Tác Phẩm Lý Tứ

Minh Tâm Kiến Tánh Có Lợi Ích Gì?

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Hai chữ Minh Tâm, Kiến Tánh chính là biển báo, chính là cột mốc, chính là điểm đến, chính là ngọn cờ mà Chư Phật cũng như Cổ Đức lấy đây làm mục tiêu, giúp người tu hành thành tựu cho chính tự thân, chứ nó chẳng phải món trang sức để khoác lên mình mà trang điểm.

Hỏi: Hôm qua, về đến nhà, câu chuyện Hà Bá và Long Vương trở thành đề tài nặng trĩu trong tâm, bắt tôi phải suy ngẫm. Rồi hai câu hỏi trong chuyện hài hước về thấy tánh lại hiện lên:

“Ông tự bảo mình đã thấy tánh rồi như vậy thấy tánh để làm gì? Ông thấy tánh rồi, có gì khác bọn chưa thấy tánh như tụi tôi?”

Câu chuyện hôm qua và hai câu hỏi xảy ra vào hai thời điểm khác nhau nhưng tôi lại tìm thấy mối liên hệ mật thiết của chúng.

Trong sâu thẳm, người tu hành tự nhận mình đã “Minh Tâm, Kiến Tánh” tức biết được thế nào là Bổn Tâm, thấy được thế nào là Bổn Tánh. Mà trong từng nghĩ suy lẫn ngoài đời sống, khi thể hiện ra chẳng khác mấy anh Hà Bá kia. Suy nghĩ, hành động như thế, phỏng có khác gì người không thấy tánh như bọn tôi? Câu hỏi này cứ đeo đuổi suốt đêm. Và không ngờ, nó lại là đầu mối chính để mình vỡ lẽ ra nhiều điều.

Tôi lại suy nghĩ: Người biết được Bổn Tâm, giống như người đã biết được khối vàng đằng kia; thấy Bổn Tánh, giống như thấy rõ con đường đi đến khối vàng hà cớ gì lại phải chui vào rừng rậm thế gian để nhặt nhạnh sỏi đá? Bảo rằng, đã thấy được Bổn Tâm, tại sao trong tâm lại tích chứa toàn những đố kỵ, ghét ganh, phải quấy, đúng sai, hơn thua, được mất, ghét thương? Bảo rằng, đã thấy Bổn Tánh, tại sao cứ ngồi lại với nhau, là bàn chuyện thị phi, cạnh tranh từng chút nhỏ nhặt? Đúng là “ông bảo rằng đã thấy tánh rồi, có khác gì bọn không thấy tánh như tụi tôi”. Câu hỏi này, đã là hồi chuông cảnh báo, tại sao lại không chịu nghe, không chịu thức tỉnh?

Tôi lại nghĩ: Một người thật sự Minh Tâm, Kiến Tánh nhất định phải khác người đời đấy chứ. Nếu không khác người đời, thì cái thấy này đưa đến lợi ích gì?

Thế thì nó khác người đời ở chỗ nào? Tôi, tuy chưa dám bảo rằng mình đã Minh Tâm, Kiến Tánh nhưng khi nghe và hiểu hai điều này, bỗng dưng tôi quay lại chính mình. Quay lại chính mình để lấy hai điều này làm kim chỉ nam, làm mực thước mà đối chiếu với bản thân trong hiện tại.

Suốt đêm, tôi đối chiếu và nghiền ngẫm. Khi tự mình làm trọng tài phán xét về chính mình, tôi mới chợt phát hiện ra, cái gì là chúng sinh tâm mà mình đã nuôi dưỡng, cưu mang nhiều năm tháng mà cứ ngỡ đó là Bản Tâm. Mới chợt phát hiện, tánh nết mà mình hiện có, chỉ là thứ tánh nết của phàm tục.

Đụng một chút là sân si, hở một chút là suy lường, không phải một chút là giận hờn, thấy nghe điều gì chẳng chịu tìm hiểu đến nơi đến chốn, nghe đầu này mong kiếm đầu kia để tâm sự. Người đời ngoài kia cũng nghĩ suy như thế, cũng sống và hành xử như thế. Nếu nghĩ suy, sống và hành xử như thế mà gọi là Minh Tâm, Kiến Tánh thì hết thảy người đời cũng đã Minh Tâm Kiến Tánh rồi ư?

Tôi lại suy nghĩ: Chư Phật, Cổ Đức đề cao việc Minh Tâm Kiến Tánh và ngày ngày giảng giải cho người tu hành việc này để làm gì? Chẳng lẽ nói để mà chơi, nói để mà nói?

Hai chữ Minh Tâm, Kiến Tánh chính là biển báo, chính là cột mốc, chính là điểm đến, chính là ngọn cờ mà Chư Phật cũng như Cổ Đức lấy đây làm mục tiêu, giúp người tu hành thành tựu cho chính tự thân, chứ nó chẳng phải món trang sức để khoác lên mình mà trang điểm.

Thành tựu cho chính bản thân bằng cách gì? Biết được cái gì mới đích thực là Bổn Tâm. Người tu hành tự soi xét, xem cái gì làm chướng Bổn Tâm, cái gì thuộc về phàm tâm cần phải diệt trừ ngay tức khắc. Biết như vậy rồi, mọi thời, mọi lúc, mọi nơi, sống với tâm ấy, lấy Bổn Tâm làm ngọn đuốc soi sáng diệt trừ bóng tối của phàm tâm, cho đến khi nào Bổn Tâm chính là đời sống. Không sống với tâm khác, như câu Kinh Kim Cang Phật đã dạy: “Nhi sinh kỳ tâm” nghĩa là không còn sanh tâm khác mới hy vọng có thể nhìn thấy một chút gì đó của Bổn Tâm. Còn sanh một thứ tâm nào đó, thì nhất định tâm này chính là tâm hư dối.

Người không Giác Ngộ, thì lấy cá tánh để mà đối đãi, phân biệt, phán xét. Nay đã Giác Ngộ rồi, vì sao cá tánh vẫn còn? Cá tánh còn, tự tánh làm sao hiện? Nếu không suy xét điều này, mọi việc, cứ theo lối mòn của cá tánh mà sanh mà diệt, thì cái trong sáng, cái minh liễu của Tự Tánh, của Tánh Giác còn có chỗ nào để phát huy diệu dụng?

Vì thế, muốn Tự Tánh hiện, phải quyết tâm bỏ cá tánh xuống. Muốn Tánh Giác phát huy diệu dụng, nhất định phải từ bỏ suy lường, phân biệt. Cứ mãi sanh diệt theo cá tánh và tham ưa suy lường thì có tu đến mãn kiếp cũng chỉ là một phàm phu.

Thưa Ngài! Bây giờ, tôi lại nghiền bàn chuyện Bổn Tâm, Bổn Tánh. Mấy chuyện này hiện tại đối với tôi chẳng những không nhạt nhẽo như hôm qua mà còn chính là đề tài cần đào sâu và nhất quyết phải thực chứng cho bằng được thế nào là Minh Tâm, thế nào là Kiến Tánh. Đúng là chưa thực chứng hai điều này, chưa lấy đây làm lẽ sống, chưa y cứ vào đây để tu học, thì chỉ uổng một đời tu hành, giống như câu nói của Tổ: “Bất thức bổn tâm, học pháp vô ích.”

Tôi đang phấn khích. Tôi đang thấy ngọn đuốc đằng xa, nên có chút cao hứng. Xin được lượng thứ! Những gì đã trình bày, mong Ngài chỉ giáo!

Đáp: (cười lớn) Chỉ giáo thì không dám.

Tôi là người ghiền nói chuyện Bổn Tâm, Bổn Tánh. Không ngờ hôm nay, ông cũng có chút ghiền hai thứ này. Những tưởng, câu chuyện Hà Bá Long Vương hôm qua, tôi kể cho vui tai. Ai dè, ông lại dùng nó để làm đề tài tư duy. Xin cảm ơn ông đã không bỏ qua một câu chuyện tưởng như lãng nhách.

Thế đấy! Học đạo không cốt đem hiểu biết để nhìn ra ngoài, rồi lấy đó làm cơ sở phán xét người khác, hay coi như món trang sức để lòe người. Mà học đạo là đem những kiến thức có được, dùng làm dao bén, lấy đây mài dũa tâm này. Mài dũa đến chừng nào “kiến thức này và đời sống của ta trở thành nhất thể” thì chừng ấy mới thôi mài dũa, chừng ấy mới được gọi là kẻ khéo tu.

Dân gian có câu nói: “Lênh đênh trên biển Thần Phù/ Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm”. Kiến thức Phật Đạo, nếu khéo vận dụng tốt, sẽ là con thuyền đủ mạnh giúp ta vượt qua cơn sóng dữ của biển tâm hư vọng. Còn kẻ nào dùng nó như một món trang sức, dùng nó như một loại công cụ để làm lớn cái ngã, thỏa mãn cá tánh, thì chính kiến thức này sẽ là những cơn sóng dữ, nhấn chìm và cột trói họ trong biển sanh diệt của tâm thức.

Bổn Tâm, Bổn Tánh chính là cồn bãi, chính là bến bờ yêu thương và an lành để người tu hành tìm đến. Ai biết vận dụng kiến thức đã có, làm con thuyền lớn, vượt qua sóng dữ thế gian, tìm lại bến bờ yên vui của tâm tánh thì dù không hô hào, Chư Phật cũng biết người này là người Kiến Tánh và sẽ ngợi khen. Còn ngược lại, cho dù suốt ngày có chạy đông chạy tây nói rằng, mình là người Kiến Tánh, mà hành động, nghĩ suy như một phàm phu thì người này rồi cũng phải ngụp lặn, nổi trôi trong biển đời phiền não.

Ông và tôi, duyên phận bèo mây, chỉ là những người “Dắt nhau qua biển Thần Phù”. Chúc ông tinh tấn!

Tác Phẩm Lý Tứ

Người Trí Ở Đời Học Mười Biết Một Trong Phật Đạo Là Tại Sao?

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Chuyện đời do suy lường để hiểu nên chỉ cần nói một, người nghe mặc sức thả hồn theo gió, vẩn vơ suy lường, thành ra nói ít hiểu nhiều. Còn mỗi chữ, mỗi câu trong Đạo Pháp đều là cảnh giới tu chứng. Mà muốn tu chứng, phải thu cái hồn lại, đóng cửa tâm ý, ngăn gió cảnh duyên, ngồi đó năm ngày nửa tháng, đặt ý nghĩa trước mặt, thúc liễm thân tâm suy xét. 

Hỏi: Xin hỏi, hôm nay có đề tài gì mới đem ra bàn luận, để nghe cho đã cái lỗ tai, hay lại lẩm bẩm mấy chuyện cũ xưa như Bổn Giác, Bổn Tâm?

Đáp: Chắc là tiếp tục bàn mấy chuyện đó.

Hỏi: Bộ dư hơi hay sao, lại đi nói hoài mấy chuyện xưa như Trái Đất, không sợ nhàm à?

Đáp: Tại ông không biết đó thôi. Chuyện thế gian, người trí ở đời, nghe một hiểu đến mười, thành ra chỉ cần sơ lược là đủ. Còn chuyện đạo pháp, nhất là mấy cảnh giới thì nói mười mà người trí ở đời nghe chỉ hiểu có một, vì thế phải nói hoài. Nói đến khi nào họ tỏ tường thì thôi.

Hỏi: Tôi cảm thấy điều ông vừa nói không hợp lý cho lắm. Đã là người thông minh, tài trí thì cho dù chuyện thế gian hay chuyện Đạo Pháp cũng phải nói là “nghe một hiểu mười” mới đúng chứ?

Đáp: Ông lại dùng phàm tình để hiểu đạo thánh nhân nữa rồi. Tôi hỏi ông, hàng ngày ngoài việc làm ăn, ông còn làm gì chuyện gì khác?

Hỏi: Hàng ngày ngoài việc làm ăn kiếm tiền hai buổi sáng tối, tôi còn phải dành một ít thì giờ để thực hành chuyện tâm linh.

Đáp: Ông thực hành chuyện tâm linh bằng cách gì?

Hỏi: Thì sáng tối hai thời, dâng hương, mõ chuông kinh kệ.

Đáp: Ông làm chuyện này được bao lâu?

Hỏi: Chừng trên 20 năm.

Đáp: Ông gõ chuông, kinh kệ trên 20 năm. Ông có thể nắm được hết ý nghĩa trong đó chứ?

Hỏi: Chuyện tâm linh, làm sao mà hiểu hết! Vậy vì sao nghĩa lý của Đạo Pháp nói nhiều mà hiểu ít?

Đáp: Chuyện đời do suy lường để hiểu nên chỉ cần nói một, người nghe mặc sức thả hồn theo gió, vẩn vơ suy lường, thành ra nói ít hiểu nhiều.

Còn mỗi chữ, mỗi câu trong Đạo Pháp đều là cảnh giới tu chứng. Mà muốn tu chứng, phải thu cái hồn lại, đóng cửa tâm ý, ngăn gió cảnh duyên, ngồi đó năm ngày nửa tháng, đặt ý nghĩa trước mặt, thúc liễm thân tâm suy xét. Làm như vậy còn chưa xâm nhập hết cảnh giới, nói chi chuyện nghe năm mười lần như gió thoảng qua tai mà có thể hiểu được.

Hỏi: Nhưng ra công, thúc liễm thân tâm, chỉ ngồi suy ngẫm nghĩa lý để thâm nhập cảnh giới thì rất chán, có gì hay ho mà nhọc công làm chuyện đó?

Đáp: Lý luận như ông, cho tới chết cũng là một phàm phu.

Hỏi: Như vậy, muốn thành thánh thần thì phải làm những gì?

Đáp: Muốn thành thần, phải đi du lịch cho nhiều. Du lịch nhiều, biết đó biết đây, về nhà bốc phét với mấy chị hàng xóm, mấy chị thấy vậy bèn cho là thần, nhất định được mấy chị mời ngồi trên, ăn thôi nôi đầy tháng tối ngày. Du lịch nhiều có công dụng ghê gớm như vậy, nên trước đây chỉ có Tây hay quảy ba lô đi lang thang. Nay thì ta cũng phát triển phong trào du lịch, thậm chí cái máu này (đi cho oai) lây như dịch. Mai mốt đây, theo cái đà này, dân ta cũng thành thần hết trơn!

Còn muốn thành thánh, phải du lịch tâm linh. Người ta không rành cái nghĩa du lịch tâm linh, nên tổ chức qua Miến Điện, Ấn Độ, Tà Lơn của Campuchia chiêm ngưỡng mấy cái đền.

Còn mấy anh hiểu biết, thì chỉ cần ngồi đó, cho tâm chu du qua các cảnh giới, mặc sức tham quan.

Tham quan kiểu này, không tốn tiền, lại được mấy vị ghiền tâm linh coi như thánh sống, mời uống cà phê ăn cơm chay tối ngày để nghe kể chuyện cảnh giới.

Ông không tin, cứ đến mấy chuyến du lịch tâm linh, đa phần là chị em ta bỏ tiền ra đăng ký rủ nhau đi nước ngoài để xem. Còn mấy bàn uống cà phê bàn chuyện cảnh giới, thì toàn là mấy ông. Hai cái này, phụ thuộc vào kinh tế. Mấy ông đi làm kiếm tiền, còn mấy bà thì giữ tiền. Phàm ở đời, anh giữ tiền quyền lực lớn hơn anh làm ra tiền. Mấy năm trước, người ta hay nói câu “thủ kho to hơn thủ trưởng” cũng bởi từ cái đạo lý này. Vì thế, mấy ông mỗi lần muốn đi đó đi đây, phải xin xỏ bề dưới. Xin xỏ riết, đâm ra chán, thôi thì ngồi nhà, khoanh chân đem tâm du lịch để khỏi bị rầy rà!

Vì thế, thần thánh phần lớn phụ thuộc vào giới tính và chức vụ! Khi nào, ông thấy mấy cha quảy bị đi du lịch, có đánh chết, cũng biết mấy cha đó mở tài khoản riêng, bí mật, vợ con không biết. Vợ con có hỏi, mấy chả bèn rao giảng là được bạn bè mời, vợ con nghe vậy cũng ngán vài phần. Mấy cha thành thánh cũng nhờ cái vụ này!

Hỏi: Ngoài việc thâm nhập cảnh giới để thành thánh thần. Ngoài ra, nó còn công dụng gì khác?

Đáp: Công dụng thì vô số, du lịch bên ngoài thành thần, du lịch bên trong thành thánh. Mà thánh thì cao hơn thần.

Phàm ở đời, cái gì cao hơn thì được người kính trọng.

Ví dụ như chức vụ cao, được chức vụ thấp kính trọng. Trong bóng chuyền, người cao để đứng ở hàng công; Cây cao, khó trèo tới ngọn hơn cây thấp; Máy bay bay ở tầm cao, công nghệ tinh vi hơn mấy chiếc máy bay tầm thấp; Nhà cao, oai hơn nhà thấp; Nhảy cao, điểm nhiều hơn nhảy thấp; Lương cao, nhiều tiền hơn lương thấp. Cho tới âm nhạc, ví như câu “cao cao bên cửa sổ, có hai người”; “Phố núi cao phố núi đầy sương” hoặc “Đèo cao! Dô ta! Thì mặc đèo cao! Dô ta!”… Nói chung núi cao, phố cao, đèo cao gì gì… cũng có trong thơ nhạc; còn thấp thì chưa nghe ai ca tụng bao giờ! Có thể thấy, theo thứ lớp, nhất định cao đứng trước, thấp đứng sau, cao thì trọng, thấp thì khinh… Chuyện đời vẫn như thế!

Hỏi: Không lẽ tu hành để xâm nhập các cảnh giới cao như Bổn Tâm, Bổn Tánh chỉ có công dụng như ông đã nêu?

Đáp: Không phải như thế, còn nữa. Tôi chưa trình bày hết về cái thâm u bất khả tư nghì của việc xâm nhập các cảnh giới cao trong Phật Đạo.

Hỏi: Xin nói về công dụng tối ưu của chuyện người tu hành phải thực chứng cảnh giới, chứ chẳng phải học thuộc tên rồi suy lường?

Đáp: Cái này thuộc về mật pháp. Không phải ai nghe cũng có thể hiểu hết ý nghĩa của nó. Tôi xin kể câu chuyện này mà nếu nghe xong và thấy được thâm ý của nó, ông mới thấy chuyện thân chứng cảnh giới quan trọng như thế nào. Khác hẳn mấy người chỉ thuộc tên, đem tâm suy lường rồi ba hoa gạt mấy người không biết.

Chuyện như thế này:

CHUYỆN HÀ BÁ VÀ LONG VƯƠNG

“Sông nước có luật lệ của nó, ao đầm thì có Trạch Thần cai quản. Sông rạch thuộc về Hà Bá. Biển lớn dưới quyền của Long Vương. Thần Ao Đầm, chỉ quanh quẩn trong ao, năm này tháng khác cái ao bé tí tẹo, trong đó có những gì, các loài trong ao đều biết hết. Vì thế, thần Ao thuộc loại kém hiểu biết, ít nói, không nhiều chuyện.

Còn Hà Bá ở sông rạch, hay đi đó đi đây, sông này thông với sông kia hoặc gặp nhau ở cửa biển nên giao lưu nhiều, biết nhiều. kiến thức phong phú. Rỗi rảnh, mấy anh Hà Bá thường hay gặp nhau chè chén, bàn chuyện đó đây. Nhưng rồi, chuyện đó đây kể riết cũng có ngày cạn. Muốn xôm trò, mấy anh Hà Bá phải vẽ vời chuyện biển khơi để đồng bọn nghe mà ghê chơi.

Hà Bá sông A hỏi Hà Bá sông B:

- Anh Hà Bá, lâu quá không gặp, chắc lại chuyện vứt rác xuống sông gây ô nhiễm, làm anh nhọc công, mất thời gian giải quyết phải không?

- Đâu có! Dân ven sông lúc này văn minh thấu trời, thành ra chuyện rác rến đã lâu rồi không còn là vấn đề.

- Vậy chứ anh đi đâu mà bấy lâu nay không gặp? Hà Bá B tặc lưỡi, giọng trầm buồn:

- Long Vương với tôi chỗ giao tình mấy chục năm, cả tháng nay bận đi thăm cố nhân.

- Ủa? Anh tới chỗ Long Vương hả. Chậc! Tôi thì cả đời không có vinh dự này. Đâu! ngoài đó có gì, kể cho tôi nghe với!

- Nói ra thêm buồn. Ra đến nơi, mới biết cả gia đình Long Vương bị ghẻ ngứa. Nặng nhất là phu nhân. Người đẹp như thế mà, kẽ tay kẽ chân, thắt lưng, cạp quần nổi mụn tùm lum, ngồi đâu gãi đó. Thật là thảm trạng!

Hà Bá A nghe chuyện gia đình Long Vương bị ghẻ ngứa, lại muốn nhân chuyện này được làm thân với chúa của biển khơi, bèn cất giọng thông tuệ:

- Anh Hà Bá ơi! Bệnh này do ký sinh trùng Sarcoptes Scabiei gây nên, lây nhiễm ghê gớm. Thứ ký sinh trùng ác ôn này đào hang dưới da làm ổ, cái ghẻ xâm nhập vào đường biểu bì da, đào hầm và đẻ trứng. Trứng nở thành ấu trùng và phát triển thành con, trưởng thành chỉ trong vòng 3-4 ngày. Chu choa! Loại ký sinh trùng này trên thế giới còn bó tay, hiện nay nhân loại đang đau đầu. Nghe đâu nếu không trị kịp, chỉ cần nửa tháng là cái ghẻ ăn lên óc rồi xuống tim chạy qua ngũ tạng lục phủ, ruột non, ruột già, trực tràng, sinh sôi nảy nở làm cho bệnh nhân no hơi, không thiết ăn uống rồi kiệt sức mà chết. Trong nhà tôi còn mấy ký Ba Gạc khô, mấy nắm lá đào, vài lọ E.P, Benzyl benzoat, Permethrin cream 5%.. Anh làm phước, cho tôi gởi đến kính biếu Long Vương, đặng trị cho Long Phu Nhân và quý tử. Kẻo để lâu không có lợi. Chu choa tội nghiệp! Tội nghiệp!

Thình lình, lúc đó Long Vương đi tuần ngang qua. Nghe hai tên Hà Bá nói như thế, giận quá ngài bèn văng tục:

- Mẹ kiếp! Cái đám Hà Bá bất nhơn! Chỉ toàn ngồi không nói phét. Đã nói phét mà không có căn bản. Ghẻ ngứa làm gì mà giết chết người ta được. Chưa nói cung của ta ở dưới biển sâu, có tác dụng sát khuẩn kháng viêm tối ưu, làm gì mà bọn dịch Sarcoptes Scabiei dám bén mảng tới. Thật là mấy thằng Cốt Đột, ăn đàng sóng nói đàng gió. Không biết mà hay đi loè người khác. Hai năm trước, có mấy cha tốt nghiệp khoa Da Liễu, xuống chỗ ta mở phòng mạch. Chỉ sau ba tháng. ống nghe, ống chích sét gỉ ráo trọi. Lại không có bệnh nhân, bèn phải cuốn gói về trần gian. Đúng là Hà Bá bàn chuyện Long Vương.

Long Vương giận quá, bèn nổi một trận mưa lớn, ngập tràn sông suối. Hai tên Hà Bá nhờ giỏi bơi lội, mới thoát khỏi chết đuối!”

Câu chuyện là như thế, không thực chứng sẽ bị bọn Hà Bá bốc phét chẳng biết đâu mà lần. Lại mai mốt dạy người không rành mạch, đám đệ tử bu lu ba la kể về cảnh giới.

Sư phụ mà không rành, chẳng biết trúng trật thế nào thì… thì có làm sư phụ cũng “đành chịu bó tay thôi!”…

(Câu này trích trong vở cải lương Người Tình Ngoài Chiến Trận) thành ra nói tới đây phải xuống giọng và hát chậm một chút mới đúng nhịp.

Tác Phẩm Lý Tứ

Bản Tâm Bản Tánh Kiến Tánh Bản Giác... Là Gì?

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Tâm và tánh của một chúng sanh bị tác động của thấy nghe làm mất đi tính chất tĩnh lặng, bất động của nó. Và chúng sanh đem cái ngã của mình lội vào đó, làm hồ tâm vẩn đục, gợn sóng, vì thế sức chiếu của mặt hồ bị sai lệch và không rõ ràng.

Hỏi: Từ trước đến nay, nghe nói nhiều về Bản Giác, Phật Tánh, Bản Tâm, Bản Tánh, Tánh Giác... Giống như một người muốn chỉ cho rõ ràng đâu là ly, đâu là bình, đĩa, chén,… nhưng trước đó, người này chỉ học thuộc tên các vật ấy mà chưa từng tiếp xúc… thì chắc chắn, anh ta sẽ chỉ trỏ lộn xộn, không biết cụ thể cái nào mới thật là ly, cái nào mới thật là bình…

Xin một lần nữa chỉ rõ từng món Bản Giác, Phật Tánh, Bản Tâm,... hình tướng của nó như thế nào và công dụng ra sao?

Đáp: Việc này không riêng gì ông mà hầu như người tu hành đều không thể phân biệt cụ thể. Phần lớn chỉ hiểu chung chung, không rạch ròi. Muốn hiểu được những điều này, chúng ta tạm chia làm ba phần, sau đó giải thích từng phần.

- Phần thứ nhất, thuộc về chúng sanh: Một chúng sanh gồm có hai phần, đó là tâm và tánh.

Tâm như hồ, tánh như nước. Khi nước bị tác động, tính chất của nước cũng bị tác động theo. Ví như ta ném một viên đá hoặc lội xuống để khuấy động, lập tức nước trong hồ bị gợn sóng và vẩn đục. Bây giờ, nước trong hồ không còn những tính chất tự nhiên của nó nữa “Tánh chất tự nhiên của nước không còn nữa gọi là hư vọng tánh. Cái hồ không còn yên tĩnh gọi là hư vọng tâm.”

Thì cũng vậy, tâm và tánh của một chúng sanh bị tác động của thấy nghe làm mất đi tính chất tĩnh lặng, bất động của nó. Và chúng sanh đem cái ngã của mình lội vào đó, làm hồ tâm vẩn đục, gợn sóng, vì thế sức chiếu của mặt hồ bị sai lệch và không rõ ràng. Từ một hồ nước đang tĩnh lặng, bây giờ cái hồ và những tính chất nguyên thủy của nó không còn nữa. Phật Giáo gọi đó là chúng sinh tâm, chúng sinh tánh. Tức là gom nhóm những thứ hư vọng để sinh tâm hư vọng, sinh tánh hư vọng.

“Tâm hư vọng thì động lay sanh diệt, tánh hư vọng thì phiền não sân hận, hai thứ này hư vọng thì thấy nghe không ra khỏi suy lường phân biệt” vì thế “lậu hoặc” sẽ phát sinh. Khi nào trong tâm thức, những điều như vậy còn xảy ra, người tu hành biết rằng ta “đang làm một chúng sanh”.

- Phần thứ hai, thuộc về Kiến Tánh: Một vị được coi là Kiến Tánh trong Phật Đạo, phải hội đủ hai điều, đó là: Biết được Bổn Tâm và thấy được Bổn Tánh. Nói nôm na là “Minh Tâm Kiến Tánh”.

+ Minh Tâm (Biết được Bổn Tâm): là sau khi thấy được nguyên nhân phát sanh lậu hoặc phiền não, biết rõ tai hại của cái ngã hư dối, người tu hành này đối trước cảnh duyên không còn chạy theo để phân biệt suy lường, đối trước nghĩ suy, không mê mờ, chìm đắm.

Giác ngộ được rằng cái ngã này không thật nên người này từ bỏ cái ngã hư dối, không dùng cái ngã để đấu tranh hay phán xét đúng sai và chấp thủ.

Sau khi Giác Ngộ những điều nói trên, vị này an vui thanh thản trong lòng. Mọi lúc mọi nơi đều thấy thanh tịnh vắng lặng. Và vị này ở yên trong trạng thái ấy. Đến khi trạng thái (tâm) như vậy không còn thay đổi, “nó là đời sống của vị ấy, dù đối trước phải quấy, hơn thua, được mất, khen chê cũng không làm cho trạng thái này mất đi”, không có gì làm thay đổi được. Vị này chợt nhận ra: “Đây mới đích thực là Bổn Tâm”.

Bổn Tâm là cái gốc xưa nay của “tâm”. Phật Đạo gọi đó là Bổn Tâm, Chân Tâm, Không Tâm. Hay nói khác đi, thường như vậy gọi là Minh Tâm.

+ Kiến Tánh (Thấy được Bổn Tánh): là từ dùng để chỉ cho thấy biết của người tu hành sau khi đã nhận ra Bổn Tâm Thanh Tịnh. Khi Bổn Tâm hiện, các thứ tánh hư dối hoàn toàn tịch diệt. Trong cái vắng lặng không hư dối ấy, vị này “lặng lẽ quan sát tâm này” chợt phát hiện ra: Tuy tâm đã thanh tịnh, phiền não lậu hoặc đã được tịch diệt, nhưng cái biết không thể tịch diệt được. Cái biết không thể tịch diệt được, vị này phát hiện ra cái biết này là thường. Cái biết thường hằng này gọi là Tánh Giác.

Khi cái biết chạy vào con mắt gọi là tánh thấy, chạy vào lỗ tai gọi là tánh nghe, chạy vào các căn thì cho các căn sự xúc đối thanh lương không còn suy lường.

Vị này dùng cái biết (Tánh Giác) quan sát Bổn Tâm, thấy rằng “Bổn Tâm có những tánh chất đặc biệt của nó”. Như tánh bất động, tánh an lạc, tánh thanh tịnh, tánh không sanh diệt, tánh nhận biết rõ ràng. Từ lúc thấy được Tánh Giác, đến lúc thấy đầy đủ các đức tánh của Bổn Tâm gọi là Kiến Tánh.

Từ đây, vị này sống và học tập trong sự thấy biết này, gọi là “thức tự Bổn Tâm, kiến tự Bổn Tánh” hay “Minh Tâm, Kiến Tánh”.

Minh Tâm, chỉ cho người thấy rõ Bổn Tâm. Kiến Tánh chỉ cho việc thấy rõ các đức tánh được chứa đựng trong Bổn Tâm này. Chữ Tự Tánh hay Bổn Tánh là từ ngữ dùng để chỉ chung cho toàn thể những đức tánh từ Bổn Tâm phát ra, trong đó có Tánh Giác. Như thế, Tánh Giác chỉ là một phần tử, một đức tánh trong nhiều đức tánh nằm trong Bổn Tánh hay Tự Tánh.

- Phần thứ ba, thuộc về Đức Phật: Những gì thuộc về một Đức Phật, gọi là Bản Giác. Bản Giác hay Bổn Giác là cái gốc của mọi Giác Ngộ trong Phật Đạo. Từ đây, xuất sanh hết thảy Phật Pháp và Phật Đạo. Từ Bản Giác này chiếu ra các quả vị trong Phật Đạo để người tu hành sau khi Kiến Tánh lần lượt vượt qua các quả vị đó, tiến về Phật Quả. Người tu hành đã Kiến Tánh, lần lượt vượt qua các địa vị để tiến về Phật Quả gọi là học Nhất Thiết Trí và thực hành Bồ Tát Đạo.

Một Đức Phật cũng gồm có hai phần, đó là Bổn Tâm và Bổn Tánh. Bổn Tâm của Đức Phật gọi là Đại Niết Bàn hay là Phật Tâm. Bổn Tánh của một Đức Phật gọi là Phật Tánh. “Bổn Tâm và Bổn Tánh của một Đức Phật là một thứ tâm tánh nào đó, mà tâm tánh này đã viên mãn tám tính chất cơ bản, đó là Từ, Bi, Hỷ, Xả, Thường, Ngã, Lạc, Tịnh. Hai món này gộp chung gọi là Bản Giác”.

Tóm lại:

  • Bản Giác: Dùng để chỉ cho Phật Tâm và Phật Tánh của một Đức Phật.

  • Bổn Tâm: Dùng để chỉ cho tâm của người Giác Ngộ chân thật, còn gọi là Chân Tâm, Tự Tâm hay Không Tâm.

  • Bổn Tánh: Dùng để chỉ cho tất cả các tính chất cơ bản của Bổn Tâm, như tánh bất động, tánh không sanh diệt, tánh thanh tịnh, tánh minh liễu. Khi thấy được Bổn Tánh, Lục Tổ liền la lên: “Nào dè.”

  • Tánh Giác: Dùng để chỉ cho một trong những tính chất đặc biệt của Bổn Tánh, đó là tánh hay Giác (hay biết), tức trong cái thấy biết này, không bị mê mờ như thấy biết của một chúng

Để tóm lược các nghĩa này, kinh nói: “Phật (Phật Trí) từ trong Bản Giác (Phật Tâm, Phật Tánh) đi (chiếu) ra, người tu hành từ Thủy Giác (Kiến Tánh) đi vào. Chỗ gặp nhau (Phật và Người tu hành không còn sai khác) gọi là đẳng.” Hoặc câu nói của Ngũ Tổ: “Chưa Minh Tâm Kiến Tánh, học Đạo vô ích.”

Vì thế, trước đây mới nói: “Kiến Tánh (Minh Tâm, Kiến Tánh) như người mù được sáng. Thấy được khối vàng và quyết tâm đi đến đó, như Bồ Tát học Huyễn Trí và về tới Bản Giác của Chư Phật.”

Hỏi: Như vậy, trong tâm của một chúng sinh, ba cõi sáu đường được chứa ở đâu? Thứ tự của chúng ra sao?

Đáp: Tâm, bản lai không có gì hết, cũng không có cái được gọi là tâm. Chỗ không có gì hết, không có cái được gọi là tâm; người xưa phải tạm đặt cho nó một cái tên để dễ mường tượng, danh tự nhằm chỉ cho chỗ này gọi là Tâm.

Vì thế trong Kinh Niết Bàn, Phật mới nói: “Tâm chỉ là danh tự” có nghĩa rằng gốc của nó chỉ có tên gọi mà không có thực thể, chỉ có tên gọi, không thực thể nên tạm nói là vô vi.

Khi tâm bị nhiễm ô, giống như hồ nước bị khuấy động nên bị vẩn đục hay nhiễm ô.

Tùy theo mức độ vẩn đục hay nhiễm ô, Phật đặt cho nó một cái tên… Vì thế, ba cõi sáu đường chỉ là những tên gọi đặt cho các mức độ vẩn đục hay nhiễm ô khác nhau.

Ví dụ như: Hồ nước bị khuấy động đến độ nguồn nước này toàn là sình đất đặc kẹo, Phật gọi đó là Địa Ngục.

  • Thấy biết trong môi trường nhiễm ô này, Phật nói là sống trong Địa Ngục.

  • Nhiễm ô vừa vừa, Phật bảo đó là Ngạ Quỷ.

  • Nửa đục nửa trong, Phật gọi là Người.

  • Trong thêm mấy phần, Phật gọi là Thiên Cảnh.

  • Nhiễm ô chừng vài ba phần, Phật gọi là Sắc Giới.

  • Nhiễm ô rất khó thấy, Phật gọi là Vô Sắc Giới.

Nói tóm lại, tâm này bản lai không có gì hết, chỉ do mức độ nhiễm ô mà đặt tên.

Không nên suy nghĩ rằng: trong “tâm” này chứa nhiều tầng, nhiều màu, chồng chồng lớp lớp xếp lên nhau hoặc giống các hình vẽ ba cõi là những vòng tròn đồng tâm từ ngoài vào trong. Hiểu hoặc suy nghĩ như thế, không đúng với bản chất của tâm. Không hiểu đúng bản chất của tâm, rất khó tu hành trong Phật Đạo.

Để dễ hiểu hơn, ta có thể ví dụ các loại tâm cảnh như những giấc mơ khác nhau. Cũng người đó, những ngày trước làm điều cực ác, nằm ngủ mơ thấy mình đang sống trong Địa Ngục; Hôm sau, tâm thức suy nghĩ và hành động cực thiện, người này nằm mơ, thấy mình bay lên Thiên Giới và sống ở đó.

Ít lâu sau, người này sống đời sống bình thường, chiêm bao thấy mình gặp bạn bè, rủ nhau đi uống cà phê. Các giấc mơ như vậy, được Phật Đạo gọi là ba cõi sáu đường. Nó không thật và cũng không tồn tại vĩnh viễn, vì nó chỉ là giấc mơ. Chỉ cần thức dậy, dù đang mơ ở Địa Ngục, Thiên Giới hay làm người đều hoàn toàn không thật có.

Người Giác Ngộ trong Phật Đạo luôn luôn tỉnh thức, giống như người không còn ngủ mơ nữa, …

Cho nên trong kinh, Phật thường hay dạy: “Ba cõi cũng có cũng không có.” Giống như các giấc mơ, chỉ có ở người ngủ mê, còn người đã tỉnh thức thì giấc mơ hoàn toàn không có.

Những tâm thức không Giác Ngộ xoay vần trong mê muội, hết đục đến trong, hết thiện đến ác, hết giấc mơ này sang giấc mơ khác. Các loại tâm thức như thế, Phật Đạo gọi đó là luân hồi sanh diệt.

Luân hồi, có nghĩa rằng tâm thức chỉ quanh quẩn trong vòng tròn sanh diệt của nhiễm ô vẩn đục của ba cõi hữu. Để chỉ cho các cõi không thật, luân hồi không thật, Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Phật dạy với đại ý, một người dù đang ở trong Địa Ngục, khi nhớ lại kinh này (biết rõ nghĩa Bổn Tâm tự không) sẽ lập tức ra khỏi Địa Ngục.

Hỏi: Nếu nói ba cõi chỉ là giấc mơ, không thật, thức dậy mọi thứ đều không, thì các quả vị trong Phật Đạo có phải là những giấc mơ hay không?

Đáp: Các quả vị trong Phật Đạo được chia làm ba phần: một phần nửa mê nửa tỉnh, một phần đã tỉnh, một phần như người đã tỉnh hẳn.

Hỏi: Xin nói rõ, ba phần đó (Giác, Minh Tâm Kiến Tánh, Nhất Thiết Trí) như thế nào?

Đáp:

  • Các quả vị thuộc về Giác: Như người đang mơ, có kẻ đến đánh thức. Gồm các quả vị như Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm và Độn A La Hán.

  • Các quả vị trong giai đoạn từ Giác đến Ngộ, tức là từ Minh Tâm đến Kiến Tánh: Như người vừa thức dậy chỉ cần dụi dụi con mắt, đánh răng súc miệng, uống ly cà phê là hoàn toàn thành người tỉnh thức. Gồm các quả vị như: Hồi Tâm A La Hán, Thất Địa, Bát Địa Bồ Tát.

  • Các quả vị của những người Kiến Tánh đi học Nhất Thiết Trí: Giống như người đã thức hẳn đi đến phương xa lấy vàng. Gồm các quả vị của Thập Địa thuộc Như Lai Địa.

  • Các quả vị của Thập Địa thuộc Phật Địa: Như người đã sở hữu khối vàng lớn, nay quay trở về quê xưa phân phát cho quyến thuộc. Đặng mấy anh quyến thuộc này ghiền vàng. Sau đó nhờ dắt đi lấy khối vàng lớn nhất.

Tác Phẩm Lý Tứ

Tản Mạn ..Chuyện "Sống Chết" Phần 2

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 17.02.2023

II. CÁC ĐỊA VỊ TRONG PHẬT ĐẠO ĐÓN NHẬN CÁI CHẾT NHƯ THẾ NÀO!!!???

Mọi người đều biết, Phật đạo là đạo diệt khổ... Có nghĩa rằng, mục tiêu đầu tiên của giáo pháp là giúp người hết khổ não!!! 

Con người ta có nhiều thứ khổ, nhưng tựu trung có tám món khổ phổ biến mà không một ai sinh ra trên đời thoát khỏi... Trong đó: Sanh, lão, bệnh, tử trở thành quy luật!!!

Và thông thường, hầu hết người đời, khi nghe đến việc một ai đó giác ngộ trong Phật đạo liền kết luận: “Chắc người đó chẳng sợ chết”!!! Nhưng khi đọc lịch sử, các mẫu chuyện về người giác ngộ... Ví dụ như chuyện A Xà Thế thả voi say tấn công tăng đoàn, các vị chứng thánh sợ quá, dùng thần thông bốc mình lên hư không!!! Chuyện khu rừng bị cháy, các A la hán tỏ ra lo lắng!!! Chuyện Lục Tổ bị rượt, chạy vắt giò lên cần cổ!!! Chuyện Tổ Sư Tử đợi sau khi hoàn thành tâm nguyện giáo hoá, mới đi gặp kẻ thù để trả món nợ máu xương!!! Chuyện Thế Tôn nhập Niết Bàn, đại chúng than khóc vang trời... Nói chung, có rất nhiều câu chuyện khi đọc lên, người đọc lại có cảm giác “các vị ấy cũng buồn khổ, cũng sợ chết như ta”!!! 

Việc này là thế nào đây!!!??? Có phải người đã giác ngộ không sợ chết!!!??? Hay họ cũng sợ chết như bao người trên cõi đời này!!!???

Một người sơ ngộ trong Phật đạo, thành quả đầu tiên mà người ấy đạt được, đó là: Biết rõ thân này, quyến thuộc này, tài sản này đều vô thường... Và họ cũng ngộ ra, bản tâm vốn tự thanh tịnh!!! Từ thấy biết như vậy, khổ phiền não hoàn toàn tịch diệt hoặc giảm thiểu đến mức thấp nhất, tuỳ vào cảnh giới mà họ giác ngộ!!! 

Vì thế, hầu hết những người đã giác ngộ trong Phật đạo đều không lo sợ chuyện sống chết, hoặc sầu bi bởi tang thương chết chóc như người đời!!!

Thế nhưng, do tập khí còn thừa sót, do tâm nguyện, do cảnh giới tự chứng sai khác, v.v... khi đối trước cái chết, những người tuy đã giác ngộ nhưng lại phát sinh những tình cảm, hoặc cách thức đón nhận cái chết không giống nhau!!! 

Điều này ta có thể tìm thấy trong các mẫu chuyện như: Chuyện các A la hán khi hay tin Phật nhập Niết Bàn, họ xin Phật nhập Niết Bàn trước!!! 

Hoặc Phật thì đi thẳng đến thành Câu Thi Na để nhập Niết Bàn, còn Xá Lợi Phất lại về quê!!! Nói chung, phần lớn những cái chết của các vị đã giác ngộ đều có duyên cớ của nó!!! Từ đó, cho phép chúng ta thấy rằng: Những người giác ngộ trong Phật đạo tuy không sợ chết, nhưng nếu được phép chọn lựa, nhất định họ sẽ chọn một cái chết phù hợp với tâm nguyện hoặc nhân duyên giáo hoá!!!

Để có thể phân tích sâu hơn việc một người đã giác ngộ đón nhận cái chết như thế nào!!! Chúng ta “tạm chia” con đường của Phật đạo thành bốn giai đoạn giác ngộ như sau: Sơ ngộ, Trung ngộ, Đại ngộ và Liễu ngộ... Và tìm xem mỗi giai đoạn, các vị ấy đón nhận cái chết như thế nào!!!

● Với người sơ ngộ: Người sơ ngộ, có hai thái độ trước chuyện sống chết!!!

− Với người sức giác mãnh liệt, chỗ ngộ thâm sâu: Ở cảnh giới này, vị vừa mới giác ngộ có được hưng phấn từ việc đã đặt gánh nặng trần ai xuống, hưng phấn này chiếm hữu toàn bộ tâm trí, đối với họ cảnh giới này trở thành “thế đệ nhất vị”... Lấy thế đệ nhất vị làm đời sống, các vị ấy không còn coi chuyện sống chết là quan trọng!!! Giống như một người nghèo, bỗng dưng sở hữu khối tài sản không thể tính đếm... Với khối tài sản to lớn trong tay, vị này rất hào phóng trong chuyện chi tiêu, hầu như không cần tính toán!!!

− Sức giác chưa thâm, chỗ ngộ chưa sâu: Người có giác ngộ nhưng sức giác chưa thâm, chỗ ngộ chưa sâu... Khi nghĩ đến cái chết, trong lòng người này có chút băn khoăn... Nhưng, khi cái chết ập đến, vị này lại bình thản đón nhận!!! Điều này giống như một người bình thường không thể nhảy qua hàng rào cao hơn mình... Nhưng, nếu chạy trốn kẻ thù trong lúc cấp bách, họ vượt qua dễ dàng!!! Đây là trường hợp công đức tự hội tụ của người sơ giác, khi gặp phải sự cố tác động mãnh liệt đến thân tâm, giác lực của người sơ ngộ tự động trở thành định lực!!!

● Với người Trung ngộ: Đây là trường hợp của những người chứng thiệt tế (Diệt đế)!!! Đối với những người chứng thiệt tế của cảnh giới Diệt đế, nếu không phải là người có mật hạnh Bồ Tát... Họ sẽ thích nhập Niết Bàn hơn là sống!!! Để ngăn chặn người chứng thiệt tế ham ưa nhập Niết Bàn, một số quy định (giới) về việc.. “không được tự mình hoặc nhờ người trợ giúp để tàn hại thân thể” đã được chế định... Ta  có thể tìm thấy những mẫu chuyện như vậy trong Luật Ma Ha Tăng Kì!!!

● Với người Đại ngộ: Họ lại ham sống, nhưng chẳng hề sợ chết!!! Các vị Đại ngộ, cuộc đời của họ gắn liền với tâm nguyện và công hạnh... Họ sống vì lợi ích của chúng sanh và họ cũng biết rằng, ngày nào còn tồn tại, chúng sanh sẽ được nhiều lợi ích... Vì thế, tâm nguyện chưa xong, họ chưa bằng lòng đón nhận cái chết!!! Đây là trường hợp Lục Tổ bị kẻ ác rượt, chạy trối chết tìm cách thoát thân... Nhưng khi đối diện kẻ ác, rất mực bình tĩnh, sẵn sàng mở lòng từ bi, khai thị, thuyết pháp!!! Hoặc chuyện Tổ Sư Tử lánh đi phương xa hoằng hoá độ sinh, đến khi công hạnh đã mãn, sẵn sàng tìm kẻ mình đã nợ, trả món nợ máu xương!!!

● Liễu ngộ: Cảnh giới liễu ngộ là cảnh giới của “chủng loại câu sanh vô hành tác ý sanh thân”!!! Các vị ấy có mặt trên đời là do duyên cùng công đức của chúng sinh làm nên!!! Giống như những mãnh ghép của một bức tranh!!! Duyên chúng sanh còn, bức tranh hiện hữu... Duyên chúng sanh hết, bức tranh không tồn tại!!! Điều này được Phật dạy trong kinh Đại Bát Nhã bằng câu nói chứa đầy ẩn mật: “Như Lai do Bát Nhã huân”!!! 

III- KẾT LUẬN!!!   Chết sống là quy luật, và không một ai trên đời có thể thoát khỏi quy luật này!!!

Phật đạo ra đời giúp người giác ngộ... Do có giác, có ngộ người tu hành trong Phật đạo không còn hãi sợ, khổ đau khi đón nhận cái chết!!!

Tuy nhiên, Phật đạo có rất nhiều cung bậc giác ngộ, có rất nhiều quả chứng cạn sâu... Tuỳ vào cung bậc giác ngộ, tuỳ vào quả chứng có được... Những người đã giác ngộ trong Phật đạo lại có những cách thế đón nhận khác nhau khi cái chết xảy đến!!!

Đây là lí do vì sao, đọc kinh, xem lịch sử, hay nghe các mẫu chuyện về những người đã giác ngộ... ta lại thấy các vị ấy đón nhận cái chết không hoàn toàn giống nhau...!!!

Nói chung, cho dù những vị đã giác ngộ đón nhận cái chết ra sao... Nhưng, một điều chắc chắn rằng: “Trong tận cùng sâu thẳm của tâm thức, các vị ấy không hề hãi sợ hay khổ đau khi đối trước điều mà người đời gọi là sanh li tử biệt... Vì bởi, nỗi sợ hãi, khổ đau từ sanh li tử biệt đã được Phật đạo hoá giải khi người tu hành vừa mới sơ ngộ...”!!!

Để kết thúc bài viết TẢN MẠN VỀ CHUYỆN SỐNG - CHẾT... Xin chuyển đến các bạn, bài kệ thị tịch của Thiền Sư Trì Bát (1049 - 1117)!!!  Bài kệ này nói lên cái thản nhiên của một người tu hành đối trước việc sanh tử bằng hai câu kệ: “Ư chư sanh tử bất quan hoài... Án tố rô tố rô tất rị!!!”

Hữu tử tất hữu sanh

Hữu sanh tất hữu tử

Tử vi thế sở bi

Sanh vi thế sở hỷ

Bi hỷ lưỡng vô cùng

Hốt nhiên thành bỉ thử

Ư chư sanh tử bất quan hoài

Án tố rô tố rô tất rị!!!

Tạm dịch:

Có tử tức có sanh

Có sanh tức có tử

Chết thì người đời buồn

Sanh thì người đời vui

Buồn vui đều chẳng dứt

Bỗng dưng thành đây kia

Nếu việc sanh tử chẳng làm ta bận lòng, 

Ha ha ha ha!!! Thì!!! Thì!!! Thì, ta đâu... còn... ngán... việc... chi... chi... nữa... hỉ!!!

                                          (20-03-2020)

Tác Phẩm Lý Tứ

Đời Sống Như Pháp, Ý Sanh Thân, Lục Thông, Tam Minh Là Gì?

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Một người “thấy biết như pháp” sẽ có “đời sống như pháp”. Nhận thức được thay đổi đến bao giờ một hữu tình tu hành trong Phật Đạo không còn “ngu, mê, lầm” nữa. Có nghĩa Giác Ngộ đến chỗ cao tột của Phật Đạo, nhận thức đã trở thành tánh, không còn sai lầm và thay đổi. Bấy giờ mới hết học tập.

Hỏi: Trong Phật Đạo, người tu hành phải thành tựu nhiều thứ. Vì sao, phần lớn từ xưa đến giờ, chỉ đề cập đến thức (biết) và kiến (thấy) mà không nói nhiều đến những thứ (căn) khác?

Đáp: Cái gọi là “đời sống một hữu tình” được làm nên là do thấy và biết. Thấy biết tốt sẽ cho ra đời sống tốt, thấy biết không tốt sẽ cho ra đời sống không tốt.

Vì thế, để xây dựng người tu hành có được một “đời sống như pháp”, Phật Đạo chú trọng giải quyết thấy biết.

Một người “thấy biết như pháp” sẽ có “đời sống như pháp”. Nhận thức được thay đổi đến bao giờ một hữu tình tu hành trong Phật Đạo không còn “ngu, mê, lầm” nữa. Có nghĩa Giác Ngộ đến chỗ cao tột của Phật Đạo, nhận thức đã trở thành tánh, không còn sai lầm và thay đổi. Bấy giờ mới hết học tập.

Giống như vàng đã luyện thành vàng ròng, không thể luyện thêm nữa và không thể lẫn vào thứ khác. Luyện đến cùng cực như thế.

  • Về tánh chất, Phật Đạo gọi là Phật Tánh.

  • Về đời sống, Phật Đạo gọi là Phật Tâm.

  • Về nhận thức, Phật Đạo gọi là Bổn Trụ Pháp.

  • Về sức ảnh hưởng, Phật Đạo gọi là Phật Trí.

  • Về thấy biết, Phật Đạo gọi là Phật Tri Kiến.

  • Về quan điểm, Phật Đạo gọi là Phật Nhãn.

Chữ kiến (thấy) của Phật Pháp nhằm chỉ chung cho thấy, nghe, ngửi, nếm, hay biết gọi là “kiến, văn, giác, tri”.

Hỏi: Phật Đạo giải quyết thấy biết của một hữu tình, theo thứ lớp như thế nào?

Đáp: Phật Đạo giải quyết thấy biết của một hữu tình theo thứ lớp ngũ nhãn. Tức là xây dựng thấy biết từ thấp lên cao qua năm tầng bậc, mỗi tầng bậc là một lớp nhận thức.

Mỗi tầng nhận thức (nhãn quan) sẽ giúp người tu hành có một đời sống đúng với nhận thức đó. Phật Đạo gọi đời sống đúng với nhận thức là “ý sanh thân”. Ý sanh thân có nghĩa là hiểu biết làm nên đời sống.

Hỏi: Xin tóm lược các tầng nhận thức của Phật Đạo?

Đáp: Phật Đạo chia người tu hành trong đạo của mình ra làm năm tầng nhận thức, đó là: Nhục Nhãn, Thiên Nhãn, Pháp Nhãn, Huệ Nhãn và Phật Nhãn. Năm nhãn này tương ưng với năm sự biết, đó là cái biết của ý thức, cái biết của Thiền Định, cái biết của Bổn Tâm, cái biết của Trí Tuệ và cái biết từ Pháp Bổn Trụ.

Hỏi: Xin nói rõ, các tầng thấy biết nêu trên?

Đáp:

  • Thấy biết của Nhục Nhãn: Đây là thấy biết của thế gian, thấy biết của thế gian sẽ cho ra đời sống của người thế

  • Thấy biết của Thiên Nhãn: Đây là thấy biết của những vị có Thiền Định. Người tu hành đắc Thiền Định sẽ có đời sống như những gì đã thành tựu trong Thiền Định.

  • Thấy biết của Pháp Nhãn: Người được khai Pháp Nhãn sẽ có được thấy biết thanh tịnh và đời sống của họ chính là đời sống bắt nguồn từ Bổn Tâm. Đời sống này sẽ cho ra sáu thứ thông (Nhãn Thông, Nhĩ Thông, Mạng Thông, Tâm Thông, Thần Túc Thông, và Lậu Tận Thông.)

  • Thấy biết của Huệ Nhãn: Đây là thấy biết của người có Trí Tuệ. Thấy biết này sẽ cho ra một đời sống như Trí Tuệ. Đời sống này ngoài lục thông, còn có được ba điều sáng suốt, ba điều sáng suốt này Phật Đạo gọi đó là Tam Tam Minh gồm: Túc Mạng Minh, Thiên Nhãn Minh và Lậu Tận Minh.

  • Thấy biết của Phật Nhãn: Đây là thấy biết cuối cùng của Phật Đạo gọi là “Pháp Bổn Trụ”. Thấy biết này sẽ cho ra Thật Tướng và Thật Trí.

Hỏi: Lục Thông, Tam Minh của Nhị thừa và Nhất thừa khác nhau chỗ nào?

Đáp:

  • Lục Thông của Nhị Thừa: Chỉ thông suốt đến Niết Bàn. Tức là thấy biết này không còn bị trần cấu ngăn

  • Lục Thông của Bồ Tát: Ngoài việc chấm dứt trần cấu, họ còn thành tựu “Thần Cảnh Thông”, thay vì Nhị Thừa chỉ thành tựu “Thần Túc Thông”.

  • Tam Minh của Nhị Thừa: Chỉ đủ để tự cứu.

  • Tam Minh của Bồ Tát: Còn thêm việc cứu người.

  • Tam Minh của Chư Phật: Biết rõ việc của các Phật Quốc.

Hỏi: Xin cắt nghĩa sơ lược về các loại thông?

Đáp:

  • Nhãn Thông: Cái thấy không bị ngăn ngại bởi các thứ trần cấu như đẹp, xấu; không bị ngăn ngại bởi các cảnh giới của Thiền Định; Một cái thấy thông suốt đến thanh tịnh Niết Bàn.

  • Nhĩ Thông: Cái nghe không bị ngăn ngại bởi trần cấu khen chê; không bị ngăn ngại bởi các loại âm thanh từ loài người cho đến chư Thiên; Cái nghe rỗng rang, thông suốt đến Niết Bàn.

  • Mạng Thông: Biết rõ đời sống quá khứ của mình và vạn loại hữu tình chỉ do mê, không thể có được.

  • Thần Túc Thông: Biết rõ các cảnh giới, chỉ do tâm biến hiện, không thật; Tâm ý đến đâu, cảnh giới đến đó.

  • Thần Cảnh Thông: Người có Thần Cảnh Thông, một lúc có thể hóa hiện vô số cảnh giới để đưa chúng sanh du hí qua các thiện cảnh này, hòng rốt sau thành tựu Đạo Quả không cảnh.

  • Tha Tâm Thông: Biết rõ tâm mình và tâm chúng sanh chỉ do pháp mà thành.

  • Lậu Tận Thông: Biết rõ con đường chấm dứt lậu hoặc và sanh diệt.

Hỏi: Xin cắt nghĩa sơ lược về Tam Minh?

Đáp:

  • Thiên Nhãn Minh: Biết rõ mọi cảnh giới của Thiền Định. Vì thế, có thể đưa người vượt qua các cõi hữu để đến chân thành Niết Bàn.

  • Túc Mạng Minh: Biết rõ đời sống quá khứ của một hữu tình do nghiệp duyên nào thành tựu. Vì thế, có thể giúp hữu tình vượt qua những nghiệp duyên này.

  • Lậu Tận Minh: Biết rõ các vị chúng sanh đó còn hay đã dứt lậu hoặc, vì thế có thể giúp vạn loại hữu tình chấm dứt lậu hoặc, không loại trừ một căn cơ nào.

Hỏi: Vì sao trong kinh, khi nói về thần thông, thường mô tả giống chuyện thần tiên?

Đáp: Kinh có lời quyền lời thật. “Vì kẻ ngu nói quyền, nhân người trí nói thật”. Vả chăng, dùng hình ảnh bên ngoài để gởi gắm thâm ý bên trong, vì cái bên trong rất trừu tượng. Vì thế, kinh dạy: “Y nghĩa bất y ngữ”.

Tức đọc kinh chỉ nên lấy ý nghĩa để tu học, đừng chạy theo lời nói. Giống như con Nga Vương, chỉ hút lấy sữa, còn nước lã (văn tự) thì bỏ lại cho đời.

Hồi Phật còn tại thế, văn hóa Bà La Môn có ảnh hưởng rất lớn trong đời sống cũng như việc tu hành. Văn hóa này gần gũi với thần thoại, vì thế Phật cũng mượn loại văn hóa này để gởi gắm ý vị Giải Thoát vào đó. Nếu sử dụng ngữ ngôn của một loại văn hóa mới sẽ khiến người nghe khó nhận thức, học tập và chấp nhận. Cho nên, kinh điển của Phật 1 đậm chất thần thoại, điều này các Đại Bồ Tát có nạn vấn2 Phật trong Kinh Pháp Hoa và các Kinh Phương Quảng khác. Phật cũng cho biết, sở dĩ Phật hóa hiện ra các cách thần thông như thế là “dùng quyền để hiển thật”, nhân cái quyền được cái thật, thì không gọi là hư dối được. Vả lại, nếu không dùng “thần thông ngôn thuyết” như thế trong giai đoạn đó, sẽ bị Bà La Môn cho rằng Cù Đàm không biết thần thông và không coi trọng

Cho nên trước lúc nhập Niết Bàn, Phật căn dặn A Nan và đời sau rằng khi kết tập kinh điển, mở đầu kinh phải để “Tôi nghe như vầy…”. Tôi nghe như vầy, chứ không phải “Tôi thấy như vầy…” Bốn chữ này, chính là nét văn hóa tối thượng, đáng kính, đáng trọng, đáng tán thán, tối chân thật của Phật Đạo mà không một thứ tôn giáo nào trong đời có được.

Thế mới biết, Thế Tôn của chúng ta tâm huyết với chúng sanh đời sau như thế nào. Nhưng phần lớn người tu hành làm ngược lại, đọc thì “Tôi nghe như vầy…” mà ngồi tu hành cứ mong mỏi “Tôi ngồi để thấy như kia…” (như thần thông được chép trong văn tự). Thử hỏi, đọc một đường cầu một nẻo, cái này mà Phật không bảo “chúng sanh điên đảo” thì nên gọi là gì mới phải? Mà hiểu biết điên đảo, thì còn lâu mới nhận ra thâm ý của lời kinh.

Hỏi: Còn có kinh nào, Phật ngầm chỉ ra rằng, những lời mang đậm chất thần thoại hư vọng như vậy, không phải là Phật Đạo đích thực?

Đáp: Kinh Kim Cang, Phật nói rất rõ điều này trong bốn câu:

“Phàm sở hữu tướng, Giai thị hư vọng.

Nhược kiến chư tướng phi tướng, Tức kiến Như Lai.”

Có nghĩa rằng, Phật Đạo chỉ nói đến Bổn Tâm, mà Bổn Tâm là vô vi, chẳng phải tìm cầu trong danh tướng kia mà có được. Tất cả các thứ tướng do nghĩ suy, thấy biết, nghe đọc, đều hư vọng. Ai thấy được rằng, trong các tướng đó đều chẳng có tướng, tức thì sẽ thấy được Như Lai.

Lời này có nghĩa rằng, Như Lai chính là Trí Tuệ Vô Tướng chứ không phải ở nơi tướng văn tự hoặc tướng của tưởng tri hay nghe nhìn vậy.

Các Kinh Đại Thừa Liễu Nghĩa khác, Phật cũng minh định: “Thật tướng là nhất tướng, nhất tướng là vô tướng”.

Điều này có nghĩa rằng, tất cả các thứ tướng, cho dù đó là tướng thần thông do ngôn thuyết lập bày, đều là Bất Liễu Nghĩa.

Và cuối cùng, trước khi nhập Niết Bàn, trong Kinh Đại Niết Bàn, Phật cũng dạy: “Y Kinh Liễu Nghĩa, không nên y Kinh Bất Liễu Nghĩa”.

Hỏi: Làm sao để có thể phân biệt cái thấy nào của ý thức, cái thấy nào của Tánh Giác, cái thấy nào của Trí Tuệ?

Đáp:

- Thấy biết thuộc về ý thức: Cái thấy nào suy lường rồi mới biết, biết rồi mới ứng dụng vào đời sống, thấy biết này của Nhục Nhãn và Thiên Nhãn.

- "Thấy" của Tánh Giác, "Biết" của Bổn Tâm: Cái thấy nào khi xúc đối, không khởi suy lường mà vẫn biết rõ (thức tự bổn tâm, kiến tự bổn tánh).

- Cái thấy của Trí Tuệ: Cái thấy nào thấu thoát nhân quả (nhất niệm tương ưng huệ).

- Cái thấy của Phật Nhãn: Cái thấy nào rõ thật tướng, hóa hiện vô số pháp lành mà không rời “Bổn Trụ Pháp” (Phật Nhãn).

Hỏi: Vì sao trong các kinh như Đại Bảo Tích, Đại Bát Nhã kể việc Bồ Tát vào địa mà vẫn có những giấc mơ? Và vì sao tùy theo giấc mơ mà Phật nói rằng giấc mơ đó của địa vị nào?

Đáp: Nhân nơi Pháp Bổn Trụ mà các Bồ Tát vào địa có những giấc mơ. Những giấc mơ này phản ảnh chỗ thâm đạt sâu cạn Pháp Bổn Trụ. Giống như cùng là các nguyên liệu giống nhau, nhưng tùy vào tay nghề, những đầu bếp khác nhau, sẽ cho ra các phần ăn ngon dở khác nhau.

--------------------------

  1. Phật Thích Ca (Cù Đàm là từ phiên âm từ Gotama - họ của Phật )

  2. Nạn vấn: Những câu hỏi khó… có nội dung bắt bẻ, phản biện.

 

Gửi tin nhắn đến người dùng

Thông báo bài viết mới

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 06.10.2026

Xin chào Quý Đọc Giả,

Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.

https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/tan-man-chuyen-song-chet-phan-1

Trân trọng,

Tags:

Tác Phẩm Lý Tứ

Kiến Tánh Bổn Tâm Bổn Tánh Biện Thông Thế Trí, Biện Tài Vô Ngại Là Gì?

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Bổn Tâm, Bổn Tánh là “thể” và “dụng” của nhau. Thể và dụng, giống như hồ nước không bị tác động, sẽ có các đặc tính: trong sáng, chiếu liễu, bất động, vắng lặng, vô phân biệt, vô sở hữu, vô tác, đốn soi, thanh lương.

Hỏi: Hai chữ Kiến Tánh nhằm chỉ cho cảnh giới nào trong Phật Đạo?

Đáp: Hai chữ Kiến Tánh, nhằm chỉ cho hai cảnh giới của Phật Đạo, đó

- Chỉ cho người thấy Tánh Giác (thể tánh bản nhiên của thấy, nghe,hay, biết). Ví dụ, như chuyện Phật hỏi vua Ba Tư Nặc trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm về cái thấy trong ba giai đoạn của cuộc đời, khi xúc đối sông Hằng. Người đời sau gọi là tánh thấy, tánh nghe.

- Chỉ cho người thấy Bổn Tánh (Tự Tánh). Ví dụ, trường hợp Lục Tổ Huệ Năng lần cuối cùng lên thất Ngũ Tổ.

Hỏi: Vì sao hai cảnh giới này (thấy Tánh Giác, thấy Tự Tánh) đồng gọi là Kiến Tánh?

Đáp: Tuy nói hai, nhưng hai cảnh giới này làm nhân quả cho nhau. Người thấy Tánh Giác sẽ trực nhận ra Bổn Tâm, Bổn Tánh (Tự Tánh). Người thấy Tự Tánh (Bổn Tánh) sẽ tự biết trong Bổn Tánh này có Tánh Giác và trực nhận được Bổn Tâm. Vì thế Kinh Thủ Lăng Nghiêm chủ yếu khai Bổn Tâm (chân tâm) lại đi giảng nói nhiều về tánh thấy (Tánh Giác).

Hỏi: Kiến Tánh quan trọng như thế nào trong Phật Đạo?

Đáp: Giống như người mù được sáng mắt. Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn có câu nói như sau:

“Bất thức bổn tâm, học pháp vô ích. Nhược thức tự bổn tâm, kiến tự bổn tánh, tức danh trượng phu, thiên nhân sư, Phật…”

Hỏi: Bổn Tâm khác Bổn Tánh ở chỗ nào?

Đáp: Bổn Tâm, Bổn Tánh là “thể” và “dụng” của nhau. Thể và dụng, giống như hồ nước không bị tác động, sẽ có các đặc tính: trong sáng, chiếu liễu, bất động, vắng lặng, vô phân biệt, vô sở hữu, vô tác, đốn soi, thanh lương.

Hỏi: Nếu bảo rằng Bổn Tâm và Bổn Tánh có các đặc tính diệu dụng như vậy, xin hỏi vì sao lại phải đi học Huyễn Trí và cầu chứng Bản Giác

Đáp: Các đặc tính diệu dụng của Bản Tâm chỉ dừng ở mức độ thành tựu Căn Bản Trí. Cụ thể như sau:

  • Muốn có Sai Biệt Trí phải cầu học Huyễn Trí.

  • Muốn thành tựu Thật Trí phải thể nhập Bản Giác.

  • Bản Tâm giống như nguồn nước đã trong và sạch. Tuy nhiên nước này chưa thể là Cam Lồ diệu dược cứu người như ý.

Hỏi: Thế thì câu: “Nhược thức tự bổn tâm, kiến tự bổn tánh, tức danh trượng phu, thiên nhân sư, Phật…” phải hiểu như thế nào?

Đáp: Chữ Phật ở đây không nhằm chỉ cho một Đẳng Chánh Giác đủ mười danh hiệu. Vì thế, muốn đủ mười danh hiệu, còn đòi hỏi nhiều thứ, chứ chẳng phải bấy nhiêu là đủ. Ví như: Bích Chi Phật, Tự Tánh Phật, chưa phải là Tam Miệu Tam Phật Đà (samyak-sambodhi). Và chính Ngũ Tổ cũng nói: “Bất thức bổn tâm, học pháp vô ích…” Câu này ngụ ý rằng, khi nào chưa thấy được Bổn Tâm, học pháp chẳng lợi ích gì.

Lời nói đó mặc nhiên chỉ ra rằng, sau khi thấy Bổn Tâm còn phải học hỏi nhiều, sự học bấy giờ mới cho ra ích lợi lớn.

Hỏi: Biện Thông Thế Trí của người đời và Biện Tài Vô Ngại trong Phật Đạo khác nhau ở chỗ nào?

Đáp: Biện Thông Thế Trí của người đời là một trong Bát Nạn của Phật Đạo. Biện Tài Vô Ngại trong Phật Đạo là một thành tựu trong bốn thành tựu của Tứ Vô Ngại.

Hỏi: Làm sao xác định lời nói nào của hạng Biện Thông Thế Trí, lời nói nào của Biện Tài Vô Ngại?

Đáp:

- Biện Thông Thế Trí: Dùng thế gian pháp để cắt nghĩa, giảng nói Phật Pháp. Nên những cắt nghĩa, giảng nói này không thấu thoát, mang nặng ngã chấp, có tính cột trói, không đưa người nghe lẫn người nói đắc thành các quả vị trong Phật Đạo. Đặc biệt, người chỉ có Biện Thông Thế Trí không thể phân biệt thế nào là thế gian pháp, thế nào là xuất thế gian pháp, thế nào là xuất thế gian thượng thượng.

Nên khi cắt nghĩa hay giảng nói, thường bị văn tự của ba pháp này làm cho lộn xộn, đầu đuôi chống trái nhau, cắt nghĩa lòng vòng, viện dẫn lung tung. Khiến người nghe, tưởng chừng như mình đang “thưởng thức món lẩu thập cẩm của Phật Pháp, được người tu hành chế biến”.

- Biện Tài Vô Ngại: Do sức chiếu của Phật Trí mà có, nên trong đó ẩn chứa sự thông tuệ, đầy đủ Từ Vô Ngại, Nghĩa Vô Ngại, Pháp Vô Ngại cùng Tứ Vô Sở Uý. Vì thế, lời nói từ Bậc Biện Tài Vô Ngại phát ra, thường khế căn, khế cơ. Nên thường khiến người tu hành đắc thành các quả vị trong Phật Đạo. Tùy duyên có thể đưa người vượt qua các thứ lớp nhẫn đến Vô Thượng Bồ Đề.

Bậc Biện Tài trong Phật Đạo giảng nói Phật Pháp, người nghe có cảm giác: “Đang được người lái đò thiện xảo giúp mình êm ả vượt qua dòng sanh diệt của tâm thức.”

Còn Bậc Biện Thông Thế Trí giảng nói Phật Pháp, người nghe có cảm giác: “Bản thân đang bị cuốn vào dòng nước xoáy sanh diệt của tâm thức, không có lối ra.”

Hỏi: Tứ Vô Sở Uý có các ý nghĩa như thế nào trong khi được Bậc Biện Tài Vô Ngại thuyết pháp?

Đáp: Tứ Vô Sở Uý gồm có của Phật và của Bồ Tát.

Của Phật gồm:

+ Chư pháp hiện đẳng giác vô úy: Có nghĩa rằng tự thân đã hoàn thành Đạo Nghiệp, và tuyên thuyết về Nhất Thiết trí không úy kỵ.

+ Lậu vĩnh tận vô úy: Có nghĩa rằng tự thân đã chứng Diệt, cũng như tuyên thuyết Diệt Đế không úy kỵ.

+ Thuyết chướng pháp vô úy: Có nghĩa rằng tự thân đã dứt Tập và tuyên thuyết các pháp nào là nguyên nhân của Tập Đế không úy kỵ.

+ Thuyết xuất đạo vô úy. Tự mình đã thân chứng Đạo Đế và thuyết về Đạo Đế không úy kỵ.

Của Bồ Tát gồm:

+ Năng trì vô sở úy: Các pháp đã được Bồ Tát thân chứng, sẽ không quên mất (Pháp Vô Vong Thất). Vì thế, Bồ Tát tuyên thuyết về những điều này không úy kỵ.

+ Tri căn vô sở úy: Biết rõ tâm lượng của từng chủng tánh. Nên Bồ Tát tuyên thuyết khế cơ, không phi thời.

+ Quyết nghi vô sở úy: Có năng lực giải quyết các nghi ngờ về Đạo Pháp cho chúng sanh đúng như pháp.

+ Đáp báo vô sở úy: Như pháp trả lời thỏa đáng tất cả mọi nạn vấn trong Phật Đạo.

Tóm lại, Bậc Biện Tài Vô Ngại của Phật Đạo khi tuyên thuyết về Phật Pháp, luôn luôn tự tại, đầy đủ các điều “không úy kỵ” như đã nói ở trên.

Nếu không phải là bậc đã thành tựu Tứ Vô Ngại thì chẳng thể có được Tứ Vô Sở Uý.

Hỏi: Người đời, thông minh, sáng suốt, dùng hiểu biết ở đời, cắt nghĩa cho người đời nghe chuyện thế gian, giúp thế gian sống tốt hơn, sống đúng ý nghĩa như đời mong muốn. Đối với sự việc này, người đó có gọi là Biện Thông Thế Trí. Có gọi là Bát Nạn trong Phật Đạo hay không?

Đáp: Phật Đạo luôn luôn tôn trọng các tư tưởng, cũng như những thành tựu của thế gian.

-  Vì thế, nếu người đời có được Biện Thông, dùng tài này để giúp người sống có ý nghĩa, sống tốt như đời mong muốn. Phật Đạo cũng gọi đây là Biện Thông Thế Trí nhưng không thuộc Bát Nạn trong Phật Đạo. Vì sao lại như vậy? Vì rằng, họ có con đường của họ và con đường này hoàn toàn chân chánh với đời.

- Khi nào, những người này, tuy thông minh, nhưng không thấu suốt Giáo Pháp của Đức Phật, làm tài khôn, không chịu cầu học; dùng sức thông minh của mình suy lường, rồi cắt nghĩa Phật Pháp theo tư kiến, theo thế gian kiến, theo ngã kiến, theo triền phược kiến, khiến cho tự thân họ và những người tu hành khác muốn được Đạo Giác Ngộ lại đi vào đường tà không đắc thành các quả vị cần thiết trong Phật Đạo. Bấy giờ, hạng này mới gọi là Biện Thông Thế Trí nằm trong Bát Nạn.

Giống như con thỏ, đi theo con đường của bầy thỏ, thì sẽ ít gặp rủi ro.

.. Nhưng nếu con thỏ này, lấn ranh, xâm phạm lãnh địa của sư tử thì… không gặp nạn mới là lạ.

Tác Phẩm Lý Tứ

Bản Giác Tánh Giác Đẳng Giác Diệu Giác,… Là Gì?

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Bản Giác là cái gốc của “mọi Giác Ngộ”. Tánh Giác cái ngọn của Giác Ngộ...Đẳng Giác là người thành tựu Đẳng Pháp, giống như người sở hữu khối vàng lớn nhất thế gian. Diệu Giác là người thành tựu Vô Đẳng Đẳng Pháp, giống như người học hết các phép chế tác nữ trang từ khối vàng.

Hỏi: Thế nào là “Bản Giác”? Thế nào là “Tánh Giác”?

Đáp:

- Bản Giác: Cái gốc của “mọi Giác Ngộ”. Hai từ này là cách nói khác của Phật Tánh và Phật Trí. Tức cái gốc sản sanh mọi Phật Pháp để người tu hành hướng theo đó mà về với cái gốc này.

- Tánh Giác: Cái ngọn của Giác Ngộ. Hai từ này là cách nói khác của Thủy Giác (Thỉ Giác) hay Kiến Tánh. Tức là sự thấy biết “nguyên vẹn của khởi điểm không bị nhiễm ô”, người tu hành nương sức thấy biết nguyên vẹn không bị nhiễm ô này để tìm về cái gốc của Đạo (Phật tánh).

Vì thế kinh nói: “Chư Phật từ Bản Giác (Phật Tánh, Phật Trí) đi (chiếu) ra, chúng sanh từ Thủy Giác (tánh thấy chân thật) hướng về, chỗ gặp nhau gọi là Đẳng.”

Hỏi: Xin cho một vài ví dụ cụ thể về hai điều trên?

Đáp:

Ví dụ 1: Giống như người mù bị lạc lối trong đêm tối (đêm tối dụ cho vô minh), người này được người sáng mắt chữa cho hết mù (hết  mù dụ cho thấy Tánh Giác).

Người này dùng đôi mắt sáng của mình, nhìn thấy ngọn đèn từ xa phát ra ánh sáng trong đêm tối (ngọn đèn từ xa dụ cho Bản Giác).

  • Người này, theo hướng ánh sáng đó đi thẳng về phía có ngọn đèn để về nhà (đi thẳng về phía có ngọn đèn dụ cho hành trình tu tập Đạo Đế).

  • Đến nơi, người này cầm ngọn đèn trên tay (cầm ngọn đèn trên tay dụ cho tìm được Bản Giác).

  • Sau đó, người này tìm cách dùng ngọn đèn, soi sáng cho những người khác cũng có thể tìm về nơi mình đang đứng (soi sáng người dụ cho thực hành Bồ Tát Đạo).

Ví dụ 2: Giống như người mù đi tìm vàng (người mù dụ cho người tu tập chưa hết hai thứ vô minh, vàng dụ cho Bản Giác). Người này được người sáng chữa cho sáng mắt (chữa sáng mắt dụ cho thấy Tánh Giác (Kiến Tánh).

  • Với đôi mắt sáng của mình, người này được người kia chỉ cho khối vàng đằng xa (khối vàng ở đằng xa dụ cho Bản Giác).

  • Người này theo hướng dẫn của người kia, tiếp tục đi tới để có thể đến được chỗ khối vàng (tiếp tục đi tới, dụ cho tinh tấn tu hành trong Đạo Đế).

  • Đến nơi, người này “sở hữu khối vàng” (sở hữu khối vàng, dụ cho “Đẳng Giác Bồ Tát thấy Phật Tánh”, gọi là trở về với Bản Giác).

Hỏi: Thế nào gọi là “đẳng”?

Đáp: Giống như hai người có khối tài sản bằng nhau, có tài sản bằng nhau gọi là đẳng. Bồ Tát Đẳng Giác và Chư Phật đồng sở hữu thấy biết như nhau gọi là Đẳng. Ví dụ trường hợp của Ngài Ca Diếp, Đức Phật từng tuyên bố trước đại chúng: “Cái gì ta thấy, Ca Diếp thấy. Cái gì ta biết, Ca Diếp Biết, cái gì ta chứng, Ca Diếp chứng. ”

Hỏi: Như vậy, có thể nào nói rằng, Ca Diếp bằng Đức Phật?

Đáp: Không bằng.

Hỏi: Điều gì Phật có, Ca Diếp có, sao lại không bằng?

Đáp: Giống như hai người có khối lượng vàng bằng nhau, nhưng kỹ thuật chế tác thành nữ trang cũng như năng lực bố thí khác nhau, nên hai người này không thể gọi là bằng nhau. Vì thế, trên Đẳng Giác còn có Diệu Giác và Đẳng Chánh Giác.

  • Đẳng Giác: Thành tựu Đẳng Pháp, giống như người sở hữu khối vàng lớn nhất thế gian.

  • Diệu Giác: Thành tựu Vô Đẳng Đẳng Pháp, giống như người học hết các phép chế tác nữ trang từ khối vàng.

  • Thế Tôn: Thành tựu Vô Thượng Chánh Đẳng Giác, giống như Bậc Thầy của tất cả nghệ nhân chuyên chế tác trang sức, và không còn có người nào trên đời tay nghề cao hơn.

Hỏi: Người không Kiến Tánh để thấy Tánh Giác, có thể nào thấy Phật Tánh (về đúng với Bản Giác) hay không?

Đáp: Không thể nào! Giống như người mù bẩm sinh, bị lạc giữa rừng sâu không thể nào tự mình có thể tìm ra phương hướng về nhà.

Hỏi: Có khi nào người tu hành nhầm lẫn giữa Bản Giác và Bản Tâm hay không?

Đáp: Người ta đôi khi vẫn nhầm lẫn.

Hỏi: Họ thường nhầm lẫn như thế nào?

Đáp: Khi người tu hành, dùng cái thấy của Tánh Giác soi chiếu vào “Bản Tâm”. Người này nếu không được nghe giảng nói về Bản Giác, nhất định sẽ lầm nhận Bản Tâm thành Bản Giác.

Hỏi: Vì sao có sự nhầm lẫn này?

Đáp: Giữa Bản Tâm và Bản Giác cùng có một số đặc điểm giống nhau như: đồng thanh tịnh, đồng vắng lặng, đồng an lạc.

Hỏi: Ngoài những đặc tính giống nhau, giữa Bản Tâm và Bản Giác còn gì khác biệt?

Đáp: Như đã nói ở trên, Bản Giác là cái gốc của mọi Giáo Pháp, nên Bản Giác có sự thông tuệ khi soi chiếu, còn Bản Tâm không thể tự soi chiếu. Bản Giác giống như vàng ròng có thuần tánh vàng. Còn Bản Tâm giống như hình vẽ khối vàng ròng, trong đó không có tánh chất của vàng.

Hỏi: Làm sao đừng rơi vào sự nhầm lẫn này?

Đáp: Kinh Phương Quảng là công cụ tốt nhất giúp người tu hành tránh được nhầm lẫn này.

Hỏi: Công cụ đó của Kinh Phương Quảng như thế nào?

Đáp: Kinh Phương Quảng ngoài việc dạy chế tác các món nữ trang, nó còn có hai chức năng nữa, đó là tuyên nói về Phật cảnh giới và Phật Trí. Hai chức năng này, chính là công cụ nhận dạng thế nào là Bản Giác.

Giống như người đi tìm vàng, người này học được màu sắc và đặc tính của vàng. Khi gặp vật nào có màu sắc và đặc tính như vậy, người đó biết ngay đây là vàng ròng. Nếu còn nghi ngờ, có thể dùng biện pháp để thử. Muốn biết vàng thật hay giả, người ta có thể dùng a xít, lửa, cắn, nam châm…để thử.

Muốn biết điều mình đã thấy, có phải là Bản Giác hay không, vị tu hành này có thể tự lấy nghĩa kinh, sức thông tuệ, độ chính xác trong các cảnh giới, đó là Tứ Vô Ngại Biện và Tứ Vô Uý để thử.

Nếu còn một chút gì đó chưa thông hiểu (còn ngại, còn úy) người tu hành có thể biết ngay cái mình đang thấy, chưa phải là Bản Giác.

Hỏi: Vì sao hai địa vị Đẳng Giác và Diệu Giác thứ tự trước sau không đồng nhau trong một số tư liệu? Có tài liệu xếp Đẳng Giác trước, có tài liệu xếp Diệu Giác trước.

Đáp: Giống như người học nghề kim hoàn trước, sau đó mới có vàng, gọi là Diệu Giác trước Đẳng Giác. Người có vàng trước, học nghề kim hoàn sau, gọi là Đẳng Giác trước Diệu Giác. Thích Ca Mâu Ni giống như người học được nghề Kim Hoàn trước, có vàng sau. Di Lặc giống như người có vàng trước, học thợ bạc sau.

Hỏi: Hai hôm trước có bàn chuyện con Nga Vương. Xin hỏi, dòng giống con Nga Vương từ đâu mà có?

Đáp: Con Nga Vương không có con mái (giống cái).

Vì thế, nó không có dòng giống, mà chỉ do các loài chúng sinh nhân đủ duyên lành, uống sữa, lạc, tô, đề hồ của con Nga Vương chúa mà hóa kiếp thành Nga Vương.

Giống như hoa Ưu Đàm Bát La không có giống, chỉ do thời tiết lúc có thánh nhân xuất thế, nó tự mọc và ra hoa.

Tác Phẩm Lý Tứ

Ý Nghĩa Của Hữu Vi Vô Vi Hữu Dư Và Vô Dư... Là Gì?

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Giống như một đĩa mật, người liếm mép đĩa, người ăn nửa đĩa, người ăn nguyên đĩa. Vị ngọt của mật không sai khác. Ý nghĩa vô vi của Niết Bàn cũng như vậy. Cũng do sự sai biệt của vô vi, từ đó ý nghĩa của hữu dư và vô dư ra đời.

Hỏi: Xin hỏi, hữu vi và hữu dư, vô vi và vô dư. Ý nghĩa của hai việc này là khác hay giống.

Đáp: Hữu vi ý nghĩa khác với hữu dư. Vô vi ý nghĩa khác với vô dư.

Hỏi: Xin cắt nghĩa cụ thể về những chữ trên.

Đáp:

  • Hữu vi: Những pháp làm ra, do tạo tác mà thành.

  • Vô vi: Không phải pháp làm ra, chẳng do tạo tác mà được.

  • Hữu dư: Còn thừa sót...

  • Vô dư: Không còn thừa sót...

Hỏi: Các loại Niết Bàn của Phật Đạo đều là vô vi, hay cũng hữu vi cũng vô vi?

Đáp: Các loại Niết Bàn chân chánh trong Phật Đạo đều là vô vi, thuộc về vô vi. Vì Niết Bàn chân chánh của Phật Đạo, không phải là thứ được làm ra hoặc do tạo tác mà thành. Chỉ trừ người lầm nhận Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là Niết Bàn, thì Niết Bàn này cũng hữu vi cũng vô vi.

Hỏi: Vì sao Kinh Kim Cang lại nói: “Đồng là vô vi, nhưng hiền thánh thấy có sai biệt.” Đã có sai biệt, thì sao gọi Niết Bàn chân thật trong Phật Đạo rằng “đồng là vô vi”?

Đáp: Giống như một đĩa mật, người liếm mép đĩa, người ăn nửa đĩa, người ăn nguyên đĩa. Vị ngọt của mật không sai khác. Ý nghĩa vô vi của Niết Bàn cũng như vậy. Cũng do sự sai biệt của vô vi, từ đó ý nghĩa của hữu dư và vô dư ra đời.

Hỏi: Hữu Dư và Vô Dư nhằm chỉ cho những loại Niết Bàn nào?

Đáp: Niết Bàn của ba thừa gọi là Hữu Dư Niết Bàn. Đại Niết Bàn của Phật gọi là Vô Dư Niết Bàn.

Hỏi: Vì sao Niết Bàn của Ba thừa gọi là Hữu Dư, còn Niết Bàn của Phật gọi là Vô Dư?

Đáp: Tuy Ba thừa đồng chứng Niết Bàn vô vi, nhưng còn “thừa sót mê và lầm” trong đó, nên gọi là Hữu Dư. Phật là đấng Vô Thượng Trí Tuệ, thấu suốt tất cả nên gọi là Vô Dư Niết Bàn.

Hỏi: Hữu dư và vô dư còn chỉ cho việc gì nữa?

Đáp: Hữu dư và vô dư còn chỉ cho ba thân Phật hay còn gọi là tam thân Phật.

Hỏi: Ba thân Phật, thân nào là hữu dư, thân nào là vô dư?

Đáp:

  • Báo thân: Còn thừa sót ăn uống ngủ nghỉ, đồng thời tuyên nói “Kinh Bất Liễu Nghĩa”, nên gọi là hữu dư.

  • Hóa thân: Tuy rằng vô vi, không còn ăn uống ngủ nghỉ, nhưng “chưa tuyên thuyết rốt ráo liễu nghĩa” nên cũng gọi là hữu dư.

  • Pháp thân: Rốt ráo vô vi và tuyên thuyết “Kinh Liễu Nghĩa” nên gọi là vô dư.

Vì thế, Kinh Kim Quang Minh, Phật dạy:

“Này Thiện nam tử. Các chúng đệ tử được thọ hóa như thế, là hình bóng của Pháp thân lưu hiện. Do nguyện lực nên ứng nơi hai thân, hiện ra các tướng mạo, mà nơi Pháp thân không có tướng khác.

Thiện nam tử. Y theo hai thân này, tất cả chư Phật nói là Hữu Dư Niết Bàn. Y theo Pháp thân, nói Vô Dư Niết Bàn.”

Hỏi: Xin nói rõ về ý nghĩa của đoạn kinh sau: “Các chúng đệ tử được thọ hóa như thế, là hình bóng của Pháp thân lưu hiện... Do nguyện lực nên ứng nơi hai thân, hiện ra các tướng mạo, mà nơi Pháp thân không có tướng khác.”

Đáp:

- Câu “Các chúng đệ tử được thọ hóa như thế, là hình bóng của Pháp thân lưu hiện” nghĩa là: Pháp thân giống như hư không, Đại Trí giống như nguồn sáng từ hư không đó chiếu

Nguồn sáng này nếu chiếu vào hư không sẽ không có tướng mạo. Nhưng, có một vật thể bay ngang qua vùng ánh sáng và ngăn nguồn sáng này. Bây giờ trong hư không sẽ thấy có tướng mạo của vật thể đó. Tướng mạo nhận ánh sáng lớn nhỏ dài ngắn tùy vào tướng lớn nhỏ của vật thể.

Ví như ban đêm, người ta dùng đèn pin rọi vào khoảng không, khi có con vật bay qua, ánh sáng từ đèn pin sẽ chiếu sáng con vật đó. Và ánh sáng chỉ soi sáng trong phạm vi con vật, còn bên ngoài thì không thấy gì hết.

Điều này gọi là “hình bóng của Pháp thân lưu hiện”.

- Câu “Nơi Pháp thân không có tướng khác”: Giống như ánh sáng rọi từ hư không, tự chẳng có các thứ tướng mạo.

Tóm lại: Chư Phật chính là Pháp thân, Pháp thân như hư không thường chiếu. Ba thừa do công đức sai biệt nên khi ánh sáng trí tuệ từ Pháp thân chiếu ra, công đức của ba thừa nhiều ít sai khác nên thấy có Báo thân và Hóa thân. Đây là lý do vì sao, đồng từ một Phật Trí, chúng sanh lại thấy có kinh bất liễu nghĩa và có kinh liễu nghĩa, có A Hàm, Phương Đẳng và Phương Quảng sai khác.

Kinh Kim Quang Minh, Phật cũng dạy: “Do cớ sao? lại như vậy? Bởi tất cả chỗ còn lại (của ba thừa) không rốt ráo diệt hết. Y theo ba thân này, tất cả chư Phật, (quyền) nói Vô Trụ Xứ Niết Bàn. Vì hai thân nên chẳng trụ Niết Bàn, lìa Pháp thân không có Phật nào khác. Cớ sao hai thân (Báo thân và Hóa thân) chẳng trụ Niết Bàn? Vì hai thân (do ba thừa thấy) là giả danh (giả tướng) chẳng thật, mỗi niệm đều diệt chẳng thường trụ và hay xuất hiện bởi do (ba thừa kia chẳng được rốt ráo) thanh tịnh. Pháp thân chẳng như vậy, cho nên hai thân chẳng trụ Niết Bàn, Pháp thân (như hư không) không hai, cho nên cũng chẳng trụ Niết Bàn. Vì thế, y theo ba thân, nên chư Phật mới nói, Vô Trụ Xứ Niết Bàn.”

Hỏi: Nếu nói rằng Niết Bàn của “ba thừa” là “hữu dư y”, vậy vì sao có người giảng giải, khi nào La Hán còn tại thế gọi là hữu dư, nhập Niết Bàn (qua đời) mới gọi là vô dư?

Đáp: Đây là trả lời của những người không thấu suốt Phật Đạo, do suy lường mà họ tưởng ra như vậy.

Nếu nói khi La Hán tịch diệt mới gọi là vô dư thì câu Kinh Kim Cang: “Như Lai (giáo huấn để) diệt độ vô lượng vô biên chúng sanh nhập vô dư Niết Bàn.”

Chẳng lẽ câu này ngụ ý nói rằng: Như Lai dạy người nào, người đó tức thì lìa đời hay sao? Các vị này hiểu sai hai chữ “diệt độ” của Phật Đạo. Vì thế khi nghe nói đến diệt độ, thì họ liên tưởng đến chuyện “đi bán muối”.

Kinh Kim Quang Minh, Phật cũng nói rõ:

"Sao gọi Vô Sở Hữu Nơi Pháp thân này, Tướng và Tướng xứ, hai món đều không, không phải có, chẳng phải không, không phải nhứt, chẳng phải dị, chẳng phải số, chẳng phải chẳng phải số. Không phải minh, chẳng phải ám. Trí Như Như thế ấy, chẳng phải Tướng và Tướng xứ, chẳng thấy không phải có, chẳng phải không. Chẳng thấy không phải nhứt, chẳng phải nhị, chẳng phải thấy không phải số, chẳng phải chẳng phải số. Chẳng thấy không phải minh, chẳng phải ám. Thế nên, cảnh giới thanh tịnh, trí huệ thanh tịnh, không thể phân biệt, không có trung gian, là căn bản của Diệt (đế) và Đạo (đế) vậy. Nơi Pháp thân này, hiện rõ (cảnh trí) Như Lai. Thiện nam tử. Đây là nhân duyên, cảnh giới, xứ sở của (ba) thân này, quả báo y nơi căn bản (phàm phu) khó nghĩ lường.”

Đoạn kinh trên và những đoạn kinh tiếp theo, Đức Phật đã minh định rất rõ về ba thân và ý nghĩa của hữu dư, vô dư.

Vì thế, hôm qua mới có ngụ ý: “Người không Giác Ngộ chân thật, đọc Kinh Phương Quảng sẽ như nghe kể chuyện Thầy Lân đi Tây. Nếu người nghe cố giải thích về các sự việc bên đó, nhất định sẽ giải thích sai, vì những giải thích này chỉ do suy lường chứ không thực chứng như Thầy Lân đã tự thân chứng bên Tây.”

Hỏi: Như đã nói, Kinh Phương Quảng thuộc nhóm giáo Đại Bồ Tát, ngoài chuyện dạy các thứ huyễn phương tiện, trong đó còn nói thêm việc gì hay không?

Đáp: Vì đây là kinh do Pháp Thân Phật tuyên thuyết nên ngoài chuyện dạy huyễn phương tiện để các Bồ Tát thành tựu huyễn trí, trong đó còn tuyên thuyết về Phật cảnh giới và Phật Trí.

Tuyên thuyết về Phật cảnh giới và Phật Trí gọi là “Liễu Nghĩa”. Đoạn kinh sau, nói rõ điều này:

“Y nơi Pháp thân này không thể nghĩ bàn, Đại Tam Muội cũng được tỏ hiện. Y nơi Pháp thân này hiện rõ Đại Trí. Thế nên, nơi hai thân, y nơi Tam Muội, y nơi Trí Tuệ mà được tỏ hiện Pháp Thân như thế. Y nơi tự thể (của Pháp Thân) mà nói là Thường, là Thật. Y nơi Đại Tam Muội cho nên nói là Lạc. Y nơi Đại Trí nói là Thanh Tịnh.”

Thế nên, Đức Như Lai tâm thường trụ, tự tại, an lạc, thanh tịnh. Lại y theo Đại Tam Muội, Đại Phật Đảnh, Đại Thiền Na mà xuất sanh tất cả Niệm Xứ, Đại Niệm Xứ, Đại Từ Bi, Đà La Ni, các thứ thần thông. Tự tại và bình đẳng tuyên thuyết tất cả Pháp Phật đều từ nơi Đại Trí của Phật mà hiển bày. Những pháp hy hữu như thế, từ nơi Đại Trí chiếu ra, giống như viên Như Ý Bảo Châu, từ nó có thể hiện ra vô lượng vô biên các thứ báu. Y nơi Đại Tam Muội báu (Phật Tánh), y nơi Đại Trí Huệ báu (Phật Trí) xuất sanh ra vô lượng vô biên Diệu Pháp quý báu của Chư Phật ba đời. Ví như người muốn có vàng, đi tìm khắp nơi gặp được mỏ vàng. Khi thấy được mỏ, liền ra công khai thác, chọn lấy vàng đem về bỏ vào lò nấu đốt tinh luyện. Nhờ nấu đốt tinh luyện, chất vàng chảy ra, chọn lấy vàng ròng. Từ vàng ròng, người này tùy ý làm các món đồ trang sức. Tuy các món đồ trang sức tướng mạo khác nhau, nhưng thể tánh của vàng (Phật Tánh) thì không khác.”

Hỏi: Dân gian có câu nói: “tam sao thất bản”, có nghĩa rằng chỉ cần qua ba lần sao chép, đã không còn ý nghĩa của văn bản gốc. Kinh Phật, khi đến tay người tu hành hôm nay, đã qua quá nhiều lần phiên dịch, giảng giải.

Xin hỏi, Kinh Phật liệu có chịu chung số phận thất bản đó sau khi trải qua nhiều lần dịch thuật như các thứ văn kiện khác hay không?

Đáp: Đây là vấn nạn chung không riêng gì đời. Nhưng, như đã nói hôm trước, cho dù sữa có pha đến 50 lần, thậm chí năm trăm lần, con Nga Vương khi muốn uống sữa nguyên chất, chỉ cần thọc mỏ vào, tự hút lấy sữa, còn những gì không phải sữa nó sẽ để lại cho đời.

Hỏi: Làm sao để trở thành con Nga Vương?

Đáp: Gà, vịt, le le, chim sẻ, bồ câu…đâu phải là dòng giống Nga Vương mà có thể trở thành Nga Vương.

Hỏi: Như vậy, các loài ấy, muốn uống thứ sữa nguyên chất đã bị pha loãng thì làm thế nào?

Đáp: Đi kiếm con Nga Vương mà xin nó.

Hỏi: Gà, vịt, le le, chim sẻ, bồ câu,... nói chung các loài không phải là Nga Vương, khi được sữa nguyên chất có uống vào thì cũng đâu có trở thành Nga Vương, vì nó khác dòng giống, thế thì ích lợi gì.

Đáp: Gà, vịt, le le, chim sẻ, bồ câu,… uống sữa của con Nga Vương lấy từ sữa đã pha sẽ trở thành Phượng Hoàng. Phượng Hoàng uống Lạc do Nga Vương chế biến sẽ trở thành Kim Sí Điểu. Kim Sí Điểu uống Tô từ con Nga Vương sẽ trở thành Linh Thứu. Linh Thứu uống Đề Hồ của con Nga Vương nhất định trở thành Nga Vương.

  • Nhất Chủng Tánh, Đa Chủng Tánh, Vô Minh Chủng Tánh, Tam Thừa Chủng Tánh uống sữa nguyên chất “Tập Đế” của Giáo Pháp Đức Phật sẽ biến thành Thánh Chủng Tánh.

  • Thánh chủng tánh uống Lạc nguyên chất “Diệt Đế” của Giáo Pháp Đức Phật sẽ biến thành Vô Vi Chủng Tánh.

  • Vô Vi Chủng Tánh uống Tô nguyên chất “Đạo Đế” của Giáo Pháp Đức Phật sẽ biến thành Bồ Tát Chủng Tánh.

  • Bồ Tát Chủng Tánh uống “Huyễn Trí, Nhất Thiết Trí” của Phật biến thành Phật Chủng Tánh.

  • Phật Chủng Tánh “uống hư không” thành Phật Tánh. Từ một thứ sữa nguyên chất của Phật do con Nga Vương lấy được trong nước đã pha, có công năng biến hóa ghê hồn, loài nào uống được, nhất định có cơ hội biến thành Nga Vương.

Chẳng phải như những loài khác, uống thứ sữa đã pha ngoài kia để rồi vẫn phải chấp nhận “con quạ vĩnh viễn đen, con cò vĩnh viễn trắng”.

Tác Phẩm Lý Tứ

Mục Kiền Liên Cứu Mẹ - Tác Dụng Của Thiền Là Gì?

MN 102 Lý Thanh Liêm 17.02.2023

- Hỏi

Thưa thầy Lý Tứ! Con là Tấn Trí tác giả câu hỏi kì trước được thầy trả lời qua chủ đề chân lí là của ai. Con rất thán phục, phải nói là bội phục cách giải thích vừa hóm hỉnh vừa sâu sắc của thầy.

Lần này con có một câu hỏi liên quan đến câu chuyện Mục Kiền Liên cứu mẹ trong địa ngục liên quan đến lễ Vu Lan.

Con hiểu địa ngục ở trong tâm, khi người có tâm ác độc, chết sẽ thấy mình vào địa ngục, địa ngục do tâm hiện chứ không phải có một nơi chốn cụ thể như thế giới vật lý. Người không có tâm ác độc, muốn thấy địa ngục cũng không được, thành ra chuyện Mục Kiền Liên đến địa ngục thấy mẹ ở trong đó và xin Phật cứu có hoang đường quá hay không?

Đặt giả sử Mục Kiền Liên muốn đến địa ngục thì đi bằng con đường nào? Mong thầy lí giải để làm sáng tỏ câu chuyện này. Con xin chúc thầy khoẻ mạnh!

 (25/08/2020 5:05:30; Tấn Trí)

- 51.1. Đáp

51.1.1. Chuyện Mục Liên Cứu Mẹ!!!

Về những gì liên quan đến chuyện Mục Kiền Liên cứu mẹ... không riêng gì bạn, mà rất nhiều người cũng có những thắc mắc như vậy!!!

Như những gì bạn trình bày, mình hoàn toàn đồng ý!!! ... Địa ngục chỉ là cảnh giới do tâm mê biến hiện!!! ... Nó thuộc loại “độc ảnh cảnh”!!! ... Tức chỉ bản thân người tạo ác nghiệp, khi ác quả hiện tự thấy như vậy, những người khác không cùng thấy!!! ... Giống như chiêm bao, người nằm chung giường, đắp chung chăn cũng không thấy cảnh chiêm bao của người kia!!!

Về câu chuyện này có hoang đường hay không??? Theo mình thì, ta chỉ nên tìm xem câu chuyện đó muốn gởi gắm điều gì!!! Vì rằng, cho dù câu chuyện đó có hoang đường, nhưng giúp người nghe hướng thiện, biết hiếu thảo, bỏ ác theo thiện, v.v... Như vậy, nội dung câu chuyện đã đạt yêu cầu về mặt giáo dục, cũng như thành công trong việc quảng bá đạo lí thiện lương của nó!!!

51.1.2. Giả sử Mục Kiền Liên muốn đến địa ngục thì đi bằng con đường nào?

Riêng về các chi tiết trong câu chuyện, bạn hỏi: “Đặt giả sử Mục Kiền Liên muốn đến địa ngục thì đi bằng con đường nào”? Trước khi trả lời câu hỏi này, chúng ta cũng nên tìm hiểu một chút về Mục Kiền Liên!!!

Ngài Mục Kiền Liên có danh hiệu là Đệ nhất thần thông!!! Thần thông có hai loại, đó là Thần cảnh trí thông và Thần thông ngôn thuyết!!!

Muốn học tập Thần cảnh trí thông, người này phải tin sâu và hiểu rõ lí nhân quả theo nguyên lí Thập như thị!!! Khi nhìn thấy nhân, người này căn cứ vào Thập như thị để quán quả!!! Khi thấy quả, người này ngược dòng Thập như thị để quán nhân!!! Quán đến thuần thục, thấy nhân sẽ biết quả và thấy quả sẽ biết nhân!!!

Thần thông ngôn thuyết, là một trong những phương pháp dùng ngôn thuyết để khiến người nghe tưởng về một hay nhiều cảnh giới nào đó!!! Trong Phật đạo, các Thiện tri thức thường dùng Thần thông ngôn thuyết để khiến người giác ngộ, đi từ cảnh giới thế gian sang cảnh giới xuất thế!!!

Vì Mục Kiền Liên là Đệ nhất thần thông, và là người rất hiếu thảo!!! Do vậy, tuy đã theo Phật đạo, nhưng mỗi khi nhớ lại những nhân bất thiện mẹ ông đã gieo trước đây, ông biết chắc mẹ mình không thể thoát khỏi ba đường ác!!! Chính từ sự hiếu thảo, đã làm cho Mục Kiền Liên đau xót, bất an (tưởng ra cảnh mẹ mình đang chịu thống khổ trong địa ngục)!!!

Để giải quyết sự đau xót và bất an trong lòng Mục Kiền Liên!!! Phật thiện xảo bày phương tiện, dùng sức chú nguyện của các thánh tăng sau lễ Tự tứ để cầu cho mẹ Mục Kiền Liên hết tội!!! Mục Kiền Liên tin Phật làm theo!!! Nhờ thế, Mục Kiền Liên tin mẹ đã thoát khỏi ba đường ác!!! Từ đó, những ray rứt, bất an trong lòng không còn nữa, yên tâm tu tập!!!

Theo mình, nếu chúng ta tư duy câu chuyện Mục Kiền Liên cứu mẹ theo hướng tích cực ở trên, sẽ đạt được ba yêu cầu, đó là:

- Về yêu cầu giáo pháp: Cách giải thích trên, giúp ta thấy được thế nào là sức thiện xảo của Phật đạo và hiểu rõ Mục Kiền Liên tìm mẹ bằng con đường nào!!! Cũng như cách giải quyết một hữu vi pháp thông qua phương tiện hình tướng!!!

- Về yêu cầu giáo dục: Ta thấy trong mẫu chuyện có phần hoang đường đó, lại hàm chứa nội dung hiếu thảo rất cần thiết cho người đời!!!

- Về yêu cầu tín ngưỡng, văn hoá: Ta không phủ nhận những lợi ích nhất định những gì từ tín ngưỡng cũng như văn hoá bày ra!!! Giúp ta không tận hữu vi!!!

Tất nhiên, cách giải thích trên hoàn toàn mang tính chủ quan của mình, không hẳn là đúng nhất!!! Chỉ mong, sau những lời giải thích trên, Tấn Trí có cái nhìn sâu hơn, bao dung hơn, tích cực hơn từ những câu chuyện có vẻ hoang đường nhưng ẩn chứa tinh thần hướng thiện!!!

− Hỏi:

2) “Đức Phật dạy nhiều pháp thiền (thiền định, thiền tuệ, vipassana, ...) nhưng trong đêm thành đạo Ngài chỉ hành thiền định (từ sơ thiền đến tứ thiền). Vậy tác dụng của từng pháp thiền Phật giáo là gì?” 

(26/08/2020 7:05:27; Bình An)

- 51.2. Đáp

Theo mình biết: Thiền tuệ, Thiền minh sát, thiền quán, Minh sát tuệ, Huệ quán, Tì bà xá na, v.v... tuy tên gọi khác nhau, nhưng đều chỉ cho phép quán vipassana!!!

Người trong Phật đạo khi chưa giác ngộ, thường dùng hai phép cơ bản để điều phục tâm ý, đó là chỉ (samadha) và quán (vipassanā)!!!

- Về điều bạn hỏi: “Nhưng trong đêm thành đạo Ngài chỉ hành thiền định (từ sơ thiền đến tứ thiền)”? Theo mình, câu hỏi này cần coi lại... Cho dù truyền thống, truyền thuyết, v.v... đã nói như vậy!!!

Vì rằng, theo mình biết, trước khi thành đạo, đức Phật đã từng tu tứ thiền bát định, đạt đến cảnh giới Phi tưởng phi phi tưởng nhưng không tìm thấy con đường giác ngộ, từ đó ngài từ bỏ các phép tu ấy!!!

Như vậy, lẽ nào những gì Phật từ bỏ vì không có ý vị giác ngộ, nay lại thực hành tiếp (trong đêm giác ngộ)!!! Cho nên bảo rằng “Trong đêm thành đạo ngài chỉ hành thiền định (từ sơ thiền đến tứ thiền)” có gì đó không ổn!!!

Cũng theo những gì mình biết: Trong quá trình giác ngộ, do tâm ý vắng lặng, các thiền thú (sơ thiền đến tứ thiền) và các thiền chi (tầm, tứ, hỉ, lạc định) tự phát sinh!!! Thiền thú và thiền chi phát sinh (tự được) là hệ quả tất yếu của giác ngộ (gọi là Như lai thiền), chứ chẳng phải đức Phật chủ ý hành thiền trong đêm thành đạo như ta hiểu!!!

- Về câu hỏi: “Tác dụng của từng pháp thiền Phật giáo là gì?” Mời bạn xem lại bài 50* (trang 224*) “Chữ “Hành” Trong Hành Uẩn Và Trong 12 Nhân Duyên...???  Thiền Của Phật Giáo Là Như Thế Nào???” hoặc xem trên chuyên mục “Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời Kì 50 - Chủ Đề: Thiền Của Phật Giáo Như Thế Nào???” Đăng trên Fanpage Lý Tứ vào ngày 24/08/2020!!!

Chúc các bạn... an vui, tinh tấn!!!

(01/09/2020)

Subscribe to