Tri Thức Và Ngũ Ấm (Trích Sách Tâm Tông Và Trò Chơi Trí Tuệ - Lý Tứ - Sắp Xuất Bản)

Các bạn !!!
Từ tối đến giờ, câu chuyện về tri thức và ngũ ấm cứ đeo đuổi, mặc dù đã viết bài phân tích về "cảnh giới tự chơn" gởi đến mọi người hồi chiều. Nhưng rồi, mình vẫn cảm thấy bài viết chưa nói hết được những điều muốn nói...!!!
Bây giờ là 2 giờ 42 phút sáng, mình vẫn chưa ngủ được !!! Và, đề tài này là sức hấp dẫn buộc mình phải tư duy để đào sâu hơn nữa cội gốc của vấn đề !!!
Có thể nói trong thời đại của chúng ta, thời đại của loài người văn minh, thời đại của kỹ thuật số, thời đại của công nghệ... đã giúp chúng ta có được một cuộc sống đầy đủ và tiện nghi hơn !!! Chúng ta may mắn hơn người xưa, mà cụ thể là thời của Đức Phật, nhờ những hỗ trợ vật chất, khoa học, kỹ thuật, thêm vào đó chúng ta được thừa hưởng một gia tài kiến thức đồ sộ của nhân loại, đây là kết tinh của trí tuệ, là anh hoa nhất của loài người...!!!
Lẽ ra, được thừa hưởng những thành quả như vậy, loài người văn minh trong hiện tại phải ngày một hạnh phúc hơn, một yên bình hơn... Nhưng tại sao, hạnh phúc và yên bình ngày một cách xa ??? Thậm chí hạnh phúc và yên bình trở thành một thứ xa xí phẩm, một thứ mà gần như chỉ vĩnh viễn có được trong ước mơ !!!???
Các bạn !!!
Nhân loại có một ngũ ấm đầy đủ như ngày hôm nay, là nhờ sự góp công rất lớn của tri thức, không có gia tài tri thức liệu cuộc sống loài người sẽ như thế nào ???
Trong hiện tại này, con người đã có được một tấm thân tốt tươi hơn người xưa là nhờ vào y học hiện đại, tri thức và khoa học đã giúp con người có được những lạc thọ tốt nhất, loài người văn minh đã biết biến những mơ ước, những ý tưởng tưởng chừng như hảo huyền của ngày xưa trở thành hiện thực...Nói chung, người Thầy tri thức đã đưa con người bước những bước rất xa, ra khỏi kỹ nguyên lượm hái bán khai !!!
Như vậy, cái gì đã làm cho con người với một ngũ ấm đầy đủ trong đó có tri thức hoàn hảo lại không thể hái ngôi sao hạnh phúc trên cao ??? Phật đạo nhìn ngũ ấm và tri thức dưới nhãn quan nào ??? Và, gia tài tri thức đồ sộ của nhân loại trước những khổ đau chưa trừ được là công hay tội ??? Tri thức là những sợi tơ được con tằm nhã ra để làm đẹp cho đời hay dùng để trói mình ???
Nếu chúng ta, những người tu hành trong Phật đạo, không có một nhãn quan đủ sáng, không có một góc nhìn tốt hơn về ngũ ấm, về tri thức của thức ấm, vô hình trung chúng ta từ chối, dập tắt, đốt cháy ngũ ấm và tri thức nhân loại để trở về kỹ nguyên bán khai !!!
Trong một đoạn kinh nào đó Phật có dạy với đại ý: "Những thành tựu lớn nhất của nhân loại, đều do các Đại Bồ Tát thị hiện làm ra, để giúp con người thăng tiến" !!! Điều này có nghĩa, gia tài tri thức của nhân loại, thành tựu cao nhất của loài người văn minh hôm nay có được đều bắt nguồn từ các Đại Bồ Tát !!! Họ thị hiện ra đời, làm nên những thành tựu vĩ đại, dạy con người những tri thức tối ưu để đời sống tốt đẹp hơn, tại sao con người vẫn cứ khổ, đôi khi còn đòi "tịch tri sự vĩ đại đó" !!!???
Lịch sử nhân loại đã sản sinh ra không biết bao nhiêu bộ óc siêu việt, những bộ óc siêu việt này đã giúp con người hôm nay, trong đó có chúng ta có được những gì được coi là tốt đẹp nhất đối với một con người... Và hầu hết những con người với bộ óc vĩ đại đó đã "cống hiến" tất cả tinh anh một con người cho mọi người...!!! Phần lớn, những con người vĩ đại lại không coi thành quả vĩ đại do chính mình đã làm ra là của riêng mình, mà hầu hết họ coi đó là thành quả chung của nhân loại, trong sâu thẳm nhất, họ chỉ biết "cống hiến, cống hiến và cống hiến” ...!!!
Ngược lại, con người, trong đó có chúng ta, những người được thừa hưởng thành quả vĩ đại từ những bộ óc siêu việt kia, lại không trung thực với sự thừa hưởng, mà lầm tưởng cái ta đang có, đang thừa hưởng là của chính mình...!!! Đem cái nhỏ bé của cá nhân dung nạp cái vĩ đại của nhân loại và mong muốn nó là của riêng mình bởi sự ích kỷ tầm thường !!! Sự nhầm lẫn đáng tiếc này đã biến chơn thường, chơn ngã của ngũ ấm trong đó có tri thức của thức ấm trở thành cái ngã nhỏ bé, hư dối, hạ liệt của một chúng sanh !!!
"Này Kiều Trần Như !!! Không lấy sắc làm ta, không lấy sắc làm ngã của ta, không lấy sắc làm tự ngã của ta... Diệt sắc vô thường (tầm thường) sẽ được sắc giải thoát, thường trụ... Này Kiều Trần Như...!!!" Đoạn kinh đầu tiên được Thế Tôn tuyên thuyết trong vườn Lộc Uyển phải chăng là "Bản Tuyên Ngôn Phật đạo", kêu gọi mọi người tu hành trong đó có chúng ta...:
- Hãy từ bỏ cái tầm thường, nhỏ bé, hư dối cố hữu của một chúng sanh...!!!
- Hãy từ bỏ cái ích kỹ, nhỏ nhoi...!!!
- Hãy từ bỏ ý tưởng thủ giữ ngũ ấm trong đó có tri thức vĩ đại của nhân loại làm của riêng mình…!!!
- Hãy buông ngũ ấm ra này các bạn…!!!
- Hãy trả ngũ ấm trong đó có tri thức và những thành tựu từ tri thức trở về đúng vị trí vĩ đại của nó bằng cả sự "cống hiến, cống hiến và cống hiến” này các bạn…!!! Từ đó chơn thường, chơn ngã sẽ tự toả sáng !!!
Các bạn !!!
Không thể đem cái nhỏ bé của tự thân để giam nhốt cái vĩ đại của chơn thường, chơn ngã trong một ngũ ấm đầy ích kỷ nhỏ nhoi của chính mình !!!
Các bạn !!!
Tất cả mọi sự khổ, đều bắt nguồn từ ngu si và cái ngã nhỏ bé, tầm thường này !!! Này các bạn !!!
Chúc mọi người năm mới 2022 an vui, tinh tấn, thành ở đời, đạt ở đạo !!!
LÝ TỨ
- HÌNH ẢNH BÌA SÁCH MƯỜI MỘT BÀI KINH PHẬT - LÝ TỨ CHÚ GIẢI - SẮP XUẤT BẢN !!!
(Cảm ơn các hoạ sĩ không chuyên của Lý Gia đã phát thảo bìa cuốn 11 bài kinh Phật...rất...có...lí...)
Tản Mạn Về Một Bài Viết

Vừa làm công chuyện buổi sáng xong, gọi cho anh thợ hớt tóc quen, hỏi xem đã rảnh chưa để mình chạy tới nhờ anh ta ủi cái đầu cho gọn gàng mà ăn Tết với thiên hạ !!!
Trong lúc chờ đến phiên mình, đọc được bài HAI ANH QUẢNG NÔM LUẬN VỀ BUÔNG XẢ trong cuốn Chuyện Trên Mây do Phương Anh đăng lại !!!
Bài này mình viết cách đây hai năm, đã đọc đi đọc lại nhiều lần, nhưng mỗi lần đều thấy mới mới !!!
Sẳn tiện, bèn copy lại bài viết từ trang FB Phương Anh để đăng lên fanpage của mình, với mong muốn giới thiệu đến bạn đọc một góc nhìn khác về câu chuyện xả và buông xả mà người tu hành hay đề cập !!!
13/01/2022
LÝ TỨ
- XẢ -
Cách đây gần 2 năm, hiểu ra bài viết này đã giúp mình thấy chìa khoá mọi vấn đề khiến mình phiền não, vướng mắc sâu bên trong, chấm dứt quãng thời gian bản thân loay hoay tìm kiếm trong các sách nuôi dạy con, tâm lý, tâm linh, năng lượng, vũ trụ, phát triển bản thân, tư duy tích cực, chữa lành, thiền, tỉnh thức ..v..v... Lúc ấy, đối với mình bài viết này giống như “Cỗ xe phá băng” có sức công phá cực mạnh, chỉ 1 lần phá cả phần chìm lẫn phần nổi, sự loay hoay mịt mù từ trong gốc rễ phút chốc tan thành mây khói !!!! Từ đây một đời sống tâm thức thực sự an yên hạnh phúc tự tại mở ra ...
Bài viết này tiếp tục giúp rất nhiều những người bạn của mình, những người bạn ở nhiều độ tuổi, nhiều vùng miền, nhiều ngành nghề, nhiều hoàn cảnh ... khác nhau. Hôm rồi, cô bạn giáo viên ở Mỹ tâm sự đối với cô ấy bài viết này giống như một ngã rẽ chấn động, một “liều thuốc kịch độc” (bài, thải, xổ độc) giúp cô ấy giác ngộ !!!!
Nay thật vui vì bài viết đã được xuất bản rộng rãi, cùng với rất nhiều những bài viết “phá băng”, “kịch độc” khác làm thành cuốn sách CHUYỆN TRÊN MÂY (tác giả Lý Tứ - Nhà XB Hà Nội - Công ty sách Thái Hà).
Mình xin chia sẻ lại bài viết như một nguồn tham khảo có thể sẽ hữu ích cho các bạn trong việc phân biệt và hiểu rõ Xả pháp của Phật đạo với khái niệm Buông xả mà ta vẫn thường nói thường hiểu để có thể thực hành thành công trong đời sống !!!
“Phật dạy phép xả, tức là ngay nơi hiện tại này, không thủ giữ, không để cho tâm thức cầm nắm bất kì một pháp nào hay một niệm nào! Vì rằng, một khi tâm thức đã cầm nắm một điều gì đó, khi ta quyết định buông nó, thì nó có còn ở hiện tại đâu mà buông? Hiện tại chỉ là niệm mê nhớ về quá khứ, chứ thực chất “quá khứ có còn đâu mà đòi buông với xả”!!!! Tu tập trong Phật đạo là xả chứ không phải buông xả!” (Lý Tứ)
(FB Phương Anh)
——
HAI ANH QUẢNG NÔM LUẬN VỀ BUÔNG XẢ
(Trích sách Chuyện trên mây)
B: Một trong những yếu tố quan trọng, đưa đến chuyện thành bại trong việc tu học, đó là: Người tu hành phải biết “buông xả”.
Tau hỏi mi! Tại răng, tau cùng bao nhiêu người tu tập trong Phật đạo, đã thực hành việc buông xả, mà vẫn không hết phiền não, kiết sử, lậu hoặc! Nói chung, mọi người vẫn nói rằng mình đã buông xả, nhưng trong lòng họ, theo nhận xét chủ quan của tau, họ vẫn còn vướng mắc nhiều thứ?
A: Phật đạo mô dạy người buông xả? Theo tau biết, Phật đạo chỉ dạy người “xả pháp” (phép xả), chứ không dạy người “buông xả”! Người tu hành, thành tựu “xả pháp”, sẽ thành tựu một trong bốn tâm vô lượng, là “từ tâm, bi tâm, hỉ tâm và xả tâm”!
B: Mi có thể cắt nghĩa cho tau hiểu, sự khác biệt giữa pháp xả của Phật đạo, và quan niệm buông xả của người đời?
A: Bàn đến việc ni, là bàn đến một trong những nhận thức cốt lõi của Phật đạo! Tau vẫn thường nghe mọi người bàn luận chuyện buông xả, nhưng nhận thấy rất khó góp ý! Tại răng? Bởi vì hai chữ buông xả, giống như chữ tu, những chữ ni đã hằn sâu vào tâm thức người tu hành đến độ gần như trở thành định kiến, nên họ rất khó chấp nhận ý kiến trái chiều, cũng như khó sửa chữa!
Nó giống như một đoàn người, lũ lượt kéo nhau đi về một hướng, tất nhiên số đông đã cho họ niềm tin về con đường mình đang đi! Nếu có một ai đó bảo rằng! Hãy đi ngược lại, con đường mà quý vị đang đi không có kết quả tốt! Phản ứng tự nhiên của đoàn người là, ném gạch đá vào phát ngôn của người kia!
Chính thái độ thiếu bình tỉnh, chính thói quen nghe mà không suy nghĩ, chính tính cách tư duy theo lối mòn, chính sự dễ dãi khi tiếp nhận thông tin…v..v…đã làm cho phần lớn người tu hành chỉ biết nghe, nghe rồi thực hành mà không tự phản biện hay kiểm chứng thông tin, cũng như không nghiêm túc đánh giá thành tựu bản thân! Vì thế, hệ quả của nó là, công sức bỏ ra rất nhiều, nhưng thành tựu thì không đáng kể!
Nếu mi dám nghe điều tau nói, bình tỉnh nhận định sự việc, dám từ bỏ những hiểu biết mà mình đã tôn thờ, tau sẽ phân tích cho mi nghe!
B: Từ hồi gặp lại nhau đến chừ, qua thời gian dài tiếp xúc, đã cho phép tau tin mi! Nhờ tin mi, nhờ hiểu rõ cái gì mới là lợi ích thiết thực trong việc tu hành! Giờ đây, tau cảm thấy mình sáng ra nhiều điều, nhờ sáng ra nhiều điều, trong lòng tau đã nhẹ nhõm hơn! Mi cứ nói đi! Tau đang tập trung nghe đây!
A: Tau nói đây! Chữ xả là phép tu đưa đến cứu cánh thành tựu “ba học pháp vô lậu” của đạo xuất thế! Còn chữ buông xả là phép thực hành thuộc về đạo thế gian! Hay nói cho dễ hiểu hơn, để đưa đến đạo quả xuất thế, người tu hành tu tập xả pháp, chứ không tu tập buông xả! Tại răng nó lại như rứa?
Mi phải biết rằng, mỗi từ ngữ trong Phật đạo đều hàm chứa trong nó thật nghĩa, gọi là đệ nhất nghĩa! Đệ nhất nghĩa chính là nghĩa tối ưu, khi phát ra tự nó như con dao bén, cắt đứt mọi nhân duyên ràng buộc của thế pháp! Hay nói khác hơn, mỗi một từ của Phật pháp đều chứa trong nó cảnh giới tự chứng, từ ngữ ni như thuốc chữa bịnh, uống vào sẽ giúp người giảm thiểu các thứ bệnh thuộc về tâm!
Nếu phân tích từ ngữ, ta sẽ thấy rằng:
Buông xả: Là hành động vứt bỏ, bỏ xuống cái gì đó hoặc điều gì đó sau khi ta đã nắm giữ trên cơ thể hoặc trong tâm thức!
Xả: Là thuật ngữ chuyên môn của Phật đạo, nhằm cảnh báo để người tu hành biết rằng: Không nên nắm giữ bất kì một nhận thức nào, không nên cầm giữ một niệm tưởng cho dù đó là niệm tưởng tốt hay xấu trong tâm thức!
B: Mi có thể phân tích sâu hơn được không?
A: Mi biết đó, chúng sinh niệm niệm sinh diệt không ngừng, niệm ni vừa sinh tức khắc nó tự diệt, để niệm khác sinh khởi, Phật đạo gọi đó là: “Niệm niệm sinh diệt, vô thường”! Có nghĩa rằng, cái (niệm) mi cho là hiện tại, khi cái biết nhận ra trong hiện tại, niệm đó đã trở thành quá khứ, gọi là hiện tại không dừng! Điều ni giống như trên một dòng nước chảy, mi lấy một cái cây, đâm chiếc lá đang trôi, khi cái cây đến vị trí chiếc lá mi đã xác định, chiếc lá thực chất đã không còn ở đó nửa, mà nó đã trôi khỏi vị trí mi đã nhắm!
Tâm thức con người ta cũng như rứa, giống như chiếc lá trôi theo dòng nước, không cố định, không ở yên một chỗ, vừa tưởng như hiện tại, niệm ni đã trở thành quá khứ! Mà quá khứ của tâm thức không thể đem về hiện tại, cho dù chỉ quá khứ của một sát na trước đó! Nếu cố nhớ lại, nếu cố đem cái quá khứ về hiện tại, thì quá khứ đó cũng không còn, mà thực chất: “Cái được gọi là quá khứ, chỉ là một niệm mê của hiện tại, khi giật mình biết hiện tại mình đang mê thì, hiện tại ni lại trở thành quá khứ”! Mi có thể hiểu đạo lí ni không?
Cho nên, Phật dạy phép xả, tức là ngay nơi hiện tại ni, không thủ giữ, không để cho tâm thức cầm nắm bất kì một pháp nào hay một niệm nào! Vì rằng, một khi tâm thức đã cầm nắm một điều gì đó, khi ta quyết định buông nó, thì nó có còn ở hiện tại đâu mà buông? Hiện tại chỉ là niệm mê nhớ về quá khứ, chứ thực chất “quá khứ có còn đâu mà đòi buông với xả”!!!!
Điều ni, giống như sáng ra người ta nhớ về giấc mơ trong đêm! Giấc mơ trong đêm chỉ là “sự tưởng nhớ” về quá khứ của niệm mê hiện tại! Vì thế, tu tập phép xả là: “Trong hiện tại ni, không để tâm thức nắm giữ cái được gọi là hiện tại, cũng không để tâm thức gợi nhớ cái được cho là quá khứ, cũng không đem tâm thức vọng tưởng về cái chưa đến là vị lai”!
Thực hành điều ni, kinh gọi là “Tam tâm bất khả đắc”! Câu ni có nghĩa rằng, không đem tâm quá khứ về hiện tại, vì quá khứ đã qua rồi, gọi là quá khứ như mộng! Không đem tâm nhớ nghĩ đến vị lai, vì vị lai chưa đến, gọi là vị lai như huyễn! Không cầm nắm hiện tại, vì hiện tại chẳng dừng, gọi là hiện tại như ảnh (chỉ là bóng dáng của tâm thức, bóng dáng tiền trần)!
Nói tóm lại, tu tập trong Phật đạo là xả chứ không phải buông xả! Một khi tâm thức đã nắm giữ điều chi đó, hành động nắm giữ ni đã thuộc về quá khứ tâm, mà quá khứ tâm như giấc mơ đã qua rồi, nếu có còn trong hiện tại chăng, đó chỉ là niệm mê trong hiện tại, mà hiện tại thì chẳng thể buông cái mà mình đã nắm trong quá khứ! Cho nên, muốn hết mê, muốn tìm về với đạo xuất thế! Ở hiện tại ni, chỉ nên không nắm giữ bất kì pháp mô hay niệm mô gọi là xả, chớ không phải nắm nó để rồi buông! Mi có hiểu không?
Vì thế trong kinh Lăng Già, Đại Bồ Tát Đại Huệ có đoạn xưng tán Phật như sau:
“Quán mâu ni tịch tỉnh
Thế là xa lìa sanh
Ấy gọi là chẳng thủ (Và cũng không có thọ, tuỳ bản dịch)
Đời nầy đời sau tịnh!”
Nội dung bài kệ như sau:
Quán mâu ni tịch tỉnh: Nếu người tu hành quán sát để thấy được rằng, tâm thức ni xưa nay tự nó vắng lặng, tịch tỉnh, bất động [Không khác chi tâm thức của chư Phật]
Thế là xa lìa sanh: Thế là [vị ấy] đã ra khỏi mọi mê muội sanh diệt [của tâm và thức]
Ấy gọi là chẳng thủ [hay; Và cũng không có thọ]: Câu ni có nghĩa rằng: Hành động ấy, chính là không thọ nhận, hay thủ giữ bất kì một pháp, một niệm nào trong hiện tại [Đây chính là phép xả của Phật đạo]
Đời này đời sau tịnh: Từ đây cho đến vĩnh viễn tận cùng đời vị lai sẽ không còn phiền não, tham sân, lậu hoặc!
Nếu để ý kĩ, mi nhận ra bài kệ không nói “cả ba thời đều tịnh”, mà chỉ nói “đời này đời sau tịnh”! Cái tuyệt vời, cái thâm u, cái đệ nhất nghĩa, cái tuyệt cú trong văn tự Phật pháp là ở chỗ ni! Từ bây giờ trở về sau tịnh, chứ quá khứ đã qua rồi, không luận đến tịnh hay bất tịnh! Lời ni cũng có nghĩa rằng, hiện tại tịnh thì, ba thời đều tịnh!
Chính vì nghĩa ni mà, kẻ giết cả ngàn người như Ương Quật Ma La, niệm trước là ác niệm của kẻ sát nhân, chỉ cần trong hiện tại (lúc đó, lúc ấy) [gặp Phật, gặp cái Mâu Ni của bản tâm] khi nghe đến câu: “Ta dừng, còn ngươi chưa dừng” hoát nhiên tâm thức rốt ráo xả, thành tựu xả pháp, chứng vô sanh!
Tau hỏi mi! Nếu cứ bắt Ương Quật Ma La mê muội buông xả cái tâm giết người đã nắm trong quá khứ, chừng mô Ương Quật Ma La mới buông hết đây, “khi hiện tại nhất quyết nắm giữ nó để mà buông”?????? Cái sâu thẳm, cái tuyệt vời, cái chính xác đến từng câu từng chữ của Phật đạo, người đời không dễ lãnh hội!
Tóm lại, buông xả là quan niệm thế gian! Xả, là pháp môn cốt lõi của đạo xuất thế! Mỗi ngữ nghĩa của Phật đạo đều là một pháp môn xuất thế, nằm trong vô lượng pháp môn! Hiểu không đúng, hiểu sai, giống như người dùng thuốc nhầm lẫn giữa “sanh địa và thục địa”, nhẫm lẫn tai hại ni, sẽ không thể hết bịnh! [Sanh địa và thục địa là hai vị trong thuốc Bắc, tuy tên có giống, nhưng công dụng khác nhau]
B: Cảm ơn mi! Nghe những điều mi trình bày, tau không lấy tri thức đã học suy lường về điều mi nói, mà tau đem tâm thực hiện theo từng câu, từng chữ điều mình vừa nghe! Không ngờ, kết quả tuyệt vời! Văn tự của mi, như nước chảy vào tâm, ý nghĩa của nó như thuốc trị bịnh tâm! Câu chuyện vừa xong, trong hiện tại ni, tau không cầm giữ bất kì pháp nào, kể cả lời mi nói!
Tau như người đặt gánh nặng xuống! Đúng! Xả pháp là như thế! Xuất thế là như thế! Không nắm giữ gọi là xả chớ không phải đem vào tâm rồi sau đó buông xả ra! Sai một li đi một dặm! Mỗi lời Phật là một cảnh giới! Bây chừ tau hiểu ra cái câu: “Ngữ ấy tức nghĩa ấy”! Mi không dạy tau phép Tam Ma Đề mà tau thành tựu phép ni! Mi không dạy tu Xa Ma Tha, mà tau thấu suốt Xa Ma Tha (xuất thế gian định) là gì!
Mi chính là Thầy của tau! Nếu không phải là quán cà phê, tau phải lạy mi cả ngàn cái để đền đáp cái ơn khai trí!
LM! Sư Huynh ơi! Nghe những điều Sư Huynh nói! Muội không đủ lời lẽ để diễn đạt tâm mình! Nhưng, quan niệm thế gian cũng như xuất thế, đã rơi rụng trong lòng muội! Bây giờ muội mới hiểu, thế nào là nghe pháp bằng tâm và hiểu pháp bằng tâm! Muội cũng xin thầm lạy tạ công ơn Sư Huynh trong lòng!
A: Rứa đó! Rứa đó!!! Đạo pháp là rứa đó! Xả pháp là rứa đó! Bây chừ, hai đứa bay hiểu ra câu: “Đạo pháp siêu quá quan niệm tu cùng không tu của thế gian hay không”? Tu là rứa đó! Chứng là rứa đó! Không thấy tu mà tu! Không thấy chứng cái chi hết, mà chứng nhập cảnh giới xuất thế! Mần được như rứa mới đích thị tu học trong Phật đạo!!!!!!!
Thôi! Hai đứa về nghiền ngẫm những điều đã nghe bữa ni! Đừng chạy theo văn tự, đừng cắt nghĩa lung tung, cái tâm lại loạn động trở lại!!!!! Lờn thuốc! Rất khó chữa lần hai! Hai đứa có hiểu không???????
Ăn Chay Hay Ăn Mặn


Chuyện Bên Lề - Tác giả Lý Tứ
Vừa rồi, có một vị HĐ điện thoại cho mình và hỏi:
- Thầy ơi! Bây giờ con nên ăn chay hay mặn ???
Mình trả lời:
- Từ ngày gặp mình đến giờ, bạn thấy bản thân có chút thay đổi chút nào không ???
Bạn ấy trả lời:
- Thầy ơi! Con thay đổi rất nhiều, gần như trở thành một con người khác...!!! Gia đình và bạn bè đều nhận ra cũng như rất ngạc nhiên trước thay đổi của con !!! Vợ con là người nhận ra điều này đầu tiên, và cô ấy dạo này thường hay khen con (một điều hiếm gặp trước đây) !!! Con của con cũng có nhận xét: “Ba lúc này hiền, vui vẻ...không giống lúc trước” !!!
- Thế thì, bạn thấy bản thân của mình thay đổi những gì ???
- Thầy ơi! Từ lúc gặp Thầy đến giờ, trong lòng con lúc nào cũng an vui, hỉ lạc tràn đầy! Lòng thương người trỗi dậy mãnh liệt hơn bao giờ hết! Những thứ tâm như: Tham lam, sân hận, si mê bỗng dưng tự biến mất...!!! Đặc biệt là, các thú vui ngày trước, hiện nay không còn hấp dẫn đối với con...!!! Làm việc cả ngày không biết mệt mỏi! Những lúc rảnh rỗi, chỉ thích đọc sách của Thầy !!!
Mình lại hỏi bạn ấy:
- Thế thì những thay đổi của bạn, do bạn ăn chay hay ăn mặn mà có được ???
Bạn ấy ngập ngừng một hồi, rồi trả lời:
- Thay đổi của con, đâu phải do ăn chay hay ăn mặn làm thành! Mà nhờ, con thường nghe thầy giảng giải, tâm trí thông suốt, nên tự dưng nó thay đổi như vậy !!!
Mình cười lớn và nói với bạn ấy:
- Thế thì bạn đã tự trả lời cho chính bạn rằng, bản thân nên ăn chay hay ăn mặn rồi, đâu cần hỏi mình nữa !!! Và có lẽ giờ này bạn cũng tự nhận ra: “Thành tựu đạo pháp, không do bởi ăn chay hay ăn mặn rồi chứ” !!! Bạn có hiểu mình nói gì không ???
- Thưa thầy! Con hiểu !!! Con hiểu thế nào là một người, khi thành tựu Tu Đà Hoàn quả, trong lòng tự dứt ba kiết sử, đó là: “Thân kiến, giới cấm thủ và nghi” !!! Thưa thầy! Trong HĐ chúng ta, mọi người ăn chay hay mặn ???
- Ha ha ha ha !!! Trong HĐ chúng ta có đến 95% là người ăn chay !!! Mình không yêu cầu mọi người ăn chay, nhưng phần lớn sau khi hiểu ra vấn đề, mọi người tự nguyện ăn chay !!!
Đối với bạn cũng như thế! Chay hay mặn tuỳ bạn !!! Đến khi nào trong lòng thấy thương tất cả chúng sanh, coi chúng nó như quyến thuộc, không đành lòng ăn thịt chúng nó thì, lúc đó ăn chay cũng không muộn !!!
- Cảm ơn Thầy! Hôm nay Thầy đã cho con bài pháp về “sự khác biệt giữa từ bi tâm và giới cấm thủ kiến” !!!
- Mình tạm biệt để đi tập thể dục đây !!!
Cầu Giải Thoát


Chuyện Bên Lề - Tác giả Lý Tứ
Cách đây chừng bốn năm, được bằng hữu giới thiệu đến gặp một vị khách, bằng hữu của mình cho biết là, người ấy có rất nhiều chục năm nghiên cứu Phật pháp !!!
Sau hai giờ chạy xe gắn máy, đến một quán cà phê hoành tráng ở một thành phố lớn, mình hân hạnh gặp vị bằng hữu nọ !!!
Sau khi giới thiệu, bắt tay giao hảo, gọi thức uống...v..v...Mình và vị bằng hữu mới quen trao đổi với nhau sở kiến tu hành! Vị bằng hữu ấy cho biết, bản thân đã gần ba chục năm nghiên cứu Phật pháp, tu hành miệt mài! Mình cũng giới thiệu sơ lược quá trình tìm hiểu Phật đạo của bản thân!
Vị bằng hữu nọ đặt rất nhiều câu hỏi, và mình ôn tồn trả lời thoả đáng từng câu! Vị ấy luôn miệng chặc lưỡi, tấm tắc khen sau mỗi câu trả lời....!!!
Trước khi chia tay, vị ấy hỏi:
-Nghe những điều anh giải đáp, tôi thấy những thắc mắc của mình được sáng tỏ! Nhưng tôi xin hỏi anh: “Anh nói thì nghe thông đấy, chắc anh đọc nhiều, nhưng bản thân anh có tu cầu giải thoát hay không” ???
Mình trả lời:
-Thú thật, tôi chưa từng nghĩ đến việc tu cầu giải thoát!
-Đạo giải thoát cao quý như thế, sao anh lại không cầu ???
-Tôi đâu có nói đạo giải thoát không cao quý, thậm chí biết nó rất cao quý... Nhưng phàm ở đời, cao quý là một chuyện, còn cầu hay không cầu cái cao quý ấy là một chuyện, đâu nhất thiết hể thứ gì cao quý là mọi người đều cầu! Tôi không mong cầu vì bản thân chẳng thấy có gì trói buộc! Mà, bản thân không thấy trói buộc thì cầu giải thoát mà làm gì...!!!
Vị ấy lại hỏi:
-Anh đọc nhiều, hiểu rộng, nhưng không tu cầu giải thoát...Thì, cuộc đời tu tập của anh được gì ???
Mình ngẫm nghĩ một hồi rồi nói:
-Cảm ơn câu hỏi của anh, nhờ câu hỏi của anh mà có dịp tôi xem xét chính mình! Xin nói thật, sau khi quan sát tự thân, tôi chợt nhận ra, một đời tu tập của mình cho đến hôm nay chẳng được thứ gì, kể cả phiền não lậu hoặc, thứ mà người đời từ kẻ tu đến không tu ai cũng có được, còn bản thân mình thì lại...trớt...hướt !!!
-Vị khách !!!!!!!!!??????
Một Vài Thắc Mắc Trong Bát Nhã Tâm Kinh


Chuyện Bên Lề - Tác giả Lý Tứ
Một hôm, mình và các HĐ trao đổi Phật pháp với nhau, trong đó có một người bạn mới quen!
Người bạn mới quen hỏi mình:
-Thầy có thể cho con hỏi một vài thắc mắc trong Bát Nhã Tâm Kinh hay không ???
-Bạn thắc mắc điều gì về Bát Nhã Tâm Kinh ???
-Thầy có thể giải thích cho con câu: “Sắc tức thị không, không tức thị sắc” ???
Mình hỏi bạn ấy
-Câu kinh đó, bạn hiểu như thế nào ???
-Theo con, (bạn ấy chỉ cái bình để trên bàn) giống như cái bình này, khi cái bình còn nguyên gọi là sắc! Nếu cái bình bị bể nát, hoặc nghiền thành bột, hay cái bình không còn nữa...v..v...thì, cái bình bây giờ trở thành không! Gọi là “sắc tức thị không” !!!
Mình hỏi:
-Hình như câu kinh đó còn một đoạn nữa, bạn có nhớ không ???
Bạn ấy đọc tiếp:
-“Thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị” (thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như vậy) !!!
Mình nói với bạn ấy:
-Về sắc, bạn giải thích khi bị nghiền thành bột, hoặc cái bình mất đi, gọi là sắc tức thị không, điều này tạm chấp nhận! Nhưng thọ, tưởng, hành, thức thì nghiền thành bột bằng cách gì ? Hoặc làm sao để mấy thứ ấy mất đi, cho nó trở thành không ???
Nghe hỏi như thế, bạn ấy cười và nói:
-Con chỉ nghe giảng có thế, Thầy giải thích dùm!
Mình hỏi các HĐ ngồi chung quanh:
-Các bạn cho biết, đoạn kinh vừa rồi nằm trong bài kinh nào ??
Mọi người trả lời:
-Bát Nhã Tâm Kinh!
Mình cười và nói:
-Theo kiến giải của anh bạn này (chỉ người bạn mới quen), thì có lẽ, nên đổi bài kinh đó thành “Bát Nhã Vật Kinh” mới đúng! Bát Nhã Vật Kinh, tức bài kinh nói về vật là bình; bàn...chứ không phải bài kinh nói về Tâm là Bát Nhã Tâm Kinh !!!???
Anh bạn lại nói:
-Xin Thầy cho biết thế nào là tâm kinh ???
Mình giải thích:
-Tâm kinh là kinh nói về tâm! Có nghĩa rằng, người tu hành khi nào thấy tâm và lời kinh tương ưng với nhau, tức quán chiếu thấy tâm này và nghĩa kinh không còn sai khác (bất nhị), gọi là tâm kinh! (Dùng Kinh để ấn Tâm trong Đệ Nhất Pháp Ấn).
Ví dụ: Khi quán sắc (tức quán thân này, chứ không phải hướng ra ngoài quán bình, bàn hay thế giới...), thấy thân này không phải là một uẩn pháp và thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như vậy (đồng không phải là uẩn pháp)... Lúc ấy mới chợt nhận ra: “Sắc, thọ, tưởng, hành, thức chẳng khác gì không”! Có nghĩa, năm món này bản chất (thiệt tướng) nó tự không, chỉ do mê (năm món ấy) nên sanh năm uẩn pháp! Nếu nắm giữ (niệm) trong lòng các uẩn pháp ấy, sẽ sinh khởi phiền não, kinh gọi là “ngũ thủ uẩn”! Mình giải thích như vậy, bạn có thắc mắc gì không ???
Bạn ấy hỏi:
-Thưa Thầy, thế nào là uẩn pháp ???
Mình cắt nghĩa tường tận cho bạn ấy hai chữ ấm và uẩn (xem bài viết ấm và uẩn)... Nghe xong, bạn ấy phát biểu:
-Thưa Thầy! Thưa các HĐ !!! Nghe Thầy giảng xong đoạn kinh, tâm trí con sáng ra và thấy tâm này cùng thế giới đồng thanh tịnh, tất cả như hư không !!! Xin Thầy và các HĐ cho con làm HĐ của Lý Gia !!!
*Lý Lục Vũ và các HĐ !!! Không biết, khi đọc câu chuyện ngắn này, các HĐ có còn nhớ cái buổi sáng Tây Nguyên đẹp...như...mơ... ấy không ???!!!
Kết Tập Mười Một Bài Kinh Phật - Lý Tứ Chú Giải

Kết Tập Mười Một Bài Kinh Phật - Lý Tứ Chú Giải
Lời Giới Thiệu Sách Kết Tập - Mười Một Bài Kinh Phật (Lý Tứ Chú Giải)

Lời Giới Thiệu Sách Kết Tập - Mười Một Bài Kinh Phật
Các bạn! [[1]]
Bất kỳ người tu hành nào trong Phật đạo, cũng bắt đầu bằng việc Quy Y Tam Bảo... Quy Y Tam Bảo gồm ba điều đó là, Quy Y Phật Bảo, Quy Y Pháp Bảo và Quy Y Tăng Bảo!
Quy Y Phật Bảo là, một lòng một dạ hướng về Trí Tuệ tối thượng hay còn gọi là Vô Thượng Bồ Đề... Quy Y Pháp Bảo là, quyết tâm biến những lời dạy của Đức Phật trở thành hành động của Trí Tuệ ngay trong hiện thực đời sống này... Quy Y Tăng Bảo là, vâng nghe theo lời của bậc Đạo Sư, người đã giúp ta biết cách sử dụng ngọn đuốc giáo pháp một cách hiệu quả, dắt ta ra khỏi mê muội, từng bước hướng dẫn ta dùng vũ khí trí tuệ thành tựu những đạo quả cần thiết cho đến tối thượng!
Trong ba pháp Quy Y nói trên, Quy Y Pháp Bảo chính là Quy Y Kinh Điển... Kinh điển của Đức Phật để lại, là ngọn đuốc soi đường, là tấm bản đồ vạch ra hướng đi đúng nhất, và là cái la bàn tiêu chuẩn, giúp người tu hành tiến về Vô Thượng Quả không sai lệch!
Tuy vậy, để có thể đọc tụng hết những lời dạy của Đức Phật trong một thời gian nhất định, là việc làm không thể, chưa nói đến việc lãnh hội trọn vẹn ý nghĩa của những lời dạy này sau lớp vỏ ngữ ngôn, là việc làm càng khó khăn hơn... Ngoài những điều vừa nêu, bằng cách nào tự thân có thể phân loại, chọn lựa những bài kinh phù hợp với việc tu tập trong mỗi giai đoạn, giữa rừng kinh điển đồ sộ là việc làm nhất định không thể thiếu!
Kinh điển của Đức Phật để lại chính là một bộ sách giáo khoa hoàn hảo, giúp người học tiếp cận kiến thức từ thấp lên cao, từ cạn đến sâu, từ đại cương đến chi tiết, từ những ứng dụng thô sơ đến các thứ triết lý cao thâm... Vì thế, không biết phân loại, sắp xếp, đọc tụng theo thứ lớp, để có thể lãnh hội và ứng dụng phù hợp từng giai đoạn tu tập, sẽ giống như người bệnh uống nhầm thuốc, hệ quả sẽ là, "tiền mất tật mang" đã không ích lợi nhiều, bệnh tình có khi trầm trọng hơn, điều này không phải là hiếm gặp trong thực tế tu hành!
Chính vì những yêu cầu trên, để giúp các bạn có được bức tranh tổng thể, có được cái nhìn khái quát về hệ thống kinh điển của Phật Đạo từ thấp lên cao, từ cạn đến sâu... Cuốn MƯỜI MỘT BÀI KINH PHẬT mà các bạn đang cầm trên tay có mặt! ... Thật ra, mười một bài kinh trong vô lượng kinh điển của Phật để lại, chỉ là một nắm lá nhỏ so với số lượng lá của một rừng cây... Nhưng ít ra, "mười một bài kinh tiêu biểu" này, sẽ giúp các bạn có được những kiến thức cơ bản, tiêu biểu nhất về quá trình tu tập từ sơ cơ đến đạo quả sau cùng trong Phật đạo!
− Nói tiêu biểu là vì, khi thấu suốt và thể nhập được bài kinh trước, các bạn sẽ dễ dàng tiếp cận và thấu suốt tinh thần của bài kinh kế tiếp, đến khi thấu suốt trọn vẹn và ứng dụng hoàn hảo cả mười một bài kinh tiêu biểu này, các bạn sẽ nắm vững được "giáo trình tu tập từ thấp lên cao" của Phật đạo!
− Nói tiêu biểu là vì, khi bạn thấu suốt, nắm vững cách ứng dụng một bài kinh nào đó của giai đoạn tu tập nào đó từ mười một bài kinh này thì, các bài kinh khác thuộc dạng tu tập như thế, được Phật dạy trong các kinh khác, khi đọc lên, các bạn sẽ thấu đáo lời dạy đó... Nó giống như người đã học tốt, học xong lớp năm thì, các bài giảng từ lớp một đến lớp bốn các bạn có thể hiểu một cách dễ dàng!
- Về cách bố trí:
Mười một bài kinh, được sắp xếp theo trình tự từ Giáo Tông sang Tâm Tông, rồi đến Nhất Thiết Trí Môn và cuối cùng là Pháp Vân Môn...!
- Đại diện cho Giáo Tông gồm các bài kinh từ Thập Thiện đến Đại Thí Dụ Lõi Cây...
- Đại diện của Tâm Tông gồm kinh Kim Cang...
- Đại diện của Nhất Thiết Trí Môn gồm kinh Thắng Man...
- Đại diện của Pháp Vân Môn gồm kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa!
Khi đã tiếp cận hoàn hảo tiến trình này, các bạn sẽ thấy rằng giáo trình tu tập trong Phật đạo có thứ lớp rất rõ ràng, có chỉ thú hẳn hoi, có điều ta đã nắm bắt được hay chưa mà thôi!
Ví dụ, từ một phàm phu vô văn mới bắt đầu tu tập trong Phật đạo, để có thể thành tựu quả vị Vô Tu Vô Chứng trước khi thành Đẳng Chánh Giác, người tu hành phải lần lượt trải qua các địa vị:
‣ “Phàm phu vô văn”, thấy khổ khởi tu: Người bắt đầu tu hành chưa có quả chứng tối thiểu.
‣ Tiến lên địa vị “Hữu Học”, dứt Tập Đế: Gồm ba quả thánh Hữu Học là Tu Đà Hườn, Tư Đà Hàm và A Na Hàm.
‣ Tiếp đến địa vị “Vô Học”, chứng Diệt Đế: Gồm các quả vị A La Hán của Nhị Thừa và Thất Địa hoặc Bát Địa của Bồ Tát.
‣ Vào Địa: Vị này Phát Tâm Bồ Đề Chơn Thiệt, học Nhất Thiết Trí Môn cho đến viên mãn Đạo Đế, đăng Cửu Địa Bồ Tát.
‣ Bậc ‘Vô Tu Vô Chứng’: Vị tu hành này sau khi thành tựu trí tuệ, vào Đẳng Giác Bồ Tát, tức “Bồ Tát biết cái Phật biết, thấy cái Phật thấy, chứng điều Phật chứng...” Thế nên, đạo quả này còn gọi là Vô Tu Vô Chứng...
Gọi Vô Tu Vô Chứng là vì Bồ Tát này không còn gì để tu, không còn gì để chứng, chứ chẳng phải Vô Tu Vô Chứng là không biết cái để tu, chẳng biết cái để chứng như đa số người tu hành thường hiểu...
Phật đạo còn gọi quả vị này là Vô Dị Biệt Quả, tức Vị ấy với chánh pháp không còn khác biệt...
‣ Sau cùng, vị Vô Tu Vô Chứng này, đăng Diệu Giác vào Pháp Vân Địa: Nổi mây pháp, giáo hoá chúng sanh, chờ ngày thành Đẳng Chánh Giác đủ mười danh hiệu!
Có liệt kê, đào sâu từng mảng tu tập, ta mới thấy, Phật đạo tuy mênh mông nhưng có trật tự, mực thước, khuôn mẫu chặt chẽ... Phật đạo tuy Vô Đạo (không thấy có một đạo mới chân thật là Phật đạo), nhưng đường đi nước bước có lề lối hẳn hòi...
Giống như trong không trung, không thấy có đường lối cụ thể, nhưng mỗi chiếc máy bay phải bay theo hành trình nhất định, có bay theo hành trình nhất định và người Phi Công có xử lý đúng mức, chiếc máy bay đó mới có thể đi và đến an toàn, không gặp rủi ro...
Vì thế, người xưa từng cảnh báo: "Hào ly hữu sai, thiên địa huyền cách", có nghĩa rằng, tu hành trong Phật đạo mà hiểu sai nghĩa lý một chút xíu, ứng dụng không chuẩn xác, thì sẽ cách xa đạo quả như trời với đất!
- Về chú thích:
Phần lớn, các chú thích trong cuốn mười một bài kinh, những gì thuộc Giáo Tông vẫn giữ nguyên chú thích của những bậc Cao Đức đi trước, không chỉnh sửa nhiều...
− Trong đó, hai bài kinh Kim Cang và Thắng Man thuộc Tâm Tông và Nhất Thiết Trí Môn, nên buộc phải “chú thích theo ý nghĩa đặc thù” của hai môn học này...
− Riêng, kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa thuộc Pháp Vân Môn, có nhiều HĐ yêu cầu mình chú thích... Nhưng xét cho cùng, cái khó của người tu hành là, làm thế nào "để biến thành Rồng", mà kinh Kim Cang và Thắng Man đã đảm đương tốt công việc này rồi.
Một khi "đã thành Rồng" thì, chuyện biết nổi mây, làm mưa là chuyện tự nhiên của loài Rồng như người ta mặc áo ăn cơm, không nhất thiết phải hướng dẫn... Hoặc ngược lại, loài không phải là Rồng, cho dù có dạy cách nổi mây làm mưa, mãn kiếp cũng chỉ là việc làm của kẻ...dư...hơi!
− Kinh Các Căn Tu Tập, được xếp vào mười một bài kinh, vì kinh này là chiếc bản lề, là bước đệm không thể thiếu đối với người tu hành bước từ Hữu Lậu sang Vô Lậu, bước từ “Thế Gian Giới” sang “Xuất Thế Gian Giới”, cho nên trong kinh mới đề cập đến “vô thượng căn tu tập trong giới luật bậc Thánh”... Có nghĩa rằng, có thành tựu các căn tu tập, sau đó mới thành tựu "Vô Lậu Giới", Vô Lậu Giới của Bậc Thánh chẳng đồng cấm giới (quy ước giới) của Thế Gian Giới!
− Kinh Đại Thí Dụ Lõi Cây đóng vai trò rất quan trọng trong Phật đạo... Đây là năm bước giúp người thợ điêu khắc biết cách tìm một lõi cây đúng nghĩa, để chuẩn bị thực hiện công việc chế tác hoàn hảo một Phật Tánh ở vị lai!
Nói chung, mười một bài kinh tuy không nhiều, nhưng được coi là “những bài kinh căn bản” giúp người tu hành biết được các cột mốc Thế Tôn đã cắm, làm chỉ dấu cho cuộc hành trình dài hơi đi từ Khổ Đế đến hết Đạo Đế, chỉ ra bốn giai đoạn: Từ Tục Đế chuyển sang Thánh Đế, đến Chân Đế và cuối cùng là thấu suốt viên mãn Tứ Diệu Đế!
Nó giống như quá trình chuyển tiếp "từ sữa, sang lạc, đến tô, và cuối cùng là đề hồ"! ... Ví như bốn nguyên tố C, H, O, N, làm căn bản của sự sống!
Hy vọng, trong một tương lai gần, tất cả HĐ chúng ta, sẽ lần lượt chiếm lĩnh từng cao điểm, cho đến cao điểm cuối cùng trong trận chiến sanh tử khổ, để giải phóng toàn bộ tâm thức u tối của Vô Minh Trụ Địa, mang về thắng lợi Trí Tuệ, trong công cuộc chinh phục đỉnh cao Vô Thượng Đạo!
Chúc mọi người tinh tấn!
Ngày 14/8/2017
Lý Tứ
[[1]] Trích Email của Lý Tứ gửi cho các Huynh Đệ (HĐ) Lý Gia.
Phật Thuyết Kinh Bốn Mươi Hai Chương - Phần 1

Kinh bốn mươi hai chương

PHẬT THUYẾT KINH BỐN MƯƠI HAI CHƯƠNG
Phạn dịch Hán: Ca Diếp Ma Đằng (Kashyapa maganta) và
Trúc Pháp Lan (Gobharana) thời Hậu Hán.
(Hán dịch Việt: Các bản dịch của TK. Thích Tâm Châu; TK. Thích Trí Quang; TK. Thích Thanh Cát;…; Ban Phiên dịch Việt Ngữ ‘Tổng Hội Phật giáo Pháp Giới Vạn Phật Thánh Thành’; Đoàn Trung Còn , Nguyễn Minh Tiến;…; Trích TÌM HIỂU KINH 42 CHƯƠNG TK. Thích Nhật Từ; … )
(Nguồn_https://thuvienhoasen.org/p17a8872/kinh bon muoi hai chuong)
TỰA [[1]]
Sau khi Đức Thế Tôn thành Đạo, Ngài suy nghĩ rằng: "Xa lìa dục vọng, được sự tịch tịnh, là thù thắng nhất!" Rồi Ngài trụ trong Đại Thiền định mà hàng phục ma đạo. Tại vườn Lộc dã, Ngài chuyển Pháp luân Tứ Đế, độ nhóm năm người của Tôn giả Kiều Trần Như đều chứng được Đạo quả.
Lại có các vị Tỳ Khưu nói lên những điều ngờ vực của mình, xin Phật chỉ dạy cho điều gì nên tiến và điều gì nên ngưng.
Đức Thế Tôn dạy bảo, ai cũng đều khai ngộ. Các vị chắp tay, kính vâng và thuận theo lời Ngài chỉ dạy.
Chương 1: XUẤT GIA, CHỨNG QUẢ
Đức Phật dạy: "Những vị từ giã người thân để xuất gia, biết tường tận tâm tánh,[[2]] thấu hiểu pháp Vô vi,[[3]] được gọi là Sa Môn.[[4]] Họ thường xuyên hành trì 250 giới,[[5]] tiến chỉ thanh tịnh,[[6]] tu hành bốn đạo hạnh chân chánh,[[7]] nên được thành bậc A la hán."
"Các bậc A la hán[[8]] đều có thể phi hành, biến hóa, có thọ mạng lâu dài tới cả khoáng kiếp và làm động trời đất nơi họ an trụ."
"Thứ đến là A na hàm.[[9]] Khi bậc A na hàm mạng chung, linh thần sẽ lên trên cõi thứ mười chín,[[10]] và chứng được quả vị A la hán."
"Thấp hơn là Tư đà hàm.[[11]] Bậc Tư đà hàm còn một lần lên và một lần trở lại nữa là đắc quả A la hán.
Thấp nữa là Tu đà hoàn.[[12]] Bậc Tu đà hoàn còn bảy lần sanh và bảy lần tử nữa mới chứng được quả vị A la hán.
Đoạn trừ ái dục[[13]] thì cũng như chặt đứt tứ chi,[[14]] không còn dùng lại nữa."
Chương 2: TRỪ DỤC VỌNG, DỨT MONG CẦU
Đức Phật dạy: "Những người xuất gia làm Sa môn đoạn dục, khử ái, nhận biết nguồn tâm[[15]] của mình, thông đạt đạo lý thâm sâu của Phật và tỏ ngộ pháp Vô Vi.
Họ trong không sở đắc,[[16]] ngoài không sở cầu;[[17]] tâm không ràng buộc nơi Đạo, và cũng chẳng kết nên nghiệp.
Họ không nghĩ họ làm,[[18]] chẳng tu chẳng chứng, không trải qua các quả vị mà tự nhiên lại cao tột bực. Đó gọi là Đạo!"
Chương 3: CẮT ÁI DỤC, XẢ BỎ LÒNG THAM
Đức Phật dạy: "Những vị cạo bỏ râu tóc[[19]] làm bậc Sa môn, thọ nhận Đạo Pháp, từ bỏ của cải thế gian, khất thực chỉ nhận đủ dùng, giữa ngày ăn một bữa, dưới cội cây nghỉ một đêm, và thận trọng, không cầu mong nhiều hơn.
Chính ái dục làm cho con người bị ngu tế vậy!" [[20]]
Chương 4: THIỆN ÁC PHÂN MINH
Đức Phật dạy: "Chúng sanh[[21]] lấy mười việc làm điều thiện, cũng lấy mười việc làm điều ác. Những gì là mười? Thân có ba, miệng có bốn, ý có ba.
- Thân có ba là sát sanh,[[22]] trộm cắp,[[23]] dâm dục.[[24]]
- Miệng có bốn là nói hai lưỡi,[[25]] nói lời ác,[[26]] nói dối[[27]] và nói thêu dệt.[[28]]
- Ý có ba là đố kỵ, sân hận và ngu si.[[29]]
Mười việc này không thuận với Thánh Đạo, gọi là Thập Ác Hạnh. Nếu dứt được những việc ấy thì gọi là Thập Thiện Hạnh vậy."
Chương 5: CHUYỂN NẶNG THÀNH NHẸ
Đức Phật dạy: "Người có nhiều điều lỗi mà không tự hối, lại khiến tâm kia chợt dứt, thì tội lại dấn vào thân, như nước đổ về biển, lâu dần thành sâu rộng.
Nếu người có lỗi tự biết nhận lỗi, đổi ác làm lành, thì tội sẽ tự nhiên tiêu diệt,[[30]] như bệnh mà được ra mồ hôi, bệnh dần dần thuyên giảm vậy!"[[31]]
Chương 6: NHỊN KẺ ÁC VÀ KHÔNG OÁN HẬN
Đức Phật dạy: "Khi kẻ ác nghe các ông làm việc thiện và cố ý đến nhiễu loạn,[[32]] các ông hãy tự ngăn dứt chứ không nên giận trách. Kẻ mang điều ác đến sẽ phải tự nhận lấy điều ác."
Chương 7: Ở ÁC GẶP ÁC
Đức Phật dạy: Có người nghe tiếng Phật giữ Đạo và thực hành hạnh đại nhân từ, bèn cố ý đến mắng Phật. Phật làm thinh, chẳng đáp.
Khi người kia mắng xong, Phật hỏi: "Ông lấy lễ đãi người, người kia không nhận; lễ ấy có về lại ông chăng?"
Đáp rằng: "Về lại!"
Phật bảo: "Nay ông mắng Ta nhưng Ta không nhận, ông tự đem họa về thân ông vậy; như vang ứng theo tiếng, như bóng hiện theo hình, cuối cùng vẫn chẳng tránh được. Hãy thận trọng, chớ làm điều ác!"
Chương 8: GIEO GIÓ GẶP BÃO
Đức Phật dạy: "Kẻ ác hại người hiền, như người ngước lên trời phun nước miếng, nước miếng không tới trời mà trở lại rơi nhằm mình; hoặc như người ngược gió tung bụi, bụi chẳng đến nơi khác mà trở lại làm dơ mình; người hiền không hại được, mà họa tất diệt mình."
Chương 9: VỀ NGUỒN GẶP ĐẠO
Đức Phật dạy: "Học rộng,[[33]] đắm say Đạo lý,[[34]] thì Đạo ắt
khó lãnh hội được.[[35]] Giữ vững quyết tâm, thấu suốt diệu lý, y nơi trí tuệ mà hành Đạo,[[36]] thì Đạo kia rất lớn."
---
Phần chú giải
[[1]] Bài “TỰA” kinh có lẽ do những người soạn kinh đưa vào, cho thấy kinh này được biên soạn từ những lời chỉ dạy của Phật, ghi lại những chỗ cốt yếu làm kim chỉ nam.
[[2]] tường tận tâm tánh: Hiểu biết rằng tâm nầy vốn thanh tịnh, chân thật. Kinh Bát nhã nói: "Đối với tất cả các pháp, tâm là thiện đạo." (bậc dẫn dắt giỏi). Vì thế nên “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”.
[[3]] Pháp vô vi (Ngược với pháp hữu vi, tạo tác, làm ra): là pháp không tạo tác (không làm ra), vậy nên không có bốn tướng “sanh, trụ, dị, diệt”.
[[4]] Sa môn: Viết trọn là sa môn na, do tiếng Phạn là Sramana, nghĩa là vị tu sĩ xuất gia giữ tịnh hạnh. Có các nghĩa là: cần giả (Người siêng năng làm các điều thiện), tức giả (người dứt bỏ các nghiệp ác), bần giả (người chịu sống cảnh tiết giảm, biết đủ về vật chất).
[[5]] 250 giới: là toàn bộ các điều khoản giới luật quy định cho một Tỳ kheo Tăng (cũng gọi là Cụ túc giới; Theo truyền thống Luật tạng của Phật giáo Nam tông chỉ có 227 giới.)
[[6]] Kinh văn là "tấn chỉ", nghĩa là "tới lui đều thanh tịnh” (hàm ý chỉ hết thảy mọi hành động). Bản khác là "tấn chí thanh tịnh", nghĩa là "tiến tới chỗ thanh tịnh", thấy không hợp với chỗ đang nói về 250 giới. Theo như nghĩa "tấn chỉ" thì hợp lý hơn, vì nói rộng thêm về oai nghi của vị sa môn.
[[7]] Bốn Đế (Tiếng Phạn là Catvariaryasatyanu): Tức là Tứ đế (Bốn đế) do Phật thuyết dạy là: Khổ đế; Tập đế; Diệt đế; Đạo đế. Ý nghĩa 1)Khổ đế: đặc trưng gồm tám món khổ nhân sinh (sanh, già, bệnh, chết, mong cầu không được, thương yêu phải xa lìa, oán thù hay gặp, ngũ ấm xí thịnh). 2)Tập đế: Nguyên nhân sinh khổ, phiền não, lậu (rỉ chảy) hoặc (che mờ). 3)Diệt đế: là cảnh giới “khổ, phiền não, lậu hoặc” không còn trong tâm thức (tạm gọi là Niết Bàn). 4)Đạo đế: gồm Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.
[[8]] A la hán (Tiếng Phạn là Arahat): Quả thánh cao nhất trong bốn quả thánh của Nhị Thừa. Người đắc quả thánh này gọi là A la hán, có ba nghĩa:
- Sát tặc: giết giặc nghịch, ở đây là chỉ giặc phiền não. ●Ứng cúng: Xứng đáng thọ nhận sự cúng dường của chư thiên, nhân loại, nghĩa là có đầy đủ oai nghi, phước đức. ●Bất sanh: Nghiệp lực đã dứt, chẳng còn phải sanh trở lại ba cõi.
[[9]] A na hàm (tiếng Phạn là Anãgãmin; Hán dịch nghĩa là Bất lai hoặc Bất hoàn): Quả thánh thứ ba, chỉ thấp hơn quả A la hán, nghĩa là không còn phải tái sanh trở lại ba cõi.
[[10]] Tầng trời thứ 19: Các cảnh trời trong Tam giới phân ra làm ba mươi tầng. Từ dưới kể lên có 6 tầng thuộc Dục giới, 20 tầng thuộc Sắc giới, và 4 tầng thuộc Vô sắc giới. Tầng trời thứ 19 tức là Quảng quả Thiên (Brhatphala) ở Sắc giới, là cảnh cao nhất trong ba cảnh của Tứ thiền thiên. Trên tầng trời ấy là 5 Bất hoàn thiên (Vô phiền, Vô nhiệt, Thiện hiện, Thiện kiến, Sắc cứu cánh), thuộc cõi Sắc, mà vẫn như không lệ thuộc 3 cõi, và là chỗ của các thánh giả A na hàm (Bất hoàn) cư trú.
[[11]] Tư đà hàm (tiếng Phạn là Sakrdãgãmin; Hán dịch nghĩa là Nhất lai): Quả thánh thứ hai. Người chứng đắc quả thánh này còn một lần sanh trở lại cõi trời người trước khi chứng quả A la hán.
[[12]] Tu đà hoàn (tiếng Phạn là Srotãpanna): Quả thánh đầu tiên, hay Sơ quả, thấp nhất trong bốn quả thánh của Nhị thừa. Hán dịch là Nhập lưu hay Dự lưu, nghĩa là người mới nhập vào dòng. (Ở đây có nghĩa là dòng thánh.)
[[13]] Ái dục: Ái là tham ái, dục là tham dục, đôi khi cũng chỉ gọi là ái. Đó là lòng luyến ái ham muốn do sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm) đối với sáu trần (hình sắc, âm thanh, hương, vị, xúc cảm, các pháp) mà khởi lên. Cũng có thể hiểu:
- ●1. Sự tham muốn và đắm chấp mạnh nhất trong đời sống mà con người trải qua, như vợ chồng, con cái v.v... (s: kāma, icchā); ●2. Sự đánh bẫy của năm giác quan do cảnh trần; ●3. Đam mê hư vọng (s: tṛṣṇā); ●4. Đam mê tình dục, phạm sắc giới. (s: maithuna); ●5. Phiền não, nhiễm ô (s: kleśa).
- Luyến ái và dục vọng, hoặc tình thương yêu gia đình.
- Khát ái (P: Taṇhā, S: Tṛṣṇā; Desire; Craving), thô kệch hay vi tế, luôn ngủ ngầm trong mỗi người, là nguyên nhân chủ yếu những bất hạnh lớn trong đời. Ái dục làm ta bám víu vào đời sống với mọi hình thức, do đó dẫn dắt ta mãi mãi phiêu bạt trong vòng luân hồi. (Đối với người trí, sự trói buộc bằng dây gai, bằng cây, bằng sắt chưa phải kiên cố, chỉ có lòng luyến ái vợ con tài sản mới thật sự là sự trói buộc chắc bền)
[[14]] Cả bốn thánh quả đều do cắt đứt ái dục mà chứng đắc. Ái dục làm cho con người tạo nghiệp quả, do nghiệp quả mà lưu chuyển trong luân hồi. Ái dục bị cắt đứt cũng như tay chân bị cắt đứt, không còn tạo nghiệp nữa.
[[15]] Nguồn tâm: Bản thể của tâm, hay bổn tâm.
[[16]] Không có chỗ chứng đắc: Vô sở đắc, tự thấy mình không có gì gọi là chứng đắc. Kinh Niết bàn nói: "Không chỗ chứng đắc, đó gọi là Huệ; có chỗ chứng đắc, đó gọi là Vô minh... Có chỗ chứng đắc gọi là vòng sanh tử. Tất cả phàm phu đều luân hồi sanh tử, nên có chỗ chứng đắc. Bồ Tát đoạn dứt sanh tử, cho nên không có chỗ chứng đắc."
[[17]] Không có chỗ mong cầu: Vô sở cầu, không cầu mong gì cả. Nếu cầu mà chẳng được thì sanh khổ. Người không có chỗ mong cầu tức thoát được mối khổ này.
[[18]] Không tạo tác: Vô tác, mọi hành vi không còn sự cố ý tạo tác nữa, chỉ tùy theo nhân duyên mà sanh khởi, diệt mất. Kinh Vô lượng thọ nói: "Không tạo tác, không sanh khởi, nhìn thấy các pháp như huyễn hóa."
[[19]] ...cạo bỏ râu tóc: Đức Phật quy định rất rõ: “cạo bỏ râu tóc, làm thầy sa môn là người lãnh thọ đạo pháp”. Người xuất gia theo Phật cạo bỏ râu tóc là bước ngoặt để xác định rằng mình đã từ bỏ những ham muốn, ràng buộc thế tục và dẹp trừ lòng kiêu mạn, tự thị... Đánh đổi một đời sống mới, đời sống tu sĩ, nơi không dung chứa những hình thức thế gian trước khi trở thành người thọ lãnh đạo pháp. Đạo pháp là nền tảng chính của đời sống sa môn Thích tử mà hình thức bên ngoài chỉ là những yếu tố nhằm minh họa nét đặc thù của đạo pháp đó mà thôi.
[[20]] Vị Tỳ kheo ăn mỗi ngày một lần vào giờ ngọ, quá giờ thì chẳng ăn. “Trong khi ăn hay đang khi thọ lãnh vật thực, tâm vị sa môn không tham đắm. Chẳng vì thân mạng mà vì chánh pháp. Chẳng vì da thịt mà cốt vì chúng sinh. Để trị bệnh đói mà hành đạo… dầu đặng thức ăn ngon cũng không tham đắm.” (Đại Bát Niết Bàn II, tr. 49).
“Này các Tỳ kheo, Ta ăn, từ bỏ ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời, Ta cảm thấy ít bệnh, ít não, khinh an, có sức lực và an trú. Này các Tỳ kheo, khi ăn các vị hãy từ bỏ ăn ban đêm, từ bỏ ăn phi thời, các vị sẽ cảm thấy ít bệnh, ít não, khinh an, có sức lực và an trú.” (Trung Bộ II, tr. 209)
Không ngủ dưới một gốc cây trong hai đêm liên tiếp, vì sợ rơi vào chỗ ham thích, tham luyến nơi gốc cây ấy. Phật dạy: “Có 5 nguy hại này, này các Tỳ kheo, nếu sống quá lâu ở một trú xứ: 1/ Đồ dùng nhiều, cất chứa nhiều đồ dùng. 2/ Nhiều dược phẩm, cất chứa nhiều dược phẩm. 3/ Nhiều công việc phải làm, nên không khéo léo trong những công việc phải làm. 4/ Sống lẫn lộn với gia chủ, tùy thuận trong sự liên hệ với gia chủ. 5/ Và khi ra đi, bỏ trú xứ ấy, vị ấy ra đi với sự luyến tiếc.” (Tăng Chi Bộ II, tr. 260 261)
[[21]] Chúng sanh: (S: sattva, P: satta, 眾生; Hán dịch âm là Tát đỏa, dịch nghĩa là Chúng sanh, hay hữu tình, hữu thức, hàm sanh..): Phật đạo gọi chung cho tất cả các sinh vật hữu tình (có tri có giác) của thế gian và xuất thế gian. Tuy nhiên, phần lớn người ta thường phân biệt và xem hạng phàm phu là chúng sanh, còn các bậc Thánh như Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, La Hán, v.v... thì không phải là chúng sanh. (Nghĩa thường dùng: Chỉ chung cho các loài trong Ba cõi, Sáu đường. Thọ nghiệp sanh tử liên miên trong vòng luân hồi. Chúng sanh sanh ra bằng bốn cách: Thai sanh (sanh từ bào thai), noãn sanh (sanh ra từ trứng), thấp sanh (sanh từ chỗ ẩm ướt), hóa sanh (sanh ra do sự biến hóa).)
[[22]] Sát sanh: giết chết, đoạn dứt một hay nhiều sanh mạng với ác ý. Kinh Niết bàn nói: Tội sát có ba bực: Hạ, Trung, Thượng. Hạ là giết hại mạng chúng sanh, cho dù là một con kiến, cho đến bất kỳ loài nào trong các loại súc sanh. Do tội ấy, kẻ phạm tội sẽ đọa vào ba đường ác: Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chịu khổ bậc dưới, bậc nhẹ. Tại sao vậy? Vì những súc sanh ấy có thiện căn nhỏ, cho nên kẻ giết thọ đủ quả báo theo bậc ấy. Trung là giết từ kẻ phàm phu lần lên đến vị chứng quả A na hàm. Kẻ phạm tội sẽ đọa ở ba nẻo ác, chịu khổ báo bậc trung. Thượng là giết cha, giết mẹ hoặc một vị A la hán, hoặc Phật Bích chi. Kẻ phạm tội sẽ đọa ở địa ngục Vô gián, chịu khổ báo không gián đoạn, nặng nề nhất.
[[23]] Trộm cắp: Nói chung bất cứ vật gì thuộc sở hữu kẻ khác, chẳng đồng ý cho mà mình tìm cách để đoạt lấy, dù công khai hay lén lút, đều là phạm vào tội này.
[[24]] Dâm dục: Tình dục giữa nam nữ với nhau. Người tu Phật xuất gia dứt bỏ hẳn sự dâm dục. Người tại gia thì tránh sự tà dâm, nghĩa là không làm sự dâm dục với người không phải vợ hoặc chồng mình.
[[25]] Hai lưỡi: Tức là nói lời không chân thật, trước sau chẳng như nhau, thường là nhằm để ly gián người khác, hoặc làm cho người nầy và người kia ghét nhau, oán nghịch nhau.
[[26]] Nói ác: Là những lời nói cộc cằn, thô lỗ, độc ác… như mắng, chửi, phỉ báng, nguyền rủa… người khác (gây phiền não cho người).
[[27]] Nói dối: Lời không đúng sự thật, chuyện không nói có, chuyện có nói không...
[[28]] Nói thêu dệt: Lời nói ra có dụng ý uốn nắn, thêu dệt, cố tình dùng văn chương hoa mỹ mà làm cho người nghe hiểu sai sự thật hoặc phải theo ý mình.
[[29]] Tâm lý tham lam, đố kỵ, sân hận, si mê… quyết định sự thi thố các hành vi, nó chính là ý tưởng hay tác ý.
Kệ Pháp Cú nói: ●“Ý dẫn đầu các pháp/ Ý làm chủ, ý tạo/ Nếu với ý nhiễm ô/ Nói lên hay hành động/ Khổ não bước theo sau/ Như xe, chân vật kéo.”(Dhp Pháp cú.1)
Hoặc là không tham lam, không đố kỵ, không sân hận, không si mê. thì…●“Ý dẫn đầu các pháp,/ Ý làm chủ, ý tạo,/ Nếu với ý thanh tịnh,/ Nói lên hay hành động,/ An lạc bước theo sau,/ Như bóng, không rời hình” (Dhp _Pháp cú.2)
[[30]] “Tự mình điều ác làm/ Tự mình làm nhiễm ô/ Tự mình bỏ điều ác/ Tự mình làm thanh tịnh / Thanh tịnh hay nhiễm ô / Đều do tự chính mình / Không ai thanh tịnh ai.”(Dhp _Pháp cú.109)
[[31]] “Ai chậm làm việc lành / Ý ưa thích việc ác / Hãy gấp làm điều lành/ Để xóa mờ tâm ác.” (Dhp _Pháp cú.116);
“Ai dùng các hạnh lành / Làm xóa mờ nghiệp ác / Chói sáng cuộc đời này / Như trăng thoát mây che.” (Dhp _Pháp cú.173)
[[32]] “Những người hay khuyên dạy / Ngăn người khác làm ác / Được người hiền kính yêu / Bị người ác không thích.” (Dhp _Pháp cú.77).
Đức Phật cũng tự thuật trong kệ Pháp cú: “Ta như voi giữa trận/ Hứng chịu cung tên rơi / Chịu đựng mọi phỉ báng / Ác giới rất nhiều người.”
Ngài vẫn giữ được thái độ bình thản, không chao động, ngay cả khi được khen: “Như tảng đá vững chắc, / không lay động trước gió. / Cũng vậy, tán dương hay khiển trách, / người trí không dao động .” (Dhp _Pháp cú.81)
[[33]] Đức Phật gọi người bác học đa văn về Phật học: “Những người nào học rộng nghiên cứu nhiều, thông hiểu các tập Kinh Nikaya, thường tham vấn học hỏi, trau dồi pháp nghĩa để khai mở những gì chưa biết và giải quyết mọi nghi vấn. Hạng người như vậy được gọi là người đã xây dựng được cơ bản.” (Tăng Chi I, tr. 131).
Đức Phật xác quyết là quý hiếm: “Này các Tỳ kheo, số ít là các chúng sinh học rộng hiểu nhiều pháp và luật của Như Lai thuyết. Số nhiều là các chúng sinh không thông hiểu.” (Tăng Chi I, tr. 46).
Đức Phật còn nêu ra năm lợi ích của đa văn Phật học, mà sự bất thoái trong chánh pháp là chính: “Này các Tỳ kheo, người học rộng nghiên cứu nhiều được năm lợi ích sau: 1/ Biết những gì chưa biết. 2/ Làm trong sạch những gì được biết. 3/ Đoạn trừ các nghi hoặc. 4/ Tạo nên tri kiến chánh trực. 5/ Làm tâm bất thoái.”( Tăng Chi II, tr. 250).
[[34]] Đối với người tri mà thiếu hành, Đức Phật phê phán rất nhiều, ví họ như loài chuột đào hang nhưng không ở, uổng công vô ích: “Có hạng người thuộc lòng nhiều pháp, giảng thuyết nhiều pháp, nhưng không thực hành Tứ diệu đế. Ta gọi đây là hạng người đào hang nhưng không ở.” (Tăng Chi I, tr. 483). Lần khác, Đức Phật bảo đó là người có sấm nhưng không mưa: “Có hạng người nói nhưng không làm, đó là hạng người có sấm không mưa.” (Tăng Chi II, tr. 477)
[[35]] Thái độ biết để mà biết, không thực nghiệm, ứng dụng vào cuộc sống tu tập, dẫn đến mắc vào sở tri chướng, có nhiều sự vụng về trong hành vi, trong nếp nghĩ, tri hành trái nhau, cuối cùng bị phiền não chinh phục, đau khổ, nên Đức Phật mới bảo là xa với Đạo.
[[36]] Đức Phật dạy tương tự: “Tâm Như Lai là tâm đại bi. Hạnh Như Lai là hạnh vô úy, luôn giáo huấn cho chúng sinh trí tuệ giác ngộ. Đức Như Lai là đạo sư của chúng sinh. Các người phải học hỏi, thực hành giáo pháp của Như Lai.” (Kinh Pháp Hoa, phẩm Chúc Lụy, tr.509)
Bài Viết Của Lý Ngân Thoa Khi Đọc Và Cảm Nhận Về Sách Tâm Pháp
Cái ấn tượng đầu tiên trong con, đây là một cuốn Phật Pháp lạ đời, không kinh viện, không bác học, không một hình tượng đặc trưng nào về Phật Giáo giống như thế gian mô tả.

Tâm sự huynh đệ số 02
Con kính chào Thầy.
Đệ tử chẳng biết nói gì thêm trước sự kì diệu, nhiệm màu cùa Tâm Pháp mang lại. Con cảm ơn Thầy sâu sắc. Con xin viết chút cảm nhận của mình gửi đến Thầy.
Vì quá xúc động, con viết hơi dài nên con viết thành một văn bản gửi đến Thầy. Văn ngôn còn nhiều hạn chế, nên con mong thầy thông cảm. Thêm nữa, con có làm hai ảnh cho lần xúc động này.
Con chúc thầy nhiều sức khoẻ!
Con kính chào thầy ạ !
Hôm nay, lạ lắm thầy ạ. Cả tuần nay, con cứ sáng cầm Tâm Pháp lên cơ quan, tối lại cầm Tâm Pháp về nhà. Trước đó, con đã đọc Tâm Pháp rồi. Kì lạ ở chỗ, lần nào đọc, cũng vẫn câu từ đó, mà lại cảm thấy như là lần đầu mới đọc.
Lần về Việt Nam, con được thầy tặng sách, số lượng chắc cũng bằng một tủ sách cá nhân. Ấy vậy mà, con vẫn chưa lật cuốn nào ngoài cuốn Tâm Pháp, mặc dù đã đọc xong nó, nhưng rồi đọc lại, đọc lại, mỗi lần đọc cảm xúc mỗi lần đều dâng lên khó tả.
Con đến với Tâm Pháp bằng nhận thức của một đứa trẻ nghèo nàn về Phật Giáo. Thoạt đầu, khi đọc, con cảm giác đây như là một cuốn tiểu thuyết kiếm hiệp, như một cuộc ngao du sơn thuỷ. Vì thế mà so với Vô Đối Môn, Tâm Pháp lúc thời điểm đó là một sự lựa chọn an toàn.
Có lẽ con là đệ tử chậm tiêu nhất trong Lý Gia nhà mình, cộng thêm bản tánh lạ thường khác đời. Việc đọc đối với con lúc nào cũng đi đôi với sự tưởng tượng. Để có thể dễ hiểu, mỗi khi đọc, con luôn thường hình dung ra những thứ liên quan với nó, bằng một dạng hình ảnh tưởng tượng được vẽ ra trong đầu. Có lẽ mà vì thế, con hợp với lối văn bay bổng, tự do và khoáng đạt.
Việc đọc đó không là ngoại lệ khi con đến với thế giới Tâm Pháp. Bởi lẽ cái ấn tượng đầu tiên trong con, đây là một cuốn Phật Pháp lạ đời, không kinh viện, không bác học, không một hình tượng đặc trưng nào về Phật Giáo giống như thế gian mô tả.
Ngay từ những trang đầu tiên, con đã bị hấp dẫn bởi dòng sông Ô Giang, bởi sông núi nơi đây. Con nghĩ, nếu vừa được ngồi trên thuyền, được thư thả trôi theo dòng nước, vừa đọc sách của thầy, có lẽ thật sự vô cùng thích thú.
Những trang đầu khiến trong con mơ hồ, tưởng tượng ra mình như đang được ngồi trên mạn thuyền, đưa tay chạm xuống mặt hồ, cứ thế trôi theo cùng dòng nước. Đôi lúc phóng tầm mắt ra xa để thấy những ngọn núi cao, thấy mây trôi bồng bềnh, thấy cảnh vật đất trời như hoà quyện hữu tình. Đôi lúc lại thu tầm mắt lại, vểnh tai lên nghe cuộc trò chuyện giữa Lý Tứ cùng huynh đệ Trung Nguyên Cửu Tuyệt.
Thế rồi, khi Lão Đại kể “Ô Giang tháng nắng thì trong, tháng mưa thì đục’’. Con lại ngửi thấy mùi ảm đạm, một mùi phong trần sương gió qua gương mặt của huynh đệ nhà họ. Như thể, họ vừa trải qua một cuộc hơn thua, tranh danh đoạt lợi, cố chiếm cho bằng được một chút hư vị ở đời, để rồi đã quá mệt mỏi. Sống nửa cuộc đời, mà anh em họ chẳng thể hiểu nổi sinh ra để làm gì? Chết rồi sẽ lại đi về đâu?
Lý Tứ chẳng nói họ sinh ra để làm gì, cũng chẳng bảo họ chết sẽ đi về đâu, chả nói tiền kiếp cũng chả phán hậu kiếp. Lý Tứ chỉ hỏi họ về cái nghĩa thế nào gọi là Trung Nguyên, cái gì gọi là là Cửu Tuyệt! Câu hỏi khiến con cười phá lên khi nhận ra lâu nay cái gọi là cửu tuyệt chỉ là hư danh, thì ra nó chẳng hay ho gì. Trong cái cười phá đó, có cả sự rùng mình nổi da gà khi bỗng nhận ra, thế gian này, cả con và cả bao người ngoài kia cũng đang đều ôm những cái ''Cửu Tuyệt'' đó để mà sống. Bảo sao đời có lắm oan than, bảo sao đời có lắm dối lừa, ganh ghét. Cũng chẳng phải bởi vì một chữ ''sinh”, rồi chấp mắc cột trói đó ư.
Con mường tượng ra được cái cảnh anh em huynh đệ họ bừng tỉnh sau một cơn ngu mê chấp niệm thế nào, thấu suốt được cái danh mà họ cột trói, ràng buộc bấy lâu nay. Rồi thì Lý Tứ lại bàn đến đục trong của Ô Giang. Vậy rốt cuộc bản chất của dòng sông này là đục hay trong ? Bỗng rồi con nhận ra, đục hay trong là bởi do tướng nước bị nhiễm hoặc không nhiễm, nhiễm ô thì mắt ta nhìn thấy nó đục, không nhiễm thì mắt của ta thấy nó trong, chứ hổi nào đến giờ, bản chất tánh của nước chả có đục trong.
Mắt ta nhìn, đầu óc tư duy phán xét, để rồi “lúc trong” tâm vui, “lúc đục” tâm sinh phiền não. Lúc này đây, khi ông lão lái đò cất lời, con như mường tượng ra trước mắt con, lão xúc động cảm thán khôn cùng, buông mái chèo, bái lạy Lý Tứ. ‘’Bao nhiêu lần đi trên Ô Giang mà lòng trĩu nặng vì cái nghĩa đục trong. Bao nhiêu lần đi qua Lưu Khanh mà lòng chưa dứt bỏ’’. Bỗng con như người mê đi lạc tìm được ánh sáng để ra khỏi khu rừng.
Con rùng mình khi nhận ra, người thế gian như con, không chỉ cột trói ở một thứ, mà là nhiều, rất nhiều thứ, trói tầng tầng lớp lớp. Bởi do không hiểu, không thấu suốt nên cho dù miệng niệm Phật, thân lạy trăm ngàn cái, nói buông bỏ, nói từ bi hỉ xả, nói lùi một bước để thấy trời cao biển rộng nhưng hoá ra cuối cùng, lùi cũng bị cột trói, mà tiến thẳng hay xoay trái xoay phải thì xung quanh bốn phương tám hướng đều là sự trói buộc.
Dong thuyền về đến thôn Lưu Khanh, con như thể được bám áo thầy mà vào nhập tiệc ở đại bản doanh. Cái cách thầy miêu tả về địa hình vị thế đại bản doanh khiến con cảm thấy hào hứng, và thích thú như thể mọi hình tượng ngôn từ câu chữ tháo bỏ khỏi gồng xích, tự do bay nhảy, nối đuôi nhau xếp thành một bức tranh phong cảnh. Mon men vào bàn trà đạo, cứ qua một trang sách con lại thêm một lần hiểu biết.
Khi thầy nhắc đến Chánh Tư Duy, Chánh Định. Những văn tự này trước đây con đã từng nghe qua nhưng không ngấm được vào đầu. Cái hay của Tâm Pháp ở chỗ, khi nhắc đến những văn tự này, thầy đưa một ví dụ rất đời thường, và dễ hiểu. Chỉ qua việc người kia một hồi suy luận logic về việc tại sao có một ly nước thơm ngon giữa đường, cuối cùng quyết định không uống mà làm con hiểu ra việc hành Chánh Tư Duy và Chánh Định như thế nào.
Hóa ra lại quá đơn giản, suy nghĩ biết cái gì nên làm hay không nên làm. Nếu không nên làm thì đừng làm. Nếu không đáng thì đừng ôm nó vào lòng. Mà đã biết là không đáng, thì lúc đó tự ngay tức khắc tâm cũng dừng sinh luyến ái. Tâm Thanh Tịnh phải chăng là Tâm không vọng động? Vậy để có được Tâm không vọng động thì phải thấu hiểu, thông suốt một cách rõ ràng. Thông suốt rồi, ắt sẽ không sinh luyến ái, tức khắc bình an tự tại.
Mỗi một câu hỏi, thắc mắc của chín huynh đệ, con như nhận ra chín huynh đệ này, mặc dù sinh ra ở thời cổ trang, sống dưới binh đao kiếm pháp, nhưng cái cách thầy phác hoạ câu hỏi của họ lại vô cùng Thời Đại.
Ví dụ Lục Đệ, văn hay chữ tốt, hình tướng vị này như khắc đậm về một người đọc rất nhiều kinh điển, nghe qua rất nhiều bài pháp, rất ham đọc, một cái tâm cầu đạo rất lớn. Nhưng chính vì đọc quá nhiều, nghe quá nhiều, mà lại vô tình chấp vào văn tự, ngôn ngữ. Ngài ấy khổ công nghiên cứu quá nhiều, thông thạo kinh điển văn tự quá nhiều nhưng đến hồi, lại quên hai từ ''TÂM XẢ''. Thế là nhờ Lý Tứ, mà ngài ta như từ tối mà bước ra ánh sáng, hiểu thấu được cái gốc của Phật Pháp.
Trái với Lục Đệ, hình tướng của Cửu Đệ lại phác họa một cách chân thực về những con người thế gian hơn hẳn, trong đó có con. Thích ăn chay, niệm Phật, phóng sanh, cúng dường, ngồi thiền, nghe Pháp, xây chùa, đúc chuông, làm công quả để tích phước đức. Thật ra những việc ở trên nếu thực hiện thường xuyên thì thật sự tốt. Bởi nếu ai cũng làm việc thiện, tránh xa việc xấu thì thế gian này có lẽ chẳng cần đến các tôn giáo, đạo pháp làm chi.
Thế nhưng, có một điều mà xưa nay, con luôn băn khoăn trăn trở. Phải tu sao để giải nghiệp, phải tu sao để phước đức, phải tu sao để nhân quả về sau tốt đẹp, rồi thì suốt ngày nghe thầy bà nói có hạn này hạn kia, cần phải giải nghiệp. Thế là cứ loanh quanh luẩn quẩn mãi trong cái nghiệp ở đời. Nhưng khi nghe thầy giảng về nghiệp, con bỗng như hiểu ra, nếu cứ tu tập để cầu cho hết nghiệp xấu, để phước đức về sau, an nhàn hạnh phúc, nhân tốt bây giờ thì ắt quả tốt về sau thì há chẳng phải chăng con cũng đang sinh lòng tham, chấp mắc vào cái danh của bình an tự tại. Tham an nhàn, cơm no áo mặc đầy đủ. Sợ duyên xấu, sợ quả báo, sợ nghiệp nặng muôn đời khổ đau. Nhưng do đâu mà khổ đau, do đâu mà muộn phiền thì lại không thấu suốt được. Cứ chấp vào điều này, thì cho dù kiếp sau, có sinh vào một nhà giàu có, có hanh thông thuận lợi dài dài thì cái tâm vẫn phiền não. Phiền não là phải làm sao để kiếp sau, kiếp sau nữa được tốt hơn. Cuối cùng thì con vẫn chỉ là loanh quanh ở trong ba cõi mà không thoát ra được. Vậy thì tu thế này có ích chi ? Phật Giáo là đạo giải thoát, giác ngộ, thoát khỏi xiềng xích. Nhưng nếu tu phước đức như trên, há phải chăng chỉ thoát được chữ khổ của thế gian, nhưng lại vẫn mắc vào cái ngã của tham bình an, tham thanh tịnh mà vô tình hiểu rằng làm phước đức để cầu thanh tịnh. Mọi người chẳng hề biết rằng, chỉ cần một phen giác ngộ, tâm tự thanh tịnh thì tức khắc phước đức vô lậu cùng công đức phát sinh.
Việc đọc của con giờ đây thực hành một cách tự nhiên, không dừng lại ở việc tưởng tượng nữa mà bắt đầu thêm một bước ghi nhớ. Ghi nhớ một cách tự nhiên hồi nào không hay. Một cách rất lạ kỳ, con đọc con hiểu, con lại quên. Con nghe thầy giảng con hiểu, sau rồi con lại quên. Thế nhưng, mỗi lần con va chạm tiếp xúc với thế giới, đụng chuyện gì, con lại mờ mờ ảo ảo: Hình như thầy có giảng.
Bảo con tường thuật lại kiến thức thầy giảng thì như đánh đố, nhưng cái đầu con thì đã hình dung ra được đôi ba vấn đề. Giống như bữa, có huynh đệ hỏi về một câu ”Mừng Xuân Di Lặc” ở một ngôi chùa nào đó có treo, hoặc như vô vàn bài thuyết pháp được những người thầy thế gian chỉ dạy. Người đời dạy cho đệ tử sao con không biết, riêng thầy, thầy dạy cho con sự khiêm nhường, vô ngã. Tui biết nhiều không có nghĩa tui biết tất tần tật. Cái gì không nắm rõ ràng hiểu thấu, tui sẽ nói cái đó tui không biết. Bạn muốn rõ hãy hỏi người viết ra nó thì sẽ được chính xác nhất.
Thầy dạy chúng con, không trả lời ẩu tả, không phán xét lung tung, tránh rơi vào tình trạng cái gì cũng tưởng mình biết mà chẳng có điều gì biết cho ra hồn, dẫn đến việc quan trọng nhất đó là tự thân cần phải giác ngộ để hết u mê thì lại không biết, hậu quả thành ra kẻ tự dối mình, gạt người. Điều này con thấy nhan nhản trong đời, cho nên con rất thích câu nói của thầy: “Trong đám mù, khi anh mù lẻo mép cao hứng nhảy lên làm thầy, nói năng vung vít, chỉ trỏ lung lung, cả đám mù nghe theo mà không sụp hầm hay té giếng chết nhăn răng mới là chuyện loạ”. Từ ngày gặp thầy đến nay, con nhận ra kiếm một anh chột mắt khó hơn lên trời, chỉ thấy toàn mấy anh mù loà lẻo mép, vung vít lung tung, thầy thấy có chán không?
Thầy chỉ huynh đệ chúng con về cách làm người, không được quy chiếu một điều gì về một vấn đề nào mà ta mới quan sát. Không được đánh giá đúng sai khi ta không phải người trong cuộc và chưa biết rõ bản chất của nó. Trước mọi vấn đề hãy quan sát, hãy tĩnh lặng để mà ngẫm nghĩ, tư duy. Tự nhiên, con lại ngẫm nghĩ. Quả đúng, người ở trong bóng râm đâu thể nào cùng một cảm xúc với người đi ngoài nắng. Người nếm thử vị chanh mà chưa từng nếm qua vị chua của quả khác đâu thể nào phán bất kỳ thứ gì đều chua như chanh.
Rồi sự ghi nhớ trước đó giúp con bắt đầu nhớ ra, à, cái này chẳng phải là lặng thinh của Duy Ma Cật hay sao. Hồi mới nhập môn, thầy đưa con đọc qua bài viết “Cái Lặng Thinh Của Duy Ma Cật”, rồi bảo con làm hình ảnh minh hoạ. Lúc đầu đọc, con bị choáng ngợp vì sự mông lung, không biết nói sao về cái lặng thinh này. Nhưng thời gian sau, khi sinh hoạt, rõ là thầy chả đả động gì đến Bồ tát Duy Ma Cật, nhưng lại khiến con tự động hiểu được lặng thinh của Duy Ma Cật rốt cuộc thì ra làm sao. Thì ra tĩnh lặng ở đây không phải giả câm, giả điếc, giả mù như một pho tượng mà chính là đang Chánh Tư Duy và giảng nói cho người về Pháp Môn Bất Nhị một cách trí tuệ.
Giờ đây con tự đúc kết lại hành trang của mình qua nhiều lần góp nhặt, đi theo thầy học đạo.
Cái cột trói vào hư danh như của Trung Nguyên Cửu Tuyệt, hay sự giác ngộ đục trong của ông lão lái đò thì ra chính là bước đầu tiên cơ bản khi tu tập. Đó là sự thấu suốt được vấn đề để rồi xả. Xả cho sạch nhưng quan niệm, chấp mắc trói buộc ở đời.
Giờ đây, đối với việc xoay chuyển muôn biến vạn hoá của thế gian, ta đừng mang nó vào trong tâm, cũng đừng ràng buộc với những điều đó để rồi tự mình rước khổ vào thân. Không cột trói, không mang mọi thứ đổ vào tâm, tuy nhiên, theo con vẫn chưa đủ. Bởi lẽ thân này là do nhiều duyên tạo thành, không ai sống một mình trên cái thế gian này mà nói rằng tôi chẳng liên quan đến bất kỳ một ai cả. Vậy thì lại đến lúc dùng Chánh Tư Duy và Chánh Định. Tư duy đúng, hiểu đúng, việc nên làm thì làm, việc không nên làm thì không nên làm. Vậy muốn hiểu đúng, muốn thông suốt tường tận để hành đúng, chẳng phải ta lại phải học cách sống Lặng Thinh của Duy Ma Cật đó sao. Trước bất cứ một vấn đề gì, đừng vội phán xét, đừng vội quăng phán xét của mình ra ngoài thế gian. Lặng lẽ quan sát, lặng lẽ nhìn, lặng lẽ tư duy. Đừng vội vàng đưa ra bất kỳ một phán xét nào về bất cứ điều gì khi ta và họ không ở cùng một chỗ, một vị thế. Những gì của thế gian chạy qua chạy lại xung quanh, ta lại dùng tâm tĩnh lặng để mà đối đãi.
Con cảm tạ ơn thầy đã dạy dỗ, giúp con giác ngộ, hiểu được và xả được những cột trói trước đây.
Thầy đưa đường chỉ lối cho con bước ra khỏi bóng tối, mà tìm về với ánh sáng của Chánh Pháp. Những ngày đầu năm 2020, nhìn lại 2019, con cảm thấy thật sự không uổng phí. THẬT XỨNG ĐÁNG.
Đọc lại Tâm Pháp, cảm xúc dâng trào thôi thúc con viết ra đây. Mà viết xong, con đọc lại, cảm thấy những lời bộc bạch này không khác gì một nồi lẩu thập cẩm. Không đầu không cuối. Mong thầy khai sáng thêm cho con, và cảm thông trước sự nghèo nàn về ngôn giáo.
Sự học biết của con vẫn còn nhiều hạn chế. Con cảm ơn ơn đức thầy.
Con, đệ tử Lý Ngân Thoa kính chúc thầy sức khoẻ !
10/02/2020
Tam Pháp Ấn
Pháp Ấn chính là “con dấu pháp” ấn chứng đạo quả của người tu hành. Phật đạo có rất nhiều Pháp ấn, nhưng tựu trung có ba Pháp ấn quan trọng người tu hành thường nghe nói, đó là: Tứ Pháp Ấn, Tam Pháp Ấn và Đệ Nhất Pháp Ấn !!!
Lý Tứ Hỏi Đáp Số 5
Các bạn !!!
Tuần này, mình sẽ trả lời câu hỏi của Minh Nguyệt !!! Nội dung câu hỏi như sau:
Thầy Lý Tứ kính !!!
Đại gia đình Lý Gia kính !!!
Minh Nguyệt có hai câu muốn hỏi ạ…!!!
1/ Xin hỏi công dụng của Tam Pháp Ấn (không, vô tướng, vô tác) là gì ???
2/ Mối liên hệ giữa Tam Pháp Ấn và người tu tập khi dứt hai thứ vô minh (Nhuận Chi Vô Minh và Căn Bổn Vô Minh) là gì ???
Bạn Minh Nguyệt thân mến !!!
Về hai câu hỏi của bạn, mình xin trả lời như sau:
1/ Xin hỏi công dụng của Tam Pháp Ấn (không, vô tướng, vô tác) là gì ???
Phật đạo có rất nhiều Pháp ấn, nhưng tựu trung có ba Pháp ấn quan trọng người tu hành thường nghe nói, đó là: Tứ Pháp Ấn, Tam Pháp Ấn và Đệ Nhất Pháp Ấn !!!
– Tứ Pháp Ấn gồm: Vô thường, khổ, không, vô ngã (cũng có nơi gọi là Tam Pháp Ấn gồm vô thường, khổ và vô ngã)… Đây là Pháp Ấn của Nhị thừa !!!
– Tam Pháp Ấn gồm: Không, vô tướng, vô tác…Đây là Pháp Ấn dành cho người tu tập tiến về đạo quả vô lậu bằng con đường Tam Giải Thoát Môn…Pháp Ấn này thuộc về Bồ Tát Quyền Thừa !!!
– Đệ Nhất Pháp Ấn hay Thiệt Tướng Pháp Ấn: Đây là Pháp Ấn, dành cho người thấy thiệt tướng, Pháp Ấn này của Bồ Tát Nhất Thừa !!!
Công dụng của các Pháp ấn trong Phật đạo dùng để ấn tâm…Có nghĩa rằng, để biết mình có tu đúng chánh pháp hay không, người tu hành căn cứ vào các Pháp Ấn, lấy Pháp Ấn làm bản đối chiếu với tâm thức, khi nào tâm thức tương ưng với một Pháp Ấn nào đó, biết rằng con đường ta đang đi là đúng !!! Ta có thể tạm hiểu, Pháp Ấn chính là “con dấu pháp” ấn chứng đạo quả của người tu hành !!!
2/ Mối liên hệ giữa Tam Pháp Ấn và người tu tập khi dứt hai thứ vô minh (Nhuận Chi Vô Minh và Căn Bổn Vô Minh) là gì ???
Bồ Tát Quyền Thừa thành tựu Tam Pháp Ấn, tịch diệt hai thứ vô minh, đó là Nhuận Chi Vô Minh và Căn Bản Vô Minh… Bồ Tát Nhất Thừa thành tựu Đệ Nhất Pháp Ấn, tịch diệt Vô Minh Trụ Địa !!!
Các bạn !!!
Trong tuần, mình cũng nhận được một số câu hỏi sau… Nhân tiện, mình xin giải thích trong bài viết này !!!
Bạn Thái Hùng Cường: Kinh thưa thầy Lý Tứ ,xin phép đt hỏi thầy như sau :
1.Con người thường tham lam ích kỷ ?
2.Con người có tánh hay sân giận ?
3. Con người thường sống trong si ái..sau khi chết họ sẽ sanh về cõi giới nào vậy?
Kinh xin thầy Lý Tứ hoan hỷ chỉ dạy, xin chân thành cảm ơn.
Bạn Thái Hùng Cường thân mến !!!
Phật dạy: “Như một cái cây, nó sẽ ngã theo hướng (người đốn cây dùng búa) mở miệng”. Câu này có nghĩa rằng, những người có các thứ tánh như bạn kể ở trên, nếu không giác ngộ, nhất định họ sẽ sanh về cõi giới của những chúng sinh có các thứ tánh ấy !!!
Bạn Lê Ngọc Tới: Tôi đã thỉnh cuốn VÔ ĐỐI MÔN của tác giả LÝ TỨ nhưng đang cho ông cụ nhà đọc trước.
Hỏi ! Làm thế nào để cho một người chưa hiểu PHẬT PHÁP đọc (lý) thể nghiệm (sự) để có thể nhập được.
Cám ơn BQT đã tạo được sân chơi bổ ích.
Cám ơn.
Bạn Lê Ngọc Tới thân mến !!!
Một người chưa hiểu Phật pháp, muốn từ nơi lý thể nhập sự… Người này phải học và học thôi !!! Theo mình thì, không có con đường khác !!! Thân !!!
Bạn Kim Diễm Văn hỏi:
Thầy ạ! Con có vấn đề sau muốn hỏi Thầy ạ! Nếu câu hỏi của con không đúng mong thầy bỏ qua cho con! Khi con nghe bài Ngũ ấm và Ngũ uẩn hình như là Thầy viết phân tách rạch ròi làm hai phần riêng biệt, nhưng thật ra ngũ ấm và ngũ uẩn phải liên kết chặt chẽ với nhau phải không ạ? Một người muốn giải thoát phải quán chiếu diệt trừ rốt ráo ngũ ấm muốn vậy thì phải nhờ ngũ uẩn giúp đỡ cho nên trong khi hành thiền ngũ ấm và ngũ uẩn phải tiến hành nối tiếp nhau. Con nghĩ như vậy là đúng hay sai ạ! Sự vận hành ngũ ấm và ngũ uẩn trong khi hành thiền như thế nào mới đúng theo tinh thần Phật đạo ạ? Con tên là Kim Diễm Văn. Con xin cảm ơn Thầy rất nhiều?
Bạn Kim Diễm Văn thân mến !!!
Ngũ ấm và ngũ uẩn không phải hai thứ khác nhau, mà nó là hai mặt của một vấn đề… Khi nào năm món sắc, thọ, tưởng, hành, thức mang tính chất trói buộc thì gọi là ngũ ấm…Khi nào, năm món đó tích chứa nguyên nhân phát sinh khổ phiền não, gọi là ngũ uẩn !!!
* Muốn không bị năm ấm trói buộc, phải dùng thiền định để yểm li, do tính chất của thiền định là: Tuần tự đưa người ra khỏi dục, sắc và vô sắc (ba cõi chính là nhân biến năm món sắc, thọ, tưởng…từ không tánh trở thành năm ấm) !!!
* Muốn không bị năm uẩn làm cho ta khổ phiền não, phải dùng trí tuệ quán sát để thấu suốt bản chất tự không của ngũ uẩn, kinh gọi là “chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thế khổ ách” !!! Thân !!!
Bạn Jessica Nguyên hỏi:
Thầy, con muốn hỏi thầy pháp vô vi là thế nào, con mơ hồ, con nghĩ là phép Phật phải không thầy?
Bạn Jessica Nguyen thân mến !!!
Trong Phật đạo, vô vi là cảnh giới của tâm thức khi các hữu vi pháp đã tịch diệt…Khi tâm thức không hiện khởi các hữu vi pháp, Phật đạo gọi (tâm thức) đó là vô vi, chứ không có một vô vi pháp !!! Vì thế Phật dạy: “Vô vi như sừng thỏ lông rùa”, câu này có nghĩa vô vi chỉ có tên gọi mà không có một pháp thực thể !!! Thân !!!
– BQT cũng nhận được một số câu hỏi liên quan đến thời khoá tụng niệm, hay các câu hỏi liên quan đến tông phái tu hành !!!
BQT xin thưa với các bạn có những câu hỏi thuộc dạng đã nêu như sau: Lý Gia chỉ tìm hiểu Phật pháp (thuần tuý), nên không chuyên về thời khoá tụng niệm, cũng như không tham gia vào các tông phái tu hành !!! Vì thế, chúng tôi không thể trả lời thoả đáng các câu hỏi liên quan đến những vấn đề vừa nêu…Mong các bạn thông cảm !!!
– BQT cũng nhận một vài câu hỏi nhưng rất tối nghĩa, khi đọc lên chẳng hiểu các bạn hỏi gì… Rất mong, khi đặt câu hỏi, các bạn cần viết rành mạch, văn tự rõ ràng dễ hiểu…Có như thế, chúng ta mới trao đổi với nhau được !!!
Tuần tới, chúng ta sẽ tiếp tục trao đổi câu hỏi của bạn Nhất Vi, câu hỏi như sau:
1) Người tu có cần đọc kinh điển hay không? Có người bảo rằng chỉ cần hành, không cần đọc kinh vì tâm chính là kinh, câu nói này đúng hay chưa?
2) Lên mạng tôi thấy ai cũng tự cho rằng mình đã ngộ, chê kẻ khác là chạy theo tưởng tri gì đó rất khó hiểu, làm thế nào để phân biệt được người nào ngộ thiệt người nào ngộ giả? Xin Lý Tứ giải đáp dùm Nhất Vi những thắc mắc vừa nêu, cảm ơn BQT và Lý Tứ đã có nhiều bài viết và trả lời bổ ích.
BQT LÝ GIA rất mong, nhận thêm những câu hỏi liên quan đến Phật pháp từ các bạn !!!
Các bạn !!!
Trong ngày, mình cũng nhận được các câu trả lời Trò Chơi Trí Tuệ – 02/2019 của Lý Giác Thư, Lý Phan Nhân và Lý Phương Anh (trả lời câu 1, đã yêu cầu PA trả lời thêm câu 2) !!! Trả lời của Lý Giác Thư và Lý Phương Anh theo đánh giá của mình là rất hay, không muốn nói là xuất sắc… Trả lời của Lý Phan Nhân đúng, nhưng cần trau chuốt hơn nữa !!!
LÝ TỨ
