Tổng Kết Chủ Đề: Giáo Tông Và Tâm Tông
Trò chơi trí tuệ số 04.2020 - Tổng kết chủ đề Giáo Tông Và Tâm Tông

Các bạn !!!
Trò Chơi Trí Tuệ - 04/2020 bắt đầu từ ngày 16/05/2020 và kết thúc vào ngày 30/05/2020 !!!
Trong thời gian này, BQT đã nhận được rất nhiều trả lời của các HĐ chúng ta, trong đó có các bài luận được đánh giá là xuất sắc của các Trưởng Lão như SH Lý Thái Đăng, SĐ Lý Giác Thư, SĐ Lý Liêm, SĐ Lý Thiện Huệ, SĐ Lý Thiện Cảnh, SM Lý Tâm Pháp...v..v...hay của HĐ mới như Lan Nguyễn (Lý Diệu Lan - 548)...!!!
Lẽ ra, Trò Chơi Trí Tuệ - 04/2020 đã được tổng kết vào ngày 30/05/2020... Nhưng, một tháng qua, mình và BQT LÝ GIA quá bận... Vừa phải hoàn thành Hành Trình Xuyên Việt, vừa tổ chức buổi toạ đàm ra mắt sách tại Hà Nội, vừa giao lưu với các vị khách quý, vừa thăm thú tất cả HĐ chúng ta...v..v... Vì thế, mải đến hôm nay mới có thời gian tổng kết !!!
Trong các bài viết mà BQT đã nhận được lần này, mình muốn giới thiệu đến các bạn bài viết của LÝ MINH THUỲ !!!
Lý Minh Thuỳ là một khuôn mặt mới, còn rất trẻ của Lý Gia... Năm nay Thuỳ chưa đến 30, hiện là Thạc Sĩ Công Nghệ, đang làm việc tại TP Hồ Chí Minh !!!
Thuỳ trở thành HĐ Lý Gia chưa đầy 2 năm... Trong đó, phải mất đến gần một năm không tu học vì bận đi thực tế và làm luận văn tốt nghiệp, cũng như tìm việc làm...!!! Chỉ chừng năm sáu tháng trở lại đây, khi công việc ổn định, Thuỳ mới chú tâm học tập Phật pháp...!!!
Tuy chỉ vỏn vẹn có năm sáu tháng đọc sách của Lý Gia, tham gia học tập Phật pháp từ các buổi sinh hoạt trực tuyến của Lý Gia... Nhưng Thuỳ đã gặt hái những thành quả đáng kính nể... Có thể nói, Thuỳ đã bước những bước rất dài trong Phật đạo !!!
Ha ha ha ha !!! Một cô bé mảnh khảnh, rụt rè, vốn liếng Phật pháp rất ngây ngô, tạp nhạp... không đầy lá mít của ngày nào... Giờ đây, chỉ sau một thời gian ngắn “ăn tàu hủ của Lý Gia”, đã vươn vai lớn mạnh trong giáo pháp như chuyện cổ tích...!!! Thế mới biết, Phật pháp đích thực: Không luận tuổi tác, không luận lâu mau, không luận công phu, không luận y phục, không luận tướng mạo, không luận trú xứ... Mà, bất kì một ai trên cõi đời này, nếu hiểu đúng giáo pháp, thực hiện đúng giáo pháp...cho dù ở đâu, làm việc gì... đều có thể thành tựu như pháp những gì cần thành tựu từ giáo pháp...!!!
Xin chuyển đến mọi người bài viết trả lời Trò Chơi Trí Tuệ - 04/2020 của Lý Minh Thuỳ !!!
12/06/2020
LÝ TỨ
Con kính chào thầy!
Con xin được tham gia Trò Chơi Trí Tuệ kì này, kính chúc thầy nhiều sức khỏe và đồng kính chúc huynh đệ tỉ muội Lý Gia ngày càng tinh tấn tu học, gặt hái nhiều thành công hơn nữa.
1) Trong tu học, một người chỉ chú trọng đến Giáo tông mà không hề thực chứng Tâm tông... Người này có thể tiếp cận đến giai đoạn nào (mức độ nào) của Giáo tông ??? Vì sao như vậy ??? Đề nghị giải thích cụ thể !!!
Trả lời:
Một người chỉ chú trọng đến giáo tông mà không hề thực chứng tâm tông...người này chỉ có thể tiếp cận được phần lý thuyết tức là hiểu phần văn tự của giáo tông vì rằng giáo tông cũng bao gồm hai giai đoạn, học đọc và tiệm tiến tu hành, tuy một vị tiệm tiến tu hành theo giáo tông nhưng về kết quả tu chứng vẫn tương đương với kết quả tu chứng bên tâm tông, câu hỏi ở đây là: "không hề thực chứng bên tâm tông" có nghĩa là vị này chưa hề thực chứng bất kì điều gì trong Phật Đạo.
Để giúp vấn đề cụ thể và sáng rõ ta có thể tìm hiểu quá trình tu học của một vị thanh văn, sau khi nghe Phật thuyết một thời kinh các vị tìm cho mình một gốc cây để thiền tư, tức là tư duy về lời kinh nhằm chiêm nghiệm trên chính bản thân mình để thấu suốt vấn đề, rồi sau đó lời kinh chính là kim chỉ nam cho đời sống của các vị ấy, cứ như vậy một chu trình lặp lại nghe kinh, tư duy, thực chứng, đời sống, tiệm tiến tu hành như vậy và lần lượt các vị ấy thoát khỏi sự ràng buộc của ba cõi dục, sắc, vô sắc giới, để chứng quả vị a la Hán hoàn thành diệt đế.
Chư Thanh Văn có ngài A Nan, dù ngài có danh hiệu là đa văn bậc nhất trong hàng thanh văn, có thể ghi nhớ tất cả lời Phật dạy (lý thuyết) nhưng cho đến khi Phật nhập Niết bàn ngài vẫn chưa thể giác ngộ, thế mới biết rằng biết lý thuyết là một chuyện nhưng nếu như không tìm thấy những điều đó ở chính bản thân mình, trong thân, thọ, tâm, pháp thì việc giác ngộ còn rất xa xôi, thậm chí nhiều người còn ôm đống lý thuyết mà cứ tưởng mình đã giác ngộ...thật khôi hài biết bao.
Giác ngộ gồm giác tức là biết còn ngộ là thấy rõ ràng, cũng như hai phần lý thuyết và thực chứng, hai phần không thể tách rời nếu muốn giác ngộ như pháp, có lý thuyết mà không có thực chứng thì chỉ là mớ lý thuyết suông, chỉ có thể đem ra ngoài đời "chém gió", chứng tỏ ta đây một bụng kinh Phật, ta đây hơn người, học rộng biết nhiều nhưng bên trong thì vẫn tham, sân, si, phiền não, lâu hoặc đủ cả chẳng khác chi người đời.
2) Trong tu học, một người chỉ chú trọng đến Tâm tông mà không hề biết đến Giáo tông... Người này có thể thân chứng toàn bộ các cảnh giới của Phật đạo hay không ??? Vì sao được, vì sao không ??? Đề nghị giải thích cụ thể !!!
Trả lời:
Theo con, vị tu hành chỉ chú trọng đến tâm tông mà không hề biết đến giáo tông...người này có thể thân chứng toàn bộ các cảnh giới Phật đạo và vị này chính là Phật hoặc Bích Chi Phật.
Trước khi Phật ra đời vốn không có một pháp nào gọi là phật pháp, cũng không có hệ thống giáo lý kinh điển, nhưng các vị Bích Chi Phật đã tự tu tự chứng thành Phật Độc Giác, còn Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chính là người đã nổi mây mưa pháp để đem những điều mình đã giác ngộ cứu giúp chúng sanh đang trôi lăn trong các đường ác.
Có người bảo rằng lục tổ Huệ năng chưa hề biết chữ, chưa đọc tụng kinh điển nhưng đã giác ngộ, nhưng theo con lục tổ giác ngộ cũng nhờ câu kinh Kim Cang dẫn đường chỉ lối, dù rằng quá trình tu chứng diễn ra quá nhanh, chỉ một câu: “Ưng vô sở trụ sinh nhi kì tâm" mà giác ngộ dứt bỏ tâm mê nhưng sau đó vẫn phải tìm thầy chỉ dạy. Lục tổ chỉ có thể giác ngộ hoàn toàn khi được ngũ tổ thuyết phần cốt lõi trong kinh Kim Cang, nên không thể nói rằng lục tổ không hề biết đến giáo tông, chỉ là lục tổ chỉ cần thấu suốt một câu, một chữ trong kinh là đã có lối vào, rồi giác ngộ tất cả các cảnh giới.
Trong đời sống thật, có rất ít các vị tu hành chỉ nghe một lời kinh mà vào đạo nhanh chóng như lục tổ hay trong thời đại mạng lưới internet bùng nổ, các thông tin về Phật pháp, các bài giải luận, kinh điển Phật lan truyền trong dân chúng, bảo rằng có một vị ở nơi còn sơ khai không được Phật pháp soi sáng, dẫn lối chỉ đường mà vẫn cần vào rừng sâu núi thẳm tu luyện thành độc giác phật thì lại càng hiếm.
Bởi vậy đa phần người tu hành ngày nay áp dụng cách thức kết hợp cả tâm tông và giáo tông trong tu học, trước vì mê lầm vô minh mà không thấy rõ bản thân đang chìm đắm trong ngũ dục, mê đắm quan điểm quan niệm rồi chấp chặt vào đó mà sinh tâm sinh pháp, nay đọc trong giáo pháp, kinh điển của Phật đã chỉ rõ con đường hết ngu mê lầm, chỉ rõ nguồn tâm để người tu hành tiệm tiến tu tập, sở dĩ phải tiệm tiến tu tập bởi vì tập khí chấp trước nhiều đời nhiều kiếp khó thể từ bỏ ngay được, trước hết là phải làm mỏng nhẹ phiền não, tạo môi trường phát sinh các hiểu biết mới, sau khi sống trong môi trường này, mầm trí tuệ mới có thể phát triển và tiến tới chấm dứt hoàn toàn vô minh, tâm thức sạch sẽ các mầm mống phiền não, mới có thể học các pháp môn của nhất thiết trí, cuối cùng vị này thành tựu, nổi mây mưa pháp giáo hoá chúng sinh cùng thành tựu như mình.
Như lời thầy đã dạy: "Người xưa thường ví Giáo tông và Tâm tông trong Phật đạo như đôi cánh của một con chim, như hai chân của một người... Con chim mà đôi cánh không hoàn hảo sẽ không thể bay cao, bay xa...Con người mà đôi chân không lành lặn, sẽ khó có thể hoàn thành hành trình dài hơi đầy khó khăn, nhiều thử thách !!!” Nhưng Kho tàng kinh Phật, giáo pháp lại quá nhiều khiến cho người mới bước vào con đường tu tập sẽ cảm thấy quá choáng ngợp, hoang mang không biết bắt đầu từ đâu, cách tốt nhất là phải tìm một người thầy dẫn đường chỉ lối. Giống như một người có đủ phương tiện, có tấm bản đồ đi tìm kho báu, nhưng vị này lại không biết đọc bản đồ nên đọc sai vị trí kho báu và cuối cùng vị này có đi nhưng chẳng tìm được báu vật. Người thầy chính là vị đã rành mạch về các con đường và các chướng ngại có thể gặp phải, vị ấy đã đi và tìm thấy kho báu đích thực và chỉ có người đã đi và rành mạch thực địa mới có thể chỉ lại cho người cũng muốn tìm kho báu như mình. Và cũng vậy, người thầy đã giác ngộ sẽ chỉ cho người cùng giác ngộ.
3) Trong việc giáo hoá (giúp người)... Người giáo hoá bị hạn chế (không am tường) Giáo tông, khi tuyên thuyết các pháp... Sẽ dẫn đến điều gì (điều gì xảy ra) ??? Vì sao điều ấy xảy ra ??? Đề nghị giải thích cụ thể !!!
Trả lời:
Ở đây có hỏi người giáo hoá giúp người nhưng không am tường giáo tông, giả sử họ còn chưa thực chứng bất kì điều gì của tâm tông thì tất nhiên có hệ quả là giáo hoá không hiệu quả...giống như một người mù dẫn một người mù đi trên đường, người mù dẫn đường chỉ biết về địa điểm sắp đến là ngôi nhà màu xanh, người mù đi theo thì chẳng biết gì về địa điểm sắp đến, người mù dẫn đường chẳng biết địa điểm sắp đến có chướng ngại gì cần vượt qua, làm sao biết là đã đến đích, mà còn dẫn theo một người mù nữa thì tất nhiên cả hai sẽ cùng lạc lối.
Còn trường hợp một người đã giác ngộ tâm tông nhưng không am tường giáo tông, họ chỉ giáo hoá được một số đối tượng, đó là những người hoàn toàn tin tưởng vào những gì vị này đã thực chứng, họ chỉ cần làm theo những điều vị này đã hướng dẫn và kết quả là cũng có những chuyển biến tâm thức rồi khi càng tin tưởng càng ứng dụng, giác ngộ sẽ tương ưng với những gì vị kia đã chứng.
Nhưng đối với những đối tượng đã đọc tụng nhiều kinh điển, việc không am tường Phật pháp sẽ dẫn đến việc không tin tưởng, từ không tin này thì lời nói của họ sẽ không có sức nặng, việc giáo hoá sẽ thất bại, chưa nói đến là sẽ bị cho là chẳng biết gì, ngu ngốc mà bày đặt dạy người....một người đã đọc tụng kinh điển, cái họ cần là một người có thể thuyết cho họ nghe về các thuật ngữ, làm sao để thâm nhập, làm sao có thể ứng dụng chúng vào đời sống, thế nhưng vị giác ngộ tâm tông chỉ thực chứng nhưng về giải thích các khái niệm hay phân tích nội dung kinh điển thì họ bó tay.
Cũng có những vị giác ngộ sâu sắc như Lục Tổ Huệ năng, có thể nói Lục Tổ chỉ cần ngộ một kinh Kim Cang mà không cần biết tất cả các kinh điển khác nói gì, nhưng chỉ cần người hỏi đọc một bài kinh và phần dịch nghĩa, lục tổ có thể giải thích và đưa người giác ngộ tương ưng, tại vì sao lại có sự khác biệt như vậy? Đơn giản vì kinh điển có nhiều bởi vì chúng sinh có nhiều bệnh, 84 ngàn bệnh thì có 84 ngàn pháp môn tương ứng, Phật là vị lương y tùy bệnh mà cho thuốc, cũng là bởi tâm hư vọng của chúng sanh biến hoá khôn lường, người mê ái dục, người chấp không, người chấp tâm, người chấp pháp...nhưng tất cả không ngoài bốn món thân thọ tâm pháp mà biểu hiện, những gì Phật thuyết không ngoài việc chỉ ra cho chúng sinh đây là khổ, đây là nguyên nhân gây ra khổ não, đây là con đường đưa đến diệt khổ, và đây là đời sống của người đã hết khổ...bậc giác ngộ sâu như Lục Tổ tất sẽ biết những điều này và khéo léo chỉ dạy cho người.
4) Trong việc giáo hoá (giúp người)... Người giáo hoá chưa từng kinh qua thực chứng, khi tuyên thuyết các pháp... Hiệu quả việc tuyên thuyết đó sẽ như thế nào (hiệu quả đến đâu) ??? Vì sao như vậy ??? Đề nghị giải thích cụ thể !!!
Trả lời:
Trong việc giáo hoá...người giáo hoá chưa từng kinh qua thực chứng nhưng lại hiểu biết các pháp...hiệu quả việc tuyên thuyết sẽ có tác dụng tới từng đối tượng cụ thể như sau:
Đối tượng tuyên thuyết là người hiếm có như lục tổ Huệ Năng, chỉ cần nghe một câu kinh, lập tức có chỗ vào, liền thấy được chân lý, rơi rụng phàm tâm. Ngày xưa có câu chuyện lúc Phật còn là Bồ tát tu khổ hạnh trong rừng sâu, có con quỷ nói hai câu kệ, đức Phật liền biết đó là chân lý và không tiếc thân mạng mà trao đổi với con quỷ hòng nghe được hai câu cuối bài kệ. Ta có thể hiểu rằng chân lý dù được nói ra bởi người đã thực chứng hay chưa có thực chứng thì đó vẫn là chân lý không thể thay đổi, người nói đó có thể nghe thấy ở đâu đó, hay là đọc tụng kinh điển rồi nói ra, có thể chính bản thân người nói chưa thể thấu suốt những điều này, nhưng khi tuyên thuyết với các vị có sẵn căn cơ như vậy thì không cần họ phải hiểu rõ để giải thích cụ thể.
Đối tượng tuyên thuyết là những người đã tiếp cận với giáo pháp, nếu người tuyên thuyết chưa thông qua thực chứng thì không khác gì với đối tượng muốn tuyên thuyết, hai bên đều một bụng kinh văn nhưng về thực chứng thì mặt mũi nó ra sao không hề biết, làm thế nào để hiểu rõ hơn những vấn đề trong kinh sách hay làm sao để ứng dụng vào đời sống thì người tuyên thuyết cũng không hề biết nốt... Việc tuyên thuyết này sẽ không mang lại nhiều lợi ích cho đối tượng, thậm chí là sẽ phát sinh nhiều tà kiến, chấp trước hơn và mỗi người sẽ ôm cục tức ra về và còn nguyên phiền não lậu hoặc.
Đối tượng tuyên thuyết là người chưa từng tiếp cận giáo pháp: Với đối tượng này, việc tuyên thuyết sẽ có hiệu quả giai đoạn ban đầu, giúp đối tượng tiếp cận với giáo pháp, và họ cũng sẽ hiểu về mặt văn tự, nhưng cách giáo hoá này không gọi là giúp người giác ngộ, hết khổ đau, phiền não, mà chỉ tạo ra những người có tri thức. Việc làm này đem lại không nhiều lợi ích cho đối tượng được tuyên thuyết, thậm chí là phản tác dụng trong nhiều trường hợp. Bởi vì người tuyên thuyết không thực sự giác ngộ nên sẽ không biết được căn cơ nào nên tuyên thuyết gì, nội dung tuyên thuyết có đúng lúc đúng thời điểm hay không...dẫn đến khi tuyên thuyết sẽ không đúng lúc, đúng thời và nội dung tuyên thuyết không phù hợp với đối tượng tuyên thuyết. Ví dụ các kinh giáo Đại Phương Quảng Phật, các kinh liễu nghĩa giáo Bồ Tát có rất nhiều cảnh giới bất khả tư nghì, khi tuyên thuyết với đối tượng chưa hề biết về giáo pháp thì họ sẽ dễ dàng rơi vào mê tín dị đoan, tin vào có ma quỷ, các thế lực bên ngoài có thần thông phép thuật...ngoài ra đối tượng này còn không thể hiểu được nội dung kinh muốn truyền đạt là gì chứ đừng nói là ứng dụng tu tập.
Đối tượng tuyên thuyết là ngoại đạo, với kiến chấp nặng nề thì việc giáo hoá (mà không qua thực chứng) càng không mang lại hiệu quả. Đối tượng này trong tâm tưởng đã chấp chặt những quan điểm, quan niệm của tư tưởng các hệ tôn giáo hay đạo khác, để họ có thể tiếp nhận giáo pháp lại càng khó khăn, một người tuyên thuyết mà vốn giác ngộ đã không sâu thì sau khi tuyên thuyết cho đối tượng này còn dễ bị phản bác ngược lại và họ sẽ lấy các quan điểm của ngoại đạo tuyên nói. Nếu tâm thức của người thuyết chưa rõ ràng sẽ bị thâm nhập thêm tri kiến của ngoại đạo, vì không có giác ngộ nên không đủ luận cứ, cũng không đủ sức thuyết phục để bẻ gãy quan điểm của ngoại đạo.
Chính vì vậy, theo con, nếu người tu tập nhưng chỉ mới biết văn tự mà chưa kinh qua thực chứng, vốn không nên tiến hành việc giáo hoá. Vì việc giáo hoá này không mang đến nhiều lợi ích, các đối tượng có sẵn căn cơ để tự giác ngộ ngày nay thì không cần đến mình phải tuyên thuyết, mà việc nhận biết căn cơ đối tượng tuyên thuyết để tuyên thuyết nội dung nào phù hợp, nội dung nào chưa thì người chưa từng kinh qua thực chứng cũng không thể nào biết nổi...Muốn giúp người là điều người tiếp cận Phật pháp ai ai cũng muốn làm, nhưng trước hết phải tự cứu được chính mình, phải tự thực chứng giác ngộ...Con xin trích lời kinh Duy Ma Cật như sau thay cho lời kết: "Người không bị ràng buộc mới dạy cách mở cho người ràng buộc. Đang bị ràng buộc mà dạy cách mở ràng buộc cho người khác là chuyện không thể có. Mình không bị ràng buộc, mở ràng buộc giúp cho người khác là việc dễ dàng! Thế nên Bồ Tát không nên làm những điều gì khiến cho mình bị ràng buộc".
Con, Lý Minh Thùy