Giác Quán Pháp Tu Ba Tam Muội Là Gì?
Giác Ngộ có nhiều tầng bậc, có cạn có sâu. Vì thế, người tu hành nếu chưa viên mãn, sẽ có trong họ hai thứ nhận thức. Đó là, một ít thiện một ít ác, một ít trí một ít ngu. Vị tu hành này, vừa thấy Tánh Giác cũng còn một phần thừa sót của ý thức… Cho nên, người này dễ lầm nhận giữa hai cái thấy…

Hỏi: Phật Đạo có hai thuật ngữ “Giác, Quán”, xin hỏi ý nghĩa đích thực của hai thuật ngữ này là gì?
Đáp: Giác, Quán là hai thuật ngữ chuyên dụng của Phật Đạo. Hai thuật ngữ này, giúp người tu hành điều phục tâm, nhằm đưa tâm đạt mục tiêu đề ra.
- Giác: Thuộc về nhận thức.
Ví dụ: Người tu hành nhận thức rằng, ba cõi chỉ do mê tâm lập thành, chứ thực tế bản chất của tâm tự nó không có ba cõi.
Ví dụ: Người tu hành nhận thức rằng, bổn lai chúng sanh không tâm, vì không tâm nên tạm gọi là chân tâm.
Ví dụ: Người tu hành nhận thức rằng, các pháp tự nó không tánh, tự nó thanh tịnh, nếu mê pháp sẽ bị pháp trói buộc...
Ví dụ: Người tu hành nhận thức rằng, tất cả các pháp chỉ từ hiểu biết này sanh ra, bản lai tự hữu tình không pháp...
Tóm lại, những nhận thức nào của người tu hành đúng với tinh thần Phật Đạo gọi là “Giác”.
- Quán: Thuộc về suy xét, phân tích, tìm kiếm.
Ví dụ: Người tu hành suy xét, phân tích, tìm kiếm những gì thuộc về Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới.
Ví dụ: Người tu hành suy xét, phân tích, tìm kiếm những gì là “bất thiện pháp” có khuynh hướng làm mê tâm này.
Ví dụ: Người tu hành suy xét, phân tích, tìm kiếm những gì là “ác pháp” có năng lực làm chướng Niết Bàn.
Ví dụ: Người tu hành suy xét, phân tích, tìm kiếm... những gì Phật Đạo gọi đó là “pháp”, và thấy được ý nghĩa thật sự của “một pháp”...
Ví dụ: Người tu hành suy xét, phân tích, tìm kiếm... pháp này từ đâu sanh, và nó có nguy hại gì cho con đường tìm về cứu cánh (không pháp)...
Nói chung, những hành động nào của ý căn, giúp người tu hành nhận ra “điều gì đã làm cho ta không thấy được cứu cánh như thật” trong Phật Đạo thì gọi là “Quán”.
Hỏi: Ngoài việc dùng Pháp Quán của ý căn nhằm soi xét, phân tích, tìm kiếm bất thiện pháp, ác pháp và chướng đạo, người tu hành có còn dùng nó để tìm kiếm, suy xét, phân tích những gì thuộc về thiện pháp, thiện đạo hay không?
Đáp: Tất nhiên là người tu hành phải dùng cả hai pháp Giác và Quán để thấy biết được những gì là thiện, thuộc về thiện pháp và nhận thức con đường nào là thiện đạo. Vì thế mới có Thiện Giác Quán và Ác Giác Quán.
Hỏi: Thế nào là Thiện Giác Quán và thế nào là Ác Giác Quán?
Đáp:
- Thiện Giác Quán: Là những Giác Quán nào có năng lực giúp người tu hành thành tựu cứu cánh như pháp trước mắt.
Ví dụ: Người tu hành hướng tâm đến từ bỏ năm dục để ra khỏi Dục Giới. Và người này suy xét, tìm kiếm, phân tích những gì Phật Đạo gọi là dục, những gì thuộc về dục, đem tâm từ bỏ nó. Cho đến khi nào tâm không còn bị trói buộc bởi dục nữa, đó gọi là Thiện Giác Quán.
- Ác Giác Quán: Là những Giác Quán nào đi ngược lại cứu cánh của Phật Đạo. Khi tâm ý khởi lên, Giác Quán này làm trở ngại cứu cánh, hoặc có khuynh hướng làm trở ngại cứu cánh trước mắt, đối với người tu hành trong Phật Đạo.
Ví dụ: Người tu hành do hiểu biết sai lệch nên có nhận thức rằng, muốn được cứu cánh an vui, phải là người đầy đủ các dục, phải được trưởng dưỡng bởi năm dục. Do nhận thức như thế nên ý căn của vị này luôn luôn suy xét, phân tích, tìm cầu các thiện pháp nơi dục và tâm vị này thích thú với vị ngọt của các dục. Chính sự tìm cầu, suy xét, phân tích và tâm thích thú vị ngọt của dục (cho rằng dục là thiện) đã làm người tu hành này không thể ra khỏi trói buộc của dục, không thể đắc thành cứu cánh trước mắt thoát ly Dục Giới. Hành động này Phật Đạo gọi là Ác Giác Quán.
Hỏi: Xin giải thích về ba Tam Muội: Có Giác có Quán, Không Giác có Quán, Không Giác không Quán.
Đáp: Ba Tam Muội này khi thành tựu sẽ đưa đến cứu cánh “Bất Động Giải Thoát”. Và, tiến trình để người tu hành thành tựu Bất Động Giải Thoát phải lần lượt trải qua ba giai đoạn sau:
- Tam Muội có Giác có Quán: Người tu hành sau khi nhận thức thế nào là Bổn Tâm, vị tu hành này hướng nguồn tâm về đúng với nhận thức đã có, gọi là Giác. Trong quá trình hướng tâm như thế, các ác pháp, bất thiện pháp và chướng đạo khởi lên.
Vị này suy xét, phân tích, tìm kiếm những nguy hại của các ác pháp, bất thiện pháp và chướng đạo này. Sau khi thấy được như thế, vị này nhất tâm làm cho ác pháp, bất thiện pháp và chướng đạo tịch diệt, gọi là Quán. Khi pháp quán thành tựu, pháp quán tự xả. Vị này ở yên nơi Bổn Tâm thanh tịnh gọi là thành tựu Tam Muội có Giác có Quán.
- Tam Muội không Giác có Quán: Tuy đã biết thế nào là Bổn Tâm, nếm được một chút ý vị thanh tịnh. nhưng tập khí, thói quen, nhiễm ô vô thủy còn thừa sót lại, vì thế các pháp và ưu phiền tâm vẫn còn sanh khởi. Chính các pháp và ưu phiền tâm sanh khởi, làm cho người tu hành không thể hoàn toàn thể nhập Giác Tâm.
Giống như người ngủ mê chợt tỉnh, nhưng chưa hoàn toàn tỉnh hẳn nên không biết mình là ai, đang ở đâu. Vị tu hành này suy xét, phân tích, tìm kiếm lại những pháp và ưu phiền này từ đâu sanh, bổn lai một hữu tình có những thứ này hay không. Quán như thế đến bao giờ ưu phiền và các pháp hoàn toàn tịch diệt, thể nhập vào “bản lai không tâm không pháp”. Làm như vậy, Phật Đạo gọi là tu Tam Muội không Giác có Quán.
- Tam Muội không Giác không Quán: Là cảnh giới của người thể nhập Diệt Đế thành tựu hai Vô Ngã, chứng Bất Động Giải Thoát. Vị tu hành này hoàn toàn thể nhập Diệt Đế, thành tựu hai Vô Ngã, chứng Bất Động Giải Thoát.
Tâm vị này hoàn toàn Bất Động, ý vị này rốt ráo Giải Thoát nên gọi là vị này chứng Tam Muội không Giác không Quán. Giống như một người lưu lạc phương xa, chịu cảnh khốn cùng, nay về đến quê xưa, tâm không còn lo sợ, ý không còn toan tính, an vui thanh thản.
Tóm lại, ba Tam Muội nói trên giúp người tu hành chứng Diệt Đế, thể nhập Bất Động Giải Thoát ra khỏi mọi chủng tánh, thành tựu Vô Vi chủng tánh. Vị này từ đây vĩnh viễn chấm dứt Giác Quán. Giống như người học trò đã giải được bài toán khó, tâm không còn lo sợ, ý không còn tìm cầu cách giải. Vị tu hành sau khi lần lượt trải qua ba phép tu như vậy giống như người đã giải hoàn hảo bài toán ba cõi. Kết quả tìm được giống như kết quả của đáp án. Kết quả của đáp án chính là “Thức Tự Bổn Tâm”.
Hỏi: Vì sao ba phép tu này gọi là Tam Muội?
Đáp: Gọi là Tam Muội vì rằng, vị này sau khi thành tựu ba phép tu nói trên, tuy biết rất rõ thế nào là Bất Động Giải Thoát. nhưng chỉ “Kiến Thiệt Tế” chứ không “Chứng Thiệt Tế”.
Do biết được con đường của Phật Đạo ở phía trước còn rất dài nên vị này không dừng trụ ở đó. Và vì “nguyện xưa” nên vị này một lần nữa Phát Tâm Vô Thượng Bồ Đề cầu học những quả vị cao hơn.
Hỏi: Nếu người tu hành biết được Bổn Tâm, thể nhập Bất Động Giải Thoát, từ đây vĩnh viễn chấm dứt Giác Quán thì lấy gì để phát khởi tu học tiếp?
Đáp: Sau khi thấy được Bổn Tâm, chứng Bất Động Giải Thoát, vị này vĩnh viễn chấm dứt Giác Quán.
Người tu hành này còn một giai đoạn nữa đó là “Kiến Tánh”. Sau khi Kiến Tánh, Tánh Giác sẽ có chức năng thay thế ý thức trong công việc học tập.
Sự học tập và suy xét của giai đoạn này thuộc về Tánh Giác chứ không phải của ý thức. Có nghĩa rằng, những gì của ý thức không thể tiếp cận các cảnh giới sau này.
Vì thế kinh Phương Đẳng thường hay có cụm từ “Bất Khả”. Ví dụ như: “Bất khả tư nghì”, “Bất khả suy lường”… Các cụm từ này nhằm cảnh báo và giúp người tu hành loại khỏi nguy cơ dùng ý thức để xâm nhập cảnh giới xuất thế.
Hỏi: Xin hỏi, khác biệt giữa sự nhận biết của Tánh Giác và ý thức là như thế nào?
Đáp: Sự nhận biết giữa Tánh Giác và ý thức khác nhau rất xa. Mỗi thứ có một đặc điểm của nó:
Tánh Giác: Thấy thật tướng.
Ý thức: Thấy hư vọng tướng.
Tánh Giác: Vì thấy thật tướng nên biết rất rõ thế nào là chánh, thế nào là tà. Vị này không thể lẫn lộn hai thứ chánh tà được.
Ý thức: Vì thấy hư vọng tướng nên hay sanh hư vọng phân biệt, sanh hư vọng Giác Quán, vì thế hư vọng tâm sanh khởi, đưa đến không biết chân thật điều gì là chánh, điều gì là tà, điều gì thuộc về đời, điều gì thuộc về đạo. Cho nên, cái thấy của ý thức thường đưa đến nhầm lẫn hai thứ nói trên.
Tánh Giác: Thấy là thấy ngay, không phải thông qua suy lường. Vì thế, cái thấy của Tánh Giác luôn luôn cho ra an
Ý thức: Sau khi thấy, phải nhờ đến suy lường mới biết rõ. Vì thế trong cái suy lường sẽ khiến ta không được an vui, hay sinh mệt mỏi chán nản.
4.a. Tánh Giác: Là một cái thấy biết nào đó không có sự hiện hữu của Ngã. Vì thế, người thấy bằng Tánh Giác luôn luôn cho ra kết quả an nhiên, tịch tĩnh, của trạng thái đắc thiền định. Giống như nạp không khí vào hư không, dù nạp, nén thế nào hư không cũng không tăng, không giảm, không có chủ thể đón nhận. Vì thế, cái thấy của Tánh Giác không đưa đến việc “mất cân bằng trong đời sống”!
4.b. Ý thức: Cái thấy luôn kèm theo bóng dáng của ngã. Vì thế, cái thấy này không có an nhiên, tịch tĩnh, luôn trong tâm trạng muốn chứng minh, muốn giải nói, muốn người khác biết được mình đã thấy như vậy. Giống như nén không khí vào một quả bóng, nếu tiếp tục nén, quả bóng này sẽ nổ hoặc sẵn sàng nổ bất cứ lúc nào. Để một thời gian, nếu không nạp tiếp, quả bóng sẽ tự xẹp vì mất cân bằng áp suất trong và ngoài quả bóng, dẫn đến không khí thẩm thấu ra bên ngoài. Cho nên, cái thấy của ý thức luôn luôn làm cho “đời sống mất cân bằng”.
Tánh Giác: Sẽ cho ra một cái thấy vô hạn. Vì thế cái thấy của Tánh Giác sẽ đưa đến “Trí Tuệ Vô Thượng” trong vị lai.
Ý thức: Một cái thấy hữu hạn (thuộc nghiệp). Giống như việc học thế gian, nên nó luôn luôn xảy ra những mặt đối lập trong chính tự thân cái thấy. Vì thế, không đưa đến thành tựu rốt ráo Niết Bàn, thậm chí hay sanh muộn phiền.
Tánh Giác: Là cái thấy bản nhiên nên cái thấy này giải bài toán cuộc đời không thông qua đấu tranh, một cái thấy tích cực. Vì thế trong cái thấy này không đưa đến “mâu thuẫn nội tại”.
Ý thức: Cái thấy có chứa mầm mống của ngã và đấu Vì thế, cái thấy này sẽ giải quyết bài toán cuộc đời và Đạo Pháp theo hướng tiêu cực, luôn luôn ẩn chứa mầm mống của mâu thuẫn nội tại. Cho nên, kết quả của nó ở vị lai là không an vui và nhất định có đấu tranh.
Nói chung, thấy biết của Tánh Giác và Ý Thức có rất nhiều điểm khác biệt. Căn cứ vào những khác biệt này, người tu hành có thể tu tập và chọn lựa cho mình một cái thấy như pháp. Nếu không biết điều này, lầm nhận giữa ý thức và Tánh Giác khi thấy biết là điều không thể tránh khỏi.
Hỏi: Người tu hành có thể lựa chọn cho mình một cái thấy hoặc là Tánh Giác hoặc là ý thức hay sao?
Đáp: Giống như nước chưa hoàn toàn lóng trong và còn một chút nhiễm ô, thì thứ nước này vừa trong vừa sạch, vừa đục vừa nhơ...
Giác Ngộ có nhiều tầng bậc, có cạn có sâu. Vì thế, người tu hành nếu chưa viên mãn, sẽ có trong họ hai thứ nhận thức. Đó là, một ít thiện một ít ác, một ít trí một ít ngu. Vị tu hành này, vừa thấy Tánh Giác cũng còn một phần thừa sót của ý thức… Cho nên, người này dễ lầm nhận giữa hai cái thấy…
Giống như ví dụ trong Kinh Niết Bàn: “Có người đi vào lúc trời chập choạng tối, đằng xa là một dãy đen ngòm, người này không biết đó là đàn trâu hay dãy núi…”. Cái thấy của người chưa viên mãn Trí Tuệ cũng như vậy.
Cho nên mới nói, tuy hai thứ vô minh là căn bản và nhuận chi, mặc dù đã dứt, nhưng vô minh trụ địa thì hãy còn. Giống như lòng đỏ và lòng trắng của quả trứng đã bị nấu chín, không thể thành tựu một con gà con được nữa, nhưng “vỏ trứng hãy còn”. Vô minh trụ địa, chính là cái nôi ý thức đã làm nên và nuôi lớn hữu tình bao đời nay.
Vì thế, mặc dù đã Giác Ngộ, nhưng sự lẫn lộn giữa ý thức và Tánh Giác trong thấy biết là điều người tu hành rất khó đoạn dứt (trừ người ở yên nơi thật tế cho đến viên mãn quả vị). Cho đến chừng nào, Trí Tuệ thật sự đơm hoa kết trái, chừng ấy ý thức mới có thể tịch diệt vĩnh viễn.
Tóm lại, những sai biệt nêu trên chính là bảng tham chiếu giữa Trí và Ý. Có được công cụ này, sẽ giúp việc tu hành hoàn thiện hơn, tránh tìm cầu nơi những điều vô ích.
Như Thế Nào Được Gọi Là Vị Có Trí Tuệ Trong Phật Đạo?
Cũng giống như những người có Trí Tuệ trong thế gian. Một người được coi là có Trí Tuệ trong Phật Đạo, là người “biết hướng những người khác, như pháp từng bước đạt được mục tiêu cuối cùng của Phật Đạo”.

Hỏi: Lâu nay nghe nói nhiều đến Trí Tuệ trong Phật Đạo. Xin hỏi, như thế nào được gọi là một vị có Trí Tuệ trong Phật Đạo?
Đáp: Cũng giống như những người có Trí Tuệ trong thế gian. Một người được coi là có Trí Tuệ trong Phật Đạo, là người “biết hướng những người khác, như pháp từng bước đạt được mục tiêu cuối cùng của Phật Đạo”.
Hỏi: Xin hỏi, làm thế nào để biết được mục tiêu của người đang đi là đúng như pháp?
Đáp: Có ba điều, giúp vị tu hành biết được con đường mình đang đi là đúng như pháp.
- Đối với tự thân: Như người bệnh kinh niên sau thời gian đi tìm đã gặp đúng thầy, đúng thuốc. Bệnh nhân đó sau mỗi lần uống thuốc, bệnh tình thuyên giảm rõ rệt và cuối cùng hết bệnh, trở nên hoàn toàn khỏe mạnh.
- Bệnh giảm: Chỉ cho phiền não khổ giảm dần dẫn đến chấm dứt.
- Hết bệnh: Chỉ cho biết được Bổn Tâm, thấy được Bổn Tánh.
- Hoàn toàn khỏe mạnh: Chỉ cho việc thành tựu Trí Tuệ.
- Đối với Giáo Pháp: Cứ sau mỗi lần chuyển biến, người tu hành này càng đọc kinh điển càng thấu suốt, càng ham thích, dần dần được nuôi lớn bằng Giáo Pháp.
Giống như khi trồng bí hay bầu, người ta lấy cái thúng có khoét một lỗ, chụp kín cây này lại. Thời gian sau, bí bầu tuy vô tri vô giác nhưng sẽ theo cái lỗ đã khoét, thoát ra khỏi cái thúng để hướng đến mặt trời. Dây bí bầu ví như người tu hành như pháp. Cái thúng ví như ba cõi khổ. Bị che kín ví như vô minh che khuất. Cái lỗ ví như Giáo Pháp. Hướng đến mặt trời ví như người tu hành như pháp Giác Ngộ thuận theo dòng Giác.
- Đối với cộng nghiệp: Người này chỉ thích gần gũi cộng đồng Vô Lậu, chán ghét những gì thuộc về hữu lậu, giống như con cá chỉ thích sống dưới nước. Còn nhiều biểu hiện nữa của một người tu tập như pháp và thành tựu như pháp. Nhưng có thể nói, ba điều trên là những nét đặc trưng nhất.
Hỏi: Ông có lời khuyên hay nhắc nhở nào, để người tu tập hướng đến Trí Tuệ không bị sai lệch?
Đáp: Có rất nhiều điều mà một người tu hành trên con đường hướng đến Trí Tuệ phải chú ý. Không chú ý hoặc không biết những điều này, sẽ khó thành tựu Trí Tuệ. Những điều đó là:
Thứ nhất: Khi trao đổi, trình bày Giáo Pháp, giống như người thầy giáo dạy học trò, cần dạy cái học trò cần, chứ không dạy những điều ông thầy có.
Thứ hai: Đối trước người thính pháp phải biết rằng, người thính pháp đến với mình để được nâng cao trí thức và tự thân người đó thấy họ thật sự giỏi lên. Chứ không phải họ đến để thấy mình là người thuyết pháp hay hoặc để khen mình là người thuyết pháp giỏi. Phật Giáo là nền Giáo Dục. Vì thế, người thính pháp đến Đạo Tràng vì nhu cầu học tập và trưởng thành qua sự học tập này.
Thứ ba: Phải tâm niệm trong đời không có ông thầy được gọi là “thầy giáo giỏi”. Mà chỉ có người thầy biết làm cho học trò của mình ngày một giỏi lên, đây mới đích thị là “người thầy giỏi”.
Hỏi: Ngoài những điều nêu trên, còn phải làm gì nữa để thành tựu Trí Tuệ?
Đáp: Tất nhiên muốn thành tựu Trí Tuệ trong Phật Đạo không chỉ có những điều đã nêu mà có còn rất nhiều yếu tố khác nữa.
Đó là, tự thân phải thông thuộc Giáo Pháp.
Tự thân phải thành tựu những gì cần thành tựu.
Phải là người biết dấn thân.
Phải là người biết chia sẻ lợi ích vì người khác.
Và là người, trong tâm chỉ tích chứa “Từ, Bi, Hỷ, Xả”, chứ không tích chứa những thứ khác.
Thông báo bài viết mới
Xin chào Quý Đọc Giả,
Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.
https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/tho-ca-thoi-dich-dat
Trân trọng,
Bùng Vỡ Tâm Thức, Thành Tựu Thật Trí, Giáo Thọ, Giáo Thọ Sư Ý Nghĩa Là Gì?
Kinh Hoa Nghiêm chính là nguồn sáng của mặt trời Trí Tuệ. Người tu hành trong giai đoạn nào đó, không đọc tụng, không nghiền ngẫm, không thấu suốt tinh thần kinh này thì “chưa thể nói rằng người này có cơ may chạm một tay vào cửa Thật Trí.”

Hỏi: Mấy hôm nay, tôi và một số huynh đệ của mình đọc tụng, tư duy Kinh Hoa Nghiêm để mong tìm ra chiếc chìa khóa nằm trong cuốn kinh này. Nhưng, hầu như tất cả kết luận của mọi người đều chưa thỏa đáng. Có nghĩa rằng, mọi người đều dùng cách tư duy rập khuôn, tức là lấy tri kiến, lấy chỗ thành tựu của chính mình để nhìn về bộ kinh.
Vì thế, lý giải thì nghe có lý, nhưng vẫn còn có điều gì đó nằm trong cái nhìn của “giáo” hơn là cái nhìn của “trí tuệ”.
Xin hỏi, muốn bứt phá để thấy được ý nghĩa đích thực của bộ kinh (Hoa Nghiêm) này phải giải quyết như thế nào?
Đáp: Như đã nói, chính cái “mê trận thần thánh” trong phần vân tập nên bộ kinh này phải chịu “nghi án ngụy thuyết”. Còn lại, toàn bộ những điều được chép trong phần sau của kinh, đích thị là Phật Pháp. Điều này không cần bàn luận. Vấn đề đặt ra là, chúng ta tư duy như thế nào để sáng tỏ nghi án này, trả lại những gì tốt đẹp vốn có của bộ kinh.
Mở đầu Kinh Hoa Nghiêm như đề của một bài toán khó, tất cả các dữ kiện đều được ẩn dấu, có tính đánh đố người đọc.
Khi anh chưa tìm ra các dữ kiện thì việc giải một bài toán khó sẽ chẳng bao giờ thành công.
Thông thường, chúng ta giải quyết một vấn đề của Phật Đạo theo kiểu lối mòn công thức. Có nghĩa là, người đọc lấy kiến thức của mình để kết luận ý nghĩa bài kinh. Kết luận này không sai, nhưng chưa thể gọi là đúng với cách tiếp cận Kinh Phương Quảng. Chính lối mòn và cách tư duy lấy “giáo để kết luận về trí” chỉ đúng với những gì của “giáo” nhưng sẽ phản tác dụng khi xâm nhập lãnh vực “trí tuệ”.
Có nghĩa rằng, muốn xâm nhập lãnh vực thuộc về Trí Tuệ (Đại diện là Kinh Phương Quảng), điều đầu tiên, anh phải bỏ những gì thuộc về giáo xuống, tức là những cái thuộc về tri kiến, thuộc về thành tựu, không được coi như một lăng kính hữu hiệu để nhìn thấy và giải quyết mọi vấn đề thuộc về Phương Quảng. Chỉ tiếp cận trên tinh thần này, may ra anh mới có thể hiểu một chút gì đó đích thực trong những điều Kinh Phương Quảng trình bày.
Nó giống như người học trò giải một bài toán khó. Nếu cứ tiếp cận đề toán theo kiểu rập khuôn thông thường, anh ta sẽ chẳng bao giờ giải quyết được bài toán ấy, thậm chí nhiều khi chính cách tiếp cận này lại trói bắt anh ta quay cuồng trong các dữ kiện cứng nhắc. Một bài toán khó, hữu hạn của thế gian, muốn giải được nó còn cần đến một phương pháp tiếp cận mang tính đột phá. Huống chi, bài toán vô hạn của Kinh Phương Quảng nhất định ta phải có “cách tiếp cận khác” mới hy vọng tìm ra một chút manh mối nào đó.
Hỏi: Vì sao đề tài Kinh Hoa Nghiêm được thảo luận, được mổ xẻ vào lúc này mà không phải lúc khác?
Đáp: Đã qua rồi giai đoạn “uống nguồn sữa giáo” để nuôi sống tự tâm. Đây là lúc người tu hành bắt đầu làm quen với Trí Tuệ. Làm quen với cách tiếp cận mới, cách tư duy mới, quen với nhận định bối cảnh để có thể tạo một đương cơ tốt nhất trong mọi bối cảnh. Hầu vị lai ứng dụng để thành lập một số phương tiện tốt nhất, đúng thời, đúng cơ.
Nếu để ý một chút, ta sẽ thấy rằng, hầu như Kinh Phương Quảng được xây dựng trên bối cảnh văn hóa đa thần của Bà La Môn. Cũng chính điều này, phần lớn Kinh Phương Quảng được cho là của Bà La Môn ngụy thuyết. Tất nhiên, ý kiến này là của những người chỉ dựa trên lịch sử và văn hóa để phán định chứ không thuộc về những người thấu suốt Phật Đạo. Nhưng ít nhiều gì, những ý kiến này cũng có một phần nào đó tác động đến người tu hành trong hiện tại. Vì thế, hiểu được vì sao kinh lại xây dựng trên bối cảnh như thế, nhất định sẽ minh oan cho những bộ Kinh Phương Quảng và “nếu khéo phương tiện, có thể đưa người đến Thật Trí”.
Con đường vào Thật Trí, “lìa mê lìa giác”. Có nghĩa rằng, anh dùng mê hay giác xâm nhập ý nghĩa của Kinh Phương Quảng đều không cho ra kết quả đúng nhất. Kinh Phương Quảng là loại Kinh Bác Học (vượt quá nhận thức của một học trò). Vì thế, ngoài việc am tường kiến thức, anh phải vượt khỏi cái sâu của giác và những gì thuộc về giáo. Chiều sâu của giác, nền tảng của giáo chỉ là sức mạnh của cường độ ánh sáng, chứ nó không phải là nguồn sáng. Nói khác hơn, nó chính là ảnh tượng của tri kiến chứ chưa phải của Trí Tuệ.
Trở lại đề tài chính, Kinh Hoa Nghiêm chính là nguồn sáng của mặt trời Trí Tuệ. Người tu hành trong giai đoạn nào đó, không đọc tụng, không nghiền ngẫm, không thấu suốt tinh thần kinh này thì “chưa thể nói rằng người này có cơ may chạm một tay vào cửa Thật Trí.” Chỉ trong quyển một, từ “Phẩm Đại hội Vân Tập” đến những bài tụng kế tiếp phía sau, mỗi câu, mỗi chữ, mỗi bài tụng đều ẩn chứa vô số điều khai mở Trí Tuệ.
Trong từng câu, từng chữ, từng bài tụng ấy, anh chưa am tường hết vì sao kinh nói như vậy, nói như vậy để làm gì thì chưa thể gọi là “kẻ bước vào Đạo Đế”. Mà cửa Đạo Đế chưa mở, chưa lấy “Trí làm Đế” thì cơ hội hình thành “một vụ nổ Big Bang tâm thức” sẽ khó xảy ra.
Tóm lại, mỗi thứ đều có nhân duyên của nó, mà nhân duyên thì chưa thể nói bằng lời theo kiểu bạch văn. Nhưng nếu ta chịu khó để ý vì sao Kinh Hoa Nghiêm được Phật tuyên thuyết ngay sau khi vừa thành Đẳng Chánh Giác, rồi lại xuất hiện thực tế đúng vào thời Bồ Tát Long Thọ - thời kỳ được coi như mở màn cho giai đoạn “giải thoát kiên cố”, nằm đúng điểm khởi đầu của tượng pháp thì ta có thể lần ra manh mối của nhân duyên vì sao hôm nay, chúng ta lại tiếp tục mổ xẻ, nghiền ngẫm Kinh Hoa Nghiêm.
Và cuối cùng, trong hiện tại này, nếu bạn thông suốt Hoa Nghiêm, xây dựng được một phương thức tiếp cận mới, phương thức tiếp cận này phải vượt trên giác và giáo, nhất định bạn sẽ mở tất cả mọi cánh cửa phương tiện của Phật Đạo đằng sau lớp vỏ ngữ ngôn của kinh điển.
Hỏi: Nếu một đời tu hành, mà không thấu suốt Kinh Hoa Nghiêm cũng như chưa thấy rõ ý nghĩa thật sự của các bộ Kinh Phương Quảng, thì người tu hành này thì thiệt thòi những gì?
Đáp: Nếu người tu hành đúng như Chánh Pháp, mà chưa thấu suốt Kinh Phương Quảng thì rất khó để người ấy có lần cuối cùng như pháp “bùng vỡ tâm thức” và thành tựu Thật Trí.
Hỏi: Nếu không một lần như pháp để “bùng vỡ tâm thức” mà thành tựu Thật Trí thì con đường tu tập của họ sẽ như thế nào?
Đáp: Nếu vậy, người này chỉ đủ sức làm tròn sứ mệnh của một “Giáo Thọ Sư”.
Hỏi: Giáo Thọ Sư có giống như một Giáo Thọ bình thường mà ta thường gặp hay không?
Đáp: Tất nhiên là khác xa. Giáo Thọ ở đời chưa Giác Ngộ nên chỉ là Giáo Thọ thế gian.
Còn người tu tập đúng Chánh Pháp có Giác, có Ngộ. Nhưng chưa đủ duyên lành, chưa đúng thời cơ để bùng nổ tâm thức, thì vị này xứng danh địa vị Giáo Thọ Sư, chứ không dừng lại ở nghĩa Giáo Thọ thế gian.
Ẩn Khuất Cần Sáng Tỏ Trong Kinh Hoa Nghiêm
Ngày vừa Giác Ngộ, tôi đã bỏ thời gian dài để đọc Kinh Hoa Nghiêm, rồi đánh dấu, ghi chú chi chít trên cuốn kinh này. Từ đó tôi nắm được gần như toàn bộ chỉ thú của Kinh, thấy được trọn vẹn những gì Thế Tôn đã gởi gắm trong đó cho các Bồ Tát.

Hỏi: Bây giờ là ba giờ sáng. Đúng ba giờ, không hơn không kém, đánh thức dậy trong thời điểm giữa khuya, là một điều chẳng nên làm. Nhưng, sanh tử là đại sự, Trí Phật thâm sâu khó lượng định. Nếu để thời gian trôi qua vô ích bởi ngủ nghỉ, mà chưa sáng tỏ những gì cần sáng tỏ, thì ngủ nghỉ này là chướng Đạo. Chư Phật, Bồ Tát, Hiền Thánh Tăng không hoan hỷ. Vì thế, xin mạn phép nửa đêm được hỏi những điều chưa thông. Những điều còn ẩn khuất mơ hồ ấp ủ trong lòng. Với mong muốn, điều gì chưa thông nhất định phải thông, điều gì còn mơ hồ cần phải sáng tỏ.
Có thông suốt và sáng tỏ mọi thứ, mới có thể trả lại sự minh bạch ẩn chứa sâu thẳm trong văn tự ngữ ngôn của Kinh điển. Trong những thâm u này, ngoài kia người ta còn hoài nghi về Giáo Pháp do bởi chưa thông, do bởi còn mơ hồ! Xin vui lòng, giải đáp những ẩn khuất này!
Đáp: Tôi biết! Tôi biết! Bản thân mình cũng rất mong muốn giải mã những ẩn khuất của văn tự, ngữ ngôn trong Kinh Tạng Phương Quảng. Có gì thắc mắc, xin cứ nêu lên để cùng được chia sẻ!
Hỏi: Trong cuộc đời tu tập, dấu ấn nào cho ông những xúc động mãnh liệt nhất?
Đáp: Trong cuộc đời tu tập của mình, không biết bao nhiêu lần tôi xúc động mạnh trước những lời giáo dạy của Thế Tôn. Nhưng có lẽ, lần xúc động mà tự thân không thể nào quên, đó là thời điểm tự thân giải mã được những u uẩn của Kinh Hoa Nghiêm.
Hỏi: Vì sao giải mã được những ẩn khuất của Kinh Hoa Nghiêm lại làm ông xúc động mạnh?
Đáp: Ngày vừa Giác Ngộ, tôi đã bỏ thời gian dài để đọc Kinh Hoa Nghiêm, rồi đánh dấu, ghi chú chi chít trên cuốn kinh này. Từ đó tôi nắm được gần như toàn bộ chỉ thú của Kinh, thấy được trọn vẹn những gì Thế Tôn đã gởi gắm trong đó cho các Bồ Tát.
Nhưng, vì sao Kinh lại chọn bối cảnh là nơi Phật vừa thành Đẳng Chánh Giác ở nước Ma Kiệt Đề để dựng lập đạo tràng. Trong đạo tràng đó lại có vô số Bồ Tát, vô số chủ Thần, chư Thiên, Ma, Vương vân tập và xưng tán Phật cảnh giới cũng như tuyên thuyết các Giải Thoát môn. Điều này, lúc đó tôi hoàn toàn chưa sáng tỏ, và bối cảnh cũng như những ngữ ngôn của kinh đã khiến nhiều người hoài nghi về bộ kinh này. Thậm chí có người còn cho rằng, kinh này do Bà La Môn dựng nên, không phải của Phật thuyết.
Mặc dù khi đó, tôi biết rất rõ, đây là Kinh giáo Đại Bồ Tát, vì thế ngữ ngôn và đạo tràng không phải dễ hiểu. Tuy biết là như vậy, nhưng tự thân chưa thể đủ cơ sở lý luận và chứng minh kinh này chính là ngôn âm của Chư Phật. Và đã là một Phật Tử, những gì còn hồ nghi, những gì còn chưa sáng tỏ, nhất định phải tìm cho ra sự thật. Với tâm trạng này, tôi đã rất bình tĩnh, không hồ đồ, không chủ quan, không kết luận những phê phán ngoài kia là đúng hay sai, khi tự thân mình chưa giải mã được tất cả.
Thế là, nhiều năm tháng, tôi âm thầm đọc tụng, chiêm nghiệm, tư duy. Và cuối cùng, công sức bỏ ra đã được đền đáp. Đây là lý do vì sao tôi xúc động mạnh, khi tự thân giải mã, tìm ra ý nghĩa thật sự của từng chữ, từng lời và tất cả bối cảnh thuộc về đạo tràng trong Kinh Hoa Nghiêm!
Hỏi: Ông đã giải mã như thế nào về Kinh Hoa Nghiêm?
Đáp: Những giây phút bùng vỡ đầu tiên về Kinh Hoa Nghiêm, tôi đã năm vóc gieo xuống đất, vô lượng lần đảnh lễ Chư Phật, vô lượng lần đảnh lễ Chư Đại Bồ Tát, vô lượng lần đảnh lễ chư Hiền Thánh Tăng. Vô lượng lần đảnh lễ ngài Long Thọ, người mà theo truyền thuyết đã có công xuống tận Long Cung để đọc và đem bộ Kinh này về chép lại.
Và cũng xin đảnh lễ những người đã hoài nghi tinh thần Phật Đạo trong bộ Kinh. Chính những hoài nghi này, là một trong những động lực thôi thúc tôi đi tìm ý nghĩa đích thực của bộ Kinh!
Tôi đảnh lễ vì nhờ đọc tụng, trăn trở nhiều ngày tháng để tìm ý nghĩa thật sự của Kinh, mà nay chính mình đã có trong tay chiếc chìa khoá để mở cửa và giải mã trọn vẹn bộ Kinh. Nhờ lần giải mã này, mà tôi biết chắc rằng những gì tự thân tu tập, cũng như những trao đổi cùng huynh đệ của mình trong mấy năm qua, không sai lệch, không đi xa, không sai sót một mảy may. Đúng với tinh thần của Phật Đạo!
Hỏi: Như vậy, những ngày trước khi giải mã làm sáng tỏ những gì còn ẩn khuất trong Kinh Hoa Nghiêm. Về tu tập tự thân, cũng như triết lý Phật Giáo đã trao đổi với huynh đệ ông còn hoài nghi chăng?
Đáp: Tôi hoàn toàn không có gì hoài nghi về mình, không hoài nghi những gì mình đã trao đổi. Thậm chí còn biết chắc những gì mình dấn thân là hoàn toàn đúng với Phật Đạo.
Nhưng, cái của hai ngàn năm trước thuộc về Giáo Pháp, đến nay chưa minh bạch, thì chưa thể nói rằng, làm một Phật Tử yên tâm về điều này.
Giống như người con, thừa hưởng gia tài của cha ông để lại, biết chắc rằng còn một kho tàng cuối cùng để ở trước mặt, tuy đã thấy đó, mà chưa đào bới lên được thì chưa gọi là yên tâm!
Vì thế, tôi không hoài nghi về mình, nhưng cũng chưa thể nói rằng, thật sự hoan hỷ khi chưa tận tay sở hữu tất cả những gì thuộc về khối tài sản cuối cùng này.
Tôi xúc động, trong tâm trạng này. Tâm trạng của người đào được tài sản cuối cùng, sở hữu được khối tài sản trước mắt.
Sở hữu khối tài sản cuối cùng này để chí ít cũng chứng minh với tự thân rằng, khối tài sản mà cha ông để lại đang nằm tại đây là thật có, là sự thật một trăm phần trăm chứ không phải là thứ ngụy thuyết của Bà La Môn như người ta vẫn thường suy nghĩ!
Hỏi: Xin hỏi lại một lần nữa. Ông đã giải mã và làm minh bạch được những gì từ Kinh Hoa Nghiêm?
Đáp:
- Thứ nhất: Tôi đã giải mã được vì sao Phật lại lập đạo tràng để diễn nói kinh này ngay nơi thành Đẳng Chánh Giác mà không dựng lập ở nơi khác và thực tế, đạo tràng này ẩn chứa ý nghĩa gì. Sau khi giải mã thành công, tôi mới biết chắc rằng, thắc mắc trên chính là đầu mối của mọi đầu mối để mở cửa Kinh Hoa Nghiêm. Chưa thấy được đầu mối này, sẽ vô phương đào sâu ý nghĩa nằm trong văn tự
Điều này giống như một hang động sâu thẳm chứa nhiều châu báu, nhưng cửa vào động lại bị lấp kín bởi một tảng đá. Cho dù có huy động đến vô lượng chúng sanh đầy đủ sức mạnh, vô lượng Nhị thừa thân tâm kiên cố, vô lượng Bồ Tát chưa thành tựu Thật Trí, thì cũng không thể động lay được tảng đá này.
Tảng đá đó chính là Pháp Giới Chư Phật. Cho dù có huy động hết thảy pháp giới chúng sanh, hết thảy pháp giới Nhị thừa, hết thảy pháp giới Bồ Tát chưa chứng Thật Trí cũng không thể làm động lay pháp giới Chư Phật. Đã không thể động lay được tảng đá này, mọi hy vọng vào trong đó để sở hữu khối tài sản vô giá của Liên Hoa Đài Tạng cũng như chiêm ngưỡng thân tướng của Đức Tỳ Lô Giá Na trở thành vô vọng.
Vì thế, cũng không có gì ngạc nhiên khi có nhiều người cho rằng kinh này được ngụy thuyết bởi Bà La Môn. Giống như ngày xưa, khi con người chưa khám phá mặt trăng thật sự, thì người ta cho rằng, trên đó chỉ là chuyện cổ tích của chú Cuội và chị Hằng!
Cái khó nhất của thế giới Hoa Nghiêm là tảng đá pháp giới Chư Phật chắn cửa. Xô dẹp được tảng đá này, hang ổ Hoa Nghiêm bày ra trước mắt, công việc còn lại chỉ là thong dong đi vào và nhặt từng món đồ trong đó để chiêm ngưỡng và tận mắt chứng kiến cũng như hiểu biết đích thực, những món đồ đó nó là cái gì.
- Thứ hai: Nếu giải mã được điều thứ nhất, sẽ giải mã toàn bộ ý nghĩa việc thánh chúng vân tập tại đạo tràng này với mục đích gì và nhân duyên gì lại có sự vân tập này.
Pháp giới của chư Thần, Ma, chư Thiên, các Vương, của Nhị thừa, Bồ Tát chưa thành tựu Thật Trí chính là những hoa báu, những ma ni báu... để chư Phật và các Đại Bồ Tát với trí tuệ của mình, dùng các thứ báu này kết thành mành lưới trang nghiêm, mà thiết lập nên đạo tràng. Vì thế, Liên Hoa Đài Tạng không thể thiếu các chúng này.
- Thứ ba: Nếu thấu suốt được phần hai, nhất định sẽ thấu suốt vì sao chư Thần, Ma, Vương, Thiên, Bồ Tát trước xưng tán Phật cảnh giới, sau đó tuyên thuyết các Giải Thoát môn, hai điều này có mối liên hệ gì. Phật cảnh giới và các Giải Thoát môn, nhờ đâu họ biết và có được.
Trong pháp giới Chư Phật, không có cột hay mở. Ngay nơi cột cũng chính là nơi để mở.
Đây là chiếc chìa khoá vạn năng làm nên Giáo Pháp ba thừa.
Cái gì làm ra Ma, Thần, Thiên, Vương, Nhị thừa và Bồ Tát chưa chứng Thật Trí thì nhất định phải mở từ nơi đó.
- Thứ tư: Cảnh giới và chiếc chìa khoá thật sự để mở cửa Phật Trí nằm ở đâu trong
Thập tín, thập nguyện, thập hạnh, thập hồi hướng, thập trụ, thập địa, đích thực là “giáo trình tiến tu của Bồ Tát”. Đây là con đường dẫn đến chiếc chìa khoá để mở cửa pháp giới Chư Phật. Các cảnh giới này có hiện ra là nhờ sức ảnh chiếu của thế giới Hoa Tạng. Chưa kinh qua những địa vị này, con đường đến với thế giới Hoa Tạng chỉ là hoang tưởng. Giống như người ta lần theo ánh sáng được phát ra từ cây đèn để về chỗ cây đèn.
- Thứ năm: Giải mã được các điều trên sẽ xác chứng những gì thuộc về giáo trình tu tập cũng như phương thức giáo hóa của một Bồ Tát, nếu trước đã thấu suốt, nay thêm minh bạch. Chính sự thấu suốt và minh bạch này làm cơ sở vững chắc giúp tự thân tu tập và trong quá trình giáo hóa nhất định không sai lệch với những gì Chư Phật đã dạy.
- Thứ sáu: Thiện Tài Đồng Tử đi cầu Nhất Thiết Trí chính là phần tổng kết. Tổng kết này có tính bổ sung, minh họa điển hình cho toàn bộ ý nghĩa người đi tìm viên Châu Ma Ni sắc tướng hải. Minh họa này dạy người tu hành biết cách thức lần theo sự ảnh chiếu của viên Ma Ni Châu.
Nói chung, Kinh Hoa Nghiêm chính là sắc màu của viên Châu Ma Ni sắc tướng hải được chiếu ra từ biển Đại Giác. Sức chiếu của viên Châu Ma Ni sắc tướng hải có thể chiếu xuyên qua các cảnh giới, dưới thấu Địa Ngục A Tỳ, trên tới trời Hữu Đảnh. Chiếu tận đến vô số Phật cảnh giới.
Những gì ẩn khuất của Kinh đã được tự thân giải mã. Xin trả lại sự minh bạch trong từng ý nghĩa, trong từng câu nói, trong từng cảnh giới, mà người xưa gởi gắm trong Kinh. Cho đến tận hôm nay, phần lớn người tu hành cứ ngỡ rằng, Kinh Hoa Nghiêm phải chịu số phận nghi án ngụy thuyết của Bà La Môn không có ngày sáng tỏ.
Nay, ít ra đối với tự thân, những ẩn mật trong Kinh tưởng như khó hiểu đã được hiểu rõ, các cảnh giới và văn tự trong đó không còn ẩn khuất đối với chính mình. Tự thân đối trước Chư Phật, đối trước Long Thọ Bồ Tát xin được nói lên rằng Kinh này đích thực là của Phật Trí, tuyên thuyết Phật cảnh giới, đã được Bồ Tát Long Thọ khéo vẽ lại thành “bức dư đồ khó hiểu”. Bức dư đồ khó hiểu có dụng ý, những ai đủ duyên đọc và hiểu được cái khó hiểu, sẽ là người may mắn nhất của những người may mắn khi tu tập trong Phật Đạo
Viết những dòng này, chính để tạ ơn Chư Phật, tạ ơn chư Bồ Tát, tạ ơn chư Hiền Thánh Tăng, tạ ơn Bồ Tát Long Thọ đã để lại “bức dư đồ khó hiểu”.
Và một lần nữa, xin được nói lên rằng: Bức dư đồ này, chứa trong đó chiếc chìa khoá bí ẩn.
Ngày sau, những ai giải mã được sự khó hiểu này và xô nổi tảng đá pháp giới Chư Phật đã chắn ngang miệng hang chứa kho tàng Pháp Bảo kia, nhất định người ấy tự biết rằng, mình là người Phật Tử may mắn nhất trong vô số Phật Tử của ngày hôm nay.
Giác Ngộ Để Bảo Vệ Đạo Tâm; Thiệt Tế; Kiến Thiệt Tế Là Gì?
Trong Phật Đạo, có nhiều lần Giác Ngộ, có nhiều cấp độ Giác Ngộ sâu cạn sai khác. Đối trước cuộc đời đầy vàng đá lẫn lộn này, nếu người tu hành không Giác Ngộ, tự họ bảo vệ đạo tâm còn không xong, làm sao có thể tiến đến những thành tựu cao hơn.

Hỏi: Nếu bảo rằng, khẩu hiệu trong Phật Đạo, có tính nhất thời, vì sao ngay trong hiện tại này, người tu hành phần lớn cũng lấy những khẩu hiệu của ngày xưa để làm phương châm tu tập? Ví dụ như khẩu hiệu “Kiến Tánh Thành Phật”.
Đáp: Nói rằng các khẩu hiệu trong Phật Đạo có tính giai đoạn vì những lý do sau:
- Ở mỗi thời kỳ, tâm cơ con người, hoàn cảnh tu tập khác Nếu không biết rõ tâm cơ người, hoàn cảnh tu tập trong thời điểm hiện tại là gì, cứ khăng khăng phải làm thế nào để đạt mục tiêu đề ra như chính yêu cầu khẩu hiệu của người xưa thì sẽ rất khó thành công. Ví dụ như khẩu hiệu “Kiến Tánh Thành Phật”, bản thân khẩu hiệu này không sai, thậm chí nó là một trong những yêu cầu bắt buộc người tu hành phải thành tựu. Nhưng chính khẩu hiệu này qua nhiều năm tháng, đã bị hiểu sai, thậm chí trở thành mục tiêu để người lạm dụng.
Nếu ta tiếp tục tung hô khẩu hiệu này mà bản thân không đủ năng lực thực hiện, vô hình trung tự đẩy mình và người tu hành vào hoang tưởng.
- Muốn thực hiện thành công khẩu hiệu Kiến Tánh Thành Phật, chí ít, người đề ra khẩu hiệu này phải thật sự Kiến Tánh. Còn ta đề ra khẩu hiệu như vậy mà bản thân không biết Kiến Tánh là gì thì làm sao thực hiện được. Giống như hô hào mọi người phải làm giàu, mà bản thân không biết cách kiếm tiền thì hô hào này có lợi ích gì.
Nếu một vị đã Kiến Tánh, biết cách giúp người Kiến Tánh thì họ sẽ không hô hào khẩu hiệu. Vì sao họ không hô khẩu hiệu? Vì họ biết chắc rằng để Kiến Tánh, người tu hành trước nhất phải trải qua những giai đoạn nào. Do biết như vậy, người này chỉ cần lần lượt dắt người hoàn thành từng giai đoạn tu tập. Khi các giai đoạn tu tập thành tựu rồi, không hô hào, Kiến Tánh cũng tự được.
- Nói giai đoạn là nói đến cái chung, khẩu hiệu trong giai đoạn nào đó giúp người tu tập không nhầm lẫn với cách tu tập của đạo khác. Ví như khi sang Đông, chư Tổ có y bát dùng khẩu hiệu Kiến Tánh Thành Phật. Khẩu hiệu này nhằm phân rõ chánh tà trong cách tu hành. chứ không nhất nhất buộc mọi người tu hành phải Kiến Tánh ngay tức thì. Vì thế, chớ có nhầm lẫn khẩu hiệu vì yêu cầu đối ngoại, mang tính chiến lược, thành phương châm tu học. Tất nhiên những vị đề ra khẩu hiệu đó, họ nói được và làm được. Do nói được làm được nên giá trị của khẩu hiệu trở thành phương châm tu hành, trở thành tôn chỉ và họ có năng lực biến khẩu hiệu thành hiện thực.
- Trong thời buổi này, nếu không Giác Ngộ thì trước vô số thông tin, người tu hành làm sao phân biệt được thông tin nào có lợi, thông tin nào tai hại, lời nào của người thật sự Kiến Tánh, lời nào của kẻ tiếm xưng. Nếu ta cứ nhắm mắt hô hào Kiến Tánh mà đúng sai của Đạo Pháp còn chưa rõ, thì khẩu hiệu này hô lên, có lợi ích gì? Vì thế mới nói, yêu cầu Giác Ngộ trong lúc này là việc làm quan trọng trước mắt, để giúp người tu hành sàng lọc chánh tà nhằm bảo vệ tự thân. Sau khi Giác Ngộ rồi, mới tính chuyện cao hơn.
- Chưa nói đến chuyện, bất kỳ khẩu hiệu, bất kỳ sự phát triển nào, cũng có những giai đoạn nhất định của nó. Các giai đoạn luôn luôn đi theo khuynh hướng từ phôi thai, đến đỉnh cao và sau đó là suy tàn cho đến không thể thực hiện được. Nay ta cứ khăng khăng lấy cái suy tàn, cái không thể thực hiện được, cái thuộc về ngày xưa, làm phương châm hành động cho hôm nay, thì làm như thế nào để đưa đến thành công. Phật sử cũng đã chứng minh điều này. Ví như Lục Tổ, trước khi Kiến Tánh cũng phải Giác Ngộ Bổn Tâm.
Và ngay chính Ngũ Tổ, tuy rất mong đồ đệ của mình Kiến Tánh, nhưng cũng đâu có thực hiện được với mọi người.
Và rồi, cho đến người cuối cùng nhận lãnh sứ mạng của y bát là Lục Tổ, cho dù có cố gắng hết sức duy trì khẩu hiệu Kiến Tánh Thành Phật, cũng đâu có thực hiện được khẩu hiệu này. Nếu thực hiện được, y bát đâu có phải thất truyền. Nếu khẩu hiệu này thực hiện được, những người kế thừa đâu phải lập Tông.
Hỏi: Khẩu hiệu Kiến Tánh Thành Phật và khẩu hiệu Giác Ngộ khác nhau chỗ nào?
Đáp: Hai khẩu hiệu này khác nhau ở mục tiêu ban đầu. Khẩu hiệu Kiến Tánh Thành Phật đưa thẳng người đến bờ mé Trí Tuệ. Khẩu hiệu Giác Ngộ giúp người thấy rõ bổn tâm trước.
Hỏi: Bổn Tâm và Bổn Tánh làm nhân quả của nhau, có nghĩa rằng thấy cái này sẽ thấy cái kia. Vì sao lại phải phân biệt, cần thấy cái này trước hay cần thấy cái kia trước?
Đáp: Đành rằng Bổn Tâm và Bổn Tánh không phải là hai, thấy cái này là nhân để thấy cái kia, nhưng một cái dễ thấy, một cái khó thấy; một cái chỉ cần nhìn ngang là thấy, một cái phải đứng từ trên cao mới thấy; một cái từ xa có thể thấy, một cái đến gần mới thấy được; một cái chỉ cần bóng dáng là xác định được, một cái phải đến tận nơi mới phân rõ đục trong.
Bổn Tâm như toàn bộ cái hồ, chỉ cần từ xa, là có thể thấy được. Bổn Tánh như mặt hồ, phải đến gần mới nhìn thấy.
Chưa nói đến chuyện hồ thì nhiều nhưng hết thảy đều nhiễm ô vẩn đục. Còn cái hồ yên tĩnh đứng lặng thì quá ít. Đi tìm một cái hồ có nước tĩnh lặng trong nhiều cái hồ gợn sóng khó hơn chỉ cho người thấy cái hồ trước, sau đó dạy người cách làm cho hồ yên tĩnh, hết vẩn đục, sẽ dễ dàng hơn.
Hỏi: Nếu bảo rằng, thấy cái hồ (Bổn Tâm) dễ hơn chỉ cái hồ yên tĩnh (Kiến Tánh). Vì sao người xưa không thực hiện theo cách này mà phải đưa ra khẩu hiệu thấy nước (Kiến Tánh) trước?
Đáp: Nói người xưa không dùng cách này là không đúng. Thời Phật còn tại thế, cho mãi đến nhiều năm tháng sau này, chư Tổ có y bát đều dùng cách chỉ cái hồ trước, tức khai Bổn Tâm trước, khai Bổn Tánh sau. Ví dụ như Phật dạy người thành tựu hai vô ngã để biết được Bổn Tâm trước, sau đó mới khai Diệu Pháp Liên Hoa hoặc khai Bát Nhã Trí để thấy Bổn Tánh sau.
Duy chỉ sau khi y bát đi về phương Đông, để phân rõ chánh tà, các Tổ có y bát mới buộc lòng làm ngược lại. Việc làm này nhằm giúp tránh việc đánh đồng tu hành giữa Thích gia, Nho gia và Đạo gia. Khẩu hiệu này làm rõ nét đặc thù của Phật Đạo.
Cũng chính con đường đi của Phật Đạo có những bước ngoặt như thế nên Kinh Đại Bảo Tích mới chỉ ra có năm thời kỳ.
- Ngày Phật còn tại thế, phần lớn quần chúng theo Bà La Môn và tu Tứ Thiền Bát Định, Phật nương nơi cách tu học này để hướng người đến Giác Ngộ. Sự thể như vậy nên mới có thời kỳ “Thiền Định kiên cố”.
- Sau đó, người tu hành chỉ chăm chú vào thiền định mà lại không coi trọng ý nghĩa Giải Thoát. Đây là lý do vì sao, các Tổ kế thừa tuyên xưng nhiều về Đại Thừa và Giải Thoát. Vì thế mới có thời kỳ “Giải Thoát kiên cố”.
- Sau một thời gian, Phật Đạo bị phân hóa, nhiều luồng tư tưởng xen tạp vào Giáo Pháp. Các vị Bồ Tát buộc lòng phải tạo luận để đả phá những sai lệch và củng cố Giáo Pháp. Vì thế mới có thời kỳ “Lý luận kiên cố”.
- Khi Phật Đạo lớn mạnh, ra khỏi biên giới, nguy cơ xung đột tư tưởng và đạo lý là khó tránh khỏi. Vì thế một số khẩu hiệu tu tập mang tính chiến lược ra đời nhằm nêu rõ tôn chỉ và mục đích của Phật Đạo. Vì thế mới có thời kỳ “Đấu tranh kiên cố”.
- Dần dà, những giá trị đích thực của Phật Đạo bị mai một, dẫn đến người tu hành chỉ còn chú trọng đến danh tướng. Giống như một người đẹp bằng sáp, chỉ có cái xác được tô vẽ màu mè, mà trong đó rỗng tuếch, không hồn. Vì thế, thời kỳ “Chùa am kiên cố” thành lập.
Năm thời kỳ này, cũng chỉ là sự biến chuyển theo quy luật tự nhiên của một pháp. Và để Phật Đạo còn có thể giữ lại một chút gì đó của Phật Đạo đích thực, con đường tốt nhất trong hiện tại phải tự mình Giác Ngộ rồi sau đó giúp người Giác Ngộ.
Chỉ cần Giác Ngộ Bổn Tâm, mọi thứ trong Phật Đạo sẽ lần lượt thành tựu. Giống như ươm mầm hôm nay sẽ cho ra quả ở ngày mai.
Hỏi: Trong Phật Đạo, có nhiều lần Giác Ngộ, có nhiều cấp độ Giác Ngộ sâu cạn sai khác. Vậy Giác Ngộ nào mới là điều cần nhất?
Đáp: Tất nhiên hai chữ Giác Ngộ chưa nói lên được điều gì cụ thể. Nhưng cho dù Giác Ngộ thấp nhất là Giác Ngộ như một Tu Đà Hoàn, nhiều lắm bảy đời, vị này cũng được Giải Thoát. Còn nếu Giác Ngộ được Bổn Tâm thì tốt rồi, đâu còn mong muốn nào hơn!
Chỉ sợ tu hành mà không Giác Ngộ. Đối trước cuộc đời đầy vàng đá lẫn lộn này, nếu người tu hành không Giác Ngộ, tự họ bảo vệ đạo tâm còn không xong, làm gì có thể tiến đến những thành tựu cao hơn.
Hỏi: Tại sao không Giác Ngộ, không thể bảo vệ đạo tâm?
Đáp: Như trước đã nói, thời đại bùng nổ thông tin, trong mớ hỗn độn của vàng đá, nếu người không Giác Ngộ chẳng thể phân định được thông tin nào là vàng thông tin nào là đá.
Chẳng may gặp tà kiến, ôm một mớ tà kiến “tả pí lù” vùi đầu tu tập, cứ ngỡ đó là Chánh Kiến. Tu tập bằng những tà kiến như vậy mà đạo tâm không bị giết chết mới là chuyện lạ. Giống như người tối ngày ăn phải đá, thì làm sao giữ cho cái bao tử lành lặn!
Hỏi: Trong kinh hay nói đến hai chữ “thiệt tế”. Xin hỏi, thiệt tế là gì? “Thiệt Tế” và “Kiến Thiệt Tế” khác nhau chỗ nào?
Đáp: Thiệt tế, thực tế, hay thật tế có nghĩa là mé thật, nơi chốn thật. Ví dụ như một người đi từ A đến B, khi đến được B gọi là đến thiệt tế hay đến thực tế. Hoặc một người nghe nói đến trái mận, người này sau khi nghe nói, được ăn trái mận. Ăn trái mận, gọi là thiệt tế.
Chứng Thiệt Tế: Là vị tu tập này vào thẳng quả vị nào đó của Phật Đạo và an trú trong quả vị này, gọi là “Chứng Thiệt Tế”. Giống như một người đi từ A đến D. Người này đến B, rồi dừng chân, sinh sống ở đó, không có nguyện vọng đi tiếp, gọi là người này “trú (chứng) thiệt tế”.
Kiến Thiệt Tế (thấy thật tế): Giống như một người đi từ A sang B đến C và cuối cùng là Người này, khi đi qua các điểm B, C chỉ ghé lại quan sát, tìm hiểu rồi người này tiếp tục đi đến D, gọi là người “Kiến (thấy) Thiệt Tế”.
Hỏi: Vì sao trong kinh, Phật thường hay quở trách người tu hành chứng thiệt tế?
Đáp: Phật quở trách những người tu hành chưa đến đích cuối cùng là Vô Thượng Bồ Đề mà đã bằng lòng, an trú nơi các quả vị trung gian, không có chí hướng. Gọi là an trụ cứu cánh mà chẳng mong tất cánh.
Hỏi: Làm sao để biết đó là cứu cánh thật tế, mà chẳng phải tất cánh Niết Bàn?
Đáp: Phật Đạo chia làm ba giai đoạn thành tựu.
Thành tựu từ Thân chứng: tức nhân nơi các căn, vị ấy phòng hộ để đắc thiền định. Đắc thiền định và an trú trong thiền định, không có chí nguyện cao hơn, gọi là Chứng Thiệt Tế. Giống như người bệnh chưa khỏi, ăn được chén cháo sữa, trong mình thấy khoẻ khoắn, cho vậy là đủ, không mong cầu chữa trị tiếp tục.
Tâm chứng (hay còn gọi Tổng Trì): tức là người này sau khi thấy được bổn tâm, bằng lòng với cái thấy này, sống trong an ổn Niết Bàn, không mong gì hơn nữa. Thành tựu và sống như vậy, gọi là Chứng Thiệt Tế. Giống như người bệnh, nhờ ăn được lạc và tô mà khỏi bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người này không chí thú làm ăn, chấp nhận cảnh bần hàn. Bằng lòng với đời sống như vậy, gọi là Chứng Thiệt Tế.
Trí chứng (hay còn gọi là Tam Muội): đây là cảnh giới của các Bồ Tát. Bồ Tát với trí tuệ của mình, xâm nhập tất cả cảnh giới từ thấp lên cao, vị này thông thuộc, biết rõ từng quả vị, từng loại Niết Bàn. Nhưng vị này không dừng lại ở bất kỳ quả vị nào để lấy đây làm lạc thú riêng tư cho mình. Mà Bồ Tát này, quay trở lại dẫn dắt hết thảy chúng sanh cũng lầnlượt vượt qua các quả vị như chính mình, để cùng tiến về Vô Thượng Bồ Đề, trường hợp như vậy gọi là Kiến Thiệt Tế.
Giống như một người, nhờ uống sữa, lạc, tô, đề hồ mà khoẻ mạnh và thông thái. Vị này thấy lợi ích của các món đó, học cách chế biến sữa thành lạc, tô và đề hồ rồi đem ra chữa bệnh cho nhiều người, chứ không cất giữ làm của riêng, gọi là Kiến Thiệt Tế. Kinh, thường hay nói Bồ Tát trong một niệm, có thể đắc trăm nghìn Tam Muội môn, là chỉ cho trường hợp này.
Tóm lại, thân chứng và tâm chứng, nếu sau khi thành tựu, người tu hành không có chí nguyện vượt lên, bằng lòng ở yên nơi các quả vị của hai thứ này, gọi là Chứng Thiệt Tế.
Bồ Tát dùng trí tuệ để thâm nhập Phật Đạo, đắc các Tam Muội gọi là Kiến Thiệt Tế.
Phật chỉ khen hàng Bồ Tát vì hết thảy chúng sanh Kiến Thiệt Tế để sau rốt chứng Vô Thượng Bồ Đề, chứ không khen Nhị Thừa ham ưa chứng thiệt tế!
Thơ Ca Thời Dich Dật!!!

Cách đây chừng 30 năm, ngày ấy mình là người tầm sư học đạo... Nghe ở đâu có người biết đạo pháp là đến cầu học, bất kể thượng vàng hạ cám!!!
Tất nhiên ngày đó, bản thân một lòng cầu đạo mãnh liệt, thường tâm niệm “lời thánh không thể lấy phàm tình soi xét”, đầu óc thì to mà cũng chẳng đủ “chí tệ” để phân biệt ngữ ấy, nghĩa ấy, pháp ấy... là đúng hay sai, lỗi hay không lỗi... Tam cú, tứ cú mù tịt... Thế là, mình nhận được không biết bao nhiêu lời chỉ giáo!!!
Hồi ấy, mình quen với một ông bạn già, mọi người gọi là Chú Hai (Ông ta đã qua đời cách đây trên 10 năm)... Tối tối, mình và Chú Hai thường bắt ghế nhâm nhi bình trà nguội dưới cột điện trước nhà (Chú Hai) để nghe ông ta giảng giải đạo lí!!!
Đêm nào ông ta cũng thao thao bất tuyệt về chân pháp, tính không, chân như, bát nhã, Phật tánh, bản thể, có, không, nhị nguyên, nhất chơn, nhất thể, v.v... Nói chung, theo mình biết, Chú Hai đọc rất nhiều sách Phật giáo... Ông ta thuộc lòng không biết bao nhiêu từ ngữ toàn loại bự bự của giáo pháp...!!! Có nhiêu xài nhiêu!!! Thế là hàng đêm, mình về nhà với cái bụng “chương ưởng” từ ngữ đao to búa lớn!!!
Một đêm, nhấp ngụm trà, đánh khà một cái...
─ Ông ta nói với mình: Tui đố chú em biết Bát Nhã nó giống cái gì!!!???
⁕ Mình thật lòng: Con không biết, Chú Hai giảng cho con nghe đi!!!???
─ Lại nhấp một ngụm trà... Ông ta lim dim hai con mắt một hồi như người ta nhập định rồi phán: Bát Nhã như cái muốn (muốn hay muống theo văn nói, lúc ấy mình cũng không biết)... Chừng nào suy nghĩ ra, báo cho tui biết!!!
⁕ Mình dùng hết sức bình sinh tư duy về ý nghĩa “cái muốn”... Lúc đầu, mình tưởng tượng, chắc Bát Nhã nó giống cái muỗng ăn canh... Rồi tưởng tượng phong phú hơn, chắc nó giống chiếc xuồng tam bản của người miền Tây chèo đi bẻ bông súng mùa nước nổi... Nói chung, mình tha hồ tưởng tượng về “cái muống của Bát Nhã” mà Chú Hai đã phán!!! Thế là, một đêm đàm đạo kết thúc... đành ôm “cái muốn”... về... nhà... mà... gặm...!!!
Tánh khí mình xưa nay, điều gì chưa thông, điều đó không ra khỏi cái đầu... Ba bốn ngày sau, cái muốn (hay muống) của Chú Hai làm mình pó tay!!! Dẹp tự ái sang một bên, mình lại mò đến gặp Chú Hai để nhờ giải thích!!!
⁕ Chú Hai!!! Con chịu thua... cái... muốn... gồi!!!
─ Chú Hai sau một hồi nhìn ngó lên trời, bèn chỉ tay lên cột đèn rồi phán: Đó đó!!! Cái muốn như vậy đó!!! Như vậy đó!!!
⁕ Mình nhìn lên cột đèn, chỉ thấy một mớ côn trùng đang bay quanh bóng đèn, chẳng thấy cái gì khác... Bèn hỏi: Con đâu có thấy cái muốn trên đó...
─ Chú Hai bèn nghiêm giọng: Thì người có Bát Nhã, muốn đến đâu là cái muốn chạy đến đó... Như tôi muốn thấy cái bóng đèn trên cao, thì cái muốn lập tức đến đó vậy mà!!!
Đến đây, mình té ngửa về cái vụ Bát Nhã giống cái muốn... của... Chú... Hai!!!
● Thời ấy, mình cũng thường lui tới đàm đạo với Anh Tư (lớn hơn mình chừng 10 tuổi)... Anh ta nói năng từ tốn... Dáng vẻ tiên phong đạo cốt!!!
Đặc biệt, anh này thơ phú một bụng, mỗi người đến gặp, đều được anh ta tặng cho một bài thơ đạo, coi như anh ta “thọ kí” cho người ấy... Mình cũng được bốn câu...
Và sung sướng tê người với cái “thâm sâu” của bốn câu thơ, mặc dù cố vắt óc, cũng chẳng biết bốn câu đó nói... cái... chi... chi!!! Chỉ thầm nghĩ rằng: “Tại mình... tu... chưa... tới”!!! Bốn câu thơ như sau:
“Quán chơn pháp tánh từ
Hư không bất tồn dư
Phật là tri biến ngộ
Trí tuệ đạt chân như”
Sau này gặp Lão Trương, mình đem bốn câu “thọ kí” của Anh Tư đọc lại cho Lão Trương nghe với vẻ mặt hí hửng, mong Lão khen một tiếng cho... thoả... cái... bụng... cái... dạ!!!
Lão Trương nghe xong cười ngất... Rồi bảo!!!
− Chú thiệt là ngây thơ!!! Bốn câu đó thuộc loại “thơ tạp vật”... Tức là anh ta chẳng phải ngộ nghiếc gì hết, chỉ lượm lặt từ ngữ rồi lắp ghép cho có vần!!!
Người không biết như chú, hoa mắt bởi mớ từ ngữ như người ta nhìn mớ tạp vật ngoài nắng!!! Tui hỏi chú, theo khả năng của chú, chú có làm được mấy bài thơ lắp ghép tạp vật như vậy được không??? Anh nào biết chút vần điệu, học thuộc mớ từ ngữ là lắp ghép thành bài thơ bằng những từ ngữ cao siêu, thiên hạ đọc lên hoa mắt, chẳng biết mô tê gì hết, cứ thế mà khom lưng.. một Mô Phật, hai Mô Phật... Tưởng đâu gặp phải thánh nhân!!!
Để tui phân tích bốn câu thơ ba trợn, mang đủ thứ lỗi (phi cú) cho chú nghe!!!
− Cái gì mà người ta quán được, cái đó nhất định không chơn!!! Vì đã chơn, thì bản lai nó tự chơn chứ chẳng phải do quán mà nó mới chơn...!!!
− Quán thuộc pháp quyền, chơn thuộc nghĩa thiệt... Lấy cái quyền làm sao quán cái thiệt... Chú có hiểu nguyên lí “râu và cằm” phải đồng bộ này không??? Lấy “râu ông nọ cắm cằm bà kia” làm sao... nó... mọc!!! Trên đời không thể lấy cái “hữu vi tạo tác” để quán cái “vô vi vô tác”!!!
− Pháp, bản chất ra ngoài chơn vọng... Người xưa từng nói: “Tánh pháp giới không có ngộ mê... Chỉ có kẻ mê tự phân chơn vọng...”!!! Anh nào hô hào “chơn pháp”, biết anh đó không giác ngộ!!! Phật là bậc tối chánh chơn đã dạy Tu Bồ Đề: “Ta không có một pháp”... Không một pháp nên mới tạm gọi là chơn... Còn pháp thì chẳng có chơn!!!
− Phật nào “tri biến ngộ”...!!!??? Lắp ghép lung tung!!!
− Trí tuệ nào đạt chân như!!!??? Kẻ trí nghe lời này, họ cười cho mà thúi... đầu!!!
Sau bữa đó, mình hiểu ra nhiều điều... Phật pháp tuy mênh mông, nhưng ngôn thuyết của nó chặt chẽ như tường vách... Mỗi cảnh giới có một loại ngôn ngữ riêng, ngôn ngữ thế đế, ngôn ngữ đệ nhất nghĩa đế, ngôn ngữ thế gian, ngôn ngữ xuất thế gian thượng thượng... Vì thế mới có “thuyết thông và tông thông”!!! Không phải cứ lắp ghép các từ đao to búa lớn vào nhau là trở nên... cao... siêu... thần... thánh!!!
Thời điểm này là mùa dịch...Thiên hạ ít ra đường!!! Ngồi nhà lâu ngày cũng chán!!! Thơ, ca, hội hoạ, âm nhạc, v.v... trở thành món giải trí, thức ăn tinh thần trong khi bó gối!!! Thế là thiên hạ đua nhau làm thơ, hò vè, ca nhạc, v.v... Văn hoá văn nghệ bỗng dưng lên ngôi!!!
Chỉ cần “lên mạng” là thấy ngay văn hoá văn nghệ đang trong thời kì nở rộ... Hay có, dở có, bác học có, thất học có, lắp ghép có, tạp vật có...!!!
Mấy bữa nay ở nhà, lang thang trên mạng, đọc mấy bài “thơ đạo” thuộc loại lắp ghép tiền chế trong thời dịch mà cười một mình, bất chợt nhớ lại chuyện xưa!!! Đang lúc cao hứng khi đọc thơ thiên hạ, cũng nhằm hưởng ứng phong trào “thi ca mùa dịch dật”!!! Lão Lý cũng “mần đại” một bài theo kiểu lắp ghép, tiền chế... Như sau:
“SẮC KHÔNG HUYỄN GIẢ”
Chân tâm Phật tánh có trong ta
Quán chơn pháp ấy thoát nẻo tà
Chân như chẳng ở người không trí
Pháp tánh đây rùi chớ lo xa
Phật tổ trên cao khác với ma
Tu cho vô ngã gọi ma ha
Bản thể hiệp nguyên thành bất nhị
Pháp không phải pháp mới qui nhà
Ở trong tĩnh lặng thường dòm ra
Đại địa sơn hà lắm kêu la
Xa lìa huyễn giả chơn pháp giới
Vũ trụ xoay vần mỗi sát na
Khuyên người tu học biết tánh ta
Trùm khắp mười phương chẳng tự tha
Tâm tại Niết Bàn không mảy động
Tu hành như rứa... mới... thả... ga!!!
Mời các bạn tìm giúp, bài thơ lắp ghép cao siêu ở trên của Lão Lý có mấy trăm cái lỗi (phi cú)... Khi nhìn từ “đệ nhất nghĩa đế”!!! (26-03-2020)
Thông báo bài viết mới
Xin chào Quý Đọc Giả,
Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.
https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/tan-man-chuyen-song-chet-phan-2
Trân trọng,
Giác Ngộ Giải Thoát Trí Tuệ Ở Thời Đại Thông Tin Bùng Nổ Là Như Thế Nào? Ngũ Minh Là Gì?
"Giác ngộ, giải thoát và trí tuệ" chính là khẩu hiệu thiết thực và tốt nhất trong thời đại bùng nổ thông tin này. Chỉ có thật sự Giác Ngộ, mới biết rằng thông tin nào có lợi, thông tin nào có hại cho việc tu tập.

Hỏi: Nếu nói rằng, Bồ Tát và tất cả người tu hành chỉ nương Phật thần lực để tu học và giáo hóa. Như vậy, trong Bồ Tát pháp có ngũ minh (gồm: Nội minh, ngoại minh, y phương minh, công xảo minh và thanh minh), ngoại minh dùng vào việc gì?
Đáp: Ngoại minh hay ngoại điển, thuộc về các tư tưởng (đạo) thế gian. Bồ Tát sau khi thành tựu tự thân, đã thông thuộc nội điển (nội minh, kinh điển của Phật). Bây giờ, Bồ Tát tìm hiểu thêm các hệ tư tưởng cũng như các đạo lý bên ngoài để nắm vững nhân sinh quan, vũ trụ quan cũng như mục đích của những luồng tư tưởng, đạo lý này. Hiểu biết như thế, nhằm giúp người tu hành nhận thức và thấy rõ rằng, các đạo này không chung cùng cứu cánh với Phật Đạo và trong luận lý của họ không có ý vị của Giác Ngộ, cũng không có ý nghĩa đưa người đến Giải Thoát như Phật Đạo mong muốn.
Ngoài ra, Bồ Tát tham cứu ngoại điển để thấy được sự “độc tôn về phương diện cứu cánh của Phật Đạo…” chứ không phải Bồ Tát học giáo pháp của các đạo hoặc tư tưởng bên ngoài để giảng nói hay làm chỗ y cứ cho mình, cho người.
Dưới thời của Phật và một thời gian dài khi Phật Đạo vượt khỏi vùng đất khai sinh ra mình, trên đường truyền giáo, tất nhiên, khi đến một vùng đất mới, xung đột tư tưởng và đạo lý là điều khó tránh khỏi. Giống như ngày xưa, Đức Phật phải đối đầu với giáo pháp Bà La Môn trong lúc còn tại thế. Hay Long Thọ, Vô Trước, Thế Thân phải đối đầu với sự trỗi dậy và phản kháng mãnh liệt của ngoại đạo cùng những dòng tư tưởng cực đoan trong chính người tu hành. Hoặc lúc Tổ Đạt Ma sang Đông đối đầu với tư tưởng Khổng, Lão.
Để giúp Giáo Pháp của Đức Phật đứng vững trước các luồng tư tưởng cũng như Giáo Pháp bản địa trên những vùng đất mới. Nếu Bồ Tát không thông suốt Phật Đạo và không có ngoại minh, chẳng biết rõ quan niệm của họ là gì, cứu cánh như thế nào, thì rất khó chiết phục những nhà tư tưởng bản địa. Không thể vững tin tuyên thuyết lợi ích của Phật Đạo, cũng như không đủ cơ sở chứng minh, so sánh, nêu bật tính ưu việt của Giáo Pháp mà mình đang tuyên thuyết, khiến quần chúng thấy biết rõ lợi ích này mà nghe theo.
Vì thế, Bồ Tát phải có ngũ minh, và dùng ngoại minh vào một trong những trường hợp như vậy.
Hỏi: Xin sơ lược việc Bồ Tát dùng ngoại minh để xiển dương Phật Đạo?
Đáp: Thời Phật còn tại thế, hàng ngày có rất nhiều Đạo Sĩ Bà La Môn đến gặp Thế Tôn và đưa ra các quan điểm tu hành của mình. Phật dùng ngay các lý luận của họ để bẻ gãy lại lí luận của chính họ, và chỉ ra rằng Phật Đạo mới có ý nghĩa Giải Thoát chân thật.
Sau Phật, thời kỳ của Long Thọ cho đến nhiều năm sau này, tư tưởng của các ngoại đạo len lỏi vào hàng ngũ người tu hành trong Phật Đạo, nhằm gây ảnh hưởng, làm sai lệch ý nghĩa đích thực của Giáo Pháp, cùng với thái độ cực đoan của một bộ phận người tu hành.
Để bảo toàn Giáo Pháp và chỉ ra rằng, các tư tưởng như vậy không phải là chân lý, Long Thọ đã viết nên Đại Trí Độ, Trung Quán Luận; Vô Trước viết nên Du-già sư địa luận, Đại Thừa trang nghiêm kinh luận, Đại Thừa a-tì- đạt-ma tập luận và Nhiếp Đại Thừa luận; Thế Thân viết A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận.
Các bản luận được viết vào thời kỳ này chủ yếu đánh dẹp tư tưởng sai lệch đã len lỏi vào Giáo Pháp, có nguy cơ làm Giáo Pháp biến dạng nhằm xây dựng một hệ thống giáo lý đủ sức miễn nhiễm với hệ thống lý luận cũng như tư tưởng bên ngoài; hoặc điều chỉnh những sai lệch của người tu hành trong Phật Đạo nếu có. Nếu không có ngoại minh, các vị ấy chẳng thể thực hiện được việc này.
Đến thời Tổ Đạt Ma sang Đông, Trung thổ bây giờ chịu ảnh hưởng của tư tưởng Khổng, Lão rất lớn. Để tạo ra sự khác biệt trong tu hành của Phật Đạo và các đạo giáo khác, Tổ Đạt Ma và các Tổ Sư phương Đông đã đưa ra khẩu hiệu “Kiến Tánh thành Phật”. Khẩu hiệu này ra đời cho thấy được tính ưu việt và sức mạnh của nó. Nó đã xô dẹp các quan niệm đánh đồng giữa Phật Đạo và các đạo khác giữa tư tưởng tu hành của Phật, Khổng, Lão cũng như những hệ tư tưởng khác; phân định rạch ròi, phá bỏ sự nhầm lẫn đạo nào cũng đạo; đạo nào cũng đọc tụng, đạo nào cũng ngồi tu.
Câu khẩu hiệu này chỉ ra rằng, người tu hành trong Phật Đạo muốn thành tựu, phải Kiến Tánh. Kiến Tánh không có nghĩa là ngồi đó mà đọc tụng như học trò của Nho Gia đọc tụng nằm lòng Tứ Thư, Ngũ Kinh: không phải ngồi xuống để vận luyện ngày đêm như các Đạo Sĩ của Đạo Gia miệt mài ngồi nơi hang sâu để tiến tu Tiên Đạo. Chính khẩu hiệu Kiến Tánh thành Phật đã phân định ranh giới chánh đạo và ngoại đạo, cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa Phật Đạo và các đạo khác.
Nhờ khẩu hiệu này mà Phật Đạo đã đứng vững trước các tư tưởng đương thời và không bị người đời hòa tan hay thỏa hiệp ngầm với các luồng tư tưởng khác để biến Phật Đạo trở thành chiêu bài mang ý đồ riêng tư. Khẩu hiệu này giúp Phật Đạo không đánh mất bản sắc riêng tối tôn tối thắng của mình. Và cuối cùng, khẩu hiệu này loại bỏ những ai không thật sự Kiến Tánh mà cố thậm xưng để mưu cầu lợi ích cá nhân.
Trong thời đại của bùng nổ thông tin hiện nay, chỉ cần một cú nhắp chuột, chỉ cần mở máy ra là thông tin về Phật Đạo tràn ngập. Trong vô vàn thông tin như vậy, người tu hành khó có thể nhận định được, đâu là vàng, đâu là thau. Để có thể phân định được các giá trị từ những thông tin như vậy, người tu hành buộc lòng phải Giác Ngộ.
Chỉ có thật sự Giác Ngộ, mới biết rằng thông tin nào có lợi, thông tin nào có hại cho việc tu tập. Giống như phèn, có năng lực lóng trong nước, Giác ngộ có năng lực phân rõ chánh tà. Trong một mớ hỗn độn của nhiễm ô, nếu người tu hành không có một công cụ đủ mạnh để làm sạch thì việc tu hành nhất định khó thành tựu. Giống như người uống nước bị nhiễm độc, nhiều ngày tháng nhất định sinh bệnh.
“Giác ngộ, giải thoát và trí tuệ” chính là khẩu hiệu thiết thực và tốt nhất trong thời đại bùng nổ thông tin này.
Nhờ có nội minh và ngoại minh mà mỗi hoàn cảnh lịch sử, các Bồ Tát đã đưa ra những khẩu hiệu, hình thức tu tập và lý luận phù hợp với hoàn cảnh lịch sử đó, để Phật Đạo luôn luôn là Phật Đạo, không bị pha tạp bởi các luồng tư tưởng hoặc đạo giáo khác. Có như thế, những đạo quả chân chánh của Phật Đạo mới thật sự thành tựu trong người tu hành.
Đã là khẩu hiệu, nó chỉ có giá trị trong từng giai đoạn.
Vì thế, người tu hành không thể lấy khẩu hiệu của giai đoạn này áp dụng vào việc tu hành ở giai đoạn khác. Nếu ta áp dụng sai, áp dụng không đúng thời điểm, nhất định thành quả tu tập sẽ không như mong muốn. Giống như phát triển xã hội, không thể dùng một khẩu hiệu cho tất cả mọi giai đoạn. Có những khẩu hiệu, có những luận điểm trong Phật Đạo, ở thời kỳ này giá trị rất lớn, nhưng vào thời kỳ khác, thời điểm nào đó, không còn phù hợp.
Nếu không biết chắt lọc, không thấy được giá trị nhất thời của những tài liệu như vậy; lấy các tư liệu này học tập, miệt mài nghiền ngẫm, ứng dụng trong hiện tại, người tu hành sẽ phải chịu cảnh nhọc công tốn sức mà kết quả không tương xứng.
Ví như cách đây trên dưới một trăm năm, có những người theo nghề đẽo cối đá (một loại cối xay bột được làm từ những tảng đá), làm giàu nhờ nghề này. Nay có người nghe nói rằng xưa có người làm giàu nhờ đẽo cối đá, ta cũng học hỏi kỹ thuật này để làm giàu. Vì thiếu trí tuệ, vì không quan sát thị trường, vì chẳng giác ngộ thời cơ, vì không nắm vững nhu cầu hàng hóa nên anh này miệt mài học tập.
Đến khi mở xưởng sản xuất, dù anh ta nỗ lực lao động, nhưng sản phẩm làm ra - cối đá - không được xã hội văn minh chấp nhận và đi đến phá sản. Trong thời đại công nghệ, một người miệt mài sản xuất cối xay bột bằng đá, muốn làm giàu theo cách người xưa. Thử hỏi, người này có được gọi là “minh” chăng? Nội minh và ngoại minh phần nào đó, mang trong nó những ý nghĩa như thế.
Kinh Đại Bảo Tích (bản cũ), Phật dạy năm điều, chỉ ra những bước thăng trầm của Giáo Pháp.
Năm thời kỳ đó là:
Thời kỳ Giải Thoát kiên cố.
Thời kỳ thiền định kiên cố.
Thời kỳ lý luận kiên cố
Thời kỳ đấu tranh kiên cố
Thời kỳ chùa am kiên cố.
Trong năm thời kỳ mà Phật Giáo phải trải qua như vậy, nếu người tu hành không đủ minh, không thấu suốt Đạo Pháp, không đưa ra những khẩu hiệu đúng thời để giúp người tu hành thành tựu như những gì Phật Đạo mong muốn thì hóa ra, đây có phải là năm điều đáng mỉa mai lắm chăng.
Tóm lại ngũ minh, trong đó có ngoại minh, là những hiểu biết quan trọng về những gì bên ngoài giáo pháp.
Nhờ hiểu biết này mà Bồ Tát phân định được đâu là chánh, đâu là tà, đâu là đục, đâu là trong, đâu là tối, đâu là sáng, đâu là Phật Đạo của hôm nay, đâu là Phật Đạo của ngày mai. Để từ đó, có thể tự mình và cùng người nương đúng Phật thần lực tiến về Vô Thượng Bồ Đề không sai với chánh đạo.
Hỏi: Tam Bảo là thường trụ, Phật Đạo là thường. Vì sao lại có năm thời kỳ? Vì sao trong cùng một Phật Đạo mà phải có từng khẩu hiệu tu tập để phù hợp với từng giai đoạn lịch sử?
Đáp: Tam Bảo thường trụ, Phật Đạo là thường nhưng tâm người là vô thường, xu thế xã hội là vô thường, điều kiện tu tập là vô thường.
Cho nên nội minh, ngoại minh, khẩu hiệu đề ra và các luận lý để hình thành con đường tu tập trong mỗi giai đoạn là những cột tiêu, là những biển báo, là những ngọn hải đăng, có công dụng “điều chỉnh và hướng con tàu tu tập trong Phật Đạo đi đúng và về đúng, với nghĩa thường của Chư Phật”.
Nếu không có những dấu hiệu, những biển báo như vậy cho từng luồng lạch, nhất định con tàu tu tập sẽ lạc lối và đích của nó là những gì thuộc về vô thường, đang chờ đợi phía trước.
Giống như mặt trời, luôn luôn sáng, luôn luôn ấm nhưng ngoài trời thì thời tiết thất thường. Muốn không bị mưa ướt thì phải có áo mưa, muốn không bị cảm lạnh thì phải ở nơi kín gió, muốn thấy ánh sáng thì phải ra mở cửa. Những việc làm này, không phải vì mặt trời vô thường, mà chính con người phải chịu cái vô thường của thời tiết, của nơi ở. Thực hiện những điều đó chính là khắc chế cái vô thường để tìm thấy nghĩa thường trong chính cái vô thường vậy.
Khẩu hiệu, hệ thống lý luận, ngoại minh chính là công cụ tốt nhất để bảo đảm an toàn cho người tu hành “đi đến nơi, về đến chốn”.
Hỏi: Xin nói rõ ngũ minh?
Đáp: Ngũ minh gồm có năm minh của thế gian và năm minh của xuất thế.
Năm minh thế gian, dành cho người tu hành gồm:
Nội minh: Thấu suốt ý nghĩa kinh điển, để đưa đến Giác Ngộ.
Ngoại minh: Biết rõ những luận lý nào không có ý vị Giác Ngộ, không có nghĩa lý của Giải Thoát cần phải tránh
Y phương minh: Chỉ uống đúng thuốc của Phật Đạo, không bạ đâu uống đó; không gặp thuốc gì cũng uống, ai dạy gì cũng tin
Công xảo minh: Biết rõ và sử dụng thành thạo một số phương tiện của Phật Đạo, cũng như kỹ thuật thế Dùng hai thứ này hỗ trợ cho việc tu hành và giúp đời sống dễ dàng hơn, tránh rơi vào cực đoan hoặc tâm hoặc vật.
Thanh minh: Chỉ tin nghe những gì có chân lý.
Năm minh của xuất thế gian, dành cho Bồ Tát giáo hóa người gồm:
Nội minh: Biết rõ thế nào là chân tâm, thế nào là chân trí, thế nào là chân lý để hướng người tu hành đi đúng Phật Đạo và thẳng tiến vào những thứ chân này.
Ngoại minh: Biết rõ những gì phát xuất từ hư vọng tâm, hư vọng trí, không có chân lý để chỉ cho người tu hành cần phải tránh
Y phương minh: Biết rõ căn cơ của người, tùy bịnh cho thuốc. Không phạm vào các lỗi ngu si, hý luận, phi thời, xơ cứng khi giáo hóa.
Công xảo minh: Thành thục các loại phương tiện của Phật như người văn minh thành thạo các loại công kỹ nghệ tân tiến. Không tìm cầu sự lạc hậu của những quan điểm tu tập không còn phù hợp trong hiện tại, không dạy người cái vô ích; không làm người giảng nói cách “làm cối đá” trong thời đại văn minh kỹ thuật!
Thanh minh: Nghe tiếng lòng của vạn loại chúng sinh, cùng tất cả người tu hành. Không chạy theo hiện tượng, không vui theo phong trào, không bị cái bên ngoài làm mờ mắt.
Tóm lại, ngũ minh là năm thứ công cụ giúp người tu hành và Bồ Tát thành tựu Đạo Nghiệp của mình. Không biết năm thứ này, nhất định sẽ giống như anh chàng “mua vịt trời” ngày xưa, mất công, mất của mà chẳng ra cơm cháo gì.
Còn nếu, thông thuộc ngũ minh thì từ những con vịt trời cũng có thể thuần dưỡng thành vịt nhà, đem cái vô ích, vô bổ, biến thành lợi ích nhất định, đúng như Phật Đạo mong muốn.
Nương Phật Thần Lực Là Gì?
Phật thần lực, hay thần lực của Phật, là sức mạnh thuộc về chân lý. Sức mạnh chân lý này, có thể chiến thắng tất cả những pháp nào không có chân lý hoặc không đưa người về đúng với chân lý.

Hỏi: Kinh thường hay đề cập đến việc “Bồ Tát nương Phật thần lực trong khi tu học và giáo hóa”. Xin hỏi: Như thế nào được gọi là “nương Phật thần lực”?
Đáp: Phật thần lực, hay thần lực của Phật, là sức mạnh thuộc về chân lý. Sức mạnh chân lý này, có thể chiến thắng tất cả những pháp nào không có chân lý hoặc không đưa người về đúng với chân lý.
Vì thế, Bồ Tát khi tu học hoặc giáo hóa, phải nương sức mạnh chân lý từ nơi Đức Phật, để tự mình thấu suốt chân lý và sau đó giúp người cũng thấu suốt chân lý. Không riêng gì Bồ Tát, mà hết thảy người tu hành trong Phật Đạo, muốn thành tựu rốt ráo Phật Đạo phải nương Phật thần lực.
Ngay lúc vừa quy y, người quy y cũng phải hứa trước Tam Bảo chỉ nương (quy y) thần lực của Phật, không nương (quy y) nơi các thứ thần lực khác. Đó là Quy y: Phật, Pháp, Tăng. Không quy y trời, thần, quỷ, vật.
Hỏi: Vì sao người tu hành trong Phật Đạo chỉ nương tựa (y cứ, quay về, bảo hộ) nơi Phật thần lực mà không nương tựa nơi các thứ khác?
Đáp: Người tu hành trong Phật Đạo chân chánh, chỉ mong cầu được Giác Ngộ để thoát khỏi phiền não vô minh, mong cầu Giải Thoát để ra khỏi cột buộc thế gian; mong cầu Trí Tuệ để thành tựu Vô Thượng Giác. Ba thứ này, chỉ có trong Phật Đạo nên không thể nương vào nơi khác ngoài Tam Bảo mà hy vọng tìm thấy ba món nói trên.
Hỏi: Phật thần lực gồm những thứ thần lực nào?
Đáp: Phật thần lực gồm hai món, đó là “hữu vi thần lực” và “vô vi thần lực”.
Hỏi: Như thế nào là hữu vi thần lực và vô vi thần lực?
Đáp:
Hữu vi thần lực: Là kinh điển, giáo lý và những lời dạy của Đức Phật.
Vô vi thần lực: Là ý nghĩa sâu thẳm từ các lời dạy đó.
Hỏi: Người tu hành trong Phật Đạo nương những thứ đó như thế nào?
Đáp:
Nương hữu vi thần lực: Người tu học y cứ vào lời Phật dạy, tư duy cho đến khi nào hiểu được ý nghĩa đích thực của lời dạy đó. Đem ý nghĩa đã hiểu, áp dụng triệt để vào đời sống cho đến bao giờ đời sống của người tu hành và ý nghĩa đó không còn là hai pháp. Làm như vậy gọi là nương Phật thần lực. Gọi là hữu vi thần lực là vì sự nương cậy này còn phải trải qua quá trình “văn, tư, tu”.
Nương vô vi thần lực: Người tu hành Giác Ngộ được một nghĩa lý thâm diệu vô vi nào đó trong lời dạy của Đức Phật. Vị này “sống trọn vẹn trong ý nghĩa đó”, không đem tâm suy lường, không khởi ý tạo tác, không vọng sinh nghĩa khác, chỉ một tâm vô vi tịch tĩnh như nghĩa gọi là nương vô vi thần lực.
Hỏi: Tu hành thì nương như vậy, còn Bồ Tát giáo hóa thì nương như thế nào?
Đáp: Khi giáo hóa, Bồ Tát phải nương nơi lời Phật, cắt nghĩa cho chúng sanh, khiến chúng sanh hiểu được ý nghĩa lời Phật dạy. Hoặc nương nơi ý nghĩa vô vi tịch tĩnh của Giác Ngộ; khai thị chỗ thẳm sâu, giúp chúng sanh thầm hội ý nghĩa vô vi tịch tĩnh và Giác Ngộ chỗ thẳm sâu này.
Làm như thế gọi là Bồ Tát nương Phật thần lực để giáo hóa. Cũng có khi giáo hóa, Bồ Tát cắt nghĩa trước để người nghe hiểu được chân lý. Sau đó Bồ Tát dùng một đoạn kinh, lời dạy của Phật và nương đoạn kinh, lời dạy của Phật, lấy đây ấn chứng cho điều mình đã tuyên thuyết; không sai Giáo Pháp. Làm như thế, cũng gọi là Bồ Tát nương Phật thần lực trong giáo hóa.
Hỏi: Vì sao khi thuyết pháp, Bồ Tát nương Phật thần lực (lời dạy, chân lý của Phật) mà không nương nơi các thần lực khác?
Đáp: Vì những lý do sau, Bồ Tát không nương thần lực bên ngoài:
Thứ nhất: Đạo Giác Ngộ, Giải Thoát, Trí Tuệ chỉ có trong Phật Đạo. Và chỉ có Phật Đạo đích thực mới giải quyết thỏa đáng những điều này.
Thứ hai: Các đạo khác, không chủ trương đưa đến ba ý nghĩa nêu trên, nên không thể mượn lời nói của họ để giải quyết việc của Phật Đạo.
Thứ ba: Nương lời dạy của Phật khi tuyên thuyết mà không nương các câu nói bên ngoài, có mục đích để người nghe (Phật tử) không ngộ nhận rằng, các đạo khác cũng có những cứu cánh đích thực như Phật Đạo. Sự ngộ nhận này sẽ đưa họ tìm cầu ý nghĩa trong những Giáo Pháp bên ngoài, mong rằng ở những nơi ấy cũng có cứu cánh của Phật Đạo. Việc này, giống như nấu cát mong thành cơm.
Thứ tư: Bồ Tát chỉ quy y Phật, không quy y các đạo này. Vì thế, không có lý do gì, Bồ Tát lấy lời dạy của đạo khác mà cắt nghĩa theo ý nghĩa Phật Đạo.
Việc làm này, thể hiện được sự chân chánh của người thuyết, tôn trọng Giáo Pháp của Đức Phật và tôn trọng các đạo khác.
Thứ năm: Kinh điển của Đức Phật để lại, đâu có thiếu lời dạy, đâu có thiếu ví dụ, đâu có thiếu danh ngôn, đâu có thiếu năng lực ấn chứng mà Bồ Tát phải đi vay mượn những thứ này ở bên ngoài rồi đem về giảng nói hoặc ấn chứng. Làm như thế, chứng tỏ sự yếu kém trong năng lực đọc tụng, cũng như biểu hiện mức độ thấm nhuần kinh điển chưa cao. Giống như cá ướp thiếu muối, nhất định lâu ngày con cá này sẽ ươn.
Nói chung có vô số lý do, mà một Bồ Tát chân chánh khi thuyết pháp, chỉ nương Phật thần lực, mà không nương “ngoại thần lực”.
Hỏi: Nhưng các đạo khác cũng có những câu nói tương tự như Phật Đạo?
Đáp: Câu nói tương tự, không có nghĩa rằng ý nghĩa tương tự. Ý nghĩa tương tự không có nghĩa cứu cánh tương tự. Vì thế, một câu nói, một trích dẫn đâu có phải đã là toàn bộ tôn chỉ, mục đích?
Vả lại, ngữ ngôn thì hạn chế, điều quan trọng là ý nghĩa phía đằng sau ngữ ngôn nhằm muốn gởi gắm điều gì? Nếu kẻ nào chưa thấy được sự ẩn mật này, làm sao có thể tuyên thuyết đúng chân lý được.
Nó giống như các lá cờ, không phải lá cờ nào cũng có ý nghĩa giống lá cờ nào. Khi nói “hãy giương cờ lên” thì chỉ có người trong cuộc mới hiểu mệnh lệnh của câu giương cờ và ý nghĩa như thế nào. Chứ mấy chữ giương cờ, người bên ngoài nghe, chưa thấm được ý vị của nó.
Ví dụ: Cờ đỏ: thắng trận; cờ trắng: đầu hàng; cờ vàng đậm: báo có dịch tả... Như vậy, người nghe biết nên giương cờ nào. Thậm chí một câu kinh của Phật, chưa hiểu hết thâm ý cũng đưa đến việc thực hiện sai, nói chi chỉ mới nghe qua rồi lặp lại. Ví dụ như câu “Tiên Đà Bà” trong kinh Đại Niết Bàn.
Thành ra, một câu nói tương tự trong vô tình nào đó, đem nó ra mổ xẻ, cắt nghĩa, làm chuẩn mực, rồi ép buộc, cho rằng nó có chân lý như lời Phật. Làm như thế, chỉ tội cho Phật Đạo chân chánh và oan cho các đạo kia.
Trong kinh, Phật cũng cho ví dụ, những lời nói trong đời vô tình trùng lặp hoặc tương tự như lời Phật. Giống như con mọt, vô tình đục cây thành chữ. Giống như con sâu vẽ bùa, vô tình ăn ngoằn ngoèo trên lá cây. Đứa bé vô trí thấy những sự việc ấy, đoán chắc con mọt biết chữ, con sâu biết vẽ bùa. Suy nghĩ như vậy, vừa oan cho con mọt, oan cho con sâu, vừa tội nghiệp cho đứa bé.
Hỏi: Xin cho vài ví dụ về việc Bồ Tát nương Phật thần lực?
Đáp: Bồ Tát nương Phật thần lực khi tuyên thuyết Giáo Pháp của Đức Phật. Giống như người chèo chiếc thuyền vững chắc để đưa người sang sông, khiến người không nghi ngờ.
Ví dụ:
- Bồ Tát A nói với ông B: Tham là khổ. Ông B nghe thế, có khi sẽ hỏi lại: “Trong đời tôi nhiều lần tham, nhưng những lần đó, tôi đâu có khổ?” Tuyên thuyết như vậy, sẽ làm mất duyên lành của người thính pháp.
Nhưng nếu Bồ Tát A nương Phật thần lực, nói với ông B rằng: “Này ông B, Phật dạy, tham là khổ”. Nhất định ông B sẽ tin nơi Tam Bảo mà tu tập để dứt tham.
- Bồ Tát A nói với ông B: “Hết thảy chúng sanh đều có Phật Tánh”. Ông B sẽ hỏi lại “Làm sao ông biết?” Trong đương cơ, nếu xảy ra việc đối đáp như thế, sẽ rất khó giáo hóa.
Nhưng nếu Bồ Tát A nương Phật thần lực, nói rằng: “Này ông B, kinh Đại Niết Bàn Phật dạy: “Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh”. Nhờ oai thần của Phật, của kinh, nhất định ông B sẽ vâng tin.
- Bồ Tát A nói với ông B: “Ngũ dục gồm năm món: tài, sắc, danh, thực, thùy”. Ông B sẽ kết luận, Phật là người Trung Thổ, học sách Thánh hiền bên ấy nên mới biết mấy món này. Và đạo thánh hiền của Trung Thổ cũng có nghĩa Giải Thoát. (Tài sắc danh thực thùy là năm món thuộc về quan niệm của Trung Quốc, không phải ngũ dục mà Phật muốn nói đến)
Nhưng nếu Bồ Tát A nói rằng: “Này ông B, Phật dạy ngũ dục gồm năm thứ ham muốn khi năm căn thân tiếp với năm trần cảnh. Đó là, mắt đối sắc khởi lên ham muốn, tai đối âm thanh khởi lên ham muốn”.
Nhất định, người này sẽ biết được nguyên nhân phát sanh Dục Giới, có thể đoạn trừ dục nhiễm và sẽ tự thoát ra khỏi Dục Giới.
Nói chung, nương Phật thần lực để tu học và giáo hóa, là việc không thể thiếu đối với người tu hành trong Phật Đạo. Không nương Phật thần lực hoặc nương vào một thứ thần lực nào đó bên ngoài Phật Đạo, nhất định khi ứng dụng tu tập sẽ cho ra thành tựu không đúng với kết quả đích thực của Phật Đạo. Trong giáo hóa sẽ khiến người nghe hiểu nhầm.
Trong mỗi lời dạy, trong mỗi câu kinh, trong mỗi bài kinh, trong tất cả kinh điển của Phật để lại, mỗi lời, mỗi câu, mỗi bài, nguyên tạng,… đều có tính nhất quán và kế thừa. Lời trước làm đầu mối cho lời sau, câu trước làm nhân cho câu sau. Điều này, trong kinh gọi là “Phật tuyên thuyết, thượng trung hạ đều thiện”. Có nghĩa rằng, toàn bộ hệ thống kinh điển và giáo lý của Đức Phật, khi Phật tuyên thuyết, luôn luôn đưa người theo đúng một con đường, trước sau thứ lớp kế thừa, có tính nhất quán từ thấp lên cao. Cho dù đó là lời cho người sơ cơ hay kẻ thâm đạt, đều không khiến họ đi vào lối tẻ.
Vì thế, trong tu hành hay dẫn dắt người khác, nhất định phải am tường từng câu, từng chữ, từ những điều Phật dạy. Và y theo sự am tường này mà tu tập, mà tuyên thuyết, gọi là nương theo Phật thần lực, hay còn gọi là không quy y trời, thần, quỷ, vật.
Nếu làm khác đi, hoặc nương theo bên ngoài, nhất định sẽ rơi vào lối tẻ. Và con đường để đưa đến Giác Ngộ, Giải Thoát, Trí Tuệ khó thành tựu.
Hỏi: Như vậy, câu nói “Nhất thiết pháp, giai thị Phật Pháp” ứng dụng vào chỗ nào?
Đáp: Câu nói trên là chân lý, là thấy biết tột cao của Phật Đạo, là ứng dụng cùng khắp trong Giáo Pháp. Nhưng câu nói này là của Phật nói, là của những vị đã thành tựu Trí Tuệ Vô Thượng nói, rồi ứng dụng để khiến hết thảy chúng sanh, khiến hết thảy mọi quan niệm sai biệt trong đời, đồng có thể thành tựu Phật Đạo. Chứ câu nói này không nhằm vào ý nghĩa, các pháp ngoài kia cũng là Phật Pháp.
Giống như một vị vua có quyền nói: “Giang sơn này là của Trẫm.”
Nhưng nếu câu nói này phát ra từ bất kỳ một thần dân nào, nhất định tai họa sẽ giáng xuống đối với thần dân đó.
Thành ra, cùng một câu nói từ người này sẽ là mực thước, châu báu nhưng người khác lặp lại sẽ trở thành nhảm nhí, rơm rác.
Vì thế trong phát ngôn, vị thế, năng lực, tư cách người phát ngôn sẽ cho ra giá trị đích thực của lời phát ngôn.
Giống như câu chuyện vui: Có anh nhà quê kia, một hôm lên kinh thành nghe một vị gia chủ nói với đám tôi tớ: “Tráp vàng hôm qua, ta đem đi cờ bạc hết rồi”. Đám tôi tớ nghe thế, vâng dạ cung kính.
Anh nhà quê trên đường về, gặp một vụ trộm vàng, quan quân truy xét người đi đường. Tới lượt mình bị truy xét, anh ta đem nguyên câu nói học được của người gia chủ nói với quan quân: “Tráp vàng hôm qua, ta đem đi cờ bạc hết rồi”. Anh ta tưởng nói như vậy, quan quân sẽ vâng dạ, cung kính. Ai ngờ nói xong, anh bị quan quân đánh cho một trận, rồi lại còn bắt giam!
Câu “Nhất thiết pháp, giai thị Phật Pháp” là tối tôn, tối thượng, tối thiện xảo của Ba Đời Chư Phật. Chẳng giống câu nói của anh nhà quê về cái tráp vàng.
Và nương Phật thần lực, cũng là một cách khéo léo “trả lại bản quyền cho Thế Tôn vậy”!