Người Tu Hành Lấy Gì Làm Gốc

Các bạn!!!
Vừa rồi, mình có cuộc trao đổi vui với mấy vị HĐ của chúng ta!!! Nhóm HĐ này chia thành hai phe, bắt nguồn từ việc trao đổi trước đó của họ...
Nội dung trao đổi được các vị HĐ của chúng ta kể lại..
Trong một lần luận bàn Phật pháp, có HĐ lên tiếng: Trong Vô Đối Môn, Thầy viết “lấy tâm làm gốc”!!! Trong khi đó, có người hỏi Lục Tổ: “Thầy của Ngài lấy gì làm tông”??? Tổ đáp: “Thầy của ta lấy vô niệm làm tông, vô tướng làm thể, vô trụ làm gốc”!!! Như vậy, một bên nói lấy tâm làm gốc, một bên nói lấy vô niệm làm gốc... Xin mọi người cho biết ý kiến, người tu hành lấy gì làm gốc là hợp lí nhất!!!???
Từ câu chuyện trên, nhóm HĐ chia thành hai phe, một phe bảo lấy tâm làm gốc là đúng, một phe bảo lấy vô niệm làm gốc mới đúng!!! Hai bên không thống nhất ý kiến, bên nào cũng có lí lẽ của mình!!! Thế là họ đến gặp, nhờ mình cho ý kiến!!!
⁕ Sau khi nghe câu chuyện, mình chỉ vào một vị HĐ và hỏi: Ngày mới gặp mình, bạn lấy gì để làm cơ sở tu hành???
─ Thưa Thầy, lúc đó Thầy dạy cho con một số kiến thức cơ bản, cụ thể thế nào là tâm, thế nào là pháp, thế nào là trần, thế nào là cảnh, v.v... Sau đó Thầy đưa ra định hướng và hướng dẫn cách thức để không sinh tâm, không sinh pháp... Giúp con vượt qua Nhuận chi vô minh và Căn bản vô minh!!!
⁕ Kết quả thế nào???
─ Sau một thời gian ngắn, an lạc, thanh tịnh đã đến với con!!!
⁕ Mình lại chỉ vào một vị HĐ khác và hỏi: Còn bạn, hiện tại bạn lấy gì làm cơ sở tu hành???
─ Thưa Thầy, trong hiện tại con hướng đến trí tuệ và lấy trí tuệ làm cơ sở tu hành!!!
⁕ Bạn hướng đến trí tuệ bằng cách gì???
─ Con đọc kinh điển và các tài liệu Thầy viết, tham gia các buổi sinh hoạt, quan sát cách Thầy khai thị cho từng người, v.v... nhằm tích luỹ kiến thức, học cách điều phục tâm người, tư duy thấu suốt từng vấn đề, điều gì không thông nhờ Thầy giảng giải!!!
⁕ Kết quả thế nào???
─ Con thấy sức rộng và sâu của mình hơn hẳn ngày xưa!!!
⁕ Mình hỏi người ngồi đối diện: Còn bạn, hiện tại bạn lấy gì làm đối tượng tu hành???
─ Thưa Thầy, trước đây con lấy tâm và pháp làm đối tượng để hàng phục... Sau khi tâm và pháp hết sinh diệt, nhưng tập khí vẫn còn thừa sót... Để trừ sạch tập khí hiện lưu... Con lấy vô niệm làm đối tượng tu tập và thường thực hành lặng lẽ quan sát không kết luận như lời Thầy dạy!!!
⁕ Thế kết quả có khả quan hơn không???
─ Rất khả quan Thầy ơi, tập khí giảm đi rất nhiều, thậm chí thời gian dài không hiện khởi!!!
⁕ Mình nói với mọi người: Bây giờ các bạn thấy người tu hành nên lấy gì làm gốc (cơ sở để tu tập)??? Suy nghĩ một hồi, mọi người vỡ lẽ ra!!! …
Mình nói tiếp, Phật dạy: “Khi người ta quăng một cục xương, con chó chạy theo cục xương, vồ lấy rồi tha đi để gặm nhấm, cả bầy hùa nhau tranh lấy cục xương!!! Nhưng với con sư tử thì ngược lại, khi có một ai đó ném cục xương, lập tức con sư tử sẽ vồ lấy người ném, thậm chí cả bọn sẽ cắn xé người kia...”!!! Các bạn nhận ra điều gì trong câu chuyện mình vừa kể và những gì các bạn đã tranh luận???!!!... Mọi người tỏ ra thông hiểu vấn đề!!!
⁕ Mình nói tiếp: Thế đấy các bạn, có thể đây là bài học nhớ đời đối với các bạn!!! Phật pháp có vô lượng pháp môn... Tức Phật pháp có vô lượng cơ sở để người tu hành lấy đó làm gốc, làm hạt nhân tu tập!!!
Tuỳ vào căn cơ, tuỳ vào giai đoạn, tuỳ vào địa vị... Các cơ sở tu tập được thay đổi thường xuyên để phù hợp mục tiêu trước mắt!!! Vì thế, lấy tâm làm gốc, lấy thân làm gốc, lấy vô niệm làm gốc, lấy trí tuệ làm gốc, lấy từ bi làm gốc, lấy công hạnh làm gốc, v.v... chỉ đúng với từng trường hợp, từng địa vị cụ thể của người tu tập trong Phật đạo!!!
Giống như một đoàn tàu chạy qua nhiều sân ga, có người lên tàu từ sân ga này, có người lên tàu từ sân ga kia, không nhất thiết mọi người trên tàu cùng xuất phát từ một sân ga!!! Chắc bây giờ các bạn hiểu ra sự hoạt dụng của Phật đạo là thế nào rồi chớ!!!
Phần lớn người tu hành, không hiểu đạo lý trên... Cho nên, khi họ đọc một tài liệu nào đó hay nghe người khác nói về cách thức tu tập, họ bèn lấy điều đã nghe và áp dụng cho bản thân, mặc dù không biết rõ việc ứng dụng này có phù hợp với tâm cảnh, trình độ hiện tại của mình hay không!!!
Chính sự thiếu hiểu biết, đa số người tu hành bỏ rất nhiều công sức nhưng kết quả thì ngược lại!!! Giống như người bệnh, không biết mình bệnh gì, chẳng được Thầy thuốc thăm khám, nghe tên thuốc là vội vã tìm lấy để uống... Sau một thời gian tự điều trị, chẳng những bệnh cũ không hết, bệnh mới lại phát sinh!!!
Các bạn!!!
Câu chuyện uống lộn thuốc, tu tập một cách máy móc, tuyên thuyết điều mình chưa thấu suốt, cho rằng phương pháp tu học của mình là số một, v.v... đâu đó vẫn thường xảy ra trong giới tu hành!!!
Viết đến đây, mình nhớ lại câu chuyện tranh công của năm anh em nhà Nguyên Âm là A, E, I, O, U!!! Anh nào cũng cho mình là quan trọng số một, không cần đến bốn anh kia... và tuyên bố chữ viết mà thiếu mình thì thiên hạ sẽ đại loạn, nhưng nếu thiếu bốn anh kia thì chẳng hề ảnh hưởng đến hoà bình thế giới!!!
Thế là, từng anh viết một đoạn văn và chỉ sử dụng một nguyên âm của mình trong tất cả các chữ để chứng minh mình mới là “nhân vật quan trọng số một”, không thèm sử dụng mấy anh kia!!!
Kết quả năm đoạn văn của năm anh em A, E, I, O, U sau khi viết xong... Đúng là đọc lên, thiên hạ lập tức... trở... thành... đại... loạn!!!
(19-02-2020)
Chân Lý Là Của Ai?

- Hỏi
Các bạn!!! ... Hôm qua hên quá, có một bạn trẻ gởi câu hỏi qua messenger!!! Bạn ấy là “cảm tình viên” của Lý Gia!!! Gọi là cảm tình viên vì bạn ấy không phải là môn đệ của Lý Gia nhưng rất thích các bài viết của Lý Gia!!! Bạn ấy tâm sự như sau!!!
Kính thưa thầy Lý Tứ và HĐ Lý Gia!
Con là Tấn Trí, hiện đang công tác tại TP Hồ Chí Minh. Tuy không là đệ tử của thầy, không là học trò Lý Gia nhưng con rất ngưỡng mộ thầy, rất mến HĐ Lý Gia.
Ngưỡng mộ thầy vì con rất thích phong cách bình dân, khoa học, minh bạch và dễ hiểu của thầy từ các bài viết, nhờ đó con hiểu Phật đạo một cách cụ thể. Mến các HĐ Lý Gia vì các anh chị ấy còn trẻ nhưng nói năng lễ phép, thể hiện tôn sư trọng đạo, khiêm tốn, nhờ giác ngộ mà các anh chị ấy vượt qua những khó khăn trong cuộc sống đời thường. Sau khi đọc các bài viết của thầy của các anh chị con rất muốn được làm học trò của thầy nhưng nhân duyên chưa đủ. Con mong có ngày mình về với Lý Gia.
Hôm trước con đọc được một bình luận từ bài viết của một bác, con thấy nó hay và rất đúng, nhưng đêm về suy nghĩ mãi, cứ thấy nó có gì sai sai sao đó. Con không quả quyết được bình luận ấy là đúng hay sai, mong thầy phân tích dùm!
Bác ấy bảo rằng: “Chân lí không phải của riêng ai, hay của một nhóm người nào! Nếu nói chân lí của nhóm mình thì chỉ có giá trị trong nội bộ mà thôi!”
Điều con thắc mắc từ bình luận ấy là: Nếu nói chân lí là của chung, không phải của riêng ai thì tại sao bao nhiêu người không giác ngộ chân lí trong đó có cả con và bác ấy. Nếu nói chân lí của nhóm mình thì có phải chân lí chỉ có giá trị trong nội bộ ấy mà thôi hay không? Nếu chỉ có giá trị nội bộ thì sao gọi là chân lí cho được? Suốt đêm con suy nghĩ không thông. Xin thầy giải thích dùm câu nói trên.
(Tấn Trí)
- Đáp
Lời đầu tiên, mình chân thành cảm ơn những tình cảm tốt đẹp của bạn... đã dành cho mình và HĐ Lý Gia!!! Chúc bạn... công tác tốt!!!
Về câu hỏi, do mình không đọc toàn văn bài viết, cũng như không đọc bình luận của bác nào đó với dụng ý gì, nên không thể nêu quan điểm cá nhân cho toàn bộ bài viết cũng như bình luận!!! ...
49.1. “Chân lí không phải của riêng ai, hay của một nhóm người nào!”
Theo như bạn... đã trình bày, câu nói có hai mặt:
Về mặt đại chúng: Câu nói này mình cũng thường nghe, thường gặp!!! Vì nó là câu nói chung chung của người đời, ai cũng biết, ai cũng có thể phát biểu!!! Cụ thể, nói mà không hại gì, không bị đánh thuế, v.v... Ví như có người nói, mặt trời là của chung, không phải của riêng ai, hay của một nhóm người nào!!! Câu này chẳng có gì sai, tuy rằng nó hơi “thưa thớt một chút”!!! ... Người chín chắn, kẹt lắm mới dùng câu nói trên trong một vài trường hợp đặc biệt!!!
Về phương diện cá nhân: Như những gì bạn... trăn trở là hoàn toàn đúng!!! ... Viết đến đây, bất chợt mình nhớ lại “cái rổ sảo”!!! Rổ sảo là một loại rổ to nhưng đan thưa, người ta dùng rổ sảo để gạn (lựa) những vật nhỏ!!!
Từ cái rổ sảo, ta có thể đưa ra một khái niệm vui!!! Rổ, thúng, mủng, nong, nia, dần, sàng... Là những vật dụng của người nông dân dùng đựng nông sản!!! Nhưng rổ sảo lại là vật dụng người nông dân dùng để phân loại kích cỡ nông sản!!! Nếu có đựng, người nông dân chỉ đựng các loại... Nông... Sản... To!!!
Chân lí cũng như thế bạn ạ!!! ... Tuy nói rằng, nó là của chung, chẳng phải của riêng ai!!! ... Nhưng, trong đời không phải mọi người đều thấy hoặc sở hữu được chân lí!!! ... Giống như vàng, không phải của riêng ai, nhưng ở đời, không thiếu những người tìm một chút vàng làm thuốc nhỏ mắt cũng... “Không... Ra!!!”
Giống như mặt trời không của riêng ai!!! Nhưng với người mù bẩm sinh thì, mặt trời và ánh sáng của nó đối với họ là “xa xí phẩm”!!! Thành ra, xét cho cùng, câu nói: “Chân lí là của chung, không phải của riêng ai” giả sử trên đời có luật: “Nếu anh phát biểu câu này, mà anh không chứng minh được bản thân đang sở hữu chân lí ấy, anh sẽ bị đóng thuế một tỉ (1.000.000.000) đô la Âm Phủ!!!” Chắc chắn câu nói trên sẽ...thất...truyền!!! ... Và có cho kẹo thì cũng chẳng mấy anh nào “dại miệng” phát biểu lung tung!!!
49.2. “Nếu nói chân lí của nhóm mình thì chỉ có giá trị trong nội bộ mà thôi!”
Câu nói này có vấn đề!!! ... Sẽ giống như phát biểu: “Vàng của anh, của công ty anh chỉ có giá trị trong gia đình anh hay công ty anh mà thôi”!!! ... Không có giá trị... ngoài... đời!!! ... Ha ha ha ha!!! ... Viết đến đây, mình nhớ bản tin mình đã đọc đâu đó mấy hôm trước: “Có một số thanh niên dùng vàng giả, quảng cáo trên mạng xã hội, ai đóng 300 ngàn sẽ được công ty vàng có tiếng tăm tri ân một chiếc nhẫn một chỉ”!!! Việc như đùa, vậy mà có đến 18.000 người sập cái “bẫy cò ke” của các cậu ấy!!!
Ha ha ha ha!!! ... “Chân lí là của chung, không phải của riêng ai, hay của một nhóm người nào”!!! Câu này nghe thì hay đấy, nhưng theo mình, bạn... đừng có dại mà tin câu nói ấy, nhất định có ngày “sập cái bẫy cò ke” ...như...chơi!!! ... Vì thế Phật dạy: “Này các ông, đạo của ta là chân lí, các ông hãy đến để thấy, để biết... Chứ không phải đến để nghe nói mà không thấy, không biết”!!!
Chúc các bạn an vui, tinh tấn và thành đạt!!!
(18/08/2020)
Làm Thế Nào Để Nhất Tâm?

− Hỏi
1) Người tu hành hay tranh luận về ba phép tu Thiền, Mật và Tịnh. Người theo phép tu nào cũng cho phép tu của mình là tối thắng! Xin hỏi: Theo nhận định của thầy Lý Tứ thì trong ba phép tu đó, phép nào mới là tối thắng?
2) Làm thế nào để người tu hành có thể thành tựu nhất tâm?
3) Làm thế nào để sau khi đạt được nhất tâm như ý túc có thể thành tựu không tâm?
(08/08/2020; Thanh Long)
- Đáp
Mình xin lần lượt trả lời ba câu hỏi:
48.1. Ba phép tu Thiền, Mật, Tịnh... Theo... thầy... phép nào... tối thắng?
Chuyện người tu hành xưa nay tranh luận về ba phép tu bạn đã nêu không hiếm gặp, bản thân mình cũng nhiều lần chứng kiến!!!
Theo mình, một hành động, một phép tu, v.v... chưa thể đánh giá hành động phép tu đó là tối thắng hay không!!! Khi ta chưa biết rõ, người thực hiện phép tu hay hành động nào đó với mục đích gì!!!
Giả sử, khi người ấy cho biết bản thân sử dụng phép tu hay một hành động nào đó với một mục đích cụ thể... Nhưng họ không thể giải thích, hay chứng minh được rằng, dựa vào cơ cở nào để hành động hay phép tu mà họ sử dụng có thể đạt được mục tiêu mà họ đề ra một cách thuyết phục thì, chưa thể đánh giá việc làm của họ là thù thắng!!!
Vì rằng, bản thân một phép tu, một hành động chưa nói lên được điều gì!!! Giống như phía tây là núi, phía đông là biển, có ba người đứng ở giữa núi và biển... Ba người đó tranh luận với nhau đi về hướng đông hay hướng tây là tối thắng, mà họ không cho biết đi về hướng của mình để làm gì??? Và cũng không thể chứng minh thuyết phục rằng, đi theo hướng anh ta nhất định sẽ đạt được mục tiêu mà anh ta đề ra thì, khó mà nói rằng hành động của anh ta có tối thắng hay không!!!
48.2. Làm thế nào để người tu hành có thể thành tựu nhất tâm?
Câu hỏi này có liên quan đến câu hỏi số một!!! “Nhất tâm” là “một lòng một dạ” thực hiện một việc làm nào đó, cho dù trong lúc thực hiện có bao nhiêu trở ngại, người ấy cũng quyết tâm vượt qua!!!
Muốn nhất tâm, người này phải đặt ra mục tiêu hành động... Giữa mục tiêu và hành động phải dựa vào cơ sở lí luận thuyết phục và chứng minh được tính hợp lí của nó!!! Nếu, giữa mục tiêu và hành động không hợp lí về mặt khoa học, không thuyết phục về mặt lí luận, v.v... nhất định người ấy khó có thể “toàn tâm toàn ý” cho công việc của mình!!! Nếu có toàn tâm toàn ý cũng khó có thể đạt được mục tiêu vì sự phi lí giữa mục tiêu và hành động!!!
Giống như một người đề ra chủ trương, hằng ngày cứ một lòng một dạ mắng chửi cây cột điện trước nhà, nhất định dịch bệnh sẽ được đẩy lùi... Chủ trương này khó có thể đạt được mục tiêu!!! Vì rằng, giữa dịch bệnh, mắng chửi và vi-rút gây bệnh không có mối liên hệ nào... Cũng như khoa học và lịch sử nhân loại cho thấy, phương pháp đẩy lùi dịch bệnh không thể bằng cách người ấy đề ra!!!
Tóm lại, người tu hành muốn thành tựu nhất tâm, điều đầu tiên phải đặt ra mục tiêu hướng đến... Sau khi có mục tiêu, người ấy phải hiểu biết tường tận con đường đưa đến mục tiêu ấy là gì, con đường này có hội đủ bốn yếu tố quyết định để đưa đến thành công hay không như: Hợp lí, khoa học, thuyết phục và quyết tâm cao độ...!!! Khi có đủ bốn yếu tố trên, việc thành tựu nhất tâm tâm chỉ là chuyện thời gian!!!
48.3. Làm thế nào... khi đạt... nhất tâm như ý túc... thành tựu không tâm?
Nhất tâm như ý túc và không tâm là hai cảnh giới khác nhau trong Phật đạo!!! Nhất tâm thuộc về hữu vi (thế gian) ... Không tâm thuộc về vô vi (xuất thế)!!!
Tuy nhiên, trong quá trình tu tập để tiến đến nhất tâm như ý... Nếu người này có xuất phát điểm “tương cận” với mục tiêu không tâm... Hoặc sau khi nhất tâm được bậc trí “khai thị” để giác ngộ không tâm, người ấy có thể thành tựu cảnh giới không tâm!!!
Thế nào là xuất phát điểm của nhất tâm tương cận với không tâm??? Đây là trường hợp của những người thành tựu nhất tâm như pháp, tức người ấy hiểu rõ giáo pháp, con đường đưa đến không tâm là gì và như lí tác ý!!! Trong quá trình như lí tác ý, hy vọng cơ duyên “giác ngộ không tâm” có thể xảy ra!!! Bằng ngược lại, nhất tâm một cách phi lí, con đường giác ngộ không tâm nhất định không thể xảy ra!!!
Thế nào là, sau khi thành tựu nhất tâm như ý, được bậc trí khai thị để giác ngộ không tâm??? Đây là trường hợp người tu hành được học tập bởi một người thông hiểu Phật đạo... Người ấy được người có trí từng bước hướng dẫn tu tập như pháp theo đúng lộ trình 37 phẩm... Sau khi thành tựu nhất tâm như ý túc của Tư lương vị, vị ấy sẽ có được giác lực và huệ lực của Kiến đạo vị... Cuối cùng sẽ được khai thị để giác ngộ không tâm!!!
Hy vọng, những giải thích vừa rồi, có thể giúp bạn... giải toả các thắc mắc của mình!!! ... Chúc bạn... và bạn đọc an vui, tinh tấn!!!
Ra Khỏi Ba Cõi; Như Thế Nào Là Quy Y Tam Bảo Tự Tánh?
Ba cõi chỉ như “sừng thỏ lông rùa”. Phật dạy: “Những ai còn tư niệm, tư lường, thầm ý... Đây là cảnh sở duyên cho thức an trú… Thức an trú, thức tăng trưởng… thức tăng trưởng, thức chọn lựa…”

Hỏi: Từ lúc chia tay đến giờ, sau khi biết rõ nguồn gốc phát sinh kiết sử, trong lòng tôi tự dưng chấm dứt tham sân...
Năm căn thân đối trần, cảm nhận được cái vô tri của vật...
Ý căn nhìn thấy những nghĩ suy của mình, như dòng nước chảy qua cầu, lòng không vướng bận... Quay lại thân này, cảm giác nhẹ nhàng, tựa như bong bóng... Quán sát tâm, tâm tràn đầy an lạc... Chỉ một buổi ngắn nói chuyện, mà được những điều chưa từng được, hiểu cặn kẽ những điều trước đây chỉ đọc thuộc trên văn tự...
Đúng là “tri kiến” khác xa với “tri thức”. Một bên là thấy biết chân thật, nên nghĩa lý có được cũng chân thật, một bên là dựa vào ý nghĩa văn tự để hiểu, nên cái hiểu này chỉ là bóng dáng của nhận thức thông qua hình ảnh văn tự!
Tôi hiểu ra, Diệu Âm chính là thứ ngôn âm đưa người từ cột trói bởi mê muội đến sáng suốt thảnh thơi, đưa người từ khổ đau chấp nhứt đến Giác Ngộ, thấy rõ cứu cánh Niết Bàn! Phật Đạo đúng là hy hữu!
Đáp: Ông thử dùng năm căn thân của mình xúc đối với năm trần cảnh... Khi mắt đối sắc, tai đối thanh, mũi đối hương... bản thân ông có còn ham muốn như xưa nữa không?
Hãy từ từ quan sát trong khi xúc đối, đừng gấp gáp, đừng chạy theo lời nói của tôi...
Hỏi: Mọi thứ đứng lặng…
Đáp: Như vậy, Dục Giới từ đâu sanh?
Hỏi: Chẳng có chỗ sanh, cũng chẳng có chỗ diệt… Tự không có nơi nào là Dục Giới…
Đáp: Trong cảm nhận này, ông quán sát xem, thân của ông có còn là cơ sở để sinh ngã hay không?
Hỏi: Tôi thấy thân còn không có, hà huống sinh ngã từ thân này…
Đáp: Thân này không có ngã, thân có ràng buộc được ông không?
Hỏi: Ràng buộc là do chấp sắc thân làm ngã, một khi hết chấp, thì không có chủ thể đón nhận “giải thoát” hay “ràng buộc”…
Đáp: Không còn chủ thể đón nhận giải thoát hay ràng buộc… Phật Đạo gọi đó là gì?
Hỏi: Phật Đạo gọi đó là ra khỏi Sắc Giới hay Sắc Giải Thoát…
Đáp: Hiểu biết ra khỏi Dục Giới cùng Sắc Giới mà ông vừa cảm nhận được do đâu mà có?
Hỏi: Từ ý thức mà có! …
Đáp: Ý thức này từ đâu sanh?
Hỏi: Chẳng từ đâu sanh, khi thân tâm chuyển biến thì ý thức ghi nhận.
Đáp: Ghi nhận xong thì thế nào?
Hỏi: Ghi nhận xong, hiểu biết và cảm nhận này được lưu giữ trong tâm thức.
Đáp: Ai là người gìn giữ hiểu biết và cảm nhận này?
Hỏi: Tôi không thấy có ai trong đó…
Đáp: Giống như một tấm gương soi mặt... Tấm gương đó có ảnh của mình hay không?
Hỏi: Tất nhiên là tấm gương tự nó không ảnh...
Đáp: Khi nào tấm gương này hiện ảnh của mình trong đó?
Hỏi: Khi ta nhìn vào! …
Đáp: Những thứ kiến thức từ ngoài đời, cho đến đạo pháp, giống như mặt mình trong gương, nếu ta không nhìn vào thì các quan niệm, cảm nhận từ những kiến thức đó có sinh khởi hay không?
Hỏi: Tất nhiên là không! ...
Đáp: Thì cũng vậy, Vô Sắc Giới bản chất của nó không có tánh của sắc, như cảnh trong gương, như kiến thức trong tâm người...
Chỉ vì người mê, tưởng về nó, nên nơi không có tưởng, trở thành có tưởng... Nơi không tự ngã, trở thành tự ngã... Ông có hiểu tôi nói gì hay không?
Hỏi: Đúng là ba cõi chỉ như “sừng thỏ lông rùa” 1
Đáp: Đã biết là sừng thỏ lông rùa, kẻ trí có nên tìm cầu hay không?
Hỏi: Nhất định không nên…
Đáp: Phật dạy: “Những ai còn tư niệm, tư lường, thầm ý... Đây là cảnh sở duyên cho thức an trú… Thức an trú, thức tăng trưởng… thức tăng trưởng, thức chọn lựa…”
Muốn dứt ba cõi sáu đường, ông biết phải làm gì rồi chứ?
Hỏi: Đừng làm cảnh sở duyên cho thức an trú, để rồi thức chọn lựa đời sau…
Đáp: Ông thuộc loại thông minh…(cười lớn) Mời uống trà…
Hỏi: Nay tôi xin được vĩnh viễn làm người hầu trà. Mời Đạo Sư dùng trà!
Đáp: Ông đã đọc Kinh Đại Niết Bàn chưa?
Hỏi: Thưa Đại Sư, tôi đã đọc rồi.
Đáp: Ông còn nhớ lời Phật dạy: “Ta dùng Phật nhãn, quán sát hết thảy, núi non, sông ngòi, tinh tú, nhật nguyệt, không một pháp có được…”. Ông hiểu thế nào về câu này?
Hỏi: Thưa! Phật dạy, dưới Phật nhãn thì không có gì hết!
Đáp: Không có gì hết, tại sao Phật có nói đến núi non, sông ngòi, tinh tú, nhật nguyệt?
Hỏi: Con chưa hiểu hết ý vị câu nói đó… Xin được nghe cắt nghĩa…
Đáp: Ông hãy suy nghĩ thật kỹ, đừng theo thói quen thường tình, chưa nắm hết vấn đề đã vội trả lời. Hãy phân tích từng chữ trong câu nói đó, xem Phật nói “cái gì không có được”?
Hỏi: Hãy cho con thời gian suy ngẫm…
Đáp: Ông cứ tự nhiên… Khi nào thấu đáo hãy trả lời.
Hỏi: Theo những gì con chiêm nghiệm về câu nói đó, Phật dạy: “Không một pháp có được”.
Đáp: Không một pháp có được, hay núi non, sông ngòi không có được?
Hỏi: Không một pháp có được…
Đáp: Như vậy, núi non, sông ngòi… là cái gì?
Hỏi: Núi non, sông ngòi… là vật, là cảnh, là thế giới.
Đáp: Như vậy “pháp” là cái gì mà Phật bảo rằng, không có được? Ông đừng chạy theo văn tự, bỏ kiến thức xuống, hãy quay lại tự tâm quán sát mà trả lời.
Hỏi: Con suy xét từ tâm này, vật, cảnh, thế giới tự bản chất không có ý nghĩa… Có phải không có ý nghĩa, nên Phật bảo rằng: “không một pháp có được”?
Đáp: (Cười lớn) Nếu làm cầu thủ bóng đá, nhất định ông sẽ trở thành ngôi sao. Như vậy, ông hiểu bản chất của vật, cảnh và thế giới hay chưa?
Hỏi: Con hiểu…
Đáp: Ông có hiểu thế nào là “pháp” hay không?
Hỏi: Chẳng những hiểu mà nay con đã thấu suốt.
Đáp: Ông có nhớ câu nói trong Kinh Đại Niết Bàn: “Trước khi thọ thực, thân Bồ Tát là nhục thân… Thọ thực xong, Bồ Tát thấu suốt thế nào là Kim Cang thân... Thấy Phật Tánh thành Đẳng Chánh Giác…” hay không?
Hỏi: Sau buổi Pháp thực hôm nay, con đã nhận ra “Thế nào là Kim Cang thân…”. Vĩnh viễn không còn sinh tâm, không còn sinh pháp, không còn sinh ngã, không còn sinh diệt…
Nhưng trí tuệ con u tối, chưa thể một lúc mà thấy Phật Tánh như Bồ Tát ngày xưa... Nay một lần nữa, con xin quy y Tam Bảo Tự Tánh... Xin Đạo Sư chứng minh...
Đáp: Thế nào là quy y Tam Bảo Tự Tánh?
Hỏi: Không quy y vật, không quy y cảnh, không quy y thế giới… Chỉ quay về quy y chính Giác Ngộ này, nên tạm gọi là quy y tự tánh.
Đáp: Quy y Tam Bảo, ý nghĩa đích thực nó muốn hướng tới điều gì?
Hỏi: Không rời xa Giác Ngộ là quy y Phật… Biến Giác Ngộ này thành đời sống, thành hơi thở, thành máu thịt là quy y Pháp... Gìn giữ hai điều này cho đến tận cùng đời vị lai, không để dứt mất là quy y Tăng…
Đáp: Rất may, ông chưa nói nhân hôm nay mình đã thấy Phật Tánh. Ông mà nói mình đã thấy Phật Tánh, chắc tôi phải ngồi xuống, cầu xin ông thuyết pháp.
Phật dạy: “Thân này phải chịu sanh, lão, bệnh, tử. Tâm và pháp không nằm ngoài quy luật sanh, trụ, dị, diệt. Thế giới do thành, trụ, hoại, không mà đổi thay”. Khi nào thấu suốt được ba điều trên, nhất định ông hiểu ra nhiều pháp vi mật của Phật Đạo.
Hỏi: Nay con lại hiểu thêm thế nào mới đích thực là Pháp Âm.
Pháp Âm chẳng phải đọc nguyên bài kinh hay câu kệ… Mà Pháp Âm chính là những ngôn âm tác động thẳng vào tâm người, biến một kẻ đang mê mờ nơi các pháp bỗng dưng thôi không sanh pháp… Biến một kẻ trầm luân trong ba cõi, tự mình vượt qua hết thảy để chấm dứt sanh tâm… Biến cái ngã hư dối như núi Tu Di trong một niệm trở thành hư không…
Con xin đảnh lễ Đạo Sư.
Đảnh lễ Diệu Âm, đảnh lễ Pháp Âm.
Người đã dùng thần thông ngôn thuyết đưa con trải qua vô số cảnh giới bất khả tư nghì, để đến Phật Quốc mà tự thân không hề thấy động lay.
Đáp: Tôi đi uống thuốc ù tai đây…
-----------------------------
Sừng thỏ lông rùa: Chỉ những thứ có tên mà không có thực thể.
Kiết Sử Từ Đâu Sanh?
Cái gốc của kiết sử từ đâu sanh?

Hỏi: Âm thầm suy xét ngôn âm, tôi thấy bất kỳ mỗi lời hay nguyên câu nói đều có ý nghĩa của nó.
Đáp: Ông đã làm gì với ý nghĩa này?
Hỏi: Tôi suy ngẫm để hiểu ý nghĩa của từng câu, từng lời.
Đáp: Ngay lúc tôi và ông trao đổi, từ mỗi lời, mỗi câu, nếu ta tách riêng mỗi câu, mỗi lời thành hai phần riêng biệt, một bên là âm thanh, một bên là ý nghĩa, ông thấy thế nào?
Hỏi: Nếu tách riêng biệt, âm thanh và ý nghĩa ra thành hai phần. Tôi thấy trong âm thanh không có ý nghĩa.
Đáp: Ông thử liên hệ giữa thứ âm thanh mà ông thấy không có ý nghĩa đó và tiếng xe gắn máy của người đi ngoài đường, ông thấy thế nào?
Hỏi: Tôi thấy nó giống nhau.
Đáp: Khi thấy hai thứ âm thanh này giống nhau, giữa lời nói của tôi và tiếng xe chạy ngoài kia, ông thích âm thanh nào hơn?
Hỏi: Tôi không hề khởi lên ý niệm ham thích hay chán ghét một thứ âm thanh nào.
Đáp: Không ham thích, cũng chẳng chán ghét. Phật Đạo gọi đó là dứt điều gì?
Hỏi: Kiết sử.
Đáp: Như vậy, ông biết cái gốc của kiết sử từ đâu sanh hay không?
Hỏi: Biết! …Biết rất rõ! … Từ danh tướng mà sanh!
Đáp: Trong mỗi âm thanh, tự bản chất nó có danh và tướng hay không?
Hỏi: Tự thể nó không có danh hay tướng…
Đáp: Thế thì, danh tướng đó từ đâu sanh?
Hỏi: Từ tâm thức này duyên theo âm thanh mà sanh…
Đáp: Nếu tâm thức không duyên theo âm thanh để sanh danh tướng. Ông quay trở lại thân tâm này, và nhìn nhận theo cách mà ông vừa thấy biết, giữa thân và tâm có ý nghĩa gì không?
Hỏi: Tôi thấy “thân” này chỉ là “sắc”, còn “tâm” chỉ có tên gọi...
Đáp: Ông có biết “mười hai nhân duyên” hay không?
Hỏi: Có biết! …
Đáp: Cái “mầm danh sắc” trong mười hai nhân duyên nhằm chỉ cho điều gì?
Hỏi: Tôi hiểu rồi! … “Thân tâm” này, bản chất của nó chỉ là danh sắc…
Đáp: Nếu ta gói gọn “thân tâm” này trong phạm vi danh và sắc, không cho thức chen vào thì, nội lục nhập có thành lập được không?
Hỏi: “Nội lục nhập” cũng chỉ có tên gọi mà không có ý nghĩa…
Đáp: Nếu “Nội lục nhập” không có ý nghĩa thì những thứ như: xúc, thọ, ái, thủ là có hay là không?
Hỏi: Nội lục nhập chỉ là danh tự trống rỗng… xúc, thọ, ái, thủ, cũng chỉ là danh tự trống rỗng…
Đáp: Nếu các chi này đều trống rỗng… Sắc, thọ, tưởng, hành, thức thế nào?
Hỏi: “Sắc, thọ, tưởng, hành, thức” cũng trống rỗng…
Đáp: Năm món này trống rỗng, nó có trói buộc được ông không?
Hỏi: Đã trống rỗng thì chẳng thể trói buộc được...
Đáp: Không trói buộc được thì năm món ấy có gọi là “ngũ ấm” hay không?
Hỏi: Chỉ có tên là năm món, chứ chẳng thể là ngũ ấm…
Đáp: Như vậy, ông biết cách làm thế nào để năm món: sắc, thọ, tưởng, hành, thức không trở thành ngũ ấm rồi chứ?
Hỏi: Tôi biết! … Tôi biết! …
Đáp: Nếu năm món chỉ rỗng không, năm món này có khác nhau chăng?
Hỏi: Không khác! … Tuy tên có năm, nhưng chỉ là một rỗng không không có ý nghĩa! …
Đáp: Ông có biết bài Bát Nhã Tâm Kinh hay không?
Hỏi: Có biết! …
Đáp: Nội dung bài kinh này nói gì?
Hỏi: Nói rằng “ngũ uẩn giai không”! ...
Đáp: Vì sao “ngũ uẩn” đều không?
Hỏi: Vì tự thể nó rỗng không, chỉ có danh mà không có thực.
Đáp: Trên đời này, không riêng gì năm món sắc, thọ, tưởng, hành, thức, mà từ vi trần đến thế giới… Nếu tâm ý này không mê mờ, hết thảy có giống như cảm nhận của ông không?
Hỏi: Đồng như vậy! Nếu không mê mờ nơi các thứ ấy thì “sắc, thọ, tưởng, hành, thức” cho đến vi trần lẫn thế giới đều chỉ có giả danh mà không có uẩn! …
Đáp: Ngũ uẩn giai không là nghĩa gì?
Hỏi: Nếu nó có một nghĩa gì, lập tức tất cả trở thành uẩn! …
Đáp: (Cười lớn) Năm món “sắc, thọ, tưởng, hành, thức” hay nói khác đi, thân và tâm này có phải là ấm hay uẩn chăng?
Hỏi: Rốt ráo không! … Rốt ráo không! … Ấm chỉ do mê, uẩn chỉ do lầm... Dứt mê, hết lầm... Năm món này, cho đến thế giới kia chỉ là những viên pha lê trong suốt, không có tự tánh, cũng chẳng có tha tánh! … Giống như những hạt mưa từ trên trời rơi xuống, chẳng có tánh tự hay tánh tha!
Đáp: Ông quá tài! Mời uống trà, suy ngẫm để thấm nhuần ý nghĩa vừa thấy được.
Hỏi: Đúng là không phải như “bò nhai rơm khô” mà khéo dẫn dụ tâm người thì tất cả đều là “cam lồ thượng vị”! … Tôi chợt hiểu ra, thế nào là “Diệu Âm”. Không cắt nghĩa dài dòng, mà có thể khiến người hiểu được, cái này mới là “việc hy hữu” (hiếm có).
Đáp: “Rắn tức thị dây, dây thức thị rắn”… Tất cả chỉ tại cái … bóng… tối!…(Cười lớn)
Mời uống trà… Uống trà xong, ông hãy về tiếp tục chiêm nghiệm những điều vừa thấy, ngày mai tiếp tục…
Nghe nhiều quá, có khi đang sáng suốt trở thành ngu tối.
Bốn Lần Giác Ngộ Quan Trọng Phải Trải Qua
Một người tu hành trong Phật Đạo có rất nhiều lần Giác Ngộ, mỗi lần Giác Ngộ là một lần thăng tiến tâm và trí lên một cảnh giới cao hơn trong hành trình tiến về Vô Thượng Bồ Đề.

Hỏi: Một người đã xây dựng cho mình đời sống “thiểu dục tri túc” và thành tựu các pháp tu nói trên. Vậy người này đã hoàn toàn tịch diệt tâm hư vọng và đoạn hết kiết sử hay chưa?
Đáp: Những pháp vừa nêu, không thể đưa đến hoàn toàn tịch diệt hư vọng tâm. Và, kiết sử cũng chỉ đoạn dứt phần lớn chứ chưa hết hoàn toàn. Vì rằng, muốn tịch diệt hư vọng tâm, người tu hành phải chân thật Giác Ngộ.
Chân thật Giác Ngộ, hư vọng tâm rốt ráo tịch diệt, bấy giờ kiết sử cũng rốt ráo tịch diệt theo. Quá trình này giống như nước đã được lóng trong nhưng mầm bệnh tiềm ẩn hãy còn, vì thế chưa thể sử dụng cho việc ăn uống ngay được mà còn phải trải qua giai đoạn nấu chín. Giác Ngộ chân thật, giống như đun sôi nước, tiêu diệt các mầm bệnh.
Hỏi: Trước cũng nói Giác Ngộ Tứ Niệm Xứ, sao bây giờ còn đề cập đến Giác Ngộ nữa? Như vậy, một người tu hành trong Phật Đạo phải trải qua bao nhiêu lần Giác Ngộ?
Đáp: Trước chỉ nói đến Giác Ngộ, bây giờ nói đến chân thật Giác Ngộ. Giác Ngộ và chân thật Giác Ngộ là hai cảnh giới khác nhau. Giống như “nước trong và nước sạch là hai thứ nước hoàn toàn khác nhau”.
Một người tu hành trong Phật Đạo có rất nhiều lần Giác Ngộ, mỗi lần Giác Ngộ là một lần thăng tiến tâm và trí lên một cảnh giới cao hơn trong hành trình tiến về Vô Thượng Bồ Đề.
Giống như một người đi từ A đến Z, người này phải trải qua những chặng đường B, C, D; mỗi cung đường đi qua, cảnh vật khác nhau, và phương tiện cũng khác nhau. Vì thế, Phật Đạo mới có vô lượng Pháp Môn.
Hỏi: Xin ngài hãy nói qua cho tôi biết, có bao nhiêu lần Giác Ngộ quan trọng trong hành trình tiến về Vô Thượng Bồ Đề?
Đáp: Như những gì trước đây đã nói, có thể hiểu đơn giản có bốn lần Giác Ngộ quan trọng mà một người tu hành nhất định phải trải qua, mới đến được Vô Thượng Bồ Đề, đó là:
Lần thứ nhất: Giác Ngộ để hư vọng tâm và kiết sử mỏng nhẹ đến mức tối thiểu, gọi là sơ ngộ. Giống như, người ta dùng phèn để lóng trong nước đục.
Lần thứ hai: Giác Ngộ chân thật, để hư vọng tâm hoàn toàn tịch diệt, chân tâm hiện Giống như, người ta đun sôi nước để nước này có thể sử dụng mà không sợ độc hại.
Lần thứ ba: Giác Ngộ để thật sự biến Giác thành Trí. Giống như, học những cách thức chế biến nước sạch đang có trở thành cam lộ cứu người.
Lần thứ tư: Giác Ngộ Vô Sư Trí - đây được ví như vụ “nổ Big Bang” hình thành Phật Đạo.
Hỏi: Có phải ba lần Giác Ngộ trước là do học tập mà được, gọi là Hữu Sư Trí. Còn lần Giác Ngộ thứ tư gọi là Vô Sư, vì chẳng có thầy, do tự Giác Ngộ mà hình thành Phật Đạo. Như vậy, phải nói rằng: Vô Sư Trí là lần Giác Ngộ đầu tiên, chứ sao lại xếp vào lần thứ tư?
Đáp: Giống như giả thuyết về Big Bang - vụ nổ đầu tiên hình thành vũ trụ. Nhưng con người khám phá vũ trụ thì nghiên cứu ngược lại. Người tu hành trong Phật Đạo cũng vậy, chỉ có thể tiệm tiến từ những Giáo Pháp cơ bản của Phật Pháp, rồi dần dần tiến xa hơn, tiến đến bao giờ không còn có thể tiến nữa, chờ công đức hội đủ, tâm thức vị đó sẽ tự bùng nổ.
Vì thế cái gọi là “điểm không” của vũ trụ, điểm mà mọi thứ bắt đầu và hình thành những điều cao siêu hơn so với tri thức nhân loại. Tốt nhất, hãy trở về với thực tại tu hành, nỗ lực, tinh cần để có được các lần Giác Ngộ như đã nêu trên, đây mới là điều nên làm của một Phật Tử trong hiện tại.
Hỏi: Làm thế nào để sau khi sơ ngộ, người tu hành này Giác Ngộ chân thật?
Đáp: Giống như người ta cắt cái cây thành nhiều đoạn cho thấp dần, sau đó mới có thể đào gốc rễ của nó lên.
Người tu hành thấu suốt ngũ ấm để không bị ngăn che, thấu suốt ngũ uẩn để không bị mê mờ, đây là lần cắt khúc cây đầu tiên..
Chân chánh biết thế nào là ba cõi, ba cõi từ đâu sanh, làm sao thứ lớp vượt qua ba cõi, là cắt phần cây thứ
Hiểu rõ tâm, hiểu rõ vật (cảnh, thế giới), hiểu rõ pháp, là lần cắt khúc cây thứ
Giác Ngộ tâm không thật, nên vô sở đắc. Giác Ngộ vật vô tri, nên vô sở hữu. Giác Ngộ pháp như huyễn, nên vô sở cầu, là lúc cắt khúc cây thứ tư.
Hoát nhiên thấy được “bổn lai không tâm, không pháp, không ngã” là đào gốc rễ của cái cây đó.
Hỏi: Có thể nào sau khi sơ ngộ, không cần thấu suốt hoặc Giác Ngộ tuần tự để cắt dần những phần của thân cây, vị tu hành này một lúc đào ngay gốc rễ hư vọng tâm lên được hay không?
Đáp: Tất nhiên là được, Phật Sử cũng đã ghi nhận một số trường hợp hy hữu như vậy.
Vì nó là “chuyện hi hữu” nên chỉ có người hy hữu mới làm được. Đừng có lầm tưởng mình cũng thuộc loại hi hữu nên không chịu từ từ cắt ngắn thân cây, để nguyên cái cây dài như vậy rồi hì hục đào. Sau khi gốc cây bật lên khỏi mặt đất, đó cũng là lúc người ta dùng thân cây đó để làm quan tài cho chính mấy ông thợ làm việc cẩu thả. Vì không phải là hy hữu nhân, nên bị hy hữu thọ đè chết là chuyện tự nhiên.
Giả sử, có người hy hữu bỗng dưng chứng hai vô ngã, thành tựu Phạm Hạnh, người này cũng phải học lại kiến thức thứ lớp đốn cây cho thuần thục, để sau này biết cách mà dạy người.
Không học những điều trên, khi giáo hóa vô tình giết oan người ta. Vì thế, khi Thế Tôn vừa thành Đẳng Chánh Giác, sau khi quan sát căn tánh chúng sanh, ngài tuyên thuyết: “Xưa Chư Như Lai dùng ba thừa để giáo hóa chúng sanh, nay Như Lai cũng dùng ba thừa”.
Hỏi: Có thể giảng nói cụ thể về việc cắt ngắn từng đoạn cây như thế nào hay không?
Đáp: Việc này đã giảng nói rất nhiều trước đây, bây giờ lặp lại, giống như “bò nhai rơm khô” chẳng có thú vị chút nào.
Nếu muốn biết, tìm đọc các tư liệu Phật Học của Lý Gia. Hoặc đi tìm các sư huynh của tôi cầu xin, những vị đó sẽ giảng nói cho mà nghe. Mấy vị ấy rất rành cái vụ này.
Hỏi: Nghe nói là một chuyện, Giác Ngộ là một chuyện. Nếu nghe nói hoặc đọc tụng mà Giác Ngộ thì đã có biết bao nhiêu người Giác Ngộ rồi, tôi nghĩ đâu có đơn giản như vậy?
Đáp: Thế thì ông muốn hỏi điều gì?
Hỏi: Tôi chỉ muốn trực tiếp được nghe Ngài nói, vì theo tôi biết, ngoài việc truyền đạt kiến thức một cách chuyên nghiệp, người nói còn phải biết rõ tâm cảnh đối tượng thính pháp.
Thuyết pháp để khai ngộ cho người, chính là dùng Diệu Âm, Pháp Âm tác động thẳng vào tâm người nghe, để người nghe nhân đó trực nhận ra điều gì đó, gọi là Giác Ngộ.
Vì thế, thuyết pháp không giống như dạy chữ ở đời. Tôi hiểu như vậy, không biết có đúng không?
Đáp: Ông quá tài, biết nhiều thứ.
Sao không nhân ở nơi thế gian âm trong lúc đối thoại, lắng nghe, âm thầm suy xét để hiểu ra cái gì là Diệu Âm?
Không nhân nơi kiến thức học được từ trước đến giờ, “lặng lẽ quan sát” để xem thế nào là Pháp Âm?
Hãy ngồi đó, suy gẫm những câu hỏi vừa nêu.
Tôi đi uống thuốc ù lỗ tai đây. Hồi khuya đến giờ tự nhiên cái lỗ tai nó nhức, sáng ra chỉ còn nghe ù ù, nặng nặng, nhức nhức. Cái thân này, nó báo đời như thế đó. ghê chưa. May sao bác sĩ Nguyên có cho tôi một bọc, đem theo lúc du lịch, nay hãy còn. Tôi đi uống đây. Ông tranh thủ ngồi suy ngẫm nhé, mình sẽ tiếp tục!
Lấy Tâm Làm Gốc, Kiết Sử Do Đâu? Dừng Vọng Khởi Phân Biệt
Tâm là cái gốc sản sinh ra các thứ hư vọng, tham lam, mong cầu không có điểm dừng. Mong cầu thành tựu thì thêm tham, không thành tựu thì sân hận, muốn chiếm đoạt, chìm đắm trong tham sân gọi là si mê. Ba độc tham sân si khi phát tác, sẽ khiến chúng sinh ưu bi khổ não.

Hỏi: Người mới bắt đầu tu hành trong Phật Đạo, lấy gì làm gốc?
Đáp: Người mới tu hành trong Phật Đạo lấy “tâm” làm gốc.
Hỏi: Nếu “tâm” này là hư dối, lẽ nào lấy “cái hư dối” làm gốc?
Đáp: Vì nó hư dối, nên mới lấy nó làm gốc, để diệt trừ tận gốc cái hư dối này. Giống như một người chưa biết chữ, thì nhắm thẳng vào việc chưa biết chữ, quyết tâm học hành cho biết chữ. Giống như muốn làm sạch cỏ, thì phải nhổ tận gốc rễ của chúng… Sau đó, mới tính đến những việc khó hơn.
Hỏi: Làm thế nào để lấy “tâm” làm gốc?
Đáp: Tâm là cái gốc sản sinh ra các thứ hư vọng, tham lam, mong cầu không có điểm dừng. Mong cầu thành tựu thì thêm tham, không thành tựu thì sân hận, muốn chiếm đoạt, chìm đắm trong tham sân gọi là si mê. Tham, sân, si - Phật Giáo gọi là ba độc, ba độc này khi phát tác, sẽ khiến chúng sinh ưu bi khổ não.
Hỏi: Làm sao để thoát ra khỏi “ba độc” trên?
Đáp: Trước mắt, để cho ba thứ độc này không phát tác, chờ cơ hội tận diệt chúng, người tu hành phải biết khu trú, tức bao vây ba độc này để chúng nằm yên một chỗ. Giống như người bị rắn độc cắn phải làm chậm sự hấp thu của nọc độc về hệ thống tuần hoàn.
Hỏi: Đối với ba độc (tham, sân, si) làm chậm sự hấp thu đó như thế nào?
Đáp: Muốn ba độc nằm yên một chỗ, làm chậm sự phát tác của chúng, chờ sau đó điều trị, người tu hành phải xây dựng lối sống “thiểu dục tri túc”. Trong đó “thiểu dục” được hiểu là: Tâm ít ham muốn; “tri túc” được hiểu là: Ý biết đủ trong mọi hoàn cảnh.
Ít muốn biết đủ: Tâm bằng lòng với những gì đang có, ý không khởi tham vọng là cách tốt nhất ngăn chặn cơ hội “ba độc” phát tác. Sự độc hại của chúng sẽ biến tham, sân, si thành ưu bi, khổ não. Ít muốn, biết đủ, quan trọng trong giai đoạn đầu của người tu hành như thế nào? Kinh Di Giáo nói rõ điều này:
“Nhược dục thoát chư khổ não, đương quán tri túc. Tri túc chi pháp, tức thị phú lạc, an ổn chi xứ. Tri túc chi nhơn, tuy ngọa địa thượng du vi an lạc, bất tri túc chi nhơn, tuy xứ thiên đường diệt bất xưng ý”.
Nghĩa là: Muốn thoát khỏi khổ não, ngay hiện tại phải biết quan sát để thâm nhập phép biết đủ. Biết đủ là “pháp” cho các ông tu tập trong lúc này. Biết đủ chính là nguyên nhân đưa đến tâm an ổn nơi hiện tại và giàu có trí tuệ ở vị lai. Người biết đủ, dù nằm trên đất cát vẫn an lạc. Trái lại, người không biết đủ, dù ở thiên đường cũng không vừa ý.
Hỏi: Xin nói rõ, quá trình này được diễn ra như thế nào?
Đáp: Tâm hư dối bị tác động của ba độc tham, sân, si theo nguyên tắc cung cầu. Trong đó “tâm” được ví như thị trường, “ý thức” được ví như nhà sản xuất. Khi tâm biết đủ, không vọng sinh các nhu cầu, thì ý thức sẽ dừng cung cấp các sản phẩm nghĩ suy nhằm làm thỏa mãn nhu cầu tham, sân. Khi ý thức dừng cung cấp những sản phẩm độc hại làm phá hoại tâm này thì chừng đó người tu hành mới đủ bình tĩnh và sáng suốt để tiếp nhận Giáo Pháp một cách hiệu quả, không sai lệch.
Hỏi: Thế nào để tiếp nhận Giáo Pháp không sai lệch?
Đáp: Giáo Pháp của Phật giống như thuốc chữa bệnh. Đáng lẽ ra, “người bệnh” dùng thuốc này để giúp mình tiêu ngã, diệt trừ ba độc, chấm dứt si mê. Thế nhưng người này làm ngược lại, dùng Giáo Pháp như một món trang sức để thỏa mãn cái ngã, nuôi lớn tham vọng: học tập để hơn người, để làm thầy.
Chìm đắm trong tham vọng này, chẳng khác “dứt dòng le le, tiếp nối dòng cò”. Tiếp nhận Giáo Pháp trong tâm thế như vậy, Giáo Pháp sẽ bị người đó vô hiệu hóa, đôi khi phản tác dụng.
Tóm lại, khi nào người tu hành trong Phật Đạo chưa nhận thức đầy đủ về ý nghĩa thiểu dục tri túc, để xây dựng cho mình bằng được “đời sống ít muốn, biết đủ; buộc hư vọng tâm phải dừng lại” thì chừng ấy hư vọng tâm và ý thức sẽ là những ông chủ bà chủ độc chiếm thân tâm; bắt các “căn” làm tôi tớ, mãi miết rong ruổi nơi tiền trần tìm kiếm các pháp để thỏa mãn tham vọng, không có hồi kết.
Phật Đạo gọi đó là: “Mãi mãi trôi nổi (luân hồi) trong pháp giới (tâm thức) chúng sanh”.
- Không nhận thức đầy đủ để xây dựng đời sống ít muốn biết đủ, mà cố tình cột trói tâm này ở yên một chỗ bằng các biện pháp cưỡng bức để sanh các thứ thiền, khi dây trói bị cắt đứt, ba độc lại làm chủ và phát tác sự độc hại của nó mãnh liệt hơn...
- Suy tư để nhận thức đầy đủ một pháp rồi mới ứng dụng, chính là biện pháp phục hồi chức năng Chánh Tư Duy. Chức năng này đã bị người tu hành bỏ quên. Đây cũng là một trong những cách châm ngọn lửa trí tuệ vào cây đuốc Giáo Pháp đang ở trên tay, giúp soi sáng con đường đi đến Giác Ngộ.
- Thông thường, người tu hành chấp nhận Giáo Pháp theo lối mòn, người trước nói thế nào, người sau nghe thế ấy. Nhắm mắt làm theo, mà không sử dụng sức tư duy để phân định điều đã nghe là đúng hay Không suy xét đến tận cùng vấn đề, để có một nhận thức đầy đủ việc mình đang làm, đang tu tập. Điều này dẫn đến hậu quả là sau nhiều ngày tháng, khả năng tư duy sẽ bị thui chột, dẫn đến cả tin, mê tín.
- Cuối cùng là, rất khó chuyển thức thành trí để thâm nhập những ý nghĩa ẩn mật của Không thể thâm nhập ý nghĩa ẩn mật của kinh, cơ hội Giác Ngộ nhất định khó đến với những người này.
Giống như một người khi đi chỉ biết đi, khi đứng chỉ biết đứng, khi ngồi chỉ biết ngồi, khi ăn chỉ biết ăn, khi uống chỉ biết uống mà không nhận thức đầy đủ rằng: Tôi phải đi đến đâu? Vì sao tôi dừng lại? Tôi ngồi xuống bởi lý do gì? Ăn uống, ngủ, nghỉ, cũng đều như vậy. Nhất định những hành động trong trạng thái không nhận thức đầy đủ này khó có thể chấp nhận rằng điều này sẽ dẫn đến trí tuệ và Giác Ngộ trong vị lai.
Tất nhiên, trong vài bài kinh, cũng có đề cập đến chuyện người tu hành làm như vậy, nhưng đây chỉ là biện pháp tình thế. Biện pháp bất đắc dĩ có ý nghĩa chữa cháy đối với hạng người ham ưa chuyện thị phi; thường nghe ngóng việc người khác, thích dòm ngó ra bên ngoài; thấy gì cũng muốn, nghe gì cũng ham; không dành trọn tâm ý để nhất tâm tư duy con đường Giải Thoát. Đối với hạng này, vị Đạo Sư phải buộc lòng chỉ định họ thực hiện hạ sách này. Biện pháp như vậy, không phải là cách tốt nhất áp dụng cho tất cả mọi căn cơ tu hành.
Hỏi: Sau khi đã xây dựng được đời sống ít muốn, biết đủ người tu hành cần làm gì tiếp theo để dứt sạch tham, sân, si?
Đáp: Việc cần làm tiếp theo để dứt tận gốc tham, sân, si (kiết sử) là: phải học tập Giáo Pháp để biết rằng kiết sử do đâu mà thành.
Hỏi: Xin cho biết, kiết sử do đâu mà thành?
Đáp: Kiết sử chỉ là hiệu ứng của tổ hợp căn, trần, thức duyên với nhau trong điều kiện mê muội. Có hai giai đoạn tổ hợp khi duyên nhau sẽ sanh kiết sử, đó là:
- Ý căn duyên nội trần rồi vọng khởi phân biệt, đem phân biệt của quá khứ về hiện tại, lôi kéo người tu hành làm theo sự sai khiến của nó.
- Sáu căn duyên ngoại trần và vọng khởi phân biệt trong hiện tại, khiến người tu hành bỏ mất bản tâm, chạy theo kiết sử, như con trâu bị con người cầm sợi dây dắt đi.
DỪNG “VỌNG KHỞI PHÂN BIỆT”
Hỏi: Như vậy, cho dù các căn duyên về quá khứ, hay duyên trong hiện tại, đều bắt nguồn từ vọng khởi phân biệt. Nếu chấm dứt vọng khởi phân biệt thì kiết sử không hiện chăng?
Đáp: Người không vọng khởi phân biệt, kiết sử sẽ không hình thành.
Hỏi: Có bao nhiêu cách để “dừng vọng khởi phân biệt”?
Đáp: Có nhiều cách giải quyết như pháp, giúp người tu hành dừng vọng khởi phân biệt.
- Cách thứ nhất: Hướng vọng phân biệt sang mục tiêu thắng diệu, để kiết sử không hiện. Ví dụ: khi tiếp trần, người đời vọng phân biệt để sanh kiết sử thì người tu hành làm ngược lại, dùng Giác Trí để phân biệt đúng sai, nhận thức đầy đủ “lỗi” và “họa” của kiết sử. Khi nhận thức đầy đủ lỗi họa của kiết sử, kiết sử sẽ không hiện. Cách làm này gọi là “dùng thiện pháp chế ngự ác pháp”.
-Cách thứ hai: Biết rõ kiết sử hình thành chỉ là hiệu ứng của tổ hợp “căn, trần, thức” duyên nhau trong điều kiện phân biệt mê muội. Người tu hành này, thường xuyên “chặn đứng vọng phân biệt” từ ý thức. Đây là hình thức của phép tu Tam Ma Đề.
Giác Ngộ đầy đủ về Tứ Niệm Xứ: Giác ngộ rằng, thân này bất tịnh, chỉ là cái túi đựng thịt xương. Cảm thọ vui ít khổ nhiều, như người nghiện, đến nghiện sẽ khổ. Tâm này vô thường, sáng nắng chiều mưa, hết thương đến ghét. Pháp kia vô ngã, các quan niệm thế gian tự chẳng thường còn. Giác ngộ đầy đủ như thế, nhất định “vọng phân biệt không sanh”, kiết sử vĩnh viễn tịch diệt.
Vì sao Giác Ngộ như thế, vọng phân biệt không sanh? Vì thân, thọ, tâm, pháp là bốn nơi chốn mà người không Giác Ngộ thường hay lầm nhận về nó, rồi vọng phân biệt mà sanh tham ưu. Nếu không “lầm nhận” bốn món này, “vọng phân biệt không tự hiện”.
Giống như, người ta lầm nhận miếng thủy tinh dưới ánh sáng thành viên kim cương, rồi vọng sanh phân biệt, tham ưu mới hiện. Nếu biết rõ đó chỉ là miếng thủy tinh thì chẳng ai tội gì phân biệt lớn nhỏ, tốt xấu để sinh tham ưa mà chạy đi lấy nó bao giờ.
- Hoặc cao hơn nữa Giác Ngộ: “Thân đồng với hư không”, không có một chút giá trị. Cảm thọ chẳng ở trong thân, chẳng ở ngoài cảnh, chẳng ở chặng giữa căn và cảnh, chỉ do duyên hiệp mà thành, như hai bàn tay chà vào nhau sanh hơi ấm, dứt duyên liền diệt.
“Tâm” không thật có, chỉ là tên gọi, mà tên gọi thì không tánh, ví như người tên Giàu không có tánh giàu. Các pháp thiện ác, đúng sai, sang hèn trong đời không có chân lý… thiện nơi này ác nơi kia, đúng với chỗ này sai với chỗ khác. Kẻ giàu người nghèo chỉ so sánh với nhau bằng vật chất bên ngoài, mà trong tâm thức của họ thì vật chất không thể đến được, cho nên các pháp như thế gọi là chẳng thể được…
Giác ngộ chân thật như vậy thì “vọng phân biệt không hiện”, người này có thể biến kiết sử trở thành Diệu Pháp.
Hỏi: Sau khi dứt kiết sử, vị tu hành này làm gì tiếp tục?
Đáp: Sau khi dứt kiết sử, trong lòng an vui, những ham muốn cơ bản coi như phần lớn tịch diệt.
Người này, căn đối cảnh không còn mê muội như xưa. Phật Đạo gọi đó là dứt Nhuận Chi Vô Minh, giống như một cái cây cao to đã bị chặt hết cành nhánh.
Phần việc còn lại, là cắt ngắn cây này cho thấp dần, sau đó đào tận gốc rễ để đem cái cây lên khỏi mặt đất, làm xong điều này, Phật Đạo gọi là dứt Căn Bản Vô Minh.
Bây giờ, cái cây trở thành những khúc gỗ. Từ khúc gỗ, người ta bỏ vỏ và giác cây. Phần lõi còn lại, để tạc thành một bức tượng như ý, người này tìm thầy để học nghề điêu khắc.
Khi trở thành thợ điêu khắc chuyên nghiệp, Phật Đạo gọi người này đã chấm dứt Vô Minh Trụ Địa.
Giáo Trình Khung Đào Tạo Bồ Tát, Phật Quả
Có thể thấy suốt 49 năm hoằng hóa của Đức Phật, chỉ thấy Phật thuyết pháp, nói rõ ý nghĩa từng pháp; Đức Phật cắt nghĩa đến bao giờ đồ chúng thấu suốt mới thôi. Rất ít khi, Phật dạy đồ đệ ngồi tu như thế nào.

Hỏi: Vì sao khi đề cập đến hai con đường cơ bản để người tu hành chọn lựa, không thấy đề cập đến Tứ Đế, Ba Mươi Bảy Phẩm hay Thập Nhị Nhân Duyên?
Đáp: Tứ Đế, Ba Mươi Bảy Phẩm hay các pháp Nhân Duyên không được đề cập đến vì các pháp này được hiểu như một “giáo trình khung”, chỉ được giảng dạy trong quá trình tu học Bồ Tát pháp, tức học Nhất Thiết Trí.
Trong quá trình này, sẽ được bậc đạo sư đào sâu ý nghĩa của từng pháp, nhằm giúp cho người học nắm vững quy trình giáo huấn một chúng sinh từ Sơ Phát Tâm đến thành tựu rốt ráo phải vượt qua những chặng đường nào của Tứ Đế, Ba Mươi Bảy Phẩm hay các pháp Nhân Duyên...
Học xong những điều này, khi giáo hóa, vị này sẽ theo dõi và nắm vững người được giáo hóa đã đi đến đâu, cần tiếp tục những “phẩm” nào? “đế” nào? để thành tựu những nấc thang phía sau. Riêng các Pháp Nhân Duyên, như Ba Duyên Hòa Hiệp hoặc Mười Hai Nhân Duyên, vị Đạo Sư chỉ triển khai khi nào thấy rõ căn cơ đồ đệ của mình thuộc nhóm Duyên Giác Thừa.
Trong quá trình tu học cơ bản, người tu hành cũng được giới thiệu sơ lược về các pháp nêu trên. Việc đó giúp họ tạm hình dung ra con đường của Phật Đạo, nhưng nó không phải là những pháp ứng dụng để thành tựu đạo quả trước mắt.
Hỏi: Trong Phật Đạo, “Vô ngã” là cột mốc quan trọng. Tại sao trong hai con đường cơ bản lại không thấy nói đến việc người ta tu tập nó trong giai đoạn nào?
Đáp: Vô ngã không do tu mà được, vì thế không có pháp tu để thành tựu vô ngã. Chỉ khi nào, người tu hành không lầm nhận năm ấm, không bị năm ấm cột trói để sinh ngã, từ đó tự thực chứng rằng: “chính ta là vô ngã” hoặc khi nào, người tu hành thấy được bản chất các pháp tự nó không có ngã, thì bây giờ người đó mới biết rõ “bản lai pháp kia vô ngã”.
Hỏi: Trong kinh cũng có đề cập đến các pháp như: Sổ Tức, Bạch Cốt Quán, Cửu Tưởng Quán, Minh Sát Tuệ, Phép Tỉnh Thức, Bát Bội Xả, Lục Niệm. Trên hai con đường đã nêu, những pháp này, tu tập trong giai đoạn nào?
Đáp: Những pháp này thuộc biện pháp tình thế. Trong lúc tu hành, chỉ khi nào Bậc Đạo Sư phát hiện ra đồ đệ của mình bị một số vấn đề tự thân làm cản trở thì mới được giảng giải và yêu cầu thực hành một trong những pháp nêu trên, để vượt qua khó khăn của tự thân trong giai đoạn nhất thời.
Ví dụ: Trong lúc tu hành, có người bị “tham dục” nổi lên đến độ không kiềm chế được, vị Đạo Sư sẽ hướng dẫn họ quán Bạch Cốt để đối trị tham dục trước mắt. Khi tham dục dừng, pháp này cũng chấm dứt. Hoặc có người, vì sợ hãi bởi đói khát, không kham nhẫn đau nhức khi ngồi thiền, sẽ được dạy phép Minh Sát để chế ngự. Người nhiều sân hận, dạy Quán Từ Bi; người tánh tình cố chấp, dạy Bát Bội Xả; người tán tâm, dạy Sổ Tức Quán; người hay ngủ gục, dạy Quán Ánh Sáng; người nhiều dâm dục, dạy quán Cửu Tưởng.
Nói chung, những pháp này không thể áp dụng đại trà cho tất cả người tu hành nên tạm gọi nó là “biện pháp tình thế” hay “các pháp đối trị”. Vì thế, những người bình thường, không có vấn đề gì của tự thân, thì sẽ không yêu cầu thực hành những pháp này.
Hỏi: Một người vô tình khi đọc kinh điển, hoặc nhân nghe người nào đó nói về một pháp tu, ví như quán Bạch Cốt, người này miệt mài tu hành pháp quán đó, có thành tựu điều gì không?
Đáp: Như đã nói, các pháp như vậy thuộc loại “biện pháp tình thế”, hàm chứa ý nghĩa đối trị nhiều hơn là đưa đến Giác Ngộ hay Giải Thoát.
Vì thế, nếu không biết rõ công dụng, miệt mài tu tập một pháp nào đó, giống như uống thuốc mà không đúng bịnh, lợi ích sẽ không nhiều. Chuyện kinh có kể rằng:
“Có một người tự tu phép Bạch Cốt, ông ta miệt mài tu tập pháp này, đến khi pháp quán thành tựu, ông ta nhìn mình rồi nhìn mọi người, tất cả đều là bộ xương trắng. Ông ta hoảng sợ đến phát điên, chạy lung tung. Rất may, ông ta chạy đến chỗ Phật, Phật ôn tồn, dùng Phạm Âm nói với ông ta: “Ở đây, chúng của ta thanh tịnh”. Nhờ nghe được Phạm Âm của Phật, cái thấy của người này trở lại bình thường”.
Căn cứ mẩu chuyện kinh trên, để thực hành một pháp quán, nếu không được hướng dẫn cụ thể, chẳng những không đưa đến lợi ích, mà có khi bị phản tác dụng.
Vì thế trong Phật Đạo, thuyết pháp để làm thay đổi nhận thức của một người là chủ yếu. Khi nhận thức thay đổi, hành vi sẽ thay đổi, hành vi thay đổi đời sống người ấy cũng thay đổi theo, gọi là Giác Ngộ hay Giải Thoát.
Có thể thấy suốt 49 năm hoằng hóa của Đức Phật, chỉ thấy Phật thuyết pháp, nói rõ ý nghĩa từng pháp; Đức Phật cắt nghĩa đến bao giờ đồ chúng thấu suốt mới thôi. Rất ít khi, Phật dạy đồ đệ ngồi tu như thế nào.
Hỏi: Nếu nói “Rất ít khi, Phật dạy đồ đệ ngồi tu như thế nào”, thì tại sao trong hai con đường: con đường đưa đến Giải Thoát và con đường đưa đến Giác ngộ, đều đề cập đến việc phải “thiền định” để vượt qua ba cõi. Phải thiền định để vượt qua ba cõi mà không dạy ngồi tu, hai điều này có chống trái nhau hay không?
Đáp: Gọi là thiền định để vượt qua ba cõi không có nghĩa người này ôm chặt một phép tu rồi ngồi xuống miệt mài như quán Bạch Cốt hay Sổ Tức... Mà vị tu hành này đã được cắt nghĩa và thấu hiểu cái gì làm nên ba cõi trong tâm thức này.
Khi thấu hiểu như vậy, vị ấy lần lượt đưa tâm thức xa rời những nguyên nhân làm nên các cõi ấy. Trong quá trình tâm thức lần lượt xả dần những ham muốn thuộc về ba cõi, hỷ lạc sẽ sanh, gọi là được thiền.
Tóm lại: thiền định để vượt qua ba cõi, là do thấu suốt mà tâm tự xả chứ không phải “đưa thêm một pháp bên ngoài vào tâm ý để cột chặt tâm ý vào pháp đó như người tu Bạch Cốt hay Sổ Tức”.
Nó giống như một người đi xa, trên vai mang vác ba chục ký lô những vật vô ích.
Người này được người có trí tuệ chỉ cho biết rằng: ba chục ký người kia đang mang vác trên vai là những vật vô ích. Người này nghe như thế, liền quan sát từng món một, thấy sự vô ích của món nào, người này quăng bỏ món ấy cho đến khi hết mới thôi. Càng vứt bỏ, người này càng thấy vui vẻ, nhẹ nhàng và an ổn; vui vẻ, nhẹ nhàng và an ổn trong trường hợp này, có thể tạm ví như hỷ lạc, khinh an trong lúc tu tập thiền định.
Trong quá trình “xả bỏ” như thế, không bất luận là ngồi, nằm hay đi đứng, tất cả oai nghi đều có thể thực hành pháp xả này, vì nó thuộc về hiểu biết, mà hiểu biết thì không luận tư thế như thế nào. Ví dụ: chúng ta có thể nói đến các điển tích kinh điển trong Phật giáo như: Ngài A Nan chứng thánh ở tư thế đang bổ nhào hay Huệ Năng giác ngộ trong lúc đang gánh củi.
Tiền thân Bồ Tát Thích Ca Giác Ngộ trong tư thế một chân đứng một chân co, khi đang trên đường lên núi hái thuốc. Đừng cố chấp hễ nói đến tu trong Phật Đạo là phải ngồi kiết già, lưng thẳng, hai răng nghiến chặt, lưỡi đưa lên đốc họng, tập trung tư tưởng vào một nơi chốn nào đó.
Hiểu như thế là sai với tinh thần tu tập của Phật Đạo. Đành rằng, cũng có những người ngồi mà Giác Ngộ hay chứng đạo quả Giải Thoát. Nhưng ngồi để làm gì, với hiểu biết như thế nào? Có lẽ câu hỏi này cần xem lại.
Hỏi: Phật Đạo nói rằng người tu hành phải đạt thành tựu Vô Niệm. Đưa hiểu biết vào tâm thức để làm thay đổi nhận thức là hữu niệm. Hữu niệm làm sao để trở thành tựu Vô Niệm?
Đáp: Giống như người kia mang vác trên vai 30 ký là có vật, nghe để biết 30 ký ấy vô ích là “hữu niệm”. Người này quăng bỏ từng vật một là “hữu niệm”. Khi không còn một vật, thì “niệm” quăng bỏ cũng dứt, khi ấy người ta mới đạt đến cái gọi là Vô Niệm.
Giống như nghe câu “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” và đưa tâm ý vào đó, để giản trạch câu nói ấy, và biến nó thành hữu niệm. Giản trạch xong, tâm không sanh, giản trạch cũng dứt theo, gọi là Vô niệm. Vì thế, chữ Vô Niệm trong Phật Đạo nhằm chỉ cho cảnh giới của người thấu suốt rồi, tâm thức tự xả bỏ, chứ không phải không biết gì hết mà gọi là Vô Niệm.
Hỏi: Nếu nói như vậy, cho đến bao giờ mới biết hết mọi thứ trên đời, để cho tâm trí được sảng khoái và khoáng đạt nhằm đạt được cái Vô niệm?
Đáp: Phật Đạo “không chủ trương dạy người biết hết mọi thứ trên đời” mà chỉ nhắm đến làm cho tâm hư dối này vĩnh viễn tịch diệt, để được Giải Thoát, để được Giác Ngộ. Vì thế, chỉ cần một niệm mà “thật sự thấu suốt tâm này không thật”, bỏ cái tâm hư dối xuống thì ngay đó là rốt ráo Vô niệm.
Hỏi: Thế nào là Chánh Niệm?
Đáp: Những niệm nào giúp ta thấu suốt, dẫn đến tịch diệt các niệm hư dối, gọi là Chánh Niệm.
Hỏi: Thế nào là “niệm hư dối”?
Đáp: Những nhớ nghĩ, suy tư nào làm cho ta bị cột trói, bị mê mờ, bị đảo điên, hay sinh tâm thì Phật Đạo gọi đó là niệm hư dối.
Hỏi: Chỉ cần Vô Niệm là đủ, thì cần gì đến quá trình thiền định để ra khỏi ba cõi, hiểu biết ngũ ấm, thấu rõ ngũ uẩn, cái gì là tâm, cái gì là pháp.
Đáp: Người đời do mê, nên mỗi thứ ấy là một loại niệm hư dối; khi nào không bị mê các thứ trên thì chỉ cần Vô Niệm là đủ.
- Giống như một người quảy trên vai ba chục ký gồm nhiều tạp vật... Nếu còn luyến tiếc, thì đối với mỗi món, cần phải hiểu rõ sự vô dụng của từng món, rồi theo thứ lớp mà bỏ...
- Nếu người có trí, tâm tình quyết đoán, nghe ba chục ký này chỉ toàn đồ vô ích, liền thật thấy nó là vô ích. Người này lập tức bỏ ngay, không phải dài dòng!
Phật Đạo có “đốn”, có “tiệm” cũng giống như hai loại người trên.
Hai Con Đường Tu Phật; Ý Nghĩa Từ Bi Trong Phật Đạo
Về cơ bản, Phật Đạo có hai con đường, có hai mục tiêu trước mắt để cho người tu hành lựa chọn. Con đường thứ nhất: tu hành để được Giải Thoát. Mục tiêu này, đưa người ra khỏi mọi thứ trói buộc người ta hàng ngày. Con đường thứ hai: tu hành để được Giác Ngộ. Người tu hành có Giác, có Ngộ, tâm trí sẽ an vui, thanh tịnh, sáng suốt.

Hỏi: Về cơ bản, Phật Đạo có mấy con đường để người tu hành chọn lựa cho mình hướng đi và đạt thành mục tiêu trước mắt?
Đáp: Có thể nói, về cơ bản, Phật Đạo có hai con đường, có hai mục tiêu trước mắt để cho người tu hành lựa chọn.
Hỏi: Xin ông cho biết hai con đường đó, là những con đường nào?
Đáp: Con đường thứ nhất: tu hành để được Giải Thoát. Mục tiêu này, đưa người ra khỏi mọi thứ trói buộc người ta hàng ngày.
Con đường thứ hai: tu hành để được Giác Ngộ. Người tu hành có Giác, có Ngộ, tâm trí sẽ an vui, thanh tịnh, sáng suốt.
Hỏi: Xin cho biết, cách thức tu hành của hai con đường này?
Đáp:
* Con đường thứ nhất, dành cho người xuất gia.
Sau khi chấp nhận từ bỏ gia đình, người thân, từ bỏ tài sản lớn, nhỏ; từ bỏ họ hàng gần xa, người xuất gia, đến nơi có Bậc Đạo Sư hiểu biết về Đạo Giải Thoát, cầu học đạo ở vị này. Ở đây, vị ấy lấy gốc cây, miếu hoang, gò mả làm trú xứ.
Nếu cộng trú với các đồng phạm hạnh trong một tịnh xá thì cũng chỉ lấy đó làm chỗ nghỉ ngơi; thân không tài sản, chỉ được sở hữu những gì Phật cho phép.
Ngoài những vật ấy ra, những gì không được phép mà cố cất giữ gọi là “vật bất tịnh”. Vị ấy với “ba y và một bát” như con chim với đôi cánh, vào làng khất thực để nuôi thân.
Ngoài việc khất thực để nuôi thân và nghe thuyết pháp, thời gian còn lại, vị này “sống trong thiền định”. Nhờ sống trong thiền định, tâm thức vị này lần lượt vượt qua “dục giới, sắc giới và vô sắc giới”. Sau khi, vượt qua ba cõi, vị tu hành này được nghe Bậc Đạo Sư tuyên thuyết về “sự cột trói của ngũ ấm”. Và vị ấy quyết tâm dứt trừ ngũ ấm.
Sau khi dứt trừ ngũ ấm, vị này hoàn toàn được Giải Thoát, chứng thánh quả cao nhất, đó là A La Hán, tuyên bố tứ thành tựu. Điều này, người tu hành hay nói nôm na rằng: Xuất thế tục gia, xuất tam giới gia và xuất ngũ ấm gia.
* Con đường thứ hai, dành cho người xuất gia lẫn người tại gia
- Người xuất gia cũng như người tại gia đi vào con đường này, thường là những người có trí tuệ và chí lớn.
Ngoài việc tu học để tự cứu bản thân, họ còn mang hoài bão đó là, sau khi thành tựu những gì cần thành tựu cho bản thân, vị tu hành này sẽ đem hiểu biết mà mình có được, giúp mọi người cũng được như mình, để thỏa mãn “Từ Bi tâm”... Gọi là làm công hạnh của Bồ Tát...
- Người tu hành chọn con đường này, có trí tuệ lớn, có ý chí dũng mãnh, nên họ không cầu Giải Thoát, chỉ mong muốn ngay tại nơi đây được an vui, và cũng chính nơi đây mới có thể thực hành chí nguyện độ sanh.
Muốn đạt được thành tựu con đường này, vị tu hành đó tuy không xuất gia về hình tướng, nhưng bước đầu cũng phải từ bỏ những gì cần từ bỏ trong tận cùng của tâm thức, gọi là: “xây dựng thái độ tu hành”. Đồng thời, sẽ được Bậc Đạo Sư trang bị những kiến thức tối thiểu về ba cõi và nguyên lý hình thành của nó. Kiến thức này, giúp thành tựu các món thiền định như người xuất gia.
Sau khi thành tựu các món thiền định, vị này sẽ được Bậc Đạo Sư giảng nói về “ý nghĩa của Ngũ Uẩn, giảng nói ý nghĩa thế nào là Tâm, thế nào là Pháp, thế nào là Vật, thế nào là Thế Giới…”
- Nhân hiểu biết này, vị tu hành đó “Giác được huyễn Tâm và huyễn Pháp”. Sau khi giác ngộ được “huyễn Tâm” và “huyễn Pháp” bậc đạo sư sẽ khai thị để vị này “ngộ được bản tâm” Thấy được bản tâm, coi như phần tự độ đã
Hỏi: Ngoài hai con đường này, Phật Đạo còn có con đường nào khác?
Đáp: Ngoài hai con đường này, Phật Đạo không có con đường khác. Tuy nhiên, với những người chưa đủ dũng khí xuất gia để tìm đến đạo Giải Thoát, hoặc trí tuệ và chí nguyện chưa đủ lớn để có thể dung chứa Đạo Giác Ngộ, Bậc Đạo Sư có thể dạy cho người ấy “một số Pháp Lành”, để chờ thời cơ chín muồi hướng họ vào hai con đường đã nêu.
Pháp lành như cái núm vú giả đối với đứa trẻ mới sinh. Cái núm vú này không mang lại nguồn sữa cho nó, nhưng chí ít giúp đứa trẻ đó an tâm. Chờ đến lúc lớn, nó sẽ “tự mắc cỡ” mà từ bỏ cái vú giả, để bắt đầu chuyện học hành.
Tuy nhiên, đối với một “Bậc Đạo Sư đúng nghĩa” thì chuyện này rất khó xảy ra, vì họ biết rõ từng căn cơ, và có những phương tiện thích hợp, nhằm giúp người tu hành thành tựu đạo quả sớm nhất.
Giống như chuyện ông Bàn Đặc Ca và sức “giáo hóa bất khả tư nghì”1 của Đức Phật, hoặc chuyện bà Vi Đề Hi cầu vãng sanh, nhưng Phật giúp bà ta chứng quả Vô Sanh Pháp Nhẫn trong hiện tiền.
Hỏi: Nếu như một người suốt cuộc đời bỏ ra tu tập, mà không được nghe nói đến hai con đường trên, cũng không thành tựu một trong hai đạo quả cơ bản này thì số phận họ sẽ như thế nào?
Đáp: Số phận họ sẽ giống như ông trong hiện tại.
Hỏi: Hai đạo quả nói trên, sau khi thành tựu, có quy về một mối hay không?
Đáp: Trước mắt thì chưa quy về một mối vì sự khác biệt cơ bản, nhưng sau đó, phải quy về một mối.
Hỏi: Xin hỏi, sau đó quy về một mối như thế nào?
Đáp: Một vị được đạo quả Giải Thoát, nhất định sẽ Giác Ngộ. Một vị thành tựu Đạo Giác Ngộ, nhất định sẽ hiểu được ý nghĩa của Giải Thoát. Giống như một người giàu sang sẽ biết cách làm ra tiền, một người làm ra tiền sẽ biết cách để mình trở thành giàu sang. Giống như hai con sông nhỏ chảy vào biển lớn, khi hòa vào biển lớn, thì sự khác biệt cơ bản của hai con sông nhỏ không còn nữa.
Hỏi: Xin hỏi, ngoài việc quy về này, sau đó còn có điểm khác biệt nào chăng?
Đáp: Phật Đạo là đạo Trí Tuệ, dù đạo của người xuất gia, hay đạo của người tại gia, dù đạo Giải Thoát hay đạo Giác Ngộ. Sau khi, đạt được thành tựu đạo quả căn bản, đồng phải học chung một thứ Trí Tuệ.
Học Trí Tuệ và thành tựu Trí Tuệ mới đích thực là tu học trong Phật Đạo, gọi là Tu Đạo. Thành tựu Đạo Đế chính là biến khẩu hiệu “Duy Tuệ Thị Nghiệp” trở thành hiện thực.
Vì rằng, thành Phật là thành tựu Trí Tuệ Vô Thượng. Chính vì điều này, Phật mới dạy trong kinh những câu đại loại như: “Ba thừa là không thật” hoặc “Niết Bàn của ba thừa là hóa thành”.
Hỏi: Một người không kinh qua ba thừa để thành tựu đạo quả Giải Thoát hay đạo quả Giác Ngộ trong hiện đời có thể một đường thẳng tiến đến Trí Tuệ Vô Thượng hay không?
Đáp: Tiến thẳng đến Trí Tuệ Vô Thượng là điều có thể xảy ra, nhưng nó rất hy hữu. Ví dụ như: Đức Phật, không từng kinh qua đạo quả ba thừa trong hiện đời nhưng vẫn thành Phật. Vì thế, trong kinh Phật cũng có nói:
“Một hữu tình chứng Vô Thượng Bồ Đề, không nhất thiết phải kinh qua Bát Niết Bàn”.
Hỏi: Có thể lý giải việc này có được là do nhiều đời trước, vị tu hành này đã từng kinh qua các giai đoạn tu tập như vậy, nên hiện tại trong đời này không cần kinh qua nữa như những bài kinh kể về tiền thân của Đức Phật?
Đáp: Chúng ta đang bàn chuyện hiện tại.
Hỏi: Thú thật, tôi đã cầu đạo và tu học nhiều nơi, nhưng chưa từng được nghe và học tập về những điều ngài vừa nói.. Thậm chí, tôi cũng đã từng ngậm “cái vú giả” như vậy nhiều ngày, nhưng chỉ nghe ở những nơi ấy giảng nói về công dụng của cái vú giả, thậm chí cái vú giả này sẽ nuôi người lớn khôn. Nhưng chưa một lần được nghe nói: “Đây là cái vú giả, hãy bỏ nó đi để khôn lớn và học đạo Giải Thoát hay đi đến Giác Ngộ”.
Đáp: Cầu đạo và tu học ở nhiều nơi, không có nghĩa là đã đã học được mọi thứ. Chưa nghe nói, không phải là không có người nói ra những điều đó. Còn nếu có ai giảng giải về “cái vú giả” và bảo rằng: “Nó sẽ nuôi người lớn khôn” thì có lẽ vị Đạo Sư đó do “ngậm vú giả mà khôn lớn. Cho nên ông ta mới lấy kinh nghiệm của mình mà ông ta dạy người như thế.
Trên đời này, việc gì lại không thể xảy ra. Chỉ trách mình vô duyên, hồi trước chuyên tạo nghiệp “làm vú giả”.
Hỏi: Hồi nãy, có đề cập đến hai chữ Từ Bi. Vậy hai chữ Từ Bi trong Phật Đạo có giống như sự thương xót ở đời hay không?
Đáp: Xin thưa hai chữ “từ bi” ấy hoàn toàn khác nhau.
Hỏi: Xin ông nói rõ chúng khác nhau như thế nào?
Đáp: Phật dạy: “Từ Bi của Nhị Thừa không lớn hơn cái thân, chỉ để tự cứu. Từ Bi của Bồ Tát rộng lớn, có thể cứu nhiều người nên gọi là Đại Từ Bi. Từ Bi của Chư Phật không có giới hạn nên gọi là Vô Lượng Từ Bi.”
Trong ba thứ Từ Bi của ba kiểu này, không thấy nói đến người đời.
Hỏi: Nhưng ở đời cũng có người biết thương xót cho kẻ yếu thế, bệnh tật; nhiều người sẵn sàng giúp đỡ người khác, sao Phật không nói những người đó là Từ Bi?
Đáp: Từ Bi trong Phật Đạo nằm trong nghĩa giúp mình giúp người được Giác Ngộ, được Giải Thoát, và thành tựu Trí Tuệ. Chứ không nhằm giúp người ra khỏi đói nghèo hoặc bất hạnh như ở đời, nên hai chữ Từ Bi trong Phật Đạo có ý nghĩa riêng của nó.
Hỏi: Nếu còn thấy Từ Bi của “đời” khác “đạo” thì Phật Giáo tuyên bố ý nghĩa bình đẳng như thế nào?
Đáp: Hai chữ bình đẳng trong Phật Đạo, nhằm nói lên rằng, đối với người thân (tình) hay kẻ thù (vô tình), đối với người ngoài đạo (vô tình) hay trong đạo (tình), người thương (tình) kẻ ghét (vô tình), người biết đạo (tình), hay người không biết đạo (vô tình)...
Nếu chịu khó tu hành trong Phật Đạo, đều được giáo hóa như nhau và đồng chứng đạo quả như nhau...
Vì thế người tu hành mới có lời nguyện:
“Hư không hữu tận,
Ngã nguyện vô cùng,
Tình dữ vô tình,
Ðồng viên chủng trí…”
hoặc câu:
“Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật Đạo”.
Hỏi: Bây giờ tôi mới cảm nhận một chút ý nghĩa của chữ “tình” và “vô tình” trong bài nguyện thường đọc.
Hai chữ tình và vô tình ngụ ý chỉ các thứ tâm thức sai biệt, mà lại hiểu thành hai loài hữu tình và vô tình.
Thành ra cứ lý giải vòng vo hoài, thậm chí còn đem pháp tánh ra mà cắt nghĩa, thật là những lý giải thô thiển và gượng ép.
Đáp: Ông hãy thường xuyên đọc bài nguyện sau để thấm thía ý nghĩa bốn câu này:
“Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp,
Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ,
Ngã kim kiến văn đắc thọ trì,
Nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa”
Nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa mà chỉ dùng sức hiểu ở đời để lý giải sẽ cho ra những nhầm lẫn tai hại khi tu tập trong Phật Đạo.
Hỏi: Nếu ngài nói như vậy, những thứ vô tri, vô giác như cỏ, cây, ngói đá... có thể tu hành để đạt thành tựu điều gì đó không?
Đáp: Muốn biết điều này, ông thử về lấy một viên đá hay một khúc gỗ, rồi ngày ngày dạy nó. Xem coi, chừng nào nó biết chữ. Chứ đừng nói chuyện sâu xa là dạy nó tu hành để thành Phật.
Vì thế, Ngũ Tổ mới có bài kệ:
“Hữu tình lai hạ chủng,
Nhơn địa quả hoàn sanh,
Vô tình diệc vô chủng,
Vô tánh diệc vô sanh”
Đừng có thêm một lần nữa hiểu sai hai câu nói sau trong bài kệ của Ngũ Tổ, mà tội nghiệp cho… người quá cố.
------------------------
Giáo hóa bất tư nghì: hay còn có tên gọi khác là “hóa nghi tứ giáo” đây là một khái niệm để chỉ 4 khái niệm: “đốn”, “tiệm”, “bí mật” và “bất định” của nhà Phật.
Ý Nghĩa Thức Trí Giác Trí Huyễn Trí Thật Trí Là Gì?
Khối vàng lớn Thật Trí của Phật Đạo, không phải là kết quả thu lượm từ những cục vàng nhỏ của Giác Trí hay các huyễn phương tiện của Huyễn Trí mà chính là sự toả sáng của Phật Tánh.

NHẬN BIẾT “THỨC” VÀ “TRÍ”
Hỏi: Cũng đồng thời là hiểu về Phật pháp, những hiểu biết trong ý nghĩa nào thuộc về thức? ý nghĩa nào thuộc về trí?
Đáp: Hiểu biết nào mang nặng tính giáo điều, có chứa trong đó mầm mống của “ngã”, phát xuất từ sự chấp trước, hay cột trói mình, hay cột trói người, không có ý vị Giải Thoát, không có ý vị Thanh Tịnh… Những hiểu biết như vậy đều thuộc về thức.
Hiểu biết nào, ngược với những điều đã nêu, thuộc về trí.
Hỏi: Muốn biến những “hiểu biết” của thức thành trí, ta nên làm gì với hiểu biết đó?
Đáp: Hiểu biết, tự nó không tánh. Có nghĩa rằng: Hiểu biết tự nó không có “tánh” của “thức”, không có “tánh” của “trí”. Chỉ do người sử dụng hiểu biết vào mục đích nào, mà hiểu biết này mang tính chất của “thức” hay tính chất của “trí”.
Giống như con dao, tự nó không có tánh “thiện” hay “ác”. Chỉ do người sử dụng con dao này vào mục đích gì, mà tạm nói con dao đó mang tính chất của thiện hay tính chất của ác...
Người tu hành trong Phật Đạo, muốn biến hiểu biết về Phật Pháp đang có, từ “thức” thành “trí”. Người tu hành này, phải nhận thức rằng:
- Các pháp ta đã học, các pháp ta đang biết, là những pháp lành giúp ta tịch diệt cái ngã hư dối này, giúp ta tịch diệt nguồn tâm mê muội kia, giúp ta không chạy theo thấy nghe hay biết, giúp ta ra khỏi cột buộc của những quan niệm thế Nếu ta thiện xảo sử dụng những hiểu biết này, để tự thân ra khỏi những điều nêu trên, tại nơi đây ta sẽ chứng thực ý nghĩa vô ngã, tâm ta sẽ không còn điên đảo vì thế thanh tịnh tự hiện.
- Nếu ta không rong ruổi theo để thấy, nghe, hay, biết thì kiết sử (tham sân) tự dứt, sẽ là người thảnh thơi trong đời sống này. Nếu dùng hiểu biết này để rời bỏ các cột buộc từ quan niệm (pháp) thế gian, ta sẽ trở thành người tự tại trước những cơn sóng dữ của sự đúng sai, phải quấy, hơn thua, được mất, thiện ác, như một người dựng lại những gì đã ngã đổ sau cơn tàn phá của cuồng phong ba cõi.
Làm được như thế, không biến thức cũng thành trí, không mong ngu si cũng tự chấm dứt, không đốt ngọn đèn trí tuệ, vô minh cũng tự đẩy lùi.
GIÁC TRÍ, HUYỄN TRÍ, THẬT TRÍ, … LÀ GÌ?
Hỏi: Thứ trí mà chúng ta đang bàn, nó có phải là Phật Trí hay Thật Trí chưa?
Đáp: Thứ trí mà chúng ta đang bàn, chưa phải là Phật Trí hay Chân Thật Trí.
Hỏi: Như vậy, thứ trí này thuộc vào trí gì?
Đáp: Nó là Giác Trí, tức thứ trí nhân nơi Giác mà được. Từ trí này, người tu hành dùng nó làm công cụ duyên vào nội tâm và hướng về Thiện Giải Thoát, để lần lượt thành tựu các quả vị của Phật Đạo.
Hỏi: Đến khi nào Giác Trí này mới có thể thâm nhập Huyễn Trí và sau đó thành tựu Thật Trí?
Đáp: Cho đến khi nào người tu hành trong Phật Đạo trong lòng không còn nhân ngã, không còn chủ thể mình là người chứng và khách thể là quả chứng đạt được, thì chừng ấy từ Giác Trí mới có thể học các pháp của Huyễn Trí.
Hỏi: Vì sao đến chừng ấy Giác Trí mới có thể học để thành Huyễn Trí?
Đáp: Huyễn Trí là thứ trí không thật, tức là hiểu biết này, không phải của tôi, vì trong sâu thẳm nó chẳng có tánh tôi, tự nó không có Tướng Thọ Giả; Cũng không phải của một ai, vì trong sâu thẳm nó không có tánh ai là người làm ra, tự nó không có “tướng tác giả”.
Nó giống như con chim bay trên trời, bay qua nhưng chẳng để lại dấu vết về đường bay của nó. Hoặc như cục vàng nhỏ, tự cục vàng này chẳng có tánh của đồ trang sức, hay tánh thường làm ra các món đồ trang sức.
Hỏi: Vì sao phải như vậy mới là“huyễn trí”. .
Đáp: Nếu chưa nhận ra điều này thì người đó lầm cho rằng “huyễn trí”ta đang học đây là “thật trí”.
Từ sự lầm nhận này, nơi “không bốn tướng” trở thành có tướng, nơi “không bốn bệnh” trở thành có bệnh, nơi “không cột trói” trở thành tứ cú. Tự đóng cửa Thật Trí
Hỏi: Người có Giác Trí, có thể dùng Giác Trí này giảng nói cho người khác được không?
Đáp: Rất được và rất nên. Nếu người sở hữu Giác Trí biết dùng công cụ này để khi giảng nói “giúp mình dứt ngã, giúp người bỏ tà theo chánh”.
Còn nếu làm ngược lại thì Giác Trí quay lại trở thành thức biết, chẳng khác gì một phàm phu.
Hỏi: Làm thế nào để biết rằng, Giác Trí quay lại thành thức biết?
Đáp: Cái biết của Giác Trí luôn luôn bị giới hạn.
Vì thế, khi giảng nói hay sinh lỗi lầm, trong lỗi lầm đó, chỉ làm lợi người trong phạm vi nhất định, phải cầu người có Thật Trí chỉnh sửa nhiều lần để hiểu biết của Giác Trí hoàn hảo hơn.
Trong lúc chỉnh sửa như vậy, người có Giác Trí không nhận những lời chỉnh sửa này, cố chấp, tự cho đã đủ.
Giống như con chim non, chỉ bay được một quãng đường ngắn. Nếu con chim non này không đợi chim mẹ nuôi nấng trưởng thành, dạy cách đối phó để bảo toàn sinh mạng, tự cho đã đủ, nhất quyết bay xa… Nhất định con chim non này sẽ bị Diều Hâu (thức) ăn thịt, hoặc không biết đường về và sẽ tự diệt bởi nhiều nguyên nhân, trong đó tự diệt do không có sự bảo hộ của bầy đàn. Và kết quả cuối cùng, là tự tìm đến “cái chết của trí tuệ”!
Hỏi: Biểu hiện nào, cho thấy rằng người tu hành này chỉ ở địa vị của Giác Trí?
Đáp: Tự người này và những người được nghe vị này giảng nói, nhận ra sự không thấu đáo, sự không thỏa đáng, sự không hoàn hảo, sự cột buộc,… trong những pháp đã tuyên thuyết.
Hỏi: Chừng nào kết quả mà chúng ta tu tập mới được gọi là thành tựu Huyễn Trí?
Đáp: Chừng nào có được Thật Trí thì chừng ấy mới biết rằng ta đã thành tựu Huyễn Trí.
Hỏi: Thật Trí và Huyễn Trí khác nhau ở điểm nào?
Đáp: Giác Trí dùng để cứu mình, cùng một phần nhỏ cứu người, Huyễn Trí dùng để cứu người. Thật Trí dùng để dạy người thành tựu Giác Trí và Huyễn Trí.
Hỏi: Có thể cho một ví dụ cụ thể về ba thứ Trí này?
Đáp:
- Thật Trí: như khối vàng lớn đã tinh luyện.
- Giác Trí: như một cục vàng nhỏ được cắt ra từ khối vàng này.
- Huyễn Trí: giống như học cách chế tác cục vàng nhỏ đã có thành những món đồ trang sức tinh xảo, rồi đem cho người.
Hỏi: Như vậy, cho dù học hết các cách chế tác tất cả các món đồ trang sức, thì từ một cục vàng nhỏ hoặc các món đồ trang sức làm sao trở thành khối vàng lớn?
Đáp: Câu hỏi của ông rất thú vị, tôi mạn phép xin được trả lời như sau:
Khối vàng lớn Thật Trí của Phật Đạo, không phải là kết quả thu lượm từ những cục vàng nhỏ của Giác Trí hay các huyễn phương tiện của Huyễn Trí mà chính là sự toả sáng của Phật Tánh.
Sự toả sáng này gọi là “Phật Trí” hay “Tự Nhiên Trí”?
Khối vàng này hình thành do quá trình “vụ nổ Big Bang” của Tâm Thức mà thành.