Tác Phẩm Lý Tứ

Ba Nhóm Kinh Do Báo Thân Hóa Thân Pháp Thân Phật Thuyết

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Kinh Phật tựu trung được chia làm ba nhóm chính trong Phật Đạo. Nhóm kinh thứ nhất là của “Báo Phật thuyết” dành riêng cho Nhị thừa. Nhóm kinh thứ hai thuộc về các kinh Phương Đẳng, chủ yếu xiển dương tư tưởng “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”. Nhóm kinh thứ ba thuộc về Kinh Phương Quảng chủ yếu dạy cho các Bồ Tát huyễn phương tiện để thành tựu Huyễn Trí.

Hỏi: Vì sao phần lớn người tu hành đọc kinh Đại Thừa Phương Quảng 1 không hiểu, hoặc chỉ hiểu một phần nhỏ. Mỗi người diễn giải theo một cách, không thống nhất với nhau; thậm chí có người còn cho rằng kinh Đại Thừa không phải do Phật thuyết?

Đáp: Kinh Phật thì có vô số, nhưng tựu trung được chia làm ba nhóm chính trong Phật Đạo (Nhân thừa, Thiên thừa và Phật cảnh giới, không được đề cập trong các nhóm này).

Nhóm thứ nhất: Phần lớn nằm ở tạng Nikaya, nhóm kinh này là của “Báo Phật thuyết” dành riêng cho Nhị thừa.

Hầu hết các các kinh này diễn giải theo thứ lớp, dễ hiểu, gần gũi với thế gian pháp, dạy người phòng hộ, ngăn chặn chướng đạo, chứng các loại thiền định. Nhóm kinh này chủ yếu xây dựng Nhị thừa có một đời sống như pháp, chống nhiễm ô của cộng nghiệp và biệt nghiệp, có khuynh hướng dắt người đến bờ mé; chờ hội đủ công đức, sẽ được Phật chỉ cho con đường Giải Thoát chân chánh để ra khỏi ba cõi khổ.

Loại kinh này, được xây dựng trên nền tảng “Giới, Định, Huệ thế gian” gọi là Tam Vô Lậu học

Có nghĩa rằng, muốn thành tựu Phạm Hạnh 2, người này phải đầy đủ giới luật, chuyên sâu thiền định và cuối cùng mới có thể thấy được ý vị Giải Thoát (gọi là Huệ hay Huệ Giải Thoát).

Gọi là Tam Vô Lậu học, vì đây chỉ là những học pháp giúp tiến tu vô lậu chứ chưa phải Vô Lậu Pháp.

Muốn chứng rốt ráo Vô Lậu thành tựu Vô Lậu Pháp, vị này phải mở một trong ba cửa của thành Niết Bàn chân thật gọi là “Tam Giải Thoát Môn”.

Ba cửa đó là: Cửa Không, cửa Vô Tướng, cửa Vô Tác. Giống như một người từ xóm ấp Ba Cõi, muốn đi đến thành Niết Bàn ở phương xa. Người này phải dùng ba loại phương tiện khác nhau để vượt qua hành trình dài. Ba loại phương tiện đó là: phương tiện của Giới, phương tiện của Thiền Định, phương tiện của Thế Gian Huệ. Sau khi dùng ba loại phương tiện này đến được chân thành Niết Bàn. người này sẽ được người giữ thành, dạy cho biết thành này có ba cái cửa, đó là cửa Không, cửa Vô Tướng và cửa Vô Tác. Người này nghe xong, liền tùy theo Huệ Vô Lậu mà mở một trong ba cửa đó để vào thành Niết Bàn Vô Lậu. Khi vào được thành này, vị ấy vui mừng, tuyên bố về bốn điều mà mình đã thành tựu trong chuyến đi.

  • Thứ nhất: “Chư lậu dĩ tận” có nghĩa rằng lậu hoặc, mê mờ, phiền muộn của xóm ấp đã được bỏ lại sau lưng.

  • Thứ hai: “Phạm Hạnh dĩ lập” có nghĩa rằng đời sống yên vui đang chào đón.

  • Thứ ba: “Sở tác dĩ biện” có nghĩa rằng việc từ bỏ xóm ấp thương đau để đến thành Niết Bàn yên vui hiện tại hoàn tất.

  • Thứ tư: “Bất thọ hậu hữu” có nghĩa rằng từ nay vĩnh viễn sẽ không quay lại chốn cũ đau thương, phiền muộn và mê mờ đó nữa.

Thật ra, Nhị thừa tuyên bố “Tứ Thành Tựu” chỉ là sự nhầm lẫn của lớp thứ nhất, gọi là Hóa Niết Bàn. Người ta nhầm lẫn vì chưa thật sự vào đúng trung tâm của thành Giải Thoát, tức lớp thứ hai của Tam Giải Thoát Môn. Giống như một người đi từ A đến B, người này một chân bước vào thành B đã vui mừng la lớn cho mọi người biết, rằng mình đã đến nơi yên ổn. Nếu người này muốn định cư, làm công dân thực thụ ở thành B, người đó còn phải đi thẳng vào trong thành, để thành tựu lớp thứ hai, ở đó sẽ được hướng dẫn làm một số thủ tục và học các thứ văn hóa cần thiết.

Văn hóa đó là “Văn hóa vô lậu” và “văn hóa không pháp”. Vì thế, Kinh Phương Đẳng mới có sự tham dự của Nhị Thừa, Phật quở những người đến lớp thành thứ nhất, cho đây là đủ, để rồi không tiến đến lớp thứ hai là hạng “trí tuệ lừa què”, Thanh Văn vô trí; Cái các ông được, ngoại đạo cũng được. Hạt giống thối!”

Nói chung, người tu hành ngày xưa hay gọi đó là “Độn La Hán”. Nhị thừa tiếp tục vào sâu trong thành Niết Bàn, Phật Đạo gọi đó là “Hồi tâm A La Hán”.

Tóm lại, nhóm kinh này phần lớn dành cho người xuất gia như pháp, tu tập để thành tựu các quả vị Sa Môn. Người tại gia khó có thể thực hiện được vì không đủ điều kiện. Như: Giới không cụ túc, Thiền Định không xuyên suốt, vì thế Huệ Giải Thoát không thể thành lập được. Kinh Sa Môn Quả hoặc Lõi Cây là các bài giảng điển hình cho nhóm kinh này!

Nhóm thứ hai: Thuộc về các kinh Phương Đẳng, nhóm kinh này chủ yếu xiển dương tư tưởng “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”.

Đại diện của tư tưởng này nằm trong các kinh như Thủ Lăng Nghiêm, Kim Cang, Lăng Già, Duy Ma Cật Sở Thuyết, một phần nằm trong Đại Bát Nhã cùng các Kinh Phương Quảng. Kinh này chủ yếu của Hóa Phật thuyết.

Nhóm kinh này, Tăng hay tục đều có thể lãnh hội. Nhưng vì nó là kinh của Hóa Phật thuyết ra, nên thông thường phải được bậc Đạo Sư giảng giải, cắt nghĩa, khai thị thì mới có thể thâm nhập để đưa đến Giác Ngộ. Lời văn kinh thuộc hệ này, một nửa dễ hiểu, một nửa khó hiểu. Vì vậy, có người cho rằng, do Hóa Phật thuyết nên trong đó có lời quyền, lời thật.

Giống như con dao hai lưỡi, không thiện xảo sử dụng, hoặc được nghe giảng giải và khai thị, khi đọc các thứ kinh này, người tu hành dễ bị đưa đến ngộ nhận, từ đó phát sinh “tà kiến” và “ngã mạn”.

Muốn thấu triệt các bài kinh của nhóm này, người đọc trước nhất phải được trang bị kiến thức Phật Giáo căn bản và chuẩn như:

Thế nào là tâm, thế nào là pháp, thế nào là vật, thế nào là cảnh, thế nào là thế giới, thế nào là ba cõi, thế nào là ngũ ấm, thế nào là ngũ uẩn, thế nào là thức, thế nào là trí, thế nào là huệ, thế nào là nhãn, thế nào là thân, thế nào là căn, thế nào là duyên, thế nào là thiền, thế nào là định, thế nào là xuất gia, thế nào là tại gia, thế nào là Tam Bảo, thế nào là Phật, thế nào là ba thân, thế nào là ngũ hương, thế nào là giới tướng, thế nào là giới tánh, thế nào là thế gian, thế nào là xuất thế, thế nào là quyền, thế nào là thật, thế nào là danh, thế nào là tướng, thế nào là quả vị, thế nào là đắc, thế nào là vô sở đắc, thế nào là y, thế nào là vô sở y, thế nào là đạo, thế nào là tinh tấn, thế nào là Bồ Tát, thế nào là Đại Thừa, thế nào là Tiểu Thừa?

Nói chung, các thứ kiến thức này chưa nắm vững, chưa thể tự đọc hệ Phương Đẳng để có thể thành tựu Giác Ngộ chân thật.

Nhóm kinh này đề cao sức “giác”, lấy nhận thức làm tư tưởng chủ đạo; nhận thức rốt ráo tâm pháp, và các món liệt kê ở trên, gọi là “giác”.

Nhân nơi Giác này, vị tu hành tiếp tục được khai thị để thấy được tâm ý xưa nay tự tịnh gọi là “ngộ”. Cho nên có thể hiểu, nhóm kinh này quy trình ngược với nhóm kinh trên, đó là: Nhân Giác mà tâm ý tỏ Ngộ (biết rõ), nhân tỏ ngộ mà thấy bản lai Tự Định (thanh tịnh), nhân Thanh Tịnh Bất Động mà thành tựu Vô Lậu Giới (Huệ, Định, Giới),…

Phương Đẳng là những bài kinh phần lớn dạy cho Bồ Tát “quyền thừa”3. Bồ Tát “quyền thừa” là những vị có tâm địa rộng lớn nhưng chưa Giác Ngộ hai Vô Ngã hay còn gọi là chưa chứng hai thứ Vô Sanh, đó là “Vô Sanh Tâm” và “Vô Sanh Pháp”. Khi thành tựu hai thứ Vô Sanh này, Bồ Tát mới học tiếp Nhất Thiết Trí để thành tựu Huyễn Trí.

Cũng giống như nhóm kinh thứ nhất, muốn vào thành Niết Bàn Vô Lậu chân thật sau khi đã Giác, các vị này phải được khai thị một lần nữa.

Lần khai thị thứ hai, mục đích của nó là giúp người tu hành tự mình mở ba cánh cửa của “thành” Niết Bàn. “Thành” này cũng có hai lớp, đó là lớp tâm và lớp pháp. Vì thế, Nhị thừa và quyền thừa muốn vị lai trở thành Bồ Tát thực thụ để học Huyễn Trí thì Nhị thừa và quyền thừa này cũng phải qua hai lớp của thành Niết Bàn như các vị Giác Ngộ chân thật. Còn nếu chỉ dừng lại ở lớp thứ nhất, gọi là Hóa Thành.

Nhóm thứ ba: Thuộc về Kinh Phương Quảng. Nhóm kinh này chủ yếu dạy cho các Bồ Tát huyễn phương tiện để thành tựu Huyễn Trí. Sau khi thành tựu Huyễn Trí mới có thể “Đăng Địa” để trở thành Đại Bồ Tát.

Phương Quảng gồm các bộ kinh lớn như: Đại Bát Nhã, Hoa Nghiêm, một phần Diệu Pháp Liên Hoa, Kim Quang Minh, Đại Bảo Tích, Anh Lạc, Đại Niết Bàn. Kinh này do Pháp Thân Phật thuyết4.

Các bài thuyết của hệ này phần lớn dành cho Đại Bồ Tát nên lời kinh khó hiểu đối với người tu hành là bình thường. Pháp hội tham dự những kinh này, chủ yếu là các Hóa Bồ Tát 5, Tha Bồ Tát 6, Hữu Vi Đại Bồ Tát 7, Nhị thừa mật hạnh 8.

Vì thế văn tự trong đó thuộc về cảnh giới bất khả tư nghì, cho nên người chưa hội đủ các yếu tố nêu trên, càng đọc càng suy lường càng thêm điên đảo. Vì sao nó lại như vậy, vì rằng ngữ ngôn và cảnh giới trong đó cao siêu, quá nhận thức thế gian, chỉ những ai có cùng tâm cảnh, mới có thể cảm nhận và hiểu hết ý nghĩa của ngữ ngôn đó. Có thể nói, Kinh Phương Quảng chủ yếu giúp các Bồ Tát thành tựu bốn Ba La Mật sau.

Người chưa Giác Ngộ, đọc Kinh Phương Quảng, sẽ giống như câu chuyện: “Ngày xưa có thầy Lân người nước ta, từng đi sang Tây về kể lại chuyện bên ấy như đèn trút xuống mà vẫn sáng, xe không có ngựa kéo mà vẫn chạy. Mọi người không tin, cho đó là hoang đường”

Kinh Phương Quảng với văn tự và cảnh giới trong đó đối với người chưa Giác Ngộ, giống như chuyện Thầy Lân kể về trời Tây với dân ta thời bấy giờ. Nó vượt quá tâm cảnh và tri thức của phần lớn người tu hành. Cho nên, nhiều người bảo Kinh Phương Quảng là hoang đường và không thuộc về Phật Giáo là chuyện dễ hiểu.

Hỏi: Vì sao có nhiều tài liệu nói rằng, Phật thuyết pháp gồm năm thời.

Nay chỉ lược nói có ba?

Đáp: Ngũ thời, thập thời, hay tam thời là cách phân chia của người sau, để dễ ứng dụng. Ví dụ như:

  • Thiên Thai Tông chia làm năm thời kỳ: Hoa Nghiêm, Lộc Uyển, Phương Đẳng, Bát Nhã, Pháp Hoa và Niết Bàn.

  • Niết Bàn Tông, năm thời kỳ được phân ra như sau: Tam Thừa Biệt Giáo, Tam Thừa Thông Giáo, Ức Vật Giáo, Đồng Qui Giáo, Thường Trụ Giáo.

  • Lưu Câu, chia ra năm thời kỳ như sau: Đề Vị, A Hàm, Không, Nhứt Thừa, Thường Trụ.

  • Khuê Phong chia thành: Nhơn Thiên Giáo, Tiểu Thừa Giáo, Đại Thừa Tướng Giáo, Đại Thừa Phá Tướng Giáo, Nhứt Thừa Hiển Tánh Giáo.

Nói chung, phân chia kinh Phật gồm mấy thời kỳ không quan trọng; điều quan trọng là, người tu hành hiểu gì và ứng dụng được gì trong cách phân chia này, để đưa đến lợi ích thiết thực cho chính bản thân.

Hỏi: Ngày nay có người cho rằng, năm trăm năm sau khi Phật nhập diệt, Kinh Đại Thừa mới xuất hiện, vì thế các bài kinh này không phải do Phật thuyết.

Đáp: Trước nay cũng có những thành tựu khoa học mà cho mãi đến cả trăm năm sau đông đảo quần chúng mới biết đến, tuy rằng những thành tựu đó đã được ứng dụng ở một vài nơi đặc biệt nào đó từ rất lâu, rất xa.

Ngay lúc này đây, người ta cũng biết rằng có rất nhiều thành tựu khoa học giá trị, nhưng số đông nhân loại chưa từng nghe nói tới.

Vì thế, sau bao nhiêu năm, mọi người mới biết đến việc xảy hồi trước, việc này trên thế giới không phải là chuyện hiếm.

Biết sau hay biết trước không quan trọng, quan trọng là, điều đó khi đến với anh, nó giúp anh được những gì, anh đã đủ sức lãnh hội hay chưa?

Ngay cả bây giờ, trên thế giới này, có rất nhiều người chưa tiếp cận với nhiều thành tựu văn minh của nhân loại. Đâu vì thế mà những người này khi nghe nói đến các nền văn minh lạ lẫm kia, có thể phán rằng: “Các thứ văn minh đó không phải là những thành tựu của các nhà khoa học chân chánh hay của con người”.

Kinh Đại Thừa Phương Quảng cũng như vậy, nó là thành tựu tối cao của “nền văn minh Phật Giáo” và cũng giống như các nền văn minh trên thế giới.

Tất nhiên chỉ những ai hội đủ các điều kiện nhất định trong một thời điểm nhất định mới có thể tiếp cận và hưởng dụng văn minh này một cách hoàn hảo.

----------------------------

  1. Kinh Đại thừa Phương Quảng: tên gọi chỉ chung cho hệ thống kinh giáo Đại thừa.

  2. Phạm Hạnh: đời sống thanh tịnh của bậc tu hành.

  3. Quyền thừa: Một giai đoạn tu tập của Bồ Tát.

  4. Pháp Thân Phật thuyết: Những lời kinh liễu nghĩa từ trí tuệ Đức Phật phát

  5. Hóa Bồ Tát: các Bồ Tát vô vi do Phật hóa hiện

  6. Tha Bồ Tát: những Bồ Tát ở cõi khác.

  7. Hữu Vi Đại Bồ Tát: Những Bồ Tát thông tuệ mang thân người, chứng quả trong hiện đời.

  8. Nhị thừa mật hạnh: Các bồ tát thị hiện qua hình tướng Thanh Văn.

Tác Phẩm Lý Tứ

Ý Nghĩa Hồi Hướng Công Đức; Phật Dạy Các Bậc Ứng Cúng

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Hai chữ công đức của Phật Đạo có thể hiểu là một dạng năng lượng vô vi nào đó, được phát ra từ thân, khẩu, ý của người tu tập trong Phật Đạo, đã đạt đến sự thanh tịnh chân thật cần thiết.

Hỏi: Thông thường, sau một thời kinh, một thời thuyết pháp, người tu hành thường thực hành “Pháp Hồi Hướng”. Xin hỏi, pháp hồi hướng có ý nghĩa gì, và tác dụng như thế nào?

Đáp: Nếu nói đầy đủ, phải nói là “Hồi Hướng Công Đức”. Muốn hiểu rõ ý nghĩa và tác dụng của việc làm này, trước tiên phải hiểu ý nghĩa của hai chữ công đức và ý nghĩa của hai chữ hồi hướng.

Hỏi: Xin lược giảng ý nghĩa của hai thứ (công đức, hồi hướng) nêu trên?

Đáp:

Về công đức: Hai chữ công đức trong Phật Đạo, mang ý nghĩa trừu tượng, thuộc về thanh tịnh vô vi, ra khỏi suy lường, nên rất khó hiểu và cũng khó nhận biết.

Chữ công, có nghĩa là công sức, tức là một dạng năng lượng nào đó, phát ra từ thân, khẩu, ý của người tu hành. Chữ đức trong Phật Đạo, nhằm nói đến thanh tịnh vô vi chân thật.

Như vậy, hai chữ công đức của Phật Đạo có thể hiểu: Đây là dạng năng lượng vô vi nào đó, được phát ra từ thân, khẩu, ý của người tu tập trong Phật Đạo, đã đạt đến sự thanh tịnh chân thật cần thiết.

Vì thế, có thể hiểu ngược lại, những năng lượng nào phát ra từ thân, khẩu, ý của người không hoặc chưa thanh tịnh, thì năng lượng đó chỉ sản sanh phước đức hay ác đức, chứ chưa thể gọi là công đức.

Về hồi hướng: “Hồi” có nghĩa quay trở lại. “Hướng” có nghĩa là nhắm thẳng đến một mục tiêu nào đó.

Như vậy, hai chữ hồi hướng của Phật Đạo,  nhằm  nói đến việc “Người tu hành, dùng sức thanh tịnh mà ta đang có được, hướng đến tất cả hữu tình, chia sẻ và cầu mong tất cả những hữu tình đó cũng được thanh tịnh chân thật như bản thân mình”.

Hỏi: Công đức khác với phước đức và ác đức như thế nào?

Đáp: Như đã nói ở trên, hai chữ công đức thuộc về thanh tịnh vô vi, ra khỏi suy lường. Vì thế, những hành động tạo tác nào xuất phát từ ba nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh, không có hữu vi pháp ô nhiễm trong đó, ra khỏi mọi suy lường của cân, đong, đo, đếm, đều phát sinh “công đức”.

Ngược lại, hành động nào của ba nghiệp không thanh tịnh, nhiễm ô hữu vi pháp, có suy lường toan tính, những hành động này chỉ cho ra phước đức hay “ác đức”.

Hỏi: Người chưa thanh tịnh tu tập phép “hồi hướng công đức” có được tác dụng gì?

Đáp: Người chưa thanh tịnh khi tu tập phép hồi hướng công đức, nếu biết rõ ý nghĩa của việc làm này như đã nói ở trên và thực hành không sai lệch ý nghĩa, dần dần họ cũng được công đức thanh tịnh. Ví dụ như: Gió, thổi qua rừng chiên đàn thì mang hương thơm; thổi qua rừng thi lâm thì có mùi tử thi; nếu thổi vào hư không thì làm mát lòng người.

Gió dụ như ba nghiệp, rừng chiên đàn dụ cho người thiện tâm, rừng thi lâm dụ cho kẻ ác tâm, hư không dụ cho thanh tịnh tâm... Người tu phép hồi hướng, ba nghiệp tạo tác giống như người quạt gió, càng quạt gió càng mạnh.

Hỏi: Người tu hành, không hồi hướng công đức, có được hay không?

Đáp: Tất nhiên là được. Nhưng, nếu đã phát tâm Bồ Tát, muốn Bồ Tát tâm viên mãn, phải tu phép hồi hướng công đức.

Hỏi: Vì sao đã phát tâm Bồ Tát, phải hồi hướng công đức, Bồ Tát tâm mới viên mãn?

Đáp: Bồ Tát là những vị có tâm lượng rộng lớn, muốn đem công đức mình có được, chia sẻ cho tất cả chúng sinh cũng được điều tốt như mình, gọi là thực hành Từ Bi tâm. Nếu không thực hành Từ Bi tâm, làm sao thành tựu Bồ Tát tâm.

Giống như một người giàu có, nhiều tiền của, muốn đem tiền của này bố thí cho mọi người. Nhưng người đó không đem tiền của ra phân phát, chỉ giữ kín trong tủ, liệu người đó có trở thành người bố thí hay không.

Hỏi: Một người đã thật sự thanh tịnh, có cần tu tập phép hồi hướng, có cần tích thêm công đức nữa hay không?

Đáp: Một người thành tựu thanh tịnh tâm, ba nghiệp hoàn toàn thanh tịnh, nếu chỉ dừng lại ở phần tự độ, thì không nhất thiết phải tu tập phép hồi hướng và cũng không nhất thiết tích thêm công đức. Nhưng nếu người này phát tâm Bồ Tát, thì phải tu phép hồi hướng và tích góp thêm công đức.

Hỏi: Hồi hướng và tích thêm công đức để làm gì?

Đáp: Phật Đạo không dừng lại ở thanh tịnh tâm là đủ mà phải tiến về Vô Thượng Bồ Đề. Muốn tiến về Vô Thượng Bồ Đề, phải có trí tuệ. Muốn có được trí tuệ của Phật Đạo, phải hội đủ số lượng công đức nhất định nào đó. Vì thế, hồi hướng và tích góp công đức chính là việc làm cần thiết để đủ sức mọc mầm trí tuệ ở vị lai. Giống như người lao động nghèo, người này dùng sức lao động của chính mình kiếm tiền để thoát khỏi nghèo đói. Sau khi thoát khỏi nghèo đói người này tiếp tục dùng sức lao động để làm giàu. Sau khi giàu có người này nghĩ đến chuyện tạo công ăn việc làm cho những người khác. Người nghèo đi làm kiếm tiền nuôi thân, dụ cho người tu tập để được thanh tịnh an vui. Sau khi nuôi thân xong, tiếp tục làm giàu, dụ cho Bồ Tát tích góp công đức để có trí tuệ. Lo công ăn việc làm cho người khác, dụ cho Bồ Tát đem trí tuệ này chia sẻ đến hết thảy chúng sinh.

Hỏi: Công đức được chia làm mấy loại?

Đáp: Được chia làm hai loại.

Hỏi: Hai loại đó bắt nguồn từ đâu?

Đáp: Một loại do thanh tịnh làm nên, một loại do trí tuệ làm nên.

Hỏi: Xin nói rõ, công đức do thanh tịnh và công đức do trí tuệ làm nên là như thế nào?

Đáp:

  • Công đức của Nhị thừa do Giác Ngộ thanh tịnh, hoặc chứng Giải Thoát mà được, công đức này chỉ đủ tự cứu. Giống người lao động, thu nhập chỉ vừa đủ nuôi sống bản thân.

  • Công đức của Nhất thừa do dùng trí tuệ giáo hóa chúng sanh mà có được, nên công đức này lớn hơn. Ví như người chủ cửa hàng, tài sản và thu nhập nhiều hơn người làm thuê.

Hỏi: Nói rằng công đức là bình đẳng, sao lại có phân cao thấp, nhiều ít?

Đáp: Những đồng bạc có mệnh giá bằng nhau, sẽ bình đẳng trong việc sử dụng đối với các đồng bạc mang mệnh giá đó.

Nhưng, người có nhiều đồng cùng mệnh giá, sẽ khác với người có ít số tiền cùng mệnh giá. Một ví dụ khác: Hai chiếc nhẫn vàng, cùng có trọng lượng một chỉ thì bằng nhau, nhưng người có nhiều chiếc nhẫn một chỉ nhất định khác với người chỉ có một chiếc nhẫn một chỉ. Không thể dùng hai chữ bình đẳng để đánh đồng tất cả các khái niệm. Vì thế, Phật công đức nhiều hơn Bồ Tát, Bồ Tát công đức nhiều hơn A La Hán, A La Hán công đức nhiều hơn Tu Đà Hoàn, Tu Đà Hoàn công đức nhiều hơn người mới phát tâm tu hành.

Hỏi: Vì sao trong kinh, Phật dạy: “Cúng dường vô số người thọ năm giới, không bằng công đức cúng dường một Tu Đà Hoàn; cúng dường vô số Tu Đà Hoàn không bằng công đức cúng dường một A La Hán; cúng dường vô số A La Hán không bằng công đức cúng dường một vị Bồ Tát; cúng dường vô số Bồ Tát không bằng công đức cúng dường một vị Phật; cúng dường vô số Phật không bằng công đức cúng dường một vị Vô Tu Vô Chứng”.

Đáp: Tôi xin đưa một ví dụ, người sáng suốt đọc ví dụ này, có thể hiểu ra vấn đề: Người bệnh nan y đến cầu chữa trị vô số người không biết thuốc không bằng đến một thầy lang. Một người bệnh nan y cầu vô số thầy lang chữa trị không bằng đến một y tá có học qua trường lớp. Người bệnh nan y cầu vô số y tá, không bằng cầu một y sĩ chữa bệnh cho mình. Người bệnh nan y cầu vô số y sĩ, không bằng đến một bác sĩ để thăm khám. Người bệnh nan y cầu vô số bác sĩ, không bằng cầu chữa bệnh nơi một Giáo sư - Bác sĩ. Người cầu vô số Giáo sư - Bác sĩ không bằng cầu chữa nơi ông Tổ Ngành y.

Người cầu nơi Tổ ngành y, không bằng cầu chữa nơi “một vị thông tuệ các loại y dược, hiện đang còn tại thế”.

Hỏi: “Hồi hướng công đức” là một hình thức của tiêu dùng, phân phát. Xin hỏi: Một người làm được bao nhiêu cho bấy nhiêu, làm được bao nhiêu xài bấy nhiêu, làm được bao nhiêu phân phát bấy nhiêu. Phân phát, sử dụng lãng phí như vậy, cho đến núi cũng tiêu. Thử hỏi, công đức còn đâu mà tích lũy, chớ nói chi đến chuyện làm giàu?

Đáp: Ha ha ha! Đây là câu hỏi được coi là câu hỏi mang đậm biểu hiện của bậc “suy lường thâm hậu”. Xin chào “Suy Lường Đạo huynh!”.

Tôi cũng xin đưa thêm một ví dụ, nhân ví dụ này, đạo huynh có thể dùng nó để tiếp tục đem về nhà mà cùng nhau suy ngẫm. Ví dụ như sau: Giống như người ta có một cây đuốc sáng. Cây đuốc này có sáng đến mọi nơi hay không?

Hỏi: Tất nhiên, một cây đuốc chỉ đủ sáng trong phạm vi cây đuốc đó có thể rọi tới.

Đáp: Nếu cây đuốc này được mồi cho một cây đuốc khác, nó có giảm bớt sức sáng hay không?

Hỏi: Tất nhiên ánh sáng không giảm mà lại tăng lên, bởi nhờ vào cây đuốc thứ hai đã được thắp sáng.

Đáp: Nếu ta mồi lửa liên tục cho những cây đuốc khác thì sẽ như thế nào?

Hỏi: “Nguyện đem công đức này, hướng về khắp tất cả, đệ tử và chúng sanh, đồng trọn thành Phật Đạo”

Đáp: Hòa Nam Thánh Chúng, Bàn Na Mị, Bàn Đàm, Phiền Đạm, Bà Nam, Bạn Đề, Bàn Đàm, Bạn Đạn Nam, Mạt Nại Nam...

Tác Phẩm Lý Tứ

Ý Nghĩa Chân Thật Của Câu Tam Bảo Thường Trụ

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Phật dạy: “Phật Tánh là thường” nên mới có Tam Bảo thường trụ. Mặt trời được ví như Phật Tánh. Ánh sáng Phật Trí từ Phật Tánh phát ra thường soi sáng vô minh tăm tối, ví như Pháp Bảo. Sức nóng của Trí Tuệ thường hong khô mọi thứ nước ái dục và lậu hoặc, ví như Tăng Bảo.  

Hỏi: Tôi suy nghĩ mãi, mà không thể hiểu nổi ý nghĩa của câu “Tam Bảo Thường Trụ”. Xin thầy vui lòng giải thích ý nghĩa chân thật của câu đó.

Đáp: Phật dạy: “Phật Tánh là thường” nên mới có Tam Bảo thường trụ.

Hỏi: Cho dù Phật Tánh là thường, thì can hệ gì đến Pháp Bảo và Tăng Bảo. Pháp Bảo là kinh điển, bản thân cuốn kinh và lời kinh là hữu vi pháp, mà cái gì hữu vi, nhất định vô thường biến hoại. Tăng cũng như thế, không ngoại lệ. Xin giải thích cặn kẽ giùm tôi thắc mắc này.

Đáp: Tôi cho một ví dụ: Giả sử như mặt trời là thường thì ánh sáng và sức nóng của nó có thường chăng?

Hỏi: Tất nhiên, nếu mặt trời là thường thì những gì thuộc về nó cũng thường.

Đáp: Mặt trời được ví như Phật Tánh. Ánh sáng Phật Trí từ Phật Tánh phát ra thường soi sáng vô minh tăm tối, ví như Pháp Bảo. Sức nóng của Trí Tuệ thường hong khô mọi thứ nước ái dục và lậu hoặc, ví như Tăng Bảo. Ba bảo này là vô vi, chứ chẳng phải hữu vi, nên người đời khó có thể biết được.

Vì thế, Phật dạy: “Ai tin Tam Bảo thường trụ” sẽ phát sinh vô lượng công đức.

Hỏi: Tam Bảo thường trụ là vô vi. Nếu đã vô vi, làm sao có thể chứng thực được mà bảo rằng thường?

Đáp: Câu hỏi này có vấn đề, cần điều chỉnh lại. Không thể trả lời trước một câu hỏi bất hợp lý.

Hỏi: Điều nào là bất hợp lý, và nên điều chỉnh như thế nào?

Đáp:

Thứ nhất, không thể dùng một hữu vi để chứng thực cái vô vi. Bản thân ông đã là vô vi hay chưa, mà đòi tự mình chứng thực, đây là điều bất hợp lý.

Thứ hai, hỏi là để học, mà câu hỏi của ông chưa đúng thái độ của người cầu học. Vì thế, cần điều chỉnh ý nghĩa câu hỏi, người trí không nên hỏi những câu vô căn cứ như:

Tôi đang ở trong bóng tối, tại sao không thấy được ánh sáng? Xin chứng thực cho tôi, ánh sáng là gì?

Hỏi: Xin thưa! Vậy nên đặt câu hỏi như thế nào để vừa hợp với trình độ nhận thức của mình, vừa có ý nghĩa cầu học?

Đáp: Một câu hỏi thuộc nhận thức của mình, mà không tự đặt ra được. Làm sao có thể hiểu những điều sâu thẳm thuộc về vô vi trong Phật Đạo. Vậy nên, ông cố tư duy xem, nên đặt câu hỏi như thế nào để vừa “không bất hợp lý” vừa “tỏ rõ được thái độ cầu học”.

Hỏi: Trong nhất thời, tôi chưa thể nghĩ ra, xin thầy giảng giải thêm.

Đáp: Ông thấy đấy, người đời như ông, phần lớn ngã mạn nhưng lại thiếu trí, thường hay khoe khoang cái ngã của mình, nhưng chẳng tự biết đối với Phật Pháp đích thực, một chút bằng đầu sợi lông cũng chưa từng hiểu qua. Vì thế, chỉ quen đối đãi với nhau theo lề thói thế tục, riết thành bản năng tự nhiên. Không từng một lần ngồi xuống, tự xem xét lại bản thân, xem xét tâm trí này đang ở đâu nên cứ ngỡ mình là thánh nhân. Thánh nhân gì, những điều cơ bản nhất trong giao tiếp là hỏi đáp cũng không biết hỏi đáp cho đúng phép.

Nếu cứ sống với cái bề ngoài, hời hợt như vậy, khi nào mới trở thành một con người có đủ chiều sâu nội tâm tối thiểu, để đảm đang việc học tập trong Phật Đạo.

Điều này khiến tôi liên tưởng đến đám trẻ con chơi ngoài gốc cây, cả đám bầu một đứa làm thầy giáo, dạy dỗ lăng nhăng, hỏi đáp thiếu suy nghĩ lại vô căn cứ, nhưng chúng rất say mê với trò chơi này.

Sau đó, khi đám trẻ đến tuổi tới trường. Khi bắt chúng vô trường lớp đàng hoàng, học hành có quy củ, nói năng đúng trọng tâm, suy nghĩ phải chín chắn, nhất định bọn chúng sẽ trốn học tức thì.

Đâu, ông cố suy nghĩ xem, nên hỏi như thế nào cho phải phép, đừng có tự ái mà trốn học.

Hỏi: Đúng là xưa nay, bạ đâu hỏi đó, nhớ đâu trả lời đấy, thích gì làm nấy, chưa tự mình một lần xem xét câu hỏi, câu trả lời, hành động này đã thỏa đáng và hợp lý hay chưa?

Lời quở trách “như đám trẻ con” tuy nghe chói tai, nhưng thật chí tình.

Đáp: Hãy thử “một lần làm người lớn thực thụ trong Phật Đạo” xem như thế nào?

Hỏi: Xin cho hỏi, muốn hiểu được ý nghĩa Tam Bảo thường trụ là vô vi, tôi nên tu tập như thế nào?

Đáp: Câu hỏi cho thấy có chút trưởng thành. Muốn chứng thực như thế nào là vô vi, hãy bỏ hữu vi xuống.

Hỏi: Những gì được gọi là hữu vi theo ý nghĩa của Phật Đạo?

Đáp: Khi nào sáu căn xúc đối sáu trần, khởi lên các nhận thức hư vọng, những nhận thức hư vọng đó Phật Đạo gọi là hữu vi pháp.

Hỏi: Nhưng làm sao, khi căn đối trần, không khởi lên nhận thức hư vọng được?

Đáp: Nếu không thể làm được điều này, đành quay trở lại làm con nít vậy.

Hỏi: Có thể cho tôi chút thời gian, để tư duy một cách rành mạch, rõ ràng được không?

Đáp: Tất nhiên là được, mời ông dùng trà.

Hỏi: Xin cắt nghĩa cho tôi biết, thế nào gọi là nhận thức hư vọng?

Đáp: Nhận thức nào không như thật, nhận thức đó, Phật Đạo gọi là hư vọng.

Hỏi: Xin hỏi, thế nào gọi là nhận thức không như thật?

Đáp: Ví dụ như: Một người nghèo, nằm mơ thấy mình giàu và được hưởng thụ những tiện nghi đắt đỏ.

  • Trong mơ lòng cảm nhận mình giàu có là “hư vọng tánh, hư vọng tâm”.

  • Nhận thức về việc giàu sang trong mơ, là “nhận thức hư vọng”.

  • Trong mơ mọi sự chung quanh đều như ý, là “hư vọng kiến”.

  • Nhìn thấy mọi vật tốt đẹp như sự giàu sang kia, là “hư vọng cảnh”.

  • Nói chung, thấy biết nào không bắt nguồn từ bản chất của sự vật, sự việc, Phật Đạo gọi là hư vọng.

Hỏi: Nhưng hiện tại, tôi đâu có mơ?

Đáp: Ông không thấy mình đang mơ, nhưng Phật và hiền thánh Tăng thấy ông đang mơ. Người ngủ mơ, đâu biết mình mơ, nếu biết thì đã không mơ rồi.

Hỏi: Xin ngài cho biết, tôi đang mơ điều gì?

Đáp: Ông đang mơ về chính ông. Ông đang mơ thế giới chung quanh theo nghiệp riêng của mình.

Hỏi: Mơ về chính tôi và mơ theo nghiệp riêng của mình như thế nào?

Đáp: Muốn biết những điều này: Ông hãy trả cái phán xét về thế giới là tốt hay xấu trong lòng của ông về đúng với bản chất vô tri của thế giới. Ông hãy trả cái nhận thức đúng sai trước một sự việc về với bản chất của sự việc là tự nó chẳng phải đúng, chẳng phải sai. Ông hãy trả chính ông về với bản nguyên của ông chưa từng sanh diệt.

Ông thử thực hiện thật tốt ba điều trên xem như thế nào, liệu có điều gì thay đổi hay không?

Hỏi: Mô Phật! Mô Phật! Tôi chẳng thấy có gì.

Đáp: Lúc ông chẳng thấy có gì, cái thấy đó có thuộc nhận thức hư vọng hay không?

Hỏi: Không thuộc nhận thức hư vọng, mà nó là cảm nhận chân thật của cái biết (tánh giác).

Đáp: Cảm nhận chân thật này là thường hay vô thường?

Hỏi: Là thường, chỉ khi mê nó bị che khuất.

Đáp: Người nào bắt ông mê muội?

Hỏi: Nếu không còn ai, thì chẳng có kẻ mê chẳng có người giác.

Đáp: Không mê không giác, gọi là gì?

Hỏi: Không mê không giác đích thực là vô vi.

Đáp: Vô vi đích thực là gì?

Hỏi: Chẳng rơi vào thấy đoạn hay thấy thường.

Đáp: Chẳng rơi vào đoạn kiến hay thường kiến, đó là gì?

Hỏi: Chánh Kiến.

Đáp: Dựa vào cái gì để biết đó là Chánh Kiến?

Hỏi: Tự biết, không do cái gì nên có Chánh Kiến, mà “Chánh Kiến cũng chẳng phải là pháp tạo tác”.

Đáp: Cái gì làm cho ông chấm dứt tạo tác sanh diệt?

Hỏi: Thấu suốt nguồn tâm, sẽ chấm dứt tạo tác sanh diệt.

Đáp: Cái gì giúp ông thấu suốt nguồn tâm?

Hỏi: Pháp của Phật do Ngài thiện xảo truyền đạt, giúp tôi thấu suốt nguồn tâm.

Đáp: Pháp đó là hữu vi hay vô vi?

Hỏi: Ra khỏi nhận thức của hữu vô!...

Đáp: Ra khỏi nhận thức hữu vô; “chân thật” nó là cái gì?

Hỏi: Ra khỏi nhận thức hữu vô, nên pháp này rốt ráo vô.

Đáp: Pháp rốt ráo vô, gọi là gì?

Hỏi: Rốt ráo vô, mới chân thật là Pháp Bảo.

Đáp: Pháp Bảo này là “thường” hay “vô thường”.

Hỏi: Pháp Bảo này là thường.

Đáp: Một thường, tất cả có thường chăng?

Hỏi: Như đèn soi bóng tối, một sáng tất cả sáng, một thường tất cả thường.

Đáp: Như vậy, Tam Bảo là vô vi hay hữu vi?

Hỏi: Tam Bảo đích thực là vô vi.

Đáp: Vô vi là “thường” hay “vô thường”?

Hỏi: Vô vi là thường! Vì thường nên thấy “một bảo” lập tức biết có “ba bảo”.

Đáp: Như vậy, ông còn thắc mắc gì về nghĩa Tam Bảo thường trụ, và có còn đòi chứng thực Tam Bảo vô vi nữa hay không?

Hỏi: Con biết vô vi chẳng thể đem cái hữu vi chứng thực, chỉ có mình “Tự Ngộ”?

Đáp: Ngộ như thế rồi, thì cần làm gì?

Hỏi: Nay con xin quy y Tam Bảo thường trụ.

Đáp: Đã quy y Tam Bảo thường trụ, nên phát ba thứ tự quy y chân thật:

  • Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sanh, thể theo đạo cả, phát Vô Thượng tâm.

  • Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sanh, thấu rõ kinh tạng, Trí Tuệ như biển.

  • Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, nhứt thiết vô ngại.

Hỏi: Đã phát tam tự quy rồi, nay con nên làm gì tiếp theo?

Đáp: Lấy Chánh Kiến, rọi đến nơi nào, tâm thức này hãy còn tối tăm.

Tạm biệt! …

Tác Phẩm Lý Tứ

Chánh Pháp Nguyên Chất, Loài Nga Vương Là Gì?

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Đúng chánh pháp nguyên chất sẽ cho ra ba sản phẩm cao cấp, đó là: Giác Ngộ, Giải Thoát và Trí Tuệ. Những sản phẩm cao cấp này, ngoài nguyên liệu là chánh pháp mới có thể làm ra nó, sẽ không còn một thứ nguyên liệu nào khác trên đời, có thể làm ra.

Hỏi: Kinh Đại Niết Bàn, Phật dạy với đại ý: “Trong thời mạt pháp, chánh pháp của Đức Thế Tôn bị pha loãng. Giống như những người bán sữa, đã pha loãng sữa qua năm mươi lần.” Xin hỏi: Sữa mà pha năm lần, tức một sữa năm nước đã không còn ý vị gì của sữa nữa rồi. Huống hồ, pha đến lần thứ năm mươi, phỏng người đời nay tu hành trong Phật Đạo, có còn chút lợi ích gì của chánh pháp?

Đáp: Trong Kinh Đại Niết Bàn, Phật cũng có nói: “Tuy sữa đã pha lần thứ năm mươi nhưng khi nấu cháo, thứ cháo sữa này ăn vào, vẫn còn ý vị hơn thứ cháo nấu bằng nước lạnh…” Vì thế, nếu không có cháo sữa nguyên chất, thì ta tạm ăn thứ cháo có chút mùi sữa vậy.

Hỏi: Có cách gì tìm thứ sữa chánh pháp nguyên chất trong thời mạt pháp này hay không?

Đáp: Tất nhiên là có, vì Tam Bảo thường trụ mà.

Hỏi: Tìm những điều đó bằng cách nào?

Đáp: Kinh Đại Niết Bàn, Phật cũng dạy: “Có loài Nga Vương, khi thọc mỏ vào hỗn hợp hòa tan sữa với nước để uống, con Nga Vương chỉ hút lấy sữa, còn nước thì chừa lại.”

Theo như lời dạy của Phật, cho dù sữa đã pha năm mươi lần, chứ đến năm trăm lần, đối với con Nga Vương cũng không khó khăn gì. Khi con Nga Vương muốn uống sữa nguyên chất, cho dù sữa ấy đã bị hòa tan trong nước, nhất định nó vẫn sẽ hút được.

Như thế, có thể hiểu, cho dù cách xa Phật nhiều ngàn năm nhưng những gì Đức Phật nói ra được ghi lại trong kinh tạng thì nếu đúng là loài Nga Vương, nó vẫn có thể rút ra ý vị chân thật của chánh pháp không hề sai lệch, cho dù ngay trong thời mạt pháp này.

Hỏi: Làm sao để biết đó là ý vị nguyên chất của thứ sữa chánh pháp được rút ra từ trong hỗn hợp đã pha quá loãng ở thời mạt pháp này?

Đáp: Kinh Đại Niết Bàn, Phật cũng có dạy đại ý: “Nếu là sữa nguyên chất, qua bàn tay thiện xảo của người biết chế biến, mùi vị ấy có thể chế biến thành lạc, tô và đề hồ”. Cho nên, sữa nguyên chất không chỉ có công dụng ít ỏi như là nấu cháo cho người bệnh, mà còn trở thành những sản phẩm thượng diệu như: Lạc, tô và đề hồ.

Vì thế, ở đâu có lạc, tô và đề hồ thì biết rằng ở đó có sữa nguyên chất.

Hỏi: Các sản phẩm lạc, tô và đề hồ được chế biến từ sữa nguyên chất, có ý nghĩa gì tương ứng với các sản phẩm cho ra từ chánh pháp?

Đáp: Nếu sữa nguyên chất, nhất định cho ra ba sản phẩm chánh là lạc, tô và đề hồ. Đúng chánh pháp sẽ cho ra ba sản phẩm cao cấp, đó là: Giác Ngộ, Giải Thoát và Trí Tuệ. Những sản phẩm cao cấp này, ngoài nguyên liệu là chánh pháp mới có thể làm ra nó, sẽ không còn một thứ nguyên liệu nào khác trên đời, có thể làm ra.

Hỏi: Vì sao nói rằng: đúng chánh pháp sẽ cho ra ba chánh phẩm cao cấp đó là: Giác Ngộ, Giải Thoát và Trí Tuệ mà không nói đến những thứ phẩm khác?

Đáp: Những thứ phẩm khác, giống như “cháo sữa”, chỉ là sản phẩm bất đắc dĩ, Công dụng của nó tạm dùng làm thức ăn dễ tiêu hóa cho người bệnh. Vì thế, thứ phẩm như cháo sữa, không phải là sản phẩm chính thuộc về mong ước của người sở hữu sữa nguyên chất.

Hỏi: Như vậy, quá trình trích ly lấy sữa nguyên chất từ sữa đã pha loãng, giữa con Nga Vương và loài không phải là Nga Vương khác biệt chỗ nào?

Đáp: Phật dạy, cũng đồng thời tu hành trong Phật Đạo, nhưng quá trình trích ly từ giáo pháp để thu hoạch sản phẩm, do trình độ sai biệt nên có năm thừa ra đời. Đó là Nhân thừa, Thiên thừa, Nhị thừa (Thanh Văn, Duyên Giác) và Bồ Tát (Phật) thừa.

Hỏi: Kỹ thuật trích ly sữa trong nước của năm thừa, cơ bản khác nhau như thế nào?

Đáp: Cơ bản của năm thừa, khác nhau do trình độ nhận thức về giáo pháp, nên khi trích ly giáo pháp từ khối lượng đồ sộ của kinh điển, từng thừa cho ra những sản phẩm tương đương với trình độ nhận thức và kỹ thuật của họ. Giá trị sản phẩm cũng chỉ tương đương với những gì họ thu hoạch được sau khi trích ly. Giống như sữa nguyên chất, sau khi hòa tan, tùy vào công nghệ kỹ thuật lạc hậu hay tối tân, mà người ta thu hoạch được các loại sữa cao cấp hay tầm thường.

Hỏi: Xin Thầy nói rõ, nhận thức khác biệt của năm “thừa”?

Đáp: Năm thừa có năm tầng nhận thức khác nhau về việc tu hành trong Phật Đạo. Đó là năm nhãn quan của từng tầng bậc tu hành, Phật Đạo gọi nôm na là “ngũ nhãn”, ngũ nhãn gồm: Nhục nhãn, Thiên nhãn, Pháp nhãn, Huệ nhãn và Phật nhãn.

Hỏi: Năm nhãn quan đó khi soi chiếu vào kinh điển, sẽ cho ra kết quả như thế nào?

Đáp:

  • Nhục nhãn: Thuộc về Nhân thừa, gồm những người tu hành trong Phật Đạo, đọc tụng kinh điển chỉ tìm thấy trong đó các ý nghĩa thuộc về luân lý đạo đức hay tôn giáo. Vì thế, khi ứng dụng giáo pháp của Phật, kết quả đạt được là một con người tốt, có đạo đức trong xã hội. Hạng này giống như, người bệnh phong hàn lại đi ngoài gió mưa, chỉ mong tìm chỗ kín đáo để ẩn nấp, không cầu mong thứ gì cao xa hơn..

  • Thiên nhãn: Thuộc về Thiên thừa, gồm những người tu hành trong Phật Đạo, nhưng chỉ mong ước trở thành thiện nhân, chuyên làm phước bố thí để được quả báo lành. Cao hơn nữa, là những vị tu hành, rút tỉa ý nghĩa kinh điển vun bồi cho sức thiền định. Hạng này chỉ mong được chút thiền định phòng thân, ngoài ra không dám mơ ước khác.

Hai hạng này, Phật Đạo gọi là “Phước Sanh Thiên” và “Định Sanh Thiên”. Giống như người bệnh kinh niên, lâu ngày không ăn uống được, nay gặp chút cháo sữa, ăn vào thân thể dễ chịu. Sau đó ngày ngày, người đó quyết ăn cho được cháo sữa mới thôi và với họ chỉ có “cháo sữa và cháo sữa là bậc nhất.”

  • Pháp nhãn: Thuộc về người có Giác Ngộ chân chánh trong Phật Đạo. Hạng này đọc kinh điển, nhìn thấy tất cả ý nghĩa ở trong đó đều quy về Thanh Tịnh Tâm, hạng này, Phật Đạo gọi là đắc “Pháp Nhãn Thanh Tịnh”! Giống như người bệnh, trong lúc uống thuốc, nhờ đúng thuốc mà bệnh tình thuyên giảm, thân tâm an ổn, càng uống càng sảng khoái, càng uống càng mau hết bệnh.

  • Huệ nhãn: Thuộc về những người đã thành tựu Giác Ngộ và Giải Thoát, đang trên đường tu học Huyễn Trí. Hạng này khi đọc tụng kinh điển, tìm thấy các huyễn pháp do Phật và chư Bồ Tát tuyên thuyết trong đó. Họ tư duy, thấu suốt và học tập những huyễn pháp này, đến khi có cơ hội, sẽ như pháp mà giúp người, hạng này, Phật Đạo gọi là đắc Huệ Nhãn. Giống như một vị Dược Sư, khi cầm viên thuốc lên, vị này liền tìm hiểu thành phần và cách chế tạo món thuốc đó.

  • Phật nhãn: Thuộc về Vô Sư Trí. Khi đọc kinh điển Phật để lại, vị này thấu suốt nguyên ủy vì sao trong hoàn cảnh này Phật thuyết điều này, mà không thuyết điều kia. Vì sao, trong hoàn cảnh kia, Phật nói như vậy mà không nói như vậy.

Giống người trên đỉnh cao, có thể chỉ cho tất cả những người đang ở dưới chân núi từ mọi phương hướng, đều có thể lên đến đỉnh núi an toàn. Hoặc giống như lương y giỏi, có thể cứu chữa tất cả bệnh nhân, chỉ trừ người “mang nghiệp phải chết để đền tội” và “hạng không chịu uống thuốc”.

  • Tóm lại, tùy theo nhận thức của từng chủng tánh sai biệt nên trong một Phật Đạo lại có năm thừa. Mỗi thừa lại theo nhãn quan, trình độ của mình rút tỉa và ứng dụng giáo pháp trong phạm vi phù hợp với từng chủng tánh, giống như con voi chở nhiều, con thỏ chở ít. Chuyện này cũng không có gì là lạ.

Hỏi: Theo Pháp Uyển Châu Lâm, thời mạt pháp “Bạch y xưng làm bậc mô phạm, còn Tỳ-kheo vô thức theo đó mà học.” Điều này là đúng hay sai?

Đáp: Trong Bồ Tát Đạo, người có trí tuệ dạy người vô trí, không phân biệt hình tướng. Những thứ: chánh, tượng, mạt pháp gì cũng không ra khỏi quy luật này.

Dưới thời Phật tại thế cũng như vậy, phần lớn các Đại Bồ Tát là bạch y, nên có danh xưng Đại Sĩ. Vì rằng, học Phật Đạo là học chân lý, chứ không phải học hình tướng. Ở đâu có chân lý thì đến đó cầu học. Đời và đạo, xưa nay đều tôn trọng điều này. Cho đến tiền thân Bồ Tát Thích Ca còn phải cầu học hai câu kệ nơi con quỷ La Sát.

Vì thế, có lẽ nên nói lại rằng: “Những ai đã là Phật Tử, biết rõ nơi nào có chân lý, mà không tìm đến để cầu học, hạng này nhất định sinh ở đâu, thì ở đó là mạt pháp, bất kể hình tướng của kẻ đó như thế nào”. Vả chăng, những tác phẩm đời sau, chưa chắc đủ sức làm mẫu mực trong Phật Đạo, cũng chưa phải là nơi nhất định mọi người tu hành y cứ để xem đó như kim chỉ nam.

Chuyện trên giống như nhà kia, cha mẹ không đủ năng lực để dạy dỗ con cái. Thế nên buộc lòng con cái phải nhờ anh em, hàng xóm, hoặc người ngoài xã hội dạy dỗ chúng. Điều này phận làm cha mẹ nên cảm ơn mới phải, cớ gì lại buông lời trách cứ những người tốt kia.

Còn nếu nói rằng: “Nghe lời bạch y, không nghe lời Tỳ Kheo vì thế nên gọi là mạt pháp.” Điều này giống như làm cha mẹ mà dạy dỗ thế nào, để con cái phải chạy ra ngoài đường cầu học cái tốt cái hay, cái có chân lý của người ta. Sau đó, những người ngày lại đổ thừa chỉ vì con cái học ở ngoài đường, mà ngày nay xa cội nguồn.

Thử hỏi, có thứ cội nguồn nào lại có thể gìn giữ trong gia đình mà các bậc tôn túc đáng kính trọng lại yếu kém năng lực giáo huấn bề dưới như vậy?

Tác Phẩm Lý Tứ

Lý Do Phải Học Rộng Sâu Kiến Thức Phật Pháp Sau Khi Giác Ngộ

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Người Giác Ngộ, có học rộng, hiểu nhiều, mới biết được vị trí ta đang đứng là nơi nào, trong hành trình dài tiến về Vô Thượng. Nếu không biết điều này, sẽ không thể có những bước chuẩn bị tốt nhất để đi tiếp con đường phía trước.

Hỏi: Người tu hành đã được Đạo Sư khai thị cho Giác Ngộ. Người này sau khi Giác Ngộ, chỉ cần gìn giữ chỗ Giác Ngộ đó, có cần đọc tụng thêm kinh điển, sách vở, tìm cầu mở rộng kiến thức Phật Giáo nữa hay không?

Đáp: Rất cần làm điều đó. Cần hơn cả lúc chưa Giác Ngộ.

Hỏi: Vì sao đã Giác Ngộ rồi mà còn cần học rộng kiến thức Phật Pháp?

Đáp: Vì rằng,

- Thứ nhất: Người chưa Giác Ngộ, đọc tụng kinh điển giống như người khát nước, đi giữa đất trời mênh mông tự mình dò tìm nguồn nước…

Người đã Giác Ngộ, giống như kẻ khát nước, nay có người chỉ tường tận địa điểm nguồn nước. Tuy người này biết rõ nơi có nguồn nước, thậm chí nguồn nước ở ngay vị trí đang đứng, nhưng người đó vẫn chưa thể hoàn toàn sử dụng nguồn nước này như ý…

Lý do, nước trên đất thì rất ít, chỉ đủ để giải khát trong nhất thời, mạch nước chính còn nằm sâu dưới lòng đất. Muốn sử dụng thứ nước này, phải bỏ công sức tìm học cách đào bới, chính mình cùng với Đạo Sư cùng làm công việc này.

  • Kiến thức Phật Giáo, chính là phương pháp khai thác mạch nước.

  • Nỗ lực tư duy chính là bỏ công ra đào bới.

  • Sử dụng và giữ gìn chỗ đã Giác Ngộ, chính là sử dụng và bảo quản công cụ lao động.

  • Cùng Đạo Sư hợp tác làm việc, chính là vận dụng tối đa công cụ, kỹ thuật.

Thiếu một trong bốn điều này, tuy rằng đã biết nơi có mạch nước, nhưng vẫn có thể bị “chết khát”.

Lịch sử Thiền Môn trong quá khứ đã có không ít trường hợp như vậy xảy ra. Đã có người được kẻ trí chỉ cho nguồn nước, nhưng vẫn chết khát. Vì thế, kiến thức trong giai đoạn này rất cần thiết, nó vừa là “Pháp Hộ Trì”, vừa là “Pháp Tăng Ích”.

- Thứ hai: Người Giác Ngộ, có học rộng, hiểu nhiều, mới biết được vị trí ta đang đứng là nơi nào, trong hành trình dài tiến về Vô Thượng. Nếu không biết điều này, sẽ không thể có những bước chuẩn bị tốt nhất để đi tiếp con đường phía trước.

- Thứ ba: Kiến thức hạn hẹp, sẽ rất khó cho việc làm công hạnh sau này. Chưa nói đến những kỹ thuật cao cấp trong Phật Đạo, như:

  • Kỹ thuật khai thị;

  • Kỹ thuật đoạt tâm;

  • Kỹ thuật nhận dạng;

  • Kỹ thuật sử dụng ngôn âm;

  • Kỹ thuật truyền đạt;

  • Kỹ thuật đánh giá nhanh;

  • Kỹ thuật thanh minh;

  • Kỹ thuật biết lắng nghe tâm người;

  • Kỹ thuật tương tác chủ khách;

  • Kỹ thuật tạo đương cơ;

  • Kỹ năng biến hóa;

  • Kỹ năng nương Phật thần lực;

  • Kỹ năng hướng đạo;

  • Kỹ năng nắm bắt thời cơ…

Người thiếu kiến thức, không thể thực hiện được các thứ kỹ thuật, kỹ năng này. Nói chung, có rất nhiều điều cần đến kiến thức Phật Pháp, khó nói hết.

Hỏi: Thế nào là “Pháp Hộ Trì”, thế nào là “Pháp Tăng Ích”?

Đáp:

  • Pháp Hộ Trì: Giống như người đào giếng, miệng giếng càng rộng càng dễ đào, không sợ bị lấp trở lại sau khi đào sâu thêm.

  • Pháp Tăng Ích: Giống như mở rộng miệng giếng để dễ đào sâu, đào càng sâu nước càng tinh khiết.

Ngoài ra, người mới Giác Ngộ hoặc đã Giác Ngộ mà kiến thức quá ít, không thể dùng cảnh giới Giác Ngộ để đối phó với mọi tình huống bất như ý xảy ra trong đời...

Chính kiến thức sẽ giúp người này vận dụng, làm công cụ ứng phó trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Ứng phó trong những hoàn cảnh khác nhau gọi là Pháp Gia Trì. Kiến thức tốt giúp người này ứng phó mau lẹ chính xác, ứng phó mau lẹ chính xác gọi là Pháp Tăng Ích.

Hỏi: Người đã Giác Ngộ, khi đọc kinh điển, nghe Đạo Sư giảng thuyết, sẽ lấy gì làm Chánh Tư Duy?

Đáp: Lấy nguồn tâm đã giác làm Chánh Tư Duy.

Chính vì điều này, mỗi cảnh giới Giác Ngộ khi đọc kinh sẽ thấy một ý nghĩa tương ưng, và mỗi lời kinh có “vô lượng nghĩa”, trong đó có một số nghĩa tương ưng với những cảnh giới đã Giác Ngộ. Điều này, Phật Đạo gọi là “Pháp Tương Ưng”.

Giống như người đào giếng, tùy theo mỗi tầng địa chất, người này sẽ dùng công cụ thích hợp để đào... Đất nhão không thể dùng xà beng, đất cứng không thể dùng gàu múc…

Sau các lần Giác Ngộ, lấy cảnh giới Giác Ngộ mới nhất làm Chánh Tư Duy, giống như người đào giếng xuyên thủng các địa tầng  bằng  những công cụ hợp lý… Vì thế, lấy chỗ đã Giác Ngộ làm Chánh Tư Duy, chính là sử dụng công cụ lao động hiệu quả nhất.

Hỏi: Sau khi Giác Ngộ, người này đọc tụng kinh điển tùy thích, hay có sự chỉ định của Bậc Đạo Sư?

Đáp: Tùy vào mức độ Giác Ngộ, vị Đạo Sư sẽ có ý kiến thích hợp.

Hỏi: Tôi đã chứng kiến một số lần khai thị, nhận thấy trong những đương cơ đó, người nói lẫn người nghe khi đối thoại, văn tự không rõ ràng, thậm chí nhiều câu đối đáp người ngoài nghe không hiểu trọn vẹn. Xin hỏi, có thể giúp tôi một phần nào đó giải tỏa thắc mắc này hay không?

Đáp: Khai thị là kỹ thuật đặc biệt, có thể nói là cao cấp của Phật Đạo… Trong thời điểm này, chỉ có hai người trong đương cơ là hiểu nhau. Vì thế thường có những câu mào đầu như: Bỏ kiến thức xuống, đừng dài dòng, văn tự không cần trau chuốt, trực tâm, thấy gì nói đó, không quanh co như người đời…

Vì sao, cần dùng những câu mào đầu như vậy? Vì rằng: ngữ ngôn trong thời điểm này không khác nước lã, không nhiều ý vị, ngữ ngôn chỉ là “dẫn dược”. Có nghĩa, ngữ ngôn chỉ là thứ nước giúp đưa thuốc vào cơ thể bệnh nhân, cái chủ yếu vẫn là “thứ thuốc ẩn mật” mà vị Đạo Sư âm thầm để trong nguồn nước đó…

Vì thế, người ngoài với tâm cảnh không tương ưng, khi nghe những câu đối đáp giữa hai người, giống như người uống nước lã, không cảm nhận được ý vị nhiều lắm… Càng phân tích văn tự hay ngữ ngôn trong trường hợp này theo cách hành văn ở đời, nhất định càng rời xa ý nghĩa, giống người “ăn phải mầm đá”, không mang lại nhiều lợi ích…

Chỉ có người trong cuộc, hoặc các vị Giác Ngộ tương ưng, mới có thể cảm nhận hết ý vị của các câu đối đáp đó... Xin đưa ra một ví dụ để có thể hiểu một chút gì đó của ngữ ngôn trong kỹ thuật khai thị. Ví dụ chỉ mang tính chất tượng trưng, không nói lên tất cả.

Ví dụ như sau: Người mẹ hỏi đứa con: “Con có thấy mấy con gà nhà mình ở bụi cây phía trước hay không?” Đứa con đáp: “Con chỉ thấy mấy con bò…”.

Mẹ hỏi gà, con đáp bò, nhưng cả hai mẹ con đều hiểu ý là gì Vì thế, khi tâm cảnh chưa tương ưng, phân tích văn tự trong trường hợp này, giống như đi phân tích chuyện ngài Mục Kiền Liên dùng thần thông gì để bay qua các cõi Phật.

Hỏi: Trong hoàn cảnh nào, kỹ thuật khai thị mới được sử dụng?

Đáp:

  • Thứ nhất: Tâm thức người nghe chín muồi…

  • Thứ hai: Biết rõ tâm cảnh của người…

  • Thứ ba: Trong một đương cơ tốt nhất...

  • Thứ tư: Thành thục kỹ thuật khai thị…

Hỏi: Hiệu quả của kỹ thuật khai thị là gì?

Đáp: Hiệu quả của kĩ thuật này phải tùy mức độ. Thấp nhất, người nghe tạm dừng phàm tâm; cao hơn dứt kiết sử; trên nữa thấy bổn tâm; xa một chút kiến tánh; tột cao, mọc mầm trí tuệ…

Nói chung, tùy căn cơ, tùy công đức… Và cuối cùng, trên con đường tiến về Vô Thượng Bồ Đề, khai thị là môn học bắt buộc, Bồ Tát phải học cho thuần thục...

Hỏi: Có khi nào, người tu hành bắt chước kỹ thuật này hay không?

Đáp: Trên đời, món đồ gì có giá trị mà không bị làm giả… Hiệu quả từ người tiêu dùng, sẽ nói lên tất cả…

Hỏi: Trong đương cơ, người được khai thị có lợi ích... Nếu lúc đó có đại chúng tham dự, thì đại chúng được lợi hay không?

Đáp: Đại chúng cũng được lợi, cũng không được lợi.

Hỏi: Xin nói rõ, chúng nào không lợi, chúng nào có lợi?

Đáp:

  • Có những người tu hành, tâm cảnh chưa tương ưng sẽ hoàn toàn không có chút thú vị và lợi ích gì khi nghe những bài pháp như vậy… Biểu hiện của hạng này là vừa nghe, vừa ngáp, vừa ngủ, sau cùng… là… chê…

  • Hạng người đi phân tích các mẩu khai thị, rồi đem so sánh với văn chương ở đời… Hạng này chuyên làm chuyện ngược đời, như kẻ cầu “ăn muối để khỏi khát nước”... Biểu hiện của hạng này là thích chia chẻ văn tự, không rành tâm truyền...

  • Hạng tu hành, lặng lẽ quan sát từng cử chỉ, từng câu nói và hình dung ra được dụng ý trong lúc nghe khai thị… Hạng này, có cơ may, học được phần nhỏ… Hạng này biểu hiện đăm chiêu, nhất tâm trong thời điểm nghe pháp, có cảm giác mình là người trong cuộc…

  • Hạng người, nghe đến đâu mắt sáng đến đó, tâm ý sảng khoái theo từng mạch đối thoại… Hạng này, học được nửa phần. Biểu hiện của hạng này cứ nghe xong một câu là muốn vỗ đùi đánh đét một cái cho sảng khoái, nhưng vì trước đông người, nên phải giữ lễ... Nghe xong, mười lăm tới ba mươi ngày sau còn phấn khởi, sáng chiều bụng không thấy đói...

  • Hạng người nghe xong lạy dài… có thể học được sáu bảy phần... Biểu hiện của hạng này là dáng vẻ thâm trầm, nội tâm có chiều sâu, học tập không mỏi mệt…

Ông xét mình thuộc hạng nào?

Tác Phẩm Lý Tứ

Tản Mạn .. Chuyện "Sống Chết" Phần 1

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 17.02.2023

I- CÁI CHẾT ─ NỖI HÃI SỢ CỦA MỘT ĐỜI NGƯỜI!!!

Sống và chết là hai từ ngữ quen thuộc của con người... Và ai cũng biết rằng, một con người có mặt trên cõi đời này gọi là sống, đến khi sự sống chấm dứt gọi là chết!!! 

Có nghĩa rằng, chết là một kết cục hiển nhiên (cho đến lúc này) chưa thấy một ai thoát khỏi!!!

Tuy chết là một kết cục hiển nhiên, nhưng trong cái kết cục hiển nhiên đó, lại là nỗi hãi sợ đáng kinh khiếp nhất đối với hầu hết con người!!! Để tránh cái chết, để kéo dài đời sống... Nói khác đi, để thoát hẳn hoặc chí ít giúp chế ngự hoặc giảm thiểu sự sợ hãi từ cái chết... Ngàn xưa đến nay, không biết bao nhiêu người bỏ công đi tìm một phương cách nào đó khả dĩ để có thể “trường sinh bất tử”... Nhưng, hầu như chưa thấy một ai thành công trong việc chế ngự quy luật quái ác này!!!

Khoa học ra đời, cũng đã góp phần không nhỏ vào nền y học của thế giới, với mục tiêu đánh bại bệnh tật, kéo dài tuổi thọ, hạn chế đau đớn... Giúp con người vơi đi những thống khổ từ chuyện chết chóc!!! Cùng với khoa học, y học... Các tôn giáo cũng nhận ra và quan ngại đến việc sống chết từ nỗi sợ hãi của nó... Từ đó, bao nhiêu hứa hẹn về một thế giới tốt lành sau khi chết được đưa ra!!!??? Và, Phật giáo đối với chuyện sống chết cũng không ngoại lệ!!! 

Bây giờ, chúng ta thử tìm xem, Phật giáo quan niệm như thế nào về chuyện sống chết và cách giải quyết vấn nạn này ra sao!!!???

Đối với chuyện sống chết của một đời người, Phật đạo coi đây là quy luật “đã có sanh, nhất định phải có tử ”!!! Vì biết rõ đây là quy luật, nên Phật đạo không can thiệp vào quy luật!!! Mà Phật đạo chỉ giúp con người thoát khỏi những sợ hãi, không còn thống khổ... An vui, bình tĩnh, sẵn sàng đón nhận cái chết khi quy luật ấy diễn ra... Vì thế, Phật đạo được gọi là “đạo diệt khổ”!!!

Phật đạo chỉ ra rằng, sở dĩ con người hãi sợ và thống khổ đối trước cái chết, bởi những nguyên nhân chính sau đây:

● Sợ rằng sau khi chết, không biết đi về đâu: Hầu hết người tu hành trong Phật đạo đều tin thuyết luân hồi, vì thế họ lo sợ sau khi chết không biết đi về đâu, mang thân gì!!!

− Phật đạo chỉ ra rằng, thân này như một chiếc áo... Chiếc áo sẽ theo thời gian hư hoại và chiếc áo ấy khi đủ duyên sẽ được thay đổi!!! Và, một người giàu có, khi cái áo cũ, bị mất hoặc hư hỏng, họ sẽ thay thế bằng chiếc áo mới, tốt hơn, đẹp hơn... Ngược lại, đối với người nghèo khó, khi chiếc áo cũ hư hỏng hoặc mất đi, người ấy sẽ lo lắng vì khó có thể tìm được cái áo tương xứng với cái áo đã mất... thậm chí đôi khi phải... đóng... khố!!!

Để giải quyết “vấn nạn thay áo”... Phật đạo khuyên người làm lành, lánh dữ, ngăn ác, tích thiện... Đây là biện pháp tích luỹ phước đức!!! Một người giàu phước đức, sẽ không lo sợ đời sau... Giống như người giàu tiền của, nhất định sẽ không lo sợ chuyện mai này mất áo!!!

● Ái ‘thân’: Thương tiếc, quý mến sắc thân... Là một trong những nguyên nhân khiến con người đau khổ khi biết rằng ta sắp vĩnh viễn mất nó!!!

− Phàm ở đời, cái gì ta coi trọng, quý mến... Khi mất đi, nhất định ta sẽ tiếc nuối, đau khổ và sợ hãi!!! Những thứ ta không coi trọng, không quý mến... Khi mất đi, không làm ta đau khổ, luyến tiếc hay hãi sợ!!! Ví như một viên ngọc quý, khi mất sẽ làm ta khổ đau, luyến tiếc!!! Nhưng, nếu đó là một vật không giá trị như chiếc áo rách, cái bọc ny lon cũ... Nếu có mất, sẽ không mấy người quan tâm!!!

Để giải quyết câu chuyện ái thân đưa đến đau khổ khi chết... Phật đạo dạy người phải có “chánh kiến về thân”!!! Muốn có chánh kiến về thân, điều căn bản phải biết bản chất của thân chỉ do tứ đại hợp thành, tụ tán theo quy luật... 

Vì thế, chỉ nên coi thân như một công cụ giúp ta sống, hết duyên ta và nó chia tay... Hôm nay ta không bỏ nó, 80 năm sau nó cũng bỏ ta... Cho nên không nuông chiều, không nô lệ, không coi trọng thân thái quá!!! Chỉ nên ý thức rằng, thân giống như một chiếc xe giúp ta đi lại, hết xăng thì đổ, hết nhớt thì thay, hư đâu sửa đó... Không còn sử dụng được, đưa vô nghĩa địa cho nó yên nghĩ, chẳng nên luyến tiếc mà làm gì!!!  Thấu suốt được như thế, chuyện mất thân hay còn thân, sẽ không thành vấn đề!!!

● Ái ‘quyến thuộc’: Ái luyến quyến thuộc (hay cộng nghiệp) là nguyên nhân thứ ba làm nên sự hãi sợ đối trước cái chết!!!

− Con người sinh ra, gia đình, làng xóm, xã hội (cộng nghiệp) là cái nôi bảo bọc... Con người từ lúc sinh ra, lớn lên cho đến già chết luôn sống và được bảo bọc bởi cái nôi quyến thuộc... Từ đó, dẫn đến chuyện ái luyến cái nôi và lo sợ, đau khổ nếu một ngày nào đó, bản thân phải lìa xa vĩnh viễn cái nôi ấy trong đơn côi, lạnh lẽo!!!

Để giải quyết nỗi khổ thứ ba này... Phật đạo dạy người “cát ái li gia”!!! Để có thể “cát ái li gia”, phải nhận ra quyến thuộc như “bèo, mây”... Đủ duyên bèo mây tụ họp, hết duyên bèo mây li tán!!! Cát ái li gia là biện pháp tích cực giúp người tu hành đoạn dứt khổ đau khi xa lìa quyến thuộc!!!

Có hai biện pháp cát ái li gia: 

a) Một là, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, độc cư thiền định với ba y và một bát, khất thực nuôi thân... Như con chim với đôi cánh giữa bầu trời xanh, không bầy đàn, yểm li triệt để bầy đàn!!!

b) Hai là, nếu không (hoặc chưa) cát ái ly gia về hình tướng dưới hình thức xuất gia... Phải “cát ái li gia từ tận cùng sâu thẳm của tâm thức”!!! Muốn làm được điều này, phải thấu suốt nguồn tâm, thành tựu hai vô ngã!!! Thấu suốt nguồn tâm, thành tựu hai vô ngã... Cho dù đang sống giữa cộng nghiệp, nhưng duyên tụ tán của cộng nghiệp không làm bức não!!!

● Ái ‘tài sản’: Một trong những nỗi sợ hãi khi người ta chết, đó là phải từ biệt khối tài sản cùng lợi quyền mà bản thân đã tích cóp, tranh dành một đời mới có được!!! 

− Tài sản (lợi quyền) dù lớn hay nhỏ, dù nhiều hay ít đều từ công sức tích cóp, thậm chí tranh dành mới có được... Vì thế, con người ta rất sợ vĩnh viễn chia lìa tài sản cùng lợi quyền ấy!!!

Để có thể không còn nỗi khổ khi phải chia tay vĩnh viễn tài sản hoặc lợi quyền trước cái chết... Người tu hành phải thấy cho được, tài sản hay lợi quyền chỉ là vật ngoài thân!!! 

Tài sản (lợi quyền) cũng chỉ là “y báo” chứ không phải “chánh báo”!!! Y báo là những thứ tòng theo phước duyên của chánh báo mà có!!! Nếu chánh báo của ta tốt, y báo mới thật là của ta... Nếu chánh báo không tốt, cho dù quyết giữ cũng không được!!! Nhận thức được như vậy, việc tài sản (lợi quyền) mất hay còn cũng không làm cho ta vui mừng hay hãi sợ!!! 

Để tránh luyến tiếc do công sức một đời, nên xây dựng đời sống “ít muốn biết đủ”!!! Trong đời sống ít muốn biết đủ, sẽ giúp ta “bằng lòng với hiện tại”!!! Bằng lòng với hiện tại, nhất định tránh được hai cực đoan đó là “tham vọng và thất vọng”... Một người mà trong lòng không tích chứa hai cực đoan tham vọng hay thất vọng... Nhất định chuyện tài sản, lợi quyền mất hay còn sẽ không làm người ấy khổ não!!! Từ đó chuyện “chia tay tài sản cùng lợi quyền khi chết” sẽ “không thành vấn đề” khiến người ấy trăn trở!!!

Tóm lại, tham sống sợ chết là bản năng của con người... Bản năng này chẳng có gì sai!!! Thế nhưng, nếu ta bị bản năng ấy chi phối hoàn toàn, nhất định khổ đau trước cái chết là điều khó có thể tránh khỏi!!!

Con người có vô số nỗi sợ hãi trước cái chết... Nhưng, có bốn nguyên nhân chủ yếu được chúng ta phân tích ở trên!!! 

Nếu chúng ta ý thức được từng nguyên nhân, tìm cách khắc phục... Nhất định, nỗi sợ hãi, khổ đau từ cái chết có thể giảm thiểu đến mức thấp nhất!!!

Phật đạo không giúp người ta thoát ra khỏi cái chết!!! Vì rằng, chết là một quy luật của thân này!!! 

Vấn đề được đặt ra ở đây là: Ta đón nhận quy luật ấy như thế nào!!! Đón nhận như thế nào, tất cả đều bắt nguồn từ nhận thức!!! Có những vị anh hùng, những người phụng sự cho lí tưởng... thậm chí những người thất vọng đến cùng cực đều sẵn sàng chết, đồng “coi cái chết nhẹ tựa lông hồng”!!! Nói chung, tất cả cùng xuất phát từ nhận thức!!! Nhận thức!!! Và nhận thức!!!

Chính từ việc sống chết là quy luật hiển nhiên của thân này, giống như “chuyện chiếc áo rách phải thay”... Từ đó, Phật đạo chỉ ra “có hai thứ áo được thay” từ nguồn cơn sống chết của một hữu tình, đó là: “Phần đoạn sinh tử” và “Bất tư nghì biến dịch sanh tử” tức “sanh tử theo nghiệp” và “sanh tử theo nguyện”!!! 

− Sanh tử theo nghiệp là, sống chết trong u tối, luôn bị bủa vây bởi sợ hãi, thống khổ và đau buồn khi biết rằng, rồi đây sẽ vĩnh viễn mất mát mọi thứ, cũng như không biết chiếc áo ngày sau của ta như thế nào đây!!!???

− Sanh tử theo nguyện là, chuyện sống chết đối với những người có đại tâm, đại nguyện, đại trí... Sống hay chết cũng chỉ vì lợi ích của chúng sanh... Còn duyên thì ở, hết duyên thì đi... Chẳng có gì phải bận tâm!!!

Chúng ta là những người biết đến giáo pháp thì, nên đón nhận cái chết bởi sự hãi sợ, khổ đau của “Phần đoạn sanh tử” hay đón nhận cái chết trong yên vui bởi “Bất tư nghì biến dịch sanh tử” (khi nhận được quyết định thuyên chuyển từ sếp nguyện lực) đây!!!??? 

Ha ha ha ha!!! Tất cả đều tuỳ thuộc vào chúng ta...!!!

                                                                 (10-03-2020) 

Tác Phẩm Lý Tứ

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 17.02.2023

Cây bồ đề ngày xưa tưởng như đã chết, sáng nay đã mọc 483 lá !!! Mình kể lại câu chuyện vui về cây bồ đề cho mọi người nghe chơi !!! Và tạm đặt tên cho nó là CÂY BỒ ĐỀ CỦA LÝ GIA như một kỉ niệm trải dài theo thời gian của Lý Gia !!!

Cách đây 12 năm (2008), hành lang phía trước văn phòng làm việc của mình có một khe nứt...Ở đó mọc lên một cây bồ đề, cao chừng 3 tấc, thân nhỏ hơn chiếc đũa ăn cơm !!!

Một chiều, mình quyết định nhổ bỏ cây bồ đề...Vì rằng, chỉ cần sau thời gian ngắn, cây bồ đề sẽ che khuất văn phòng và làm hành lang đổ sập...Thế là mình bắt tay vào việc nhổ bỏ !!! Nhưng ngặt nỗi, cây bồ đề mọc sâu trong khe nứt, phải dùng hết sức bình sinh mới bứt cái cây ra khỏi hàng gạch !!!

Khi cái cây bị nhổ lên, rễ của nó ở lại trong khe, gốc chỉ còn trơ xương vì vỏ bị bong tróc !!! Nhìn cây bồ đề bèo nhèo với cái gốc nhỏ bé trơ xương, một thứ tình cảm rất lạ đột nhiên hiện lên trong tâm mình !!! Vừa thương cho cái cây nhỏ bé, vừa một chút ân hận trong lòng vì đã làm cho nó đứt rễ tróc da !!!

Thế là mình quyết định không vứt bỏ cái cây vào thùng rác, mà đem trồng lại với hy vọng vớt vát rằng nó sẽ sống, như một hành động hối lỗi với cái cây vô tri !!! Và, mình cắm nó vào một chậu đất bỏ trống trước cửa văn phòng cùng hy vọng mỏng manh rằng cây bồ đề sẽ hồi sinh... Mỗi ngày mình tưới cho nó một vài lon nước !!!

Ban đầu, cây bồ đề rụng hết lá, nó như sắp chết !!! Nhưng mình vẫn kiên trì tưới nước !!! Điều kì diệu đã đến !!! Cây bồ đề đâm chồi !!! Các bạn có biết mình hoan hỷ như thế nào khi thấy chồi non của cây bồ đề ngày một xanh mượt !!!??? Có vài đồng nghiệp đã cười khi thấy mình nâng niu một cái cây vừa không có giá trị nghệ thuật vừa không có giá trị kinh tế như một anh “dở hơi” !!!

Một buổi chiều ngày 30 tháng chạp năm ấy, đúng ba tháng sau khi cây bồ đề được đưa vào chậu !!! Mình bị “bọn ác cưỡng bức” phải làm thầy của chúng nó !!! Ha ha ha ha !!! Ba tay đồ đệ cưỡng bức một ông thầy trên căn gác nhỏ !!! Thế là cái duyên thầy trò “trên trời rớt xuống” hình thành từ buổi chiều 30 tháng chạp năm ấy, tiền thân của Lý Gia hôm nay !!!

Anh thứ nhất lạy mình trước, gọi là Đại Sư Huynh, có số hiệu là 001 !!! Anh thứ hai lạy sau, gọi là Nhị Sư Huynh, có số hiệu 002 !!! Anh lạy cuối cùng, gọi là Tam Sư Huynh, có số hiệu 003 !!! Con số tửng tửng của Lý Gia bắt đầu từ đó !!!

Đêm mùng bốn Tết năm ấy được phân công trực cơ quan, một vị HĐ (cũng là học trò) đến chơi với mình buổi tối...Chừng 20 giờ, đang ngồi trong văn phòng, vị HĐ ở trước sân nói lớn: “Thầy ơi !!! Cây bồ đề của Thầy mọc thêm 3 cây con trên cái rễ” !!! Mình hỏi lại cho kĩ, và dùng đèn pin rọi vào cây bồ đề !!! Quả thật, có 3 cây con nhỏ xíu mọc từ rễ cây bồ đề mẹ cũng nhỏ xíu !!! Bạn ấy tiếp: “Sự việc rất lạ Thầy ơi !!! Rễ bồ đề già mọc cây con đã hiếm, nay rễ non lại mọc cây con, Thầy thấy có lạ không” !!!???

Sáng hôm sau (mùng 5 Tết), mình gọi 3 vị HĐ lên và bàn chuyện đem cây bồ đề về nhà chăm sóc !!! Nhưng ngặt nỗi, tuy cây bồ đề của mình trồng, nhưng nó đang ở trong cơ quan, vì thế nó thuộc tài sản của cơ quan...Cho dù cây bồ đề nhỏ bé (bằng cái ống hút), không hề có giá trị nghệ thuật hay kinh tế, nhưng mình cũng không thể tuỳ tiện đem về nhà khi chưa có ý kiến của lãnh đạo !!!

Thế là, mình và ba vị HĐ thống nhất sẽ đổi cây bồ đề bằng một cây bon sai (có giá trị 100 ngàn đồng thời bấy giờ) !!! Mình bèn gọi cho lãnh đạo:

- Thầy ơi !!! Tôi muốn đổi cây bồ đề bằng cây bon sai trị giá 100 ngàn được không thầy !!!

- Cái cây khỉ gió đó, tôi muốn nhổ bỏ thay một cây kiểng khác nhưng chưa có dịp !!! Ông đổi được thì tốt thôi !!!

Vậy là, cây bồ đề được đưa về nhà Đại Sư Huynh chăm sóc với mệnh lệnh vừa đùa vừa thật !!! “Tôi giao cái cây này cho các bạn !!! Nếu để nó chết, các bạn đừng mong đến gặp tôi” !!!

Một điều cũng không kém thú vị, sau khi đưa cây mẹ và ba cây con về nhà, ba vị HĐ xí phần mỗi người một cây con !!! Và, ba cái cây con ngày tháng thịnh suy, thay đổi theo việc tu tập của ba vị HĐ kia !!!

Mình có thói quen, sau khi hoàn tất một công việc, chỉ thích một mình lái xe đi lang thang trên quãng đường thật xa để nhìn ngắm thiên hạ, sau đó tấp vào một quán cà phê bất kì...Coi như “tự thưởng” cho bản thân !!!

Sáng nay cũng thế, sau khi gởi emails cho mọi người Trò Chơi Trí Tuệ - 02/2020 !!! Mình lại lái xe đi dạo một vòng !!! 9 giờ 30 đến trại nấm !!! Gọi Liêm, Liêm bận !!! Gọi Lầu, Lầu rủ đi uống cà phê !!! Thế là mình, Lầu và Chị Hồng đánh một lèo đi Thốt Nốt !!! Đến nơi, mới biết Đại Sư Huynh đang ở nhà Trung Ngân chuẩn bị thay đất cho cây bồ đề, nhưng thiếu nhân lực (sau 12 năm, cây bồ đề đã lớn) !!! Mình lại tiếp tục chạy đến nhà Ngân !!!

Lâu lắm rồi, không có dịp nhìn lại cây bồ đề...Sáng nay ở nhà Ngân quan sát kĩ, cây bồ đề ngày xưa bây giờ cũng có cái gì “rất dị”, “rất quái”, tuy “chẳng giống ai”, nhưng cũng có “cái hay riêng” của nó !!! Ngân lên tiếng: “Nhân duyên kể cũng lạ, tụi con tính thay đất cho cây bồ đề thì thầy lại đến !!! Thời gian qua, con có giúp một người bạn trẻ, bạn ấy rất mong mỏi được gặp thầy, nhưng chưa đủ duyên...Hôm nay, thầy cho bạn ấy diện kiến được không” ???

Mình gặp Hồng tại nhà Ngân, trong lúc mọi người đào cây bồ đề lên để thay đất !!! Sau một hồi trao đổi về nguyên nhân phát sinh phiền não !!! Hồng hiểu ra điều gì đó và xin được làm môn đệ Lý Gia !!!

Các bạn ơi !!!

Cây bồ đề ngày xưa tưởng như đã chết, sáng nay đã mọc 483 lá !!! Mình kể lại câu chuyện vui về cây bồ đề cho mọi người nghe chơi !!! Và tạm đặt tên cho nó là CÂY BỒ ĐỀ CỦA LÝ GIA như một kỉ niệm trải dài theo thời gian của Lý Gia !!!

Xin chuyển đến các bạn, hình ảnh cây bồ đề của Lý Gia sau 12 năm...kể...từ...ngày...ấy !!!

02/03/2020

LÝ TỨ

 

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Cây Bồ Đề Của Lý Gia

Gửi tin nhắn đến người dùng

Thông báo bài viết mới

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 05.10.2026

Xin chào Quý Đọc Giả,

Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.

https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/su-khac-biet-giua-giac-luc-hue-luc-bat-nha-luc

Trân trọng,

Tags:

Tác Phẩm Lý Tứ

Chữ "Hành" Trong Hành Uẩn Và Trong 12 Nhân Duyên? Thiền Của Phật Giáo Là Như Thế Nào?

MN 102 Lý Thanh Liêm 17.02.2023

− Hỏi

(1) Thầy cho con hỏi một câu, chữ hành trong hành uẩn và chữ Hành trong 12 nhân duyên giống nhau hay khác nhau như thế nào? 

(22/08/2020 11:05:25; Nguyễn Trung Hiếu)

- 50.1 Đáp

Chữ “hành” trong hành uẩn và chữ “hành” trong 12 nhân duyên giống nhau hay khác nhau như thế nào?

Chữ “hành” trong hành uẩn và 12 nhân duyên có cùng một gốc, đó là: Sự luân chuyển hay động lay tâm thức!!!

Tuy nhiên về tính chất thì, hai chữ hành này có khác biệt đôi chút do tạo tác của tâm thức trong từng giai đoạn!!!

Chữ hành trong hành uẩn: Nhằm chỉ cho việc tâm thức mất cân đối trong đời sống, do (tâm thức) bị nhiễm ô hai pháp đối đãi (thế gian) như: Thiện ác, thương ghét, tốt xấu, đúng sai, hơn thua, được mất, tu không tu, v.v... Từ đó hành (thanh tịnh hành, vô lậu hành) trở thành hành uẩn hay hành ấm!!!
Tuỳ vào mức độ chấp nhất hay mê muội các pháp đối đãi (nhị nguyên) nói trên, khiến tâm thức động lay, hành uẩn trở thành dòng chảy phát sinh các món phiền não hay lậu hoặc!!! Ví như hai đầu kênh dẫn nước khi có độ chênh lệch (A khác C), lập tức sự chảy sẽ diễn ra, do vậy ở đó có sự luân chuyển và cuốn trôi!!!

Chữ hành trong 12 nhân duyên: Là động lực giúp thức ấm sau khi từ bỏ thân nghiệp cũ đi tìm thân nghiệp mới... Theo nguyên lí lực đẩy và lực kéo, bên nào mạnh hơn sẽ thắng!!!
Động lực chính của hành trong 12 nhân duyên là tình và tưởng (theo kinh Thủ Lăng Nghiêm)!!! Ta có thể tạm hiểu hai pháp tình tưởng là một dạng năng lực thiện và ác, hay trược (ô trược, dơ bẩn, đen tối, nhiều ham muốn, tàn ác) và thanh (cao thượng, hướng thiện, thanh lương, ít dục)!!! Từ đó, nếu: Thức ấm có tỉ lệ tình nhiều sẽ đi vào ba đường ác!!! Thức ấm có tỉ lệ tưởng nhiều sẽ đi vào thiên cảnh!!! Tình tưởng bất định sẽ tuỳ vào duyên nghiệp!!!

Muốn hiểu rõ sự luân chuyển của thức ấm và chuyển động của hành ấm, xin xem bài viết “Hữu Vô Sơ Yếu Luận” trong sách Anh Lạc Luận Tập 1 (NXB Dân Trí; Lý Tứ) - Bài viết này cũng được đăng trên Fanpage Lý Tứ!!!

Chúc bạn... an vui, tinh tấn!!!

− Hỏi:

(2) Mình tìm hiểu về phép tu thiền, thì thấy có rất nhiều loại thiền và phương pháp tu tập khác nhau. Vậy thiền nào mới là thiền của Phật Giáo và những loại thiền nào, không nằm trong Phật giáo. Vậy cách tu tập của thiền Phật giáo là như thế nào ạ? Xin BQT chỉ dẫn mình để mình hiểu thêm và để tu tập ạ!

                                         (23/08/2020 11:42:15; Nguyễn Thị Thắm)

- 50.2. Đáp:

Chữ thiền trong Phật giáo, phần lớn mang ý nghĩa “thiền tư”!!! ... Tức người tu hành ở trong tĩnh lặng tư duy một vấn đề của giáo pháp!!! ... Khi vấn đề đã được tư duy thấu đáo (như pháp), tâm thức sẽ tự dừng (gọi là định)!!! ... Từ đó, các thiền chi như hỷ lạc, khinh an, v.v... tự xuất sinh!!!

Trong kinh, Phật dạy có bốn thứ thiền bao gồm của ngoại đạo và của Phật đạo!!! Bốn thứ thiền ấy là:

Ngu phu sở hành thiền: Đây là loại thiền của ngoại đạo!!! Loại thiền này người ta dùng một sở pháp cột chặt, hoặc dùng sức kiên định bức tử tâm ý để tâm ý không động lay!!! Có thể người ta dùng tưởng để hướng tâm ý thức đến một vị trí trên thân hay ngoài thân mong đạt được hoặc tìm thấy cảnh giới nào đó từ tưởng sinh!!!
Phan duyên như thiền: Đây là loại thiền của người tu học nhưng không được đạo sư khai thị ý nghĩa của từng pháp trong Phật pháp... Người đó dùng những “hiểu biết không như pháp” của mình, hướng tâm thức theo ý nghĩa mà người ấy cho là đúng đắn!!! Đây cũng là loại thiền tư, nhưng “phi lí tác ý”!!! Vì thế, kết quả của nó là, sau khi thiền tư thành tựu, tà kiến sẽ phát sinh!!!
Quán sát nghĩa thiền: Đây là loại thiền của những người đã được đạo sư khai thị ý nghĩa đích thực của mỗi pháp!!! Người này dùng “huệ lực” để tư duy đến tận nguồn cơn của pháp ấy!!!
Do sự hiểu biết từ giác lực, do sự thấu đáo từ huệ lực!!! Vị tu hành này trong quá trình thiền tư, từng giác phần của thất giác chi sẽ tiếp nối thành tựu!!! Kết quả của thiền này, khi thành tựu, người tu hành sẽ đặt một chân vào diệt đế!!! Sau đó, sẽ được đạo sư khai thị một lần nữa, vào hẳn diệt đế!!! Cũng có trường hợp, vị ấy “kiến thiệt tế” rồi tiếp tục phát nguyện học trí tuệ ở đạo đế!!!

Như Lai thiền: Đây là loại thiền tự được của bậc giác ngộ!!!
Nhờ trí tuệ siêu việt!!! Vị này tự tại xuất nhập các thiền thú!!! Vị ấy tuỳ duyên chúng sanh, tự tại xuất nhập Tứ thiền, Bát định, Cửu thứ đệ định, Siêu việt tam muội, Sư tử phấn tấn tam muội, Bát bội xả, cùng các Tam muội môn hay Giải thoát môn của chư Phật, v.v... để giảng nói, giúp chúng sanh thành tựu như pháp các cảnh giới ấy!!!

Qua những gì phân tích ở trên!!! Chỉ có hai loại thiền là Quán sát nghĩa thiền và Như lai thiền là hai loại thiền chính thống của Phật đạo!!!

Muốn tu tập hai thứ thiền này, người tu hành cần được trang bị những kiến thức cơ bản, phù hợp và chuẩn về giáo pháp cho mỗi đối tượng!!! Vì rằng, mỗi một người tu hành là một căn cơ sai khác, không ai giống ai!!! Các thứ đã được trang bị, làm thành ngọn đuốc giáo pháp... Và, ngọn đuốc Phật pháp phải được làm nên bởi giáo pháp đúng đắn!!!

Thiền tư (hay thiền) của Phật đạo chính là phép tắc dùng ánh sáng từ ngọn đuốc giáo pháp soi rọi vào tâm thức, và kết quả cuối cùng của nó chính là việc đạt được ba mục tiêu của giáo pháp đề ra, đó là: Giác Ngộ - Giải Thoát - Trí tuệ!!! Vì thế, không có ngọn đuốc giáo pháp thật sự, nhất định không thể thành tựu bất kì một quả vị nào của Phật đạo!!!

“Ở đâu có mặt trời, ở đó có ánh sáng!!! Nhưng, không phải ở đâu có ánh sáng ở đó cũng có mặt trời”!!! (Trích Phật Giáo Và Thiền (NXB Dân Trí; Lý Tứ)

Chúc các bạn... an vui, tinh tấn, thành công trong cuộc sống!!!

(24/08/2020)

Tác Phẩm Lý Tứ

Sự Khác Biệt Giữa .."Giác Lực" - "Huệ Lực" - "Bát Nhã Lực"

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 17.02.2023

Các bạn!!!

Hối tối, mình có cuộc trao đổi Phật pháp với Phương Anh và Nhi!!! Cuộc trao đổi bắt đầu từ 20 giờ qua nhiều đề tài khác nhau, đến hơn 23 giờ mới tạm kết thúc (sau khi hạ màn, Phương Anh còn gọi thêm để cù cưa câu chuyện)!!!   

Có thể nói, buổi nói chuyện thật thú vị!!! Mình có cảm giác, buổi nói chuyện giống như các kì thủ trẻ đang nghe phân tích thế trận trung cuộc của một ván cờ!!! Phật pháp như một ván cờ, các quân cờ và phép tắc hành binh của nó chính là sự chuyển biến vô tận của tâm thức!!! Độ quái của mỗi kì thủ trong phép dụng binh ở trung cuộc sẽ đưa đến kết quả ưu hay liệt ở tàn cuộc!!!

Câu chuyện bắt đầu từ những bài viết của HĐ trong Trò Chơi Trí Tuệ vừa rồi!!! Tiếp theo là câu hỏi của Phương Anh về sự khác biệt giữa cách ứng dụng học pháp “Nhơn Minh Luận” (Gồm Tông, Nhơn, Dụ) và học thuyết “Tam Thân” (Gồm Danh Thân, Cú Thân và Hình Thân) trong Bồ Tát đạo!!! Kế đến là thắc mắc của Nhi về sự khác nhau giữa Giác Lực, Huệ Lực và Bát Nhã Lực và cái gì mới thật sự là “gốc của Phật đạo”!!! Cuối cùng, câu chuyện “Ngài Ca Diếp mỉm cười và bộ xương trên hư không” lại được mọi người đưa ra thảo luận!!!

Tuy buổi nói chuyện đã chấm dứt, nhưng “cảm giác hưng phấn” từ cuộc trao đổi vẫn còn đọng lại cho đến giờ này khiến mình không ngủ được, và quyết định phải thức để viết điều gì đó về buổi nói chuyện gởi đến các bạn!!! Phật pháp được triển khai từ một đương cơ nó có sức hấp dẫn đến lạ thường!!! Các nạn vấn hầu như được giải quyết một cách nhanh gọn, giống nhát dao bén cắt đứt một vật tầm thường!!!

Trong buổi nói chuyện, mình nhận ra Phương Anh và Nhi đã có những tiến bộ nhất định, các đề tài tối nay thuộc loại khó nuốt!!! Nhưng hai bạn ấy đã có thể lãnh hội trọn vẹn điều mình trình bày!!! Cái thích thú là ở chỗ ấy!!! Nó giống như những người nghệ sĩ cùng nhau xướng hoạ xuất thần!!! Nó giống như những miếng đánh chính xác từ trung cuộc của một ván cờ khiến đối phương phải chịu knock out khi ván cờ chưa đến hồi tàn cuộc!!!

Lúc lên giường định đi ngủ, mình suy nghĩ về buổi nói chuyện vừa rồi!!! Đúng là HĐ chúng ta thật là hy hữu!!! Những đề tài trong buổi nói chuyện tối nay, không phải bất kì ai cũng có thể lãnh hội hay chạm đến được, thậm chí có bao nhiêu người chưa từng nghe đến!!! Thế mà, HĐ chúng ta đem ra phân tích, mổ xẻ đến nơi đến chốn, không ngại bất kì điều gì!!! Đây chẳng phải là một trong những điều hi hữu trong đời hay sao??? 

Viết đến đây, mình cảm giác rất khó có thể ghi lại chi tiết buổi nói chuyện từ “một đương cơ”!!! Vì rằng, giảng giải một pháp từ đương cơ hoàn toàn không giống giản trạch hay luận giải một pháp từ tình huống phổ độ!!! 

Đây chính là nét khác biệt cơ bản giữa Nhơn Minh Luận và Tam Thân trong Phật đạo!!! Một bên (Nhơn Minh Luận) dùng để luận giải nghĩa kinh mang tính giáo thọ của phổ độ... Một bên (Tam Thân) là hình ảnh một Thuyết Pháp Sư đang cắt đứt trăm mối từ một đương cơ!!! Một nhát dao cắt đứt tri kiến hiện tại để nâng người lên một cảnh giới cao hơn, luôn ẩn chứa trong nó những quyết định nghĩa chỉ có thể cảm nhận từ sự “tương thông tâm ý” giữa chủ thể thuyết và đối tượng được nghe, trong tình huống này ghi lại bằng thứ ngôn ngữ gì đây!!!???

Thôi thì, mình tạm ghi lại một trong những nội dung từ buổi nói chuyện, đó là: Sự khác biệt giữa Giác lực, Huệ lực và Bát Nhã lực để “hầu chuyện” mọi người vậy!!!

● Giác lực là gì???  Giác lực chính là sức mạnh từ hiểu biết của một người sơ ngộ!!! Hạn chế của Giác lực là: Biết con đường sai, nhưng không thể biết con đường đúng!!! 

Vị thành tựu Giác lực khi nghe một ai đó tuyên thuyết về con đường đưa đến xuất thế, người này nhận ra những điều người ấy thuyết sai, nhưng cảnh giới xuất thế cụ thể như thế nào, vị có Giác lực không thể tự mình giải thích được!!! Ta có thể tạm hình dung một người lựa đậu, trong rổ có bốn thứ đậu là đậu đỏ, đậu xanh, đậu trắng và đậu đen... Người này tìm đậu đỏ, nhưng không biết đậu đỏ hình dáng như thế nào, vị ấy chỉ biết đậu đen, đậu xanh và đậu trắng... Người này bỏ ra ngoài các thứ đậu mình đã biết, phần đậu còn lại trong rổ chính là thứ đậu đỏ cần tìm!!! Muốn có Giác lực, người này phải thành tựu Tư Lương Vị!!!

● Huệ lực là gì??? Huệ lực chính là sức mạnh từ hiểu biết của một người thành tựu Ngũ Căn và Ngũ Lực!!! 

Ưu thế của người có Huệ lực là, biết được con đường nào đưa đến hữu lậu, con đường nào đưa đến vô lậu!!! Nhờ ưu thế này, người thành tựu Huệ lực tự mình có thể ứng dụng Trạch Pháp Giác Chi để chứng Diệt đế!!! 

Vị có Huệ lực khi nghe một ai đó tuyên thuyết về con đường đưa đến vô lậu, vị ấy biết rất rõ người kia thuyết sai hay đúng!!! Cảnh giới này giống người xa xứ nhiều năm, trên đường về nhà, tuy chưa đến nơi, nhưng biết rõ con đường nào giúp người ấy đến nhà, con đường nào không!!!

● Bát Nhã lực là gì??? Bát Nhã lực là sức mạnh từ sự trực nhận của một người đã thành tựu Nhất Thiết Trí!!! 

Ưu thế của Bát Nhã lực là, vị này khi đọc một bài kinh, nghe một bài thuyết, biết chắc đâu là lời Phật, lời nào không phải của Phật!!! Đây là hình ảnh con Nga Vương dùng kĩ năng tự nhiên để hút sữa từ hổn hợp sữa đã trộn lẫn nước, được mô tả trong kinh Đại Niết Bàn!!!

Câu chuyện “Đại Đức Ca Diếp mỉm cười và bộ xương khô trên hư không” đến nay vẫn còn là một ẩn số đối với HĐ chúng ta!!! Cho dù trong chục năm qua, câu chuyện trên vẫn thường được HĐ trình bày với mình khi có cơ duyên, mong rằng trình bày đó được Lão Lý chấp nhận... Ha ha ha ha!!! Nhưng, mọi đáp án từ các HĐ chưa giúp mình “nghe lọt lỗ tai”!!! Thôi thì, để đó nghiền ngẫm tiếp!!! Đời còn dài mà!!!

Các bạn!!!

Trong đời, mình không nhớ đã có bao nhiêu đương cơ nói chuyện với các bạn!!! Mỗi một đương cơ đều có thú vị riêng của nó!!!

Tối nay, lại một đương cơ xuất hiện!!! Muốn ghi lại đầy đủ những gì xảy ra trong đương cơ để gởi đến mọi người...  Nhưng, “ngôn ngữ thường tình đành bất lực”!!! Nếu có cố viết, chẳng khác gì “bò đói gặm bọc ny lon”, chẳng chút ý vị!!! 

Hy vọng, trong những lần sinh hoạt chung hoặc gặp gỡ riêng, chúng ta có đủ duyên lành để tạo nên những đương cơ thù thắng!!!                    

 (01 giờ 50 phút 28-02-2020)

Subscribe to