Đại Kinh Thí Dụ Lõi Cây

ÐẠI KINH THÍ DỤ LÕI CÂY (Mahasaropama sutta)
(Kinh này được Thế Tôn thuyết giảng khi xảy ra sự kiện Devadatta phá hòa hợp Tăng, đem 500 vị Tỷ kheo đi Gayàsisa, vì Thế Tôn không chấp nhận cho Devadatta lãnh đạo hội chúng Tỷ kheo... Đức Phật dạy có năm hạng người xuất gia sống Phạm hạnh cùng một tâm nguyện giải thoát khỏi khổ đau, vượt ngoài sự chi phối của sanh già chết.)
Như vầy tôi nghe;
Một thời Thế Tôn ở tại Rajagaha (Vương Xá), núi Gijjhakuta (Linh Thứu), khi Devadatta (Ðề bà đạt đa) từ bỏ (Chúng Tăng) ra đi không bao lâu. Ở đây, nhân việc Devadatta, Thế Tôn cho gọi các Tỷ kheo và dạy như sau:
⁕(Hạng thứ nhất). −Ở đây, này các Tỷ kheo, có Thiện nam tử do lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể, toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt được". Vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Do lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, vị ấy hoan hỷ, mãn nguyện. Do lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, vị ấy khen mình, chê người: "Ta được lợi dưỡng như vậy, được danh vọng như vậy. Còn các Tỷ kheo khác ít được biết đến, ít có uy quyền". Vị ấy, vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ.
Chư Tỷ kheo, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, chặt cành lá, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây.
Một người có mắt thấy vậy bèn nói: "Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người này bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, bỏ qua vỏ ngoài, chặt cành lá, lấy chúng mang đi, tưởng rằng đó là lõi cây. Và người này không đạt mục đích mà lõi cây có thể thành tựu".
Cũng vậy, ở đây, này các Tỷ kheo, có Thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt". Vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Do lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, vị ấy hoan hỷ, tự mãn. Do lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, vị ấy khen mình, chê người: "Ta được lợi dưỡng như vậy, được danh vọng như vậy, Còn các Tỷ kheo khác ít được biết đến, ít có uy quyền". Vị ấy vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ.
֎ Chư Tỷ kheo, Tỷ kheo ấy được gọi là vị đã nắm lấy cành lá của phạm hạnh, vì do vậy, vị ấy đã dừng lại (ở đây).
⁕(Hạng thứ hai). −Nhưng ở đây, này các Tỷ kheo, có vị thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt". Rồi vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này khen mình, chê người. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu giới đức. Do thành tựu giới đức này, vị ấy hoan hỷ, tự mãn. Do thành tựu, giới đức này, vị ấy khen mình chê người: "Ta là người trì giới, theo thiện pháp. Các Tỷ kheo khác phá giới, theo ác pháp". Do thành tựu giới đức này, vị ấy trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ.
Chư Tỷ kheo, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, chặt vỏ ngoài, lấy chúng mang đi, tưởng đó là lõi cây.
Một người có mắt thấy vậy bèn nói: "Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người này bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, bỏ qua vỏ trong, chặt vỏ ngoài, lấy chúng mang đi, tưởng đó là lõi cây. Và người này không đạt mục đích mà lõi cây có thể thành tựu". Cũng vậy, này các Tỷ kheo, ở đây Tỷ kheo vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình... (như trên)... Do thành tựu giới đức này, vị ấy trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ.
֎ Chư Tỷ kheo, Tỷ kheo ấy được gọi là vị đã nắm lấy vỏ ngoài của phạm hạnh. Và do vậy, vị ấy đã dừng lại (ở đây).
⁕(Hạng thứ ba). −Nhưng ở đây, này các Tỷ kheo, có Thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Ta bị chìm đắm trong vòng sanh, già, chết, sầu, bi, khổ ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt được". Rồi vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, khen mình, chê người. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu giới đức. Do thành tựu giới đức này, vị ấy hoan hỷ, nhưng không tự mãn. Do thành tựu giới đức này, vị ấy không khen mình, chê người. Do thành tựu giới đức này, vị ấy không trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu thiền định. Do thành tựu thiền định này, vị ấy hoan hỷ, tự mãn. Do thành tựu thiền định này, vị ấy khen mình chê người: "Ta có thiền định nhất tâm. Các Tỷ kheo khác không có thiền định, tâm bị phân tán". Do thành tựu thiền định này, vị ấy trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ.
Chư Tỷ kheo, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, chặt vỏ trong, lấy chúng mang đi, tưởng đó là lõi cây.
Một người có mắt thấy vậy, bèn nói: "Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn có lõi cây, người này bỏ qua lõi cây, bỏ qua giác cây, chặt vỏ trong, mang đi, tưởng đó là lõi cây. Và người này không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu". Cũng vậy, này các Tỷ kheo, ở đây Tỷ kheo vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình... (như trên)... Do thành tựu thiền định này, vị ấy trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Vì sống phóng dật, vị ấy bị đau khổ.
֎ Chư Tỷ kheo, như vậy vị ấy được gọi là Tỷ kheo đã nắm giữ vỏ trong của phạm hạnh. Và do vậy, vị ấy đã dừng lại (ở đây).
⁕(Hạng thứ tư). −Lại nữa, ở đây, có Thiện nam tử, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Ta bị chìm đắm trong vòng sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt". Vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này, khen mình, chê người. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu giới đức. Do thành tựu giới đức, vị ấy hoan hỷ, nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu giới đức này khen mình, chê người. Vị ấy không vì thành tựu giới đức này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu Thiền định. Vị ấy do thành tựu Thiền định này nên hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu Thiền định này khen mình, chê người. Vị ấy không vì thành tựu Thiền định này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu tri kiến, vị ấy vì tri kiến này, hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy do tri kiến này, khen mình, chê người. "Ta sống, thấy và biết. Các Tỷ kheo khác sống, không thấy và không biết". Vị ấy, do tri kiến này, trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống phóng dật vị ấy bị đau khổ.
Chư Tỷ kheo, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người bỏ qua lõi cây, chặt giác cây mang đi, tưởng đó là lõi cây. Một người có mắt thấy vậy bèn nói: "Thật sự người này không biết lõi cây, không biết giác cây, không biết vỏ trong, không biết vỏ ngoài, không biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy bỏ qua lõi cây, chặt giác cây và mang đi, tưởng đó là lõi cây. Và người ấy không đạt được mục đích mà lõi cây có thể thành tựu. Cũng vậy, này các Tỷ kheo, ở đây, có Thiện nam tử, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình... Vị này, vì tri kiến này nên mê say, tham đắm, phóng dật. Vì sống phóng dật, vị này bị đau khổ.
֎ Chư Tỷ kheo, như vậy vị này gọi là đã nắm giữ giác cây của phạm hạnh. Và do vậy, vị ấy đã dừng lại (ở đây)".
⁕(Hạng thứ năm). −Lại nữa, ở đây, này các Tỷ kheo, có vị Thiện nam tử, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Ta bị chìm đắm trong vòng sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong đau khổ, bị chi phối bởi đau khổ. Rất có thể toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt". Vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này khen mình, chê người. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu giới đức. Do thành tựu giới đức, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu giới đức này khen mình, chê người. Vị ấy không vì thành tựu giới đức này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu Thiền định, vị ấy do thành tựu Thiền định này, hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không do thành tựu Thiền định này khen mình, chê người. Vị ấy không do thành tựu Thiền định này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu tri kiến. Do thành tựu tri kiến này, vị ấy hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu tri kiến này khen mình, chê người. Vị ấy không vì thành tựu tri kiến này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu thời giải thoát. Này các Tỷ kheo, sự tình này có thể xảy ra, Tỷ kheo ấy có thể từ bỏ thời giải thoát.
Này các Tỷ kheo, ví như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy chặt lõi cây, mang đi và biết đó là lõi cây. Một người có mắt thấy như vậy, có thể nói: "Người này biết lõi cây, biết giác cây, biết vỏ trong, biết vỏ ngoài, biết cành lá. Người này muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây. Trong khi đi tìm lõi cây, trước một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, người ấy chặt lõi cây, mang đi và tự biết đó là lõi cây. Và người ấy đạt được mục đích mà lõi cây có thể thực hiện". Cũng vậy, này các Tỷ kheo, ở đây một Thiện nam tử, vì lòng tin xuất gia, bỏ gia đình, sống không gia đình: "Ta bị chìm đắm trong sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, bị chìm đắm trong khổ đau, bị chi phối bởi khổ đau. Rất có thể, toàn bộ khổ uẩn này có thể chấm dứt". Vị ấy xuất gia như vậy, được lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này hoan hỷ, tự mãn. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này khen mình, chê người. Vị ấy không vì lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật. Vị ấy thành tựu giới đức. Vị ấy do thành tựu giới đức này hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy, không do thành tựu giới đức này khen mình, chê người. Vị ấy không do thành tựu giới đức này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu Thiền định. Vị ấy do thành tựu thiền định nên hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không do thành tựu Thiền định này khen mình, chê người. Vị ấy không do thành tựu thiền định này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu tri kiến. Vị ấy vì thành tựu tri kiến này nên hoan hỷ nhưng không tự mãn. Vị ấy không vì thành tựu tri kiến này khen mình, chê người. Vị ấy không vì thành tựu tri kiến này trở thành mê say, tham đắm, phóng dật. Do sống không phóng dật, vị ấy thành tựu được phi thời gian giải thoát.
Này chư Tỷ kheo, sự tình này không thể xảy ra, Tỷ kheo ấy có thể từ bỏ phi thời giải thoát này. Như vậy, này các Tỷ kheo, phạm hạnh này không phải vì lợi ích, lợi dưỡng, danh vọng, không phải vì lợi ích thành tựu giới đức, không phải vì lợi ích thành tựu thiền định, không phải vì lợi ích tri kiến.
֎Và này các Tỷ kheo, tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Kinh Duyên Sinh (Tức: Phật Thuyết Đại Thừa Đạo Can Kinh) Phần 2

Gì là Vô minh?
−Đối với sáu giới này khởi ra nhất tưởng,[[1]] nhất hợp tưởng;[[2]] Thường tưởng;[[3]] Kiên lao tưởng;[[4]] Bất hoại tưởng;[[5]] An lạc tưởng;[[6]] tưởng là chúng sinh, mệnh giả, sinh giả, dưỡng dục, sĩ phu, nhân,[[7]] Nho đồng, tác giả, ngã, ngã sở v.v... cùng nhiều thứ vô tri[[8]] khác, thế là "vô minh".
−Có vô minh, đối với các cảnh giới khởi ra: tham, sân, si; Cái đối với cái cảnh giới khởi ra: tham, sân, si ấy, ấy là vô minh duyên hành;
⁕Cái mà đối với mọi sự thường phân biệt rõ ràng, gọi là "thức";
⁕Cùng với thức đồng sinh bốn uẩn,[[9]] gọi là danh sắc;
⁕Y vào các căn của danh sắc, gọi là lục nhập;
⁕Ba pháp[[10]] hòa hợp gọi là xúc;
⁕Biết cảm thụ sự xúc chạm ấy, gọi là thụ;
⁕Tham đắm vào sự cảm thụ ấy, gọi là ái;
⁕Tăng trưởng sự tham ái ấy, gọi là thủ;
⁕Từ chỗ chấp thủ ấy sinh ra “năng sinh nghiệp”[[11]] gọi là hữu;
⁕Từ nhân kia[[12]] sinh ra năm uẩn,[[13]] gọi là sinh;
⁕Sinh ra rồi năm uẩn thành thục, gọi là lão;[[14]]
⁕Lão rồi năm uẩn diệt hoại, gọi là tử;[[15]]
⁕Trong khi sắp mất, nội tâm đủ cả tham đắm và nhiệt não, gọi là sầu;[[16]]
⁕Từ chỗ sầu bi ấy, sinh ra những lời nói, gọi là thán;[[17]] thân của năm thức chịu khổ, gọi là khổ; Tác ý;[[18]] ý thức chịu mọi sự khổ, gọi là ưu;[[19]] Đủ những thứ trên như thế cùng những phiền não tùy thuộc, gọi là não.
─Đen tối nhiều nên gọi là vô minh; Tạo tác, nên gọi là chư hành;[[20]] Phân biệt rõ ràng, nên gọi là thức; Nương dựa nhau, nên gọi là danh sắc; Làm cửa sinh khởi, nên gọi là lục nhập; Xúc chạm nên gọi là xúc; Cảm thụ nên gọi là thụ; Khát khao nên gọi là ái; Chấp lấy, nên gọi là thủ; Sinh khởi sự có thân sau này[[21]] nên gọi là hữu; Sinh ra năm uẩn nên gọi là sinh; Năm uẩn thành thục nên gọi là lão; Năm uẩn diệt hoại, nên gọi là tử; Buồn rầu nên gọi là sầu; Than thở nên gọi là thán; Não thân gọi là khổ; Não tâm gọi là ưu; Phiền não nên gọi là não.
─Hơn nữa, không rõ chân tính, điên đảo không biết, gọi là "vô minh". Vì có "vô minh" như thế, thành ra ba thứ hành:[[22]] phúc hành,[[23]] tội hành[[24]] và bất động hành.[[25]]
─Từ nơi phúc hành sinh ra phúc hành thức,[[26]] ấy là vô minh duyên hành;
─Từ nơi tội hành, sinh ra tội hành thức,[[27]] ấy thời gọi là hành duyên cho thức;
─Từ nơi bất động hành, sinh ra bất động hành thức,[[28]] ấy thời gọi là thức duyên danh sắc.
─Vì sắc tăng trưởng, từ trong cửa lục nhập thành sự việc, ấy là danh sắc duyên lục nhập.
─Từ lục nhập mà sinh ra sáu thứ tụ tập, xúc chạm, ấy là lục nhập duyên xúc.
─Từ nơi xúc chạm mà sinh ra cái kia, cái kia cảm thụ nhau, ấy thời gọi là xúc duyên thụ.
─Phân biệt rõ ràng sự cảm thụ rồi, mà sinh ra nhiễm ái, đam trước,[[29]] ấy thời gọi là thụ duyên ái.
─Biết rồi mà sinh nhiễm ái, đam trước, không muốn xa lìa sắc đẹp và ở nơi yên vui mà sinh ra ý nguyện hoan lạc, ấy là ái duyên thủ.
─Sinh ra ý nguyện hoan lạc rồi, từ nơi thân, miệng, ý tạo ra hậu hữu nghiệp,[[30]] ấy là thủ duyên hữu.
─Từ nghiệp của hữu kia sẽ sinh ra năm uẩn, ấy là hữu duyên sinh.
─Sinh rồi, năm uẩn kia thành thục và diệt hoại, ấy thời gọi là sinh duyên lão tử.
Thế nên mười hai chi pháp nhân duyên kia, làm nhân lẫn nhau, làm duyên lẫn nhau, không phải thường, không phải vô thường, không phải hữu vi,[[31]] không phải vô vi,[[32]] không phải là không có nhân, không phải là không có duyên, không phải cảm thụ "hữu nghiệp", không phải là pháp[[33]] hết, không phải là pháp hoại, không phải là pháp diệt; từ vô thỉ đến nay, nó vẫn như dòng nước chảy dốc, không có đoạn tuyệt.
Tuy thế, mười hai chi pháp nhân duyên ấy, làm nhân lẫn nhau, làm duyên lẫn nhau, không phải thường, không phải vô thường, không phải hữu vi, không phải vô vi, không phải là không có nhân, không phải là không có duyên, không phải cảm thụ "hữu nghiệp", không phải là pháp hết, không phải là pháp hoại, không phải là pháp diệt; từ vô thỉ đến nay, nó vẫn như dòng nước chảy dốc, không có đoạn tuyệt.
Nó có bốn chi thường nhiếp thủ mười hai nhân duyên pháp. Bốn chi ấy là gì?
Là: vô minh, ái, nghiệp, thức.
−"Thức", lấy chủng tử tính làm nhân.
−"Nghiệp" lấy điền tính[[34]] làm nhân.
−"Vô minh" và "ái" lấy phiền não tính làm nhân.
Trong này, "nghiệp" và "phiền não", sinh ra "thức" của chủng tử.[[35]] "Nghiệp" thời làm mảnh ruộng cho "thức" của chủng tử, "ái" thời nhuần thấm cho "thức" của chủng tử, "vô minh" thời sinh nở cho "thức" của chủng tử. Nếu không có những duyên ấy, "thức" của chủng tử không thể thành được.
Song,
−Nghiệp kia cũng không khởi ra ý niệm: “ta nay làm mảnh ruộng cho "thức" của chủng tử”;
−Ái cũng không khởi ra ý niệm: "ta nay làm nhuần thấm cho "thức" của chủng tử";
−Vô minh cũng không khởi ra ý niệm: "ta nay làm sinh nở cho "thức" của chủng tử";
−"Thức" của chủng tử kia cũng không khởi ra ý niệm: "ta nay từ mọi duyên ấy sinh ra".
Tuy thế, "thức" của chủng tử, y vào nơi ruộng nghiệp và ái kia nhuần thấm, phẩn vô minh sinh nở, vào trong thai mẹ sinh ra mầm danh sắc.
−Mầm danh sắc kia cũng không phải tự tác,[[36]] cũng không phải tha tác,[[37]] không phải mình và cái khác đều làm ra, không phải tự tại hóa ra, cũng không phải thời biến; không phải tự tính sinh, không phải là tác giả tạm bợ,[[38]] cũng không phải là không có nhân mà sinh.
−Tuy thế, khi phụ mẫu hòa hợp cùng khi các duyên khác hòa hợp, pháp:[[39]] vô ngã,[[40]] vô ngã sở,[[41]] cũng như hư không. Các huyễn pháp kia, nhân và các duyên hoàn toàn đầy đủ, y nơi sinh của nhân duyên kia, vào trong thai mẹ, thời thành tựu được cái "thức", giữ lấy thai mẹ, là cái mầm danh sắc.
Như khi sinh ra nhãn thức, nếu đủ năm duyên thời sinh ra được. Năm duyên ấy là gì?
−Là: y vào mắt,[[42]] hình sắc,[[43]] ánh sáng,[[44]] không gian[[45]] và y vào tác ý, nên nhãn thức sinh ra được.
−Trong này, mắt thời làm nơi nương tựa cho nhãn thức, hình sắc thời làm cảnh cho nhãn thức, ánh sáng thời làm việc hiển hiện, không gian thời làm việc không ngăn che, tác ý thời làm việc tư tưởng.
−Nếu không có các duyên ấy, nhãn thức không sinh được. Nếu khi bên trong sự tiếp nhập của mắt, hoàn toàn đầy đủ, cho đến hình sắc, ánh sáng, không gian, tác ý, cũng hoàn toàn đầy đủ như thế, hết thảy hòa hợp, nhãn thức sinh ra được.
−Song, mắt kia cũng không khởi ra ý niệm: "ta nay là chỗ nương tựa của nhãn thức", hình sắc cũng không khởi ra ý niệm: "ta nay làm cảnh cho nhãn thức"; ánh sáng cũng không khởi ra ý niệm: "ta nay làm việc hiển hiện cho nhãn thức"; không gian cũng không khởi ra ý niệm: "ta nay làm việc không ngăn che cho nhãn thức"; tác ý cũng không khởi ra ý niệm: "ta nay làm chỗ tư tưởng cho nhãn thức"; nhãn thức kia cũng không khởi ra ý niệm: "ta là từ các duyên ấy mà có".
−Tuy thế, có các duyên ấy nhãn thức mới sinh ra được; cho đến các căn khác, tùy từng loại của nó sẽ biết được nó.
−Như thế, không có chút pháp nào từ đời này di chuyển đến đời khác; dù vậy, nhân và các duyên, được hoàn toàn đầy đủ, thời nghiệp quả[[46]] cũng hiện.
Ví như trong tấm gương sáng hiện ra diện tượng, tuy diện tượng kia không dời gương, nhân và các duyên, được hoàn toàn đầy đủ, nên diện tượng cũng hiện. Như thế, không có chút ít vật gì từ nơi này diệt, sinh sang nơi khác, nhân và các duyên hoàn toàn đầy đủ, nên nghiệp quả cũng hiện.
Ví như vầng trăng, vận hành trên đây chừng bốn vạn hai nghìn do tuần, thế mà hình tượng vầng trăng kia hiện trong cái bát nhỏ có nước, vậy vầng trăng kia cũng không phải từ nơi kia di chuyển đến cái bát có nước này. Tuy thế, nhân và các duyên hoàn toàn đầy đủ, nên vầng trăng cũng hiện. Như thế, không có chút ít vật gì từ nơi này diệt, sinh sang nơi khác, mà nhân và các duyên hoàn toàn đầy đủ, nên nghiệp quả cũng hiện.
Ví như lửa, nhân và các duyên nếu không đầy đủ, thời không cháy được, khi nhân và các duyên đầy đủ, mới có thể cháy được. Như thế, pháp: vô ngã, vô ngã sở cũng như hư không; y vào huyễn pháp kia nhân và các duyên hoàn toàn đầy đủ, y nơi sở sinh, vào trong thai mẹ, thời thành tựu được cái thức của chủng tử, nghiệp và phiền não sinh ra mầm danh sắc.
Vậy nên, cần quán sát về sự: nội nhân duyên pháp, duyên tương ứng" như thế!
Nên đem năm thứ quán pháp, quán sát nội nhân duyên pháp. Năm thứ ấy là gì?
−Là: không thường còn, không dứt đoạn,[[47]] không chuyển dời,[[48]] từ nhân nhỏ sinh quả lớn và cùng tương tự với nhân cũ kia.
Thế nào là không thường còn?
−Nghĩa là năm uẩn tối hậu của báo thân kia diệt đi, cùng với năm uẩn đang chịu phần sinh ra kia, hai đàng đều khác nhau, vì năm uẩn tối hậu diệt đi, không phải là năm uẩn đang chịu phần sinh ra; báo thân tối hậu kia diệt, năm uẩn cũng diệt, năm uẩn đang chịu phần sinh ra cũng hiện ra được nên gọi là "không thường còn".
Thế nào là không dứt đoạn?
−Không phải y vào khi diệt hoại của năm uẩn tối hậu diệt, mà năm uẩn đang chịu phần sinh ra, có được; và cũng không phải là không diệt, báo thân tối hậu kia diệt, năm uẩn cũng diệt, đương trong khi ấy, năm uẩn đang chịu phần sinh ra, nó chỉ như cán cân, cao, thấp một chút, mà sinh ra được, nên gọi là "không dứt đoạn".
Thế nào là không chuyển dời?
−Vì, các loài hữu tình, từ nơi không phải là "chúng đồng phận", sinh ra nơi "chúng đồng phận", nên gọi là "không chuyển dời".
Thế nào là từ nhân nhỏ, sinh quả lớn?
−Làm nghiệp nhỏ, cảm quả dị thục lớn, nên từ nhân nhỏ mà sinh quả lớn.
Thế nào là cùng tương tự với nhân cũ kia?
−Như làm nhân kia, cảm được quả kia, cùng tương tự với nhân kia, nên gọi là "tương tự".
Bởi thế, nên đem năm thứ quán pháp, quán nhân duyên pháp!
Tôn giả Xá Lỵ Tử! Nếu có người dùng chính trí, quán sát những pháp của nhân duyên, mà đức Như Lai nói ra, như vô thọ, ly thọ, như thực tính, vô thác mậu tính, vô sinh, vô khởi, vô tác, vô vi, vô chướng ngại, vô cảnh giới, tịch tĩnh, vô úy, vô xâm đọat, vô tận, bất tịch tĩnh tướng, bất hữu,[[49]] hư,[[50]] cuồng,[[51]] vô kiên thực,[[52]] như bệnh,[[53]] như ung,[[54]] như tiễn,[[55]] quá thất,[[56]] vô thường,[[57]] khổ, không, vô ngã;[[58]]
Vậy:
−Ta trong đời quá khứ có sinh hay là không sinh, mà không phân biệt được bờ cõi của thuở quá khứ?
−Trong đời vị lai sinh ở chốn nào, mà cũng không phân biệt được bờ cõi của thuở vị lai?
− Đây là gì? [[59]] •Đây lại là thế nào, mà làm ra vật gì?
− Các loài hữu tình này từ đâu lại? Từ đây diệt đi sẽ sinh vào chốn nào? Mà cũng không phân biệt được cái "có" của hiện tại.
−Lại diệt những tà kiến[[60]] bất đồng của hàng Sa môn, Bà la môn ở thế gian, là ngã kiến, chúng sinh kiến, thọ giả kiến, nhân kiến, hy hữu kiến, cát tường kiến, khai hợp kiến. Biết được rành rẽ, như cây Đa la, đoạn trừ sạch mọi căn rồi, trong đời mai sau, chứng được pháp vô sinh, vô diệt.
Tôn giả Xá Lỵ Tử! Nếu có người đầy đủ được "vô sinh pháp nhẫn"như thế, là người phân biệt rõ ràng được nhân duyên pháp ấy, Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn liền thụ ký cho đạo quả Vô thượng Chính đẳng Chính giác.
Bấy giờ, Đại Bồ Tát Di Lặc nói lời ấy rồi, Cụ Thọ Xá Lỵ Tử cùng hết thảy những người trong thế gian, Thiên, Nhân, A Tu La, Càn Thát Bà, v.v... nghe Đại Bồ Tát Di Lặc nói pháp ấy, đều tín thụ phụng hành.
---
Phần chú giải
[[1]] nhất tưởng (tưởng là nhất thể)
[[2]] nhất hợp tưởng (tưởng là thực thể do các pháp hợp thành)
[[3]] Thường tưởng (tưởng là thường còn vĩnh viễn)
[[4]] Kiên lao tưởng (tưởng là bền chắc)
[[5]] Bất hoại tưởng (tưởng là không hoại diệt)
[[6]] An lạc tưởng (tưởng là được an vui)
[[7]] nhân (người)
[[8]] vô tri (không biết)
[[9]] bốn uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành)
[[10]] Ba pháp (căn, trần, thức)
[[11]] “năng sinh nghiệp" (chủ động trong hành động sinh danh sắc khác)
[[12]] nhân kia: (nghiệp)
[[13]] năm uẩn (danh sắc)
[[14]] lão (già)
[[15]] tử (chết)
[[16]] sầu (buồn rầu)
[[17]] thán (than thở)
[[18]] Tác ý (khởi ra ý tưởng)
[[19]] ưu (lo)
[[20]] chư hành (mọi hành động)
[[21]] sự có thân sau này (hậu hữu thân)
[[22]] hành (hành động)
[[23]] phúc hành (làm phúc)
[[24]] tội hành (làm tội)
[[25]] bất động hành (tâm thức từ bất động.. chuyển thành động)
[[26]] phúc hành thức (nghiệp thức trong việc làm phúc)
[[27]] tội hành thức (nghiệp thức trong việc làm tội)
[[28]] bất động hành thức (nghiệp thức từ bất động... chuyển thành động)
[[29]] đam trước (mê đắm, ham muốn và dính mắc)
[[30]] hậu hữu nghiệp (nghiệp của sự có thân sau này)
[[31]] hữu vi (có sự tạo tác)
[[32]] vô vi (không có sự tạo tác)
[[33]] pháp (nhân duyên)
[[34]] điền tính (tánh ruộng đất, hay làm chỗ nương tựa cho hạt giống nảy mầm)
[[35]] chủng tử (hạt giống)
[[36]] tự tác (tự mình làm ra)
[[37]] tha tác (cái khác làm ra)
[[38]] tác giả tạm bợ (giả tác giả)
[[39]] pháp (nhân duyên)
[[40]] vô ngã (không có cái Ta)
[[41]] vô ngã sở (không có cái của Ta)
[[42]] mắt (nhãn)
[[43]] hình sắc (sắc)
[[44]] ánh sáng (minh)
[[45]] không gian (không)
[[46]] nghiệp quả (kết quả của nghiệp thức)
[[47]] không dứt đoạn (bất đoạn)
[[48]] không chuyển dời (bất di)
[[49]] bất hữu (không có sự chân thực)
[[50]] hư (giả dối)
[[51]] cuồng (lừa gạt không thực)
[[52]] vô kiên thực (không bền, thực)
[[53]] như bệnh (như người đau)
[[54]] như ung (như người có nhọt)
[[55]] như tiễn (như bị tên bắn)
[[56]] quá thất (lỗi lầm)
[[57]] vô thường (không thường còn, luôn đổi thay)
[[58]] vô ngã (không có Ta)
[[59]] Đây (hiện tại)
[[60]] tà kiến (thấy biết lệch lạc)
Kinh Duyên Sinh (Tức: Phật Thuyết Đại Thừa Đạo Can Kinh) Phần 1

KINH DUYÊN SINH
(Tức: Phật Thuyết Đại Thừa Đạo Can Kinh) [[1]]
(Hán dịch Việt: TK. Thích Tâm Châu)
Chính tôi được nghe: Một thời kia đức Thế Tôn ở trong núi Kỳ Xà Quật thuộc thành Vương Xá, cùng với một nghìn hai trăm năm mươi vị Đại Tỳ Khưu và các vị Đại Bồ Tát.
Bấy giờ, Cụ Thọ Xá Lỵ Tử đến chỗ kinh hành[[2]] của Đại Bồ Tát Di Lặc. Đến nơi, hai vị cùng hỏi thăm nhau và cùng ngồi trên bàn đá rộng lớn. Liền đó,
Cụ Thọ Xá Lỵ Tử hướng vào Đại Bồ Tát Di Lặc nói rằng: "Bồ Tát Di Lặc! Hôm nay đức Thế Tôn quán sát thấy những lúa nếp nơi đồng nội, Ngài bảo các vị Tỳ Khưu: "Các vị Tỳ Khưu Nếu ai thấy được Nhân duyên, tức là người ấy thấy được Pháp; nếu ai thấy được Pháp, tức là người ấy thấy được Phật". Ngài nói những lời ấy rồi, Ngài lặng thinh không nói gì nữa. Bồ Tát Di Lặc! Đấng Thiện Thệ[[3]] cớ sao lại nói ra những lời ấy?
Việc ấy thế nào? •Gì là Nhân duyên? •Gì là Pháp? •Gì là Phật? •Thế nào là thấy được Nhân duyên, tức là thấy được Pháp? •Thế nào là thấy được Pháp, tức là thấy được Phật?
Cụ Thọ[[4]] Xá Lỵ Tử nói lời ấy rồi, Đại Bồ Tát Di Lặc đáp lại Cụ Thọ Xá Lỵ Tử rằng: "Nay Phật, Pháp Vương, Chánh Biến Tri bảo các vị Tỳ Khưu: “Nếu ai thấy được Nhân duyên, tức là người ấy thấy được Pháp; nếu ai thấy được Pháp tức là người ấy thấy được Phật”; vậy trong này thời cái gì là Nhân duyên?
−Nói là Nhân duyên, thời: "đây có nên kia có, đây sinh nên kia sinh". Như: Vô minh duyên Hành, Hành duyên Thức, Thức duyên Danh sắc, Danh sắc duyên Lục nhập, Lục nhập duyên Xúc, Xúc duyên Thụ, Thụ duyên Ái, Ái duyên Thủ, Thủ duyên Hữu, Hữu duyên Sinh, Sinh duyên Lão tử, sầu, thán, khổ, ưu, não, sinh khởi được. Như thế, là chỉ sinh khởi sự kết tụ những khổ đau lớn lao, thuần nhất, cùng cực vậy.
−Cũng trong này, Vô minh diệt nên Hành diệt, Hành diệt nên Thức diệt, Thức diệt nên Danh sắc diệt, Danh sắc diệt nên Lục nhập diệt, Lục nhập diệt nên Xúc diệt, Xúc diệt nên Thụ diệt, Thụ diệt nên Ái diệt, Ái diệt nên Thủ diệt, Thủ diệt nên Hữu diệt, Hữu diệt nên Sinh diệt, Sinh diệt nên Lão tử, sầu, thán, khổ, ưu, não cũng diệt. Như thế là chỉ diệt sự kết tụ những khổ đau lớn lao, thuần nhất, cùng cực. Đó là đức Thế Tôn nói ra pháp Nhân duyên vậy.
Gì là Pháp?
−Là tám Chánh đạo: Chính kiến, Chính tư duy, Chính ngữ, Chính nghiệp, Chính mệnh, Chính tinh tiến, Chính niệm, và Chính định. Thế là tám Chánh đạo quả và Niết Bàn, đức Thế Tôn nói ra, gọi đấy là Pháp.
Gì là Phật?
−Là bậc biết hết thảy các pháp. Trí Tuệ của bậc kia[[5]] thấu suốt hết thảy các pháp đưa đến nhân Bồ Đề cũng như địa vị Hữu Học, Vô học.
Thế nào là thấy được Nhân duyên?
−Như đức Phật nói: “Nếu ai thấy được những pháp của nhân duyên là thấy được nhân duyên. Những pháp ấy là: thường, vô thọ, ly thọ, như thực tính, vô thác mậu tính, vô sinh, vô khởi, vô tác, vô vi, vô chướng ngại, vô cảnh giới, tịch tĩnh, vô úy, vô xâm đoạt và bất tịch tĩnh tướng.”[[6]]
Nếu ai thấy được pháp của nhân duyên như thế rồi, đối với Pháp ấy cũng phải thấy là: thường, vô thọ, ly thọ, như thực tính, vô thác mậu tính, vô sinh, vô khởi, vô tác, vô vi, vô chướng ngại, vô cảnh giới, tịch tĩnh, vô úy, vô xâm đoạt, bất tịch tĩnh tướng. Được Chánh trí ngộ được Thắng pháp, dùng Vô thượng Pháp thân mà thấy Phật.
Hỏi: Tại sao gọi là Nhân Duyên?
−Đáp: Có Nhân, có Duyên gọi là Nhân duyên, không phải là không có nhân, không có duyên, nên gọi là pháp nhân duyên.
Đức Thế Tôn nói qua về hành tướng của nhân duyên rằng: “Do duyên kia sinh ra quả, nên dù Như Lai xuất hiện ra đời hay không xuất hiện ra đời đi nữa, tính của mọi pháp vẫn thường trụ. Cho đến pháp tính, pháp trụ tính,[[7]] pháp định tính,[[8]] cùng nhân duyên tương ứng tính,[[9]] chân như tính,[[10]] vô thác mậu tính,[[11]] vô biến dị tính,[[12]] chân thực tính,[[13]] thực tế tính,[[14]] bất hư vọng tính,[[15]] bất điên đảo tính,”[[16]] v.v...
Đó là đức Thế Tôn nói những lời như thế.
Pháp Nhân duyên này, vì hai thứ mà nó sinh khởi được. Hai thứ ấy là gì?
−Là: Nhân tương ứng và Duyên tương ứng. Nhân duyên kia lại có hai thứ: Ngoại nhân duyên và Nội nhân duyên.
Trong này gì là pháp ngoại nhân duyên, nhân tương ứng?
−Từ hạt giống sinh ra mầm, từ mầm sinh ra lá, từ lá sinh ra thân cây, từ thân cây sinh ra đốt, từ đốt sinh ra nụ, từ nụ sinh ra hoa, từ hoa sinh ra trái; nếu không có hạt giống, mầm tức không sinh, cho đến nếu không có hoa, trái cũng không sinh được. Có hạt giống, mầm mới sinh được, như thế thời có hoa, trái cũng mới sinh được.
−Song, hạt giống kia cũng không khởi ra ý niệm: "ta sinh ra mầm". Mầm cũng không khởi ra ý niệm: "ta từ hạt giống sinh ra". Cho đến hoa cũng không khởi ra ý niệm: "ta sinh ra trái". Trái cũng không khởi ra ý niệm: "ta từ hoa sinh ra".
−Tuy thế, vì có hạt giống mà mầm được sinh ra và cũng như thế, vì có hoa mà trái liền được thành tựu.
Nên quán sát cái nghĩa "ngoại nhân duyên pháp, nhân tương ứng" như thế!
Nên quán sát ngoại nhân duyên pháp, duyên tương ứng như thế nào?
−Cần sáu giới[[17]] hòa hợp.
Gì là sáu giới hòa hợp?
−Là: địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới và thời. Những giới phận ấy hòa hợp với nhau, thời ngoại nhân duyên pháp sinh khởi được.
Nên quán sát cái nghĩa "ngoại nhân duyên pháp, duyên tương ứng" như thế! ... Nói về:
Địa giới là thứ thường giữ gìn cho hạt giống;
Thủy giới là thứ thường nhuần thấm cho hạt giống;
Hỏa giới là thứ thường giúp hơi ấm cho hạt giống;
Phong giới là thứ thường giúp sự dao động cho hạt giống;
Không giới là thứ không làm chướng ngại cho hạt giống;
Thời, thời có thể làm cho hạt giống biến đổi.
−Nếu không có những duyên ấy, hạt giống không thể nào sinh ra mầm được.
−Nếu ngoài, địa giới hoàn toàn đầy đủ, cho đến thủy, hỏa, phong, không, thời giới... cũng hoàn toàn đầy đủ như thế, lại hết thảy hòa hợp, thời khi hạt giống diệt rồi, mầm sinh ra được.
−Và, trong này Địa giới cũng không khởi ra ý niệm: "ta thường giữ gìn hạt giống". Cùng như thế, Thủy giới cũng không khởi ra ý niệm: "ta thường nhuần thấm cho hạt giống"; Hỏa giới cũng không khởi ra ý niệm: "ta thường giúp hơi ấm cho hạt giống"; Phong giới cũng không khởi ra ý niệm: "ta thường giúp sự dao động cho hạt giống"; Không giới cũng không khởi ra ý niệm: "ta thường không làm chướng ngại cho hạt giống"; Thời cũng không khởi ra ý niệm: "ta thường làm cho hạt giống biến đổi". Hạt giống cũng không khởi ra ý niệm: "ta thường sinh ra mầm"; mầm cũng không khởi ra ý niệm: "ta nay từ những duyên ấy mà sinh ra".
−Tuy thế, có những duyên ấy, khi hạt giống diệt rồi, mầm liền sinh ra được. Và, cũng như thế, khi có hoa, trái liền sinh ra được. Thế là, mầm kia cũng không phải tự mình tạo tác, cũng không phải là cái khác tạo tác, không phải tự nó cùng cái khác tạo tác, không phải là tự tại tạo tác, cũng không phải là thời biến đổi, không phải là tự tính sinh ra, cũng không phải là không có nhân mà sinh ra được.
−Dù vậy, địa, thủy, hỏa, phong, không, thời giới... hòa hợp, khi hạt giống diệt rồi, mầm được sinh ra.
Nên quán sát cái nghĩa "ngoại nhân duyên pháp, duyên tương ứng" như thế!
Nên đem năm thứ quán pháp, quán ngoại nhân duyên pháp kia. Năm thứ ấy là gì?
−Là: không thường còn, không dứt đọan,[[18]] không chuyển dời,[[19]] từ nhân nhỏ sinh quả lớn và cùng tương tự với nhân cũ kia.
Thế nào là không thường còn?
−Vì, mầm cùng hạt giống, hai đàng đều khác biệt nhau; mầm kia không phải là hạt giống; không phải khi hạt giống hoại rồi, mầm mới sinh ra, cũng không phải là hạt giống không diệt, mà mầm sinh khởi được; khi hạt giống hoại đi, mầm sinh ra được, nên là "không thường còn".
Thế nào là không dứt đoạn?
−Không phải là hạt giống của quá khứ hoại đi, mà sinh ra mầm, cùng không phải là hạt giống không diệt, mầm sinh khởi được, hạt giống cũng hoại, đương trong khi ấy, nó chỉ như cán cân cao, thấp một chút, mà mầm sinh ra được, nên là "không dứt đoạn".
Thế nào là không chuyển dời?
−Vì, mầm và hạt giống khác nhau, mầm không phải là hạt giống, nên là "không chuyển dời".
Thế nào là nhân nhỏ sinh quả lớn?
− Từ hạt giống nhỏ, sinh ra quả lớn, nên gọi là "Từ nhân nhỏ, sinh ra quả lớn".
Thế nào là cùng tương tự với nhân cũ kia?
−Vì, như hạt giống khi mới trồng, chẳng khác quả này, nên gọi là "cùng tương tự với nhân cũ kia".
−Như thế là đem năm thứ quán pháp, quán ngoại nhân duyên pháp! [[20]]
Cũng như thế, nội nhân duyên pháp cũng do hai thứ mà được sinh khởi. Hai thứ ấy là gì?
−Là: nhân tương ứng và duyên tương ứng.
Thế nào mà có nghĩa gọi là nội nhân duyên pháp, nhân tương ứng?
−Nghĩa là, trước từ vô minh duyên hành, cho đến sinh duyên lão tử. Nếu vô minh không sinh, hành cũng không có, cho đến nếu không có sinh, lão tử cũng không có. Như thế, có vô minh nên hành mới sinh ra được, cho đến có sinh nên lão tử mới có được.
−Song, vô minh cũng không khởi ra ý niệm: "ta sinh ra hành"; hành cũng không khởi ra ý niệm: "ta từ nơi vô minh mà sinh ra"; cho đến sinh cũng không khởi ra ý niệm: "ta sinh ra lão tử"; lão tử cũng không khởi ra ý niệm: "ta từ nơi sinh mà có".
−Tuy thế, vì có vô minh, hành mới sinh được; cũng như thế, vì có sinh, lão tử mới có được.
Vì vậy, nên quán sát nghĩa "nội nhân duyên pháp, nhân tương ứng" như thế!
Nên quán sát sự của nội nhân duyên pháp, duyên tương ứng thế nào?
−Cần sáu giới hòa hợp.
Sáu giới hòa hợp là gì?
−Là: Địa giới; Thủy giới; Hỏa giới; Phong giới, Không giới và Thức giới hòa hợp.
Nên quán sát sự của "nội nhân duyên pháp, duyên tương ứng" như thế!
Gì là hành tướng của sáu giới, trong nội nhân duyên pháp?
−Thứ làm cho trong thân này bền chắc, gọi là "địa giới";
−Thứ làm cho thân này tụ tập lại, gọi là "thủy giới";
−Thứ làm tiêu hóa những thức ăn, uống trong thân này, gọi là "hỏa giới";
−Thứ làm cho hơi thở ra, vào; trong, ngoài trong thân này, gọi là "phong giới";
−Thứ làm cho thân này rỗng thông, gọi là "không giới"
−Năm thức của thân tương ứng[[21]] cùng hữu lậu ý thức, cũng như bó cây lau, thành tựu được cái mầm danh sắc[[22]] gọi là "Thức giới".
Nếu không có những duyên ấy, thời không sinh ra thân được. Nếu nội địa giới hoàn toàn đầy đủ, và cùng như thế, cho đến thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thức giới cũng hoàn toàn đầy đủ, lại hết thảy hòa hợp với nhau, thời thân liền sinh ra được.
−Song, địa giới kia cũng không khởi ra ý niệm: "ta thường làm những sự bền chắc trong thân"; Thủy giới cũng không khởi ra ý niệm: "ta thường vì thân làm những sự tụ tập"; Hỏa giới cũng không khởi ra ý niệm: "ta thường làm tiêu hóa những thức ăn, uống trong thân"; Phong giới cũng không khởi ra ý niệm: "ta thường làm cho hơi thở ra, vào trong, ngoài thân"; Không giới cũng không khởi ra ý niệm: "ta thường làm những sự rỗng thông trong thân"; Thức giới cũng không khởi ra ý niệm: "ta thường làm thành tựu cái mầm danh sắc của thân này”; Thân cũng không khởi ra ý niệm: "ta từ nơi mọi duyên này mà sinh ra". Tuy thế, có thời của các duyên này, thân liền sinh ra được.
Nhưng, địa giới kia cũng không phải là Ta, không phải là chúng sanh, không phải là mệnh giả,[[23]] không phải là sinh giả, không phải là Nho đồng,[[24]] không phải là tác giả, không phải là con trai, không phải là con gái, không phải giống Hoàng môn,[[25]] không phải tự tại, không phải ngã sở, cũng không phải là những thứ gì khác.
−Cho đến, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thức giới cũng không phải là Ta, không phải là chúng sanh, không phải là mệnh giả, không phải là sinh giả, không phải là Nho đồng, không phải là tác giả, không phải là con trai, không phải là con gái, không phải là giống Hoàng môn, không phải tự tại, không phải ngã sở, cũng không phải là những thứ gì khác như thế.
---
Phần chú giải
[[1]] đạo can kinh (tiếng Phạn Salistambasutra; Hán dịch âm là Xá Lê Sa Đảm Ma kinh): Đạo Can nghĩa là lúa nếp. Đức Phật nhân trông thấy cánh đồng lúa nếp Ngài nói ra lý nhân duyên sinh này.
[[2]] kinh hành: Nơi đặc biệt để sau khi ngồi Thiền, đi đi, lại lại nuôi dưỡng thân thể và trừ khỏi bệnh hoạn. hoặc là nơi để đi đi, lại lại sau bữa ăn cho tiêu thức ăn (cơm, …).
[[3]] Thiện Thệ (Tiếng Phạm: Sugata; Hán dịch âm là Tu già đà): Có nghĩa là đi trong đường chính, đạt tới nơi tốt đẹp. Đấng Giác ngộ dùng Nhất thiết trí làm xe, đi trên đường bát chánh, rảo tới nơi Niết bàn, thị hiện hóa độ chúng sanh nên gọi là Thiện Thệ.
[[4]] Cụ Thọ: Tiếng gọi thông thường, chỉ cho những vị có đầy đủ thọ mệnh thế gian và pháp thân thọ mệnh.
[[5]] bậc kia (Phật)
[[6]] bất tịch tĩnh tướng (không còn có cả hình tướng của tịch tĩnh vắng lặng) Đây là hiển minh nghĩa vi mật (khó thấy, khó biết) của pháp nhân duyên.
[[7]] pháp trụ tính (tính trong pháp của nhân duyên vẫn thường trụ)
[[8]] pháp định tính (tính của mọi pháp quyết định như thế)
[[9]] nhân duyên tương ứng tính (tính cùng nhân duyên ứng hợp nhau)
[[10]] chân như tính (tính của mọi pháp là như thực)
[[11]] vô thác mậu tính (tính chân như phổ biến không sai lầm, thiên lệch)
[[12]] vô biến dị tính (tính chân như không thay đổi sai khác)
[[13]] chân thực tính (tính chân thực)
[[14]] thực tế tính (tính thực tế)
[[15]] bất hư vọng tính (tính không giả dối)
[[16]] bất điên đảo tính (tính không xáo lộn)
[[17]] sáu giới (sáu giới phận)
[[18]] không dứt đoạn: (bất đoạn)
[[19]] không chuyển dời: (bất di)
[[20]] Để ngăn ngừa những ác kiến mê lầm, ngoài sự quán sát nội, ngoại nhân duyên tương ứng trên kia, cần quán sát thêm 5 thứ quán sát này.
[[21]] tương ứng (hợp nhau)
[[22]] danh sắc (tâm, thân)
[[23]] mệnh giả (Thọ giả): Cho rằng cái của Ta (hoặc người) đang có (đang thọ nhận) là thực.
[[24]] Nho đồng (Pàli: Màịava, Màịavaka; Hán dịch âm: Ma nạp bà, Ma nạp phạ ca; 儒): Cũng gọi Thiếu niên, Nhân đồng tử, Tịnh trì. Từ gọi chung các đồng tử hoặc đặc biệt chỉ cho những thiếu niên Bà la môn.
Theo Thành duy thức luận chưởng trung xu yếu quyển thượng, phần đầu, thì Nho nghĩa là tốt đẹp; Đồng nghĩa là tuổi trẻ, tức chỉ cho thiếu niên tốt đẹp.
[[25]] Hoàng môn (Phạn ngữ: paṇḍaka): 1. Chỉ những quan hoạn mặc áo vàng trong cung cấm của vua. 2. Chỉ chung những kẻ do tật khuyết nam căn hoặc do có bệnh tật, hoặc bị thiến...
Kinh Sa Môn Quả - Phần 3

67. Vị ấy, với giới uẩn cao quý này, với sự hộ trì các căn cao quý này, với chánh niệm tỉnh giác cao quý này, với hạnh biết đủ cao quý này, lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch, như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt.
68. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm, thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm và thụy miên; với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm, thụy miên. Từ bỏ trạo cử hối tiếc, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối tiếc. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.
69. ⁕Này Ðại vương, như một người mắc nợ, liền làm các nghề nghiệp. Những nghề này được phát đạt, người ấy không những trả được nợ cũ, còn có tiền dư để nuôi dưỡng vợ. Người ấy nghĩ: "Ta trước kia mắc nợ nên làm các nghề nghiệp. Những nghề này được phát đạt, ta không những trả được nợ cũ, còn có tiền dư để nuôi dưỡng vợ". Người ấy nhờ vậy được sung sướng, hoan hỷ.
70. ⁕Này Ðại vương, như một người bị bệnh, đau đớn, trầm trọng, ăn uống không tiêu, thể lực suy yếu. Sau một thời gian người ấy khỏi bệnh, ăn uống tiêu thông, thể lực khôi phục. Người ấy nghĩ: "Ta trước kia bị bệnh, đau đớn trầm trọng, ăn uống không tiêu, thể lực suy yếu. Nay ta khỏi bệnh, ăn uống tiêu thông, thể lực khôi phục". Người ấy nhờ vậy được sung sướng hoan hỷ.
71. ⁕Này Ðại vương, như một người bị nhốt trong ngục. Người ấy sau một thời gian, được khỏi tù tội, an lạc kiện toàn, tài sản không bị giảm tổn. Người ấy nghĩ: "Ta trước kia bị nhốt trong ngục, nay ta được khỏi tù tội, an lạc kiện toàn, tài sản không bị giảm tổn". Người ấy nhờ vậy được sung sướng hoan hỷ.
72. ⁕Này Ðại vương, như một người nô lệ, không được tự chủ, lệ thuộc người khác, không được tự do đi lại. Người ấy, sau một thời gian, thoát khỏi cảnh nô lệ, được tự chủ, không lệ thuộc người khác, một người được giải thoát, được tự do đi lại.
Người ấy nghĩ: "Ta trước kia bị cảnh nô lệ, không được tự chủ, lệ thuộc người khác, không được tự do đi lại. Nay ta thoát cảnh nô lệ, được tự chủ, không lệ thuộc người khác, một người được giải thoát, được tự do đi lại". Người ấy nhờ vậy được sung sướng hoan hỷ.
73. ⁕Này Ðại vương, như một người giàu có, nhiều tài sản, đang đi qua bãi sa mạc, thiếu lương thực, đầy những nguy hiểm. Người ấy, sau một thời gian đã đi khỏi sa mạc, đến đầu làng vô sự, yên ổn, không có nguy hiểm.
Người ấy nghĩ: "Ta trước kia giàu có, nhiều tài sản, đi qua bãi sa mạc thiếu lương thực, đầy những nguy hiểm. Nay ta đã đi qua khỏi bãi sa mạc ấy, đến đầu làng vô sự, yên ổn, không có nguy hiểm". Người ấy nhờ vậy được sung sướng hoan hỷ.
74. ⁕Như vậy, này Ðại vương, Tỷ kheo tự mình quán năm triền cái chưa xả ly, như món nợ, như bệnh hoạn, như ngục tù, như cảnh nô lệ, như con đường sa mạc. Này Ðại vương, cũng như không mắc nợ, như không bệnh tật, như được khỏi tù tội, như được tự do, như đất lành yên ổn, này Ðại vương, Tỷ kheo quán năm triền cái khi diệt trừ chúng.
75. Khi quán tự thân đã xả ly năm triền cái ấy, hân hoan sanh; do hân hoan nên hỷ sanh; do tâm hoan hỷ, thân được khinh an; do thân khinh an, lạc thọ sanh; do lạc thọ, tâm được định tĩnh.
⁕Tỷ kheo ly dục, ly ác pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Tỷ kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.
76. ⁕Này Ðại vương, như một người hầu tắm lão luyện hay đệ tử người hầu tắm. Sau khi rắc bột tắm trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước, cục bột tắm ấy được thấm nhuần nước ướt, nhào trộn với nước ướt, thấm ướt cả trong lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt.
⁕Cũng vậy, này Ðại vương, Tỷ kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân hình với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.
֎Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn, còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn trước.
77. ⁕Lại nữa, này Ðại vương, Tỷ kheo ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm Tỷ kheo ấy thấm nhuần, tẩm ướt làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần.
78. ⁕Này Ðại vương, ví như một hồ nước, nước tự trong dâng lên, phương Ðông không có lỗ nước chảy ra, phương Tây không có lỗ nước chảy ra, phương Bắc không có lỗ nước chảy ra, phương Nam không có lỗ nước chảy ra, và thỉnh thoảng trời lại mưa lớn. Suối nước mát từ hồ nước ấy phun ra thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy hồ nước ấy, với nước mát lạnh, không một chỗ nào của hồ nước ấy không được nước mát lạnh thấm nhuần. Cũng vậy, này Ðại vương, Tỷ kheo thấm nhuần tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân mình với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân, không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần.
֎Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn, còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn trước.
79. ⁕Lại nữa, này Ðại vương, Tỷ kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là "Xả niệm lạc trú", chứng và an trú thiền thứ ba. Tỷ kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn tràn đầy thân mình với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân, không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.
80. ⁕Này Ðại vương, ví như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng, hồ sen trắng, có những sen xanh, sen hồng hay sen trắng. Những bông sen ấy sanh trong nước, lớn lên trong nước, không vượt khỏi nước, nuôi sống dưới nước, từ đầu ngọn cho đến gốc rễ đều thấm nhuần tẩm ướt, đầy tràn thấu suốt bởi nước mát lạnh ấy, không một chỗ nào của toàn thể sen xanh, sen hồng hay sen trắng không được nước mát lạnh ấy thấm nhuần. Cũng vậy, này Ðại vương Tỷ kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung mãn, tràn đầy thân mình với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.
֎Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn, còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn trước.
81. ⁕Lại nữa, này Ðại vương, Tỷ kheo, xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú vào thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Tỷ kheo ấy thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.
82. ⁕Này Ðại vương, ví như một người ngồi, dùng tấm vải trắng trùm đầu, không một chỗ nào trên toàn thân không được vải trắng ấy che thấu. Cũng vậy, này Ðại vương, Tỷ kheo thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh, trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.
֎Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn, còn vi diệu, thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn trước.
83. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ kheo dẫn tâm, hướng tâm đến chánh trí, chánh kiến. Vị ấy biết: Thân này của ta là sắc pháp, do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt, trong thân ấy thức ta lại nương tựa và bị trói buộc.
84. ⁕Này Ðại vương, ví như một hòn lưu ly bảo châu, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo dũa, khéo mài, sáng chói, không uế trược, đầy đủ tất cả mỹ tướng. Và một sợi giây được xâu qua hòn ngọc ấy, sợi giây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng nhạt. Một người có mắt cầm hòn ngọc ấy trên tay sẽ thấy: Hòn lưu ly bảo châu này, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo dũa, khéo mài, sáng chói, không uế trược, đầy đủ tất cả mỹ tướng. Và sợi giây này được xâu qua hòn ngọc ấy, sợi giây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng nhạt. Cũng vậy, này Ðại vương, với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy. Tỷ kheo dẫn tâm, hướng tâm đến chánh trí, chánh kiến.
Vị ấy biết: Thân này của ta là sắc pháp, do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt. Trong thân ấy thức ta lại nương tựa và bị trói buộc.
֎Này Ðại vương, đó là quả thiết thực, hiện tại của hạnh Sa môn, còn vi diệu và thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn trước.
85. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ kheo chú tâm, hướng tâm đến sự hóa hiện một thân do ý làm ra. Vị ấy tạo một thân khác từ nơi thân này, cũng là sắc pháp, do ý làm ra, đầy đủ các chi tiết lớn nhỏ, không thiếu một căn nào.
86. ⁕Này Ðại vương, ví như một người rút một cây lau ra ngoài vỏ. Người ấy nghĩ: Ðây là vỏ, đây là cây lau; vỏ khác, cây lau khác và cây lau từ vỏ rút ra. Này Ðại vương, ví như một người rút thanh kiếm từ bao kiếm; thanh kiếm khác, bao kiếm khác, và thanh kiếm từ nơi bao kiếm rút ra. Này Ðại vương, ví như một người lột xác một con rắn. Người ấy nghĩ: Ðây là con rắn, đây là xác rắn, con rắn khác, xác rắn khác, và con rắn từ nơi xác rắn được lột ra.
Cũng vậy, này Ðại vương, với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ kheo dẫn tâm, hướng tâm đến sự hiện hóa một thân do ý làm ra. Vị ấy tạo một thân khác từ nơi thân này, cũng là sắc pháp, do ý tạo thành, đầy đủ các chi tiết lớn nhỏ, không thiếu một căn nào.
֎Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn, còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn trước.
87. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ kheo dẫn tâm, hướng tâm đến các thần thông. Vị ấy chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình, biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không; độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền, như ở trong nước; đi trên nước không chìm như trên đất liền; ngồi kiết già đi trên hư không như con chim; với bàn tay, chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy; có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên.
88. ⁕Này Ðại vương, ví như một người thợ gốm khéo tay, hay đệ tử người thợ gốm, với đất sét khéo nhồi nhuyễn, có thể làm các loại đồ gốm tùy theo sở thích. Này Ðại vương, ví như một người thợ ngà khéo tay, hay đệ tử người thợ ngà, với ngà khéo đẽo dũa có thể làm các loại đồ ngà tùy theo sở thích. Này Ðại vương, ví như người thợ vàng khéo tay hay đệ tử người thợ vàng, với vàng khéo tinh nhuyễn có thể làm các loại đồ vàng tùy theo sở thích. Cũng vậy này Ðại vương, với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ kheo dẫn tâm hướng tâm đến các thần thông. Vị ấy chứng được các thần thông một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình biến hình, đi ngang qua vách, qua tường, qua núi, như đi ngang qua hư không; độn thổ trồi lên, ngang qua đất liền như ở trong nước; đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết già đi trên hư không như con chim; với bàn tay chạm và rờ mặt trời và mặt trăng, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy; có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên.
֎Này Ðại vương đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn trước.
89. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ kheo dẫn tâm, hướng tâm đến thiên nhĩ thông. Tỷ kheo với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân có thể nghe hai loại tiếng, chư Thiên và Người, xa và gần.
90. ⁕Này Ðại vương, ví như một người đang đi qua đường, nghe tiếng trống lớn, tiếng trống nhỏ, tiếng loa, tiếng xập xõa và tiếng kiểng. Người ấy nghĩ: "Ðây là tiếng trống lớn, đây là tiếng trống nhỏ, đây là tiếng loa, tiếng xập xõa, tiếng kiểng". Cũng vậy, này Ðại vương, với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ kheo dẫn tâm, hướng tâm đến thiên nhĩ thông. Tỷ kheo với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, có thể nghe hai loại tiếng, chư Thiên và Người, xa và gần.
֎Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn, còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn trước.
91. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ kheo dẫn tâm, hướng tâm đến tha tâm thông. Tỷ kheo sau khi đi sâu vào tâm của chúng sanh, của loài người với tâm của mình, vị ấy biết được như sau:
−Tâm có tham, biết là tâm có tham. Tâm không có tham, biết là tâm không có tham.
−Tâm có sân, biết là tâm có sân. Tâm không có sân, biết là tâm không có sân.
−Tâm có si, biết là tâm có si. Tâm không có si, biết là tâm không có si.
−Tâm chuyên chú, biết là tâm chuyên chú. Tâm tán loạn, biết là tâm tán loạn.
−Ðại hành tâm, biết là đại hành tâm. Không phải đại hành tâm, biết không phải là đại hành tâm.
−Tâm chưa vô thượng, biết là tâm chưa vô thượng, Tâm vô thượng, biết là tâm vô thượng.
−Tâm thiền định, biết là tâm thiền định. Tâm không thiền định, biết là tâm không thiền định.
−Tâm giải thoát, biết là tâm giải thoát. Tâm không giải thoát, biết là tâm không giải thoát.
92. ⁕Này Ðại vương, ví như một người đàn bà, một người đàn ông, một thiếu niên trẻ hay một thanh niên ưa trang sức, nhìn mặt của mình trong tấm gương trong sạch, sáng suốt hay một chậu nước trong. Nếu mặt có tỳ vết, liền biết mặt có tỳ vết; nếu mặt không có tỳ vết, liền biết mặt không có tỳ vết. Cũng vậy, này Ðại vương, với tâm định tĩnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ kheo dẫn tâm, hướng tâm đến tha tâm thông. Tỷ kheo sau khi đi sâu vào tâm của chúng sanh, của mọi người với tâm của mình, vị ấy biết được như sau:
−Tâm có tham, biết tâm có tham. Tâm không có tham, biết tâm không có tham.
−Tâm có sân biết tâm có sân. Tâm không có sân, biết tâm không có sân.
−Tâm có si, biết tâm có si. Tâm không có si, biết tâm không có si.
−Tâm chuyên chú, biết là tâm chuyên chú. Tâm tán loạn, biết là tâm tán loạn.
−Ðại hành tâm, biết là đại hành tâm; không phải là đại hành tâm, biết không phải là đại hành tâm.
−Tâm chưa vô thượng, biết là tâm chưa vô thượng. Tâm vô thượng, biết là tâm vô thượng.
−Tâm thiền định, biết là tâm thiền định. Tâm không thiền định, biết là tâm không thiền định.
−Tâm giải thoát, biết là tâm giải thoát. Tâm không giải thoát biết là tâm không giải thoát.
93. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ kheo dẫn tâm, hướng tâm đến túc mạng minh.
Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp.
Vị ấy nhớ rằng: "Tại chỗ kia ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây". Như vậy Tỷ kheo nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.
94. ⁕Này Ðại vương, ví như một người đi từ làng mình đến làng khác, từ làng ấy đi đến một làng khác nữa, và từ làng này lại trở về làng của mình. Người ấy nghĩ: "Ta từ làng của mình đi đến làng kia, nơi đây ta đã đứng như thế này, đã ngồi như thế này, đã nói như thế này, đã yên lặng như thế này. Từ nơi làng nọ, ta đã trở về làng của ta".
Như vậy, này Ðại vương, với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ kheo dẫn tâm, hướng tâm đến túc mạng minh.
Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại kiếp và thành kiếp.
Vị ấy nhớ: "Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra chỗ nọ, tại đây, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây".
Như vậy, Tỷ kheo nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.
֎Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn, còn vi diệu, thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn trước.
95. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ kheo dẫn tâm, hướng tâm đến trí huệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh.
Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng: "Này các Hiền giả, những Tôn giả này làm những điều ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Này các Hiền giả, còn những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi trời, trên đời này.
Như vậy vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng.
96. ⁕Này Ðại vương, ví như một tòa lầu có thượng đài, giữa ngã tư đường, một người có mắt đứng trên ấy, sẽ thấy những người đi vào nhà, đi từ nhà ra, đi qua lại trên đường, ngồi ở giữa ngã tư hay trên đài thượng. Người ấy nghĩ: "Những người này đi vào nhà, những người này đi từ nhà ra, những người này đi qua lại trên đường, những người này ngồi giữa ngã tư, trên đài thượng".
Cũng vậy, này Ðại vương với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ kheo dẫn tâm, hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh.
Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng: Này các Hiền giả, những chúng sanh này làm những ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến, những người này sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Này các Hiền giả, còn những chúng sanh nào làm các thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi trời, trên đời này.
Như vậy, với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh, vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng.
֎Này Ðại vương, đó là quả thiết thực, hiện tại của hạnh Sa môn, còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn trước.
97. "Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ kheo dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí.
Vị ấy biết như thật "đây là khổ", biết như thật "đây là nguyên nhân của khổ", biết như thật "đây là khổ diệt", biết như thật "đây là con đường đưa đến khổ diệt", biết như thật "đây là những lậu hoặc", biết như thật "đây là nguyên nhân của lậu hoặc", biết như thật "đây là sự diệt trừ các lậu hoặc", biết như thật "đây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc".
Nhờ hiểu biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: Ta đã giải thoát.
Vị ấy biết: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa.
98. ⁕Này Ðại vương, ví như tại dãy núi lớn có một hồ nước, thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm. Một người có mắt, đứng trên bờ sẽ thấy con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những đàn cá bơi qua lại hay đứng một chỗ.
Vị ấy nghĩ: "Ðây là hồ nước thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm. Ðây là những con hến, con sò, những hòn đá, hòn sạn, những đàn cá đang bơi qua lại hay đứng yên một chỗ".
Cũng vậy, này Ðại vương, với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy. Tỷ kheo dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí.
Vị ấy biết như thật: "Ðây là khổ", biết như thật "đây là nguyên nhân của khổ", biết như thật "đây là khổ diệt", biết như thật "đây là con đường đưa đến khổ diệt", biết như thật "đây là những lậu hoặc", biết như thật "đây là nguyên nhân của lậu hoặc", biết như thật "đây là sự diệt trừ các lậu hoặc", biết như thật "đây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc".
Nhờ hiểu biết như vậy, nhờ nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu.
Ðối với tự thân đã giải thoát, vị ấy biết: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm; sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa.
֎Này Ðại vương, đó là quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn, còn vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn trước. Này Ðại vương, không có một quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn nào vi diệu và thù thắng hơn quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn này.
99. Ðược nghe nói vậy, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha bạch Thế Tôn:
−"Thật là vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật là vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc.
Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Và nay con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tỷ kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
−Bạch Thế Tôn, con đã phạm một trọng tội. Vì ngu si, vì vô minh, vì bất thiện, con đã hại mạng phụ vương con, một vị vua chơn chánh, để đạt vương quyền. Mong Thế Tôn nhận cho con tội ấy là một tội để con ngăn chận về tương lai".
100. ⁕Ðại vương, thật là một trọng tội. Vì ngu si, vì vô minh, vì bất thiện, Ðại vương đã hại mạng phụ vương, một vị vua chơn chánh, để đoạt vương quyền.
Vì Ðại vương đã thấy tội ấy là một tội, đã thú tội đúng với Chánh pháp, Ta nhận tội ấy cho Ðại vương. Ðó là một sự tiến bộ, này Ðại vương, trong luật pháp của bậc Thánh, những ai thấy tội là tội, thú tội đúng với Chánh pháp, và ngăn chận ở tương lai.
101. Ðược nghe nói vậy, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha bạch Thế Tôn:
−"Bạch Thế Tôn, nay chúng con phải cáo từ, chúng con có nhiều bổn phận, nhiều việc phải làm".
⁕Ðại vương hãy làm những gì Ðại vương nghĩ ra là phải thời.
Lúc bấy giờ, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha hoan hỷ tán thán lời dạy của Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Thế Tôn và từ biệt.
102. Lúc bấy giờ, khi Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha đi chưa bao lâu, Thế Tôn liền bảo các Tỷ kheo:
⁕Này các Tỷ kheo, tâm vua ấy rất ăn năn, này các Tỷ kheo, tâm vua ấy rất hối lỗi. Nếu vua ấy không hại mạng vua cha, một vị vua rất chân chánh, thì tại ngay chỗ ngồi này, vua ấy đã chứng được pháp nhãn, không trần cấu, không ô uế.
Thế Tôn thuyết pháp như vậy. Các Tỷ kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Kinh Sa Môn Quả - Phần 2

34.−Vậy nên bạch Thế Tôn, con cũng hỏi Thế Tôn.
Bạch Thế Tôn, cũng như các công nghệ chức nghiệp. Như điều tượng sư, điều mã sư, xa thuật sư, cung thuật sư, quân kỳ binh, nguyên soái, chiến sĩ, thượng sĩ quan, thám tử, dũng sĩ can đảm như voi chúa, anh hùng, trang giáp binh, nô lệ xuất thân, hỏa đầu quân, thợ hớt tóc, người hầu tắm, thợ làm bánh, nhà vòng hoa, thợ giặt, thợ dệt, nhà làm thúng rổ, thợ đồ gốm, nhà toán số, nhà ấn bản, các công nghệ chức nghiệp khác. Chúng hưởng được kết quả thiết thực hiện tại công nghệ chức nghiệp của chúng. Chúng giúp cho tự thân được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho cha mẹ được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho bạn bè được sống an lạc hạnh phúc. Chúng dâng các vật cúng dường cho Sa môn, Bà la môn, sự cúng dường này có ảnh hưởng đến đời sau, liên hệ đến thiên giới, thọ hưởng phước báo an lạc, thác sanh lên cõi trời.
−Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn chăng?
⁕Ðại vương có thể được. Này Ðại vương, Ta sẽ hỏi Ðại vương về vấn đề này. Ðại vương hãy trả lời tùy theo ý muốn của Ðại vương.
35. ⁕Ðại vương nghĩ sao? Nếu Ðại vương có một người nô bộc, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái, chú ý từng nét mặt (của Ðại vương). Người ấy nghĩ: "Thật hy hữu thay! Thật kỳ diệu thay quả vị thác sanh của các công đức, quả dị thục của các công đức. Ðức vua Ajàtasattu, con của bà Videhi của nước Magadha, là người, tôi đây là người. Vị vua Ajàtasattu con bà Videhi, của nước Magadha, sống tận hưởng đầy đủ năm món dục lạc, tôi nghĩ không khác gì vị thiên thần, còn tôi là người nô bộc, làm mọi công việc, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái, chú ý từng nét mặt (của vua). Vậy ta hãy làm các công đức như vua kia, ta hãy cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đình xuất gia tu đạo".
Và người nô lệ ấy, một thời khác, cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia tu đạo. Sau khi xuất gia như vậy, người ấy sống chế ngự thân, sống chế ngự lời nói, sống chế ngự ý nghĩ, bằng lòng với nhu cầu tối thiểu về ăn uống, y áo, hoan hỉ sống an tịnh.
Nếu những người của Ðại vương đến tâu với Ðại vương.
⁕"Ðại vương có biết chăng? Có người nô bộc của Ðại vương, làm mọi công việc, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái, chú ý từng nét mặt (của Ðại vương).
Tâu Ðại vương, người ấy đã cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia tu đạo. Sau khi xuất gia như vậy, người ấy sống chế ngự thân, chế ngự lời nói, chế ngự ý nghĩ, bằng lòng với nhu cầu tối thiểu về ăn uống, y áo, hoan hỷ sống trong an tịnh".
⁕Này Ðại vương, Ðại vương có nói như sau chăng? "Người ấy hãy lại với ta, hãy làm lại người nô bộc, làm mọi công việc, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp lòng mọi người, lời nói kính ái chú ý từng nét mặt?"
36. −Bạch Thế Tôn, không như vậy. Trái lại chúng con kính lễ người ấy, đứng dậy trước người ấy, mời người ấy ngồi xuống ghế, cúng dường người ấy các dụng cụ như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc men trị bệnh và chúng con sẽ ra lệnh để bảo vệ, che chở người ấy đúng theo luật pháp.
⁕Này Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nếu quả như vậy, thì đó có phải chăng là kết quả thiết thực hiện tại hạnh Sa môn?
−Bạch Thế Tôn, như vậy chính là kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn.
֎ Này Ðại vương đó là kết quả thiết thực hiện tại thứ nhất của hạnh Sa môn mà Ta đã trình bày.
37. −Bạch Thế Tôn, có thể cho biết một kết quả thiết thực hiện tại khác hơn nữa của hạnh Sa môn?
⁕Này Ðại vương, có thể được. Này Ðại vương. Ta sẽ hỏi Ðại vương về vấn đề này. Ðại vương hãy trả lời tùy theo ý muốn của Ðại vương.
⁕Ðại vương nghĩ sao? Nếu Ðại vương có một người nông phu, gia chủ, nạp thuế má, làm giàu công khố. Người ấy nghĩ: "Thật hy hữu thay! Thật kỳ diệu thay quả vị thác sanh của các công đức, quả vị thục của các công đức. Vị vua Ajàtasattu, con của bà Videhi, nước Magadha, là người, tôi cũng là người. Vị vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha, sống tận hưởng đầy đủ năm món dục lạc, tôi nghĩ không khác gì vị thiên thần. Còn tôi là người nông phu, gia chủ, nạp thuế má, làm giàu công khố. Vậy ta hãy làm các công đức như vua kia. Ta hãy cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia tu đạo".
Và người nông phu ấy, một thời khác, cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia tu đạo. Sau khi xuất gia như vậy, người ấy sống chế ngự thân, chế ngự lời nói, chế ngự ý nghĩ, bằng lòng với nhu cầu tối thiểu về ăn uống, y áo, hoan hỷ sống an tịnh.
Nếu những người của Ðại vương đến tâu với Ðại vương: "Ðại vương có biết chăng? Có người nông phu của Ðại vương, người gia chủ, nạp thuế má, làm giàu công khố. Tâu Ðại vương, người ấy đã cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia tu đạo. Sau khi xuất gia như vậy, người ấy sống chế ngự thân, chế ngự lời nói, chế ngự ý nghĩ, bằng lòng với nhu cầu tối thiểu về ăn uống, y áo, hoan hỷ sống an tịnh".
⁕Này Ðại vương, Ðại vương có nói: "Người hãy đến lại với ta, hãy làm lại người nông phu, gia chủ, nạp thuế má, làm giàu công khố"?
38. −Bạch Thế Tôn, không như vậy. Trái lại chúng con kính nể người ấy, đứng dậy trước người ấy, mời người ấy ngồi xuống ghế, cúng dường người ấy các dụng cụ như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc men trị bịnh. Và chúng con sẽ ra lệnh để bảo vệ, che chở người ấy đúng theo luật pháp.
⁕Này Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Nếu quả như vậy thời đó có phải là kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn chăng?
−Bạch Thế Tôn, như vậy chính là kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn.
֎ Này Ðại vương, đó là kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn, mà Ta trình bày.
39. −Bạch Thế Tôn, có thể cho biết một kết quả thiết thực hiện tại khác nữa của hạnh Sa môn, vi diệu hơn, thù thắng hơn những kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn vừa kể trên?
⁕Này Ðại vương có thể được. Này Ðại vương, hãy lóng tai nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
−Vâng, Thế Tôn. Vua Ajàtasattu con bà Videhi vua xứ Magadha trả lời Thế Tôn. Thế Tôn nói:
40. ⁕Này Ðại vương, nay ở đời, Như Lai xuất hiện là bậc A la hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi riêng tự chứng ngộ thượng trí với thế giới này với thiên giới, ma giới, phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa môn, Bà la môn, Thiên Nhơn, lại tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện đầy đủ văn nghĩa, Ngài truyền dạy phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.
41. Người gia trưởng, hay con vị gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nào nghe pháp ấy. Sau khi nghe pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tín ngưỡng ấy, vị này suy nghĩ: "Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở gia đình có thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình". Một thời gian sau, người ấy bỏ tài sản nhỏ hay tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ hay bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, và xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
42. Khi đã xuất gia như vậy, vị ấy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập trong giới học, thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh. Sanh hoạt trong sạch giới hạnh cụ túc, thủ hộ các căn, chánh niệm tỉnh giác, và biết tri túc.
43. ⁕Ðại Vương! Thế nào là Tỷ kheo giới hạnh cụ túc?
Ở đây, này Ðại Vương, Tỷ kheo từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến tất cả hạnh phúc của chúng sanh và loài hữu tình. ֎ Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. ֎ Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
44. Tỷ kheo từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ trên sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt, không phản lại lời hứa đối với đời. ֎ Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
Vị ấy từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy Tỷ kheo ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thoải mái trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. ֎ Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
Vị ấy từ bỏ lời nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác. Vị ấy nói những lời nói không lỗi lầm, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người. ֎ Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về chánh pháp, nói những lời về luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, thuận lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi. ֎ Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
45. Vị ấy từ bỏ làm hại đến các hạt giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm. Từ bỏ ăn phi thời. Từ bỏ đi xem múa, hát nhạc, diễn kịch. Từ bỏ trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang. Từ bỏ dùng giường cao và giường lớn. Từ bỏ nhận vàng và bạc. Từ bỏ nhận các hạt sống. Từ bỏ nhận thịt sống. Từ bỏ nhận đàn bà con gái. Từ bỏ nhận nô tỳ gái và trai. Từ bỏ nhận cừu và dê. Từ bỏ nhận gia cầm và heo. Từ bỏ nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái. Từ bỏ nhận ruộng nương, đất đai. Từ bỏ nhận người môi giới hoặc tự mình làm môi giới. Từ bỏ buôn bán. Từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường. Từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo. Từ bỏ làm thương tổn, sát hại câu thúc, bứt đoạt, trộm cắp, cướp phá. ֎ Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
46. Trong khi một số Sa môn, Bà la môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống làm hại các hạt giống và cây cối như hạt giống từ rễ sanh, hạt giống từ nhánh cây sanh, hạt giống từ đốt cây sanh, hạt giống từ chiết cây sanh, và thứ năm là hạt giống từ hạt giống sanh. Còn vị ấy thì không làm hại hạt giống hay cây cỏ nào. ֎ Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
47. Trong khi một số Sa môn, Bà la môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống cất chứa và thọ hưởng các đồ vật như cất chứa các món ăn, cất chứa các đồ uống, cất chứa vải, cất chứa xe cộ, cất chứa các đồ nằm, cất chứa các hương liệu, cất chứa các mỹ vị. Còn vị ấy thì từ bỏ cất chứa các vật trên. ֎ Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
48. Trong khi một số Sa môn, Bà la môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống theo các du hí không chơn chánh như múa, hát, nhạc kịch, ngâm vịnh, nhịp tay, tụng chú, đánh trống, diễn các tuồng thần tiên, mãi võ, đấu voi, đấu ngựa, đấu trâu, đấu bò đực, đấu dê, đấu cừu, đấu gà, đấu chim cun cút, đấu gậy, đấu quyền, đấu vật, đánh giặc giả, dàn trận, thao dượt, diễn binh. Còn vị ấy thì từ bỏ các du hí không chơn chánh như trên. ֎ Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
49. Trong khi một số Sa môn, Bà la môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống đánh bài và theo các trò giải trí. Như cờ tám hình vuông, cờ mười hình vuông, cờ trên không, trò chơi trên đất, chỉ bước vào những ô có quyền bước, trò chơi quăng thẻ rồi chụp nhưng không cho sụp đống thẻ, chơi súc sắc, chơi khăng, lấy tay làm viết, chơi banh, chơi thổi kèn bằng lá, cày với chiếc cày giả, nhảy lộn nhào, chơi chong chóng, chơi với đồ chơi bằng lá, chơi xe con, chơi cung nhỏ, chơi đoán chữ viết thiết trên không hay trên lưng, chơi đoán tư tưởng, chơi bắt chước bộ điệu. Còn vị ấy thì từ bỏ đánh bài và các loại giải trí như trên. ֎ Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
50. Trong khi một số Sa môn, Bà la môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, cũng vẫn sống dùng các giường cao và giường lớn như ghế bành, ghế trường kỷ, nệm trải giường bằng len, vải trải giường nhiều tấm nhiều màu, chăn len trắng, chăn len thêu bông, nệm bông, nệm thêu hình các con thú, mền bằng lông thú cả hai phía, mền bằng lông thú một phía, mền có đính ngọc, mền bằng lụa, tấm khảm lớn có thể chứa mười sáu người múa, mền voi, mền ngựa, mền xe, mền bằng da sơn dương khâu lại với nhau, mền bằng da con sơn dương khâu lại gọi là Kadali, tấm thảm với lều che phía trên, ghế dài có gối đầu, gối chân màu đỏ. Còn vị ấy thì từ bỏ không dùng các giường cao và giường lớn như trên. ֎ Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
51. Trong khi một số Sa môn, Bà la môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, cũng vẫn sống dùng các đồ trang sức và mỹ phẩm như thoa dầu, đấm bóp, tắm, đập tay chân cho mềm dẻo, gương kem đánh mặt, vòng hoa và phấn son, phấn mặt và sáp mặt, vòng tay tóc giả trên đầu, gậy cầm tay, ống thuốc, gươm, lọng, dép thêu, khăn đầu, ngọc, phất trần, vải trắng có viền tua dài. Còn vị ấy thì không dùng các loại trang sức và mỹ phẩm như trên. ֎ Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
52. Trong khi một số Sa môn, Bà la môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, cũng vẫn sống nói những câu chuyện vô ích tầm thường như câu chuyện nói về vua chúa, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện về binh lính, câu chuyện về hãi hùng, câu chuyện về chiến tranh, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về vải mặc, câu chuyện về giường nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương liệu, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng xóm, câu chuyện về thị tứ, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về đàn ông, câu chuyện về vị anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về người đã chết, các câu chuyện tạp thoại, các câu chuyện biến trạng của thế giới, câu chuyện về biến trạng của đại vương, câu chuyện về sự hiện hữu và sự không hiện hữu. Còn vị ấy thì từ bỏ nói những chuyện vô ích, tầm thường kể trên. ֎ Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
53. Trong khi một số Sa môn, Bà la môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống bàn luận tranh chấp như nói: "Ngươi không biết pháp và luật này, tôi biết pháp và luật này. Sao ngươi có thể biết pháp và luật này? Ngươi đã phạm vào tà kiến, tôi nói mới thật đúng chánh kiến. Lời tôi nói mới tương ưng, lời nói của người không tương ưng. Những điều đáng nói trước, ngươi lại nói sau. Những điều đáng nói sau ngươi lại nói trước. Chủ kiến của ngươi đã bị bài bác, câu nói của ngươi đã bị thách đấu. Ngươi đã bị thuyết bại. Hãy đến mà giải vây lời nói ấy. Nếu có thể được, gắng thoát ra khỏi lối bí". ֎ Còn vị ấy thì từ bỏ những cuộc biện luận, tranh chấp kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
54. Trong khi một số Sa môn, Bà la môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống cho đưa các tin tức, hoặc tự đứng làm môi giới như cho các vua, các đại thần của vua, cho các vị Sát đế lỵ, cho các vị Bà la môn, cho các gia chủ cho các thanh niên và nói rằng: "Hãy đi đến chỗ ấy, hãy đi lại chỗ kia, mang cái này lại, đem cái này đến chỗ kia". ֎ Còn vị ấy thì từ bỏ đưa các tin tức và đứng làm môi giới. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
55. Trong khi một số Sa môn, Bà la môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn sống lừa đảo, nói lời siểm nịnh, gợi ý, dèm pha, cầu lợi. ֎ Còn vị ấy thì từ bỏ nói lời lừa đảo và siểm nịnh như trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
56. Trong khi một số Sa môn, Bà la môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà hạnh như xem tướng tay chân, chiêm tướng, triệu tướng, mộng tướng, thân tướng, dấu chuột cắn, tế lửa, tế muỗng, dùng miệng phun hạt cải v. v... vào lửa, tế vỏ lúa, tế tấm, tế gạo, tế thục tô, tế máu, khoa xem chi tiết, khoa xem địa lý, khoa xem mộng, khoa cầu thần ban phước, khoa cầu quỷ ma, khoa dùng bùa chú khi ở trong nhà bằng đất, khoa rắn, khoa thuốc độc, khoa bò cạp, khoa chim, khoa chim quạ, khoa đoán số mạng, khoa ngừa tên bắn, khoa biết tiếng nói của chim. ֎ Còn vị ấy thì tránh xa những tà hạnh kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
57. Trong khi một số Sa môn, Bà la môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng như xem tướng các hòn ngọc, tướng que gậy, tướng áo quần, tướng gươm kiếm, tướng mũi tên, tướng cây cung, tướng võ khí, tướng đàn bà, tướng đàn ông, tướng thiếu niên, tướng thiếu nữ, tướng đầy tớ nam, tướng đầy tớ nữ, tướng voi, tướng ngựa, tướng trâu, tướng bò đực, tướng bò cái, tướng dê, tướng cừu, tướng gia cầm, tướng chim cun cút, tướng con cắc kè, tướng vật tai dài, tướng ma, tướng thú vật. ֎ Còn vị ấy thì tránh xa những tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
58. Trong khi một số Sa môn, Bà la môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng, như đoán trước: "Vua sẽ tiến quân, vua sẽ lùi quân, vua bản xứ sẽ tấn công, vua ngoại bang sẽ triệt thối, vua bản xứ sẽ thắng trận, vua ngoại bang sẽ thắng trận, vua bản xứ sẽ bại trận. Như vậy sẽ có sự thắng trận cho phe bên này, sẽ có sự bại trận cho phe bên kia". ֎ Còn vị ấy thì từ bỏ những tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
59. Trong khi có một số Sa môn, Bà la môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn nuôi sống bằng những tà mạng, như đoán trước: "Sẽ có nguyệt thực, sẽ có nhật thực, sẽ có tinh thực, mặt trăng, mặt trời sẽ đi đúng chánh đạo, mặt trăng mặt trời sẽ đi ngoài chánh đạo, sẽ có sao băng, các tinh tú sẽ đi đúng chánh đạo, các tinh tú sẽ đi ngoài chánh đạo, sẽ có sao băng, sẽ có lửa cháy các phương hướng, sẽ có động, sẽ có sấm trời, mặt trăng mặt trời các sao sẽ mọc, sẽ lặn, sẽ mờ, sẽ sáng, nguyệt thực sẽ có kết quả như thế này, nhật thực sẽ có kết quả như thế này, mặt trăng mặt trời đi đúng chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, mặt trăng mặt trời đi ngoài chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, các tinh tú đi đúng chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, các tinh tú đi ngoài chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, sao băng sẽ có kết quả như thế này, lửa cháy các phương sẽ có kết quả như thế này, động đất sẽ có kết quả như thế này, sấm trời sẽ có kết quả như thế này, mặt trăng mặt trời các sao mọc lặn sáng mờ sẽ có kết quả như thế này". ֎ Còn vị ấy thì tránh xa không tự nuôi sống bằng tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
60. Trong khi một số Sa môn, Bà la môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng tà mạng, như đoán trước: "Sẽ có nhiều mưa, sẽ có đại hạn, sẽ được mùa, sẽ mất mùa, sẽ được an ổn, sẽ bị hiểm họa, sẽ có bệnh, sẽ không có bệnh, hay làm các nghề như đếm trên ngón tay, kế toán, cộng số lớn, làm thư, làm theo thế tình". ֎ Còn vị ấy thì tránh xa các tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
61. Trong khi một số Sa môn, Bà la môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng, như sắp đặt ngày lành để rước dâu hay rễ về nhà, sắp đặt ngày lành để đưa dâu hay rễ, lựa ngày giờ tốt để hòa giải, lựa ngày giờ tốt để chia rẽ, lựa ngày giờ tốt để đòi nợ, lựa ngày giờ tốt để cho mượn hay tiêu tiền, dùng bùa chú để giúp người được may mắn, dùng bùa chú để khiến người bị rủi ro, dùng bùa chú để phá thai, dùng bùa chú làm cóng lưỡi, dùng bùa chú khiến quai hàm không cử động, dùng bùa chú khiến người phải bỏ tay xuống, dùng bùa chú khiến tai bị điếc, hỏi gương soi, hỏi phù đồng thiếu nữ, hỏi thiên thần để biết họa phước, thờ mặt trời, thờ đại địa, phun ra lửa, cầu Siri thần tài. ֎ Còn vị ấy thì tránh xa các tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
62. Trong khi một số Sa môn, Bà la môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi sống bằng những tà mạng, như dùng các ảo thuật để được yên ổn, để khỏi làm các điều đã hứa, để được che chở khi ở trong nhà bằng đất, để dương được thịnh, để làm người liệt dương, để tìm đất tốt làm nhà, để cầu phước cho nhà mới, lễ rửa miệng, lễ tắm, lễ hy sinh, làm cho mửa, làm cho xổ, bài tiết các nhơ bẩn về phía trên, bài tiết các nhơ bẩn về phía dưới, tẩy tịnh trong đầu, thoa dầu trong tai, nhỏ thuốc mắt, cho thuốc qua lỗ mũi, xức thuốc mắt, thoa dầu cho mắt, chữa bệnh cho mắt, làm thầy thuốc, mổ xẻ chữa bệnh cho con nít, cho thuốc uống bằng các loại rễ cây, ngăn ngừa công hiệu của thuốc. ֎ Còn vị ấy thì tránh xa các tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
63. Và như vậy, Ðại vương, vị Tỷ kheo ấy, nhờ đầy đủ giới luật nên không thấy sợ hãi từ một chỗ nào về phương diện hộ trì giới luật. Ðại vương, như một vị Sát đế lỵ đã làm lễ quán đảnh, đã hàng phục kẻ thù địch, không còn thấy sợ hãi từ chỗ nào nữa về phương diện thù địch.
Cũng vậy, này Ðại vương, Tỷ kheo ấy nhờ đầy đủ giới luật, nên không thấy sợ hãi từ một chỗ nào về phương diện hộ trì giới luật. Vị ấy nhờ đầy đủ giới luật cao quý này, nên hưởng lạc thọ, nội tâm không vẩn đục. ֎ Như vậy, này Ðại vương, Tỷ kheo đầy đủ giới luật.
64. ⁕Ðại vương, thế nào là Tỷ kheo hộ trì các căn?
Này Ðại vương, khi mắt thấy sắc, Tỷ kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, khiến nhãn căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, Tỷ kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự hộ trì nhãn căn. Khi tai nghe tiếng... mũi ngửi hương... thân xúc cảm... ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, Tỷ kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. ֎ Vị ấy, nhờ sự hộ trì cao quý các căn ấy, nên hưởng lạc thọ nội tâm, không vẩn đục. Như vậy, này Ðại vương, Tỷ kheo hộ trì các căn.
65. ⁕Ðại vương, thế nào là Tỷ kheo chánh niệm tỉnh giác?
Ðại vương, ở đây, Tỷ kheo khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác, khi ăn, uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác. ֎ Như vậy, này Ðại vương, Tỷ kheo chánh niệm tỉnh giác.
66. ⁕Ðại vương, thế nào là Tỷ kheo biết đủ?
Ở đây Tỷ kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và bình bát). Ðại vương, cũng như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh; cũng vậy, Ðại vương, vị Tỷ kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo. ֎ Như vậy, này Ðại vương, là Tỷ kheo biết đủ.
Kinh Sa Môn Quả - Phần 1

Như vậy tôi nghe;
Một thời Thế Tôn ở tại Ràjagaha (Vương Xá) nơi vườn xoài của Jìvaka (Kỳ bà) Komàrabhacca, cùng với đại chúng Tỷ kheo một nghìn hai trăm năm mươi vị. Lúc bấy giờ Ajàtasattu (A xà thế) con bà Videhi (Vi đề hi) vua xứ Magadha (Ma kiệt đà) nhân lễ Bố Tát vào ngày rằm tháng tư Komudi (cây súng) đang ngồi trên lầu cao trang nghiêm, chung quanh có nhiều đại thần hầu hạ.
Lúc bấy giờ Ajàtasattu con bà Videhi, vua xứ Magadha, nhân ngày Bố Tát cảm hứng nói rằng: "Thật khả ái thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật diễm lệ thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật mỹ miều thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật êm dịu thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật điềm lành thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Nay chúng ta nên đến chiêm bái vị Sa môn hay Bà la môn nào, nhờ sự chiêm bái này tâm chúng ta được tịnh tín?".
02. Khi nghe nói vậy, một đại thần tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi vua nước Magadha:
"Tâu Ðại vương, có Pùrana Kassapa (Phú la Ca diếp) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương đến chiêm bái Pùrana Kassapa này. Chiêm bái Pùrana Kassapa có thể khiến tâm Ðại vương được tịnh tín"… Khi nghe nói vậy Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha yên lặng không nói gì.
03. Lại một đại thần khác tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha:
"Tâu Ðại vương, có Makkhali Gosàla (Mặc già lê Cù xá lợi) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương chiêm bái Makkhali Gosàla này. Chiêm bái vị Makkhali Gosàla có thể khiến tâm Ðại vương được tịnh tín"… Khi nghe nói vậy. Ajàtasattu, con bà Videhi vua nước Magadha yên lặng không nói gì.
04. Lại một đại thần khác tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha:
"Tâu Ðại vương, có Ajita Kesakambàli (A kỳ đa Kỳ xá khâm bà la) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương đến chiêm bái Ajita Kesakambàli này. Chiêm bái Ajita Kesakambàli có thể khiến tâm Ðại vương được tịnh tín". Khi nghe nói vậy, Ajàtasattu, còn bà Videhi, vua nước Magadha yên lặng không nói gì.
05. Lại một đại thần khác tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi vua nước Magadha:
"Tâu Ðại vương, có Pakudha Kaccayana (Bà phù đà Ca chiên nê) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương đến chiêm bái Pakudha Kaccàyana này. Chiêm bái Pakudha Kaccayana này có thể khiến tâm Ðại vương được tịnh tín". Khi nghe nói vậy. Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha yên lặng không nói gì.
06. Lại một đại thần khác tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha:
"Tâu Ðại vương, có Sanjaya Belathiputta (Tán nhã di Tỳ la phê phất) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương đến chiêm bái Sanjaya Belathiputta này. Chiêm bái Sanjaya Belathiputta này có thể khiến tâm Ðại vương tịnh tín". Khi nghe nói vậy, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha yên lặng không nói gì.
07. Lại một đại thần khác tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha:
"Tâu Ðại vương, có Nigantha Nàtaputta (Ni kiền tử) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đã lâu năm, đã đến tuổi trưởng thượng. Mong Ðại vương đến chiêm bái Nigantha Nàtaputta này. Chiêm bái Nigantha Nàtaputta có thể khiến tâm Ðại vương được tịnh tín". Khi nghe nói vậy, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha yên lặng không nói gì.
08. Lúc bấy giờ Jìvaka Komàrabhacca ngồi yên lặng cách Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha không xa bao nhiêu. Khi ấy Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha, nói với Jìvaka Komàrabhacca:
−Này khanh Jìvaka, sao ngươi lại yên lặng như vậy?
Tâu Ðại vương, chính tại vườn xoài này của chúng con, có Thế Tôn, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, hiện đang trú ngụ với đại chúng Tỷ kheo một nghìn hai trăm năm mươi vị. Thế Tôn Gotama có tiếng đồn tốt đẹp sau đây lan rộng: "Ðây là Thế Tôn, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn". Ðại vương hãy đến chiêm bái Thế Tôn này.
Rất có thể, nhờ chiêm bái Thế Tôn, tâm của Ðại vương được tịnh tín.
−Vậy khanh Jìvaka, hãy cho thắng kiệu voi.
Vâng, tâu Ðại vương.
09. Jìvaka Komàrabhacca vâng theo lời dạy của Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha, sai người thắng năm trăm con voi cái, và con vương tượng vua thường cởi, rồi tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha: "Tâu Ðại vương, các kiệu voi đã sẵn sàng. Ngài hãy làm những gì Ngài xem là phải thời". Khi bấy giờ Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha biểu các cung phi leo lên năm trăm con voi cái mỗi người một con, còn mình thì leo lên vương tượng vua thường cởi, xuất hành ra khỏi Ràjagaha, dưới ánh sáng của các ngọn đuốc được cầm cao, với oai nghi của bậc đại vương, thẳng tiến đến vườn xoài của Jìvaka Komàrabhacca.
10. Khi Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha đi đến không xa vườn xoài, ngài bỗng sợ hãi, kinh hoàng, tóc dựng lên. Lúc bấy giờ Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha sợ hãi, kinh hoàng, tóc dựng lên, nói với Jìvaka Komàrabhacca:
−Này khanh Jìvaka, ngươi phản ta chăng? Này khanh Jìvaka, ngươi lường gạt ta chăng? Này khanh Jìvaka, ngươi nạp ta cho kẻ thù chăng? Tại sao trong một đại chúng lớn như thế này gần một nghìn hai trăm năm mươi vị, mà không có một tiếng đằng hắng, không có một tiếng ho, không một tiếng ồn?
Tâu Ðại vương, thần không phản lại Ngài, thần không lường gạt Ngài, tâu Ðại vương, thần không nạp Ngài cho kẻ thù, tâu Ðại Vương, hãy đi thẳng tới; tâu Ðại vương hãy đi thẳng tới. Tại chỗ kia trong căn nhà tròn chỗ có những ngọn đèn đang thắp sáng.
11. Lúc bấy giờ, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha đi cho đến chỗ voi có thể đi được, rồi xuống voi đi đến cửa căn nhà tròn. Khi đến nơi liền nói với Jìvaka Komàrabhacca:
−Này khanh Jìvaka, Thế Tôn ở tại đâu?
Tâu Ðại vương, vị ấy là Thế Tôn. Tâu Ðại vương, Thế Tôn ngồi dựa vào cột chính giữa, mặt hướng phía Nam, ngồi trước mặt chúng Tỷ kheo.
12. Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha liền tiến đến chỗ Thế Tôn. Khi đến rồi, vua đứng một bên. Sau khi đứng một bên, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha nhìn khắp chúng Tỷ kheo đang yên lặng an tịnh như một hồ nước trong, cảm hứng nói rằng:
"Mong hoàng tử Udàyibhadda (Ưu đà di bạt đà) cũng được sự trầm lặng như sự trầm lặng của các vị Tỷ kheo này vậy".
⁕Ðại vương, hình như tâm trí của Ðại vương nặng nhiều về tình thương thì phải?
−Bạch Thế Tôn, con thương hoàng tử Udàyibhadda rất nhiều. Mong rằng hoàng tử Udàyibhadda cũng được sự trầm lặng như sự trầm lặng của chúng Tỷ kheo này vậy.
13. Lúc bấy giờ Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha, đảnh lễ Thế Tôn, chấp tay vái chào chúng Tỷ kheo, và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha bạch Thế Tôn:
−Bạch Thế Tôn, con muốn hỏi Thế Tôn một vấn đề này, nếu Ngài cho phép con hỏi.
⁕Ðại vương cứ hỏi tùy theo ý muốn của Ðại vương.
14. −Cũng như các công nghệ chức nghiệp này, như điều tượng sư, điều mã sư, xa thuật sư, quân thuật sư, quân kỳ binh, nguyên súy, chiến sĩ, thượng sĩ quan, thám tử, dõng sĩ can đảm như voi chúa, anh hùng, trang giáp binh, nô lệ xuất thân, hỏa đầu quân, thợ hớt tóc, người hầu tắm, thợ làm bánh, nhà làm vòng hoa, thợ giặt, thợ dệt, nhà làm thúng rổ, thợ đồ gốm, nhà toán số, nhà ấn bản và các công nghệ chức nghiệp khác, chúng hưởng được kết quả thiết thực hiện tại từ công nghệ chức nghiệp của chúng.
Chúng giúp cho tự thân được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho vợ con được sống an lạc hạnh phúc. Chúng giúp cho cha mẹ được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho bạn bè được sống an lạc hạnh phúc. Chúng dâng các vật cúng dường cho Sa môn, Bà la môn, sự cúng dường này có ảnh hưởng đến đời sau, liên hệ đến thiên giới, thọ hưởng phước báo an lạc, thác sanh lên cõi trời.
−Bạch Thế Tôn, Ngài có thể chỉ cho rõ ràng kết quả thiết thực, hiện tại của hạnh Sa môn chăng?
15. ⁕Này Ðại vương, Ðại vương có nhớ đã hỏi câu hỏi ấy với các vị Sa môn, Bà la môn khác chăng?
−Bạch Ngài, con nhớ đã hỏi câu hỏi ấy với Sa môn, Bà la môn khác.
⁕Này Ðại vương, hãy nói lại cho nghe, các vị ấy đã trả lời với Ðại vương như thế nào, nếu Ðại vương không thấy gì trở ngại.
−Bạch Thế Tôn, con không thấy gì trở ngại đối với đức Thế Tôn và các bậc như đức Thế Tôn.
⁕Vậy Ðại vương hãy nói đi.
16. −Bạch Thế Tôn, một thời con đến Pùrana Kassapa, khi đến nơi, con nói lên những lời đón chào, chúc tụng thân hữu và xã giao với Pùrana Kassapa và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, con nói với Pùrana Kassapa: "Ngài Kassapa, cũng như các công nghệ, chức nghiệp này, như điều tượng sư, điều mã sư, xa thuật sư, cung thuật sư, quân kỳ binh, nguyên súy, chiến sĩ, thượng sĩ quan, thám tử, dõng sĩ can đảm như voi chúa, anh hùng, trang giáp binh, nô lệ xuất thân, hỏa đầu quân, thợ hớt tóc, người hầu tắm, thợ làm bánh, nhà làm vòng hoa, thợ giặt, thợ dệt, nhà làm thúng rổ, thợ đồ gốm, nhà toán số, nhà ấn bản và các công nghệ chức nghiệp khác, chúng hưởng được kết quả thiết thực, hiện tại công nghệ chức nghiệp của chúng. Chúng giúp cho tự thân được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho cha mẹ được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho vợ con được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho bạn bè được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng dâng các vật cúng dường cho Sa môn, Bà la môn, sự cúng dường này có ảnh hưởng đến đời sau, liên hệ đến thiên giới, thọ hưởng phước báo an lạc, thác sanh lên cõi trời.
−Bạch Ngài, Ngài có thể cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn chăng?"
17. −Bạch Thế Tôn, khi nghe nói vậy, Pùrana Kassapa đã nói với con:
♦ "Này Ðại vương, tự làm hay khiến người làm, chém giết hay khiến người chém giết, đốt nấu hay khiến người đốt nấu, gây phiền muộn hay khiến người gây phiền muộn, gây áo não hay khiến người gây áo não, tự mình gây sợ hãi hay khiến người gây sợ hãi, sát sanh, lấy của không cho, phá cửa nhà mà vào, cướp bóc, đánh cướp một nhà lẻ loi, chận đường cướp giựt, tư thông vợ người, nói láo, hành động như vậy không có tội ác gì. Nếu lấy một bánh xe sắc bén giết hại tất cả chúng sanh trên cõi đất thành một đống thịt, thành một chồng chịt, cũng không vì vậy mà có tội ác, mà gây ra tội ác.
Nếu có người đi trên bờ phía Nam sông Hằng giết hại, tàn sát, chém giết, khiến người chém giết, đốt nấu, khiến người đốt nấu, cũng không vì vậy mà có tội ác, mà gây ra tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Bắc sông Hằng bố thí, khiến người bố thí, tế lễ, khiến người tế lễ, cũng không vì vậy mà có phước báo".
18. −Bạch Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả hiện tại thiết thực của hạnh Sa môn, Pùrana Kassapa đã trả lời với thuyết vô nghiệp.
−Bạch Thế Tôn, cũng như hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít, hoặc hỏi về trái mít lại trả lời về trái xoài. Cũng vậy, Bạch Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả hiện tại thiết thực của hạnh Sa môn, Purana Kassapa đã trả lời với thuyết vô nghiệp, bạch Thế Tôn, con nghĩ: "Làm sao một người như con lại có thể làm một vị Sa môn hay Bà la môn ở trong nước con không được vui lòng?" Vì vậy bạch Thế Tôn, con không tán thán, cũng không cật nạn lời nói của Pùrana Kassapa. Không tán thán, không cật nạn, dầu không mãn nguyện cũng không thốt ra lời bất mãn, không công nhận cũng như không bác bỏ, con từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
19. −Bạch Thế Tôn, một thời con đến Makkhali Gosàla (Mạt già lê cù xá lợi). Khi đến nơi, con nói lên những lời đón chào chúc tụng thân hữu và xã giao với Makkhali Gosàla và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, con nói với Makkhali Gosàla: "Ngài Gosàla, cũng như các công kỹ nghệ chức nghiệp như điều tượng sư... (như trên)... Bạch Ngài, Ngài có thể cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn chăng?"
20. −Bạch Thế Tôn, khi nghe nói vậy, Makkhali Gosàla đã nói với con:
♦ "Này Ðại vương, không có nhơn, không có duyên, các loài hữu tình bị nhiễm ô; vô nhân, vô duyên, các loài hữu tình bị nhiễm ô. Không có nhân, không có duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh; vô nhân, vô duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh. Không có tự tác, không có tha tác, không có nhân tác, không có lực, không có tinh tấn, không có nhân lực, không có sự cố gắng của người. Tất cả loài hữu tình, tất cả sanh vật, tất cả sinh loại, tất cả sinh mạng đều không tự tại, không lực, không tinh tấn. Chúng bị dắt dẫn, chi phối bởi định mệnh, bởi điều kiện bộ loại của chúng, bởi cá tánh của chúng. Chúng hưởng thọ khổ lạc, y theo sáu loại thác sanh của chúng. Có tất cả là một triệu bốn trăm ngàn chủng loại thác sanh, lại có thể sáu ngàn và có thêm sáu trăm nữa.
Có năm trăm loại nghiệp và có năm nghiệp (theo năm căn), lại có ba nghiệp (về thân, khẩu, ý) lại có toàn nghiệp (thân và khẩu) và bán nghiệp (ý), có sáu mươi hai đạo, sáu mươi hai trung kiếp, sáu giai cấp, tám nhân địa, bốn ngàn chín trăm sanh nghiệp, bốn ngàn chín trăm kẻ du hành, bốn ngàn chín trăm chỗ ở của loài Naga, hai nghìn căn, ba nghìn cảnh địa ngục, ba mươi sáu trần giới, bảy tưởng thai, bảy vô tưởng thai, bảy tiết thai (sanh từ đốt), bảy loài thiên, bảy loài người, bảy loài quỷ, bảy hồ nước, bảy pavutas (rừng hay hồ nhỏ) bảy trăm pavutas bảy vực thẳm, bảy trăm papatas (vực thẳm), bảy mộng, bảy trăm mộng, có tám trăm bốn mươi vạn đại kiếp, trong thời gian ấy kẻ ngu và người hiền sau khi lưu chuyển luân hồi sẽ trừ tận khổ đau.
Không có lời nguyện: với giới hạnh này, với kỷ luật này, với khổ hạnh này hay với phạm hạnh này, tôi sẽ làm cho chín muồi những nghiệp chưa được thuần thục, hoặc trừ diệt những nghiệp đã thuần thục bởi những nhẫn thọ liên tục, không thể đo lường khổ và lạc với những vật đo lường, trong khi luân hồi không có giảm tăng, không có thặng dư, thiếu thốn. Ví như một cuộn chỉ được tung ra sẽ được kéo dài đến mức độ nào đó. Cũng như vậy, kẻ ngu và người hiền sau khi lưu chuyển luân hồi sẽ trừ tận khổ đau".
21. −Bạch Thế Tôn, khi được con hỏi kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn, Makkhali Gosàla đã trả lời với thuyết luân hồi tịnh hóa.
−Bạch Thế Tôn, cũng như hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít, hoặc hỏi về trái mít lại trả lời về trái xoài. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn, Makkhali Gosàla đã trả lời với thuyết luân hồi tịnh hóa. Bạch Thế Tôn, con liền nghĩ: "Làm sao một người như con, lại có thể làm một vị Sa môn hay Bà la môn ở trong nước con không được vui lòng? " Vì vậy, bạch Thế Tôn, con không tán thán cũng không cật nạn lời nói của Makkhali Gosàla; không tán thán, không cật nạn, dầu không mãn nguyện cũng không thốt ra lời bất mãn, không công nhận cũng không bác bỏ, con từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
22. −Bạch Thế Tôn, một thời con đến Ajita Kesakambàli (A kỳ đa xí xá khâm bà la) khi đến nơi con nói lên những lời đón chào, chúc tụng thân hữu và xã giao với Ajita Kesakambàli, và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, con nói với Ajita Kesakambala: "Ngài Ajita Kesakambàli, cũng như các công nghệ chức nghiệp như điều tượng sư... (như trên)... Bạch Ngài, Ngài có thể chỉ cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn chăng?"
23. −Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, Ajita Kesakambàli đã nói với con:
♦ "Này Ðại vương, không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có mẹ, không có cha, không có loại hóa sanh, ở đời không có những vị Sa môn, những vị Bà la môn chánh hướng, chánh hạnh, đã tự mình chứng tri giác ngộ đời này đời khác và truyền dạy lại.
Con người này do bốn đại hợp thành, khi mệnh chung, địa đại trở về trả lại cho địa giới, thủy đại trở về trả lại cho thủy giới, hỏa đại trở về trả lại cho hỏa giới, phong đại trở về trả lại cho phong giới, các căn nhập vào hư không. Bốn người gánh quan tài với người nằm trong quan tài là năm, gánh người chết mang đi đến chỗ hỏa táng, thốt ra những lời tán tụng, các xương trắng như màu bồ câu và những vật cúng dường trở thành tro bụi, chỉ có người ngu mới tán dương sự bố thí, lời nói của chúng trống không, giả dối, khi chúng chấp thuyết có sự sống.
Kẻ ngu cũng như người hiền, sau khi thân hoại mạng chung sẽ đoạn diệt, tiêu thất, không còn tồn tại sau khi chết."
24. −Bạch Thế Tôn, khi được con hỏi kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn, Ajita Kesakambàli đã trả lời với thuyết đoạn diệt.
−Bạch Thế Tôn, cũng như hỏi về trái mít lại trả lời về trái xoài, hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn, Ajita Kesakambàli đã trả lời với thuyết đoạn diệt. Bạch Thế Tôn, con liền nghĩ: "Làm sao một người như con lại có thể làm một vị Sa môn hay Bà la môn ở trong nước con không được vui lòng". Vì vậy bạch Thế Tôn, con không tán thán, cũng không cật nạn lời nói của Ajita Kesakambàli. Không tán thán, không cật nạn, dầu không mãn nguyện cũng không thốt ra lời bất mãn, không công nhận cũng không bác bỏ, con từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
25. −Bạch Thế Tôn, một thời con đến Pakudha Kaccayana (Bà phù đả ca chiên diên). Khi đến nơi con nói lên những lời đón chào, chúc tụng thân hữu và xã giao với Pakudha Kaccàyana và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, con nói với Pakudha Kaccayana: "Ngài Pakudha Kaccayana, cũng như các công nghệ chức nghiệp, như điều tượng sư... (như trên)... Bạch Ngài, Ngài có thể cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn chăng?"
26. −Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, Pakudha Kaccàyana nói với con:
♦"Này Ðại vương, có bảy thân không bị làm ra, không làm ra, không bị sáng tạo, không sáng tạo, không sanh sản, thường tại như đỉnh núi, đứng thẳng như trụ đá. Chúng bất động không chuyển biến, không xâm lăng nhau. Chúng không ảnh hưởng đến lạc hay khổ với nhau hoặc cả khổ và lạc.
Bảy thân ấy là gì? Ðịa thân, thủy thân, hỏa thân, phong thân, khổ, lạc và thứ bảy là mạng. Bảy thân này không bị làm ra, không làm ra, không bị sáng tạo, không sáng tạo, không sanh sản, thường tại như đỉnh núi, đứng thẳng như trụ đá. Chúng bất động không chuyển biến, không xâm lăng, chúng không ảnh hưởng đến lạc hay khổ với nhau, hoặc cả khổ và lạc. Ở đây không có người giết hại, hoặc có người bị giết hại, người nghe hoặc người nói, người biết hoặc người khiến cho biết. Khi một ai dùng lưỡi kiếm sắc bén chém đầu, thời không có ai tước đoạt sanh mạng của ai cả, lưỡi kiếm chỉ rơi vào giữa bảy thân mà thôi".
27. −Bạch Thế Tôn, khi được con hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn, Pakudha Kaccàyana đã trả lời một việc khác với một quan điểm khác.
−Bạch Thế Tôn, cũng như hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít, hoặc hỏi về trái mít lại trả lời về trái xoài. Cũng vậy, Bạch Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn, Pakudha Kaccayana đã trả lời một việc khác với một quan điểm khác. Bạch Thế Tôn, con liền nghĩ: "Làm sao một người như con lại có thể làm một vị Sa môn, hay Bà la môn ở trong nước con không được vui lòng". Vì vậy, bạch Thế Tôn, con không tán thán, không cật nạn, bỏ lời nói của Pakudha Kaccayana. Không tán thán, không cật nạn, dầu không mãn nguyện, cũng không thốt ra lời bất mãn, không công nhận cũng không bác bỏ, con từ chỗ ngồi và đứng dậy ra về.
28. −Bạch Thế Tôn, một thời con đến Nigantha Nàtaputta (Ni kiền tử). Khi đến nơi, con nói lên những lời đón chào, chúc tụng thân hữu và xã giao với Nigantha Nàtaputta và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, con nói với Nigantha Nàtaputta: "Ngài Aggivessana, các công nghệ chức nghiệp như điều tượng sư, ... (như trên) ... Bạch Ngài, Ngài có thể cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn?"
29. −Bạch Thế Tôn, khi được hỏi vậy, Nigantha Nàtaputta nói với con:
♦"Này Ðại vương, một người Nigantha (Ni kiền tử) sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới. Này Ðại vương, thế nào là một người Nigantha sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới?
Này Ðại vương, một Nigantha sống gìn giữ đối với tất cả loại nước, gìn giữ đối với mọi ác pháp, sống tẩy sạch tất cả ác pháp và sống với ý chí gìn giữ đối với tất cả ác pháp. Này Ðại vương, như vậy một Nigantha sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới. Này Ðại vương, vì một Nigantha sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới, nên vị ấy được gọi là Gotatto (một vị đã đi đến đích), Yatatto (một vị đã điều phục tự tâm) và Thitatto (một vị đã an trú được tự tâm)".
30.−Bạch Thế Tôn, khi được con hỏi đến kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn, Nigantha Nàtaputta đã trả lời với sự chế ngự bởi bốn loại cấm giới.
−Bạch Thế Tôn, cũng như hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít, hoặc hỏi về trái mít lại trả lời về trái xoài. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn, Nigantha Nàtaputta đã trả lời với sự chế ngự bởi bốn cấm giới. Bạch Thế Tôn, con liền nghĩ: "Làm sao một người như con lại có thể làm một vị Sa môn hay Bà la môn ở trong nước con không được vui lòng". Vì vậy, bạch Thế Tôn, con không tán thán, cũng không cật nạn lời nói của Nigantha Nàtaputta. Không tán thán không cật nạn, dù không mãn nguyện, cũng không thốt ra lời bất mãn, không công nhận cũng không bác bỏ, con từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
31. −Bạch Thế Tôn, một hôm con đến Sanjaya Belatthiputta (Tán nhã di Tỳ la lê phất). Khi đến nơi, con nói lên những lời đón chào chúc tụng thân hữu và xã giao với Sanjaya Belatthiputta và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, con nói với Sanjaya Belatthiputta: "Ngài Sanjaya, các công nghệ chức nghiệp như điều tượng sư... (như trên)... Bạch Ngài, Ngài có thể cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn chăng?"
32. −Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, Sanjaya Belatthiputta đã trả lời với con:
♦"Nếu anh hỏi: "Có một thế giới khác hay không?" Nếu tôi nghĩ "Có một thế giới khác", tôi có thể trả lời với anh: "Có một thế giới khác". Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế.
Nếu anh hỏi tôi: "Không có một thế giới khác phải không?" Nếu tôi nghĩ: "Không có một thế giới khác", tôi có thể trả lời với anh: "Không có một thế giới khác". Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế.
Nếu anh hỏi tôi "Không có một thế giới khác phải không?" (... như trên...); "Cũng có và cũng không có một thế giới khác?"; "Cũng không có và cũng không không có một thế giới khác?"; "Có loại hữu tình hóa sanh?"; "Không có loại hữu tình hóa sanh?"; "Cũng có và cũng không có loại hữu tình hóa sanh?"; "Cũng không có và cũng không không có loại hữu tình hóa sanh?"; "Có kết quả dị thục của các nghiệp thiện và ác?"; "Không có kết quả dị thục của những nghiệp thiện và ác?"; "Cũng có và cũng không có kết quả dị thục của những nghiệp thiện và ác?"; "Cũng không có và cũng không không có kết quả dị thục của những nghiệp thiện và ác?";
"Như Lai có tồn tại sau khi chết?"; "Như Lai không có tồn tại sau khi chết?"; "Như Lai có và không có tồn tại sau khi chết?"; "Như Lai không có và cũng không không có tồn tại sau khi chết?". Anh hỏi tôi như vậy. Nếu tôi nghĩ: "Như Lai không có và cũng không không có tồn tại sau khi chết". Tôi có thể trả lời: "Như Lai không có và cũng không không có tồn tại sau khi chết". Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế."
33. −Bạch Thế Tôn, khi được con hỏi kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn, Sanjaya Belatthiputta đã trả lời với Ngụy biện luận.
−Bạch Thế Tôn, cũng như hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít, hoặc hỏi trái mít lại trả lời trái xoài. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa môn, Sanjaya Belatthiputta đã trả lời với Ngụy biện luận. Bạch Thế Tôn, con liền nghĩ: "Làm sao một người như con, lại có thể làm một vị Sa môn hay Bà la môn ở trong nước con không được vui lòng". Vì vậy, Bạch Thế Tôn, con không tán thán cũng không cật nạn lời nói của Sanjaya Belatthiputta. Không tán thán, không cật nạn, dầu không mãn nguyện, cũng không thốt ra lời bất mãn. Không công nhận cũng không bác bỏ, con từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
Kinh Niệm Xứ

Như vầy tôi nghe; Một thời Thế Tôn ở xứ Kuru (Câu lâu), Kammassadhamma (Kiềm ma sắt đàm) là đô thị của xứ Kuru. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ kheo:
Này các Tỷ kheo.
Các Tỷ kheo vâng đáp Thế Tôn:
− Bạch Thế Tôn.
Thế Tôn thuyết như sau:
Này các Tỷ kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết bàn. Ðó là Bốn Niệm xứ.
Thế nào là bốn?
Này các Tỷ kheo, ở đây Tỷ kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.
1. Và này các Tỷ kheo, thế nào là Tỷ kheo sống quán thân trên thân?
1.1. Này các Tỷ kheo, ở đây, Tỷ kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra. Thở vô dài, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở vô dài"; hay thở ra dài, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở ra dài"; hay thở vô ngắn, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở vô ngắn"; hay thở ra ngắn, vị ấy tuệ tri: "Tôi thở ra ngắn". "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập; "An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
Này các Tỷ kheo, như người thợ quay hay học trò người thợ quay thiện xảo khi quay dài, tuệ tri: "Tôi quay dài" hay khi quay ngắn, tuệ tri: "Tôi quay ngắn". Cũng vậy, này các Tỷ kheo, Tỷ kheo thở vô dài, tuệ tri: "Tôi thở vô dài"; hay thở ra dài, tuệ tri: "Tôi thở ra dài"; hay thở vô ngắn, tuệ tri: "Tôi thở vô ngắn"; hay thở ra ngắn, tuệ tri: "Tôi thở ra ngắn". "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập; "An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập; "An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
֎ Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy không nương tựa, không chấp trước vật gì trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy là Tỷ kheo sống quán thân trên thân.
1.2. Lại nữa, này các Tỷ kheo, Tỷ kheo đi, tuệ tri: "Tôi đi", hay đứng, tuệ tri: "Tôi đứng", hay ngồi, tuệ tri: "Tôi ngồi", hay nằm, tuệ tri: "Tôi nằm". Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy tuệ tri thân như thế ấy.
֎ Vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay vị ấy sống quán thân trên ngoại thân; hay vị ấy sống quán thân trên nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy là Tỷ kheo sống quán thân trên thân.
Lại nữa, này các Tỷ kheo, Tỷ kheo, khi bước tới bước lui, biết rõ việc mình đang làm; khi ngó tới ngó lui, biết rõ việc mình đang làm; khi co tay, khi duỗi tay, biết rõ việc mình đang làm; khi mang áo Sanghati (Tăng già lê), mang bát, mang y, biết rõ việc mình đang làm; khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm; khi đại tiện, tiểu tiện, biết rõ việc mình đang làm; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, biết rõ việc mình đang làm.
֎ Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy là Tỷ kheo sống quán thân trên thân.
1.3. Lại nữa, này các Tỷ kheo, Tỷ kheo quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này: "Ðây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm (niêm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu".
Này các Tỷ kheo, cũng như một bao đồ, hai đầu trống đựng đầy các loại hột như gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đã xay rồi. Một người có mắt, đổ các hột ấy ra và quán sát:
"Ðây là hột gạo, đây là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là mè, đây là hột lúa đã xay rồi".
Cũng vậy, này các Tỷ kheo, một Tỷ kheo quán sát thân này dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này: "Ðây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu".
֎ Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân, hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy là Tỷ kheo sống quán thân trên thân.
1.4. Lại nữa, này các Tỷ kheo, Tỷ kheo quán sát thân này về các vị trí các giới và sự sắp đặt các giới: "Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại". Này các Tỷ kheo, như một người đồ tể thiện xảo, hay đệ tử của một người đổ tể giết một con bò, ngồi cắt chia từng thân phần tại ngã tư đường.
Cũng vậy, này các Tỷ kheo, Tỷ kheo quán sát thân này về vị trí các giới và về sự sắp đặt các giới: "Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại".
֎ Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy là Tỷ kheo sống quán thân trên thân.
1.5. Lại nữa, này các Tỷ kheo, Tỷ kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra. Tỷ kheo quán thân ấy như sau: "Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy".
֎ Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy là Tỷ kheo sống quán thân trên thân.
Lại nữa, này các Tỷ kheo, Tỷ kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn, hay bị các loài chó ăn, hay bị các loài giả can ăn, hay bị các loài côn trùng ăn. Tỷ kheo quán thân ấy như sau: "Thân này tánh chất là như vậy, bản chất là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy".
֎ Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy là Tỷ kheo sống quán thân trên thân.
Này các Tỷ kheo, lại nữa, Tỷ kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại... với các bộ xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột lại... với các bộ xương không còn dính thịt, dính máu, còn được các đường gân cột lại, chỉ còn có xương không dính lại với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia. Ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu. Tỷ kheo quán thân ấy như sau: "Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy".
֎ Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì ở trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy là Tỷ kheo sống quán thân trên thân.
Lại nữa này các Tỷ kheo, Tỷ kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc... chỉ còn một đống xương lâu hơn ba năm... chỉ còn là xương thối trở thành bột. Tỷ kheo quán thân ấy như sau: "Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy".
֎ Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy là Tỷ kheo sống quán thân trên thân.
2. Này các Tỷ kheo, như thế nào là Tỷ kheo sống quán thọ trên các thọ?
Này các Tỷ kheo, ở đây Tỷ kheo khi cảm giác lạc thọ, tuệ tri: "Tôi cảm giác lạc thọ"; khi cảm giác khổ thọ, tuệ tri: "Tôi cảm giác khổ thọ"; khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ, tuệ tri: "Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ".
Hay khi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất, tuệ tri: "Tôi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất"; hay khi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất, tuệ tri: "Tôi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất".
Hay khi cảm giác khổ thọ thuộc vật chất, tuệ tri: "Tôi cảm giác khổ thọ thuộc vật chất"; hay khi cảm giác khổ thọ không thuộc vật chất, tuệ tri: "Tôi cảm giác khổ thọ không thuộc vật chất".
Hay khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất, tuệ tri: "Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất"; hay khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất, tuệ tri: "Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất".
֎ Như vậy, vị ấy sống quán thọ trên các nội thọ; hay sống quán thọ trên các ngoại thọ; hay sống quán thọ trên các nội thọ, ngoại thọ. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các thọ, hay sống quán tánh diệt tận trên các thọ; hay sống quán tánh sanh diệt trên các thọ. "Có thọ đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy Tỷ kheo sống quán thọ trên các thọ.
3. Này các Tỷ kheo, như thế nào là Tỷ kheo sống quán tâm trên tâm?
Này các Tỷ kheo, ở đây, Tỷ kheo;
− Với tâm có tham, tuệ tri: "Tâm có tham"; hay với tâm không tham, tuệ tri: "Tâm không tham".
− Hay với tâm có sân, tuệ tri: "Tâm có sân"; hay với tâm không sân, tuệ tri: "Tâm không sân".
− Hay với tâm có si, tuệ tri: "Tâm có si"; hay với tâm không si, tuệ tri: "Tâm không si".
− Hay với tâm thâu nhiếp, tuệ tri: "Tâm được thâu nhiếp".
− Hay với tâm tán loạn, tuệ tri: "Tâm bị tán loạn".
− Hay với tâm quảng đại, tuệ tri: "Tâm được quảng đại"; hay với tâm không quảng đại, tuệ tri: "Tâm không được quảng đại".
− Hay với tâm hữu hạn, tuệ tri: "Tâm hữu hạn".
− Hay với tâm vô thượng, tuệ tri: "Tâm vô thượng".
− Hay với tâm có định, tuệ tri: "Tâm có định"; hay với tâm không định, tuệ tri: "Tâm không định".
− Hay với tâm giải thoát, tuệ tri: "Tâm có giải thoát"; hay với tâm không giải thoát, tuệ tri: "Tâm không giải thoát".
֎ Như vậy vị ấy sống quán tâm trên nội tâm; hay sống quán tâm trên ngoại tâm; hay sống quán tâm trên nội tâm, ngoại tâm. Hay sống quán tánh sanh khởi trên tâm; hay sống quán tánh diệt tận trên tâm; hay sống quán tánh sanh diệt trên tâm. "Có tâm đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy là Tỷ kheo sống quán tâm trên tâm.
4. Này các Tỷ kheo, thế nào là Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp?
Này các Tỷ kheo, ở đây, Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái.
4.1. Và này các Tỷ kheo, thế nào là Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái?
Này các Tỷ kheo, ở đây, Tỷ kheo nội tâm có ái dục, tuệ tri: "Nội tâm tôi có ái dục"; hay nội tâm không có ái dục, tuệ tri: "Nội tâm tôi không có ái dục". Và với ái dục chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với ái dục đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với ái dục đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.
Hay nội tâm có sân hận, tuệ tri: "Nội tâm tôi có sân hận"; hay nội tâm không có sân hận, tuệ tri: "Nội tâm tôi không có sân hận". Và với sân hận chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với sân hận đã sanh, nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với sân hận đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.
Hay nội tâm có hôn trầm thụy miên, tuệ tri: "Nội tâm tôi có hôn trầm thụy miên"; hay nội tâm không có hôn trầm thụy miên, tuệ tri: "Nội tâm tôi không có hôn trầm thụy miên". Và với hôn trầm thụy miên chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với hôn trầm thụy miên đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với hôn trầm thụy miên đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.
Hay nội tâm có trạo hối, tuệ tri: "Nội tâm tôi có trạo hối"; hay nội tâm không có trạo hối, tuệ tri: "Nội tâm tôi không có trạo hối". Và với trạo hối chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với trạo hối đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với trạo hối đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.
Hay nội tâm có nghi, tuệ tri: "Nội tâm tôi có nghi"; hay nội tâm không có nghi, tuệ tri: "Nội tâm tôi không có nghi". Và với nghi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với nghi đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với nghi đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.
֎ Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. "Có những pháp ở đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy là Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái.
Lại nữa, này các Tỷ kheo, Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm thủ uẩn.
4.2. Này các Tỷ kheo, thế nào là Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm thủ uẩn?
Này các Tỷ kheo, Tỷ kheo suy tư: "Ðây là sắc, đây là sắc tập, đây là sắc diệt. Ðây là thọ, đây là thọ tập, đây là thọ diệt. Ðây là tưởng, đây là tưởng tập; đây là tưởng diệt. Ðây là hành, đây là hành tập, đây là hành diệt. Ðây là thức, đây là thức tập, đây là thức diệt".
֎ Như vậy, vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. "Có những pháp ở đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy là Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm thủ uẩn.
Lại nữa, này các Tỷ kheo, Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với sáu nội ngoại xứ.
4.3. Này các Tỷ kheo, thế nào là Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với sáu nội ngoại xứ?
Này các Tỷ kheo, ở đây Tỷ kheo tuệ tri con mắt và tuệ tri các sắc, do duyên hai pháp này, kiết sử sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.
Tỷ kheo tuệ tri tai và tuệ tri các tiếng... tuệ tri mũi và tuệ tri các hương... tuệ tri lưỡi... và tuệ tri các vị... tuệ tri thân và tuệ tri các xúc, tuệ tri ý và tuệ tri các pháp; do duyên hai pháp này, kiết sử sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy tuệ tri như vậy; và với kiết sử đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy tuệ tri như vậy.
֎ Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. "Có những pháp ở đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy là Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với sáu nội ngoại xứ.
Lại nữa, này các Tỷ kheo, Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác chi.
4.4. Này các Tỷ kheo, thế nào là Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác chi?
Này các Tỷ kheo, ở đây Tỷ kheo nội tâm có niệm giác chi, tuệ tri: "Nội tâm tôi có niệm giác chi"; hay nội tâm không có niệm giác chi, tuệ tri: "Nội tâm tôi không có ý niệm giác chi". Và với niệm giác chi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy, và với niệm giác chi đã sanh, nay được tu tập viên thành, vị ấy tuệ tri như vậy.
Hay Tỷ kheo nội tâm có trạch pháp giác chi... (như trên)... hay nội tâm có tinh tấn giác chi... (như trên)... hay nội tâm có hỷ giác chi... (như trên)... hay nội tâm có khinh an giác chi... (như trên)... hay nội tâm có định giác chi... (như trên)... hay nội tâm có xả giác chi, tuệ tri: "Nội tâm tôi có xả giác chi"; hay nội tâm không có xả giác chi, tuệ tri: "Nội tâm tôi không có xả giác chi". Và với xả giác chi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy tuệ tri như vậy, và với xả giác chi đã sanh nay được tu tập viên thành, vị ấy tuệ tri như vậy.
֎ Như vậy vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. "Có những pháp ở đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy là Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác chi.
Lại nữa, này các Tỷ kheo, vị ấy sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Thánh đế.
4.5. Này các Tỷ kheo, thế nào là Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Thánh đế?
Này các Tỷ kheo, ở đây, Tỷ kheo như thật tuệ tri: "Ðây là Khổ"; như thật tuệ tri: "Ðây là Khổ tập"; như thật tuệ tri: "Ðây là Khổ diệt"; như thật tuệ tri: "Ðây là Con đường đưa đến Khổ diệt".
֎ Như vậy, vị ấy sống quán pháp trên các nội pháp; hay sống quán pháp trên các ngoại pháp; hay sống quán pháp trên các nội pháp, ngoại pháp. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên các pháp; hay sống quán tánh diệt tận trên các pháp; hay sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. "Có những pháp ở đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ kheo, như vậy là Tỷ kheo sống quán pháp trên các pháp đối với Bốn Thánh đế.
⁕ Này các Tỷ kheo, vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này như vậy trong bảy năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn Hữu Dư Y, thì chứng quả Bất hoàn.
Này các Tỷ kheo, không cần gì đến bảy năm, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này như vậy trong sáu năm, trong năm năm, trong bốn năm, trong ba năm, trong hai năm, trong một năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn Hữu Dư Y, thì chứng quả Bất hoàn.
⁕ Này các Tỷ kheo, không cần gì đến một năm, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này trong bảy tháng, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn Hữu Dư Y, thì chứng quả Bất hoàn.
⁕ Này các Tỷ kheo, không cần gì bảy tháng, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này trong sáu tháng, trong năm tháng, trong bốn tháng, trong ba tháng, trong hai tháng, trong một tháng, trong nửa tháng, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn Hữu Dư Y, thì chứng quả Bất hoàn.
⁕ Này các Tỷ kheo, không cần gì nửa tháng, một vị nào tu tập Bốn Niệm xứ này trong bảy ngày, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: Một là chứng Chánh trí ngay trong hiện tại, hai là nếu còn Hữu Dư Y, thì chứng quả Bất hoàn...
⁕ Này các Tỷ kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu Chánh trí, chứng ngộ Niết bàn. Ðó là Bốn Niệm xứ.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Vô Lượng Nghĩa Là Gì? Làm Sao Để Thành Tựu?

Các bạn!!! ... Kỳ này chúng ta sẽ trao đổi tiếp câu hỏi thứ 2 và thứ 3 của bạn Bửu Khoa.
2) Ngoài ba thứ thắc mắc nêu trên, tôi thấy Phật đạo còn đề cập đến vô lượng nghĩa. (2a) Xin hỏi vô lượng nghĩa là gì? (2b) Muốn có được vô lượng nghĩa phải thành tựu những điều gì?
3) Thầy có thể bật mí về quá trình tu tập của bản thân hay không? Thầy đã đắc được điều gì trong Phật đạo?
(04/03/2020 16:20:16. Nguyễn Phúc Bửu Khoa)
Đáp
Về câu hỏi số 2, xin được trả lời như sau:
31.1. (2a) Vô lượng nghĩa là gì?
Vô Lượng Nghĩa là một môn học (pháp môn) của Bồ Tát Đạo, môn học này được Phật dạy trong kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa!!!
Theo tinh thần kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa, Bồ Tát học được pháp môn này, từ một pháp có thể giảng nói vô lượng ý nghĩa khác nhau, tuỳ vào căn tánh, tuỳ vào địa vị tu tập của từng người... Hay khác hơn, chúng sanh có vô lượng căn tánh sai biệt, Phật đạo có vô lượng cảnh giới sai biệt... Nên Bồ Tát cũng phải tuỳ thuận từng căn tánh, từng đạo quả mà giảng nói vô lượng ý nghĩa sai biệt (của mỗi pháp), khiến từng căn tánh, từng đạo quả lần lượt nâng cao nhận thức theo tiến trình khai mở “ngũ nhãn”, để cuối cùng thành tựu mục tiêu tối hậu của Phật đạo!!! ... Đây là lí do vì sao Phật pháp lại có quyền, có thiệt, có bất liễu nghĩa, có liễu nghĩa, có thế gian, có xuất thế gian, v.v... Lại có ba thừa và Nhất thừa!!!
31.2. (2b) Muốn có được vô lượng nghĩa phải thành tựu những điều gì?
... Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa dạy: “Bồ-tát muốn tu học Vô lượng nghĩa ấy, phải nên quán sát tất cả các pháp từ xưa đến nay tánh tướng vắng lặng, không lớn không nhỏ, không sanh không diệt, không an trú không lay động, không tới không lui, dường như hư không không có hai pháp...!!!” ... (Trích Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa - HT Thích Mật Thể dịch)
Theo tinh thần đoạn kinh trên, Bồ Tát muốn tu học pháp môn Vô Lượng Nghĩa... Bồ Tát ấy phải thấy thiệt tướng các pháp (thiệt tướng là nhất tướng, nhất tướng là vô tướng)!!! ... Do thấy thiệt tướng các pháp... Bồ Tát có thể dùng cái thấy này, quán sát tâm thức hư vọng của chúng sinh (hay đạo quả hiện tại của họ), từ đó tuỳ bịnh cho thuốc!!!
Theo mình, ngoài việc Bồ Tát quán sát tánh tướng của các pháp như trên để học pháp môn Vô Lượng Nghĩa... Bồ Tát ấy muốn tuyên thuyết Diệu Pháp, phải thành tựu thêm ba pháp quan trọng của Phật đạo, đó là: Vô Lượng Nghĩa Xứ Tam Muội, Tứ Vô Ngại Biện và Tứ Vô Sở Uý!!!
Vì rằng, Bồ Tát có thành tựu Vô Lượng Nghĩa Xứ Tam Muội mới đủ năng lực quán sát tâm cảnh giới của đại chúng thính pháp!!! Thành tựu Tứ Vô Ngại Biện mới có thể thông suốt ngữ nghĩa cùng các pháp thế gian, xuất thế và xuất thế gian thượng thượng!!! Thành tựu “Tứ Vô Sở Uý” mới tự tại thiện xảo tuyên thuyết tất cả các cảnh giới của Phật đạo mà không rơi vào tà kiến hay hoa ngôn!!!
Các bạn có thể tìm hiểu xuất xứ của môn học Vô Lượng Nghĩa... nơi kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa, đoạn trích kinh giới thiệu:
“Khi ấy Ngài Đại-trang-nghiêm Bồ-tát cùng tám vạn liền đồng thanh bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Các Bồ-tát ma-ha-tát muốn chóng thành đạo Vô thượng Bồ-đề, phải tu học pháp môn gì, và pháp môn gì khiến các Bồ-tát ma-ha-tát được chóng thành đạo Vô thượng Bồ- đề?”
Phật bảo Ngài Đại-trang-nghiêm Bồ-tát với tám vạn Bồ-tát rằng: “Thiện nam tử! Có một pháp môn hay khiến Bồ-tát chóng được đạo Vô thượng Bồ-đề, nếu có Bồ-tát tu học pháp môn ấy thì liền đặng thành đạo Vô thượng Bồ-đề”
- Bạch Thế Tôn! Pháp môn ấy gọi là gì? Nghĩa lý ra sao? Và các vị Bồ-tát làm sao tu trì?
Phật dạy: “Thiện nam tử! Pháp môn ấy gọi là “Vô Lượng Nghĩa” Bồ-tát muốn tu học Vô lượng nghĩa ấy, phải nên quán sát tất cả các pháp từ xưa đến nay tánh tướng vắng lặng, không lớn không nhỏ, không sanh không diệt, không an trú không lay động, không tới không lui, dường như hư không không có hai pháp. Bởi các chúng sinh mê lầm chấp trước là đây là kia, là đặng là mất, khởi niệm chẳng lành, gây các nghiệp dữ, luân hồi sáu thú chịu các khổ độc, không lường ức kiếp chẳng ra khỏi được. Bồ-tát ma-ha-tát quán sát như vậy, sanh tâm lân mẫn phát tâm Đại từ bi cứu vớt chúng sinh. Lại còn thâm nhập tất cả các pháp, pháp tướng như vậy thì sanh pháp cũng như vậy, pháp tướng như vậy thì trú pháp cũng như vậy, pháp tướng như vậy thì dị pháp cũng như vậy, pháp tướng như vậy thì diệt pháp cũng như vậy, pháp tướng như vậy mà vẫn sanh ra các ác pháp, pháp tướng như vậy mà vẫn sanh ra các thiện pháp, cho đến trú, dị, diệt cũng như vậy. Bồ-tát cứ thế quán sát gốc ngọn bốn tướng sanh, trú, dị, diệt, liền đặng biết khắp tất cả. Thử lại để quán sát tất cả các pháp niệm niệm không an trú, liền sanh liền diệt. Lại quán một thời, một niệm đủ có bốn tướng sanh, trú, dị, diệt. Bồ-tát quán sát như vậy rồi, thấu rõ tâm ưa muốn của các chúng sinh. Mà lòng ưa muốn vô lượng nên thuyết pháp cũng vô lượng, bởi thuyết pháp vô lượng nên nghĩa cũng vô lượng. Mà vô lượng nghĩa ấy cũng từ trong một pháp sanh ra. Một pháp ấy tức là vô tướng vậy. Pháp vô tướng ấy, không có tướng và không không tướng, không có tướng, không không tướng gọi là thật tướng. Bồ-tát ma-ha-tát an trú trong tướng chơn thật ấy rồi phát tâm từ bi, rõ ràng chắc thật không dối, đối với các chúng sinh thiết thực cứu vớt được khỏi các khổ não. Khổ não đã cứu vớt rồi, lại vì thuyết pháp khiến các chúng sinh được hưởng an vui.
Thiện nam tử! Bồ-tát nếu được tu tập pháp môn vô lượng nghĩa ấy chắc được chóng thành đạo Vô thượng Bồ-đề. Thiện nam tử! Pháp đại thừa Vô lượng nghĩa này rất sâu xa mầu nhiệm, văn lý chơn chánh, không gì cao quý hơn, ba đời các đức Phật đều cùng giữ gìn, tất cả tà ma ngoại đạo không thể xâm phạm, không bị tà kiến...” (Trích kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa. HT Thích Mật Thể dịch)
31.3. (3) Về quá trình tu tập của bản thân...? Thầy đã đắc được điều gì...?
Về câu hỏi số 3, xin được trả lời như sau:
31.3.1 Về quá trình tu tập của bản thân?
Chuyện tu học của bản thân mình chẳng có gì đặc biệt... Thuở nhỏ, mình cũng từng sinh hoạt Gia Đình Phật Tử, thường xuyên đến chùa chuông mõ kinh kệ...!!!
Về sau, biết được ngoài chuông mõ kinh kệ, cầu nguyện, v.v... Phật đạo còn dạy người tu hành để thành Phật, thế là mình “tầm sư học đạo” ... Mình có thời gian rất dài ngồi thiền, niệm Phật, trì chú... Thậm chí, mình theo học phép nhịn ăn 7 ngày, 21 ngày, 49 ngày để chuyển pháp luân tu tinh khí thần, học mở luân xa, xuất hồn, bùa chú chữa bệnh, v.v... và tìm đọc rất nhiều sách vở dạy những thứ ấy!!!
Có thể nói, khối lượng sách vở mình đã đọc, cũng như kiến thức về các môn này bản thân không đến nỗi tệ!!! ... Trải qua nhiều năm tháng miệt mài ứng dụng những thứ đó và tự kiểm điểm bản thân... mình nhận ra, sau nhiều chục năm tu luyện, kiến thức có tăng, miệng lưỡi có dẽo hơn, v.v... nhưng tâm trí không thay đổi nhiều... Kiết sử, phiền não, lậu hoặc... Nhất là cái ngã không dứt, thậm chí hẩy hừng vì sở cậy vào những thứ đã học...!!! ... Và, mình quyết tâm từ bỏ không thương tiếc những thứ ấy, sau khi nhận ra những thứ này không phù hợp tâm nguyện, cũng như không giúp mình thành tựu trí tuệ... Thế là, mình quyết định tự thân khai phá một hướng đi khác!!!
Mình tập trung vào nghiên cứu, ứng dụng những điều Phật dạy từ kinh điển chính thống... Lúc này, mình kết thân với Trương Tam, hàng ngày hai anh em gặp nhau luận bàn ý nghĩa kinh điển [trước đây Lão Trương cũng lâm vào hoàn cảnh tu học như mình và ông ta cũng đã từ bỏ các thứ tu tập ấy]!!!
Mình nhận ra trong con người Trương Tam ngoài dáng vẻ bình thường, tận cùng sâu thẳm con người này còn ẩn chứa điều gì đó khác thường, rất khó nhìn thấy!!! ... Mình lắng nghe, quan sát cách nói chuyện, và học được ở vị cao nhân này, phương pháp đặt vấn đề, cách tư duy cũng như phương pháp luận!!! ... Nhưng, những thứ ấy cũng không giúp mình thấy được thật nghĩa!!!
Sau ngày Lão Trương tạ thế!!! Trong cái trống vắng và bất lực trước thật nghĩa của Phật đạo là gì??? Mình phát đại nguyện...!!! Và may mắn, mình đã thấy được vấn đề!!! Từ đó, mình rút ra kết luận: “Người ta học được cả ngàn bài toán sai, cũng chẳng thể biết được đâu là bài toán đúng!!! Chỉ cần người ta giải được một bài toán đúng, có thể biết tất cả mọi bài toán sai” ...!!! Từ kết luận trên, mình hướng HĐ Lý Gia vào việc học bài toán đúng... Nhờ thế, các HĐ của mình không mất thời gian học và giải những bài toán sai!!!
Nói chung, chuyện tu tập của mình không có gì đặc biệt... Nó gần giống với việc tu học của bao người!!! ... Chỉ có điều, mình dám từ bỏ không thương tiếc những gì cần từ bỏ, nếu xét thấy điều đó không đưa đến những lợi ích như pháp, cho dù điều mình từ bỏ có là công sức tu luyện của nhiều năm tháng!!! ... Và cuối cùng, mình dám khai phá con đường mới... Nếu nhận ra, con đường này mới thật sự giúp ta thay đổi tâm trí và đưa ta đạt được những mục tiêu của giáo pháp đề ra!!!
31.3.2. Thầy đã đắc được điều gì trong Phật đạo?
Để trả lời câu hỏi, mình xin kể một câu chuyện!!!
“Cách đây gần mười năm, có một người cũng hỏi mình câu hỏi tương tự như câu hỏi của bạn!!! ... Sau một hồi ngẫm nghĩ, mình trả lời như sau:
⚜ Đến giờ này, cho đến phiền não tôi thấy mình còn không đắc được, thì biết đắc cái gì đây...!!!???” ... Ha ha ha ha!!!
Các bạn!!! ... Phật đạo là đạo Trí tuệ!!! ... Với phương châm “Duy Tuệ Thị Nghiệp” ... Có nghĩa, sự nghiệp của người tu học trong Phật đạo là Trí tuệ chứ chẳng phải thứ gì khác!!!
Để có được Trí tuệ, cách đặt vấn đề, phương pháp tư duy, phương pháp lí luận và tự phản biện một cách khoa học cũng như có hệ thống ... Là điều không thể thiếu!!!
Mình đã từng tâm sự với các bạn: “Khi đọc một đoạn kinh, để hiểu thấu thật nghĩa của đoạn kinh ấy, các bạn phải giải quyết thoả đáng các phần việc sau:
Một là, vì sao Phật thuyết đoạn kinh này!!!???
Hai là, Phật thuyết đoạn kinh này để làm gì, cho ai!!!???
Ba là, ta phải ứng dụng lời dạy này ra sao...!!!???
Cuối cùng, nếu ứng dụng thành công lời dạy trên, ta sẽ thành tựu điều gì trong Phật đạo”!!!???
Nếu các bạn, giải quyết thoả đáng các câu hỏi trên khi tụng đọc kinh điển, nhất định Phật đạo không còn là một ẩn số!!!
Trước khi kết thúc buổi trao đổi hôm nay, mình có một câu hỏi... Rất mong nhận được trả lời thoả đáng từ các bạn!!! ... Nội dung câu hỏi như sau:
Phật dạy: “Thật tướng là nhất tướng, nhất tướng là vô tướng”!!! Vì sao Phật không dạy thẳng “thật tướng là vô tướng”??? ... Mà lại dạy thêm “thật tướng là nhất tướng” ... rồi “nhất tướng là vô tướng” để làm gì??? ... Chúc mọi người thành tựu những điều cần thành tựu trong Phật đạo!!!
(18/03/2020)
Tục Đế - Đệ Nhất Nghĩa Đế - Đệ Nhất Tối Liễu Nghĩa

“Thưa Thầy Lý Tứ! Tôi và gia đình theo đạo Phật, là một tín đồ Phật giáo thuận thành ở miền Trung, cho nên cũng có tìm hiểu đôi chút về đạo Phật. Gần đây, tôi và những người thân của mình thường xuyên theo dõi facebook của Thầy, đọc các bài viết trên đó thấy hay nên rất quý mến trang. Chúng tôi đồng tình với quan điểm tu tập cũng như cách giải thích của Thầy về các vấn đề liên quan đến Phật đạo... Chúng tôi có thắc mắc như sau:
Đọc kinh sách tôi thường bắt gặp các từ như: Tục đế, Đệ nhất nghĩa đế và Đệ nhất tối liễu nghĩa. Xin Thầy giải thích ý nghĩa và chỉ rõ sự khác nhau của ba từ này? Có phải Đệ nhất nghĩa là thứ không thể dùng ngôn ngữ diễn bày?
(Đây là câu hỏi thứ nhất của bạn Bửu Khoa, câu 2 và câu 3 sẽ tiếp tục trình bày ở mục 31)
(04/03/2020 16:20:16. Nguyễn Phúc Bửu Khoa)
Đáp: Về các câu hỏi của bạn, mình xin lần lượt trả lời:
30.1. Tục đế, Đệ nhất nghĩa đế và Đệ nhất tối liễu nghĩa?
Tục đế, Đệ nhất nghĩa đế và Đệ nhất tối liễu nghĩa là ba loại văn hoá đặc trưng, ba cảnh giới tiêu biểu, ba ý nghĩa quan trọng... Mà chư Phật và các Thiện tri thức căn cứ vào đó để tuyên thuyết quyết định nghĩa, hoặc giảng nói ý nghĩa nhằm hướng người tu hành thành tựu từng cảnh giới!!!
Tục đế hay thế đế là, cảnh giới thế gian... Chư Phật và các Thiện tri thức dùng “pháp thế gian” để cắt nghĩa một pháp, khiến người nghe khi nghe được lời cắt nghĩa này, có thể thành tựu các pháp lành của thế gian, hay hướng đến xuất thế gian!!! ... Ví dụ:
a) Dùng thế đế (thế gian pháp) để cắt nghĩa một pháp, nhằm giúp người thành tựu pháp lành thế gian:
“Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Long vương rằng:
- Tất cả chúng sanh do tâm tưởng khác nhau, nên tạo nghiệp khác nhau, vì vậy mà có sự luân chuyển trong các cõi.
Này Long vương! Ngươi có thấy trong hội này và trong biển cả, hình sắc chủng loại mỗi loài khác nhau không? Tất cả như thế đều do tâm, tạo nghiệp thiện hay bất thiện nơi thân, nơi khẩu, nơi ý mà ra...
Nay ngươi như thế mà tu học và khiến cho chúng sanh thấu rõ nhân quả, tu tập nghiệp lành. Ngươi nên nương nơi chánh kiến bất động, chớ đọa vào trong tà kiến đoạn thường. Đối với các bậc phước điền nên vui vẻ cung kính cúng dường, thì các ngươi cũng được người trời tôn trọng cung kính cúng dường...” (Trích kinh Thập Thiện)
b) Dùng Tục đế (thế gian pháp) để cắt nghĩa các pháp, nhằm hướng người đến xuất thế gian:
“Dùng Niệm xứ trang nghiêm nên khéo tu tập Tứ niệm xứ quán. Dùng Chánh cần trang nghiêm nên hay đoạn trừ tất cả pháp bất thiện, thành tựu tất cả pháp thiện. Dùng Thần túc trang nghiêm nên hằng khiến cho thân tâm nhẹ nhàng vui vẻ. Dùng Ngũ căn trang nghiêm nên lòng tin sâu xa kiên cố, siêng năng không biếng nhác thường không mê vọng, vắng lặng điều hòa đoạn dứt các phiền não. Dùng Ngũ lực trang nghiêm nên các oán dứt sạch, không gì hoại được. Dùng Giác chi trang nghiêm nên thường khéo giác ngộ tất cả các pháp. Dùng Chánh đạo trang nghiêm, nên được trí tuệ chân chánh thường hiện ở trước. Dùng Chỉ trang nghiêm nên dứt sạch tất cả kiết sử. Dùng Quán trang nghiêm, nên hay biết như thật Tự tánh của các pháp. Dùng Phương tiện trang nghiêm, nên chóng được thành tựu viên mãn cái vui hữu vi vô vi...” (Trích kinh Thập Thiện)
Đệ nhất nghĩa đế (còn gọi là Đệ nhất nghĩa, Chân đế, Thắng nghĩa đế...): Là những nghĩa (hoặc quyết định nghĩa) của xuất thế gian, thuộc cảnh giới “Thánh trí tự chứng”!!! ... Những nghĩa này ra ngoài suy nghĩ, luận bàn của người thế gian, nên gọi là “bất khả tư nghì”, “bất khả lí giải”!!! ... Một đoạn kinh tiêu biểu về Đệ nhất nghĩa đế:
“Lại nữa, Thiện Hiện! Vì pháp môn giải thoát không thanh tịnh nên sắc thanh tịnh; vì sắc thanh tịnh nên trí nhất thiết trí thanh tịnh. Vì sao? Vì hoặc pháp môn giải thoát không thanh tịnh, hoặc sắc thanh tịnh, hoặc trí nhất thiết trí thanh tịnh đều không hai, không hai phần, không phân biệt, không đoạn diệt. Vì pháp môn giải thoát không thanh tịnh nên thọ, tưởng, hành, thức thanh tịnh; vì thọ, tưởng, hành, thức thanh tịnh nên trí nhất thiết trí thanh tịnh. Vì sao? Vì hoặc pháp môn giải thoát không thanh tịnh, hoặc thọ, tưởng, hành, thức thanh tịnh, hoặc trí nhất thiết trí thanh tịnh đều không hai, không hai phần, không phân biệt, không đoạn diệt...” (Trích Kinh Đại Bát Nhã, Phẩm Khó Tin Khó Hiểu, HT Thích Trí Nghiêm dịch)
Đệ nhất tối liễu nghĩa: Là những nghĩa thuộc cảnh giới “Xuất thế gian thượng thượng” ... Được chư Phật và các Thiện tri thức tuyên nói các nghĩa (hay quyết định nghĩa) thuộc “cảnh giới tối hậu” của Phật đạo!!! ... Một đoạn kinh tiêu biểu về Đệ nhất tối liễu nghĩa:
“Khi ấy, Bồ-tát Đại Huệ lại bạch Phật: Thế Tôn! Như Lai ứng cúng đẳng chánh giác là thường hay vô thường?
Phật bảo Đại Huệ: Như Lai ứng cúng đẳng chánh giác chẳng phải thường chẳng phải vô thường. Nghĩa là cả hai đều có lỗi. Nếu thường thì có lỗi làm chủ, thường ấy tất cả ngoại đạo nói tác giả vì không có chỗ tác, thế nên Như Lai thường phi thường. Chẳng phải tác thường, vì có lỗi. Nếu Như Lai vô thường, có lỗi tác vô thường, sở tướng của ấm tướng thì không tánh, ấm hoại nên đoạn, mà Như Lai chẳng phải đoạn.
Đại Huệ! tất cả sở tác đều vô thường, như bình, y, v.v… tất cả đều là lỗi vô thường thì Nhất thiết trí đầy đủ phương tiện ưng vô nghĩa, vì cho là sở tác. Thế thì, tất cả sở tác đều ưng là Như Lai. Vì không nhân tánh sai biệt. Thế nên, Đại Huệ! Như Lai phi thường phi vô thường.
Lại nữa, Đại Huệ! Như Lai chẳng phải như hư không thường. Như hư không thường thì mắc lỗi tự giác thánh trí đầy đủ phương tiện thành vô nghĩa. Đại Huệ! Thí như hư không phi thường phi vô thường, lìa thường lìa vô thường, một khác, chung chẳng chung. Thường vô thường đều lỗi nên không thể nói, vì thế Như Lai phi thường. Lại nữa, Đại Huệ! Nếu Như Lai vô sanh thường như sừng thỏ, sừng ngựa v.v… cho vô sanh thường thì phương tiện vô nghĩa. Bởi vô sanh thường là có lỗi nên Như Lai phi thường. Lại nữa, Đại Huệ! Còn có các việc khác biết Như Lai thường. Vì cớ sao? Vì đã được trí vô gián thường nên Như Lai thường.
Đại Huệ! Hoặc Như Lai ra đời hoặc chẳng ra đời, pháp quyết định trụ, Thanh văn, Duyên giác, chư Phật Như Lai vô gián trụ, chẳng trụ hư không, cũng chẳng phải chỗ hiểu biết của ngu phu. Đại Huệ! Như Lai đã được trí là do bát-nhã huân, chẳng phải tâm ý ý thức các ấm giới nhập xứ huân. Đại Huệ! Tất cả ba cõi đều là vọng tưởng chẳng thật sanh, Như Lai chẳng từ tưởng hư vọng chẳng thật sanh. Đại Huệ! Do hai pháp nên có thường vô thường, chẳng phải chẳng hai, chẳng hai là lặng lẽ, vì tất cả pháp không hai tướng sanh...” (Trích Kinh Lăng Già, HT Thích Thanh Từ dịch)
30.2. “Có phải Đệ nhất nghĩa là thứ không thể dùng ngôn ngữ diễn bày?”
Đối với Phật đạo, không một cảnh giới nào là cảnh giới mà Phật và các Thiện tri thức không thể dùng ngôn ngữ để diễn bày!!! Ba đoạn kinh tiêu biểu được trích ở trên, chính là ba thứ ngôn ngữ đặc trưng mà Phật đã dùng thiện xảo ngữ ngôn để giảng nói về ba cảnh giới, trong đó có cảnh giới Đệ nhất nghĩa!!!
Tuy nhiên, để có thể trình bày một cảnh giới nào đó, điều kiện tiên quyết là, người nói phải là người đã từng kinh qua và am tường về cảnh giới mà mình trình bày!!! ... Về phần người nghe, tất nhiên muốn nghe hiểu một cảnh giới nào đó, đòi hỏi tâm trí người đó phải tương ưng với cảnh giới mình sắp được nghe!!! ... Nếu thiếu một trong hai điều nêu trên, tất nhiên người nói sẽ không nói được và người nghe sẽ không nghe thấu!!!
Câu hỏi thứ 2 và thứ 3 của bạn, kỳ sau chúng ta sẽ trao đổi tiếp!!!
Trước khi chấm dứt buổi trò chuyện hôm nay, mình có câu hỏi vui liên quan đến câu hỏi vừa rồi của bạn Bửu Khoa!!! ... Rất mong được nghe kiến giải lí thú của mọi người!!! ... Câu hỏi như sau:
Vì sao trong ba cảnh giới: Tục đế, Đệ nhất nghĩa đế, Đệ nhất tối liễu nghĩa... Chỉ có Tục đế và Đệ nhất nghĩa đế có chữ Đế... Còn Đệ nhất tối liễu nghĩa lại không có chữ Đế???
Người Còn Vô Minh Thì Thiền Định Có Thể Có Chánh Kiến Hay Không?

− Hỏi:
... Họ ngồi thiền định hàng giờ, rất mất thời gian có lúc lại múa máy. Họ bảo của đạo Phật ngồi được an lạc chữa bách bệnh, v.v... Vậy nếu người còn vô minh thì thiền định có thể có Chánh Kiến hay không? ... Các hoạt động múa máy có phải do ảo tưởng sinh hay không? ... Chủ trương của Đạo Phật là thấy ra vô thường, khổ và vô ngã, còn họ thiền để được an lạc, v.v... thì có phải là của Phật dạy hay không?
(17/02/2020 10:18:27 Lê Ngọc Tới)
Đáp:
Từ trước đến nay, quan điểm của Lý Gia là: Không tham gia bình luận những vấn đề thuộc phạm vi gia đình, đời tư của một cá nhân, tổ chức, hay tông phái, tôn giáo, tín ngưỡng, chính trị, xã hội, v.v...
Lý Gia chỉ đề cập đến những gì liên quan đến giáo pháp của đức Phật, nhằm làm sáng tỏ chân lí trên tinh thần giáo dục của Phật đạo (Lý Gia coi Phật đạo là một nền giáo dục, một hình thái văn hoá)!!! ... Vì thế, trong câu hỏi của bạn, BQT cũng chỉ như pháp mà trả lời, không nhằm đả phá hay cổ xuý một thiên hướng tu tập bất kì nào!!! ... Mong bạn thông cảm!!!
29.1. Họ ngồi thiền định hàng giờ, rất mất thời gian...?
Ngồi thiền hàng giờ hay nhiều giờ, việc này thường được đa số người tu hành áp dụng... Tuy nhiên, trong khi ngồi các vị ấy “thực hành những gì” chúng ta không biết... Vì không biết, nên khó có thể đánh giá hay kết luận việc ngồi ấy là như thế nào!!!
29.2. “Ngồi thiền mà có lúc múa máy”?
Trong kinh Phật, không thấy nói hiện tượng này!!!
29.3. “Họ bảo của đạo Phật ngồi được an lạc chữa bách bệnh, v.v...?”
Bảo rằng, ngồi như thế là của đạo Phật, có lẽ cần coi lại phát biểu trên... Để kết luận một hành động nào đó có phải của Phật đạo hay không, cần tìm hiểu mục tiêu, ý nghĩa, động cơ cụ thể của hành động đó mới được... Nhưng, cho dù đó là phép tu do bất kì ai đặt ra, mà khi áp dụng, đưa đến an lạc và chữa được bách bệnh thì rất đáng hoan nghênh!!! ... Tuy nhiên, việc tu tập như thế có thật sự đưa đến an lạc và chữa được bách bệnh hay không, điều này cần có thời gian để kiểm chứng... Việc kiểm chứng đối với những người gần gũi, chắc là không khó với bạn!!!
29.4.Người còn vô minh thì thiền định có thể có Chánh Kiến hay không?
Minh hay vô minh, chánh kiến hay tà kiến là do nhận thức chứ không do thiền định...!!!
Một người có nhận thức tốt, nhận thức như pháp... Siêng năng “thiền tư” (ta quen gọi là thiền định) là cách tốt nhất giúp người ấy mau chóng thông suốt nhận thức đã có để thành tựu chánh kiến (trong Phật đạo gọi hành động này là văn, tư)!!!
Một người nhận thức không tốt, nhận thức không như pháp... Cho dù có siêng năng thiền định (không như lí tác ý) cũng không thể phát sinh chánh kiến!!! ... Thậm chí, do nhận thức sai lệch, hiểu không đúng tinh thần giáo pháp, v.v... mà cố sức thiền định (phi lí tác ý), sau một thời gian thực hành rất dễ phát sinh tà kiến!!!
29.5.Các hoạt động múa máy có phải do ảo tưởng sinh hay không?
Ngoài việc múa máy (bình thường) mang tính chuyên môn như vũ đạo, võ thuật, các bộ môn nghệ thuật... Còn lại, phần lớn các hành động múa máy bất thường khác, đều phát xuất từ việc ý thức mất kiểm soát (cũng có thể do ảo tưởng)!!!
29.6. “Chủ trương của Đạo Phật là thấy ra vô thường, khổ và vô ngã, còn họ thiền để được an lạc, v.v... thì có phải là của Phật dạy hay không”???
Phật đạo dạy người thấu suốt vô thường, khổ, vô ngã để tâm thức an lạc... Do tâm thức an lạc nên các thiền thú (thiền định, thiền cảnh) tự sinh!!! ...
Các thứ thiền định chỉ giúp người an lạc, mà không đưa đến thành tựu những pháp ấn như vô thường, khổ, vô ngã... Đều không phải chủ trương của Phật đạo!!!