu vô lậu tâm, chính là hành động biết ơn và báo ơn chư Phật cụ thể nhất!
Thông báo bài viết mới
Xin chào Quý Đọc Giả,
Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.
https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/ba-vi-huynh-de-luan-vephuoc-duc
Trân trọng,
Ba Vị Huynh Đệ Luận Về..Phước Đức

B: Thưa SH! Đọc kinh Kim Cang, đệ có một vài thắc mắc, xin SH giải thích dùm để đệ và Lã Muội thông suốt!
A: Có thắc mắc gì, các bạn cứ việc hỏi!
B: Thưa SH! Đệ có ba thắc mắc:
─ Thứ nhất, vì sao kinh Kim Cang dạy rằng, người trì tụng kinh này “phước đức” nhiều vô số kể, mà không nói người “trì tụng” kinh này “công đức” nhiều vô số?
─ Thứ hai, xin SH giải thích dùm, phước đức của người thọ trì kinh Kim Cang, khác phước đức của người không thọ trì kinh Kim Cang như thế nào?
─ Thứ ba, phước đức khác công đức ở chỗ nào, và làm thế nào để có công đức?
A: Để giải đáp những câu hỏi đệ vừa nêu, chúng ta cần nắm vững việc thọ trì kinh Kim Cang là thọ trì như thế nào, khi giải quyết được điều này, ba câu hỏi của đệ mới có thể sáng tỏ!
Thông thường, khi nói đến thọ trì hay trì tụng kinh, người tu hành thường nghĩ ngay đến việc đem cuốn kinh để trước mặt và đọc tụng, như ta vẫn thường thấy ở các thời khoá!
Hiểu và thực hành như thế, lợi ích không lớn! Trì tụng kinh Kim Cang hay trì tụng kinh của Phật nói chung, không giống như đọc báo, xem tin tức hay học trò trả bài! Mà, khi đọc tụng từng chữ, từng câu kinh, người tụng đọc phải nắm vững nội dung, phải tư duy để hiểu thật nghĩa các chữ hoặc câu đó nói gì! Đọc tụng như vậy, mới gọi là đọc tụng kinh Phật!
Khi đã hiểu lời kinh nói gì, người tu hành bây giờ đem những nghĩa lí mình đã hiểu áp dụng vào đời sống! Áp dụng đến bao giờ vị ấy và nghĩa kinh không còn là hai pháp, tức vị ấy là kinh, kinh là vị ấy, thực hiện rốt ráo như vậy gọi là “trì”! Trì tụng như thế gọi là trì tụng “tâm kinh”, tức kinh tương ưng với tâm, tâm tương ưng với kinh, kinh và tâm trở thành nhất thể!
Khi tâm và kinh nhất thể, lợi ích của việc trì tụng sẽ phát sinh diệu dụng! Có vô số diệu dụng của việc trì tụng kinh, nhưng có ba sự diệu dụng chính mà người trì tụng thấy rõ là:
Một, từ phước đức hữu lậu biến thành phước đức vô lậu!
Hai, phát sinh công đức!
Ba, tăng trưởng trí tuệ!
● Như thế nào gọi là phước đức hữu lậu biến thành phước đức vô lậu?
Phước đức là những thứ mà một người bình thường trong ba cõi, người không giác ngộ cũng có thể thấy được, nó thuộc về “y báo” liên hệ đến vật chất thế gian như, thân tướng, gia đình, nhà cửa, địa vị, tiền bạc, học vấn, v.v... của người đó!
Phước đức có hai thứ, một là phước đức hay phước báo hữu lậu, hai là phước đức hay phước báo vô lậu!
− Phước báo hữu lậu, là thứ phước báo trong đó ngầm chứa mầm mống của khổ, phiền não, kiết sử và lậu hoặc! Phước báo này của những người không giác ngộ, thuộc về phước đức thế gian!
Vì thế, người trong thế gian, hoặc người trì tụng kinh không theo cách nói trên, tức tụng kinh mà không đưa đến giác ngộ thật nghĩa của kinh, khi người đó làm phước, bố thí hoặc thực hành thiện pháp sẽ chỉ được phước đức hữu lậu!
− Phước báo vô lậu, là thứ phước báo giống như phước báo thế gian, nhưng nhân của nó là “chánh báo vô lậu”! Do xuất phát từ chánh báo vô lậu, nên quả của nó không còn mầm mống của khổ, phiền não, kiết sử, lậu hoặc! Phước báo vô lậu, là thứ phước báo của những vị đã giác ngộ, là loại phước báo xuất thế gian!
Vì thế, những người trì tụng kinh Kim Cang (hoặc các loại
kinh khác) mà thấu suốt ý nghĩa rồi ứng dụng như pháp để đưa đến giác ngộ, người này khi làm phước, bố thí hoặc thực hành thiện pháp sẽ được phước báo vô lậu!
Phước báo vô lậu là loại phước báo xuất thế, nên nó không thể tính đếm được, do không thể tính đếm được, kinh gọi nhiều vô số kể! Thế nào gọi là không thể tính đếm được?
Không thể tính đếm được hay “bất khả toán số thí dụ”, là nói đến tính chất chứ không phải nói đến đo lường toán học! Ví dụ, hai người giàu có bằng nhau, giữa người giác ngộ và người không giác ngộ mức độ hạnh phúc từ sự giàu sang là không thể so sánh! Người không giác ngộ, trong sự giàu có luôn hiện diện lậu hoặc, tức đi kèm với giàu sang là khổ, phiền não và các kiết sử! Người giác ngộ, cũng giàu sang nhưng không hề có các thứ ấy (lậu hoặc) trong tâm thức và đời sống, vì thế hạnh phúc của họ không thể đo lường được gọi là vô số kể!
Về phước đức, hai bạn còn có điều gì chưa thông suốt, xin nêu thắc mắc của mình?
LM: Thưa SH! SH cắt nghĩa cho muội hai chữ “lậu hoặc” là gì?
A: Lậu là rỉ chảy! Hoặc là che mờ! Lậu hoặc là khổ, phiền não, kiết sử trong tâm rỉ chảy ra, làm che mờ tâm trí! Giống như một tấm kiếng, bị nước đục chảy vào, tấm kiếng đó không còn trong sáng!
Về công đức, nếu phước đức là những gì thuộc về vật chất hoặc phi vật chất mà mọi người đều có thể thấy hoặc cảm nhận được thì, công đức là thứ giá trị tinh thần thuộc về đạo xuất thế! Giá trị tinh thần của công đức thuộc về xuất thế, nên chỉ những ai giác ngộ đạo xuất thế mới có và cảm nhận được thứ giá trị tinh thần này!
Về tính chất của công đức, người trì tụng kinh Kim Cang mà “có giác có ngộ”, sẽ cảm nhận rõ rệt các tính chất của nó như: An lạc, thanh tịnh, bất động, vô lậu, vô vi, v.v... Tức người này cảm nhận một phần hoặc toàn bộ các đặc tính của Niết Bàn, các đặc tính nêu trên là những giá trị mà công đức xuất thế mang lại! Nếu công đức đầy đủ, vị này sẽ mọc mầm trí tuệ dẫn đến thành tựu “vô lậu trí tuệ” trong Phật đạo ở vị lai!
● Vì sao kinh chỉ nói, người trì tụng kinh Kim Cang phước đức nhiều vô số mà không nói đến công đức?
Người trì tụng kinh Kim Cang như pháp, thành tựu công đức là chuyện tự nhiên, giống như người có nhiều kim cương đương nhiên là kẻ giàu trên đời, vì thế việc kinh không nói nhiều đến công đức cũng chẳng phải là chuyện khó hiểu!
Thứ nữa, tuy kinh không đề cập đến công đức, nhưng nghĩa kinh chú trọng đến thành tựu “không bốn tướng, không ba thời, lìa danh tướng, biết các pháp như huyễn, v.v... ” chính là đã gián tiếp đề cập đến tướng trạng của công đức vậy!
Về công đức, các bạn có gì thắc mắc hay không?
B: Thưa SH! Người tu hành, giác ngộ ở tầng bậc nào thì có được công đức?
A: Người tu hành, từ quả vị đầu tiên là Nhập lưu tức Tu Đà Hoàn, đã bắt đầu phát sinh công đức!
Vì rằng, Tu Đà Hoàn của Nhị thừa, hay sơ ngộ Thiện Kiến của Bồ Tát, là những quả vị đã có thể thấy được cái thanh tịnh ban sơ (sơ giác)!
Do thấy được thanh tịnh ban sơ, nên vị này biết con đường làm thế nào để giã từ dòng đời ô nhiễm của thế gian không thanh tịnh mà nhập vào dòng thánh, vì thế từ đó phát sinh công đức! Giống như người lạc giữa rừng đên, may mắn thấy chút ánh sáng ở bìa rừng! Người đó cứ nhắm đốm sáng mà đi! Chẳng bao lâu ra khỏi khu rừng!
Như thế nào gọi là từ giã dòng nước thế gian? Từ giã dòng nước thế gian là không chạy theo dòng đời, không chạy theo dòng đời là không đem tâm chạy theo thấy nghe hay biết như hồi chưa giác ngộ!
Như thế nào gọi là nhập vào dòng thánh? Nhập vào dòng thánh là quay lại bổn tâm, như thế nào là quay lại bổn tâm? Quay lại bổn tâm là không nhìn ngó bên ngoài, không trụ nơi thấy nghe hay biết để sinh các thứ tâm hư vọng!
Nói khác hơn, trong không khởi tam tâm (quá khứ, hiện tại, vị lai), ngoài xa rời bốn tướng (nhân, ngã, chúng sinh, thọ giả), chính là hành động cụ thể giúp người tu hành đi từ sơ ngộ đến thành tựu Kim Cang Tâm! Kim Cang Tâm là thứ tâm đầy đủ công đức!
B: Xin SH giảng tiếp điều vi diệu thứ ba là, khi trì tụng kinh Kim Cang như pháp sẽ phát sinh trí tuệ?
A: Trí tuệ trong Phật đạo, là loại hiểu biết chỉ có từ nhân giác ngộ! Hay nói khác hơn, đây là loại hiểu biết do giác ngộ mà thành, hiểu biết này thuộc về đạo xuất thế!
Cái được gọi là trí tuệ của Phật đạo không giống đem tri thức thế gian hiểu về Phật đạo, mà nó là những hiểu biết chắc thật hình thành từ quá trình thực chứng! Mình xin đưa ra ví dụ, từ ví dụ mọi người có thể hiểu được thật nghĩa của nó:
Giống người nông dân, sau khi học kĩ thuật canh tác từ những nhà chuyên môn, biết kĩ thuật canh tác gọi là tri thức! Tri thức hay tri kiến trong Phật đạo là những hiểu biết chân chánh về đạo pháp, hiểu biết này chỉ thuần tuý là tri thức (tri kiến)!
Sau đó người nông dân đem những điều mình đã học, ứng dụng vào việc canh tác! Trong quá trình ứng dụng thực tế phát sinh những vấn đề mà lí thuyết không thể bao quát hết được!
Nhờ các phát sinh ấy, người nông dân nổ lực khắc phục! Cứ như vậy, ứng dụng lí thuyết, khắc phục các phát sinh, đến khi nào việc canh tác của người nông dân hoàn toàn như ý!
Với bao nhiêu thửa ruộng, với bao nhiêu công sức bỏ ra! Bây giờ người nông dân hoàn toàn nắm vững kĩ thuật canh tác, kết quả gieo trồng không còn bất kì sai số nào! Hiểu biết của người nông dân lúc này có thể đem ra trao đổi với những người nông dân khác một cách chắc thiệt! Lấy hiểu biết chắc thiệt của tự thân đem chia sẻ cho người, Phật đạo gọi là “tuệ”! Tuệ hay trí tuệ trong Phật đạo là thứ hiểu biết cụ thể thông qua quá trình thực chứng!
Về hai chữ trí tuệ trong Phật đạo, ta có thể tóm tắt như sau: Trí: Là những thấy biết chắc thật từ sự giác ngộ chắc thật! Tuệ: Là sự phát sáng, là năng lực giáo hoá, là sức ảnh hưởng như pháp đến các hữu tình khác!
Trí tuệ trong Phật đạo là như thế! Các bạn có thắc mắc gì không?
B: Thưa SH! Ba điều vi diệu khi trì tụng kinh Kim Cang đã được SH giảng giải thấu đáo! Đối với những thắc mắc khi đọc kinh, đệ thưa hỏi vừa rồi, nay đã sáng tỏ! Xin cảm ơn SH!
LM! SH ơi! Đúng là hiểu sai sẽ thực hành sai, thực hành sai sẽ cho ra kết quả sai! Một người không giác ngộ, không thực sự có trí tuệ, khi giảng nói Phật pháp nhất định đưa người tu hành đi từ cái sai này đến cái sai khác, lâu dần trở thành “lỗi hệ thống” rất khó sửa chữa!
Cũng mấy chữ tụng kinh, phước đức, công đức, trí tuệ! Nhưng, khi nghe SH giảng xong, muội thấy mọi thứ minh bạch và ứng dụng dễ dàng! Vạn lần đội ơn SH!