Tác Phẩm Lý Tứ

Phật Tánh Và Pháp Tánh

MN 102 Lý Thanh Liêm 11.02.2023

? Hỏi

“Thưa Ban quản trị Lý Gia, tôi có tham gia nhóm và thường theo dõi các bài viết được đăng trong trang. Nhờ những bài viết trong đó giúp tôi hiểu ra nhiều điều mà trước đây tôi đã hiểu sai về Phật pháp. Hiện nay tôi có một thắc mắc, xin BQT giải đáp dùm. Tôi thường hay nghe nói đến Phật tánh và Pháp tánh, không biết Phật tánh và Pháp tánh có khác nhau không? Tu đến đâu mới thấy được Phật tánh và Pháp tánh?” 

(17/12/2020; Đình Vân)

Đáp:

Đầu tiên, chúng ta cần hiểu rõ và thống nhất ý nghĩa hai thuật ngữ mà bạn đã thắc mắc!!! ... Nếu, chưa hiểu và thống nhất ý nghĩa thuật ngữ (mỗi người hiểu một cách), chắc chắn mọi trả lời đều khó có thể làm vừa lòng nhau!!!

28.1. Phật tánh là gì???

Phật tánh là các đức tính (tính chất) cao đẹp đặc biệt của một vị Phật (đã chứng Đẳng Chánh Giác) ... Khi một bậc giác ngộ rốt ráo (Đại Giác) sẽ viên mãn các đức tính đặc biệt ấy!!!

Trong các kinh Đại Thừa, mà cụ thể là kinh Đại Bát Niết Bàn, Phật dạy Phật tánh có tám đức tính đặc biệt, đó là: Thường, ngã, lạc, tịnh, từ, bi, hỉ, xả!!! Những đức tính này, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát cũng có nhưng không đầy đủ!!! ... Khi nào tám tính chất này hiện viên mãn, Phật tánh bây giờ chính là Đại Niết Bàn!!!

Trong quá trình tu hành, từ sơ giác đến giác ngộ rốt ráo, tám tính chất nói trên sẽ lần lượt hiện ra, người tu hành trong từng giai đoạn cụ thể, sẽ hưởng dụng lợi ích từ một đức tính cụ thể cho đến đầy đủ tám món... Đây là lí do vì sao, sơ ngộ đã có “chủng tử bất thối” và “tinh tấn lực”!!!

Điều này giống như một người bị lạc giữa rừng sâu trong đêm tối, không biết hướng đi... Bất chợt nhìn thấy đốm sáng ở bìa rừng... Nhờ đốm sáng và sức chiếu của nó, người ấy nhận ra phương hướng... Từ đó hãi sợ chấm dứt, trong lòng phát sinh an vui, tinh tấn bước về hướng đốm sáng!!! ... Có hai đặc tính đầu tiên trong tám đức tính của Phật tánh mà một người sơ giác ngộ có thể cảm nhận được đó là, an lạc và thanh tịnh (lạc và tịnh)!!!

28.2. Pháp tánh là gì???

 Pháp tánh là tính chất tự nhiên (tự tính) của tất cả các pháp... Tất cả các pháp đều có những tính chất tự nhiên, thường hằng như: Tính chất không tính chất (không tánh), không tướng mạo (không tướng), không sinh diệt (bất sinh bất diệt), không lớn lên hoặc nhỏ lại (bất tăng bất giảm), không sạch dơ (bất cấu bất tịnh), chẳng phải có chẳng phải không (phi hữu phi vô), chẳng phải minh chẳng phải vô minh (phi minh phi vô minh), v.v...!!!

Ví dụ: Khi ta quan niệm về nóng hay lạnh, trong quan niệm ấy không có tính chất của nóng hay lạnh, gọi là không tánh!!! ... Khi ta quan niệm người này đẹp, kẻ kia xấu... Trong quan niệm ấy không có tướng đẹp hay xấu gọi là không tướng!!! ... Khi ta quan niệm, quan niệm này sinh ra, sau đó mất đi... Trong quan niệm ấy không có tính chất của sinh ra hay mất đi, gọi là không sanh diệt!!!, v.v... Nói chung, tất cả các pháp đều có những tính chất tự nhiên, thường hằng như vậy, nên Phật dạy: “Các pháp bình đẳng” (bình đẳng vì bản chất của các pháp không khác nhau)!!!

Từ các giải thích trên ta có thể hiểu, Phật tánh và Pháp tánh là hai thuật ngữ đặc trưng của Phật đạo nhằm chỉ cho hai lãnh vực, hai phạm trù khác biệt!!! ... Phật tánh, nhằm chỉ cho các đức tính của một Đẳng Chánh Giác... Pháp tánh, nhằm chỉ cho những tính chất tự nhiên, thường hằng của các pháp!!!

28.3. Tu tập đến địa vị nào sẽ thấy được Phật tánh và Pháp tánh

Bắt đầu từ sơ giác ngộ, người tu hành đã có thể cảm nhận được ý vị của Phật tánh và Pháp tánh...!!!

Về Phật tánh, như đã nói ở trên, người sơ ngộ sẽ cảm nhận được hai tính chất đặc biệt của Phật tánh đó là an lạc và thanh tịnh!!! ... Về Pháp tánh, người sơ ngộ có thể “mang máng” nhận ra bản chất của các quan niệm là không tánh, không tướng!!!

Tuy nhiên để có thể nhận rõ (viên mãn) Phật tánh, người tu hành phải dứt hoàn toàn hai phần “sở trí ngu”, tức đã tịch diệt vĩnh viễn ba thứ vô minh là Nhuận chi vô minh, Căn bản vô minh và Vô minh trụ địa... Điều này được minh hoạ qua ví dụ sau: Giống như một người trên đường đi, thấy từ xa một dãy màu đen, người ấy không biết đó là đàn trâu hay dãy núi (Nhuận chi vô minh) ... Càng đi đến gần, người ấy nhận ra, đó là dãy núi chứ không phải đàn trâu (dứt Căn bản vô minh) ... Khi đến dãy núi, người ấy biết rõ trong núi này gồm các loại cây gì, cây nào có quả ăn được, cây nào có quả không ăn được, nơi nào hiểm nguy, nơi nào an toàn, v.v... (tịch diệt Vô minh trụ địa, viên mãn Phật tánh)!!! 
Để có thể nhận ra những tính chất tự nhiên, thường hằng của các Pháp (Pháp tánh), người sơ ngộ chỉ “mang máng” cảm nhận một vài ý vị của nó như không tướng, không tánh... Đến khi thành tựu “ý sinh thân thứ hai” là “Giác pháp tự tánh tánh ý sinh thân” mới thấy hoàn hảo các tính chất tự nhiên, thường hằng của vạn pháp!!! ... Nếu tính theo địa vị, thấy Pháp tánh hoàn hảo thuộc về nhãn lực của Bát Địa Bồ Tát sau khi “từ bất động bước ra” để tiến về Cửu Địa!!! ... Bát Địa Bồ Tát sau khi từ bất động bước ra nhờ thấy được những tính chất thường hằng của các pháp, nên vị ấy vượt qua đặc tính cố hữu của “Pháp Môn Bất Nhị” là “trụ vô vi”, để thành tựu “Pháp Môn Tận Vô Tận Giải Thoát” thuộc cảnh giới “chẳng tận hữu vi, chẳng trụ vô vi” của bậc “Hướng Nhất Thiết Trí Trí”!!! ... 

Bạn... thân mến!!!
Những điều bạn hỏi, thuộc về chuyên môn kĩ thuật của Phật đạo... Phật tánh và Pháp tánh là thuật ngữ nhằm chỉ cho hai cảnh giới của các tầng bậc giác ngộ khác nhau!!! Vì thế, việc giải thích, cũng chỉ nhằm giới thiệu để người đọc có một số “kiến thức bỏ túi" về một vài cảnh giới đặc trưng của Phật đạo hơn là thấy biết cụ thể!!!

Muốn thấy biết cụ thể các cảnh giới nói trên, không có con đường nào khác, ngoại trừ bản thân bạn phải trải qua nhiều lần giác ngộ (gọi là thực chứng)!!! Giống như muốn nhìn thấy và hiểu rõ một thành ấp nào đó, bạn phải đi đến đó và làm cư dân sinh sống tại chính thành ấp ấy... Mọi việc nghe người khác nói, hoặc học thuộc các thông tin từ sách báo rồi nói lại, v.v... đều không giúp người tu hành hoàn thành công việc tu học của mình!!!

Hy vọng, đám mây tâm thức đang nổi trôi của Đình Vân sẽ sớm dừng lại, để có thể nhận ra điều cần nhận ra, như cái tên tốt đẹp “Đình Vân” của chính bạn!!! ... Chúc bạn... an vui, tinh tấn!!!

Gửi tin nhắn đến người dùng

Thông báo bài viết mới

MB 442 Lý Song Hà 06.10.2026

Xin chào Quý Đọc Giả,

Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.

https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/cac-buoc-tu-tap-trong-phat-dao

Trân trọng,

Tags:

Tác Phẩm Lý Tứ

Các Bước Tu Tập Trong Phật Đạo

MB 442 Lý Song Hà 11.02.2023
Vô Đối Môn- Tác Giả Lý Tứ

 

Hỏi: Một người tu tập trong Phật Đạo có bao nhiêu bước để viên mãn con đường tu hành?

Đáp: Đối với người tu tập trong Phật Đạo có bốn bước, thành tựu xong, có thể coi là viên mãn chuyện tu hành.

Hỏi: Bốn bước đó là những bước nào?

Đáp: Dứt Tập, chứng Diệt, tu Đạo và hành Bồ Tát Đạo.

Hỏi: Sao không nói năm bước là: Biết Khổ, dứt Tập, chứng Diệt, tu Đạo và hành Bồ Tát Đạo?

Đáp: Bước đầu tiên đó là “biết Khổ”, thuộc giai đoạn tu Đạo (Đạo Đế), nên điều này sẽ nói rộng ở phần Đạo Đế. Cụ thể: Có hai hạng người tu tập liên quan đến “biết Khổ”.

- Hạng thứ nhất: Là người thấy Khổ và biết Khổ mới tu, điều này không cần bàn luận vì nó thuộc khổ thế gian, ai cũng biết.

- Hạng thứ hai: Khi viên mãn phần tu Đạo, thành tựu bốn thứ trí (Khổ, Tập, Diệt, Đạo trí) có được trí tuệ, mới biết Khổ có nhiều thứ, nào là: khổ Tục Đế, khổ Thánh Đế, khổ Chân Đế,. Người thấu rõ những thứ “khổ”này, Phật Đạo mới tạm coi là “người biết Khổ”. Cho nên, điều này sẽ bàn rộng ở phần

Hỏi: Việc “biết Khổ” của người phàm và “biết Khổ” của thánh nhân để làm gì?

Đáp: Để khiến người phàm dứt “ngu”, khiến thánh dứt “mê” và khiến kẻ trí dứt “lầm”. Thấu suốt và làm được ba điều này, mới gọi là “người thấy Khổ, biết Khổ và dứt Khổ trong Phật Đạo”

Hỏi: Vì sao phải đạt thành tựu ở bốn bước đã đề cập ở phần đầu?

Đáp:

  • Thành tựu bước thứ nhất (dứt Tập): Để tiêu thất “Chúng Sanh Chủng Tánh” và “Đa Chủng Tánh”.

  • Thành tựu bước thứ hai (chứng Diệt): Để viên mãn Thánh Chủng Tánh nhập Vô Vi Chủng Tánh.

  • Thành tựu bước thứ ba (tu Đạo): Gieo hạt giống Bồ Đề nhằm thành tựu Bồ Tát Chủng Tánh.

  • Thành tựu bước thứ tư (làm công hạnh, hành Bồ Tát Đạo): Để viên mãn Bồ Tát Chủng Tánh và gieo hạt giống Phật (Phật Chủng Tánh).

Đây là tiền đề quan trọng để thấy được quả của nó là Phật Tánh ở vị lai 1. Thấy được cái quả này rồi, mới có thể thành tựu Vô Thượng Trí.

Hỏi: Muốn thành tựu bốn bước tu tập, người tu hành phải mất thời gian là bao nhiêu?

Đáp: Giai đoạn một và giai đoạn hai, theo kinh nói là một vô số kiếp. Giai đoạn ba, theo kinh nói là một vô số kiếp. Giai đoạn bốn, cũng theo kinh nói là một vô số kiếp. Tổng cộng của bốn giai đoạn là ba vô số kiếp.

Hỏi: Những kiếp đời được nêu ở trên được tính theo lịch gì?

Đáp: Kiếp đời được nêu ở trên được tính theo ba loại lịch của ba cõi tâm thức.

Hỏi: Đó là lịch của những cõi nào?

Đáp:

Vô số kiếp thứ nhất, tính theo lịch của cõi ngu.

Vô số kiếp thứ hai, tính theo lịch của cõi mê.

Vô số kiếp thứ ba, tính theo lịch của cõi lầm.

Hỏi: Ba cõi này từ ở đâu so với Diêm Phù 2 này?

Đáp: Nếu lấy Diêm Phù làm trung tâm thì từ đông, tây, nam, bắc, trên, dưới, và các phương còn lại, mỗi phương phải đi hết 84.000 do tuần 3 mới đến. Còn nếu lấy tâm này làm trung tâm thì các cõi kia chỉ cách có bốn cảnh giới, đó là: cảnh giới của mê, cảnh giới của giác, cảnh giới của ngộ và cảnh giới của trí.

Hỏi: Mỗi cảnh giới cách nhau bao xa?

Đáp: Bằng “một giấc chiêm bao”.

Hỏi: Đầu tiên, muốn tu tập trong Phật Đạo, phải thực hiện điều gì?

Đáp: Đầu tiên, phải Quy Y Tam Bảo 4

Hỏi: Vì sao phải Quy Y Tam Bảo rồi mới tu tập được?

Đáp: Vì “Danh có chính, thì ngôn mới thuận”. Giống như con nít khi sinh ra, phải có khai sinh. Một người không có khai sinh, thì không ngôi trường nào chấp nhận.

Hỏi: Không Quy Y Tam Bảo, tự tu tập có thể thành tựu được không?

Đáp: Về lý thì được, nhưng về lý thì cũng không được.

Hỏi: Lý nào không được, lý nào được?

Đáp: Giống như một đứa trẻ sinh ra, không có khai sinh, không đến trường học, không có thầy giáo. Đứa trẻ đó có thể tự mình học tập, đọc sách thế gian, hoặc bắt chước người mà thành tài. nhưng khi thành tài rồi, thì không có xã hội nào thừa nhận cái tài của người đó.

Còn nếu một người sinh ra, có khai sinh, được làm công dân của một nước, đứa trẻ này danh chính ngôn thuận đến trường học, chăm chỉ siêng năng học tập, sau đó thành tài. thì nhất định tài năng này, sẽ được xã hội nơi đó (có khi thêm những xã hội nơi khác) trọng dụng.

Quy Y Tam Bảo, cũng tương tự như việc “đi làm khai sinh” để người này chính thức được Tam Bảo công nhận là “công dân của Phật Quốc”. Gọi nôm na là Phật Tử. Sau đó mới bàn đến chuyện học hành trong Phật Đạo.

Hỏi: Đã là công dân của Phật Quốc, vì sao còn phải tu tập cho viên thành Phật Đạo?

Đáp: Công dân của nước nào khi sinh ra, lớn lên cũng cần phải được giáo dục. Tuy nhiên, trên đời này cũng có những công dân, không được giáo dục, không có hiểu biết. Việc tu tập cũng có ý nghĩa tương tự như giáo dục. Có giáo dục thì mới hiểu biết và thấu tường mọi lẽ.

Hỏi: Có cần chọn một vị Tăng (đại diện Tam Bảo) xứng đáng rồi mới quy y hay không?

Đáp: Thế nào mới được gọi là xứng đáng?

Hỏi: Phải hơn hẳn mình mọi mặt.

Đáp: Vị Tăng nào cũng xứng đáng để cho mình quy y. Vì sao?

Vì rằng: Tăng được Phật ủy nhiệm, cho phép thay mặt Phật chứng nhận một người nào đó làm công dân của Phật Quốc.

Giống như Ủy viên Hộ tịch, được Nhà nước ủy nhiệm, để vị này làm khai sinh cho trẻ nhỏ, chứng nhận đứa bé này là công dân hợp pháp. Sự ủy nhiệm này, chính là đã hơn hẳn ta ở mặt pháp lý, đối với chuyện của nhà Phật cũng tương tự vậy.

Hỏi: Nếu vị Tăng này không hơn ta ở mọi mặt thì làm sao sau này dạy ta tu hành?

Đáp: Sau khi đứa trẻ sinh ra có khai sinh, lớn lên, nó có đi tìm ông Ủy viên Hộ tịch để học tập chăng?

Vì thế trong Phật đạo mới có Bổn Sư, Giới Sư, Giáo Thọ Sư, Pháp Sư, Đạo Sư, mỗi vị phụ trách một công việc của Phật Đạo. Cũng có thể một vị làm nhiều việc, hoặc một vị làm một việc.

Hỏi: Sau khi quy y nên làm gì?

Đáp: Như đứa trẻ, muốn nên người, nhất định phải học.

Hỏi: Học tập những chuyện đó ở đâu?

Đáp: Tùy độ tuổi, năng lực, năng khiếu, chí hướng và điều quan trọng là chúng ta nên tìm người thầy phù hợp để học tập.

Hỏi: Làm sao biết người thầy nào phù hợp?

Đáp: Giống như người bệnh, người thầy nào cho thuốc, trong một thời gian nhất định, mà giúp bệnh tình thuyên giảm, dẫn đến hết bệnh, thì vị thầy đó phù hợp. Còn nếu ngược lại, thì mau mau đi tìm Thầy khác! Điều này Phật có dạy:

“Nơi đâu giúp ta có được Đạo Pháp, giúp ta hết khổ đau, giúp ta an lạc, giúp ta ra khỏi cột trói, giúp ta thành tựu trí tuệ thì nơi ấy có đánh đuổi cũng không được bỏ đi. Còn nơi nào, có kết quả ngược lại, thì mau mau bỏ đi gấp.”

Hỏi: Trên đời này bao la, biết làm sao tìm ra một Đạo Sư như vậy?

Đáp: “Hữu cầu tất ứng”. Người xưa cầu đạo, phải vượt qua bao nhiêu ngọn núi, rách hết vô số đế giày. Đi cầu tìm cái mình cầu tìm. Ngày nay, muốn có đạo pháp, chắc cũng phải làm như vậy thôi. Giống như người bị bệnh nan y, phải cất công lặn lội, đi tìm thầy thuốc. Còn ngồi đó, không làm gì, chỉ cầu mong tìm thấy “y sư giỏi” có thể trị bệnh cho ta thì có thể sẽ chết, trước lúc thấy được y sư.

Hỏi: Nhưng, nếu chẳng may, đi cả đời mà không gặp Đạo Sư thì thế nào đây?

Đáp: Chỉ nên tự trách mình vô duyên, bạc phước.

Hỏi: Những dấu hiệu nào để có thể nhận biết đó là một Đạo Sư đúng nghĩa trong Phật Đạo?

Đáp: Phật dạy, một Đạo Sư đúng nghĩa phải hội tụ đủ hai điều: Một là Thuyết phải thông, hai là Tông (Phật Tâm Tông) phải thông. Gọi chung là Thuyết thông và Tông thông.

Hỏi: Kinh nào nói lên hai tiêu chuẩn này?

Đáp: Lăng Già 5, Pháp Bảo Đàn Kinh 6. Đức Phật, các Đại Bồ Tát hoặc các Tổ có y bát là điển hình của hai tiêu chuẩn này.

Hỏi: Một Đạo Sư có nhất thiết phải là một vị Tăng như Bổn Sư?

Đáp: Đạo Sư không nhất thiết là Tăng hay tục. Ví như: Phật, A Nan, Ca Diếp, là Tăng. Bồ Tát Quan Âm, Văn Thù, Duy Ma Cật, Thắng Man, Thuần Đà, Việt Tam Giới, Vô Uý Đức, Sư Tử Hống,... đều là tục. Tăng và tục như vậy đều có thể làm bậc Đạo Sư dạy người tu hành.

Hỏi: Xin nói rõ, thế nào là Thuyết thông? Thế nào là Tông thông?

Đáp: Thuyết thông giống như việc thầy thuốc nói đúng bệnh và nguyên nhân gây bệnh. Tông thông giống như công hiệu của phương thuốc điều trị.

Hỏi: Như vậy, khi gặp đúng Đạo Sư, có cần phải khai bệnh như khai bệnh với thầy thuốc không?

Đáp: Cũng cần, cũng không cần. Đã là Đạo Sư thì họ nhất định biết làm thế nào để phù hợp. Đừng có lo “bò trắng răng”!

Hỏi: Đối với thầy thuốc, muốn trị bệnh thân, phải cần có tiền. Còn đối với một Đạo Sư thì cần những gì?

Đáp: Chỉ cần đi đến họ với tâm ý của “một trượng phu”.

Có nghĩa rằng: Phải là người biết “tôn trọng chân lý”. Cái gì đúng với chân lý thì phải đồng ý là đúng, điều nào sai với chân lý phải chấp nhận điều này sai. Không xảo biện, không chối quanh, không bao che cho cái sai.

Nói tóm lại, trực tâm 7 là thứ “ngân lượng” để cầu Phật Đạo. Thiếu thứ này, đừng đi cầu. Vô ích!

Hỏi: Có cần phải dựa trên thân, tướng hoặc danh vị để đánh giá rằng đó có phải là một Đạo Sư đích thực hay không?

Đáp: Thân, tướng, danh vị. Những thứ này ở đời, ngoài kia không thiếu. Phật nói: “Ma quỷ cũng giả được”.

Chỉ có trí tuệ (Tông thông và Thuyết thông) mới là chắc thiệt, vì thứ này không giả được.

Vả chăng, nếu là một con quỷ mà có đủ hai thứ này (Tông thông và Thuyết thông), thì con quỷ đó rất xứng đáng là bậc Đạo Sư trong Phật Đạo.

Vì rằng, người tu học trong Phật Đạo cầu học cái trí tuệ chứ không cầu học thân, tướng hay danh vị. “Duy tuệ thị nghiệp” mới đích thực là sự nghiệp của người tu hành.

Ngày xưa, trước khi thành Phật, hồi còn là Bồ Tát, Bồ tát này từng quỳ lạy con quỷ La Sát để cầu nghe hai câu kệ của Phật trong quá khứ. Thiện Tài Đồng Tử 8 cầu học Nhất Thiết Trí 9, trong 55 vị dạy mình, chỉ có ba vị là Tăng, còn lại tất cả đều là tục.

Tát Đà Ba Luân 10 cầu Bát Nhã Thánh Trí dưới trướng Đại sư Đàm Vô Kiệt 11, Đàm Đại Sư là một cư sĩ.

Nói như thế để thấy: Thân, tướng và danh vị không nói lên được điều gì nhiều trong Đạo Trí Tuệ.

TIỂU THỪA, ĐẠI THỪA, NHỊ THỪA, BA THỪA LÀ GÌ?

Hỏi: Người tu hành thường hay nói, tôi tu theo Tiểu Thừa, người kia tu theo Đại Thừa. Xin hỏi, hai thừa khác nhau ở chỗ nào?

Đáp: Muốn phân tích điều này, đầu tiên cần phải minh định cho rõ ràng thế nào là Tiểu Thừa, thế nào là Đại Thừa. Một khi hai điều này minh bạch, thì sẽ tự giải đáp câu hỏi vừa nêu.

“Tiểu Thừa” là cỗ xe nhỏ (chở một mình), “Đại Thừa” là cỗ xe lớn (chở nhiều người). “Đại” hay “Tiểu” là do tâm lượng (chỗ phát tâm) nhỏ hay lớn mà tạm chia chứ chẳng phải do tu mà được đại hay tiểu.

Hỏi: Tâm lượng như thế nào là nhỏ (tiểu), tâm lượng như thế nào là lớn (đại)?

Đáp: Tâm lượng nhỏ, là tâm lượng của những người chỉ mong tu học để cho bản thân mình yên vui là được, không cầu yên vui cho người. Những ai có tâm địa như thế, Phật Đạo gọi đó là Tiểu Thừa. Còn những ai, có tâm địa rộng lớn, cầu mong mình tu tập được những điều lợi ích, đem lợi ích này đi chia sẻ, giúp đỡ mọi người cũng được lợi ích như mình. Người có tâm lượng như vậy, Phật Đạo gọi đó là Đại Thừa.

Hỏi: Như vậy nói rằng: “tôi tu theo Tiểu Thừa còn người kia tu theo Đại Thừa” có phải là sai không?

Đáp: Sai thì không sai, nhưng không thấu tình đạt lý. Thấu tình đạt lý thì chẳng ai đi nói như vậy bao giờ.

Hỏi: Nếu nói đại hay tiểu là do tâm lượng, thì như vậy tại sao có Pháp Đại Thừa và Pháp Tiểu Thừa?

Đáp: Phật dạy: Các pháp vốn bình đẳng. Điều này có nghĩa rằng, bản thân một pháp không có “đại” hay “tiểu”. Vì rằng các pháp tự nó không tánh, không tướng. Như vậy thì, lấy gì để căn cứ mà nói rằng pháp này là đại còn pháp kia là tiểu.

Hỏi: Nếu nói như vậy, thì sao còn có Kinh Giáo Bồ Tát, Kinh giáo Thanh Văn? 12

Đáp: Kinh Giáo Thanh Văn dùng để dạy Thanh Văn Thừa, Kinh Giáo Duyên Giác dùng để dạy Duyên Giác Thừa, Kinh Giáo Bồ Tát để dạy Bồ Tát Thừa. Vì ba thừa này tâm địa sai khác, căn tánh sai khác, thệ nguyện sai khác, phát tâm sai khác, nên phải có phương thức giáo dục sai khác, Phật Đạo gọi đó là phương tiện. Giống như trường THPT chỉ dạy người hoàn thành bậc học phổ thông, có giáo trình của bậc phổ thông. Trường nghề, đào tạo ra công nhân, có giáo trình của dạy nghề. Còn trường đại học đào tạo ra kỹ sư, tiến sĩ, có giáo trình của các bậc học này.

Hỏi: Như vậy người có tâm lượng nhỏ hẹp tạm gọi là Tiểu Thừa, có cần học giáo pháp của Bồ Tát Thừa (Đại Thừa) hay không?

Đáp: Sự học bao giờ cũng tốt. Nhưng, nó giống như một người chỉ có ước vọng học hành để ra đời lao động phổ thông kiếm sống, thì chỉ học xong phổ thông là đủ dùng (Thanh Văn).

Hoặc một người mong có được tay nghề vừa đủ để nuôi thân (Duyên Giác), thì người này chỉ học thêm vài năm nghề nghiệp là đủ dùng, không cần phải học những bậc học cao hơn (của Bồ Tát Đạo)..

Vả lại, năng lực, thệ nguyện, phát tâm và ý chí góp phần rất lớn vào sự học tập cũng như thành công trong Đạo Pháp. Phật đạo gọi đó là: Phát xu.

Hỏi: Nếu nói như vậy, thì mặc nhiên công nhận Giáo pháp ba thừa có cạn, có sâu khác nhau, sao nói rằng pháp bình đẳng, không có cao hạ?

Đáp: Giáo pháp ba thừa thì có cạn, có sâu, vì năng lực, thệ nguyện, tâm trí của ba thừa có cạn, có sâu nên Giáo Pháp cũng phải tòng (phụ thuộc) theo đó mà đáp ứng. Còn tự thân một pháp, thì chẳng có đại, có tiểu, có cao, có thấp. Giống như con thỏ và con voi, tất nhiên hai con này có sức mạnh khác nhau, nhưng, không thể dùng hai con này mà so sánh mạnh yếu với nhau được. Người ta chỉ có thể so sánh sức mạnh giữa con thỏ này và con thỏ kia, con voi này và con voi kia chứ không ai lại đem voi đi so với thỏ bao giờ. Con voi chở nhiều, con thỏ chở ít, mỗi con chở theo sức của mình, chính là bình đẳng vậy.

Hỏi: Giáo Pháp Nhị Thừa (Thanh Văn, Duyên Giác) chuyên dạy điều gì? Còn Giáo Pháp của Bồ Tát Thừa chuyên dạy những gì?

Đáp: Về cơ bản, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát đồng học chung một thứ Giáo Pháp, gọi là Giáo Lý Căn Bản (gồm Tứ Đế và Ba Mươi Bảy Phẩm). Ngoài những giáo pháp căn bản này, có phần chuyên sâu của mỗi thừa:

  • Thanh Văn: Đào sâu “triết lý yểm ly”, lấy yểm ly làm căn bản tu hành.

  • Duyên Giác: Đào sâu “triết lý nhân duyên hay mười hai nhân duyên”, lấy đoạn duyên làm căn bản thành tựu.

  • Bồ Tát: Thấu suốt “triết lý tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”, lấy dứt mê (tâm, pháp) làm chỗ y cứ. Ngoài ra, người phát tâm Bồ Tát, có tâm nguyện hóa độ chúng sanh, phải học thêm Bồ Tát Đạo. Tức là học thêm “các môn trí tuệ” để rộng phương tiện cứu người.

Ba “thừa” mà chúng ta đang nói tới giống như ba người học bơi, mỗi người học một kỹ năng bơi lội, chỉ cần biết bơi là đủ. Nhưng nếu một trong ba người họ muốn trở thành huấn luyện viên bơi lội, thì phải học thêm cách dạy người các loại hình bơi lội. Hoặc một học sinh chỉ cần học xong phổ thông là đủ để đọc viết thông thạo, nhưng nếu muốn làm thầy giáo, thì phải học thêm sư phạm. Học Bồ Tát Đạo, giống như học làm huấn luyện viên bơi lội, giống như học sư phạm.

Hỏi: Về lý thuyết là như vậy, nhưng trong thực tế, có người nào đã thành tựu những điều như vừa nêu hay không?

Đáp: Kinh dạy: Phật Pháp là thường. Kinh cũng dạy: Có vô số Phật, vô số Bồ Tát, vô số Hiền Thánh Tăng đã thành, đang thành và sẽ thành tựu.

Hỏi: Nếu nói rằng, có vô số đã thành tựu, đang thành và sẽ thành, vì sao tôi không thấy?

Đáp: Thành là một chuyện, còn thấy lại là một chuyện. Trên đời có thiếu gì điều thành hay bại mà ta không thấy! Đâu nhất thiết có cái gì thành, thành ở đâu là tôi phải thấy.

Hỏi: Xin ngài nói rõ hơn?

Đáp: Muốn thấy một điều gì đó, phải có những điều kiện bắt buộc của nó.Ví dụ: Trên thế gian này có bao nhiêu đất nước, có bao nhiêu nhà lãnh đạo của mỗi đất nước, mà bản thân mình đâu có thấy tận mắt những điều đó? Mình không thấy, không có nghĩa rằng người khác cũng không thấy và điều đó không có.

Hễ những ai hội đủ điều kiện để thấy, thì cho dù không muốn thấy cũng không được. Ví như các nhà thiên văn, dùng kính thiên văn thì thấy được những gì ngoài vũ trụ, còn ta với con mắt này, có muốn thấy các thứ như những nhà thiên văn kia cũng đành chịu, vì điều kiện không đủ.

Hỏi: Nhưng phàm ở đời, cái gì có thấy mới có thể tin là có?

Đáp: Tổ tiên của mình, mình đâu có thấy, nhưng kẻ trí đâu vì thế mà nói rằng: “Tôi không thấy tổ tiên của mình, nên nhất định tôi không tin mình có tổ tiên”.

ĐỊA NGỤC, NIẾT BÀN Ở ĐÂU? CÓ TỒN TẠI HAY KHÔNG?

Hỏi: Địa ngục ở đâu và Niết Bàn ở đâu? Có hay là không có?

Đáp: Địa ngục ở tâm, Niết Bàn cũng tại tâm! Địa ngục và Niết Bàn cũng có, cũng không có!

Hỏi: Như thế nào gọi là địa ngục, Niết Bàn tại tâm? Như thế nào là cũng có, cũng không có?

Đáp: Khi tâm thức tích chứa nghiệp ác, tâm thức này phải chịu quả báo khổ đau. Khi khổ đau hiện lên trong tâm thức người ấy, gọi đó là địa ngục.

Ngược lại, kẻ được giác ngộ, tâm thức rỗng rang, trong không chứa thiện ác, ngoài chẳng so đo tôi anh. Người như thế, tâm nhẹ nhàng, trí sáng suốt, thường yên vui, thường thanh tịnh, gọi là Niết Bàn.

Vì thế địa ngục chỉ có với những người tạo tác lỗi ác thành nghiệp ác, sẽ không có với những ai làm điều thiện, tích chứa thiện nghiệp.

Niết Bàn cũng chỉ có với những ai giác ngộ, cũng sẽ không với những ai còn đang mê mờ.

Vì những lẽ này, nên nói: Cũng có, cũng không có. Giống như giàu sang, chỉ có với những ai nhiều tiền của, sẽ không với những ai nghèo đói, lại nhiều nợ nần.

 

----------------

  1. Vị lai (Vị: Chưa; Lai: Đến): Điều chưa đến hôm nay nhưng có thể đến vào một thời điểm nào đó.

  2. Cõi Diêm Phù: Cõi trần gian – không gian sống có con người.

  3. Do tuần: Đơn vị đo chiều dài của Ấn Độ cổ đại; 01(một) do tuần ước chừng 40 lí.

  4. Tam Bảo: Ba món quý của Phật giáo gồm Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo. Quy y Tam Bảo là nghi lễ của nhà Phật. Khởi đầu cho việc một Phật tử đi theo Phật giáo.

  5. Lăng Già: Còn được gọi là Nhập lăng hay Già kinh - Một bộ kinh trong kinh điển Phật giáo Đại thừa.

  6. Pháp Bảo Đàn Kinh: Một quyển kinh do Lục Tổ Huệ Năng thuyết giảng được ngài Pháp Hải ghi lại.

  7. Trực tâm: Là thứ tâm thuận theo chân lí, một đường hướng thẳng đến Phật quả.

  8. Thiện Tài Đồng Tử (hay còn gọi là Thiện Tài): là nhân vật chính trong Phẩm Nhập Pháp giới của Kinh Hoa Nghiêm.

  9. Nhất Thiết Trí: là một thứ trí tuệ của Bồ tát, Phật.

  10. Tát Đà Ba Luân: tên một vị Bồ Tát xuất hiện trong kinh Đại Bát Nhã đi cầu Bát nhã trí nơi đại sư Đàm Vô Kiệt.

  11. Đại sư Đàm Vô Kiệt: là tên một vị Bồ Tát trong kinh Đại Bát Nhã.

  12. Kinh giáo Thanh Văn: Một loại kinh Phật dùng để dạy cho Thanh Văn thừa

Gửi tin nhắn đến người dùng

Thông báo bài viết mới

MB 442 Lý Song Hà 06.10.2026

Xin chào Quý Đọc Giả,

Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.

https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/thay-loi-tua

Trân trọng,

Tags:

Tác Phẩm Lý Tứ

Thay Lời Tựa

MB 442 Lý Song Hà 11.02.2023
Vô Đối Môn- Tác Giả Lý Tứ

Các bạn!

Có bao giờ, bạn ngồi xuống, tự hỏi bản thân rằng:

- Đối với Phật Đạo, ta đã hiểu biết đến đâu?

- Ứng dụng được bao nhiêu phần trăm những hiểu biết này?

Theo tôi, nếu trong cuộc đời tu tập, chúng ta chưa một lần tự hỏi bản thân mình hai câu hỏi trên, chưa tự đánh giá nghiêm túc việc tu hành của bản thân, nhất định chúng ta chưa thật sự hiểu hết, chưa thật sự thấu suốt bản chất (thật nghĩa) từng pháp (mỗi pháp) của Phật pháp.

Vì rằng, Phật Đạo là đạo ứng dụng, cái được gọi là “nghĩa”của mỗi pháp không chỉ dừng lại ở hiểu biết, kiến giải, suy luận về mặt văn tự, hay vài cảm nhận thoáng qua.

Mà “thật nghĩa của mỗi pháp” chính là “sự ứng dụng nhuần nhuyễn pháp đó trong đời sống”, sau khi được học tập (văn), nghiêm cẩn tư duy (tư) và cuối cùng là ứng dụng một cách thuần thục vào ngay trong cuộc sống này (tu).

Có thực hiện ba điều nêu trên cho mỗi pháp, chúng ta mới thấy được giá trị đích thực của Phật pháp. Giá trị đích thực từ mỗi pháp do ứng dụng nhuần nhuyễn, mới chính là thật nghĩa của pháp đó!

Có nghĩa rằng, thật nghĩa của một pháp chỉ có được khi nào pháp này trở thành văn hoá, trở thành đời sống, hơi thở, máu thịt, chất dinh dưỡng nuôi sống tâm trí, và trở thành trí tuệ hay cái đích cuối cùng, thật nghĩa chính là bạn.

Tâm trí người tu hành có được sinh ra và lớn lên bằng chính thức ăn Phật pháp (Pháp thực), bấy giờ tâm trí mới trở thành Pháp thân.

Pháp thân chính là một thứ thân (nằm trong nhục thân này), được sinh ra từ Phật pháp, nuôi lớn bằng Pháp thực và tồn tại bằng chính thật nghĩa của nó, gọi là “thật tánh”.

Như vậy, khi chúng ta chưa đủ hiểu biết, chưa thật sự sống bằng Pháp thực, chưa ứng dụng được nó với đúng ý nghĩa một pháp từ Phật pháp, chưa trở thành trí tuệ và tài sản (sự sống, sự nghiệp) của chính chúng ta.

Điều này có thể được minh hoạ qua vài ví dụ sau:

- Một diễn viên đóng vai hiệp sĩ dũng mãnh chuyên trừ gian diệt ác trên sân khấu, trong lúc diễn, chẳng may có trộm cướp (những kẻ ác thật sự) đến cướp tài sản (của sân khấu), và chính diễn viên đó là người bỏ chạy đầu tiên.

- Một con mèo đang tự cho mình là sư tử. Nó gầm tiếng gầm của sư tử, với điệu bộ của một con sư tử thực thụ trước những con mèo đứng xem chung quanh nên được chúng tán thưởng và tỏ ra khiếp sợ. Nhưng rồi, một tiếng gầm từ xa của con sư tử thật vọng tới, lũ mèo còn chưa biết điều gì xảy ra, chính con mèo giả làm sư tử đã đột tử vì vỡ mật.

Hai ví dụ trên có thể minh hoạ cho hoàn cảnh của người tu hành không thể biến giáo pháp trở thành Pháp thân, hay không thực hiện đầy đủ “văn, tư, tu” trong đời sống tu hành. Để rồi, trước bọn ác sinh diệt hay con sư tử phiền não lại nhanh chân bỏ chạy hoặc vỡ mật như người diễn viên hay con mèo kia.

Để có được Pháp thân, nuôi lớn Pháp thân và trưởng dưỡng cho đến viên mãn, người tu hành hằng ngày phải biết cách chăm sóc nó. Chăm sóc, nuôi dưỡng Pháp thân bằng cách “văn, tư, tu”, giống như người ta nuôi lớn nhục thân bằng “thức ăn vật chất”.

“Văn, tư, tu” chính là Pháp thực và người tu hành phải biết cách tiêu hoá các pháp đã ăn, biến nó trở thành chất dinh dưỡng nuôi lớn Pháp thân. Ta tạm coi điều này như “thức ăn tinh thần”.

Trong khi ăn, quá trình tiêu hoá thức ăn, kết quả có được đối với cơ thể từ những gì đã ăn, sẽ cho ra nhận biết đích thực về thứ ta đã ăn như: độ ngon, mức độ dinh dưỡng, hiệu quả sau khi ăn.

Thức ăn tinh thần hay Pháp thực, khi ăn đúng cách và tiêu hoá trọn vẹn, sẽ cho người tu hành cảm nhận ý nghĩa đích thực về nó, như thể người ta thấy ngon, hay thấy dở với thức ăn vật chất.

Nếu đối diện trước vật thực thế gian hay Pháp thực, mà ta chỉ nhìn ngắm, không thật sự thưởng thức, hoặc không thể tiêu hoá, kết quả cũng chỉ là người đói.

Đây là lý do vì sao, phần lớn người tu hành sau một thời gian tu tập, chỉ dừng lại ở khả năng “kiến giải” mà chẳng thể thấy được “thật nghĩa” của một pháp.

Biểu hiện của kiến giải là: Chỉ học thuộc văn tự, diễn nói một pháp trên ý nghĩa văn tự, còn chiều sâu của pháp đó, sự thực dụng của nó, vị tu hành này hoàn toàn như con mèo giả làm sư tử.

Qua vài lời tâm sự, hy vọng tất cả chúng ta biết cách tạo ra và nuôi lớn Pháp thân, vị lai viên mãn Pháp thân bằng chính sự thực dụng “văn, tư, tu” qua những gì chúng ta học được, gọi là Pháp thực trong đời sống tu hành.

Đừng để Pháp thân bị “suy dinh dưỡng” dẫn đến “qua đời” trước “mâm cao cỗ đầy” Pháp thực thượng vị mà chúng ta đang có trước mắt.

Hãy làm một Long Vương thực thụ, biết giăng mây, nổi sấm, làm mưa. Chẳng nên làm Hà Bá suốt đời quanh quẩn trong sông rạch, chỉ chuyên tán gẫu chuyện Long Vương mà chưa một lần ghé thăm biển lớn.

Lý Tứ

Tác Phẩm Lý Tứ

Luận Về Đạo Quả Trong Phật Đạo

MB 880 Lý Minh Dáp 11.02.2023

Trên con đường tiến về Vô Thượng Trí... người tu hành phải kinh qua bốn tầng bậc bình đẳng, được sắp xếp theo thứ tự: Bình Đẳng, Đẳng, Vô Đẳng Đẳng và Vô Thượng Chánh Đẳng.

Tâm Tông & Trò Chơi Trí Tuệ - Tác Giả Lý Tứ

TẦNG BẬC THÀNH TỰU ĐẠO QUẢ TRONG PHẬT ĐẠO

Các bạn! ...  Trên con đường tiến về Vô Thượng Trí... người tu hành phải kinh qua bốn tầng bậc bình đẳng, được sắp xếp theo thứ tự: Bình Đẳng, Đẳng, Vô Đẳng Đẳng và Vô Thượng Chánh Đẳng! Bốn thứ bình đẳng này, là kết quả thực chứng từ sơ ngộ đến liễu ngộ, thông qua quá trình tu tập bốn món là: Kiến, Tâm, Trí và Huệ! Tầng bậc thành tựu đạo quả có thể hiểu như sau:

1) Kiến Bình Đẳng (đạo quả thứ nhất): Có được sơ ngộ, vị tu hành dừng phân biệt, không sinh pháp, từ đây lậu hoặc (kiết sử phiền não) hoàn toàn tịch diệt, thấy nghe không bị che chướng. Vì thế, đối trước cảnh duyên, vị tu hành sáng suốt, không u tối. Giống như một người mắt sáng, đứng trước hồ nước không bị nhiễm ô, nhờ nguồn nước trong suốt, người ấy có thể nhìn thấy mọi vật trong hồ một cách rõ ràng.

֎ ... Có được cái thấy như vậy, Phật đạo gọi là “Kiến Bình Đẳng”. Kiến Bình Đẳng là cái thấy đầu tiên, và cũng là nền tảng làm nên các đạo quả sau này! ... ֎

2) Chứng Đẳng Tâm (đạo quả thứ hai): Sau khi có được cái thấy sáng suốt, lậu hoặc cùng các pháp không còn nhiễm ô thấy biết... Vị tu hành “hướng nội”, dùng cái thấy ấy, lặng lẽ quan sát bổn tâm, người này trực nhận ra “tâm này xưa nay vốn tự thanh tịnh, bất động”. Giống như một người mắt sáng, vào đêm trăng tròn, đứng trước hồ nước trong suốt, nhìn thấy bóng trăng hiện dưới đáy hồ, nhưng hồ nước không hề lay động hay vẩn đục. Sau khi hướng nội để thấy được bản chơn, vị ấy lại “hướng ngoại” quan sát vạn loại hữu tình. Quan sát vạn loại hữu tình, vị ấy nhận ra “tính chất đồng đẳng tự chơn” từ bản tâm của muôn loài.

֎ ... Có được cái thấy này, Phật đạo gọi là thành tựu “Đẳng Tâm”. “Đẳng kiến” hay “Đẳng Tâm” chính là sự nhận biết rõ ràng phàm và thánh tự vô thuỷ bản tâm không sai khác. Đây là giềng mối làm nên đạo quả vô vi! ... ֎

3) Vô Đẳng Đẳng Trí (đạo quả thứ ba): Sau khi có được Đẳng Tâm, vị tu hành quán hết thảy chúng sinh, từ người hạ liệt đến kẻ cao sang, từ người có trí đến kẻ u mê. Tất cả đồng một bản chơn, nhưng vì mê muội, những chúng sinh ấy như người hốt nhiên lấy miếng vải đen che kín đôi mắt, từ đó chịu sống trong tăm tối. Quán sát như vậy, vị tu hành phát khởi từ bi tâm, trên cầu Phật quả, dưới nguyện độ hết thảy chúng sinh, vị ấy quyết tâm cầu học trí tuệ. Để có được trí tuệ, người này không tiếc thân mạng, dù lên rừng hay xuống biển, ở đâu có Thiện Tri Thức, nhất định đến cầu học. Học được trí tuệ, vị ấy phát nguyện: “Chư thánh xưa giáo hoá chúng sinh như thế nào, hôm nay ta cũng giáo hoá chúng sinh như thế ấy!”

֎ ... Thành tựu trí và nguyện như thế, Phật đạo gọi là thành tựu “Vô Đẳng Đẳng Trí”. Gọi là vô đẳng đẳng vì chư thánh ba đời trí tuệ không hơn kém! ... ֎

4) Vô Thượng Đẳng Huệ (Bồ Tát thành tựu đạo quả cuối cùng, con đường dẫn đến Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác): Có được Chánh Trí, như người thầy thuốc giỏi, vị tu hành bây giờ có thể chữa lành tâm bệnh của tất cả chúng sanh. Người này lấy công hạnh giáo hoá làm đời sống, công đức tăng trưởng, từ bi tăng trưởng. Như ngọn đuốc sáng, vị ấy dùng phép Vô Tận Đăng tiếp tục thắp sáng vô lượng ngọn đuốc khác trao cho chúng sinh, tạo ra sức ảnh hưởng to lớn, gọi là “huệ lực”

֎ ... Đến khi huệ lực viên mãn gọi là “Vô Thượng Đẳng Huệ”. Với Vô Thượng Đẳng Huệ, vị ấy nhiều đời làm lợi ích cho vô lượng chúng sanh, đời rốt sau đủ mười danh hiệu như chư Phật quá khứ, gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác! ... ֎

Trên đây là những nét khái quát về bốn đạo quả cơ bản, mà một người tu hành phải trải qua trong quá trình tiến về Vô Thượng Bồ Đề. Để giúp các bạn có những kiến thức nhất định về Đạo Nhất Thừa, mình có một số câu hỏi liên quan như sau: 

  • CÂU HỎI−TCTT 2018/12.2_Luận Về... “Đạo Quả Trong Phật đạo”

1) Trong bốn đạo quả kể trên, đạo quả nào thuộc về Ba Thừa, đạo quả nào thuộc về Nhất Thừa? Nhất Thừa khác Ba Thừa ở đặc điểm cơ bản nào?

2) Trong bốn đạo quả, đạo quả nào vĩnh viễn chấm dứt Phần Đoạn Sanh Tử của một chúng sinh? Vì sao đạo quả đó có năng lực vĩnh viễn chấm dứt Phần Đoạn Sanh Tử?

3) Trong bốn đạo quả, đạo quả nào hình thành Bất Tư Nghì Biến Dịch Sanh Tử... Và Bất Tư Nghì Biến Dịch Sanh Tử chấm dứt ở đạo quả nào? Tại sao lại như vậy?

4) Trong bốn đạo quả, giai đoạn nào thuộc về Hậu Biên Thân... Giai đoạn nào thuộc về Tối Hậu Thân? Chữ “Thân” trong Hậu Biên Thân và Tối Hậu Thân nhằm chỉ cho điều gì?

Rất mong nhận được những kiến giải lý thú từ HĐ!  (18-11-2018)

GỢI Ý... TCTT 2018/12.2_Luận Về “Đạo Quả trong Phật đạo”

Các bạn! ... Có một số chi tiết, các bạn cần chú ý để giải quyết thoả đáng câu hỏi, đó là, đặc điểm khác biệt giữa Nhất thừa và ba thừa, cũng như chữ “Thân” trong “Hậu Biên Thân” và “Tối Hậu Thân”!

  • Về ba thừa và Nhất thừa: Điều mình muốn hỏi là, đặc điểm của Nhất thừa và ba thừa khác nhau ở đâu. Có nghĩa, mình muốn các bạn nhận ra điểm dị biệt, hay nói khác hơn là sự khác biệt về mục tiêu, về lí tưởng của hai thừa nêu trên. Hình như khi đọc câu hỏi, các bạn nhầm lẫn thành phương pháp tu tập! Sở dĩ có câu hỏi này là vì trước đây, khi còn tu tập trong ba thừa, mục tiêu của chúng ta là, làm thế nào để có thể giải quyết tốt nhất những gì liên hệ đến tự thân theo tinh thần Phật đạo! Nhưng, sau khi đã giải quyết tự thân, mục tiêu của chúng ta không dừng lại ở đó, với lí tưởng xa rời quyền tiểu, với lí tưởng vì tất cả chúng sinh, với tâm nguyện thành tựu Phật quả... Từ đây, ta sẽ nhận ra những đặc điểm khác biệt cơ bản giữa hai thừa nêu trên!

  • Về chữ “Thân”: Từ xưa đến giờ, khi nói đến “Thân”, người ta liền nghĩ đến sắc thân hay thân tứ đại. Nhưng, trong Phật đạo, chữ thân không chỉ giới hạn trong hai nghĩa đó, mà đôi khi, chữ thân còn mang tính đại diện cho một chủ thể, ví dụ như ba thân Phật, trong đó Hoá Thân và Pháp Thân hoàn toàn không phải là sắc thân! Đôi khi chữ thân, còn hàm chứa như một hình thức tiêu biểu, ví dụ như danh, cú, hình thân. Cũng có lúc chữ thân lại nói đến một đời sống, một nhận thức, ví dụ như Ý Sinh Thân! 

Nói chung, muốn hiểu chữ thân trong Phật đạo chỉ cho điều gì, chúng ta phải căn cứ vào hoàn cảnh, ngữ cảnh, nội dung câu chuyện mới có thể biết đích xác chữ thân muốn nói ở nghĩa nào! Mục tiêu đưa ra câu hỏi này, nhằm giúp các bạn làm quen một số khái niệm mới, những từ ngữ tiêu biểu của Nhất thừa mang nhiều ý nghĩa trong Phật đạo. Làm quen với khái niệm mới, khi đọc kinh, chúng ta sẽ không bị văn tự dẫn ta hiểu sai cảnh giới. Ví dụ, trong kinh thường mô tả, Bồ Tát thần thông quảng đại, có thể đưa một chúng sinh từ cõi này đến một cõi khác, hay đưa chúng sinh du hí qua vô lượng cõi nước chỉ trong một niệm, tuy đi qua các cảnh giới như vậy, nhưng vị chúng sinh đó không hề thấy thân lay động! Khi đọc đến đây, chúng ta thường liên tưởng vị Bồ Tát cắp một chúng sinh bay liệng trên không trung, như con diều hâu xớt một con gà rồi bay lên trời. Thậm chí, đôi lúc chúng ta còn tưởng tượng ra, một vị Bồ Tát có thần thông, giống như các cao thủ trong phim võ hiệp, bay tới bay lui trên nóc nhà, hoặc từ đỉnh núi này đến đỉnh núi nọ!...  

Chính hiểu biết, cùng sự liên tưởng mang tính thần thoại này, vô tình đã giết chết nghĩa kinh. Thật ra, đoạn kinh trên, nhằm ám chỉ việc một Bồ Tát với sức “thần thông ngôn thuyết” của mình, có thể khai thị, tuyên thuyết giúp chúng sinh giác ngộ, do giác ngộ “tâm thức của chúng sinh đó chuyển từ cảnh giới này đến cảnh giới khác”. Có nghĩa rằng, tâm thức họ chuyển, chứ thân tứ đại không hề di chuyển. Giống như chuyện Lão Lý và Đại Sư Huyền Không bay qua hồ Tự Tâm trong Tâm Pháp, đây chỉ là hình ảnh tiêu biểu về cảnh giới hai người vượt qua biển tâm hư vọng. Thực tế, sắc thân Lão Lý chả khác gì mọi người, chỉ cần rớt từ trên cao chừng hai thước xuống đất, nhất định phải mang ra garage làm đồng và sơn lại!... (20-11-2018)

Để có thể giải quyết mọi vấn đề của Phật đạo, Tứ Đế luôn luôn là mực thước để người tu hành lấy đó làm căn cứ lí giải tất cả đạo quả. Vì rằng, mọi đạo quả trong Phật đạo, chính là những lớp học từ thấp lên cao của bốn cấp học Tứ Đế! Ta có thể thấy:

  • Đạo quả “Bình Đẳng”: Đạo quả tương đương với Khổ Đế và Tập Đế (Tập Chủng Tánh). Sở dĩ gọi là “Kiến Bình Đẳng”, vì ở đạo quả này, người tu hành nhờ sơ ngộ, dừng phân biệt, không sinh pháp, thấy nghe không bị nhiễu loạn, lậu hoặc (khổ, phiền não, kiết sử) được coi như tạm tịch diệt. Tuy rằng, đây là cảnh giới vô lậu, nhưng chúng sanh tánh chưa hoàn toàn đoạn dứt (chưa rốt ráo bất thối). Vì thế, Phần Đoạn Sanh Tử hảy còn nếu vị chúng sanh đó“không thể giác ngộ rốt ráo bổn tâm”, tức chưa thực chứng Niết Bàn Chơn Đế của Diệt Đế. Phàm cái gì chưa CHƠN, cái đó chưa thể... đáng... tin... cậy! Đây cũng là lí do vì sao Phật dạy đại ý: “Không thể tin vào tâm ý của một người chưa chứng Diệt Đế (A La Hán)!”

  • Đạo quả “Đẳng Tâm”: Đạo quả tương đương với Diệt Đế... (Thánh Chủng Tánh, Tánh Chủng Tánh). Ở đạo quả này, nếu là Nhị Thừa vào thẳng Thánh Quả Vô Sanh (Chơn A La Hán). Nếu là Bồ Tát Thừa, chứng Thất Địa hay Bát Địa tuỳ vào trí tuệ, thành tựu Vô Sanh Pháp Nhẫn (Bất Động Địa). 

Sự khác biệt giữa Nhị Thừa và Bồ Tát Thừa sẽ chấm dứt khi cả hai thừa đồng viên mãn Diệt Đế, tức cùng Giác Ngộ Bổn Tâm! Vì thế, tuy cùng một Diệt Đế, nhưng lại có đến ba quả vị sai khác là Lục Địa, Thất Địa và Bát Địa, tức người mới vào Diệt Đế và người viên mãn Diệt Đế, công đức và trí tuệ không đồng nhau!

Đạo quả Đẳng Tâm hay Diệt Đế là đạo quả của người tu hành chứng Niết Bàn Chân Đế. Người trong đạo quả này, vĩnh viễn chấm dứt chúng sanh tánh, gọi là chấm dứt Phần Đoạn Sanh Tử. (“Phần Đoạn Sanh Tử” là thuật ngữ, nhằm chỉ cho các loại tâm thức hãy còn sanh diệt theo nghiệp. Kinh gọi là “chết đây sanh kia trong sáu thú”. Ta có thể hiểu, các loại chúng sanh này, tâm thức không dừng, còn sinh khởi từ một tâm đến một tâm, thức nghiệp chưa thể tịch diệt như pháp!). 

  • Đạo quả “Vô Đẳng Đẳng Trí”: Đạo quả tương đương Đạo Đế (Đạo Chủng Tánh). Sau khi thành tựu đạo quả Đẳng Tâm (viên mãn Diệt Đế). Vị tu hành, phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, phát nguyện độ tận chúng sanh, cầu học Trí Tuệ. Nhờ đại nguyện, Niết Bàn Chân Đế bây giờ không còn là trú xứ ưa thích, với mục tiêu thành tựu Phật quả! Vị tu hành bằng lòng từ bỏ đạo quả an ổn mình đang có, một lần nữa lên đường tìm Thiện Tri Thức cầu học trí tuệ. Giai đoạn này, kinh gọi là “Bồ Tát từ bất động bước ra”, hay “Bồ Tát nhớ lại nguyện xưa”, hoặc “Bồ Tát nhập pháp giới”, cũng có khi gọi là “Bồ Tát nhập thế”. Các cụm từ “nhập pháp giới, nhập thế, từ bất động bước ra” nhằm chỉ cho cảnh giới của những vị tu hành đã thành tựu đạo quả Xuất Thế Gian, bây giờ quay trở lại thế gian để học và thấy rõ bản chất của các pháp thế gian, gọi là “nơi thế gian đạo, học xuất thế gian pháp”.

Đây là công đoạn của những vị đã chuyển đổi thành công “Thức Mê” thành “Căn Bản Trí”, hay nói khác, họ đã thấu suốt khái niệm “Thức tức Trí”. Có nghĩa rằng, với vị ấy, giữa thế gian và xuất thế gian không còn là hai pháp, Kinh Duy Ma Cật gọi cảnh giới này là “chứng Bất Nhị Pháp Môn”, đây là cảnh giới “Tận Vô Tận Giải Thoát”, tức chẳng tận hữu vi, chẳng trụ vô vi. Khác hơn, nơi hữu vi thấu tột nghĩa phi vô!

Ra khỏi ba cõi mê (thế gian), vào Niết Bàn (xuất thế), rồi từ bỏ Niết Bàn xuất thế, quay lại thế gian để học trí tuệ gọi là “nhập Nhất Thừa Đạo”. Giống như các dòng sông bắt đầu vào biển lớn! Hành trình Nhất thừa bắt đầu!  Do chuyển đổi viên mãn thức thành trí! Trong quá trình học trí tuệ, tâm trí người tu hành phải trải qua nhiều lần giác ngộ... nhãn lực và nhận thức thay đổi liên tục... Sự thay đổi liên tục, kinh gọi là “Bất Tư Nghì Biến Dịch Sanh Tử” ... Cụm từ Bất Tư Nghì Biến Dịch Sanh Tử hàm ý rằng, tuy tâm và trí có sanh diệt (thay đổi), nhưng sanh diệt này ra khỏi nghĩ bàn hay suy lường của người thế gian (không giống sanh diệt của một phàm phu). Ta có thể hiểu nôm na, đây là một dạng “sanh tử theo nguyện”! Quá trình sanh diệt chỉ chấm dứt khi nào vị tu hành thành tựu Nhất Thiết Trí, còn gọi là viên mãn Bát Nhã Trí, chứng đạo quả Vô Đẳng Đẳng Trí... Trong Thập Địa, Bồ Tát này có quả vị tương đương địa thứ chín (Thiện Huệ Địa), tức Đẳng Giác Bồ Tát (còn gọi là Nhập Đẳng Giác Phật)!

  • Đạo quả “Vô Thượng Đẳng Huệ” (Đẳng Giác Chủng Tánh): Đạo quả vượt khỏi quy trình giáo dục Tứ Đế, kinh gọi là Xuất Thế Gian Thượng Thượng. Viên mãn Đẳng Giác, chuẩn bị vào địa thứ mười là Pháp Vân Địa. Ở địa vị này, đã viên mãn Sai Biệt Trí, tức tâm và trí không còn thay đổi. Nhưng, năng lực giáo hoá, sức ảnh hưởng đối với chúng sanh chưa viên mãn, vì còn phụ thuộc rất nhiều vào công hạnh và số lượng chúng sanh được giáo hoá. Gọi là “Tuệ Lực chưa viên”!

Để có thể viên mãn “Tuệ Lực”, “để Tuệ Lực có thể bắt kịp Trí Lực”. Bồ Tát phải dày công giáo hoá, không tiếc thân mạng, lấy công hạnh làm đời sống! Đến khi Tuệ Lực viên mãn, Bồ Tát được thọ kí Nhất Sanh Bổ Xứ. Từ đây, với sức thiện xảo, nhập Hậu Biên Thân. “Hậu Biên Thân” hay “Hậu Biên Trí” là loại trí ở bờ mé cuối cùng trước khi chứng Đẳng Chánh Giác! Chữ “Thân” trong đạo quả này chính là “Trí Tuệ”. Với Bồ Tát đó, “Thân tức Trí, Trí tức Thân”, “Thân Trí Không Hai”. Chữ thân ở đây chính là “Pháp Thân”!

  • Đạo quả “Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”: Phật quả! Đây là quả vị cuối cùng và cao nhất trong Phật đạo (khi còn Bồ Tát gọi là Diệu Giác Chủng Tánh)! Với “công hạnh” sâu dày, với “trí tuệ” viên mãn, với “Tứ vô lượng tâm” đầy đủ. Bồ Tát nhập Tối Hậu Thân! Tối Hậu Thân hay Tối Hậu Trí là danh xưng tốt đẹp nhất dành cho một Thế Tôn Đẳng Chánh Giác. Thân này chỉ có thể có được khi Bồ Tát rốt ráo đủ mười danh hiệu!

Ta có thể hiểu, các quả vị từ Thiện Huệ Địa đến Pháp vân Địa và thành Phật hay Đẳng Giác, Diệu Giác và Phật quả, là sự chuyển biến của công hạnh. Giống như quá trình từ mặt trời mọc đến mặt trời lặn. Cũng một mặt trời đó, cũng trong thái dương hệ này. Nhưng, đây kia thấy khác! Sự sai khác trong cái thấy, sức ảnh hưởng từ mặt trời, v.v... chẳng phải mặt trời có sai khác!

Quá trình chuyển đổi từ Bình Đẳng, Đẳng, Vô Đẳng Đẳng, Vô Thượng Đẳng và Vô Thượng Chánh Đẳng. Được kinh ví như sự chuyển biến giữa sữa, lạc, tô và đề hồ! Bốn thứ trên, tuy tánh chất, mùi vị, màu sắc, công dụng khác nhau, nhưng đều bắt nguồn từ nguyên liệu ban đầu đó là sữa... Do quá trình gia công, chế biến mà sau đó mỗi thứ có công dụng riêng!  Đạo Phật cũng như vậy, nó bắt nguồn từ hữu tình. Khi hữu tình mê, tri và giác trở nên lầm lỗi gọi là “phàm ngu vô trí . Đến khi hữu tình được ánh sáng Phật pháp soi rọi, như người mù bỗng dưng được sáng, như hết đêm đến ngày “gọi là giác ngộ”, cũng thế giới này, cũng tâm thức này, cũng ngũ ấm này, cũng tri giác này. Nhưng tất cả đều sáng, tất cả đều chân, tất cả đều thực!

Đạo Phật là Chân Đạo, đạo Phật là Minh Đạo, đạo Phật là Trí Đạo! Đạo Phật lấy chân lý làm ngọn đuốc soi sáng cho những người có mắt, để rồi những người có mắt kia, với ánh sáng chân lí, mọi thứ sẽ hiện ra đúng với bản chơn của nó trong một thế giới đảo điên vì tâm thức hư vọng! Một vài kiến giải cơ yếu về những đạo quả thâm u! Hy vọng, nó sẽ giúp các bạn có được những câu trả lời tuyệt vời. (24-11-2018)

Các bạn! ... Lúc gởi câu hỏi đi, mình cứ ngỡ rằng, lần này gồm toàn câu hỏi khó, sẽ rất ít người trả lời thành công cả bốn câu. Nhưng, thực tế lại khác, có đến 99% HĐ trả lời đạt yêu cầu. Chẳng những trả lời đúng phần kiến thức, về cách viết các bạn cũng có những tiến bộ rất xa so với hồi đầu năm. Đây là kết quả rất đáng khích lệ đối với việc tu tập của HĐ chúng ta trong một năm qua! Bốn câu hỏi vừa rồi, có một nội dung tuy chiếm vị trí khiêm tốn nhưng lại rất quan trọng, đó là, “sự khác biệt giữa ba thừa và Nhất thừa”. Mình rất mong các bạn chú ý đến nội dung này!

Giữa ba thừa và Nhất thừa rất khác biệt về mục tiêu, lí tưởng tu tập. Nếu như mục tiêu tu tập của ba thừa là nhằm giải quyết khổ phiền não của tự thân (tự độ) thì, mục tiêu tu tập của Nhất thừa là hướng đến giải quyết khổ phiền não của tất cả chúng sanh (độ tha). Chính sự khác biệt cốt lõi về lí tưởng nêu trên, từ đó thái độ, động cơ, phương pháp tu tập giữa ba thừa và Nhất thừa cũng sẽ không giống nhau. Các bạn chú ý quan sát các khác biệt này, có thể hình dung ra đoạn đường mình sắp đi là như thế nào!

Theo kế hoạch, Trò Chơi Trí Tuệ thứ 12 là Trò Chơi Trí Tuệ cuối cùng của năm 2018. HĐ nào có thắc mắc các câu hỏi, hoặc ý kiến đóng góp về phương pháp tu tập. Trong buổi sinh hoạt tuần này, chúng ta sẽ nêu lên để cùng nhau thảo luận!

Hầu như mọi người đều trả lời đúng và viết hay, bài nào cũng là bài tiêu biểu. Nếu khách quan hơn, thì phải nói rằng: “Tất cả HĐ chúng ta đều xứng đáng là những bông hoa tiêu biểu!” nên mình sẽ không chuyển các trả lời đến HĐ...    (27-11-2018; 05:50)

(Tham khảo) CẢM NHẬN TCTT 2018/12.2− ... “Đạo Quả... Phật...”

Các bạn! ...  Mình không tính gởi các câu trả lời lần này. Nhưng khi đọc đến bài viết của Tịnh Hiền, mình phải đọc đi đọc lại đến mấy lần! Bài viết theo mình là “đủ sức thuyết phục”! Vì thế, nếu đem cất vào “tàng thư” thì rất uổng phí! Suy nghĩ như thế, mình quyết định chỉnh sửa một chút cho tròn trịa hơn, và gởi đến mọi người để làm tài liệu tham khảo. Hy vọng, bài viết sẽ giúp các bạn có cái nhìn thấu đáo về các câu trả lời! (29-11-2018)

  • Cảm Nhận_TCTT 2018/12.2−... “Đạo Quả Trong Phật đạo” (Lý Anh Lạc).

Kính Thầy! Con xin trả lời các câu hỏi như sau:

  • Trả lời câu 1: Thưa Thầy! Trong bốn đạo quả trên, Kiến Bình Đẳng và Đẳng Tâm thuộc đạo quả Ba Thừa. Vô Đẳng Đẳng Trí và Vô Thượng Đẳng Huệ thuộc đạo quả Nhất Thừa.

− Học Ba Thừa để giải quyết trói buộc, phiền não, lậu hoặc của tự thân. Chung quy là học để thay đổi nhận thức cơ bản, dẫn đến làm sạch thấy nghe hư vọng và tâm thức hư vọng. Gọi là Bình Đẳng Kiến và Đẳng Tâm...

− Học Nhất Thừa để giải quyết trói buộc, phiền não cho người. Gọi là học các Giải Thoát Môn và các Tam Muội Môn. Giai đoạn này, thiên về Trí và Huệ. Vì thế mới có đạo quả Vô Đẳng Đẳng Trí và Vô Thượng Đẳng Huệ...

  • Trả lời câu 2: Thưa Thầy! Vì chúng sanh luân chuyển theo nghiệp (nghiệp nhân, nghiệp duyên, nghiệp quả, nghiệp báo), nên tâm thức niệm niệm (sanh pháp, sanh tâm...) không ngừng. 

Một khi tâm thức không còn sanh khởi (do thấy được bổn tâm) thì nghiệp dừng, nghiệp dừng nên chúng sinh tánh “chết queo”. Kinh gọi là Đoạn Dứt Sanh Tử của một chúng sinh. Cho nên, một người tu hành khi thành tựu đến viên mãn quả vị thứ hai (Đẳng Tâm) thì chấm dứt Phần Đoạn Sanh Tử. Vị ấy vĩnh viễn không còn là một chúng sanh, Phật thường ví dụ trường hợp này như: “Cây ta la đã bị chặt đầu, không còn tái sanh trở lại” .

  • Trả lời câu 3: Thưa Thầy! Bất Tư Nghì Biến Dịch Sanh Tử là sanh tử theo nguyện để học trí tuệ thuộc Đạo Đế. Và đạo quả thứ ba (Vô Đẳng Đẳng Trí) là đạo quả tương đương Đạo Đế. Cho nên, đạo quả thứ ba là đạo quả hình thành Bất Tư Nghì Biến Dịch Sanh Tử. Và khi đã viên mãn Đạo Đế, hoặc bước sang đạo quả thứ tư thì Bất Tư Nghì Biến Dịch Sanh Tử chấm dứt.

Vì sao như vậy? Vì viên mãn Đạo Đế thì tâm và trí của vị này không khác Phật, có nghĩa về cơ bản: “Cái gì Phật chứng vị này chứng, cái gì Phật biết vị này biết, cái gì Phật thấy vị này thấy (như trường hợp Phật tuyên thuyết về Đại Đức Ca Diếp trước đại chúng)”. Xét về phương diện “tâm và trí” thì, vị này không còn điều gì để chứng, để đắc Tâm và trí không còn sanh diệt (do không còn thay đổi nhãn lực), nên Bất Tư Nghì Biến Dịch Sanh Tử cũng chấm dứt theo.

  • Trả lời câu 4: Thưa Thầy!

− Về đạo quả: Trong 11 loại trí thì Hậu Biên Thân thuộc Đạo Tướng Trí, và Tối Hậu Thân thuộc Nhất Thiết Chủng Trí. Cho nên, giai đoạn: Từ “Vô Thượng Đẳng Huệ, vị ấy nhiều đời làm lợi ích cho vô lượng chúng sanh, thuộc Hậu Biên Thân” (Trích Email của LT) đến “Đời rốt sau đủ mười danh hiệu như chư Phật quá khứ, gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác! Thuộc Tối Hậu Thân...” (Trích Email của LT)

− Về giáo hoá: Hậu Biên Thân và Tối Hậu Thân có năng lực giúp người thành tựu bốn đạo quả trên. Cho nên, chữ “Thân” trong Hậu Biên Thân và Tối Hậu Thân nhằm nói đến trí tuệ (pháp thân), hơn là mô tả hình tướng bên ngoài (thân tứ đại...). 

Có khi Tối Hậu Thân còn gọi là “Sắc Thường Trụ”. Chữ sắc ở đây ngầm ám chỉ trí tuệ thường trụ nên “sắc thân công đức” do chúng sanh làm nên cũng thường trụ, kinh gọi là “Chủng Loại Câu Sanh Vô Hành Tác Ý Sinh Thân”.

Kính Thầy chỉ dạy thêm. Con kính lễ Thầy ba lạy! Con.

Tác Phẩm Lý Tứ

Luận Về Thật Nghĩa Của Đạo Pháp

MB 880 Lý Minh Dáp 11.02.2023

Tâm tông & trò chơi trí tuệ - Tác Giả Lý Tứ

Các bạn! ...  Hôm qua, mình và một số HĐ có chuyến du lịch ngắn, thăm Phi Lai Cổ Tự, ngôi chùa đã có rất lâu, nơi sản sinh ra nhiều Cao Tăng đương thời như Hoà Thượng Trí Tịnh, Hoà Thượng Thiện Nhơn. Đến chùa, đã hơn 12 giờ trưa, mình và mọi người được SĐ Giác Minh đãi cơm trưa. Bữa cơm chùa thật ngon! Một điều rất lạ là, không hiểu thế nào, mỗi khi được ăn cơm ở chùa, mình cảm thấy cơm ở đây ngon hơn những nơi khác!...  Cơm chùa có khác!

Sau khi Lễ Phật, tham quan khuôn viên, xem công trình đang xây dựng chùa Phi Lai mới. Cả đoàn lên đường, tham quan Nhà Mồ Ba Chúc, nơi lưu giữ hài cốt của hàng trăm thường dân và trẻ em đã bị sát hại trong trận chiến biên giới Tây Nam, năm 1978. Ở đây, những bộ hài cốt được lưu giữ cẩn thận, sắp xếp ngăn nắp.

Chứng tích của cuộc thảm sát diệt chủng còn đó, giờ này, không biết hồn thiêng của những người vô tội đang về đâu? Đứng trong nhà mồ, chợt nhớ bài kinh đã đọc rất lâu, đại ý như sau: “Một hôm đi ngang qua Thi Lâm, nơi có vô số bộ xương được chất thành đống. Thế Tôn hướng về các bộ xương vái lạy! Thấy thế, các đệ tử hỏi duyên cớ Thế Tôn vái lạy các bộ xương? Thế Tôn trả lời: Trong đống xương khô ấy, có thân xác nhiều đời kiếp của ta, người thân của ta..!” 

Trên đường trở về, hình ảnh những bộ hài cốt từ Nhà Mồ Ba Chúc khiến mình miên man suy nghĩ đến thân phận con người, suy nghĩ quy luật vô thường của ngũ ấm! Kết cục của một hữu tình là đâu? Mình lại thầm nghĩ, một hữu tình từ lúc sinh ra cho đến mất đi, với quãng thời gian tồn tại ngắn ngủi trong vòng trăm năm của một đời người, nếu người đó không được ánh sáng Phật pháp soi rọi, nếu không tìm thấy con đường Giác Ngộ. Cứ mải mê trôi lăn theo những quan niệm, rồi dựa vào các quan niệm ấy mà sinh tâm. Điều gì sẽ xảy ra ở cuối đoạn đường đời của họ?

Đêm đến, mình đọc được đoạn kinh sau:

  • Trích Kinh Đại Bảo Tích_Phẩm “Pháp Hội Hằng Hà Thượng Ưu Bà Di” (HT. Thích Trí Tịnh_Hán dịch Việt; Xin cảm ơn Chị Ba đã gởi đoạn kinh!!!)

“− Bạch đức Thế Tôn! Nếu tất cả các pháp như hư không, vì sao đức Thế Tôn lại nói về sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Cùng các giới (nhãn giới, nhĩ giới, tỷ giới, thiệt giới, thân giới và ý thức giới). Các xứ (sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp). Nói 12 nhân duyên, hữu lậu, vô lậu, nhiễm, tịnh, sanh tử, Niết Bàn.

− Này Ưu Bà Di (Nữ Cư Sĩ) Như nói rằng: Ngã, (lúc nói ngã ấy) dù có lời nói, mà thiệt không có ngã tướng để được. Ta nói các sắc, cũng thiệt không có sắc tướng để được. Nhẫn đến nói Niết Bàn, cũng không có Niết Bàn tướng để được!

− Nầy Ưu Bà Di! Trong pháp của ta, những người tu phạm hạnh, thấy tất cả các pháp đều vô sở đắc, mới được gọi là người chơn tu phạm hạnh. Còn những người tăng thượng mạn nói hữu sở đắc, thì chẳng gọi là an trụ chơn phạm hạnh. Người tăng thượng mạn như vậy, khi nghe pháp thậm thâm này, sanh lòng rất kinh nghi (kinh sợ và nghi ngờ). Họ chẳng thể giải thoát ra khỏi sanh, lão, bịnh, tử ưu bi khổ não!”  

Các bạn! ...  Đoạn kinh trên giúp chúng ta nhìn ra ý vị thâm u. Thấu suốt đoạn kinh này, nhất định những u tối từ ba cõi (hữu) vĩnh viễn sẽ không còn, từ đây thật nghĩa của đạo pháp là gì? Sẽ như trái “a ma lặc” trong lòng bàn tay! Cảm kích trước những lời lẽ thâm diệu, cảm kích trước thiệt nghĩa từ lời kinh, cảm kích về sự khác biệt không thể nghĩ bàn giữa kinh bất liễu nghĩa và kinh liễu nghĩa. Mình có một số câu hỏi sau:  (03-11-2018)     

  • CÂU HỎI TCTT 2018/12.1 – Luận Về… “Thật Nghĩa của Đạo Pháp”

1) Thiệt nghĩa của đoạn kinh đã trích ở trên, Phật dạy chúng ta phải tu tập như thế nào, khi đối trước các uẩn, xứ, giới, nhiễm, tịnh, hữu lậu, vô lậu, v.v...

2) Thành tựu “chơn phạm hạnh” được nêu trong đoạn kinh, khác biệt với phạm hạnh (không chơn thiệt) mà người “không giác ngộ” thường hiểu ở điểm nào? Xin cho ví dụ minh hoạ?

3) “Này Ưu Bà Di (Nữ Cư Sĩ)! Như nói rằng: Ngã, (lúc nói ngã ấy) dù có lời nói, mà thiệt không có ngã tướng để được. Ta nói các sắc cũng thiệt không có sắc tướng để được. Nhẫn đến nói Niết Bàn, cũng không có Niết Bàn tướng để được!” Từ đoạn kinh đã trích, bạn hãy cho một ví dụ thật cụ thể, để người đọc nhân đó, nhìn thấu những lời lẽ sâu kín của đoạn kinh?

4) Theo bạn, giả sử toàn bộ đoạn trích “Pháp Hội Hằng Hà Thượng Ưu Bà Di” ở trên là lời dạy bất liễu nghĩa (không liễu nghĩa) thì, Phật sẽ dạy người tu hành làm như thế nào khi đối trước uẩn, xứ, giới, nhiễm, tịnh, hữu lậu, vô lậu, v.v... (Chỉ cần mô tả sơ lược cách dạy).

5) Vì sao những người “tăng thượng mạn” (chưa chứng nói chứng, chưa giác ngộ mà tự cho đã giác ngộ). Khi nghe đoạn kinh trên, lại sinh lòng rất kinh nghi? Hãy nêu rõ, họ kinh nghi điều gì?

Rất mong, nhận được những kiến giải thâm diệu từ Các bạn! ...

GỢI Ý... TCTT 2018/12.1 – Luận Về… “Thật Nghĩa của Đạo Pháp”

Các bạn! ...  Khi gởi đoạn kinh và đặt câu hỏi, mình biết rằng, ý nghĩa lời kinh cũng như các câu hỏi, có thể làm khó một số HĐ, nhưng cũng sẽ có một số HĐ hoan hỉ, điều này cũng không có gì là lạ. Vì bởi, thời gian tu tập, mức độ thấm nhuần giáo pháp trong HĐ chúng ta không đồng nhất, có người đã trải qua thời gian tu tập rất dài, có người mới đến với Lý Gia. Tuy nhiên, theo mình, điều này không phải là trở ngại lớn, chỉ cần chúng ta vạch ra con đường đúng, có phương pháp tốt, sức tinh tấn mạnh, một thời gian ngắn, khoảng cách mới và cũ nhất định sẽ được san bằng. Kinh nghiệm đã qua, cho chúng ta thấy điều này rất rõ!

Thời gian vừa rồi, các đề tài: “Thế gian, xuất thế gian”, “tứ y tứ bất y”, “hữu vi vô vi” được triển khai. Mỗi đề tài, mình cố gắng đào sâu và nhấn mạnh những điều cốt lõi của nó. Việc làm này, nhằm giúp các bạn hiểu ra sự khác biệt giữa “Tâm tông” và “Giáo tông”, hiểu ra sự khác biệt giữa phương tiện và cứu cánh, khác biệt giữa cứu cánh và tất cánh, khác biệt giữa quyền tiểu và trực chỉ, khác biệt giữa kinh liễu nghĩa và kinh bất liễu nghĩa. Từ đó, các bạn có thể nhận biết, đâu mới thật sự là tinh hoa của giáo pháp, Phật pháp đích thực là gì? Có thể nhập được các nghĩa này, thành tựu của các bạn, mới trở thành “chơn phạm hạnh”!

Nếu như, năm giai đoạn đi tìm một cái lõi cây đích thực được nêu trong kinh Đại Thí Dụ Lõi Cây, giảng nói cho Nhị Thừa, được coi là “mục tiêu của phạm hạnh” thì, các kinh liễu nghĩa, mà cụ thể đoạn kinh đã gởi đến các bạn, chính là công cụ sắc bén, giúp người tu hành, biến cái lõi cây đã tìm trở thành vật phẩm vô giá, gọi là “chơn phạm hạnh”. Mặt khác, khi đã biết cách biến “lõi cây phạm hạnh” trở thành “chơn phạm hạnh”. Với năng lực trực chỉ, với sự thấu triệt đâu là cứu cánh đâu là tất cánh, với tinh hoa giáo pháp đã tiếp nhận, người tu hành lần lượt sẽ ngộ ra, cành lá, vỏ ngoài, vỏ trong, giác cây hay lõi cây... tất cả những thứ ấy đều là vật phẩm vô giá, chứ không riêng gì lõi cây!

Có thấu suốt như thế, chúng ta mới thấy, giá trị khác biệt giữa tâm tông và giáo tông, giữa phương tiện và trực chỉ, giữa bất liễu nghĩa và liễu nghĩa, giữa cơ bắp và trí tuệ là không thể tính đếm!

Các bạn! ...  Mục tiêu tối hậu của Phật đạo, không gì khác hơn là, xây dựng cho bằng được một “nhãn quan chân thiệt tối thượng”.  Chính nhãn quan chân thiệt tối thượng, là thứ nhãn quan giúp người tu hành thấy được “thật tướng của vạn pháp”. Có thấy được thật tướng vạn pháp, mới biết rằng, những thấy biết hư vọng từ các loại nhãn quan hư vọng, là không thể được (bất khả đắc). Giống như một người sáng mắt, biết chắc rằng tất cả ngọn đèn trên cõi thế này, thật sự không có quầng và vĩnh viễn không có quầng.

Điều này, chỉ ra khác biệt rất lớn đối với những người mắt nhặm, với họ, nhìn đâu cũng thấy đèn có quầng, và họ luôn đoan chắc rằng “đèn kia có quầng”, đèn có quầng là sự thật hiển nhiên của người mắt nhặm! Với chơn thiệt tối thượng nhãn: Cành lá, vỏ ngoài, vỏ trong, giác cây, lõi cây đều “vô sở đắc”. Những thứ ấy, giống như màu sắc hiện ra từ cái quầng đèn, tuy người mắt nhặm có thấy, nhưng ở đó chơn thiệt chỉ là hư không. Đã là hư không thì, cái gì là sắc màu xanh đỏ. Nếu có ai đó cho rằng, tự thân có thể sở đắc những sắc màu xanh đỏ ấy, phải chăng đối với người mắt sáng, đây là biểu hiện không bình thường, biểu hiện của sự điên rồ tột độ! Giá trị giữa phạm hạnh và chơn phạm hạnh là gì? Chắc giờ này các bạn không còn thắc mắc!

Mọi thứ nhãn quan, đều bắt nguồn từ nhận thức, nhận thức thế nào, cho ra nhãn quan thế ấy, nhãn quan là biểu hiện chính của trí tuệ! Đạo Phật là đạo trí tuệ, tu tập trong Phật đạo là quá trình tăng ích trí tuệ, muốn trí tuệ tăng ích phải thay đổi nhận thức, nhận thức thay đổi nhãn quan thay đổi. Điều này giống như một người mù được chữa trị đúng cách, từ mù loà đến sáng ra, từ sáng ra đến sáng tỏ, từ sáng tỏ đến cực sáng. Cực sáng, mới là mục tiêu cuối cùng của việc chữa trị đôi mắt. Phật pháp, chính là thứ thuốc chữa mắt cho những chúng sinh mù loà (vô minh)! Từ mù loà đến cực sáng, quá trình này chỉ ra rằng, vì sao cùng một Phật đạo, mà lại có đến ba thừa. Từ đó, chúng ta có thể nhận biết sự khác biệt giữa nhục nhãn, thiên nhãn, pháp nhãn, huệ nhãn và Phật nhãn là như thế nào. Và cũng nhận biết, nhãn quan nào, mới là cái thấy cuối cùng của Phật đạo! Vừa rồi, mình có đọc được:

  • Đoạn kinh Pháp Hội Thiện Đức Thiên Tử (Trích kinh Đại Bảo Tích, Phẩm Pháp Hội Thiện Đức Thiên Tử; HT. Thích Trí Tịnh _Hán dịch Việt) như sau: 

“Tôi nghe như vầy!

Một lúc, đức Phật tại nước Xá Vệ, vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo hơn một ngàn người, mười ngàn Đại Bồ Tát, với Thiện Đức Thiên Tử đồng ở trong pháp hội đó...

Bây giờ, Thế Tôn bảo Văn Thù Sư Lợi Đại Bồ Tát: Ông nên vì chư Thiên đại chúng và các Bồ Tát mà diễn nói cảnh giới thậm thâm của Chư Phật!

Văn Thù Sư Lợi bạch: Xin vâng, bạch Thế Tôn!!! Nếu người tu hành muốn biết cảnh giới Phật, thì nên biết rằng, cảnh giới thậm thâm của Chư Phật, chẳng phải cảnh giới (được thành tựu) bởi nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý... Cũng chẳng phải cảnh giới (được thành tựu) bởi sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Bạch Thế Tôn! Phi cảnh giới (không phải vô, bất, ly cảnh giới) là cảnh giới thậm thâm! Vì thế, xin Thế Tôn giảng nói, Vô Thượng Bồ Đề (nhãn quan tối thượng) hình thành do những thấy biết (nhận thức) nào?

  • Đức Phật nói:

− Không cảnh giới: Vì các kiến bình đẳng!

− Vô tướng cảnh giới: Vì các tướng bình đẳng!

− Vô nguyện cảnh giới: Vì tam giới bình đẳng!

− Vô tác cảnh giới: Vì hữu tác bình đẳng!

− Vô vi cảnh giới: Vì hữu vi bình đẳng!

Văn Thù Sư Lợi hỏi: Bạch Thế Tôn, những gì là vô vi cảnh giới?

  • Đức Phật nói: Vô niệm là vô vi cảnh giới!

   ... ... ...

  • Đức Phật hỏi Văn Thù: Theo ông, cảnh giới chư Phật, nên cầu ở đâu?

Bạch Thế Tôn: Cảnh giới chư Phật, chỉ cầu ở trong phiền não của tất cả chúng sanh! Vì sao? Vì phiền não của chúng sanh bất khả đắc! Đây chẳng phải chỗ biết (nhận thức) của Thanh Văn, Duyên Giác!”

Đoạn kinh được trích ở trên cho chúng ta thấy rõ cảnh giới thậm thâm của chư Phật và những tính chất đặc trưng của cảnh giới đó. Cũng từ đoạn kinh này, chúng ta biết được, thế nào là hữu vi, thế nào là vô vi... Đường đi của hữu niệm và đường đi của vô niệm. Ở đây giúp chúng ta nhận ra, trung đạo không phải con đường ở giữa đối với hai bên là hữu và vô. Nó lại càng không phải, con đường được làm thành bởi trung bình cộng của hai pháp hữu vô. Bài kinh còn giúp chúng ta nhận ra thật nghĩa phiền não của tất cả chúng sanh. Và, cũng nhận ra, nhãn quan tối thượng của chư Phật đối với các nghĩa: “Không, vô tướng, vô nguyện, vô tác, vô vi”. “Vô niệm là vô vi”. Một khái niệm mới được nêu lên!

Trong khái niệm mới này, vô niệm chẳng phải là không niệm, mà vô niệm chính là sự thấu suốt (nhận thức như pháp) tất cả hữu vi bình đẳng... Do nhận thức tất cả hữu vi bình đẳng nên không niệm hữu, cũng chẳng niệm vô. Không niệm hữu, chẳng niệm vô, gọi là “rốt ráo vô”. Đây chính là mấu chốt của vấn đề!

Các bạn! ...  Vì sao người tu hành nên y kinh liễu nghĩa không y kinh bất liễu nghĩa, có lẽ bây giờ các bạn đã hiểu. Sự khác biệt giữa kinh liễu nghĩa và kinh bất liễu nghĩa như thế nào, chắc các bạn không còn mơ hồ. Và, đâu mới là phương cách đích thực, là phép tắc tu hành trọng yếu của Phật đạo có lẽ các bạn không còn nhầm lẫn. Có biết chắc, có hiểu rõ, có không nhầm lẫn... mới giúp các bạn vững tin, mạnh chân, bước trên con đường mình đã chọn. “Vô vi, vô niệm, vô sở đắc, chơn phạm hạnh, tối thượng nhãn...”.  Tên gọi của những bến đỗ hạnh phúc.  Nhất định HĐ chúng ta sẽ đến đó!  (05-11-2018)

Câu hỏi đợt này mình nghĩ là những câu hỏi thuộc loại khó, rất ít HĐ trả lời đúng. Thực tế trái ngược, tính đến hiện tại, các vị HĐ của chúng ta tham gia, đều trả lời tốt các câu hỏi đặt ra. Điều này cho thấy rằng, các bạn đã hiểu thế nào là đạo xuất thế, cũng như đạo quả vô vi là gì. Nhưng, khi đọc kĩ các câu trả lời, trong cách trình bày của các bạn, mình có cảm giác chưa thật sự vượt thoát, có chút gì đó máy móc. Nói khác hơn, hình như các bạn thiếu tự tin trong cách trình bày, điều này dẫn đến cái oai phong, cái sừng sững của đại thừa hình như còn tận...trên...mây, chưa hề hạ... thế!...  Mình có liên tưởng ngộ ngộ, giống như một mãnh tướng lẫm liệt ở chốn sa trường, nhưng lại khép nép, lí nhí khi đối diện với “bà mẹ vợ tương lai”!

Thứ nữa! Sự khác biệt cụ thể giữa kinh liễu nghĩa và kinh bất liễu nghĩa, nhiều bạn còn mơ hồ, chưa thật sự nhận biết. Vì thế, đã có sự nhầm lẫn khi trả lời câu hỏi thứ tư! Nói chung, đọc trả lời của các bạn, như lời tâm sự của Tâm Pháp trong trả lời lần trước là: “Tâm và trí chưa theo kịp nhau. Có cảnh giới tâm chứng, nhưng trí không mô tả được. Có cảnh giới trí chứng, nhưng tâm lại ù lì”.

Mình rất mong nhận được những câu trả lời vừa đầy đủ ý vị, vừa vượt thoát vừa mang dáng dấp sừng sững của ngọn núi đại thừa. Một cách trả lời như thế nào mà, khi đọc lên, người đọc cảm giác đang tận hưởng ngọn gió giải thoát, nhưng không thiếu dũng mãnh của tiếng gầm sư tử chúa, trong đó hiển hiện vẻ đẹp lung linh làm nổi bật những gì tinh hoa nhất của đại thừa pháp, khiến người phải “tâm phục khẩu phục”! Các bạn thử suy ngẫm, văn phong đại thừa khác văn tự thế tục là ở chỗ nào?   (06-11-2018)

Nếu chỉ viết một cách hời hợt, viết để có viết, không đầu tư, không nỗ lực, viết mà không nghĩ đến cảm nhận người đọc thì, bài viết nhất định sẽ khó đạt yêu cầu! Hiểu đúng là một chuyện, trình bày cái hiểu của mình là một chuyện, trình bày để người đọc (người nghe) cảm nhận tốt, cũng như chấp nhận điều mình trình bày lại là một chuyện khác. Muốn có bài viết đạt yêu cầu, công tác chuẩn bị (kiến thức, nội dung, cách trình bày) trước khi viết là không thể thiếu. Sau khi viết, việc đọc lại thật kĩ, tự đánh giá, sửa chữa những bất hợp lí, hoàn thiện các lập luận chưa hoặc thiếu thuyết phục là việc làm quan trọng trước khi gởi đi nếu muốn những gì mình trình bày được người đọc đồng thuận!

Trong Bồ Tát đạo, ngoài việc thấm nhuần giáo pháp, việc học tập văn chương, triết lí, khoa học, v.v... của thế tục cũng quan trọng không kém. Vì rằng, muốn rộng đường giáo hoá, Bồ Tát phải am tường ngũ minh. Ngũ minh gồm: Nội minh, ngoại minh, y phương minh, công xảo minh và thanh minh. Trong đó, ngoại minh và thanh minh liên hệ trực tiếp đến năng lực trao đổi, viết lách. Vì thế, đọc tụng, tập viết, tập trình bày là những việc làm hầu như thường xuyên đối với những người học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo. Khi viết, nói... chú ý đến cảm nhận của người nghe, (người đọc) sẽ giúp ta dần dần hoàn thiện kĩ năng truyền đạt. Các bạn thử tưởng tượng, khi các bạn đọc một bài văn, hay nghe ai đó trả lời, hoặc giải thích những điều của Phật đạo, mà ý tứ lộn xộn, văn chương rề rà, thiếu mạch lạc, lập luận không sắc bén, cở sở thiếu thuyết phục thì, nhất định các bạn sẽ khó có thể tiêu hoá nổi bài viết hay cuộc trao đổi ấy!

Mỗi lần đọc trả lời của các bạn, mình luôn mang hai tâm trạng, đó là “vừa mừng lại vừa lo”. Mừng vì, các bạn thấy được điều cần thấy của giáo pháp. Lo vì, với những gì được các bạn trình bày, đọc lên là nó cứ “anh ách” trong bụng. Nếu mãi như thế này, nếu các bạn không tự thay đổi thì, khái niệm “người già chỉ là đứa bé nhiều tuổi” đang rất...rất...đúng!  (07-11-2018)

Mình dự tính nhận thêm một số trả lời nữa sẽ viết luôn một thể cho HĐ. Nhưng sau khi đọc trả lời của Tịnh Hiền và của Chị Hoan, mình không thể không viết điều gì đó để tán thán hai vị HĐ này. Đúng là hai vị nữ lưu đương thời! Danh xưng Lý Nữ Phương Danh đối với hai vị HĐ này thiệt không uổng! Mình rất muốn, ngay từ bây giờ, chuyển trả lời của hai vị HĐ này đến mọi người, để tất cả HĐ chúng ta cùng thưởng thức (cách trả lời mà theo mình, khó có những trả lời nào hay hơn được, xét cả văn phong lẫn ý nghĩa!). Nhưng, mình dừng lại. Vì đáp án không được phép tiết lộ khi thời gian trả lời của HĐ vẫn còn!  (09-11-2018)

Các bạn! ...  Đọc trả lời mình nhận thấy HĐ chúng ta phần lớn hiểu rất rõ ý nghĩa đoạn kinh đã trích, cũng như cách thức ứng dụng vào thực tế tu tập! Điều này cho thấy, sau thời gian dài thâm nhập giáo pháp ba thừa. Giờ đây, mọi người có thể vững vàng bước đi trên con đường Nhất thừa, hưởng dụng lợi ích thật sự từ các lời kinh liễu nghĩa. Để có thể thâm nhập Nhất thừa đạo, con đường duy nhất chảy ra biển Đại Giác. Từ đây, các dòng sông ba thừa, sẽ không còn tính chất cũng như tên gọi riêng lẻ. Mà, những cái được gọi là riêng đó, phải hoà nhập vào cái chung của dòng chảy Nhất thừa, chuẩn bị đón nhận vị chung của biển lớn. Biển lớn đó chính là biển Đại Giác, nói khác hơn, biển Đại Giác chính là trí tuệ tối thượng của chư Phật!

  • Tính chất đặc trưng của ba thừa là, có tu, có chứng, có đắc. Tức, có Khổ để hết, có Tập để dứt và có Diệt để chứng! Chừng nào thật sự chứng Diệt đế, ở nơi ấy, người tu hành “lặng lẽ quan sát”, thẩm xét bổn tâm, mới chợt nhận ra: “Nơi đây bổn lai chẳng hề có Khổ, có Tập, có Diệt”, chỉ vì một niệm mê, bỗng dưng thấy có đây kia. Giống như người ngủ chiêm bao, thấy mình đang dùng thuyền bơi qua biển lớn, giậc mình thức giấc, mọi thứ đều không!

  • Điều này kinh Lăng Già gọi là “mộng qua sông đã tỉnh”, Bát Nhã Tâm Kinh nói rằng “vô khổ tập diệt đạo, vô trí diệc vô đắc”. Lục Tổ sau khi giác ngộ, cũng nói rằng“bổn lai vô nhất vật, hà xứ nhá trần ai”. Tinh thần vô niệm, vô sở đắc của kinh liễu nghĩa, chính là chân thật ngữ, đây là lời chơn thật của Đức Phật!

Tuy là lời chơn thật, nhưng nó cũng chỉ có thể nói với những ai đã thức giấc sau đêm dài chiêm bao ba cõi. Đó chính là cái thấy “đèn không quầng” của người không nhặm mắt! Tất nhiên, thấy biết của người đã thức giấc, của người không nhắm mắt chẳng thể là sự thật đối với người còn chiêm bao, còn đau mắt! Đến đây, có lẽ mọi người đã hiểu ra, vì sao Kinh Pháp Hoa lại nói rằng ba thừa không thật, hay không có hai hay ba thừa mà chỉ có một Phật thừa. Kinh Niết Bàn Phật dạy đại ý: “Biển Đại Giác sâu không cùng tận, sâu không tới đáy!” Nay chúng ta đã đến cửa biển Nhất thừa, để có thể hoà cùng biển lớn, để có thể biết được biển Đại Giác sâu đến đâu, chắc hẳn chúng ta phải vượt qua một hành trình trước mắt không hề đơn giản, cộng với các kĩ năng cần có của một thợ lặn chuyên nghiệp. Trong thời gian tới, chúng ta sẽ thực hiện những điều trên!

  • Theo mình, toàn bộ những câu trả lời của HĐ chúng ta đều là các tư liệu hữu ích, như mình từng nói: “Chúng ta học tất cả, sự học không bao giờ thừa! Hay cũng học mà dở cũng học! Xấu cũng học mà tốt cũng học! Học để hoàn thiện bản thân! Học cái hay để ta phát huy! Học cái dở để ta né tránh!” Nếu các bạn đọc kĩ, so sánh, đối chiếu, thẩm định, v.v... Các bạn có thể rút ra rất nhiều bài học quý báu như: Văn phong, cách trả lời, ý nghĩa, điều hay, điều dở, v.v... Rất sinh động, “Ất, giáp, bính, đinh, mậu, kĩ... Thiên can, địa chi, ngũ hành, bát quái...” không thiếu món nào! ... Xin gởi đến HĐ tham khảo các trả lời tiêu biểu.

(Tham khảo) CẢM NHẬN TCTT 2018/12.1 – Luận Về… “Thật Nghĩa Của Đạo Pháp”

(01) Cảm Nhận TCTT 2018/12.1− Luận Về... “Thật nghĩa...” (Lý Anh Lạc)

Kính Thầy! Con xin trả lời các câu hỏi như sau:

  • Trả lời câu hỏi 1: Thưa Thầy! Thật nghĩa của đoạn kinh đã trích ở trên, Phật dạy chúng ta khi đối trước uẩn, xứ, giới, nhiễm, tịnh, hữu lậu, vô lậu... Chỉ nên vô niệm, vô sở đắc. Vì sao chỉ nên vô niệm, vô sở đắc? Vì thật tướng tất cả các pháp, uẩn, xứ, giới… hữu lậu, vô lậu. Vốn bình đẳng, không tướng, không tánh, nên không thể niệm, càng không thể sở đắc.

  • Trả lời câu hỏi 2: Thưa Thầy! Phạm hạnh của người chưa giác ngộ, khác chơn phạm hạnh của người giác ngộ ở các đặc điểm:

− Người chưa giác ngộ còn thấy: Có uẩn, xứ, giới, nhiễm, tịnh, v.v... để tu, để diệt, để niệm, để chứng. Cụ thể, có pháp bất tịnh để từ bỏ, có pháp tịnh để sở đắc. Có hữu lậu tâm để tịch diệt, có vô lậu tâm để thành tựu. Có hữu vi cùng vô vi sai khác, v.v... Hay khác hơn, còn bỏ đây lấy kia, chưa thấu suốt thật nghĩa bình đẳng, gọi là người “chẳng an trụ chơn phạm hạnh”.

− Người đã giác ngộ nhận ra rằng: Các pháp như uẩn, xứ, giới, nhiễm, tịnh, hữu lậu, vô lậu. Tự nó bình đẳng. Vì bình đẳng nên vô niệm, vì vô niệm nên vô sở đắc, vì vô sở đắc nên vô vi, vô tác, vô nguyện. Thấu suốt như vậy, gọi là “chơn phạm hạnh”.

Ví dụ: Để minh hoạ sự khác biệt giữa “hữu vi phạm hạnh và vô vi phạm hạnh”. Hai đoạn kinh được trích sau, sẽ cho chúng ta thấy, một bên phải “lập niệm” tại bốn xứ thân, thọ, tâm, pháp để “có tri, có kiến, có minh, có đạt...”  Một bên, nhờ “vô niệm” nên các uẩn, xứ, giới...  bình đẳng, vô niệm, vô vi...

  • Kinh giáo Bồ Tát vô niệm (thành tựu vô vi phạm hạnh):

 “...Văn Thù Sư Lợi bạch: Xin vâng, bạch Thế Tôn! Nếu người tu hành muốn biết cảnh giới Phật, thì nên biết rằng, cảnh giới thậm thâm của Chư Phật, chẳng phải cảnh giới (được thành tựu) bởi nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý... Cũng chẳng phải cảnh giới (được thành tựu) bởi sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp.

Bạch Thế Tôn! Phi cảnh giới (không phải vô, bất, ly cảnh giới) là cảnh giới thậm thâm! Vì thế, xin Thế Tôn giảng nói, Vô Thượng Bồ Đề (nhãn quan tối thượng) hình thành do những thấy biết (nhận thức) nào? Đức Phật nói: 

- Không cảnh giới: Vì các kiến bình đẳng!

- Vô tướng cảnh giới: Vì các tướng bình đẳng!

- Vô nguyện cảnh giới: Vì tam giới bình đẳng!

- Vô tác cảnh giới: Vì hữu tác bình đẳng!

- Vô vi cảnh giới: Vì hữu vi bình đẳng!

Văn Thù Sư Lợi hỏi: Bạch Thế Tôn: Những gì là vô vi cảnh giới?

Đức Phật nói: Vô niệm là vô vi cảnh giới!

                 ............   (Trích Pháp Hội Thiện Đức Thiên Tử)

  • Kinh giáo Nhị thừa hữu niệm (thành tựu hữu vi phạm hạnh):

“Tôi nghe như vầy!

Một thời Đức Phật du hóa tại Câu-lâu-sấu, ở Kiếm-ma-sắt-đàm, một đô ấp của Câu lâu. Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo: “Có một con đường tịnh hóa chúng sanh, vượt qua lo sợ, diệt trừ khổ não, chấm dứt kêu khóc, chứng đắc Chánh pháp. Đó là Bốn niệm xứ.

“Bốn niệm xứ là những gì? Đó là, quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán tâm trên tâm và quán pháp trên pháp.

 “Thế nào gọi là niệm xứ quán thân trên thân?...  “Tỳ-kheo khi đi thì biết mình đi, đứng thì biết mình đứng, ngồi thì biết mình ngồi, nằm thì biết mình nằm, ngủ thì biết mình ngủ, thức thì biết mình thức, ngủ say thì biết mình ngủ say. Tỳ-kheo như vậy, quán nội thân như thân; quán ngoại thân như thân; lập niệm tại thân, có tri, có kiến, có minh, có đạt. Như vậy gọi là Tỳ-kheo quán thân trên thân.

“Thế nào gọi là niệm xứ quán thọ trên thọ? ... Tỳ-kheo khi thọ nhận cảm giác lạc liền biết đang thọ nhận cảm giác lạc, khi thọ nhận cảm giác khổ liền biết đang thọ nhận cảm giác khổ, khi thọ nhận cảm giác không lạc không khổ liền biết đang thọ nhận cảm giác không lạc không khổ. Khi thân thọ nhận cảm giác lạc, thân thọ nhận cảm giác khổ, thân thọ nhận cảm giác không lạc không khổ; khi tâm thọ nhận cảm giác lạc, tâm thọ nhận cảm giác khổ, tâm thọ nhận cảm giác không lạc không khổ; cảm giác lạc khi ăn, cảm giác khổ khi ăn, cảm giác không lạc không khổ khi ăn; cảm giác lạc khi không ăn, cảm giác khổ khi không ăn, cảm giác không lạc không khổ khi không ăn; cảm giác lạc khi có dục, cảm giác khổ khi có dục, cảm giác không khổ không lạc khi có dục; cảm giác lạc khi không có dục, cảm giác khổ khi không có dục, cảm giác không lạc không khổ khi không có dục. Tỳ-kheo như vậy, quán nội thọ như thọ, quán ngoại thọ như thọ, lập niệm tại thọ, có tri, có kiến, có minh, có đạt. Như vậy gọi là Tỳ-kheo quán thọ trên thọ.

“Thế nào gọi là niệm xứ quán tâm trên tâm? ... Tỳ-kheo có tâm tham dục thì biết đúng như thật có tâm tham dục, có tâm vô dục thì biết đúng như thật là có tâm vô dục. Khi có sân hay không sân, có si hay không si, có ô uế hay không ô uế, có hợp hay có tan, có thấp hay có cao, có nhỏ hay có lớn; tụ hay không tụ, định hay không định, giải thoát hay không giải thoát. Cũng như vậy, có tâm giải thoát thì biết đúng như thật có tâm giải thoát; có tâm không giải thoát thì biết đúng như thật là có tâm không giải thoát. Tỳ-kheo như vậy, quán nội tâm như tâm, lập niệm tại tâm, có tri, có kiến, có minh, có đạt. Như vậy là Tỳ-kheo quán tâm trên tâm.

“Thế nào gọi là niệm xứ quán pháp trên pháp? ... Khi con mắt duyên sắc, sanh nội kết, nếu Tỳ-kheo bên trong thật có kết thì biết đúng như thật là bên trong có kết; bên trong thật không có kết thì biết đúng như thật là bên trong không có kết. Nội kết chưa sanh, bây giờ sanh, biết đúng như thật. Nội kết đã sanh và được đoạn trừ, không sanh lại nữa, biết đúng như thật. Với tai, mũi, lưỡi, thân và ý cũng giống như vậy. Khi ý duyên pháp, sanh nội kết, nếu Tỳ-kheo bên trong thật có kết thì biết đúng như thật là bên trong có kết, bên trong không có kết thì biết đúng như thật là bên trong không có kết, nội kết chưa sanh bây giờ sanh; biết đúng như thật nội kết đã sanh và đã được đoạn trừ, không sanh lại nữa, biết đúng như thật. Tỳ-kheo như vậy quán nội pháp đúng như pháp, quán ngoại pháp đúng như pháp, lập niệm tại pháp, có tri, có kiến, có minh, có đạt. Như vậy gọi là Tỳ-kheo quán pháp trên pháp, nghĩa là quán sáu xứ bên trong...”  (Trích kinh Tứ Niệm Xứ)

  • Trả lời câu hỏi 3: Thưa Thầy! Để có một ví dụ, nhằm minh hoạ giúp đoạn kinh trên trở nên dễ hiểu. Theo con, có lẽ không một ví dụ nào tuyệt vời hơn câu chuyện về“cái quầng đèn của người nhặm mắt” cùng hình ảnh “sừng thỏ lông rùa”. Câu chuyện cái quầng đèn và hình ảnh sừng thỏ, lông rùa... mô tả rõ nét, đầy đủ nhất về thật nghĩa hữu vi tướng và vô vi cảnh giới. Người đọc, có thể nhân đây hiểu được thâm ý lời Phật.

  • Trả lời câu hỏi 4: Thưa Thầy! Theo con, bài kinh Tứ Niệm Xứ được trích dẫn ở trên, mô tả cụ thể nhất cách thức người tu hành (chưa giác ngộ) phải làm thế nào khi đối trước uẩn, xứ, giới, v.v... trên tinh thần kinh bất liễu nghĩa.

  • Trả lời câu hỏi 5: Thưa Thầy! Vì đoạn kinh trên nói về cảnh giới thậm thâm của chư Phật, của chơn phạm hạnh. Tức cảnh giới vô vi, rốt ráo không, các kiến bình đẳng, các tướng bình đẳng. Cho nên, những người tăng thượng mạn (chưa chứng nói chứng) sẽ vô phương hiểu được, họ không thể tin cảnh giới thậm thâm của chư Phật là như vậy. Vì thế, họ kinh sợ và nghi ngờ là điều đương nhiên... Thưa Thầy! Kính Thầy chỉ dạy thêm cho con. Con kính lễ Thầy ba lạy. Con, Lý Anh Lạc (Tịnh Hiền)

(02) Cảm Nhận TCTT 2018/12.1 - Luận Về... "Thật Nghĩa..." (Lý Ngọc Hỷ)

Kính Bạch Thầy! Con xin thành kính đảnh lễ Thầy ba lễ. Kính HĐTM! Con xin được kiến giải các câu hỏi của TCTT 2018/12.1:

  • Trả lời câu hỏi 1: Thưa Thầy! Thiệt nghĩa của đoạn kinh đã trích ở trên, Phật dạy chúng ta tu tập theo cảnh giới "Vô Niệm" của đạo "Nhất Thừa". Trong cảnh giới này, khi đối trước các uẩn, xứ, giới, nhiễm, tịnh, hữu lậu, vô lậu, v.v... thấy tất cả các pháp đều “Bình Đẳng". Vì bình đẳng nên "Hữu Vi, Vô Vi" không hai, tức hữu vô không phải là hai pháp sai biệt. Do hữu vô không sai biệt, cho nên người tu hành thấy được “Thiệt Tướng”, thấy thiệt tướng sẽ “không bỏ hữu cầu vô”, vì thế thành tựu "Vô Niệm”, cảnh giới này tạm gọi là “Vô Vi ". 

  • Trả lời câu hỏi 2: Thưa Thầy! Người thành tựu “chơn phạm hạnh” trong đoạn kinh trên, là người thấy rõ tất cả pháp bình đẳng, vô sở cầu, vô sở đắc, lấy "Vô Niệm" làm “Tông”, "Vô Tướng” làm “Thể” và “Trụ” nơi "Vô Sở Trụ". Có nói ra điều gì, cũng vì an vui của hữu tình, như tiếng vọng từ hang núi, không năng thuyết, không sở thuyết. Người không giác ngộ, với phạm hạnh “chưa chơn thiệt” còn có “sở cầu”, tức phải nương vào các pháp để tu, còn có “sở đắc”, tức còn thấy có tu, có chứng, có đắc.

Đối với người đã giác ngộ chơn thiệt, thấy rằng: "Cuộc đời chỉ là một vở tuồng, nhập vai diễn như thế nào… diễn ra sao… cũng vì an vui của chúng sanh… ". Với người không giác ngộ, thì ngược lại: “Họ là vai diễn, vai diễn là họ, không tự thoát ra khỏi những hư vọng của sân khấu cuộc đời”.

  • Trả lời câu hỏi 3: Thưa Thầy! Theo nhận thức của con, lời Phật dạy ở đoạn kinh trên, Phật nói về Ngã, về Sắc, về Niết Bàn… là vì chúng sanh đang vướng mắc trong tâm, Phật nương theo những văn tự (ngã, sắc, … niết bàn...) này để chỉ cho chúng hữu tình thấy, đó cũng chỉ là quan điểm, quan niệm, khái niệm… do “thức mê” sinh ra (sinh Pháp) khi có sự phân biệt. Quan điểm, quan niệm, khái niệm (các pháp) … không tướng, không tánh, không có thực, nên vô sở cầu và cũng vô sở đắc. Ví dụ: Ngoài 5 đại là địa đại, thuỷ đại, phong đại, hoả đại và không đại. Chúng hữu tình còn có thêm hai đại là thức đại và kiến đại. Nhờ đó chúng hữu tình mới có đủ điều kiện để học tập và tu hành.

− Thế giới vô tình (5 đại) như cỏ cây hoa lá, bình, bàn, nhà cửa, v.v... bản nhiên không có và cũng không bao giờ nói “mình có tánh, có tướng”, vì “vô tình” không có thức đại và kiến đại.

− Hữu tình (7 đại) khi bất giác khởi lên, tâm thức chạy theo trần cảnh, thế giới “đang không tánh, không tướng” chuyển thành “có tánh, có tướng”, đem nhà cửa, xe cộ, tiền bạc, v.v... vào tâm, để thấy đúng sai, phải trái, đẹp xấu, hơn thua... sinh pháp, sinh tâm biến “hữu tình” trở thành “chúng sanh”, trôi lăn trong ba cõi khổ.

Ở trong ba cõi khổ, chúng sanh muốn tìm đường thoát ra, lại bám víu vào ngã, sắc, niết bàn... để tu. Phật chỉ rõ, cách chúng sanh đang tu là bỏ cái khổ này để lấy cái khổ khác, mới chỉ ra rằng, ngã, sắc, niết bàn... đó cũng chỉ là quan điểm, quan niệm do (thức) sinh pháp mà ra. Khi nào tâm thức thấy biết (các pháp) ngã hay vô ngã, sắc hay vô sắc, niết bàn hay địa ngục đều “Bình Đẳng”, không thể sở đắc. Lúc này “hành tâm” dừng, Tâm không còn một niệm khởi lên, tạm gọi là “Vô Niệm”, cảnh giới “Vô Lậu” sẽ hiện. Như lời Phật dạy: “…Trong pháp của ta, những người tu phạm hạnh, thấy tất cả các pháp đều vô sở đắc, mới được gọi là người chơn tu phạm hạnh”  

  • Trả lời câu hỏi 4: Thưa Thầy! Theo con, giả sử toàn bộ đoạn kinh trích trong Pháp Hội Hằng Hà Thượng Ưu Bà Di ở trên, nếu là lời dạy “bất liễu nghĩa”, khi đối trước uẩn, xứ, giới, nhiễm, tịnh, hữu lậu, vô lậu, v.v... tùy theo căn cơ của người cầu pháp, Phật sẽ có cách dạy phù hợp đưa người đến Giác Ngộ, Giải Thoát.

− Đối với người tu hạnh Thanh văn, Phật sẽ dạy yểm ly, lấy “Thân” làm đối tượng chính. Do yểm ly triệt để, vị ấy thoát khỏi ràng buộc của ba cõi, chứng quả A La Hán.

- Đối với người tu hạnh Duyên Giác, Phật dạy nương vào mười hai nhân duyên, quán “Thọ” để cắt một duyên trong 12 nhân duyên, thoát ra khỏi luân hồi sanh tử khổ, chứng Bích Chi Phật.

- Đối với người tu hạnh Bồ Tát (Quyền thừa), Phật dạy không sanh “Tâm”, sanh “Pháp” (không để “thức” sai sử) khi sáu căn tiếp xúc sáu trần. Thành tựu hai vô sanh, chứng Diệt Đế.

  • Trả lời câu hỏi 5: Thưa Thầy! Theo con, những người tăng thượng mạn (chưa chứng nói chứng, chưa giác ngộ mà tự cho đã giác ngộ, v.v...). Khi nghe đoạn kinh Phật dạy: “…Trong pháp của ta, những người tu phạm hạnh, thấy tất cả các pháp đều vô sở đắc, mới được gọi là người chơn phạm hạnh..." lại sinh lòng rất kinh nghi (kinh sợ, nghi ngờ).

− Vì sao họ kinh sợ? Vì còn sở đắc (còn thấy có pháp để tu, có quả để chứng). − Vì sao họ nghi ngờ? Vì còn sở cầu (còn nương vào pháp để tu).

Trên đây là những kiến giải đầu tiên của con, khi trình bày về cảnh giới Vô Vi, còn nhiều thiếu sót, xin Thầy cùng các HĐTM chỉ dạy thêm. Kính bút, Con.

(03) Cảm Nhận TCTT 2018/12.1− ... Về... “Thật nghĩa...” (Lý Tâm Pháp)

Thưa Thầy! Con xin tập trả lời câu hỏi như sau:

  • Trả lời câu hỏi 1: Khi đối trước các uẩn, xứ, giới, nhiễm, tịnh, v.v... Kinh dạy chúng ta phải biết rằng, các pháp đó đều vô sở đắc, vì thiệt tướng của nó là không, tức không tánh không tướng.

  • Trả lời câu hỏi 2: Người thành tựu “chơn phạm hạnh” khác biệt với phạm hạnh của người “không giác ngộ” ở thấy biết (nhãn quan). Nếu thấy biết các pháp vô sở đắc, thành tựu vô niệm, đó là thấy biết của chơn phạm hạnh. Còn những người không biết các pháp như mộng huyễn, trong lòng có sở đắc thì sẽ thành tựu phạm hạnh không chơn thiệt.

  • Trả lời câu hỏi 3: Kinh dạy: “Thiệt tướng là nhất tướng, nhất tướng là vô tướng”. Như vậy, ngã, sắc, uẩn, xứ, giới...tự thể vô tướng. Giống như sừng thỏ lông rùa, có tên mà không có tướng, cũng giống như người nhặm mắt thấy đèn có quầng. 

  • Trả lời câu hỏi 4: Nếu đoạn kinh trên là bất liễu nghĩa, thì Phật sẽ dạy: Đối trước uẩn, xứ, giới, nhiễm, tịnh… phải biết thủ hộ các căn, xa lìa ô nhiễm, không mất chánh niệm, tăng trưởng thiện căn, v.v... Xa rời ba cõi để được Niết Bàn an vui.

  • Trả lời câu hỏi 5: Những người tăng thượng mạn khi nghe đoạn kinh trên rất khó tin và hiểu.  Vì đối với họ, mục tiêu tu hành là để thành tựu một điều gì đó gọi là hữu sở đắc. Khi nghe đến vô niệm, vô sở đắc. Giống như người nghèo, chiêm bao thấy mình giàu có. Trong giấc chiêm bao có người nói rằng, sự giàu có kia chỉ là chiêm bao, tài sản trong giấc mơ không thật, ông là người nghèo khổ. Người ấy nghe những lời thật như thế, vừa kinh sợ, vừa nghi ngờ là điều tất nhiên.

Trên đây là những kiến giải thô thiển của con. Xin Thầy chỉ dạy thêm để con hiểu thấu hơn. Con.

Tác Phẩm Lý Tứ

Điều Chỉnh Cách Viết Trả Lời Câu Hỏi Cho Đúng Giáo Pháp

MB 880 Lý Minh Dáp 11.02.2023

Để có thể phân tích và chọn một câu đúng trong các câu trích dẫn, chúng ta nên căn cứ vào giáo pháp và tìm con sâu ở đó. Tức là tìm những gì đã thể hiện trong đó sai với giáo pháp. Vì rằng, mục đích của câu hỏi đặt ra là, nhằm giúp các bạn điều chỉnh cách viết cho đúng giáo pháp, chứ không phải văn tự như thế này hay thế kia!...

Tâm tông & trò chơi trí tuệ - Tác Giả Lý Tứ

Các bạn! ...  Một số thuật ngữ chúng ta cần làm sáng tỏ như sau:

  • (Thuật ngữ “thức mê”, một số HĐ cho rằng thức thì không mê. Thức là hiểu biết, vì thế không có chuyện “hiểu biết mê hiểu biết”)

Hai chữ “thức mê” được hiểu như sau: Thức mê, không phải cái thức nó mê một thứ gì đó. Mà thức mê (hay thức nghiệp) là thuật ngữ nhằm chỉ cho một “hiểu biết u tối”. Ví như hai chữ “kẻ dốt” không phải có một người đang thủ giữ một cái dốt, mà hai chữ “kẻ dốt” nhằm chỉ cho “người không hiểu biết”. Vì thế, cũng thức ấy, khi nó không mê (sáng suốt), thức ấy là trí (thức tức trí)!

  • Chữ “không” và chữ “tịch diệt”: Hai chữ này cùng một nghĩa. Ví dụ như: Vị ấy tu hành để “không nhân không quả”, hay vị ấy tu hành để “tịch diệt nhân quả”, hai câu này cùng chỉ một kết quả. Ví như “sanh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc”. Hay, không sanh tức thị vô sanh. Các câu trên, văn tự tuy khác, nhưng nghĩa thì đồng!

  • Về chữ “tu”,có bạn cho rằng trong đoạn văn có chữ tu là sai. Mình nghĩ, không nên cực đoan như thế, chữ tu trong đoạn văn chỉ là một cách mô tả, nó đóng vị trí cầu nối cho những ý nghĩa sau đó, bản thân chữ tu trong trường hợp này không ảnh hưởng nhiều đến giáo pháp!

  • Cũng như chữ “trong”, có bạn cho rằng cần đổi lại chữ “tại”. Ví dụ như: Trong tâm đổi lại tại tâm!... Trường hợp chữ “trong” thành chữ “tại”, chỉ dùng như phương thuốc “trực chỉ, đánh tà kiến”, giúp người quay lại bổn tâm. Còn chữ “trong” của đoạn văn trích dẫn, chỉ là văn nói thông thường, không phải quyết định nghĩa. Vì thế, chữ “trong” hay chữ “tại” trường hợp này đều không sai!

Các bạn! ...  Để có thể phân tích và chọn một câu đúng trong các câu trích dẫn, chúng ta nên căn cứ vào giáo pháp và tìm con sâu ở đó. Tức là tìm những gì đã thể hiện trong đó sai với giáo pháp. Vì rằng, mục đích của câu hỏi đặt ra là, nhằm giúp các bạn điều chỉnh cách viết cho đúng giáo pháp, chứ không phải văn tự như thế này hay thế kia!...  Lần này, chúng ta quyết “vạch lá tìm sâu”, phải bắt cho bằng được những con sâu đang gặm nhắm, làm tổn hại rừng lá giáo pháp!

Trò Chơi Trí Tuệ - TCTT 2018/11 chưa thể khép lại khi chúng ta vẫn còn mơ hồ! Sau đây là bốn cách kiến giải trả lời khác nhau cho một câu hỏi, các bạn đọc kỹ và cho ý kiến theo nội dung các câu hỏi phụ TCTT 2018/11p                                        

  • CÂU HỎI TCTT 2018/11p − Điều Chỉnh Cách Viết... Cho Đúng...

  • Có 4 câu trả lời cho một câu hỏi như sau:

1) Thiện ác là nhân, tâm là quả, một khi nhân không thì quả cũng không, tức thức không mê nên quan niệm hư dối thiện ác không sanh, từ đó ý thanh tịnh, ý thanh tịnh tâm sẽ không động lay (định). Vì vậy theo con ý kiến "Tu hành để thiện ác không sanh thì, tâm sẽ được định..." là hợp lý.

2) Thiện ác là nhân, tâm là quả, một khi nhân không có thì quả không hiện, tức ý không mê nơi các quan niệm hư dối thiện ác nên ý thanh tịnh, ý thanh tịnh tâm sẽ không động lay (định). Vì vậy theo con ý kiến "Tu hành để thiện ác trong tâm không sanh thì, tâm sẽ được định..." là hợp lý.

3) Thiện ác là nhân, tâm là quả, một khi nhân tịch diệt thì quả cũng tịch diệt, tức thức không mê nên quan niệm hư dối thiện ác không sanh... Từ đó, các căn không bị thức chi phối, thức không chi phối, tâm hư dối không sanh gọi là định. Vì vậy theo con ý kiến "Tu hành để thiện ác không sanh thì, tâm sẽ được định..." là hợp lý.

4) Thiện ác là nhân, tâm là quả, một khi nhân không thì quả cũng không, tức ý không sanh các quan niệm hư dối thiện ác... nên ý thanh tịnh, ý thanh tịnh tâm sẽ không động lay (định). Vì vậy theo con ý kiến “Tu hành để thiện ác trong tâm không sanh thì, tâm sẽ được định...” là hợp lý.

  • Xin hỏi: 

  1. A) Trong bốn câu trả lời được trích dẫn ở trên...  Theo bạn, câu nào là “hợp lý nhất”?

  2. B) Ngoài câu bạn đã chọn, các câu còn lại “có vấn đề” ở chỗ nào? Đề nghị phân tích cái chưa đúng để chỉ ra “những vấn đề” cần điều chỉnh trong các câu đó?

Rất mong, nhận được những ý kiến xác đáng từ các bạn (20-09-2018)

GỢI Ý... TCTT 2018/11p − Điều Chỉnh Cách Viết... Cho Đúng...

Đọc trả lời đúng, có cái lí thú của việc đọc trả lời đúng! Nhưng, đọc trả lời sai, cũng có cái thú của việc nghe thiên hạ nói sai! Phàm ở đời, “cực lạc sanh bi, cực hàn sanh nhiệt”, ông Thánh bên Tàu đã nói như thế thì có lẽ chúng ta nên nghe như thế! Để cái việc “cực lạc sanh bi” không xảy ra theo triết lí “chống cực đoan” của ông Thánh kia, Trò Chơi Trí Tuệ - TCTT 2018/11 đến giờ này xin khép lại ở đây.

Xin giới thiệu HĐ (tham khảo) bài viết tiêu biểu sẽ thay mình làm trọng tài “phân định đúng sai” câu hỏi TCTT 2018/11p (22-09-2018)

(Tham khảo) CẢM NHẬN TCTT 2018/11p − Điều Chỉnh Cách Viết Trả Lời Cho Đúng Giáo Pháp

  • Cảm Nhận TCTT 2018/11p – Điều Chỉnh Cách Viết... (Lý Ngọc Hỷ)

Kính Thưa Thầy! Con xin được trả lời:

− Phần câu hỏi phụ A: Cách trả lời của bốn câu nêu trên, theo con, trả lời của “Câu thứ 3” là hợp lý nhất. Câu trả lời đã chỉ rõ: “Thức không mê, quan niệm hư dối thiện ác không sanh (không sinh pháp), Từ đó, các căn không bị thức chi phối, tâm hư dối không sanh (không sanh tâm). Tâm không sanh, pháp không sanh, nên định tự hiện”.

− Phần câu hỏi phụ B: Những vấn đề cần phải điều chỉnh ở cách trả lời của 3 câu còn lại, con xin kiến giải như sau:

  • Đối với cách trả lời ở câu số 1:

− Kết quả hợp lý: "Tu hành để thiện ác không sanh thì, tâm sẽ được định...".

− Kiến giải sai ở đoạn: “...từ đó ý thanh tịnh, ý thanh tịnh tâm sẽ không động lay (định)”. Bản chất của ý là nghĩ suy, nó không tánh không tướng, nên chẳng tịnh hay bất tịnh, không phải do: “... tức thức không mê nên quan niệm hư dối thiện ác không sanh... từ đó ý thanh tịnh...”

  • Đối với cách trả lời ở câu số 2:

− Kết quả hợp lý: "Tu hành để thiện ác không sanh thì, tâm sẽ được định..."

− Kiến giải sai ở chỗ: “tức ý không mê nơi các quan niệm hư dối thiện ác... nên ý thanh tịnh”.  Ý chỉ là một căn trong sáu căn, chức năng của ý là nghĩ suy, nó chẳng thể “có mê” hay “không mê”. Khi nào có “thức” xen vào, “ý căn” trở thành “ý thức” lúc này mê mới có.

  • Đối với cách trả lời ở câu số 4:

− Kết quả hợp lý:"Tu hành để thiện ác không sanh thì, tâm sẽ được định...".

− Kiến giải sai ở đoạn: “tức ý không sanh các quan niệm hư dối thiện ác...”. Các quan niệm hư dối thiện ác là các pháp do “thức mê” sanh chứ không do “ý” sanh.

Trên đây là những nhận biết của con, còn nhiều thiếu sót, xin Thầy từ bi chỉ dạy thêm. Con xin thành tâm kính lễ Thầy vô lượng lễ.

Kính bút! Con.

Tác Phẩm Lý Tứ

Thẩm Sát Môn Và Thấu Thị Môn… Trong Bồ Tát Đạo (Tiếp Theo)

MB 880 Lý Minh Dáp 11.02.2023

Tâm tông & trò chơi trí tuệ - Tác Giả Lý Tứ

Các bạn! ... Trong thực tế, có rất nhiều thắc mắc liên quan đến việc tu hành, nếu chúng ta biết tận dụng cơ hội để giải quyết tốt những thắc mắc đó, ngoài việc giúp HĐ thoả mãn những gì chưa được sáng tỏ, nó còn giúp bản thân có dịp nâng cao năng lực tư duy. Việc làm này, là một phần trọng yếu trong yêu cầu tu tập, mà HĐ chúng ta phải thực hiện!  Các thắc mắc như sau:

  • CÂU HỎI TCTT 2018/11 − Thẩm sát môn, Thấu Thị Môn (tiếp theo)

1) Có hai ý kiến liên hệ đến việc tịch diệt “thiện ác”: − Ý kiến thứ nhất “Tu hành để tâm được định thì, thiện ác trong tâm sẽ không sanh...” ... − Ý kiến thứ hai “Tu hành để thiện ác trong tâm không sanh thì, tâm sẽ được định...” Trong hai ý kiến nêu trên:

A) Theo bạn, đối với Phật đạo, ý kiến nào hợp lý, ý kiến nào chưa hợp lý, hay cả hai đều hợp lý trong việc tu học? B) Hãy giải thích cụ thể, dựa trên cơ sở nào, bạn cho rằng ý kiến mà bạn đã chọn là hợp lý, và những ý kiến còn lại, là không hợp lý?

2) Một số câu hỏi liên quan đến công đức. Người tu hành phần lớn đều mong muốn có được công đức... Xin hỏi:

A) Bắt đầu từ lúc nào, tâm trí người tu hành có thể phát sinh công đức? B) Người tu hành có được công đức để dùng vào việc gì?  Xin nêu cụ thể? C) Dấu hiệu nào để ta có thể nhận biết rằng, bản thân đang thụ hưởng công đức do việc tu tập làm nên?

Rất mong, được nghe những kiến giải bổ ích từ các bạn (17-09-2018)

GỢI Ý... TCTT 2018/11− Thẩm sát môn, Thấu Thị Môn (tt)

Theo mình, việc các bạn chọn ý kiến nào là hợp lí trong câu số một (hoặc tu định để thiện ác không sanh, hay tu để thiện ác không sanh nhờ thế tâm được định). Điều quan trọng vẫn là, các bạn phải chứng minh một cách thuyết phục, cũng như dựa vào cơ sở giáo pháp đáng tin cậy đối với phương án mà bạn chọn lựa. Điều quan trọng thứ hai là, chúng ta cần phải xem xét mối liện hệ nhân quả giữa hai pháp thiện ác và tâm, giữa thiện ác và tâm cái nào là nhân, cái nào là quả. Khi các bạn thấy được tính nhân quả, mình tin rằng việc chọn lựa ý kiến hợp lí không còn khó khăn. Từ đó, chuyện lập luận bảo vệ, hay phản bác, hoặc đồng thuận các ý kiến còn lại nằm trong tầm tay!

Hai câu hỏi lần này, điều mình muốn thấy ở các bạn đó là, khả năng lí luận để hiển bày chân lí. Chân lí được chọn lựa, phải dựa vào cơ sở giáo pháp, có tính thuyết phục cao, và lựa chọn đó phải đáp ứng được các mục tiêu của Phật đạo đề ra. Có nghĩa, chúng ta không chọn theo cảm tính, theo số đông có tính truyền thống nhưng không như pháp hoặc phi khoa học, v.v… Vì thế, việc chọn lựa ý kiến này hay ý kiến kia, phải là một chọn lựa tối ưu, được bảo vệ vững chắc bằng những lập luận có cơ sở đáng tin cậy, thuyết phục, hợp lí và khoa học!                                (17-09-2018)

Các bạn! ...  Để trả lời dứt khoát rằng, “ý kiến nào hợp lí” đối với câu hỏi số một là chuyện không dễ. Muốn làm được điều này, cần phải nắm vững giáo pháp, nhận biết mục tiêu thật sự của Phật đạo là gì, khác biệt giữa các thứ định nằm ở đâu, cứu cánh đạt đến của các thứ định (hay thiền định) là gì! Quan trọng là, phải nhận thức rõ, khái niệm “Định” (hay thanh tịnh) của Phật đạo là gì, và làm thế nào để có được thứ định này! Những điều tạm coi là cơ bản nêu trên, trong các cuốn sách, mình cũng đã phân tích rất kỹ. Chỉ có điều, các bạn đã nắm được hay chưa mà thôi!  (18-09-2018)

Bất chợt, Lão Lý nhớ tới câu nói của thánh nhân mà dân ta thường dùng “ngôn dị hành nan”, tức “nói dễ làm khó”, nay đã trở thành lạc hậu, thành ngữ này sắp cáo chung ở tiền bán thế kỉ 21 rồi chăng???! Từ đây về sau, có lẽ nên đổi thành “ngôn nan hành dị” tức “nói khó làm dễ “! Rồi Lão Lý lại ngẫm nghĩ, vì sao có cái cớ sự tréo ngoe “ngôn nan hành dị” này ló mặt ra?

Chắc là khi gặp câu hỏi, các vị HĐ chúng ta thất thần, hồn vía lên tận trên trời, quên mất bài thuốc rắn, mải chạy theo cục xương mà không ngó ngàng gì người ném!...  Nếu bình tĩnh, chỉ cần lùi ba bước, quan sát tâm này, sẽ nhận ra cái ta được hôm nay là nhờ đâu? Thử nghĩ xem: Nay tâm ta không loạn động trước cảnh duyên, nay tâm ta thảnh thơi, bình lặng trước cõi thế ô trược, nay ta có chút công đức lận lưng là vì cái gì?

Là: − Nhờ ta bỏ ra nửa đời người, lên tận thâm sơn cùng cốc để tu định chăng? − Nhờ ta biết rõ cái “tồ lô” (tào lao) của các pháp, mà ta chẳng thèm sinh đẻ gì nữa, nhờ thế mà ta mắc phải “chứng vô sanh”? − Nhờ ta dùng cả hai, tức 20 năm cô độc lên núi lên non thiền định, rồi có 20 năm lóng lỗ tai nghe pháp mà có đặng chút công đức còm hôm nay?...  

Chỉ cần dòm lại cái ót, nhất định câu trả lời do cái gì mà tâm ta được định (thanh tịnh) chắc chắn sẽ ở trên trán! Bài thuốc rắn cho đến giờ này, vẫn còn nguyên giá trị! ... Các bạn! ... Câu ca dao:

“Đố ai đến được trời cao!

Đố ai đếm được ngôi sao trên trời!”

Có lẽ nên đổi lại: 

“Đố ai cột được bóng cây!

Thế mà có kẻ hôm nay...đòi...mần!”

Tâm như bóng (cây), thức mê như cái cây! Cột bóng, để cây không lay động, có phải đây là cái chuyện “loạ nhất trên đời” hay không! Ấy thế mà, cũng có vị HĐ nghĩ ra, lại coi đây là phương án hợp lí! Các bạn thấy... có... ngộ... không?                     (18-09-2018)

Các bạn! ...  Trước khi bàn đến việc chọn lựa ý kiến nào là hợp lí. Mình có vài gợi ý: Ba khái niệm “Tâm”, “Định” và “Thiện Ác” là ba nhân tố hình thành các ý kiến khác nhau. Bây giờ, ta thử mổ xẻ ba khái niệm này, cũng như tìm xem mối liên hệ nhân quả của ba khái niệm trên theo tinh thần Phật đạo.

I. NHẬN DIỆN CÁC KHÁI NIỆM

  • Tâm: Là các “hiệu ứng tình cảm” như: Buồn, vui, thương, ghét, giận, hờn, v.v... nó chỉ hiện khởi khi Thức bị Mê và sanh Pháp! Hay nói khác hơn, “Tâm” chỉ là “Bóng Dáng” của một nhận thức không sáng suốt khi Căn xúc đối “Trần Cảnh”(Vô Minh Xúc). Thức Mê như một cái cây, “Tâm” như bóng của cái cây khi các “Duyên” hội hiệp! Duyên không hội hiệp, bóng cây sẽ tự mất!

  • Định hay “Thanh tịnh”: Là kết quả của một “Nhận Thức Như Pháp” khi căn đối trần (Minh Xúc). Định hay thanh tịnh, là sự “Dừng Lặng” do thấu suốt bản chất “Tự Như” của sáu trần, cũng như thấy được “tính chất hư dối” của các quan niệm (Pháp). Từ đó, ý thức (hay thức) không bị mê “Trần” (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) để rồi sinh pháp! Tóm lại, Định hay “Thanh tịnh” là cách nói khác của Vô Sanh. Tức không sanh Tâm, hoặc không sanh Pháp! Quả vị Vô Sanh là kết quả của Giác Ngộ. Vì thế, “Định hay Thanh tịnh Thật Sự” chỉ có đối với những người đã giác ngộ. 

Trong thế gian, người ta cũng ý thức được rằng, khi “Ý Thức Động Lay”, “Tâm sẽ Dao Động”. Để giúp tâm không dao động, người ta dùng “một Sở Pháp Cột Chặt Ý Thức”, làm tê liệt ý thức, bức tử ý thức, không cho ý thức hoạt động. Ý thức không hoạt động, các hiệu ứng tình cảm của “Tâm” như buồn, vui, thương, ghét, v.v... theo đó cũng dừng! Như vậy, xét tột cùng, “loại Định này”, cũng là kết quả của “dừng Nhận Thức trước” chứ không phải “dừng Tâm trước”! Và “các loại Định dưới hình thức này”, không phải chủ trương của Phật đạo, vì nó không đưa đến Giác Ngộ. Người xưa gọi là “Lấy đá đè cỏ”!

  • Thiện, Ác: Là hai quan niệm (pháp) trong vô số quan niệm của thế gian như: Thiện, ác, đúng, sai, phải, quấy, hơn, thua, đẹp, xấu, được, mất, v.v... Khi “Thức bị Mê”, ý thức sẽ sinh khởi các quan niệm (pháp) đối với “Nội Trần” hoặc “Ngoại Trần”! Pháp hay các quan niệm, là tác nhân chính (Nhân) cho ra hiệu ứng “Sinh Tâm”, buồn, vui, thương, ghét... (Quả)!

II. LIÊN HỆ NHÂN QUẢ.

Theo các phân tích trên, ta có thể thấy được mối liên hệ nhân quả giữa “Tâm”, “Định” và “Thiện Ác”... như sau:

  • Thiện Ác (hay các pháp) là sản phẩm của “Thức Mê”. Nó là “Nhân” sinh ra “hư vọng Tâm” (hiệu ứng tình cảm như vui, buồn, thương, ghét…)

  • “Định” hay “Động” chỉ là kết quả của một nhận thức “Như Pháp” (sáng suốt, thấu triệt...) hay nhận thức “Phi Pháp” (không sáng suốt, u tối, mê lầm...) Vì thế Giác Ngộ, với một nhận thức sáng suốt (Thức không Mê), khi sáu căn xúc đối với sáu trần, sẽ không sinh các quan niệm (pháp), do pháp không sanh, nên tâm không sanh. “Pháp Không Sanh, Tâm Không Sanh” Phật đạo gọi trạng thái đó là “Định” hay “Thanh tịnh”!

  • Xét đến đây, ta sẽ thấy được: Thiện ác là NHÂN, tâm là QUẢ, định hay động là “Quả của Quả”! Thanh tịnh hay định của Phật đạo, là kết quả của việc “Dừng Nhân Sanh” chứ không phải của “Diệt Quả Chứng”!

III. CÁC VÍ DỤ MINH HOẠ:

  • Ví dụ 1: Ta có thể lấy ví dụ, nhận thức như một cái cây, tâm như bóng cây. Khi cây lay động thì bóng cây sẽ lay động, khi cây dừng lặng thì bóng cây cũng theo đó mà dừng lặng. Người ta không thể, cột bóng cây để cái cây không lay động. Giống như người ta không thể dừng tâm để mong rằng nhận thức thiện ác tịch diệt!

  • Ví dụ 2: Nhận thức như những viên sỏi, tâm như mặt hồ. Khi người ta ném những viên sỏi xuống hồ, nhất định mặt hồ sẽ nổi sóng và động lay, muốn mặt hồ tĩnh lặng, phải dừng việc ném sỏi! Không có chuyện các viên sỏi nhận thức vẫn tiếp tục ném xuống, mà mong rằng hồ tâm không nổi sóng (mong rằng tâm định để thiện ác dừng).

Các bạn! ...  Những phân tích nhỏ ở trên, hy vọng các bạn sẽ có được những chọn lựa tốt nhất, có được những đánh giá như pháp khi đối trước các ý kiến trái chiều về kĩ thuật tu hành! 19-09-2018

Trong Kinh Đại Niết Bàn Phật dạy: “Đến thời mạt pháp, giáo pháp của đức Phật giống như sữa đã bị những người bán hàng pha nước vào đó đến năm mươi lần”. Câu nói này có nghĩa, từ một lít sữa ban đầu, khi đến tay người tiêu dùng, nó trở thành năm mươi mốt (51) lít. Thử nghĩ, vì lợi dưỡng, những người bán hàng đã pha như thế, người dùng sữa có còn hưởng được tí sữa nào chăng?

Giống như bệnh nhân dùng thuốc để chữa bệnh, mỗi lần uống một viên thuốc mà, trước mặt có đến năm mươi mốt viên, trong đó chỉ có một viên thuốc thật, còn lại năm mươi viên gần giống như thuốc thật. Thử hỏi, người bệnh bằng cách gì uống được viên thuốc thật cho khỏi bệnh? Các bạn là những người được tạm coi là: “Nắm vững quy trình sản xuất, nắm vững cách nhận biết thật hư, hàng ngày được dùng thuốc thật, bệnh tình có thuyên giảm, v.v...” thế mà còn chọn lựa vất vả, trong đó, người chọn thuốc giả không ít! Thế thì, những người trong đời không đủ kiến thức, chưa một lần thấy viên thuốc thật, phải làm sao đây?

Chúng ta không bi quan, chúng ta không nhìn mọi thứ dưới ánh mắt tiêu cực, chúng ta không đánh đồng quan điểm, chúng ta không phủ nhận toàn bộ, chúng ta là những người biết trân trọng. Nhưng, chúng ta, không thể là những người dễ dàng chấp nhận bị ru ngủ bởi những liều thuốc giả! Và, chúng ta phải là những người, trước thực tế “hư nguỵ”, biết rằng bản thân nên làm điều gì là tốt nhất! ֎ Theo mình thì, tất cả những thứ ấy, đang nằm trên đôi vai của Các bạn! ...  ֎

Các bạn! ...  Có thể hôm nay, chúng ta còn lẫn lộn giữa thật giả, lẫn lộn chơn nguỵ. Nhưng ngày mai, ngày kia nhất định chúng ta sẽ là những người biết chắc đâu mới là viên thuốc thật của giáo pháp! Có làm được điều này, chúng ta mới không phụ công ơn chư Phật! Xin chuyển đến các bạn tham khảo, bài trả lời tiêu biểu của HĐ...                                                                      (20-09-2018)

(Tham khảo) CẢM NHẬN TCTT 2018/11 − Thẩm Sát Môn, Thấu Thị Môn.

  • (01) Cảm Nhận TCTT 2018/11 − Thẩm Sát..., Thấu Thị... (Lý Anh Lạc)

Thầy kính! Con xin trả lời các câu hỏi như sau:

  • Trả lời câu hỏi 1: Thưa Thầy! Theo con, đối với Phật đạo thì ý kiến thứ hai là hợp lý nhất. Vì sao?

Vì Phật đạo là Đạo Giác Ngộ, là Đạo như pháp mà nhận thức. Do đó, nếu một người tu hành khi biết rõ (Giác) thiện, ác vốn phi thiện, phi ác. Từ đó đối trước thiện ác, vị này như pháp mà nhận thức. Vì như pháp mà nhận thức, dần dần tâm thức vị này không còn hiện khởi (tịch diệt). Vì thiện ác (pháp) không còn hiện khởi, nên khi đối trước cảnh duyên, tâm vị này tự định (ngộ)…

Và con chọn ý kiến thứ hai vì biết rằng, tâm chỉ là hiệu ứng (tình cảm) khi ba duyên căn, trần, thức hoà hiệp. Vì vậy, khi đối trước thiện ác, nếu nhận thức như pháp (thiện ác vốn không tánh...), không nhận thức phi pháp thì, thiện, ác sẽ không sanh khởi (tịch diệt). Khi thiện, ác không còn sanh khởi, tâm tự định. Và theo con, thiện ác (nhận thức) là nhân còn tâm chỉ là quả. Người trí chỉ cần giải quyết nhân. Tư duy đến đây con chợt nhớ đến lời Thầy đã nói: “Bồ Tát thì sợ nhân, Thanh Văn thì sợ quả”. Chính vì thế, nên con đã chọn ý kiến thứ hai “tu hành để thiện ác không sanh thì tâm được định”. Và lựa chọn này theo con nghĩ, con đang thực hiện lời dạy của Phật: “Đạo của ta không nhọc công, không tốn sức”.

  • Trả lời câu hỏi 2:

Câu 2.A:  Thưa Thầy! Một người tu hành khi bắt đầu nhận thức như pháp, không nhận thức phi pháp (sơ ngộ). Theo con cũng là lúc tâm trí vị này bắt đầu phát sinh công đức.

Câu 2.B:  Thưa Thầy! Theo con, người tu hành dùng công đức để đổi lấy quả vị trong Phật đạo. Ví dụ:

− Khi biết rằng: “Tâm này xưa nay tự thanh tịnh”, và vị này như pháp mà sống. Theo con, đây là thứ công đức dùng để đổi lấy quả vị Niết Bàn. − Khi biết rằng hư vọng tướng là cái chúng ta đang thấy. Và vị này như pháp mà thấy. Theo con đây là thứ công đức để đổi lấy quả vị Trí Tuệ.

Câu 2.C:  Thưa Thầy!  Có rất nhiều dấu hiệu cho thấy bản thân đang thọ hưởng công đức từ việc tu tập làm nên như: − Đời sống thì tri túc. − Không năng, không sở. − Tâm thì mất biệt, pháp thì kiếm không ra. − Khởi tư duy thì hỷ lạc...

Thưa Thầy! Kính Thầy chỉ dạy thêm cho con! Con xin lạy Thầy ba mươi lạy! Con.

  • (02) Cảm Nhận TCTT 2018/11 − Thẩm Sát..., Thấu Thị... (Lý Ngọc Hỷ)

Kính Thưa Thầy! Con xin trả lời các câu hỏi như sau:

  • Trả lời câu hỏi 1: Theo con, đối với Phật đạo, ý kiến thứ hai: “Tu hành để thiện ác trong tâm không sanh thì, tâm sẽ được định...”là hợp lý. Vì sao như vậy? Chỉ thú tu hành trong Phật đạo là“Giác Ngộ, Giải Thoát, Trí Tuệ”. Lấy “thay đổi nhận thức”, thấu suốt lời Phật dạy (Pháp), “sống đời sống như Pháp” thì Định tự sanh…

Để giải quyết nội dung câu hỏi này, cần hiểu rõ các thuật ngữ sau theo lời Phật dạy: − Cái gì là Tâm? Vì sao nó hiện? − Định trong Phật đạo là gì? Khi nào thì có Định?

  • Tâm là các hiệu ứng tình cảm: như buồn vui, thương ghét, giận hờn, v.v... nó chỉ hiện lên khi căn thân, đối xúc đối với trần cảnh, bị thức mê sai sử, làm sinh pháp, mê pháp thì “Tâm hiện” (sanh tâm). Tâm không thật, vì là sản phẩm của Thức mê, nên không diệt được.

  • Định là hệ quả của một nhận thức như Pháp, chỉ có đối với người đã Giác Ngộ, biết rõ “Căn” không tánh không tướng, “Trần” bản chất “tự Như”, căn thân xúc đối với trần cảnh, khi “giác ngộ”, thấu suốt vấn đề, tâm không động lay gọi là định.

− Vậy, ý kiến thứ nhất: “Tu hành để tâm được định thì, thiện ác trong tâm sẽ không sanh...” là không hợp lý. Vì Tâm “không thật”, lấy cái “không thật” để tu cho được Định thì không thể được. 

− Với Ý kiến thứ hai: “Tu hành để thiện ác trong tâm không sanh thì, tâm sẽ được định...” là hợp lý. Vì tu hành để Thiện ác trong tâm không sanh, chính là không sinh Pháp, Pháp không sanh thì Tâm không hiện, lúc này mới được gọi là Định.

  • Trả lời câu hỏi 2:

Câu 2.A: Người tu hành phát sinh công đức khi bắt đầu sơ ngộ, chứng quả vị Tu Đà Hoàn, mặc dầu chưa nhiều nhưng đã có công đức.

Câu 2.B: Người tu hành có công đức, khi còn ít, dùng để mua An Lạc, khi có nhiều, mua Niết Bàn, nhiều nữa mua Trí Tuệ. Công đức càng nhiều Trí tuệ càng sâu.

Câu 2.C: Dấu hiệu để nhận biết bản thân đang thụ hưởng công đức do việc tu tập làm nên như: Hết sân hận, khi gặp nghịch cảnh vẫn an vui, phiền não không hiện.

Trên đây là những nhận biết của con, còn nhiều thiếu sót, xin Thầy từ bi chỉ dạy thêm. Con xin thành tâm kính lễ Thầy vô lượng lễ. Kính bút! Con.

Tác Phẩm Lý Tứ

Thẩm Sát Môn Và Thấu Thị Môn… Trong Bồ Tát Đạo

MB 880 Lý Minh Dáp 11.02.2023

Tâm tông & trò chơi trí tuệ - Tác Giả Lý Tứ

Các bạn! ...  Chúng ta đã có ba tuần để nghiền ngẫm về Phật Tri Kiến và thư giãn sau khi Trò Chơi Trí Tuệ 2018/09 kết thúc. Hôm qua, nhân dịp HĐ chúng ta và các HĐ ở ngoài cùng nhau đi làm từ thiện, mình có nghe nội dung cuộc trao đổi giữa họ như sau:

NHÓM A:

Hỏi: Làm việc phước thiện có phát sinh công đức hay không?

  • Đáp: Làm thiện không phát sinh công đức, mà chỉ hưởng được phước báo nhân thiên!

NHÓM B:

Hỏi: Như vậy, làm thế nào để phát sinh công đức?

  • Đáp: Muốn có công đức, phải “lìa thiện lìa ác”!

NHÓM C:                                                                            

Hỏi: Muốn “lìa thiện lìa ác”, phải làm như thế nào?

  • Đáp: Muốn lìa thiện lìa ác, “ngoài không chạy theo cảnh duyên, trong không sinh khởi các thứ quan niệm (không sinh pháp)”!

NHÓM D:

Hỏi: Khi thanh tịnh rồi, làm thế nào để có được nghĩa không?

  • Đáp: Khi thanh tịnh rồi, tâm thức sẽ “trở về nghĩa không”!

Các bạn! ...  Trước đây, khi nghe mẩu đối đáp này từ các bạn, nhất định mình sẽ “tán thán cả hai chân hai tay”. Nhưng bây giờ, sau ba tuần nghỉ ngơi, mẩu đối thoại trên, chỉ là mẩu đối thoại thuộc cảnh giới của các “Thiền Sư hạng ba của Lý Gia”.  Dựa vào những đối đáp trên, mình có vài câu hỏi, rất mong được nghe những kiến giải từ các bạn qua “phong cách trả lời Thiền sư hạng hai” (theo khung “cảnh giới bất khả tư nghì của Lý Gia”: Siêu hạng, hạng một, hạng hai rồi mới tới hạng ba!) Nhằm giúp các bạn thấm nhuần hai môn học “Thẩm Sát Môn và Thấu Thị Môn”.

  • CÂU HỎI TCTT 2018/10 − Thẩm Sát Môn Và Thấu Thị Môn…

1) Đối với câu hỏi ở Nhóm A. Theo bạn, chúng ta còn có cách trả lời nào tốt hơn câu trả lời vừa rồi hay không?

2) Đối với câu hỏi ở Nhóm B. Theo bạn, việc trả lời như thế đã làm bạn vừa ý hay chưa? Nếu chưa, Lý Tứ xin được nghe “cao kiến” từ bạn!

3) Đối với câu hỏi ở Nhóm C. Theo bạn, trả lời như vậy đã hoàn hảo hay chưa??? Vì sao hoàn hảo, vì sao chưa? Yêu cầu lập luận để bảo vệ quan điểm của mình!

4) Đối với câu hỏi ở Nhóm D. Theo bạn, việc trả lời như thế, “đã mắc phải lỗi gì?” Và, lỗi đó nằm ở phần nào (những chữ nào) trong câu trả lời?

Rất mong, được nghe những kiến giải lý thú từ các “Thiền Sư hạng hai” của Lý Gia! ...  Chú ý: HĐ nào, chưa hiểu hết hoặc còn thắc mắc các câu hỏi lần này, xin hãy liên hệ trực tiếp qua ĐT hoặc FT, để được nghe mình giải thích cụ thể!  (05-09-2018)

GỢI Ý... TCTT 2018/10 − Thẩm Sát Môn Và Thấu Thị Môn…

Mỗi một địa vị trong Phật đạo có một nhãn quan tương ưng với địa vị đó, ta thường nghe nói ngũ nhãn, tức năm thứ nhãn quan khác nhau trong Phật đạo khi nhìn về một pháp…

Chính các lớp nhãn quan sai khác này, hình thành các quan điểm sai khác khi tiếp cận một pháp. Vì thế mà, đồng một pháp lại có nhiều quan điểm khác nhau! Điều này, được minh hoạ trong kinh Kim Cang bằng câu nói: “đồng một pháp vô vi, mà chư hiền thánh thấy có sai biệt”. Cũng chính sự sai biệt giữa các đạo quả, mà các pháp “Bất, Vô, Phi, Ly, Tức” ra đời!

Trò Chơi Trí Tuệ lần này, khi mượn câu chuyện để làm đương cơ, mình muốn các bạn đọc kỹ mẩu đối thoại. Sau đó, bằng nhãn quan tu chứng của bản thân, các bạn tự thẩm định đạo quả trong mẩu đối thoại, rồi với năng lực tự thân, tìm ra cách trả lời tốt hơn!

Việc làm này, nhằm giúp các bạn hình thành thói quen thẩm sát đối tượng và có những đánh giá chính xác cũng như nâng đối tượng đó lên một đạo quả cao hơn theo tinh thần “lấy việc thẩm định đạo quả của người, để nâng cao năng lực tự thân”!

Trong Bồ Tát đạo, việc thẩm định, đánh giá và nâng người tu hành lên một đạo quả cao hơn là việc làm rất quan trọng, không thể thiếu và không thể không biết! Nó giống như người đi săn thú chuyên nghiệp, chỉ cần nghe tiếng kêu hay thấy dấu chân, lập tức biết ngay đó là loài thú gì, tập tính ra sao, ẩn nấp ở đâu, đi về hướng nào cũng như làm sao bắt chúng. Bắt một quả vị, để dẫn đến một quả vị khác cũng gần giống như vậy!  Đây là kỹ thuật cấp cao của Phật đạo, vì thế chúng ta tập làm quen kỹ thuật này ngay từ bây giờ là vừa. Từ lâu, mình rất muốn giúp các bạn làm quen với kỹ thuật này, nhưng để có một đương cơ khả dĩ thì rất khó! (06-09-2018)

Các bạn! ... Để có thể trả lời tốt bốn câu hỏi của Trò Chơi Trí Tuệ - 2018/10, mình xin đưa ra một số gợi ý để HĐ làm cơ sở tư duy:

  • Đối với câu hỏi nhóm A: Muốn trả lời đúng, các bạn phải quan sát, nhận định hai món công đức và phước báo, hai món này là kết quả của thứ gì. Tức, nó là kết quả của tâm & trí (giác ngộ hoặc không) hay của một hành động (việc làm thiện ác)! Từ đó, chúng ta sẽ biết rằng, việc làm phước thiện có phát sinh công đức hay không! Giã dụ: Phật hay Bồ Tát khi làm việc phước thiện, thì như thế nào, có công đức gì... chăng?

  • Đối với câu hỏi nhóm B: Khi được hỏi: Làm thế nào để phát sinh công đức?”, có người trả lời rằng: Muốn có công đức, phải lìa thiện ác! Để trả lời đúng yêu cầu câu hỏi đặt ra, đầu tiên, các bạn phải suy gẫm xem, người kia trả lời như vậy là đã thoả đáng hay chưa? Nếu chưa, thì sai ở đâu. Nếu đúng thì, ta tiếp tục tìm xem, người này đã trả lời với nhãn quan nào... Trong Phật đạo, có còn tầng bậc công đức nào cao hơn tầng bậc công đức vị ấy đã nêu hay không? Khi thấy được điều này, nhất định chúng ta sẽ có câu trả lời ở một tầng nhận thức khác! Vì rằng, Phật đạo có nhiều loại Niết Bàn, nhiều loại công đức, mà cụ thể là: 

  • Công đức do thành tựu nghĩa LY (lìa) mà sanh khởi! •Công đức do thành tựu nghĩa BẤT (làm cho mất đi phàm tánh) mà thành! •Công đức do thành tựu nghĩa VÔ (thấy được bản nguyên của tâm) mà tự sanh! •Công đức do thành tựu nghĩa PHI (thấy thiệt tướng) mà hiện khởi! •Hoặc công đức do thành tựu nghĩa TỨC (tối thượng trí) hoá hiện... Chứ chẳng phải chỉ riêng từ một thứ!

  • Đối với câu hỏi nhóm C: Câu hỏi của nhóm này, hoàn toàn thuộc về kỹ thuật thuyết pháp! Khi được hỏi: Muốn“lìa thiện lìa ác”, phải làm như thế nào? Đáp: Muốn lìa thiện lìa ác, “ngoài không chạy theo cảnh duyên, trong không không sinh khởi các thứ quan niệm (không sinh pháp)”! Đầu tiên, ta tìm xem, yêu cầu của người hỏi cần điều gì, giới hạn đến đâu trong giáo pháp. Kế đến chúng ta đánh giá, câu trả lời có đáp ứng đủ và đúng yêu cầu câu hỏi đặt ra hay không? Nếu chưa đáp ứng, thì còn thiếu điều gì? Nếu đã đáp ứng thì, ta có cần phải thêm bớt hay không!

Về câu hỏi này, theo mình, phần lớn HĐ chúng ta “quá hào phóng” khi trả lời... đâm ra bố thí quá yêu cầu người xin!

  • Đối với câu hỏi nhóm D: Khi “được Hỏi: Khi thanh tịnh rồi, làm thế nào để có được nghĩa không? Đáp: Khi thanh tịnh rồi, tâm thức sẽ trở về nghĩa không”!

Muốn thấy được đối đáp trên mắc phải lỗi gì, đầu tiên chúng ta tìm xem, vị ấy trả lời như thế đúng hay chưa? Nếu đúng thì ta xét tiếp, khi lập bày văn tự, người trả lời còn kẹt chỗ nào (về mặt văn tự)? Vì rằng, có nhiều trường hợp, trả lời đúng về ý nghĩa, nhưng văn tự chưa thông! Trường hợp này khá phổ biến khi người tu hành tuy đã giác ngộ, nhưng chưa thành tựu hai thứ thông, đó là tông thông và thuyết thông. Có nghĩa rằng, người tu hành chưa được hai thứ thông, nhất định khi trình bày sẽ kẹt vào lỗi bốn tướng, tứ cú hay bốn bệnh! Một khi chúng ta tập làm quen với cách nhận định đánh giá văn tự, vị lai sẽ trở thành “người thợ săn quả vị lành nghề”...  Hy vọng, với các gợi ý trên, HĐ chúng ta sẽ có những câu trả lời xác đáng. Chỉ khi nào tự thân trả lời xác đáng bốn câu hỏi mình vừa nêu, lúc đó, từ đẳng cấp “Thiền Sư hạng ba của Lý Gia”, mới có cơ may thăng lên “Thiền Sư hạng hai”....

“Phong độ là nhất thời, đẳng cấp mới là...mãi...mãi!” Câu nói trứ danh của Sir Alex Ferguson có vẻ như... đang... đúng... đối với Trò Chơi Trí Tuệ - 2018/10. Rất mong, nhận được những “trả lời sắc bén” từ Các bạn! ...  Các HĐ đã trả lời rồi, xét thấy chưa vừa ý, có thể tiếp tục trả lời! Không sao hết, chúng ta đang... học... mà!

Các bạn! ...  Bốn câu hỏi được đưa ra, với mục tiêu giúp các bạn tự nâng bản thân lên một địa vị khác trong Phật đạo. Muốn làm được điều này, chạm đến một đẳng cấp cao hơn, đòi hỏi các bạn cũng phải tự nâng bản thân thông qua cách lập luận, cách trả lời. Trong cách lập luận ấy, văn tự phải gãy gọn, thể hiện văn phong của một đẳng cấp mới, không còn cái rề rà, cái nói nhiều, không còn cái nói dai, cái dư thừa theo cách thế người đời! Giống như người thợ săn lành nghề “nghe tiếng chim hót, thấy dấu chân thú là biết ngay đó là loại thú gì, cách đánh bắt như thế nào...” và, người thợ săn kinh nghiệm qua quá trình săn bắt, nay đã có một chiếc bẫy mới, phù hợp với từng loại thú, kín đáo, nhạy, dễ sập hơn!

Văn phong đại thừa là loại văn phong mà trong đó ẩn chứa “Bát Nhã âm” ... Thứ ngôn âm mà, chỉ cần hạ một đao, quét đứt trăm mối. Nó giống như người sử đao, đao pháp phải thể hiện đầy đủ những đặc tính siêu phàm của nó, dứt khoát nhưng mềm mại, khoan thai nhưng kín kẽ (một hạt mưa cũng không thể lọt qua), nhẹ nhàng nhưng núi lở đá tan! 

Các bạn! ...  Trả lời đúng là một chuyện, trả lời đúng và có uy lực hay không là một chuyện khác! Uy lực trong ngữ ngôn văn tự, uy lực trong từng thời điểm, uy lực trước mỗi đối tượng, v.v... là những thứ thuộc về đẳng cấp! Thứ đẳng cấp mà chúng ta sẽ hướng đến! Khi chia câu hỏi thành bốn nhóm, mỗi nhóm ẩn chứa trong nó cơ hội đủ để các bạn nhận ra cách phát tiết uy lực khi trả lời! Và, nếu chúng ta nỗ lực tư duy, đọc kỹ mẩu đối thoại, nắm vững ý đồ câu hỏi, sẽ thấy các câu hỏi không khó!

- Về câu hỏi của nhóm C: Phần lớn các HĐ trả lời sai câu hỏi ở nhóm C cũng không có gì là lạ, chẳng qua kinh nghiệm giáo hoá của các bạn chưa nhiều, cũng như thói quen của các bạn là, chỉ căn cứ vào kết quả tu tập của bản thân mà không quan tâm đến yêu cầu người hỏi! Khi được hỏi: Làm thế nào để lìa thiện lìa ác? Người kia trả lời: Ngoài không chạy theo cảnh duyên, trong không sinh khởi các quan niệm!

Theo mình, người hỏi chỉ yêu cầu gói gọn trong việc làm thế nào để lìa thiện lìa ác, với cách trả lời như vậy là đã quá hoàn hảo, không cần phải thêm bớt điều gì, chỉ cần bấy nhiêu thôi, nếu ứng dụng triệt để, người đó sẽ có được thành tựu nhất định! Ta còn nhớ mẩu khai thị của Lục Tổ và Huệ Minh: “Nếu ông đã vì pháp mà đến đây, hãy đình chỉ các duyên (thấy nghe), trong lòng chớ khởi niệm thiện ác, ngay đó cái gì là bổn lai diện mục”. Hoặc lời dạy của Phật: “Khi các căn đối trần không nắm giữ các tướng, tâm ý chẳng quan niệm thấy nghe này là vừa ý hay không vừa ý, v.v...”

Xét cả ba mẩu đối thoại của Phật, Lục Tổ và người kia, tuy văn tự có khác, nhưng ý nghĩa đồng quy về kỹ thuật làm thế nào để người nghe không sinh tâm sinh pháp, tức lìa các thứ trói buộc mà cụ thể là chuyện thiện ác thế gian. Ta thấy, các vị ấy không diễn giải nhiều, khi chưa cần thiết, chỉ trả lời vừa đủ để người nghe nắm bắt ý đồ, từ đó tâm thức sẽ dừng cái cần dừng. (Khi nào người nghe có yêu cầu thêm, mới diễn giải tiếp).

Có lẽ, đây cũng là kinh nghiệm chung cho HĐ chúng ta, phần lớn khi có ai đó hỏi về giáo pháp, các bạn không căn cứ vào trình độ, mục đích, cũng như yêu cầu người hỏi, mà chỉ nhắm vào kiến thức tự thân có bao nhiêu đem cho sạch sẽ. Việc làm này đâm ra, khiến người nghe bội thực giáo pháp, cái cảnh xin một mà cho mười, rốt cuộc người nghe không biết mình phải làm gì trong thời điểm đó. Tất nhiên, giáo pháp không chỉ có bấy nhiêu, nhưng hiện tại chưa phải là lúc người bệnh đủ sức khoẻ để tiếp nhận thêm, vì thế cho nhiều thuốc trở thành có hại. Nếu không lầm, trong “Tâm Pháp”, mình có đề cập đến Bài Thuốc Rắn! Mong các bạn lưu ý!

  • Về câu hỏi của nhóm D: Câu nói:“Khi thanh tịnh, tâm thức sẽ trở về nghĩa không (tức trở về chỗ vắng lặng, tịch tĩnh)”. Xét phương diện tu tập, câu nói này không có gì sai, thậm chí đã đạt được cột mốc rất quan trọng trên bước đường giác ngộ!

Nhưng, nếu xét về cách lập ngôn, người này chưa thông thuộc, trong giáo pháp gọi là kẹt tứ cú! Lỗi tứ cú nằm ở hai chữ “trở về”. Trở về, tức có đến đi, mà tâm thức vắng lặng (không) hay Niết Bàn chẳng phải cảnh giới của động lay có đến có đi! Lập ngôn được coi là đúng trong trường hợp này, phải nói rằng: “Khi thanh tịnh, tâm thức tự không” (tâm thức vắng lặng)! Tất nhiên, lập ngôn của một người sơ ngộ không thể đòi hỏi như người thông thuộc giáo pháp. Vì rằng, khoảng cách (công đức, trí tuệ) giữa sơ ngộ và thông thuộc là không thể tính đếm. Câu hỏi được đưa ra, chỉ nhằm giúp các bạn có một chút khái niệm ban đầu về cách lập ngôn trên bước đường tiến về phía trước!

- Về văn tự: Hạn chế rất lớn của HĐ chúng ta là văn tự, cách viết của mọi người chưa sắc bén, diễn đạt vừa thừa vừa thiếu. Nói chung, bài viết tạo cảm giác như đang đọc một đoạn văn đời, nó ê a, thiếu hẳn phong cách đạo.

Các bạn! ...  Thử nghĩ xem! Hành Bồ Tát đạo mà, khi có thính chủ đặt câu hỏi, vị Bồ Tát ấy không trả lời lập tức trong đương cơ, lại khất dần để có thời gian suy nghĩ. Giải quyết kiểu này, có hỏng bét mọi sự chăng?...

Tất nhiên, đấy là nói đến việc hành Bồ Tát đạo... Đằng này, chúng ta còn là những người đang học Bồ Tát vị, thì chuyện một ngày hay năm ngày suy nghĩ mới có thể trả lời bốn câu hỏi. Cũng chẳng có gì... ghê... gớm... lắm! Bây giờ, mình xin mổ xẻ tiếp các câu hỏi ở nhóm A & B:

  • Đối với câu hỏi nhóm A: Như những gì đã gợi ý. Đối với Phật đạo, công đức hay phước đức không tuỳ thuộc vào hành động (việc làm), mà nó là hệ quả tất yếu của tâm và trí (giác ngộ hay mê mờ). Nói khác hơn, công đức hay phước báo chỉ là sản phẩm vô hình của một “nhận thức như pháp hay phi pháp”, chứ chẳng phải kết quả từ một hành vi! Vì rằng, công đức thuộc về giá trị vô lậu của đạo xuất thế. Phước báo hay ác báo thuộc giá trị hữu lậu của thế gian pháp! Người trong cảnh giới xuất thế làm gì cũng phát sinh công đức, còn người đang ngụp lặn ở thế gian thì, cho dù có cố công đến mấy, cũng chỉ nhận được phước báo nhân thiên! Ta có thể thấy rõ điều này qua mẩu đối đáp của vua Lương Võ Đế và Sơ Tổ Đạt Ma:

− “Trẫm một đời tạo chùa, độ tăng... Có công đức gì không?”

  • Không có công đức gì hết!”

Qua mẩu chuyện trên, ta thấy có một chút gì đó phũ phàng! Nhưng, nó lại là sự thật của đạo pháp. Thôi thì, chấp nhận phũ phàng một chút, nhưng tất cả vì đạo pháp, nên Sơ Lão Tổ Tông bèn...không...thể...nói...khác!

  • Đối với câu hỏi nhóm B: Muốn phát sinh công đức, phải “lìa thiện lìa ác”. “Lìa thiện lìa ác”hay “không sanh pháp” để có được công đức là điều hiển nhiên, chẳng có gì phải bàn cãi. Nhưng, trong Phật đạo, để có thể sinh công đức, còn có nhiều cảnh giới tốt hơn là “lìa thiện lìa ác”. Giả dụ như:

− Thấy rõ “thiện ác đồng thanh tịnh”, cái thấy này cũng phát sinh công đức!

− Thấu suốt “thiệt tướng của thiện ác đều không”, thấu suốt này cũng phát sinh công đức!

− Nhận ra, hai pháp “thiện ác tự nó phi thiện phi ác”, sự trực nhận này cũng phát sinh công đức!

Nói chung, có vô số, vô số cảnh giới của Phật đạo, khi người tu hành đạt đến, đều phát sinh công đức. Cho nên, tuỳ căn, tuỳ cơ mà ta trả lời như thế nào đó, để người nghe, sau khi nghe xong, nhân đó tiếp cận nguồn công đức của tự tâm. Trả lời được như thế, chính là câu trả lời tối ưu trong Phật đạo! Như vậy chúng ta đã mổ xẻ xong ý nghĩa của bốn câu hỏi mà mình đưa ra!

Xin hẹn gặp lại các bạn ở Trò Chơi Trí Tuệ 2018/11!  (08-09-2018)

(Tham khảo) CẢM NHẬN TCTT 2018/10 – Thẩm Sát Môn…

Các bạn! ...  Có ba vị HĐ viết rất tốt, đọc trả lời của ba vị này, đạo vị toát lên trong từng chữ, từng câu, giống như những nhát dao bén! Mong rằng, mọi người chú ý! Xin giới thiệu đến HĐ các bài trả lời tiêu biểu, theo mình là “đạt yêu cầu cả về ý nghĩa lẫn văn tự” của các vị nói trên… và bài trả lời muộn của Amy.

  • (01) Cảm Nhận TCTT 2018/10 − Thẩm sát Môn... (Lý Thái Đăng)

Kính Thầy! Con xin trả lời các câu hỏi:

  • Trả lời câu hỏi 1 (Nhóm A): Làm việc thiện phát sinh công đức, hay hưởng được phước báo nhân thiên còn tùy vào đối tượng. Nếu là bậc giác ngộ, tâm thanh tịnh thì phát sinh công đức, còn kẻ chưa giác ngộ, tâm không thanh tịnh thì chỉ hưởng phước báo nhân thiên…

  • Trả lời câu hỏi 2 (Nhóm B): Câu trả lời: “Muốn có công đức, phải “lìa thiện lìa ác”.Điều này đúng, nhưng chưa đủ. Vì Phật đạo còn nhều tầng bậc phát sinh công đức mà“không cần lìa thiện lìa ác”. Cho dù ở nơi thiện ác, mà:

 − Thấy thiện ác đồng thanh tịnh...

 − Thấu suốt thiện ác bình đẳng, vì thiện ác không tánh...

Nếu được như thế, hoặc những tầng bậc cao hơn, người này không cần lìa thiện lìa ác vẫn phát sinh công đức.

  • Trả lời câu hỏi 3 (Nhóm C): Trả lời như vậy theo con “đã là hoàn hảo”. Bởi vì, yêu cầu của người hỏi trong đương cơ này, chỉ mong muốn biết được kỹ thuật lìa thiện lìa ác, chưa có mong cầu gì thêm.

  • Trả lời câu hỏi 4 (Nhóm D): Câu trả lời trên chỉ đúng về phương diện tu hành, nhưng còn kẹt mắc ở văn tự. Hai chữ “Trở về”thuộc lỗi tứ cú, vì bởi nghĩa không là cảnh giới không có đến đi, nghĩa là “chẳng từ đâu đến và cũng chẳng đi về đâu”.  Vì thế, hai chữ trở về được sử dụng trong trường hợp này, kẹt tứ cú!

Con xin đảnh lễ Thầy ba lễ! Con.

  • (02) Cảm Nhận TCTT 2018/10 − Thẩm sát Môn... (Lý Anh Lạc)

Thưa Thầy! Con xin trả lời các câu hỏi như sau:

  • Trả lời câu hỏi 1 (Nhóm A): Thưa Thầy! Đối với câu hỏi: “Làm việc phước thiện có phát sinh công đức hay không?”Theo con, vẫn còn có cách trả lời khác: Làm phước thiện cũng phát sinh công đức, và cũng không có phát sinh công đức. Vì có công đức hay không, không phải ở việc làm, mà ở tâm và trí. 

− Với người tâm và trí đã giác ngộ, nếu làm phước thiện thì phát sinh công đức. 

− Với người tâm và trí không giác ngộ thì, làm phước thiện chỉ dừng lại ở phước báo nhân thiên.

  • Trả lời câu hỏi 2 (Nhóm B): Thưa Thầy! Theo con, tuy rằng câu trả lời cho nhóm B không có sai. Nhưng rơi vào tận hữu vi. Vì rơi vào tận hữu vi nên theo con, vẫn còn nhiều cách trả lời mà không rơi vào tận hữu vi như:

− Phát sinh công đức do thấy được “Thiện ác vốn không tánh”.

− Phát sinh công đức do nhận ra “thiện ác vốn tự thanh tịnh”.

− Phát sinh công đức do thấy được thật nghĩa của “thiện ác vốn bình đẳng, không tánh, không tướng”

  • Trả lời câu hỏi 3 (Nhóm C): Thưa Thầy! Theo con, câu trả lời trên là hoàn hảo. Vì trong trường hợp này, không có câu trả lời nào hay hơn.

  • Trả lời câu hỏi 4 (Nhóm D): Thưa Thầy! Tuy câu trả lời ở phần này có đúng nghĩa, nhưng văn tự mắc vào lỗi tứ cú. Và lỗi đó nằm ở hai chữ “trở về”. Vì các cảnh giới tạm gọi vô vi: “không, chơn như, thiệt tướng, Niết Bàn, v.v...” không có đến đi! Theo con, câu trả lời trong phần này, ta có thể viết lại như sau: “Khi thanh tịnh rồi, tâm ấy tức không”

Thưa Thầy! Kính Thầy chỉ dạy để phần trả lời của con được tốt hơn. Con kính lạy Thầy ba lạy!  Con.

  • (03) Cảm Nhận TCTT 2018/10 − Thẩm sát Môn... (Lý Ngọc Hỷ)

Kính bạch Thầy!  Con xin nương nhờ thần lực Thầy, kiến giải các câu hỏi của TCTT kỳ 2018/10.

  • Trả lời câu hỏi 1 (Nhóm A): Làm việc phước thiện chưa nói lên được là có công đức hay không, vì còn phải xem người ấy làm với tâm nào, hữu lậu (thế gian, điên đảo) hay vô lậu (giác ngộ, giải thoát) ... Người làm thiện với tâm hữu lậu, chỉ cho ra phước báo nhân thiên. Người làm thiện với tâm vô lậu, sẽ phát sinh công đức.

  • Trả lời câu hỏi 2 (Nhóm B):

− Lìa thiện lìa ác để có công đức là cứu cánh của Nhị Thừa, vì thế câu trả lời này chỉ đúng với nhãn quan của Nhị thừa.

− Với nhãn quan Bồ tát thừa, do đời sống bất ly thế gian pháp, nên đối trước hai pháp thiện và ác đều chẳng thấy sai khác, gọi là đẳng. Vì thế, Bồ tát dù làm thiện hay ác đều có thể phát sinh công đức. Để xiển minh ý nghĩa này, Pháp Bảo Đàn Kinh, Lục Tổ nói: "Dù xông đao phá trận, tâm vẫn thanh tịnh''

  • Trả lời câu hỏi 3 (Nhóm C): Câu trả lời trên đã hoàn hảo, vì người hỏi chỉ cần biết điều kiện để “lìa thiện lìa ác”. Người đáp, trả lời đúng yêu cầu "ngoài không chạy theo cảnh duyên (không sinh tâm). Trong không sinh khởi các thứ quan niệm (không sanh hai pháp thiện ác)”. Theo con, trả lời trên đã đáp ứng được mục tiêu “lìa thiện lìa ác” của người hỏi, nên không cần phải thêm hay bớt gì nữa.

  • Trả lời câu hỏi 4 (Nhóm D): Câu trả lời này xét về nội dung là đúng, nhưng về văn tự thì kẹt tứ cú. Khi thanh tịnh rồi, tâm thức sẽ “tự không”, chứ không phải “trở về nghĩa không”, lỗi tứ cú ở hai chữ “trở về”.

Con xin đảnh lễ Thầy, kính chúc Thầy nhiều sức khỏe để chúng sanh được nhiều lợi lạc. Kính bút!  Con.

  • (04) Cảm Nhận TCTT 2018/10 − Thẩm sát Môn... (Lý Huệ Tánh; Amy)

  • Trả lời câu hỏi 1 (Nhóm A): Thưa Thầy, theo con hiểu thì công đức thuộc vô vi, mà vô vi thì chỉ có thể phát sinh từ những người Giác Ngộ. Cho nên trọng tâm của câu hỏi này không nằm ở hai chữ “làm thiện” mà là nằm ở hai chữ “công đức”. Vì thế câu trả lời hợp lý nhất nên là: Làm thiện cũng sinh và cũng không sinh công đức. Nếu người này đã giác ngộ, thì làm thiện sẽ sinh công đức. Nếu còn là một phàm phu thì việc làm thiện này chỉ sinh phước báo mà thôi (theo luật nhân quả). 

  • Trả lời câu hỏi 2 (Nhóm B): Muốn có công đức, phải “lìa thiện lìa ác”. Câu trả lời này không sai nhưng đây chỉ là bước đầu tiên khi người tu hành bắt đầu bước vào ngưỡng cửa Xuất Thế. Từ “lìa” ở đây cho ta cảm giác như đang chạy trốn, lánh né. Ví như Thầy hay nói “nếu còn bệnh thì đừng nên ra gió”. Chỉ khi nào viên mãn Diệt Đế rồi, thì dù giông gió ba cõi có thổi cỡ nào đi chăng nữa, ta vẫn sừng sững hiên ngang không lay động. Nói cách khác, muốn có công đức, không những phải lìa thiện lìa ác mà còn phải dừng hẳn phân biệt. Thiện hay ác đồng bình đẳng, đồng thanh tịnh!

  • Trả lời câu hỏi 3 (Nhóm C): Muốn “lìa thiện lìa ác”, phải làm như thế nào? Câu hỏi này không thuộc về lý thuyết, mà chủ yếu hỏi về cách “hành” (thực hành) như thế nào để lìa thiện lìa ác. Thưa Thầy, theo lời Thầy thường dạy bảo, muốn “lìa thiện lìa ác” chỉ có một cách duy nhất là “không sanh tâm sanh pháp”, tức “ngoài không chạy theo cảnh duyên, trong không sinh khởi các thứ quan niệm”. Câu trả lời này rất hoàn hảo vì đã đáp ứng được yêu cầu câu hỏi đưa ra. 

  • Trả lời câu hỏi 4 (Nhóm D): Khi thanh tịnh rồi, tâm thức sẽ “trở về nghĩa không”. Về mặt ý nghĩa, câu trả lời này là đúng. Nhưng về mặt văn tự, thì hai từ “trở về” mắc lỗi Tứ Cú, cho ta có cảm giác “có đến có đi” không được giải thoát. Vì thế, để câu trả lời hoàn thiện, nên nói rằng: Khi thanh tịnh rồi, tâm thức sẽ “tự không”. 

Vì quá bận rộn nên con ôm bài viết này 2 ngày rồi mới xong. Chiều nay đang làm, lại nghe Chị Ba ST nói là Thầy đã kết thúc trò chơi, nhưng con biết việc học là học cho mình chứ không học cho ai hết, nên con vẫn gởi cho Thầy đọc. Xin Thầy chỉ dạy thêm… Con xin Kính Thầy 3 lạy!  Con.

Các bạn! ...  Chiều nay mình mở máy thì nhận được email của Amy!  Càng xúc động hơn những lời tâm sự: “Vì quá bận rộn nên con ôm bài viết này 2 ngày rồi mới xong. Chiều nay đang làm, lại nghe Chị Ba ST nói là Thầy đã kết thúc trò chơi. Nhưng con biết việc học là học cho mình chứ không học cho ai hết... nên con vẫn gởi cho Thầy đọc. Xin Thầy chỉ dạy thêm”

Các bạn! ...  HĐ chúng ta, phần lớn làm những công việc không liên hệ đến viết lách, vì thế, viết là chuyện rất khó khăn! Trong số đó, có những người, học vấn thế gian không phải là thấp, được đào tạo ở nước ngoài, như Chị Linh chẳng hạn, nhưng lâu quá không viết, lại ít tiếp cận văn học Việt việc viết lại một bài đã được nghe giảng cũng là điều không dễ! Để khắc phục nhược điểm này, mình vẫn thường khuyến khích HĐ tập viết. Đọc nhiều, đọc thường xuyên, rồi tập viết. Ngày nào đó các bạn sẽ viết tốt!

Tập viết, sẽ có nhiều cái lợi: Cụ thể, khi viết, ta có thời gian chỉnh sửa câu văn, có thời gian tìm kiếm từ ngữ phù hợp, có thời gian suy nghĩ chín chắn điều sắp viết. Vì thế, khi viết thuần thục, viết và nói cân bằng, lời nói cũng trôi chảy mạch lạc hơn, điều này rất cần trong Bồ Tát Đạo!  Cho nên, tập viết cũng chính là tập nói! ... Lâu quá không viết, khi viết chúng ta sẽ ngại, sẽ mặc cảm bản thân viết không hay. Chính điều này, càng làm ta lười viết, thậm chí dị ứng với việc viết lách.  Suy nghĩ này, không làm cho ta tiến bộ trong việc học tập, nhất là học trí tuệ!

Loài người, đánh giá trí tuệ của kẻ khác, thông qua biểu hiện của văn tự ngữ ngôn... “Văn hay chữ tốt”, chính là một trong những lợi khí đầu tiên chiếc phục người. Văn không hay, chữ chưa tốt, rất khó, rất hạn chế trong việc tiếp cận một tầng lớp nhất định nào đó trong đời. Không tiếp cận được, thì còn nói gì đến chuyện giáo hoá! Trong thời gian qua, có rất nhiều HĐ chúng ta tập viết, tập trả lời các câu hỏi trong Trò Chơi Trí Tuệ.  Nhờ thế, các HĐ đó đến nay đã viết tốt, thậm chí theo đánh giá của mình, độ bén nhạy khi tiếp cận giáo pháp hoặc khả năng tư duy cũng nhờ đó tăng lên!

Đừng ngại! “Vạn sự khởi đầu nan”! Hãy tập viết, viết, viết và viết! ... Nhất định, sẽ có ngày thành công!                                               (11-09-2018)

Subscribe to