Tác Phẩm Lý Tứ

Chữ Hiếu Trong Phật Đạo

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Phật Đạo chia việc báo hiếu ra thành bốn lớp. Bốn lớp đó là Tiểu Hiếu, Trung Hiếu, Đại Hiếu và Tối Thượng Hiếu. 

Hỏi: Phật Giáo chỉ nói đến Giác Ngộ, Giải Thoát và Trí Tuệ. Như vậy, Phật Giáo có chú trọng đến chuyện báo hiếu hay không?

Đáp: Giống như các loại hình học tập ở đời, trong học tập, người ta chỉ nói đến thành tài, nói đến danh vị, nói đến bằng cấp, nghề nghiệp chứ không nói đến báo hiếu. Nhưng một người học hành thành tài, có danh vị, có bằng cấp, nghề nghiệp có phải người này đã ngầm một phần báo hiếu, đền đáp công ơn sinh dưỡng cuả cha mẹ hay không?

Hỏi: Trong cuộc đời người tu hành, Phật Đạo đặt mục tiêu báo hiếu ở vị trí thứ mấy?

Đáp: Báo hiếu là mục tiêu tối thượng, là mục tiêu cao nhất, là mục tiêu số một. Và nó là mục tiêu quan trọng nhất trong cuộc đời người tu hành, theo quan niệm của Phật Đạo.

Hỏi: Xin hãy chứng minh điều mà ngài vừa nói?

Đáp: Ông có nghe chuyện Hoàng Hậu Maya1 vừa sanh Thái Tử 2 bảy ngày, từ một người phàm tục, trở thành Thiên Chúng của cõi Đao Lợi hay không? Thái Tử vừa được sinh ra, sau này lớn lên mới thành Phật, mà đã thực hiện chữ hiếu của mình cao cả như thế. Phỏng xưa nay, ông đã từng nghe qua, ai là người làm được việc hy hữu này hay không?

Hỏi: Đấy là chuyện hy hữu của một Đức Phật, còn chuyện này từ trước đến giờ ngoài Phật đâu có ai làm được?

Đáp: Ông có nghe Mục Kiều Liên là người chứng quả La Hán, một quả vị có thứ hạng thấp của Phật Đạo, Sau khi chứng quả, tức thì dùng đạo lực của mình, lặn lội xuống Địa Ngục để tìm cách cứu mẹ hay không?

Hỏi: Mục Kiền Liên 3 chứng thánh, tuy là thánh hạng thấp. Nhưng người chứng thánh thì ít, hạng chưa chứng thì nhiều. những người chưa chứng, làm sao báo hiếu?

Đáp: Ông có nghe chuyện nàng Quang Mục4, là cư sĩ hạng bình dân, chưa từng chứng một quả vị nào trong Phật Đạo, cho dù đó là quả vị dưới hạng cuối cùng của hàng thánh. đã cứu được mẹ mình ra khỏi Địa Ngục hay không?

Hỏi: Chỉ có ba trường hợp báo hiếu hy hữu này, còn những trường hợp khác thì đâu có thấy làm được những chuyện lớn lao đến vậy?

Đáp: Vì những người tu hành còn lại, đâu người nào có cha mẹ làm nhiều chuyện ác, bị đọa xuống Địa Ngục đâu, mà bắt họ đi cứu.

Hỏi: Tu hành trong Phật Đạo, ngoài cứu cha mẹ, còn các quyến thuộc khác thì thế nào?

Đáp: Chẳng những Hoàng Hậu Maya, sinh mẫu của Đức Phật làm một Thiên Chúng. Vua Tịnh Phạn là thân sinh của Phật, sau khi tạ thế cũng sanh Đạo Lợi Thiên. Kế mẫu của Phật là Kiều Đàm Di 5 chứng thánh, ra khỏi ba cõi. Vợ là Công Chúa Gia Du Đà La cũng chứng thánh, thành bậc Ứng Cúng. Con trai là La Hầu La cũng chứng thánh, thành Đệ Nhất Mật Hạnh. Nguyên dòng họ Thích bị quân của vua Lưu Ly giết sạch cũng sanh Thiên toàn bộ. Ông còn muốn điều gì hơn nữa về chuyện báo hiếu như thế này của Phật Đạo.

Hỏi: Phật Đạo phân chia việc báo hiếu ra thành mấy lớp?

Đáp: Phật Đạo chia việc báo hiếu ra thành bốn lớp.

Hỏi: Bốn lớp như thế nào, xin ngài nói rõ cho tôi hay.

Đáp: Bốn lớp là Tiểu Hiếu, Trung Hiếu, Đại Hiếu và Tối Thượng Hiếu ý nghĩa như sau:

- Lớp Tiểu hiếu: Kiểu này tu hành trong Phật Đạo, nhưng ý chí thấp kém, mong ước nhỏ Làm người của Đạo lớn, nhưng chỉ dám mong ước được báo hiếu như người đời, ví như chuyện ngồi đó khóc măng, đội gạo, hái lê, làm thuê.

Nói chung, báo hiếu theo kiểu Quách Cư Nghiệp 6 đời Nguyên đã viết. Như ông, là bậc làm cha mẹ, có muốn con cái mình sau này báo hiếu cho ông theo “cách thê thảm” đó không? Chắc là không rồi! Đừng nói là có. Nhỡ người đời nghe được, thật xấu danh Phật Tử.

- Lớp Trung hiếu: Hạng này tuy trong Phật Đạo, nhưng tu hành chỉ để mong ước là người thành tài, ở đời kiếm chút công danh, ngày hai bữa cận kề bên cha mẹ, sáng chiều dâng cơm ngon, mặc áo đẹp, ở nhà Mặc cho cha mẹ, phải chịu nóng bức bởi lửa phiền não, hàng ngày bị cột trói trong ngục tù ba cõi. Tôi hỏi ông, cha mẹ giống người tù chung thân, có món ăn ngon, khi ăn có thấy ngon không, hay là nuốt không trôi, chỉ muốn sớm được ra ngoài, sống trong tự do, ăn dở mặc rách cũng cam.

Bản thân là cha mẹ, ông có muốn suốt đời mình ở trong nhà tù ba cõi, bị thiêu đốt bởi lửa phiền não, hầu được ăn miếng cơm ngon, mặc chiếc áo đẹp từ sự báo hiếu của con cái, theo kiểu này hay không? Chắc là không rồi. Đừng có nói là có, Phật mà nghe được điều này, chắc Phật buồn lắm.

- Lớp Đại hiếu: Đây là hạng người tu hành trong Phật Đạo, có ý chí, quyết tu tập để tự thân Giác Ngộ, sớm được Giải Thoát. Vị ấy thành tựu xong, dùng các pháp lành này hồi hướng, cứu cha mẹ thoát khỏi cảnh đốt thiêu bởi lửa phiền não. Trong một niệm biến ngục tù tam giới thành Niết Bàn, đời này, đời sau vĩnh viễn an

Là một người làm cha, làm mẹ thấy con cái mình theo Phật, thành Bậc Ứng Cúng, là vị đủ tài đức, hơn hẳn mọi thứ tài đức trong ba cõi, người người có gặp cùng không gặp, đều chắp tay cung kính, lễ bái, ngợi khen. Con cái thành tựu đạo quả và báo hiếu trong ý nghĩa thắng diệu này.

Đã là Phật Tử ông muốn làm điều này cho cha mẹ mình hay không?

- Lớp Tối Thượng Hiếu: Đây là hạng tu hành trong Phật Đạo, có trí tuệ lớn, đủ năng lực thừa kế sự nghiệp của Đức Phật.

Khắp nhân loại này, cho dù người trong đạo, kẻ ngoài đạo, người thương, kẻ ghét. trong lòng đều cung kính xưng tán công đức, trí tuệ của vị ấy. Ngoài chuyện, báo hiếu cho cha mẹ, quyến thuộc hiện đời, cha mẹ những đời trước và tất cả chúng sinh, nếu học hành theo Giáo Pháp của Phật do vị này truyền dạy, nhất định toại nguyện.

Phàm làm cha mẹ, ông có muốn con mình thành tựu Trí Tuệ và báo hiếu cùng khắp theo như những gì Đức Phật dạy hay không? Đã là Phật Tử, chắc ai cũng mong muốn.

Thế đấy, Phật Đạo chia việc báo hiếu ra làm bốn thứ lớp trước sau như vậy. Ông muốn mình và con cái thuộc lớp nào, để sau này thực hành báo hiếu?

Hỏi: Xin hỏi, những việc báo hiếu như vậy, chỉ nghe có ông nói. Trước nay, chưa thấy người tu hành nào nói như thế?

Đáp: Có rất nhiều người tu hành trong Phật Đạo nói như thế từ xưa đến nay, chỉ tại ông chưa đủ duyên để được nghe mà thôi.

Vả lại, Phật Đạo là pháp tối thâm u, tối thắng diệu. Ông và những người tầm thường như ông, nếu tự hiểu ra được những đạo lý thâm ảo này, hóa ra Phật Đạo là thứ triết lý chỉ ngang bằng sức suy nghĩ của một kẻ tầm thường như ông hay sao?

Hỏi: Nếu nói rằng, Phật Đạo có năng lực báo hiếu thắng diệu nhường ấy. Tại sao người tu hành, sau khi người thân qua đời, lại không trực tiếp đi cứu như Phật, như Mục Kiền Liên, như Nàng Quang Mục, mà phải thỉnh Tăng cầu siêu?

Đáp: Nguyên nhân người tu hành thỉnh Tăng cầu siêu cho cha mẹ sau khi qua đời là vì:

Vị đó, tuy tu hành trong Phật Đạo, nhưng chưa đến mức biết người thân của mình qua đời đang ở đâu, nên họ báo hiếu bằng cách nhờ Tăng đến trợ giúp. Nếu rủi ro người thân xuống Địa Ngục thì Tăng trợ giúp để ra khỏi đó. Người thân may mắn được sanh các cõi khác thì sớm Vãng Sanh, không còn trở lại cõi đời đầy phiền não này nữa.

Chuyện này đâu có gì là sai mà phải bàn cãi? Như bản thân ông, thân làm con, khi cha mẹ qua đời, tự thân mình không biết cha mẹ nay ở đâu, liệu có lặn lội nhờ vả người khác cứu cha mẹ của mình để tròn đạo hiếu hay không? Hay là cha mẹ chết rồi, đến đâu thì đến; sướng, cực mặc kệ, thân tui tui lo? Làm người như thế, có đáng hay không?

Tóm lại, tự mình chưa thể cứu được, thì nhờ vả người khác cứu giúp. Được không chưa biết, nhưng việc làm này chí ít cũng thỏa mãn lòng hiếu đạo của người tu hành!

Hỏi: Nhưng theo tôi, cầu là chuyện rủi may, đâu có biết chắc là được hay không? Mà đã không biết chắc, thì tại sao phải nhờ vả người khác cầu xin điều mình chưa biết chắc?

Đáp: Tôi chưa thấy trên đời có ai lý luận ngược ngạo như ông. Không biết chắc mới đi cậy nhờ người ta; chứ đã biết chắc, thì tự mình đi cứu, chớ nhờ mà làm chi cho tốn kém, lại phải mang ơn.

Vả chăng, như Mục Kiền Liên, tuy biết chắc mẹ mình ở đâu, đang làm gì, nhưng một thân một mình không kham nổi, nên phải nhờ công đức của chư Tăng. Giống như có người thấy tảng đá bự bằng con voi giữa đường, muốn dời nó đi, sức mình không làm nổi, thì nhờ thêm nhiều người, chuyện này có gì là lạ mà phải thắc mắc.

Hỏi: Trong Phật Đạo, dựa trên tiêu chuẩn nào để làm cơ sở đánh giá đời sau của quyến thuộc?

Đáp: Đâu riêng gì Phật Đạo, ở đời cũng có lắm tiêu chuẩn làm cơ sở đánh giá tương lai của một con người.

Hỏi: Các tiêu chuẩn của Đạo Phật cụ thể như thế nào?

Đáp: Phật dạy:

  • Quy y Phật, không đọa địa ngục.

  • Quy y Pháp, không đọa ngạ quỷ.

  • Quy y tăng, không làm súc

  • Giữ năm giới, không mất thân người.

  • Tu thập thiện, được quả báo sanh thiên.

  • Người nhất tâm nhớ nghĩ Phật Quốc, khi bỏ cõi này, Vãng Sanh làm công dân của Phật Quốc đó.

  • Người chứng Tu Đà Hoàn, tệ lắm bảy đời cũng được Giải Thoát.

  • Người chứng La Hán, ra khỏi ba cõi.

  • Người Giác Ngộ, thấy đây là Niết Bàn.

  • Người thành tựu Trí Tuệ, làm thầy trời người.

Vô số tiêu chuẩn làm cơ sở đánh giá, tại ông không biết đó thôi!

Hỏi: Người đã quy y Tam Bảo, nhưng sau đó làm thì có bị trừng phạt vì tội lỗi mình gây ra hay không?

Đáp: Nếu có chịu, sau khi trả xong lỗi ác, thì cái quy y vẫn còn, vì Tam Bảo thường trụ. Giống như một người có cha mẹ làm quan to, vì mắc tội với người khác, nên bị giam cầm. Sau khi mãn hạn, vị thế con của quan to của cha mẹ đâu có mất.

Hỏi: Ba cõi ở đâu mà tại sao nó có thể giam cầm được người ta?

Đáp: Ba cõi trong tâm này.

Hỏi: Tâm vô hình làm sao biết có ba cõi trong đó?

Đáp: Tâm vô hình nhưng có bóng. Thấy bóng nên biết có ba cõi. Như gió vô hình, nhưng thấy cờ bay, người trí biết ngay ở đó có gió.

Hỏi: Cái bóng của ba cõi trong tâm, hình dáng như thế nào?

Đáp:

- Phiền não là bóng dáng của ba cõi trong tâm.

- Tham lam là bóng dáng của ba cõi trong tâm.

- Sân hận là bóng dáng của ba cõi trong tâm.

- Ngã mạn là bóng dáng của ba cõi trong tâm.

- Tà kiến là bóng dáng của ba cõi trong tâm.

- Ngu si là bóng dáng của ba cõi trong tâm.

Nói chung, ba cõi tuy vô hình nhưng có bóng dáng của nó. Khi nào, trong ông hiện khởi những bóng dáng này, thì biết chắc rằng, mình đang là “công dân ưu tú” của ba cõi. Công dân ưu tú nhất định sẽ được tuyên dương. Ông đã được ba cõi tặng tấm “huy chương hay kỷ niệm chương vì sự nghiệp phiền não” nào chưa?

Hỏi: Như vậy, những lúc không hiện các bóng dáng nói trên, mình đã ra khỏi vô minh ba cõi rồi chăng?

Đáp: Mọi chuyện đâu có dễ dàng như thế?

Giống như trong tối thì không thấy một bóng hình nào cả... Nhưng bước ra ngoài sáng, lập tức hình với bóng của ta xuất hiện.

Vì thế, “Khi nào, cho dù ở ngoài sáng hay trong bóng tối, cũng không một chút bóng dáng của ta hiện hữu. Lúc đó mới biết chắc, bóng dáng vô minh của ba cõi hoàn toàn tịch diệt trong tâm thức này ”.

------------------------------

  1. Hoàng hậu Maya: vợ vua Tịnh Phạn, mẹ của Thái tử Tất Đạt Đa.

  2. Thái Tử: ở đây chỉ Thái tử Tất Đạt Đa.

  3. Mục Kiền Liên: là người nước Ma Kiệt Đà, một đệ tử giỏi thần thông nhất của Đức Phật.

  4. Nàng Quang Mục: tên nữ cư sĩ xuất hiện trong Kinh Địa Tạng.

  5. Kiều Đàm Di: sinh trưởng ở nước Câu Ly, bà là em gái của hoàng hậu Hai chị em cùng lấy vua Tịnh Phạn. Bà là ni trưởng đầu tiên của nhà Phật.

  6. Quách Cư Nghiệp: là một học giả đời nhà Nguyên (Trung Quốc). Ông là người biên soạn cuốn “Nhị thập tứ hiếu” kể về 12 tấm gương hiếu thảo nổi tiếng.

Tác Phẩm Lý Tứ

Có Công Thức Chung Trong Tu Tập Phật Đạo Hay Không? Kiến Thiệt Tế, Trụ Thiệt Tế Là Gì?

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Nếu có thể đặt ra một công thức chung để giúp người tu hành nhờ đó mà tự giải các vấn đề của Phật Đạo thì ngày xưa Thế Tôn đâu phải mất công 49 năm ròng rã thuyết pháp. Đến nỗi, lúc tuổi già không tự đi được, phải nhờ đồ chúng khiêng. Nằm trên võng, Thế Tôn cũng phải nén cái đau, mở miệng thuyết pháp.

Hỏi: Vì sao ngày trước xếp Anh Nhi Hạnh trước Thiên Hạnh, nay lại xếp Anh Nhi Hạnh sau Phạm Hạnh? Trước sau các hạnh thứ lớp không đồng, ý nghĩa cũng không đồng. Có thâm ý gì chăng?

Đáp: Thâm ý thì không, nhưng tùy cơ mà các hạnh được xếp đặt theo thứ lớp sai khác để khiến người tu hành thành tựu đạo quả trước mắt.

Hỏi: Xin hỏi, tùy cơ là như thế nào?

Đáp: Ngày trước, phần lớn huynh đệ mới bước chân vào con đường tu hành chưa phân biệt được cái gì là đời, cái gì là đạo, đạo đời lộn xộn. Để giúp mọi người chấm dứt sự lộn xộn này, cũng để khiến người quên dần tâm đời, lúc đó phải đặt Anh Nhi Hạnh làm mục tiêu trước mắt. Anh Nhi Hạnh trong giai đoạn này có ý nghĩa quên đời để chờ đạo.

Vì thế lúc đó mới nói rằng: “Điều cũ đã quên, cái mới chưa được, hồn nhiên như trẻ thơ, gọi là Anh Nhi Hạnh*”.

Nay, người tu hành đã biết rõ điều gì là đời, điều gì là đạo, đạo có mấy tầng. Vì thế, trong thời điểm này, Anh Nhi Hạnh được xếp sau Phạm Hạnh để giúp người chuẩn bị học Đạo Trí Tuệ. Bây giờ, Anh Nhi Hạnh lại mang một ý nghĩa khác.

Nói chung, tùy vào thời điểm tu hành, mỗi một giai đoạn trong Phật Đạo, Bậc Đạo Sư sẽ cho ra một ý nghĩa tương ưng phù hợp với thời điểm đó để hướng người tu hành thành tựu đạo quả trước mắt.

Giống như, có khi nói vào Như Lai Địa, Sơ Địa đi trước Bát Địa. Có khi nói trong Phật Địa, chứng Bát Địa rồi mới trở lại đăng Sơ Địa (Sơ Hoan Hỷ Địa). Chừng nào, người tu hành chưa có được Thật Trí, thì chưa thể biết hết sự ảo diệu của Đạo Pháp.

Ví dụ, ngày trước tuy huynh đệ đã tu hành, nhưng còn chấp nhất vì sao thân còn mang bệnh tật, bây giờ phải cắt nghĩa bệnh tật là Bồ Tát thị hiện trả quả báo hiện đời của thân nghiệp, làm duyên cho chúng sanh biết thân này vô thường, phải chịu sanh lão bệnh tử.

- Tóm lại, chưa thấy cái “Thiệt” thì phải dùng lời “Quyền” để giảng nói. Vì thế Phật Đạo mới có quyền có thiệt!

Hỏi: Như vậy, có thể đưa ra một “công thức chung” để giúp người tu hành nhờ đó mà tự giải các vấn đề của Phật Đạo?

Đáp: Nếu có thể đặt ra một công thức chung thì ngày xưa Thế Tôn đâu phải mất công 49 năm ròng rã thuyết pháp. Đến nỗi, lúc tuổi già không tự đi được, phải nhờ đồ chúng khiêng. Thế mà nằm trên võng, Thế Tôn cũng phải nén cái đau, mở miệng thuyết pháp.

Hỏi: Vì sao Phật Đạo không thể đưa ra một công thức chung?

Đáp: Vì tâm người đảo điên không theo một quy luật nào hết. Vì thánh chúng chỗ chứng sai biệt. Vì Trí Tuệ vô cùng rộng lớn trong một lúc chẳng thể nói hết. Vì Đạo Quả Vô Thượng bất cộng Tam Thừa. Nói tóm lại, có vô số sai biệt như thế, mà đã là vô số sai biệt thì chẳng thể có một công thức chung.

Hỏi: Vì sao ngày trước ngăn không cho huynh đệ chứng thiệt tế, nay lại nói nhiều về thiệt tế?

Đáp: Ngày trước tâm của huynh đệ còn yếu kém, nếu khuyến khích chứng thiệt tế sẽ không thể phát tâm Vô Thượng Bồ Đề. Nay huynh đệ chớm thấy Đạo Trí Tuệ, vì thế khuyến khích mọi người Giác Ngộ chân thật để khi học trí tuệ, trí tuệ không bị hoen ố bởi suy lường. Trong thực tế, có quá nhiều huynh đệ chưa vượt qua được ải Giác. Nay đã đến lúc phải vượt qua cái ải này thôi!

Hỏi: Nay huynh đệ chứng thiệt tế, thì làm sao phát tâm Vô Thượng Bồ Đề?

Đáp: Bây giờ mà còn nói chuyện phát tâm Vô Thượng Bồ1 Đề. ông có lẫn hay không? Giống như hỏi người đang đi học đại học, vì sao chú mày không mơ ước được bước chân vào giảng đường đại học.

Hỏi: Kiến Thiệt Tế và Trụ Thiệt Tế, giống hay khác?

Đáp: Bản thân hai chữ kiến và trụ khác nhau rất xa, đâu cần cắt nghĩa. Vả chăng, nó cũng giống như người đói lâu năm, thấy thức ăn ngon trước mặt, người này có chịu cam tâm trụ ở đó để tiếp tục “được” đói hay không?

Hỏi: Phật Đạo có vô số thuật ngữ, vô số danh pháp. Đây là rào cản lớn nhất khi người tu hành đọc tụng kinh điển. Xin hỏi, làm sao vượt qua rào cản trước mắt này?

Đáp: Tôi có thể giúp cho ông vượt qua rào cản trước mắt này bằng hai câu thần chú: “Đạo ta khi đọc kinh ta/ Cái nào không biết thì tra…. Gu Gồ (Google)” Ha ha ha!

Hỏi: Nhưng mà những giải thích từ các phương tiện như vậy đâu thể giúp người Giác Ngộ?

Đáp: Tất nhiên những giải thích được tìm thấy bằng các công cụ tìm kiếm của kỹ thuật chưa phải là tất cả. Nhưng có còn hơn không. Muốn đào sâu ý nghĩa hơn nữa thì phải quảy trên vai mấy ngàn đôi giày để tầm cầu Đạo Sư thôi. Ngồi đó mà chờ sung rụng, thì có lẽ đợi đến tháng tám năm (nay là năm 2015) may ra có người sinh tháng tám, hợp tuổi, hợp mạng, hợp cung,… đến kiếm mình mà giảng nói.

Hỏi: Như những gì ông đã cắt nghĩa về Phật Đạo thì Phật Đạo quan niệm như thế nào về đời sau?

Đáp: Phật Đạo rất coi trọng nhân quả, nhân nào thì quả ấy.

Nếu trong hiện đời, thành tựu nhân vô lậu, thì đời sau sẽ là vô lậu.
Nếu hiện đời, tâm ý vắng lặng, không muốn đi nữa, không có động lực để đi tiếp, thì người đó sẽ dừng vĩnh viễn.
Nếu trong hiện đời thành tựu trí tuệ, thì đời sau sẽ là người có trí tuệ. Giống như một người có tiền của, đi từ điểm A để đến các địa điểm B, C, D. người này đi đến đâu cũng là người giàu sang. Nếu một người có tri thức, cho dù đi đến đâu, đời sống có sang hèn, sự hiểu biết của họ cũng không mất đi.
Nếu một người, không có ý nguyện đi một nơi nào khác, trong tâm cũng chẳng muốn đổi thay, thì người ấy nhất định sẽ ở nguyên tại nơi này...

Vì thế, người tu hành thường hay nói: “Người đời sợ quả, kẻ tu lo nhân”.

---------------------------

Phát tâm Vô thượng Bồ Đề: Phát tâm thành Phật.

Tác Phẩm Lý Tứ

Nhận Biết Một Người Đã Giác Ngộ, Năm Hạnh Tu Hành Từ Thấp Đến Cao, Sự Khác Biệt Giữa Huyễn Trí và Thật Trí?

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Người Giác Ngộ chân thật tự biết cách hộ trì chỗ có được của mình. Phép hộ trì này trong Phật Đạo gọi là “Xuất Thế Gian Xa Ma Tha” (Tịnh Giải Thoát). Xuất thế Gian Xa Ma Tha là lấy cái không hộ trì để hộ trì.

Hỏi: Một người Giác Ngộ, chân thật “thấy tâm này bản lai tự tịnh”, trong đời sống hằng ngày, lấy gì để hộ trì?

Đáp: Người Giác Ngộ bản tâm thật sự, trong đời sống, vị này “lấy cái không hộ trì để hộ trì”.

Hỏi: Như thế nào gọi là lấy cái không hộ trì để hộ trì?

Đáp: Tất cả các pháp hộ trì mà người tu hành biết được, đều là pháp tạo tác (làm ra), thuộc về thế gian pháp. Những pháp như vậy, chỉ có tác dụng giữ gìn không cho tán tâm, ngăn lỗi ác của thân khẩu ý.

Vì thế không thể dùng những pháp hộ trì này cho người đã Giác Ngộ. Người Giác Ngộ chân thật tự biết cách hộ trì chỗ có được của mình. Phép hộ trì này trong Phật Đạo gọi là “Xuất Thế Gian Xa Ma Tha” (Tịnh Giải Thoát). Xuất thế Gian Xa Ma Tha là lấy cái không hộ trì để hộ trì.

Hỏi: Làm thế nào để biết được một người đã Giác Ngộ?

Đáp: Muốn biết được một người có Giác Ngộ chân thật hay không, chỉ có ba hạng người có thể biết rõ.

  • Một là Bậc Đạo Sư của người ấy.

  • Hai là người có Giác Ngộ sâu hơn.

  • Ba là chính bản thân người đó.

Tuy nhiên, có một số dấu hiệu mà người tinh ý có thể nhận ra và tạm đánh giá đây là một vị đã Giác Ngộ thật sự:

  • Một, nhìn vào phong thái của người đó trước kia và hôm nay (sau khi Giác Ngộ) thay đổi như thế nào.

  • Hai, trong hành động và lời nói của người thật sự Giác Ngộ, không có (hoặc rất ít) bóng dáng của ngã, luôn luôn thể hiện sự nhân hậu.

  • Ba, khi nói chuyện về đạo, người này lấy chỗ thực chứng để trình bày, nên văn tự ngắn gọn, không suy luận dài dòng.

  • Bốn, lời nói thường “không có mùi phiền não”, vì thế hay làm cho chúng hòa hiệp.

  • Năm, chán ghét tham gia chuyện thế gian, trừ trường hợp bất đắc dĩ.

  • Sáu, ham ưa vắng lặng, thường độc cư thiền định.

  • Bảy, không có tâm tranh giành, người đối diện cảm nhận được an lạc, thích gần gũi.

  • Tám, chỉ thích văn tự, ngữ ngôn vô lậu.

  • Chín, ham ưa đọc tụng kinh luận của Phật và Bồ Tát.

  • Mười, khi đọc kinh luận chính thống của Phật và Bồ Tát, vị này thấy phấn khởi trong lòng, cảm giác Phật và Bồ Tát tuyên thuyết điều này cho riêng mình.

  • Mười một, dễ phát hiện ra các sai lầm trong cách giảng nói của người chưa Giác Ngộ.

  • Mười hai, ham ưa văn hóa vô lậu, nên thường tán thán người được pháp lành, dần dần từ bỏ thói quen nhân ngã, khen mình chê người.

  • Mười ba, thường biết ơn, nhớ ơn Phật, Thiện Tri Thức.

  • Mười bốn, tập khí chấp nhất, xả dần cho đến mất hẳn.

Nói chung, có vô số pháp lành xuất sanh từ một vị đã Giác Ngộ chân thật. Nếu một người tinh ý có thể căn cứ vào những đức tính nói trên, để nhận định đây có phải là một vị đã Giác Ngộ thật sự hay chưa.

Hỏi: Một A Na Hàm, có được gọi là một người đã Giác Ngộ chân thật hay không? Như thế nào, đích thực là một A Na Hàm?

Đáp: Trong tứ quả thánh, A Na Hàm là quả vị thứ ba, gọi là Bất Lai, quả vị này đã dứt năm kiết sử, đó là thân kiến, giới cấm thủ, nghi, tham, sân. Tuy dứt được năm kiết sử nhưng đạo quả của vị này do Giác (nghĩ suy) mà được, chứ không phải tự được, tức là đạo quả của một A Na Hàm thành tựu từ nghĩ suy, nên gọi là “sắc cứu cánh thiên”.

Muốn Giác Ngộ chân thật, A Na Hàm phải một lần vượt qua rào cản của Giác (tư duy mới biết thế nào là thanh tịnh) để một lần Ngộ (chứng kiến) bổn tâm thanh tịnh, chỗ Ngộ chân thật này, Phật Đạo gọi là Chứng Thiệt Tế. Vì A Na Hàm sức Giác rất mạnh nên vị này không thể thối lui trở lại các quả vị trước đó, gọi là Bất Lai. Nếu nói cho đúng, tuy A Na Hàm đã vào dòng thánh, đã mọc mầm “thánh chủng tánh”, nhưng chưa thể gọi là Giác Ngộ chân thật.

Hỏi: Một người Giác Ngộ chân thật, một lần thực chứng, thấy được bổn tâm thanh tịnh. Vị này có lúc nào đó quên chỗ chứng của mình, để rơi vào bất giác hay không?

Đáp: Nếu chưa viên mãn Diệt Đế, tức mới thành tựu tâm vô ngã (vô sanh) mà chưa thành tựu phần còn lại là pháp vô ngã (vô sanh pháp) thì trong bất chợt nào đó, vị này có thể bất giác. Nhưng do công đức của Giác Ngộ nên vị này mau thức tỉnh, không bị chìm đắm lâu dài trong bất giác như một phàm phu. Giống như người giàu có, trong cuộc đời của họ, có lúc nằm mơ thấy mình nghèo đói, khi thức dậy, sự giàu có của họ không mất.

Muốn thành tựu Diệt Đế:

- Vị này thường lấy cái “không hộ trì để hộ trì”, đồng thời thường hay lặng lẽ quan sát tánh tướng của các pháp. Lặng lẽ quan sát tánh tướng của các pháp, gọi là Xuất Thế Gian Tỳ Bà Xá Na (Huệ Quán).

- Lặng lẽ quan sát như thế, mà trong thẳm sâu của lòng mình, không kết luận rằng pháp đó là đúng hay Nhờ lặng lẽ quan sát mà không kết luận như vậy, vị này đủ duyên lành sẽ thấy được pháp vô ngã, thân chứng bất nhị pháp môn và dần dần thể nhập Bất Động Giải Thoát, hoàn thành mục tiêu cuối cùng của Phạm Hạnh.

Vì sao như vậy?

Vì kết luận pháp là đúng hay sai, sẽ sinh ngã, sinh pháp, sinh đối đãi. Ngã sinh, pháp sinh, đối đãi sinh, giống như thêm dầu vào lửa, hành động này không thể dập tắt lửa pháp. Cho nên trong kinh, Phật thường hay ví Niết Bàn là củi hết, lửa tắt.

Hỏi: Vì sao chứng Diệt Đế gọi là hoàn thành mục tiêu cuối cùng của Phạm Hạnh mà không phải là Đạo Đế mới là mục tiêu cuối cùng?

Đáp: Phạm Hạnh là hạnh thanh tịnh. Hoàn thành mục tiêu trên, tâm thức vị này không còn là một chúng sinh, bây giờ mới có thể tu tập Đạo Đế.

Giống như muốn nhuộm một tấm vải, người này phải giặt tấm vải ấy cho sạch. Tấm vải tâm thức phải sạch, mới có thể vẽ lên đó các huyễn phương tiện của Chư Phật một cách đầy đủ, không hoen ố.

Giống như nước bẩn, phải dùng phèn (Giác) lóng trong trong rồi phải nấu cho sôi (Ngộ bản chân), thì nước này mới có thể uống được, mà không sợ bị các loại bệnh do nước uống gây ra.

Chữ “Phạm Hạnh” trong Phật Đạo là thuật ngữ dùng để chỉ cho người thành tựu phần tự độ, gọi là chứng Diệt Đế. Kinh Đại Niết Bàn có liệt kê năm hạnh tu hành từ thấp lên cao:

  • Thiên Hạnh: Tâm thức được sinh ra từ các pháp lành;

  • Thánh Hạnh: Tâm thức không còn kiết sử;

  • Phạm Hạnh: Thành tựu hai vô ngã;

  • Anh Nhi Hạnh: Bắt đầu học Trí Tuệ Vô Lậu như một đứa trẻ và cuối cùng là…

  • Bệnh Hạnh: Thị hiện có bệnh rồi chết để xác chứng lời Chư Phật ba đời tuyên thuyết rằng thân này phải chịu quy luật của sanh, lão, bệnh, tử là chân thật, và thị hiện bệnh hạnh nhằm tạo cơ hội cho quyến thuộc cũng như đồ chúng thực hành “hạnh báo hiếu” để họ phát sinh công đức.

Hỏi: Xin cho biết, sự khác biệt giữa huyễn trí và thật trí?

Đáp:

- Thật trí như vàng đã được tinh luyện không còn tạp chất. Dù để nguyên khối, cắt từng phần nhỏ, hay các hạt bụi (mạc) vàng từ khối vàng bay ra cũng đều đồng chất là vàng. Vì thế, ngôn thuyết, hành động,… từ thật trí luôn luôn mang đầy đủ tính chất của Giác Ngộ, Giải Thoát và Trí Tuệ. Huyễn trí như vàng chưa tinh luyện, còn nhiều tạp chất, không đồng nhất về tính chất. Cho nên, ngôn thuyết, hành động từ huyễn trí không đầy đủ ý vị của Giác Ngộ, Giải Thoát và Trí Tuệ.

- Thật trí biết rõ tất cả các danh tự cùng quả vị của Phật Đạo, từ cạn đến sâu. Cho nên, có thể dẫn người tu hành trải qua các quả vị của Phật Đạo không sai lệch. Huyễn trí chỉ biết một ít danh tự cùng các quả vị trong Phật Đạo cho nên chỉ có thể đưa người tu hành đến ngang bằng chỗ thực chứng của mình, không thể giúp họ tiến xa hơn.

- Thật trí tự thấu suốt những điều Phật đã dạy, đang dạy và chưa dạy. Huyễn trí chỉ biết những điều nào đã được học, những điều chưa học không thể tự biết. Nếu cố suy luận để biết, cái biết này không thấu đáo.

- Thật trí như người đã lội đến đáy của biển Đại Giác, sau đó quay lại dắt người tìm về biển Đại Giác. Huyễn trí như người theo kẻ thật trí trên đường tiến ra biển Đại Giác.

Hỏi: Người tu hành trong Phật Đạo, khi ngủ có mơ hay không?

Đáp: Tùy vào Giác Ngộ sâu cạn, mà mơ nhiều hay ít. Cũng như tùy vào Giác Ngộ sâu cạn mà mức độ tổn hại về tinh thần trong giấc mơ có sai biệt.

Hỏi: Xin được giảng nói cụ thể.

Đáp: Người vừa Giác Ngộ, trong giấc mơ, thường hay gặp các cảnh lành, vì tâm thức vị này còn nguyên hưng phấn của Giác Ngộ ban đầu.

Giống như người đang nghèo đói, bỗng dưng có được gia tài to lớn, niềm vui sướng này đeo đuổi vào tận giấc ngủ. Người Giác Ngộ lâu xa, đôi khi có những giấc mơ như người đời không Giác Ngộ, nhưng nỗi sợ hãi mau tan biến, tổn hại tinh thần không nhiều. Giống như một võ sĩ nhiều năm tập luyện, bình thường không nhớ mình có võ, nhưng bất thình lình lâm trận, họ cũng biết cách phòng hộ tự thân, không bị kẻ thù gây nhiều thương tích.

Người Giác Ngộ rốt ráo, giữa mơ và thật, không có sai biệt, đều tự tại như nhau. Giống như loài Linh Sư sống trên đỉnh núi Vô Uý, chỉ ăn đọt non cây Vô Ưu cao trăm trượng. Dù Linh Sư ngủ hay thức không có một loài thú nào khác có thể đến gần để gây tổn hại. Vì thế Kinh Đại Bát Nhã hoặc Đại Thừa có giảng nói về vô số giấc mơ và ý nghĩa các giấc mơ của Bồ Tát.

Hỏi: Vì sao người ta thường nói, tu hành trong Phật Đạo để ra khỏi sanh, lão, bịnh, tử. Nay lại nói, thị hiện bệnh hạnh để xác chứng lời ba đời Chư Phật tuyên thuyết về thân này phải chịu sanh, lão, bệnh, tử là chân thật.

Đáp: Phật Đạo chỉ dạy người tu hành ra khỏi sanh, lão, bệnh, tử khổ. Có nghĩa, cho dù thân này có trải qua bốn giai đoạn như thế, cũng không làm cho người tu hành trong Phật Đạo phải chịu khổ sở như người đời. Và Phật cũng dạy, người tu hành trong Phật Đạo ra khỏi sanh diệt, người đời “hiểu sai hai chữ sanh diệt thành sanh tử”.

Ra khỏi sanh diệt, chấm dứt luân hồi, là vị này một phen Giác Ngộ, tâm thức không còn “niệm niệm sanh diệt” như người thế gian.

Cắt đứt vòng luân hồi, là tâm thức không còn xoay vần trong thương ghét, hơn thua, được mất, trí ngu, thiện ác suốt đời không có lối ra.

Tóm lại, dứt Tập, chứng Diệt, tu Đạo trong Phật Đạo nhằm giải quyết tận gốc của Khổ Đế, chứ không phải để luyện cho thân này trở thành “kim cương bất hoại” như các mẩu truyện kiếm hiệp thường hay hư cấu!

Hỏi: Thế thì Phật vẫn thường nói, thân của Như Lai là thân Kim Cang.

Câu nói này có ý gì?

Đáp: Nói Kim Cang Thân là ám chỉ Pháp Thân, Phật Tánh, Phật Trí chứ chẳng phải nói đến một hữu vi pháp như nhục thân. Vì thế, Phật mới có ba thân:

- Báo Thân: Nhục thân vô thường.

- Hóa Thân: Những pháp do Phật Trí hóa hiện ra, các pháp này cũng thường cũng vô thường.

- Pháp Thân: Tên gọi để chỉ chung cho Phật Tánh, Phật Trí.

Phật Tánh, Phật Trí là thường, hai thứ này thuộc vô vi. Vì là vô vi nên tính chất của nó bền chắc không thể hư hoại, do không thể hư hoại nên Phật dụ như Kim Cương để người đời dễ cảm nhận.

Chớ có lầm Kim Cang Thân giống như viên kim cương người ta bán ở tiệm kim hoàn.

 

Tác Phẩm Lý Tứ

Tam Ma Đề Như Huyễn và Tam Ma Đề Viên Thông

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Sau khi Giác Ngộ ý nghĩa lỗi họa của phân biệt hư vọng và bằng mọi cách dừng phân biệt hư vọng. Khi phân biệt hư vọng không còn, gọi là đắc Tam Ma Đề Như Huyễn. Trong lúc tu Tam Ma Đề mà Giác Ngộ được “bản chân”, gọi là Tam Ma Đề Viên Thông.

Hỏi: Xin cho biết, thế nào là Như Huyễn Tam Ma Đề1?

Đáp: Như Huyễn Tam Ma Đề là tên gọi của Phật Đạo nhằm chỉ cho cách thức, “dùng huyễn pháp để diệt huyễn tâm”. Vì huyễn tâm không thật nên pháp diệt tâm cũng không thật. Cái gì không thật, Phật Đạo gọi là “như huyễn”. Đã là huyễn thì “Tâm diệt, pháp vong” giống như thuốc chữa bệnh, bệnh đã khỏi thì không cần dùng thuốc nữa.

Hỏi: Nếu bảo rằng, tâm như huyễn, có nghĩa rằng giống như người ngủ chiêm bao, thì làm sao để diệt được chiêm bao. Và đã là chiêm bao cần gì phải diệt.

Đáp: Nói tâm huyễn, giống như chiêm bao. Đây là ví dụ, để người tu hành có thể hiểu ra điều gì đó chứ thật ra, huyễn tâm của chúng sanh không phải là một giấc chiêm bao ngắn ngủi như chiêm bao trong giấc ngủ.. Mà khi nào, chúng sanh chưa Giác Ngộ thật sự thì huyễn tâm luôn luôn tồn tại cùng họ.

Có thể ví dụ như người mất trí, khi nào người này trí óc chưa hồi phục, thì họ hoàn toàn sống trong tình trạng mất trí.

Do chúng ta lấy ví dụ là chiêm bao, nên nghĩ rằng, chiêm bao không thật, cần gì phải diệt. Nhưng nếu dựa theo ví dụ của người mất trí, có lẽ người nghe tức thì đi tìm thầy chữa cho hết căn bệnh nguy hiểm này.

Hỏi: Tâm đã huyễn, thì làm sao mà diệt. Thực tế trong đời, không thể diệt một cái không có thật. Giống như người ta không thể cắt đứt một cái bóng cây.

Đáp: Nói diệt huyễn tâm, là cách nói ngắn gọn cho dễ hiểu. Nếu đầy đủ, phải nói là: “Diệt những nguyên nhân sanh khởi huyễn tâm”.

Hỏi: Xin cho biết, do nguyên nhân nào, huyễn tâm sanh khởi?

Đáp: Nhận thức hư vọng và phân biệt hư vọng là nguyên nhân chính để huyễn tâm sanh khởi.

Hỏi: Xin giải thích cụ thể về hai việc trên.

Đáp:

- Nhận thức hư vọng, Phật Đạo gọi là hư vọng pháp. Ví dụ, trong thân này chỉ gồm có bốn đại chủng, mỗi đại chủng tự nó thanh tịnh. Nhưng do lầm nhận thân này có một giá trị nào đó, vì lầm nhận thân này có một giá trị nào đó, cho nên người kia mong ước những giá trị đó tồn tại vĩnh viễn cùng họ. Khi thân biến chuyển theo quy luật tự nhiên của nó, A không còn là A hoặc B không còn là B thì chính sự mất mát do biến chuyển này sẽ là nguyên nhân làm cho người kia sinh các thứ tâm ưu bi khổ não.

- Phân biệt hư vọng, cũng là một loại pháp hư vọng. Đây là thói quen huân tập lâu đời của nghiệp thức. Khi các căn xúc đối trần cảnh, năng phân biệt liền hiện. Khi năng phân biệt hiện, tâm đối đãi sẽ Tâm đối đãi sanh, hiệu ứng của nó là các cặp tâm như: ghét thương, phải quấy, hơn thua, được mất, tịnh bất tịnh, xuất hiện.

Các cặp tâm xuất hiện, sẽ làm người tu hành đảo điên, che mờ chân tánh. Ví như, thấy giàu sang sanh ưa, thấy nghèo hèn sanh chán ghét, thấy quyền thế mong thân cận, thấy cô thân muốn lánh xa. Những tâm thức như vậy, thường không đưa người đến an vui chân thật.

Hỏi: Xin hỏi, Tam Ma Đề Như Huyễn và Tam Ma Đề Viên Thông khác nhau chỗ nào?

Đáp: Tam Ma Đề Như Huyễn là nói đến nhân, Tam Ma Đề Viên Thông là nói đến quả.

Hỏi: Như thế nào, gọi là nhân, như thế nào gọi là quả?

Đáp: Nói nhân là sau khi Giác Ngộ ý nghĩa lỗi họa của phân biệt hư vọng, người này bằng mọi cách dừng phân biệt hư vọng. Khi phân biệt hư vọng không còn, gọi là đắc Như Huyễn Tam Ma Đề. Nói quả, là người kia sau khi dừng phân biệt, cùng nhận thức hư vọng, người ấy không rời cảnh giới này. Một lần nữa “trong không phân biệt” quay lại quán sát tâm này, chợt Giác Ngộ ra “bản lai một hữu tình không tâm”.

Giác Ngộ như thế, vị ấy kết luận, nay ta cũng không tâm. Trong lúc tu Tam Ma Đề mà Giác Ngộ được “bản chân”, gọi là Tam Ma Đề Viên Thông. Nói viên thông là từ nhân hữu vi mà Giác Ngộ quả vô vi.

Hỏi: Trước đây nói rằng, nhân hữu vi không thể được quả vô vi. Vì sao, nay lại nói khác?

Đáp: Trước đây, vì kẻ hạ căn mà nói rằng, nhân hữu vi không thể được quả vô vi. Nay, đối với hạng trung căn, nói rằng, nhân hữu vi, nếu khéo

Giác Ngộ, có thể thành tựu quả vô vi. Mai này, đối với bậc thượng căn, sẽ nói, hữu hay vô đồng là vô. Vị lai, tương ngộ bậc tối thượng căn sẽ nói rằng, hữu vi chẳng thể được, vô vi chẳng thể được.

Bất liễu nghĩa cùng liễu nghĩa là như thế.

Hỏi: Trong khi tu Tam Ma Đề, người này có sinh các thiền chi hay không?

Đáp: Trong quá trình tu Tam Ma Đề, khi phân biệt có khuynh hướng tạm dừng, theo nguyên lý sinh thiền, các thiền chi bắt đầu xuất hiện. Nhưng phần lớn người tu Tam Ma Đề không cảm nhận được thiền chi là vì tâm vị đó mạnh mẽ hướng đến mục tiêu dừng phân biệt nên cho dù có thiền chi nhưng cũng không cảm nhận. Giống như người ta chỉ chú tâm mạnh mẽ đến một điều gì đó, những sự việc xảy ra chung quanh không nhận biết.

Nếu sau khi dừng phân biệt, vị này đem “tâm không phân biệt” tầm tứ lại thân hay tâm này, các thiền chi sẽ hiện rất rõ rệt. Lúc này, phép Tam Ma Đề tu trước đây trở thành Đình Tâm Pháp (phép dừng tâm).

Hỏi: Sau khi đã dừng phân biệt, chấm dứt nhận thức hư vọng, tâm hoàn toàn tịch diệt. Phép Tam Ma Đề có còn được người này sử dụng nữa hay không

Đáp: Nếu hư vọng tâm tịch diệt hoàn toàn, thì không cần dùng nữa. Nhưng nếu, tập khí sinh tâm vẫn còn, thì phải tiếp tục dùng nó, cho đến bao giờ hoàn toàn Giác Ngộ Diệt Đế. Giống như người bịnh, khoẻ mạnh hẳn thì thôi, nếu còn “lương ương trong mình” phải nên tiếp tục dùng thuốc.

Hỏi: Vị này sau khi chứng Diệt Đế, không tâm, không pháp rồi, nên làm gì nữa?

Đáp: Học Trí Tuệ để viên thành Đạo Đế.

Hỏi: Học Trí Tuệ, có cần ngồi hay không?

Đáp: Cũng cần, cũng không cần.

Hỏi: Vì sao cần, vì sao cũng không cần?

Đáp: Nếu trong các oai nghi đi, đứng, nằm mà suy ngẫm cách mấy Trí Tuệ cũng không thông, nên tìm chỗ thanh vắng ngồi xuống chiêm nghiệm để cho thông. Nếu đã thông rồi, mà thân tâm này mệt mỏi, thì cũng nên ngồi xuống để hưởng dụng trọn vẹn “lạc thú Niết Bàn”, cái này Phật Đạo gọi là “tự thọ dụng”. Vả lại, chúng sanh phần lớn kính trọng, ham ưa người có oai nghi. Ngồi là một trong những oai nghi đẹp nhất. Vì thế Bồ Tát hay ngồi để chúng sanh sinh tâm ham thích gần gũi mà hưởng được lợi lành. Cho nên mới nói, học Trí Tuệ cũng cần, cũng không cần ngồi.

Hỏi: Kinh Đại Bát Nhã, Phật nói với Tu Bồ Đề đại ý: “Bồ Tát không có tâm, nhưng có Trí Tuệ như huyễn”, câu nói này nhằm vào nghĩa gì?

Đáp: Bồ Tát không tâm là nghĩa chân thật của Bồ Tát. Nếu có tâm thì Bồ Tát này chẳng khác phàm phu. Không tâm nhưng có huyễn trí, là vì Bồ Tát này chưa thành tựu chân trí, nhưng đã học được các môn huyễn phương tiện của chư Phật.

Nếu Bồ Tát này thấy được chân tánh, thành tựu chân trí, bây giờ chân tánh và chân trí như mặt trời và ánh sáng, như ánh sáng và sức nóng, chỗ chẳng hai này, người tu hành gọi nôm na là Pháp Thân, là Phật Tánh, là Phật Trí. Vì thế, Pháp Thân, Phật Tánh, Phật Trí là thường. Cho nên, khi luận về huyễn trí, Kinh Đại Bát Nhã có nói đến tương tợ Bát Nhã.

Bát Nhã và tương tợ Bát nhã là do luận về chân trí hay huyễn trí. Liễu nghĩa và bất liễu nghĩa cũng nhân nơi đây mà thầm hội. Vì thế, đối với Nhị thừa chứng thiệt tế phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, Phật tuyên nói Phật Tri Kiến mà không nói Phật Trí. Nhị thừa không chứng thiệt tế, nhưng có được huyễn trí, Phật dạy tương tợ Bát Nhã Ba La Mật.

Hỏi: Kinh nói: “Trực tâm là đạo tràng”. Trực tâm này có giống những người trực tâm ở đời, ăn ngay nói thẳng hay không?

Đáp: Hai chữ trực tâm trong câu nói “trực tâm là đạo tràng” không giống trực tâm của người đời.

- Trực tâm là đạo tràng, có nghĩa một tâm thẳng đến vô thượng; một tâm thẳng đến vô thượng có nghĩa không đem tâm chạy vào pháp thế gian. Người tu hành nào, mọi lúc, mọi nơi, mọi thời đều chỉ có một tâm thẳng ngay đến đạo quả vô thượng, tâm đó chính là đạo tràng tốt nhất trong các thứ đạo tràng mà người tu hành dựng lập.

- Còn người đời trực tâm, tâm này không thể dùng làm đạo tràng tu hành trong Phật Đạo được. Vì trực tâm đó là tâm thẳng ngay ở đời, y nơi thế pháp mà gọi là trực. Tuy nhiên, những người ở đời có trực tâm, một khi dấn thân tu hành, dễ thành tựu hơn những người tâm tánh quanh

Hỏi: Tâm và pháp, cái nào có trước? Tâm sanh pháp hay pháp sanh tâm?

Đáp: Câu hỏi này, giống như câu hỏi ở đời: “con gà có trước, hay quả trứng có trước”. Những người thường nghiền ngẫm câu hỏi vô bổ này, hoặc những câu tương tự như thế, nhất định họ “trứng còn không có, nói chi đến gà”. Trong Phật Đạo cũng vậy, người tu hành không nên cất công tìm hiểu những thứ vô ích như “tâm và pháp cái nào có trước”. Mà thái độ của kẻ trí là khi biết rằng ta đang có tâm, nhất định phải tịch diệt tâm này. Nếu đang sinh pháp, bằng mọi cách phải làm cho pháp vô sanh. Hành động như vậy, Phật Đạo gọi là chánh tinh tấn.

Trên đời, có những kẻ vô công, suốt ngày chiêm nghiệm những điều vô bổ như con gà và quả trứng cái nào có trước. Giả sử người này biết rõ cái nào có trước, cũng chỉ thỏa mãn tánh ham thích tò mò những điều vô căn cứ. Thay vì ngồi chiêm nghiệm những điều như thế, người có trí hoặc đi tìm con gà, hoặc đi tìm quả trứng”, nhất định sẽ cho ra nhiều lợi ích thiết thực hơn.

Hỏi: Kinh nói rằng: “Phật do pháp sanh”. Xin hỏi, Phật là không pháp vì sao lại nói rằng, Phật là do pháp sanh?

Đáp: Câu này, Phật nói với ông Ưu Ba Ly, trong đương cơ “luận về Tam Bảo”. Vì thế, câu này chưa phải là liễu nghĩa. Tuy chưa phải liễu nghĩa, nhưng trong đương cơ, câu nói đó giúp Ưu Ba Ly rời bỏ thiệt tế đang chứng, và làm tốt công việc một Tỳ Kheo cầm giữ mực thước của Tăng.

Cho nên, ngoài đương cơ này hoặc những đương cơ tương tự, Phật sẽ không tuyên thuyết những câu nói như vậy. Ví như Kinh Kim Cang, Phật nói: “Phật là không pháp”.

-------------------------

Như Huyễn Tam Ma Đề: Là phép tu dùng huyễn pháp để diệt huyễn tâm.
 

Tác Phẩm Lý Tứ

Ba Giai Đoạn Cơ Bản Nhận Thức Bát Chánh Đạo Trong Tu Tập

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Bát Chánh đạo trong Phật giáo có nhiều giai đoạn, nhưng có ba giai đoạn cơ bản. Người tu tập trong Phật Đạo phải tuần tự thâm nhập từng giai đoạn một.

Hỏi: Trong Phật Đạo, lấy gì phân định chánh, tà?

Đáp: Căn cứ vào tám điều của Phật Đạo để phân định chánh, tà. Tám điều này Phật Đạo gọi là Bát Chánh Đạo.

Hỏi: Bát Chánh đạo trong Phật giáo có mấy giai đoạn?

Đáp: Bát Chánh có nhiều giai đoạn, nhưng có ba giai đoạn cơ bản. Người tu tập trong Phật Đạo phải tuần tự thâm nhập từng giai đoạn một.

Giai đoạn một: Bát Chánh giúp người Giác Ngộ, dứt Tập Đế, đại loại như sau:

-  Thấy biết nào giúp ta Giác Ngộ, chấm dứt vĩnh viễn kiết sử, gọi là Chánh Kiến.

- Nghĩ suy nào, giúp ta Giác Ngộ, thấy rõ nguồn gốc phát sinh tham, sân, gọi là Chánh Tư duy

- Lời pháp nào, khiến ta Giác Ngộ, không còn ngu si, ra khỏi mọi tham đắm pháp thế gian gọi là Chánh Ngữ.

- An lạc nào, từ những Giác Ngộ nói trên, khiến kiết sử1 hoàn toàn tịch diệt gọi là Chánh Định.

Giai đoạn hai: Bát Chánh giúp người Giải Thoát, thấy được bản tâm, chứng Diệt Đế. Bát Chánh thuộc các giai đoạn như sau:

- Thấy biết nào giúp ta không còn trôi nổi trong ba cõi, “thấy biết” nào giúp ta không bị cột trói bởi ngũ ấm, thấy biết nào giúp ta nhận ra rằng năm uẩn bản chất nó là không, thấy biết nào giúp ta Giác Ngộ thân tâm này bản lai tự tịnh, gọi là Chánh Kiến.

- Nghĩ suy nào giúp ta thấu đáo Chánh Kiến, vĩnh viễn Giải Thoát khỏi mọi sự trói buộc, chấm dứt hết thảy khổ đau, gọi là Chánh Tư duy

- Lời nói nào, giúp ta thực hiện được những điều trên, gọi là Chánh Ngữ.

− Bất Động Thanh Tịnh nào, do Giải Thoát, do Giác Ngộ bản lai tự tịnh mà có, gọi là Chánh Định.

•  Giai đoạn ba: Bát Chánh giúp người có được trí tuệ; trí tuệ này, biết rõ mọi con đường đưa chúng sanh đến khổ đau, gọi là biết Khổ Tục Đế.

- Nhận ra thế nào là trở ngại của bậc thánh, gọi là biết Khổ Thánh Đế.

- Thấu hiểu thế nào mới là: “chân lý tối thượng” và cũng biết rằng trong Đạo Bồ Tát, có những vị chưa hoàn toàn biết được “chân lý tối thượng” này để có thể tiến về Đạo Quả Vô Thượng, gọi là biết Khổ Chân Đế.

Trí Tuệ này, có năng lực giúp các thừa trong Phật Đạo vượt qua mọi khó khăn, thể nhập Nhất Thừa. Đại khái, Bát Chánh ở giai đoạn này như sau:

-Người thấy được thiệt tướng của vạn pháp, gọi là người có Chánh Kiến.

- Người biết ba thừa đồng như huyễn mộng, không thật, gọi là Chánh Tư duy

- Người có thể tuyên thuyết giúp người khác lần lượt đạt thành tựu Tứ Đế, vượt qua từng phẩm một của Ba Mươi Bảy Đạo Phẩm, tùy theo địa vị của họ, để có thể thành tựu ba giai đoạn Bát Chánh nói trên, gọi là Chánh Ngữ.

- Đời sống và Trí Tuệ không hai, gọi là Chánh Định.

- Nói tóm lại, có tám điều như thế, để phân định thế nào là chánh, thế nào là tà trong Phật Đạo.

Ở đây, chỉ nói khái quát một số điều chân chánh cơ bản, từ những điều cơ bản đã nói, người tu hành có thể suy luận và nhận biết những thứ chánh còn lại. Thiết nghĩ, không cần phải giải thích cụ thể.

Hỏi: Người tu hành trong Phật Đạo, có nhất thiết phải tuần tự vượt qua các giai đoạn đã nêu ở trên hay không? Xin hỏi, có cánh nào để đốt cháy giai đoạn hay không?

Đáp: Hầu như, tất cả những người tu hành trong Phật Đạo, đều phải tuần tự vượt qua các giai đoạn kể trên. Trong mỗi giai đoạn có “đốn”, có “tiệm” tức là có nhanh có chậm. Nhanh hay chậm ở mỗi giai đoạn, tùy thuộc khả năng lãnh hội và cơ trí của từng người. Còn trên đời, có người nào đó một lúc vượt qua ba giai đoạn, thấu suốt hết mọi thứ, bỗng dưng có thể giảng nói, tuyên thuyết, như một Đức Phật thì thật tình tôi chưa thấy người như vậy. Vì thế, trong Phật đạo mới chia ra “ngũ thời thuyết pháp”. Ngũ thời thuyết pháp chính là giáo trình nâng người tu hành từ thấp lên cao.

Hỏi: Sách sử chép lại: Lục Tổ Huệ Năng, có thể đốt giai đoạn, sao ngài lại bảo rằng không thấy?

Đáp: Nếu Huệ Năng có thể đốt mọi giai đoạn, chỉ một tích tắc là hiểu ra mọi thứ, thì đâu có phải mất công sáu tháng giã gạo. Đâu phải mất công nửa đêm lên Thất Tổ để nghe giảng kinh một lần nữa. Đâu cần trên thuyền, Ngũ Tổ phải dặn dò. Đâu cần được nghe nói câu: “Không biết thì thôi, biết làm thầy trời người…” Làm thầy trời người, đâu có nghĩa làm thầy của hết thảy các địa vị trong Phật Đạo. Những lời “ẩn mật” như thế, đâu có dễ biết hết nghĩa lý của nó. Người đời chỉ thấy một hiện tượng Huệ Năng, mà không thấy cái sâu xa vi diệu của Đạo pháp được gửi gắm giữa hai thầy trò họ.

CÁC LOẠI THIỀN ĐỊNH TRONG PHẬT ĐẠO

Hỏi: Nếu bảo rằng, chỉ nhân nơi ngôn thuyết để giúp người thành tựu Đạo pháp, tại sao kinh lại còn nói đến những thứ thiền định?

Đáp: Các thứ thiền định của Phật Đạo đều do Giác Ngộ mà được.

- Giác Ngộ Tục Đế, cho ra Thế Gian thiền.

- Giác Ngộ Thánh Đế, cho ra Xuất Thế Gian thiền.

- Giác Ngộ tột cao, cho ra Xuất Thế Gian Tối Thượng Thừa thiền.

Hỏi: Xin huynh trưởng nói sơ lược cho tôi biết, như thế nào nhân Giác Ngộ sâu cạn mà có ba thứ lớp Thiền đã nêu ở trên?

Đáp: Ba loại thiền như sau:

- Đầu tiên, người này nghe nói đến nguồn gốc phát sinh kiết sử.

Nghe nói như vậy, người ấy bèn tìm nơi vắng vẻ, chiêm nghiệm để thấy cho được nguồn gốc này. Thuật ngữ của Phật Đạo gọi chiêm nghiệm này là “tứ” hay “quán”. Giác Ngộ nguồn gốc rồi, vị này đưa tâm ý vào chỗ không có kiết sử. Đưa tâm ý vào chỗ không kiết sử gọi là “tầm” hay “giác”.

Giác như thế, đến khi mọi nguyên nhân làm phát sinh kiết sử hoàn toàn tịch diệt 2. Trong quá trình từ tư duy nguyên nhân đến tịch diệt kiết sử, những “Thiền Chi” xuất hiện rồi bão hòa cho đến mất hẳn, chỉ còn một nguồn tâm an ổn do tịch diệt kiết sử mà có, an ổn này gọi là “Định”. Được định này rồi, vị ấy biết rằng bản thân đã dứt Tập; cũng biết rằng Tập này lấy Giác (hiểu biết) làm Đế (chỗ nương cậy).

“Thiền” và “Định” này thuộc Thế Gian Thiền. Gọi là Thế Gian Thiền, vì nó chỉ có giá trị không hiện khởi “kiết sử” chứ chưa “giải thoát” ra khỏi ba cõi.

- Sau khi, có được nguồn tâm an ổn, vị này tạm coi như đã dọn dẹp xong cành nhánh vô minh (nhuận chi vô minh).

Vị này được đạo sư chỉ cho thấy thân tâm này, bản lai tự tịnh. Ngũ ấm chỉ do mê mà có, ngũ uẩn chỉ do lầm mà sanh, bản chất của năm món: sắc, thọ, tưởng, hành, thức chỉ có tên gọi mà không thực thể. Do “mê” nên bị ngũ ấm trói buộc, do “lầm” cho nên bị ngũ uẩn làm cho phiền não. Dứt mê lầm năm món, thân tâm đồng hư không. Vị này nghe nói thế, tìm chỗ thanh vắng, trả thân tâm về đúng bản lai4, vượt qua cái đạo trước đây do nghĩ suy (Giác) mà được (A Na Hàm). Vị này bắt gặp “thiệt tế” của thân tâm. Trong quá trình này, thân tâm cũng lần lượt trải qua các “Thiền Chi” như lần trước.

Cho đến khi, vị ấy bắt gặp (Ngộ) được “bản lai thân này thanh tịnh, tâm này bất động, ý này tự giải thoát”. Ngộ như vậy rồi, vị này tự biết rằng, hết thảy do mê tâm, mê pháp mà sinh. Xưa chưa từng có tâm, thì nay cũng chưa từng có pháp. Biết như vậy, vị này chứng “hai vô ngã”, trong không sinh tâm, ngoài không sinh pháp, cắt đứt “căn bản vô minh” (cái gốc của vô minh).

Như như bất động trước mọi hoàn cảnh gọi là “Định”. Trong định này, vị ấy như thật biết rằng ba cõi duy tâm. Và vị này cũng biết rằng, Diệt Đế này do Ngộ (thiệt tế) mà được. Vì thế Ngộ là Đế của Diệt. Chữ Đế bây giờ có nghĩa là “Chân Lý”, tức là do “Ngộ ra Chân Lý” mà có cứu cánh, còn gọi là Chân Đế. Từ đây, không còn chung cùng thế gian pháp. Giác Ngộ và kết quả đạt được này, gọi là Xuất Thế Gian Thiền.

- Sau khi chứng Diệt Đế rồi, Phát thệ nguyện, cầu Đạo Bồ Đề. Vị này được Đạo Sư giảng nói về ý nghĩa “Tất Cánh”. Dạy các môn Giải Thoát của Chư Phật, truyền trao “Trí Đạo cùng Tất Cánh Môn”. Thành tựu Đạo Đế, vị này biết rằng Đạo này do Trí mà được, nên Trí này là Đế của Đạo. Chữ Đế bây giờ có nghĩa là “Tất Cánh”.

Vì là Tất Cánh nên, gọi là “Xuất Thế Gian tối thượng thừa thiền định” Vì sao có tên gọi là Xuất Thế Gian Tối Thượng Thừa thiền định? Vì định này là Na Già Đại định, là Thủ Lăng Nghiêm Vô Tướng định, là Ma Ha Bát Nhã định, là Nhất Thiết Trí định, là Nhất Thiết Tất Cánh định, là Kim

Cương Bất Hoại định, là Vô Kiến Đảnh định, là Hư Không Vô Vi định, là Hoa Nghiêm Tối Tràng định, là Bất Đoạn Mạng Mạch định Là “mẹ” sản sanh ra Thế Gian Thiền Định và Xuất Thế Gian Thiền Định. Cho nên, dù nói cả một kiếp, cũng không thể kể hết tên và công dụng của định này.

Tóm lại, trên đây chỉ là những nét khái quát về các loại Thiền định trong Phật Đạo.

Không Giác Ngộ mà có được Thiền Định thì Thiền Định này tương đồng với Thiền định của ngoại đạo. Vì sao lại như vậy?

Vì Thiền định nào không đưa người đến “Giác Ngộ, Giải Thoát và Trí Tuệ”nên đều gọi là “ngoại đạo Thiền Định”.

Cho nên, xưa nay người ta gọi Phật Đạo là, Đạo Giác Ngộ, Đạo Giải Thoát, Đạo Trí Tuệ là vậy.

Cũng vì điều này, mà Kinh có đề cập đến “Ngoại Đạo Chủng Tánh”, Ngoại Đạo Chủng Tánh là người tu trong Phật Đạo mà hiểu biết, tu tập, y cứ, thành tựu… không khác gì một ngoại đạo.

---------------------

  1. Kiết sử: là thứ tâm ý trói buộc, khiến con người phát sinh phiền não, lậu hoặc.

  2. Tịch diệt: Tâm và Pháp không còn sinh diệt.

  3. Bản lai: Gốc rễ xưa nay của một hữu tình.

Tags:

Tác Phẩm Lý Tứ

Lặng Thinh Của Duy Ma Cật

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Điều ông nói khiến tôi thấy nực cười. Duy Ma Cật đâu có lặng thinh. Người đời thấy Duy Ma Cật lặng thinh, tưởng rằng ngài không nói. Duy Ma Cật dùng cái lặng thinh, Ca Diếp nở nụ cười để thay lời nói; lặng thinh và nụ cười, đó chính là lời nói.

Hỏi: Thưa huynh trưởng, hôm nay cho phép tôi được gọi huynh trưởng bằng danh xưng huynh trưởng. Tôi nghĩ, tuy tuổi đời hai chúng ta không cách nhau là mấy, nhưng cách nhìn sự việc, cách đánh giá một vấn đề của huynh trưởng, xứng đáng cho tôi ngồi đó mà lắng nghe. Mong huynh trưởng chấp thuận điều này.

Đáp: Danh xưng đối với tôi không quan trọng. Với tôi, điều quan trọng là mình đã giúp được gì cho người. Nếu không làm được điều này, cho dù thiên hạ có gọi mình là “ông trời”, thì cũng chỉ là rỗng tuếch. Cho nên, ông thích như thế nào, thì cứ gọi như thế đó.

Hỏi: Thưa huynh trưởng! Hôm qua khi chia tay, tôi ra về và gặp các bằng hữu của mình như thường lệ. Tôi đem những điều đã được nghe ở đây, trình bày trước các bạn bè của tôi. Khi nghe tôi nói, một số người thì đồng ý, cho rằng như vậy mới phải. Một số người thì phản ứng quyết liệt. Họ nói rằng: đây là lý luận của hàng hạ căn 1, chủ trương tiệm tu 2 phải qua từng thứ lớp. Đó là lý luận của hạng người không biết thế nào là “Tối Thượng Thừa”. Họ còn kết luận rằng: Tôi đã bị tà đạo lung lạc.

Nghe như thế, tôi chỉ biết im lặng, chiêm nghiệm những điều họ nói.

Sau đó, mọi người lại tiếp tục bàn luận thế nào là thượng thừa.

Đáp: Họ bàn những gì mà gọi là thượng thừa?

Hỏi: Cũng là những câu chuyện mà cách đây 30 năm, chúng tôi đã bàn luận. Nào là, ý nghĩa của cành hoa sen Phật đưa ra trong hội Linh Sơn. Thế nào là Ca Diếp mỉm cười? Hoặc câu, Phật nói bốn mươi chín năm ta không nói lời nào. Nào là, ý nghĩa của câu “Như hà thị tổ sư tây lai ý”. Hay, cái gì mới là ngã của Phật. Thế nào là tiếng vỗ của bàn tay? Phật Tánh là gì? Thế nào là lời nói không đến được? Có người lại bưng ly nước hắt xuống đất.

Nói chung, chuyện này trước sau chỉ có thế, 30 năm trước vẫn thế, hôm nay cũng vậy. Không có gì thay đổi! Toàn là chuyện “xưa như Trái Đất”.

Đáp: Như vậy, những người tham dự, có đưa ra kết luận gì về ý nghĩa của những điều mà họ đã nêu hay không?

Hỏi: Tất nhiên là không! Bởi những chuyện họ đem ra bàn luận, bình phẩm đều đã quá quen thuộc. Mọi người đều cho rằng: chuyện phải hiểu thế nào, giác ngộ ra sao giống như “Người ta uống nước, nóng lạnh tự biết”. Cái thâm u của Tối Thượng Thừa lời nói không thể nào giải thích được.

Đáp: Nếu bảo rằng, chuyện hiểu như thế nào về tu tập tương tự với “người uống nước nóng lạnh tự biết”, thì gặp nhau để làm gì? Nếu bảo rằng cái thâm u của Tối Thượng Thừa, lời nói không đến được, thì tại sao phải bàn luận cho tốn thì giờ?

Hỏi: Trước đây, tôi cũng có hỏi như thế một vài lần, nhưng họ lấy cái “sự thinh lặng của Duy Ma Cật” hoặc “nụ cười của Ca Diếp” để mà giải thích.

Đáp: Điều ông nói khiến tôi thấy nực cười. Duy Ma Cật đâu có lặng thinh. Người đời thấy Duy Ma Cật lặng thinh, tưởng rằng ngài không nói. Duy Ma Cật dùng cái lặng thinh, Ca Diếp nở nụ cười để thay lời nói; lặng thinh và nụ cười, đó chính là lời nói.

Hóa ra mọi người đã nhầm lẫn hết cả rồi. Duy Ma Cật lặng thinh, nhưng sau cái lặng thinh ấy, Văn Thù 3 xưng tán, còn đại chúng thì hiểu ra thế nào mới là bất nhị 4. Ca Diếp mỉm cười, tuy không nói bằng lời, nhưng Thế Tôn biết rằng vị này đã thấy được điều cần thấy trong Phật Đạo. Đại chúng cũng biết rằng, cái Ca Diếp thấy biết, hiện nay ta chưa thấy biết. Trong đạo pháp, cũng như ngoài đời, đâu nhất thiết mở miệng mới gọi là nói.

Có khi trong sự im lặng lại chứa cả vạn lời. Trên đời, người ta có rất nhiều cách biểu đạt ý nghĩ của mình. Có thể là lặng thinh, có thể là gật đầu, có thể là chắp tay, có thể là mỉm cười. Những hành động này, đều thể hiện rằng họ đang biểu đạt ý nghĩ của mình. Thế nhưng, những hành động như vậy, là biểu hiện dành cho người đã hiểu vấn đề, đã thấu suốt ý nghĩa, đã thông được điều cần thông. Chứ chẳng phải chưa thông mà mỉm cười, chưa thấu suốt mà im lặng, chưa hiểu mà gật đầu.

Im lặng trong trường hợp này không đồng nghĩa với việc “chạy trốn thực tế”. Tôi hỏi ông: “Từ trước đến nay ông đã từng đưa ra những đề tài như vậy để thảo luận với mọi người hay chưa?

Hỏi: Thưa huynh trưởng! Tôi cũng đã từng làm vậy rất nhiều, nhiều đến mức không nhớ nổi.

Đáp: Ông có từng đưa ra những kết luận, như những điều bằng hữu của ông đã kết luận hay không?

Hỏi: Tôi cũng thường làm như thế. Trăm lần như một, không thay đổi gì. Với những câu hỏi không biết trả lời ra sao, tôi đành lấy câu: “Ai uống tự biết, ai ăn nấy no” để khỏa lấp chỗ bí của mình.

Đáp: Sau khi nói những lời như vậy, ông có hất mặt lên trời, giương giương tự đắc không?

Hỏi: Sao huynh trưởng biết điều này? Sau khi nói được câu đó, tôi thấy rất sảng khoái. Ất giáp gì không biết, chứ hất mặt lên trời giương giương tự đắc, ra vẻ bề thông tuệ, là “chuyện thường ngày ở huyện” của chúng tôi.

Đáp: Nghe ông kể chuyện này, tôi lại liên tưởng đến mấy tay Việt Kiều dỏm. Sợ người ta không biết mình là Việt Kiều. Nói dăm ba câu, thế nào cũng xổ vài chữ tiếng Anh mà có khi lại phát âm sai hết chứ chẳng đúng được mấy câu. Thế nên, nói chuyện chừng năm phút, kiểu gì hắn cũng móc chiếc điện thoại đời mới ra giả bộ nghe, vừa khoe điện thoại, vừa làm bộ mình là nhân vật quan trọng, nhiều người gọi tới hỏi han.

Thấy mà nực cười! Chiêu này chỉ có gạt được các quý bà. Mấy quý bà ở ta thấy thế là “híp con mắt” ngay tức thì, quên cả trời trăng.

Hỏi: Phải nói là “trố con mắt” chớ.

Đáp: Ông lại sai nữa rồi. “Híp con mắt” là hành động của mấy bà. Còn “trố con mắt” hay “há hốc mồm tỏ vẻ kinh ngạc” là những hành động thuộc về mấy cha. Sở dĩ, mấy cha trố con mắt, hay há hốc mồm, là họ tỏ thái độ kinh ngạc khi bắt gặp điều tưởng chừng chỉ có trong mơ, không ngạc nhiên sao được khi biết mình đang hân hạnh ngồi đối diện với “người ngoài hành tinh”. Ông nhớ cho rõ, lúc nào những sự việc tương tự xảy ra, người tinh mắt nếu để ý nhất định sẽ thấy, chừng một hai phút sau, mấy người thích khoe khoang đó, liền khước từ bỏ đi, không bén mảng trở lại. Ông có biết, vì sao mấy người đó bỏ đi biệt hay không?

Hỏi: Tôi không để ý nên không biết, cứ tưởng họ có công chuyện.

Đáp: Không phải mấy tên hợm hĩnh đó đi công chuyện, mà họ đi vòng vòng gần chỗ ấy, tìm chiếc đĩa bay của họ. Có người ngoài hành tinh, thế nào trong vùng cũng có đĩa bay. Ông từng nghe nói đến UFO 5 hay chưa?

Hỏi: Có nghe nói trên báo chí, nhưng nó là chuyện của các nhà khoa học chứ can dự gì mấy người mà chúng ta đang nói?

Đáp: Ông biết một mà không biết hai. Các nhà khoa học, vì tò mò chuyện người ngoài hành tinh viếng thăm địa cầu, nên muốn xác thực lời đồn đại này. Đây là công việc thuộc chuyên môn của họ. Còn mấy cha ta đi kiếm UFO với mục đích khác.

Ông có nghe nói hiện nay ở Sài Gòn, người ta đang “xẻ thịt” chiếc Boeing 707 được Mỹ sản xuất hồi thập niên 50 của thế kỷ trước hay không? Chiếc Boeing mà “xẻ thịt” ra, thì tiền bán phế liệu chất đống, chất khối đếm không xuể, vì trong đó chứa nhiều hợp kim quý, có giá trị rất lớn.

Đồ cũ rách ở Trái Đất, mà bán phế liệu còn được nhiều tiền như thế. Ông thử nghĩ xem, nếu kiếm được một chiếc đĩa bay còn mới của người ngoài hành tinh, đem bán ve chai thì phát tài đến chừng nào? Mấy người đó cố tình bịa ra chuyện có việc bận chứ thực chất là họ quanh quẩn đâu đó để tìm kiếm đĩa bay. Ông nghe chuyện này xong, đừng có dại mà đồn ra ngoài. Thiên hạ biết được giá trị của chiếc đĩa bay, người người, nhà nhà đổ xô đi kiếm, ông với tôi sẽ không có phần đâu, lại mắc tội khiến người ta đào bới lung tung làm hủy hoại môi trường.

Hỏi: Huynh trưởng thiệt là người hài hước. Cái chất hài trong câu chuyện của huynh rất thâm thúy!

Đáp: Tôi hỏi thiệt một câu, nếu ông trả lời thật lòng, mai mốt tôi sẽ kể cho ông nghe vô số bí mật để phát tài mà trên đời này dám chắc, ông chưa từng nghe qua. Ngoài tôi không có người thứ hai biết được những chuyện ấy. Nếu ông đồng ý với thỏa thuận này, thì tôi xin hỏi ông một câu.

Hỏi: Xin huynh trưởng cứ hỏi, điều gì biết chắc chắn, tôi sẽ thật lòng trả lời.

Đáp: Thế thì tôi tin ông, đã là quân tử thì “nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy”, một lời nói ra nặng tựa chín đỉnh, bốn năm con ngựa mà dại dột nhảy vô tranh giành chín cái đỉnh đó, nhất định không con nào sống sót. Câu hỏi của tôi là thế này: Khi bị hỏi dồn, cái miệng trơn như thoa mỡ của ông trả lời rằng: “như kẻ uống nước, nóng lạnh tự biết” hay “đổ ly trà xuống đất” thay cho câu trả lời, hoặc dùng những câu trả lời tương tự, vẫn thường thấy trong đám bằng hữu của ông. Xin hỏi thật, trong lòng ông lúc đó, có thấu suốt những điều mình đã nói hay không?

Hỏi: Thưa huynh trưởng! Thú thật, nói ra chuyện này tôi thấy mắc cỡ. Cho đến bây giờ, tôi còn không hiểu những điều mình nói, huống gì hồi đó. Nhưng phàm ở đời, cái gì mình không biết nói riết thành quen, quen rồi tưởng mình thông tuệ. Vì thế, cái câu “miệng trơn như miệng thoa mỡ” thiệt là chí lí!

Đáp: Có thế chứ! Ông xứng đáng làm huynh đệ của tôi. Dám nói thật điều mình không biết. Người như thế này mới xứng danh là bậc “đại căn”. Xin mời ông uống ly trà nóng.

Hỏi: Xin huynh trưởng cho tôi tiếp tục câu chuyện hôm qua. Sau khi nghe bằng hữu đàm đạo, đến lúc nghe những lời trách móc rằng tôi bị tà đạo xúi giục, cả đêm tôi trằn trọc không ngủ. Tôi bèn nghĩ về khoảng thời gian 30 năm đã bỏ công sức ra tu đạo.

Than ôi! 30 năm qua, tôi chỉ toàn chạy theo những câu nói hư ảo, suốt thời gian dài, bản thân tự lầm tưởng rằng rằng mình là hạng đại căn. Thế nhưng cái tâm ngày đó, với cái tâm bây giờ không hề thay đổi, cũng đầy đủ nhân ngã, cũng đầy đủ tham sân si. Sau 30 năm, hiểu biết cũng chẳng thêm được bao nhiêu. Mà nếu có thêm chỉ thuộc thêm những câu nói mà người xưa đã nói đến nhàm, mấy lời đó như thể “muỗi đeo trâu sắt” chẳng có ích lợi gì. Tâm như vậy, trí như vậy, có phải là đại căn hay không? Cứ mỗi ngày gặp nhau, cũng các câu đó, cũng đề tài đó, cũng chỉ nói để chứng tỏ mình hiểu biết hơn người nhưng trong lòng tự biết: ngu mê chưa dứt.

Miệng thì nói chuyện Tối Thượng Thừa, mà về nhà ngồi xếp bằng phì phò thở vô thở ra, nghiền ngẫm những câu vô nghĩa để rồi không có lối ra. Miệng thì nói toàn những điều cao siêu trong đạo pháp, thế nhưng lại so đo với nhau từng chút một: anh công phu nhiều, tôi công phu ít, giống như người chủ xét nét sức lao động của người làm công. Miệng nói Tối Thượng Thừa, mà hơn thua nhau từng lời nói, từng chỗ ngồi. Tôi lại nghiền ngẫm, thế nào mới là chánh hay tà trong đạo pháp đây?

Không lẽ trong 30 năm bàn luận, bản thân tôi lại u mê, cho rằng những câu nói vô bổ kia mới là chánh đạo, còn ai chỉ ra cái sai, cái hư vọng của bản thân thì cho kẻ đó là tà? Không lẽ người thuận theo cái sai của mình mới là người “chánh”? còn ai dạy cho ta biết rõ phải quấy của việc mình làm là “tà” hay sao?

Đạo lý chân chánh làm sao có thể chấp nhận điều này? Trời ơi! Sau 30 năm đàm đạo cũng chẳng thấy đạo ở đâu. Chỉ một ngày gặp huynh trưởng mà đã thấy vầng dương soi đường.

“Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi”, tôi biết người ta vẫn thường nói vậy. Nhưng tôi không có cây đuốc thì lấy gì để thắp lên đây?

Cố đốt đuốc, không có cây đuốc, hoa mắt tưởng nhầm cục xương khô là đuốc. Thưa huynh trưởng! Nếu huynh trưởng cho phép, thì đến ngày mai hoặc ngày mốt, tôi sẽ dẫn những bằng hữu chung đường ngày trước, đến gặp huynh trưởng, để họ nhìn ra cái gì mới là sự thật.

Đáp: Thôi, chuyện quá khứ đừng để trong lòng, Phật dạy: “Quá khứ tâm bất khả đắc”. Đừng hối hận nhiều quá làm gì, người cứ giữ khư khư trong lòng những hối hận, sẽ không lợi cho Đạo Giác Ngộ. Còn chuyện, gặp bằng hữu của ông, tôi không từ chối, nhưng cũng chưa dám nhận lời. Thật ra, tôi không có tham vọng nói hết với mọi người những điều tôi đã nói với ông. Tôi cũng biết rằng, người xem hoa thì nhiều, người trồng hoa chẳng có mấy ai. Người bảo vệ cái sai của mình trên đời không thiếu, nhưng người chấp nhận chân lý chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Phật có dạy: “Chỉ có ngà voi già, trời gầm mới nổi vân”. Trên đời này, ngà voi già không dễ kiếm, chứ sừng trâu sừng bò thì rất nhiều. Sừng trâu, sừng bò, cho dù trời gầm đến hết hơi, thì nó vẫn trơ trơ. Nếu đủ duyên, không mời họ cũng sẽ tự đến; còn vô duyên thì cho dù mời thỉnh, cũng chỉ là kẻ tò mò, “cưỡi ngựa xem hoa” mà thôi, chẳng ích lợi gì.

Nếu còn nghĩ đến bằng hữu của mình, ông hãy tinh tấn tu hành. Khi bản thân có được thành tựu nhất định, thì lo gì những người ấy. Đã là duyên phận huynh đệ với nhau thì ngàn đời không mất.

Hãy tự độ cho mình trước, ý nguyện độ tha tạm thời gác lại, ngày sau sẽ tính. Đời còn dài, chưa ra khỏi ba cõi, chạy đâu cũng không mất.

-----------------------

  1. Hạ căn: Căn trí thấp kém.

  2. Tiệm tu: Chậm giác ngộ.

  3. Văn Thù hay Văn Thù sư lợi: là một vô vi bồ tát, có tầm ảnh hưởng lớn trong Phật đạo.

  4. Bất nhị: tâm thức không còn hai pháp đối đãi như thiện ác, đúng sai, hơn thua, được mất

  5. UFO: là chữ viết tắt của Unidentified Flying Object trong tiếng Anh, có nghĩa là “vật thể bay không xác định”

 

Tác Phẩm Lý Tứ

Pháp Môn Tối Thượng Thừa

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Pháp môn là phương tiện, giống như các phương tiện giao thông xe cộ, tàu bè. Phương tiện tốt, giúp người ta di chuyển nhanh hơn. Với người tu hành cũng như vậy, hãy tìm cho mình một “phương tiện” thì mới có thể di chuyển nhanh chóng được.

Hỏi: Ông tu theo pháp môn gì?

Đáp: Tôi chỉ đọc tụng kinh điển của Phật, tư duy nghĩa lý, rồi ứng dụng vào đời sống, chứ không theo pháp môn nào.

Hỏi: Pháp môn là phương tiện, giống như các phương tiện giao thông xe cộ, tàu bè. Phương tiện tốt, giúp người ta di chuyển nhanh hơn. Với người tu hành cũng như vậy, hãy tìm cho mình một “phương tiện” thì mới có thể di chuyển nhanh chóng được. Ví dụ, người đi máy bay sẽ đến nơi nhanh hơn người đi xe hơi, người đi xe hơi sẽ đến nơi nhanh hơn người đi xe gắn máy, người đi xe gắn máy sẽ nhanh hơn người đi xe đạp, người đi xe đạp sẽ nhanh hơn người đi bộ,… Không tìm cho mình một pháp môn thượng thừa, tu hành biết bao giờ mới đến nơi. Vì thế, tôi khuyên ông, hãy theo một pháp môn. Tôi đây, chuyên tu theo pháp môn Tối Thượng Thừa.

Đáp: Tôi thì đi trên đôi chân của mình, nên gặp gì dùng nấy. Sang sông nhờ bè, qua mương phải nhảy, lên núi dùng gậy, đường bộ đón xe,… Xưa nay, tôi vẫn thực hành như vậy, cho nên trong lòng chẳng thấy thứ nào là tối thượng cần coi trọng, chẳng thấy thứ nào nhỏ bé đáng khinh chê.

Như vậy, nếu chỉ dùng một phương tiện, liệu có ổn không? Ví như người đi xa, qua nhiều địa hình phức tạp, chỉ có một chiếc xe hơi, thì làm sao qua sông, leo núi? Cho hỏi thêm một điều, nếu ông nói như vậy, chắc là cái ông gọi là “pháp môn Tối Thượng Thừa” của ông hình như là cao siêu lắm phải không?

Hỏi: Tất nhiên Tối Thượng Thừa phải hơn hẳn các pháp khác. Chỉ bậc đại căn mới có thể lãnh hội được pháp môn này.

Đáp: Ông tu hành trong pháp môn Tối Thượng Thừa này được bao nhiêu lâu rồi?

Hỏi: Gần 30 năm.

Đáp: Ông có thường xuyên dùng phương tiện (pháp môn) đó hay không?

Hỏi: Tất nhiên đã là pháp môn, tôi đâu có bỏ, chưa nói vì Tối Thượng Thừa nếu không là đại căn thì đâu có dễ học được.

Đáp: Rất hoan nghênh pháp môn Tối Thượng Thừa. Rất hoan nghênh được làm quen bậc đại căn như ông. Gần 30 năm, chắc ông đã đi được một đoạn đường rất xa rồi phải không?

Hỏi: Tất nhiên có đi phải có đến, chỉ trừ người không đi, hoặc không có phương tiện tốt để mà đi.

Đáp: Rất ngưỡng mộ những điều ông nói. Xin hỏi, đi lâu như vậy, hiện nay ông đã đến đích hay chưa? Hoặc ông đã đến đâu trong Phật Đạo?

Hỏi: Đi mà không thấy mình đi, đến mà không thấy mình đến thì mới gọi là đi mau đến mau.

Đáp: Đi mà không thấy mình đi, thì cần gì cái pháp môn Tối Thượng Thừa như ông nói? Còn bảo rằng đến mà không thấy mình đến, thì biết đi đâu và đến đâu?

Hỏi: Cái này chỉ có bậc đại căn mới biết. Mà bậc đại căn thì trên đời hiếm như hột xoàn, kim cương, chứ đâu có nhiều như lá mùa thu, như nấm sau mưa.

Đáp: (cười lớn) Ông nói nghe có lý. Tôi cũng có nhiều bằng hữu tu hành là bậc đại căn như ông, thành ra nói rằng hiếm như hột xoàn, kim cương, có lẽ chúng ta nên coi lại.

Theo tôi biết, bậc đại căn như ông thì nhiều như lá mùa thu, như nấm sau mưa mới đúng. Tôi vẫn thường gặp họ hàng ngày, ra khỏi cửa là gặp rồi, đâu cần phải đi xa. Không tin, tôi gọi một tiếng, họ sẽ đến ngay, và trong các vị ấy, vị nào cũng khẳng định mình là bậc đại căn.

Hỏi: Ông là người ngã mạn1

Đáp: Tôi ngã mạn ở chỗ nào? Xin ông hãy chỉ rõ.

Hỏi: Ông nói bậc đại căn nhiều như lá mùa thu, như nấm sau mưa, không phải là ngã mạn hay sao?

Đáp: Điều tôi nói đều là sự thật. Bằng hữu của tôi đông lắm, ai cũng tự xưng mình là đại căn, tu theo pháp môn Tối Thượng Thừa. 20 năm trước họ nói thế, 10 năm sau, họ cũng nói thế, và hiện tại gặp tôi, họ vẫn nói thế. 20 năm quen nhau, tôi chưa từng thấy người nào thay đổi, chỉ có thân thì già đi, chứ lời nói không đổi khác... Nhiều lúc tôi thầm nghĩ, không lẽ các bằng hữu này tu hành mãi, khiến lời nói trở thành thường rồi chăng? 30 năm rồi, cũng chỉ nói mấy câu như thế. Người nói thật như tôi, ông lại bảo ngã mạn, như vậy nói thế nào mới không ngã mạn đây?

Hỏi: Những người nào tự khen mình, chê người, kẻ đó là ngã mạn.

Đáp: Hoan hô một định nghĩa có thể dùng tạm trong lúc này. Nhưng tôi đâu có tự khen tôi, cũng đâu có chê ai? Vì thế, kết luận tôi là kẻ ngã mạn, có lẽ hơi… oan ông Địa.

Hỏi: Ông nói đại căn hành Tối Thượng Thừa như tôi, nhiều như lá mùa thu, há không phải là chê người hay sao?

Đáp: Nhiều tôi nói nhiều, ít tôi nói ít, đây là sự thật. Nếu không lầm, bước ra đường là gặp bậc đại căn rồi. Tôi tin ông cũng thường gặp những người như thế. Chỉ tại ở đây ông không dám công nhận sự thật này mà thôi. Nhưng lá mùa thu, hay nấm sau mưa, còn tùy loại chứ tôi đâu “vơ đũa cả nắm”? Từng tuổi này, không lẽ tôi không phân định lá nào xài được, lá nào bỏ đi, lá nào đem để dành, lá nào rụng xuống mất công quét dọn? Nhưng theo tôi biết, lá dùng được có ích thì ít. Nấm cũng thế, có loại ăn được, có loại ăn vào chết vì ngộ độc ngay tức thì. Nấm dại ăn vào chết thì nhiều, thông thường cây nấm nào nhiều màu sắc, màu sắc càng sặc sỡ thì nấm đó cực độc, ăn vào chết không kịp trăng trối. Đời đã dạy như thế, chắc ông cũng biết.

Thôi, chuyện đại căn tiểu căn để đó. Mời ông uống trà. Trà nguội uống không ngon.

Hỏi: Trà ngon thiệt, lần đầu tiên tôi mới được thưởng thức trà ngon, ông đúng là người biết dùng trà. Xin hỏi trà này mua ở đâu?

Đáp: Nhiều năm rồi, tôi uống thứ trà này. Người quen tặng cho tôi.

Hỏi: Trà ngon khó kiếm. Đúng là tôi chưa thấy trà nào ngon như vậy, mặc dù trên đời tôi đã uống nhiều loại trà được cho là danh tiếng.

Đáp: Đúng, “trà ngon khó kiếm, kẻ khôn khó tìm”, ông bà ta vẫn thường dạy như thế. Cho nên có danh có tiếng chưa chắc đã ngon. Vả lại cái ngon của hạng người này, chưa chắc đã là cái ngon của hạng kia. Giống như người nghèo, nhà lá, cơm dù nguội vẫn rất ngon. Còn kẻ giàu sang thì chưa chắc đụng tới. Mà thường, cái gì ngon, cái gì quý, hiếm, sẽ không nhiều người biết. Luận về trà cũng như vậy. Ông có đồng ý không?

Hỏi: Đúng vậy, thứ gì quý, thì hiếm thấy, trà này tôi cũng mới uống lần đầu.

Đáp: Ông quá khen! Mời ông uống thêm một chén nữa. Xưa nay ông đã đi máy bay hay chưa?

Hỏi: Hồi còn trẻ, cách đây mấy chục năm, có đi vài lần, từ ngày tu hành đến giờ, không có dịp đi nữa.

Đáp: Nếu giả sử, đưa cho ông một chiếc máy bay, ông có biết lái nó hay không?

Hỏi: Xe hơi tôi còn không biết lái, làm gì biết lái máy bay.

Đáp: Vấn đề chúng ta đang bàn luận cũng tương tự như vậy. Phương tiện càng tối tân, đòi hỏi người điều khiển phương tiện phải có trình độ tương xứng, đâu phải ai cũng có thể sử dụng được. Hạng “dùi đục chấm mắm cáy ” như ông và tôi đây, làm gì mà có vinh dự cầm lái tàu bay. Họ có cho cũng không biết lái. Lái được chưa chắc đã biết đường, nếu đã không biết đường, dễ chừng đâm vào núi rồi tan xác, đâu có hay ho gì mà ham. Xin hỏi, ông được mấy cháu?

Hỏi: Tôi có ba đứa con, chúng đều đã lớn, học hành đàng hoàng, có nghề nghiệp hết rồi. Bây giờ, tụi nó tự nuôi thân, tôi rảnh rang, không phải vướng bận.

Đáp: Lúc còn nhỏ, con ông đi học bằng phương tiện gì?

Hỏi: Hồi đó, ngày hai bữa tôi đưa chúng đi học. Lớn lên một chút, tôi sắm cho mỗi đứa một chiếc xe đạp để nó tự đi. Lớn lên, đi học xa nhà, nên tôi mua cho mỗi đứa một chiếc xe gắn máy. Bây giờ có đứa đi làm xa, lâu lâu đi máy bay về thăm tôi.

Đáp: Thế thì vì sao, hồi mấy đứa còn nhỏ, ông không sắm cho mỗi đứa một chiếc gắn máy để tự đi cho lẹ, cũng khỏi đón đưa?

Hỏi: Chúng còn nhỏ tuổi, làm sao đi xe gắn máy được? Xe đạp đi còn không xong. Sao ông hỏi việc ngược đời như vậy?

Đáp: (cười lớn) Ở đời, chuyện ngược ngạo như thế, mà lắm người vẫn cứ tưởng mình làm được. Ông có tin như vậy không?

Hỏi: Tôi không tin. Chỉ có những kẻ ”ba trợn”, muốn giết con mình mới mua xe gắn máy cho mấy đứa con nít chạy bộ còn chưa vững.

Đáp: Người cha “ba trợn” đã đành, đứa con nghe vậy, lại tưởng chuyện này bản thân mình cũng làm được. Trên thế gian này, thiếu gì chuyện vừa lạ đời vừa ngược ngạo, tại ông không để ý đó thôi.

Hỏi: Nhưng mà những chuyện này là chuyện đời, đời thì không thiếu người “ba trợn”, nói hoài không hết. Thôi, lỡ uống trà ngon của ông rồi, bây giờ chúng ta bàn chuyện đạo pháp đi.

Đáp: Thì tôi đang nói chuyện đạo pháp chứ đâu có nói ở ngoài. Trên đời này, nhiều người tu hành cứ mông lung như đang nằm mơ. Họ toàn mơ những điều viển vông như con nít học mẫu giáo mơ chuyện tự mình có thể lái chiếc xe gắn máy, hoặc lái máy bay. Tụi nó không tự biết bản thân chỉ cần cái vú giả, ngậm ra đường cho khỏi nhớ mẹ nên đòi hỏi quá đáng. Vì thế, người lớn mới dùng đòn roi để bắt tụi nhỏ đến trường học hỏi để trở nên khôn ngoan hơn.

Ở đời, có phương tiện hiện đại là một chuyện, biết sử dụng phương tiện đó hay không lại là chuyện khác, bằng con đường nào mới đi đến nơi, lại là chuyện khác. Đâu có dễ dàng như bọn trẻ mơ có máy bay là nhảy lên lái được liền. Ông có đồng ý với tôi những điều như vậy không?

Hỏi: Tất nhiên sự đời là như thế, nhưng đạo thì có “đốn” có “tiệm”, có đại căn có tiểu căn. Giống như con nít tập xe đạp, có đứa một bữa là chạy ngon lành, có đứa phải mất vài hôm, đứa chạy được liền như đại căn đốn giáo; đứa vài ba bữa té trầy đầu gối mới chạy được, tạm coi như kẻ tiểu căn. Đâu có nhất thiết giống nhau.

Đáp: Hoàn toàn đồng ý với nhận định của ông. Nhưng biết chạy xe nhanh hay chậm, là do khả năng của đứa nhỏ hay do cái xe?

Hỏi: Tất nhiên là do khả năng của đứa nhỏ.

Đáp: Trước đây ông đã đồng ý cái đạo lý là tùy độ tuổi, mà sắm cho nó phương tiện phù hợp thì cái pháp môn mà ông cho là Tối Thượng Thừa đó có áp dụng cho mọi độ tuổi trong Đạo Pháp được hay không?

Hỏi: Nhưng đời khác, đạo khác, đâu có thể dùng đời đi so sánh với đạo? Người tu hành nào chẳng lớn khôn, đâu phải là con nít còn cắp sách đến trường.

Đáp: Đạo khác đời ở hướng đi, đời khác đạo ở mục đích.

Kinh nghiệm sống học nơi cuộc đời nên khôn lớn theo tuổi, đạo thì có kẻ thân già mà chưa từng thấu đáo đạo lý, trí đạo người ấy đâu khác trẻ con. Vì thế trí đạo không thể lấy tuổi đời mà phân lớn, nhỏ được. Chuyện phương tiện của đạo cũng như vậy, trí lớn phương tiện lớn, trí nhỏ phương tiện nhỏ, đâu có xài chung một thứ được.

Hỏi: Thế thì chuyện Thần Tú và Huệ Năng hay chuyện Phật đưa cành hoa sen trên hội Linh Sơn 2 không phải là do pháp môn Tối Thượng Thừa mà hai vị đó được hay sao?

Đáp: Ông lại hiểu sai rồi, Huệ Năng giác ngộ mau hơn Thần Tú là do cơ trí của Huệ Năng tốt hơn, chứ chẳng phải câu kinh (pháp) của Huệ Năng nghe được là Tối Thượng Thừa.

Bằng chứng là, từ trước đến giờ, có khối người nghe đoạn kinh đó, nghe suốt đời mà vẫn ù ù cạc cạc. Ông có nghe đoạn kinh đó chưa, nghe rồi sao chẳng ngộ như Huệ Năng?

Đại Đức Ca Diếp3, hiểu điều Phật muốn truyền trao trong hội Linh Sơn, không phải Ca Diếp vừa gặp Phật là hiểu liền mà Ca Diếp đã theo Phật tu học bao nhiêu năm, thậm chí phải thân chứng qua các thánh vị của Thanh Văn cho đến khi thành La Hán. Ông còn phải nghe bao nhiêu Kinh Đại Thừa để học Bồ Tát Đạo, bản thân phải phát nguyện hành Hạnh Đầu Đà 4 để làm Bồ Tát Hạnh, cuối cùng mới hiểu ra điều Phật muốn căn dặn ở hội Linh Sơn; chứ đâu phải một sớm một chiều mà Đại Đức Ca Diếp có thể thành Bồ Tát ngay được.

Người đời nay cứ nhìn vào thành tựu cuối cùng của người xưa rồi lầm tưởng, mình cũng có thể ngang bằng như thế, mà không chịu tìm hiểu xem quá trình tu tập của họ như thế nào, trải qua gian khó ra sao, bản thân mình đã thực hiện được bao nhiêu phần so với người xưa mà đòi giống họ.

Vì vậy, hạng người không biết người, không biết ta trên đời này nhiều lắm. Nói ra thì “đao to búa lớn” toàn Tối Thượng Thừa mà thành tựu thì thực chất chẳng có gì. Tham “sân”chẳng thối mòn. Có khác chi mấy đứa trẻ con, ngồi lại với nhau kể chuyện hôm qua mình lái máy bay.

Hỏi: Nhưng mà như vậy, cũng phải nói đến là do “căn cơ” tu hành của họ chứ?

Đáp: Một chữ căn cơ, có mấy người tu hành hiểu đúng? Mặc dù người tu hành nào cũng nói rằng mình có căn cơ, thậm chí còn hô hào rằng mình là bậc “đại căn”.

Hỏi: Thì căn cơ mình cao, nói rằng căn cơ mình cao, căn cơ họ thấp nói rằng họ thấp. Căn cơ thì có gì mà không biết?

Đáp: Ông lại hiểu sai nữa rồi. Hai chữ căn cơ, là đánh giá của Bậc Đạo Sư đối với từng môn hạ của mình. Giống như thầy giáo đánh giá năng lực của mỗi học trò. Từ đánh giá này, họ sẽ có cách dạy dỗ phù hợp để giúp người học trò đó mau chóng bắt kịp những điều thầy muốn truyền dạy.

Ví dụ như chuyện tập xe đạp của đứa nhỏ, đứa một ngày chạy được, thì để nó chạy cho quen. Đứa leo lên là té, người lớn phải gắn thêm hai cái bánh phụ đằng sau, giúp nó khỏi ngã. Do không bị ngã nên đứa bé này tự tin, sau đó nó sẽ tự chạy được. Khi chạy được rồi, người lớn mới tháo cái bánh phụ ở sau xe ra. Chứ không phải để hai cái bánh phụ suốt đời.

Có người muốn học lái máy bay mà dốt ngoại ngữ, thầy của họ sẽ bắt họ học thêm tiếng Anh, rồi sau đó mới dạy kỹ thuật điều khiển cái máy bay như thế nào Những biện pháp tình thế ấy, có thể giúp người vượt qua khó khăn trong giai đoạn nhất thời, Phật Đạo gọi là tùy căn, tùy cơ mà “lập bày phương tiện” như người qua sông cho đò, leo núi cho gậy. Tùy căn tùy cơ của đồ đệ, Bậc Đạo Sư trao cho học trò những phương tiện phù hợp để giúp đồ đệ đạt được thành tựu đạo quả của mình.

Không là bậc Đạo Sư thì biết gì về căn cơ? Giống như chẳng phải thầy giáo, thì làm sao có thể đánh giá năng lực học trò? Vì thế, Phật Đạo có vô lượng phương tiện, chứ chẳng riêng một Tối Thượng Thừa gì gì đó mà ông lầm tưởng.

Hỏi: Như vậy, chẳng lẽ những người tu hành, không biết căn cơ của mình hay sao?

Đáp: Họ vừa biết, nhưng vừa không biết điều đó.

Hỏi: Như thế nào là biết, như thế nào là không biết?

Đáp: Nếu do nghe nói mà biết, do đoán mò mà biết, cái biết này chưa chắc đã đúng. Khi đó, họ không thể đánh giá được mình và người khác thuộc căn cơ nào, vì họ chưa phải Bậc Đạo Sư. Cho dù có đánh giá được căn cơ của người khác đi nữa, họ cũng đâu biết trao “phương tiện” gì cho người kia, trong từng giai đoạn tu tập. Kẻ chưa thành tựu Nhất Thiết Trí, thì sao thông các loại “phương tiện”.

Họ đâu biết rằng, cùng một người nhưng ở địa vị này thì chậm, ở địa vị khác thì nhanh. Giống như có những đứa trẻ, học phổ thông thì dở, lên đại học thì học giỏi, còn một số đứa trẻ khác thì ngược lại. Vì thế, tùy địa vị tu tập, tùy cơ trí từng người, tùy giai đoạn phát triển, tùy vào mỗi đạo quả tương xứng, bậc Đạo Sư sẽ thuyết giảng cho họ phương tiện (các bài pháp) phù hợp, để giúp người này vượt qua khó khăn, mau chóng đạt được thành tựu. Làm như thế, Phật Đạo gọi là biết căn, biết cơ, biết phương tiện.

Hỏi: Nếu nói như vậy, người tu hành không tự biết căn cơ của mình thì không tự tu tập được hay sao?

Đáp: Cũng được, cũng không được.

Hỏi: Vì sao được, vì sao không được?

Đáp: Nếu gọi là được thì chỉ có những người đặc biệt thuộc loại “kỳ lân trong loài người”. Số này rất hiếm, như hoa Ưu Đàm Bát La 5 ngàn năm mới nở một lần. Ngoài họ ra, người bình thường không thể làm được. Nó giống như chuyện học tập ở đời, sách vở thì không thiếu, nhưng nếu không được sự dạy dỗ của thầy cô giáo, có mấy ai tự học thành tài.

Vì thế, trong Phật Đạo mới có các Bồ Tát nhập thế để dạy người tu hành tránh những hậu quả không lường do vô minh gây nên. Nó giống như thuốc chữa bệnh cứu người vậy, phải biết mới dùng được. Trong hiệu thuốc chứa hàng trăm loại thuốc chữa bệnh. Nhưng với những kẻ không rành về y học và dược lý, nhưng lại tỏ ra tự cao, lấy thuốc uống bừa, thì chỉ tổ hại mình, hại người mà thôi.

Kinh Phật cũng thế, nó là lương dược của Phật để lại cứu người thoát khỏi bệnh khổ, nhưng người không biết, càng đọc càng đảo điên, càng đọc bệnh ngã chấp 6 càng tăng. Một mai ngã chấp tăng thượng đến hết thuốc chữa, thì người đó coi như tự giết chết trí tuệ của mình.

Vì sao tự giết chết trí tuệ của mình?

Vì kẻ đó luôn sống trong ảo tưởng mình là bậc đại căn, chỉ muốn làm thầy, nhưng năng lực chẳng có. Do ảo tưởng đại căn, không thể từ bỏ sĩ diện hão để cầu kẻ có trí dạy dỗ. Hạng người như thế, chẳng khác kẻ mê dùng dây thừng thắt họng trí tuệ. Đến lúc đó, trí tuệ không chết mới là chuyện lạ đời.

Hỏi: Như thế, vì sao phần lớn kinh nào của Phật cũng nói rằng “ai” trì tụng kinh này sẽ phát sinh vô lượng công đức?

Đáp: Câu đó, thông thường để ở đầu kinh hay cuối kinh?

Hỏi: Tất nhiên là để ở cuối kinh, vì đầu kinh giới thiệu nơi chốn thuyết pháp, địa vị tu chứng của đại chúng tham dự; giữa kinh Phật khai triển ý nghĩa bài kinh.

Đáp: Trong lúc giới thiệu thành phần tham dự như vậy, có ai đề cập đến tên của ông hay không?

Hỏi: Tôi làm gì đủ công đức mà đến đó. Nếu thời Phật, tôi có mặt để nghe, thì chắc bây giờ tôi làm Bồ Tát rồi, đâu có ngồi ở đây cam chịu khổ sở.

Đáp: Đại căn ơi là đại căn! Chuyện có chút xíu bằng đầu con kiến mà ông còn không hiểu nổi, thì làm gì những chuyện thâm diệu hơn của đạo pháp ông có thể hiểu được?

Tôi xin đưa một ví dụ, kẻ đại căn nghe ví dụ này nhất định hiểu liền: Trong lớp học, sau khi giảng bài xong, cô giáo nói rằng: “em nào về nhà siêng năng học bài này, sẽ được điểm mười”. Lúc đó, có đứa trẻ lang thang không được học hành đứng bên ngoài, nghe cô giáo nói thế, về nhà vùi đầu vào bài đó để đọc. Tôi hỏi ông, đứa bé lang thang ở ngoài, cho dù đọc đến suốt kiếp mà chưa từng vô lớp thì có được điểm mười hay không?

Ha ha ha! Chữ “ai” ở đây, không phải nhằm chỉ cho mọi người. Cũng như chữ “em nào” của cô giáo không nhằm chỉ cho đứa trẻ lang thang. Vì thế, hồi nãy tôi có hỏi ông, khi xướng tên “thành phần tham dự”, có tên của ông không, là vì lẽ như vậy.

Hỏi: Như thế, ngày sau không có ai tự đọc kinh rồi hiểu mà phát sinh công đức hay sao?

Đáp: Hình như chuyện này, tôi đã nói hồi nãy trong câu “cũng được, cũng không được” rồi mà. Rất tiếc, tôi có chút việc, đành tạm chia tay. Mời uống thêm chén trà nguội. Mai mốt nếu thấy còn hứng thú, xin mời ông đến đây, chúng ta sẽ tiếp tục uống trà đàm đạo.

Hỏi: Trước khi về, tôi có chút tâm sự, ông có thể nán vài giây được chăng?

Đáp: Vài giây thì rất sẵn sàng.

Hỏi: Trao đổi với ông, tuy tôi có chút bực tức, nhưng phải nói rằng, những điều được nghe là rất chí lí. Mỗi mỗi đối với ông đều phân minh.

Xin hỏi, ông biết đến đâu trong Phật Đạo?

Đáp: Đến đâu thì tôi không biết, nhưng trong Phật Đạo, trao đổi với ông, tôi biết được hai điều.

Hỏi: Xin hỏi, đó là hai điều gì?

Đáp: Không biết tôi nói ra, ông có đủ sức nghe hay không?

Hỏi: Dù lời trái tai, tôi cũng đủ sức.

Đáp: Thế thì tôi xin nói: Ông vừa là đại căn, vừa là tiểu căn.

Đại căn là, nghe lời trái với mình, không đem tâm sân hận. Đại căn là, điều gì có lý có tình, ông không phủ nhận. Đại căn là, ông có thể đón nhận sự thật, cho dù sự thật đó không thuận với mình.

Tiểu căn là, tự thân không biết mình đứng ở đâu trong Đạo Pháp vẫn cứ “tự xưng là kẻ đại căn”.

Chuyện hôm nay đã mãn. Xin tạm biệt!

 --------------------------

  1. Ngã mạn: Tỏ ra bản thân hơn người.

  2. Phật đưa cành hoa sen trên hội Linh Sơn: Trong cuộc hội bàn ở núi Linh Sơn, Đức Phật Thích Ca cầm cành hoa ra hiệu cho đại chúng. Mọi người đều im lặng, chỉ có Đại Đức Ca Diếp mỉm cười.

  3. Đại Đức Ca Diếp: Tên đầy đủ là Ma Ha Ca Diếp, người đầu tiên được Đức Phật truyền Y bát.

  4. Hạnh Đầu Đà: Một hạnh tu nghiêm ngặt của người xuất

  5. Ưu Đàm Bát La: còn gọi là hoa Ưu Đàm – thiên hoa, loài hoa trời, ngàn năm mới nở một lần.

  6. Bệnh ngã chấp: Chấp cái bản thân cho là đúng.

Tác Phẩm Lý Tứ

Nhận Thức Thường, Ngã, Lạc, Tịnh Của Sơ Ngộ

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Người tu hành chưa thuần thục nghĩa trước thì Bồ Tát phải biết kham nhẫn, đợi thời cơ chín muồi mới có thể dạy pháp sau, nóng vội sẽ hư.

Hỏi: Thưa ân sư! Hôm qua, sau khi chia tay người, trên đường về, con như người đã đặt gánh nặng xuống. Con chiêm nghiệm, đúng là cái ngã này luôn hiện hữu trong ta nhưng lại khó thấy khó biết. Nó giống như con mắt, nhìn thấy tất cả nhưng không nhìn thấy chính nó.

Cái ngã đã đi vào con mắt, đi vào lỗ tai, đi vào nghĩ suy để làm quan tòa phán xét mọi việc theo chủ kiến của mình. Nó làm hai công việc cùng một lúc: vừa đá bóng vừa thổi còi. Cái ngã hư dối hiện diện khắp mọi nơi. Nó rao giảng chân lý theo cách nhìn của nó. Nó đánh giá tất cả theo quan điểm của nó.

Nói chung, nó bắt người trí thành kẻ ngu, bắt người sáng thành mù tối, bắt kẻ đang thong dong trở thành nô lệ. Tuy nó hiện diện khắp mọi nơi, có mặt trong mọi lúc, nhưng khó nhìn ra, khó thấy được. Người không từ bỏ cái ngã mà cầu giải thoát thì cũng giống như kẻ ôm tảng đá lớn cầu bơi sang sông.

Không bỏ cục đá này xuống thì trên đường đời còn đi không đến nơi, huống chi là xây mộng qua sông. Cái ngã quái ác này, nếu không đủ duyên lành để gặp ân sư, có lẽ nó sẽ đeo đuổi con đến tận cùng đời vị lai. Thưa ân sư!

Suốt đêm, con ngồi tĩnh lặng trong cái vô ngã, hỷ lạc khinh an tràn đầy. Trong cái hỷ lạc khinh an ấy, con thấy mình sáng ra, không còn mù tối như trước đây. Đến gần khuya, hai chân của con tê nhức. Con nhìn ngắm nó, nhận ra cái đau nhức ấy không làm cho an lạc trong con mất đi, mà càng nhìn ngắm, an lạc càng tăng.

Con nghiệm ra, cảm thọ này chỉ do duyên hiệp, mà cái gì có hiệp nhất định có tan, như hai bàn tay chà vào nhau thì sinh hơi ấm, hai bàn tay rời nhau, hơi ấm tự diệt.

Ngã hư dối cũng thế, nó không thật. Khi xúc đối duyên, cho dù là ngoại duyên hay nội duyên mà để cho các duyên này hòa hiệp rồi mê mờ, nhất định ngã sẽ sanh, giống như hai bàn tay hòa hiệp, liền có hơi ấm. Thưa ân sư! Một khi ngã đã không còn hiện hữu, thì các cảm thọ cho dù khổ hay vui, cũng đều an lạc. Suy nghĩ đến đây, con mới hiểu ra, thế nào là đức tính an lạc của Niết Bàn. Khi ngã nhận khổ vui không còn, thì lạc thọ xuất hiện, hèn gì Phật dạy: “Quán thọ thị khổ”1.

Con lại quán tiếp thân này. Con quán từ ngón chân đến đỉnh đầu, quán từ da xương đến nội tạng, đúng là chẳng nơi đâu có ngã. Khi xong phép quán, con thấy thân này đồng như hư không, chỉ còn cái biết, tức trí thân này tồn tại. Con lại chiêm nghiệm tiếp, nếu ta từ bỏ, không nương tựa vào sắc thân này, không nương vào cái ngã để bảo rằng sắc thân này là của ta, thì bây giờ chỉ còn lại trí thân thanh tịnh. Con nhận ra, vì sao Phật dạy quán thân bất tịnh. Bây giờ, con mới hiểu được đức Tịnh của Niết Bàn.

Cho đến gần sáng, câu nói của ân sư hiện rất rõ trong con: “Ông với tôi cùng quy y Tứ Đế”. Khi chiêm nghiệm câu nói này, con chợt thấu suốt vì sao phải quy y Tứ Đế và vì sao Đạo Đế lại đi sau Diệt Đế.

Con chợt mỉm cười với suy nghĩ của mình. Cái ngã mèo chó này khi nào còn ngự trị thì làm sao mà sư tử xuất sanh? Diệt Đế chính là tánh mèo chó chết đi, mới có dịp sanh vào dòng sư tử. Có sanh vào dòng sư tử thì mới học cái đạo săn bắt của sư tử.

Học các loại đạo diệt khổ cho chúng sanh mới chân thật học cái đạo làm Phật. Thành tựu đạo làm Phật mới gọi là Phật Đạo.

Ngày xưa, con vẫn đinh ninh rằng: Phải có Đạo để tu hành, thì cái diệt mới chứng. Đâu ngờ, Đạo Giác Ngộ không thể lấy phàm tình mà hiểu ý thánh. Câu nói của Bậc Đạo Sư lại văng vẳng bên tai con: “Đây là đạo diệt khổ các ông phải tu học”.

Câu này, bây giờ cho con vỡ lẽ nhiều điều. Câu nói của bậc đạo sư vô thượng, người hiểu sai lại lấy làm của mình, cho nên giáo pháp trở nên lộn xộn. Thì ra người tu hành tưởng rằng cái mình đang tu hành đó là Đạo Đế, thật ra cái mà họ đang phân tích, thực hành, ứng dụng, thuộc Trạch Pháp Giác Chi 2. Trạch Pháp Giác Chi chính là phân tích cho đến cội nguồn của một pháp để Giác Ngộ.

Giác Chi mà lầm thành Chánh Đạo, cho nên chẳng thấy được Bát Chánh Đạo nằm sau Thất Giác Chi. Chưa hoàn thành các Giác Chi để chứng Giác Ngộ Diệt Đế, thì làm gì mà học được các thứ Đạo Diệt Khổ của chư Phật. Con lại chiêm nghiệm về Ngũ Phần Hương3, đúng là có chứng

Diệt Đế Giải Thoát rồi, thì Giải Thoát Hương mới hiện. Có tu học tất cả các môn Giải Thoát của Phật Đạo đến thành tựu thì Giải Thoát Tri Kiến Hương mới lan tỏa.

“Đây là đạo diệt khổ các ông phải học” lại hiểu nhầm thành cái mình đang ứng dụng để diệt khổ cho tự thân. Phải chi câu nói đó đổi thành: “Đây là các môn diệt khổ của chư Phật ba đời, các ông phải tu học để sau này giúp người”, thì đâu có khiến người hiểu lầm để rồi không có đường ra.

Thưa ân sư! Chỉ có sư tử con mới cảm được tiếng gầm của sư tử chúa; chỉ có kẻ một phen Giác Ngộ thật sự mới thấu hiểu phần nào đó ý nghĩa lời kinh. Thưa ân sư! Ân đức mà người đã biến con từ con chó, con mèo trở thành dòng giống sư tử biết ngày nào mới đền đáp được đây? Xin người cho con theo chân tới tận cùng đời vị lai, để được hầu hạ người, mong học “cái đạo diệt khổ của ba đời chư Phật” tìm ra chân lý trong muôn vàn cái khó. Xin Ân Sư hứa khả!

Đáp: Đạo diệt khổ của Chư Phật, chẳng phải của riêng tôi. Đạo pháp không phải gấp, nếu đủ duyên thì chung đường, đâu cần cầu thỉnh.

Hỏi: Thưa Ân Sư! Kẻ sơ ngộ, trong bốn đức Thường, Ngã, Lạc, Tịnh của Niết Bàn, chỉ mới có chút manh mối về Lạc và Tịnh, vì rằng hai thứ này hiện rõ trong trí thân, và cảm thọ. Còn Ngã và Thường thì như thế nào, xin người cho con chút ánh sáng!

Đáp: Giác Ngộ Diệt Đế Giải Thoát chỉ mới chớm thấy được hai đức tính đầu là Lạc và Tịnh của Niết Bàn như ông vừa mới nói. Còn hai đức sau là Ngã và Thường thì chỉ khi nào thành tựu Đạo Đế, tức học xong các môn Giải Thoát của chư Phật, gọi là thành tựu Nhất Thiết Trí, nhất định ông sẽ tự hiểu ra. Sẽ tự hiểu ra này, giống như ông hiểu về sơ nghĩa của hai chữ Lạc, Tịnh.

Nói về sơ nghĩa của Lạc và Tịnh, những điều ông vừa nêu, chỉ là cái hiểu của “sơ tướng Giác Ngộ”, đừng lấy đó làm tự mãn, vì rằng bốn đức Thường, Ngã, Lạc, Tịnh của Đại Niết Bàn chẳng giống như mấy thứ đức nhỏ nhoi của Tiểu Niết Bàn mà ông vừa phát hiện. Mặc dù người liếm mép đĩa mật, vị ngọt chẳng khác người ăn nguyên đĩa mật, nhưng vị ngọt của mép đĩa mật chưa đủ để tiêu trừ hoàn toàn căn bệnh vô minh.

Vì thế, hãy tiếp tục chiêm nghiệm, hãy tiếp tục tư duy, hãy tiếp tục làm cho cái ngã hư dối hoàn toàn tiêu thất.

Nếu rảnh rỗi, nên tụng đọc các kinh giáo Bồ Tát, nhớ chỉ đọc phần chánh kinh văn, đừng đọc lời giảng giải, vì trong lẫn lộn giữa vàng và đá của lời giảng giải, vàng thì quá ít, thậm chí không có, còn đá thì quá nhiều. Sức của ông chưa đủ phân định đâu là vàng đâu là đá. Có khi lại ôm nhầm đá mà tưởng là vàng, chỉ tội cho công cất giữ.

Hỏi: Thưa Ân Sư! Khi nghe lời vừa rồi của ngài, con lại phát hiện ra một điều, đó là ý nghĩa của Kham Nhẫn Ba La Mật 4. Phải rồi, ngày xưa con hiểu ý nghĩa của hai chữ kham nhẫn trở thành nhẫn nhục của người đời, hiểu không đúng, vì thế con suy diễn, người tu hành mà kham nhẫn trở thành kẻ tiêu cực. Bây giờ con mới biết, kham nhẫn thuộc Bồ Tát Đạo.

Bồ Tát dạy người tu hành giống như nghệ nhân trồng kiểng, phải biết kham nhẫn, chưa đúng thời, các chi (nhánh) chưa già thì chớ có bẻ uốn, chưa có nắng gắt để nhựa bớt đi thì chớ có mạnh tay. Cành nhánh mà chưa già, khi uốn cây sẽ bị suy, khó phát triển, nhựa chưa bớt đi mà bẻ nhánh, nhánh này dễ gãy.

Người tu hành chưa thuần thục nghĩa trước thì Bồ Tát phải biết kham nhẫn, đợi thời cơ chín muồi mới có thể dạy pháp sau, nóng vội sẽ hư. Vì thế, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Phật mới dạy một Pháp Sư phải hội đủ ba pháp, đó là: Vào nhà Phật, mặc áo Phật, ngồi tòa Phật. Vào nhà Phật là vào tâm lượng Từ Bi, mặc áo Phật là phải biết nhẫn nại chờ đúng thời cơ mới tuyên nói Giáo Pháp, ngồi toà Phật là phải ngồi tòa rỗng rang. Mỗi lời nói, mỗi ý nghĩa, mỗi bước dặn dò của Ân Sư đều là bài pháp giúp con hết u tối.

Đáp: Ông đúng là cơ trí bén nhạy. Ngày sau, ông sẽ thành tựu nhiều pháp lành.

Hỏi: Con thường hay nghe nói, người tu hành Giác Ngộ, không thấy năng sở 5. Lại còn nghe các bạn tu hay nói: “Thấy như không thấy, nghe như không nghe”. Con tuy Giác Ngộ chưa sâu, nhưng cũng chẳng còn là người u tối như hồi xưa.

Cái sự nghe, nhìn của con hiện giờ sáng suốt, thanh tịnh, không bị buộc ràng, luôn luôn an lạc. Tuy có sáng suốt, tuy được thanh tịnh, tuy không buộc ràng, tuy luôn an lạc, nhưng năng thấy của con không mất, sở thấy của con vẫn còn, khiến con có chút hoài nghi về mình. Xin Ân Sư chỉ điểm!

Đáp: (cười lớn) Ông hiểu sai hai chữ năng sở trong Phật Đạo rồi, nên tâm phát sinh nghi ngờ.

- Người Giác Ngộ càng sâu, thấy biết càng minh bạch, giống như tấm kiếng không bụi thì cảnh hiện rõ.

- Nói không năng sở là: Nói trong không sinh năng tâm, ngoài không sinh sở pháp chứ chẳng phải nói không có thấy nghe. Không năng sở là: tâm không chấp năng tạo, ý không duyên sở tác,.. chứ chẳng phải không thấy biết sự việc.

- Có thể hiểu, người đã Giác Ngộ, thấy nghe sự việc rất rõ, nhưng tâm không sinh đối đãi, thường như như bất động, ý thì biết sự việc tỏ tường, nhưng chẳng sinh quan niệm đây

- Không năng tâm sở tâm, không năng pháp sở pháp, chứ chẳng phải tai ù mắt tối, ông chớ có hiểu lầm! Không tai ù mắt tối, thì thấy nghe thế nào mà lại nói, thấy như không thấy, nghe như không nghe?

- Người Giác Ngộ chân chánh không bao giờ nói thế, bằng hữu của ông có ai đã thật sự Giác Ngộ đâu mà ông phải tin lời họ. Trong Phật Đạo, chỉ nói đến tâm và pháp, rời hai thứ này, chạy theo phân tích các duyên bên ngoài, muôn đời khó Giác Ngộ. Ông chớ quên điều này!

------------------

  1. Quán thọ thị khổ: quan sát các cảm thọ đều đưa đến khổ não.

  2. Trạch Pháp Giác Chi: là một trong số 37 Bồ Đề phần.

  3. Ngũ Phần Hương: Là 5 loại hương do giác ngộ từ cạn đến sâu mà thành tựu. Bao gồm: Giới Hương, Định hương, Tuệ hương, Giải thoát hương, Giải thoát tri kiến hương.

  4. Kham Nhẫn Ba La Mật: là một trong 6 phép Ba la mật bao gồm: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ.

  5. Năng sở: Năng là chủ thể, sở là khách thể.

Tác Phẩm Lý Tứ

Tăng Bảo; Đệ Nhất Nghĩa Tăng; Bồ Tát; Tâm; Ngã;…Pháp Bất Nhị Nghĩa Là Gì?

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Trong Thế Tục Tăng cũng có nhiều vị là Đệ Nhất Nghĩa Tăng. Còn Đệ Nhất Nghĩa Tăng không luận về hình tướng có phải là Tăng hay tục. Khi quy y, phải nhờ đến Thế Tục Tăng, đây là vị đại diện pháp lý của Phật. Trên đời này, bất kỳ điều gì không đầy đủ tính pháp lý thì khó thành tựu. Còn cầu học Phật Trí, phải đi tìm Đệ Nhất Nghĩa Tăng.

Hỏi: Hôm qua nghe giảng giải về ý nghĩa chân thành của sự thành Phật. Suốt đêm, con đem những điều được nghe trong ngày ra để tư duy mong cho thấu đáo, hầu thâm nhập và có thể ứng dụng những nghĩa này vào đời sống. Nhưng cho dù suốt đêm ngồi tư duy, vẫn còn một vài chỗ không thông. Hôm nay, con lại tiếp tục đến đây, cầu được nghe giảng giải những chỗ chưa thông, để lòng này không còn vướng bận mà yên tâm tu hành.

Đáp: Điều gì chưa thông, cứ việc đưa ra, để cùng nhau thẳng thắn bàn luận. Bàn luận đến khi nào thấu đáo mới thôi, đây chính là thái độ của một trượng phu. Người tu hành, có một điều tối kỵ cần nên biết, đó là chưa thông mà không tìm người hỏi cho ra lẽ, cứ ôm giữ mối nghi trong lòng. Tu tập mà trong lòng còn một chút nghi, cho dù mối nghi đó chỉ bằng đầu sợi lông, cũng khó bề Giác Ngộ. Vì thế, “nghi ngờ” được Phật Đạo xếp vào một trong “năm độn sử” của “mười kiết sử”.

Quả vị đầu tiên và nhỏ nhất trong Phật Đạo là quả Tu Đà Hoàn 1, mà những người trong tâm còn một chút nghi ngờ về Giáo Pháp cũng không thể thành tựu, huống chi những quả vị cao hơn. Có gì chưa thông thì cứ việc hỏi. Nào, xin mời!

Hỏi: Nếu bảo rằng, thành Phật là thành cái trí này, vì sao người tu hành lại phải đến chùa am cầu người có Tăng tướng để quy y cho mình? Không tự quy y nơi trí này được hay sao?

Đáp: Ông nói trí này là trí nào? Trí của ông, hay trí của Phật? Nếu là trí của ông thì cái trí đó chứa đầy vô minh, không lẽ ông đi quy y cái vô minh của chính ông?

Còn nếu trí đó là Phật trí thì ông chưa có thứ trí ấy, mà chưa có thì lấy gì để quy y. Vì thế quy y Tăng, là để cầu Tăng Bảo 2 dạy cho ông hết cái trí vô minh, hầu thành tựu Phật trí. Không có người dạy, thì làm sao mà hết vô minh, để có Phật trí.

 Hỏi: Hôm trước, con có được nghe chuyện đứa bé không quay lại ông hộ tịch để học hành, sao hôm nay lại nói rằng, quy y Tăng Bảo để Tăng Bảo dạy thành tựu Phật Trí?

Đáp: Tăng Bảo là để chỉ chung cho tất cả Tăng, chứ chẳng phải nói riêng một cá nhân. Vì thế lúc đó, tôi cũng có nói thêm rằng: Phật Đạo có Bổn Sư, Giới Sư, Giáo Thọ Sư, Pháp Sư, Đạo Sư. Cho nên, đến một vị có Tăng tướng để quy y là vì vị đó đại diện cho Tăng Bảo chứng nhận ông thành một Phật tử, còn việc dạy dỗ và học tập, có khi phải cầu một người khác. Người đó có thể là Tăng, có thể là tục. Chớ có nhập nhằng chuyện này.

ĐỆ NHẤT NGHĨA TĂNG LÀ GÌ?

Hỏi: Tăng Bảo là người xuất gia, tục là người tại gia. Nếu nói cầu Tăng Bảo để học Phật Trí, người ở tục gia không phải là Tăng, thì làm sao dạy được?

Đáp: Tăng Bảo gồm có Thế Tục Tăng3 và Đệ Nhất Nghĩa Tăng 4. Thế Tục Tăng là những người xuất gia có đầy đủ Tăng tướng, đại diện Tam Bảo, thay mặt Phật cho ông quy y.

Trong Thế Tục Tăng cũng có nhiều vị là Đệ Nhất Nghĩa Tăng. Còn Đệ Nhất Nghĩa Tăng không luận về hình tướng có phải là Tăng hay tục. Khi quy y, phải nhờ đến Thế Tục Tăng, đây là vị đại diện pháp lý của Phật. Trên đời này, bất kỳ điều gì không đầy đủ tính pháp lý thì khó thành tựu. Còn cầu học Phật Trí, phải đi tìm Đệ Nhất Nghĩa Tăng.

Hỏi: Sao gọi là Đệ Nhất Nghĩa Tăng?

Đáp: Đoạn kinh sau, sẽ trả lời cho ông câu hỏi này: “Ưu Ba Ly hỏi Phật: “Bạch Thế Tôn! Quy hướng vào đâu gọi là quy y Phật? Phật đáp: “Quy y Phật, nghĩa là quay về bản tính chân như, đầy đủ trí tuệ công đức mà quy y”. Ưu Ba Ly lại hỏi: “Như vậy thì, quy y sắc thân hay quy y Pháp thân?” Phật đáp: “Quy y Pháp thân chứ không phải quy y sắc thân. Đừng tưởng sắc thân là Phật, vì sắc thân là vô thường, không thể làm chỗ cậy nương được”.

Cũng trong bài kinh này, Ưu Ba Ly hỏi Phật: “Thế thì nên quy y Thế Tục Tăng hay Đệ Nhất Nghĩa Tăng? Nếu quy y Đệ Nhất Nghĩa Tăng thì vì lẽ gì lúc cho hai vị lái buôn quy y Phật (lúc đó chưa có Tăng đoàn, chưa xuất hiện Thế Tục Tăng), Thế Tôn lại căn dặn họ: “Sau này có Tăng (Thế

Tục Tăng), các người phải đến Tăng mà quy y.” Tại sao lúc đó, Thế Tôn không nói rằng: “Đệ Nhất Nghĩa Tăng (vị có được Phật Trí) thường hay ở thế gian, các người phải nên tìm họ mà quy y?”. Phật trả lời: “Vì Thế Tục Tăng là chỗ sở y của Đệ Nhất Nghĩa Tăng, cho nên Như Lai mới nói sau này có Tăng, phải đến quy y. Và Như Lai nói thế, cũng vì muốn tôn trọng Thế Tục Tăng vậy”.

Từ những nghĩa này, có thể hiểu rằng, cho dù một vị đã thấu đạt Phật Trí, đã là Đệ Nhất Nghĩa Tăng, để tôn trọng lời Phật, để tôn trọng Tăng Bảo, để làm gương cho mọi người, vị Đệ Nhất Nghĩa Tăng đó cũng phải đi tìm Thế Tục Tăng mà xin quy y. Có làm như thế mới viên mãn “tánh, tướng” của Đệ Nhất Nghĩa. Lục Tổ Huệ Năng là một ví dụ, lúc nhận “y bát chánh truyền”5, Huệ Năng hãy còn là tục gia cư sĩ.

Tuy là tục gia, nhưng vẫn được y bát vì thấu suốt tánh tướng của vạn pháp. Thấu suốt tánh tướng của vạn pháp chính là Đệ Nhất Nghĩa Tăng. Sau này, khi đi hoằng hóa, ngài vẫn mang tướng cư sĩ cho đến khi gặp Ấn Tôn Pháp Sư. Để chính thức khoác y bát lên người, để nhiếp phục các Tăng nhân đương thời, Huệ Năng đã nhờ Ấn Tôn Pháp Sư thế phát cho mình, từ đó mới chính thức làm Tăng.

Vì Lục Tổ là Đệ Nhất Nghĩa Tăng, nên các vị Thế Tục Tăng cho dù có cao tuổi đạo hơn, cũng phải ngồi dưới nghe pháp. Thượng Toạ Đạo Minh hay Vĩnh Gia Huyền Giác Đại Sư là một ví dụ. Dù Huyền Giác tuổi đạo lớn hơn Huệ Năng, nhưng khi đến gặp Lục Tổ không lễ bái, cũng bị Lục Tổ quở trách.

Pháp Bảo Đàn Kinh có nói rằng, Tăng và tục đến cầu đạo nơi Lục Tổ nhiều vô số kể. Nói tóm lại, không đến một vị có đầy đủ tăng, tướng xin quy y để trở thành Phật tử, giống như đứa bé sinh ra, không có khai sinh, không có quốc tịch, thì chẳng có một cơ sở giáo dục nào, dù đó là trường công lập hay trường tư thục nhận đứa bé đó chính thức làm học sinh của mình.

Trường công lập dụ cho Thế Tục Tăng, trường tư thục dụ cho Đệ Nhất Nghĩa Tăng. Mà đã là một vị Đệ Nhất Nghĩa Tăng, thì tất nhiên họ biết rõ lợi ích của Thế Tục Tăng, nên chẳng bao giờ họ làm cái chuyện ba đời chư Phật thường hay quở trách, đó là “trụ vô vi mà đi hoại hữu vi”! 6

Hỏi: Xin nói rõ hơn về Đệ Nhất Nghĩa Tăng.

Đáp: Đệ Nhất Nghĩa Tăng, có nghĩa rằng vị này gồm đủ ba bảo. Đoạn kinh sau, nói rõ chuyện này: “Ưu Ba Ly hỏi Phật: “Phật cũng là Pháp, Pháp cũng là Pháp, Tăng cũng là Pháp, như thế chỉ có một bảo, sao nói thành ba?”. Phật đáp: “Tuy là một bảo, nhưng theo nghĩa mà nói thành ba. Chẳng hạn, nói về Tam Bảo thì: Vô Sư Trí, quả vị Vô Học và hết thảy công đức là Phật Bảo. Diệt Đế vô vi là Pháp Bảo. Từ Pháp bảo ấy, chiếu ra công đức, trí tuệ của hàng Thanh Văn hữu học cũng như Bồ Tát vô học gọi là Tăng Bảo”.

Từ đoạn kinh trên, có thể hiểu rằng, những ai thành tựu Vô Sư Trí gọi là Phật Bảo. Từ trí ấy, vị này thể nhập các đạo quả hữu học và vô học của Diệt Đế gọi là Pháp Bảo. Tuy rằng nơi Diệt Đế vô vi mà có thể khiến người thành tựu đạo quả Thanh Văn hay Bồ Tát, nên vị đó gọi là Tăng Bảo. Cho nên kinh thường hay nói, “một bảo là ba bảo, ba bảo là một bảo”. Điều này ông còn thắc mắc gì nữa không?

Hỏi: Chuyện này, bây giờ con thông rồi. Nhưng trong trường hợp, điều kiện địa lý khó khăn, không có chùa am, không có Tăng nhân, thì biết làm sao mà xin quy y?

Đáp: Gặp trường hợp bất khả kháng như vậy, nếu người này quyết một lòng quy y Tam Bảo, đoạn kinh sau đây Phật dạy cho Ưu Ba Ly, có thể giải quyết điều ông thắc mắc:

“Ưu Ba Ly hỏi Phật: “Tam Quy lấy gì làm tính?”. Phật trả lời: “Tam Quy lấy chỗ người khác dạy làm tính, hoặc không theo người dạy làm tính. Nghĩa là, khi thọ Tam Quy, quỳ gối, chắp tay, miệng theo người xướng, mà đọc Tam Quy, thế là cả thân, khẩu đều theo người dạy, bởi vậy gọi là lấy chỗ người dạy làm tính. Nếu có người dốc lòng chí kính, tự mình xướng hiệu Tam Quy, không theo người khác, như thế gọi là lấy chỗ không theo người khác làm tính.”

Hỏi: Theo con biết, trong Phật Đạo, lấy tuổi đạo (hạ) mà phân cao thấp, người nhiều tuổi hạ ngồi trên, kẻ ít tuổi hạ ngồi dưới. Cớ gì, những người như Đại Sư Huyền Giác, Thượng Toạ Đạo Minh cao tuổi đạo hơn Huệ Năng, lại bị quở trách, còn phải ngồi dưới?

Đáp: Cao tuổi đạo ngồi trên là phép của Tăng, thuộc Thanh Văn thừa, chứ không phải phép Bồ Tát.

Hỏi: Phép Bồ Tát như thế nào?

Đáp: Bồ Tát lấy trí tuệ làm trọng, vị nào trí tuệ cao hơn thì ngồi trên, vị nào trí tuệ thấp phải ngồi dưới, ngồi dưới để nghe vị có trí tuệ cao hơn dạy mình học tập. Ví như: Vô Uý Đức Bồ Tát 7, Thắng Man phu nhân 8, Duy Ma Cật 9. các thánh tăng là đệ tử của Phật cũng phải ngồi dưới để lắng nghe chân lý từ các vị Bồ Tát này.

Riêng các Đại Bồ Tát thể nhập Phật Thừa thì khác. Phật Thừa trí tuệ bằng nhau, cho nên Phật Thừa hay còn gọi là Nhất Thừa Bồ Tát lấy công hạnh giáo hóa chúng sanh mà phân cao thấp. Người công hạnh dày sâu có địa vị cao, người công hạnh ít hơn ngồi ở địa vị thấp. Vì thế mới có chuyện Thích Ca Mâu Ni thọ ký cho Di Lặc Bồ Tát.

Hỏi: Nhắc đến Duy Ma Cật con mới nhớ, những người tu hành thời nay khi ngồi lại với nhau, thường hay bàn luận về Kinh Duy Ma Cật. Nói đến Kinh Duy Ma Cật, họ lấy “Bất Nhị Pháp Môn” làm đề tài đối đáp. Khi đối đáp, hầu như ai cũng cho rằng, mình thông suốt pháp môn không hai (bất nhị).

Vì thế, nếu có người nào đó đề cập đến kinh điển hay chuyện tu hành, các vị ấy cho rằng, người nói chuyện kinh điển là “chấp văn tự”, còn người nói chuyện tu hành là “kẻ chấp có pháp để tu”. Hóa ra, nói cũng trật mà tu cũng trật. Vậy thì, không biết nên thế nào mới phải, làm cái gì cho đúng đây?

Đáp: Sao ông không hỏi những người đó, nói cũng trật, mà tu cũng trật, thì mình nên làm gì?

Hỏi: Con và những người khác, cũng thường hỏi như thế. Cuối cùng thì hai bên, bên nói lẫn bên nghe sinh ra cãi nhau, mỗi người ôm một “cục giận” về nhà chẳng giải quyết được điều gì.

Nhân tiện đây, xin giảng giải cho con hiểu thế nào là “Pháp môn bất nhị” và thông suốt được pháp môn này thì thành tựu điều gì trong Phật Đạo?

Đáp: Không biết khi tôi nói về nghĩa bất nhị, ông có ôm “cục giận” về nhà không?

Hỏi: Con đã tiếp xúc với ngài từ hôm qua đến nay, bất kỳ câu hỏi nào đưa lên, cũng được ngài ôn tồn cắt nghĩa, ý nghĩa rõ ràng, văn tự trong sáng, trong sáng nhưng chứa nhiều ý vị của đạo pháp. Vì thế, người nghe nhờ đó mà mở trí, không “đao to búa lớn” như các vị ngoài kia.

Xin được giảng rõ hơn về tâm và ngã?

Các vị ngoài kia hô hào Đại Thừa, văn tự thì đao to búa lớn, nhưng theo con đánh giá, thì trong bụng họ chứa toàn là ngã và ngã mà thôi.

Đáp: Thôi, đừng so sánh nữa, cái tâm so sánh có đây có kia, có hay có dở, tôi tốt anh xấu, có ngã không ngã. Trong Phật Đạo gọi đó là tâm gì? Ông hãy bỏ kiến thức đã học xưa nay xuống, quay lại tâm mình, xem thử coi, cái tâm như thế là thứ tâm gì?

Hỏi: Cho con ngẫm nghĩ một chút, trong nhất thời, chưa phân biệt được, nó là thứ tâm gì.

Đáp: Ông cứ từ từ, đạo pháp không gấp, suy nghĩ cho kỹ rồi hãy trả lời. Nhớ rằng một lời nói ra phải phát xuất từ sự chín chắn, từ những suy nghĩ thấu đáo, không cần văn hoa, không phải dài dòng. Chỉ nên thấy như thế nào, thì cứ nói như thế đấy.

Hỏi: Con đã xem xét rất kỹ, tâm mà có cao - thấp, anh - tôi, đây - kia.

Chính là phàm phu tâm.

Đáp: Phàm phu tâm mà ông vừa thấy, nó từ đâu ra?

Hỏi: Con suy nghĩ kỹ rồi, tâm phàm phu này không từ đâu ra, chỉ do đối cảnh, cái ngã khởi lên, thế là cái tâm hơn - thua, được - mất, đây - kia xuất hiện.

Đáp: Khi nó xuất hiện như vậy, cái tâm hơn - thua, được - mất đó với cái ngã của ông là hai hay một?

Hỏi: Xét đến cùng, hai thứ chỉ là một. Hai thứ này như bóng với hình, cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không.

Đáp:

  • Trước khi tâm và ngã xuất hiện, ông được gì?

  • Trong khi tâm và ngã xuất hiện, ông được gì?

  • Sau khi tâm và ngã đó mất đi, ông được gì?

Ông cố nhớ lại xem ba giai đoạn này, ông đã được gì và mất gì?

Hỏi: Khi tâm và ngã chưa hiện, con thấy mình chẳng được gì. Khi chúng xuất hiện, tưởng chừng mình được cái tiếng là người thắng cuộc. Nhưng sau đó, tiếng hơn này cũng không còn, chỉ còn lại phiền não do hơn thua đối đãi mà thôi.

Đáp: Ông có thấy gió ngoài kia hay không?

Hỏi: Có ạ.

Đáp: Làm sao ông biết có gió?

Hỏi: Con thấy lá cờ trước sân bay phấp phới nên biết có gió.

Đáp: Nếu không có lá cờ, thì gió có thổi không?

Hỏi: Nhờ kinh nghiệm, con biết có gió. Nhưng không có lá cờ, gió thì có mà tác dụng thì không.

Đáp: Tác dụng của nó như thế nào?

Hỏi: Nếu gió mạnh và cờ lớn thì chẳng bao lâu, lá cờ sẽ rách.

Đáp: (cười lớn) Nếu có gió cũng như không gió, mà ta không căng lá cờ lên thì lành rách, gió lớn gió nhỏ, có thành lập được chăng?

Hỏi: Không thành lập được.

Đáp: Cũng thế, cái ngã càng lớn, thì hai pháp đối đãi càng nhiều, phiền não càng hẫy hừng. Như vậy, ông có hiểu thế nào là hai pháp hay không?

Hỏi: Con hiểu.

Đáp: Ông hiểu ra điều gì?

Hỏi: Cũng tại cái ngã này, cũng tại mê nơi cảnh duyên, mà hai pháp thành lập trong tâm này.

Đáp: Hai pháp đó là hai pháp gì?

Hỏi: Hai pháp đó là: hơn thua, được mất, tốt xấu, ghét thương, phải quấy thành lập.

Đáp: Nếu trong hiện tại này, ông không giương cái ngã của mình lên thì điều gì xảy ra?

Hỏi: Con không thấy trong hiện tại này, cái gì là ngã, vì thế chẳng thấy có, chẳng thấy không, chẳng thấy tâm, chẳng thấy pháp, chẳng thấy mình, chẳng thấy người.

Đáp: Trong lòng, chẳng thấy có, chẳng thấy không, chẳng thấy tâm, chẳng thấy pháp, chẳng thấy mình, chẳng thấy người. Thứ tâm đó Phật Đạo gọi là gì?

Hỏi: Thứ tâm đó, Phật Đạo gọi là bất nhị.

Đáp: Như vậy, bất nhị đích thực, nó là thứ gì?

Hỏi: Bất nhị chính là cái tâm rỗng rang, chính là bất động trước thấy nghe.

Đáp: Bây giờ ông hiểu “cái lặng thinh của Duy Ma Cật” hay chưa?

Hỏi: Con hiểu rồi. Bất nhị là trong lòng bất nhị, chứ chẳng phải nhân lời nói mà có nhị hay bất nhị.

Đáp: Đúng thế. Người đời chỉ học thuộc văn tự bất nhị mà không biết ý nghĩa đích thực của nó, cho nên cứ mở miệng thì nói thuộc lòng văn tự bất nhị, nhưng trong lòng tích chứa đầy đủ hai pháp. Ví như những bằng hữu của ông, miệng thì nói bất nhị, mà trong lòng luôn luôn thấy tôi mới là đúng, còn các ông đều sai. Còn thấy tôi đúng, ông sai thì, còn lâu mới biết thế nào là thật nghĩa của bất nhị. Thứ tâm đó, gặp nhau đối đáp qua lại, mà không nổi sân hận mới lạ.

Hỏi: Trên đời này con chưa từng gặp một vị nào như ngài. Ngài không giải thích thế nào là bất nhị, mà có thể khiến người thấu đáo ý nghĩa bất nhị; không dạy người tu hành mà giúp người biết mình nên làm gì mới gọi là tu. Người nghe không cầu chứng quả mà lại được điều chưa từng được của Đạo Pháp. Từ nay, cho con được làm môn hạ dưới chân ngài, để cầu học trí tuệ. Xin ngài đừng từ chối!

Đáp: Ha ha ha ha! Vô ngã chính là thầy của mình, Phật dạy: “Nói về Tứ Đế thì Phật là Đạo Đế, Pháp là Diệt Đế, Tăng là một phần của Đạo Đế. Nói về quả Sa Môn, thì Phật là Sa Môn, Pháp là quả Sa Môn, Tăng cũng là Sa Môn.”

Phật dạy là như thế, nhưng tôi xin nói thêm với ông một câu: “Phật là vô ngã, Pháp của Phật là ngã, cũng ngã cũng vô ngã gọi là Tăng”.

Nếu ông có thể hiểu câu này thì từ nay ông với tôi đồng quy y Tứ Đế 10 và Sa Môn quả vậy.

 

------------------------------

  1. Tu Đà Hoàn: còn gọi là Nhập lưu – là quả vị đầu tiên trong 4 thánh vị của Thanh Văn thừa.

  2. Tăng Bảo: Một trong ba bảo (Phật, Pháp, Tăng)

  3. Thế tục tăng: là danh xưng để chỉ người xuất gia chưa giác ngộ.

  4. Đệ Nhất Nghĩa Tăng: Tên gọi để chỉ cho vị giác ngộ rốt ráo trong Phật đạo.

  5. Y bát chánh truyền: Áo cà sa và bình bát, dùng làm tín vật truyền thừa về sau cho các Tổ.

  6. “Trụ vô vi.. hoại hữu vi”: trụ nơi Niết bàn vô vi và không chấp nhận các pháp thế gian nên không thể thể nhập trung đạo đệ nhất nghĩa.

  7. Vô Úy Đức Bồ Tát: là công chúa Vô Úy, con vua A Xà Thế, vốn là người hiền đức, đã giác ngộ.

  8. Thắng Man phu nhân: là con gái của vua Ba Tư Nặc và Hoàng hậu Mạt Lợi, sau này lấy vua nước A-du-xà, trở thành Vương phi cao quý, nhưng một lòng hướng Phật.

  9. Duy Ma Cật: là nhân vật trung tâm trong kinh Duy Ma Cật sở thuyết.

  10. Tứ Đế: còn gọi là Tứ Diệu Đế - bốn chân lí giúp người giác ngộ từ cạn đến sâu.

Tác Phẩm Lý Tứ

Nhận Biết Một Vị Thành Tựu Phật Đạo Như Thế Nào?

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Thành tựu cao nhất trong Phật Đạo là thành tựu trí tuệ, chứ không phải thành tựu thân tướng. Giống như ở đời, những người có học vị tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư… không nhất thiết giống nhau về thân tướng, không nhất thiết giống nhau về gia cảnh, đời sống hay cái vẻ bên ngoài, mà chỉ giống nhau về trí tuệ và thành tựu những điều mình đã học.

Hỏi: Mục tiêu cuối cùng của Phật Đạo giúp người tu hành thành tựu những gì?

Đáp: Là giúp người tu hành thành tựu Phật quả.

Hỏi: Làm sao biết rằng, mục tiêu thành tựu Phật quả này có thể đạt được?

Đáp: Nhìn vào quá trình tồn tại của Phật pháp trong thế gian này, người trí tức thì nhận ra, mục tiêu này đã đạt được trong quá khứ, cũng như sẽ còn đạt được trong vị lai.

Hỏi: Nhìn như thế nào?

Đáp: Nếu mục tiêu không đạt được thì Giáo pháp này đã bị đào thải từ lâu rồi theo quy luật tự nhiên. Nhưng cho đến bây giờ, Giáo Pháp của Đức Phật chẳng những không bị đào thải, mà còn phát huy tác dụng đến phần lớn nhân loại, và không một ai không thừa nhận hiệu quả cao khi tu tập trong Giáo Pháp này. Bằng chứng là ngay tại nơi đây, ông và bằng hữu của ông, tôi và bằng hữu của tôi và biết bao nhiêu cao tăng, Phật tử ngày đêm miệt mài giảng kinh, tu tập trong Phật Đạo.

Hỏi: Tu tập thì nhiều, nhưng có mấy ai có được thành tựu những điều cao nhất như mục tiêu đã đề ra?

Đáp: Nhìn vào hệ thống Kinh điển của Phật đã để lại, nhìn vào những người đang ngày ngày miệt mài giảng nói cắt nghĩa những điều ảo diệu thâm sâu của Phật Đạo trong hệ thống Kinh điển, nhìn vào số lượng môn sinh theo học, nhìn vào sự lớn mạnh, thì có thể biết ngay, mục tiêu cao nhất đã và đang thành công.

Hỏi: Xin cho một vài ví dụ cụ thể, để làm sáng tỏ ý nghĩa vừa nêu.

Đáp: Kinh điển của Phật để lại như sách giáo khoa và thầy cô giáo đang ngày ngày truyền đạt các kiến thức từ sách giáo khoa đến học trò. Ở mỗi cấp học, mỗi bậc học từ thấp đến cao, đều có thầy cô giáo giảng dạy để giúp học sinh của mình thông hiểu các kiến thức đã được ghi chép trong sách giáo khoa. Như vậy, có nghĩa rằng thầy cô đó đã am tường, đã thành tựu các kiến thức mà sách giáo khoa mong muốn và họ đang làm công việc truyền dạy.

Sự am tường, thông hiểu này nói lên chỗ đạt được của mục tiêu mà sách giáo khoa đề ra và đáp ứng đúng yêu cầu của người theo học. Phật Giáo cũng như thế, hàng ngày có biết bao nhiêu Pháp Sư, biết bao nhiêu Bồ Tát đang triển khai kinh điển của Phật từ thấp đến cao giúp người tu hành thông hiểu, để rồi thành tựu từ thấp lên cao. Điều đó cho thấy, các vị này đã thành tựu cái cần thành tựu trong Phật Đạo. Thậm chí có nhiều vị thành tựu đỉnh cao. Hiện tượng này, chính là minh chứng cụ thể và hùng hồn nhất, người trí đâu cần phải nhìn đâu cho xa.

Hỏi: Đã thành tựu như vậy, vì sao những vị đó không giống một Đức Phật mà chúng ta thường thấy?

Đáp: Ông muốn thấy họ giống Đức Phật ở điểm nào?

Hỏi: Thì Đức Thích Ca Mâu Ni có ba mươi hai tướng tốt, hào quang sáng chói, nhìn vào hình ảnh là biết ngay, đó chính là một Đức Phật.

Đáp: Ông lầm rồi, thành tựu cao nhất trong Phật Đạo là thành tựu trí tuệ, chứ không phải thành tựu thân tướng. Giống như ở đời, những người có học vị tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư… không nhất thiết giống nhau về thân tướng, không nhất thiết giống nhau về gia cảnh, đời sống hay cái vẻ bên ngoài, mà chỉ giống nhau về trí tuệ và thành tựu những điều mình đã học.

Ngay như các Đức Phật cũng không giống nhau về hình dáng bên ngoài, như Thích Ca đâu có giống A Di Đà, cũng đâu có giống Di Lặc. Kinh Đại Bảo Tích 1 cũng nói rằng, có một Đức Phật chỉ tuyên thuyết Giáo Pháp trong vòng bảy ngày rồi nhập Niết Bàn. Cái duyên nó như vậy thì sự việc phải như vậy chớ. Lại có Đức Phật ở phương xa và chúng đệ tử thân tướng cao lớn kinh người. Mục Kiền Liên đi trên miệng bát ăn cơm của họ, mà họ nói đó là con trùng nhỏ xíu mặc đồ Sa Môn! 2 Đâu có nhất thiết phải giống nhau mọi thứ.

Hỏi: Xin cắt nghĩa thêm, tôi vẫn chưa thông chỗ này.

Đáp: Giống như một người châu Á, khi họ trở thành tiến sĩ, thì thân tướng của họ không giống vị tiến sĩ người châu Âu hoặc châu Phi. Nhưng tất cả các vị tiến sĩ đó đều có chung một trình độ là tiến sĩ và đều gọi họ là tiến sĩ. Chư Phật cũng như vậy, tùy cõi nước, người thành tựu Phật Trí sẽ mang thân tướng của cõi nước đó. Mà trên thế giới này, có biết bao nhiêu cõi nước, biết bao nhiêu chủng tộc. Đâu phải là tất cả đều phải giống nhau. Đạo lý này, đâu có ai không biết.

Hỏi: Kinh nào nói rằng, nhìn vào thân tướng để biết đó là một Đức Phật, cái nhìn này là không đúng đắn.

Đáp: Ông đã đọc Kinh Kim Cang chưa?

Hỏi: Có, nhưng đâu có thấy kinh này nói gì về việc thân tướng?

Đáp: Ông đọc mà không hiểu, không hiểu nên không biết, không biết nên không thể tự giải đáp cho chính mình những điều sơ đẳng như vậy. Ông có nghe bốn câu kệ: “Nhược dĩ sắc kiến ngã. Dĩ âm thanh cầu ngã. Thị nhân hành tà đạo. Bất năng kiến Như Lai” chưa?

Hỏi: Đã có đọc, đọc nhiều lần bài kệ này, nhưng ý nghĩa của nó thì tôi chịu.

Đáp: “Nhược dĩ sắc kiến ngã” có nghĩa rằng, đừng nhìn vào thân tướng mà nói đó là Phật. “Dĩ âm thanh cầu ngã” có nghĩa rằng, đừng nghe giọng nói (âm thanh), hoặc văn tự (chữ viết) mà cho rằng một Đức Phật là phải nói bằng âm thanh như vậy, hay phải viết thứ chữ như vậy. “Thị nhân hành tà đạo” có nghĩa rằng, những người chấp nhất vào thân tướng, ngôn ngữ, chữ viết mà cho rằng nhất nhất một Đức Phật là phải tướng như vậy, nói giọng như vậy, viết thứ chữ như vậy mới gọi là Phật. Người chấp nhất hai thứ ấy (thân tướng, giọng nói), Phật bảo đó là kẻ đang chạy theo đạo tà, không phải là kẻ có thấy biết chân chánh trong Phật Đạo.

“Bất năng kiến Như Lai” có nghĩa là, người nào nếu cứ khư khư ôm giữ những kiến chấp như vậy nhất định sẽ không thể thấy được ý nghĩa đích thực thế nào là Như Lai (Phật trí ).

Tôi thấy có điều lạ là, hàng ngày người tu hành đều đọc bài kệ này, nhưng trong lòng họ vẫn chấp nhất rằng, hễ ai thành Phật thì cũng giống như Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, đây cũng là chuyện lạ trong đời này của người tu hành.

Trong Kinh Kim Cang, Phật cũng có hỏi Tu Bồ Đề3: “Này Tu Bồ Đề, thấy 32 tướng mà cho đó là Phật, cái thấy này có đúng không?” Tu Bồ Đề bạch Phật: “Bạch Đức Thế Tôn! Chẳng đúng. Vì sao chẳng đúng? Vì Phật không phải là 32 hai tướng”. Phật lại bảo Tu Bồ Đề: “Chớ thấy 32 tướng mà bảo đó là Phật, vì Chuyển Luân Thánh Vương cũng có 32 tướng”.

Lời Phật dạy còn đó, hà cớ gì phải mang chấp nhất trong lòng, để rồi đi tìm Phật nơi có vẻ bên ngoài? Kinh Lăng Già4, Phật cũng nói những ý nghĩa đại loại như: “Trong vô lượng kiếp, ta đã lại qua cõi Diêm Phù này với vô lượng danh hiệu cùng thân tướng sai biệt, có khi là vua, có khi tể tướng, có khi người, có khi nai.” Câu kinh này đã nói lên tất cả. Ông còn gì thắc mắc về Đức Phật và Phật Trí hay không?

Coi chừng, thân thì mang danh Phật Tử, mà tâm trí lại đang chạy theo đạo tà mà không tự biết. Những ai còn chấp nhất như vậy, chỉ uổng một đời mang tiếng tu hành theo Phật Đạo, mà hiểu biết thì chẳng khác gì tà môn: mang tiếng Quy Y Phật, Pháp, Tăng nhưng trong lòng chỉ biết chạy theo danh tướng.

Hỏi: Xin dẫn chứng kinh nào nói rằng có vô số người đã và đang thành Phật?

Đáp: Ông đã từng nghe lời thọ ký: “Ta là Phật đã thành, còn các ông là Phật sẽ thành” chưa? Lời Phật có đáng tin hay không?

Hỏi: Đã nghe và rất tin.

Đáp: Ông đã từng đọc kinh, thấy trong kinh nói rằng: “Cũng tại nơi đây, có vô số Thích Ca sinh ra” hoặc lời dạy: “Hiện nay có vô số Thích Ca đang tụng giới này” hay chưa?

Hỏi: Đọc kinh và tụng Bồ Tát Giới, tôi có nghe những câu này.

Đáp: Như vậy, ông còn thắc mắc điều gì về việc có vô số Đức Phật đã thành và hiện đang thành?

Hỏi: Tôi thắc mắc, như vậy mỗi người ở một phương đồng thành tựu Phật Trí, vì sao gọi là có vô số Thích Ca? Và tại sao mọi người đều thờ Đức Thích Ca Mâu Ni mà không thờ các vị đó như là một Đức Phật?

Đáp: Tôi xin đưa một ví dụ, người trí nhân ví dụ, có thể hiểu điều mình cần hiểu. Ông có biết hãng sản xuất xe Honda hay không? Những đầu thập niên 1960, hãng này đã có mặt trên thị trường. Hiện nay, người sáng lập ra hãng xe này nhất định đã qua đời, chỉ còn những người kế thừa giúp hãng tồn tại và sản xuất cho đến hôm nay. Từ đó đến nay, đã có bao nhiêu chiếc xe Honda ra đời, cung ứng cho thị trường.

Tuy nhà sáng lập Honda không còn hiện diện trên đời, nhưng những chiếc xe do hãng này sản xuất, tất cả đều mang nhãn hiệu Honda. Đâu có thể nói, người sáng lập không còn, thì sản phẩm sau này phải mang nhãn hiệu khác.

Trong Phật Đạo cũng thế. Trong một châu kỷ của một Đức Phật, ví dụ như châu kỷ Thích Ca, tất cả những ai thành tựu trong Giáo Pháp của châu kỷ này đều gọi là Thích Ca.

Vả chăng, giống như các môn học trên đời, dù anh có học thành tài, thậm chí tài năng của anh có ngang bằng với người phát hiện ra môn học đó, thì anh cũng chỉ là học trò của vị ấy, đâu có thể nói môn học này là của tôi. Ở đời, người ta còn biết lý lẽ này, chẳng lẽ trong Đạo Pháp mà làm khác, nói khác được chăng? Vì thế, ông thấy, trên thế giới này có bao nhiêu học viện mang tên người phát minh ra công trình này, công trình nọ, bao nhiêu tượng đài vinh danh vị thủy tổ của các công trình như vậy. Vì thế, trong Phật Đạo mới gọi Thích Ca Mâu Ni là Đức Bổn Sư. Bổn Sư là người thầy đầu tiên, là cái gốc của Giáo pháp. Chớ có quên cội nguồn để rồi trở thành kẻ “thậm xưng”, lỗi lầm này không nhỏ trên con đường thành tựu trí tuệ. Phật dạy: “Tam thế Chư Phật, khác miệng đồng lời”. Lời dạy này có hàm ý rằng, ba đời Chư Phật, tuyên thuyết chân lý từ những cái miệng khác nhau, nhưng lời nói và ý nghĩa của nó, thì không khác.

Người tu hành, phải biết rằng: Bất kỳ ai trên đời, dù họ thuộc chủng tộc nào, sinh ra trong thời điểm nào, mà lời nói, chữ viết mang ý nghĩa không khác những điều Phật dạy, giúp ta thành tựu đúng với Phật Đạo, thì phải biết rằng, lời nói ta được nghe, chữ viết ta được đọc đó đều từ Phật Trí. Đã là từ Phật Trí, thì vị đó được gọi là gì? Có câu chuyện Kinh như thế này, xin kể ra để ông hết nghi cái chuyện thế nào là Bổn sư, thế nào là tướng đệ tử, để mai này lỡ có thành tựu điều gì đó, đừng trở thành kẻ hàm hồ, vong ơn, bội nghĩa.

Câu chuyện kinh như sau: Một hôm Phật nhóm chúng, Phật chỉ vào Đại Đức Ca Diếp mà nói với đại chúng rằng: “Này các ông, cái gì ta biết, Ca Diếp biết. Cái gì ta thấy, Ca Diếp thấy. Cái gì ta chứng, Ca Diếp chứng”. Tuyên thuyết như thế ba lần, Đức Bổn Sư lại quay qua Đại Đức Ca Diếp bảo rằng: “Này Ca Diếp, nay ông lên đây, ta chia cho nửa toà ngồi”. Ca Diếp bạch Phật: “Bạch Thế Tôn. Con xin ngồi ở dưới”. Phật bèn hỏi: “Như thế, này Ca Diếp, nay ông là đệ tử, ta là thầy, hay ông là thầy, còn ta là đệ tử?” -“Bạch Thế Tôn: Con là đệ tử”. Phật bảo: “Đúng vậy, Ca Diếp. Ông hãy ngồi phía dưới”

Câu chuyện này cho thấy, trong “châu kỷ của Thích Ca Mâu Ni, tất cả những ai thành tựu cho dù cao nhất trong Giáo Pháp này, cũng chỉ là tướng đệ tử”. Vì thế, đã là Phật Tử, thì chớ có lộn xộn!

Hỏi: Mô Phật! Mô Phật! Mô Phật! … Hèn chi, ngày xưa Lục Tổ Huệ Năng đã dạy: “Từ nay xưng Giác là Phật”.

Câu nói này thật là thâm sâu, hôm nay con mới vỡ lẽ. Từ nay, trong con thôi hết cố chấp nhất ngu muội nữa. Từ nay con nguyện sẽ hàng ngày lễ lạy cái Giác này. Con biết rằng:

Tu hành trong Phật Đạo, đến Phật còn không nên chấp, tại sao ta phải chấp chuyện thế gian? Đúng là: “Mê tu vô lượng kiếp, ngộ chỉ một sát na”. Con xin Quy Y Phật, Quy Y Pháp, Quy Y Tăng. Con đã hiểu thế nào “Ba bảo là một bảo” Chỉ có thành Bậc Đại Giác mới hết mê lầm.

Đáp: (cười lớn) Ngày sau, nếu có duyên lành, ông và tôi có thể chung đường. Honda nào cũng là Honda. Đâu có chiếc nào không làm công việc “đưa người đi đến nơi về đến chốn”?

Phật Đạo còn rất dài, cái biết, cái thấy mà ông vừa bắt gặp chỉ là ánh sáng của “đom đóm so với mặt trời”. Đừng tự mãn, con đường đưa đến Phật trí không dành cho hạng ngu si này.

-----------------------

  1. Kinh Đại Bảo Tích: là một bộ kinh cổ xưa, thuộc hệ thống kinh điển Phật giáo Đại thừa.

  2. Đồ Sa Môn: Y phục của người xuất

  3. Tu Bồ Đề: là tên một trong mười đại đệ tử của Đức Phật.

  4. Kinh Lăng Già: là một bộ kinh thuộc hệ thống kinh điển Phật giáo Đại thừa.

Subscribe to