Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa - Phần 2

Phẩm thứ ba: MƯỜI CÔNG ĐỨC
Bấy giờ ngài Đại Trang Nghiêm Bồ Tát Ma Ha Tát lại bạch Phật rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Đức Thế Tôn nói kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa rất cao siêu mầu nhiệm, rất sâu xa chân thật, và rất sâu xa tuyệt vời.
Sở dĩ vì sao? Trong chúng nơi đây, các vị Bồ Tát Ma Ha Tát, và hàng Tứ chúng, các bộ Thiên, bộ Long, các quỉ thần, v.v... các vị quốc vương, các quan đại thần, và người dân thứ; có các chúng sanh được nghe kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa này, không ai là không phát tâm Bồ Đề, chứng được Đà la ni môn, tam pháp, tứ quả, thì nên biết pháp đó văn lý chân thật không có pháp nào tôn hơn; được tam thế chư Phật gìn giữ, không bị chúng ma quần đạo xâm nhập vào được, không bị hết thảy tà kiến sanh tử làm nát hoại.
Sở dĩ vì sao? Vì người được nghe một câu thì hay giữ được hết thảy các pháp. Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy thì người đó được lợi ích rất lớn. Vì sao? Vì người đó nếu hay tu hành tất sẽ chóng được thành đạo Vô Thượng Bồ Đề. Còn có những chúng sanh chẳng được nghe kinh nầy, thì nên biết những chúng sanh đó làm mất lợi ích lớn.
Qua vô lượng vô biên bất khả tư nghì a tăng kỳ kiếp quyết chẳng được thành đạo Vô Thượng Bồ Đề.
Tại vì sao? Vì những người ấy chẳng biết đi thẳng đến đạo Vô Thượng Bồ Đề, lại đi vào đường tắt hiểm trở mắc nhiều tai nạn.
−Bạch đức Thế Tôn! Kinh điển nầy là bất khả tư nghì, cúi xin đức Thế Tôn rộng vì đại chúng rủ lòng lành thương, diễn nói những việc rất sâu xa bất khả tư nghì của kinh nầy.
−Bạch đức Thế Tôn! Kinh điển nầy do từ nơi nào tới? Sẽ đi về nơi nào? Và trụ ở nơi chốn nào? Mà có vô lượng năng lực bất khả tư nghì như thế? Khiến cho chúng sanh chóng được thành đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác."
Bấy giờ đức Thế Tôn bảo Bồ Tát Đại Trang Nghiêm rằng: "Nầy thiện nam tử! Hay lắm! Phải lắm. Đúng thế, đúng thực như lời ông nói.
Nầy thiện nam tử! Ta nói kinh nầy rất cao siêu mầu nhiệm, rất chân thật sâu xa là tại vì sao? Là vì muốn cho hết thảy chúng sanh chóng được thành đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Người nghe một câu có thể thọ trì được tất cả các pháp; vì các chúng sanh mà làm lợi ích lớn; vì đi trên con đường thẳng lớn, không còn vướng mắc tai nạn gì nữa.
Nầy thiện nam tử! Ông hỏi kinh nầy do từ nơi nào mà tới? Sẽ đi về nơi nào? Và trụ ở chốn nào? Vậy ông hãy lắng nghe cho rõ, Ta sẽ nói cho nghe.
Nầy thiện nam tử! Kinh nầy vốn từ trong nhà chư Phật mà ra, đi đến chỗ hết thảy chúng sanh phát tâm Bồ Đề, và trụ ở nơi các Vị Bồ Tát sở trụ.
Nầy thiện nam tử! Kinh nầy đến là như thế, đi là như thế, và trụ là như thế. Vì vậy cho nên kinh nầy hay có vô lượng năng lực bất khả tư nghì công đức khiến cho chúng sanh chóng được thành đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề.
Nầy thiện nam tử! Há ông có muốn được nghe kinh nầy lại có mười năng lực bất khả tư nghì công đức chăng?"
Bồ Tát Đại Trang Nghiêm bạch Phật rằng:
−"Bạch đức Thế Tôn! Con muốn được nghe lắm."
Đức Phật bảo: "Nầy thiện nam tử! Kinh nầy:
Một là, hay khiến cho các Bồ Tát chưa phát tâm, thì phát tâm Bồ Đề; không có lòng nhân từ, thì khởi ra lòng nhân từ; người hay sát hại, thì khởi ra tâm đại bi; người hay ghen ghét, thì khởi ra tâm tùy hỷ; người tham ái chấp trước, thì khởi ra tâm hỷ xả; người xẻn tham, thì khởi ra tâm bố thí; người kiêu mạn nhiều, thì khởi ra tâm giữ giới; người giận dữ nhiều, thì khởi ra tâm nhẫn nhục; người hay lười biếng, thì khởi ra tâm tinh tấn; người hay tán loạn, thì khởi ra tâm thiền định; với người si mê, thì khởi ra tâm trí huệ; người chưa hay độ người, thì khiến cho phát tâm độ người; người hay làm thập ác, thì khiến cho phát tâm làm thập thiện; người tu pháp hữu vi, thì khiến cho chí cầu đạo vô vi; người tâm có thoái chuyển, thì khiến cho tâm bất thoái; người làm hạnh hữu lậu, thì khiến cho phát tâm vô lậu; người nhiều phiền não, thì khiến cho phát tâm trừ diệt.
Nầy thiện nam tử! Đó là năng lực thứ nhất bất khả tư nghì công đức của kinh nầy vậy. Nầy thiện nam tử!
Năng lực thứ hai bất khả tư nghì công đức của kinh nầy là: Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy rồi, dù chuyển đọc một lượt, một bài kệ cho đến một câu thì có thể thông đạt trăm nghìn muôn ức nghĩa.Đến vô số kiếp thường hay diễn nói những pháp đã thọ trì.Vì sao? Vì pháp đó là Vô Lượng Nghĩa vậy.
Nầy thiện nam tử! Kinh nầy cũng ví như từ một hạt giống mà phát sanh ra trăm nghìn muôn; trong trăm nghìn muôn hạt giống kia, thì mỗi một hạt lại phát sanh ra hàng trăm nghìn muôn nữa. Cứ như thế dần dần cho đến vô lượng, thì kinh nầy cũng lại như thế.
Từ một pháp sanh ra trăm nghìn nghĩa; trong trăm nghìn nghĩa, thì mỗi một nghĩa lại sanh ra trăm nghìn muôn số, cứ thế dần dần cho đến vô lượng vô biên nghĩa. Vì vậy, cho nên kinh nầy gọi là Vô Lượng Nghĩa.
Nầy thiện nam tử! Đó là năng lực thứ hai bất khả tư nghì công đức của kinh nầy vậy. Nầy thiện nam tử!
Năng lực thứ ba bất khả tư nghì công đức của kinh nầy là: Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy, dù chuyển đọc một lượt, một bài kệ cho đến một câu, thông đạt trăm nghìn muôn ức nghĩa rồi.Tuy có phiền não thì cũng như không có phiền não, ra vào chốn sanh tử không có tư tưởng sợ sệt; đối với chúng sanh thì sanh ra tư tưởng thương xót; đối với nhứt thiết pháp thì được tư tưởng mạnh mẽ; như người tráng sĩ hay mang hay giữ những món nặng nề, người trì kinh nầy cũng lại như thế, hay gánh trọng trách của đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề; hay mang đội chúng sanh ra khỏi đường sanh tử. Tuy chưa độ được mình mà đã hay độ cho người.
Ví như thuyền trưởng, tuy mình mắc bệnh nặng, bốn thể chẳng đều, yên nghỉ ở bờ bên đây; nhưng có thuyền bè bền chắc, và thường sắm những dụng cụ để cung cấp cho mọi người đi sang qua bờ bên kia. Người trì kinh nầy cũng lại như thế, tuy thân nầy còn vướng mắc mọi nghiệp hữu lậu nơi ngũ đạo; một trăm nghìn tám bệnh nặng nó thường hằng ràng buộc ở bờ bên nầy là: "Vô minh già chết", mà có kinh Đại thừa bền chắc nầy, trang biện Vô Lượng Nghĩa để cứu độ chúng sanh. Nếu chúng sanh theo đúng lý thuyết mà tu hành, thì được qua khỏi chốn sanh tử.
Nầy thiện nam tử! Đó là năng lực thứ ba bất khả tư nghì công đức của kinh nầy vậy. Nầy thiện nam tử!
Năng lực thứ tư bất khả tư nghì công đức của kinh nầy là: Nếu có chúng sanh nào được nghe kinh nầy dù chuyển đọc một lượt, dù một bài kệ, cho đến một câu thì được tư tưởng mạnh mẽ.Tuy chưa độ mình mà có thể độ cho người khác, và cùng các Bồ Tát để làm thân thuộc.Chư Phật Như Lai thường hướng về người ấy mà diễn nói kinh pháp; người ấy nghe rồi đều hay thọ trì, thuận theo chẳng trái, rồi lại vì người khác mà tùy nghi diễn nói rộng ra.
Nầy thiện nam tử! Người đó cũng ví như vị phu nhân của nhà vua mới sanh ra thái tử, dù mới được một ngày, hai ngày, cho đến bảy ngày; dù một tháng, hai tháng, cho đến bảy tháng; dù là một năm, hai năm, cho đến bảy năm. Tuy còn thơ ấu chẳng hay lãnh trị quốc sự, mà đã được thần dân sùng kính, và cùng với các con vua khác kết làm bằng hữu.
Vua và phu nhân thường nói với nhau là lòng rất mến yêu không chút thiên vị. Sở dĩ vì sao? Vì nó hãy còn thơ ấu.
Nầy thiện nam tử! Người trì kinh nầy cũng lại như thế. Chư Phật là quốc vương, kinh nầy là phu nhân, hòa hợp cùng nhau sanh ra con là Bồ Tát. Nếu Bồ Tát đó được nghe kinh nầy, dù là một câu hay một bài kệ, dù chuyển đọc một lượt, hai lượt; dù là mười lượt, trăm lượt, cho đến muôn ức vạn Hằng hà sa vô lượng vô số. Tuy lại chẳng hay thể nhập vào được chân lý cao siêu, và chẳng hay làm chấn động được ba nghìn đại thiên quốc độ, tiếng phạm như sấm vang, chuyển xe đại pháp; nhưng đã được tất cả bốn chúng, tám bộ kính tin, và cùng các đại Bồ Tát làm quyến thuộc thâm nhập vào pháp bí mật của chư Phật. Những chỗ nên diễn nói ra thì không trái không lỗi, thường được chư Phật hộ niệm, vì kẻ tân học cho nên đem lòng từ ái che chở thêm nhiều.
Nầy thiện nam tử! Đó là năng lực thứ tư bất khả tư nghì công đức của kinh nầy vậy. Nầy thiện nam tử!
Năng lực thứ năm bất khả tư nghì công đức của kinh nầy là: Nếu người thiện nam, thiện nữ nào, dù khi Phật còn tại thế, hay sau khi Phật diệt độ, có người thọ trì, đọc tụng, viết chép kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa rất cao siêu mầu nhiệm nầy, người đó tuy lại bị đủ mọi phiền não ràng buộc, cũng chưa thể xa lìa mọi việc của phàm phu, mà lại hay thị hiện đạo Đại Bồ Đề thêm một ngày cho là một trăm kiếp, trăm kiếp cũng có thể chóng như một ngày, khiến cho các chúng sanh kia vui mừng tin theo.
Nầy thiện nam tử! Người thiện nam, thiện nữ đó cũng ví như là Long tử mới sanh được bảy ngày, tức là cũng có thể làm cho mây nổi lên và cũng có thể làm cho mưa xuống.
Nầy thiện nam tử! Đó là năng lực thứ năm bất khả tư nghì công đức của kinh nầy vậy. Nầy thiện nam tử!
Năng lực thứ sáu bất khả tư nghì công đức của kinh nầy là: Nếu có người thiện nam, thiện nữ nào dù khi Phật còn tại thế, hay sau khi Phật diệt độ mà thọ trì, đọc tụng kinh điển nầy, tuy bị đủ mọi phiền não mà vẫn vì chúng sanh nói pháp, khiến cho họ xa lìa phiền não dứt hết nỗi khổ sanh tử. Chúng sanh nghe rồi tu hành đắc pháp, đắc quả, đắc đạo, cùng với chư Phật Như Lai đều không sai khác.
Ví như con vua tuy còn thơ ấu, nếu khi nhà vua đi tuần du hay khi bị bệnh thì nhà vua ủy thác cho thái tử lãnh trị việc nước. Thái tử khi ấy y theo mệnh lệnh của vua, theo đúng như pháp truyền lệnh cho các quần thần, bá quan văn võ, đem chánh hóa đi truyền dạy cho nhân dân khắp nước, đều tùy theo đó mà an định. Cũng như lúc nhà vua cai trị đều không sai khác.
Người thiện nam, thiện nữ thọ trì kinh nầy cũng lại như thế, dù khi Phật còn tại thế, hay sau khi Phật diệt độ. Người thiện nam, thiện nữ nầy tuy chưa được trụ ở nơi ngôi Sơ địa bất động, nhưng y theo đúng lời Phật dạy dùng để thuyết giáo phô diễn. Chúng sanh nghe rồi một lòng tu hành để đoạn trừ phiền não mà đắc pháp, đắc quả, cho đến đắc đạo.
Nầy thiện nam tử! Đó là năng lực thứ sáu bất khả tư nghì công đức của kinh nầy vậy. Nầy thiện nam tử!
Năng lực thứ bảy bất khả tư nghì công đức của kinh nầy là: Nếu người thiện nam, thiện nữ nào dù khi Phật còn tại thế, hay sau khi Phật diệt độ, được nghe kinh nầy mà vui mừng tin theo, lại hay phát khởi tâm hy hữu, mà thọ trì, đọc tụng, giải nói, viết chép, theo đúng lý thuyết tu hành, phát tâm Bồ Đề khởi ra mọi căn lành, gây ý đại bi muốn cứu độ cho hết thảy chúng sanh khổ não mà chưa được tu hành sáu pháp ba la mật, thì sáu pháp ba la mật tự nhiên hiện ra ở trước, và ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn.Sanh tử phiền não nhứt thời tan hoại, được lên ngôi Thất địa đại Bồ Tát.
Ví như người tráng sĩ trừ dẹp giặc oán cho nhà vua; khi giặc oán kia đã dẹp xong, thì nhà vua rất vui mừng liền đem cả nửa nước mà ban thưởng cho. Người thiện nam, thiện nữ thọ trì kinh nầy cũng lại như thế, vì vậy người hành giả rất là mạnh mẽ Lục độ Pháp bảo không phải tìm cầu đâu xa mà tự nhiên đến, giặc oán sanh tử cũng tự nhiên tan biến, mà chứng quả vô sanh pháp nhẫn, nửa nước báu cõi Phật phong thưởng cho được an vui.
Nầy thiện nam tử! Đó là năng lực thứ bảy bất khả tư nghì công đức của kinh nầy vậy. Nầy thiện nam tử!
Năng lực thứ tám bất khả tư nghì công đức của kinh nầy là: Nếu người thiện nam, thiện nữ nào, dù khi Phật còn tại thế, hay sau khi Phật diệt độ, có người nào hay được nghe kinh nầy, mà kính tin coi như thân Phật đều không có khác. Ham thích kinh nầy mà thọ trì, đọc tụng, viết chép, đầu đội kính mến theo như pháp vâng làm, kiên trì giới hạnh, nhẫn nhục, gồm làm những việc bố thí, phát tâm từ bi sâu rộng. Lại đem kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa cao siêu nầy, vì người diễn nói rộng ra. Nếu những người đến trước mà họ đều chẳng tin là có tội phước ấy, thì đem kinh nầy chỉ bảo cho họ, rồi bày ra các thứ phương tiện khuyến hóa cho họ tin theo. Dùng oai lực của kinh nầy khiến tâm người đó được sáng tỏ mà quay về chánh đạo; khi lòng tin của họ đã phát khởi thì dõng mãnh tinh tấn. Vì vậy người hay được nghe kinh nầy là có uy đức, thế đức, đắc đạo, đắc quả.
Cho nên người thiện nam, thiện nữ, vì nhờ công đức giáo hoá mà người thiện nam thiện nữ kia ở ngay thân nầy được vô sanh pháp nhẫn, và được đến ngôi thượng địa, cùng với các vị Bồ Tát làm quyến thuộc, chóng được thành tựu chúng sanh; cõi Phật thanh tịnh, và chẳng bao lâu được thành đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề.
Nầy thiện nam tử! Đó là năng lực thứ tám bất khả tư nghì công đức của kinh nầy vậy. Nầy thiện nam tử!
Năng lực thứ chín bất khả tư nghì công đức của kinh nầy là: Nếu người thiện nam, thiện nữ nào, dù khi Phật còn tại thế, hay sau khi Phật diệt độ, có người được nghe kinh nầy mà vui mừng được điều chưa từng có, rồi thọ trì, đọc tụng, cúng dường, lại vì người khác giải nói phân biệt nghĩa của kinh nầy rộng ra, thì những nghiệp chướng nặng nề xưa kia còn lại, nhất thời liền phải tiêu tan, mà được thanh tịnh. Và lại được biện tài lớn, lần lượt trang nghiêm các pháp ba la mật. Được các môn tam muội: Thủ lăng nghiêm tam muội; và môn Tổng trì được sức cần tinh tấn, chóng được lên ngôi thượng địa, phân thân rải thể khéo léo ở khắp mười phương quốc độ để cứu vớt hết thảy chúng sanh đang bị khổ cực ở trong hai mươi lăm cõi, đều khiến cho được giải thoát. Vì vậy mà kinh nầy có năng lực như thế.
Nầy thiện nam tử! Đó là năng lực thứ chín bất khả tư nghì công đức của kinh nầy vậy. Nầy thiện nam tử!
Năng lực thứ mười bất khả tư nghì công đức của kinh nầy là: Nếu người thiện nam, thiện nữ nào, dù khi Phật còn tại thế, hay sau khi Phật diệt độ, nếu được nghe kinh nầy mà phát khởi tâm đại hoan hỷ rất hiếm có, tự mình liền thọ trì, đọc tụng, viết chép, cúng dường, theo đúng lý thuyết tu hành. Lại hay khuyên người tại gia, xuất gia thọ trì, đọc tụng, viết chép cúng dường, và giải nói rộng ra, rồi cũng theo đúng lý thuyết tu hành.
Vì đã khiến người khác nhờ năng lực của kinh nầy mà tu hành đắc đạo, là đều do nhờ sức người thiện nam, thiện nữ đó phát khởi từ tâm khuyến hóa, cho nên người thiện nam, thiện nữ ấy ngay thân nầy liền được các môn Đà la ni. Ở chốn phàm phu mà tự nhiên ngay lúc ban đầu hay phát khởi ra sô vố tăng kỳ đại thệ sâu rộng. Lại hay phát tâm cứu độ hết thảy chúng sanh thành tựu đại bi, rộng hay bạt khổ, huân tập nhiều căn lành, làm lợi ích cho hết thảy, mà diễn bày các pháp thanh tịnh để thấm nhuần các chốn khô khan.
Lại đem những phương pháp đã được này mà ban cho hết thảy chúng sanh được yên vui, rồi dần dần thấy được vượt lên ngôi pháp vân địa, ân đức thấm nhuần khắp cả, lòng từ cứu giúp không bờ bến, tiếp dắt chúng sanh khổ não, khiến cho thâm nhập vào con đường đạo. Vì vậy, người đó chẳng bao lâu được thành đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Nầy thiện nam tử! Đó là năng lực thứ mười bất khả tư nghì công đức của kinh nầy vậy.
Nầy thiện nam tử! Như vậy thì kinh Vô Thượng Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa nầy có sức đại oai thần, không gì là tôn hơn, hay khiến cho những kẻ phàm phu đều được chứng thánh quả, vĩnh viễn xa lìa sanh tử, được vui tự tại. Vì vậy mà kinh nầy gọi là Vô Lượng Nghĩa.
Kinh nầy hay làm cho hết thảy chúng sanh ở ngay nơi mảnh đất phàm phu mà phát sanh nẩy nở ra vô lượng mầm mống các Bồ Tát đạo; khiến cho cây công đức lớn thêm và tươi tốt sum sê. Vì vậy mà kinh nầy gọi là Năng Lực Bất Khả Tư Nghì Công Đức vậy."
Bấy giờ ngài Đại Trang Nghiêm Bồ Tát và tám vạn vị Bồ Tát Ma Ha Tát đều đồng thanh bạch Phật rằng:
−"Bạch đức Thế Tôn! Như lời Phật dạy: Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa rất cao siêu mầu nhiệm sâu xa, văn lý chân chánh, không gì tôn hơn, được tam thế chư Phật cùng gìn giữ, không có chúng ma quần đạo nào xâm nhập vào được, không bị hết thảy tà kiến, sanh tử làm nát hoại. Vì vậy cho nên kinh nầy mới có mười năng lực bất khả tư nghì công đức vậy.
Làm vô lượng đại lợi ích cho hết thảy chúng sanh, khiến cho hết thảy các vị Bồ Tát đều được Vô Lượng Nghĩa tam muội; hoặc được trăm nghìn môn Đà la ni; hoặc được các ngôi các pháp nhẫn của các Bồ Tát, hoặc được ngôi Duyên giác, A la hán và chứng bốn đạo quả. Đức Thế Tôn rủ lòng từ mẫn vui vì lũ chúng con nói ra pháp đó khiến cho chúng con được pháp lợi lớn thật là thời gian rất kỳ diệu chưa từng có vậy.
−Bạch đức Thế Tôn! Lòng từ mẫn và ân đức của ngài, chúng con thật khó có thể báo đáp được."
Khi nói như thế rồi, lúc bấy giờ cõi tam thiên đại thiên thế giới sáu điệu đều rung động. Ở trên không trung lại mưa xuống các thứ hoa thơm: Hoa Thiên ưu bát la, hoa Bát đàm ma, hoa Câu vật đầu, hoa Phân đà lợi, v.v... Lại mưa xuống vô số các thứ hương trời, áo báu cõi trời, tràng anh lạc cõi trời, ngọc vô giá cõi trời ở trong hư không dần dần rơi xuống để cúng dường đức Phật và các vị Bồ Tát, đại chúng Thanh văn. Món ăn cõi trời, bình bát cõi trời, sung mãn rạt rào, trăm vị thơm ngon cõi trời, mỗi khi thấy sắc nghe hương thì tự nhiên no đủ. Phướn trời, phan trời, tàn lọng cõi trời các đồ âm nhạc vi diệu cõi trời đặt bày ở khắp nơi hòa tấu nhạc trời để cúng dường và khen ngợi đức Phật.
Lại nữa, Hằng hà sa số các cõi chư Phật ở phương Đông cũng sáu lần rung động, và cũng mưa xuống các thứ hoa trời, hương trời, áo báu cõi trời, tràng anh lạc cõi trời, ngọc vô giá cõi trời, món ăn trăm vị thơm ngon cõi trời. Bình bát cõi trời, mỗi khi thấy sắc nghe hương thì tự nhiên no đủ. Phướn trời, phan trời, tán lọng cõi trời những đồ âm nhạc vi diệu cõi trời và hòa tấu kỹ nhạc cõi trời, để cúng dường và khen ngợi đức Phật kia, cùng các vị Bồ Tát, đại chúng Thanh văn. Phương Nam, phương Tây, phương Bắc, bốn phương bàng, phương trên, phương dưới cũng đều như thế.
Bấy giờ đức Phật bảo ngài Đại Trang Nghiêm Bồ Tát Ma Ha Tát và tám vạn vị Bồ Tát Ma Ha Tát rằng: "Các ông đối với kinh nầy phải nên đem hết lòng cung kính sâu xa, theo đúng như pháp mà tu hành, và khuyến hóa hết thảy làm cho ưa truyền rộng ra, lòng thường siêng năng tinh tấn giữ gìn ngày đêm khiến chúng sanh đều được sự lợi ích của giáo pháp.
Các ông thật là người đại từ đại bi lập nguyện thệ lực thần thông, kính mến giữ gìn kinh nầy đừng để cho ngừng trệ. Và về đời mai sau phải lưu hành rộng khắp cả cõi Nam Diêm Phù Đề, khiến cho hết thảy chúng sanh được thấy, được nghe, đọc tụng, viết chép, cúng dường. Vì những lẽ đó mà khiến các ông chóng được thành đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác."
Bấy giờ ngài Đại Trang Nghiêm Bồ Tát Ma Ha Tát cùng với tám vạn vị Bồ Tát Ma Ha Tát liền từ tòa ngồi đứng dậy, đi đến chỗ Phật đầu mặt lễ dưới chân Phật, rồi nhiễu trăm nghìn vòng, và quỳ xuống trước Phật đều đồng thanh bạch rằng:
−"Bạch đức Thế Tôn! Chúng con rất lấy làm vui mừng, đức Thế Tôn đã rủ lòng lành thương, vì chúng con mà nói kinh Đại Thừa Vô Lương Nghĩa rất cao siêu mầu nhiệm nầy, chúng con xin cung kính tin theo lời Phật dạy. Sau khi đức Như Lai diệt độ, chúng con sẽ truyền bá kinh nầy làm cho lan rộng khắp nơi, đều khiến cho ai nấy thọ trì, đọc tụng, viết chép, cúng dường. Cúi xin đức Thế Tôn đừng đem lòng buồn lo, chúng con sẽ dùng nguyện lực khắp khiến cho ai nấy đều được nhờ oai thần lực của kinh điển nầy vậy."
Khi ấy đức Phật khen rằng: "Quý hóa thay! Quý hóa thay! Các thiện nam tử! Các ông ngày nay thật là Phật tử chơn chánh, lòng đại từ đại bi sâu xa của các ông hay bạt khổ cứu ách, là ruộng phước tốt cho hết thảy chúng sanh, rộng vì hết thảy. Làm người dẫn đường tốt, làm nơi nương tựa lớn cho hết thảy chúng sanh; làm đại thí chủ cho hết thảy chúng sanh, thường đem lợi ích của giáo pháp rộng ban cho hết thảy."
Khi đức Phật nói kinh nầy xong, thì hết thảy đại chúng trong pháp hội đều vui mừng thọ trì, rồi làm lễ Phật mà xin lui.
Nguyện đem công đức này Hướng về khắp tất cả Đệ tử và chúng sanh Đều trọn thành Phật đạo.
|
─ HẾT ─
Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa - Phần 1

KINH ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG NGHĨA
(Phạn dịch Hán: Sa môn Đàm Ma Dà Đà Da Xá;
Người Thiên trúc, đến Trung Quốc Đời nhà Tề)
(Hán dịch Việt: TK. Thích Tuệ Hải)
Phẩm thứ nhất: ĐỨC HẠNH
Chính tôi được nghe;
Một thời bấy giờ, đức Phật cùng với chúng đại Tỳ kheo một vạn hai ngàn người đều hội họp ở trong núi Kỳ Xà Quật, nơi thành Vương Xá. Các vị Bồ Tát và đại Bồ Tát tám vạn người, cùng với bộ Thiên, bộ Long, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà. Các vị Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di cũng đều hội họp trong đó. Vua đại Chuyển Luân, vua tiểu Chuyển Luân, vua Kim Luân, vua Ngân Luân, cùng các vua Luân khác. Các vị quốc vương, vương tử; các hàng quốc thần, quốc dân, quốc sĩ, quốc nữ; các đại trưởng giả trong nước cùng với họ hàng số đông hàng trăm ngàn muôn, đều cùng nhau tự đi đến chốn Phật, đầu mặt lễ dưới chân, nhiễu trăm nghìn vòng, đốt hương rải hoa và các món cúng dường khác. Khi cúng dường xong thì ngồi lui về một bên.
Các vị Bồ Tát tên là: Văn Thù Sư Lợi Pháp vương tử, Đại Oai Đức Tạng Pháp vương tử, Vô Ưu Tạng Pháp vương tử, Đại Biện Tạng Pháp vương tử; Bồ Tát Di Lặc, Bồ Tát Đạo Thủ, Bồ Tát Dược Vương, Bồ Tát Dược Thượng, Bồ Tát Hoa Tràng, Bồ Tát Hoa Quang, Bồ Tát Đà La Ni Tự Tại Vương, Bồ Tát Quán Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí, Bồ Tát Thường Tinh Tấn, Bồ Tát Bảo Ấn Thủ, Bồ Tát Bảo Thượng, Bồ Tát Việt Tam Giới, Bồ Tát Tỳ Ma Bạt La, Bồ Tát Hương Tượng, Bồ Tát Đại Hương Tượng, Bồ Tát Sư Tử Hống Vương, Bồ Tát Sư Tử Du Hí, Bồ Tát Sư Tử Phấn Tấn, Bồ Tát Sư Tử Tinh Tấn, Bồ Tát Dũng Duệ Lực, Bồ Tát Oai Mãnh Phục, Bồ Tát Trang Nghiêm, Bồ Tát Đại Trang Nghiêm, v.v...
Những vị Bồ Tát và đại Bồ Tát tám vạn người cũng đều đến tề tựu. Các vị Bồ Tát nầy, ai nấy đều là pháp thân Đại sĩ, đã được thành giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, nơi tâm thiền tịnh lặng lẽ, thường ở trong cảnh chánh định an nhiên điềm đạm, không có sợ hãi, là bậc vô lậu, vô dục, không còn điên đảo loạn tưởng. Tịnh tĩnh lắng trong, chí huyền diệu lâng lâng, giữ chí bất động, hàng trăm nghìn muôn ức kiếp bao nhiêu pháp môn đều hiện rõ ở trước. Được trí huệ lớn, thông suốt các pháp, phân biệt rõ ràng, tánh, tướng chơn thực, không có vắn dài, tỏ rõ phân minh.
Lại hay biết mọi căn tánh khéo léo, dùng môn tổng trì vô ngại biện tài của chư Phật chuyển xe diệu pháp mà tùy thuận những người năng chuyển. Trước hết, vẩy giọt nước pháp để tưới tắt dục trần; mở cửa Niết bàn, quạt gió giải thoát trừ mọi nhiệt não nơi đời, được mọi pháp mát mẻ. Thứ lại, ban cho mười hai món nhân duyên rất sâu để gột rửa vô minh, cho đến già, bệnh, chết, v.v... đốt cháy bập bùng; Những sự khổ não gom góp như ánh sáng mặt trời vừa mới tụ lại. Pháp Đại thừa Vô Thượng làm cho chúng sanh được thấm nhuần; những nơi có thiện căn thì đều gieo hạt giống tốt ở khắp các ruộng công đức và đều khiến cho phát khởi mầm mống Bồ Đề. Lấy trí huệ làm ngày tháng, lấy phương tiện làm thời tiết mà giúp cho sự nghiệp Đại thừa thêm lớn, khiến cho ai nấy chóng thành ngôi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Thường trụ yên vui ở chốn vi diệu chơn thật, dùng vô lượng đại bi cứu khổ chúng sanh.
Những chúng sanh đó là chơn thiện tri thức; những chúng sanh đó là ruộng phước tốt lớn; những chúng sanh đó là bậc thầy không phải cầu thỉnh; những chúng sanh đó là chốn vui vẻ yên ổn, là nơi cứu độ, là nơi giúp đỡ, và là nơi nương tựa lớn. Nơi nơi đều vì chúng sanh làm đại lương đạo, làm đạo sư, làm đại đạo sư; hay làm nhãn mục cho những chúng sanh mù lòa; hay làm tai, mũi, lưỡi cho những người câm, ngọng, điếc. Những kẻ mọi căn hư thiếu thì đều khiến cho được đầy đủ. Làm đại chánh niệm cho những kẻ điên cuồng hoang loạn; làm thuyền trưởng và đại thuyền trưởng vận tải chúng sanh qua bể khổ sanh tử đến bờ Niết bàn; làm bậc Y vương và đại Y vương phân biệt từng bệnh tướng, hiểu rõ tánh dược, tùy bệnh cho thuốc, khiến cho chúng sanh thích uống; là bậc Điều ngự và đại Điều ngự, không làm mọi việc buông lung.
Ví như người quản tượng, hay điều phục khéo léo những loài voi mà không ai điều phục nổi; làm sư tử mạnh mẽ có oai đức điều phục những loài thú khác mà không nát hoại; làm Du Hí Bồ Tát dùng các pháp Ba la mật ở chốn đức Như Lai kiên cố bất động, an trụ vào nguyện lực rộng tịnh cõi Phật, chẳng bao lâu được thành ngôi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Các vị Bồ Tát và đại Bồ Tát đó, đều có công đức bất khả tư nghì như thế.
Các vị Tỳ kheo ở trong pháp hội nầy tên là: Đại trí Xá Lợi Phất, Thần thông Mục Kiền Liên, Tuệ mạng Tu Bồ Đề, Ma ha Ca Chiên Diên, Di Đà La Ni Tử, Phú Lâu Na, A Nhã Kiều Trần Như, Thiên nhãn A Na Luật, Trì luật Ưu Ba Li, Thị giả là ông A Nan, Phật tử La Vân Ưu Ba Nan Đà, Ly Bà Đa, Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Chu Đà Sa Già Đà; Đầu đà Đại Ca Diếp, Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, Già Da Ca Diếp, Na Đề Ca Diếp. Những vị Tỳ kheo như thế một muôn hai ngàn người đều là bậc A la hán, đã được giải thoát chơn chánh hết mọi kiết sử lậu hoặc, không còn bị ràng buộc chấp trước.
Bấy giờ ngài Đại Trang Nghiêm Bồ Tát Ma Ha Tát quan sát khắp hết tòa ngồi ai nấy đều đã tịnh ý rồi, thì cùng với tám vạn vị Bồ Tát Ma Ha Tát ở trong chúng, đều từ tòa ngồi đứng dậy đi đến chỗ Phật, đầu mặt lễ dưới chân Phật, rồi nhiễu trăm nghìn vòng, và đốt hương rải hoa cõi trời, dâng áo cõi trời, tràng anh lạc cõi trời, ngọc vô giá cõi trời, từ trong hư không dần dần rơi xuống bốn phương như mây tụ lại mà dâng cúng đức Phật. Các thức ăn trời đựng trong bình bát cõi trời, trăm vị thơm ngon cõi trời đều tràn đầy sung mãn. Mỗi khi thấy sắc, ngửi hương thì tự nhiên no đủ. Phướn trời, phan trời, tán lọng cõi trời, nơi nơi đặt bày nhạc cụ vi diệu cõi trời, và ở chốn đức Phật hòa tấu nhạc trời để dâng cúng. Liền ở trước Phật quỳ gối chấp tay, ai nấy một lòng đồng thành nói kệ khen ngợi rằng:
Quý hóa thay! Đại thánh, đại ngộ
Không nhiễm nhơ, không đắm dục trần
Đấng Điều ngự, trời, người, tượng, mã
Gió đạo đức thơm tỏa khắp nơi
Trí bình thản lòng lo ngờ tĩnh
Ý diệt vong, tâm thức lâng lâng
Tư tưởng niệm, mộng càng dứt hẳn
Các đại ấm, giới, nhập không còn
Thân nầy chẳng có cũng chẳng không
Chẳng tự, tha, nhân duyên chẳng phải
Chẳng vuông, tròn, cũng không dài, vắn
Chẳng sanh diệt, chẳng phải ra vào
Chẳng tác vi, chẳng tạo chẳng khởi
Chẳng ngồi nằm, chẳng phải ở, đi
Chẳng động chuyển, cũng không nhàn tĩnh
Chẳng tiến, thoái, cũng chẳng an, nguy
Không phải thị, phi, không đắc, thất
Không bỉ, không thử, không tiến, lui
Không xanh, không vàng, không đỏ trắng
Không hồng, không tía, bao màu sắc
Giới, định, huệ, giải tri kiến sanh
Tam minh, lục thông, đạo phẩm phát
Thập lực, từ bi vô úy khởi
Chúng sanh nghiệp tốt nhân duyên sanh
Hiện thân trượng sáu vàng rực rỡ
Đẹp đẽ phương phi chiếu sáng ngời
Tướng đẹp vành trăng ánh mặt trời
Tóc xoáy biếc xanh đầu nhục kế
Mắt sáng gương trong mi mấp máy
Lông mày biếc, thẳng miệng, má vuông
Môi, lưỡi đỏ đẹp như quả đỏ
Răng trắng bốn mươi tựa Kha tuyết
Trán rộng mũi thẳng diện tròn đầy
Ngực nêu chữ vạn ức sư tử
Chân tay mềm mại đủ nghìn khoáy
Nách, tay liền nhau nắm trong ngoài
Bắp vế, ngón tay dài thon thẳng
Da dẻ nhỏ mịn lông xoáy hữu
Gót, gối chẳng hiện âm mã kín
Gân nhỏ xương lăm tựa ruột hưu
Biểu lý trong suốt sạch lâng lâng
Nước trong chẳng nhiễm chút bụi trần
Tất cả ngần ấy băm hai tướng
Tám mươi vẻ đẹp dường nên thấy
Mà thực không tướng, không sắc tướng
Hết thảy có tướng mắt đối không
Cái tướng vô tướng có tướng thân
Thân tướng chúng sanh tướng giống nhau
Hay khiến chúng sanh vui mừng lễ
Dốc lòng thành kính biểu ân cần
Nhân đó ngã mạn, tự cao hết
Thành tựu sắc thân đẹp như thế
Đệ tử chúng con hơn tám vạn
Cùng nhau cúi đầu đều kính lễ
Đấng diệt tư tưởng, tâm ý thức
Điều ngự, ngựa voi vô trước thánh
Cúi đầu nương về pháp, sắc thân
Giới, định, huệ hợp giải tri kiến
Cúi đầu nương về bao tướng đẹp
Cúi đầu nương về khó nghĩ bàn
Tiếng sấm phạm âm vang tám hướng
Nhiệm mầu thanh tịnh rất sâu xa
Tứ đế, lục độ, mười hai duyên
Tùy thuận chúng sanh tâm chuyển nghiệp
Ai nghe mà chẳng mở tâm ý
Dứt hết ràng buộc khổ sanh tử
Người nghe hoặc được Tu đà hoàn
Tư đà, A na, A la hán
Vô lậu, vô vi ngôi Duyên giác
Vô sanh vô diệt ngôi Bồ Tát
Hoặc được vô lượng Đà la ni
Biện tài vô ngại lời khéo léo
Diễn nói kệ mầu nhiệm sâu xa
Suối pháp trong thảnh thơi tắm gội
Hoặc hóa hiện thần túc bay nhảy
Mình ra vào nước, lửa tự do
Tướng như thế, pháp luân như thế
Thanh tịnh vô biên khó nghĩ bàn
Chúng con cùng nhau lại cúi đầu
Quy y vào lúc xe pháp chuyển
Cúi đầu nương về tướng Phạm âm
Cúi đầu nương về Duyên, Đế, Độ
Bao nhiêu kiếp xưa đức Thế Tôn
Cần khổ tu tập các đức hạnh
Vì chúng con, trời, người, long, thần
Và hết thảy các loài chúng sanh
Hay bỏ tất cả việc khó bỏ
Của báu, vợ con và thành, nước...
Với pháp trong ngoài không xẻn tiếc
Tủy, não, đầu, mắt đều đem cho
Phụng trì tịnh giới của chư Phật
Dù phải mất mạng chẳng hủy thương
Nếu người do gậy, lại hại thêm
Lời ác nhục mạ đều không giận
Nhiều kiếp ép mình không lười biếng
Đêm ngày nhiếp tâm thường thiền định
Học hết tất cả các đạo pháp
Trí huệ vào sâu căn chúng sanh
Cho nên nay được sức tự tại
Trong pháp tự tại làm vua pháp
Con lại cùng nhau cúi đầu lạy
Đấng hay làm những việc khó làm.
Phẩm thứ hai: THUYẾT PHÁP
Bấy giờ ngài Đại Trang Nghiêm Bồ Tát Ma Ha Tát cùng với tám vạn vị Bồ Tát Ma Ha Tát nói bài kệ khen ngợi Phật rồi, đều bạch Phật rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Hàng Bồ Tát chúng con tám vạn người, nay muốn được ở trong giáo pháp của đức Như Lai, hoặc có chỗ còn phải hỏi han, không hiểu đức Thế Tôn có rủ lòng thương chỉ giáo cho chăng?"
Đức Phật bảo Bồ Tát Đại Trang Nghiêm và tám vạn vị Bồ Tát rằng: "Hay lắm! Hay lắm! Nầy thiện nam tử! Các ông khéo biết đúng thời, vậy tha hồ các ông cứ hỏi, Như Lai chẳng bao lâu nữa sẽ vào Niết bàn. Sau khi vào Niết bàn rồi, thì đều khiến cho hết thảy ai nấy không còn nghi ngờ gì nữa. Vậy ai muốn hỏi chỗ nào thì nói ngay đi."
Bấy giờ Bồ Tát Đại Trang Nghiêm cùng tám vạn vị Bồ Tát liền đồng thanh bạch Phật rằng:
− "Bạch đức Thế Tôn! Bồ Tát Ma Ha Tát muốn chóng được thành đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác thì phải tu hành những pháp môn nào? Và những pháp môn nào có thể khiến cho Bồ Tát Ma Ha Tát chóng được đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác?"
Đức Phật bảo Bồ Tát Đại Trang Nghiêm và tám muôn vị Bồ Tát rằng: "Nầy thiện nam tử! Có một pháp môn hay làm cho Bồ Tát Ma Ha Tát chóng được đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Nếu có Bồ Tát nào, học pháp môn đó thì có thể chóng thành được đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác."
−“Bạch đức Thế Tôn! Pháp môn đó tên hiệu là gì? Nghĩa lý ra sao? Bồ Tát phải tu hành như thế nào?”
Đức Phật bảo: "Nầy thiện nam tử! Một pháp môn đó tên là Vô Lượng Nghĩa, Bồ Tát nào muốn được tu học Vô Lượng Nghĩa đó, thì phải nên quán sát hết thảy các pháp, từ trước đến nay, tánh tướng nó bản lai rỗng lặng, không lớn, không nhỏ, không sanh, không diệt, không trụ, không động, không tiến, không lui, ví như hư không, không có hai pháp. Chỉ vì chúng sanh mê chấp lấy cái giả dối, mà cho là cái nầy, cái kia, là được, là mất, khởi ra tâm niệm chẳng lành, tạo ra mọi điều ác nghiệp, loanh quanh trong sáu ngả, chịu đủ mọi khổ độc, hàng vô lượng ức kiếp, mà không tự biết để tìm lối ra.
Bồ Tát Ma Ha Tát, quán sát kỹ lưỡng như thế rồi sanh ra lòng lân mẫn, phát khởi ý đại từ bi, hầu mong cứu vớt. Vả lại, thâm nhập vào hết thảy các pháp: Pháp tướng như thế, pháp sanh như thế; Pháp tướng như thế, pháp trụ như thế; Pháp tướng như thế, pháp dị như thế; Pháp tướng như thế, pháp diệt như thế; Pháp tướng như thế, hay sanh ra ác nghiệp; Pháp tướng như thế, hay sanh ra thiện pháp. Tướng Trụ, Dị, Diệt, kia cũng lại như thế.
Bồ Tát quán sát kỹ lưỡng nguồn gốc của bốn tướng như thế, đều biết cả rồi. Thứ lại quán sát kỹ lưỡng hết thảy các pháp niệm niệm chẳng ngừng luôn luôn sanh diệt. Lại quán sát ngay nơi Sanh, Trụ, Dị, Diệt. Quán sát như thế rồi, mà vào mọi căn tánh ham muốn của chúng sanh; vì tánh ham muốn vô lượng, cho nên thuyết pháp cũng vô lượng; vì thuyết pháp vô lượng cho nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa đó, do từ một pháp mà sanh một pháp, đó tức là "vô tướng" vậy. Vô tướng như thế, tức là vô tướng mà chẳng tướng, chẳng tướng mà vô tướng, thì mới gọi là "thật tướng" vậy.
Bồ Tát Ma Ha Tát trụ vào tướng chân thật như thế rồi thì từ bi phát khởi rõ ràng chẳng rối. Đối với chúng sanh hay đem lòng chân thật cứu khổ, khi đã cứu khổ cho rồi lại vì những chúng sanh đó mà nói pháp, khiến cho các chúng sanh được hưởng khoái lạc.
Nầy thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát nếu hay tu hành được một pháp môn "Vô Lượng Nghĩa" như thế, thì tất nhiên chóng được thành đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Nầy thiện nam tử! "Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa" văn lý cao siêu mầu nhiệm như thế, không có kinh nào là tôn quý hơn. Chư Phật trong ba đời cũng đều gìn giữ, không có chúng ma quần đạo nào xâm nhập vào được, không bị hết thảy tà kiến sanh tử phá hoại. Vì vậy thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát muốn chóng được thành đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, phải nên tu học kinh Đại thừa rất cao siêu sâu xa nầy."
Bấy giờ Bồ Tát Đại Trang Nghiêm lại bạch Phật rằng:
−"Bạch đức Thế Tôn! Đức Thế Tôn thuyết pháp bất khả tư nghì, mà căn tánh của chúng sanh cũng bất khả tư nghì, và pháp môn giải thoát cũng bất khả tư nghì; chúng con ở chốn đức Phật được nghe nói các pháp thì không còn nghi nan gì nữa, nhưng vì các chúng sanh lại sanh ra tâm mê hoặc, vì thế, con lại kính hỏi đức Thế Tôn, từ khi đức Như Lai đắc đạo đến nay hơn bốn mươi năm, thường vì chúng sanh diễn nói các pháp, nghĩa của bốn tướng: “Nghĩa của khổ, nghĩa của không, vô thường, vô ngã, vô đại, vô tiểu, vô sanh, vô diệt, nhất tướng, vô tướng, pháp tánh, pháp tướng bản lai rỗng lặng; không tới không lui, không ra không vào.”
Nếu có người được nghe ấy, hoặc giả được pháp Noãn, pháp Đảnh, pháp Nhẫn, pháp Thế đệ nhất, quả Tu đà hoàn, quả Tư đà hàm, quả A na hàm, quả A la hán, ngôi Bích chi Phật, người phát tâm Bồ Đề thì lên ngôi thập địa Bồ Tát.
Những nghĩa của các pháp ngài nói trước kia, so với những chỗ ngài nói ngày nay có sai khác chỗ nào chăng? Mà nói là kinh "Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa" rất cao siêu mầu nhiệm sâu xa, Bồ Tát tu hành ắt chóng được thành đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, việc đó thế nào, kính xin đức Thế Tôn rủ lòng lành thương rộng vì hết thảy chúng sanh mà phân biệt cho, khắp khiến đời hiện tại và đời vị lai có ai được nghe pháp nầy thì không còn mắc phải lưới nghi ngờ nữa."
Bấy giờ đức Phật bảo Bồ Tát Đại Trang Nghiêm rằng:
"Hay lắm! Phải lắm! Đại thiện nam tử mới có thể hỏi Như Lai nghĩa Đại thừa rất cao siêu mầu nhiệm sâu xa như thế, thì nên biết rằng ông là người hay làm nhiều điều lợi ích cho cõi nhân, cõi thiên, và cứu bạt khổ não cho chúng sanh, đúng là đại từ đại bi tin thật không dối. Vì nhân duyên ấy mà sẽ chóng được thành đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, và cũng khiến cho hết thảy chúng sanh đời nầy, đời sau được thành Vô Thượng Bồ Đề.
Nầy thiện nam tử! Từ khi Ta đến đạo tràng tới nay, sáu năm ngồi tư duy ở dưới gốc cây bồ đề được thành đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Ta dùng Phật nhãn xem thấy các pháp mà không thể nói ra được, là vì các chúng sanh tánh ham muốn bất đồng, vì tánh ham muốn bất đồng cho nên phải dùng hết thảy các sức phương tiện thuyết pháp hơn bốn mươi năm mà không hiểu được lý chơn thật, cho nên chúng sanh đắc đạo có sai khác, mà không được chóng thành đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Nầy thiện nam tử! Giáo pháp cũng ví như nước hay rửa sạch mọi thứ cấu uế; dù là nước giếng, nước ao, nước sông, nước ngòi, nước khe, nước suối hay nước biển lớn cũng đều hay rửa sạch mọi thứ cấu uế, thì nước pháp cũng giống như vậy. Nó hay rửa sạch những cấu uế phiền não cho chúng sanh.
Nầy thiện nam tử! Tánh của nước kia vẫn chỉ là một, dù là nước sông, nước ngòi, nước giếng, khe, suối, bể lớn, tuy đều có khác, thì pháp tánh kia cũng giống như thế, mà sự công dụng rửa sạch trần lao của nó đều không sai khác. Bởi vậy ba pháp, bốn quả, hai đạo chẳng là một ư?
Nầy thiện nam tử! Nước tuy đều là để rửa, mà nó ở giếng chẳng phải ao; ở ao chẳng phải ở ngòi; ở sông, ở khe, ở suối chẳng phải ở bể. Như Lai là bậc đại hùng ở thế gian, ở ngôi pháp tự tại, diễn nói các pháp cũng lại như thế, lúc ban đầu, khoảng giữa và sau cùng cũng đều hay rửa sạch phiền não cho các chúng sanh, mà trước chẳng phải khoảng giữa, khoảng giữa chẳng phải khoảng sau; trước giữa và sau lời văn nói ra tuy chỉ là một mà ý nghĩa đều có sai khác.
Nầy thiện nam tử! Lúc ban đầu Ta từ chốn Phụ vương, đi đến thành Ba La Nại, trong vườn Lộc Uyển, vì các ông A Nhã Câu Lân năm người; khi quay bánh xe pháp Tứ đế, cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng, tàn tạ thay đổi không ngừng. Trong thời gian ấy, và những nơi chốn khác, cũng vì các hàng Tỳ kheo, các hàng Bồ Tát, phô bày diễn nói mười hai pháp nhân duyên, sáu pháp Ba la mật, cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng, tàn tạ thay đổi không ngừng, niệm niệm sanh diệt. Nay ở nơi đây lại diễn nói Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa và cũng nói các pháp bản lai rỗng lặng, tàn tạ thay đổi không ngừng, niệm niệm sanh diệt.
Nầy thiện nam tử! Vì vậy lời nói ban đầu, lời nói chặng giữa và lời nói ngày nay văn tự tuy là một, nhưng ý nghĩa có khác. Vì ý nghĩa có khác cho nên sự hiểu ngộ của chúng sanh cũng sai khác; vì hiểu ngộ sai khác cho nên đắc pháp, đắc đạo, đắc quả cũng sai khác.
Nầy thiện nam tử! Lúc ban đầu Ta vì người cầu quả Thanh văn nói ra pháp Tứ đế, tám ức chư Thiên đi đến nghe pháp mà phát tâm Bồ Đề; ở trong khắp nơi khắp chốn vì người cầu ngôi Bích chi Phật nói ra pháp mười hai nhân duyên sâu xa, vô lượng chúng sanh phát tâm Bồ Đề; hoặc có người trụ vào hàng Thanh văn; thứ đến nói kinh Phương Đẳng mười hai bộ kinh, kinh Đại Bát Nhã, kinh Hoa Nghiêm, ở nơi không hải diễn nói lịch kiếp tu hành của các Bồ Tát mà trăm nghìn Tỳ kheo, muôn ức trời, người, vô lượng chúng sanh được quả Tu đà hoàn, quả Tư đà hàm, quả A na hàm, quả A La Hán, trụ vào ngôi Bích chi Phật ở trong pháp nhân duyên.
Nầy thiện nam tử! Vì lấy nghĩa đó, cho nên biết rằng lời nói đồng nhau mà ý nghĩa sai khác. Vì ý nghĩa sai khác, cho nên chúng sanh hiểu ngộ khác nhau, vì chỗ ngộ khác nhau cho nên đắc pháp, đắc quả, đắc đạo cũng khác nhau.
Vì thế, nầy thiện nam tử! Từ khi Ta đắc đạo, ban đầu nói pháp cho đến ngày nay diễn nói kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa chưa lúc nào là không nói thuyết:
"khổ không, vô thường, vô ngã, phi chơn, phi giả, phi đại, phi tiểu, bản lai bất sanh, nay cũng bất diệt, một tướng vô tướng, pháp tướng, pháp tánh, không tới, không lui, mà bốn tướng của chúng sanh thường phải biến thiên."
Nầy thiện nam tử! Vì lấy nghĩa đó cho nên chư Phật không có chỗ nào nói hai lời, chỉ dùng một âm thanh để ứng hợp tất cả giọng tiếng và chỉ dùng một thân mà thị hiện trăm nghìn muôn ức na do tha vô lượng, vô số Hằng hà sa thân; trong mỗi thân một thân lại thị hiện ra bao nhiêu trăm nghìn muôn ức na do tha a tăng kỳ Hằng hà sa chủng loại hình; trong mỗi một hình lại thị hiện ra bao nhiêu trăm nghìn muôn ức na do tha a tăng kỳ Hằng hà sa hình nữa.
Nầy thiện nam tử! Đó là cảnh giới rất sâu xa bất khả tư nghì của chư Phật, chẳng phải chỗ hay biết của hàng nhị thừa, và cũng chẳng phải chỗ theo kịp của ngôi thập trụ Bồ Tát, chỉ có Phật với Phật mới hay hiểu thấu rốt ráo.
Nầy thiện nam tử! Vì thế mà nói kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa rất cao siêu mầu nhiệm sâu xa, văn lý chân chánh, không kinh nào tôn hơn. Chư Phật trong ba đời đều cùng gìn giữ, không có chúng ma ngoại đạo nào xâm nhập vào được; không bị hết thảy tà kiến sanh tử làm nát hoại. Bồ Tát Ma Ha Tát nếu muốn chóng được thành đạo Vô Thượng Bồ Đề thì phải tu học kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa rất cao siêu mầu nhiệm sâu xa như thế."
Đức Phật nói như thế rồi, khi ấy cõi tam thiên đại thiên thế giới sáu lần rung động; tự nhiên ở trong hư không mưa xuống các thứ hoa trời: Hoa thiên ưu bát la, hoa bát đàm ma, hoa câu vật đầu, hoa phân đà lợi. Lại rải xuống các thứ hương thơm cõi trời, áo đẹp cõi trời, tràng anh lạc cõi trời, ngọc vô giá cõi trời, ở trên không trung vòng quanh rơi xuống cúng dường đức Phật và các vị Bồ Tát, đại chúng Thanh văn, món ăn cõi trời, bình bát cõi trời, trăm vị cõi trời sung mãn rạt rào; phan trời, phướn trời, tán lọng cõi trời, những đồ âm nhạc vi diệu cõi trời, bày đặt khắp nơi, hòa tấu nhạc trời để cúng dường và khen ngợi đức Phật.
Lại nữa những thế giới của chư Phật về phương Đông như số cát sông Hằng sáu lần rung động, cũng rải hoa trời, hương trời, áo trời, tràng anh lạc cõi trời, ngọc vô giá cõi trời, món ăn cõi trời, bình bát cõi trời, trăm vị thơm ngon cõi trời, phan trời, phướn trời, tán lọng cõi trời, những đồ âm nhạc vi diệu cõi trời, đặt ở khắp nơi để hòa tấu cúng dường và khen ngợi đức Phật kia, và các vị Bồ Tát, đại chúng Thanh văn cõi đó. Phương Nam, phương Tây, phương Bắc, bốn phương bàng, và phương trên, phương dưới cũng đều như thế.
Bấy giờ trong đại chúng có một muôn hai nghìn vị Bồ Tát Ma Ha Tát được Vô Lượng Nghĩa tam muội, một muôn bốn nghìn vị Bồ Tát Ma Ha Tát được vô lượng vô số Đà la ni môn, có thể chuyển hết thảy xe pháp bất thoái chuyển của tam thế chư Phật. Còn các vị Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, bộ Thiên, bộ Long, quỉ Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, vua Đại chuyển luân, vua Tiểu chuyển luân, vua Ngân luân, vua Thiết luân, và các vị vua Luân khác. Các vị quốc vương, vương tử, quốc thần, quốc dân, quốc sĩ, quốc nữ, các đại trưởng giả trong nước và các họ hàng trăm nghìn muôn người đều tề tựu nghe Phật nói pháp.
Khi nghe nói kinh nầy rồi, hoặc có người chứng được pháp Noãn, pháp Đảnh, và pháp Thế đệ nhất; quả Tu đà hoàn, quả Tư đà hàm, quả A na hàm, quả A la hán, ngôi Bích chi Phật. Lại chứng được Bồ Tát vô sanh pháp nhẫn lại được một Đà la ni, hai Đà la ni, ba Đà la ni, bốn Đà la ni, năm Đà la ni, sáu bảy tám chín mười Đà la ni; lại được trăm nghìn muôn ức Đà la ni; lại được vô lượng vô số Hằng hà sa a tăng kỳ Đà la ni, đều hay tùy thuận chuyển xe pháp bất thoái chuyển, và vô lượng chúng sanh phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Kinh Thắng Man - Phần 4

−Bạch đức Thế Tôn! Nếu lại có ai thấy sanh tử vô thường, Niết bàn là thường, thì chẳng phải kiến chấp đoạn thường mà gọi là chánh kiến.
Tại sao? Vì kẻ kế đạt ấy, thấy các thân căn và cảm thọ tự hiện hành diệt hoại với thân tương tục, họ chẳng biết được, là kẻ mù không mắt trí huệ nên phát khởi Đoạn kiến, với tâm tương tục sát na diệt hoại, họ ngu tối chẳng biết cảnh giới ý thức nên phát khởi Thường kiến.[[1]] Nhưng những nghĩa ấy quá các phân biệt và quá kiến thức hạ liệt, do hàng ngu phu vọng sanh ý tưởng dị biệt rồi điên đảo chấp trước cho là Đoạn là Thường.
−Bạch đức Thế Tôn! Hàng hữu tình điên đảo,[[2]] đối ngũ thủ uẩn vô thường tưởng là thường, khổ tưởng là lạc, vô ngã tưởng là ngã, bất tịnh tưởng là tịnh. Hàng Thanh Văn và Duyên Giác có tịnh trí, đối với cảnh giới và pháp thân của Phật chưa hề thấy được hoặc vì tin Như Lai nên đối với Như Lai sanh ra ý tưởng là thường, là lạc, là ngã, là tịnh, đây chẳng phải kiến chấp điên đảo mà là chánh kiến.[[3]] Tại sao? Vì Như Lai pháp thân là Thường Ba la mật, là Lạc Ba la mật, là Ngã Ba la mật, là Tịnh Ba la mật vậy. Nếu các hữu tình có ý tưởng như trên đây thì gọi là chơn Phật tử, từ miệng Phật sanh, từ chánh pháp sanh, từ pháp hóa sanh được Phật pháp phần.[[4]]
−Bạch đức Thế Tôn! Nói rằng tịnh trí ấy là Trí Ba la mật của hàng Thanh Văn và Duyên Giác. Tịnh trí nầy đối với Khổ diệt đế còn chẳng phải cảnh giới, huống Khổ diệt đế là sở hành của bốn trí nhập lưu.[[5]]
Tại sao? Vì hàng Tam thừa sơ nghiệp, người chẳng ngu pháp, có thể ở nơi nghĩa ấy sẽ chứng, sẽ tỏ.
−Bạch đức Thế Tôn! Do nghĩa gì mà nói bốn nhập lưu?
−Bạch đức Thế Tôn! Bốn nhập lưu nầy là pháp thế gian. Chỉ có một nhập lưu đối với các nhập lưu là hơn hết, là trên hết, bởi Đệ nhứt nghĩa là nhập lưu là Khổ diệt đế.
−Bạch đức Thế Tôn! Sanh tử ấy y tựa Như Lai tạng. Do Như Lai tạng nên nói rằng tiền tế chẳng biết được.
−Bạch đức Thế Tôn! Do có Như Lai tạng nên có sanh tử, đây là lời nói phải.[[6]]
−Bạch đức Thế Tôn! Sanh tử ấy, các thọ căn diệt vô gián tương tục thọ căn kế khởi, gọi là sanh tử.
−Bạch đức Thế Tôn! Hai pháp sanh tử là Như Lai tạng, nơi pháp thế tục gọi đó là sanh tử.
−Bạch đức Thế Tôn! Nói rằng tử là nói thọ căn diệt và sanh là các thọ căn khởi. Như Lai tạng thì: Chẳng sanh, chẳng tử, chẳng thăng, chẳng trụy, rời lìa tướng Hữu vi.[[7]]
−Bạch đức Thế Tôn! Như Lai tạng ấy thường hằng chẳng hoại, nên Như Lai tạng là y, là trì, là kiến lập cho tạng trí chẳng lìa giải thoát, và cũng là y, trì, kiến lập cho các pháp Hữu vi rời lìa, chẳng giải thoát.[[8]]
−Bạch đức Thế Tôn! Nếu không có Như Lai tạng thì không có chán khổ vui, cầu Niết bàn. Tại sao? Vì ở nơi sáu thức này và cảnh sở tri, bảy pháp như vậy sát na không dừng, chẳng nhận chịu các khổ, chẳng kham nhàm lìa, nguyện cầu Niết bàn.[[9]] Như Lai tạng ấy không có tiền tế, không sanh không diệt, pháp nhĩ nhận chịu các khổ, nó là nhàm khổ, nguyện cầu Niết bàn.
−Bạch đức Thế Tôn! Như Lai tạng ấy chẳng phải là ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả. Như Lai tạng ấy chẳng phải là cảnh sở hành của các hữu tình thân kiến, điên đảo và không kiến.[[10]]
−Bạch đức Thế Tôn! Như Lai tạng ấy là tạng pháp giới, tạng pháp thân, tạng xuất thế gian, tạng tánh thanh tịnh, là bổn tánh thanh tịnh.[[11]]
Như chỗ con hiểu thì, Như Lai tạng ấy dầu bị khách trần phiền não làm ô nhiễm, vẫn còn là cảnh giới Như Lai bất khả tư nghị. Tại sao? Vì niệm niệm tâm bất thiện, tâm thiện cùng khách trần phiền não chẳng ô nhiễm được Như Lai tạng.[[12]] Tại sao? Vì phiền não chẳng chạm đến tâm, mà tâm cũng chẳng chạm đến phiền não. Pháp chẳng chạm xúc, làm sao có thể nhiễm được tâm.[[13]]
−Bạch đức Thế Tôn! Vì có phiền não nên có tâm tùy nhiễm. Tùy theo phiền não, nhiễm ấy khó hiểu, khó rõ. Chỉ có đức Phật Thế Tôn là mắt, là trí, là cội rễ pháp, là tôn thượng, là Đạo sư, là chỗ y tựa của chánh pháp mới như thiệt thấy biết mà thôi”.
Bấy giờ, đức Thế Tôn khen ngợi Thắng Man phu nhơn: “Lành thay, lành thay! Đúng như lời ngươi vừa nói. Tuy tâm theo phiền não mà tự tánh vẫn thanh tịnh,[[14]] khó rõ biết được.
Nầy Thắng Man! Còn có hai thứ pháp khó rõ biết được: đó là tánh thanh tịnh của tự tâm khó rõ biết được và tâm ấy bị phiền não ô nhiễm cũng khó rõ biết được. Hai pháp nầy, ngươi và Bồ Tát thành tựu đại pháp[[15]] mới có thể nghe hiểu nhận lãnh. Các hàng Thanh Văn do tín tâm mà tin hiểu.
Nầy Thắng Man! Nếu các đệ tử của ta, người có tăng thượng tín tâm, tùy thuận pháp trí,[[16]] ở nơi pháp nầy mà được cứu cánh.
Thuận pháp trí[[17]] là: Quán sát tâm thức và cảnh; Quán sát nghiệp báo; Quán sát pháp nhãn của A La Hán; Quán sát tâm tự tại ưa thích thiền duyệt; Quán sát thánh thần thông biến của Nhị thừa. Do thành tựu năm pháp quán sát thiện xảo nầy, nên hiện tại và vị lai các hàng Thanh Văn đệ tử, do nơi tăng thượng tín tâm, tùy thuận pháp trí, khéo hiễu rõ được tánh thanh tịnh tự tâm bị phiền não ô nhiễm mà được cứu cánh.
Nầy Thắng Man! Cứu cánh nầy là nhơn của Đại thừa, nay ngươi nên biết, ngươi tin Như Lai thì đối với pháp thậm thâm chẳng sanh lòng phỉ báng”.
−Thắng Man phu nhơn bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Còn có các nghĩa hay đem lại nhiều lợi ích, con sẽ thừa sức oai thần của đức Phật diễn nói các sự ấy”.
Đức Phật bảo: “Lành thay! Nay cho phép ngươi nói”.
−Thắng Man phu nhơn nói: “Có ba hạng thiện nam tử, thiện nữ nhơn đối pháp thậm thâm rời lìa sự tự phá hại, sanh nhiều công đức vào đạo Đại thừa:
Một là: Ngườithành tựu thậm thâm pháp trí;[[18]]
Hai là: Người tùy thuận pháp trí;[[19]]
Ba là: Người đối với pháp thậm thâm nầy chẳng hiểu rõ được mà kính tôn đức Như Lai, chỉ có đức Phật biết được, chẳng phải cảnh giới của tôi.[[20]]
Trừ ba hạng người nầy, các hữu tình khác đối với pháp thậm thâm, tùy theo chỗ mình nắm lấy mà chấp trước vọng thuyết, chống trái chánh pháp, huân tập chủng tử hủ bại các ngoại đạo. Dầu họ có ở phương khác cũng phải đến đó trừ diệt những kẻ hủ bại ấy. Tất cả nhơn thiên cũng phải cùng nhau xô dẹp họ”.[[21]]
Nói lời ấy xong, Thắng Man phu nhơn và các quyến thuộc đảnh lễ chân Phật.
Đức Phật khen rằng: “Lành thay! Thắng Man ở nơi pháp thậm thâm, phương tiện thủ hộ hàng phục oán địch, khéo có thể thông đạt. Ngươi đã gần gũi muôn ngàn cu chi chư Phật Như Lai, nên có thể nói được nghĩa ấy”.
Bấy giờ đức Thế Tôn phóng quang minh thù thắng chiếu khắp đại chúng, hiện thân lên hư không cao bảy cây đa la, dùng sức thần thông chân bước trên hư không trở về thành Xá Vệ.
Thắng Man phu nhơn và các quyến thuộc chiêm ngưỡng đức Như Lai mắt không tạm rời. Quá tầm mắt rồi, tất cả vui mừng hớn hở cùng nhau thay phiên ca ngợi công đức của Như Lai và đồng nhất tâm niệm Phật,[[22]] trở về thành Vô Đấu khuyên vua Hữu Xưng kiến lập Đại thừa. Nữ nhơn trong thành từ bảy tuổi trở lên, Thắng Man phu nhơn đem Đại thừa giáo hóa. Vua Hữu Xưng cũng đem Đại thừa giáo hóa các nam tử từ bảy tuổi trở lên. Nhơn dân trong nước không ai là chẳng học Đại thừa pháp.
Bấy giờ đức Thế Tôn vào rừng Thệ Đa gọi Tôn giả A Nan và nghĩ đến Thiên Đế. Ứng theo tâm nghĩ của Phật, Thiên Đế Thích cùng quyến thuộc chư Thiên đến chỗ đức Phật.
Đức Thế Tôn bảo Thiên Đế Thích: Nầy Kiều Thi Ca! Ngài nên thọ trì kinh nầy rồi diễn thuyết khai thị cho chư Thiên cõi Đao Lợi để họ được an lạc”.
Đức Thế Tôn lại bảo Tôn giả A Nan: “Ông cũng thọ trì vì hàng tứ chúng mà phân biệt diễn thuyết’’.
Thiên Đế Thích bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Kinh nầy sẽ đặt tên là gì và phụng trì thế nào?”.
Đức Phật dạy: “Nầy Kiều Thi Ca![[23]] Kinh nầy thành tựu vô biên công đức, lực của Thanh Văn và Duyên Giác không đến được, huống là các hữu tình khác. Nên biết rằng kinh nầy là khối đại công đức thậm thâm vi diệu. Nay sẽ vì Ngài mà nói lược tên kinh. Lắng nghe! Lắng nghe! khéo suy nghĩ nhớ lấy!”.
Thiên Đế Thích và Tôn giả A Nan đồng bạch rằng: “Lành thay đức Thế Tôn! Kính vâng thọ giáo”.
Đức Phật dạy:
−Kinh này “tán thán Như Lai chơn thiệt công đức”, phải thọ trì như vậy.
−Kinh nầy nói “mười điều hoằng thệ bất tư nghị”, phải thọ trì như vậy.
−Kinh nầy dùng “Một đại nguyện nhiếp tất cả nguyện”, phải thọ trì như vậy.
−Kinh nầy nói: “Nhiếp Thọ Chánh Pháp bất tư nghị”, phải thọ trì như vậy.
−Kinh nầy nói “Nhập Nhứt thừa”, phải thọ trì như vậy.
−Kinh nầy nói “vô biên tế”, phải thọ trì như vậy.
−Kinh nầy nói “Như Lai tạng”, phải thọ trì như vậy.
−Kinh nầy nói “Phật pháp thân”, phải thọ trì như vậy.
−Kinh nầy nói “không tánh nghĩa che ẩn chơn thiệt”, phải thọ trì như vậy.
−Kinh nầy nói nghĩa “một Thánh Đế”, phải thọ trì như vậy.
−Kinh nầy nói “một sở y thường trụ bất động tịch tĩnh”, phải thọ trì như vậy.
−Kinh nầy nói “điên đảo chơn thiệt”, phải thọ trì như vậy.
−Kinh nầy nói “tự tánh thanh tịnh bổn tâm bị phiền não che ẩn”, phải thọ trì như vậy.
−Kinh nầy nói “chơn Phật tử”, phải thọ trì như vậy.
−Kinh nầy nói “Thắng Man phu nhơn Chánh Sư Tử Hống”, phải thọ trì như vậy.
Lại nầy Kiều Thi Ca! Chỗ nói của kinh nầy dứt tất cả nghi hoặc, quyết định liễu nghĩa nhập vào đạo Nhứt thừa. Nầy Kiều Thi Ca! Nay đem kinh Thắng Man phu nhơn Sư Tử Hống đã được nói đây, giao phó cho Ngài mãi đến thời gian chánh pháp còn. Ngài nên đem diễn thuyết khai thị khắp mười phương”.
Thiên Đế Thích bạch rằng: “Lành thay đức Thế Tôn! Kính vâng thọ giáo”.
Bấy giờ Thiên Đế Thích, Tôn giả A Nan và các chúng trong đại hội, Trời, Người, A Tu La, Càn Thát Bà, v.v... nghe lời Phật dạy đều rất vui mừng tín thọ phụng hành.
PHÁP HỘI THẮNG MAN PHU NHƠN
THỨ BỐN MƯƠI TÁM
─ HẾT ─
---
Phần chú giải
[[1]] −Đoạn Kiến: Ngu phu chấp rằng Ngũ Ấm hoại diệt là hết! ... −Thường Kiến: Có hạng Ngu phu lại chấp rằng, con quạ vĩnh viễn đen, con cò vĩnh viễn trắng!
[[2]] Gọi là Tứ Đảo Tưởng!
[[3]] Chánh Kiến này do Tin mà thành!
[[4]] Những Phật Tử này chưa phải từ “Chơn Trí” sanh!
[[5]] Bốn Trí Nhập Lưu còn gọi là Tứ Sở Y Trí: −Với Nhị Thừa: Y nơi bốn Đế mà nhập vào dòng Niết Bàn, gọi là bốn Trí Nhập Lưu... −Với Nhất Thừa: Tứ sở Y gồm 4 món “Y Pháp bất y Nhân; Y Nghĩa bất y Ngữ; Y Trí bất y Thức; Y kinh Liễu Nghĩa bất y kinh Bất Liễu Nghĩa”!
[[6]] Sanh Tử Y nơi Như Lai Tạng mà Sanh mà Diệt; Chẳng phải Như Lai Tạng có Sanh có Diệt!
[[7]] Như Lai Tạng Tánh chẳng Hữu Vi, chẳng Vô Vi; Siêu quá Ý Thức phân biệt!
[[8]] Thấy rằng có Phược, có Giải không rời Như Lai Tạng nhưng Như Lai Tạng Tánh chẳng Phược, chẳng Giải!
[[9]] Chán Khổ Vui; Cầu Niết Bàn đều Y nơi Như Lai Tạng mà thành lập, nhưng Như Lai Tạng thì chẳng có Pháp Chán Khổ Vui; chẳng có Pháp Cầu Niết Bàn… Những Pháp này chỉ do nơi 6 Thức duyên Cảnh Sở Tri mà hiện!
[[10]] Như Lai Tạng không phải là Cảnh Giới của các thứ Kiến!
[[11]] Như Lai Tạng là chỗ Sở Y của các Pháp Thế Gian và Xuất Thế; Nhưng Tự Tánh của nó rời lìa Thế Gian và Xuất Thế!
[[12]] Như Lai Tạng không Tánh nên rời lìa Thiện, Bất Thiện!
[[13]] Chữ ‘tâm’ ở đây là nói đến ‘Bổn Tâm Thanh Tịnh’, chứ chẳng phải ‘Hư Vọng Tâm’;… Nơi Bổn Tâm Thanh Tịnh các Pháp chẳng thể Nhiễm Ô được… Giống như người nhậm mắt thấy có muôn ngàn Hoa Đốm trong Hư Không… mà kỳ thực, Hư Không chẳng bị Hoa Đốm làm Nhiễm Ô!
[[14]] Như người Giàu ngủ mê, nằm mơ thấy minh nghèo đói; Nghèo đói trong giấc mơ chẳng thể làm người Giàu nghèo đói được… Vì Tự Tánh Thanh Tịnh là Thường, là Thật; Các Pháp Nhiễm Ô thì Vô Thường, Không Thật… Cho nên cái Vô Thường Không Thật chẳng thể làm nhiễm ô cái Thường, cái Thật!
[[15]] đại pháp: Giác Ngộ Nhất thừa.
[[16]] −tăng thượng tín tâm: Tùy Tín Hành… −tùy thuận pháp trí: Tùy Pháp Hành…
[[17]] Năm Pháp Tùy Thuận Pháp Trí (để hiểu được Thanh Tịnh Tự Tâm và Tâm bị Nhiễm Ô): −Quán sát Tâm Thức và Cảnh: Quán sát 3 Duyên hòa hiệp (Căn, Trần, Thức; Thập Bát Giới)… Tịch Diệt Tâm, Pháp, thấy được Bổn Tâm! ... −Quán sát Nghiệp báo: Quán sát hành trạng của Nhân, Duyên, Quả, Báo… Để thấy Nghiệp Quả Phi Hữu, Phi Vô! ... −Quán sát Pháp Nhãn của A La Hán: Quán sát cách Nhị thừa thủ hộ Tịnh Trí… Để thực chứng các Pháp Không Tánh! ... −Quán sát Tâm Tự Tại ưa thích Thiền Duyệt: Quán sát hành tướng xuất ly 3 cõi… Để hết Điên Đảo! ... −Quán sát thánh thần thông biến của Nhị thừa: Quán sát chỗ thông, bít của Sáu Căn… Để các Căn Viên Thông, hết Ngăn Ngại!
[[18]] Người thành tựu thậm thâm Pháp Trí: Hạng Liễu Ngộ!
[[19]] Người tùy thuận Pháp Trí: Y theo Pháp mà tu hành!
[[20]] Tín Tâm không lay chuyển!
[[21]] Điều đại kỵ trong Phật Đạo đó là: Chưa thấu suốt mà dạy người… Rắn độc hại người chỉ giết chết một đời; Dạy sai Phật Pháp giết chết Trí Tuệ (Huệ Mạng) người trong Vô Lượng đời!
[[22]] niệm Phật: −Niệm Phật: Một lòng nhớ nghĩ Công Đức, Trí Tuệ và Lời Dạy của Phật... −Niệm Pháp: Một lòng thực hành lời dạy của Phật cho đến thành tựu… −Niệm Tăng: Người thành tựu hai Niệm trên gọi là Đệ Nhất Nghĩa Tăng… Đây là ý nghĩa của Quy Y Phật Bảo gồm đủ Ba Bảo!
[[23]] Kiều Thi Ca : Là Thiên Đế Thích.
Kinh Thắng Man - Phần 3

−Bạch đức Thế Tôn! Trí chẳng thọ thân sau ấy có hai thứ:
Một là,chư Phật Như Lai dùng sức điều ngự, xô dẹp bốn ma,[[1]] siêu việt các thế gian, được các loài hữu tình chiêm ngưỡng, chứng pháp thân thanh tịnh chẳng nghĩ bàn, nơi bực sở tri được pháp Tự tại Tối thắng Vô thượng, không còn phải làm, chẳng thấy còn có bực nào phải được chứng nữa, đầy đủ mười trí lực lên bực tối thắng vô úy, nơi tất cả pháp Quan Sát Vô Ngại, Chánh Sư Tử Hống, chẳng thọ thân sau.
Hai là, A La Hán và Bích Chi Phật được khỏi vô lượng sanh tử bố úy, tho vui giải thoát, tự nghĩ rằng: Nay ta rời lìa sanh tử bố úy chẳng thọ sự khổ.
− Bạch đức Thế Tôn! Hàng Nhị thừa quan sát như vậy rồi chẳng thọ thân sau, họ chẳng chứng được Niết bàn Tịch diệt Đệ nhứt. Vì họ ở nơi các bực chưa chứng, chẳng gặp được pháp tối thượng để có thể hiểu biết rằng, nay ta đã chứng được bực Hữu Dư Y, quyết định (vị lai) sẽ chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh Giác.
Tại sao? Vì Hàng Nhị thừa đều phải nhập vào Đại thừa, mà Đại thừa là Phật thừa, thế nên Tam thừa tức là Nhứt thừa. Người chứng Nhứt thừa thì được Vô thượng Bồ đề. Vô thượng Bồ đề tức là Niết bàn.[[2]]
Nói Niết bàn đây tức là Pháp thân thanh tịnh của Như Lai. Người chứng Pháp thân tức là Nhứt thừa không có Như Lai khác, không có Pháp thân khác.[[3]]
Nói Như Lai tức là Pháp thân. Người chứng Pháp thân, cứu cánh là cứu cánh Nhứt thừa. Người cứu cánh Nhứt thừa tức là rời lìa tương tục. [[4]] Tại sao?
−Bạch đức Thế Tôn! Vì Như Lai thường trụ không có hạn lượng bằng với hậu tế! Như Lai hay dùng đại bi vô hạn, thệ nguyện vô hạn đem lợi ích lại cho các thế gian. Người nói như trên đây thì gọi là lời nói phải. Nếu lại nói rằng Như Lai là thường, là pháp vô tận, chỗ y tựa cứu cánh của tất cả thế gian, thì cũng gọi là lời nói phải. Vì thế nên Như Lai ở nơi thế gian, làm chỗ quy y vô tận, chỗ quy y thường trụ, chỗ quy y cứu cánh mãi đến hậu tế.[[5]]
Nói rằng pháp Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác ấy là đạo Nhứt thừa. Tăng đó là chúng Tam thừa,[[6]] hai chỗ quy y nầy chẳng phải là cứu cánh quy y mà tạm gọi là thiểu phần quy y. Tại sao? Vì nói đạo Nhứt thừa, chứng pháp thân cứu cánh rồi sau đó không còn nói đạo Nhứt thừa. Chúng Tam thừa vì có khủng bố nên quy y Như Lai cầu xuất gia tu học, vì có sở tác, vì hướng đến Vô thượng Bồ đề. Thế nên Pháp và Tăng chẳng phải chỗ quy y cứu cánh, là chỗ quy y hữu hạn.
Nếu các hữu tình được Như Lai điều phục quy y nơi Như Lai; Được pháp thấm nhuần do lòng tin ưa mà quy y nơi Pháp và Tỳ Kheo Tăng. Hai sự quy y nầy do pháp thấm nhuần mà tín nhập quy y. Như Lai ấy chẳng phải pháp thấm nhuần tín nhập quy y. Nói Như Lai ấy là chơn thiệt quy y. Hai sự quy y kia cứ nơi nghĩa chơn thiệt thì gọi là cứu cánh quy y Như Lai. Tại sao? Vì Như Lai chẳng khác với hai sự quy y ấy, thế nên Như Lai tức là tam quy y.[[7]] Tại sao? Vì nói đạo Nhứt thừa, Như Lai Tối thắng, đủ Tứ Sở Úy, Chánh Sư Tử Hống. Nếu chư Như Lai tùy theo sở dục của người mà dùng phương tiện nói pháp Nhị thừa tức là Đại thừa. Bởi đệ nhứt nghĩa không có Nhị thừa. Nhị thừa ấy đồng vào Nhứt thừa. Nhứt thừa ấy tức là Thắng nghĩa thừa.[[8]]
−Bạch đức Thế Tôn! Hàng Thanh Văn và Duyên Giác lúc mới đầu chứng Thánh đế, chẳng phải dùng Nhứt trí mà dứt các trụ địa phiền não, cũng chẳng phải dùng Nhứt trí chứng các công đức như Tứ biến tri v.v... cũng chẳng phải dùng pháp hay khéo biết rõ nghĩa bốn pháp này.[[9]]
−Bạch đức Thế Tôn! Nơi trí xuất thế không có bốn trí tuần tự đến, tuần tự duyên. Trí xuất thế không có pháp lần lượt đến, như Kim cang dụ. [[10]]
−Bạch đức Thế Tôn! Hàng Nhị thừa dùng các thứ trí Thánh đế để dứt các trụ địa, họ (chẳng) thấy có trí xuất thế đệ nhứt nghĩa.[[11]] Chỉ có đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Đẳng Chánh Giác dùng trí bất tư nghị không tánh, phá được vỏ của các phiền não.[[12]] Trí phá vỏ phiền não cứu cánh ấy gọi là trí xuất thế đệ nhứt nghĩa, chẳng phải cảnh giới của hàng Thanh Văn và Duyên Giác Trí Thánh. Đây là Trí Đế Sơ Khởi, chẳng phải trí cứu cánh, mà chỉ là trí hướng đến Vô Thượng Bồ Đề.
−Bạch đức Thế Tôn! Chơn Thánh đế nghĩa ấy thì chẳng phải thuộc về Nhị thừa. Tại sao? Vì hàng Thanh Văn và Duyên Giác chỉ thành tựu được chút phần công đức mà gọi là Thánh. Nói rằng Thánh đế ấy, chẳng phải là đế của hàng Thanh Văn, Duyên Giác và công đức của họ. Mà Thánh đế nầy, chỉ có đức Như Lai biết rõ, rồi đem diễn nói, khai thị cho thế gian chúng sanh bị nhốt trong vỏ vô minh, do đây mà gọi là Thánh đế.[[13]]
−Bạch đức Thế Tôn! Thánh đế nầy rất sâu, rất vi diệu khó thấy khó rõ, chẳng thể phân biệt, chẳng phải cảnh giới suy lường, tất cả thế gian chẳng tin hiểu được, chỉ có đức Như Lai là biết rõ. Tại sao? Vì Thánh đế nầy nói về Như Lai tạng thậm thâm, mà Như Lai tạng là cảnh giới Phật, chẳng phải cảnh giới của hàng Thanh Văn, Duyên Giác. Cứ nơi Như Lai tạng mà nói Thánh đế nghĩa, Như Lai tạng nầy rất sâu vi diệu, Thánh đế được nói ra ấy cũng rất sâu vi diệu. Khó thấy, khó rõ, chẳng thể phân biệt, chẳng phải cảnh tư lường, tất cả thế gian khó tin hiểu, chỉ có đức Như Lai biết rõ. Nếu ở nơi Như Lai tạng bị phiền trược bởi vô lượng phiền não mà chẳng nghi hoặc, thì đối với Như Lai pháp thân tạng ra khỏi tất cả phiền não cũng không nghi hoặc.
−Bạch đức Thế Tôn! Nếu có ai ở trong tạng Như Lai nầy và ở nơi Phật pháp thân cảnh giới bí mật bất tư nghị của Phật mà tâm được cứu cánh, thì đối với hai nghĩa Thánh đế đã nói kia, hay tin hay rõ, hay sanh thắng giải.[[14]] Những gì là hai nghĩa Thánh đế? Đó là hữu tác Thánh đế và vô tác Thánh đế. Hữu tác Thánh đế là nghĩa tứ Thánh đế chẳng viên mãn. Tại sao? Vì y hộ nơi tha[[15]] mà chẳng biết được tất cả khổ, chẳng dứt tất cả tập, chẳng chứng tất cả diệt, chẳng tu tất cả đạo. Do đó nên chẳng biết Hữu vi và Niết bàn. Vô tác Thánh đế là nói nghĩa tứ Thánh đế viên mãn. Tại sao? Vì tự y hộ[[16]] nên biết tất cả khổ, dứt tất cả tập, chứng tất cả diệt, tu tất cả đạo. Tám nghĩa Thánh đế đã nói như vậy,[[17]] đức Như Lai chỉ đem tứ Thánh đế ra nói. Nói nghĩa vô tác, tu Thánh Đế nầy, chỉ có đức Như Lai là hoàn thành cứu cánh, chẳng phải sức lực của A La Hán và Bích Chi Phật đến được. Tại sao? Vì chẳng phải các pháp thắng liệt hạ, trung, thượng mà có thể chứng được Niết bàn. Thế nào là đức Như Lai đối với vô tác Thánh đế được hoàn thành cứu cánh? Chư Như Lai biết khắp tất cả khổ, dứt hẳn khổ tập bị nhiếp bởi tất cả phiền não và khởi phiền não, chứng được khổ diệt, sở hữu của tất cả khối ý sanh thân và tu tất cả đạo khổ diệt.
−Bạch đức Thế Tôn! Chẳng phải hoại mất pháp mà gọi là khổ diệt. Nói khổ diệt là: vô thỉ, vô tác, vô khởi, vô tận, thường trụ, bất động, bổn tánh thanh tịnh, ra khỏi vỏ phiền não.[[18]]
−Bạch đức Thế Tôn! Chư Phật Như Lai thành tựu quá số Hằng sa pháp bất tư nghị, đủ trí giải thoát gọi là Pháp thân. Pháp thân nầy chẳng rời lìa phiền não thì gọi là Như Lai tạng. Như Lai tạng đây là trí Như Lai không tánh, tất cả hàng Thanh Văn và Duyên Giác chưa hề thấy, chưa hề được; Chỉ có Phật thấy biết rõ và chứng được.[[19]]
−Bạch đức Thế Tôn! Trí không tánh Như Lai tạng nầy lại có hai thứ, đó là: Không và Bất không Như Lai tạng.
Không Như Lai tạng: Là Như Lai tạng rời lìa nơi trí, chẳng giải thoát tất cả phiền não.
Bất không Như Lai tạng: Là Như Lai tạng có đủ quá số Hằng sa pháp bất tư nghị trí Phật giải thoát.[[20]]
−Bạch đức Thế Tôn! Hai thứ không trí nầy, các Đại Thanh Văn do tin mà được vào.[[21]] Trí không tánh của tất cả hàng Thanh Văn và Duyên Giác, đối với cảnh ‘tứ điên đảo’ luôn phan duyên mà chuyển hiện.[[22]] Do đó nên đối với tất cả khổ diệt ấy, tất cả hàng Nhị thừa chưa hề thấy, chưa hề chứng, chỉ có Phật hiện chứng, đoạn hoại các phiền não, tu tất cả đạo khổ diệt.[[23]]
−Bạch đức Thế Tôn! Trong bốn Thánh đế, ba vô thường, một thường trụ. Vì ba đế vào trong tướng Hữu vi, tướng Hữu vi là vô thường. Nói rằng vô thường ấy là pháp phá hoại, pháp phá hoại thì chẳng phải đế, chẳng phải thường, chẳng phải chỗ quy y. Do đệ nhứt nghĩa nên ba đế ấy chẳng phải đế, chẳng phải thường, chẳng phải chỗ quy y.
−Bạch đức Thế Tôn! Một đế khổ diệt rời lìa tướng Hữu vi, lìa tướng Hữu vi thì tánh thường trụ, tánh thường trụ chẳng phải pháp phá hoại, chẳng phải pháp phá hoại thì là đế, là thường, là chỗ quy y. Do thắng nghĩa nên Khổ diệt đế là đế, là thường, là chỗ quy y.[[24]]
Khổ diệt đế [[25]] nầy là bất tư nghị, quá cảnh giới tâm thức
của hữu tình, cũng chẳng phải vị trí của hàng Thanh Văn và Duyên Giác kịp được.
Ví như người sanh manh, chẳng thấy được các màu sắc, trẻ sơ sanh bảy ngày chẳng thấy mặt trời. Cũng vậy; Khổ diệt đế chẳng phải cảnh duyên của tâm thức hàng phàm phu, mà cũng chẳng phải cảnh giới của hàng Thanh Văn và Duyên Giác.[[26]] Tâm thức hàng phàm phu là hai biên kiến. Trí của hàng Thanh Văn Duyên Giác thì gọi là tịnh trí. [[27]] Nói rằng biên kiến đó là đối với ngũ thủ uẩn chấp nắm làm ngã rồi sanh ra phân biệt sai khác, đó là hai thứ kiến chấp: Thường kiến và Đoạn kiến.
---
Phần chú giải
[[1]] Bốn Ma: Tử Ma; Ngũ Ấm Ma; Thiên Ma và Phiền Não Ma. Chư Như Lai rốt ráo xô dẹp bốn Ma: −Thành tựu Phật Pháp Thân: Dứt diệt Tử Ma… Đây là Thân thường trụ, rốt sau của chư Như Lai, rốt ráo không còn Sanh Tử! ... −Viên mãn Phật Tánh: Dứt Ngũ Ấm Ma… Vì Ngũ Ấm của chư Như Lai chính là Phật Tánh! ... −Thành tựu Phật Nhãn: Dứt diệt Thiên Ma… Vì thấy hết thảy cảnh giới đều là Phật Cảnh! ... −Thành tựu Phật Pháp: Dứt sạch Phiền Não Ma… Vì Phật Pháp từ Phiền Não mà có!
[[2]] Chỗ chứng rốt ráo của Tam thừa đồng Vô Sanh Pháp Nhẫn cùng Bất Động Địa Bồ Tát, ý vị Thanh Lương chẳng khác Đại Thừa… Giống như người liếm mép đĩa mật, vị ngọt chẳng khác vị ngọt của nguyên đĩa (Niết Bàn Đồng Nhất Vị). Chỉ sai khác ít, nhiều, sâu, cạn… Vì thế, Kinh nói “Nhị Thừa nhập vào Đại Thừa”… Nhị thừa giống như hai con sông chảy về cửa biển Nhất thừa, cửa biển Nhất Thừa hòa vào Đại Hải, cho nên Tam thừa gọi là Nhất thừa!
[[3]] Niết Bàn; Pháp Thân; Người Chứng đồng nhất thể… Nhất thể này là cảnh giới tự chứng, chẳng do từ nơi khác mà chứng!
[[4]] “cứu cánh Nhứt thừa” còn gọi là “tất cánh”, là quả của các quả… Vì thế không còn tương tục (Pháp Thân hay Như Lai Thân là thân rốt sau)!
[[5]] Như Lai Thường Trụ nên là chỗ Quy Y Thường Trụ!
[[6]] chúng Tam thừa: Chúng Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát Quyền thừa.
[[7]] Luận về Quy Y có hai:
−Nhất thừa Quy Y Phật vì cầu chứng Cứu Cánh Tối Thượng nên gọi Tam Quy đầy đủ… Bởi lẽ, nơi Phật có đủ Pháp và Tăng! ... −Nhị thừa sợ Sanh Tử, cầu Niết Bàn nên chỉ Quy Y Pháp và Tăng… Vì thế, chẳng phải chỗ Quy Y cứu cánh!
[[8]] Thắng nghĩa thừa: Nơi Nhất thừa, Như Lai Hóa Hiện ra Pháp Nhị thừa, sự Hóa Hiện này là Thắng nghĩa!
[[9]] −Nhị thừa dùng tứ trí, tuần tự chứng các Đế của 4 Đế, vì thế, chẳng phải Nhứt Trí! −Nhất thừa, thấy thiệt tướng của 4 Đế bình đẳng, không tánh nên chỉ dùng Nhứt trí mà chứng 4 Đế này!
[[10]] Trí xuất thế: Như gương sáng đốn soi các sắc tượng, không tuần tự trải qua các duyên; Kim Cang dụ: Dụ như Kim Cưong (Trí) hay phá tan vật chất (Phiền Não)!
[[11]] Nhị thừa tiệm tu bốn Pháp Tứ Đế, thành tựu viên mãn dứt các phiền não Trụ Địa gọi là “Thánh Đế”… Giống như trái Xoài từ từ chín đến chín hẳn, gọi là trái “Xoài chín”!
[[12]] Vỏ của các phiền não: Gồm Vô Minh Trụ Địa và Phiền não Trụ Địa;
−Vô Minh Trụ Địa (thuộc Trí) chia làm ba phần: •Nhuận Chi Vô Minh: Năm căn mê mờ khi xúc đối năm trần cảnh… •Căn Bản Vô Minh: Ý Mê mờ khi sinh các Pháp… •Vô Minh Trụ Địa: Gồm Sở Tri Chướng và Ngu nơi Xuất Thế Pháp.
−Phiền Não Trụ Địa (thuộc Tâm) gồm 4 món: •Kiến Nhứt Thiết Xứ Phiền Não Trụ Địa: Điên đảo nơi thấy nghe mà sanh phiền não… •Dục Ái Phiền Não Trụ Địa: Tham ưa 5 Trần mà sinh phiên não… •Sắc Ái Phiền Não Trụ Địa: Tham ưa Thân và các Cảm Thọ mà sinh phiên não… •Vô Minh Ái Phiền Não Trụ Địa: Tham ưa các Pháp và Tưởng không dứt mà sinh phiên não…
Nhị thừa tiệm tu, dùng Hữu Tác Tứ Đế Thánh Trí tiêu trừ Tứ Trụ Địa Phiền Não mà chẳng đoạn được Vô Minh Trụ Địa… Gọi là “Trí Đế Sơ Khởi”!
Nhất thừa (Bát Địa, Cửu Địa, Thập Địa): Tuần tự dùng Nhất Thiết Trí, tùy theo chỗ cạn, sâu; Phá Vô Minh Trụ Địa cho đến cuối Tối Hậu Thân mới sạch (Nhuận Chi Vô Minh và Căn Bản Vô Minh được phá khi vừa Giác Ngộ), gọi là “Trí Nhất Thiết Xuất Thế”!
Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác, dùng Kim Cang Trí Đẳng Chánh Giác phá vỡ vỏ Vô Minh Trụ Địa ngay khi vừa chứng, gọi là “Trí Xuất Thế Đệ Nhất”!
[[13]] Cùng là Một Thánh Đế nhưng có 2 tầng cạn, sâu khác nhau:
−Thánh Đế của Nhị Thừa: Do Như Lai Quyền Phương Tiện Thiện Xảo Hóa Hiện để khiến Họ vào Hữu Dư Niết Bàn…
−Thánh Đế của Như Lai: Chỉ Cảnh Giới chơn thiệt, rốt ráo của Đại Niết Bàn!
[[14]] Khi Mê, Như Lai Tàng là Tàng Thức… Hết Mê, Như Lai Tàng là Như Lai Tàng Tâm… Giác Ngộ rốt ráo, Như Lai Tàng là “Như Lai Tạng Pháp Thân Vi Mật Bất Khả Tư Nghì”!
[[15]] Y hộ nơi tha: Y nơi người khác mà biết (Hữu Sư Trí)!
[[16]] Tự y hộ: Tự Giác Ngộ, chẳng do nơi người khác mà biết (Vô Sư Trí)!
[[17]] Tám nghĩa Thánh đế: Gồm 4 Thánh Đế Hữu Tác Trí và 4 Thánh Đế Vô Tác Trí.
[[18]] Vô tác Tứ Đế Trí, thấy được Tự tánh của Khổ là Không Tánh… Vì thế, chẳng có Tánh Khổ để diệt, gọi là “vô thỉ, vô tác, vô khởi, vô tận, thường, trụ, bất động, bổn tánh thanh tịnh, ra khỏi vỏ phiền não”!
[[19]] Như Lai Tạng không tánh nên phiền não cũng không tánh… Vì thế, Như Lai Tạng (Pháp Thân) chẳng rời phiền não mà phiền não chẳng thể đến được!
[[20]] Không; Bất Không Như Lai Tạng: Nơi Chơn Trí của Như Lai, phiền não không chung cùng nên gọi là Không; Chứ chẳng phải không có các pháp lành nên gọi là Bất Không!
[[21]] Trí Không Tánh Không, Bất Không Như Lai Tạng, các Đại Thanh Văn như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên… Cũng chỉ Tin mà được vào (Tùy Tín Hành) chứ chẳng phải Thấu Suốt mà được vào (Tùy Pháp Hành)!
[[22]] Nhị thừa chẳng biết thật nghĩa Trí Không Tánh Không, Bất Không Như Lai Tạng… Nên Y theo Tứ Điên Đảo mà chuyển hiện… Vì thế, Trí Không Tánh của Nhị thừa chẳng phải thật nghĩa Trí Không Tánh!
⁕Tứ Điên Đảo gồm: Vô Thường tưởng Thường; Vô Ngã tưởng Ngã; Khổ tưởng Lạc; Bất Tịnh tưởng Tịnh… chính các cặp Pháp đối đãi Điên Đảo này khiến Nhị thừa bỏ Khổ cầu Vui, bỏ Bất Tịnh cầu Tịnh… Mà tạm được Trí Không Tánh… Cho nên mới nói Trí Không Tánh của Nhị Thừa chẳng phải Chân Thật Nghĩa!
[[23]] Chỉ có Trí Không Tánh Như Lai Tạng của Như Lai, mới thấy rõ Thật Tướng của các Khổ, cho nên Phiền não Khổ chẳng chung cùng Như Lai Tàng Tâm, nơi chẳng chung cùng này gọi là rốt ráo “đoạn hoại các phiền não, tu tất cả đạo khổ diệt”… Nhị thừa chẳng thể thấy, chẳng thể hiểu được!
[[24]] Quy Y Nhất Đế!
[[25]] Xét tột lý của Bốn Đế, tùy vào địa vị, tùy vào nhãn lực của người tu hành trong Phật Đạo… Ta thấy, có đến bốn thứ lớp sai biệt: ... −Phàm phu vô văn nơi 4 Tục Đế, với Nhục nhãn và Thiền nhãn: Thấy Khổ, Tập, Diệt, Đạo đều là tướng Hữu Vi, là Pháp phá hoại, là 4 món Vô Thường vì chẳng biết nghĩa Đế… Vì chẳng biết nghĩa Đế, nên Kinh nói “Phàm phu có Khổ, có Tập mà không có Đế”! ... −A La Hán, Bích Chi Phật, Bát Địa chứng Diệt Đế Vô Vi gọi là Tứ Thánh Đế, với Pháp nhãn: Thấy 4 Đế có 3 Đế Vô Thường và 1 Đế là Thường… Tức Khổ, Tập, Đạo thuộc tướng Hữu Vi, chỉ có Diệt Đế là Vô Vi… Vì bởi, các quả vị này y nơi Hữu tác Thánh Đế mà thành tựu, nên lầm tưởng Đạo Đế là Hữu Vi, cho rằng chỗ Diệt do tu Đạo mà thành, mà không biết rằng Đạo Đế cũng là Vô Vi, vì Đạo Đế ấy là Đạo Xuất Thế, thành tựu Đạo Đế chính là thành tựu Nhất Thiết Trí! ... −Cửu Địa đến Thập Địa, thành tựu rốt ráo Đạo Đế, trong Tứ Chân Đế, với Huệ nhãn: Thấy thiệt tướng của 4 Đế là Không Đế, Vô Vi, Vô Tác, chẳng thể phá hoại, nên cho rằng 4 Đế tự Không “Vô Khổ, Tập, Diệt, Đạo”, vì rốt ráo Không nên 4 Đế là Thường! ... −Chư Như Lai với Phật Nhãn: Như Thật biết rằng 4 Đế chẳng phải Hữu Vi chẳng phải Vô Vi, chẳng phải Thường chẳng phải Vô Thường… Vì Phật Pháp Bốn Đế là do Hóa Phật tuyên thuyết, để giúp Hữu tình tiến về Vô Thượng quả, chứ chẳng phải là Thiệt nghĩa của Pháp Thân Như Lai Tàng Chơn Thiệt; ... Pháp Thân Như Lai Tàng Chơn Thiệt không do Pháp gì làm thành!
[[26]] hàng Thanh Văn, Duyên Giác ở đây là nói về Bảy Học Nhơn; Chẳng phải là A La Hán và Bích Chi Phật!
[[27]] Gọi là Tịnh Trí: Vì đã rời lìa 2 Kiến Chấp (Thường, Đoạn) của Phàm phu và Ngoại Đạo!
Kinh Thắng Man - Phần 2

Đức Thế Tôn nghe Thắng Man phu nhơn nói về Nhiếp Thọ Chánh Pháp có đại oai lực thì khen rằng: “Đúng như vậy, đúng như vậy, lành thay! Nầy Thắng Man đúng như lời ngươi nói, Nhiếp Thọ Chánh Pháp có oai lực lớn.
Như đại lực sĩ khẽ chạm, chà bóp ai, thì người ấy đau đớn khổ lắm, còn thêm bệnh nặng. Cũng vậy, chỉ cần một phần nhỏ ‘Nhiếp Thọ Chánh Pháp’, cũng làm cho ma Ba Tuần[[1]] đau đớn sầu não, khóc rên, than thở.
Nầy Thắng Man! Ta thường chẳng thấy một thiện pháp nào làm cho ma Ba Tuần sầu não bằng Nhiếp Thọ Chánh Pháp một ít phần.
Nầy Thắng Man! Ví như Ngưu vương hình sắc đoan chánh, thân lượng đặc biệt, lạ hơn hẳn các loài ngưu khác. Cũng vậy, người tu Đại thừa nếu thành tựu ít phần Nhiếp Thọ Chánh Pháp thì hơn hẳn tất cả pháp lành của hàng Thanh Văn, Duyên Giác.
Lại như núi Tu Di cao rộng trang nghiêm xinh đẹp hơn các núi khác, cũng vậy, người mới đến Đại thừa dùng lòng lợi ích chẳng tiếc thân mạng mà Nhiếp Thọ Chánh Pháp, thì có thể vượt hơn tất cả thiện căn của người ở lâu nơi Đại thừa mà tiếc thân mạng.
Nầy Thắng Man! Thế nên phải dùng Nhiếp Thọ Chánh Pháp mà khai hóa tất cả hữu tình. Nhiếp Thọ Chánh Pháp được phước lợi lớn và đại quả báo.
Nầy Thắng Man! Trong vô số a tăng kỳ kiếp, Ta ca ngợi Nhiếp Thọ Chánh Pháp như vậy, được công đức vô lượng vô biên. Nhiếp Thọ Chánh Pháp thì thành tựu vô lượng công đức như vậy.”
Đức Phật bảo Thắng Man phu nhơn: “Nay ngươi lại nên diễn tả Nhiếp Thọ Chánh Pháp đã được Ta nói mà tất cả chư Phật đồng ưa thích”.
−Thắng Man phu nhơn bạch rằng: “Lành thay, bạch đức Thế Tôn! Nhiếp Thọ Chánh Pháp thì gọi là Đại Thừa. Tại sao? Vì Đại thừa xuất sanh bao nhiêu pháp lành của tất cả Thanh Văn, Duyên giác thế gian và xuất thế gian. [[2]]
Như ao A Nậu Đạt phát xuất tám sông lớn. Cũng vậy, Đại thừa xuất sanh bao nhiêu pháp lành của tất cả Thanh Văn, Duyên Giác. Lại như tất cả cây cỏ lùm rừng đều nương đại địa mà được sanh trưởng. Cũng vậy, tất cả pháp lành của Thanh Văn, Duyên Giác đều nương Đại thừa mà được sanh trưởng. Vì thế nên an trụ Đại thừa, nhiếp thọ Đại thừa, tức là trụ và nhiếp bao nhiêu pháp lành của tất cả Thanh Văn, Duyên Giác thế gian và xuất thế gian.
Như đức Phật Thế Tôn đã nói sáu xứ, đó là: Chánh pháp trụ; Chánh pháp diệt; Biệt giải thoát; Tỳ nại gia; Chánh xuất gia; Thọ cụ túc.[[3]]
Vì Đại thừa mà đức Phật nói sáu xứ ấy. Tại sao? Vì chánh pháp trụ là vì Đại thừa mà nói. Đại thừa trụ thì chánh pháp trụ. Chánh pháp diệt là vì Đại thừa mà nói. Đại thừa diệt thì chánh pháp diệt.[[4]] Biệt giải thoát và Tỳ Nại gia, hai pháp nầy tên khác mà nghĩa một. Tỳ nại gia là Đại thừa; Tại sao? vì Phật mà xuất gia, mà thọ cụ túc, thế nên khối giới Đại thừa là Tỳ nại gia, là chánh xuất gia, là thọ cụ túc.
Bạch Thế Tôn! A La Hán không có xuất gia không thọ cụ túc. Tại sao? Vì A La Hán chẳng vì Như Lai mà xuất gia thọ cụ túc, A La Hán có ý tưởng bố úy mà quy y Như Lai; Tại sao? Vì đối với tất cả hành, A La Hán có tưởng bố úy, coi như người cầm kiếm muốn đến hại mình, do vậy nên A La Hán chẳng chứng được giải thoát an lạc cứu cánh. [[5]]
Bạch đức Thế Tôn! Quy y nơi chẳng cầu quy y, như các chúng sanh không chỗ quy y, chúng nó sợ hãi nên tìm nơi quy y để được an ổn. Cũng vậy, vì có bố úy mà A La Hán quy y nơi Như Lai. [[6]]
Vì thế nên hàng A La Hán, Bích Chi Phật còn có sanh pháp,[[7]] chưa lập phạm hạnh, chỗ làm chưa xong, sẽ còn có chỗ dứt diệt vì chưa cứu cánh vậy. Họ còn cách xa Niết bàn. Tại sao? Vì chỉ có Như Lai Ứng Cúng, Chánh Đẳng Chánh Giác chứng được Niết Bàn, thành tựu vô lượng vô biên công đức chẳng thể nghĩ bàn, chỗ đáng dứt đã dứt hết, cứu cánh thanh tịnh, được các loài hữu tình chiêm ngưỡng, vượt quá cảnh giới của Nhị thừa và Bồ Tát (Quyền thừa).
Còn hàng A La Hán thì chẳng phải như vậy. “Nói rằng A La Hán được Niết bàn đó, chỉ là phương tiện của Phật thôi. Thế nên, A La Hán cách Niết bàn rất xa”.
Đức Thế Tôn nói A La Hán và Bích Chi Phật quán sát giải thoát bốn trí cứu cánh được rồi; Song, đó đều là lời tùy tha ý và thuyết bất liễu nghĩa của Như Lai.[[8]]
Tại sao vậy? Có hai thứ sanh tử: Một là “Phần đoạn sanh tử”, hai là “Bất tư nghị biến dịch sanh tử”. Phần đoạn sanh tử là hữu tình tương tục, biến dịch sanh tử là A La Hán và Bích Chi Phật cùng bực Tự Tại Bồ Tát được ý sanh thân nhẫn đến Bồ Đề.[[9]]
Trong hai thứ tử ấy, phần đoạn tử nói về A La Hán và Bích Chi Phật là y nơi ngã sanh đã hết. Vì đã chứng được quả Hữu Dư Y, nên tạm gọi là phạm hạnh đã lập. Vì tất cả ngu phu [[10]] chẳng làm được, bảy hàng học nhơn chưa làm xong.[[11]] Nhị thừa tương tục phiền não đã dứt rốt ráo, nên mới nói việc làm đã xong.
−Bạch đức Thế Tôn! Nói rằng sanh chẳng thọ lấy thân sau, người trí bảo là Nhị thừa chẳng dứt được tất cả phiền não, trí họ chẳng biết rõ tất cả thọ sanh. Tại sao? Vì Nhị thừa còn thừa phiền não, chẳng dứt hết nên chẳng biết rõ được tất cả thọ sanh vậy.
Phiền não có hai loại, đó là: ‘Trụ địa phiền não’ và ‘Khởi phiền não’.
Trụ địa phiền não có bốn thứ,[[12]] đó là:
−Kiến Nhứt Thiết Xứ trụ địa phiền não;
−Dục Ái trụ địa phiền não;
−Sắc Ái trụ địa phiền não[[13]] và
−Vô Minh Ái trụ địa phiền não.
Bạch đức Thế Tôn! Bốn thứ trụ địa ấy hay sanh tất cả biến khởi phiền não. Khởi phiền não ấy, niệm niệm cùng tương ưng với tâm.[[14]]
−Bạch đức Thế Tôn! Vô Minh Trụ Địa từ vô thỉ đến nay chẳng tương ưng với tâm.[[15]]
−Bạch đức Thế Tôn! Sức lực của bốn trụ địa phiền não làm sở y cho biến khởi phiền não, sánh với Vô Minh Trụ Địa thì toán số thí dụ chẳng bằng được.
Đúng vậy, đối với Vô Minh Ái Trụ Địa phiền não thì sức lực của Vô Minh Trụ Địa rất lớn.
Ví như Ma Vương và chúng quyến thuộc sắc lực oai đức hơn hẳn bốn trụ địa, hơn hẳn chư thiên Tha Hóa Tự Tại. Cũng vậy, Vô Minh Trụ Địa hơn hẳn bốn trụ địa gấp Hằng sa số lần, nó làm sở y cho phiền não và cũng làm cho ‘bốn thứ phiền não’ còn mãi [[16]].
Trí của Nhị thừa chẳng dứt được Vô Minh Trụ Địa, chỉ có trí của Như Lai là dứt hết được nó.
−Bạch đức Thế Tôn! Đúng vậy, đúng vậy! Sức lực của Vô Minh Trụ Địa rất lớn. Như ‘thủ’ chi [[17]] làm duyên hữu lậu, đây là nghiệp nhân để sanh ra ba cõi (Dục, Sắc và Vô Sắc). Cũng vậy, Vô Minh Trụ Địa làm duyên vô lậu, đây là nghiệp nhân hay sanh Nhị thừa và Đại Lực Bồ Tát tùy ý sanh thân. Tất cả vô lậu nghiệp đều lấy Vô Minh Trụ Địa làm chỗ sở y, dầu là ‘sở duyên’ mà cũng hay làm ‘duyên’. Thế nên, tùy ý sanh thân và Vô Lậu nghiệp đều dùng Vô Minh Trụ Địa làm duyên (để tịch diệt) đồng như Vô Minh Ái trụ địa phiền não.[[18]]
−Bạch đức Thế Tôn! Vô Minh Ái trụ địa chẳng đồng nghiệp với Vô Minh Trụ Địa.[[19]] Vô Minh Trụ Địa khác bốn trụ địa. Khác bốn trụ địa đây chỉ có Phật dứt được hết.
Tại sao? Vì Nhị thừa dứt bốn trụ địa mà đối với lậu tận lực chẳng được tự tại, chẳng hiện chứng được.[[20]] Thế nên Nhị thừa nhẫn đến chư Bồ Tát tối hậu thân, vì còn Vô Minh Trụ Địa che lấp, nên ở nơi các pháp của chư Phật, chẳng biết, chẳng thấy. Nên chỗ đáng dứt chẳng dứt, chỗ đáng hết chẳng hết. Vì ở nơi các pháp ấy chẳng dứt chẳng hết, nên chỉ được Hữu Dư Giải thoát (Hữu Dư Trí), mà chẳng phải Nhứt Thiết Giải Thoát (Nhứt Thiết Trí), được Hữu Dưu Thanh Tịnh mà chẳng phải Nhứt Thiết
Thanh Tịnh, được Hữu Dư Công Đức mà chẳng phải Nhứt Thiết Công Đức.[[21]]
−Bạch đức Thế Tôn! Vì được Hữu Dư nên ở nơi Thánh đế, các bực ấy biết khổ Hữu Dư, dứt Tập Hữu Dư, chứng Diệt Hữu Dư và tu Đạo Hữu Dư.
Nếu còn biết Hữu Dư Khổ dứt, Hữu Dư Tập chứng, Hữu Dư Diệt diệt và tu Hữu Dư Đạo, thành tựu này chỉ có được chút phần diệt độ chúng (4 đế Hữu Dư), chút phần Niết Bàn giới.[[22]]
Nếu biết tất cả Khổ dứt, tất cả Tập chứng, tất cả Diệt diệt và tu tất cả Đạo, bực nầy ở nơi thế gian vô thường bại hoại, chứng được Niết Bàn Thường Tịch Thanh Tịnh; Bực nầy ở nơi thế gian lấy chỗ không giúp, không nương làm chỗ giúp, chỗ nương.[[23]]
Tại sao? Vì người ở nơi các pháp mà thấy có cao thấp thì chẳng chứng được Niết Bàn. Người trí bình đẳng, giải thoát bình đẳng, thanh tịnh bình đẳng mới chứng được Niết bàn.
Vì thế, nên Niết bàn gọi là Bình Đẳng Nhứt Vị, đó là vị giải thoát vậy.[[24]]
−Bạch đức Thế Tôn! Nếu Vô Minh Trụ Địa chẳng dứt chẳng hết, thì chẳng chứng được Niết bàn Nhứt Vị Bình Đẳng.[[25]] Tại sao?
Vì Vô Minh Trụ Địa chẳng dứt chẳng hết thì, những pháp sai lầm đáng dứt chẳng dứt, đáng hết chẳng hết nhiều hơn Hằng sa. Vì còn hơn Hằng sa những pháp sai lầm đáng dứt chẳng dứt, đáng hết chẳng hết nên quá vô lượng các pháp công đức (của Phật) trọn chẳng chứng được. Thế nên, Vô Minh Trụ Địa là nơi sanh ra các tùy phiền não, tất cả pháp lỗi lầm từ Vô Minh Trụ Địa đều đáng dứt đáng hết. Nếu không, người tu hành sẽ bị phiền não chướng tâm, phiền não chướng chỉ, phiền não chướng quán, phiền não chướng tĩnh lự, nhẫn đến chướng tam ma đề, không thể đắc Gia hạnh trí nhẫn đến chứng Thập lực, Tứ Vô Sở Úy.[[26]]
Các khởi phiền não mà “Kim Cang Trí Đẳng Chánh Giác” của Như Lai hay dứt diệt nhiều hơn cả cát sông Hằng, tất cả đều nương nơi Vô Minh Trụ Địa, vì Vô Minh Trụ Địa làm nhơn duyên vậy.
−Bạch đức Thế Tôn! Khởi phiền não đây niệm niệm cùng tương ưng với tâm. Từ vô thỉ đến nay Vô Minh Trụ Địa chẳng tương ưng với tâm.
−Bạch đức Thế Tôn! Ví như tất cả giống của cây cỏ đều nương nơi đại địa mà sanh trưởng, nếu đại địa hoại hư thì chúng nó cũng hoại hư.
Cũng vậy, hơn số Hằng sa các pháp đáng được dứt diệt bởi “Kim Cang Trí Đẳng Chánh Giác” của Như Lai đều nương nơi Vô Minh Trụ Địa mà sanh trưởng, nếu Vô Minh Trụ Địa dứt hết thì các pháp phiền não ấy cũng dứt hết. Vì hơn số Hằng sa các pháp đáng dứt diệt cùng tất cả phiền não và khởi phiền não đã dứt diệt hết, nên chứng được quá số Hằng sa các pháp chư Phật bất khả tư nghị, ở nơi các pháp chứng được vô ngại thần thông, được các tri kiến, rời lìa tất cả sai lầm, được tất cả công đức, làm Đại Pháp Vương tự tại nơi tất cả pháp, chứng bực Nhứt Thiết Pháp Tự Tại, Chánh Sư Tử Hống rằng: Nay Sanh đã hết; Phạm hạnh đã lập; Việc làm đã xong; Chẳng còn thọ thân sau.
Do đó, đức Thế Tôn dùng Sư Tử Hống, y nơi liễu nghĩa, một mực tuyên thuyết như vậy.[[27]]
---
Phần chú giải
[[1]] ma Ba Tuần: Những kẻ chuyên phá hoại Chánh Pháp!
[[2]] Không có Đại thừa thì không có Phật Pháp… Giống như không có Địa đại thì không có Hữu tình, núi non, cây cối, biển cả…!
[[3]] Có Đại thừa thì có sáu xứ này!
[[4]] Nói mạt pháp là vì ít người thành thục nghĩa Đại Thừa!
[[5]] Đây là thật nghĩa của “Xuất Gia”!
[[6]] Đây là thật nghĩa của “Quy Y”!
[[7]] sanh pháp: Tuy “Tâm dứt” nhưng “Thức” chưa dứt!
[[8]] Nói La Hán đã xong: Là “Phương Tiện thuyết” chứ chẳng phải “Quyết Định thuyết”. Phương Tiện thuyết khiến Nhị thừa thành tựu “Hữu tác Tứ Thánh Đế (Trí)”; Quyết Định thuyết khiến Nhất thừa thành tựu “Vô Tác Tứ Chân Trí”… Đây là lý do vì sao cùng một Phật Pháp mà lại xuất sanh “kinh Liễu Nghĩa và kinh Bất Liễu Nghĩa”!
[[9]] −Phần đoạn sanh tử: Sanh tử theo “Nghiệp”... −Bất tư nghị Biến Dịch sanh tử: Sanh tử theo “Nguyện”!
[[10]] Ngu phu: Người chưa Giác Ngộ!
[[11]] bảy hàng học nhơn, hàng Hữu học trong Tứ quả Thánh gồm: Hướng Tu Đà Hoàn, Tu Đà Hoàn quả; Hướng Tư Đà Hàm, Tư Đà Hàm quả; Hướng A Na Hàm, A Na Hàm quả và Hướng A La Hán!
[[12]] Bốn thứ Trụ Địa phiền não:
− Kiến Nhứt Thiết Xứ Trụ Địa phiền não: Thấy nghe điên đảo mà sinh phiền não...
− Dục Ái Trụ Địa phiền não: Tham mê Ngũ Dục mà sanh phiền não…
− Sắc Ái Trụ Địa phiền não: Chấp Thân và Cảm Thọ mà sanh phiền não…
− Vô Minh Ái Trụ Địa phiền não: Tham ưa các Pháp và Tưởng không dứt mà sinh phiên não…
[[13]] Dị bản (bản dịch khác) còn dịch “Sắc Ái...” là “Hữu Ái Trụ Địa phiền não”
[[14]] “Phiền não” tương ưng với “tâm”: Phiền não dứt, tâm thanh tịnh; Tâm không, phiền não không!
[[15]] “Vô Minh Trụ Địa” chẳng tương ưng với “tâm”: Tâm Thanh tịnh (không phiền não) vẫn chưa dứt Vô Minh Trụ Địa… Vì thế, tuy Nhị thừa chứng được Niết Bàn, nhưng chưa ra khỏi Vô Minh Trụ Địa!
[[16]] Chỉ khi nào không còn Vô Minh Trụ Địa thì Phiền Não Trụ Địa mới rốt ráo tịch diệt… Vì sao như vậy? Khi dứt Vô Minh Trụ Địa mới thành tựu Thật Trí, nơi Thật Trí mới biết rằng phiền não cùng Bồ Đề chẳng hai, vì đồng một tự tánh Thanh Tịnh!
[[17]] “thủ” chi: Chi thứ 9 (sau Ái, trước Hữu) trong 12 chi nhân duyên, chi này cuối nhóm Trung Tế, đầu nhóm Hậu Tế… Vì thế, thủ chi là nghiệp nhân của Hậu Hữu Thân… Nếu thủ chi diệt, “Sơ Tướng Vô Minh” diệt; Sơ Tướng Vô Minh diệt, ba thời đồng tịch diệt; Ba thời đồng tịch diệt, Hậu Hữu Thân diệt; Hậu Hữu Thân diệt, ba cõi tự Niết Bàn!
[[18]] Giống như Hoa Sen thường mọc trên bùn, bùn (hôi tanh) là Sở duyên mà cũng hay làm Duyên (để Sen có mùi thơm)… Vô Minh Ái Trụ Địa cũng như thế, hay phát khởi các món phiền não… Tuy nhiên, chính Vô Minh Trụ Địa làm chỗ Sở Y cho các Thánh quả… Chỉ trừ, Như Lai Vô Thượng Trí mới thật biết rằng Vô Minh Trụ Địa và Vô Lậu Quả đồng một Tự Tánh!
[[19]] Vô Minh Ái trụ địa: Thuộc Mê… ; Vô Minh Trụ Địa: Thuộc Lầm!
[[20]] Nhị thừa, ra khỏi Ba cõi, mà chẳng biết Thiệt tướng Ba cõi… Vì thế, chỗ Vô Lậu chẳng được Tự tại!
[[21]] A La Hán, Bích Chi Phật, Bất Động Địa, Thiện Huệ Địa nhẫn đến Pháp Vân Địa… trên con đường tiến về Vô Thượng Trí, mỗi địa dứt một phần Vô Minh Trụ Địa, cho đến khi thành Đẳng Chánh giác mới dứt sạch Vô Minh này… Từ đó hết lầm, thấy biết các Pháp hoàn toàn đúng bản chơn của nó, không còn thừa sót sai lầm, gọi là Đấng biết rõ, thấy rõ, viên mãn chỗ đáng dứt, chỗ đáng hết, thành tựu Nhất Thiết Công Đức!
[[22]] Từ Sơ Quả đến Bát Địa!
[[23]] Từ Cửu Địa đến Thập Địa!
[[24]] Cảnh Giới của Đẳng Giác Bồ Tát (Cửu Địa)!
[[25]] Vì dứt Vô Minh Trụ Địa nên gọi là Chánh Đẳng Giác: Thấy cái Phật xưa thấy, biết cái Phật xưa biết, chứng cái Phật xưa chứng… Gọi là Niết Bàn Nhất Vị Bình Đẳng!
[[26]] Vô Minh Trụ Địa chính là cái gốc che mờ chân trí… Vì thế, hay sanh các tùy phiền não, bởi chưa dứt hết lỗi lầm từ các Pháp, do đó chẳng thể đắc các Pháp của chư Như Lai!
[[27]] Chánh Sư Tử Hống “Chư Lậu Dĩ Tận, Phạm hạnh Dĩ Lập, Sở tác Dĩ Biện, Bất thọ Hậu Hữu”: Cả Nhị Thừa và Phật đều tuyên bố Tứ Thành Tựu này, chỉ khác nhau ở Bất Liễu Nghĩa và Liễu Nghĩa nên Phật được gọi là Đại A La Hán!
Kinh Thắng Man - Phần 1

KINH THẮNG MAN
(Lý Tứ Chú Giải)
Như vậy tôi nghe, một lúc đức Phật ở nước Xá Vệ, vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc.
Bấy giờ vua nước Xá Vệ là Ba Tư Nặc Vương và Mạc Lợi phu nhơn mới chứng đạo pháp xong, cùng bảo nhau rằng: Con gái chúng ta là Thắng Man sáng suốt, từ ái, đa văn trí huệ, nếu nó được thấy đức Như Lai thì ở nơi pháp thậm thâm sẽ có thể mau thấu hiểu, không còn các sự nghi hoặc. Chúng ta nên sai người giỏi khuyến dụ đến phát khởi lòng thành kính của nó.
Bàn luận xong, vua và phu nhơn viết thư khen ngợi công đức chơn thiệt của Như Lai, sai quan Chơn Đề La làm sứ mang thư đến thành Vô Đấu trao cho Thắng Man phu nhơn. Sau khi xem thơ của cha mẹ, Thắng Man phu nhơn vui mừng đảnh thọ, hướng Chơn Đề La mà nói kệ rằng:
Tôi nghe tiếng Như Lai
Thế gian khó được gặp
Lời nầy nếu chơn thiệt
Sẽ ban người y phục
Nếu đức Phật Thế Tôn
Vì lợi thế gian hiện
Tất phải được xót thương
Cho tôi thấy chơn tướng. [[1]]
Thắng Man phu nhơn nghĩ tưởng đến Phật mà nói ra lời ấy, trong giây lát sau đức Phật hiện thân tướng bất tư nghị tại hư không phóng quang minh chiếu khắp thế giới.[[2]] Thắng Man phu nhơn cùng quyến thuộc đều hợp đến chiêm ngưỡng chắp tay đảnh lễ Phật nói kệ khen rằng:
Như Lai thân sắc đẹp,
Thế gian không ai bằng
Không sanh chẳng nghĩ bàn
Thế nên nay kính lạy [[3]]
Thân Như Lai vô tận
Trí huệ cũng như vậy
Tất cả pháp thường trụ
Vì thế tôi quy y [[4]]
Khéo điều tâm lìa lỗi
Điều thân khẩu cũng vậy
Đều đến bất tư nghị
Thế nên tôi kính lạy
Biết các pháp sở tri
Thân và trí vô ngại
Nơi pháp không quên mất[[5]]
Vì thế tôi kính lạy
Cúi lạy đấng Vô Lượng
Cúi lạy đấng Vô Đẳng
Cúi lạy đấng Pháp Vương
Cúi lạy đấng Nan Tư [[6]]
Mong thương gia hộ tôi
Cho giống pháp thêm lớn
Mãi đến thân rốt sau
Thường ở tại trước Phật
Bao nhiêu phước tôi tu
Đời nầy và đời khác
Do sức căn lành nầy
Mong Phật luôn nhiếp thọ.
Nói kệ xong, Thắng Man phu nhơn cùng quyến thuộc và tất cả đại chúng đảnh lễ chân Phật.
Bấy giờ đức Thế Tôn vì Thắng Man phu nhơn mà nói kệ rằng:
Xưa Ta vì Bồ đề
Đã từng khai thị ngươi
Nay ngươi lại gặp Ta
Đến đời sau cũng vậy [[7]]
Nói kệ xong, đức Phật ở giữa chúng hội thọ ký Vô thượng Chánh Đẳng Giác cho Thắng Man rằng: “Nay ngươi ca ngợi công đức thù thắng của Như Lai,[[8]] do căn lành nầy, ngươi sẽ ở trong a tăng kỳ kiếp, làm vua tự tại trong hàng trời người, đầy đủ đồ thọ dụng. Ngươi sanh tại chỗ nào cũng thường được gặp Phật cúng dường khen ngợi như nay không khác. Ngươi còn sẽ cúng dường vô lượng vô số chư Phật Thế Tôn.[[9]]
Quá hai vạn a tăng tỳ kiếp, ngươi sẽ thành Phật, hiệu Phổ Quang Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Quốc độ của Phật Phổ Quang ấy không có các ác đạo suy già bệnh khổ, cũng không có danh từ bất thiện, ác nghiệp đạo, chúng sanh cõi ấy hình sắc đoan nghiêm, đủ cảnh đẹp cõi trời, thuần thọ hưởng vui sướng hơn cả Trời Tha Hóa Tự Tại. Chúng sanh cõi ấy đều hướng về Đại Thừa, ai học Đại Thừa như vậy đều sanh về quốc độ ấy”.[[10]]
Khi Thắng Man phu nhơn được thọ ký xong, có vô lượng trời người sanh lòng vui mừng hớn hở, đều nguyện sanh về thế giới của Phật Phổ Quang. Đức Thế Tôn đều thọ ký cho họ sẽ được sanh cõi nước ấy.[[11]]
Được nghe đức Phật thọ ký xong, Thắng Man phu nhơn chắp tay đứng trước Phật phát mười hoằng thệ:
−“Bạch đức Thế Tôn! Từ nay đến ngày thành Bồ đề; con chẳng sanh tâm niệm phạm nơi giới đã được thọ.
−Bạch đức Thế Tôn! Từ nay đến ngày thành Bồ đề; con chẳng sanh lòng kiêu mạn đối với các bực Sư Trưởng.
−Bạch đức Thế Tôn! Từ nay đến ngày thành Bồ đề, con chẳng có lòng giận hờn đối với các chúng sanh.
−Bạch đức Thế Tôn! Từ nay đến ngày thành Bồ đề, con chẳng sanh lòng đố kỵ với người hơn mình và sự hơn mình.
−Bạch đức Thế Tôn! Từ nay đến ngày thành Bồ đề, con chẳng sanh lòng bỏn xẻn dầu chỉ có ít thức ăn.
−Bạch đức Thế Tôn! Từ nay đến ngày thành Bồ đề, con chẳng vì mình mà nhận chứa của cải. Nếu có nhận chứa thì chỉ vì cứu tế loài hữu tình nghèo khổ.
−Bạch đức Thế Tôn! Từ nay đến ngày thành Bồ đề, con hành tứ nhiếp sự mà chẳng cầu ân báo, không lòng tham lợi, không lòng nhàm đủ, không lòng hạn ngại, luôn nhiếp thọ chúng sanh.
−Bạch đức thế Tôn! từ nay đến ngày thành Bồ đề, thấy có chúng sanh nào không chỗ nương tựa, bị giam cầm trói buộc bịnh tật khổ não các thứ nguy ách, thì con trọn chẳng bỏ lìa họ, quyết mong cho họ được an ổn đem lợi ích lành cho họ.
−Bạch đức Thế Tôn! Từ nay đến ngày thành Bồ đề, nếu con thấy có ai hủy phạm cấm giới thanh tịnh của đức Như Lai, nếu thuộc về thành ấp tụ lạc của con quản nhiếp, kẻ đáng điều phục con sẽ điều phục, kẻ đáng nhiếp thọ con sẽ nhiếp thọ. Tại sao? Vì điều phục nhiếp thọ kẻ phá giới thì làm cho chánh pháp được còn lâu, chánh pháp còn lâu thì trời người đông đúc, mà ác đạo giảm ít có thể làm cho pháp luân của Như Lai được thường chuyển.
−Bạch đức Thế Tôn! Từ nay đến ngày thành Bồ đề, con Nhiếp Thọ Chánh Pháp không để quên mất. Nếu quên mất Đại thừa thì quên Ba la mật, nếu quên Ba la mật thì quên Đại thừa. Nếu chư Bồ Tát chẳng quyết định nơi Đại thừa thì Nhiếp Thọ Chánh Pháp không được bền vững, thì chẳng kham siêu việt bực phàm phu, là mất mát lớn.
−Bạch đức Thế Tôn! Hiện tại và vị lai chư Bồ Tát Nhiếp Thọ Chánh Pháp, phát hoằng thệ này, thì đầy đủ vô biên lợi ích rộng lớn. [[12]]
Đức Thế Tôn dầu là chứng biết mà các loài hữu tình căn lành kém mỏng hoặc phát khởi lưới nghi; Do đây, nên mười hoằng thệ nguyện khó thành tựu được, họ sẽ mãi mãi chứa hợp các pháp bất thiện, thọ những khổ não. Vì lợi ích cho các chúng sanh ấy nên nay, con ở trước đức Phật phát thệ thành thiệt.[[13]]
−Bạch đức Thế Tôn! Nay con phát mười hoằng thệ ấy nếu là chơn thiệt, chẳng hư luống thì trên đại chúng sẽ mưa hoa trời, phát âm thanh cõi trời”.
Thắng Man phu nhơn ở trước đức Phật nói vừa dứt lời, trên hư không liền mưa hoa trời và phát ra âm thanh trời rằng: “Lành thay, lành thay! Như lời thệ của Thắng Man phu nhơn chơn thiệt không sai khác”.[[14]]
Bấy giờ chúng hội thấy cảnh lành nầy dứt lòng nghi hoặc, rất đỗi vui mừng, đồng thanh xướng rằng: “Nguyện cùng Thắng Man phu nhơn sanh nơi nào đều đồng một nguyện hạnh”.
Đức Phật thọ ký cho tất cả đại chúng ấy đều mãn sở nguyện.[[15]]
Thắng Man phu nhơn lại ở trước Phật phát ba hoằng nguyện, do nguyện lực này làm lợi ích vô biên cho hữu tình.
Điều nguyện thứ nhứt: Tôi do căn lành trong tấtcả đờiđược Chánh Pháp Trí. [[16]]
Điều nguyện thứ hai: Chỗ tôi sanh, nếu tôi được chánh trí rồi, sẽ vì các chúng sanh diễn thuyết không hề mỏi.
Điều thứ ba: Tôi vì nhiếp thọ, hộ trì chánh pháp nên đối vớithân thểkhông tiếc sanh mạng.
Đức Phật nghe ba điều nguyện xong, bảo Thắng Man phu nhơn rằng: “Như tất cả hình sắc đều nhập vào không giới, Hằng sa [[17]] điều nguyện của Bồ Tát đều nhập vào ba nguyện ấy. Ba nguyện ấy chơn thiệt quảng đại.”
−Thắng Man phu nhơn lại bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Nay con sẽ nương sức oai thần biện tài của Đức Phật muốn nói đại nguyện, mong đức Thế Tôn thương mà hứa khả cho”.
Đức Phật dạy: “Nầy Thắng Man! Cho phép ngươi nói”. [[18]]
−Thắng Man phu nhơn nói: “Bồ Tát có Hằng sa điều nguyện, tất cả đều nhập vào trong một đại nguyện, đó là ‘Nhiếp Thọ Chánh Pháp’. Nhiếp Thọ Chánh Pháp như vậy chơn thiệt quảng đại”. [[19]]
Đức Phật bảo: “Lành thay, nầy Thắng Man! Ngươi từ lâu tu tập trí huệ phương tiện thậm thâm vi diệu. Có ai hiểu rõ ý nghĩa của ngươi nói, người nầy đã vun trồng cội lành từ lâu.
Nầy Thắng Man! Nhiếp Thọ Chánh Pháp như ngươi đã nói, đều là quá khứ, vị lai, hiện tại chư Phật đã nói, sẽ nói, nay nói. Ta được Vô thượng Bồ đề cũng thường dùng nhiều thứ tướng để nói Nhiếp Thọ Chánh Pháp. Ca ngợi Nhiếp Thọ Chánh Pháp như vậy được công đức không ngằn mé. Như Lai trí huệ cùng vô lượng nguyện của Bồ Tát đều nhập vào ba nguyện ấy. Ba nguyện ấy chơn thiệt quảng đạỉ”.
−Thắng Man phu nhơn lại bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Nay con sẽ nương sức oai thần biện tài của đức Phật muốn nói đại nguyện, mong đức Thế Tôn thương mà hứa khả cho”.
Đức Phật dạy: “Nầy Thắng Man! Cho phép ngươi nói”.
−Thắng Man phu nhơn nói: “Bồ Tát có Hằng sa điều nguyện, tất cả đều nhập vào trong một đại nguyện, đó là nguyện “Nhiếp Thọ Chánh Pháp”. Nhiếp Thọ Chánh Pháp như vậy chơn thiệt quảng đại”.
Đức Phật bảo: “Lành thay, ngươi từ lâu tu tập trí huệ phương tiện thậm thâm vi diệu. Có ai hiểu rõ ý nghĩa của ngươi nói, người này đã vun trồng cội lành từ lâu.
Nầy Thắng Man! Nhiếp Thọ Chánh Pháp do ngươi đã nói, đều là quá khứ, vị lai, hiện tại chư Phật đã nói, sẽ nói, nay nói. Ta được Vô thượng Bồ đề cũng thường dùng nhiều thứ tướng để nói Nhiếp Thọ Chánh Pháp như vậy được công đức không ngằn mé. Như Lai trí huệ không ngằn mé; Tại sao? Vì Nhiếp Thọ Chánh Pháp đây có đại công đức có đại lợi ích”.
−Thắng Man phu nhơn bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Con sẽ nương thần lực của đức Phật mà nói nghĩa Nhiếp Thọ Chánh Pháp quảng đại”.[[20]]
Đức Phật dạy: “Nầy Thắng Man! Cho phép ngươi nói”.
−Thắng Man phu nhơn nói: “Nghĩa Nhiếp Thọ Chánh Pháp quảng đại là vì được vô lượng tất cả Phật pháp nhẫn đến hay nhiếp tám vạn hành môn.
Ví như kiếp sơ nổi lên các sắc mây mưa các trận mưa báu. Cũng vậy, mây thiện căn Nhiếp Thọ Chánh Pháp hay mưa các trận mưa vô lượng phước báu.
Ví như kiếp sơ trong đại thủy hay sanh Tam thiên Đại Thiên giới tạng và bốn trăm ức các thứ loại lục địa. Cũng vậy, Nhiếp Thọ Chánh Pháp xuất sanh Đại thừa vô lượng giới tạng cùng vô lượng các thứ thần thông lực, các thứ pháp môn của Bồ Tát, thế gian và xuất thế gian, đầy đủ an lạc mà tất cả thiên nhơn chưa hề có.
Ví như đại địa mang bốn gánh nặng, đó là: Biển cả, núi non, cây cỏ và chúng sanh.
Cũng vậy, thiện nam tử, thiện nữ nhơn Nhiếp Thọ Chánh Pháp thì có thể kham được bốn trọng nhiệm hơn đại địa kia, đó là: Đối với các loài hữu tình rời lìa thiện hữu, không nghe pháp, phạm các tội lỗi thì dùng căn lành trời người để thành thục họ; Với kẻ cầu Thanh Văn dạy cho họ Thanh Văn thừa; Với kẻ cầu Duyên Giác dạy họ Duyên Giác thừa và với kẻ cầu Đại thừa dạy họ Đại thừa.
−Bạch đức Thế Tôn! Thiện nam tử, thiện nữ nhơn Nhiếp Thọ Chánh Pháp như vậy thì kham được bốn trọng nhiệm hơn cả đại địa, khắp vì chúng sanh làm bạn lành chẳng chờ mời, đại bi thương xót làm lợi ích cho các loài hữu tình, là mẹ pháp của thế gian. Ví như đại địa là chỗ sản sanh bốn thứ báu, đó là: Các báu vô giá, thượng giá, trung giá và hạ giá. Cũng vậy, thiện nam tử, thiện nữ nhơn Nhiếp Thọ Chánh Pháp; Các hữu tình gặp rồi thì được bốn báu lớn thù thắng nhứt trong các thứ báu, đó là: Các hữu tình gặp bạn lành nầy rồi thì hoặc được căn lành trời người, hoặc chứng Thanh Văn, chứng Bích Chi Phật và hoặc được thiện căn công đức Vô thượng thừa.
−Bạch đức Thế Tôn! Xuất sanh báu lớn ấy thì gọi là chơn thiệt Nhiếp Thọ Chánh Pháp.
Bạch đức Thế Tôn! Nói Nhiếp Thọ Chánh Pháp là “Chánh Pháp Vô Dị Biệt”, “Nhiếp Thọ Chánh Pháp Vô Dị Biệt” là Nhiếp Thọ Chánh Pháp.[[21]]
Bạch đức Thế Tôn! Ba la mậtvô dị biệt, nhiếp thọ Ba la mật vô dị biệt là Nhiếp Thọ Chánh Pháp. Nhiếp Thọ Chánh Pháp là Ba la mật. Tại sao? Vì thiện nam tử, thiện nữ nhơn Nhiếp Thọ Chánh Pháp, nếu đáng dùng bố thí để thành thục thì dùng bố thí nhẫn đến xả thân mạng tùy thuận ý họ để thành thục họ, cho họ an trụ nơi chánh pháp, đây gọi là Bố thí Ba la mật.
Nếu đáng dùnggiới luậtđể thành thục thì thủ hộ sáu căn, tịnh thân, ngữ, ý nhẫn đến oai nghi tùy thuận ý họ mà thành thục họ, cho hữu tình ấy an trụ chánh pháp, đây gọi là Giới Ba la mật.
Nếu người đáng dùngnhẫn nhụcđể thành thục thì, hoặc có bị người ấy mắng chửi hủy nhục chê bai não loạn, liền dùng lòng không giận hờn và lòng làm lợi ích cùng sức nhẫn ‘tối thượng nhẫn’, đến nhan sắc cũng chẳng đổi khác, tùy thuận ý người ấy để thành thục họ, cho họ an trụ chánh pháp, đây gọi là Nhẫn Ba la mật.
Nếu người đáng dùng tinh tấn đểthành thụcthì, đối với người ấy chẳng sanh lòng giải đãi hạ liệt, mà khởi lòng thích muốn ‘tinh tấn tối thượng’, trong bốn oai nghi tùy thuận ý người ấy mà thành thục họ, cho họ an trụ chánh pháp, đây là Tinh tấn Ba la mật.
Nếu người cần dùngtĩnh lựđể thành thục thì, dùng tâm không tán loạn thành thục chánh niệm, việc đã làm trọn chẳng quên mất, tùy thuận ý họ mà thành thục họ, cho họ an trụ chánh pháp, đây gọi là Tĩnh lự Ba la mật.
Nếu người đáng dùngtrí huệđể thành thục, người ấy vì lợi ích mà hỏi các pháp nghĩa thì, dùng lòng không mỏi chán mà vì họ diễn nói tất cả các luận, tất cả minh xứ, nhẫn đến các thứ công xảo xứ cho được cứu cánh, tùy thuận ý người ấy mà thành thục họ, cho họ an trụ chánh pháp, đây gọi là Trí huệ Ba la mật.
−Bạch đức Thế Tôn! Thế nên Ba la mật không dị biệt, Nhiếp Thọ Chánh Pháp không dị biệt, Nhiếp Thọ Chánh Pháp tức là Ba la mật”. [[22]]
−Thắng Man phu nhơn lại bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Nay con nương sức oai thần biện tài của đức Phật sẽ nói về đại nghĩa.[[23]] Mong đức Thế Tôn hứa khả”.
Đức Phật dạy: “Nầy Thắng Man! Cho phép ngươi nói”.
−Thắng Man phu nhơn nói: “Bạch đức Thế Tôn! Nhiếp Thọ Chánh Pháp là Nhiếp Thọ Chánh Pháp Vô Dị Biệt. Nhiếp Thọ Chánh Pháp Vô Dị Biệt là Nhiếp Thọ Chánh Pháp. Thiện nam tử, thiện nữ nhơn phải Nhiếp Thọ Chánh Pháp như vậy.
Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhơn, Nhiếp Thọ Chánh Pháp vì chánh pháp mà xả bỏ thân mạng, tài sản. Do xả bỏ thân thể nên những người ấy chứng sanh tử tối hậu,[[24]] lìa xa già bịnh, được pháp thân Như Lai chẳng hư hoại, thường hằng không biến đổi, cứu cánh tịch tĩnh chẳng thể nghĩ bàn.
Do xả bỏ sanh mạng, nên những người ấy chứng sanh tử tối hậu, lìa hẳn sự chết, được vô biên thường trụ, thành tựu các công đức lành, chẳng thể nghĩ bàn, an trụ nơi tất cả Phật pháp thần biến, do xả bỏ tài sản nên những người ấy chứng sanh tử tối hậu, vượt qua khỏi hữu tình không cùng tận, không tổn giảm quả báo viên mãn, có đủ công đức trang nghiêm chẳng thể nghĩ bàn, được các loài hữu tình tôn trọng cúng dường.
−Bạch đức Thế Tôn! Thiện nam tử, thiện nữ nhơn Nhiếp Thọ Chánh Pháp xả bỏ thân mạng, tài sản được chư Như Lai thọ ký.
−Bạch đức Thế Tôn! Lúc chánh pháp sắp diệt, có hàng Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, Ưu bà Tắt, Ưu bà Di kết bè kết đảng, phát khởi những tranh tụng, nếu thiện nam tử, thiện nữ nhơn dùng lòng chẳng siểm khúc, chẳng khi dối, mến thích chánh pháp, Nhiếp Thọ Chánh Pháp mà vào trong nhóm bạn lành; Người vào trong nhóm bạn lành nầy tất được chư Phật thọ ký.
−Bạch đức Thế Tôn! Con thấy người Nhiếp Thọ Chánh Pháp có sức mạnh lớn như vậy, đức Như Lai dùng làm con mắt, dùng làm cội gốc pháp, dùng làm pháp dẫn đạo, dùng làm pháp thông đạt”.[[25]]
---
Phần chú giải
[[1]] Chơn tướng: Không phải các tướng hư vọng do sáu căn tiếp xúc hoặc ý phân biệt, mà nó là cảnh giới “tự tâm hiện” đã lìa phân biệt, chấp trước của Phàm phu, Ngoại đạo và Nhị thừa. Tướng này phi sắc, phi vô sắc, do công đức của “Thánh trí tự chứng” huân thành!
[[2]] Cảnh Giới này thường xuất hiện trong các kinh Đại thừa… Giống như Vua La Bà Na thấy Phật ở thành Lăng Già… Như nàng Thánh Nữ nghe lời Phật dạy nơi Hư Không (Kinh Địa Tạng)! … Chỉ những ai đủ công đức mới thấy; Vì đây là Hóa Phật và Hóa Quốc Độ, cảnh giới đặc thù của “Thánh trí tự chứng”… Cảnh giới này là công đức lực, làm tiền đề giúp người có thể Nhiếp Thọ Chánh Pháp Vô Dị Biệt (giác ngộ hiện đời không do người khác)!
[[3]] Hóa thân (32 tướng): Cái đẹp của không sanh, “Sắc không sanh, Bát nhã sanh”!
[[4]] Pháp Thân (đồng như Hư Không): Trí Tuệ thường trụ, chỗ Quy Y của Nhất thừa!
[[5]] “Pháp vô vong thất, tánh hằng tự xả”!
[[6]] Nan tư: Bất khả tư nghì.
[[7]] Phạm Âm; Những lời này sẽ giúp Thắng Man bất thối Vô Thượng Bồ Đề!
[[8]] Ca ngợi cái khó thấy, khó biết nên mới được thọ ký!
[[9]] Vào “Bất tư nghị biến dịch sanh tử”!
[[10]] Quá hai vạn A Tăng Tỳ kiếp (làm công hạnh): Để thành tựu viên mãn Hóa thân (32 tướng), thành tựu viên mãn Pháp thân (Vô Thượng Trí)! Như viên ngọc quý được đựng trong hộp gỗ Chiên Đàn!
[[11]] Nguyên lý thành lập “Phật Quốc độ”; Chư Phật ba đời không khác!
[[12]] Nơi Hư Không mà sanh “Nguyện” mới là “Đại nguyện”. Nơi “không Pháp” mà Nhiếp Thọ gọi là “Nhiếp Thọ Chánh Pháp”!
[[13]] ... phát thệ thành thiệt: Hư Không phát với Hư Không!
[[14]] Cảnh giới của “tự tâm hiện”!
[[15]] “Quốc độ chân thật” sanh ra từ ‘Nguyện chân thật’!
[[16]] Chánh Pháp và Trí Tuệ không hai
[[17]] Hằng sa (hay Hằng hà sa): Số lượng cát sông Hằng. (thành ngữ Ấn Độ, chỉ số lượng rất nhiều)
[[18]] Nương oai thần của Phật, lời nguyện mới chân thật… Giống như nương Hư Không, tâm nguyện mới không hư dối!
[[19]] “Nhiếp Thọ Chánh Pháp”: Nhiếp cái “không Pháp”, nên thành tựu Vô Lượng Phật Pháp… Giống như Hư Không, vì không có vật nên dung nhiếp hết thảy mọi vật!
[[20]] Nhiếp Thọ Chánh Pháp Quảng Đại: Nhiếp Thọ Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa và Bồ Tát thừa (Ngũ thừa); Trong 5 thừa này bao gồm trên tám vạn hành môn… Nhiếp Thọ Chánh Pháp Quảng Đại còn gọi là Nhiếp Thọ Vô Lượng Phương Tiện!
[[21]] Nhiếp Thọ Chánh Pháp Vô Dị Biệt: Chánh Pháp và Vị ấy không hai; Chánh Pháp là Vị ấy, Vị ấy là Chánh Pháp… Nhiếp Thọ Chánh Pháp thành tựu nghĩa Thường, Nhiếp Thọ Chánh Pháp Vô Dị Biệt thành tựu nghĩa Ngã… Giống như nước biển có vị mặn và sóng. Có 3 thứ Nhiếp Thọ Chánh Pháp Vô Dị Biệt:
−Tánh Nhiếp Thọ Vô Dị Biệt: Nhiếp Thọ Vô Dị Biệt Từ, Bi, Hỷ, Xả, Thường, Ngã, Lạc, Tịnh… Thành tựu Phật Tánh!
−Trí Nhiếp Thọ Vô Dị Biệt: Nhiếp Thọ Vô Dị Biệt Thập lực; Tứ Vô Ngại Trí; Tứ Vô Sở Úy và Thập Bát Bất Cộng… Thành tựu Phật Trí!
−Pháp Nhiếp Thọ Vô Dị Biệt: Nhiếp Thọ Vô Dị Biệt Vô Tác Tứ Trí (Vô Tác Khổ Chân Trí; Vô Tác Tập Chân Trí; Vô Tác Diệt Chân Trí và Vô Tác Đạo Chân Trí. Nhị thừa thành tựu “Hữu Tác Tứ Thánh Đế” nên chỉ chứng Hữu Dư Niết Bàn); Nhiếp Thọ Vô Dị Biệt 37 đạo Phẩm (Nhị thừa là 37 Phẩm Trợ Đạo; Bồ Tát Quyền thừa là 37 Phẩm Trợ Bồ Đề) và Nhiếp Thọ Vô Dị Biệt Thập nhị không duyên (Thiệt tướng của mười hai nhân duyên)… Thành tựu Phật Pháp!
Nhiếp thọ viên mãn Phật Tánh, Phật Trí và Phật Pháp… Thành tựu “Đại Hải Trí Lực Vô Dị Biệt”!
Đại Hải Trí Lực Vô Dị Biệt có 8 công đức: (1) Sâu không tới đáy; (2)_Đồng một vị mặn; (3) Thủy triều không quá hạn; (4) Không chứa tử thi; (5) Chứa các báu vật; (6) Chứa các loài thân lớn; (7) Mưa nhiều không đầy; (8) Nắng hạn chẳng lưng;… và Vô lượng công đức như thế!
[[22]] Sáu Ba La Mật; Mười Ba La Mật cho đến Vô Lượng Ba La Mật đều từ Một Chánh Pháp, đó là “Không pháp” (Không Ba la mật) mà xuất sanh!
[[23]] Đại Nghĩa: Nghĩa Đại Thừa Chân Thật của Nhiếp Thọ Chánh Pháp. Từ nghĩa này, có thể phá hoại các nghĩa hư dối khiến người được Vô Thượng Bồ Đề… Vì thế Phật mới dạy: “Nầy Thắng Man! Thế nên phải dùng (đại nghĩa của) Nhiếp Thọ Chánh Pháp mà khai hóa tất cả hữu tình. Nhiếp Thọ Chánh Pháp được phước lợi lớn và đại quả báo”!
[[24]] sanh tử tối hậu: Tối hậu thân (tối hậu Trí Tuệ), đã lìa 2 thứ tử; Gọi là Pháp Thân vì Thân này thành tựu từ “trí tuệ tối thượng”, xa rời ba thứ Vô minh; Thường trụ nên chẳng thể nghĩ bàn! Trước khi thành tựu Tối Hậu Thân, vị này phải trải qua Hậu Biên Thân… Giống như Bồ Tát Di Lặc trước khi thành Phật phải trải qua Hậu Biên Thân gọi là “Nhất Sanh Bổ Xứ”!
[[25]] Người Nhiếp Thọ Chánh Pháp: Chính là “Sứ giả của Như Lai” ở hiện tiền!
Kinh Thắng Man - Lời Giới Thiệu

LỜI GIỚI THIỆU
Các bạn! [[1]]
Nếu như kinh Kim Cang là chiếc chìa khoá mở cánh cửa đầu tiên của Tâm Tông thì, kinh Thắng Man lại là cỗ xe Nhất Thừa và bảng hướng dẫn quan trọng, giúp người tu hành từ cánh cửa đó đi tiếp về Nhất Thiết Trí Thành, để vị lai có thể trở thành cư dân Thiện Huệ Quốc!
Sau cánh cửa Tâm Tông là Đạo Lộ Nhất Thừa, suốt con đường lớn cỗ xe Nhất Thừa đi qua, người lữ hành sẽ có cơ hội gặt hái rất nhiều hoa trái Nhất Thừa... Đến khi vào hẳn Nhất Thiết Trí Thành, người lữ hành bây giờ, sẽ được viếng thăm lâu đài Chánh Pháp Vô Dị Biệt, lâu đài này chính là Phật Học Hiệu dạy người tu hành cách làm thế nào để “Nhiếp Thọ Chánh Pháp Vô Dị Biệt”... Học được pháp này, người ấy sẽ trở thành công dân thực thụ của Thiện Huệ Quốc!
Thiện Huệ Quốc chính là Thiện Xứ,[[2]] ở đây gồm những cư dân thông tuệ, đầy ắp thương yêu... Họ sẵn sàng đón nhận những ai mong muốn làm công dân đất nước này, nếu người đó “thoả mãn các điều kiện bắt buộc của đất nước họ”!
Một khi trở thành công dân thực thụ của Thiện Huệ Quốc, các bạn sẽ là người giàu có bậc nhất, vì cõi ấy gồm toàn Thất Bảo... Với Như Lai Tàng Tâm vô giá, cùng các phép Thánh Thần Thông Biến, các bạn mặc tình “Du hí Ta Bà Thế Giới”, nổi “Pháp Vân”[[3]] để viên thành bổn nguyện!
Khi nào thấu đáo kinh Thắng Man, các bạn sẽ nhận ra các điều kiện bắt buộc của Thiện Xứ ấy là gì!
Mấy ngày qua, mình và Anh Phúc đã miệt mài giải mã những thông tin cần thiết được ghi lại trong kinh Thắng Man... Điều này, sẽ giúp các bạn phần nào đó “thuận lợi hơn” trước khi bước lên cỗ xe Nhất Thừa. Hy vọng, những gì đã chú thích, sẽ giúp các bạn có được các thông tin giá trị về chặng đường trước mắt!
Thắng Man Phu Nhân tuy là Nữ lưu, nhưng với Phật Đạo, vị Phu Nhân này chính là Đại Trượng Phu... Bởi lẽ, bằng Trí Tuệ Siêu Thắng, trong quá khứ, Phu Nhân đã từng có thể ung dung bước lên cỗ xe Nhất Thừa không chút khó khăn, làm cuộc du hành ngoạn mục tới Nhất Thiết Trí Thành và sau đó trở thành công dân thực thụ của Thiện Huệ Quốc!
Xin chuyển đến các bạn, Kinh Thắng Man với những chú thích vừa mới hoàn thành!
07-07-2017
LÝ TỨ

---
[[1]] Trích Email của Lý Tứ gửi cho các Huynh Đệ Lý Gia.
[[2]] Thiện Xứ (Xã Hội Thiện Trị)
[[3]] “Pháp Vân” (Mây Pháp)
Kinh Kim Cang - Tâm Tông - Phần 2

“Tu Bồ Đề! Ta nhớ thuở quá khứ vô lượng a tăng kỳ kiếp trước Phật Nhiên Đăng, Ta đã được gặp tám trăm bốn ngàn vạn ức na do tha([1]) đức Phật, và đều cung kính phụng sự không chút lỗi lầm. Nếu có người đời mạt pháp sau này thường thọ trì tụng đọc kinh này, người ấy được công đức so với công đức cúng dường chư Phật của Ta vượt hơn bội phần, trăm phần Ta chẳng theo kịp một, ngàn vạn ức phần, cho đến tính toán, thí dụ cũng chẳng thể theo kịp.
“Tu Bồ Đề! Những kẻ nam người nữ lòng lành vào đời mạt pháp thọ trì đọc tụng kinh này được nhiều công đức, nếu Ta nói ra đầy đủ sẽ có người nghe qua sanh tâm cuồng loạn, nghi ngờ chẳng tin.
“Tu Bồ Đề! Nên biết rằng, nghĩa kinh này không thể nghĩ bàn, quả báo cũng không thể nghĩ bàn.”
−Bấy giờ, ngài Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Những kẻ nam người nữ lòng lành phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên trụ tâm như thế nào? Hàng phục tâm như thế nào?
Phật dạy Tu Bồ Đề: “Những kẻ nam người nữ lòng lành phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên khởi tâm như thế này: “Ta nên diệt độ hết thảy chúng sanh; diệt độ hết thảy chúng sanh, nhưng thật không có chúng sanh nào diệt độ.”
“Vì sao vậy? Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát có các tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả, tức không phải Bồ Tát.
“Vì sao vậy? Tu Bồ Đề! Thật không có pháp phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng có được pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chăng?”
−“Bạch Thế Tôn, chẳng có. Như con hiểu theo nghĩa Phật thuyết, Như Lai ở nơi Phật Nhiên Đăng trước kia không có được pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.”
Phật nói: “Đúng vậy, đúng vậy! Tu Bồ Đề, thật không có pháp Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
“Tu Bồ Đề! Nếu như có pháp Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, Phật Nhiên Đăng hẳn đã không thọ ký cho ta: Ông về sau sẽ thành Phật hiệu Thích ca Mâu ni.
“Vì thật không có pháp được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên Phật Nhiên Đăng mới thọ ký cho Ta rằng: Ông về sau sẽ thành Phật, hiệu là Thích ca Mâu ni.
“Vì sao vậy? Nói Như Lai đó, tức là nghĩa như của các pháp.[[2]]
“Nếu có người nói: Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tu Bồ Đề! Thật không có pháp Phật được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
“Tu Bồ Đề! Như Lai có chỗ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Trong chỗ ấy không thật, không hư.
“Vì thế, Như Lai dạy rằng: Hết thảy các pháp đều là Phật pháp.[[3]]
“Tu Bồ Đề! Nói là hết thảy các pháp, tức chẳng phải pháp, vì thế chỉ tạm gọi là hết thảy các pháp.
“Tu Bồ Đề! Ví như thân người dài lớn.
−“Bạch Thế Tôn, Như Lai nói rằng thân người dài lớn tức chẳng phải là thân lớn, chỉ tạm gọi là thân lớn.
“Tu Bồ Đề! Bồ Tát cũng lại như vậy. Nếu nói rằng: Ta đang độ cho vô lượng chúng sanh, tức chẳng gọi là Bồ Tát. Vì sao vậy? Tu Bồ Đề! Thật không có pháp gọi là Bồ Tát. Vì thế Phật thuyết hết thảy các pháp đều không có các tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả.
“Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát nói rằng: “Ta đang làm trang nghiêm cõi Phật,” như vậy chẳng gọi là Bồ Tát. Vì sao vậy? Như Lai dạy rằng, trang nghiêm cõi Phật tức chẳng phải trang nghiêm, gọi là trang nghiêm.
“Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát thông đạt pháp vô ngã,[[4]] Như Lai gọi đó thật là Bồ Tát.
“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có nhục nhãn chăng?”
−“Bạch Thế Tôn, đúng vậy. Như Lai có nhục nhãn.”
“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có thiên nhãn chăng?”
−“Bạch Thế Tôn, đúng vậy. Như Lai có thiên nhãn.”
“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có huệ nhãn chăng?”
−“Bạch Thế Tôn, đúng vậy. Như Lai có huệ nhãn.”
“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có pháp nhãn chăng?”
−“Bạch Thế Tôn, đúng vậy. Như Lai có pháp nhãn.”
“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có Phật nhãn chăng?”
−“Bạch Thế Tôn, đúng vậy. Như Lai có Phật nhãn.” [[5]]
“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Trong sông Hằng có cát, Phật nói đó là cát chăng?”
−“Bạch Thế Tôn, đúng vậy. Như Lai nói đó là cát.”
“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như trong một con sông Hằng có bao nhiêu cát, lại có số sông Hằng cũng nhiều như số cát ấy, lại có số cõi Phật nhiều như số cát trong tất cả những con sông Hằng đó, như vậy là nhiều chăng?”
−“Bạch Thế Tôn, rất nhiều.”
Phật bảo Tu Bồ Đề: “Hết thảy chúng sanh trong số cõi Phật nhiều như vậy, nếu khởi tâm suy nghĩ, Như Lai đều biết. Vì sao vậy? Như Lai dạy rằng, các tâm đều là không phải tâm, nên tạm gọi là tâm.
“Vì sao như thế? Tu Bồ Đề! Tâm quá khứ chẳng thể nắm bắt. Tâm hiện tại chẳng thể nắm bắt. Tâm vị lai chẳng thể nắm bắt.[[6]]
“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Nếu có người dùng bảy món báu đầy trong cõi tam thiên đại thiên thế giới để bố thí. Do nhân duyên ấy, được phước nhiều chăng?”
−“Bạch Thế Tôn, quả đúng như vậy. Người ấy do nhân duyên bố thí, được phước rất nhiều.”
“Tu Bồ Đề! Nếu phước đức có thật, Như Lai chẳng nói là được nhiều phước đức. Vì phước đức là không, nên Như Lai nói là được nhiều phước đức.
“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Có thể lấy sắc thân đầy đủ thấy đó là Phật chăng?”
−“Bạch Thế Tôn, chẳng được. Chẳng nên lấy sắc thân đầy đủ thấy là Như Lai. Vì sao vậy? Như Lai dạy rằng, sắc thân đầy đủ tức chẳng phải sắc thân đầy đủ, tạm gọi là sắc thân đầy đủ.”
“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Có thể dùng các tướng đầy đủ thấy là Như Lai chăng?”
−“Bạch Thế Tôn, chẳng được. Chẳng nên dùng các tướng đầy đủ thấy là Như Lai. Vì sao vậy? Như Lai dạy rằng, các tướng đầy đủ tức chẳng phải đầy đủ, tạm gọi là các tướng đầy đủ.”
“Tu Bồ Đề! Ông đừng cho rằng Như Lai có ý nghĩ này: ‘Ta đang có chỗ thuyết pháp.’ Chớ nghĩ như thế. Vì sao vậy? Nếu có người nói Như Lai có chỗ thuyết pháp, tức là hủy báng Phật, chẳng thể hiểu được chỗ Ta thuyết dạy.
“Tu Bồ Đề! Người thuyết pháp, chẳng pháp nào có thể thuyết, gọi là thuyết pháp.”
Bấy giờ, ngài Huệ Mạng[[7]] Tu Bồ Đề bạch Phật:
−“Thế Tôn! Liệu có chúng sanh nào ở đời vị lai nghe pháp này sanh lòng tin theo chăng?”
Phật dạy: “Tu Bồ Đề! Đó chẳng phải là chúng sanh, chẳng phải không là chúng sanh.[[8]]
“Vì sao vậy? Tu Bồ Đề! Chúng sanh đó Như Lai dạy rằng chẳng phải chúng sanh, chỉ tạm gọi là chúng sanh.”[[9]]
−Tu Bồ Đề bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Phật được pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác là không có chỗ được sao?”
Phật dạy: “Đúng vậy, đúng vậy! Tu Bồ Đề! Ta đối với quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, chẳng có lấy một phần nhỏ pháp có thể được, nên gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
“Lại nữa, Tu Bồ Đề! Pháp này bình đẳng không có cao thấp, gọi tên là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Trừ bỏ các tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả mà tu hết thảy pháp lành,[[10]] nên thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
“Tu Bồ Đề! Chỗ nói là pháp lành, Như Lai dạy rằng chẳng phải pháp lành, chỉ tạm gọi là pháp lành.[[11]]
“Tu Bồ Đề! Như trong tam thiên đại thiên thế giới có các núi chúa Tu di, có người dùng bảy món báu tích tụ nhiều như các núi ấy mà bố thí. Lại có người lấy kinh Bát nhã Ba la mật này, thậm chí chỉ bốn câu kệ, thọ trì, đọc tụng, vì người khác giảng nói. Phước đức của người bố thí, so với người trì kinh thật trăm phần chẳng bì được một, trăm ngàn vạn ức phần, cho đến tính toán, thí dụ cũng chẳng thể theo kịp được.
“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Các ông đừng cho rằng Như Lai có ý nghĩ này: ‘Ta đang độ chúng sanh.’
“Tu Bồ Đề! Chớ nghĩ như thế. Vì sao vậy? Thật không có chúng sanh nào được Như Lai độ. Nếu có chúng sanh được Như Lai độ, Như Lai tất có các tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả.
“Tu Bồ Đề! Như Lai dạy rằng ngã tức chẳng phải ngã, chỉ vì phàm phu mê lầm cho đó là ngã.
“Tu Bồ Đề! Phàm phu, Như Lai dạy rằng chẳng phải phàm phu.[[12]]
“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Có thể lấy ba mươi hai tướng mà quán đó là Như Lai chăng?”
−Tu Bồ Đề thưa: “Đúng vậy, đúng vậy. Lấy ba mươi hai tướng mà quán, đó là Như Lai.”
Phật bảo Tu Bồ Đề: “Nếu lấy ba mươi hai tướng mà quán đó là Như Lai, vậy Chuyển Luân Thánh Vương tức là Như Lai.”[[13]]
−Tu Bồ Đề bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Theo như chỗ con hiểu nghĩa Phật thuyết dạy, chẳng nên lấy ba mươi hai tướng mà quán đó là Như Lai.”
Bấy giờ, đức Thế Tôn liền nói kệ rằng:
“Nếu dùng sắc thấy Phật,
Dùng âm thanh cầu Phật.
Là người hành tà đạo,
Chẳng thể thấy Như Lai (Phật Trí).”
(Nhược dĩ sắc kiến ngã, / Dĩ âm thanh cầu ngã,
Thị nhân hành tà đạo, / Bất năng kiến Như Lai)
“Tu Bồ Đề! Nếu ông khởi nghĩ rằng: Như Lai chẳng dùng các tướng đầy đủ mà được thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tu Bồ Đề! Chớ nghĩ như thế. Chớ nghĩ rằng Như Lai chẳng dùng các tướng đầy đủ mà được thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
“Tu Bồ Đề! Nếu ông khởi ý nghĩ rằng: “Người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thuyết giảng các pháp đoạn diệt.” Chớ nghĩ như thế. Vì sao vậy? Người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đối với pháp chẳng thuyết nghĩa đoạn diệt.[[14]]
“Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát dùng bảy báu đầy trong những thế giới nhiều như cát sông Hằng mang ra bố thí. Lại có người hiểu biết hết thảy các pháp là vô ngã nên thành tựu được hạnh nhẫn nhục. Công đức của người này vượt hơn vị Bồ Tát làm việc bố thí.
“Vì sao vậy? Tu Bồ Đề! Là vì các vị Bồ Tát chẳng thọ nhận phước đức.”
−Tu Bồ Đề bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Thế nào là Bồ Tát chẳng thọ nhận phước đức?”
“Tu Bồ Đề! Bồ Tát có làm việc phước đức đều chẳng nên tham trước, nên nói là chẳng thọ nhận phước đức.
“Tu Bồ Đề! Nếu có người nói: “Như Lai có đến, hoặc có đi, hoặc có ngồi, hoặc có nằm.” Người ấy thật chẳng hiểu nghĩa Ta thuyết dạy. Vì sao vậy? Như Lai đó, chẳng từ đâu mà đến, cũng chẳng đi về đâu, nên gọi là Như Lai.[[15]]
“Tu Bồ Đề! Nếu có những kẻ nam người nữ lòng lành, lấy cả cõi tam thiên đại thiên thế giới nghiền nát thành vi trần. Ý ông nghĩ sao? Số vi trần ấy là nhiều chăng?”
−Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, rất nhiều. Vì sao vậy? Nếu những vi trần này là thật có, Phật tất chẳng nói là vi trần. Vì sao như thế? Phật dạy rằng các vi trần, tức chẳng phải vi trần, tạm gọi là vi trần.
“Thế Tôn! Chỗ Như Lai nói tam thiên đại thiên thế giới, tức chẳng phải thế giới, chỉ tạm gọi là thế giới.
“Vì sao vậy? Nếu thế giới là có thật, tức là một tướng hòa hợp. Như Lai dạy rằng một tướng hòa hợp tức chẳng phải một tướng hòa hợp, gọi là một tướng hòa hợp.”
“Tu Bồ Đề! Một tướng hòa hợp,[[16]] chẳng nên nói ra.
Chỉ vì kẻ phàm phu tham chấp sự việc ấy (do vậy, không thể giác ngộ).[[17]]
“Tu Bồ Đề! Nếu có người nói rằng Phật thuyết dạy những kiến giải ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Người ấy có hiểu được nghĩa Ta thuyết dạy chăng?”
−“Bạch Thế Tôn, người ấy chẳng hiểu được nghĩa Như Lai thuyết dạy. Vì sao vậy? Thế Tôn dạy rằng những kiến giải ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả, chẳng phải là những kiến giải ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả, chỉ tạm gọi là những kiến giải ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả.”
“Tu Bồ Đề! Người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đối với hết thảy các pháp, nên thấy biết như thế này, tin hiểu như thế này, chẳng sanh khởi pháp tướng.[[18]]
“Tu Bồ Đề! Chỗ nói là pháp tướng đó, Như Lai dạy rằng chẳng phải pháp tướng, chỉ tạm gọi là pháp tướng.
“Tu Bồ Đề! Nếu có người dùng bảy món báu đầy khắp trong vô số A tăng kỳ thế giới mà bố thí. Lại có những kẻ nam người nữ lòng lành phát tâm Bồ đề, thấu suốt kinh này, thậm chí chỉ bốn câu kệ, thọ trì đọc tụng, vì người diễn thuyết, phước đức này hơn phước bố thí kia.
“Thế nào là vì người diễn thuyết? Chẳng chấp giữ nơi tướng, như như bất động. Vì sao vậy?
“Hết thảy pháp hữu vi,
Như mộng, ảo, bọt, bóng,
Như sương sa, điện chớp.
Nên quán sát như vậy.”
(Nhất thiết hữu vi pháp,
Như mộng, huyễn, bào, ảnh,
Như lộ diệc như điện,
Ưng tác như thị quán.)
Phật thuyết kinh này rồi, Trưởng lão Tu Bồ Đề cùng các vị tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di,[[19]] hết thảy thế gian, trời, người, a tu la nghe Phật dạy đều hết sức hoan hỷ, tin nhận, vâng làm theo.
---
Phần chú giải
[[1]] na do tha (tên một đại lượng số; Ấn Độ thời Phật): Chỉ số lượng rất lớn (rất nhiều)…
[[2]] ... nghĩa như của các pháp: ... Không tánh, không tướng, không tâm, không pháp…!
[[3]] Một pháp tự nó không là Thế pháp hay Phật pháp, vì bản lai các pháp không tánh không tướng… Cái được gọi là Phật pháp, khi vào tay kẻ mê, Pháp ấy lập tức trở thành Thế pháp (Pháp trói buộc)… Còn cái được gọi là Thế pháp, nhưng vào tay kẻ trí, với sức thiện xảo của mình, Pháp ấy tức thì trở thành Phật pháp (Giác ngộ; Giải thoát; Trí tuệ)!
[[4]] ... thông đạt pháp vô ngã: Bồ Tát biết rõ bản lai chúng sanh tự không có ngã, ngũ ấm không ngã, vì thế các pháp cũng không có ngã…!
[[5]] Các thứ nhãn trong Phật đạo: − Nhục nhãn: Chỉ thấy theo Nghiệp… − Thiên nhãn: Thấy rõ các cảnh giới của Thiền Định… − Pháp nhãn: Thấy các Niết Bàn… − Huệ nhãn: Thấy Thiệt tướng… − Phật nhãn: Thấy các cõi Phật (Phật quốc)!
[[6]] Tam (ba) Tâm bất khả đắc: − Quá khứ: Như mộng, không thể đem giấc mơ về hiện tại, vì thế không thể nắm bắt được… − Vị lai: Như huyễn (ảo thuật) chỉ có trong tưởng tượng (vì chưa xảy ra) nên cũng không nắm bắt được… − Hiện tại: Như ảnh, không thể nắm bắt được vì niệm niệm sanh diệt không ngừng…!
[[7]] Huệ Mạng: một trong các danh hiệu của Trưởng lão Tu bồ đề (Subhūti). Những tên gọi khác theo Hán dịch là Thiện Nghiệp, Thiện Hiện, Thiện Cát…
[[8]] Thân tướng là chúng sanh, nhưng tâm trí chẳng phải là tâm trí của chúng sanh!
[[9]] Theo kinh Đại Bát Nhã, hạng này gọi là Siêu Nhân Loại!
[[10]] ... tu hết thảy pháp lành: Chẳng tận Hữu vi, chẳng trụ Vô vi.!
[[11]] ... Pháp của Như Lai phi Hữu, phi Vô!
[[12]] Mê, Ngộ; Trí, Ngu; Phàm, Thánh…. chỉ tại một Tâm này! Các thứ ấy chỉ có danh tự mà không thực thể, như sừng thỏ lông rùa!
[[13]] Vì Chuyển Luân Thánh Vương cũng có đủ ba mươi hai tướng tốt như Phật…
[[14]] Pháp Phật: Chẳng Hữu chẳng Vô, Chẳng Ác chẳng Thiện; Chẳng Thường chẳng Đoạn; Chẳng Sanh chẳng Diệt… Mà cũng là Hữu, Vô; Ác, Thiện; Thường, Đoạn; Sanh, Diệt; … Siêu quá các quan niệm thế gian…. Vì thế, chẳng phải nghĩa đoạn diệt mà là “Trung Đạo Pháp”!
[[15]] Như Lai xuất hiện trong đời: Như Mặt Trời và Ánh Sáng… Mặt trời chẳng khởi nghĩ ‘ta đem Ánh Sáng để trừ diệt bóng tối’. Khi tối, Mặt trời cũng chẳng khởi nghĩ ‘ta đem Ánh Sáng trở về’… Sáng hoặc tối, chỉ do phước duyên hay công đức chúng sanh tự thấy như vậy! ... Phật có ba thân: −Báo Thân: Do Phước Duyên mà thấy… −Hóa Thân: Do Công Đức mà thấy … −Pháp Thân: Do Trí Tuệ mà thấy …!
[[16]] Nhất hợp tướng (một tướng hòa hợp): Thuộc về Thế luận; Hướng ngoại cầu pháp… Thế gian cho rằng, ‘Thế Giới’ do vô lượng Vi trần hợp lại, Vi trần là do Thế Giới tan hoại mà thành… Cho đến khi không còn thấy Vi trần hay Thế Giới, gọi đó là “không”! Đây là cái không của Hữu vi … Bởi lẽ: Sự không; Niệm không; Pháp không… Vẫn còn tồn tại trong tâm thức (không thể giải thoát)… Cho nên, nghĩa này chẳng thể ứng dụng tu tập trong Phật Đạo!… Vì nó chẳng phải là nghĩa không đích thực (Vô Vi). Chính vì điều này, nên Phật dạy: “Tu bồ đề! Một tướng hòa hợp, chẳng nên nói ra. Chỉ vì kẻ phàm phu tham chấp sự việc ấy.”(do vậy, không thể Giác Ngộ)!
[[17]] Nhất thiết Phật ngữ tâm: Phật thuyết pháp chỉ nói đến tâm, đến pháp… Chẳng nói đến sự vật, sự việc, vi trần hay thế giới… Nếu tham trước những thứ ấy, đích thị là phàm phu!
[[18]] Chỉ nên thấy biết: Bản lai các Pháp tự không… Khi nào thấy có Pháp tướng, Pháp tánh, Pháp giới, Pháp Danh, Pháp vị… mà cho đó là thật… Người tu hành nên biết rằng: “Đây là cái thấy của điên đảo mê lầm.”! ... Vì thế Phật dạy: “Tu bồ đề! Chỗ nói là pháp tướng đó, Như Lai dạy rằng chẳng phải pháp tướng, chỉ tạm gọi là pháp tướng”!
[[19]] Tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di: gọi chung là Bốn chúng, tức là hàng đệ tử Phật. Tỳ kheo và tỳ kheo ni là hai chúng xuất gia. Ưu bà tắc và ưu bà di là hai chúng tại gia, tức là hàng cư sĩ nam và cư sĩ nữ…
Kinh Kim Cang - Tâm Tông - Phần 1
Tôi nghe như vầy;[[1]]
Một hôm đức Phật ở thành Xá vệ, nơi vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc, cùng các vị đại tỳ kheo là một ngàn hai trăm năm mươi vị.
Đến giờ thọ trai, đức Thế Tôn đắp y mang bát vào thành Xá vệ khất thực. Vào trong thành, [chư tăng] theo thứ tự khất thực rồi trở về tịnh xá. Thọ trai xong, thu dọn y bát, rửa chân tay, trải tòa ra ngồi. Lúc ấy Trưởng lão Tu Bồ Đề từ chỗ ngồi trong đại chúng đứng dậy, bày vai phải, quỳ gối phải, cung kính chắp tay bạch Phật rằng: “Thế Tôn, thật ít có! Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ Tát, khéo dặn dò các vị Bồ Tát.
−“Thế Tôn! Nếu có những kẻ nam người nữ lòng lành phát tâm cầu đạo Vô Thượng Bồ đề,[[2]] nên trụ tâm như thế nào? Hàng phục tâm như thế nào?
Phật dạy: “Lành thay! Lành thay! Tu Bồ Đề, đúng như ông vừa nói. Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ Tát, khéo dặn dò các vị Bồ Tát. Nay hãy lắng nghe, Ta sẽ vì các ông mà giảng thuyết. Nếu có kẻ nam người nữ lòng lành phát tâm Bồ đề, nên trụ tâm như thế này, nên hàng phục tâm như thế này.”
−“Bạch Thế Tôn! Con nguyện được lắng nghe.”
Phật dạy Tu Bồ Đề: “Các vị Đại Bồ Tát[[3]] nên hàng phục tâm như thế này: ‘Đối với tất cả các loài chúng sanh: Hoặc sanh từ bào thai, hoặc sanh từ trứng, hoặc sanh nơi ẩm thấp, hoặc do biến hóa sanh ra, hoặc có sắc, hoặc không có sắc, hoặc có tưởng, hoặc không tưởng, hoặc chẳng phải có tưởng chẳng phải không tưởng,[[4]] Ta đều độ cho nhập vào Vô dư Niết bàn.[[5]] Như vậy diệt độ vô số chúng sanh, nhưng thật không có chúng sanh nào được diệt độ.’[[6]]
“Vì sao vậy? Tu Bồ Đề, nếu Bồ Tát có các tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả,[[7]] thì chẳng phải là Bồ Tát.
“Lại nữa, Tu Bồ Đề! Bồ Tát theo đúng pháp, nên lấy tâm không chỗ trụ mà làm việc bố thí. Nghĩa là chẳng nên trụ nơi hình sắc mà bố thí, chẳng nên trụ nơi âm thanh, hương thơm, mùi vị, xúc cảm, pháp tướng mà bố thí.
“Tu Bồ Đề! Bồ Tát nên bố thí như vậy đó, không trụ nơi tướng. Vì sao vậy?
“Nếu Bồ Tát bố thí với tâm không trụ tướng, phước đức[[8]] ấy chẳng thể suy lường.
“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Hư không phương đông có thể suy lường được chăng?”
−“Bạch Thế Tôn, chẳng thể được.”
“Tu Bồ Đề! Hư không các phương nam, tây, bắc, bốn phương phụ,[[9]] phương trên, phương dưới có thể suy lường được chăng?”
−“Bạch Thế Tôn, chẳng thể được.”
“Tu Bồ Đề! Bồ Tát bố thí với tâm không trụ tướng, phước đức cũng như vậy, chẳng thể suy lường.
“Tu Bồ Đề! Bồ Tát chỉ nên trụ tâm[[10]] theo như cách đã chỉ dạy.
“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Có thể nhìn vào thân tướng mà cho đó là Như Lai[[11]] chăng?”
−“Bạch Thế Tôn, chẳng thể được. Chẳng thể nhìn vào thân tướng mà thấy Như Lai.
“Vì sao vậy? Như Lai dạy rằng thân tướng thật chẳng phải là thân tướng.”
Phật dạy Tu Bồ Đề: “Phàm những gì có hình tướng đều là hư vọng. Nếu thấy các tướng thật chẳng phải tướng tức là thấy Như Lai.[[12]]
−Tu Bồ Đề bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Liệu có chúng sanh nào nghe lời thuyết dạy này[[13]] được sanh lòng tin chân thật[[14]] chăng?”
Phật bảo Tu Bồ Đề: “Chớ nên nói thế! Như Lai diệt độ rồi, năm trăm năm sau (thời mạt pháp) sẽ có những người giữ giới,[[15]] tu phước,[[16]] đối với lời thuyết này thường sanh lòng tin chân thật. Nên biết những người này chẳng phải chỉ ở nơi một, hai, ba, bốn, năm... đức Phật gieo trồng căn lành,[[17]] mà thật đã ở nơi vô số ngàn vạn đức Phật gieo trồng căn lành, [những người ấy] nghe lời thuyết này, dù chỉ một niệm cũng sanh lòng tin trong sạch.[[18]]
“Tu Bồ Đề! Như Lai tất sẽ thấy biết những chúng sanh ấy được vô lượng phước đức. Vì sao vậy? Những chúng sanh ấy không sanh khởi các tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả, không khởi pháp tướng, cũng không khởi phi pháp tướng.[[19]]
“Vì sao vậy? Những chúng sanh ấy nếu tâm chấp giữ tướng, tức mắc vào ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Nếu giữ lấy pháp tướng tức mắc vào ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả.
“Vì sao vậy? Nếu giữ lấy phi pháp tướng, tức mắc vào ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả.
“Vì thế, chẳng nên chấp giữ lấy pháp, cũng chẳng nên chấp giữ lấy phi pháp.[[20]]
“Do nơi nghĩa này, Như Lai thường nói: Các vị tỳ kheo nên biết, pháp Phật thuyết như cái bè qua sông.[[21]]
Pháp (Phật) còn nên xả bỏ, hà huống những gì chẳng phải pháp (Phật)!”
“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có được pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chăng? Như Lai có chỗ thuyết pháp chăng?”
−Tu Bồ Đề thưa: “Theo như chỗ con hiểu nghĩa Phật đã dạy, không có pháp gì gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác,[[22]] cũng không có một pháp Như Lai có thể thuyết.[[23]]
“Vì sao vậy? Chỗ thuyết pháp của Như Lai thảy đều chẳng thể chấp giữ lấy, chẳng thể nói ra, chẳng phải là pháp, cũng chẳng phải phi pháp.
“Vì sao vậy? Tất cả các bậc thánh hiền đều thành tựu pháp vô vi, nhưng có chỗ sai biệt.”[[24]]
“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Nếu có người dùng bảy món báu đầy trong cõi tam thiên đại thiên thế giới mà bố thí, được phước đức nhiều chăng?”
−Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, rất nhiều. Vì sao vậy? Phước đức ấy, chẳng có tánh phước đức, nên Như Lai nói là nhiều phước đức.”
“Nếu lại có người thọ trì chỉ bốn câu kệ trong kinh này,[[25]] vì người khác mà giảng nói, phước này hơn hẳn phước bố thí kia.
“Vì sao vậy? Hết thảy chư Phật và giáo pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của các ngài đều từ nơi kinh này mà ra.
“Tu Bồ Đề! Vì vậy mà nói rằng: Pháp Phật tức chẳng phải là pháp Phật.
“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Vị Tu đà hoàn có nên khởi niệm: Ta được quả Tu đà hoàn chăng?”
−Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, chẳng nên. Vì sao vậy? Tu đà hoàn gọi là nhập vào dòng thánh,[[26]] nhưng thật không có chỗ nhập. Chẳng nhập vào hình sắc, âm thanh, hương thơm, mùi vị, xúc cảm, pháp tướng, nên mới gọi là Tu đà hoàn.”
“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Vị Tư đà hàm có nên khởi niệm: Ta được quả Tư đà hàm chăng?”
−Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, chẳng nên. Vì sao vậy? Tư đà hàm gọi là một lần trở lại,[[27]] nhưng thật không có trở lại, nên mới gọi là Tư đà hàm.”
“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Vị A na hàm có nên khởi niệm: Ta được quả A na hàm chăng?”
−Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, chẳng nên. Vì sao vậy? A na hàm gọi là không trở lại,[[28]] nhưng thật chẳng phải là không trở lại, nên mới gọi là A na hàm.”
“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Vị A la hán[[29]] có nên khởi niệm: Ta được đạo A la hán chăng?
− Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, chẳng nên. Vì sao vậy? Thật không có pháp gọi là A la hán. Thế Tôn! Nếu vị A la hán khởi niệm rằng: Ta được đạo A la hán, tức là vướng mắc vào ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả.[[30]]
−“Thế Tôn! Phật dạy rằng con được phép Tam muội Vô tránh, cao quý nhất trong loài người, là bậc A la hán cao quý nhất đã lìa bỏ tham dục. Con chẳng khởi niệm này: Ta là bậc A la hán lìa bỏ tham dục.
−“Bạch Thế Tôn! Nếu con khởi niệm: Ta được đạo A la hán, Thế Tôn tất chẳng nói: Tu Bồ Đề ưa thích hạnh A lan na.[[31]] Vì con đây thật không vướng mắc ở chỗ làm, nên mới nói rằng: Tu Bồ Đề ưa thích hạnh A lan na.”
Phật hỏi Tu Bồ Đề: “Ý ông nghĩ sao?
Như Lai trước kia ở nơi Phật Nhiên Đăng có chỗ được pháp chăng?”
−“Bạch Thế Tôn, chẳng có. Như Lai ở nơi Phật Nhiên Đăng thật không có chỗ được pháp.”
“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Bồ Tát có trang nghiêm cõi Phật chăng?”
−“Bạch Thế Tôn, chẳng có. Vì sao vậy? Việc trang nghiêm cõi Phật đó, thật chẳng phải trang nghiêm, gọi là trang nghiêm.”[[32]]
“Tu Bồ Đề! Vì vậy mà các vị đại Bồ Tát nên sanh tâm thanh tịnh như thế này: Chẳng nên trụ nơi hình sắc mà sanh tâm, chẳng nên trụ nơi âm thanh, hương thơm, mùi vị, xúc cảm, pháp tướng mà sanh tâm. Nên ở nơi không chỗ trụ mà sanh tâm.
“Tu Bồ Đề! Như người kia có thân hình như núi chúa Tu di. Ý ông nghĩ sao? Thân ấy là lớn chăng?”
−Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, rất lớn.
Vì sao vậy? Phật thuyết chẳng phải thân, gọi là thân lớn.”[[33]]
“Tu Bồ Đề! Như trong sông Hằng có bao nhiêu là cát, mỗi hạt lại là một sông Hằng. Ý ông nghĩ sao? Số cát trong tất cả những sông Hằng ấy là nhiều chăng?”
−Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, rất nhiều. Chỉ với số sông Hằng như thế còn nhiều không kể xiết, huống chi là cát trong những con sông ấy!”
“Tu Bồ Đề! Đây là thật ngữ.[[34]] Như có những kẻ nam người nữ lòng lành, dùng bảy món báu đầy trong cõi tam thiên đại thiên thế giới nhiều bằng số cát của những sông Hằng ấy mang ra bố thí, được phước nhiều chăng?”
−Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, rất nhiều.”
Phật dạy Tu Bồ Đề: “Nếu có những kẻ nam người nữ lòng lành, thọ trì dù chỉ bốn câu kệ trong kinh này, vì người khác giảng nói, phước đức này hơn cả phước đức bố thí kia.
“Lại nữa, Tu Bồ Đề! Theo như kinh này mà thuyết dạy, cho đến chỉ bốn câu kệ, nên biết là nơi ấy hết thảy thế gian, trời, người, a tu la đều nên cúng dường như tháp miếu Phật. Huống chi có người đem hết sức mà thọ trì, đọc tụng. Tu Bồ Đề! Nên biết là người này thành tựu được pháp cao quý bậc nhất ít có.
“Nếu kinh điển này ở tại nơi nào, tức như có Phật hoặc bậc đệ tử cao quý đáng tôn trọng ở đó.”
−Lúc ấy Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Kinh này gọi tên là gì? Chúng con phải vâng giữ như thế nào?”
Phật dạy Tu Bồ Đề: “Kinh này gọi tên là Kim Cang Bát nhã Ba la mật. Nên theo như tên kinh mà vâng giữ. Vì sao vậy? Tu bồ đề! Phật thuyết Bát nhã Ba la mật tức chẳng phải Bát nhã Ba la mật.[[35]]
“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có chỗ thuyết pháp chăng?”
−Tu Bồ Đề bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, Như Lai không có chỗ thuyết pháp.”
“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Số vi trần[[36]] trong tam thiên đại thiên thế giới có nhiều chăng?”
−Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, rất nhiều.”
“Tu Bồ Đề! Những vi trần ấy, Như Lai thuyết chẳng phải vi trần, tạm gọi là vi trần. Như Lai thuyết thế giới chẳng phải thế giới, tạm gọi là thế giới.[[37]]
“Tu Bồ Đề! Ý ông nghĩ sao? Có thể dùng ba mươi hai tướng để thấy Như Lai chăng?”
− “Bạch Thế Tôn, chẳng thể được. Chẳng thể dùng ba mươi hai tướng để thấy Như Lai. Vì sao vậy? Như Lai thuyết ba mươi hai tướng tức chẳng phải tướng, tạm gọi là ba mươi hai tướng.[[38]]
“Tu Bồ Đề! Nếu có những kẻ nam người nữ lòng lành, dùng thân mạng nhiều như số cát sông Hằng để bố thí. Lại có người thọ trì kinh này, cho đến chỉ bốn câu kệ, vì người khác giảng nói, phước ấy rất nhiều.”[[39]]
−Bấy giờ, Tu Bồ Đề nghe thuyết kinh này, hiểu sâu nghĩa thú, cảm động đến rơi lệ, bạch Phật rằng: “Thật ít có thay,[[40]] Thế Tôn! Phật thuyết kinh điển này rất sâu xa, con từ trước đến nay dẫu được huệ nhãn nhưng chưa từng được nghe kinh như vậy.[[41]]
−“Bạch Thế Tôn! Nếu có người cũng được nghe kinh này, đem lòng tin tưởng trong sạch, liền khởi sanh tướng chân thật. Nên biết là người ấy thành tựu công đức[[42]] cao quý bậc nhất ít có.
−“Bạch Thế Tôn! Tướng chân thật ấy tức là chẳng phải tướng, nên Như Lai tạm gọi là tướng chân thật.[[43]]
−“Thế Tôn! Nay con được nghe kinh điển này, tin hiểu thọ trì chẳng lấy chi làm khó. Nhưng nếu năm trăm năm sau cùng (của thời mạt pháp), có chúng sanh nào được nghe kinh này, tin hiểu thọ trì, người ấy quả là bậc nhất ít có. Vì sao vậy?
Người ấy không có các tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Vì sao vậy? Tướng ngã chẳng phải là tướng; tướng nhân, chúng sanh, thọ giả cũng chẳng phải tướng. Vì sao vậy? Lìa hết thảy các tướng gọi là chư Phật.
Phật bảo Tu Bồ Đề: “Đúng vậy, đúng vậy! Nếu có người được nghe kinh này mà chẳng thấy kinh sợ hoảng hốt, nên biết người ấy rất là ít có.
“Vì sao vậy? Tu Bồ Đề! Như Lai dạy rằng bậc nhất Ba la mật, tức chẳng phải bậc nhất Ba la mật, gọi là bậc nhất Ba la mật.
“Tu Bồ Đề! Nhẫn nhục Ba la mật, Như Lai nói là chẳng phải nhẫn nhục Ba la mật.
“Vì sao vậy? Tu Bồ Đề! Như Ta xưa kia bị vua Ca lỵ cắt xẻo thân thể từng phần. Lúc bấy giờ, Ta không có các tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Vì sao vậy? Trong lúc Ta bị cắt xẻo từng phần thân thể, nếu có các tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả, tất phải sanh lòng sân hận.”[[44]]
“Tu Bồ Đề! Lại nhớ đến quá khứ năm trăm đời trước, Ta làm một vị tiên nhẫn nhục. Lúc ấy Ta cũng không có các tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả.
“Bởi vậy, Tu Bồ Đề, Bồ Tát nên lìa hết thảy các tướng mà phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.[[45]] Chẳng nên trụ nơi hình sắc sanh tâm, chẳng nên trụ nơi âm thanh, hương thơm, mùi vị, xúc cảm, pháp tướng sanh tâm. Nên sanh tâm không có chỗ trụ.
“Nếu tâm có chỗ trụ tức là chẳng trụ.[[46]]
“Vì thế, Phật dạy các vị Bồ Tát chẳng nên trụ tâm nơi hình sắc mà bố thí. Tu Bồ Đề! Bồ Tát vì lợi ích cho tất cả chúng sanh nên bố thí như vậy.
“Như Lai dạy rằng hết thảy các tướng tức chẳng phải tướng. Lại dạy rằng hết thảy chúng sanh tức chẳng phải chúng sanh.
“Tu Bồ Đề! Lời nói của đấng Như Lai là chân chánh, đúng thật, như nghĩa, không hư dối, không sai khác.
“Tu Bồ Đề! Như Lai có chỗ được pháp, pháp ấy không thật, không hư.[[47]]
“Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát trụ tâm nơi pháp làm việc bố thí, cũng như người vào chỗ tối, không thể nhìn thấy.
“Nếu Bồ Tát chẳng trụ tâm nơi pháp làm việc bố thí, như người có mắt, khi ánh sáng mặt trời chiếu soi thấy đủ các màu sắc.
“Tu Bồ Đề! Về sau nếu có những kẻ nam người nữ lòng lành, thường hay thọ trì đọc tụng kinh này, Như Lai dùng trí huệ Phật thấy biết những người này đều được thành tựu vô lượng vô biên công đức.
“Tu Bồ Đề! Nếu có những kẻ nam người nữ lòng lành, vừa lúc đầu ngày dùng thân mạng nhiều như cát sông Hằng mà bố thí, đến giữa ngày lại dùng thân mạng nhiều như cát sông Hằng mà bố thí, đến cuối ngày cũng lại dùng thân mạng nhiều như cát sông Hằng mà bố thí. Cứ như vậy trong vô lượng trăm ngàn ức kiếp, dùng thân mạng mà bố thí. Nếu có người nghe kinh điển này, trong lòng tin theo chẳng nghịch, được phước nhiều hơn cả những người dùng thân mạng mà bố thí kia. Huống chi là thọ trì, đọc tụng, vì người giảng giải!
“Tu Bồ Đề! Kinh này có vô lượng vô biên công đức như thế, chẳng thể suy lường. Như Lai vì người phát tâm Đại thừa mà thuyết dạy, vì người phát tâm Tối thượng thừa mà thuyết dạy. Nếu có người thường hay thọ trì, đọc tụng, rộng vì người khác mà thuyết giảng, Như Lai tất sẽ thấy biết những người này đều được thành tựu công đức vô lượng vô biên chẳng thể suy lường. Những người như vậy có thể đảm đương gánh vác đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của Như Lai.
“Vì sao vậy? Tu Bồ Đề! Nếu kẻ ưa pháp nhỏ,[[48]] vướng mắc vào những kiến giải: ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả, tức chẳng thể thọ trì đọc tụng, vì người khác mà giảng giải kinh này.
“Tu Bồ Đề! Bất cứ nơi nào có kinh này, hết thảy thế gian, các hàng trời, người, a tu la đều nên cúng dường. Nên biết nơi ấy tức là tháp Phật, nên cung kính đi quanh lễ bái, dùng các thứ hương hoa rải lên nơi ấy.
“Lại nữa, Tu Bồ Đề! Những kẻ nam người nữ lòng lành, thọ trì đọc tụng kinh này, nếu bị người khác khinh chê, thì người trì kinh ấy dù cho đời trước đã tạo nghiệp ác lẽ ra phải đọa vào các đường dữ, nay nhân bị người khinh chê, nghiệp ác đời trước liền tiêu diệt,[[49]] được thành tựu quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
---
Phần chú giải
[[1]] Tôi nghe như vầy: Có 2 nghĩa, thế gian và xuất thế. − Nghĩa thế gian: Lời A Nan theo lịch sử… − Nghĩa xuất thế: Chỉ nghe (thấy) theo thanh tịnh tự tâm, không nghe (thấy) theo đảo điên của trần cảnh (âm thanh, sắc tướng)!
[[2]] ..“phát tâm A nậu đa la Tam miệu Tam bồ đề”: Thường được nói gọn là phát tâm Bồ đề. (A nậu đa la Tam miệu Tam bồ đề là đọc theo âm tiếng Phạn, Anuttarā saṃyak saṃbodhi; Hán dịch là Vô Thượng Chánh đẳng Chánh giác, cũng tức là quả vị Phật). Người phát tâm A nậu đa la Tam miệu Tam bồ đề là người nguyện sẽ tu học cho đến khi được quả vị Phật, quyết không thối chí giữa đường…
[[3]] Bồ Tát (Bodhisattva; Hán dịch âm là Bồ đề Tát đỏa): Được hiểu theo nghĩa rộng, là tất cả những ai phát tâm tu đạo Bồ Tát; (Hán dịch nghĩa là Giác hữu tình) Nghĩa là những người phát tâm hành đạo Bồ Tát, mang lại sự giác ngộ cho hết thảy chúng sanh.
[[4]] Đại ý của đoạn này muốn nêu lên hết thảy các loài chúng sanh trong Ba cõi, đó là Dục giới, Sắc giới và Vô Sắc giới (Tam Giới).
Khái niệm Tam giới trong Phật đạo không nhằm chỉ cho thế giới bên ngoài, nó là hiệu ứng nội tâm của một hữu tình khi mê (Tam giới duy tâm)… Vì thế, có thể coi học thuyết Tam giới là “Thế Giới Quan Tâm Thức” của Phật giáo, nó phản ảnh thế giới nội tâm chứ chẳng phải thế giới vật chất, càng không phải “Thế Giới Vô Hình ngoài tâm này”!
Tam Giới (Ba cõi) được hình thành từ 3 tầng mê như sau: ... −Cõi Dục: Mê ngũ dục (sắc, thanh, hương, vị, xúc), dứt được mê này ra khỏi Dục giới, sanh Thiền! ... −Cõi Sắc: Mê thân và các cảm thọ (sắc ấm và thọ ấm), dứt được mê này ra khỏi Sắc giới, đắc Sơ Thiền đến Tứ Thiền! ... −Cõi Vô Sắc: Mê các pháp và tưởng (Ý Thức và Tưởng Ấm), dứt được mê này chứng Tứ Không Định đến Diệt Thọ Tưởng Định, ra khỏi Vô Sắc giới, vào “Hữu Dư Y Niết bàn” (vì còn thừa sót lại Hành và Thức Ấm), còn gọi là Niết Bàn Vô Tưởng Thiên!
−Đối với Tâm Tông, Ba cõi chỉ do một niệm Mê… Vô Niệm, “Tam giới tức thị Niết Bàn”!
[[5]] Vô dư Niết bàn (tiếng Phạn là Nirupadhiśeṣa nirvāṇa): Có 2 nghĩa,
−Đối với Ba thừa (Tâm chứng): Viên mãn Diệt Đế, thành tựu Giải thoát Bất động, không còn thừa sót Hành và Thức (cơ sở sanh Pháp)…!
−Đối với Nhất thừa (Trí chứng): Viên mãn Đạo Đế, thành tựu Nhất Thiết Trí, không còn thừa sót 2 phần sở trí ngu của Vô Minh Trụ Địa…!
[[6]] ... diệt độ vô số chúng sanh… : Bồ Tát biết rõ chúng sanh chỉ do một niệm mê. Vì thế, Bồ Tát độ hết thảy chúng sanh vào Vô Dư Niết Bàn (hết mê) mà thiệt không có một chúng sanh nào được diệt độ. Giống như người nằm mơ thấy chữa rất nhiều Bệnh Nhân, nhưng thật ra không có Bệnh Nhân nào được chữa... Hoặc, giống như người nằm mơ thấy đưa vô số người sang sông, nhưng thật ra không có người nào được đưa sang sông…!
[[7]] Ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả: Gọi chung là Bốn tướng, bốn tướng này đều do nhận thức sai lầm mà sanh ra. −Tướng ngã: Lầm nhận rằng thật có “ta”. −Tướng nhân: Lầm nhận rằng thật có “người”. −Tướng chúng sanh: Lầm nhận rằng thật có chúng sanh. −Tướng thọ giả: Lầm nhận các tướng hư dối như đẹp, xấu, sang, hèn, …là thật!
[[8]] Phước đức: Có hai thứ, hữu lậu và vô lậu. − Phước đức Hữu lậu (của người không giác ngộ): Đầy đủ vật phẩm thế gian nhưng còn phiền não, lậu hoặc… − Phước đức Vô lậu (của người giác ngộ): Đầy đủ vật phẩm thế gian nhưng không còn phiền não, lậu hoặc…!
[[9]] Bốn phương phụ: Các phương Đông Nam, Đông Bắc, Tây Nam, Tây Bắc.
[[10]] ... trụ tâm: Bồ Tát lấy chỗ không trụ mà trụ!
[[11]] Như Lai: Là Trí tuệ tối thượng, vô vi, vô tướng… chứ chẳng phải hình tướng (..âm thanh) hư vọng bên ngoài...!
[[12]] ... thấy Như Lai: Phải rời lìa cái thấy (nghe) hình tướng (âm thanh) hư dối...!
[[13]] ... lời thuyết dạy này: − Cầu Phật Pháp: Cầu cái không Pháp (chứ không phải cầu có một Pháp để tu)... − Cầu Phật Đạo: Cầu cái không Đạo để thành … − Cầu Phật Quả: Cầu cái không Quả để chứng…!
[[14]] ... lòng tin chân thật (tín lực): Lòng tin của người đã giác ngộ. Đã tịch diệt các thứ tâm hư vọng…!
[[15]] ... giữ giới: − Giới Xuất Thế: Theo tổ Huệ Năng “Tâm bình là giữ Giới”… − Giới Vô Lậu: Thành tựu “Các căn tu tập”… − Giới Kim Cang: Bất ưng trụ Sắc; Thanh; Hương; Vị; Xúc; Pháp sanh Tâm...!
[[16]] ... tu phước: Bố thí cho người thành tựu Kim Cang Tâm và Kim Cang Trí… Vì thế, Phật dạy: “Nên biết những người này chẳng phải chỉ ở nơi một, hai, ba, bốn, năm... đức Phật gieo trồng căn lành, mà thật đã ở nơi vô số ngàn vạn đức Phật gieo trồng căn lành”!
[[17]] Người tu hành muốn hiện tại và các đời vị lai không quên mất Phật chủng (Phật chủng tánh, Phật tánh) phải thành tựu từ một cho đến đầy đủ sáu Chủng tánh của Phật tánh, đó là: Tập Chủng Tánh, Tánh Chủng Tánh, Thánh Chủng Tánh, Đạo Chủng Tánh, Đẳng Giác Chủng Tánh và Diệu Giác Chủng Tánh (gọi chung là Lục Chủng Tánh Anh Lạc)! ... Vì sao như vậy? Lục chủng tánh Anh Lạc đối với Phật quả giống như hạt giống (nhân) và quá trình thành tựu cây trồng (đến quả); Không có hạt giống (nhân Phật) thì không thể thành tựu quả (Phật Quả). Đây là 6 hạt giống vô gián (không có sự gián đoạn), bất thối (không thối chuyển), và là điều kiện “Ắt có và Đủ” để viên mãn Phật tánh (thành Phật đủ mười danh hiệu)!
Ta có thể hiểu, hữu tình tồn tại là nhờ có Không đại (Hư không)… Hư không phải vô gián, hô hấp phải bất thối, thiếu một trong hai điều kiện này, đời sống nhất định phải chấm dứt! ... Lại cũng có thể hiểu, Pháp giới của Chư Phật được chia thành 6 phần không bằng nhau, mỗi Chủng tánh nương nơi một phần của Pháp giới ấy mà tăng trưởng cho đến khi viên mãn hết sáu phần, mới thành tựu Đại Bồ Đề thọ (cây Chánh Đẳng Chánh Giác)! ... Viên mãn Phật tánh là viên mãn tám đức (tính chất): Từ, Bi, Hỷ, Xả và Thường, Ngã, Lạc, Tịnh… Nói rõ hơn:
Tập Chủng Tánh, Tánh Chủng Tánh và Thánh Chủng tánh (thành tựu Bình Đẳng tâm, khai Pháp Nhãn): Cho ra các tính chất Từ, Lạc, Hỷ và một phần của Xả, Tịnh…
Đạo Chủng Tánh, Đẳng Giác Chủng Tánh (thành tựu Đẳng Pháp và Vô Đẳng Đẳng Trí, khai Huệ Nhãn còn gọi là Bồ Tát Nhãn): Có thêm các tính chất Bi, Tịnh và một phần tính chất Thường, Xả…
Diệu Giác Chủng Tánh (thành tựu Vô Thượng Đẳng Huệ, khai Phật Nhãn… cho đến Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác!): Có thêm tính chất Ngã, Thường và rốt ráo Xả.
(Phân tích trên dựa vào “Chiết Phát Đẳng Pháp Thần Công” của Lý Gia!)
[[18]] Vô niệm mới là niệm trong sạch nhất. Vì thế, trụ nơi Vô niệm sẽ phát sinh lòng tin trong sạch!
[[19]] ... pháp tướng, phi pháp tướng: Không khởi quan niệm đó là tướng ấy hoặc chẳng phải là tướng ấy…!
[[20]] Lời Phật thuyết như ngón tay chỉ mặt trăng… Nên từ bỏ ngón tay để thấy mặt trăng! Ngôn ngữ Kinh như dẫn dược (nước…), ý vị của Kinh mới là thuốc chữa bệnh! Vì thế, chỉ nên đạt nghĩa quên lời… Vì lời ấy chính là phi pháp!
[[21]] Giống như người nằm mơ, thấy dùng bè (Pháp Phật) qua sông… Đến giữa dòng, giật mình thức giấc (Giác Ngộ) mới biết rằng: Chẳng có bờ này (Thế gian)! Chẳng có bờ kia (Xuất thế)! Chẳng có bè (Phật Pháp)! Cũng chẳng có dòng sông (Ba Cõi)!… Thành tựu Đệ Nhất Pháp Ấn; Kinh Lăng Già gọi là “Mộng qua sông” đã tỉnh!
[[22]] Ví như Hư Không, chẳng do một pháp gì làm ra…!
[[23]] Ví như, Hư không không có Hoa đốm, nhưng người nhậm mắt (có công đức), sẽ thấy Hoa đốm hiện trong Hư không (lời Phật Thuyết)… Giống như, cái trống (Như Lai) không có tiếng kêu, nhưng có người đánh (Chúng Sanh có công đức), sẽ phát ra tiếng kêu …
Đây là hình ảnh của Bi nguyện hợp với Bi Ngưỡng tự sanh các pháp lành…!
[[24]] “Tâm” đồng nhưng “Trí” không đồng!
[[25]] “... bốn câu kệ trong kinh này,” (Kinh văn: “nãi chí tứ cú kệ đẳng”): Tứ cú kệ đẳng (Tứ cú Kim Cang): Lời giảng nói nào khiến mình và người − Không bị bốn bệnh (Tác, Nhậm, Chỉ, Diệt); − Hết bốn tướng (Ngã, Nhân, Chúng sanh, Thọ giả); − Không kẹt bốn câu (Đồng, Dị; Có, Không; Chẳng phải có, Chẳng phải không; Thường, Vô thường)!
[[26]] Tu đà hoàn (Śrotāpanna; Hán dịch là Nhập lưu hay Dự lưu): Nghĩa là “nhập vào dòng”, ở đây là dòng các vị thánh. Là quả vị thứ nhất trong bốn quả thánh của Nhị thừa, tức Sơ quả (quả đầu tiên), nên xem như mới bắt đầu được nhập vào (dự vào) dòng thánh…
[[27]] Tư đà hàm (Sakṛḍāgāmin; Hán dịch là Nhất vãng lai hay Nhất lai): Nghĩa là “một lần trở lại”. Là quả vị thứ hai. Người chứng đắc quả thánh này còn tái sanh một lần nữa trong cõi trời người…
[[28]] A na hàm (Anāgāmi; Hán dịch là Bất lai hay Bất hoàn): Nghĩa là “không trở lại”. Là quả vị thứ ba. Người chứng đắc quả này, do nghiệp lực đã hết nên không còn phải thọ thân tái sanh. Thật ra, người này cũng phải tái sanh lên một cõi trời gọi là Bất Hoàn Thiên, sống ở đó và tu tập cho đến khi hết thọ thân ấy thì thành A la hán…
[[29]] A la hán (Arhat): Là quả vị cuối cùng, cao nhất trong bốn thánh quả. Vị A la hán hoàn toàn dứt bỏ mọi triền phược, đạt đến cảnh giới giải thoát…
[[30]] Tu đà hoàn, Tư đà hàm … đến các quả vị thuộc về tâm chứng trong Phật đạo, hữu tình tự có, do chướng đạo (vô minh) che lấp nên thành chúng sanh. Nay trừ sạch chướng đạo, quả vị tự hiện, vì thế không thể nói ‘nay được quả vị’… Giống như nước trong bị nhiễm bẩn, nay làm sạch bẩn thì nước trong trở lại… Giống như người từ chỗ sáng đi vào chỗ tối nay lại trở ra chỗ sáng… Đây là cảnh giới ‘tâm chứng’ (Diệt đế), chưa phải là cảnh giới ‘trí chứng’ (Đạo đế)!
[[31]] ... hạnh A lan na (Kinh văn: “nhạo A lan na hạnh giả”): Người ưa thích hạnh A lan na. (Arañña: Hán dịch âm “A lan na”; Có chỗ trong kinh Phật dịch âm là A lan nhã, A luyện nhã…). Danh từ này dùng chỉ nơi yên tĩnh, thanh tịnh; Vị Tỳ kheo sống ở đó để chuyên tâm tu tập. Vì thế, thường được dùng với nghĩa chung chỉ cho chùa chiền, tự viện. (Hán dịch là Vô tránh thanh hay Viễn ly xứ, nghĩa là nơi không có những tiếng cãi cọ, tranh chấp, nơi xa lìa thế tục). Hạnh A lan nhã là một trong mười hai hạnh đầu đà. Người giữ hạnh này chỉ chọn sống suốt đời ở những nơi A lan nhã…
[[32]] Bồ Tát dùng thanh tịnh tâm trang nghiêm cõi Phật. Vì thế, gọi là lấy không trang nghiêm để trang nghiêm!
[[33]] Cái gì có hình tướng (hữu hạn) thì không thể gọi là lớn!
[[34]] thật ngữ: Là Ngã, là Thường, là Chân lý bất biến!
[[35]] Bát nhã Ba la mật chẳng phải là pháp…Nếu đây là pháp, thì chẳng thể gọi là Bát nhã Ba la mật!
[[36]] Vi trần: Hạt bụi rất nhỏ…
[[37]] Vi trần và Thế giới cho đến các cảnh duyên… Tự các thứ ấy chẳng phải là các pháp… Tự nó chẳng có các nghĩa của Pháp Tánh, Pháp Tướng, Pháp Danh, Pháp Vị, Pháp Giới… Chỉ khi nào ‘Ý Thức’ tiếp cận, bấy giờ, năm món trên mới xuất hiện. Vì thế, “Vi trần, phi Vi trần, Thế giới, phi Thế giới (chỉ tạm gọi)”! Nói chung, những thứ ấy chẳng phải là pháp…!
[[38]] Ba mươi hai tướng Như Lai chẳng phải là pháp!
[[39]] Trong các pháp bố thí, bố thí không pháp là bố thí tối thượng. Bố thí Kinh Kim Cang chính là bố thí không pháp!
[[40]] Thật hy hữu thay!
[[41]] Tu Bồ Đề rơi lệ, vì thấy được nghĩa tối thượng không pháp!
[[42]] Công đức: Thành quả (thù lao) của Lục chủng tánh Anh lạc. Có 3 loại sai biệt:
−Công đức Thế gian và Xuất Thế gian: Do thành tựu một phần Tập đế (Tu đà hoàn, dứt 3 kiết sử: thân kiến, giới cấm thủ và nghi) cho đến viên mãn Diệt đế (A la hán, dứt toàn bộ kiết sử) mà có; Công đức này thuộc về Tập Chủng Tánh, Tánh Chủng Tánh và Thánh Chủng Tánh…(bằng số cát một phần cho đến toàn bộ một sông Hằng)!
−Công đức xuất thế gian thượng thượng: Do thành tựu Đạo đế mà có; Công đức này thuộc về Đạo Chủng Tánh, Đẳng Giác Chủng Tánh…(bằng số cát vô lượng sông Hằng)!
−Công đức của Bậc Vô tu Vô chứng (phi Thế gian, phi Xuất thế gian): Công đức này do hành công hạnh mà thành, thuộc về Diệu Giác Chủng Tánh và Phật… (bằng số cát bất khả thuyết sông Hằng)!
[[43]] Thật tướng là nhất tướng, nhất tướng là không tướng...!
[[44]] Bồ Tát lúc ấy đang tu nhẫn nhục Ba La Mật…!
[[45]] ... phát tâm Vô Thượng... : Là phát cái không phát!
[[46]] Nếu tâm có chỗ trụ tức là chẳng trụ (theo lời dạy của Như Lai)!
[[47]] Pháp của Như Lai giống như tiếng trống, tiếng trống chẳng thật chẳng hư… Pháp của Như Lai giống như tiếng vang, tiếng vang chẳng thật chẳng hư!
[[48]] Pháp nhỏ: Kiến giải bất liễu nghĩa của Ngoại đạo và Nhị thừa!
[[49]] Nghiệp quả phi hữu phi vô … Giống như giấc mơ, nói có cũng trật, nói không cũng trật! Một phen giật mình tỉnh dậy, giấc mơ tự mất!
Kinh Kim Cang - Lời Giới Thiệu

LỜI GIỚI THIỆU
Các bạn! [[1]]
Kinh Kim Cang, đồng thời với kinh Thủ Lăng Nghiêm và Lăng Già, là ba chiếc chìa khoá dùng để mở ba cánh cửa đầu tiên của Tâm Tông (cửa không, cửa vô tướng và cửa vô tác)...
Có nghĩa rằng, muốn vào “Tâm Tông” mà không, hoặc chưa thấu suốt một trong ba kinh này thì, cầm bằng người tu hành đó chỉ có thể lòng vòng nơi “Giáo Tông”! Giống như, chưa vào được đường dẫn bắt buộc, thì không thể thẳng tiến trên đường cao tốc,[[2]] người này chỉ được phép lưu thông trên những con đường cấp dưới nhỏ hơn của địa phương!
Vì thế, yêu cầu giải thích các kinh nói trên theo ý nghĩa Tâm Tông, để giúp người tu hành từ bỏ “lối tẻ quyền tiểu Giáo Tông” là rất quan trọng trong Phật Đạo và cần thiết đối với HĐ chúng ta trong giai đoạn tu tập hiện nay...
Vì rằng, cách giải thích của Tâm Tông không giống cách giải thích của Giáo Tông, đó là:
−Tâm Tông lìa văn tự, trực chỉ nhân tâm mà cắt nghĩa... Mục tiêu của việc cắt nghĩa này nhằm làm sáng tỏ bản chất của tự tâm xưa nay tự thanh tịnh, vắng lặng, tịch diệt tâm và pháp của một hữu tình, thành tựu hai vô sanh… Đây là nền tảng cho việc đạt được Trí tuệ (Nhất Thiết Trí) sau này… Vì thế, Ngũ Tổ mới dạy: “Bất thức bổn tâm, học pháp vô ích”!
−Trong khi đó Giáo tông căn cứ vào ý nghĩa của văn tự thế gian và các pháp quyền tiểu để giảng giải vấn đề… Cho nên, cách giảng giải này không thoát ra khỏi kiến giải bán tự, làm sai lệch chỉ thú tối thượng của Phật Đạo là “Duy Tuệ thị nghiệp”!
Hai điều vừa nêu, giống như một người học cách “không xả rác” (Tâm; Ý; Ý thức), để cho Pháp giới trở về tự tánh vắng lặng trong sạch bản nhiên của nó!
... Và một người học cách “miệt mài quét rác bằng tay phải, nhưng tay trái vẫn thường xuyên xả rác” (Tâm; Ý; Ý thức)!
Liệu đến bao giờ! cách học này mới giúp người tu hành trở về với “bản chơn” để “Chư Phật và Chúng Sanh đồng nhất thể ”!
Hy vọng, qua những gì đã trao đổi với mọi người từ trước đến giờ… Lần chú thích kinh Kim Cang này, sẽ giúp các bạn một phen “rời bốn bệnh, hết bốn tướng, không kẹt tứ cú, trực chỉ nhân tâm”, thong dong đi về “Nhất Thiết Trí Thành”, một trong những “thành lớn” của Phật Môn!
LÝ TỨ
(27-06-2017)
Thấu suốt được Tâm...này...!!! Nhất định thành...Quả lớn...!!!
[KIM CANG BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA][[3]]
(Lý Tứ chú giải Phần Tâm Tông)
----
[[1]] Trích Email của Lý Tứ gửi cho các Huynh Đệ Lý Gia.
[[2]] Freeway hay cao tốc là con đường không dành cho người đi bộ, xe đạp, xe ngựa, tín hiệu hay các nút giao thông...
[[3]] Kim cang có 2 phần: Tự độ và độ tha. − Kim Cang Tâm: Tâm như Hư Không, không có gì có thể phá hoại được. − Kim Cang Trí (Bát Nhã): Trí như gió Năng Diệt, có thể phá hoại hết thảy phiền não, lậu hoặc của chúng sanh.