Tác Phẩm Lý Tứ

Kệ 02: Nhạn Quá Trường Không

MB 857 Lý Diệu Sinh 14.02.2023

Đến đi không dấu tích

Như bóng nhạn lưng trời

Nói im không một niệm

Như tiếng vọng hang nông [[1]]

Thấy nghe không mảy động

Như ảnh chiếu gương đồng [[2]]

Ba thời [[3]] thôi tìm kiếm

Tỉnh mộng giữa đêm đông          

Ai là người không ngã

Chẳng khởi tưởng có mình

Ai là người không tâm

Chẳng suy lường vô ích

Ai là người không pháp

Chẳng chạy theo trần gian

Ai làm được như thế

Sẽ mở cửa Tâm Tông.        

(20-04-2016)   

Bài “Kệ Khai Tâm” giúp “hành giả” thành tựu vô niệm, coi như mở cánh cửa tâm tông. Bài kệ “Nhạn Quá Trường Không” nếu tụng đọc thường xuyên, sẽ hộ trì rất lớn cho thành tựu từ bài số 1.

 


 

[[1]] Hang nông: Hang cạn trong vách núi.

[[2]] Gương đồng: Gương soi mặt ngày xưa làm bằng đồng.

[[3]] Ba thời: Quá khứ, hiện tại, vị lai.

Tác Phẩm Lý Tứ

Kệ 01: Khai Tâm

MB 857 Lý Diệu Sinh 13.02.2023

Khi mê, thấy có sắc không [[1]]

Ngộ thời, tâm diệt sắc vong tức thì [[2]]

Ngộ thời, sắc chẳng khác không [[3]]

Mê thời, không ấy cũng thành sắc kia [[4]]

Ngộ thời, sắc chính là không [[5]]

Mê thời, không ấy chờ mong sắc này [[6]]

Vượt qua bể khổ trần ai [[7]]

Đến bờ giác ngộ chẳng hai trong lòng [[8]]

Ai người có trí chớ mong [[9]]

Sắc không như bóng nhạn trông đáy hồ [[10]]

Vô niệm tức niệm Nam Mô [[11]]

Không tâm đích thực đến bờ bên kia! [[12]]

(Phóng tác theo bài BÁT NHÃ TÂM KINH)                     

Kệ tụng dành cho “người tu hành” (hành giả) sau khi đã qua phần cơ bản Giáo Tông, hiểu rõ thế nào là “sắc và không”, chuẩn bị bước vào Tâm Tông. Có thể tụng kệ này một ngày nhiều lần, bất kể đi đứng nằm ngồi hay trong chiêm bao, vừa tụng vừa chiêm nghiệm ý nghĩa, vừa quán Bổn Tâm.  Quán đến bao giờ không còn tâm, không còn niệm, dứt giác quán, khi ấy bài kệ này trở thành bài vè đọc cho vui miệng. Đọc thường xuyên “kệ Khai Tâm”, ba nghiệp thân, khẩu, ý đồng được khai, miệng thường phát ra mùi thơm như hương chiên đàn.                     

(08-04-2016)       

 


 

[[1]] Khi mê, thấy có sắc không (nhị nguyên, hai món)

[[2]] Ngộ thời, tâm diệt sắc vong (mất) tức thì (không hai)

[[3]] Ngộ thời, sắc chẳng khác không (sắc bất dị không)

[[4]] Mê thời, không ấy cũng thành sắc kia (không bất dị sắc)

[[5]] Ngộ thời, sắc chính là không (sắc tức thị không)

[[6]] Mê thời, không ấy chờ mong sắc này (không tức thị sắc)

[[7]] Vượt qua bể khổ ải trần ai (yết đế ba la yết đế)

[[8]] Đến bờ giác ngộ chẳng hai trong lòng (ba la tăng yết đế bồ đề tát bà ha)

[[9]] Ai người có trí (bát nhã) chớ mong,

[[10]] Sắc không như bóng nhạn trông đáy hồ.  (chim nhạn tìm hình bóng của mình trong đáy hồ nước khi bay ngang qua)

[[11]] Vô niệm tức niệm Nam Mô. (quay về, trở lại, quy y)

[[12]] Không tâm đích thực đến bờ bên kia (đáo bỉ ngạn).

Tác Phẩm Lý Tứ

Lục Chủng Tánh Anh Lạc

MB 857 Lý Diệu Sinh 13.02.2023

(31) SÂN CHƠI TRỰC TUYẾN LÝ GIA

Các bạn !!!

Như vậy là chúng ta đã thực hiện được 25 kì sinh hoạt trực tuyến với chủ đề Thực Tập Kĩ Năng Trình Bày Một Đề Tài Bất Kì Trong Phật Đạo !!!

Có thể nói, qua 25 kì vừa rồi, tất cả các HĐ được BQT chọn làm chủ toạ thuyết trình, điều hành buổi sinh hoạt...đều thực hiện rất tốt nhiệm vụ của mình !!! Không muốn nói là, những kì sinh hoạt sau luôn hấp dẫn hơn các kì sinh hoạt trước, do chúng ta biết rút kinh nghiệm, phát huy điều hay, khắc phục thiếu sót..v..v... Và, trên 3 tháng vừa rồi, mình (Lý Tứ) trở thành "cầu thủ siêu dự bị", không được tham gia trận nào !!!

Trưa nay, do một vài cầu thủ đã đăng kí với BQT không thể ra sân vào buổi sinh hoạt đêm 15/06 !!! Thế là BQT đã đôn mình lên đá chính !!! Tối nay, lại được một số HĐ yêu cầu trình bày đề tài Lục Chủng Tánh Anh Lạc, lý do các HĐ mới chưa được nghe đề tài này lần nào !!! Thế là, mình tốc hành lục lại bài viết cũ nói về Chủng Tánh Anh Lạc để đăng lên trang, giúp các HĐ xem trước nội dung cũng như đặt các câu hỏi, hay nêu lên thắc mắc..v..v...như thông lệ trong buổi sinh hoạt tới !!!

Xin giới thiệu đến mọi người bài viết Lục Chủng Tánh Anh Lạc !!! Trích từ sách Anh Lạc Luận 1 - Dân Trí xuất bản - Minhthangbook phát hành năm 2019 !!!

14/06/2021

LÝ TỨ

LỤC CHỦNG TÁNH ANH LẠC

Các bạn!!!

Từ xưa đến giờ, phần lớn người tu hành trong Phật Đạo thường băn khoăn, thường tự hỏi, làm thế nào để biết chắc rằng, kết quả tu học của bản thân từ ngày hôm nay, có thể bảo lưu, để kết quả đó được tiếp tục thăng tiến sau này hoặc đời vị lai... Nếu chẳng may, vì một lí do bất khả kháng, công việc tu tập của người đó bị gián đoạn trong hiện tại, hoặc không còn ở cõi đời, công sức tu tập đã qua có còn tồn tại và kế thừa trong những ngày sau???

Xét thấy những băn khoăn trên là chánh đáng, nhân dịp năm mới, mình xin chuyển đến mọi người một số kiến giải nhằm giải thích, và đưa ra những định lượng cần thiết để giúp các bạn từ những giải thích và các định lượng này, có thể tìm cho mình con đường đúng nhất cũng như có được niềm tin chắc thật không mất vào giáo pháp sau khi tu tập!!!

Các bạn!!!

Phật đạo có sáu chủng tánh, tên gọi đầy đủ là LỤC CHỦNG TÁNH ANH LẠC... Nếu người tu tập thành tựu một chủng tánh hoặc cả sáu chủng tánh ấy trong hiện đời, nhất định dù ở đâu, làm việc gì, đời này hay đời sau... Các chủng tánh này sẽ là hạt giống tốt nhất, khi đủ duyên, nó sẽ nảy mầm và tiếp tục thành tựu Bồ Đề Thọ tức Cây Giác Ngộ, cho đến khi nào viên mãn Bồ Đề Quả mới thôi!!!

Về Lục Chủng Tánh Anh Lạc!!! Nếu mình không lầm thì, trong thời gian qua, đã có ít nhất bốn lần mình trao đổi với các bạn đề tài trên... Tuy nhiên, do đương cơ, do chưa phải là thời điểm chín muồi, nên những lần trao đổi đó, mình chỉ sơ lược về đại cương, chủ yếu giới thiệu sáu chủng tánh đặc trưng của Phật Đạo hơn là triển khai chi tiết... Hy vọng bài viết lần này, chúng ta khảo sát tỉ mỉ về Lục Chủng Tánh Anh Lạc, cũng như bằng cách nào người tu hành có thể thành tựu từng chủng tánh!!!

I- CHỦNG TÁNH ANH LẠC LÀ GÌ???

I.1- Chủng tánh: Chúng ta có thể hiểu nôm na, chủng tánh là hạt giống... Giống như người nông dân, muốn gieo trồng một loại cây nào đó, điều đầu tiên, phải tìm cho bằng được hạt giống đó!!!

Phật đạo có sáu chủng tánh, tức là sáu hạt giống Bồ Đề thành tựu từ tâm thức... Người tu hành muốn trồng cây Giác Ngộ để có Đạo Quả Bồ Đề, phải rèn luyện để tâm thức thành tựu các hạt giống nói trên!!! Vì nó là hạt giống xuất thế, nên khi đủ duyên, các hạt giống sẽ nảy mầm cho dù bất kì ở nơi nào cũng như thời điểm nào!!!

Sáu hạt giống của Phật đạo gồm: Tập chủng tánh, Tánh chủng tánh, Thánh chủng tánh, Đạo chủng tánh, Đẳng giác chủng tánh và Diệu giác chủng tánh!!!

I.2- Anh Lạc là gì???

Anh Lạc là tên gọi của xâu chuỗi bằng ngọc quý, người ta dùng nó để trang sức!!! Đối với Phật đạo, sáu chủng tánh Anh Lạc, giống như những viên ngọc quý, người tu hành coi các viên ngọc chủng tánh như một xâu chuỗi vô lậu dùng để trang nghiêm tự thân!!!

II- TÍNH CHẤT CỦA MỖI CHỦNG TÁNH

Mọi người tu hành đều biết rằng, tu tập trong Phật đạo là đi trên con đường rất dài, trải qua nhiều giai đoạn, có thể mất nhiều đời kiếp mới đến được mục tiêu cuối cùng, cứ một số đời kiếp rèn luyện nào đó, người tu hành mới có thể thành tựu một giai đoạn, và cứ như thế, hết đời này đến đời khác, sự tu tập thăng tiến từ thấp lên cao!!!

Kết quả một giai đoạn tu tập, thành tựu một chủng tánh... Từ hạt giống ban đầu, khi đủ duyên, hạt giống kế tiếp lại thành tựu, cho đến hạt giống sau cùng... Vì thế, các hạt giống của Phật đạo vừa là nhân, cũng vừa là quả của nhau trong các giai đoạn tu tập... Hạt giống sau cùng, tức “Vô Thượng Bồ Đề Quả” mới không còn là nhân sanh, nên kinh gọi là “quả quả” hay “liễu nhân”, tức nó vĩnh viễn không còn sự tiếp nối một hạt giống nào nữa trong vị lai!!!

Sáu hạt giống anh lạc là thường hay vô thường???

Khi nói đến sự tiếp nối của sáu chủng tánh, người tu hành thường nghĩ ngay đến lẽ vô thường trong mỗi chủng tánh... Vì rằng, cái gì có mất đi để một cái mới xuất hiện, theo lẽ đương nhiên nó phải chịu quy luật sanh diệt vô thường... Nếu vô thường thì, cho dù có tu tập để đạt được một chủng tánh nào đó trong sáu chủng tánh kia, cũng không thể tin cậy vào thành tựu này, làm sao bảo đảm rằng nó được tiếp nối ở vị lai trong khi bản chất vô thường đang ở trong chính nó???

Về phương diện lí luận, câu hỏi trên là chánh đáng, được coi như đủ sức thuyết phục... Tuy nhiên, lí luận trên chỉ đúng với các loại quả hữu lậu, thuộc hữu vi pháp của thế gian giới!!! Trong khi đó, sáu hạt giống Anh Lạc là nhân quả xuất thế gian, nó không bị chi phối bởi các quan niệm thế gian, nên luận thuyết trên không thể ứng hợp!!!

Nói rằng Lục Chủng Tánh Anh Lạc là sáu hạt nhân, làm nhân quả cho nhau, đây là cách nói để người tu hành hình dung ra con đường mình đang đi và các giai đoạn của nó... Kì thật, trong Phật đạo, lục chủng tánh không hoàn toàn là sáu hạt giống hay sáu giai đoạn riêng lẻ như hạt mướp, hạt xoài, hạt bí... Mà nó là sáu giai đoạn ảnh chiếu từ một hạt nhân thường trụ, hạt nhân đó là Phật tánh... Trong quá trình tu hành để thành tựu một chủng tánh nào đó, chính là quá trình gọt rửa tâm thức để những thứ nhiễm ô từ vô thuỷ mất đi, từ đó ánh sáng của Phật tánh trong mỗi chúng sanh tự chiếu... Sáu chủng tánh Anh Lạc, chính là sáu lớp ngăn che, mà người tu hành loại bỏ từng lớp một, đến lớp sau cùng, Phật tánh sẽ hiện viên mãn!!!

Vì thế, sáu chủng tánh hay sáu giai đoạn thành tựu trong quá trình tu hành đều được chiếu từ một nhân nên chúng có những đặc điểm chung... Những đặc điểm đó là, an lạc, thanh tịnh, vô lậu, căn lực bất thối, trí tuệ thăng tiến như pháp, không thể dùng phàm trí suy lường..v..v...!!! Chính những đặc điểm nêu trên, sáu chủng tánh Anh Lạc là thường với thế gian, nó chỉ vô thường với đạo xuất thế và Vô Thượng Bồ Đề... Sáu chủng tánh từ thấp lên cao chính là công việc xa rời “phần đoạn sanh tử” của một chúng sanh, để thâm nhập “bất tư nghì biến dịch sanh tử” của một vị Thánh trong Phật đạo hay khác hơn, nó là sự thăng hoa của “bảy cảnh giới trí tuệ” gồm, tâm cảnh giới, trí cảnh giới, tuệ cảnh giới, kiến cảnh giới, siêu nhị kiến cảnh giới, siêu tử địa cảnh giới và Như Lai tự đáo cảnh giới!!!

Lục chủng tánh Anh Lạc hình thành, giống như ánh sáng từ mặt trời, chiếu từ gần đến xa... Nơi xa nhất là Tập chủng tánh, nơi gần nhất là Diệu giác chủng tánh... Hay khác hơn, như một người bị lạc trong rừng đêm, bìa rừng có một điểm sáng, người đó phải mất sáu giai đoạn nhìn thấy đốm sáng và chăm chú đi theo nó để đến bìa rừng!!!

III- TÊN GỌI, CÁCH NHẬN BIẾT VÀ PHƯƠNG THỨC THÀNH TỰU TỪNG CHỦNG TÁNH

Đạo Phật là Đạo Giác Ngộ, là Đạo Giải Thoát và là Đạo Trí Tuệ... Cho nên, muốn tiếp cận và tu tập thành công mỗi chủng tánh, con đường duy nhất đó là phải giác ngộ... Giác là, biết cái cần biết, biết như pháp, như lí tác ý... Ngộ là, tiếp cận, bắt gặp, sở hữu cái ta đã giác... Giác chính là những thông tin hữu ích và đầy đủ về một điều gì đó, ngộ là ta bắt gặp điều đó khi ta thực hiện đầy đủ thông tin của giác!!!

Vì thế, sẽ không có một cơ hội cho dù nhỏ nhất đối với những ai muốn thành tựu chủng tánh Anh Lạc, mà chưa có những thông tin chính xác của giác, và chưa một lần dấn thân thực hiện hoàn hảo các chỉ dẫn từ những thông tin kia!!! Hay nói khác hơn, giác ngộ chính là quy trình của sự thay đổi nhận thức, nhận thức thay đổi hành vi thay đổi, hành vi thay đổi đời sống thay đổi, đời sống thay đổi như pháp gọi là thành tựu một chủng tánh!!!

III.1- Tập chủng tánh

Tập chủng tánh là, hạt giống đầu tiên của Phật đạo... Biểu hiện của người thành tựu Tập chủng tánh là: Khổ, kiết sử, phiền não, lậu hoặc giảm thiểu đến mức thấp nhất hoặc dứt hẳn... Đặc biệt, ba kiết sử tiêu biểu là thân kiến, giới cấm thủ và nghi hoàn toàn tịch diệt... Nhờ tịch diệt các món này, nên việc nghi ngờ bản thân, nghi ngờ con đường mình đang đi, nghi ngờ bậc đạo sư không còn!!!

Trong đời sống thường nhật hay trong giấc ngủ... Vị tu hành thành tựu Tập chủng tánh thường không mất chánh niệm, bất kì hoàn cảnh nào, cho dù thuận duyên hay nghịch duyên, hỉ lạc, khinh an vẫn sung mãn... Sở dĩ gọi là tánh, vì tâm tánh của vị này gần như thành thường, nếu có bất giác hay thất niệm, chính chủng tánh hình thành từ tâm thức sẽ là “người thầy” nhắc nhở vị tu hành đó như pháp mà quay trở lại!!!

Muốn thành tựu Tập chủng tánh, người tu hành phải thấu suốt và tu tập các việc sau:

1) Như pháp quan sát Tứ Niệm Xứ... Không mê mờ bốn món trên như hồi chưa tu học...

2) Thấu suốt thật nghĩa thế nào là: Pháp, trần, căn, cảnh, thức, hiểu rõ hai nghĩa ấm, uẩn và hư vọng tâm... Nhờ thế, không bị các khái niệm trên làm đảo điên như người đời...

3) Giữ gìn sáu giới vô lậu như giữ gìn con ngươi của mắt mình... Do sức hộ trì của vô lậu giới, nên không chấp thủ quy ước giới, nhờ thế thoát khỏi giới cấm thủ kiến... Hiểu rõ quy luật của thân, nên không chấp thân, nhờ thế ra khỏi thân kiến... Thấy được con đường vô lậu, nhờ thế hết nghi ngờ!!! Do lực dụng của ba món trên, huệ vô lậu bắt đầu sanh khởi, tức vị ấy biết rất rõ con đường nào dẫn đến hữu lậu, con đường nào đưa đến vô lậu...!!!

Người thành tựu Tập chủng tánh, coi như đạt được mục tiêu của khổ đế và tập đế... Địa vị này tương đương quả vị A Na Hàm của Nhị thừa... Nếu là Bồ Tát thừa, tương đương địa vị thứ bảy của hàng Thập trụ tức Bất thối trụ!!!

III.2- Thánh chủng tánh và Tánh chủng tánh

Hai quả vị Thánh chủng tánh và Tánh chủng tánh dành cho người tu hành sau khi đã hết khổ và dứt tập, tiếp tục tu tập để chứng diệt đế, người chứng diệt đế sẽ thành tựu hai chủng tánh trên... Sở dĩ, hai chủng tánh nói trên có tên gọi sai khác là vì, Thánh chủng tánh chỉ cho Nhị thừa viên mãn diệt đế... Tánh chủng tánh chỉ cho Bồ Tát thừa thấy được bổn tâm, kiến được bổn tánh!!!

- Nhị thừa, muốn chứng viên mãn diệt đế vào Thánh chủng tánh... Sau khi thành tựu Diệt thọ tưởng định, phải tu tập Bát Bội Xả, tức xả những gì chướng với chân Niết Bàn, cho dù đó là Niết Bàn của Vô Tưởng Thiên, đây là loại Niết Bàn do dụng công tu hành tịch diệt sắc, thọ, tưởng ấm mà được... Có tu Bát Bội Xả mới hy vọng thanh tịnh hành ấm và thức ấm... Bát bội xả gồm: Xả sơ thiền, xả nhị thiền, xả tam thiền, xả tứ không định và xả diệt thọ tưởng định!!!

Nhị thừa, còn một con đường khác để đi đó là, khi vào tứ thiền (bất khổ bất lạc), nếu vị ấy được Đạo Sư khai thị, nhờ thắng căn, có thể chứng thẳng Diệt Tận Định mà không cần phải kinh qua Cửu thứ đệ định và tu Bát bội xả!!! Phần lớn, đây là hình ảnh của hàng Thiện Lai Tỳ Kheo, các vị ấy đã từng là Bồ Tát nhiều đời kiếp, trong hiện đời vì thương tưởng chúng sanh nên thị hiện hình tướng Nhị thừa để làm duyên cho Đạo Sư thuyết các nghĩa bán tự!!!

- Nếu là Bồ Tát, điều kiện để thành tựu Tánh chủng tánh là, vị này phải thấu suốt thật nghĩa “các pháp không tánh”... Dứt sinh tâm, dứt sinh pháp, thấy bổn tâm, kiến bổn tánh... Gọi nôm na là “minh tâm kiến tánh”...!!!

- Thánh chủng tánh, tương đương quả vị A La Hán hồi tâm của Nhị thừa... Tánh chủng tánh, tương đương Bát Địa Bồ Tát!!!

III.3- Đạo chủng tánh

Sau khi thành tựu diệt đế, chứng chân Niết Bàn... Cả Bồ Tát và Nhị thừa đồng phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, phát nguyện cầu Nhất Thiết Trí...!!!

Phát nguyện xong, ba thừa cùng học Đạo Đế, bây giờ danh xưng ba thừa không còn nữa, gọi là đồng vào Nhất thừa!!! Giống như các con sông đã chảy vào biển lớn, mọi tính chất riêng tư, những dị biệt của các con sông không còn nữa...!!!

Học xong các thứ huyển trí của Nhất Thiết Trí, Nhất thừa đồng thành tựu Đạo chủng tánh... Trí này sáng như trăng 12... Địa vị này tương đương Cửu Địa Bồ Tát, gọi là Thiện Huệ Địa, tức do học tập mà biết tất cả các Tam Muội Môn và Giải Thoát Môn của Chư Phật!!!

III.4- Đẳng giác chủng tánh

Sau khi thành tựu Nhất thiết trí, vị này lặng lẽ quan sát mười pháp giới... Quan sát xong, mới biết rằng sở dĩ có các pháp giới sai biệt là vì, hữu tình trong thập phương thế giới do nhận thức sai biệt, nên có các pháp giới sai biệt!!!

Thấy như vậy rồi, Bồ Tát này y chỗ sai biệt của hữu tình, tuỳ tâm lượng từng hữu tình, mỗi mỗi dùng thiện xảo phương tiện khiến họ đồng được những điều cần được của Phật đạo, gọi là Đại Bồ Tát phát khởi đại từ đại bi!!!

Vị Bồ Tát thực hành công hạnh của mình, đến khi đầy đủ công đức, thấy điều Phật thấy, biết điều Phật biết, chứng điều Phật chứng gọi là Đẳng giác Bồ Tát... Giống như người học thành thục nghề kim hoàn, thiện xảo làm ra các món trang sức như dây chuyền, vòng xuyến, bông tai..v..v... Tất cả chúng sanh có nhu cầu trang sức, khi đủ duyên, đều được Bồ Tát cấp thí đúng như mong ước!!!

Đẳng giác chủng tánh, chính là người thợ điêu khắc tài ba... Mỗi mỗi lõi cây, đều có thể tạc thành những bức tượng thù thắng theo ý nguyện của khách hàng... Chính sức thiện xảo của Bồ tát này, từ đây danh xưng tốt đẹp Đại Bồ Tát ra đời!!!

III.5- Diệu giác chủng tánh

Đây là chủng tánh cuối cùng của người tu hành trước khi thành Đẳng Chánh Giác đủ mười danh hiệu...Diệu giác chủng tánh có được là do quá trình giáo hoá chúng sanh... Chủng tánh này, chính là Pháp Vân Địa trong Thập Địa Bồ Tát!!!

Trong quá trình giáo hoá của Đẳng Giác, phút giây bất chợt nào đó, tâm thức bùng vỡ lần cuối cùng, vị Bồ Tát ấy thoát khỏi huyễn trí, thành tựu thật trí... Với thật trí, vị ấy biết rõ ba đời Chư Phật và phép tắc lập nên một Liên Hoa Đài Tạng... Vị ấy thị hiện vai trò một Hậu Biên Thân, chờ ngày thành tựu Tối Hậu Thân như Chư Phật xưa!!!

Đây là hình ảnh một Di Lặc Bồ Tát thị hiện ở cõi thế trước khi thành Đẳng Chánh Giác đủ mười danh hiệu!!!

IV- KẾT LUẬN

Có thể nói, tu tập trong Phật đạo để thành tựu sáu chủng tánh Anh Lạc, chính là sáu giai đoạn đào bới tâm thức để tìm Phật tánh trong mỗi chúng ta!!!

Phật dạy: “Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh”, lời dạy trên chỉ ra rằng, tu tập trong Phật đạo là công việc đi tìm cái đã có, cái thường hằng trong mỗi con người, chứ không phải làm ra cái mới!!!

Cái đã có ấy chính là Phật tánh... Phật tánh là một thứ tâm tánh nào đó mà, trong nó hội đủ những đức tính siêu việt của một đức Phật, các đức tính ấy được Phật khái quát bằng những ý vị cụ thể như: Thường, ngã, lạc, tịnh, từ, bi hỉ, xả v.v...!!!

Phật tánh là thường, thế nhưng hữu tình vì điên đảo, vì ham ưa dục tưởng, vì chạy theo các quan niệm hư dối, vì mê cảnh duyên, vì chẳng biết tự dừng... Cho nên tâm trí bị các thứ nói trên làm cấu nhiễm, do cấu nhiễm nên tuy Phật tánh có đó mà không thể hiện ra, vì vậy phải chịu ngu si phiền muộn!!! Giống như mặt trời thường sáng, thường chiếu soi, nhưng vì mây đen, vì mù loà, vì duyên xoay vần của vũ trụ nên mặt trời không hiện!!!

Phật ra đời, vì thương tưởng chúng sinh, để khiến chúng sinh hết ưu não, để khiến chúng sinh có trí tuệ... Phật lập bày các món phương tiện, vạch ra con đường để chúng sinh tìm lại vật quý nhất mà mỗi người tự có... Con đường đó chính là giáo pháp!!!

Lần theo con đường Phật đã dạy, từng lớp u tối được phá bỏ, nhờ sức chiếu soi từ Phật tánh, sáu lớp u tối lần lượt rực sáng bởi sức chiếu vô tận của Phật tánh, mỗi một lớp u tối bị phá bỏ để Phật tánh chiếu đến, tạm gọi là chủng tánh Anh Lạc... Cho nên, tuy có sáu lớp và sáu lần chiếu nhưng tất cả đều cùng một nhân nên những ý vị cốt lõi không hề sai khác!!!

Sáu chủng tánh Anh Lạc từ tâm thức người tu hành giống như người đào giếng... Tâm thức u tối của hữu tình giống như trên mặt đất khô, nhưng dưới đó có mạch nước ngầm... Cứ mỗi lớp đất được đào bỏ, dấu hiệu có nước lại hiện ra, từ khô cằn, đến thấm ướt, đến đất nhão, đến nước đục rồi cuối cùng là nước trong xuất hiện... Mỗi một dấu hiệu có nước, là một động lực khiến người đào giếng không còn nghi ngờ, thêm quyết tâm và cuối cùng là sự đền đáp xứng đáng bởi những giọt nước mát lành!!!

Để có thể tìm thấy dòng nước quý giá, kiến thức, công sức, kĩ thuật, công cụ chuyên dùng là những món không thể thiếu đối với người đào giếng... Đào tìm Phật tánh cũng như thế, giác ngộ, tốc lực tâm, tốc lực trí, tốc lực công hạnh là những món nhất thiết phải có, thiếu một món trong những món kể trên, rất khó thành toàn cho những ai đi tìm Phật tánh thông qua lục chủng tánh Anh Lạc!!!

V- LƯU THÔNG

Các bạn!!!

Như vậy, những gì cần thiết trong việc thành tựu lục chủng tánh Anh Lạc đã được chúng ta điểm qua!!!

Đối với Tâm Tông, lục chủng tánh Anh Lạc là cơ sở trọng yếu mà mỗi HĐ chúng ta phải tuần tự vượt qua và sở hữu nó... Lục chủng tánh của Tâm Tông, không giống những gì của Giáo Tông mà các năm trước HĐ Lý Gia chia sẻ... Mỗi một chủng tánh, về lí thuyết phải trả qua nhiều đời kiếp tu tập miệt mài...!!!

Nhưng cũng chừng ấy chủng tánh, với sức diệu dụng của Tâm Tông có thể là một vài sát na chúng ta có thể biến nhiều đời kiếp thành một chớp mắt... Mê hay ngộ, ngu hay trí khoảng cách của những thứ ấy không thật... Giống như một hang động tăm tối cả ngàn năm, chỉ cần một cây đèn có cường độ cực mạnh được đốt lên, cái hang tối ngàn năm tức thì ngập tràn ánh sáng!!!

Tâm trí của một hữu tình cũng như thế... Nếu một cây đèn nhỏ thắp lên, vùng sáng rất nhỏ, muốn thấy toàn hang động phải thắp nhiều ngọn đèn, thắp nhiều ngọn đèn để thấy toàn hang động, Phật đạo gọi là Vô Tận Đăng dụ cho Giáo Tông... Nhưng, quả đất này, tuy lớn như vậy, nhưng chỉ cần bình minh ló dạng, những nơi nào trên địa cầu có đủ duyên đều được sáng dụ cho Tâm Tông!!!

Ha ha ha ha!!! Giác ngộ, tốc lực tâm, tốc lực trí, tốc lực hạnh nguyện chính là bốn yếu tố làm nên mặt trời trí tuệ!!!

Các bạn!!!

Hãy làm một mặt trời trí tuệ của Tâm Tông để có thể đem ánh sáng rực rỡ đến những nơi tăm tối nhất!!!

Năm mới Kỉ Hợi, năm thứ hai chúng ta xâm nhập Tâm Tông... Cái thời sống nhờ bầu sữa Giáo Tông của mười năm trước đã qua rồi!!!

Hy vọng sau bài viết này, toàn bộ HĐ chúng ta có một năm mới với những thành tựu mới!!!

Nhật quang thường chiếu!!!

Chánh pháp hiện tiền!!!

Chúc mọi người an vui, tinh tấn!!!

Mùng năm tết Kỉ Hợi (2019)

LÝ TỨ

(31) SÂN CHƠI TRỰC TUYẾN LÝ GIA

(31) SÂN CHƠI TRỰC TUYẾN LÝ GIA

(31) SÂN CHƠI TRỰC TUYẾN LÝ GIA

(31) SÂN CHƠI TRỰC TUYẾN LÝ GIA

Tác Phẩm Lý Tứ

Các Tầng Bậc Kiến Tánh

MB 857 Lý Diệu Sinh 13.02.2023

Hỏi: Trong Phật Đạo có hai từ Kiến Tánh.

−Ví dụ lúc “thấy tham sân” khởi lên và diệt đi (trong chánh niệm) thì được gọi là “kiến tánh” chưa?

−Có phải “chứng hai vô ngã” đồng nghĩa với vụ nổ “Big Bang" và cũng được gọi là “Kiến Tánh” hay không?

−“Cái thấy” và “cái được thấy” phản chiếu trung thực được gọi là Kiến Tánh?

֎Đáp: Khi nhận được câu hỏi của bạn (hoặc các độc giả khác gởi về)... Lý Tứ chẳng những không lấy đó làm phiền, mà ngược lại rất hoan hỉ!

Trong các kinh, Phật thường hay khen ngợi “người khéo hỏi và người khéo trả lời” ... Bởi lẽ, đối với Phật đạo, hỏi và trả lời câu hỏi là một nghệ thuật...!

Nghệ thuật ấy giúp người hỏi nâng cao năng lực tu tập, từ đó tạo thói quen hình thành phép đặt câu hỏi có trọng tâm, cũng như sáng tỏ những điều mình chưa sáng tỏ... Đồng thời đối trước câu hỏi, sẽ giúp người trả lời phát huy sức thiện xảo trong nghệ thuật vấn đáp, một trong những nghệ thuật không thể thiếu đối với bất kì lãnh vực học tập nào!

Về các thắc mắc của bạn, mình sẽ không trả lời trực tiếp từng ý... Mà chỉ phân tích “khái niệm kiến tánh”, cũng như “các điều kiện cần có của cảnh giới kiến tánh”! ... Từ đó, bạn sẽ tự trả lời cho bản thân những thắc mắc mà bạn đã nêu!

I. KIẾN TÁNH LÀ GÌ?

֎Kiến tánh là khái niệm chung, nhằm chỉ cho ba giai đoạn, ba cảnh giới mà một người tu hành trong Phật đạo (cần) đạt đến, đó là: Thấy tánh giác, thấy tự tánh, thấy Phật tánh (kiến = thấy)!

֎Về khái niệm kiến tánh... Cho đến thời điểm hiện tại, mình chưa tìm thấy sự thống nhất trong giới tu hành là: Khái niệm này nhằm chỉ cho việc thấy tánh giác hay thấy tự tánh hoặc thấy Phật tánh? ... Mà phần lớn tuỳ theo tông phái, tuỳ theo quan điểm tu hành, mỗi một nơi dùng khái niệm kiến tánh để chỉ cho một cảnh giới trong ba cảnh giới nêu trên theo cách hiểu riêng (hay thói quen) của họ! ... Vì thế, chỉ khi nào, nghe họ mô tả, và phân tích ngữ cảnh trong câu nói, chừng ấy mới biết hai chữ kiến tánh mà người kia đã nói lên nhằm chỉ cho cảnh giới nào!

֎Điều này giống như cùng một cái cây, người thấy ngọn cây cũng bảo rằng “thấy cái cây”! ... Người thấy thân cây, cũng bảo rằng “thấy cái cây”! ... Người thấy gốc cây, cũng bảo rằng “thấy cái cây”! ... Ba người thấy ba phần khác nhau của cái cây đều bảo rằng “nay tôi đã thấy cái cây” ... Như vậy, muốn biết những người ấy thấy phần nào của cái cây, phải nghe người ấy mô tả cái thấy của mình... Chừng ấy, “thấy cái cây” là thấy phần nào của cái cây mới được sáng tỏ!

Ví dụ: Người thấy ngọn cây, sẽ mô tả cái cây tôi thấy có nhiều cành nhánh! ... Người thấy thân cây, sẽ mô tả cái cây tôi thấy, có dáng hình trụ, cao to, vỏ bọc xù xì! ... Người thấy gốc cây, sẽ mô tả cái cây tôi thấy,

to lớn có nhiều rễ cắm sâu xuống đất, v.v...!

Tất nhiên trong đời, không thiếu những người chưa một lần kiến tánh... Nhưng họ vẫn nhầm lẫn (do vô tình hay cố ý) bản thân đã kiến tánh... Để kiểm chứng việc người đó cho rằng bản thân đã kiến tánh là thật hay giả, chỉ cần nghe họ mô tả về điều họ đã thấy, từ đó mới có những đánh giá chính xác về cái thấy của người kia là đúng hay sai về cảnh giới kiến tánh!

Ví dụ, có người bảo: “Nay tôi đã thấy cái cây ấy” ... Nhưng khi mô tả, người đó lại mô tả hình dáng một... Con... mèo... Thì... Thì... Thì, biết chắc rằng, người ấy chỉ thấy con mèo chứ... chưa... thấy... cái... cây!

Tất nhiên, để có thể đánh giá một người đã kiến tánh hay chưa, người đánh giá phải là người “thấy đầy đủ ba phần của một cái cây”! ... Những người thấy một phần, thì không thể nhận định, đánh giá các phần cây mình chưa thấy! ... Đây là lí do vì sao, khi bàn về cảnh giới kiến tánh, phần lớn người tu học trong Phật đạo thường không thống nhất ý kiến hoặc quan điểm của nhau!

II. CÁC TẦNG BẬC KIẾN TÁNH

II.1. “Kiến tánh giác”: Khái niệm này dùng để chỉ cho cảnh giới người tu hành sau khi thấy biết (của họ)

đã hoàn toàn không còn bị nhiễm ô bởi tri thức thế gian.

Do thấy biết không còn bị nhiễm ô bởi tri thức thế gian nên, cái thấy, cái nghe, v.v... trở về đúng chức năng thấy biết bản nhiên của tánh giác... Cho nên, người ấy không còn bị khổ, phiền não, kiết sử, lậu hoặc hiện khởi! (Tất nhiên sân si cũng đã tịch diệt, nên ý thứ nhất trong câu hỏi có thể dùng phần này để đối chiếu)

Và, một điều cực kì quan trọng của người đã kiến tánh giác là, vị ấy biết chắc rằng: Sau khi tịch diệt “kiến văn giác tri” thế gian, sẽ không rơi vào đoạn diệt (như những người không kiến tánh suy lường rồi hiểu nhầm)! ... Giống như nguồn nước bị nhiễm ô, sau khi loại bỏ các thứ nhiễm ô, nguồn nước không vì thế mà cạn kiệt, trái lại nguồn nước sẽ trở nên trong sạch hơn!

Để mô tả sự không đoạn diệt này, kinh gọi cảnh giới sau khi kiến tánh giác là “Tam Muội Giác Gia Trì”! ... Tánh giác (hay tánh thấy) chính là Tam Muội Giác, một thứ Tam Muội hình thành gần như đầu tiên của người tu hành!

II.2. “Kiến tự tánh”: Sau khi tâm thức vị tu hành không còn nhiễm ô, tánh giác phát huy tác dụng... Người tu hành sử dụng “tánh giác như một công cụ” nghe nhìn tối ưu... Người ấy quay trở vào tự tâm, nhìn ngắm tự tâm... Vị ấy trực nhận ra (không phải tưởng tượng hay suy lường) bổn tâm có những tính chất tự nhiên (tự tánh) của nó như: Thanh tịnh, bất động (không động lay), không sanh diệt (chẳng phải không sống chết), thường tự an vui, thường tự tịch tĩnh, thường tự chiếu soi, đầy đủ công đức của cảnh giới Niết Bàn, v.v...!

Do thấy được tự tánh, vị tu hành cũng biết chắc một điều “Bản lai, chư Phật và chúng sanh đồng một tự tánh”. Đây là cơ sở quan trọng để người tu hành biết rõ đâu là thế gian đâu là xuất thế, cũng như thế gian hay xuất thế thực chất là ở đâu và đi về đâu!

֎Khi thấy được tự tánh, Lục Tổ Huệ Năng bất ngờ trước những tính chất mà trước đây cho dù bản thân đã kiến tánh giác trong lần sơ ngộ nhưng cũng không thể thấy... Vì thế bèn thốt lên: “Nào dè tự tánh vốn tự thanh tịnh, nào dè tự tánh vốn không động lay, nào dè tự tánh vốn không sanh diệt, nào dè tự tánh vốn tự đầy đủ (công đức), nào dè tự tánh có thể chiếu soi muôn pháp (nếu mê sẽ sanh muôn pháp, như nước bị nhiễm ô sẽ làm vẩn đục hình bóng các thứ chiếu vào nó) ...! ”

II.3. “Kiến Phật tánh”: Là cái thấy gần như sau cùng của người tu hành trong Phật đạo! ... Người thấy Phật tánh, đích đến Vô Thượng Bồ Đề được coi là rất gần... Vì thế, người xưa hay nói “kiến tánh thành Phật”!

Để có thể kiến Phật tánh, người tu hành phải trải qua hai cảnh giới trước đó là, thấy tánh giác và thấy tự tánh! ... Thấy tánh giác, hết nhiễm ô! ... Thấy tự tánh biết được bản chất cùng tánh chất tự nhiên của tự tâm!

Sau khi thấy được hai món trên, vị tu hành phát khởi từ bi tâm, học tập tất cả các Tam Muội Môn và Giải Thoát Môn của chư Phật, có được trí tuệ, thực hành công hạnh giáo hoá dày sâu...! ... Trong quá trình giáo hoá, vị này trực nhận ra: Tâm trí (bây giờ) cũng đầy đủ những tính chất như một vị Phật, đó là: Thường, ngã, lạc, tịnh, từ, bi, hỉ, xả... mà trước đây các tính chất trên chưa hiện đầy đủ!

Nói khác hơn, thấy Phật tánh là khái niệm để chỉ cho những vị trực nhận ra, tâm và trí (bây giờ) cũng đầy đủ những tính chất ưu việt, siêu quá ba thừa như một vị Phật! ... Nhờ cái thấy cuối cùng này, vị ấy lần lượt thành tựu Thập Bát Bất Cộng của chư Phật!

Để mô tả việc thấy Phật tánh quan trọng như thế nào, Phật tuyên thuyết các giai đoạn phải trải qua bằng lời dạy như sau: “Trước khi thọ thực, thân Bồ Tát là nhục thân... Sau khi thọ thực, Bồ Tát nhập Kim Cang Tam Muội tiêu hoá thức ăn, biến nhục thân thành Kim Cang Thân... Thấy Phật tánh, thành Đẳng Chánh Giác...”!

Thiết nghĩ, lời dạy trên đã khái quát những cảnh giới tiêu biểu (hay các tầng kiến tánh) mà một Bồ Tát phải kinh qua, trước khi thành Đẳng Chánh Giác!

III. KẾT LUẬN:

Kiến tánh là khái niệm để chỉ cho “ba cảnh giới” mà một người tu tập trong Phật đạo, phát tâm Vô Thượng Bồ Đề phải thành tựu! ... Ba lần thấy này, có sự kế thừa lẫn nhau theo một quy trình nhất định! ... Để dễ hiểu, ta có thể ví dụ như sau:

“Giống như một người xa xứ lâu năm, nay trở về quê hương... Sau khi trải qua một đoạn đường dài, người ấy từ xa thấy bóng dáng của cây đa đầu làng (kiến tánh giác) ... Nhờ bóng dáng đặc trưng của cây đa đầu làng làm dấu hiệu cho làng của mình, người ấy cứ nhắm thẳng hướng có cây đa mà đi tới (bất thối) ... Về đến cổng nhà, người này thấy rõ thân cây đa cao to với lớp vỏ sần sùi (kiến tự tánh) ... Sau khi vào nhà, người này tiếp tục quan sát gốc đa và nhận ra gốc rễ (cũng như toàn thân) của nó (kiến Phật tánh) ...!”

Điều đặc biệt, tuy kiến tánh giác chỉ là cái thấy đầu tiên trong quy trình kiến tánh gồm ba thứ nhãn lực của ba cảnh giới khác nhau... Nhưng, kiến tánh giác đóng một vai trò cực kì quan trọng, đó là cái thấy đầu tiên nhưng cũng là cái thấy giúp người tu hành “bất thối”, thành tựu “Bất Cộng Phàm Phu Pháp”... Giống như người xa quê, trên đường trở về, thoạt thấy bóng dáng đặc trưng của cây đa đầu làng, người ấy biết chắc mình đã về đúng quê hương... Từ đấy an lòng (chánh định), mạnh chân (tinh tấn), vững bước (không còn nghi ngờ đi lộn đường)!

Hỏi: Có phải chứng hai vô ngã đồng nghĩa với vụ nổ “Big Bang" và cũng được gọi là Kiến Tánh hay không?

֎Đáp: Người tu hành chứng hai vô ngã, sau khi được khai thị một lần nữa (giống Ngũ Tổ thuyết Kim Cang cho Lục Tổ), vị ấy chỉ mới thấy được tự tánh (cũng gọi là kiến tánh) ... Và cái thấy này, cũng chưa đủ công đức để tạo ra một vụ nổ Big Bang của tâm thức!

Nổ Big Bang tâm thức là vụ nổ sau cùng để thấy Phật tánh! Sau khi nổ Big Bang, vị này tự thành tựu Vô Sư Trí (một thứ trí tuệ không có thầy, và dùng để dạy tất cả các địa vị “hữu sư trí” trong Phật đạo... Chừng nào đủ duyên, vị ấy thành Đẳng Chánh Giác)!

Hy vọng những giải thích ở trên, có thể giúp bạn nhận ra một vị đã kiến tánh là thấy điều gì... Và điều kiện để có được ba thứ thấy trong quá trình kiến tánh hoàn hảo là như thế nào... Từ đó, giúp bạn đối chiếu với những thắc mắc của mình và tự trả lời cho bản thân!

(24/03/2020

Tác Phẩm Lý Tứ

Như Thế Nào Là Chân Mà Không Có Đế

MB 857 Lý Diệu Sinh 13.02.2023

Hỏi: Như thế nào gọi là Chư Phật là Chân mà không Đế?

Đáp:  −Thấy thân này tịnh cùng bất tịnh là Đế.

−Thấy cảm Thọ này là khổ hay lạc là Đế.

−Thấy tâm này là thường hay vô thường là Đế.

−Thấy pháp kia là ngã hay vô ngã là Đế.

 ●Khi nào trực nhận ra rằng:

−Thân này bản chất chẳng tịnh chẳng bất tịnh, thấy như vậy gọi là Chân Tịnh.

−Thọ này bản chất ra ngoài khổ lạc, gọi là Chân Lạc.

−Thấy rằng, tâm này bản chất chẳng thường chẳng vô thường, gọi là Chân Thường.

−Thấy rằng, bản chất của các pháp chẳng phải ngã chẳng phải vô ngã, gọi là Chân Ngã.

Chân Thường, Chân Ngã, Chân Lạc, Chân Tịnh là “Chân mà không có Đế” của Chư Phật.

Chân mà không có Đế, chính là sự “trực nhận Thiệt Tướng”. Sự trực nhận này, không phải thông qua một cơ sở (Đế) nào hết. Ví như chẳng thông qua Thiền, chẳng thông qua Giác, chẳng thông qua Giáo, chẳng thông qua Đạo.

Sự trực nhận mà không thông qua bất kỳ một lăng kính nào hết, gọi là Chân mà không Đế. Nó còn có nghĩa rằng, chẳng nương tựa bất kỳ một thứ gì trên đời để có được thấy biết này.

Hỏi: Phần lớn người tu hành, luôn miệng bảo rằng tu tâm nhưng lại chạy ra bên ngoài để tìm cầu, phân tích, so sánh, suy lường mong có được một sự thành tựu nào đó. Xin hỏi, làm như vậy có thể đạt được điều gì trong Phật Đạo hay không?

Đáp: Xin thưa, những người như vậy, chỉ có thể thành tựu danh tướng mà không thể thành tựu Đạo Tâm.

Có nghĩa rằng, người này nhất định sẽ thành tựu phiền não, mà không thể thành tựu an vui của Niết Bàn.

Hỏi: Không bốn tướng, không tứ cú, không bốn bệnh. Có phải là chỗ tột cùng của Đạo hay không?

Đáp: Những thứ này, là chỗ tột cùng của Đạo. Nhưng chưa phải là chỗ tột cùng của Trí..

Hỏi: Như vậy, Đạo khác Trí hay chăng?

Đáp: Đạo không khác Trí. Nhưng Đạo chưa phải là Trí.

֎Khi nào có Thật Trí mới biết rằng, Đạo và Trí chẳng phải hai. Nếu ai bảo rằng hai thứ này là một, nhất định lời nói đó đang sai...!

Tác Phẩm Lý Tứ

Vì Sao Tứ Niệm Xứ Là Cội Nguồn Của Đạo Pháp

MB 857 Lý Diệu Sinh 13.02.2023

Hỏi: Dựa trên cơ sở nào để người tu hành thành tựu các đạo quả trong Phật Đạo. Cụ thể, đó là Thiền Định, Tứ Diệu Đế và các loại Niết Bàn?

Đáp: Thông thường, người đời chạy ra bên ngoài để tìm kiếm thành công. Người tu hành trong Phật Đạo thì ngược lại, muốn thành công trong Đạo Pháp, phải quay trở về cội nguồn của Đạo. Đó là Tứ Niệm Xứ để tìm thấy Thiền Định, thành tựu Tứ Diệu Đế và chứng thực các loại Niết Bàn.

Hỏi: Vì sao Tứ Niệm Xứ là cội nguồn của Đạo Pháp?

Đáp: Đạo Phật là Đạo Diệt Khổ, là Đạo Giác Ngộ, là Đạo Giải Thoát và là Đạo Trí Tuệ.

− Tứ Niệm Xứ chính là Khổ Đế.

− Tứ Niệm Xứ chính là Thiền Xứ.

− Tứ Niệm Xứ chính là Tập Đế và Dứt Tập Đế.

− Tứ Niệm Xứ chính là Khổ Diệt Đế và Dứt Khổ Diệt Đế.

− Tứ Niệm Xứ chính là Khổ Đạo Đế và Tứ Trí Đế.

− Tứ Niệm Xứ chính là Trung Đạo để Chư Phật mở Từ Bi Tâm khai phát Chân Giáo.

Vì thế, muốn thành tựu Thiền Định, Tứ Đế, các quả vị của Phật Đạo cho đến các thứ Niết Bàn cùng Thật Trí, “người tu hành không thể tìm kiếm những thứ này ngoài Tứ Niệm Xứ”.

Hỏi: Xin nói rõ, như thế nào gọi là lấy Tứ Niệm Xứ để thành tựu các món nói trên?

Đáp: Có năm giai đoạn, người tu hành phải dựa trên Tứ Niệm Xứ, để lần lượt thành tựu viên mãn các thứ nói trên.

֎Muốn diệt khổ: Người tu hành phải biết rằng, do xưa nay ta mê lầm Thân, mê lầm Thọ, mê lầm Tâm, mê lầm Pháp nên mới có sự khổ xảy ra đối với chính ta. Nếu không mê lầm bốn món trên, thì sự khổ sẽ không xuất hiện.

Giống như trong bóng tối, người ta lầm sợi dây thành con rắn, nên chịu khổ não. Nếu người này thấy hoặc biết rõ con rắn đó chỉ là sợi dây thì mọi nỗi khổ và sợ hãi sẽ tức thì chấm dứt. Thấy được như vậy, tâm vị này an vui, thân vị này nhẹ nhàng. Mọi thứ khổ não sẽ tịch diệt, nhường chỗ cho an vui chân thật của Thiền Định xuất sinh.

Từ đây mới biết rằng, mỗi chúng sanh tự sẵn đủ Thiền Định chỉ do ngộ nhận Bốn Niệm Xứ mà Thiền Định bị khổ não che lấp. Phật Đạo gọi việc làm này là “người thấy Khổ”.

֎Muốn Giác Ngộ: Người tu hành phải thấy cho được nhân duyên thành tựu Thân này, nhân duyên hình thành các cảm Thọ, nhân duyên phát sinh hư vọng Tâm, nguyên nhân sinh khởi cấu pháp và bất tịnh Pháp.

Thấy được những nguyên nhân như vậy, sẽ không bị bốn món trên mê hoặc. Một khi không còn bị mê hoặc, người này tức thì có được sự an lạc, có được thảnh thơi khi cộng trú với bốn món này. Có nghĩa rằng, cộng trú chứ không cộng sinh. Do không cộng sinh với bốn Niệm Xứ nên ngã không sanh, ngã không sanh Kiết Sử không sanh.

Giống như trong đêm tối, trước một con rắn dữ, người này thắp lên ngọn đèn thật sáng. Dưới ánh sáng của ngọn đèn, con rắn bây giờ hiện nguyên hình là sợi dây. Mọi hoài nghi, mọi hãi sợ về con rắn hoàn toàn biến mất, nhường chỗ cho an lạc, thảnh thơi và vĩnh viễn sự nhầm lẫn từ sợi dây thành con rắn không thể hiện khởi. Thấy được như vậy, mọi trói buộc và sai sử từ Tứ Niệm Xứ không còn nữa. Một khi bốn món trên không còn trói buộc và sai sử. Có nghĩa rằng, thân phận của kẻ làm nô lệ cho các Niệm Xứ được giải thoát thì các Kiết Sử cũng tự giải phóng ra khỏi chính họ.

Trong sự giải phóng hoàn toàn Kiết Sử này, Phật Đạo gọi đó là “Người Dứt Tập”.

֎Muốn Giải Thoát rốt ráo: Người tu hành phải thấy cho được bản chất của bốn món Thân, Thọ, Tâm, Pháp. Khi thấy đúng bản chất của bốn món trên, bây giờ người tu hành mới vỡ lẽ ra. Xưa nay, bản chất của Thân không cột không mở (không phược không thoát). Bản chất của Thọ chẳng khổ chẳng vui (bất khổ bất lạc). Bản chất của Tâm chẳng thường chẳng vô thường. Bản chất của Pháp chỉ do quan niệm mà thành, tự nó không chân lý nên chẳng thể trở thành thiện ác.

Giống như người ta thấy được bản chất của sợi dây, tự nó không cột không mở, tự nó không là hiểm họa của khủng bố hay bình an (nên được vô bố úy), tự nó không có những tính chất của sợ hãi hay an vui, tự nó không có ngã cùng vô ngã (nên chẳng thiện chẳng ác).

Thấy được như vậy, người này sẽ thành tựu “cứu cánh rốt ráo không”, tức là không thấy tánh, không thấy tướng, không thấy hữu vi, không thấy vô vi. Thân chứng Tất Cánh Không của Diệt Đế”.

֎Muốn có Trí Tuệ: Người tu hành sau khi dùng Chánh Tư Duy để biết rõ bản chất của Thân, Thọ, Tâm, Pháp mới lặng lẽ quan sát bốn Niệm Xứ.

Lặng lẽ quan sát Thân, Thọ, Tâm, Pháp đến một lúc nào đó, vị tu hành “trực nhận ra bản lai của bốn món này”. Chừng ấy, trong sự trực nhận, vị tu hành mới thấy biết đích thực “Thiệt Tướng” của bốn món này lìa giả lìa chân. Tức là, nơi Thiệt Tướng không có sự dự phần của khái niệm giả hay chân. Chỉ khi nào, hai phạm trù giả chân không còn một mảy may bóng dáng thừa sót trong tâm thức này, chừng ấy vị tu hành mới biết rằng, thế nào là Đạo Đế của Phật Đạo. Thấy như vậy, Phật Đạo gọi đó là “vị có Trí Tuệ” !

֎Thành tựu Đạo Đế rồi, để phát khởi Thật Trí: Vị này quan sát hết thảy chúng sanh, thấy rằng các hữu tình kia cũng đồng nguồn đạo như ta, chỉ vì họ lầm nhận bốn Niệm Xứ, nên bị bốn món này làm cho điên đảo.

Thấy như thế, vị tu hành này phát khởi Đại Bi Tâm, tìm học các món phương tiện, lúc dùng quyền, lúc dùng thiệt, lúc nói Ấm, lúc nói Uẩn, lúc nói Xứ, lúc nói Giới, lúc nói Giác, lúc nói Quán.

Để khiến hết thảy chúng sanh cũng được thấy biết như mình, gọi là “thể nhập Thật Trí”. Thể nhập Thật Trí chính là Trung Đạo.

 “Trung Đạo chính là con đường Chư Phật, Chư Bồ Tát đã đi, đang đi và sẽ đi”.

Tác Phẩm Lý Tứ

Chăm Bón Sự Nghiệp Tu Tập

MB 857 Lý Diệu Sinh 13.02.2023

Các bạn! [[1]]

●Tu tập, là đi trên con đường rất dài và nhiều thử thách... Con đường này dài cả suốt cuộc đời! Mà đã là cuộc đời, thì có vô số lối tẻ và trở ngại... Nếu không phải một người có "đủ bản lãnh và trí tuệ", rất dễ bị cuộc đời đẩy đưa sang một lối tẻ nào đó hoặc dừng bước! Chuyện này xảy ra đối với người tu hành xưa nay không hiếm!

●Vì sao nó lại như vậy?

Có rất nhiều lý do để người tu hành trong Phật đạo dừng bước... Nó giống như người ta gieo trồng một cái cây, từ lúc bỏ hạt giống xuống đất, để hạt giống nảy mầm và đơm hoa kết trái, nó phải chịu rất nhiều tác động... Từ tác động thổ nhưỡng, môi trường, thời tiết, kỹ thuật chăm sóc, sâu bệnh, v.v... Nói chung, có vô số nguyên nhân từ lúc gieo giống đến thu hoạch làm cho cây trồng không cho ra kết quả như mong muốn...!

Muốn thu hoạch như ý, người nông dân phải bỏ ra rất nhiều công sức... Từ khâu chọn giống, đến kỹ thuật canh tác, phòng ngừa sâu bệnh, mọi thứ đều phải chăm sóc từng li từng tí... Chỉ cần lơ là trong một thời gian ngắn, thậm chí chỉ cần qua một đêm không có biện pháp phòng ngừa... Cả ruộng lúa chỉ còn trơ gốc!

Vì thế, tự chăm sóc bản thân trong việc tu tập, là việc làm thường xuyên giống như người ta chăm sóc cây trồng!

Có những tác động khiến cho cây trồng không tươi tốt chúng ta có thể thấy được và phòng trừ dễ dàng, nhưng cũng có rất nhiều tác động khó thấy, hoặc tưởng chừng như vô hại, nhưng nó lại đưa đến kết quả tồi tệ... Ví như, sáng ra ta chỉ thấy đám ruộng kế bên có vài con sâu, nhưng sau một đêm, cả cánh đồng đều bị sâu bệnh lây lan phá hoại... Chỉ có những người làm ruộng chuyên nghiệp và đủ sức hiểu biết, mới có thể ngăn ngừa những loại dịch bệnh như vậy!

●Cách hộ trì trong tu tập: Như đã nói ở trên, tu tập là thực hiện một cuộc hành trình suốt cả cuộc đời, mà cuộc đời có vô vàn trở ngại...

Giống như gieo trồng có bao nhiêu loại dịch bệnh, thì trong tu tập có bấy nhiêu, thậm chí nhiều hơn vô số lần sâu bệnh phá hoại! ... Muốn cây trồng không bị sâu bệnh phá hoại, người ta phải phòng trừ, che chắn thật kỹ để khỏi lây lan...

Trong tu tập, muốn đạo tâm không bị phá hoại, người tu hành phải biết phòng trừ, yểm ly...

−Che chắn bằng cách: Tự thoát ra khỏi những tác động làm thối chuyển, như lánh xa bạn xấu, gần gũi Thiện Tri Thức, thường xuyên đọc tụng kinh sách (Văn)!

−Phòng trừ bằng cách: Dập tắt nguồn lây lan bằng thứ thuốc “trí tuệ”! ... Thường xuyên ngồi xuống, chiêm nghiệm ý nghĩa Giáo Pháp đã học, cho đến khi thấu suốt… còn gọi là Thiền Tư (Ngồi Thiền; Tư).

−Chăm sóc bằng cách: Quay về với tự tâm, không nhìn ngó bên ngoài, không để tâm rong ruổi nơi thấy nghe khiến tâm ý tán loạn dẫn đến sinh tâm, sinh pháp!

Ứng dụng lời dạy của Phật, của Thiện Tri Thức vào đời sống đến khi thuần thục, sống đời sống như pháp (Tu)

֎ Các bạn! ... Muốn có kết quả tốt ở ngày sau, phải biết chăm bón "sự nghiệp tu tập" từ hôm nay! Không ai có thể cho ta an vui và trí tuệ hơn chính chúng ta! 

Phải tự nỗ lực rèn luyện để trở thành một người có bản lãnh trong Phật đạo!

Chỉ cần thiếu một chút bản lãnh, ngọn gió cuộc đời sẽ thổi các bạn chìm sâu trong ba cõi, và nó sẽ biến các bạn trở thành “một người tầm thường” như bao người tầm thường giữa cuộc thế!

 


 

[[1]] Trích email của Tác giả Lý Tứ gửi cho các Huynh Đệ Tỷ Muội (HĐTM) Lý Gia.

Tác Phẩm Lý Tứ

Pháp Hộ Trì Tứ Gia Hạnh

MB 857 Lý Diệu Sinh 13.02.2023

Các bạn! ... Giác ngộ rất quan trọng đối với người tu hành trong Phật đạo. Vì thế, Phật đạo còn được gọi là Đạo Giác Ngộ...

Giác ngộ ban sơ, là lúc người tu hành trong Phật đạo đặt một chân vào thế giới mới, gọi là xuất thế. Vì là lần đầu tiên đặt một chân vào cảnh giới xuất thế, nên tất cả đều mới lạ. Để làm quen với cuộc sống ở đây, và giữ gìn thành tựu này, phải biết cách hộ trì, một trong những pháp hộ trì tối ưu là Tứ gia hạnh. 

Tứ gia hạnh gồm bốn pháp, giúp người tu hành bảo vệ và trưởng dưỡng thành quả giác ngộ. Giống như từ quả trứng, để cho ra con gà, quả trứng này phải được chăm sóc đặc biệt, bất kỳ một lỗi nhỏ nào cũng có thể làm cho quả trứng hư thối... Bốn pháp như sau:

֎Noãn vị: Noãn là cái trứng. Người tu hành khi vừa giác ngộ, giữ gìn sự giác ngộ này giống con gà giữ cái trứng. Giác ngộ ban đầu như là cái phôi, không giữ gìn đúng phép sẽ bị hư hoại.

֎Nhẫn vị: Muốn cái trứng này thành hình, phải dùng sức nhẫn để gia bị. Nhẫn có hai thứ là: Nhu thuận nhẫn và Âm hưởng nhẫn. Hai nhẫn này chính là thiền và định, giúp cái phôi kia thành tựu.

−Âm hưởng nhẫn: Trong thấy nghe hay biết, người tu hành dùng sức giác để quán sát lỗi họa của thấy nghe, không cho các căn duyên nơi trần cảnh để sinh pháp như người đời. Hành động này giúp Tiền ngũ thức trở về chỗ đồng gọi là "Thành sở tác trí"... Thực hành như vậy trong tứ oai nghi (đi, đứng, ngồi, nằm), bây giờ ý thức không duyên nơi trần cảnh mà quay trở về nội tâm, lặng lẽ quan sát nội tâm gọi là “Diệu quan sát trí”. pháp tu này gọi là Tỳ Bà Xá Na.

−Nhu thuận nhẫn: Đầu hôm, giữa khuya, gần sáng đưa tâm thuận theo chỗ đã giác ngộ. Quán sát sự vắng lặng của tâm ý, hỷ lạc khinh an sẽ sanh, các thiền chi xuất hiện. Sự xuất hiện các thiền chi làm thay đổi tâm sinh lý để người tu hành thuận theo dòng Giác. Khi các thiền chi tự xả, hành giả phát hiện “bản lai tâm này thanh tịnh, chưa từng có ngã” gọi là Ngộ. 

Lúc này Mạt na thức không chấp lấy A Lại Da để sinh ngã, mà hoạt động độc lập gọi là "Bình đẳng tánh trí". A Lại Da không bị ngã chi phối, nhìn nhận sự việc như gương sáng soi cảnh duyên, gọi là "Đại viên cảnh trí". Pháp tu này gọi là Xa Ma Tha.

Sự thay đổi tâm sinh lý này cực kỳ quan trọng, nó sẽ giúp thân tâm hành giả thích nghi với đời sống mới của một vị đã giác ngộ. Giống như con cá nước ngọt đã làm quen với môi trường nước mặn, nếu không được thích nghi và trở thành tập quán mới, con cá sẽ chết hoặc quay trở về với ao hồ nước ngọt, nơi đã sinh ra mình, gọi là thối chuyển.

Lâu dần, con cá đã thích nghi, có thể di chuyển từ nguồn nước ngọt đến nước mặn hay ngược lại mà không hề trở ngại, gọi là tự tại. Điều này sẽ giúp hành giả khi giáo hóa “Biết rõ tâm người”. Trong kinh gọi là: Tâm tham biết có tham, không tham biết không tham, hành tâm biết hành tâm, đại hành tâm biết đại hành tâm, tâm si biết có si… Thành tựu hai thứ Nhẫn trên, gọi là “Vô Sanh Pháp Nhẫn”.

֎Đảnh vị: Đảnh là cái đỉnh, như đỉnh núi. Người tu hành đưa sự giác ngộ đến chỗ cao nhất trong đời sống, làm thành cao trào tu tập. Đỉnh cao này giúp hành giả dùng trí tuệ tự thoát ra khỏi ràng buộc của "Đỉnh núi Tu Di" ba cõi.

Nếu không giác ngộ thật sự và giác ngộ này không được đưa lên tột đỉnh, trở thành cao trào, hành giả không thể tự thoát khỏi đỉnh núi để đến với hư không... Giống như một người đứng trên đỉnh núi, cho dù thân đã ở trong hư không, nhưng da bàn chân vẫn còn dính trên đỉnh núi, không thể tự vượt thoát được.

֎Thế Đệ Nhất vị: Thành tựu này là thế gian đệ nhất. Đây là cảnh giới cao tột đối với thế gian, thuộc về vô vi, thế gian không thể suy lường mà biết được, nên gọi là Thế đệ nhất. Đến đây, coi như quả trứng đã nở ra con gà con khoẻ mạnh, với đời sống mới, con gà con sẽ trưởng thành theo thời gian...

Mong rằng, những lời giải thích ngắn ngủi này có thể giúp các bạn thực hành và trưởng dưỡng, không để cho "quả trứng giác ngộ" trở thành "quả trứng thối"!   (12-2010)

Tác Phẩm Lý Tứ

Giác Ngộ Lột Vai Diễn

MB 857 Lý Diệu Sinh 13.02.2023

Các bạn! ... Mình rất hoan nghênh khi các bạn nhận ra, cuộc đời chúng sanh chỉ là một vai diễn. Hôm nay, các bạn đã bắt đầu thoát xác, phải một lần chết đi những hiểu biết cũ thì con người mới sẽ xuất hiện.

Lột vai diễn xuống để làm khán giả là tuyệt vời. Nếu cần, chính mình cũng tham gia diễn trò, nhưng không bị lôi cuốn vào vai diễn. Muốn làm được như vậy, phải biết chắc mình là ai… Khi biết mình là ai và độc lập trong suy nghĩ, thì mới cảm nhận về cuộc đời một cách chính xác.

Đúng như điều các HĐ đã nói, một người giác ngộ thì ở đâu cũng an lạc, thời gian không gian chỉ là khái niệm của nghiệp thức phân biệt. Ba cõi tự tâm hiện, tâm thanh tịnh thì ba cõi là Phật quốc. Phàm, Thánh chẳng phải hai… Mê là Phàm, ngộ là Thánh.

Giác Ngộ là giác cái hư dối của vai diễn, để ngộ (gặp) con người thật của chính mình. Giải thoát là cởi (mở) cái ràng buộc thấy nghe để thoát ra khỏi trói buộc vai diễn và sân khấu.

Những khái niệm đơn giản này nó có thể giúp người an lạc. Đúng vậy! “Thân tâm an lạc” là biết rõ và thấy rõ thân tâm đích thực, tức là biết rõ bản chất (tự tánh) thân tâm này thanh tịnh từ vô thủy.

Vì hiểu lầm thân tâm theo cách hiểu của vai diễn, nên buồn vui theo nó. Bốn Niệm Xứ là Thân, Thọ, Tâm, Pháp phải đưa nó trở về bản nguyên thanh tịnh không bị vai diễn làm ảnh hưởng… Ngay nơi hành động này, bốn món kia lập tức trở thành “Chân Đế”, tức bốn món ấy chính là chân lý, quan sát kỹ một vai diễn, bạn sẽ hiểu ra vấn đề.

Người diễn viên sống trong vai diễn nên Thân, Thọ, Tâm, Pháp của họ là Thân, Thọ, Tâm, Pháp của vai diễn. Đây là ngộ nhận cực kỳ lớn. Chính ngộ nhận này gọi là “điên đảo mê lầm”. Vì thế, nơi thanh tịnh sanh phiền não, trong vô sanh bỗng hiện sanh diệt, niệm niệm tiếp nối không ngừng, hết khổ tới vui gọi là chúng sanh.

Lột vai diễn “Chúng Sanh” xuống thì ngay đó “Vô Sanh”.

Không chạy theo ngoại cảnh và không tạo nhân duyên cho tâm sanh khởi thì niệm niệm tự dứt. Có cung ắt có cầu, đây là nguyên lý thị trường. Tạm xa lìa các nhu cầu hư dối thì nhà cung cấp ngoại duyên tự phá sản. Bây giờ trong ngoài đồng thanh tịnh, ba cõi tịch diệt.

Phật Giáo là nói tổng thể, Phật pháp là chỉ những pháp của Phật dạy. Phật pháp là những pháp Phật thuyết cho chúng sanh. Phật Giáo là nói đến phần rộng bao gồm Phật, Pháp, Tăng tức xã hội Phật Giáo… Cái này không quan trọng lắm, tùy hiểu như thế nào cũng không hại.

Điều quan trọng nhất ở đây là, phải thấy được bổn tâm thanh tịnh, tự lột vai diễn xuống để làm một Khán Giả Siêu Việt trước sân khấu cuộc đời. (05-2010)

Tác Phẩm Lý Tứ

An Và Ổn

MB 857 Lý Diệu Sinh 13.02.2023

Bổn tâm và thế giới, tức tâm và vật tự đủ tính chất của an và ổn. Chỉ vì không biết hộ trì tâm, chỉ vì ý hay sinh pháp, nên mới không an và bất ổn!!!

Mục tiêu đầu tiên của tu hành là được an ổn. Muốn thành tựu hai điều an và ổn, phải biết nguyên nhân nào làm cho người tu hành “tâm không an và trí bất ổn”. An thuộc về tâm, ổn thuộc về thế giới tức những thứ ngoài tâm do trí suy lường.

1) Muốn "an tâm", phải biết rằng tâm này vốn đã tự an. Chỉ do vọng phân biệt, sanh vọng tâm. Vọng tâm sanh khởi, bỏ mất bổn tâm, chạy theo sự việc, lấy sự việc làm ta, lấy sự việc làm tâm, lấy sự việc làm ngã...

Vì thế, bất an sinh khởi. Nếu biết dừng lại, không chạy theo sự việc, không lấy sự việc làm ta, làm tâm, làm ngã. Bổn tâm hiện trở lại và an sẽ tự đến.

Giống như một người, cầm chiếc chìa khoá trên tay, nhưng vì vọng khởi, quên mất trong tay có chiếc chìa khoá. Do không bình tâm, suy diễn lung tung, người này hướng ra bên ngoài tìm chiếc chìa khoá. Vì không tìm thấy chiếc chìa khoá bên ngoài nên bất an sinh khởi.

Chỉ cần bình tâm, không vọng khởi, không suy diễn lung tung, thảnh thơi ngồi xuống. Nhất định sẽ phát hiện ra chiếc chìa khoá đang nằm trong tay của mình. Biết được như vậy, không cầu, không tìm tâm cũng tự an!!!

2) Sở dĩ người tu hành "bất ổn", chỉ vì đối với thế giới, trí não hay sinh các quan niệm, muốn chiếm hữu, hy vọng mọi thứ của thế giới thuộc về ta, phục tùng ta... Chính quan niệm, mong cầu, hy vọng và muốn chiếm hữu làm cho bất ổn!!!

Muốn "không bất ổn", phải biết bản chất của thế giới. Bản chất của thế giới tự nó không tánh, không tướng, chẳng thể sở hữu được, vì người và thế giới là “hai thực thể riêng biệt”. Biết như vậy, không khởi hy cầu, không sinh tâm chiếm hữu, bình thản trước mọi sự... Bất ổn sẽ không xảy ra.

Giống như trong bóng tối, nhìn thấy sợi dây tưởng lầm là con rắn. Do lầm tưởng nên ý sinh khởi các quan niệm chung quanh con rắn, vì thế trong lòng bất ổn. Chỉ cần bình tâm, thắp lên ngọn đèn, quan sát thật kỹ biết được sự thật, an ổn sẽ tự hiện!!!

Tóm lại, muốn thành tựu an và ổn. Người tu hành phải thực hiện hai điều đó là:

  • Trong: Không khởi vọng phân biệt “Tâm” sẽ “An”.

  • Ngoài: Không chạy theo hiện tượng để sinh pháp “nhất định Trí” sẽ “Ổn”.

Bổn tâm và thế giới, tức tâm và vật tự đủ tính chất của an và ổn. Chỉ vì không biết hộ trì tâm, chỉ vì ý hay sinh pháp, nên mới không an và bất ổn!!! 

(08-06-2015)

 

An và Ổn

Subscribe to