Trí Tuệ
Hãy thoát ra khỏi chính mình. Hãy đừng làm "con gà mắc tóc". Hãy từ bỏ thói quen loay hoay với mớ kiến thức. Và hãy giải quyết trận đấu trên tinh thần

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ
Các bạn!!!
Hôm qua, nhân nói chuyện về "thập như thị", và đọc một số emails trả lời gần đây của HĐ. Mình có cảm nhận sau:
Khi trả lời một đề tài nào đó, HĐ chúng ta chỉ quanh quẩn trong những kiến thức đã học, mà chưa biết dùng kiến thức đó ứng dụng vào việc "quan sát một pháp để tìm ra chỉ thú". Chính vì thế, các câu trả lời của HĐ hầu như không giải quyết rốt ráo vấn đề. Nó cứ "vướng vướng và thiếu thiếu" tức vừa thừa vừa thiếu cái gì đó!!!
Đây là hiện tượng "gà mắc tóc" chỉ tốt và đúng trong thời kỳ đầu tu tập, không phải là ứng dụng tối ưu cho người đã giác ngộ tìm cách khai mở trí tuệ.
Giống như người mới học chơi cờ, khi có câu hỏi liên quan đến cờ, người này bèn dùng kiến thức đã học về cách chơi cờ mà trả lời câu hỏi rằng: Con xe đi thẳng, con mã đi chéo, con tượng đi ô vuông và thế nào là cách chơi cờ. Trả lời này, giống như người mới tu hành khi được hỏi về Phật pháp, họ liền trình bày các kiến thức cơ bản của Phật giáo, như là: Thập như thị có mấy thứ, thập nhị nhân duyên có mấy điều, tứ đế gồm những gì, ý nghĩa những thứ nói trên ra sao. Đây chỉ là cách trả lời của thế gian về Phật pháp, chứ không phải là cách trả lời của "bậc giác ngộ", của một "kỳ thủ bất bại"!!!
Sau khi người này đã thuần thục môn cờ, như: Các loại hình chiến thuật, cách phối hợp binh chủng, vận hành khai cuộc, trung cuộc, tàn cuộc, nguyên lý chiến thắng và phương thức kết thúc trận đấu. Khi nghe đến những câu hỏi liên quan đến thuật chơi cờ, vị đó liền ứng dụng các kiến thức đã học để giải quyết vấn đề như: Xem xét tương quan hai bên, tìm điểm yếu mạnh, tăng cường lực lượng đánh phá, khoét sâu chỗ yếu, ngăn chặn viện binh, dụ địch vào bẩy...Và dành chiến thắng...!!! Chứ không phải ngồi đó liệt kê cách đi của mỗi binh chủng như mã nhật, tịnh điền, xe liên, pháo cách, hay diễn giải ưu khuyết của thế trận bình phong mã, ngũ thất pháo!!!
Các bạn!!!
Đây là giai đoạn chúng ta dùng tuệ giác quan sát một pháp để thành tựu trí tuệ. Không phải là lúc "diễn giải giáo pháp". Đây là lúc chúng ta tập khai thác những gì đã học để dành chiến thắng tuyệt đối trên mặt trận ba cõi, giúp người tu hành thôi hết sanh diệt, chấm dứt ưu bi, thoát khỏi khổ não, thành tựu Niết Bàn, có được trí tuệ. Vì thế, các bạn phải biết biến những điều đã học thành tuệ trí. Có làm được như vậy, mới có thể trả lời thoả đáng trên mọi phương diện về các câu hỏi liên quan đến giáo pháp. Làm như vậy gọi là khai mở trí tuệ, chứ không phải làm người "thuộc và kể vanh vách mười hai bộ kinh cùng các pháp số"!!!
Hãy thoát ra khỏi chính mình. Hãy đừng làm "con gà mắc tóc". Hãy từ bỏ thói quen loay hoay với mớ kiến thức. Và hãy giải quyết trận đấu trên tinh thần: Thắng nhanh, thắng đậm, thắng đẹp và thắng thuyết phục. Với khẩu hiệu "lấy vô chiêu, thắng hữu chiêu"!!!
(20-09-2014)
−−−••• ⁕ ⁕ ⁕ ⁕ •••−−−
Thập Như Thị Và Nhân Duyên
Phật thuyết mười hai nhân duyên, để chỉ ra sự chuyển biến thân, tâm, ý thức của một hữu tình thông qua mười hai giai đoạn từ vô minh đến sanh lão tử, gọi là "một vòng đời

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ
Các bạn!!!
Hồi tối, nhân nói về ý nghĩa của thập như thị và mười hai nhân duyên với một số HĐ. Mình xin tóm tắt, để các bạn hiểu hơn về hai món trên.
1.1. Về thập như thị.
Phật thuyết thập như thị (Nhân, Duyên, Quả, Báo, Tánh, Tướng, Thể, Lực, Tác, Bổn Mạc) trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nhằm mục đích giúp người tu hành sau khi đã xong phần tự cứu, tiếp tục tu học trí tuệ, bằng cách: "Căn cứ vào tiến trình của mười hiện tượng để xem xét, đánh giá một pháp. Từ đó, có thể đưa ra dự báo, hoặc làm thay đổi pháp này theo khuynh hướng thiện lành. Vì thế trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phật nói đại ý rằng: "Chỉ có Phật (trí tuệ) với Phật (trí tuệ), mới hiểu hết tánh tướng của một pháp. Vì nhân như vậy, duyên như vậy, cho nên rốt ráo nó phải như vậy..."
Có nghĩa rằng:
─ Nơi nhân: Không có tánh tướng của nhân.
─ Duyên: Không có tánh tướng của duyên.
─ Cho đến rốt ráo trước sau đều không có tánh tướng.
Ví dụ về nhân không có tánh tướng của nhân:
- Nhân là hạt đậu, nếu duyên là đất, nước, cho đến lực, tác, đều thoả mãn điều kiện canh tác, thì rốt ráo trước sau sẽ là cây đậu với tánh tướng của nó là như vậy.
- Nhân là hạt đậu, duyên là lửa, là chảo, cho đến lực, tác, thoả mãn điều kiện rang nấu, thì rốt ráo trước sau sẽ không phải tánh tướng cây đậu, mà tánh tướng của món đậu rang.
- Hoặc nhân là hạt đậu, duyên là lửa, là chảo, cho đến lực, tác là nghiền là giã, thì rốt ráo trước sau tánh tướng không phải là hạt đậu rang, mà tánh tướng của nó là bánh đậu (xanh).
Từ ví dụ ngoại nhân duyên nêu trên, ta có thể hiểu về tánh tướng nội nhân duyên của ba nghiệp thân, tâm, ý cũng giống như vậy.
- Nếu nhân ngu si như vậy, duyên ngu si như vậy, lực, tác mê muội như vậy, rốt ráo tánh tướng sẽ khổ đau như vậy.
- Nếu nhân ngu si như vậy, duyên giác ngộ như vậy, lực, tác tinh tấn như vậy, rốt ráo sẽ thành tựu tánh tướng của thánh quả như vậy.
- Nếu nhân ngu si như vậy, duyên giác ngộ như vậy, lực, tác thấu suốt như vậy, rốt ráo sẽ thành tựu tánh tướng của trí tuệ như vậy.
Nói chung, thập như thị vừa là nguyên lý, vừa là phương pháp làm thay đổi nguyên lý dựa trên cơ sở thấu suốt tánh tướng. Vì thế, thập như thị là môn học trí tuệ của Phật đạo, thấu suốt nó, sẽ thành tựu vô số pháp lành.
1.2. Về mười hai nhân duyên.
Phật thuyết mười hai nhân duyên, để chỉ ra sự chuyển biến thân, tâm, ý thức của một hữu tình thông qua mười hai giai đoạn từ vô minh đến sanh lão tử, gọi là "một vòng đời".
Trong vòng đời này, nhân trước làm duyên để nhân sau hiện, gọi là nhân duyên. Có nghĩa, nhân vô minh thành thục sẽ làm duyên cho hành sanh. Nhân hành thành thục sẽ làm duyên cho thức sanh. Nhân thức thành thục sẽ làm duyên cho danh sắc sanh... cho đến lão tử.
Nhân trước làm duyên để có nhân sau, nhân sau làm duyên để có nhân kế tiếp. Chính sự duyên nhau này, mà thân tâm và ý thức của một hữu tình chảy mãi trong vòng nhân duyên, gọi là luân hồi.
Biết rõ mười hai nhân duyên chỉ từ một nhân sanh, do nhân này duyên nên có các nhân sau. Nếu một nhân trong mười hai nhân này tịch diệt, sự duyên không còn, thì vòng đời, luân hồi tự tịch diệt. Có nghĩa rằng: "đây tịch diệt, thì kia cũng tịch diệt, ngược lại đây luân chuyển thì kia sẽ luân chuyển.
Để chấm dứt quá trình nhân duyên luân chuyển này, Phật dạy quán luân chuyển và quán hoàn diệt.
- Quán luân chuyển để thấy rằng: "Đây sanh nên kia sanh".
- Quán hoàn diệt để biết rằng: "Đây diệt nên kia diệt".
Các bạn!!!
Thập như thị và thập nhị nhân duyên là hai pháp mà:
- Nếu ngu si, hai món này trở thành phàm phu pháp, đưa đến kết quả khổ đau.
- Nếu biết vận dụng, hai món này trở thành thánh pháp, cho ra thánh quả.
- Nếu thấu suốt tánh tướng, hai món này trở thành trí tuệ, có thể thấy được thật tướng, biết rõ thật tánh.
- Nếu liễu đạt ý nghĩa, hai món này trở thành diệu lý, dùng đây cứu người gọi là diệu pháp.
Các điều vừa nêu, chỉ sơ lược tánh tướng, ý nghĩa của thập như thị và mười hai nhân duyên, độ sâu của hai món này không cùng tận.
Các bạn có thể từ hai món trên:
─ Dùng chánh kiến: Để quán sát tánh tướng.
─ Phát khởi chánh tư duy: Để thấu suốt ý nghĩa.
─ Dùng chánh ngữ: Để diễn nói, viết.
Làm được ba điều này, nhất định sẽ thành tựu diệu lý!!!
(18-09-2014)
−−−••• ⁕ ⁕ ⁕ ⁕ •••−−−
Bốn Ba La Mật
Bốn thứ ba la mật gồm: Nguyện ba la mật, lực ba la mật, phương tiện ba la mật và huệ ba la mật.

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ
Các bạn!!!
Giai đoạn tu tập hiện nay, là giai đoạn quan trọng của Phật đạo. Đây là lúc chúng ta bắt đầu xâm nhập lãnh vực trí tuệ, sau những kiến thức cơ bản, mà tựu trung là làm thế nào để thành tựu khổ, tập, diệt đế đã được thấm nhuần.
Muốn có được trí tuệ, vị này phải thành tựu phần còn lại của bốn đế, đó là đạo đế. Thành tựu đạo đế, có được huệ nhãn, vị tu hành này mới có cơ may thấu suốt thật nghĩa trung đạo, có biết được thật nghĩa của trung đạo, mới có thể "lấy ba cõi làm nhà", mới có thể đủ huệ lực dắt người vượt qua bốn đế và thành tựu trí tuệ chân thật.
Thành tựu đạo đế hay trí tuệ đế, chính là quá trình thâm nhập bốn thứ ba la mật của một Bồ Tát, đây là công đoạn bắt buộc để thành tựu "tam tự quy", lời thệ nguyện ban đầu mà một Phật tử bất kỳ nào, khi vừa đến với giáo pháp đã tự mình phát lên thệ nguyện này.
Bốn thứ ba la mật gồm: Nguyện ba la mật, lực ba la mật, phương tiện ba la mật và huệ ba la mật.
1.1. Làm gì để thành tựu "nguyện ba la mật"???
Muốn thành tựu nguyện ba la mật, sau khi đã chứng diệt đế, thấy được bất động tâm. Vị này không đành lòng thụ hưởng an vui một mình, mà nghĩ đến công ơn chư Phật đã sản sinh ra giáo pháp, nghĩ đến vạn loại chúng sanh còn mê mờ nên phải chịu khổ trong nhà lửa ba cõi.
Nghĩ suy như vậy, một lần nữa vị này phát đại nguyện: Trên cầu thành tựu Phật quả, dưới thệ nguyện độ thoát chúng sanh. Thực hiện điều này, tức là "hiện thực hoá" lời nguyện ban đầu của chính mình: "Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sanh, thể theo đạo cả, phát vô thượng tâm". Kinh gọi giai đoạn này là: "Bồ Tát nhớ lại nguyện xưa".
Người tu hành sau khi phần tự độ đã xong, nhất quyết khai mở tuệ giác bằng cách: Lập đại nguyện, sau đó phát khởi từ bi tâm, dùng hết sức mình, vì chúng sanh mà xâm nhập giáo pháp. Xâm nhập giáo pháp bằng cách văn, tư, tu. "Dùng tuệ giác quán sát đến tận nguồn cơn tánh tướng của một pháp, cho đến vạn pháp" để thấy cho được thiệt tướng của nó, việc làm này, kinh gọi là "nhập pháp giới". Giống như hành động Thiện Tài Đồng Tử trong phẩm Nhập Pháp Giới của kinh Hoa Nghiêm. Thiệt tướng của các Tam Muội Môn và Giải Thoát Môn được Thiện Tài thành tựu trong giai đoạn này.
Dùng tuệ giác, thấu suốt tánh tướng của một pháp cho đến vạn pháp. Vị lai, có thể "biến các pháp trở thành Phật pháp", mới được coi là hành động quy y đúng nghĩa Phật dạy. Biến các pháp trở thành Phật pháp chính là "tự quy y Phật".
1.2. Làm thế nào để thành tựu "lực ba la mật"???
Lực ba la mật, chính là "biến ước nguyện thành sức mạnh trí tuệ". Muốn làm được điều này, vị tu hành khi đối trước một pháp, "dùng giác phần giản trạch pháp đó đến tột nghĩa của nó". Giống như giải một bài toán khó, nếu chưa giải được, người học trò bằng mọi cách phải giải quyết bài toán này.
Sự kiên trì, tâm cầu học, ý chí vượt khó, ham thích khai mở, tự tại trước chúng, cốt cách đại trượng phu. Những tố chất đã nêu, được vị tu hành phát huy tích cực trong giai đoạn này, phát huy tích cực những yếu tố như thế, vị tu hành này sẽ dần dần có được tuệ giác. Khi tuệ giác bắt đầu khai mở, vị này sống với tâm trạng phấn khích tự tin, và biết chắc rằng: Với tuệ giác này, dưới ánh sáng của ngọn đuốc tuệ này. Không có một pháp nào, không có một ý nghĩa nào của giáo pháp, ta không thể thấu hiểu được nó. Chính sức mạnh này, là động lực giúp vị tu hành thoát ra khỏi tự thân để hoà nhập vào biển tuệ giác của đạo. Tuệ giác của đạo là thiệt tướng, trí tuệ của đạo là chân nghĩa.
Để biết rằng lực này, tuệ giác này đã hoàn toàn đúng hay chưa. Tất cả những kiến giải, sự phát sáng có được, vị này mạnh dạn trình bày trước đại chúng, thành tâm nhờ đại chúng thẩm định và bổ khuyết. Chính sự thẩm định và bổ khuyết của đại chúng là mũi dao nhọn "đẽo gọt" để vị lai tuệ giác trở thành trí tuệ, tức từ thiệt tướng đến chân nghĩa.
Giống như một đội bóng đá, sau khi được đạo tạo những kỹ năng cần thiết và chuyên nghiệp, đội bóng này phải được cọ xát thực tế với những đội bóng khác mạnh hơn, chuyên nghiệp hơn, tầm cỡ hơn, và tập đá trên một sân bóng đầy ắp khán giả thông tuệ chứng kiến. Sau đó, với kinh nghiệm trận mạc, với những ưu khuyết rút ra từ sự cọ xát đã qua, đội bóng này, mới có thể tự tin hướng đến mục tiêu cao hơn trong hành trình chinh phục đỉnh cao của mình. Nếu đội bóng này, cứ e dè, cứ quanh quẩn với những đội bóng làng thôn, chỉ mong "các cụ vỗ tay tán thưởng", hãnh diện với những gì có được trước đám trai làng thiếu thông tuệ, chỉ biết vỗ tay mà không biết hay dở, không dám cọ xát thực tế với bên ngoài, thì vĩnh viễn, sẽ là đội bóng của hội hè làng xã!!! Tâm lý này, không thể làm nên "con kình ngư đủ năng lực bơi ra biển lớn". Vì thế, "tập tạo luận" và "trình sớ giải" là một học phần không thể thiếu trong giáo trình nhất thiết trí.
Lực ba la mật, chỉ có thể thành tựu cho những vị tu hành ngoài tố chất bẩm sinh, còn phải biết tự rèn luyện, biết vượt qua những khiếm khuyết tự thân để thành tựu một tuệ giác hoàn hảo, mà chính đại chúng thông tuệ là vị thầy thẩm định và đánh giá sự đúng đắn và chắc thật của tuệ giác này.
1.3. Phương tiện ba la mật là những gì???
Có được tuệ giác, có nghĩa rằng: Phần cốt lõi của sự đúng đắn từ mỗi pháp, vị tu hành này đã thấy, đã biết. Nhưng khả năng phân tích, chỉ ra cái sai và năng lực trình bày, tuyên thuyết ý nghĩa đúng nhất từ pháp đó cho từng đối tượng, từng cơ duyên, vị này chưa thành tựu, tức tướng đã thấy mà nghĩa chưa biết. Muốn thành tựu "phương tiện ba la mật", người tu hành không ngừng chánh tư duy, suy xét để tìm ra biện pháp tốt nhất, ý nghĩa tốt nhất dành cho một đương có tốt nhất.
Khi đã có sự tốt nhất vừa nêu, Phật dạy: Một pháp sư phải gồm đủ ba pháp, đó là: Vào nhà Phật, mặc áo Phật và ngồi toà Phật.
- Một phương tiện được gọi là ưu việt như pháp, phương tiện này phải xuất phát từ vị pháp sư biết quên mình.
Vào nhà Phật là vào nhà từ bi, có nghĩa rằng: Chỉ vì lợi ích của người mà tuyên thuyết, không vì cái ngã này, không vì sự cúng dường, không vì cầu tôn trọng cá nhân, không vì tự đề cao mà tuyên thuyết...v.v... Nói chung, phần tự thân phải hoàn toàn không ngã và hết ngu si!!!
- Kế đến phải biết chọn thời cơ thích hợp để giảng nói ý nghĩa thích hợp, kinh gọi là "mặc áo Phật". Mặc áo Phật, tức mặc áo kham nhẫn, chưa đúng thời cơ không tuyên thuyết, chưa biết căn tánh không tuyên thuyết, chưa nắm vững vấn đề không tuyên thuyết, chưa hiểu rõ câu hỏi không tuyên thuyết, chưa biết chỗ kẹt của người không tuyên thuyết, chưa thấy chìa khoá mở tâm người không tuyên thuyết, chưa đạt được sự đồng thuận giữa người nói và người nghe không tuyên thuyết, chưa thấy lợi ích của sự tuyên thuyết không tuyên thuyết..v.v... Điều này, kinh gọi là: Khế căn, khế cơ, khế lý.
Mặc áo Phật là: Khoác lên tự thân sự chuẩn mực nhất định của giáo pháp. Mọi sự "dở hơi", mọi "kiến giải vô bổ" thường tình của nhân thế đều phải được lột bỏ không thương tiếc.
- Sau cùng là "ngồi toà Phật", tức an trú nơi toà không pháp. Ngồi toà này, mọi chủ quan và sự chấp nhất của kiến giải phải được tịch diệt, bốn tướng hoàn toàn không còn đất sống.
Ngồi toà Phật là: Bình đẳng tuyên thuyết chân lý, vì chân lý và lợi ích của người thính pháp mà có ngôn thuyết. Giống như cái trống, chỉ khi nào có lực tác động, cái trống sẽ phát ra tiếng, và tiếng kêu này nhất định vừa với lực đã tác động. Đây là tiếng kêu của chân lý và là Phạm âm làm thanh tịnh lòng người, xô dẹp tâm đấu tranh cũng như tà kiến, giương cao ngọn cờ chánh pháp. Kinh dạy là: Nổi pháp cổ, thổi pháp loa, quạt gió giải thoát, rưới nước cam lồ, dập tắt lửa phiền não.
Thành tựu điều này chính là tự thân "hoà vào biển đại giác". Mọi cái riêng không còn nữa, mà đời sống nếu có, là một thứ "ý sanh thân". Đây chính là công đoạn của sự thành tựu "tự quy y pháp".
1.4. Huệ ba la mật.
Thành tựu khổ tập diệt đế, hay sáu ba la mật đầu đối với Phật đạo, chỉ giúp ích phần tự cứu, nó là tiến trình hình thành "trí ba la mật". Giống như cây đèn đã có, nhưng chưa được thắp lên, vì thế khả năng soi sáng của cây đèn này hoàn toàn chưa thể.
Huệ ba la mật chính là làm thế nào để "cây đèn trí" có thể phát sáng. Huệ ba la mật là sự diệu dụng, sự phát sáng của trí ba la mật. Giống như cây đèn, muốn thắp sáng, phải có nguyên liệu để cháy và mồi lửa. Có nguyên liệu để cháy và được mồi lửa, cây đèn này mới cháy và phát sáng đúng với cường độ của nó. Nguyên liệu cháy chính là công đức tự thân, mồi lửa chính là công đức của đại chúng và hữu tình.
Muốn biết huệ ba la mật thành tựu đến mức độ nào trong Phật đạo, phải căn cứ vào hai điều, đó là: Thống lý đại chúng và hết thảy không ngại.
- Thống lý đại chúng: Đối với bạn đồng học, bằng trí tuệ của mình, vị này toả hương, phát sáng, tất cả đồng môn có thể nhận biết. Và bằng năng lực chính mình, vị này có thể dùng sự diệu dụng của trí huệ làm nên thần lực nhiếp phục đại chúng thông qua năng lực tự thân, gọi là giải thoát tri kiến hương.
- Hết thảy không ngại: Đối với vạn loại hữu tình, bằng trí tuệ của mình, vị này có năng lực nhiếp phục tất cả hữu tình nào đủ duyên. Và có năng lực giúp bất kỳ hữu tình nào thật tâm tu hành, ham thích trí huệ và muốn thấu đạt chân lý, nhất định thành tựu ước nguyện của họ.
Các bạn!!!
Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sanh, thể theo đạo cả, phát vô thượng tâm.
Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sanh, thấu rõ kinh tạng, trí huệ như biển.
Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại.
Ba điều tự quy y trên, chính là ba cột mốc, ba tiến trình, để một Phật tử thành tựu tâm nguyện của mình. Trên báo đền ơn Phật, dưới hoá độ chúng sanh...
Tu hành mà không quyết tâm thành tựu ba điều này, hoặc vì một lý do tế nhị hay nhạy cảm nào đó, vị HĐ này đi chệch quỹ đạo, để rồi không thành hoặc không thể thành tựu ba điều nói trên, là tự quay lưng với đạo vô thượng để tìm đến cái ngã hạ liệt, mà bất kỳ kẻ có trí nào trong Phật đạo khi nhìn vào sẽ không thể không chê trách!!!
(15-09-2014)
Tứ Trí
Trong Phật đạo, bốn đế là bốn bậc thang đưa người từ mê đến giác, từ ngu thành trí. Bốn đế tự chúng sanh không thể biết, mà phải được người có trí, thấu suốt giảng nói cho họ. Vì thế muốn giảng nói bốn đế phải thành tựu bốn trí.

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ
Các bạn!!!
1. Trí huệ trong Phật đạo được xây dựng trên mười một thứ trí.
Đó là: Khổ trí, tập trí, diệt trí, đạo trí, loại trí, pháp trí, tận trí, vô sanh trí, nhất thiết trí, đạo tướng trí và nhất thiết chủng trí.
Kinh Kim Cang Phật dạy: "Nhất thiết pháp, giai thị Phật pháp". Có nghĩa rằng, bất kỳ pháp nào, nếu khéo thiện xảo, người trí nhân pháp đó có thể diễn nói khiến người thành tựu đạo quả.
Muốn thực hiện được điều này, phải có một trí tuệ chắc thật.
1. Bốn trí căn bản là: Khổ trí, tập trí, diệt trí và đạo trí.
Xét tổng thể mười một thứ trí thì nó là bốn trí đi đầu. Có nghĩa rằng: Muốn thành tựu đầy đủ các thứ trí, trước tiên phải thành tựu bốn trí căn bản này. Bốn trí này chính là xương sống, là nền móng của giáo pháp. Giống như người ta xây một căn nhà, nền móng không vững thì các tầng cao không thể thực hiện được. Giống như người ta đúc một bức tượng, trong bức tượng không có cốt sắt, thì bức tượng sẽ gãy đổ.
- Trong Phật đạo, bốn đế là bốn bậc thang đưa người từ mê đến giác, từ ngu thành trí. Bốn đế tự chúng sanh không thể biết, mà phải được người có trí, thấu suốt giảng nói cho họ. Vì thế muốn giảng nói bốn đế phải thành tựu bốn trí.
- Bốn thứ trí chính là sự "thấu đạt diệu tính" của bốn đế, bốn thứ trí chính là sự "thông thuộc tướng trạng" của bốn đế. Vì rằng: Muốn đưa người từ mê đến giác và thành tựu mọi đạo quả trong Phật đạo, không thể tách rời bốn đế. Cho nên, bốn trí là thuyền bè đưa người vượt biển sanh tử, là đạo lộ thẳng ngay giúp người bước đến vô thượng.
- Tất cả các pháp muốn trở thành Phật pháp phải diễn nói, thuyết minh trên ý nghĩa bốn đế. Có nghĩa rằng: Phải chứng minh cho được pháp đó chính là khổ, phải chứng minh cho được pháp đó là nguyên nhân phát sinh kiết sử, phải chứng minh cho được vì pháp đó che chướng mà chơn tâm không hiện, phải chứng minh cho được pháp đó bản lai tự Niết Bàn. Có chứng minh được những điều nêu trên, mới có thể tuyên nói phương tiện giúp người thành tựu Tứ chân đế.
Tóm lại.
Bốn trí chính là phương pháp luận của Phật giáo, bốn trí chính là logich học của Phật giáo, bốn trí chính là biện chứng pháp của Phật giáo, bốn trí chính là nền giáo dục của Phật giáo. Vì thế, Phật dạy: "Không biết bốn đế, chính là khổ đế".
- Những câu hỏi vừa rồi được đưa ra, không ngoài mục đích giúp HĐ tập tư duy quan sát để thành tựu bốn trí. Khi tư duy, người ta thấy rõ ý nghĩa của từng đế. Khi quan sát, người ta thấy được cấu trúc tổng thể của từng đế. Thấy được ý nghĩa, biết rõ cấu trúc tổng thể của từng đế và có thể vận dụng linh hoạt tương ứng với từng mỗi pháp, làm được như thế, Phật đạo gọi là diệu. Nhân diệu lý chỉ cho người thấy diệu nghĩa, nhân diệu quan sát khiến người thành tựu diệu minh.
- Đọc phần trả lời của HĐ về các câu hỏi vừa rồi, mình có một vài nhận xét sau: Phần lớn các bạn chỉ nói được bốn đế mà chưa thể hiện được bốn trí. Các bạn chỉ quanh quẩn trong nghĩa thô mà chưa thể diễn bày được nghĩa diệu. Điều này, cũng không có gì là lạ. Nó giống như người ta xây một ngôi nhà, đầu tiên phải hoàn thành phần thô, sau đó mới tô phết để làm nổi bật đường nét của ngôi nhà. Mình đang chờ sự tô phết tinh xảo từ các bạn để căn nhà bốn đế trở nên uyển chuyển, mềm mại và có hồn...!!!
- Trong bài viết của Đức hồi sáng, có một điều thiếu sót nay mình bổ sung, đó là: "Thành tựu tam muội này rồi, bất kể gỗ tạp, gỗ quý, sắt, đá, nhôm, kẽm, than đá, đồng, kim cương ...v.v... Đều có thể "đẽo thành tượng" cho thiên hạ chiêm ngưỡng mà chẳng nhọc công tốn sức là bao!!! (Trừ mu rùa trời Dạ Ma và cứt sắt [[1]] cõi Diêm Phù!!!) (09-09-2014)
−−−••• ⁕ ⁕ ⁕ ⁕ •••−−−
[[1]] Cứt Sắt: Còn gọi là xỉ sắt. Nó là loại phế phẩm thường thấy khi người ta hàn điện, phần xỉ bám quanh mối hàn, người thợ hàn dùng búa gõ để nó văng ra...
Ngũ Ấm
Tu tập trong Phật đạo, là trả sắc thọ tưởng hành thức trở về đúng bản nguyên của nó, là biến những nhận thức sai lầm khổ đau từ sắc thọ tưởng hành thức thành bốn đức thường ngã lạc tịnh, là thấu suốt căn nguyên của khổ phiền não cũng như căn nguyên của lạc tịnh!!!

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ
Dưới nhãn quan của Phật Giáo, một hữu tình mà cụ thể là con người, được hình thành do năm thành tố. Năm thành tố đó là: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Sắc, thọ, tưởng, hành, thức có thể chia thành ba nhóm chính:
− Nhóm hay sinh thân: Thuộc về sắc.
− Nhóm hay sinh tâm: Thuộc về thọ, tưởng, hành.
− Nhóm hay sinh pháp: Thuộc về thức.
Sắc, thọ, tưởng, hành, thức, tự nó không tánh. Bản chất của các món ấy tự thanh tịnh, tự giải thoát. Tự thanh tịnh, tự giải thoát chính là "bản chân" của thân tâm và trí. Có nghĩa rằng, bản lai của một hữu tình tự nó không có tính chất trói buộc hay phiền não, không trí cũng không ngu, không mê cũng không giác. Không có tính chất, Phật đạo gọi là: Không tánh, không tướng... Không tánh, không tướng, chính là Niết Bàn bất sanh bất diệt của một hữu tình mà Phật đã phát hiện ra và tuyên thuyết về nó.
Khi một hữu tình mê, chấp thủ các thành tố nói trên, sẽ cho ra những hiểu biết không đúng với bản chất của năm món này. Hiểu biết nào không đúng như bản chất, Phật đạo gọi hiểu biết đó là điên đảo, vọng tưởng.
Sự thấy biết sai lệch, ngược với bản chất, đã cho ra những quan niệm hư dối, không bền vững về thân, tâm. Những nhận thức sai lệch này Phật đạo gọi chung là pháp.
Vì thế, kinh dạy: "Chư hành vô thường, thị sinh diệt pháp, sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc...".
Bài thuyết pháp đầu tiên cho năm anh em Kiều Trần Như ở vườn Lộc Uyển. Phật chỉ ra nhận thức sai lầm của chúng sinh, và tuyên thuyết thế nào là chân lý để điều chỉnh thấy biết. Nhờ thấy biết này, chúng sanh có được thấy biết chơn thật. Ý nghĩa những điều này, có thể diễn giải qua nội dung đoạn văn sau:
"Này Kiều Trần Như!!! Tất cả các quan niệm về thân mà hiện tại ông đang hiểu là vô thường. Nếu từ bỏ những quan niệm hư vọng, không chắc thật, không đúng bản chất phát sanh từ thân này (diệt sắc vô thường). Nhất định các ông sẽ không còn một trói buộc nào hết về thân nữa (thành tựu sắc giải thoát). Và hiểu biết như thế (điều tôi vừa nói), chính là hiểu biết bền vững về thân (sắc thường trụ). Bốn món kia (thọ, tưởng, hành, thức) cũng đều phải thấu đáo ý nghĩa của nó là như vậy.
Này Kiều Trần Như!!! Không nên y cứ trên những quan điểm sai lầm về thân mà cho rằng thân này chính là vật sở hữu của ta (không lấy sắc làm ta). Không nên y cứ trên những quan niệm sai lầm về thân mà cho rằng quan niệm này là đệ nhất (không lấy sắc làm ngã của ta). Không nên nương tựa vào bất kỳ một quan niệm sai lầm nào về thân, mà cho rằng quan niệm này là vĩnh cữu (không lấy sắc làm tự ngã của ta). Bốn món còn lại (thọ, tưởng, hành, thức) cũng phải rốt ráo nhận thức nó là như vậy..."
Phân tích đoạn kinh trên, ta mới thấy rằng, bài thuyết pháp đầu tiên của Phật, chính là tuyên ngôn trước ba cõi về sự thật hiển nhiên của một hữu tình. Đồng thời cũng chỉ ra rằng chính nhận thức sai lầm, không như chân lý về sắc thọ tưởng hành thức là nguyên nhân chính làm cho chúng sanh tự đánh mất chính mình, chạy theo những quan niệm hư dối mà sanh tâm sầu khổ và trói buộc. Sự đánh mất này, đã khiến các vị hữu tình này bỗng dưng trở thành một chúng sanh. Như người giàu ngủ mê, chiêm bao thấy mình nghèo cùng...!!!
Căn cứ vào chân lý, Phật đã tuyên thuyết những bài pháp sau này gọi là giáo pháp. Và những bài pháp ấy là công cụ trợ giúp cho những ai đã từng lầm nhận về ngũ ấm, họ sẽ có một cách nhìn đúng hơn về tự thân. Và từ đó chính họ chứ không phải là ai khác, tự điều chỉnh nhận thức đúng với sự chân thật hằng hữu của sắc thọ tưởng hành thức.
Một khi nhận thức đúng với bản chất, sẽ cho ra kết quả an lạc, gọi là Niết Bàn. Sẽ cho ra kết quả không còn bị trói buộc gọi là Giải Thoát. Sẽ cho ra một thấy biết đúng với chân lý (sự thật hiển nhiên), gọi là Trí Tuệ.
Năm thành tố nói trên khi người ta chấp thủ, giữ gìn không dám xả bỏ, thì đây sẽ là đầu mối sinh ngã. Vì thế, sinh ngã là hệ quả của một thứ nhận thức sai trái về thân tâm và pháp đối trước chân lý. Và rồi từ đây, ngã chính là chủ thể hư vọng phát sinh sự chấp nhất nguy hiểm đầy khổ đau. Chấp nhất nhận thức sai trái, không thật và có tính chấp thủ này, Phật đạo gọi là ngã chấp. Ngã chấp là sự chấp thủ vô cớ vào những quan niệm hư vọng trên một chủ thể hư vọng.
Từ cái ngã hư dối, ngã này mê say thân tâm, bị thân tâm cột trói, tâm thức nô lệ vào nó và không thể thoát khỏi. Bây giờ, năm món này là đầu mối của mọi cột trói. Vì là đầu mối của mọi cột trói, nên năm món có tên là ngũ ấm, tức sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm, hành ấm và thức ấm.
Nếu ngã lầm nhận thân tâm, sinh các giá trị không thật về sắc thọ tưởng hành thức, từ đó phát sanh các thứ phiền não. Một khi giữ chặt nhận thức sai lệch này, thì sự giữ chặt đó Phật đạo gọi là "ngũ thủ uẩn". Năm uẩn gồm: Sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn.
Ngã, ấm, uẩn... các thứ sanh diệt nếu có sanh khởi, tất cả đều xuất phát từ một niệm mê. Từ một niệm mê mà có nên nó hoàn toàn không thật, không thật gọi là hư vọng.
Giống như người ngủ mê thấy chiêm bao, chiêm bao có dài ngắn, có lành dữ, có đây kia. Một phen giật mình thức giấc, mọi thứ đều không!!! Ngã, ấm, uẩn và các món sanh diệt hư vọng cũng đều như thế.
Kinh dạy: "ngũ uẩn giai không"!!!
Chân lý là như vậy, sự thật là như vậy!!! Nhưng để thể nhập chân lý, thấy được sự thật này một cách viên mãn thì không dễ. Vì sao sự tình này lại xảy ra đối với một hữu tình???
Một hữu tình có mặt trên cõi đời này gồm đủ năm món nói trên. Vì thế, không phải hữu tình chỉ mê có một món, mà mê đến năm món. Chính sự mê muội năm món này, lâu dần tạo thành năm lớp vỏ kiên cố che đậy chân tâm, Phật đạo gọi đó là vô minh. Muốn phá bỏ năm lớp vỏ kiên cố này, thông thường người ta phải phá bỏ dần dần theo thứ tự: Từ ngoài vào trong, từ gần đến xa, từ thô đến tế, từ dễ đến khó. Điều này, kinh Thủ Lăng Nghiêm gọi chung là "phá ngũ ấm".
Quy trình phá vỡ nhận thức sai lệch từ sắc đến thức, Phật chia làm bốn giai đoạn, mỗi giai đoạn tịch diệt một vài nhận thức sai lầm từ một vài thành tố nào đó, toàn bộ quá trình này, Phật đạo gọi là Tứ Diệu Đế. Do đó, Tứ Diệu Đế là quy trình làm thay đổi nhận thức của một hữu tình từ ngu si trở thành trí tuệ, từ khổ đau trở thành an lạc, từ cột trói trở thành giải thoát và từ phàm phu trở thành bậc thánh. Để trả sắc thọ tưởng hành thức trở về đúng với bản nguyên của nó, người xưa gọi cái thấy đúng với bản nguyên này là "bản lai diện mục".
Tứ Diệu Đế gồm bốn giai đoạn, mỗi giai đoạn là một chuẩn mực, là một chân lý, là một sự hoá kiếp nhằm thay đổi, thăng hoa nhận thức cho đến vô thượng. Sự hoá kiếp này, Phật đạo gọi là "diệu". Sự nương cậy này, Phật đạo gọi là "đế". Sự thăng hoa này, Phật đạo gọi là "diệu". Sự thấy như thật để làm nên những đổi thay vi diệu này, Phật đạo gọi là "diệu đế".
Tu tập trong Phật đạo, là trả sắc thọ tưởng hành thức trở về đúng bản nguyên của nó, là biến những nhận thức sai lầm khổ đau từ sắc thọ tưởng hành thức thành bốn đức thường ngã lạc tịnh, là thấu suốt căn nguyên của khổ phiền não cũng như căn nguyên của lạc tịnh!!!
(07-09-2014)
−−−••• ⁕ ⁕ ⁕ ⁕ •••−−−
Hữu Vô Sơ Yếu Luận
Trung Ấm, thức, vô minh. Tên gọi có nhiều, nhưng tựu trung nó chỉ là sản phẩm của thức mê. Thức mê sinh ra pháp mê, pháp mê sinh ra tâm mê, tâm mê cho ra ba cõi hữu.

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ
Các bạn!!!
Vừa rồi, chúng ta có bàn đến hai vấn đề được coi là lớn của Phật Đạo, đó là khái niệm “Trung Ấm” và “Nghĩa Không”.
─ “Thức” hay “Trung Ấm” là nhân tố làm nên cõi hữu.
─ Còn “nghĩa không” thì ngược lại, “nghĩa không” (rốt ráo không) trong Phật Đạo, nhằm chỉ cho sự tịch diệt vĩnh viễn tâm thức của một hữu tình, nói khác hơn nghĩa không nhằm ám chỉ một sự thức ngộ nào đó đã làm mất đi tính chất hư vọng và hữu lậu của một chúng sanh. Hai nghĩa này nếu hiểu thấu đáo, sẽ là giềng mối làm nên chơn trí.
Sau hơn một tuần yên ắng, dành thời gian cho việc chiêm nghiệm hai đề tài này. Đến nay theo mình biết, vẫn còn có một số HĐ mù mờ về Trung Ấm và Nghĩa Không. Điều này cũng dễ hiểu thôi, vì rằng hai đề tài chúng ta đã bàn đến thuộc loại trừu tượng, cần có một sự thâm đạt nhất định để làm nền tảng mới có thể đủ sức tham cứu hai thứ nghĩa này.
1. ĐỐI VỚI TRUNG ẤM
Muốn hiểu được Trung Ấm một cách hoàn hảo, vị tu hành này phải thoả mãn một số điều kiện nhất định trong Phật Đạo, đó là: Hoặc ở trong Đạo Đế, hoặc chứng Diệt, hoặc ít nhất cũng phải dứt Tập...
- Giống như muốn quan sát trọn vẹn sự di chuyển của một một chiếc xe đang chạy, cách tốt nhất là người này phải đứng yên bên ngoài chiếc xe và nhìn thấy tường tận chiếc xe đang chuyển động. Trường hợp này, giống như một vị đang ở trong Đạo Đế, lặng lẽ quan sát Trung Ấm.
- Nếu không được như vậy, điều kiện thứ hai để thấy được sự di chuyển của chiếc xe là, vị này phải chuyển động ngược chiều với chiếc xe kia, hoặc dừng xe của mình, để nhìn thấy chiếc xe từ xa. Trường hợp này, giống như một người đang ở trong Bất Động hoặc trên đường tiến về Diệt Đế, ngược dòng quan sát Trung Ấm.
- Trường hợp thứ ba, để có thể cảm nhận sự di chuyển của một chiếc xe, đó là vị này phải chuyển động cùng chiều, nhưng vận tốc chậm hơn vận tốc chiếc xe kia để nhìn thấy chiếc xe vượt qua mặt mình. Trường hợp này, giống như một người đã Dứt Tập, không còn bị Kiết Sử và cảnh duyên lôi kéo, hiện nghiệp đang bị chậm lại và có khuynh hướng tạm dừng.
- Tất nhiên là, đối với một vị có trí tuệ, hoàn toàn ở trong Trung Đạo, thấu suốt thật nghĩa của "có và không" thì, chẳng những họ thấy rất rõ Trung Ấm mà còn biết tường tận đường đi của nó. Giống như một người sáng mắt, nhìn bầu trời xanh, thấy con chim đang bay.
2. TRUNG ẤM LÀ GÌ
2.1. Định nghĩa.
Trung Ấm, hay Thân Trung Ấm, Thần Thức: Là một khái niệm trừu tượng, chỉ cho Thức Ấm khi từ bỏ thân nghiệp cũ, mà chưa có được một thân nghiệp mới trong điều kiện thức này hãy còn mê, tức vô minh và hành chưa dứt.
2.2. Bản chất của Trung Ấm.
“Trung Ấm”, chỉ là tên gọi tạm thời trường hợp “Thức Ấm” hoàn toàn rời nghiệp cũ mà chưa nhận nghiệp mới, khi nhận được thân nghiệp mới, thì danh từ Trung Ấm không còn nữa.
Vì Trung Ấm chỉ là tên gọi tạm thời trong một giai đoạn nhất định của Thức mê. Cho nên bản chất của “Trung Ấm” chính là “Thức mê”, có nghĩa không phải có một Trung Ấm và một Thức Ấm khác nhau. Nói cách khác, “Trung Ấm” và “Thức mê” chỉ là hai tên gọi của một cái gì đó.
Trước khi Phật ra đời, hữu tình không thể tự mình thoát ra khỏi sự mê muội của Thức, mặc dù không ít hữu tình cảm nhận sự trói buộc của một cõi hữu từ thức mê sản sanh, và họ cố sức tìm mọi phương cách để thoát khỏi sự trói buộc vô hình này, nhưng tất cả đều vô vọng. Nó giống như một người, không thể tự nâng mình vĩnh viễn ra khỏi mặt đất!!! Để cố gắng thoát khỏi sự cột trói của Thức, người ta đã cố hết sức, nhưng tất cả đều thất bại. Sự thất bại điển hình trong các nỗ lực này, đó là cảnh giới Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Định mà Ngoại Đạo đã thành tựu.
Vấn đề ở chỗ, con người dù có nỗ lực đến đâu, thì sự nỗ lực này không thể vượt ra khỏi "cái biết" (Thức). Giống như, một người ngồi trong thau, nỗ lực tự nhấc cái thau lên, đây là một thực tế vô phương. Nếu có một sự thành tựu nào đó chăng nữa của những nỗ lực này, thì đó cũng chỉ là sự biến tướng của "cái biết". Cái biết biến đổi từ hình thái này sang hình thái khác, đó là sự chuyển biến từ Thức mê thành Tưởng mê. Rốt cục, mê vẫn hoàn mê, chỉ khác chăng là "cách thức mê"!!!
Từ khi Phật ra đời, với trí tuệ siêu việt, và một nguồn tâm hoàn toàn tĩnh lặng. Như một người mắt sáng, nhìn vào bầu trời xanh, Đức Phật đã nhìn rõ bản chất, "sự huân biến của Thức" và phát hiện ra con đường đi, cũng như phương cách vô hiệu hoá sự dịch chuyển mê muội của Thức. Nỗ lực của hữu tình đã được đền đáp xứng đáng bởi một "sự nhìn thấy phi thường" của bậc Tam Giới Tôn. Từ đó, một giải thích cụ thể và rõ ràng về Trung Ấm đã được tuyên bố đúng với bản chất của nó.
Thức (cái biết), tự nó là không. Tức là bản chất của cái biết: Không tánh, không tướng, không giác, không mê, không chủ thể, không đối tượng, không thường, chẳng vô thường, không ngu, không trí, không trong, không ngoài, không đây, không kia, không sắc, không pháp, không màu, không mùi, không vị... Nó giống như hư không!!! Bản chất của Thức là như vậy, vì thế khi cổ Đức phát hiện ra bản chất thật của Thức, bèn tuyên bố sự chân thật này bằng một câu nói rất chân thật, đó là: "Thức tức Trí".
Thức cũng không tự mình di chuyển từ nơi này đến nơi kia, không thể tự dời đổi từ một hữu tình này đến một hữu tình khác. Nó như một quả bóng đá đặt giữa sân, quả bóng này không tự bay về phía cầu môn đội A hay đi về phía cầu môn đội B. Giống như một người hoặc ngu hoặc trí, người này ngồi tại vị trí A, thì cái biết ngu hay cái biết trí không thể tự đi đến vị trí B. Nếu muốn cái ngu hay trí này đến B, người đó phải di chuyển và mang nó theo.
Thì cũng vậy, thức mê hay thức giác tự nó không thể từ một nơi đến một nơi, thức này muốn đến được một nơi nào đó, phải có một chủ thể mang nó đi, hoặc chính nó chịu một lực tác động bên ngoài làm cho xê dịch. Giống như người ta mang quả bóng từ bên ngoài vào giữa sân, hoặc do các cầu thủ đá quả bóng này bay đi nơi khác.
Đối với hữu tình còn thọ mạng, thì thức và hữu tình đó không phải hai, nó luôn luôn cư ngụ trong các căn của hữu tình đó, khi hữu tình này tĩnh hay động, thức từ các căn, tuỳ theo sự tĩnh hay động mà làm công việc riêng của nghiệp.
Đối với một hữu tình khi thọ mạng không còn, thức từ bỏ người này, chịu sự tác động của cặp mê là tình tưởng (mê hay giác, hoặc vừa mê vừa giác) mà chuyển động. Sự chuyển động của thức, dựa trên nguyên lý lực kéo lớn hơn lực cản, tình hay tưởng cái nào lớn hơn sẽ đẩy thức chuyển động về hướng của mình.
Giống như trò chơi kéo co, đội nào mạnh hơn sẽ thắng, sợi dây và tâm điểm sẽ chạy về hướng đội thắng. Thời gian và vận tốc Trung Ấm di chuyển phụ thuộc vào lực kéo bên này và lực cản của phía bên kia. Giống như hai đội thi kéo co, sự chênh lệch về sức mạnh của hai đội sẽ cho ra vận tốc di chuyển của dấu mốc trên sợi dây và thời gian trận đấu.
Tất nhiên, trên đời rất khó có thể có một sự cân bằng tuyệt đối giữa tình (ác) và tưởng (thiện) trong một con người, vì thế không có sự đứng lặng mà không đi tìm thân nghiệp mới của một Trung Ấm do sự cân bằng tình tưởng này. Ngoại trừ các A La Hán vào chánh vị Niết Bàn, các vị này đã triệt tiêu hoàn toàn tình tưởng, động lực chính làm nên luân hồi. Tuyên bố "Sở tác dĩ biện, bất thọ hậu hữu" của một La Hán đã nói lên sự hoàn thành tối hậu này.
2.3. Sự có mặt của “Tình, Tưởng” trong một thức mê.
Thức tuy rằng bản chất của nó là không, nhưng tánh giác của một hữu tình khi chưa giác ngộ, đã tác động lên cái biết, làm cho cái biết động lay, sự động lay này chính là "bản chất lao lự ban sơ" của một hữu tình khi mê.
Khi Thủ Lăng Nghiêm Phật dạy: "Nơi trí Bồ Đề chăm chú phát sanh tướng mỏi mệt...". Điều này có nghĩa rằng, tánh giác do sức giác của mình, thuận theo tánh hay giác, phát sinh ra cái biết ban đầu, cái biết ban đầu đó là tưởng. Giống như một người tĩnh lặng, chăm chú nhìn vào hư không, đến một lúc nào đó, cái nhìn bị mỏi mệt, bỗng dưng hư không hiện ra hoa đốm!!! Do mê màu sắc các hoa đốm và muốn thủ giữ hoa dốm kia, tình tưởng từ đó phát sinh.
Khi hoa đốm phát sinh, người này liền quên cái tĩnh lặng mà lấy cái bị biết là hoa đốm làm đối tượng gởi gắm tâm ý, sự gởi gắm tâm ý này là nhân động lay ban đầu để từ đó hình thành những động lay sau này. Khi tâm ý và hoa đốm câu sanh, năng thủ sở thủ thành lập, chừng ấy nhận thức phân biệt liền có. Giống như trẻ con và những chùm pháo hoa, màu sắc rực rỡ của pháo hoa sẽ hấp dẫn cái thấy và làm cho đứa trẻ mê mẩn quên cả đất trời. Điều này cũng trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Phật ví như những bọt bóng nước lấp lánh nhiều màu sắc, trẻ con tưởng nhầm là lưu ly.
Chính sự lầm nhận tướng không thật của hoa đốm, nên một hữu tình tỏ ra thích thú (ái), rồi từ đó mong muốn chiếm hữu (thủ). Khi tâm chiếm hữu khởi lên, vị hữu tình này bèn dùng "mọi thủ đoạn" để có được nó. Vì thế tình (ác pháp, ác nhận thức) xuất hiện. Nếu vị hữu tình này, gìn giữ tình này không gián đoạn trong tâm thức (vô gián) thì một cõi ác sẽ chờ đợi khi hiện nghiệp kết thúc.
Ngược lại, có những vị chúng sanh, do ý thức được vị ngọt, sự khổ đau khi tâm ý có hy cầu và thủ giữ. Vị hữu tình này nhàm chán, luôn có ý tưởng từ bỏ, ý tưởng và sự từ bỏ này huân lâu ngày, trở thành tưởng. Khái niệm tưởng trong trường hợp này nhằm để chỉ một tâm niệm nhàm chán các ác bất thiện pháp của tình, hướng tâm địa của vị ấy đến một sự thanh cao nào đó, sự hướng đến cái thanh cao, Phật Đạo gọi là tưởng. Nếu vị hữu tình này, thủ giữ và tìm cách làm cho tưởng này không đoạn dứt, thì chính tưởng (thiện niệm) này sẽ huân thành thiện nghiệp, và cho ra một cõi nước thù thắng ở vị lai.
Nếu một hữu tình, giữa sự chiếm hữu (tình) và ý tưởng thoát ly khỏi sự chiếm hữu (tưởng) có mặt trong tâm, hai món tình (ác niệm, ác giác quán) và tưởng (thiện niệm, thiện giác quán) thay nhau làm hậu thuẫn cho một "quan niệm sống", thì vị này sẽ có kết quả là một cõi nước tuỳ vào sức mạnh của mỗi bên. Sức mạnh này tạo ra độ chênh lệch, làm định hướng cho một dòng chảy (hành) của Trung Ấm. Giống như một con kênh dẫn nước, đầu kênh thấp, chỗ nước ít, sẽ là hướng chảy về của đầu kênh cao hơn, hoặc nước nhiều hơn. Hiệu số tình-tưởng (thiện-ác) sai biệt, sẽ làm cho tâm thức vị này chảy và chảy mãi không ngừng!!!
Như vậy, chúng ta có thể hiểu, cái "lao lự ban sơ" của một hữu tình, là một hình thức "thất niệm", làm cho tình và tưởng có mặt. Sự có mặt của tình tưởng đã làm cho hữu tình này bị che đậy bởi nó, và sự che đậy này làm cho hữu tình không còn nhận cái "tĩnh lặng trong sạch" ban đầu, sự che đậy này Phật Đạo gọi là vô minh.
Tình hay tưởng, bản chất của nó tự không có gì là minh hay vô minh, nhưng nếu mê một thứ hoặc mê cả hai, thì chính cái mê này che đậy sự thuần khiết của thức. Tình tưởng giống như hai tấm vải, một tấm màu đen và một tấm màu trắng, cả hai tấm vải đen hoặc trắng này tự thân không có giá trị ngăn che. Nhưng nếu, một người dùng hoặc vải đen, hoặc miếng vải trắng, hoặc cả hai bịt kín cặp mắt của mình, thì bây giờ các miếng vải mới trở thành công cụ che lấp.
Tóm lại, nếu một hữu tình bị tình hay tưởng hoặc cả hai che mờ tâm ý, bây giờ hữu tình đó không thoát ra khỏi sự che chướng này, và mọi hiểu biết, các nhận định không ra khỏi màu sắc của sự che lấp ấy. Phật Giáo gọi sự che lấp kể trên là sự u tối hay vô minh. Và nhất định, hữu tình này phải đi theo sự u tối nói trên.
2.4. Sự duyên nhau của Trung Ấm.
Như chúng ta đã biết, Trung Ấm thuộc về tiền tế, nó làm nên ba chi đầu của mười hai nhân duyên. Trước khi Trung Ấm nhập vào danh sắc để hoàn thành nhiệm vụ của mình, thì Trung Ấm có đủ thành tố của ba chi tiền tế, đó là: Vô minh, hành, thức.
Vô minh: Kết quả của mê mờ tình tưởng và bị tình tưởng ngăn che.
Hành: Tình và tưởng làm lực đẩy và lực cản tạo thành động lực để thức mê di chuyển theo phương của mình.
Thức: Bản chất của Trung Ấm.
Chính nhờ vào ba duyên này, mà Trung Ấm có thể dịch chuyển để duyên một khối lượng mê vô hình vô tướng đến danh sắc. Khi Trung Ấm đến được nơi cần đến (danh sắc), thì vai trò của Trung Ấm hoàn toàn chấm dứt, trả thức về đúng với chức năng "hoàn thiện một hiện nghiệp" của nó. Vì thế các chi sau gồm danh sắc, lục nhập, xúc thọ... ra đời.
2.5. Năng lực giao tiếp của Trung Ấm.
Khi rời khỏi báo thân, mọi khả năng giao tiếp của Trung Ấm đều hoàn toàn bị vô hiệu, tức là năng lực giao tiếp với thế giới bên ngoài của Trung Ấm không còn nữa.
Mặc dù trong thức có đầy đủ tính chất của sự nhận biết, nhưng những tính chất này không thể tiếp cận được các tín hiệu từ thế giới bên ngoài, vì các công cụ tiếp nhận không còn nữa. Một con người, muốn thấy phải có con mắt, muốn nghe phải có lỗ tai, muốn ngửi phải có lỗ mũi... Các căn, chính là công cụ để thức lấy đây mà tiếp cận và nhận biết, một khi các công cụ này không còn, sự tiếp xúc của thức, hay nói khác đi là sự nhận biết của Trung Ấm hoàn toàn tê liệt.
Giống như một cái Amply, trong cái âm ly có đủ tính năng của thu và phát cũng như khuếch đại tín hiệu. Tuy âm ly có những chức năng này, nhưng nếu cái âm ly đó không có micro thì chức năng thu không sử dụng được, đối với phát và khuếch đại phải nhờ cái loa, nếu không có cái loa, việc phát và khuếch đại tín hiệu sẽ không thể thực hiện.
Thức hay Trung Ấm khi rời bỏ thân, các căn không còn, Trung Ấm không thể giao tiếp với thế giới bên ngoài cũng giống như vậy. Chính vì điều này, trong kinh A Di Đà, Phật mới dạy: "Khi sắp lâm chung, nếu người này gặp được Thiện Tri Thức giảng nói mười hai bộ kinh, người này có thể vãng sanh". Điều này muốn nói rằng, thần thức chỉ có thể giao tiếp với thế giới bên ngoài (không phải thế giới nội tâm), khi nào thức vẫn còn cộng trú với thân nghiệp.
Cũng có những trường hợp, thức vẫn còn cộng trú với thân nghiệp, nhưng khả năng giao tiếp với thế giới bên ngoài tạm dừng.
Ví như người ngủ mê, chết giấc... Sự không thể giao tiếp với thế giới bên ngoài tạm thời này sở dĩ xuất hiện, vì lúc đó thức tạm thời yên nghỉ, hoặc thức không còn hiện diện ở các căn do một sự cố ngoài mong muốn nào đó đột ngột xảy ra...
Điều này giống như một cái âm ly[[1]] còn sử dụng được, có đầy đủ micro và loa, nhưng tạm thời mất điện. Thức tạm ngừng nhận biết giống như hệ thống âm ly tạm mất điện không làm được các chức năng thu phát của mình.
3. VÌ SAO CẦN CÓ SỰ THẤU ĐÁO VỀ THỨC VÀ TRUNG ẤM
Trong các Kinh Đại Thừa, khi giảng nói về mười hai nhân duyên, Phật thường dạy rằng: "Đối với mười hai nhân duyên, kẻ đại căn quán thấu suốt mười hai chi thấy Phật Tánh, người trung căn quán nó được Niết Bàn, kẻ hạ căn quán xong ra khỏi khổ sanh diệt...". Vì sao đồng là mười hai nhân duyên, mà khi quán nó lại thành tựu sai biệt như vậy???
Nếu nghiêm cẩn tư duy lời kinh trên, ta sẽ thấy toàn bộ sự sâu mầu của giáo pháp ẩn chứa trong mười hai nhân duyên. Xét bản chất đích thực của mười hai nhân duyên, trong mười hai chi đó, không có gì khác hơn là Thức và Vô minh, tức là chính cái biết và sự u tối bao trùm cái biết này. Cả hai thứ nói trên duyên cho nhau, làm nên một vòng tròn luẩn quẩn vô hình nhưng lại có năng lực cột buộc, khiến chúng sanh không thể nào thoát khỏi nó. Cái vòng cột buộc này Phật Đạo gọi là mười hai nhân duyên.
Vì sao đồng là mười hai nhân duyên, mà ba loại căn trí khác nhau khi nhìn về nó, lại cho ra ba thành tựu sai khác như kinh đã nói???
Muốn lý giải thấu đáo sự tình này, chúng ta phải khảo sát sự luân chuyển của mười hai nhân duyên, và tìm xem mười hai nhân duyên hình thành qua mấy giai đoạn.
Vòng đời của một chúng sanh, hay vòng tròn mười hai nhân duyên gồm mười hai chi, chia thành ba giai đoạn như sau:
Giai đoạn tiền tế gồm: Vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập (nội).
Giai đoạn trung tế: Lục nhập (ngoại), xúc, thọ, ái, thủ.
Giai đoạn hậu tế: Hữu, sanh, lão tử.
Căn cứ ba giai đoạn nêu trên, chúng ta thấy rằng:
3.1. Giai đoạn tiền tế.
Tức là sự việc đã qua rồi, không có trong hiện tại.
Một chúng sanh bình thường, tâm ý còn hữu lậu thì không thể có năng lực quán giai đoạn này.
Muốn thấu suốt tiền tế, chí ít người này phải ở trong Đạo Đế, dùng tánh giác lặng lẽ quán sát. Nếu chỉ thành tựu Tập Đế và Diệt Đế thì có khởi tâm quán tiền tế, cũng như "cỡi ngựa xem hoa", có nhận biết chút ít về nó, nhưng không thể thấy trọn vẹn và đầy đủ.
Vì thế, nếu người tu hành hội đủ một số điều kiện nhất định, có năng lực quán thông suốt tiền tế, hay thấy rõ Trung Ấm, vị này cơ may phát sanh trí tuệ rất lớn. Có được trí tuệ, việc thấy Phật Tánh là điều hiển nhiên.
Chính vì vậy, mà Phật dạy: “Kẻ thượng căn (thượng trí) quán mười hai nhân duyên sẽ thấy được Phật Tánh”.
3.2. Giai đoạn Trung tế.
Đây là giai đoạn vô minh cùng thức hiện tiền đang làm chủ sự nhận biết trên cơ sở xúc đối. Vô minh và thức lúc này thay đổi tướng trạng và chức năng của nó, cho nên tên của nó cũng được thay đổi theo. Trung tế gồm có năm chi, đó là: Ngoại lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ.
Trung tế trong mười hai nhân duyên, là thuật ngữ nhằm chỉ cho những gì xảy ra trước mắt của cuộc sống. Các chi của nó gồm: Ngoại lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ. Một người với số vốn kiến thức vừa đủ về Phật học và biết cách quan sát, có thể nhận biết được những gì thuộc trung tế.
Trong các chi này, chỉ cần quyết tâm dừng một chi, các chi khác sẽ tự tịch diệt. Sự tịch diệt này dựa trên nguyên lý luân chuyển hay hoàn diệt của mười hai nhân duyên. Khi một chi đã dừng, vòng tròn hư ảo của sanh diệt luân hồi không thể hình thành. Nó giống như một đóm lửa được quay tròn, đóm lửa di chuyển từ điểm này đến điểm khác tạo thành một vòng tròn lửa, chỉ cần đóm lửa này dừng ở bất kỳ điểm nào, vòng lửa hư ảo kia tự động không còn nữa. Mười hai nhân duyên, bản chất của nó là vô minh và thức di chuyển qua mười hai điểm trên một quỹ đạo, tạo thành vòng tròn khép kín, vòng tròn này nếu không được ngăn chặn và phá vỡ, thì nó sẽ tiếp tục luân hồi đến bất tận!!!
Trong mười hai chi, những chi thuộc nhóm tiền tế đã qua rồi, không thể dừng trong hiện tại. Còn các chi thuộc về hậu tế thì chưa đến, mà cái chưa đến ta không thể buộc nó dừng. Vì thế, người tu tập phần lớn chọn phương cách bắt nó dừng ở trung tế, tức là tịch diệt những gì đang xảy ra trong hiện tiền đời sống. Khi một chi của trung tế tịch diệt, mười hai chi tự tịch diệt theo nguyên lý vòng lửa nói trên.
Vì thế, Phật nói kẻ trung căn khi quán mười hai nhân duyên sẽ thành tựu Niết Bàn. Điều này có nghĩa, đối với phần lớn người tu hành, cách khôn ngoan và hiệu quả nhất để chấm dứt vòng luân hồi luẩn quẩn, đó là nhắm ngay trung tế mà tịch diệt.
3.3. Giai đoạn Hậu tế.
Hậu tế là những gì thuộc mé sau, nó gồm những điều chưa xảy ra trong hiện tại. Hậu tế gồm các chi: Hữu, sanh, lão tử.
Chữ hữu ở đây ám chỉ thân sau (hậu hữu thân), một đời sống (cõi hữu) sau đó được tiếp nối trong khổ sở do thức mê làm chủ và vô minh dẫn đường. Cái chưa đến ta không thể thấy và không thể bắt nó dừng hoặc từ chối nhận chịu trong hiện tại.
Ta chỉ có thể cảm nhận về nó, hoặc nhìn những đối tượng khác ngoài ta đang chịu thống khổ do các chi này mà biết. Hữu, sanh, lão tử tuy chính bản thân của mỗi người chưa từng trải qua trong hiện kiếp, nhưng nó lại là nỗi ám ảnh đáng ghê sợ và thường trực tác động lên đời sống. Nỗi ám ảnh ghê sợ và sự tác động thường trực này, lại là tác nhân giúp nhiều người nhìn lại chính mình và mong muốn thoát ra khỏi nó, đây là động cơ khiến phần lớn người đời tìm đến Phật Đạo, và họ cũng biết chắc rằng: Chỉ có Phật Đạo mới đủ khả năng giúp họ thoát khỏi sự ghê sợ này...!!!
Muốn thoát khỏi nạn tai của hậu tế, người này phải nhàm chán sanh tử, mau chóng cầu được Niết Bàn. Đây là nguyên nhân chính để Nhị thừa xuất hiện. Để cầu được Niết Bàn, Nhị thừa phải tuân thủ hai điều cơ bản nhằm dứt tình tưởng, làm cho thức cùng vô minh không còn động lực trong hiện tại để có khả năng tiếp tục di chuyển đến hậu tế.
Để dứt tình, Nhị thừa phải từ bỏ tất cả những gì khiến mình ái luyến, đó là "cắt ái ly gia". Để dứt tưởng, vị này phải xuyên suốt thiền định như pháp nhằm yểm ly dần dần cõi hữu. Đến khi thành tựu như pháp, tình và tưởng của vị này hoàn toàn tịch diệt, gọi là "sở tác dĩ biện, bất thọ hậu hữu".
Nhị thừa ghê sợ hậu tế, và ứng dụng tu tập để vô hiệu hoá nó liền được ra khỏi khổ sanh diệt. Cho nên Phật dạy: "Cũng mười hai nhân duyên, mà kẻ hạ căn quán nó, sẽ ra khỏi khổ sanh diệt luân hồi".
Tóm lại: Trung Ấm, thức, vô minh. Tên gọi có nhiều, nhưng tựu trung nó chỉ là sản phẩm của thức mê. Thức mê sinh ra pháp mê, pháp mê sinh ra tâm mê, tâm mê cho ra ba cõi hữu. Nếu thức không bị mê bao phủ, thì pháp không tự sanh, pháp không tự sanh tâm không tự sanh, tâm không tự sanh ba cõi trở thành không. Nếu quán được như thế, ngay hiện tiền này chẳng có gì sanh, chẳng có gì sanh chẳng có gì bị diệt, không sanh không diệt gọi là rốt ráo không. Kinh Đại Niết Bàn có dạy rằng: "Chư hành vô thường, thị sanh diệt pháp, sanh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc".
Để minh hoạ một cách cụ thể về Trung Ấm, Kinh Đại Bảo Tích Phật nói như sau: "Trung ấm không phải sắc, nó như gió, khi gió thổi qua rừng chiên đàn thì mang theo hương thơm, khi thổi qua thi lâm thì mang theo mùi xú uế..."
Đến đây, coi như những gì sơ yếu nhất về Trung Ấm và thức đã được chúng ta điểm qua. Trong Phật Đạo, nếu chỉ dừng lại ở công việc tự cứu, không cần phải đào sâu về Trung Ấm và thức. Nhưng trong Bồ Tát Đạo thì lại khác, không biết tường tận về Trung Ấm và thức, sẽ không thể thấu suốt nguyên uỷ trôi lăn của một hữu tình, mà đã không thấu suốt cái gì trôi lăn và động lực nào làm cho trôi lăn, sẽ không thể sản sinh những phương tiện giúp người dừng sự trôi lăn đó một cách thoả đáng. Thậm chí đôi khi Trung Ấm được hiểu lầm, sẽ dẫn đến những giải thích mang đậm "màu sắc mê muội". Những giải thích như thế chẳng những không làm cho người có chánh kiến để có thể tự cởi trói, mà còn khiến người thêm hồ nghi, hoang mang và đắm chìm sâu hơn trong tà pháp.
4. NGHĨA “KHÔNG” ĐÍCH THỰC
Trong Phật Đạo, muốn vào Nhất thừa và thể nhập Trung Đạo, có hai điều cơ bản mà người tu hành phải tường tận, hai điều này giống như đôi chân của một con người. Nếu chỉ có một chân, hoặc đôi chân khập khiểng, thì mỗi bước đi của người đó không thanh thoát và sẽ rất nặng nề, thậm chí vị ấy khó có thể thực hiện một cuộc hành trình dài hơi như một người có đôi chân lành lặn.
Hai điều cơ bản này là "hữu và vô" tức là có và không. Phần trên, chúng ta đã khảo sát những ý nghĩa cơ bản nhất về những gì được gọi là có (hữu) trong ý nghĩa của Phật Pháp. Khi biết rõ bản chất của cái gọi là có, cơ may thấu suốt nghĩa không mới có thể thành công.
®"Nhất thiết Phật ngữ tâm", câu nói này của người xưa chính là tuyên ngôn minh định trọng tâm của giáo pháp. Có nghĩa rằng, giáo pháp của Đức Phật chỉ dạy người hàng phục tâm này, ngoài tôn chỉ này, không còn mục đích khác.
Mê cũng tại tâm này, ngộ cũng tại tâm này. Khi mê tâm ấy là ma, ngộ rồi mới biết tâm ấy là Phật!!! Khi mê, toàn tâm là hữu (có), ngộ rồi tâm ấy tự không (vô). Dứt mê dứt ngộ, tâm còn không có, hà huống có hữu với vô. Như vậy, nói hữu hay vô, hữu vô này đều không thật, khi nào không còn thấy có hữu hay vô mới gọi là rốt ráo vô. Vì thế "rốt ráo không" là chân thật ngữ.
Như đã nói ở trên, tất cả lời Phật đều nhằm chỉ tâm, vì thế tất cả nghĩa không mà Phật tuyên thuyết đều nhằm mục đích nói lên một sự thật, bản lai tâm này vốn tự không, chỉ một niệm mê ban sơ mà thấy thành có. Giống như người nhặm mắt, do mắt nhặm mà thấy hoa đốm trong hư không, trong lúc người kia nhặm mắt thấy hư không có hoa đốm, thực tế lúc đó, hư không chẳng sanh ra hoa đốm. Những ai sáng mắt, mắt không bệnh sẽ chứng thực điều này.
Cũng như thế, khi một hữu tình đang mê, toàn tâm hữu tình này là hữu, và cái hữu đó chỉ do thức mê nhận biết. Giống như thực tế hư không kia không hề sanh hoa đốm, chỉ do mắt bệnh thấy ra như vậy. Thì cũng vậy, trong lúc tâm mê tưởng ra cái hữu, thức mê nhận lấy cái hữu này làm ta, thực tế lúc đó, lúc chúng sanh đang mê cũng không có cái gì là hữu. Giống như người ngủ mê, nằm mơ thấy thành ấp xóm làng, trong lúc vị kia thấy thành ấp xóm làng, không có nghĩa rằng thành ấp xóm làng này thực có.
Tâm mê cho ra ba cõi hữu, thức mê cho ra hư vọng pháp, ba cõi hữu và hư vọng pháp này nó giống như cảnh tượng chiêm bao, các thứ ấy chỉ hiện trong mê rồi nhận lầm in tuồng là có. Vì thế Phật dạy: "Các pháp, không tánh, không tướng..."
Tóm lại: Nghĩa không đích thực mà Phật tuyên thuyết, đó là thật ngữ. Thật ngữ này nói lên một sự thật là: Bản lai tâm này tự không, quá khứ không, vị lai không và hiện tại cũng không. Tất cả những thứ được gọi là hữu (có) đó, chỉ là giấc mộng đêm qua...!!!
5. TRUNG ĐẠO LÀ GÌ?
Trong Phật Đạo, một trong những nghĩa khó hiểu và khó
thể nhập nhất, đó là nghĩa Trung Đạo. Trung Đạo là kết quả của sự thành tựu viên mãn Đạo Đế.
Trung Đạo chính là kết quả viên mãn của từ và bi. Từ tâm và bi tâm khi thành tựu sẽ cho ra nghĩa Trung Đạo. Như vậy có thể hiểu: Trung Đạo chính là sự thể hiện chân lý một cách tối ưu trong đời sống vì vạn loại hữu tình. Vì sao nó lại như vậy???
Thuật ngữ Trung Đạo trong Phật giáo không phải là trung bình cộng của một phép tính, nó lại càng không phải con đường đi ở chính giữa hai biên. Mà Trung Đạo là sự hoạt dụng tối ưu từ hai nghĩa “có” và “không” để sinh ra các phương tiện thiện xảo nhất, sự hoạt dụng thiện xảo này, Phật Đạo gọi đó là từ bi. Vì thế mới nói: "Muốn vào Nhất thừa và thể nhập Trung Đạo, có hai điều cơ bản mà người tu hành phải tường tận, hai điều này giống như đôi chân của một con người. Đó là hai nghĩa có và không..."
Hai nghĩa có và không nếu thấu suốt được, hai nghĩa này đồng là thiện phương tiện giúp người chấm dứt sanh diệt, thành tựu cứu cánh Niết Bàn. Vì rằng, bản nguyên của có hay không tự nó không sanh diệt, tự nó đã sẵn cứu cánh Niết Bàn, không phải đợi đến dứt hữu hoặc toàn không mới thành tựu Niết Bàn. Vì thế, vị tu hành thấu suốt nghĩa Trung Đạo, vị ấy ở nơi mà chúng sanh thấy đó là cõi hữu, nơi ấy cũng Niết Bàn. Vị ấy ở nơi mà chúng sanh thấy đó là cõi không, cõi ấy cũng Niết Bàn. Hữu vô đồng là không, nên cái rốt ráo không lại hàm chứa nghĩa Trung Đạo.
Có nghĩa khi vị ấy tuyên thuyết rằng có, lời tuyên thuyết này vì lợi ích chúng sanh. Vị ấy tuyên thuyết rằng không, lời tuyên thuyết này cũng chỉ vì lợi ích chúng sanh. Vì có không đều là thiện phương tiện để giúp người đến cứu cánh an vui, còn tự thân họ chính là rốt ráo không, nên vị này chẳng thấy có hay không...!!! Bài kệ tán Phật của Ngài Đại Huệ trong Kinh Lăng Già tuyên thuyết việc này như sau:
" Thế gian lìa sanh diệt
Ví như hư không hoa
Trí chẳng thấy có, không
Mà khởi tâm đại bi
Tất cả pháp như huyễn
Xa lìa nơi tâm thức
Trí chẳng thấy có, không
Mà khởi tâm đại bi
Xa lìa chấp đoạn thường
Thế gian hằng như mộng
Trí chẳng thấy có, không
Mà khởi tâm đại bi
Biết nhân pháp vô ngã
Phiền não và sở tri
Thường thanh tịnh không tướng
Mà khởi tâm đại bi
Tất cả không Niết Bàn
Không Niết Bàn của Phật
Không có Phật Niết Bàn
Xa lìa giác, sở giác
Hoặc có, hoặc không có
Cả hai thảy đều lìa
Quán Mâu Ni tịch tĩnh
Thế là xa lìa sanh
Ấy gọi là chẳng thủ
Đời này đời sau tịnh" [[2]]
Để minh hoạ cho Trung Đạo, ví dụ sau đây có thể giúp HĐ nhìn ra điều gì đó trong sự hoạt dụng tối ưu của nó:
Như một con nhện, nó giăng thành cái mạng nhện để bắt mồi và làm chỗ đi lại. Tất cả các con vật bay qua mạng nhện này đều bị mắc kẹt lại và có thể trở thành con mồi!!! Nhưng riêng con nhện, nó tự tại chạy khắp mọi nơi trên mạng, con nhện đứng đi ở mép rìa mạng nhện, hay đứng đi chính giữa mạng đều yên ổn và vô ngại...!!! Con nhện dụ cho vị tu hành thông tuệ, mạng nhện dụ cho giáo pháp, sự vướng vào dụ cho chúng sanh và ba cõi, con mồi dụ cho vô minh. Nơi con nhện đến và đi dụ cho Trung Đạo!!! Ha ha ha ha!!! Con nhện thông tuệ, sẽ ăn nuốt vô minh, và vô minh là...thức ăn...của...nó!!!
Các bạn!!! Trung Đạo là như thế!!! Nó đích thị là như thế!!!
Như thế và như thế!!!
6. TÂM SỰ THAY TỔNG LUẬN
Như vậy là chúng ta đã sơ lược khảo sát hai ý nghĩa trọng yếu làm tiền đề để vị lai thâm nhập trí tuệ.
Mình nghĩ, khi bài viết này chuyển đến các bạn. Một số bạn sẽ nhân đây mà thành tựu thêm điều gì đó!!! Trong đó cũng có bạn đọc sơ qua rồi xếp nó vào...quá khứ!!! Một số bạn sẽ "ngáp dài" vì quá nhiều chữ!!! Nhân sinh là như vậy, và như vậy chúng ta mới gặp nhau!!!
Mình hy vọng, bài viết này sẽ không vô duyên như lời than thở của Kiều Thi Ca khi nghe Ngài Tu Bồ Đề thuyết pháp: "Bạch Thế Tôn, khi Ngài Tu Bồ Đề tuyên nói về Bát Nhã, chúng con không hiểu. Ngài ấy cố sức thuyết và cho ra nhiều ví dụ, chúng con lại càng không hiểu gì hết..." Ha ha ha ha!!!
Các bạn!!!
Phật dạy rằng: "Một đóm lửa nhỏ, có thể thách thức một khu rừng lớn...". Không biết bài viết này là hữu duyên hay vô duyên, nhưng như Ngài Tu Bồ Đề, dù vô duyên cũng cứ thuyết. Vì thế, mình đã đem hết tâm nguyện để gởi gắm vào bài viết này. Với những mong, nó như một đóm lửa nhỏ, có thể nhen nhúm một chút xíu lửa ít ỏi trong lòng HĐ nào đó. Biết đâu vị lai, đóm lửa nhỏ này có thể thách thức tam thiên đại thiên thế giới rừng rậm vô minh!!!
(23-07-2014)
−−−••• ⁕ ⁕ ⁕ ⁕ •••−−−
[[1]] âm ly (tiếng Anh: amplifier): Máy khuếch đại âm thanh.
[[2]] Trích Kinh Lăng Già; HT. Thích Thanh Từ dịch
Thật Ngữ
Chân lý này, chỉ có những ai thật sự thể nhập, thật sự không còn hư vọng tâm, không hiện khởi hư vọng pháp và đã vứt bỏ cái ngã đảo điên, không chạy theo danh tướng. Mới thấu suốt "cái thiệt" của nghĩa này.

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ
Các bạn!!!
Trong các kinh đại thừa, Phật thường hay tuyên thuyết: "Lời của Như Lai là chân thật ngữ, bất cuống ngữ, bất dị ngữ...". Có nghĩa lời Phật là lời chân thật, chỉ tuyên nói sự thật, sự thật này là chân lý, không nói lời hư dối, sai sự thật, và cũng không có nói nghĩa khác, như các dị thuyết của ngoại đạo.
Kinh đại thừa, Phật cũng thường hay nói đại ý: "Tuy Như Lai tuyên thuyết chân lý (một sự thật đã có và tất nhiên nó là như vậy), nhưng mỗi loài (ba thừa) do căn tánh không đồng, nhận thức sai khác, nên khi nghe lời chân thật ấy, trở thành có sai biệt" (hiểu không đúng bản chất của chân lý từ những lời thật ấy). Sự hiểu biết, nhận thức sai khác về chân lý, là nguyên nhân chính khiến ba thừa và các phương tiện quyền tiểu ra đời.
Để giúp cho ba thừa dần dần từ bỏ hiểu biết và nhận thức sai khác này, Như Lai bèn thuận theo họ mà tuyên thuyết "pháp phương tiện". Pháp này chỉ có giá trị làm công cụ đoạn dứt phàm tâm, tịch diệt phàm tình, không hiện khởi tâm hư vọng và pháp hư vọng, ra khỏi sự mê muội của cái ngã điên đảo, vị lai có thể đắc thành trí tuệ.
Nương nhờ pháp phương tiện, ba thừa chứng thánh quả. Sau khi chứng thánh quả, có nghĩa thấy biết hư vọng của một chúng sanh không còn nữa, bây giờ vị tu hành này mới có cơ may hiểu được ý nghĩa chân thật mà chư Phật đã thuyết. Tức là, sau khi ba thừa dùng phương tiện "tịch diệt hư vọng tâm, hư vọng pháp, và điên đảo ngã" rồi, mới có thể biết đâu là chân thật ngữ, đâu là phương tiện ngữ của Như Lai.
Tức họ "như cái thấy mà thấy chân lý, như cái nghe mà thấu suốt thiệt nghĩa", chứ không như cái hư vọng trước đây mà thấy mà nghe...Kinh gọi cái thấy chân thật này là "thấy thiệt tướng", nghe chân thật này là "nghe thật ngữ"...!!!
Cũng chính vì có sự sai biệt khi nghe một pháp, mà ba thừa hình thành. Sự hình thành "bất đắc dĩ" này, khiến chư Phật phải một phen "lột chiếc áo cao quý, để mặc chiếc áo hôi nhơ" gần gũi chúng sanh để thuyết pháp phương tiện, thuyết kinh bất liễu nghĩa. Việc làm này (thuyết kinh bất liễu nghĩa) cũng chỉ là biện pháp tạm thời giúp chúng sanh từ bỏ hư vọng tâm, hư vọng pháp, chấm dứt cái ngã đão điên, để thấy được chân lý.
Để xác chứng rằng, chân lý (liễu nghĩa) mới là thật pháp, mới là điều chư Phật mong muốn truyền trao. Kinh Đại Niết Bàn, Phật dạy "Tứ Y", trong đó có "Y kinh liễu nghĩa, không y kinh bất liễu nghĩa". Có nghĩa muốn thấu suốt chân lý, chỉ nên y vào lời chân thật (liễu nghĩa), không nên y cứ vào những gì còn nằm trong phạm vi phương tiện (bất liễu nghĩa).
Trước "sự trăn trở này". Kinh chép lại rằng: "Khi vừa thành Đẳng Chánh Giác, chưa rời cội Bồ Đề, Phật quán sát chân lý mà tự thân đã chứng ngộ. Ngài cảm thán rằng: Chân lý này, vượt quá khả năng nhận biết của một hữu tình, làm sao có thể tuyên nói để chúng sanh có thể thấu suốt được. Rồi Phật cũng lại quán: Như một ao sen nhiều hoa, có hoa lên khỏi mặt nước, có hoa nằm trên mặt nước, có hoa còn nằm trong nước... Chúng sanh cũng như thế, căn tánh không đồng. Rồi Phật lại quán: Chư Phật xưa dùng ba thừa để giáo hoá, nay ta cũng dùng ba thừa mà giáo hoá"...Từ trăn trở này, kinh bất liễu nghĩa (dạy ba thừa) ra đời!!!
Sau khi ba thừa đồng chứng thánh quả. Phật lại một lần nữa khẳng định mục tiêu của sự tu hành trong Phật đạo, đó là chỉ nên thể nhập Phật tri kiến, chỉ có Phật thừa và Phật tri kiến mới đưa đến thành tựu Phật quả. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nói rằng: "Đại sự nhân duyên Phật ra đời, là để: Khai thị ngộ nhập Phật tri kiến". Có nghĩa mục tiêu của chư Phật ra đời nhằm giúp mọi chúng sanh có được thấy biết như Phật, để từ thấy biết này mà thành Phật. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa một lần nữa chỉ rõ: "Giáo pháp của chư Phật, không có hai ba thừa, mà chỉ một thừa, đó là Phật thừa". Vì thế, thấy biết và thành tựu của ba thừa chỉ là "quyền tiểu", chỉ là "hoá thành" (hoá thành dụ). Thấy biết này chưa chân thật và chưa đúng với chân lý!!!
Nghĩa không mà Phật đã tuyên thuyết, là một trong những nghĩa chân thật, nói lên sự thật mà mỗi hữu tình khi dứt mê sẽ tự chứng. Vì thế nghĩa không (rốt ráo không) chính là chân lý.
Chân lý này, chỉ có những ai thật sự thể nhập, thật sự không còn hư vọng tâm, không hiện khởi hư vọng pháp và đã vứt bỏ cái ngã đảo điên, không chạy theo danh tướng. Mới thấu suốt "cái thiệt" của nghĩa này.
Trong kinh tạng của Phật, vô lượng lời thật như thế được Thế Tôn tuyên thuyết trước ba cõi. Và những sự thật này, chân lý này, cho đến tận cùng đời vị lai, không một ai có thể "nói ngược lại được". Chính sự phát hiện và những tuyên bố độc đáo này, mà Thế Tôn của chúng ta có danh hiệu là Bậc Đại Giác Ngộ, Đấng Độc Tôn.
Trong phạm vi trao đổi hôm nay, mình xin đề cập đến một số thật ngữ, mà Thế Tôn đã tuyên nói, để các HĐ nghiền ngẫm tư duy:
─ Không tâm (không tự ngã), không pháp (không ngã sở), rốt ráo không, là thật ngữ.
─ Trí tuệ thì bất không, đây cũng là thật ngữ.
Hy vọng, sau những gợi ý này, các HĐ nghiền ngẫm nó, để vị lai thấu suốt cái gì là thật ngữ, thật nghĩa, và sự thành tựu nào mới là chân thật chứng. Có như thế, mới có thể vượt qua khỏi sự nhỏ nhoi quyền tiểu của ba thừa mà vào Nhất Thừa Đạo.
(16-07-2014)
−−−••• ⁕ ⁕ ⁕ ⁕ •••−−−
Ngũ Bất Hoàn Thiên
"Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức". Tâm và thức khi mê, là nguồn gốc sản sanh ra muôn loài. Khi giác sẽ là hang ổ của Hiền Thánh. Nhân nơi Ngộ nhập sẽ thành tựu Niết Bàn. Lúc thấu tình đạt lý, sẽ là Tịnh Quốc độ...

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ
Mình xin góp một vài ý kiến nhỏ về đề tài chúng ta bàn luận mấy hôm nay, để mọi người tham khảo:
1. Chư Thiên (hoặc các cõi).
Được đề cập đến trong kinh điển Phật Giáo, là thứ cảnh giới do những hữu tình đồng phận (phận người, phận súc sinh...) khi tâm ý có sự chuyển biến đủ mạnh làm thay đổi tâm nghiệp hiện hữu, từ đó có thể khiến nghiệp quả thăng lên hay giáng xuống trong hiện tại này. Sự thăng lên hay giáng xuống, sẽ trở thành một đời sống mới, đây là một dạng Ý sanh Thân, Tâm sanh Cảnh, Báo sanh Nghiệp.
2. Thiên giới theo Phật đạo.
Là cảnh giới do bốn yếu tố chính làm nên, đó là: Thiên cảnh do phước báu sanh; Thiên cảnh do tín tâm sanh; Thiên cảnh do thiền định sanh và Thiên cảnh do trí tuệ sanh.
2.1. Thiên cảnh do phước báu sanh.
Gồm Thiên chúng ở cõi dục, thiên chúng này có tên là Lục Dục Thiên, có sáu hạng sau: Tứ thiên vương, Đao lợi, Dạ ma, Đâu suất ngoại viện, Hóa lạc, Tha hóa tự tại. Tứ thiên vương cõi dục gồm: Trì Quốc Thiên Vương (đông), Quảng Mục Thiên Vương (tây), Tăng Trưởng Thiên Vương (nam), Đa Văn Thiên Vương (bắc).
2.2. Thiên cảnh do tín tâm sanh.
Gồm Thiên chúng Lục Dục Thiên và các hoá cảnh do chư Phật hoá hiện, giúp người tu hành đi vào bằng con đường tín tâm. Riêng Lục Dục Thiên ở cõi dục do tin lời Phật, nên kham nhẫn từ bỏ dục tâm, thăng tiến lên cõi trên, bây giờ họ có tên là Bạc Dục Thiên. Khi các vị Thiên này thành tựu "Kiên Cố Tâm" sanh "Tín căn", sẽ nhập vào Ngũ Bất Hoàn Thiên. Các Thiên nhân này sẽ không thối chuyển về dục giới.
2.3. Thiên cảnh do thiền định sanh.
Gồm Ngoại Đạo và Nhị Thừa. Thiên giới này gồm Sắc Giới và Vô Sắc Giới. Sắc giới có cõi Tứ Thiền, gồm Sơ, Nhị, Tam, Tứ Thiền, cõi Tứ Thiền có bốn Thiên Vương là: Vô Vân, Phước sinh, Quảng quả và Ma Hê Thủ La. Vô Sắc Giới có cõi Tứ Không Định gồm, Không Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ, Vô Sở Hữu Xứ và Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Định. Thiên chúng do tu hành sanh, nếu đủ công đức, nghe được chân lý, tín thọ phụng hành và thấu suốt một phần chân lý ấy, sẽ trở thành Ngũ Tịnh Cư Thiên.
2.4. Thiên cảnh do trí tuệ sanh.
Gồm năm bậc là: Vô nhiệt, Vô phiền, Thiện kiến, Thiện hiện, Sắc cứu cánh (hoặc Vô Tưởng Thiên)
a) Gồm các Bồ Tát vãng sanh về cõi này, để tiếp tục tu hành và làm công hạnh. Đó là các Thiên chúng sau: Vô nhiệt, Vô phiền, Thiện kiến, Thiện hiện, Sắc cứu cánh.
b) Thiên chúng cõi Tứ Thiền, Tứ Không Định, trong lúc tu hành, ở các cõi trời nhân nghe Diệu Âm mà phát sanh trí tuệ. Sau khi phát sanh trí tuệ, bằng lòng từ bỏ tâm cảnh hiện có, họ sẽ nhập vào Ngũ Bất Hoàn Thiên. Nếu là cõi sắc, sẽ có năm hạng sau:
Vô nhiệt, Vô Phiền, Thiện kiến, Thiện hiện, Sắc cứu cánh. Nếu là cõi Vô Sắc, sẽ có năm hạng sau: Vô nhiệt, Vô phiền, Thiện kiến, Thiện hiện, Vô Tưởng Thiên. Vì sao nó lại như vậy??? Vì Thiên nhân cõi sắc sẽ trở thành Sắc Cứu Cánh, Thiên Nhân cõi Vô Sắc trở thành Vô Tưởng, họ đã tự vượt qua sắc ấm.
c) Ngũ Bất Hoàn Thiên là Thiên Cảnh được Phật hoá hiện tương ưng cõi Tứ Thiền. Vì thế, có thể đem so sánh Ngũ Bất Hoàn Thiên với các tầng trời Tứ Thiền như sau:
Sơ Thiền ≈ (tương đương) Thiện Kiến và Vô Nhiệt;
Nhị Thiền ≈ Vô phiền;
Tam thiền ≈ Thiện Hiện;
Tứ thiền ≈ Sắc Cứu Cánh (có thể là Vô Tưởng).
3. Chín phẩm tập khí cõi dục.
Theo mình đây là chín tập khí nhằm thoả mãn ham muốn hạ liệt của kiếp nhân sinh, không có đạo lý.
Đó là thói quen giong ruổi của sáu căn: như ham nghe ngóng, ưa phân tích lý sự, kiện thưa gọi chung là "ác giác quán", cộng với thói quen ăn phi thời, thói quen ham thích phóng dật và thói quen tích chứa tài vật, cộng chung mấy món này thành chín món.
Vì thế khi dứt các tập khí này, Thiên nhân cõi trên được gọi là Phạm, tức Phạm chúng, Phạm phụ, Phạm vương. Điều kiện để dứt chín phẩm này là: Phải "thiểu dục tri túc" và "ly ác bất thiện pháp". Thiểu dục tri túc để ngăn chặn dục căn, ly ác bất thiện pháp để thành tựu Phạm căn. Sau đó, dùng thiện giác quán để tiêu trừ ác giác quán thành tựu nội tỉnh căn.
─ Tóm lại: "Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức". Tâm và thức khi mê, là nguồn gốc sản sanh ra muôn loài. Khi giác sẽ là hang ổ của Hiền Thánh. Nhân nơi Ngộ nhập sẽ thành tựu Niết Bàn. Lúc thấu tình đạt lý, sẽ là Tịnh Quốc độ...
─ Kinh dạy: "Tam thế chư Phật, y Bát Nhã Ba La Mật Đa (mà) đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề...". Nơi thiệt không lời, còn một lời, một cảnh nào đó được nói ra, kẻ trí phải biết đây là "quyền" vậy!!!
(14-02-2014)
−−−••• ⁕ ⁕ ⁕ ⁕ •••−−−
Tứ Cú Kệ Đẳng
Là bốn câu kệ có ý nghĩa ngang bằng. Mỗi một câu trong bốn câu, đều có nghĩa lý thông suốt đến các câu kia, có nghĩa thấu suốt một câu là nhất định thấu suốt bốn câu. Vì vậy "tứ cú kệ đẳng" phần lớn chỉ xuất hiện trong Kinh Đại Thừa

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ
Các bạn!!!
Mình xin góp thêm chút ý kiến về "tứ cú". Trong kinh, thỉnh thoảng có nhắc đến tứ cú, tứ cú kệ, tứ cú kệ đẳng.
Xin tạm kiến giải như sau:
1. Cú.
Là câu căn bản, là câu gốc, là mệnh đề chính. Khi thành lập tứ cú, chư Thánh bèn lấy đó tuyên thuyết một pháp hay một bài kinh. Từ một cú hoặc nhiều cú, tức một mệnh đề hoặc hai ba mệnh đề, người xưa bèn nói lên thành một câu hoặc bốn câu kệ. Ví dụ:
Mệnh đề không pháp, Kim Cang Đệ Tứ Cú: Phật diễn nói thành bốn câu kệ để tóm lược mệnh đề này như sau: "Nhất thiết hữu vi pháp... Ưng tác như thị quán..."
Mệnh đề vô phân biệt, Hoa Nghiêm Đệ Nhất Cú: Phật diễn nói thành bốn câu kệ sau: "Người trụ nơi phân biệt... Người này không thấy Phật..."
Và, không nhất thiết khi thuyết kinh, các mệnh đề căn bản người xưa đều phổ thành kệ. Vì thế, trong Nhất Thừa Pháp, nếu biết quy kết mỗi pháp, từng bài kinh thành "những mệnh đề căn bản", thì sẽ hiểu rộng và sâu Pháp đó hơn...
2. Kẹt tứ cú.
Chúng ta thường hay nghe nói ba chữ "kẹt tứ cú". Ba chữ kẹt tứ cú nhằm muốn nói lên điều gì???
Kẹt tứ cú có nghĩa là khi phát biểu, giảng nói về một đề tài nào đó, người phát biểu "không thông suốt" mệnh đề chính làm nên pháp đó. Ví dụ:
Khi thuyết Kinh Kim Cang, mà lời tuyên thuyết khiến người nghe "sinh chấp tướng", lời thuyết này sai với "Kim Cang Đệ Tam Cú". Vì Kim Cang là mệnh đề "không tánh, không tướng, không pháp", nên kinh dạy: "Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng..."
Khi thuyết Bát Nhã, mà khiến người và mình kẹt nơi có không, tức kẹt vào "Bát Nhã Đệ Nhị Cú", có nghĩa người thuyết còn kẹt hữu vô.
Nói chung, "không kẹt tứ cú" là biểu hiện của sự thông đạt điều mình đang tuyên thuyết, nếu tuyên thuyết mà "kẹt tứ cú", biết người thuyết chưa thông, tất nhiên tâm tông cũng chưa thông.
3. Tứ cú kệ.
Tức là bốn câu kệ, bốn câu kệ này có lúc chỉ nói một cú, có lúc nói hai, ba hay bốn cú. Tuỳ hoàn cảnh, tuỳ pháp mà diễn nói.
4. Tứ cú kệ đẳng.
Là bốn câu kệ có ý nghĩa ngang bằng. Mỗi một câu trong bốn câu, đều có nghĩa lý thông suốt đến các câu kia, có nghĩa thấu suốt một câu là nhất định thấu suốt bốn câu. Vì vậy "tứ cú kệ đẳng" phần lớn chỉ xuất hiện trong Kinh Đại Thừa.
Ví dụ câu:
"Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai". Trong bốn câu này, chỉ cần người tu hành thông một câu, không "chấp trước nơi sắc", thì thanh, hương, vị ..v.v... cũng tự tịch diệt, một thông, tất cả thông. Tịch diệt một pháp, các pháp khác đồng tịch diệt theo gọi là "đẳng". Vì thế Kinh Kim Cang Phật dạy: "Nếu người nào thọ trì bốn câu kệ, hoặc nửa bài, hoặc một câu kệ ngắn mà thâm đạt, sẽ phát sinh vô lượng công đức".
Hy vọng, những kiến giải ngắn ở trên, sẽ giúp các bạn hiểu đôi phần về tứ cú. Thấu suốt thế nào là tứ cú các bạn sẽ có cách nhìn rất rõ về mình, người và các pháp đã được thuyết. Đây là loại "Đại Tổ Tông Thượng Thừa Chiêu Quyết". Ha ha ha ha!!!
Ai thông đạt chiêu quyết này, nhất định dần dần sẽ thành tựu "Thuyết Thông và Tông Thông".
Trong Phật Đạo, chiêu quyết này thuộc loại "bí mật ngữ ngôn" như A, Án, Hà, Lô... Lê, Gia, Hư... Nay mình sơ lược giới thiệu đến các bạn. Vị nào học được, sẽ mở "Đại môn" để vào thành "Đại Niết Bàn" mà "Cuỗm cuốn Bát Nhã thứ 25" của Lão Đại Tổ Tông.
Vì sao thế gian chỉ lưu truyền có 24 quyển Bát Nhã???
Vì rằng ngày xưa, Tát Đà Ba Luân khi đi cầu Bát Nhã Trí, gặp Đại Sư Đàm Vô Kiệt, mừng quá, y ta mắt nhắm mắt mở chụp 24 cuốn, sau đó trốn biệt ngàn không quay đầu lại, 24 cuốn chỉ là tương tợ Bát Nhã chứ chẳng phải Bát Nhã, Bát Nhã chơn thiệt nằm ở cuốn thứ 25. Vì thế, y ta không biết rằng, trong Phật Môn có đến 25 quyển Bát Nhã.
Quyển 25 này, Đàm Vô Kiệt Đại Sư để trong cái trắp bằng chiên đàn, khoá bằng ổ khoá xịn hiệu Rolex kèm theo khoá số điện tử bốn mươi số, cái trắp nằm ở bên phải đầu giường thất bảo, chuyện này Tát Đà Ba Luân không thấy không hay không biết, không ngờ!!! Hu hu hu hu!!! Thiệt tội nghiệp cho cái sự bán thân cầu Bát Nhã mà hấp tấp lấy thiếu bửu bối!!!
(09-12-2013)
Các bạn!!!
Có vị HĐ hỏi mình, căn cứ vào đâu để biết đó là đệ nhất, đệ nhị cú ..v.v...
Xin Trả lời: Thứ đệ cú là pháp ấn của một cảnh giới, có cảnh giới phải thành tựu bốn pháp ấn, có cảnh giới một pháp ấn..v.v...Vì thế, khi tuyên thuyết mới có đệ nhất, đệ nhị cú, như Kim Cang Đệ Tam Cú, Hoa Nghiêm Đệ Nhất Cú..v.v...
Để biết được tứ cú trong một bài kinh là những câu nào, câu nào trước câu nào sau, thứ đệ ra sao..v.v... Phải là người thông thuộc giáo pháp, hiểu rõ chỉ thú tu hành, nắm vững các bước phát triển để hình thành bài kinh, gọi là danh cú hình. Và quan trọng, phải thông suốt con đường tiến về Vô Thượng Bồ Đề tuần tự trải qua những cảnh giới nào. Từ đó, mới có thể quy kết và giảng nói cho người mà không phạm tứ cú.
(10-12-2013)
Sắc Vô Thường, Sắc Thường Trụ
Này Kiều Trần Như!!! Sắc là vô thường, hễ cái gì vô thường, sẽ biến hoại và là nhân của phiền não. Vì thế, này Kiều Trần Như!!! Không lấy sắc làm ta, làm ngã của ta và tự ngã của ta. Diệt sắc vô thường, sẽ được sắc giải thoát, và sắc thường trụ. Thọ, tưởng, hành, thức, cũng đều như vậy..

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ
Các bạn!!!
Hôm trước, có HĐ hỏi mình ý nghĩa của câu: "Diệt sắc vô thường, sẽ được sắc thường trụ". Nhân đây, xin chia sẻ những gì giữa mình và HĐ này đã trao đổi:
Câu này nằm trong bài kinh đầu tiên, Phật thuyết cho năm anh em Kiều Trần Như ở Vườn Lộc Uyển. Nếu nói đầy đủ, thì lời kinh phải như thế này:
"Sau khi ba lần tuyên xưng ta là Như Lai Đẳng Chánh Giác... Với 32 tướng tốt đầy đủ... Phật lại tuyên thuyết: Này Kiều Trần Như!!! Sắc là vô thường, hễ cái gì vô thường, sẽ biến hoại và là nhân của phiền não. Vì thế, này Kiều Trần Như!!! Không lấy sắc làm ta, làm ngã của ta và tự ngã của ta. Diệt sắc vô thường, sẽ được sắc giải thoát, và sắc thường trụ. Thọ, tưởng, hành, thức, cũng đều như vậy..."
Ở đây, mình xin nêu lên quan điểm cá nhân về ý nghĩa của câu: "Diệt sắc vô thường, sẽ được sắc giải thoát, và sắc thường trụ"
Theo mình: Chữ sắc trong đoạn kinh này, phải hiểu là "sắc thân" tức một ấm trong năm ấm. Vì sau đó có câu: Thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như vậy.
1. Sắc có ba thứ:
− Sắc vô thường: Chỉ cho "thân nghiệp" của phàm phu, nó thuộc về "phần đoạn sanh tử". Sanh diệt theo nghiệp.
− Sắc giải thoát: Chỉ cho sắc thân của bậc thánh, thân này theo nguyện sanh, nó thuộc về "bất tư nghì biến dịch sanh tử". Vì thế, chư thánh có thân, nhưng không bị thân trói buộc. Có thân mà không bị thân trói buộc gọi là sắc giải thoát. Thân này, ứng với câu: "Trong vô số kiếp làm công hạnh Bồ Tát, Như Lai đã lại qua cõi Diêm Phù này với vô lượng danh hiệu sai biệt. Lúc làm quỷ vương, lúc làm chư thiên, lúc làm nai..."
− Sắc thường trụ: Đây là Phật Thân, nó thuộc về "Tối hậu thân". Chư Phật, khi thành Đẳng Chánh Giác, thân của Phật là thân rốt sau. Cho dù tại thời gian nào, ở đâu, thân Phật đều không biến đổi. Sự không biến đổi này gọi là "Sắc thường trụ". Ví dụ như Thân Phật Thích Ca Mâu Ni, ở đâu cũng đầy đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp.
2. Thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như vậy.
Câu này có nghĩa, nếu như pháp mà tu hành thì, bốn ấm còn lại cũng "tuần tự nhi tiến" giống như sắc ấm. Tuần tự dứt "Thọ Vô Thường", sẽ chứng nhập "Thọ Giải Thoát" và rốt cùng là "Thọ Thường Trụ". Tưởng, hành, thức ấm cũng tiến như vậy.
Sự tuần tự thăng tiến từ phàm phu đến thánh và rốt cùng là Phật.
3. Tương ứng với ba lời kinh sau.
─ "Hết thảy chúng sanh đều có Phật Tánh". Câu này, cho biết rằng, mọi hữu tình đều có chủng tử Phật, nhưng bị ngũ ấm ngăn che, ngũ ấm có thể diệt mất vì vô thường. Có nghĩa, ngũ ấm vô thường có thể diệt, nhưng Phật Tánh là thường, không thể bị hoại diệt.
─ "Trong ngũ ấm có Phật Tánh". Câu này, nhằm chỉ ra rằng: Nếu ngũ ấm không còn ngăn che, trói buộc, thì Phật Tánh sẽ hiện diện.
Ngũ ấm rỗng suốt, không còn ngăn che, kẻ trí nếu khéo phương tiện, có thể nhận ra Phật Tánh đang ẩn tàng trong đó. Đây là lý do vì sao, chư Bồ Tát sau khi đã "ngũ uẩn giai không" liền phát đại nguyện học Phật Trí để thấy Phật Tánh. Chư Thánh vì nghĩa này nên không giải thoát triệt để tức không chứng thiệt tế.
Thân bây giờ trở thành công cụ thâu giữ trí tuệ và làm lợi ích cho người, nó là chiếc hộp vô giá đựng châu báu trí tuệ vô giá, đây là lý do vì sao Phật Đa Bảo phát nguyện ở đâu có thuyết Diệu Pháp Liên Hoa, tức khai mở trí tuệ, sẽ đem nguyên nhục thân cùng bảo tháp đến đó cúng dường!!!
─ "Ngũ ấm là Phật Tánh". Câu này, khiến Bồ Tát Nhất Thừa "Nhiếp Thọ Chánh Pháp Vô Dị Biệt" để "Viên Mãn Phật Trí" thành tựu Đạo Quả.
Các bạn!!!
Đoạn kinh đã dẫn ở trên, còn một nghĩa nữa, mình có thắc mắc muốn hỏi các bạn. Đó là, theo những gì kinh mô tả lại. Trước khi Phật mở màn cho "mùa mưa đại pháp 49 năm". Phật ba lần tuyên thuyết: "Ta là Như Lai Đẳng Chánh Giác"
Hỏi: "Này Kiều Trần Như!!! Ta là Như Lai Chánh Đẳng Chánh Giác". Ba lần tuyên thuyết câu này có ý nghĩa gì trong thời điểm hiện tại???
Cũng theo kinh thì: Sau khi tuyên thuyết câu nói trên. Năm anh em Kiều Trần Như dù trước đó không muốn đón tiếp Thái Tử, họ hiểu lầm Thái Tử đã từ bỏ tu hành, từ bỏ khổ hạnh, trở về với đời sống thế tục ..v.v... Khi nghe ba lần câu trên (Ta là...), đã vội vã đứng dậy, cung kính đón tiếp Phật và nhường toà ngồi cao nhất.
Vấn đề được đặt ra là: Năm anh em Kiều Trần Như căn cứ vào đâu, sau khi nghe nói như vậy đã thay đổi thái độ ứng xử, khác với những gì năm người này đã trao đổi và nhất quán với nhau trước đó là: "Sẽ không tiếp Thái Tử"???
Rất mong nhận được ý kiến từ các bạn!!!
(14-11-2013)
−−−••• ⁕ ⁕ ⁕ ⁕ •••−−−