Giải Bài Toán Cuộc Đời
Nên dành công sức, trí tuệ để "giải bài toán cuộc đời bằng Phật Pháp".

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ
Các bạn!!!
Đừng bận tâm chuyện đó nữa. Nên dành công sức, trí tuệ để "giải bài toán cuộc đời bằng Phật Pháp".
Người đời, dùng những kiến thức và cách của đời để giải bài toán cuộc đời. Vì thế đáp số của nó luôn luôn là khổ, phiền não và sanh diệt.
Người tu hành như chúng ta, học cách của Phật đã dạy, ứng dụng giải bài toán cuộc đời. Vì học cách của Phật, áp dụng những kiến thức mà Phật đã dạy, để giải bài toán cuộc đời, khi bài toán đã được giải và giải đúng. Kết quả của nó sẽ là: Vô Lậu, Thanh tịnh, Bất Động, Giải Thoát, và Siêu Việt ...
Muốn giải được bài toán cuộc đời, cho dù bằng cách nào, đời hay đạo đều phải "động não". Trí tuệ là cách nói khác của động não.
Chính sự động não, sự đào sâu, sự miệt mài, sự chi li, sự cẩn trọng, sự đối chiếu, sự bức phá, sự cố vượt lên, sự ra khỏi chính mình, sự buông xả cái cũ, sự dám buông xả cái mới, sự dám buông xả điều đã học, sự dám dấn thân để khám phá, sự siêu việt lên khỏi cái tầm thường v.v... Có vô lượng cái sự sự sự...như thế, là nền tảng để làm nên những đẳng cấp tu hành.
Phàm, Thánh, Bồ Tát, Đại Bồ Tát, Thập Trụ, Thập Địa, Nhị thừa, Nhất Thừa. ... Là những tầng bậc khác nhau, biết ứng dụng kiến thức Phật Giáo một cách chân chánh để "giải bài toán cuộc đời, dưới những dạng thức khác nhau".
Giống như một người học trò, để giải một bài toán khó đã được Thầy giáo cung cấp các kiến thức cần thiết. Bây giờ người học trò này nên làm gì nào???
Người học trò chắp hai tay vào nhau, nghiêm cẩn cầu nguyện để có được đáp án???
Người học trò tìm một nơi thanh vắng, rồi ngồi xuống trong cái thanh vắng này, hy vọng với tâm u nhàn, đáp số bài toán sẽ hiện ra???
Người học trò dập tắt mọi nghĩ suy, cầu mong mọi nghĩ ngợi chóng quên, trong cái ngu ngơ này, đáp số bài toán thành tựu dưới sự mầu nhiệm nào đó???
Người học trò đối trước hình ảnh người Thầy, đốt nén nhang lòng, cầu mong trong làn khói mỏng manh kia, có được sự trợ giúp linh thiêng hư ảo hiện về để giải quyết bế tắc???
Hay người học trò, dùng mọi kiến thức có được, nhất tâm tư duy, dùng hết sức tư duy, quyết tìm ẩn số ... Rồi kết hợp những thứ đó để giải bài toán khó này???
Khi người học trò, có được một lần, tự nỗ lực giải thành công một bài toán khó dưới một dạng thức bất kì. Có nghĩa người học trò này tiến lên một cột mốc mới, tự thân vượt qua sự ù lì cố hữu của não bộ. Sau lần tự vượt qua này, nhất định người học trò sẽ hoan hỷ, an lạc, tự tại và sẽ siêu việt lên chính mình. Và từ đây, người học trò với quyết tâm và trí tuệ, sẽ tự tin rằng: "Không có bài toán khó, nếu ta có đủ kiến thức và quyết tâm cao"!!!
Người tu hành trong Phật Đạo, chính là những người làm công việc giải tất cả các bài toán cuộc đời dưới mọi dạng thức bằng "chính trí tuệ của mình"!!!
Tôi rất vui, khi hôm đó nói chuyện với HĐ ở quán cà phê về đề tài này. Và tôi nhìn thấy trong ánh mắt, nụ cười của HĐ có phần nào đó đồng cảm và đồng tình. Một sự đồng cảm theo tôi là "hiếm hoi" mà tôi đã bắt gặp ít ra cho đến lúc này!!! Phật Đạo là như vậy đó...!!!
Người đời, buồn quá... Đi xem hát...!!! Hu hu hu hu!!!
Người tu hành, buồn quá... Ngồi thiền...!!! Hi hi hi hi!!!
Kẻ có trí, buồn quá... Dùng Phật pháp giải bài toán cuộc đời...!!! Ha ha ha ha!!!
Theo HĐ, chúng ta nên: Làm người đời, người tu hành, hay nên làm người có trí trong Phật đạo???
Có cần tìm cách quên sợi tóc phiền não, bằng cách đốt sợi tóc phiền não, hay nên chia chẻ thật chi li ‘sợi tóc phiền não’ để tìm xem vì sao chú mày hiện diện ở đây và bản chất thật của chú mày là gì...!!!
Ha ha ha ha!!!
Hãy chia chẻ sợi tóc cuộc đời bằng lưỡi gươm Phật Pháp đến rốt ráo, nhất định sẽ tìm thấy đáp án.
Phật đạo có tám món chánh, giúp người chẻ hoàn hảo một sợi tóc để có bốn mươi hai phần bằng nhau.
- Chánh kiến: Sự hiểu biết tốt nhất về Phật Pháp.
- Chánh tư duy: Ứng dụng những kiến thức này thông qua não bộ một cách tích cực.
- Chánh nghiệp: Không còn thấy bài toán khó.
- Chánh định: Bài toán đã được giải và giải đúng...
Chúc HĐ tinh tấn
(30-09-2013)
−−−••• ⁕ ⁕ ⁕ ⁕ •••−−−
Thuyết Thông Và Tông Thông
Sức mạnh của chân lý nằm trong thuyết thông, ở đâu có chân lý ở đó có tông thông, ở đâu có tông thông ở đó có thuyết thông, ở đâu có thuyết thông ở đó có Phật pháp, ở đâu có Phật pháp ở đó là chánh pháp, chánh pháp ở đâu ở đó có Phật!!!

Các bạn !!!
Tối nay, nhận được Bản Dự Thảo Anh Lạc Luận I từ email của Anh Phúc !!!
Thế là, mình phải đọc thật kĩ từng bài, duyệt lần cuối để cuốn sách dự tính phát hành chính thức vào đầu năm Canh Tý (2020) !!! Công việc cần tỉ mỉ, soi từng dấu chấm, dấu phẩy, từng câu, từng chữ...với mục tiêu tìm ra các thứ lỗi để khắc phục !!!
Mình đọc một lèo, từ 19 giờ 19 phút đến 21 giờ 22 phút...giải quyết được 194 trang, bỗng dưng cảm giác trong bụng có vấn đề !!! Ha ha ha ha !!! Phát hiện ra, mải miết đọc, quên ăn tối !!! Thế là, bèn nấu nước sôi để chơi một gói mì !!!
Chế nước sôi vào gói mì xong, để đó và tiếp tục đọc !!! Có thể nói, đối với mình, những bài viết trong Anh Lạc Luận bài nào cũng hay, đọc đến đâu thấm đến đó... Mỗi bài, mỗi bài đều chứa trong nó chiếc chìa khoá mở cánh cửa đạo pháp, mình đọc say sưa đến quên cả trời đất !!! Hu hu hu hu !!! Đọc một tăng, gói mì nở tét lét !!! Nhưng đói bụng quá, ăn cũng...rất...ngon...lành !!!
Tất nhiên đây chỉ là cảm nhận cá nhân !!! Có thể do mình quá hiểu những gì đã viết, nên thấy nó hay !!! Do quá hiểu những gì đã viết, nên bài nào cũng bắt gặp chiếc chìa khoá mở cửa đạo pháp trong đó !!! Còn người khác đọc, chưa chắc đã có cảm nhận như vậy !!!
Đọc đến bài Thuyết Thông Và Tông Thông, tâm trí mình thiệt cao hứng !!! Bài viết đã chỉ cho người tu hành cách nhận diện thế nào mới là ngôn thuyết của chánh pháp !!! Thế là, mình quyết định copy bài viết gởi đến các bạn trong Chuyên Mục Chuyện Bên Lề (45) đăng vào sáng hôm nay, coi như bước khởi đầu cho kế hoạch năm 2020 !!!
Mình chân thành cảm ơn Anh Phúc !!! Vị HĐ đáng kính của LÝ GIA, hầu như không hề biết mệt mỏi là gì !!! Bên chiếc máy tính, chẳng quản ngày đêm, đã dốc lòng trau chuốt... để bản dự thảo mình đang đọc hiện tại chưa tìm thấy một lỗi nhỏ nào !!!
03 giờ 57 phút 16/12/2019
LÝ TỨ
THUYẾT THÔNG VÀ TÔNG THÔNG
Trong Pháp Bảo Đàn Kinh, Lục Tổ Huệ Năng có để lại bốn câu kệ bất hủ. Đó là:
“Thuyết thông và tông thông
Như nhật treo hư không
Duy truyền pháp kiến tánh
Xuống thế phá tà tông”.
Chiêm nghiệm bốn câu này, sẽ thấy chỗ sâu thẳm của đạo. Bốn câu kệ ngắn, nhưng hàm chứa tôn chỉ, mục đích cũng như tinh hoa của Phật đạo.
Phật Đạo trước sau không khác nhau, ngày trước Thế Tôn dạy "Duy Tuệ Thị Nghiệp" và thể hiện thông điệp này bằng câu nói:
"Ta có hai thứ thông
Thuyết thông và tông thông
Thuyết dạy kẻ đồng mông
Người tu hành dạy tông thông".
Sau 33 đời truyền thừa, vị Tổ cuối cùng đã đúc kết bằng bốn câu kệ trên, điều này nói lên tôn chỉ bất di bất dịch và nhất quán của Phật đạo, đó là giúp mình và giúp người thành tựu hai thứ thông.
Tông thông và thuyết thông của Phật đạo, vừa là cứu cánh tối thượng, vừa là phương tiện chính thống. Tông thông là chỗ thấu đạt, thuyết thông là phương tiện truyền cái thấu đạt đó đến người nghe.
Bốn câu kệ của Lục Tổ, còn là lời mách bảo để đời sau biết đâu là dấu vết để tìm về với đạo, đồng thời cũng là lời cảnh báo cho những ai còn mơ hồ, hoặc không thấy được mục tiêu chân chính của Phật đạo.
49.1. Thế nào là thuyết thông ???
Thuyết là ngôn thuyết, suốt cuộc đời hoằng hoá của Đức Phật, là bốn mươi chín năm miệt mài thuyết pháp. Ngôn thuyết là công cụ chính, là kênh truyền dẫn thông tin chủ yếu từ Phật đến người tu hành. Nếu kênh này trục trặc, hoặc ngôn thuyết không thông, nhất định mọi sự tu hành của đệ tử bị bế tắc.
Thuyết thông, là thứ ngôn thuyết đưa người nghe từ kẹt mắc đến thông suốt, đưa người từ u mê ra ánh sáng, đưa người từ khổ phiền não đến an vui, đưa người từ bị cột trói thẳng đến Niết Bàn, đưa người từ nô lệ cho thức nghiệp trở thành làm chủ trí tuệ, đưa người từ phàm phu lên địa vị bậc thánh, đưa bậc thánh đến vô thượng quả.
Do tính chất đưa người như vậy, nên Bát Nhã Trí, Bát Nhã Âm được ví như một con thuyền, gọi là "Thuyền Bát Nhã". Văn tự Bát Nhã hay ngôn thuyết Bát Nhã là công cụ duy nhất có năng lực đưa người từ bờ mê đến bến giác.
Trong những giai đoạn đưa người kể trên, mỗi giai đoạn đòi hỏi ngôn thuyết phải thông suốt. Ngôn thuyết thông suốt, giống như tấm bản đồ hoàn hảo, mọi thứ được phơi bày cụ thể ở đó và ghi chú rõ ràng. Giống như kỹ thuật nhận dạng hay chỉ đường, muốn giúp nhận dạng về một ai đó, thông tin của đối tượng cần tìm phải được cung cấp đầy đủ, càng cụ thể, càng chi tiết, càng minh bạch, việc tìm kiếm sẽ rất dễ dàng.
Ngôn thuyết trong Phật đạo chính là tấm bản đồ biết nói, là khoa học nhận dạng, là kỹ thuật tìm kiếm, giúp người tu hành đến nơi cần đến, loại bỏ những gì cần loại bỏ, tránh xa ngộ nhận, thông suốt các giai đoạn tu tập, phá bỏ những cản ngại không cần thiết trên con đường tu hành.
Ngôn thuyết thông suốt, là biểu hiện của tâm trí thông suốt, tâm trí không thông suốt nhất định ngôn thuyết không thông suốt. Giống như mô tả căn nhà của chính mình với một người nào đó, không thể có chuyện người chủ không thể mô tả đầy đủ, hoặc có điều gì đó không hiểu biết về căn nhà của mình. Thuyết thông của Phật đạo, chính là việc mô tả từ cạn đến sâu của một thứ tâm đã được giác ngộ rốt ráo thông qua sự thấu hiểu của trí tuệ, sự mô tả này giúp người nhận dạng và hướng người tìm đến thứ tâm trí thông suốt ấy.
Hay nói khác hơn, thuyết thông là một trong những công cụ giao tiếp và truyền đạt của văn hoá vô lậu.
Cho nên, thấu suốt Phật pháp để có được thuyết thông là yêu cầu bắt buộc đối với người học, là điều kiện không thể thiếu của một người thầy. Đây là lý do vì sao Phật giáo có đến tam tạng kinh điển với số lượng đồ sộ nhất, so với bất kỳ một tôn giáo nào trên đời.
Kinh điển chính là sách giáo khoa, là công cụ giảng dạy, giúp người học trò thấu đạt môn học của mình. Kinh điển chính là những quyển sách ghi lại lời dạy của Thế Tôn, được chuyển từ ngôn ngữ sang văn tự. Nói khác hơn, kinh điển chính là lời dạy của Phật. Vì thế, thông suốt kinh điển tâm trí mới thông suốt, tâm trí thông suốt ngôn thuyết sẽ thông suốt.
49.2. Thế nào là tông thông ???
Tông hay tôn là chủ, tức cái chủ đạo, cái gốc của mọi vấn đề, cái chính để mọi thứ quay về đó nương tựa. Trong Phật đạo, chữ tông được hiểu đó là tâm và trí, gọi là Phật Tâm Tông. Tông thông chính là tâm và trí thông suốt.
Nếu như chúng sanh, tâm và thức là hai thứ không thể tách rời nhau. Trong Phật đạo tâm và trí cũng là hai món không thể tách rời nhau gọi là không hai. Trí giống như đèn, tâm giống như ánh sáng, đèn lớn ánh sáng mạnh, đèn nhỏ ánh sáng yếu. Phật trí và Phật tâm giống như mặt trời và ánh sáng, cái này có thì cái kia có, thấy ánh sáng biết có mặt trời, có mặt trời tất nhiên có ánh sáng. Để có thể giúp người tu hành thành tựu, ngôn thuyết chính là phương tiện chủ yếu từ Đạo sư đến người tu hành, bậc Đạo sư tâm trí có thông thì ngôn thuyết mới thông.
Nếu, tâm và trí là nguồn sáng, ngôn thuyết là ánh sáng, thì ngôn thuyết chính là biểu hiện của "chữ tuệ" trong Phật đạo. Tuệ là sự phát sáng, là năng lực làm ảnh hưởng người khác bằng lời nói, là sức nóng từ lời nói phát ra làm khô héo phiền não, đây là lý do vì sao trong Phật đạo có hai từ "trí tuệ". Điều này, kinh Đại Bát Nhã gọi là Bát Nhã lực, Bát Nhã Âm, Tuệ Bát Nhã...v.v... Tức sức mạnh của trí
tuệ thông qua ngôn thuyết!!!
Như vậy có thể kết luận, để đánh giá mức độ thành tựu của một người trong Phật đạo, ngôn thuyết của người ấy chính là biểu hiện của tâm và trí. Sự chứng ngộ được thể hiện qua ngôn thuyết chính là dấu hiệu nhận biết cụ thể nhất.
Trong kinh Phật cũng dạy, "trong các thứ thần thông, thần thông ngôn thuyết là tối thắng nhất". Mọi thứ trên đời đều có thể giả mạo, thần thông ngoại đạo cũng có, hình tướng ma quỷ có thể biến hoá, chỉ trừ thứ ngôn thuyết của trí tuệ là không thể giả mạo. Nếu một ai đó giả mạo được thứ này, vị giả mạo đó đáng được người tu hành cung kính lễ lạy. Vì rằng, giả được tâm và trí của thánh của Phật, vị đó chính là thánh là Phật vậy. Giống như một người làm giả ngọn đuốc, ngọn đuốc giả có ánh sáng và sức nóng không khác gì ngọn đuốc thật. Ngọn đuốc giả bây giờ chính là ngọn đuốc thật, vì nó làm được những điều hoàn hảo của một cây đuốc!!!
Điều này được thể hiện trong bài kinh kể chuyện người Bà La Môn đi tìm Phật, người Bà La Môn trên đường đi tìm Phật để cầu học, đêm đến Phật và tăng đoàn ngủ trong lò gốm, vị Bà La Môn cũng đến đó xin ngủ nhờ và người đó không biết Phật là ai, cũng như không biết Phật đang ở nơi đây. Trước khi ngủ, người Bà La Môn nghe Phật nói chuyện và nhận ra chân lý, người này sụp lạy, cho rằng đây mới là Phật, không cần tìm Phật ở nơi khác. Câu chuyện cho thấy, không phải bằng một thứ gì khác, mà chính thuyết thông đã giúp vị Bà La Môn kia nhận ra đấng Thế Tôn đang ở trước mặt.
Sức mạnh của chân lý nằm trong thuyết thông, ở đâu có chân lý ở đó có tông thông, ở đâu có tông thông ở đó có thuyết thông, ở đâu có thuyết thông ở đó có Phật pháp, ở đâu có Phật pháp ở đó là chánh pháp, chánh pháp ở đâu ở đó có Phật!!!
49.3. Những dấu hiệu của tông thông và thuyết thông!!!
Bước đầu tu học trong Phật đạo, là đi tìm học các pháp vô lậu để dứt phiền não lậu hoặc, pháp vô lậu sẽ được tìm thấy thông qua dấu hiệu của ngôn thuyết vô lậu.
Vì thế, văn hoá vô lậu mà đại diện là thuyết thông là nét riêng của Phật đạo, giúp người cầu đạo không bị nhầm lẫn với một loại đạo khác. Giống như người lạc giữa rừng ban đêm, muốn nhận diện các loài thú, phải phân biệt qua tiếng kêu, mỗi loài có một tiếng kêu riêng, không thể loài này kêu tiếng loài kia. Đây là cách nhận dạng tối ưu để có thể phân biệt giữa thông và không thông trong Phật đạo.
49.4. Các đặc điểm của thuyết thông !!!
a) Khi tuyên thuyết có bốn thứ vô uý, đó là: Thuyết đạo khổ vô uý, thuyết đạo diệt khổ vô uý, thuyết lậu tận vô uý và thuyết nhất thiết trí vô uý.
b) Khi tuyên thuyết, luôn luôn đầy đủ bốn thứ vô ngại, đó là: Từ vô ngại, nghĩa vô ngại, pháp vô ngại và biện tài vô ngại.
c) Trong ngôn thuyết không kẹt tứ cú, đó là: Chẳng dính mắc nơi đồng, chẳng dính mắc nơi dị, chẳng dính mắc nơi có, chẳng dính mắc nơi không, chẳng dính mắc nơi chẳng phải có, chẳng dính mắc nơi chẳng phải không.
d) Trong ngôn thuyết không làm nhiễm ô tâm người bởi bốn thứ bịnh, đó là: Bịnh nhậm, bịnh tác, bịnh chỉ, bịnh diệt.
e) Trong ngôn thuyết không có biểu hiện của bốn tướng, đó là: Tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sinh, tướng thọ giả.
Năm thứ vừa kể trên, là các dấu hiệu nhận biết của ngôn thuyết được xuất phát từ tâm trí vô lậu, gọi là tông thông và thuyết thông. Năm thứ này giống như tiếng gầm rống của sư tử chúa, không một loài nào có thể bắt chước được.
49.5. Thế nào là tà tông ???
Tà là thiên lệch, là không đúng với chánh. Tà tông là những tôn chỉ không phù hợp với chánh tông, không bắt nguồn từ gốc rễ của đạo trí tuệ, cũng không thành toàn cho người sự nghiệp trí tuệ.
Tà là tà kiến, tức những kiến giải không giúp người thành tựu vô lậu tâm và vô lậu trí.
Nói chung, tà tông là những tôn chỉ, những phương pháp tu tập không được dẫn đạo bởi hai thứ thông nói trên.
49.6. Kết luận !!!
Thuyết thông và tông thông là nét đặc trưng của Phật đạo. Nó là thứ thần thông ngôn thuyết có thể khiến kẻ mê dứt mê, khiến kẻ chưa giác ngộ sớm giác ngộ, khiến kẻ đã giác ngộ thành tựu trí tuệ, khiến người thành tựu trí tuệ có được đạo quả vô thượng.
(11-09-2013)
* BQT chỉ mới nhận được 2 bài viết trả lời TCTT - 05/2019 của Cảnh (Cần Thơ) và của Khương (Hà Nội)...Ngày 23/12/2019, TCTT - 05/2019 chính thức khép lại !!!

Các Địa Vị Trong Phật Đạo
Trong Phật đạo, những điểm phải đến và bắt buộc phải dừng chân, đó là những quả vị được nhắc đến nhiều trong kinh như: Thiện Kiến Địa, Tu Đà Hườn Địa, A La Hán Địa, Sơ Phát Tâm Địa, Quán Đảnh Địa, Bất Động Địa, Thiện Huệ Địa, Pháp Vân Địa.

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ
Các bạn!!!
Sáng nay, mình có cuộc trao đổi với một số HĐ. Buổi trao đổi gồm nhiều đề tài, nhưng cốt lõi vẫn là chuyện các địa vị trong Phật đạo. Mình xin tóm tắt nội dung câu chuyện như sau:
Trong Phật đạo có rất nhiều địa vị. Từ một chúng sanh phát tâm tu hành cho đến Phật quả, có thể nói không một ai trên đời có thể biết rõ những quả vị đó, trừ Đức Phật. Các Bồ Tát vào Như Lai Địa cũng biết, nhưng không rõ ràng bằng Đức Phật.
Các quả vị của Phật đạo người tu hành phải trải qua, giống như người đi trên một quảng đường dài vô tận, theo lời Phật dạy, phải mất ba vô số kiếp. Trên quãng đường này, người đó đi qua không biết cơ man nào là cảnh lạ. Cứ mỗi cảnh lạ, người lữ hành tiến đến là một cảnh giới, nếu vị đó lấy cảnh giới làm cơ sở tương ưng với tâm rồi đi tiếp, gọi là kiến thiệt tế, nếu vị này dừng trụ ở đó, gọi là chứng thiệt tế.
Có những quãng đường và những cảnh duyên người lữ hành chú ý, và cũng có rất nhiều cảnh người này tuy có đi qua nhưng chẳng để lại một ấn tượng nào. Về sau, có ai đó nhắc đến hay gợi ý, vị này mới mường tượng rằng hình như mình cũng có thấy. Đây là lý do vì sao, khi đọc kinh đến một địa vị nào đó các bạn lại thấy quen quen.
Trên quãng đường dài như vậy, có những thành phố hoặc thị tứ bắt buộc người lữ hành phải dừng chân vì nhiều lý do khác nhau, nếu không dừng chân ở đó, sẽ không thể tiếp tục cuộc hành trình.
Trong Phật đạo, những điểm phải đến và bắt buộc phải dừng chân, đó là những quả vị được nhắc đến nhiều trong kinh như: Thiện Kiến Địa, Tu Đà Hườn Địa, A La Hán Địa, Sơ Phát Tâm Địa, Quán Đảnh Địa, Bất Động Địa, Thiện Huệ Địa, Pháp Vân Địa. Nói khác đi, đó chính là những quả vị căn bản của Thanh Văn, Thập Trụ Bồ Tát và Thập Địa Bồ Tát.
Cũng chính điều này mà mười địa vị của HĐ hỏi, (thật ra ngài Tu Bồ Đề liệt kê nhiều hơn), chúng ta ít thấy nhắc đến và cũng không được kinh giải thích cụ thể. Nó chính là những thành phố hay thị tứ người lữ hành đi qua mà không để tâm đến, hoặc cảm nhận một cách mơ hồ. Nói chung đối với địa vị tu hành, những cảnh giới này "không thuộc loại quan trọng phải dừng chân".
Những địa vị quan trọng của Phật đạo đã nêu ở trên, là những cột mốc bắt buộc người tu hành phải đến và dừng chân một thời gian. Nó giống như những điểm tập kết, tiếp tế lương thực, cung cấp phương tiện cho đoạn đường kế tiếp. Không đến đó thì không thể đi tiếp.
Chừng nào, người tu hành vào thành Thiện Huệ, trong công hạnh giáo hoá, vị này nhập Như Lai Địa, sẽ tự biết các cảnh giới để dạy chúng sanh. Phật đạo gọi là tự thông, thuật ngữ có tên "Giải Liễu Nhất Thiết Chư Cảnh Giới Đà La Ni".
Trên đây, chỉ là những khái quát về các địa vị trong Phật đạo. Hy vọng bài viết ngắn, nhưng sẽ giúp các bạn có cái nhìn rõ hơn về các địa vị, để khi đọc kinh hoặc bắt gặp đâu đó, không ngỡ ngàng trước những địa vị lạ.
(07-06-2013)
−−−••• ⁕ ⁕ ⁕ ⁕ •••−−−
Sắc Giải Thoát
Viên mãn hai phần: Công đức và trí tuệ, tức thân tướng đầy đủ và trí huệ tối thượng, Bồ Tát này nhập “Tối hậu thân” còn gọi là “sắc thường trụ” giống như thân Thích Ca Mâu Ni, từ cung trời Đâu Suất đản sanh chứng Vô Thượng Bồ Đề. Đây mới được gọi là “thân rốt sau”. Vì thế mới có danh xưng “Chánh Đẳng Chánh Giác” tức thân và trí đồng chư Phật 10 phương.

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ
Bài viết nhằm trả lời thắc mắc của một số HĐ về Sắc giải thoát và Sắc thường trụ...
1. Sắc gồm nội sắc và ngoại sắc.
Nội sắc: Gồm thân và những món thuộc về thân, trong đó có sắc do ý xúc đối, gọi là Vô biểu kiến sắc.
Ngoại sắc: Gồm các cảnh duyên do năm căn thân tiếp được, gọi là sắc biểu kiến.
Vô biểu kiến sắc và sắc biểu kiến.
- Tuỳ tâm chuyển gọi là sắc phiền não.
- Tuỳ thức chuyển gọi là sắc triền phược.
Muốn chấm dứt phiền não và cột trói bởi hai thứ sắc trên. Người tu hành phải dùng: Luật nghi, thiền định và trí tuệ để giải trừ nó. Gọi là: Luật nghi vô biểu, Bất luật nghi vô biểu và Phi luật nghi phi bất luật nghi vô biểu.
Luật nghi gồm có: Khiêm hạ, cung kính, oai nghi, có tàm, có quý và biệt giải thoát luật nghi vô biểu.
Bất luật nghi gồm: Các món thiền định, tam muội, vô lậu luật nghi vô biểu.
Phi luật nghi phi bất luật nghi vô biểu gồm: Tịnh sắc căn vô biểu, diệt loạn tán đẳng vô biểu, vô tâm đẳng vô biểu, bất tuỳ lưu tâm vô biểu, tịnh bất tịnh vô biểu, thể nhập đại chủng tánh vô biểu, do thử thuyết vô biểu, vô nhiếp trì vô biểu.
2. Giải thoát gồm thời giải thoát, phi thời giải thoát và thường trụ giải thoát.
Thời giải thoát gồm: Yểm ly sắc, yểm ly tâm, thiểu dục tri túc, an trú bốn thánh chủng.
Phi thời giải thoát gồm: Đình tâm, Biệt tổng tướng niệm trụ vị, Gia hạnh niệm vị, Tứ quả vị, Chứng nhập hiền thánh đạo vị.
Thường trụ giải thoát gồm: Thành tựu thập trí lực, thành tựu thập bát bất cộng, thành tựu tứ vô ngại trí, thành tựu tứ vô uý, thành tựu thập ba la mật, thành tựu sai biệt trí.
3. Thành tựu cả hai món này gọi là sắc giải thoát.
Trên đây chỉ là những giải thích cơ bản. Nếu triển khai đầy đủ không thể thực hiện được trên một bài email. Vì phần liệt kê và ý nghĩa từng món rất nhiều. Hy vọng đủ duyên, mình sẽ trực tiếp giải thích cặn kẽ.
Câu trả lời của các HĐ rất hay, tuy nhiên mình xin bổ túc vài ý sau:
A La Hán chỉ dứt sanh tử phần đoạn, ra khỏi khổ đau ba cõi. Còn thấy có sanh tử có Niết Bàn vì thế vị này bỏ sanh tử cầu Niết Bàn. Vì chưa thấy phiền não cùng Bồ đề chẳng hai, nên vị này sợ phiền não tìm Bồ Đề. A La Hán chỉ chứng được nhân không mà chưa thấy pháp cũng không và A La Hán cũng chưa thấy được thiệt tướng.
Sau khi chứng La Hán, muốn biết được những điều nêu trên, vị này phải phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, phát nguyện độ sanh và cầu học nhất thiết trí. Thực hiện những điều này, một A La Hán sẽ không còn danh xưng là A La Hán, mà được gọi “hồi tâm A La Hán”.
Sau khi phát nguyện, vị này hành công hạnh Bồ Tát gọi là Bồ Tát sơ phát tâm, trải qua hai vô số kiếp, chuyển biến trong “Bất tư nghì biến dịch sanh tử” vì công hạnh, viên mãn nhất thiết trí, dứt hai phần sở trí ngu, Bồ Tát này mới thấy được Phật tánh.
Thấy Phật tánh, Bồ Tát này được thọ ký, có danh xưng là Đại Bồ Tát. Trải qua một vô số kiếp còn lại gọi là “hậu biên thân” giống như thân Bồ Tát Di Lặc. Về thân, Đại Bồ Tát dùng thân này tu tập 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp. Về trí Đại Bồ Tát Tu tập Nhất Thiết Chủng Trí, thiết lập cõi nước, trang nghiêm chúng sanh, gọi là trang nghiêm Phật độ và trang nghiêm chúng sanh độ.
Viên mãn hai phần: Công đức và trí tuệ, tức thân tướng đầy đủ và trí huệ tối thượng, Bồ Tát này nhập “Tối hậu thân” còn gọi là “sắc thường trụ” giống như thân Thích Ca Mâu Ni, từ cung trời Đâu Suất đản sanh chứng Vô Thượng Bồ Đề. Đây mới được gọi là “thân rốt sau”. Vì thế mới có danh xưng “Chánh Đẳng Chánh Giác” tức thân và trí đồng chư Phật 10 phương.
Hết thảy người tu hành trong Phật đạo đều không thể ra khỏi thông lệ này, nếu muốn chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
(23-06-2013)
−−−••• ⁕ ⁕ ⁕ ⁕ •••−−−
Chuyển Thức Thành Trí
Tu hành trong Phật đạo chính là công cuộc chuyển đổi thức thành trí. Muốn chuyển đổi thành công phải thấu suốt cái chuyển đổi và cái sắp được chuyển đổi, càng thấu suốt việc chuyển đổi càng xảy ra dễ dàng.

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ
Các bạn!!!
Trưa nay có HĐ hỏi mình về việc chuyển tám thức thành bốn trí. Nhân câu hỏi này, xin chia sẻ một vài kiến giải đến mọi người, gọi là lợi hoà đồng quân.
Trước khi đề cập đến đề tài chính là chuyển tám thức thành bốn trí, chúng ta cần phân biệt rõ những gì được gọi là thức, những gì được gọi là trí. Chưa nắm vững hai thứ này, mọi thứ được gọi là chuyển, chỉ chuyển trên văn tự, mà không chuyển đúng bản chất của nó. Giống như người thầy giáo muốn dạy học trò, mà không biết học trò đó là ai, nhất định việc dạy và học sẽ không thành công.
1. Thức là gì???
Về mặt văn tự, chữ thức có nghĩa là biết. Nhưng, trong Phật đạo, chữ thức không thuần tuý là biết, mà chữ thức có nghĩa là biết, chỉ nhằm nói đến hành động thứ cấp của thức nguyên, sau đó mới đến tri thức tức hiểu biết cấp ba.
Thức là cái gì đó trừu tượng rất khó hiểu, vừa là cái gì đó rất dễ nhận biết, vừa là nhân cũng vừa là quả. Thức là cái căn bản, là cơ sở làm nên chúng sanh và chi phối toàn bộ đời sống chúng sanh.
Khi thức còn ở giai đoạn tiền tế, tức là lúc chúng sanh vừa hình thành chủng tử đầu tiên, chưa có mặt trên đời, thức chính là hạt nhân làm nên chúng sanh đó, gọi là chủng tử thức hay thức nguyên.
Khi chúng sanh xuất hiện trong đời, thức chi phối đời sống, từ ăn uống ngủ nghỉ đến học tập, bây giờ thức đóng vai trò vừa là nhân vừa là quả, gọi là nghiệp thức. Vừa là nhân vì thức gom nhóm hiện tại để đưa vào kho cất giữ cho vị lai, vừa là quả vì thức phô diễn tất cả những gì hàm chứa trong nó để làm nên một thực thể sống.
Khi chúng sanh không tồn tại trên đời, thực thể sống chấm dứt, thức trở thành người đại diện cho chúng sanh ấy tiếp nhận một nghiệp mới, gọi là trung ấm hay thần thức. Nói chung thức giống như một sợi dây xuyên suốt từ quá khứ, đến hiện tại, lẫn vị lai của một hữu tình.
Khi thức còn là nhân trong giai đoạn tiền tế của mười hai nhân duyên gồm vô minh, hành, thức, danh sắc. Thức không có chức năng của biết, mà thức chỉ giữ vai trò của hạt giống cầm giữ mạng căn, để danh sắc tồn tại và hình thành đầy đủ theo quy luật của nghiệp.
Khi chúng sanh xuất hiện ở cõi đời, tức giai đoạn trung tế gồm lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, thức đóng vai trò chủ nhân ông, điều phối mọi hoạt động của những món này.
Đến giai đoạn hậu tế, tức hữu, sanh, lão, tử, thức lại làm công việc ghi nhận thiện ác trong hiện tại để chuẩn bị cho đời sau, vì thế chữ hậu hữu thân có mặt. Khi đời sống chúng sanh chấm dứt, thức trở thành hạt giống lang thang tìm nơi nảy mầm.
Cứ thế, thức tồn tại và làm đủ mọi công việc, chạy khắp nơi để hình thành nên một hữu tình từ đời này sang đời khác. Thức di chuyển tạo thành vòng tròn khép kín, lặp đi lặp lại, gọi là luân hồi.
Trong đời sống một chúng sanh, không ở đâu, không việc gì không có thức. Có nghĩa thức đảm nhận công việc của một người chỉ huy, từ tai mắt, hành động, cho đến nghĩ suy, gọi là lục thức, chữ thức là biết, nhằm chỉ cho giai đoạn này.
Để giúp chúng sanh hoàn thiện hiện nghiệp, thức tiếp nhận, học tập tất cả những gì xảy ra chung quanh và trong chính nó để làm phong phú đời sống, gọi là Tri thức.
Thức làm công việc của một người công nhân đưa tri thức về nơi cất giữ an toàn, rồi đem trở ra để sử dụng, gọi là Lưu chú thức.
Thức cất giữ mọi thông tin có được trong quá khứ lẫn hiện tại không cho mất, gọi là A lại da thức.
Thức chấp chặt mọi thông tin do Lưu chú cung cấp, để đưa ra mọi toan tính, suy lường, biết rõ thiệt hơn gọi là Mạt na thức.
Do đảm đương nhiều chức năng, bận rộn nhiều công việc, nên thức rất ít cơ hội nghỉ ngơi, cứ lăng xăng hết việc này đến việc kia. Vì thế, thức bị gán cho biệt danh là thức loạn động, thức trói buộc.
Tóm lại, chúng sanh chính là thức, thức chính là chúng sanh. Hay nói khác hơn, không có thức thì không có chúng sanh, hoặc thấy có chúng sanh biết có thức đang hiện hữu, giống như khói và lửa. Thực tế, một hữu tình không có tám hay chín thức, mà chỉ một thức, tuỳ chức năng, tuỳ vị trí, tuỳ công việc, tuỳ nơi đến, tạm đặt tên cho dễ nhận biết, điều này dẫn đến lầm tưởng rằng, chúng sanh có nhiều thức. Giống như một chiếc hộp lon có nhiều lỗ chung quanh, trong đó thắp một cây đèn, ánh sáng phát ra nhiều nơi, nhưng kỳ thật, chỉ một nguồn sáng từ cây đèn.
Giống như một người đảm đương nhiều công việc với nhiều chức vụ khác nhau nên có nhiều chức danh. Ở nhà gọi là chủ nhà, có con gọi là cha, đi dạy gọi là thầy giáo, coi sóc tổ dân phố gọi là tổ trưởng, trong chiến tranh đi lính gọi là cựu chiến binh, về hưu trồng cây kiểng kiếm thêm thu nhập và giết thời gian gọi là nghệ nhân trồng kiểng. Tám chín cái tên, nhưng cũng chỉ có một con người. Tám hay chín thức cũng giống như vậy.
2. Trí trong Phật đạo là gì???
Nếu thức là cái căn bản, cơ sở, hạt giống làm nên một chúng sanh. Thì trí chính là cái căn bản, cơ sở, hạt giống làm nên một vị thánh trong Phật đạo. Ngày chưa giác ngộ, thức có bao nhiêu công việc, bao nhiêu chức năng, khi giác ngộ, trí đảm đương bấy nhiêu công việc, bấy nhiêu chức năng của thức để lại. Vì thế, mới có các câu nói: "thức tức trí", hay "thức ấy chính trí ấy", "thức trí không hai"!!!
Cũng giống như thức, trí chính là vị giác ngộ, vị giác ngộ chính là trí, không phải có một người giác ngộ đang sở hữu một trí tuệ nào đó, như người ta sở hữu một chiếc xe hơi. Cái khác giữa thức và trí là, một bên u tối, một bên sáng suốt, một bên lăng xăng, một bên tâm ý thanh nhàn, một bên chấp nhất hơn thua, một bên ung dung tự tại, một bên lo rầu vì chuyện sanh tử khổ, một bên nhận ra sanh tử chỉ là con cọp giấy không có gì đáng sợ... Nói chung, thức hay trí chỉ là sự chuyển đổi bản chất chứ không phải sự tiêu diệt tất cả.
3. Bản chất của sự chuyển đổi từ thức thành trí.
Có phân tích đến tận nguồn cơn, ta mới nhận diện rõ thức là gì, có nhận diện rõ ràng vai trò của thức đối với một chúng sanh, mới có thể biết được chuyển thức thành trí là chuyển cái gì. Nếu không hiểu biết về thức, không thấu suốt hành hoạt của thức, không thể thực hiện việc chuyển thức thành trí một cách hiệu quả.
Nếu thức là cái căn bản, là cơ sở, là cái gốc làm nên một chúng sanh thì, chuyển thức thành trí là công cuộc chuyển đổi tận gốc của tất cả hành hoạt một con người, từ nghe nhìn, nghĩ suy đến hành động. Sự chuyển đổi tất cả, chuyển đổi rộng khắp, chuyển đổi tận gốc này mới thật sự được coi là hành động tu tập. Như vậy có thể hiểu, tu tập chính là sự chuyển đổi toàn diện trong một con người để biến thức thành trí. Giống như nguồn nước đã bị nhiễm ô, chuyển nước đục thành nước trong, là chuyển toàn bộ nước ấy, chứ không phải chuyển một thành phần riêng biệt nào đó của nước, cũng không phải đem thứ nước đục ấy bỏ đi.
Trong Phật đạo, có nhiều hình thức chuyển thức thành trí, ba thừa là ba hình thức chuyển đổi khác nhau, hình thức chuyển đổi có khác nhau nhưng kết quả đồng nhất. Sự đồng nhất này là, từ một đời sống bị chi phối bởi thức, nay biến thành một đời sống bằng trí tuệ. Giống như trước đây uống nước bị nhiễm ô để tồn tại nên khổ sở vì bệnh hoạn, nay có công nghệ làm sạch, sau khi làm sạch xong sẽ được uống thứ nước tinh khiết, sướng vui an ổn vì không bệnh.
Nếu không nắm vững bản chất của sự chuyển đổi này, người tu hành có biết, có học thuộc thế nào là tám thức, thế nào là bốn trí, cũng chỉ chuyển trên văn tự, chứ không thể có một sự chuyển đổi tích cực nào xảy ra trong vị tu hành ấy.
4. Vì sao thức và trí có sự chuyển đổi thành công???
Một người chưa tu tập chưa giác ngộ, người này bị thức chi phối hoàn toàn cuộc sống, thức chi phối bằng cách sai sử, trói buộc, động lay, phiền não. Khi người này tiếp cận Phật pháp, hiểu ra vai trò của thức, và biết được con đường chuyển hoá để đời sống không còn bị chi phối bởi thức, người này lập tức hành động, kết quả của hành động đó Phật đạo gọi là giác ngộ.
Con đường chuyển hoá đó là chuyển đổi tận gốc những tính chất hư ảo mê muội của thức, để thức trở thành trí. Khi thành trí, trí đảm nhận công việc trước đây của thức, nhưng: không sai sử, không trói buộc, không chấp mắc, không gây ra phiền não...
Sở dĩ thức có thể chuyển hoá được là nhờ, Phật đạo chỉ ra rằng, những thứ mà thức làm tổn hại một con người, chỉ do sự nhất thời mê muội nào đó, chứ thật ra thức không có bản chất này. Giống như con mắt đang sáng, bị hạt bụi bay vào, làm con mắt bị nhặm, nên các thứ trở thành mờ tối không rõ ràng.
Hạt bụi bay vào con mắt thức đó chính là chúng sanh tánh hay cá tánh gọi chung là nghiệp, chính chúng sanh tánh hay cá tánh đã làm nhiễm ô thức, muốn thức trở về cái ban sơ không mê không giác, người này thay đổi nhận thức, thay đổi hành vi, thay đổi đời sống, hoàn toàn không chấp nhận chúng sanh tánh hay cá tánh, loại bỏ hoàn toàn nghiệp thức ra khỏi đời sống trên tinh thần của Phật đạo. Tuỳ theo nỗ lực, tuỳ theo nhận thức sâu hay cạn, tuỳ theo tốc lực tâm, tuỳ hoàn cảnh và tuỳ theo mức độ nhiễm ô của từng người, sự chuyển đổi này xảy ra mau hay chậm trong chính con người ấy.
Nhận thức sâu hay cạn và sức tinh tấn chính là yếu tố then chốt quyết định sự chuyển đổi thành công lâu hay mau, Phật giáo gọi là đốn hay tiệm. Có người chỉ trong sát na, xả bỏ tất cả những gì được gọi là chúng sanh, thánh trí liền hiện. Cũng có những người nhận thức không sâu hoặc nhận thức sai lệch, phải mất một thời gian dài chuyển đổi mới thành công.
Nói chung, dù nhận thức sâu hay cạn, một trong những nhận thức cơ bản phải được biết đến, đó là không nên nuông chìu cá tánh hay chúng sanh tánh, tức chỉ cộng trú với nghiệp chứ không cộng sinh, chấp nhận từ bỏ nó không thương tiếc ngay trong hiện tại.
Chúng sanh tánh, cá tánh hay nghiệp thức giống như một con đỉa, hai đầu đều có thể hút máu, dứt đầu thiện ra khỏi cơ thể, đầu ác sẽ bám vào, không dứt thật mạnh, cả hai đầu đều bám. Con đỉa chúng sanh đã bám vào thức làm công cụ hút máu, vì thế thức ban sơ tức thức nguyên trở thành thức nghiệp, từ thức đồng trở thành thức dị... Chính từ đồng sang dị, nên thức trở thành loạn động và u tối.
- Tóm lại, thức chính là trí. Con đỉa chúng sanh mới là thủ phạm làm cho thức trở thành tên tội đồ bị lên án. Khi con đỉa chúng sanh chết rồi, thức trở về bản chân của nó chính là trí. Chữ trí trong giai đoạn này, dùng để chỉ cho sự sáng suốt của một hữu tình khi hết mờ tối bởi nghiệp, chữ trí này chưa phải là Phật trí!!!
5. Thức biến thành trí, sẽ chuyển biến như thế nào???
Khi chưa giác ngộ, thức có tám chức năng chính và một chức năng phụ. Tám chức năng chính đó là:
Khi thức chạy vào năm căn thân, sẽ chỉ đạo năm căn thân tiếp cận năm ngoại trần theo chủ ý điên đảo của mình, gọi là tiền ngũ thức. Khi thức thành trí, trí thay thế thức, cũng vào năm căn thân, nhưng không sai sử điên đảo, không khởi sanh phân biệt đẹp xấu, không sinh tâm ham ưa... Thấy nghe bây giờ sáng suốt, không loạn động vì cảnh, do đó hỷ lạc khinh an hiện lên, tiền ngũ thức bây giờ có tên là Thành Sở Tác Trí...
Thành sở tác trí hay Thành sự trí, là một thứ trí giúp người hoàn thành công việc thấy nghe mà không tạo nghiệp. Thức thuộc hữu vi vì hay tạo tác, thức chuyển đổi thành trí, trí cho ra một thấy nghe mà không tạo tác, nên nó là Vô vi trí. Thành sở tác trí là kết quả giác ngộ thay thế cho tiền ngũ thức. Tiền ngũ thức được thay thế bởi trí, nên sắc uẩn trở thành sắc giải thoát.
Ý thức là thức thứ sáu, thức này có công năng nghĩ suy, phân biệt, thị phi, quyết định. Sau khi giác ngộ, tính chất phân biệt, thị phi mất đi, nghĩ suy trở nên sáng suốt, nghĩ suy đúng như bản chất của vấn đề chứ không dựa vào hiện tượng, tình cảm hay cơ hiềm mà kết luận, vì thế tâm không dao động hay hoài nghi trước kết quả của nghĩ suy, bây giờ ý thức trở thành Diệu quan sát trí.
Nói khác hơn, Diệu quan sát trí chính là sự thấu suốt bản chất của vấn đề, nên một kết quả như thật tức thì hiện khởi, còn gọi là trực nhận. Sự trực nhận này không do bởi dụng công, còn gọi là vô công dụng đạo. Vì vô công dụng đạo nên định sanh, định này chính là vô vi định nên tưởng uẩn sẽ tịch diệt, tưởng uẩn tịch diệt gọi là thanh tịnh tưởng, một trong những công cụ để trở thành Thần túc thông sau này.
Mạt na thức đã bị chuyển hoá, chấp nhất, đấu tranh, hơn thua, được mất đều tịch diệt, nên ngã cũng không còn đất sống, vì thế tịch diệt theo. Giống như hạt giống treo giàn bếp, không thể nảy mầm. Ngã tịch diệt, từ bi sanh khởi, từ bi sanh khởi hai tướng nhân ngã không còn, nhân ngã không còn Mạt na thức đổi tên thành Bình đẳng tánh trí.
Bình đẳng tánh trí, cho ra thấy biết bình đẳng từ chúng sanh, thân tâm đến thế giới, cho nên khổ vui không hiện khởi trong tâm. Trong tâm không nhận chịu khổ vui nên thọ uẩn tịch diệt, thọ uẩn tịch diệt trung tế tịch diệt, trung tế tịch diệt hậu tế tịch diệt, hậu tế tịch diệt hậu hữu thân tịch diệt, hậu hữu thân tịch diệt sanh lão tử chấm dứt.
A lại da thức khi được giác ngộ, giống như một cái kho chứa đồ cũ đã được làm sạch, món nào cần thiết cho đời sống thì giữ lại, món nào phế thải đem bán ve chai đồng nát. Số lượng phế phẩm tích chứa trong kho là cực lớn, nên một lần bán sẽ rất nhiều tiền. Bỗng dưng một số tiền lớn xuất hiện, vượt khỏi toán số thế gian gọi là công đức. A lại da sau khi giác ngộ trở thành Đại viên cảnh trí.
Đại viên cảnh trí hay Đại viên kính trí là hình ảnh ẩn dụ tâm thức như một tấm gương lớn. Tấm gương không từ chối vật, nhưng không sở hữu vật, sở hữu là thức, vô sở hữu là trí, nên Đại viên cảnh trí còn có tên là Vô sở hữu trí. Trí này như gương sáng, soi thấu vạn hữu nhưng không lưu lại dấu vết hay hình ảnh. Dó đó khi A lại da thành Đại viên cảnh trí, thức và hành uẩn tịch diệt. Thức và hành uẩn tịch diệt tánh giác hiện ra, tánh giác hiện ra nhân Phật mọc mầm, nhân Phật nảy mầm quả Phật thành tựu.
Lưu chú thức, đây là thức phụ, nó không có chức năng làm cho mê hay giác, cũng không bị ảnh hưởng bởi mê hoặc ngộ... Nó như dòng hải lưu âm thầm chảy dưới đáy biển mang các thứ trong biển từ nơi này đến nơi khác. Giống như người thư ký của một hãng lớn, chỉ làm công việc do ông chủ sai bảo, không thể quyết định chuyện thành bại của hãng.
Lưu chú có nhiệm vụ ghi nhận và đem các thông tin từ sáu thức cất vào A lại da, khi cần nó đem ra cho Ý hay Mạt na sử dụng... Vì thế kinh dạy, "thức diệt chứ Lưu chú không diệt". Khi giác ngộ, Lưu chú cũng âm thầm làm công việc từ trước... Phật dạy: "Tướng sanh trụ diệt và Lưu chú sanh trụ diệt, không thể suy nghĩ biết được...".
6. Kết luận.
Nói đến tám thức thành bốn trí, là nói đến quá trình chuyển đổi tận gốc từ nhận thức đến hành động. Khi nhìn thấy con bò đang ăn cỏ, người tu tập liền biết trong con bò đó đang cộng sinh cùng thức nghiệp loài bò, khi thấy con bò kéo cày, biết rằng con bò đó đã được học tập một tri thức đơn giản về phải trái hay thẳng do người nông phu dạy dỗ, khi thấy con bò lăn ra chết biết rằng thần thức của con bò đã ra khỏi nó, chuẩn bị cho một đời sống mới..v.v...
Nói chung, thức là cái gì rất dễ nhận ra, nhưng thật khó biết cụ thể, thức nghiệp trong mỗi hữu tình thiên hình vạn trạng, ở đâu có chúng sinh ở đó có thức, ở đâu có phiền não ở đó có thức, ở đâu có trói buộc ở đó có thức, ở đâu có loạn động ở đó có thức. Thức là đại diện của hữu vi pháp vì thế nó thay đổi sanh diệt không ngừng.
Tu hành trong Phật đạo chính là công cuộc chuyển đổi thức thành trí. Muốn chuyển đổi thành công phải thấu suốt cái chuyển đổi và cái sắp được chuyển đổi, càng thấu suốt việc chuyển đổi càng xảy ra dễ dàng. Như người ta dùng sức lao động để đổi nghèo thành giàu, một người khiếm khuyết trí tuệ, không nhận thức được sự khác nhau giữa giàu và nghèo, nhất định chẳng bao giờ có một sự chuyển đổi tích cực, đúng mức, để đưa đến thành công trong con người đó.
Hy vọng, bài viết giúp một chút gì đó để các bạn có thể tự thấy biết rõ ràng thế nào là ‘thức’ thế nào là ‘trí’. Có thấu đáo, việc chuyển thức thành trí mới thành công. Biết đâu một ngày đẹp trời, mỗi người sẽ là một cục trí... đi...tới... đi...lui cho con đỉa nghiệp...ớn... chơi!!! (29-05-2013)
−−−••• ⁕ ⁕ ⁕ ⁕ •••−−−
Thông báo bài viết mới
Xin chào Quý Đọc Giả,
Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.
https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/trao-doi-ve-ngu-truoc
Trân trọng,
Trao Đổi Về .. "Ngũ Trược"
Trong mỗi giai đoạn tu tập cụ thể, phải được Đạo Sư chỉ rõ điều gì là như lí, điều gì là phi lí !!!

Các bạn !!!
Hồi tối, hân hạnh được tham dự buổi trao đổi Phật pháp của Lý Gia do HĐ Miền Nam tổ chức, mình rất hoan hỉ !!!
Tuy nói rằng, đây là buổi sinh hoạt, trao đổi của HĐ Lý Gia Miền Nam, nhưng theo những gì đã quan sát, mình thấy có đầy đủ HĐ khắp mọi miền đất nước, cũng như HĐ nước ngoài !!! Sự tham gia đông đủ, cho thấy buổi sinh hoạt của các bạn là thật sự lợi ích và mọi người hưởng ứng !!!
* Về nội dung đề tài: Đề tài NGŨ TRƯỢC được diễn giả là LÝ NGỌC HỈ trình bày rất minh bạch...Theo đánh giá của mình, có thể nói mọi người nắm rất vững (từ diễn giả đến các HĐ tham dự), mặc dù (theo mình biết) đây là đề tài không dễ hiểu đối với nhiều người tu hành !!!
Do nắm vững đề tài, các bạn có thể dùng những hình ảnh thực tế trong cuộc sống để minh hoạ, làm sáng tỏ ý nghĩa của Ngũ Trược !!! Chính sự linh hoạt này mà, sau buổi sinh hoạt, những ai trước đây còn mơ hồ về Ngũ Trược sau khi nghe xong, biết rõ Ngũ Trược gồm những gì và vì sao nó xuất hiện trong đời sống của một người chưa giác ngộ, cũng như cách tịch diệt các nhiễm ô, trả tâm trí về với bản nguyên vô cấu, vô trược của nó !!! Những ai đã hiểu về Ngũ Trược, nay có dịp đào sâu, mở rộng đề tài để có thể thấy được bản chất của Ngũ Trược là gì !!!
* Về các câu hỏi do khách tham dự đặt ra để chất vấn diễn giả xoay quanh đề tài: Với các câu hỏi như:
- Do đâu Ngũ Trược hình thành ??? Đâu là khác biệt giữa tâm trược và trí trược ???
- Làm thế nào để thoát khỏi Ngũ Trược, có mấy cách để tâm trí không còn bị trược ???
- Người thành tựu Tập Đế đã hoàn toàn thoát khỏi Ngũ Trược hay chưa ??? Tu tập đến giai đoạn nào mới được coi là vĩnh viễn không bị chi phối bởi Ngũ Trược !!!
- Trong Lục Chủng Tánh Anh Lạc, chủng tánh nào đã tịch diệt vĩnh viễn Ngũ Trược !!!
-.........???
Theo đánh giá của mình, những câu hỏi do các bạn nêu lên trong buổi sinh hoạt là bám sát đề tài và không xa rời giáo pháp !!! Điều này, cho thấy HĐ chúng ta đã học tập, tư duy, ứng dụng một cách nhuần nhuyễn từng đề tài theo phương châm:
- Điều gì đã biết, biết đến nơi đến chốn, không mơ hồ, lẫn lộn !!!
- Điều gì đã tư duy: Tư duy đến tận nguồn cơn bằng chính Huệ Lực mà bản thân đã thành tựu !!!
- Điều gì đã ứng dụng: Ứng dụng triệt để vào thực tế cuộc sống !!!
* Về các câu trả lời: Theo nhận xét cá nhân, diễn giả đã làm rất tốt vai trò người “đăng đàn” !!! Trả lời thấu tình đạt lí từng câu hỏi !!! Sau khi được nghe diễn giả trả lời, người hỏi và đại chúng đều hoan hỉ, không còn thắc mắc gì thêm !!!
* Về phần trao đổi ngoài đề tài chính: Các câu hỏi của bạn đọc đăng trong Trang Lý Gia (tuy không nằm trong nghị trình) cũng được các bạn đem ra mổ xẻ và giải quyết thoả đáng !!! Ví dụ như:
- Trong quá trình tu tập, trường hợp nào phải sử dụng như lí tác ý: Theo các bạn, như lí tác ý được sử dụng trong suốt quá trình tu tập !!! Tuy nhiên, để biết được điều gì là như lí, điều gì là phi lí...Trong mỗi giai đoạn tu tập cụ thể, phải được Đạo Sư chỉ rõ điều gì là như lí, điều gì là phi lí !!! Vì rằng, bản thân người tu hành (chưa giác ngộ đến nơi đến chốn) không tự biết được hai điều trên, đôi khi nhầm tưởng phi lí là như lí dẫn đến tác ý sai, không thể thành tựu đạo quả trong giai đoạn đó !!!
- Chân tâm của tôi ở đâu ??? Với một người chưa giác ngộ, khi đặt câu hỏi như vậy, không thể trả lời trực tiếp !!! Giống như người mù hỏi “ánh sáng ở đâu”, ta không thể trực tiếp chỉ cho người mù thấy ánh sáng !!! Mà công việc đầu tiên là, “phải chữa cho người ấy hết mù”, nếu người ấy vẫn còn nuôi dưỡng quyết tâm “muốn biết ánh sáng ở đâu” !!! Theo đánh giá của mình, trả lời của Lý Hư Không (Houston) là thoả đáng !!!
- Ý căn ở đâu trong thân thể này: Có hai loại căn là, sắc căn và vô sắc căn...Ý căn thuộc về vô sắc căn nên không thể chỉ ra nó ở đâu trong sắc căn hay sắc thân !!! Chỉ khi nào, một tư duy hiện khởi, hay một pháp hiện diện trong tâm thức...Chừng ấy vô sắc căn là ý căn mới hiện hữu và lúc ấy mới có thể nhận diện đâu là ý căn...Giống như người ta chỉ có thể nhận diện thế nào là gió, thông qua hình ảnh lay động của hàng cây khi bị gió tác động !!!
* Kết luận: Theo đánh giá chủ quan của mình !!! Buổi sinh hoạt, trao đổi Phật pháp của các bạn là vô cùng lợi ích !!! Xin tán thán chung !!!
* Đề xuất: Duy trì các buổi sinh hoạt như thế này trong mỗi tuần là thật sự cần thiết đối với toàn thể HĐ LÝ GIA !!! Nhưng phải nhớ: “Cho mình tham dự với (sẽ tắt video và micro để không ai thấy có đấng bề trên đang dòm ngó)...Được nghe ké các HĐ đàm luận là một vinh dự...Và, Lão Lý cũng học hỏi được rất nhiều điều từ các bạn !!! Nhớ làm ơn làm phước” !!! Ha ha ha ha !!!
18/12/2019
LÝ TỨ











Thông báo bài viết mới
Xin chào Quý Đọc Giả,
Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.
https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/qua-ngot-ly-gia
Trân trọng,
Quả Ngọt Lý Gia

Các bạn!!!
Rời Hà Nội lúc 04 giờ 30 sáng, về đến nhà lúc 13 giờ 30 trưa!!! Mình và mọi người bình yên!!!
Lời đầu tiên, thay mặt toàn đoàn và tất cả HĐ Lý Gia, xin chân thành cảm ơn:
– Báo Tuổi Trẻ Thủ Đô: Đã đưa thông tin về buổi ra mắt sách sớm hơn dự kiến!!!
– Đài Truyền Hình Thủ Đô Hà Nội: Đã có buổi thu hình và phỏng vấn buổi ra mắt sách tận tình (phóng viên không có thì giờ ăn trưa)!!!
– Cảm ơn Đội Múa của các Cô Giáo Mê Linh Vĩnh Phúc Hà Nội: Các vị không ngại đường sá xa xôi, đã đem đến buổi ra mắt sách những điệu múa thật đẹp, thật ý nghĩa. Giúp buổi lễ có những bước khởi đầu vui tươi, thành công ngoài mong đợi!!!
– Giám Đốc Nhà Sách Minh Thắng (Anh Thành): Đã đến dự buổi ra mắt sách, lại còn đến tận Diệu Pháp Đường chia tay tạm biệt toàn đoàn. Tạo cơ hội cho mình có dịp làm quen Anh Bằng, Chủ Tịch Hội Sách TP Hà Nội!!!
– Cảm ơn Anh Hùng: Chủ Nhiệm Chương Trình Trí Tuệ Tự Nhiên đã đến dự buổi ra mắt sách. Và thường xuyên đến Diệu Pháp Đường mỗi tối, để chia sẻ kinh nghiệm giáo dục!!!
– Cảm ơn Hội Doanh Nhân, Những Người Bán Hàng Thực Tiễn Hà Nội: Đã đến dự buổi ra mắt sách và tặng hoa chúc mừng!!!
– Chân thành cảm ơn các Đại Diện Báo Chí, Truyền Thông, Luật Sư, Nhà Báo… Đã chiếu cố, giúp đỡ để buổi ra mắt sách thêm nhiều ý nghĩa!!!
– Cảm ơn tất cả những vị khách quý, những người bạn mới quen mà Lý Tứ gặp gở trong chuyến đi Hà Nội lần này… đã dành những tình cảm tốt đẹp nhất cho bản thân mình cùng HĐ Lý Gia!!!
– Cảm ơn đoàn Ca Nhạc Dân Gian Đồng Bằng Bắc Bộ đã giúp HĐ Lý Gia cảm nhận những gì hay đẹp nhất của Văn Hoá Dân Gian!!!
– Cảm ơn Mỹ Đức, một cô gái trẻ, người đoạt Huy Chương Vàng Thế Giới bộ môn Wushu… Với những bình trà và công phu pha trà thượng thừa, bằng tất cả tình cảm dành cho Lý Tứ qua những tuần trà ngon nhất!!! (Mỹ Đức ơi!!! Mình vừa pha và uống xong bình trà Thiết Quan Âm Vương (do Đức Tặng) mà bạn chưa kịp pha cho mình thưởng thức như đã hứa!!! Ngon tuyệt!!!)
– Cảm ơn tập thể BQL cùng nhân viên Trà Quán Diệu Pháp Đường, đã cho HĐ Lý Gia và Lý Tứ thưởng thức những tuần trà tinh tế không thể nào quên!!!
– Cảm ơn Trần Hiếu, Sách, Phương Anh, Chị Nga, v.v... Những người con của Lý Gia Miền Bắc, đã dành hết tâm lực, để buổi ra mắt sách thành công ngoài mong đợi!!!
– Cảm ơn HĐ Lý Gia toàn quốc đã đến tham dự buổi ra mắt sách!!!
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn tất cả!!!
Có thể nói:
– Lần ra mắt sách đầu tiên vào tháng 7/2019 tại TP Hồ Chí Minh thành công, là kết tụ từ những giọt nước mắt của HĐ Lý Gia sau mười năm chờ đợi!!! Những giọt nước mắt vui hôm đó chan chứa bao nhiêu cảm xúc, như lời bài hát của Nhạc Sĩ Xuân Hồng: “Vui sao nước mắt lại trào”!!!
– Lần ra mắt sách thứ hai tại Tây Nguyên hồi trung tuần tháng 11/2019 thành công, cho thấy con đường của HĐ Lý Gia đang đi là đúng và nhất định mang đến cho đời nhiều lợi ích!!!
– Lần ra mắt sách thứ ba tại Thủ Đô Hà Nội thành công, cho thấy cái được gọi là “văn hoá vùng miền” đã không tồn tại trong HĐ Lý Gia!!! Những tâm tình cố hữu của một con người như: Ghét ganh, tật đố, v.v... đã không còn tìm thấy!!! Mà thay vào đó là những yêu thương, san sẽ, hoan hỉ, xưng tán pháp lành trong tận cùng sâu thẳm từ thứ Văn Hoá Vô Lậu mà toàn thể HĐ Lý Gia may mắn thành tựu hôm nay!!!
Có được “những quả ngọt đầu mùa” mà HĐ Lý Gia vừa gặt hái, sau ba lần ra mắt sách!!! Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn tất cả!!!
(28-11-2019)
Thông báo bài viết mới
Xin chào Quý Đọc Giả,
Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.
https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/khai-quat-ve-37-pham-tro-dao
Trân trọng,