Bài viết Lý Tứ

Thủy Tinh Tự Lành

MB 1157 Lý Mỹ Linh 29.06.2023

Thế giới chỉ do duyên hợp theo quy luật thành, trụ, hoại, không… Vì thế, nó chẳng có tự thể, chẳng do ai làm nên, chẳng có ai sở hữu (không thọ giả, không tác giả), duyên hợp thì tụ, duyên tan thì tán, vận động và tồn tại theo quy luật tự nhiên của nó…!!!

Các bạn !!!

Mình có hai món đồ mỹ nghệ làm bằng thuỷ tinh, được HĐ Lý Gia tặng vào những năm 2011 !!! Từ đó đến giờ, hai món đồ này được trưng bày trên một cái kệ gần bàn uống trà…!!!

Cách đây vài năm, do nhiệt độ thay đổi bởi thời tiết thất thường, hai món đồ trên bị rạn nứt nhiều chỗ, thậm chí có món Trà Cú (Lý Hậu Vệ) phải dùng keo 502 dán lại để tránh hư hỏng thêm…!!!

Bình thường cứ vài tuần, vài ba HĐ lại đến vệ sinh, lau chùi các món đồ trưng bày cho khỏi bụi…Từ ngày hai món thuỷ tinh bị nứt, các HĐ rất kĩ lưỡng trong việc lau chùi, vì nặng tay, các mảnh vỡ có thể rơi ra…!!!

Sáng nay, trong lúc vệ sinh, Trà Cú nói lớn: “Thầy ơi !!! Các vết nứt trên hai món đồ biến mất…!!!” Nghe thế, mình và mọi người cứ tưởng Trà Cú nói đùa…!!! Nhưng rồi, mình, Hưng, Liêm và Thuý cũng đến xem !!! Quả nhiên, hai món đồ thuỷ tinh chẳng còn vết nứt nào, thậm chí lại bóng sáng hơn hồi mới đem về…!!!

Câu chuyện hai món đồ thuỷ tinh bỗng dưng liền lại, làm mình suy nghĩ rất nhiều…!!! Mấy hôm nay, mình thường xuyên đề cập đến nhân sinh quan và vũ trụ quan của Phật đạo với HĐ Lý Gia trong các bài giảng về tam đạo, nhị giới và nhất tướng…!!! Phật đạo chỉ ra rằng, thế giới bản lai không tự tánh, không tự tướng, không tự ngã… Chỉ do duyên mà thành, trụ, dị…!!! 

Như vậy, chuyện hai món đồ thuỷ tinh tự lành, sáng đẹp hơn, nhất định việc này không phải do một thế lực vô hình nào đó can thiệp, mà chỉ là sự chuyển biến tự nhiên của vật chất…!!!

Từ việc này, mình biết rằng, trong lòng 4 HĐ sáng hôm nay chứng kiến chắc chắn có chút suy nghĩ về bóng dáng của sự thần bí nào đó…!!! Tuy biết rằng nhất định việc hai món đồ tự lành lại là phải có duyên cớ, nhưng mình không thể tự lí giải được, vì sao nó tự lành, các vết nứt biến đi đâu…vv…!!!

Từ sáng đến giờ, các câu hỏi trên cứ lãng vãng trong đầu, và mình quyết đem câu chuyện này kể cho HĐ trong ban khoa giáo của Lý Gia nghe vào buổi họp đêm nay để mong mọi người có lời giải đáp thoả đáng…!!! Với mình, thói quen điều gì chưa tìm ra chân tướng, nhất định cái đầu không chịu buông tha…!!!

Thế là câu chuyện hai món đồ thuỷ tinh tự lành đã có câu trả lời thông qua bằng chứng khoa học…Sau khi nghe kể câu chuyện, Lý Lục Nhật đã gởi cho mình bài viết “Thuỷ tinh tự liền” đăng trên nld.com.vn !!!

Như vậy mọi thứ sáng tỏ, thuỷ tinh tự lành không phải do một thế lực vô hình can thiệp, hay một tác động thần bí…” Mà nó là tính chất tự liền của một loại thủy tinh hữu cơ, được làm bằng chất gọi là polyete thioureas, loại gần với thủy tinh acrylic hơn là kính khoáng chất, thường được dùng để chế tạo màn hình điện thoại. Trước đó các nhà khoa học khác cũng từng chứng minh đặc tính "tự hồi phục" của các vật liệu như cao su hoặc chất keo đặc, nhưng Yu Yanagisawa là người đầu tiên chứng minh được khái niệm về thủy tinh "tự lành"… !!! Theo tuoitre.vn…!!!

Khi giải mã được câu hỏi về hai món thuỷ tinh tự lành trong nhà, mình thật sự xúc động…!!! Xúc động vì đây là cơ sở khoa học, xác định lời dạy của Thế Tôn về “nguyên lí tam vô” của thế giới gồm vô tự tính, vô tự tướng và vô tự ngã là chân lí bất biến…!!! Có nghĩa rằng, thế giới chỉ do duyên hợp theo quy luật thành, trụ, hoại, không…Bản chất không tự tánh, không tự tướng, không tự ngã… Vì thế, nó chẳng có tự thể, chẳng do ai làm nên, chẳng có ai sở hữu (không thọ giả, không tác giả), duyên hợp thì tụ, duyên tan thì tán, vận động và tồn tại theo quy luật tự nhiên của nó…!!!

Viết câu chuyện này, lại nhớ câu chuyện cách đây 15 năm, lúc đó Lý Gia vừa mới khai sinh…Trong nhà mình có một cái đĩa bằng sứ đường kính khoảng 20 cm, bà xã rất quý…!!! Một hôm, do va đập nhẹ, cái đĩa bị nứt một đường dài, bà xã tiếc lắm…!!! Bẵng đi một thời gian, vết nứt từ cái đĩa mất hồi nào không hay… !!! Câu chuyện cái đĩa tự lành ngày đó rồi cũng bị lãng quên theo năm tháng !!!

Hôm nay, nhân câu chuyện hai món đồ thuỷ tinh tự lành làm mình nhớ lại chuyện xưa…!!! Như vậy, không phải chỉ có thuỷ tinh tự lành mà gốm sứ cũng tự lành theo cơ chế riêng của nó… Việc tự lành, không do một thế lực hay bàn tay huyền bí nào can thiệp…!!! Các cơ chế vận động đó, đôi khi trong hiện tại con người chưa biết đến mà thôi…!!!

Thế đấy các bạn !!!

“Lặng lẽ quan sát không kết luận” và “phải tìm cho ra chân tướng sự việc” để biết nó là gì, đây là thái độ của người học tập Phật pháp !!!

Vật chất và tâm thức luôn có những duyên cớ và quy luật riêng được sản sinh trong sự vận động của chính nó…!!! Nếu ta không bình tĩnh, kết luận chủ quan, tin tưởng mù quáng, tuyên bố hồ đồ…vv… Nhất định, những chuyển biến của thế giới tự nhiên khi ta chưa giải mã thấu đáo sẽ nhuốm màu thần bí..!!!

Giải mã câu chuyện và viết được những dòng tâm sự này cho các bạn về sự việc vừa rồi, nhất định mình sẽ…ngủ…ngon... vì hết trạo cử…!!! Và quyết chắc rằng, lời dạy của Thế Tôn về nhân sinh và thế giới luôn ẩn chứa trong đó chân lí bất biến…!!!

26/06/2023

LÝ TỨ

Tags:

Bài viết Lý Tứ

Đằng Sau Đại Viên Cảnh Trí Là Điều Gì ???

MB 1157 Lý Mỹ Linh 29.06.2023

Để có thể ứng dụng thành công pháp lệnh giáo dục từ kinh Hoa Nghiêm…Người thầy trong Phật đạo (Bồ Tát) phải triển khai thứ lớp giáo dục qua 4 thời kì (A Hàm, Phương Quảng, Bát Nhã, Pháp Hoa và Niết Bàn)…!!!

Các bạn !!!

Hầu hết mọi người học tập trong Phật đạo đều biết rằng, quá trình giảng dạy trên 40 năm của mình, trước hàng ngàn môn đệ…Thế Tôn đã thuyết giảng chân lí tối thượng mà ngài đã phát hiện thông qua nhiều hình thức, nhiều giai đoạn, nhiều cấp học…từ thấp đến cao, từ sơ cơ đến liễu ngộ, từ giáo tông sang tâm tông…vv… Và, hành trình giáo dạy đó, đã được người xưa đúc kết bằng lộ trình sau…!!!

“Theo Đại sư Trí Giả, giáo pháp được Đức Phật thuyết giảng chia làm 5 thời kỳ (Ngũ thời) gồm: Thời Hoa nghiêm (21 ngày đầu tiên sau khi Phật thành đạo), thời A-hàm (12 năm kế tiếp), thời Phương đẳng (8 năm kế tiếp), thời Bát-nhã (22 năm kế tiếp), thời Pháp hoa và Niết-bàn (8 năm cuối cùng)…” !!! Trích GiacNgo.Vn !!!

Để có thể hiểu rõ phương thức giảng dạy, cũng như giá trị cốt lõi của từng thời kì trong 5 thời kì đã nêu trên con đường hoằng hoá của Đức Phật, nhằm giúp môn đồ đạt thắng lợi trí tuệ sau cùng…Ta thử tìm hiểu từng thời kì có ý nghĩa như thế nào trong tổng thể bức tranh đa màu của giáo pháp…!!!

I- THỜI KÌ HOA NGHIÊM !!!

Chiếu theo lộ trình nêu trên, ta có thể thấy…Ngay sau khi vừa thành Đẳng Chánh Giác, Đức Phật đã cụ thể hoá chương trình giảng dạy của mình thông qua một “giáo trình khung” hay là “pháp lệnh giáo dục”… Pháp lệnh giáo dục hay chương trình khung này, yêu cầu các Bồ Tát trong quá trình giảng dạy của mình phải chấp hành triệt để, nhằm tránh các sai lệch do vô tình hay hữu ý, gây ra sự không đồng nhất về chủ trương, đường lối của Phật đạo…!!!

Và, pháp lệnh đó chính là Kinh Hoa Nghiêm, một bộ kinh giới thiệu, giải thích, cắt nghĩa đầy đủ chủ trương, triết lí giáo dục thông qua các cấp học, lớp học, môn học..vv… của một nền giáo dục có đầy đủ yêu cầu học thuật, minh triết, khoa học và biện chứng…Ta quen gọi là Phật pháp, Phật đạo hay giáo lí nhà Phật…!!!

Kinh Hoa Nghiêm hay Pháp lệnh Giáo dục Phật giáo chính là văn bản quy phạm, văn bản mang tính chỉ đạo, yêu cầu các nhà giáo dục Phật giáo ta quen gọi là Bồ Tát, phải chấp hành công việc dạy và học trong nền giáo dục Phật giáo thông qua việc thông suốt, nhất quán tinh thần pháp lệnh này, kể cả Bồ Tát Thích Ca…!!! “Tinh tấn là Bồ Tát, viên mãn là Phật” - Kinh Hoa Nghiêm…!!!

Đây cũng là lí do vì sao sau khi thành Đẳng Chánh Giác, trước khi thể hiện vai trò Thiên Nhân Sư (Thầy dạy đạo)…Đức Phật không vội đi giáo hoá, mà đã dành trọn 21 ngày quý báu, để thiết kế chương trình giảng dạy đồng thời là pháp lệnh giáo dục như vừa nêu !!!

Xét tổng quát kinh Hoa Nghiêm, ta có thể nhận thấy sự hiện diện trong đó, việc giảng dạy và học tập giáo pháp phải tuân theo một quy trình gồm các bước sau !!!

I.1- THẤU SUỐT NHỊ GIỚI !!!

Nhị giới hay nhân sinh giới và vũ trụ giới là hai học giới căn bản, giúp người học xác định căn thân và thế giới thông qua nhân sinh quan và vũ trụ quan Phật đạo !!!

Điều này, minh định tính chân lí trong từng giới, xác lập vị trí cũng như mối quan hệ giữa nhân sinh và vũ trụ theo tinh thần Phật đạo, tránh việc giảng giải sai, lầm nhận giữa tâm, pháp, vật, ngã…tạo ra một “hỗn độn luận” khiến người nghe mơ hồ, mê tin, phi chân lí, phi giáo dục, phi khoa học, phi thực tế…!!!

Việc thấm nhuần vũ trụ, nhân sinh, nội giới pháp, ngoại giới pháp…vv…Giúp Bồ Tát có thể tuyên thuyết như pháp, dứt trừ nghi hoặc hay tà luận về Nhị giới cho chúng sinh… Từ đó có thể xa lìa hai hoặc loạn quan trọng là hoặc giới nội và hoặc giới ngoại…!!!

Để khái quát cho học trình này, trong kinh Hoa nghiêm các phẩm như: Thế giới thành tựu; Thăng Tu Di sơn đảnh; Thăng Dạ Ma thiên cung; Thăng Đâu Suất thiên cung…vv…là những giáo trình chuẩn và là học phần bắt buộc trong quá trình học tập trí tuệ…!!!

I.2- THẤU SUỐT TAM ĐẠO !!!

Nếu Nhị giới là học trình bắt buộc thì Tam đạo gồm Thế gian đạo; Xuất thế gian đạo và Vô thượng đạo là một trong những học phần chủ yếu không thể thiếu của Phật đạo…!!!

Học trình này, gồm những kiến thức chủ yếu về đạo lộ và nguyên uỷ phát sinh cũng như giá trị thực của Tam đạo…!!! Từ đó, Bồ Tát theo thứ lớp các lộ như kinh đã minh hoạ sẽ giáo hoá không sai lệch…!!! Nếu Bồ Tát không thông thuộc con đường này, việc triển khai hai tông chủ yếu của đạo là Giáo tông và Tâm tông không thể tuyên thuyết như pháp !!!

Để làm sáng tỏ đề tài này, kinh Hoa Nghiêm với các phẩm như: Hoa tạng thế giới; Tỳ Lô Giá Na; Như Lai danh hiệu; Quang minh giác; Chư Bồ Tát trụ xứ; Thập thân tướng hải; Ly thế gian; Nhập bất tư nghì giải thoát cảnh giới; Tứ thánh đế; Tịnh hạnh, Thập trụ; Phạm hạnh; Tịnh hạnh; Thập hồi hướng; Thập địa; Thập định; Thập thông; Thập nhẫn; Như Lai xuất hiện; Nhập pháp giới..vv…!!! Các phẩm vừa nêu, tạo ra một trật tự có đầy đủ tính học thuật của một nền giáo dục hiện đại…!!!

I.3- THẤU SUỐT NHẤT TƯỚNG !!!

Mọi người đều biết, nội dung chính hay tư tưởng chủ đạo trong triết lí giáo dục của Phật đạo là sự là thấu suốt thiệt tướng !!!

Thiệt tướng của thân tâm, vạn pháp và thế giới vượt ngoài thấy biết của nhục nhãn, thiên nhãn và pháp nhãn…!!! Thấy thiệt tướng cũng chính là cái thấy siêu quá những gì thuộc về hư vọng tướng hay tịnh tướng mà phù trần căn hay tịnh sắc căn tiếp xúc thế giới biểu kiến hay vô sắc biểu kiến của các giai đoạn tu tập trước đó đã thấy…!!!

Muốn thấy được thiệt tướng, người tu học phải được nâng nhận thức cùng thấy biết lên một đẳng cấp cao hơn, kinh gọi là khai Huệ nhãn…Huệ nhãn là thứ nhãn lực được kế thừa bởi hai sự thấm nhuần trước là Nhị giới và Tam đạo…!!! Đây được coi là cái thấy (nhãn lực) cao nhất của một Bồ Tát trước khi bùng vỡ Tự Nhiên Trí để Phật nhãn ra đời…!!!

Kinh Hoa Nghiêm đề cập đến sự thấy biết này trong các phẩm: Thế chủ Diệu nghiêm; Vân tập; Phật bất tư nghì; Bồ Tát vấn minh; Tỳ Lô Giá Na; Như Lai danh hiệu; Quang minh giác; Chư Bồ Tát trụ xứ…vv…!!!

Hư vọng tướng cho ra hư vọng pháp làm nên hư vọng tâm !!! Thiệt tướng cho ra chơn thiệt pháp thành tựu chơn thiệt trí !!! Đây là sự khác biệt giữa phàm, thánh, Phật… Và đây cũng là những nhãn lực cho ra sự khác biệt giữa thế gian, xuất thế và xuất thế gian thượng thượng…!!!

Tóm lại, trong 5 thời kì thuyết pháp của Phật…Kinh Hoa Nghiêm mang trong nó sứ mệnh định hướng giáo dục có tính pháp lệnh của Phật đạo !!! Để hoàn thành định hướng này, chúng ta tiếp tục khảo sát vai trò của các thời kì còn lại trong ngũ thời thuyết pháp, nhằm tìm xem lộ trình triển khai các cấp học theo tinh thần Hoa Nghiêm là như thế nào !!!

II- VAI TRÒ CỦA CÁC THỜI A HÀM - PHƯƠNG ĐẲNG - BÁT NHÃ !!!

Để có được trí tuệ trong Phật đạo, người học phải lần lượt trải qua các cấp lớp từ thấp lên cao, từ cạn đến sâu, từ dễ đến khó…!!! Để giải quyết trình tự này, các thời A Hàm, Phương Đẳng, Bát Nhã theo thứ tự được Phật triển khai !!!

II.1- THỜI KÌ A HÀM !!!

“A-hàm (zh. 阿含, 阿鋡, sa., pi. āgama) là tên phiên âm Hán-Việt, được đặt cho các bộ kinh căn bản của Phật giáo viết bằng Phạn văn, nội dung giống các Bộ kinh (pi. nikāya) thuộc văn hệ Pali…!!!” Theo Wikipedia !!!

“Sự truyền thừa những lời dạy từ kim khẩu của Đức Phật chỉ là hình thức khẩu tụng, không có giấy sách để ghi chép lại. Các đệ tử của Ngài tuy đã tiếp thu, nhưng lại có những kiến giải không đồng đều, không thống nhất, nên giáo đoàn dần dần có sự phân chia thành bộ phái và mỗi bộ phái đều có những tư tưởng khác nhau. Vì thế vấn đề xác lập, chỉnh lý và thống nhất các giáo thuyết của Đức Phật là một việc làm tất yếu và cần thiết. Nhờ đó, các giáo thuyết của Ngài được hoàn bị, dần dần phát triển thành một hình thức văn học riêng biệt và cuối cùng trở thành Thánh điển. Đó là nguyên gốc của sự hình thành kinh tạng A Hàm. Nhưng kinh tạng A Hàm chính thức được thành lập từ lúc nào thì phải căn cứ vào số lần kết tập kinh điển để tìm hiểu…” Trích PhatGiao.Org.Vn…!!!

Nội dung chủ yếu của kinh A Hàm nhằm giúp người học chấm dứt lậu hoặc, thành tựu thánh quả, đây là giai đoạn chủ yếu tẩy rửa phàm tâm người học…Phàm tâm chưa dứt, thánh quả khó hiện !!!

Đọc đoạn văn sau, ta thấy sự tẩy rửa ấy là một việc làm rất cần thiết, nhưng lại “đụng chạm đến tánh khí và quyền lợi” của người học…Nó giống như người ta phải phát quang gai góc, cỏ dại trước một vụ mùa…Vì thế, người thầy phải khéo léo, nhẫn nại trong việc dạy và học…!!!

“Tỷ khiêu là Bạt Nan Đà vui mừng nói: “Các người chớ có buồn, đức Thế Tôn diệt độ thì chúng ta được tự do. Ông già ấy trước đây thường bảo chúng ta làm thế này, không nên làm thế kia, nhưng từ nay về sau thì tuỳ ý chúng ta hành động”….!!! Trích PhatGiao.org.vn…!!!

II.2- THỜI KÌ PHƯƠNG ĐẲNG !!!

“Phương là vuông vắn, hoàn thiện. Đẳng là bình đẳng, giống nhau. Đồng nghĩa với phương quảng. Quảng có nghĩa là rộng lớn. Một số nhà Phật học cho rằng Kinh phương đẳng là kinh Đại thừa, bởi vì phương đẳng hay phương quảng, theo nghĩa bóng là hoàn thiện, rộng lớn. Theo tông Thiên Thai, thì thời kỳ Phương Đẳng là thời kỳ Phật giảng các Kinh Duy Ma Cật, Kim Quang Minh, Lăng Nghiêm, Lăng Già v.v… thời kỳ này kéo dài 8 năm từ năm 12 đến năm 20 kể từ năm Phật thành đạo…” !!! Theo HoaLinhThoai.com !!!

Thời kì phương đẳng chính là thời kì giúp người tu học nhận ra bản chất của thân tâm !!! Thời kì này giống như sau khi làm đất (phát quang, dọn cỏ, cày xới) tiếp tục gieo hạt giống trí tuệ cũng như hướng dẫn kĩ thuật canh tác giúp cây trí tuệ đơm hoa kết trái…!!!

II.3- THỜI KÌ BÁT NHÃ !!!

“Bát Nhã” là tiếng phiên âm của chữ Phạn “Prajna”, có nghĩa là trí tuệ, là trí sáng suốt có thể thông hiểu mọi việc ở đời. Nhưng, trong Phật học, khi nói đến “trí tuệ”, chúng ta phải phân biệt có bốn loại, khác nhau rất xa…!!!” Theo Tuvienquangduc.com.au…!!!

Nếu thời Phương Đẳng như người nông phu gieo hạt mầm trí tuệ thì, thời Bát Nhã chính là thời điểm người nông phu nhìn thấy cây trí tuệ bắt đầu đơm hoa kết trái…!!!

Chính việc đơm hoa kết trái ấy, là dấu hiệu báo trước những hạt mầm giáo pháp đã có thể đến ngày viên mãn có thể gieo trồng đại trà… Đây cũng là lí do vì sao Đại Tạng Kinh Bát Nhã còn có tên gọi là “tương tợ Bát Nhã” !!! Vâng, trí tuệ người tu hành có được trong thời kì này chỉ là sự tương tợ (gần giống) với Trí Tuệ của Chư Phật chứ chưa phải là Vô Thượng Trí…!!!

Để thứ “trí tuệ tương tự” này trở thành Vô Thượng Trí, hai thời kì sau gồm Pháp Hoa và Niết Bàn sẽ là “công nghệ xử lí sau thu hoạch” của hệ thống giáo dục Phật giáo !!!

III- THỜI KÌ PHÁP HOA VÀ NIẾT BÀN !!!

Hầu hết người tu hành trong Phật đạo đều biết đến ba bộ kinh được coi là thâm u nhất của Phật đạo, đó là Hoa Nghiêm, Pháp Hoa và Niết Bàn (một bộ đầu và hai bộ cuối quá trình giáo hoá) !!!

Ba bộ kinh này được Phật bố giáo sau khi thành chánh quả và những năm cuối cùng của hành trình giáo hoá, trong đó hàm chứa những điều sâu mầu nhất của đạo pháp mà một người muốn lãnh hội trọn vẹn chỉ thú của ba bộ kinh này phải trải qua quá trình học tập nhuần nhuyễn từ ba thời kì trước, hoặc thành tựu Tự Nhiên Trí sau vụ nổ Big Bang tâm thức !!! Điều này có nghĩa rằng, đất anh hãy còn hoang dại, hạt trí tuệ anh chưa gieo, cây trí tuệ anh chưa đơm hoa kết trái thì quả trí tuệ làm thế nào có được để học tập kĩ thuật xử lí sau thu hoạch và tiếp tục gieo trồng…!!!???

Có thể nói, thời kì Pháp Hoa và Niết Bàn chính là thời kì Phật giáo dạy ba học phần quan trọng nhất của Kinh Hoa Nghiêm là Nhất tướng, Nhị giới và Tam đạo đã giới thiệu ở đầu bài viết !!!

Cho đến một vị thầy trong tất cả các vị thầy của Phật đạo là đức Thích Ca Mâu Ni mà mãi cho đến 8 năm cuối đời trong hành trình giáo hoá, vị thầy ấy mới có đủ cơ duyên, sau khi học trò hội đủ các yếu tố cần thiết về trí tuệ mới có cơ hội hiển bày cảnh giới trí tuệ toàn bích của Phật đạo !!! Cảnh giới toàn bích ấy chính là: Khai, thị, ngộ, nhập Phật tri kiến và chân tướng của hết thảy chúng sanh là “nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”…Đây chính là “thiệt tướng của thiệt tướng”…!!!

Có một điều rất oái ăm là, người đời nay cho dù chưa hề thành tựu một đạo quả bẻ đôi nào của Phật đạo, vẫn được học tập pháp lệnh giáo dục Hoa Nghiêm, một thứ quy phạm thuộc về chuyên môn cao cấp của Phật đạo…!!! Vẫn được học Phật tri kiến, thứ tri kiến mà chưa chứng thánh quả xuất thế vạn lần nghe xong chỉ như vịt nghe sấm, đây là lí do 500 con vịt tăng thượng mạn đành rời hội Pháp Hoa…!!! Vẫn được nghe giảng nói kinh Niết Bàn cho dù cá tánh người nghe như tì kheo Bạt Nan Đà hãy còn nguyên xi, chưa được bóc tem tẩy xoá vài phần…!!!??? Đây cũng là lí do vì sao trong bố cáo của mình, Thạch Liêm đã than thở: “Ù ù cạc cạc trong cơn…tuỳ…mộng” !!!

IV- HẾT NHUẬN CHI VÀ CĂN BẢN VÔ MINH ĐÃ LÀ NGƯỜI CÓ TRÍ TUỆ TRONG PHẬT ĐẠO HAY CHƯA ???

Vô minh, theo quan điểm của Phật đạo có đến 3 tầng !!! Tầng thứ nhất gọi là Nhuận Chi Vô Minh được diệt trừ trong thời kì A Hàm (hết khổ, dứt tập) !!! Tầng thứ hai gọi là Căn Bản Vô Minh chỉ tịch diệt hoàn toàn trong thời kì Phương Đẳng và Bát Nhã (viên mãn Diệt đế, mọc mầm trí tuệ) !!! Tầng thứ ba gọi là Vô Minh Trụ Địa được giải trừ ở thời kì Pháp Hoa và Niết Bàn !!!

Như thế, khi người tu hành chuyển hoá hoàn hảo từ thức thành trí chỉ giúp hết mê gọi là minh…Từ minh này, muốn học trí tuệ phải mọc mầm trí tuệ…Có mầm trí tuệ mới có hoa trái trí tuệ…Có hoa trái trí tuệ mới học kĩ thuật xử lí hoa trái trí tuệ, gọi là học tập Phật tri kiến…!!! Ngộ nhập Phật tri kiến chính là thấy rõ thiệt tướng…!!! Thấy rõ thiệt tướng của thiệt tướng chính là thấy Phật tánh trong mỗi chúng sanh !!!

V- KẾT LUẬN !!!

Để có thể ứng dụng thành công pháp lệnh giáo dục từ kinh Hoa Nghiêm…Người thầy trong Phật đạo (Bồ Tát) phải triển khai thứ lớp giáo dục qua 4 thời kì (A Hàm, Phương Quảng, Bát Nhã, Pháp Hoa và Niết Bàn)…!!!

Và, ba học phần quan trọng thuộc về trí tuệ của Phật đạo là Nhất tướng, Nhị giới và Tam đạo chỉ có thể triển khai sau khi người học đã chuyển thành công thức thành trí và thành tựu Căn Bản Trí !!!

Ba học phần này, tương đương với ba môn học của Đạo đế là: Thấu thị môn (Nhị giới); Thẩm Sát Môn (Tam đạo) và Đẳng Ngữ Môn (Nhất tướng) !!!

VI- LƯU THÔNG !!!

Bài viết nhằm giúp bạn đọc, nhất là HĐ Lý Gia trong quá trình học tập, nhận biết mình đã học đến đâu, đứng ở vị trí nào trong hành trình đang đi cũng như mục tiêu sẽ đến là gì !!! Hiểu biết này, nhằm tránh những nhầm lẫn đáng tiếc khi tiếp cận các cảnh giới và không mắc phải bệnh thuyết giảng lộn lạo…!!!

Chúc các bạn an vui, tinh tấn…!!!

Thứ 6, 16/06/2023 !!!

LÝ TỨ

- ĐƯỜNG ĐẾN TRÍ TUỆ !!!

Tags:

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Đầu Thai Nhớ Tiền Kiếp !!!

MB 1157 Lý Mỹ Linh 29.06.2023

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp Số 09.2023 trả lời thắc mắc của bạn đọc về chủ đề đầu thai nhớ tiền kiếp.

Các bạn !!!

Mình vừa nhận được câu hỏi của bạn đọc có tên Đỗ Long !!! Nội dung câu hỏi như sau:

“Chào bác, bác cho con hỏi tại sao vẫn có một số trường hợp đầu thai có thể nhớ được tiền kiếp? Và việc đấy nó được truyền và lưu giữ theo cơ chế nào? Phật đạo giải thích vấn đề này ra sao? Con cám ơn bác!” - 26/06/2023 15:14:23 - Đỗ Long

Đỗ Long và bạn đọc thân mến !!!

Về nội dung thắc mắc của bạn, mình xin được đưa ra quan điểm cá nhân theo từng ý như sau:

1- Đầu thai nhớ tiền kiếp !!!

Thỉnh thoảng, bản thân mình cũng có đọc trên mạng, hay nghe người khác kể về một số câu chuyện có người sau khi đầu thai, nhớ lại kiếp trước của mình !!!

- Hầu hết những câu chuyện đã nghe, sau khi hỏi cặn kẽ người kể về tính xác thực của câu chuyện, gần như đều nhận được câu trả lời chung: “Chỉ nghe lại từ một người khác, hoặc đọc ở đâu đó…chứ bản thân không chứng kiến…” !!!

- Mình thử vào google tìm hiểu các câu chuyện như vậy để xem, từ xưa đến giờ đã có một tổ chức uy tín, đáng tin cậy nào mở một cuộc khảo sát, nghiên cứu độc lập, khoa học, khách quan, trung thực… Sau đó, công bố sự thật về các nội dung đã nêu trên các diễn đàn, tạp chí hay báo cáo khoa học…vv…hay không thì, hoàn toàn không tìm thấy… Trừ một vài câu chuyện mà theo mình, độ tin cậy không cao…!!!

- Về kinh điển Phật giáo chính thống, mình cũng chưa tìm thấy bài kinh, lời dạy nào nói rõ hay giải thích cụ thể việc này… Ngoại trừ một vài tài liệu theo mình là không chính thống cũng như không đáng tin cậy…!!!

- Trong cuộc đời hoằng hoá của đức Phật, các câu hỏi thuộc “phạm trù siêu hình” khi được một ai đó nêu lên…Phật thường im lặng mà không trực tiếp trả lời !!! Vì rằng, những mẫu chuyện, quan điểm siêu hình không nằm trong các mục tiêu giáo dục mà Phật đạo đề ra…!!!

2- Về quan điểm cá nhân về việc “đầu thai nhớ tiền kiếp” !!!

Như những gì đã lập luận ở trên, quan điểm cá nhân của mình là: Những câu chuyện, những quan điểm không rõ ràng, chưa được xác chứng, độ tin cậy không cao, vô căn cứ, không liên hệ đến mục đích của đạo…vv…không thể là đề tài để người trí đưa ra thảo luận (hoặc trả lời) chính thức trong quá trình nghiên cứu, học tập hay giảng dạy thuộc về Đạo Trí Tuệ…!!!

3- Về quan điểm của Phật đạo !!!

Theo mình, Phật đạo có những mục tiêu nhất định trong nền giáo dục của mình !!! Vì thế, những vấn đề, những câu chuyện, những quan điểm…vv… không liên hệ đến các mục tiêu của nền giáo dục này, đều không nhận được các câu trả lời…!!!

4- Một số kinh tiêu biểu, đại diện quan điểm của Phật đạo chính thống về các vấn đề siêu hình !!!

- Kinh Trung Bộ, số 62 !!!

“Này Vaccha, nghĩ rằng thế giới là vô thường… thế giới là thường… thế giới vô biên… thế giới là hữu biên… sinh mạng và thân thể là một… sinh mạng và thân thể là khác… Như lai có tồn tại sau khi chết… Như lai không tồn tại sau khi chết… Này Vaccha, nghĩ rằng Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết, như vậy là tà kiến, kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phược, đi đôi với khổ, với tàn hại, với não hại, với nhiệt não, không hướng đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết bàn. Này Vaccha, Ta thấy có sự nguy hại này mà ta không chấp nhận (trả lời) hoàn toàn những tri kiến (câu hỏi) như vậy?”

- Kinh Trung Bộ, số 63 và kinh Tiển Dụ, Trung A Hàm, số 211 !!!

“Bạch Đức Thế Tôn, con đang ngồi thiền tư một mình, bỗng nhiên khởi lên ý niệm, có mười vấn đề mà bấy lâu nay Ngài chưa giải thích rõ với chúng con. Mỗi khi chúng con hỏi Ngài về những vấn đề này thì Ngài đều im lặng. Con cảm thấy không vui khi Ngài làm như thế...

Bạch Đức Thế Tôn, hôm nay nếu Ngài giải thích rõ các vấn đề trên thì con tiếp tục sống đời sống xuất gia tu hành phạm hạnh; nếu Ngài vẫn giữ im lặng thì con mất hết tín tâm không tiếp tục tu hành nữa...

Nếu Thế Tôn biết thế giới này là vĩnh hằng, thì xin Ngài nói cho con được rõ. Nếu thế gian này không vĩnh hằng, thì lý do tại làm sao ? Nếu Ngài đối với những vấn đề này mà không biết thì trực tiếp nói là không biết”!

“Thế Tôn dạy: Này Man Đồng Tử! Con thật mê muội! buồi ban đầu có phải là không hiểu những vấn đề huyền hoặc này mà con đi xuất gia không? Lúc con đi theo Ta tu hành phạm hạnh Ta có hứa sẽ nói cho con biết những vấn đề này không?”...

Man Đồng Tử trả lời: “Bạch Đức Thế Tôn, không”.

Đức Phật dạy: “Như vậy con chưa được Như Lai trả lời thì con đã chết rồi. Này Man Đồng Tử, giả như có người bị trúng tên độc bị thương, người thân của người này muốn nhổ mũi tên ra và đưa đến bác sĩ, nhưng người kia không muốn cho người nhà nhổ mũi tên ra trừ phi biết ai đã bắn tên này. Người bắn mũi tên thuộc giòng họ Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Phệ-xá, hay Thủ-đà-la. Hắn cao, thấp, hay vừa, da của hắn nâu, trắng đen hay vàng; hắn ở thành xóm ấp làng nào? Tôi không muốn nhổ mũi tên ra trừ phi tôi biết tôi bị loại cung tên nào bắn trúng, dây cung làm bằng gì, loại tên hình như thế nào, làm bằng chất liệu gì…

Này Man Đồng Tử; người kia chưa kịp biết rõ đáp án thì đã chết rồi, cũng như người muốn biết vũ trụ có vĩnh hằng hay không vĩnh hằng và những vấn đề liên quan nó, người kia chưa kịp được Như lai trả lời thì đã chết rồi. Cũng như vậy, nếu có người hỏi, tôi không theo Đức Thế Tôn tu hành phạm hạnh nữa trừ phi Ngài trả lời cho tôi về những điều vũ trụ có vĩnh hằng hay không, người kia chưa được Như Lai trả lời thì đã chết rồi…

Vì đời người ngắn ngủi, nếu ai bị những vấn đề huyền hoặc này mà suốt ngày phiền não, cố chấp không xả, muốn tìm cho đến ngọn nguồn, thì càng ngày càng vào mê lộ, cuối cùng không đi ra được” !!!

5- Kết luận !!!

Đỗ Long và bạn đọc thân mến !!!

Phật đạo là một nền giáo dục !!! Nền giáo dục này có những mục tiêu nhất định của nó…Các mục tiêu căn bản của Phật đạo gồm: Giúp người hết khổ, hết phiền não, hết tham sân, hết lậu hoặc, hết trói buộc, được an vui, và thành tựu trí tuệ…!!! Vì thế, Phật đạo còn có tên: Đạo giác ngộ, đạo giải thoát, đạo trí tuệ…!!!

Những gì ngoài các mục tiêu nêu trên, Phật đạo không giải quyết, không trả lời…Và coi đó là: “tà kiến, kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phược, đi đôi với khổ, với tàn hại, với não hại, với nhiệt não, không hướng đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết- bàn…” !!! Kinh Trung Bộ, số 62 !!!

Vì thế, đối với những câu chuyện, câu hỏi mà Đỗ Long đã nêu, mình tạm mượn lời dạy của Đức Phật thay câu trả lời !!!

- "Này Vaccha, Ta thấy có sự nguy hại này mà ta không chấp nhận (trả lời) hoàn toàn những tri kiến (thắc mắc) như vậy…!!! Trích Kinh Trung Bộ, số 62 !!!

- "Vì đời người ngắn ngủi, nếu ai bị những vấn đề huyền hoặc này mà suốt ngày phiền não, cố chấp không xả, muốn tìm (muốn hỏi) cho đến ngọn nguồn, thì càng ngày càng vào mê lộ, cuối cùng không đi ra được” !!! Trích kinh Tiển Dụ !!!


Hy vọng, những giải thích ở trên, có thể giúp Đỗ Long và bạn đọc nhận ra, Phật đạo đối với những vấn đề siêu hình sẽ có câu trả lời như thế nào !!!

Đồng thời nhận ra, những thắc mắc, những đề tài, những mục tiêu nào...vv...mới được coi là chính đáng để người trí tìm hiểu, đưa ra thảo luận, chất vấn, làm sáng tỏ, không rơi vào hí luận, không trở thành vô bổ, chỉ giúp thoả mãn tò mò không cần thiết... trong quá trình học tập, nghiên cứu nhằm lợi mình lợi người...!!!

Chúc Đỗ Long và bạn đọc an vui, tinh tấn !!!
Rất mong, nhận được các câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người !!!


27/06/2023
LÝ TỨ

Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link [http://bit.ly/2K0aWfn] hay trực tiếp tại website Lytu.vn

Đầu Thai Nhớ Tiền Kiếp !!!

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Tánh Biết - Đại Định - Thường Định !!!

MB 1157 Lý Mỹ Linh 29.06.2023

Kiến Tánh là cảnh giới của Phật đạo rất được người tu hành quan tâm !!! Tuy nhiên, đây là những cảnh giới thuộc về thực chứng chứ không thuộc về suy luận…!!!

Tánh Biết - Đại Định - Thường Định !!!

Các bạn !!!

Tiếp theo câu hỏi từ chuyên mục Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời kì 07/2023 !!! Hôm nay, mình lại nhận tiếp một câu hỏi cũng của bạn đọc Tuấn Nguyễn ở Trà Vinh !!! Nội dung câu hỏi như sau:

“Xin lỗi do chưa rành về vi tính nên nó phân đoạn, xin hỏi tiếp theo:

Còn người kiến tánh do dụng công ở trên tâm (hay tánh biết) trong cuộc sống là đi đứng nằm ngồi nên nhận ra Thường Định. Xin Thầy giảng dùm giữa Đại Định và Thường Định khác nhau như thế nào, xin cảm ơn Thầy." - 18/06/2023 - 15:20:12 - Tuấn Nguyễn ở Trà Vinh.

Bạn Tuấn Nguyễn thân mến !!!

Như những gì mình đã trả lời ở kì vừa rồi (07/2023)… Trong Phật đạo, kiến tánh có đến ba giai đoạn !!! Mỗi giai đoạn kiến tánh biểu hiện cho việc người tu hành đã gọt dũa vô minh thứ lớp, từ cạn đến sâu, từ thô đến tế theo ba giai đoạn là Nhuận Chi Vô Minh, Căn Bản Vô Minh và Vô Minh Trụ Địa:

1) Kiến Tánh Biết (hay Tánh Giác): Đây là giai đoạn người tu hành đã trừ diệt phần lớn (không hoàn toàn) lậu hoặc, gồm: Khổ, phiền não, kiết sử, mê mờ…Nhờ các lậu hoặc nêu trên đã được trừ diệt phần lớn, nên tâm thức của vị ấy giảm thiểu đến mức thấp nhất việc nhiễm ô…!!! Vì thế, thấy biết tương đối không bị hoặc loạn, một chút thanh tịnh phát sinh…!!!

Thành tựu giai đoạn này, thuộc về Thế Đế (của Nhị Đế, không phải Thánh Đế)… Nên, nếu không được hộ trì, không được tiếp tục học tập, người này rất dễ phát sinh tà kiến…Tà kiến vì nhầm tưởng cái thấy đó là Tự Tánh hay Phật Tánh…Từ đó, cho rằng việc học tập đã xong, ngỡ rằng tự thân là Phật, là Thánh…Nhưng kì thật, trí tuệ của họ chỉ hơn phàm tình một chút…Và, nguy cơ thối chuyển, phiền não, khổ, kiết sử, mê mờ tái nhiễm ô trở lại là điều khó tránh khỏi…!!! Thành tựu này, hay thấy Tánh Biết, chỉ tương đương với quá trình chấm dứt Nhuận Chi Vô Minh…!!!

2) Kiến Tự Tánh: Đây là giai đoạn sau khi thấy Tánh Biết, vị tu hành này tiếp tục học tập nâng cao, được đạo sư khai thị để “Minh Tâm Kiến Tánh”…Thấy rõ Bổn Tâm (Tự Tâm), Bổn Tánh (Tự Tánh)…!!!

Giống như giai đoạn Lục Tổ Huệ Năng sau khi nghe Kim Cang, tự ngộ “tâm tự không” (bổn lai vô nhất vật), sau đó Huệ Năng phải đến Ngũ Tổ để cầu học và được Ngũ Tổ khai thị lần nữa (xem câu chuyện Lục Tổ lên thất Ngũ Tổ) trong lần trao Y Bát…!!! Sau khi nghe khai thị xong, Lục Tổ bèn giác ngộ và thốt lên: “Nào dè tự tánh vốn tự thanh tịnh, nào dè tự tánh vốn không sanh diệt…vv…” !!! Giai đoạn này, người tu hành mới được coi là bất thối chuyển, thành tựu Căn Bản Trí…Dứt hoàn toàn Căn Bản Vô Minh để sau đó thành tựu Sai Biệt Trí hay Hậu Đắc Trí… Chỉ từ giai đoạn này, tà kiến mới không thể phát sinh, giống như vàng trong quặng đã được tinh luyện thành vàng y…Không thể trở lại thành vàng quặng cho dù chúng ở đâu…!!!

3) Kiến Phật Tánh: Đây là giai đoạn tối hậu sau khi đã kiến Tánh Biết và Kiến Tự Tánh…!!! Giai đoạn này thành tựu sau khi viên mãn Nhất Thiết Trí…Ở giai đoạn này, trí tuệ không còn mê mờ nên, những gì Phật thấy vị này thấy, những gì Phật biết vị này biết, những gì Phật chứng vị này chứng… Giống như câu chuyện Phật bố cáo trước đại chúng về ngài Ca Diếp (Nhị Tổ): “Những gì ta thấy Ca Diếp thấy, những gì ta biết Ca Diếp biết, những gì ta chứng Ca Diếp chứng…” !!!

Khác hơn, thấy biết của vị đã “Kiến Phật Tánh” là thấy biết của một vị Phật, vị này tuyên thuyết như Phật, không còn một chút u tối nào, gọi là dứt Vô Minh Trụ Địa…!!! Tuy thấy biết không khác Phật, nhưng công đức và công hạnh hoàn toàn thua kém Phật, Phật đạo gọi là “tướng đệ tử”…!!! Để đủ công đức, thành Đẳng Chánh Giác (Phật 10 danh hiệu), vị này phải trải qua 1 vô số kiếp làm công hạnh của Đẳng Giác và Diệu Giác Bồ Tát…!!!

Về thắc mắc của bạn, mình xin trả lời như sau:

A- Nếu người tu hành Kiến Tánh chỉ ở giai đoạn thấy Tánh Biết (Kiến Tánh Giác) thì, tâm thức vị này chưa được coi là “Thường Định”…!!! Vì rằng, thấy biết đó chỉ là kết quả của Thế Đế, chưa phải Đệ Nhất Nghĩa Đế (Thánh Đế)…Tuy nhiên, nhờ cái thấy này nên nếu vị ấy cần cù tinh tấn, các lậu hoặc sẽ tịch diệt dần dần…Điều kiện là, vị này không bị lạc vào tà kiến và không nhầm tưởng rằng đây là Tự Tánh hay Phật Tánh…!!!

B- Người Kiến Tánh cho dù Kiến Tánh ở giai đoạn nào cũng đều không phát xuất từ việc dụng công, hay do dụng công mà thành…Vì, Kiến Tánh là hệ quả tất yếu của việc “thay đổi nhận thức” chứ không phải kết quả của việc “dụng công”…!!!

C- Thường Định là khái niệm (hay cảnh giới) của Phật đạo dùng để chỉ cho những vị đã Minh Tâm Kiến Tánh hay Kiến Tự Tánh (dứt Căn Bản và Nhuận Chi Vô Minh)…!!! Đây là giai đoạn mà tâm thức của vị ấy không bị chi phối bởi không gian và thời gian…một thứ tâm thức hoàn toàn “không sanh diệt” !!!

D- Đại Định là khái niệm (hay cảnh giới) nhằm chỉ cho vị đã Kiến Phật Tánh…Tức, thấy biết như một vị Phật…!!! Đây là cảnh giới của: Thân, khẩu, ý hành động theo trí tuệ (Thân, khẩu, ý tuỳ trí tuệ hành), một trong 18 Bất Cộng Pháp của chư Phật (xem Thập Bát Bất Cộng)…!!!

Bạn Tuấn và Bạn Đọc thân mến !!!

Kiến Tánh là cảnh giới của Phật đạo rất được người tu hành quan tâm !!! Tuy nhiên, đây là những cảnh giới thuộc về thực chứng chứ không thuộc về suy luận…!!! Cho nên, người tu hành thường nhầm lẫn, từ đó phát sinh các hiểu biết sai lệch về các giai đoạn Kiến Tánh, vì thế dễ phát sinh tà kiến, từ tà kiến này, họ nhầm tưởng đã về đến “ngôi nhà” của chư Phật, vì thế con đường học tập của họ nhất định ngưng trệ, đi vào lối rẽ, hệ quả là không thể giác ngộ chân thật…!!!

Hy vọng, những giải thích ở trên, có thể giúp Tuấn và bạn đọc của chuyên mục có cái nhìn khái quát về những giai đoạn Kiến tánh trong Phật đạo, cũng như nhận ra sự khác biệt giữa các tầng bậc tu hành…Từ đó, nhất tâm, cần cầu, tinh tấn mới không sai lệch !!!

Chúc các bạn an vui, tinh tấn !!!

Rất mong, nhận được các câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người !!!

21/06/2023

LÝ TỨ

Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau:

[http://bit.ly/2K0aWfn]

- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn !!!

Tánh Biết - Đại Định - Thường Định !!!

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Kiến Tánh Khởi Tu hay Kiến Tánh Thành Phật ???

MB 1157 Lý Mỹ Linh 29.06.2023

Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp Số 07.2023 trả lời thắc mắc của bạn đọc về chủ đề Kiến Tánh.

Các bạn !!!

Mình vừa nhận được thắc mắc của bạn đọc có tên là Tuấn ở Trà Vinh !!! Bạn ấy hỏi như sau:

Xin chào Thầy Lý Tứ! Xin cho phép tôi hỏi một câu: Khi kiến tánh rồi mới khởi tu (vậy khi mình chưa kiến tánh mà tu thì không có kết quả phải không Thầy)? Xin nhờ Thầy mình giải dùm, xin cảm ơn! 11/06/2023 - 19:24:43 - Tôi tên Tuấn ở Trà Vinh.

Bạn Tuấn thân mến !!!

Về câu hỏi của bạn, mình xin được trả lời như sau:

Trong Phật đạo, nhất là Thiền Môn, người tu hành thường đề cập đến ba khái niệm sau: Kiến tánh; Kiến tánh khởi tu và Kiến tánh thành Phật…!!! Ba khái niệm này cũng là đề tài thường xuyên xảy ra các cuộc tranh luận, cũng như tốn hao không ít giấy mực của nhiều Luận giả…!!!

Tuy nhiên, cho đến hiện tại, mình vẫn chưa tìm thấy một luận giải hay phân tích nào đủ sức thuyết phục, cũng như chỉ ra sự khác biệt giữa ba khái niệm này hay làm rõ mức độ đúng sai của các khái niệm ấy là như thế nào !!! Để trả lời câu hỏi của bạn: “Khi kiến tánh rồi mới khởi tu (vậy khi mình chưa kiến tánh mà tu thì không có kết quả phải không Thầy?”. Theo mình, đầu tiên, chúng ta phải tìm xem ba khái niệm trên (hay khái niệm Kiến tánh khởi tu) nhằm chỉ cho điều gì trong Phật đạo!!!

1) Kiến tánh: Đây là khái niệm chung, nhằm chỉ cho một hay nhiều cấp độ thấy biết (kiến) nào đó khi người tu hành phát hiện một hay nhiều tính chất (tánh) đặc thù, siêu việt của Tự tánh hay Phật tánh (tính chất tự nhiên sẵn có của tự tâm hay tánh chất siêu việt của Phật tánh), đã ẩn sâu trong một hữu tình (nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh) mà hiện tại này người tu hành ấy mới đủ duyên phát lộ ra trong chính bản thân mình !!!

Trong quá trình tu tập, người tu hành sẽ lần lượt phát lộ một hay nhiều tính chất đặc thù, siêu việt của Tự tánh hoặc Phật tánh tuần tự hiện ra trong chính thân tâm này theo quy trình sau:

2) Kiến tánh giác (người xưa gọi là Kiến tánh khởi tu): Đây là cái thấy (kiến) đầu tiên của người đã làm sạch khổ, phiền não, kiết sử và mê mờ…thành tựu đạo quả Vô lậu !!!

Khác hơn, đây là cái thấy ban sơ của người đã giải quyết xong Khổ đế và Tập đế !!! Giống như nguồn nước bị ô nhiễm, đã được thanh lọc tạp chất, trở nên trong suốt…Nguồn nước này do trong suốt, không vẩn đục, nên có thể chiếu soi một cách rõ ràng những gì bay ngang qua nó… Ta cũng có thể ví như một tấm gương không bị bụi bẩn có năng lực chiếu soi trung thực tất cả các cảnh duyên khi nó tiếp cận !!!

3) Kiến tự tánh (người xưa gọi là Minh tâm, Kiến tánh): Đây là cái thấy thứ hai sau khi đã Kiến tánh giác…!!! Kiến tự tánh thuộc về giai đoạn người tu hành sau khi Kiến tánh giác, vị ấy dùng sức thấy biết của Tánh giác trực nhận ra những tính chất tự nhiên, đặc thù của Tự tâm (hay Bổn tâm) như: Thanh tịnh; bất động; không sanh diệt, đầy đủ công đức, tịch tri…vv…!!!

Kiến tự tánh chính là giai đoạn người tu hành đã viên mãn Diệt đế vào Bất động Giải thoát…như người đi tìm lõi cây, đã tìm được một lõi cây như ý…!!!

4) Kiến Phật tánh (Kiến tánh thành Phật): Đây là cái thấy sau cùng khi người tu hành từ bỏ Bất động Giải thoát (kinh gọi là Bồ tát từ Bất động bước ra)…lên đường cầu học Trí tuệ và thành tựu viên mãn Nhất thiết trí, thể nhập Nhiếp Thọ Chánh Pháp Vô Dị Biệt (xem kinh Thắng Man)…!!!

Ở giai đoạn này, vị tu hành trực nhận (kiến) các tính chất siêu việt, đặc dị của Phật tánh như: Vô lượng từ, bi, hỉ, xả, thường, ngã, lạc, tịnh…hiện rõ trong tâm tánh của mình…!!! Địa vị này tương đương Thiện Huệ Địa (Cửu địa Bồ tát)…Đến khi công hạnh đầy đủ, vị ấy thể nhập Pháp Vân Địa (Thập địa Bồ tát)…Hoàn thành Bồ tát đạo và Bồ tát hạnh…!!!

Theo những giải thích ở trên, câu hỏi của bạn: “Khi kiến tánh rồi mới khởi tu (vậy khi mình chưa kiến tánh mà tu thì không có kết quả phải không Thầy)? Sẽ được giải thích như sau:


- Người chưa Kiến tánh phát khởi tu hành, việc tu hành này sẽ giúp người ấy gọt rửa thân tâm, tịch diệt các món che chướng Tánh giác, như: Đau khổ, phiền não, kiết sử, mê mờ..vv…từ đó Tánh giác hay Kiến tánh khởi tu thuộc giai đoạn một sẽ thành tựu…!!!

- Tu hành trong giai đoạn chưa Kiến tánh, giống như người mù bẩm sinh, phải chữa lành đôi mắt rồi sau đó mới có thể tiếp tục học màu sắc (Kiến tánh khởi tu) và hội hoạ (Kiến tánh thành Phật)…!!! Kinh gọi giai đoạn này là dứt Nhuận Chi Vô Minh !!!

Tóm lại, người chưa Kiến tánh tu hành là việc vẫn phải làm, việc làm này cho ra những kết quả nhất định của nó (không phải không có kết quả như câu hỏi của bạn) !!!

Kiến tánh khởi tu và Kiến tánh thành Phật là hai khái niệm thuộc về xuất thế gian và xuất thế gian thượng thượng… Hai khái niệm này vượt khỏi thấy biết hay suy luận thường tình của người chưa Giác Ngộ…!!!

- Kiến tánh khởi tu: Giống như người đi tìm lõi cây, với đôi mắt sáng, trong rừng vị ấy tìm thấy một cái cây thẳng đứng có lõi, vị ấy đã chặt bỏ cành nhánh, vỏ ngoài, vỏ trong, giác cây…hiện tại đang tiếp cận lõi cây và là người sở hữu lõi cây đó…

- Kiến Tánh Thành Phật: Như nhà điêu khắc tài ba, với tay nghề siêu hạng, có thể nhìn thấy những bức tượng vô giá ẩn chứa trong các lõi cây…Đây là việc làm mà, một người không tay nghề hay tay nghề điêu khắc chưa siêu hạng vô lượng lần nhìn ngó cũng không thể thấy...!!!

- Đây là sự khác biệt rất xa giữa Diệt đế và Đạo đế, giữa xuất thế gian và xuất thế gian thượng thượng, giữa sức thiện xảo giáo hoá sai biệt của Bồ tát và Đại Bồ tát trong Phật đạo (xem kinh Đại Niết Bàn) !!!

Tóm lại, đối với Phật đạo, dù chưa Kiến tánh hay đã Kiến tánh, nếu chưa thành tựu đạo quả sau cùng là Vô Thượng Bồ Đề (Phật quả), người tu hành đều phải học tập và cần cầu tinh tấn !!!

Sự khác biệt về tu hành giữa người chưa Kiến tánh và Kiến tánh chỉ ở chương trình học tập và cách thức ứng dụng mà thôi !!!

Hy vọng, những giải thích ở trên, có thể giúp Tuấn và bạn đọc của chuyên mục có cái nhìn khái quát về những giai đoạn Kiến tánh trong Phật đạo, cũng như nhận ra sự khác biệt giữa các tầng bậc tu hành…Từ đó, nhất tâm, cần cầu, tinh tấn mới không sai lệch !!!


Chúc các bạn an vui, tinh tấn !!!
Rất mong, nhận được các câu hỏi lí thú và bổ ích từ mọi người !!!
13/06/2023

LÝ TỨ
Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau [http://bit.ly/2K0aWfn] hay tại website Lytu.vn

Kiến Tánh Khởi Tu hay Kiến Tánh Thành Phật ???

Hoạt động mở rộng

💐 💐 💐 Buổi 11: Vô Ngã – Đi Tìm Ta Là Ai – Việc Làm Cực Kỳ Phi Lý. Diễn Giả: Lý Phương Anh

MB 1157 Lý Mỹ Linh 29.06.2023



🍀 Trong buổi học thứ 11 của lộ trình học, chủ đề Vô Ngã - Đi Tìm Ta Là Ai – Việc Làm Cực Kỳ Phi Lý. Chị Lý Phương Anh đã làm rõ một số câu hỏi sau:

1. Cách Hiểu Phổ Biến Về Ngã Và Những Thất Bại Trong Công Cuộc Diệt Ngã

2. Cái Tôi, Cái Ta, Ngã Theo Quan Điểm Của Phật Đạo

3. Cơ Sở Nào Có Thể Làm Bản Tham Chiếu Để Chúng Ta Có Thể Soi Xét Và Kết Luận Đâu Là Ngã Hư Vọng, Đâu Chẳng Phải Ngã Hư Vọng?

4. Làm Thế Nào Để Vĩnh Viễn Tịch Diệt Ngã Hư Vọng?

5. Nếu Một Người Không Giác Ngộ Vô Ngã, Điều Gì Sẽ Xảy Ra?

6. 4 Đức Tính Chơn Thường Chơn Ngã Chơn Tịnh Chơn Lạc Của Đại Niết Bàn

7. Nhị Giới: Nhân Sinh Quan, Vũ Trụ Quan Của Phật Đạo

NỘI DUNG CHÍNH:
1. Cách Hiểu Phổ Biến Về Ngã Và Những Thất Bại Trong Công Cuộc Diệt Ngã.

👉 Quan niệm của người đời về cái Ngã: Ngã là Cái Tôi, Cái Ta nào đó xuất hiện khi người ta đề cao bản thân để so sánh với người khác. Người đời coi Ngã à một thứ cần phải bị tiêu diệt vì nó là nguyên nhân dẫn đến thất bại trong mối quan hệ, công danh, sự nghiệp….

🌸 Do quan niệm như vậy nên người tu hành thường rất sợ ngã, họ đề ra rất nhiều phương pháp để tịch diệt ngã bằng các hình thức: Cầu xin tha lực từ bên ngoài, tìm ra ta là ai, … tu là sửa, kiềm chế, dùng thiền để nén ý thức, …. Các phương pháp dụng công này không thể đem lại hiệu quả trong công cuộc diệt Ngã. Ngược lại càng cố diệt ngã lại rơi vào 4 căn bệnh cố hữu của người tu hành được nói đến trong Kinh Viên Giác: Bệnh Nhậm - Tác - Chỉ - Diệt; Bệnh Nhậm – mặc kệ; Bệnh Tác không có chánh kiến, hiểu sai chánh pháp, lập hạnh tu hành; Bệnh Chỉ: dứt bặt các duyên: dùng sở pháp phong bế các căn; Bệnh Diệt: bức tử ý thức: dùng sự yên lặng gạt bỏ nghĩ suy.

🌸 Những biện pháp cơ học như vậy không có tác dụng tịch diệt Ngã và nỗi hãi sợ trước cái Ngã vẫn còn y nguyên.

2. Cái Tôi, Cái Ta, Ngã Theo Quan Điểm Của Phật Đạo:

🌸Từ “Ngã” tức cái tôi theo cách hiểu của người đời thực chất là một khái niệm trong Ngành Tâm Lý Học, Triết học. Từ "Ngã" này tương đương với từ “Mạn” hay " Ngã Mạn", “Ngã Hư Vọng”; là 1 trong 10 Kiết Sử.

🌸 Trong Phật đạo, từ “Ngã” hay "Chơn Ngã" có nghĩa là Chân Lý, Thường Hằng, Bất Biến, là 1 trong 4 tính chất thường hằng của 1 Đức Phật: Thường, Ngã, Lạc, Tịnh.

3. Cơ Sở Nào Có Thể Làm Bản Tham Chiếu Để Chúng Ta Có Thể Soi Xét Và Kết Luận Đâu Là Ngã Hư Vọng, Đâu Chẳng Phải Ngã Hư Vọng?

🌸 Thất Chủng Ngã Mạn là bản tham chiếu để người tu hành xác chứng được đâu là biểu hiện của Ngã. Phật Đạo chỉ ra có 7 dấu hiệu bộc lộ sự Ngã Mạn thể hiện qua lời nói hoặc hành động (Thất chủng ngã mạn): 1) Mạn; 2) Quá Mạn; 3) Mạn quá Mạn; 4) Ngã Mạn; 5) Tăng Thượng Mạn; 6) Ti Liệt Mạn. 7) Tà Mạn:

🌸 Từ bản tham chiếu này, người tu hành có thể cụ thể cái gì là Ngã mạn cái gì không phải Ngã mạn, tránh được sự hồ đồ không căn cứ khi tu hành, tránh việc nói gì làm gì thì đều sợ vướng mắc vào cái ngã. VD: chứng không dám nói là chứng vì sợ bị cho là Ngã Mạn….

🌸 Đạo Phật là Đạo chân thật, Trong lịch sử: Đức Phật xác chứng mình là Chánh Đẳng, Chánh Giác. Rất nhiều vị A La Hán tuyên bố tứ thành tưu... Đây là biểu hiện của sự trực tâm. Trực tâm không phải là Ngã mạn.

4. Làm Thế Nào Để Vĩnh Viễn Tịch Diệt Ngã Hư Vọng?

Ngã hư vọng là biểu hiện của sự tự tôn hay tự ti, đều xuất phát từ những nhận thức sai lầm về bản thân, cho bản thân một giá trị nào đó rồi đem so sánh với người khác.

🌸 Một hữu tình cấu thành bởi 5 thành tố:

Sắc: Sắc Thân; Thọ: Cảm thọ lạc, khổ, bất khổ bất lạc; Tưởng: quá khứ, hiện tại, vị lai; Hành: sự diêu động của tâm thức luân chuyển từ trạng thái tâm này tới trạng thái tâm thức khác; Thức: Nhận thức cái biết.

Tự các món Sắc - Thọ - Tưởng - Hành - Thức, các yếu tố làm nên một hữu tình tự không tánh, không tướng, chẳng trói, chẳng mở…

🌸 Tuy nhiên Khi mà 5 thành tố này úp chụp, che mờ, ám ảnh khiến con người ta không thoát khỏi thì gọi là Ngũ Ấm. Còn khi người ta định đặt và tích chứa một giá trị cho 5 thành tố này để so sánh với sự vật khác, để chấp nhất, hơn thua dẫn tới phiền não Phát Sinh thì gọi là Ngũ Uẩn.

🌸Phật Đạo đề cập đến Ngã không phải để lấy đó làm mục tiêu tịch diệt, nói đến ngã hư dối để làm tiền đề giúp chúng sanh giác ngộ bản lai vô ngã. Có thấy biết chân chánh về Sắc - Thọ - Tưởng - Hành - Thức tự không tánh, không tướng, không tự ngã, giúp người tu hành Giác Ngộ Bản Lai Vô Ngã.

🌸 Chủ trương Đi tìm ta là ai hay thiền định để Diệt Ngã xả tâm trở nên bất hợp lý. Chỉ là sự biến tướng của Ngã hư vọng. Giác ngộ vô ngã thì Ngã hư vọng tự tịch diệt!!!

5. Nếu Một Người Không Giác Ngộ Vô Ngã, Điều Gì Sẽ Xảy Ra?
🌸 Nếu một người không giác ngộ bản lai vô ngã, thì sẽ có nhận thức sai lầm trên 5 món Sắc - Thọ - Tưởng - Hành - Thức, biến 5 món đó thành Ngũ Ấm, Ngũ Uẩn, Ngã hư vọng, phiền não, khổ đau... Giống như trong bóng tối thì con ma xuất hiện.
🌸 Muốn giải quyết Ngã hư vọng thì cần Giác Ngộ Bản Lai Vô Ngã. Câu Khẩu Quyết được thầy Lý Tứ Trang bị: “Ta Chẳng Là Cái Đinh Gỉ Gì Cả”

6. 4 Đức Tính Chơn Thường Chơn Ngã Chơn Tịnh Chơn Lạc Của Đại Niết Bàn
🌸 Sắc Thọ Tưởng Hành Thức là sự hợp thành của Các Duyên, bản nguyên Không Tánh, Không Tướng, Không Tự Ngã - là chân như bất động của Thân Tâm. Bản nguyên này thường trụ vĩnh hằng. Thấy bản nguyên này mới thấy được 4 tính chất của Đại Niết Bàn: Chơn Thường, Chơn Ngã, Chơn Lạc, Chơn Tịnh

🌸Hiểu về Ngã hư dối để giác ngộ bản lai vô ngã. Thấu suốt bản nguyên của thân tâm để thành tựu Chơn Ngã


7. Nhị Giới: Nhân Sinh Quan, Vũ Trụ Quan Của Phật Đạo
🌸 Nhân sinh quan là tri kiến về thân tâm( đã được nói ở phần trên)
🌸 Vũ trụ quan là tri kiến về thế giới. Thế giới cũng không tự tánh, không tự tướng, không tự ngã, không trói không mở, không làm ai vui sướng cũng chẳng làm ai khổ đau. Sở dĩ người ta khổ đau, phiền não trước thế giới cũng bởi sự biến đổi của 3 hành tướng:

🌸 Viên Thành Thật Tướng: Bản nguyên chân thật của sự vật, sự việc khi chưa bị che mờ bởi một nhận thức nào đó.

🌸 Biến Kế Sở Chấp: Cái thấy biết về sự vật, sự việc bị nhiễm ô bởi nhận thức phân biệt, bị sự chấp nhất che mờ làm cho không thấu suốt bản chất của sự vật, sự việc. Từ đây đánh giá sự vật trên hiện tượng, nhận định sự vật, sự việc dựa trên quan điểm chủ quan. Để từ bản nguyên vốn không tánh, không tướng nay bỗng mang tính chất nào đó và đã sai lệch so với bản nguyên.

🌸 Y Tha Khởi: Khi đã mang một nhận định sai lầm về sự vật, sự việc, thì tất cả mọi tính chất đặc thù của sự vật dựa trên quan điểm cá nhân đó hiện khởi đầy đủ khiến người ta xoay vần từ đó mọi khổ não sinh khởi. Giống như lầm sợi dây thành con rắn, rồi tự hãi sợ vô cớ...

☘️ Hẹn gặp lại các CBAC trong buổi học sau với bài học của Trưởng Ban Giảng Huấn Của Lý Gia: Anh Lý Ngọc Hải. Chúc các thành viên sức khoẻ, an vui, tinh tấn.


☘️TÀI LIỆU HỌC TẬP MỞ RỘNG
Ấm Uẩn Sắc Tức Thị Không: Diễn Giả Lý Phương Anh. https://youtu.be/1RF33cUvCbo
Lý Mỹ Linh (28/6/2023)

Tags:

Hoạt động mở rộng

Buổi 11: Vô Ngã - Đi Tìm Ta Là Ai - Việc Làm Cực Kỳ Phi Lý. Diễn Giả: Lý Phương Anh

MB 1157 Lý Mỹ Linh 29.06.2023

CHƯƠNG TRÌNH HỌC TẬP LÝ GIA MỞ RỘNG !!!
LỚP HẠNH PHÚC QUANH TA - cMƯA ĐẦU MÙA - K04 - BUỔI 11 - 26/06/2023 !!!
Chủ đề: Ngã - Ngũ Ấm - Ngũ Uẩn
Diễn giả: Lý Phương Anh

Nội dung:
- Hiểu về chữ NGÃ trong Phật đạo.
- Có phải tu hành trong Phật đạo là diệt NGÃ xả TÂM không?
- Ngũ Ấm là gì? Ngũ Uẩn là gì?
- Nhị Giới trong Phật đạo nên hiểu như thế nào?

Tags:

Hoạt động mở rộng

💐💐💐 Buổi 10: Vô Minh - Đạo Trí Tuệ Hay Người Mù Xem Voi!!! Diễn Giả: Lý Diệu Tâm

MB 1157 Lý Mỹ Linh 23.06.2023

🍀 CBAC thân mến, chúng ta đã cùng nhau đi được 2/3 chặng đường, trong buổi học thứ 10 của khoá học, chúng ta cùng nhau tìm hiểu chủ đề Vô Minh - Đạo Trí Tuệ Hay Người Mù Xem Voi. Chị Lý Diệu Tâm đã làm rõ một số câu hỏi để giúp người tu hành hiểu rõ từ đó nhắm tới chấm dứt Vô Minh như sau:

🔴 Vô Minh thực chất là cái gì?
🔴 Vô Minh có mấy loại?
🔴 Thực chất việc giải quyết vô minh này là gì?
🔴 Hiểu đúng về chữ MINH trong Phật Đạo?

NỘI DUNG CHÍNH:
1. Vô minh thực chất là cái gì?
🌟 Vô là không, Minh là sáng suốt. Vô Minh trong Phật Đạo là sự mờ tối trong nhận thức do người này chấp nhất một hiểu biết nào đó, dấu hiệu dễ nhận thấy nhất là người này không thể chấp nhận được những hiểu biết khác ngoài cái mà ta đang có khiến cho thấy biết bị che mờ, không đúng như bản chất của của sự vật, sự việc đúng như những gì đang diễn ra.

🌟 Vô Minh còn có một cái tên gọi khác là Sở Tri Chướng. Chướng do hiểu biết này không chỉ nói đến cái hiểu biết của đời mà ngay cả hiểu biết về Đạo nếu rơi vào chấp nhất thì cũng sinh ra vô minh.

2. Vô Minh Có 3 Tầng Bậc
🌟 Nhuận Chi Vô Minh: Nhuận là thấm nhuần; Chi: cành lá, vô minh cành nhánh biểu hiện: 5 căn thân xúc đối với 5 trần khởi lên 1 nhận thức cho đến 5 nhận thức, mà mình để cho các nhận thức này che mờ, chướng ngại làm cho thấy biết của mình không thấy được các tri thức, quan niệm khác.

🌟 Căn Bản Vô Minh: là ý căn, và chức năng của ý là nghĩ suy. Căn bản vô minh là khi các nghĩ suy khởi lên các pháp làm mình bị che mờ, muốn thoát khỏi căn bản vô minh thì khi nghĩ suy không nắm giữ các quan điểm quan niệm này, chứ không phải không nghĩ suy.

🌟 Vô Minh Trụ Địa: tức là những điều Chư Phật biết mà mình không biết, muốn chấm dứt vô minh trụ địa phải đi học đạo trí tuệ. khi thành tựu trí tuệ thì vô minh trụ địa tự mất.

3. Giải quyết Vô Minh - Công Cuộc Chuyển Đối 8 Thức Thành 4 Trí.

🌟 Vô minh thực chất chỉ là sự mê muội nhất thời của Thức, không có từ bản chất.

MÊ chính là duyên cớ đầu tiền gây ra Vô Minh, Biểu hiện của Thức Mê là gì: Cho rằng Tri Thức này Thuộc Về Chính Chúng Ta, tin cậy vào cái tri thức này quá mức, nên lấy nó làm tiêu chuẩn cho cuộc sống, lấy nó làm cơ sở để đấu tranh, hơn thua, ta đồng hóa những nhận thức đó là chính ta để bảo vệ, để ôm giữ, để đấu tranh.

🌟 Giải quyết Vô Minh là làm cho con người ta hết mê. Hết mê trần cảnh chính là giải quyết Nhuận Chi Vô Minh. Hết mê pháp chính là giải quyết Căn Bản Vô Minh. Và cuối cùng, người này cần phải được học tập để bù đắp những sự thiếu hụt về hiểu biết chính là giải quyết Vô Minh Trụ Địa.

🌟 Giải quyết sự vô minh cũng chính là công cuộc chuyển Thức thành Trí. Trí và Thức không phải là 2. Trí chính là Thức mà không còn mê muội, không chấp mắc, không trói buộc, không phiền não ...

🌟 Chuyển 8 thức thành 4 trí bao gồm:

🔴 Chuyển Tiền Ngũ Thức thành Thành Sở Tác Trí.

🔴 Chuyển Ý Thức thành Diệu Quan Sát Trí.

🔴 Chuyển Mạt Na Thức thành Bình Đẳng Tánh Trí.

🔴 Chuyển A Lại Da Thức thành Đại Viên Kính Trí.

4. Mở rộng: Hiểu đúng về chữ MINH trong Phật Đạo?

🌟 Câu hỏi đặt ra: Giải quyết xong những che mờ, những chấp nhất ở các căn như vậy thì người tu hành đã được cái MINH chưa => câu trả lời là CHƯA.

🌟 Chữ MINH trong Phật Đạo nó không đơn thuần là hết vô minh thì MINH nó tự hiện ra, mà hết vô minh mới chỉ là điều kiện cần để người này có thể đạt đến cái minh.

🌟 Điều kiện đủ là người này phải đi học tập trí tuệ trong cấp học Đạo Đế, chính là thành tựu các môn học của cấp học này, như vậy mới đủ điều kiện để có được cái MINH.

🌟 Muốn có được Thấy biết như một vị Phật thì bản thân người này cũng trải qua quá trình học tập gồm 4 bước nêu trên chính là: Khai - Thị - Ngộ - Nhập (Khai là mở ra cho thấy; Thị là tự thấy; Ngộ là tự mình thấy rõ; Nhập là người này và điều đó trở thành một).

🌟 Như vậy, chữ Minh trong Phật Đạo là muốn nói đến năng lực giúp người, năng lực đưa người đến các mục tiêu trong Phật Đạo. Để thành tựu được năng lực này, người này phải thành tựu môn học Thấu Thị Môn, có nghĩa là người này từ nay hiểu rõ về các quy luật của vũ trụ và hiểu rõ sự hình thành các vấn đề bên trong tâm thức của hữu tình.

🌟 Liên hệ câu chuyện Người mù Sờ Voi: Người mù sờ voi rồi nói rằng con voi giống cột đình, điều này tuy không đúng nhưng thực chất nó cũng không sai lắm, quan trọng là nó không tai hại gì. Nhưng bây giờ người mù này lại đi hướng dẫn cho người khác là hễ sờ được cái cột to thì khẳng định đây là con voi, đây mới trở thành vấn đề. Câu chuyện này là minh chứng cho việc nếu không có sự hiểu biết đầy đủ sẽ dẫn người ta đến sai lầm rất xa thực tế. Đây cũng chính là một trong những vấn đề mà người tu hành hiện nay đang gặp phải. Nếu không gặp được vị Thầy mà có đầy đủ sự hiểu biết thì rất dễ rơi vào tình huống là sờ thấy cái cột đình và khẳng định đây là con voi.

🌟 Như vậy, bậc Thiện Tri Thức, bậc Đạo Sư trong Phật Đạo tự toát lên Giải Thoát Hương nghĩa là không còn sự trói buộc của phiền não, kiết sử. Trong thuyết pháp, người này không có sự lộn xộn, nhầm lẫn giữa đời - đạo, thế gian - xuất thế gian, mục tiêu vô lậu và hữu lậu, luân lý đạo đức - đệ nhất nghĩa, thức và trí. Nếu như rơi vào sự nhầm lẫn này thì người nghe thuyết pháp xong chỉ có thể hiểu Phật Đạo thông qua hiểu biết thế gian, chính vì thế không thể thành tựu những mục tiêu của Phật Đạo.

🌟 Cuối cùng, xin gửi tặng CBAC lời Phật đã dạy: “Nơi đâu giúp ta có được Đạo Pháp, giúp ta hết khổ đau, giúp ta an lạc, giúp ta ra khỏi cột trói, giúp ta thành tựu trí tuệ thì nơi ấy có đánh đuổi cũng không được bỏ đi. Còn nơi nào, có kết quả ngược lại, có nghĩa càng tu càng thấy trói buộc, càng thấy cái ngã mạn lớn lên, phiền não chẳng vơi bớt thì mau mau mà bỏ đi…”

🌺 Hẹn gặp các CBAC trong buổi học sau với bài giảng chủ đề Ngũ Ấm – Ngũ Uẩn của Trưởng Ban Khoa Giáo Lý Gia - chị Lý Phương Anh. Chúc các CBAC một ngày mới an vui tinh tấn.

Tags:

Hoạt động mở rộng

Buổi 10: Đạo Trí Tuệ Hay Người Mù Xem Voi - Diễn Giả: Lý Diệu Tâm

MB 1157 Lý Mỹ Linh 23.06.2023

CHƯƠNG TRÌNH HỌC TẬP LÝ GIA MỞ RỘNG !!!
LỚP HẠNH PHÚC QUANH TA - GIỌT MƯA ĐẦU MÙA - K04 - BUỔI 10 - 22/06/2023 !!!
Chủ đề: Vô minh - Đạo trí tuệ hay người mù xem voi !!!
Diễn giả: Lý Diệu Tâm

Nội dung:
- Vô minh thực chất là gì? Vô minh có mấy tầng bậc?
- Cơ chế phát sinh ra vô minh
- Cách thức giải quyết vô minh trong Phật đạo như thế nào?
- Hiểu đúng về chữ MINH trong Phật Đạo

Tags:

Hoạt động mở rộng

💐 💐 💐 Buổi 9: Tu Tại Gia Có Thành Không? Diễn giả: Lý Thảo Nguyên.

MB 1157 Lý Mỹ Linh 21.06.2023
🌸 Khi bàn về chủ đề giữ giới thì đối với người tu tập Phật Đạo nói chung, các cư sỹ tại gia nói riêng. Chắc hẳn đều băn khoăn, khúc mắc như: Nên ăn chay hay ăn mặn? Người cư sỹ học Phật pháp có thể thành tựu quả vị trong Phật Đạo? Phải xả phú cầu bần thì mới có thể giác ngộ? Cần giữ bao nhiêu giới thì đạt giải thoát và thành tựu trí tuệ theo câu kinh “Nhân Giới Sanh Định, Nhân Định Sanh Tuệ”?

💢 Trong lịch sử: Đức Phật và Đệ Tử Phật đi khất thực được chúng cúng dường thì cho gì thọ thứ nấy không kể đồ mặn đồ chay. Trong 12 năm đầu tiên khi thành lập tăng đoàn, Đức Phật không hề chế giới, nhưng có rất nhiều đệ tử thành tựu các quả vị trong Phật Đạo không kể xuất gia hay tại gia.

💢 Trong kinh có thấy nói đến: các vị Cư Sỹ rất giàu có như Ngài Duy Ma Cật, Công chúa Vô Uý Đức, Thắng Man Phu nhân dù không Xả Phú cũng vẫn Giác Ngộ. Một ví dụ khác về Đức Phật khi Ngài tu khổ hạnh, tận cùng của sự nghèo đói nhưng không có Giác Ngộ.

🌸 Dựa trên các minh chứng lịch sử này cho thấy Thành tựu các Quả Vị trong Phật Đạo không do ăn chay ăn mặn, giữ giới, càng không do xả phú, cầu bần, thậm chí người cư sỹ tại gia hoàn toàn có thể thành tựu được các quả vị của Phật Đạo.

🌸 Vậy câu kinh: “Nhân Giới - Sinh Định, Nhân Định - Sinh Tuệ” có ý nghĩa như thế nào? Trong buổi 9 của Lộ Trình, Chuyên Đề: Tam Vô Lậu Học thuyết bởi chị Lý Thảo Nguyên giúp giải quyết các câu hỏi trọng tâm sau:
1. Giới Hữu Lậu với Giới Vô Lậu khác nhau như thế nào?
2. Cách thức thực hành để thành tựu Giới Vô Lậu, Định Vô Lậu Và Tuệ Vô Lậu.
3. Lợi ích của việc thực hành Giới Vô Lậu ?
4. Quy Trình Chuyển Đổi Từ Đa Tâm - Không Tâm

NỘI DUNG CHÍNH
1) Giới Hữu Lậu với Giới Vô Lậu khác nhau như thế nào?
⭐ Giới Hữu Lậu: là các quy ước giới hay giới cấm, được đề ra nhằm mục đích ổn định tổ chức, kỷ luật, đoàn kết trong nội bộ cũng như tăng sự uy tín của tổ chức, nhận được sự thiện cảm và ủng hộ của xã hội.
⭐ Giới Vô Lậu: là loại Giới mà khi thành tựu Giới Vô Lậu thì thành tựu cả Định Vô Lậu và Tuệ Vô Lậu.
 
2) Cách thức thực hành để thành tựu Giới Vô Lậu, Định Vô Lậu Và Tuệ Vô Lậu?
⭐Khi căn xúc đối trần không khởi lên quan điểm, quan niệm, đánh giá về sự vật, sự việc thấy chỉ là thấy, nghe chỉ là nghe nhưng không nắm giữ các quan điểm, quan niệm, nhận thức.

3) Lợi ích của việc thực hành Giới Vô Lậu ?
⭐Giữ giới vô lậu thành tựu được Tâm Vô Lậu, thứ tâm không còn chạy theo cảnh duyên, không mê mờ, không phiền não nên được định vô lậu. Đồng thời cũng thành tựu vô lậu trí (huệ vô lậu), hiểu biết rất rõ con đường nào đến với Tâm Hữu Lậu, Tâm Vô Lậu.

4. Quy Trình Chuyển Đổi Từ Đa Tâm - Không Tâm
⭐Thành tựu Tam Vô Lậu Học chính là quy trình chuyển đổi tâm thức từ Đa Tâm tới Thiểu Tâm - Từ Thiểu Tâm Tới Nhất Tâm; từ Nhất Tâm tới Tâm Không; từ Tâm Không đến Không Tâm.

🍀 Hẹn gặp các CBAC trong buổi học sau với bài giảng của Chị Lý Diệu Tâm
🌻 Chúc các CBAC an vui tinh tấn!!!

Tags:

Subscribe to