Luận Về Phật Tri Kiến
Phật pháp hay Phật tri kiến chính là một chuỗi kiến thức giúp một người bình thường, sau khi học và thấu suốt chuỗi kiến thức, ứng dụng thông thuộc vào đời sống, người đó sẽ có thấy biết gần như một Đức Phật. “Đại sự nhân duyên Phật ra đời là để, khai thị ngộ nhập Phật tri kiến cho chúng sanh”.

Tâm tông & trò chơi trí tuệ - Tác Giả Lý Tứ
Các bạn! ...
• Tri: Biết, nhận thức...
• Kiến: Thấy, trực nhận, cảm nhận...
• Phật tri kiến là thấy biết của một đức Phật!
Tất nhiên, thấy biết của một đức Phật là như thế nào, hiện tại chúng ta chưa thể biết được. Vì, chúng ta chưa phải là một đức Phật! Nhưng, nhờ vào những lời dạy, những pháp lành mà đức Phật nói ra. Từ đó, chúng ta học tập, chúng ta thấm nhuần, dần dần, chúng ta cũng sẽ hiểu đức Phật ấy nói gì! Giống như thấy biết của một người Thầy giáo, học trò không thể biết được. Nhưng nếu, người học trò ấy siêng năng, chăm chỉ học tập, đến lúc nào đó, người học trò cũng hiểu ra người Thầy hiểu biết như thế nào! Thậm chí, gắng công học tập, sẽ có một ngày người học trò trở thành Thầy giáo!
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa dạy rằng: “Đại sự nhân duyên Phật ra đời là để khai, thị Phật tri kiến cho chúng sanh”. Phật cũng đã dạy: “Ta là Phật đã thành, các ông là Phật sẽ thành”! Và, hoài bão của chư Phật là: “Giúp hết thảy chúng sanh rồi cũng thành Phật như mình”. Điều này nói lên rằng, đối với Phật đạo, những ai cố công học tập, cố công rèn luyện “đúng với chánh pháp”, nhất định sẽ có một ngày, vị chúng sanh đó cũng trở thành một đức Phật! Kinh Diệu Pháp Liên Hoa dạy: “Phật đạo chỉ có một thừa, không có hai ba thừa...” Và cũng dạy: “Như Lai bình đẳng dùng một thứ ngữ ngôn, nhưng mỗi loài căn tánh sai khác, nghe ra các ý nghĩa sai khác...” Điều này có nghĩa rằng, một lời Phật thuyết ra, vì căn tánh không đồng, nên có đến vô lượng nghĩa. Hay cùng một pháp lành, nhưng chúng sanh căn tánh sai khác, nên đức Phật đã dùng vô số món nhân duyên thí dụ để khai diễn pháp lành đó! Hai khía cạnh được nêu, là cốt lõi hình thành Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa! Ta có thể nhận thấy hình ảnh của các sai biệt này qua những ví dụ sau:
− Ví dụ một: Ngày xưa, ngoại đạo nhầm lẫn sắc, thọ, tưởng, hành, thức là ngã, họ cất công tu tập, rèn luyện để hy vọng một trong năm món này trở thành bền chắc... Đức Phật, chỉ ra một chân lý bất biến đó là, bản chất của sắc, thọ, tưởng, hành, thức không hề là ngã vì năm món ấy vô thường. Vì thế, vô ngã là chân lý, chân lý này được thể hiện qua lời dạy: “Không lấy sắc làm ta, làm ngã của ta, làm tự ngã của ta...”. “Ngũ ấm vô ngã” là chân lý! Có nghĩa rằng, một hữu tình, từ thân, tâm đến nhận thức... trong đó không có gì là ngã! Thế nhưng, khi nghe những lời dạy như thế, do không thấu triệt ý nghĩa lời dạy, ba thừa hình thành ba quan điểm khác nhau về vô ngã, từ đó mỗi thừa tìm cho mình một phương cách để thể nhập vô ngã. Từ các nhận thức sai khác về chân lý vô ngã, người tu hành đã biến chân lý trở thành pháp phương tiện, và sự thấu đạt chân lý bằng những cách ấy nếu có, cũng chỉ giới hạn trong phạm vi quyền tiểu, tức một sự thể nhập không hoàn toàn rốt ráo như bản chất của chân lý ấy!
− Ví dụ hai: Để chỉ ra một sự thật rằng, xưa nay, hữu tình không hề có tâm, Phật dùng vô số nhân duyên thí dụ để chỉ ra sự thật này, như: • Không nên trụ vào sắc để sanh tâm, không nên trụ vào thanh, hương, vị, xúc, pháp để sanh tâm! • Khi mắt thấy sắc, không nên nắm giữ các tướng cùng các quan niệm của sắc, không nên cho rằng sắc ấy đẹp hay xấu, ta thích sắc này hay không thích sắc này, sắc kia là vui hay buồn... Tai đối với âm thanh, mũi đối với mùi hương, lưỡi đối với các vị, thân đối với các xúc chạm, ý đối với các nghĩ suy cũng đều như vậy...
Tức không nên nắm giữ hình tướng cũng như các quan niệm về ngoại trần thông qua các căn và nhận thức không như pháp... Nếu nắm giữ hình tướng hay nắm giữ các quan niệm về ngoại trần thông qua các căn và nhận thức không như pháp, bất hạnh và lậu hoặc nhất định sẽ xảy ra trong tâm (vị ấy)!
Để thực hiện lời dạy này, thay vì dùng trí tuệ để trực nhận lời dạy hầu thành tựu một kết quả như pháp, rốt ráo không nắm giữ. Ba thừa với căn trí nhỏ hẹp, không thể một lúc có thể thấu triệt bằng chính năng lực trí tuệ của mình, từ đây hình thành những phương cách không nắm giữ khác nhau... Từ đó, pháp phương tiện ra đời, và cái gì hình thành từ phương tiện, thành quả của nó sẽ là một thứ thành quả tương đối, tức không thể là một thành quả như pháp, một thành quả không đúng với bản chất của vấn đề (chơn đế). Đây cũng là lý do vì sao, Phật đạo có những đạo quả sai biệt!
Học Phật tri kiến, hay thực hành bốn giai đoạn khai, thị, ngộ, nhập là các bước để người tu hành nhận diện, học tập, thấu triệt và ứng dụng hoàn hảo Phật tri kiến. Bốn giai đoạn này, giúp người tu hành hiểu được lời dạy của đức Phật, từ không rốt ráo đến rốt ráo, từ tư duy phân tích đến trực nhận, từ sơ ngộ đến liễu ngộ, hay nói khác hơn, khai thị ngộ nhập chính là bốn cung đường (đạo), đưa một chúng sanh u mê trở thành một vị Phật với đầy đủ trí tuệ!
Phật đạo hay Phật pháp là thứ chân lý về nhân sinh và vũ trụ (nhân sinh quan và vũ trụ quan) do đức Phật tìm thấy bằng chính sức mạnh trí tuệ của mình, nó chính là “một quan niệm sống” theo cách của các đức Phật! Do đó, để học tập chân lý này, ta cũng phải dùng chính năng lực trí tuệ của bản thân để thấu triệt lời dạy đó. Ở cấp độ nào đó, Phật pháp hay nhân sinh quan và vũ trụ quan (quan niệm về đời sống cá nhân và thế giới bên ngoài) của Phật đạo rất khác so với các loại nhân sinh quan và vũ trụ quan của thế gian, mặc dù Phật và người cùng chung sống trong thế giới vật chất này. Vì thế, nhân sinh và vũ trụ quan của Phật đạo, người đời rất khó nhận hiểu. Việc khó nhận hiểu, được tóm lược đại ý qua đoạn kinh sau: “Thôi đi ông Xá Lợi Phất! Nhận thức của một đức Phật là không thể nghĩ bàn! Chỉ có Phật với Phật mới cảm thông! Nhận thức đó như thế nào, nếu ta nói ra, người đời sẽ rất là kinh sợ!”
Qua lời dạy này, ta có thể hiểu, thấy biết của một đức Phật hoàn toàn vượt ra ngoài nghĩ tưởng dưới hình thái triết lí thông thường! Văn, tư, tu là ba cách thức tối ưu, là ba phương pháp dùng trí tuệ để thấu triệt và thể nhập một vấn đề trong đạo pháp!
Văn, có nghĩa là tiếp nhận tri kiến...
Tư là dùng trí tuệ để tư duy, phân tích, phản biện nhằm thấu triệt ý nghĩa đích thực thứ tri kiến mà ta vừa tiếp nhận.
Tu, đạo hay hành động là, ứng dụng tri kiến đó vào đời sống, để tri kiến và đời sống (đạo) không còn là hai thứ, hay nói khác hơn ta là đạo và đạo là ta, đạo và ta chẳng phải hai!
Văn và tư thuộc về khai và thị. Tu và đạo thuộc về ngộ và nhập. Văn, tư, tu, đạo chính là bốn bước chuyển hoá để khai, thị, ngộ, nhập trở thành hiện thực trong mỗi người tu hành! Để đào sâu, thấm nhuần, thực hiện tốt công việc tiếp nhận Phật tri kiến. Mình có một số câu hỏi như sau:
CÂU HỎI TCTT 2018/09 − Luận Về... “Phật Tri Kiến”
1) Về lý thuyết, một người rốt ráo chứng Diệt đế, mới có thể lãnh hội trọn vẹn Phật tri kiến! Xin hỏi: Người tu hành chưa chứng Diệt đế, có thể học tập Phật tri kiến được không? Vì sao được? Vì sao không?
− Nếu được, sau khi học, Phật tri kiến mà vị ấy tiếp thu sẽ trở thành điều gì?
− Nếu không, sau khi học, Phật tri kiến mà vị ấy tiếp thu sẽ trở thành điều gì?
2) “Việc học, ứng dụng Phật tri kiến” khác với “việc học, ứng dụng thế gian tri kiến” ở những “đặc điểm cơ bản” nào? Xin giải thích cụ thể và cho ví dụ?
3) Phật tri kiến có phải là “một sở pháp” hay không?
− Trường hợp nào, Phật tri kiến được coi là một sở pháp?
− Trường hợp nào, Phật tri kiến không phải là một sở pháp?
Đề nghị giải thích trường hợp bạn chọn, và cho ví dụ nhằm làm sáng tỏ giải thích đó! Rất mong, nhận được những kiến giải bổ ích từ các bạn. (02-08-2018)
GỢI Ý... TCTT 2019/09 − Luận Về... “Phật Tri Kiến”
Các bạn! ... Thận trọng cũng có cái hay của nó, nhưng thận trọng quá mức đâm ra cũng có cái dở! Thay vì suy nghĩ lần đầu đã đúng rồi, tự phản biện một hồi, nhìn đâu cũng thấy sai. Thế là, từ một sợi chỉ, trở thành một cuồn chỉ rối. Càng gỡ, nó càng rối!
Các bạn! ... Nhìn chung:
− Về phần trả lời: Hầu như mọi người đã đáp ứng được yêu cầu các câu hỏi đề ra.
− Về phương diện lí luận: Theo mình thì, lập luận của các bạn vẫn còn khá sơ sài, chung chung, chưa sắc sảo, vừa thừa vừa thiếu, khiến người đọc có cảm giác không thoả mãn.
− Về văn tự: Có bài, khi đọc lên, mình cảm giác như “đang đọc một bài viết trên Internet”. Một chút gì đó chắp vá, quan điểm mơ hồ, không thể hiện được cái hồn, cũng như hiểu biết chân thật của người viết.
Các bạn! ... Hiểu là một chuyện, lập luận để bảo vệ điều mình hiểu là một chuyện! Chúng ta không chủ trương đặt nặng lí luận! Nhưng, một khi cần lí luận để bảo vệ quan điểm của mình thì, lí luận đó phải đủ sức thuyết phục, chặt chẽ, khoa học, và trong đó ngầm biểu lộ dáng dấp thông tuệ của đạo pháp! Có làm được như thế, lập luận chúng ta mới có thể nhiếp phục được người đọc (hoặc nghe)!
“Thống lí đại chúng”, luôn là yêu cầu cao nhất của Phật đạo! Thống lí đại chúng bao gồm: Lập luận vững chắc, sức thuyết phục cao, ngữ ngôn vượt thoát, ngắn gọn dễ hiểu, ví dụ trong sáng, ý vị sâu thẳm, phong thái khoáng đạt, cận kề thời đại, có bản sắc riêng, v.v... Các điều nêu trên, là nét đặc trưng của Phật tri kiến, mà thống lí đại chúng là một phần tử quan trọng, không thể thiếu của thứ tri kiến kì đặc này! Học Phật tri kiến là, để thoát khỏi những tầm thường của kiếp nhân sinh. Sự vượt thoát ấy thể hiện qua cách nghĩ suy, cách sống, cách nhìn nhận, cách đặt vấn đề, cách suy luận, cách diễn đạt, cách tiếp cận, cách ứng xử, v.v... Nói chung, nó là văn hoá, là những quy tắc đã được thấm nhuần, thể hiện trong mọi giao thức xuất thế!
Mô hình Trò Chơi Trí Tuệ ra đời, với mong muốn, giúp chúng ta huân ướp Phật Tri Kiến Hương. Một thứ hương được tổng hoà bởi Vô Lậu Giới Hương, Vô Lậu Định Hương, Vô Lậu Tuệ Hương, Vô Lậu Giải Thoát Hương và Vô Lậu Xuất Thế Tri Kiến Hương! Các thứ hương vừa kể, là những loại hương không bị chi phối bởi bất kì một tác động nào của thế giới hữu lậu! Nó chính là lực dụng tối ưu của phép “thống lý đại chúng”, một thành tố quan trọng của Phật tri kiến! Hy vọng, sau mỗi lần Trò Chơi Trí Tuệ xuất hiện, sẽ giúp các bạn có những bước tiến cao hơn, chắc thật hơn trên con đường dẫn đến đạo quả trí tuệ! (03-08-2018)
Các câu hỏi lần này, cũng đặt ra nhiều phương án cho các bạn lựa chọn như các câu hỏi lần trước. Điều này cho thấy, Trò Chơi Trí Tuệ đã giúp “thủ pháp điểm huyệt” của các bạn có vẻ tốt hơn! Chúng ta tập chọn giải pháp đúng trong nhiều giải pháp, là hành động biến những gì đã học trở thành kĩ năng, khi kĩ năng hình thành, sẽ giúp các bạn mau chóng nhận ra thế nào là “quyết định nghĩa”! Trong Phật đạo, quyết định nghĩa rất quan trọng! Quyết định nghĩa giống như chọn đúng mã số để mở một ổ khoá. Các bạn thử tưởng tượng, trước mặt các bạn có vô số ổ khoá, trong đầu các bạn rất nhiều mã số. Nếu chúng ta không tìm ra mã số thích ứng với ổ khoá cần mở, sẽ không thể mở được cánh cửa!
Tâm thức của một hữu tình thay đổi vô thường, lúc thế này, lúc thế kia, nó giống như bị khoá bởi vô số ổ khoá khác nhau vào những thời điểm khác nhau. Các pháp mà các bạn đã học, cũng nhiều như số lượng mã số các bạn có trong đầu! Để mở cánh cửa tâm thức của hữu tình vào một thời điểm nhất định, giống như phải tìm một mã số thích ứng để mở một ổ khoá trong vô vàn ổ khoá! Việc làm này không hề dễ dàng, nó đòi hỏi người mở khoá phải có những hiểu biết nhất định cộng với các kĩ năng đặc biệt!
Thuyết pháp để giúp người giác ngộ, tuần tự khai mở tâm trí vào những thời điểm khác nhau bằng những đạo quả khác nhau, giống như việc mở khoá nói trên, nó rất khác với những bài pháp nhằm triển khai giáo lí căn bản!
− Triển khai giáo lí căn bản thuộc về Giáo Tông, giống như dạy người các thao tác kĩ thuật về việc mở các ổ khoá số, cùng lợi ích của nó...
− Khai mở tâm người thuộc về Tâm Tông, giống như chọn một mã số phù hợp với ổ khoá cần mở...
Việc khai mở tâm người, nếu ta không thiện xảo, không có quyết định nghĩa, vô tình để giây phút quan trọng trôi qua, hoang phí một thời cơ, là điều đáng tiếc! Mà thời cơ trong Phật đạo thường không nhiều, nếu để thời cơ vụt mất, việc tìm lại một đương cơ khả thi để mở “ổ khoá lòng người” là một điều không hề dễ dàng! Chúng ta thường nghe nói đến việc khai thị. Bản thân các bạn, ngoài việc thường xuyên được nghe mình trao đổi giáo lí cơ bản qua từng cấp độ tu tập dưới hình thức Giáo Tông... Ắt hẳn không ít lần các bạn đã được mình dùng thủ thuật nào đó, “mở ổ khoá tâm thức” các bạn qua hình thức Tâm Tông! Và sau mỗi lần như thế, các bạn bỗng dưng thấy mình sáng ra, hiểu Phật pháp sâu hơn, cảm giác được nâng lên một tầng nhận thức mới, từ đó các bạn có cái nhìn khác, thấy biết khác, và cảm nhận như đang sống một đời sống khác bằng một con người khác!
Đây là hình thức “Khai Nhãn Lực” để người tu hành tuần tự thành tựu các thứ nhãn trong Phật đạo. Phật đạo có ít nhất năm thứ nhãn mà người tu hành phải trải qua. Cứ mỗi lần thay đổi nhãn lực, vị tu hành ấy như vừa...thoát...kiếp!... Từ tăm tối đến sáng dần, rồi rực sáng... không phải là lẽ tự nhiên, mà nó là... là... là... hệ quả soi chiếu của mặt trời trong Thái Dương Hệ, và sự chuyển động theo một quỹ đạo nhất định của các hành tinh trong hệ này! Những lần đó, chính là những lần mình đã dùng mã số để mở cánh cửa tâm thức của các bạn bằng quyết định nghĩa!...
Các bạn! ... Học Phật đạo đôi lúc không giống việc học ở đời! Ngoài chuyện học kiến thức chuyên môn như ở đời, đặc trưng của Phật đạo là phải giác ngộ! Học kiến thức, giống như người ta học cách ngồi trên một chiếc thuyền như thế nào để chiếc thuyền không lật! Giác ngộ giống như có ai đó tác động một lực vừa đủ để chiếc thuyền trôi đi! Ngồi để chiếc thuyền không tròng trành, tránh nguy cơ sông nước là một chuyện. Chiếc thuyền đi tới bằng cách gì lại là một chuyện khác!
Giáo Tông giống như học ngồi thuyền! Tâm Tông giống như học bơi để thuyền đi tới! Ban đầu chưa biết bơi, ta nhờ người khác đẩy... Đến khi phải làm Lão Lái Đò để đưa người sang sông thì, phải học cách chèo thôi! Câu nói bất hủ của Lục Tổ bên bờ sông Cửu Giang chắc các bạn còn nhớ! “Khi mê Thầy độ! Ngộ rồi phải tự độ!” ... Nhưng chuyện độ người thì đến chừng nào và bằng cách gì?
Ngay bây giờ, chúng ta học tập những kĩ thuật cơ bản để đưa ra một “quyết định nghĩa”, chính là học bơi thuyền, bằng việc chọn phương án đúng. Việc làm này, giúp các bạn hình thành kĩ năng đặc biệt về việc chèo thuyền. Đầu tiên, học để thuyền của mình có thể đi tới, kế đến học để khai mở tâm trí người (cho thuyền của họ...cũng...đi!).
Trả lời đúng hay sai lúc này chưa quan trọng! Trước sai rồi sau đúng! Đây là lẽ tự nhiên của bất kì việc học nào trên đời. Đừng ngại! Chẳng ai sinh ra là Thánh cả! Vấn đề là, ta có chịu học hay không? Hôm nay có thể trả lời sai, nhưng ta quyết lập luận để bảo vệ cái sai thuyết phục thì, nhất định ngày sau, khi trả lời đúng lập luận bảo vệ của ta trở thành vô đối! (04-08-2018)
Các bạn! ... Thực tế, các câu hỏi mình đưa ra trong những Trò Chơi Trí Tuệ gần đây, hoàn toàn không dễ! Nếu, không nắm vững giáo pháp, không được học tập bài bản, không có những thành tựu nhất định. Chắc chắn khó có thể trả lời thuyết phục những câu hỏi này!
Về ba câu hỏi của Trò Chơi Trí Tuệ lần này, chúng ta có thể trả lời từ “nhân”, có thể trả lời từ “quả”, có thể trả lời từ “thể”, có thể trả lời từ “dụng”, có thể trả lời từ “tánh”, có thể trả lời từ “tướng”, v.v... tất cả đều đúng! Và, sự phong phú, đa dạng đó đã thể hiện qua những trả lời của các bạn trong Trò Chơi Trí Tuệ lần này!
Vấn đề cốt lõi ở đây là, khi đã hiểu Phật tri kiến là gì, thì cho dù các bạn trả lời ở mặt nào (hoặc nhân, hoặc quả, hoặc thể, hoặc dụng...) cũng đều có thể đáp ứng được yêu cầu các câu hỏi đặt ra!
Giống như có nhiều người đứng chung quanh chân một ngọn núi. Những người này đồng muốn lên đỉnh núi. Các bạn là người đang ở trên đỉnh núi. Từ đỉnh núi cao, các bạn quan sát rõ những người bên dưới. Do quan sát rõ từng người. Việc hướng dẫn những người ấy lên đỉnh núi không còn là việc khó. Ưu thế của trí tuệ là như vậy, giống như ưu thế của người đứng trên đỉnh núi.
Phật pháp hay Phật tri kiến chính là một chuỗi kiến thức giúp một người bình thường, sau khi học và thấu suốt chuỗi kiến thức, ứng dụng thông thuộc vào đời sống, người đó sẽ có thấy biết gần như một Đức Phật. “Đại sự nhân duyên Phật ra đời là để, khai thị ngộ nhập Phật tri kiến cho chúng sanh”. Ta có thể hình dung, Phật tri kiến như một chiếc bánh khổng lồ, được chia thành bốn phần!
− Có người ăn một phần tư (1/4) chiếc bánh, người này dứt tám món khổ nhân sinh... Hoàn thành Khổ đế!
− Có người ăn hai phần tư (2/4) chiếc bánh, người này đoạn tận kiết sử, lậu hoặc không còn sinh khởi... Hoàn thành Tập đế!
− Có người ăn ba phần tư (3/4) chiếc bánh, người này thấy được bổn tâm, kiến được bổn tánh, vĩnh viễn tâm thức không còn sanh diệt... Hoàn thành Diệt đế!
− Có người ăn trọn (4/4) chiếc bánh, người này thành tựu trí tuệ... Hoàn thành Đạo đế!
Bốn phần của chiếc bánh nói trên, chính là sự “chia nhỏ Phật tri kiến thành bốn Đế”! Nếu, ta coi:
− Khổ, Tập, Diệt, Đạo đế là “nhân”!
− Giác ngộ, giải thoát, trí tuệ là “quả”!
− Bất động, thanh tịnh, giác liễu là “thể”!
− Không tâm, không pháp, vô ngã, xuất thế là “dụng”!
− Kiến tánh giác, kiến tự tánh, kiến Phật tánh là “tánh”!
− Không tướng, không tánh, vô cấu, vô lậu là “tướng”!
Nói chung, Phật tri kiến có vô số nét đặc thù, chúng ta có thể dùng nhiều cách để thể hiện qua những ngữ nghĩa như thế! Như vậy, cho dù người ăn một phần hay người ăn cả chiếc bánh thì, tất cả đồng ăn một thứ bánh như nhau, đó là Phật tri kiến. Có khác chăng, do: Cơ duyên, năng lực, công đức, trí lực... khác nhau nên sự thừa hưởng lợi ích không giống nhau!
Vấn đề được đặt ra ở đây là, chiếc bánh bạn đã ăn “có đích thực là chiếc bánh Phật tri kiến hay không?”. Nếu đúng là chiếc bánh Phật tri kiến thì, chỉ trừ những người “vô duyên bạc phước”, hay hạng người “tăng thượng mạn” ... mới không hưởng dụng lợi ích chắc thật từ chiếc bánh kia. Còn lại, tất cả những ai có nhu cầu thực sự, đều có thể ăn chiếc bánh Phật tri kiến mà chư Phật đã để lại cho thế gian, và thành tựu bốn lợi ích của nó là điều chắc chắn!
Bây giờ, chúng ta thử tìm hiểu xem, chiếc bánh Phật tri kiến và chiếc bánh thế gian tri kiến “khác nhau ở những đặc điểm cơ bản” nào? Nếu, chúng ta hiểu được bốn lợi ích của chiếc bánh Phật tri kiến như đã trình bày ở trên, câu hỏi này không còn là câu hỏi khó. Từ đó, ta có thể quyết chắc rằng:
− Chiếc bánh nào, khi ăn vào, mà không thành tựu bốn lợi ích nêu trên, chắc hẳn đó là chiếc bánh thế gian tri kiến!
− Còn chiếc bánh nào khi ăn vào, ta và người có thể tìm thấy bốn thứ lợi ích nêu ở phần trên, chắc chắn đó là chiếc bánh Phật tri kiến. “Nhân, quả, thể, dụng, tánh, tướng, v.v...” Chính là những chiếc cân đối chứng, là mực thước để chúng ta tìm ra đâu là chiếc bánh Phật tri kiến, và đâu là chiếc bánh thế gian tri kiến!
Về Phật tri kiến có phải là “một sở pháp” hay không?
Mọi người đều biết rằng, Chư Phật là không pháp. Mà đã không pháp thì, pháp nào là năng, pháp nào là sở? Chư Phật không có một chiếc bánh nào cả, nhưng vì sức từ bi, vì công đức của chúng sanh, Như Lai hoá hiện ra vô số chiếc bánh Phật tri kiến. Các pháp lành này, được kinh Lăng Già mô tả qua hai câu kệ:
“Vì thương chúng sanh nên, Như lai vẽ các hình!”
Giống như cái trống, tự thân không có tiếng kêu. Nhưng nếu có người đánh, cái trống sẽ kêu đúng với mong muốn người đánh! Với người đánh, tiếng trống chính là “một sở pháp” làm nên những công dụng nhất định của nó! (06-08-2018)
Các bạn! ... Cùng câu hỏi, nhưng có HĐ trả lời thế này, có HĐ trả lời thế kia. Vì đây, chỉ là những câu trả lời chưa phải là những bài viết “Chuẩn Mực”, càng không mang trong nó tính “Giáo Khoa”. Tổng hợp lại, các bạn rút ra những kết luận, giúp bản thân tu tập tốt hơn! Chúng ta “đọc”, để đúc kết một điều gì đó cho riêng mình trong cách tư duy, lập luận và trả lời qua việc đọc những “bài viết trả lời” với tinh thần vừa nêu! Mình sẽ chuyển đến mọi người trả lời của HĐ chúng ta qua emails để HĐ “Tham Khảo” ... Từ đó, chúng ta có cái nhìn toàn cảnh về việc tu học của HĐ Lý Gia! Không biết bức tranh Trò Chơi Trí Tuệ - 2018/09 là đẹp hay xấu? Nhưng đến đây, được coi là đã vẽ xong! (06-08-2018)
Các bạn! ... Từ TCTT 2018/07 đến... 18/08... rồi... 18/09... Có thể nói, đây là “một cuộc chơi tưng bừng, không kém hào hứng” được HĐ chúng ta đón nhận nồng nhiệt! Toàn cảnh bức tranh, với nhiều nét chấm phá, với nhiều mảng màu sáng tối khác nhau. Nhưng theo mình, ý nghĩa của nó là “đồng nhất vị”. Tất nhiên, như năm ngón tay trên một bàn tay, tuy dài ngắn khác nhau, nhưng nhờ sự co duỗi, hoạt động của chúng thống nhất, nên bàn tay đã làm được việc của mình! Bàn tay của Lý Gia cũng như vậy. Nó đã giúp chúng ta làm được việc cầm nắm giáo pháp một cách chắc chắn. Rồi đây, cũng bàn tay này, ngoài việc cầm nắm thông thường, chúng ta sẽ luyện tập, để nó có thể cầm nắm, hái bắt những vật xa hơn, cao hơn, nặng hơn. Mà những bàn tay bình thường không thể làm được!
Chúc các bạn an vui, tinh tấn! Xin hẹn gặp mọi người ở Trò Chơi Trí Tuệ - 2018/10!
(07-08-2018)
Luận Về Thuyết Thông, Tông Thông Và Tầng Bậc Kiến Tánh Trong Phật Đạo
Chúng ta càng hiểu rõ “Phật tri kiến” chừng nào, càng dễ thể nhập trí tuệ chừng ấy, vì nó là con đường đưa đến “cửa ngõ thuyết thông” … Chúng ta càng tường tận khái niệm “kiến tánh” chừng nào, càng dễ thành tựu đỉnh cao Phật đạo chừng ấy, vì nó là con đường dẫn đến “cửa ngõ tông thông”.

Tâm tông & trò chơi trí tuệ - Tác Giả Lý Tứ
Các bạn! ... Trò chơi trí tuệ vừa rồi (TCTT - 2018/07), chúng ta đã trao đổi với nhau chỉ thú cốt lõi của kinh Diệu Pháp Liên Hoa, đó là khai, thị, ngộ, nhập Phật tri kiến... Đồng thời cũng mổ xẻ ý nghĩa khái niệm kiến tánh trong Phật đạo... Để làm rõ hai vấn đề này, việc phân tích cũng như tìm hiểu đến nơi đến chốn mỗi đề tài đã được thảo luận, không bao giờ là việc làm thừa...
− Chúng ta càng hiểu rõ “Phật tri kiến” chừng nào, càng dễ thể nhập trí tuệ chừng ấy, vì nó là con đường đưa đến “cửa ngõ thuyết thông” …
− Chúng ta càng tường tận khái niệm “kiến tánh” chừng nào, càng dễ thành tựu đỉnh cao Phật đạo chừng ấy, vì nó là con đường dẫn đến “cửa ngõ tông thông”.
Các bạn! ... Cái được gọi là Phật trí, hay trí tuệ trong Phật đạo là thứ gì đó không hình không tướng, rất khó nhận biết, vì thế rất dễ nhầm lẫn với các thứ trí của thế gian, nhất là khi đề cập đến những vấn đề liên quan đến Phật pháp… Người xưa gọi các thứ trí thế gian hiểu và biện giải Phật đạo là “biện thông thế trí”! Những luận giải thuộc loại “biện thông thế trí” chỉ có thể chiếc phục được những người không am tường Phật đạo, và tất nhiên, nó không thể đánh lừa những hành giả thấu suốt Phật pháp. Tai hại của việc diễn giải Phật pháp theo kiểu “biện thông thế trí” có thể làm cho người nghe nghe lọt lỗ tai, nhưng khi ứng dụng những điều đã nghe vào việc tu tập thì, kết quả không như mong đợi!
Dùng thế trí diễn giải Phật pháp, giống như chuyện “người mù sờ voi”. Khi anh mù sờ vào chân voi, bảo con voi giống cây cột đèn, miêu tả này ta có thể tạm chấp nhận ở một người mù! Nhưng khi người mù sờ cây cột đèn, bảo rằng đây (cây cột đèn) là con voi, diễn giải theo cách của anh mù bây giờ đã đi quá xa bản chất vấn đề! Đến khi anh mù “cao hứng làm Thầy”, dạy những anh mù khác, hãy tìm con voi bằng cách lần theo các sợi dây điện ở lề đường!... Chuyện không thể chấp nhận!
Đạo Phật là đạo trí tuệ! Đỉnh cao của Phật đạo là trí tuệ! Sự nghiệp của người tu hành trong Phật đạo là thành tựu trí tuệ! Tất nhiên, “nhân nào quả đó”, đạo quả trí tuệ nhất định không thể sinh ra từ một nhân khác (tà tông)! Vì thế, Phật tri kiến là chính nhân của quả trí tuệ! Trí tuệ tuy không hình không tướng, nhưng lại là “một thực chứng”. Cho nên, trí tuệ cũng có những đặc trưng của nó, đặc trưng của trí tuệ, luôn luôn bao gồm hai yếu tố cốt lõi, đó là “thuyết thông và tông thông”. Hai đặc trưng trên, được mô tả cụ thể trong kinh Lăng Già:
“Ta có hai thứ thông,
Thuyết thông và tông thông,
Thuyết chỉ lối sang sông (mê),
Tông đưa người đến bờ (trí).”
Hai thứ thông cũng được Lục Tổ khắc hoạ qua bốn câu kệ:
“Thuyết thông và tông thông,
Như mặt trời (giữa) hư không,
Duy truyền phép kiến tánh,
Xuống thế phá tà tông!”
Thuyết thông, là thứ ngôn thuyết khi phát ra, nó có thể khiến người nghe lần lượt thành tựu bốn đế! Đây là tấm bản đồ, giúp người tu hành dù ở bất kì hướng nào, cũng có thể tìm đến mục tiêu đã định!
Tông thông, là loại năng lực phát sáng khi chiếu ra, có thể khiến người tu hành dù bất kể căn cơ nào, cũng có thể thành tựu ba tầng kiến tánh. Đây là những mục tiêu cụ thể, giúp người tu hành biết mình đã đến đâu và còn những mục tiêu nào phía trước!
Thuyết thông và tông thông là hai thứ kì đặc mà chỉ có từ trí tuệ của Phật đạo. Nó giống như những thông tin chính xác về một hành trình, và thực địa trên hành trình đó. Chánh nhân của thuyết thông là Phật tri kiến, chánh nhân của tông thông là ba lần kiến tánh qua các bước thành tựu bốn đế. Để hiểu thấu đáo hai thứ Thông, 3 loại kiến Tánh… mình có một số câu hỏi sau:
CÂU HỎI TCTT 2018/08 – “Thuyết Thông, Tông Thông” Và “Tầng Bậc Kiến Tánh” Trong Phật Đạo
1) Giả sử, một người tu hành đã ngộ nhập Phật tri kiến. Theo bạn, ngộ nhập của người đó có được coi là thành tựu thuyết thông hay chưa? Vì sao được, vì sao chưa? Hãy giải thích, và cho ví dụ để làm sáng tỏ giải thích của bạn!
2) Kiến tánh giác, kiến tự tánh, kiến Phật tánh: Ba thứ kiến này, cùng kiến (thấy) chung một điều gì đó, hay thấy ba thứ khác nhau?
− Nếu ba lần thấy này, chỉ thấy một thứ thì, vì sao lại thấy đến ba lần, và đó là thứ gì? Xin cho ví dụ!
− Nếu ba lần thấy này, thấy ba thứ khác nhau. Ba thứ đó là ba thứ gì? Mỗi thứ từ đâu ra? Xin chứng minh cụ thể!
3) Phật trí và Phật tri kiến là hai hay là một? Tức, hai thứ này: Một thể một dụng, hay (cả hai) đồng thời vừa thể vừa dụng?
Rất mong nhận được những kiến giải bổ ích từ Các bạn! (16-07-2018
GỢI Ý... TCTT 2018/08 – “Thuyết Thông…” Và “…Kiến Tánh” …
Các bạn! ... Câu hỏi ghi rất rõ:
“− Nếu ba lần thấy này, chỉ thấy một thứ thì, vì sao lại thấy đến ba lần, và đó là thứ gì? Xin cho ví dụ!
− Nếu ba lần thấy này, thấy ba thứ khác nhau... Ba thứ đó là ba thứ gì? Mỗi thứ từ đâu ra? Xin chứng minh cụ thể!”
Theo mình, nội dung ba câu hỏi lần này không khó, hầu như các yêu cầu đặt ra, mình đã trao đổi với các bạn nhiều lần, chỉ cần nắm vững vấn đề là có thể trả lời được. Cái khó ở các bạn là, ba câu hỏi thuộc dạng mở, mang “tính nước đôi”; Có nghĩa rằng: “Trả lời thế này hay trả lời thế kia, đều có cảm giác đúng...” Chính cảm giác “nước đôi” này, làm người trả lời phân vân, nếu không xác quyết được đâu là trọng tâm câu hỏi và yêu cầu của nó là gì thì, từ một điều tưởng chừng rất dễ lại trở thành khó. Điều này giống như, đứng trước một ngã ba đường các hướng đi đều giống nhau, buộc phải lựa chọn một hướng, đúng là không dễ cho những ai chưa nắm chắc điểm cần đến nằm ở hướng nào!
Các câu hỏi được đưa ra, nhằm giúp các bạn hình thành thói quen chọn một giải pháp trong nhiều giải pháp, và chọn lựa đó phải mang tính quyết định! Vì rằng, quyết định nghĩa chính là sức sống của giáo pháp! Thiếu nghĩa quyết định, giáo pháp khi tuyên thuyết, sẽ trở thành một “thây ma vô hồn”! Muốn chọn một giải pháp tối ưu trong nhiều giải pháp, ngoài việc phải có một lượng kiến thức nhất định đối với yêu cầu câu hỏi đặt ra. Các bạn còn phải tìm xem, câu hỏi được đặt ra trong thời điểm hiện tại nhằm vào mục đích gì? Mục đích nhắm đến của các câu hỏi mới là yếu tố quan trọng! Thoả mãn được yếu tố này, quyết định nghĩa sẽ xuất hiện, đây chính là “sức sống và cái hồn” của các câu trả lời trong Phật pháp! (17-07-2018)
Các bạn! ... Rất lý thú!
Đêm đã khuya, trời còn mưa rã rích...
Ngồi ở đây, đọc tâm sự của nhau...
Cuộc trần ai, như sương khói qua mau!
Ai được mất? Ai chẳng màn thế sự?
LÝ TỨ (18-07-2018)
Các bạn! ... Đã gọi là trò chơi, tức chúng ta không đặt nặng nhiều vào việc trả lời đúng hay sai, hơn hay thua, mà cốt ở tinh thần tích cực tham gia của mọi người! Tuy nói rằng, đây chỉ là trò chơi, nhưng lại là thứ trò chơi đem lại nhiều bổ ích trong việc tu tập.
− Bổ ích thứ nhất là: Nhân dịp này, chúng ta ôn lại lượng kiến thức đã tiếp thu từ trước, đồng thời tiếp nhận kiến thức mới...
− Bổ ích thứ hai là: Nhân dịp này, chúng ta tập phân tích, tập lý giải, tập kết luận một vấn đề như pháp...
− Bổ ích thứ ba là: Nhân dịp này, chúng ta tập đào sâu một ý nghĩa bất kì của Phật đạo đến nơi đến chốn...
− Bổ ích thứ tư là: Nhân dịp này, chúng ta rèn giũa văn tự, một thứ khí cụ không thể thiếu trong Bồ Tát Đạo...
− Bổ ích thứ năm là: Nhân dịp này, các kiến giải của chúng ta, được chuyển đến đại chúng, cầu đại chúng thẩm định và bổ khuyết...
− Bổ ích thứ sáu là: Nhân dịp này, chúng ta học hỏi lẫn nhau về nhiều phương diện...
− Bổ ích thứ bảy là: Nhân dịp này, mỗi người tự thấy được khiếm khuyết của mình, từ đó khắc phục để ngày một hoàn hảo hơn...
− Bổ ích thứ tám là: Nhân dịp này, chúng ta thấy được mặt bằng tu tập chung của HĐ chúng ta, để có thể đánh giá một cách chính xác nhất...
− Bổ ích thứ chín là: Nhân dịp này, chúng ta hiểu ra, thế nào là một thứ “Trò Chơi” của Đạo Pháp!
− Bổ ích thứ mười là: Nhân dịp này, các con mèo của Lý Gia lại có dịp khen nhau... cái... đuôi... của mình dài hơn cái đuôi của các con mèo... nhà... người!
− Bổ ích thứ mười một là: Nhân dịp này, chúng ta chơi mà không...mất...tiền...Như chơi số đề, bầu cua hay cá độ!
Nói chung, xét về mặt lợi ích thì theo mình, Trò Chơi Trí Tuệ có rất... rất nhiều bổ ích, khó có thể cân, đong, đo, đếm được... Cho dù có kể đến một kiếp hay một kiếp giảm cũng không thể nói hết được lợi ích của nó! Tuy lợi ích là như thế nhưng tỉ lệ HĐ của chúng ta tham gia gửi bài không nhiều... Cứ mỗi lần gởi câu hỏi đi, không cần sử dụng thần thông, mình cũng có thể biết được những ai tham gia, những ai không! Nhưng rồi mình lại suy nghĩ, giống như một tuồng hát được công diễn... Ắt hẳn số lượng nghệ sĩ phải ít hơn khán giả... Nếu ở đâu đó, số lượng nghệ sĩ bằng hoặc nhiều hơn khán giả thì, có lẽ nghệ sĩ sẽ thất nghiệp dài dài…...
Phật dạy: “Những gì ta biết, như lá trong một rừng cây... Những gì ta nói với các ông, như số lá trong nắm tay!”. Có bao giờ các bạn đặt câu hỏi: “Nếu phải đếm, thì đến bao giờ người ta mới có thể đếm hết số lá trong một rừng cây? Một năm? Một đời? Hay bao nhiêu đời?’’
Học “Phật tri kiến”, như người cất công đếm lá cây trong rừng... Có được Phật tri kiến, như người biết được số lá trong một rừng cây! Năm chữ “ngộ, nhập Phật tri kiến” đằng sau năm chữ “khai, thị Phật tri kiến” nhằm nói lên điều gì? Nếu phải đếm, để biết rừng có bao nhiêu lá, nhất định sẽ là việc làm không khả thi! Nhưng, nếu ngồi mong nhờ một phép mầu, bỗng dưng ta biết rừng có bao nhiêu lá, cũng là hành động không khả thi, thậm chí rất vô lý!
Cụm từ “khai, thị, ngộ, nhập” bao hàm hai giai đoạn: Khai thị là chỉ cho thấy để học tập, và ngộ nhập là thấu suốt để có được. Hai giai đoạn này, giống như một người vừa cất công đếm lá, trong khi đang đếm, bỗng dưng ngộ ra rừng cây có bao nhiêu lá! Đây được coi là điều khó hiểu nhất của Phật đạo! “Ngộ nhập” là sự bùng vỡ nào đó mà người xưa tóm tắt bằng hai chữ “hoát nhiên”! Một đời tu tập miệt mài, rồi một sát na nào đó “bỗng dưng” hay “hoát nhiên” nó... thông! Một sự thông tuệ chẳng phải từ trên trời rơi xuống, mà nó là kết quả của một công trình “rất chi vô lý” của kẻ cất công “đếm lá trong rừng”!
Đi tìm cái hữu lý từ một việc làm vô lý! Các bạn thử nghĩ xem, điều này có được gọi là hy hữu không? Trò Chơi Trí Tuệ ra đời, chúng ta mãi miết tìm cách trả lời hết câu hỏi này đến câu hỏi khác, như kẻ vô vọng đếm lá trong rừng. Với hy vọng, một ngày đẹp trời nào đó, trong một lần hoát nhiên, bỗng dưng ta ngộ ra: “số lá trong rừng cây, chính là những... chiếc... lá… trong... tay”! ... (20-07-2018)
Các bạn! ... Có đọc trả lời của các vị Nữ HĐ Lý Gia, mới thấy rằng, chỉ với danh xưng Nữ Lưu không thôi, danh xưng này còn rất nhiều khiếm khuyết đối với các vị Nữ HĐ chúng ta! Có thể nói, Phật tri kiến là đề tài lớn trong Phật đạo, từ ngàn xưa, số người dám luận bàn phân tích đề tài này, không quá các ngón tay của hai bàn tay! Thế mà hôm nay, đề tài gọi là lớn đã được Lý Gia đem ra mổ xẻ, và các vị Nữ HĐ chúng ta không hề thua kém các nam nhân trên phương diện luận bàn! Thế mới biết, ngày xưa nàng Long Nữ đã khiến đại đệ tử của Phật là Đại Trí Xá Lợi Phất kinh ngạc không phải là chuyện không có... Hoặc như Vô Uý Đức Nữ Bồ Tát hay Thắng Man Phu Nhân đã nhiều lần khiến các Thánh đệ tử của Thích Ca Mâu Ni, thậm chí các Bồ Tát danh tiếng thời ấy bái phục, chẳng phải là việc gì ghê gớm lắm đối với hôm nay! Và điều này cũng nói lên rằng, trượng phu hay bồ liễu chẳng phải ở cái thân, mà nó là biểu hiện của tâm và trí! Cho dù “vai năm tấc rộng thân mười thước cao” như Từ Hải ngày xưa, mà cái tâm u mê, cái trí mờ tối thì, chẳng khác chi phận “má hồng”!...
... Để tán thán toàn bộ Nữ HĐ của Lý Gia. Hôm nay, vào lúc 18 giờ 02 phút ngày 20 tháng 07 năm 2018. Nhằm: Thân Thời Lục Nguyệt Sơ Bát Nhật Mậu Tuất Niên Việt Nam Quốc, tất cả Nữ Lưu của Lý Gia đồng có danh xưng Lý Nữ Phương Danh (Nữ nhân nhà họ Lý lưu danh mười phương) và danh xưng này phải được viết hoa trong mọi văn bản! ...
Đọc lại toàn bộ bài viết của các bạn kì này, dù trả lời không đồng nhất, có nhiều quan điểm khác nhau... Nhưng với mình, mỗi bài, mỗi bài là một viên ngọc quý của đạo pháp! Thật tình, mình muốn có thêm nhiều, thật nhiều kiến giải được các bạn đưa ra! Đối với một đề tài lớn, trước sức ép thời gian, trước sức ép tư duy phân tích, trước sức ép phải viết suy nghĩ thành lời.... Hầu như năm ngày, chưa phải là thời gian vừa đủ để chúng ta có thể bình tâm tư duy câu hỏi, chưa đủ thời gian để chúng ta nhìn ngắm và thẩm định từng bài viết. Nếu có đọc, chỉ là “cưỡi ngựa xem hoa”, nếu có tư duy, chỉ là “hạt mưa tháng bảy”. Mọi thứ chẳng thấm vào đâu đối với công trình trí tuệ!
Các viên ngọc từ những bài trả lời chúng ta thấy được thì đã rực sáng qua emails, còn những viên ngọc mà các HĐ không có email trình đại chúng thì thế nào đây? Theo mình, “người viết ra hay một, nhưng người thẩm định mới là kẻ hay mười”! Bây giờ, chúng ta thử cùng hợp tác để nhận ra đâu là một, đâu là mười! (19-07-2018)
(Tham khảo) CẢM NHẬN TCTT 2018/08 của HĐ…
Tiêu Chí Bình Chọn Bài Trả Lời TCTT 2018/08 − ... “Thuyết thông, Tông Thông” Và “Tầng Bậc của Kiến Tánh” … “HAY NHẤT”
Các bạn! ... Các đề tài được đưa ra trong Trò Chơi Trí Tuệ từ trước đến nay, được HĐ chúng ta đón nhận và quan tâm! Cho dù những HĐ có bài viết gởi về, hay những HĐ không tham gia bằng Email, đều coi các câu hỏi là đề tài tu tập...
Từ lúc câu hỏi gởi đi đến lúc kết thúc, mỗi đề tài là quãng thời gian để mọi người nghiền ngẫm tư duy, cho dù làm bất kì công việc gì, tâm trí cũng không rời đạo tràng! Chỉ bấy nhiêu thói cũng đủ thấy rằng, sức tu tập của HĐ chúng ta không thể nghĩ bàn! Xin tán thán chung! Để mọi người có thời gian đọc toàn bộ trả lời, có đủ thời gian thẩm định viên ngọc nào sáng nhất! Xin đề nghị!
Chọn một (01) bài viết mà bạn ưng ý nhất, theo tiêu chí sau:
1) Phân tích hợp lý. 2) Lý luận sắc bén. 3) Văn tự dễ hiểu. 4) Trả lời thuyết phục.
Gởi kết quả về cho mình (email, điện thoại hoặc Facetime)
Bài viết được đánh giá xuất sắc nhất, sẽ làm tài liệu tổng kết Trò Chơi Trí Tuệ lần này, vì nó là công trình thẩm xét chung.
Để động viên tinh thần, phần thưởng cho vị HĐ đạt giải là: Một cuốn Kinh Diệu Pháp Liên Hoa xuất bản năm 1950 (Cụ kinh này lớn tuổi hơn mình, đã 68 tuổi), mặc dù Cụ già nua, xấu xí, rách bìa vì bọn ác lật tới lật lui nhiều lần, nhưng Cụ Kinh được mình rất kính quý... Kính quý vì, cho dù bọn ác bao lần tàn hại dung nhan của Cụ như thế, nhưng chưa một lần Cụ ta sinh tâm sinh pháp. Nghe mà ghê chưa?
Các bạn trong cùng một nhóm, có thể dùng chung một email để gởi kết quả nhiều người. Ví dụ: Nhóm Quảng Nam:
− Minh Pháp chọn: Bài Lý Nhạn Ảnh.
− Bốn Duyệt chọn: Bài Lý Chơn Thiệt... (20-07-2018)
Bình Chọn “Bài Viết HAY” (Trả Lời − TCTT 2018/08)
Các bạn! ... Như mình đã viết: “Theo mình, người viết ra hay một, nhưng người thẩm định mới là kẻ hay mười!” Vì sao nó lại như vậy? Để có thể thẩm định đánh giá một tác phẩm, một bài viết. Người thẩm định đánh giá, phải là người thông tuệ hơn người viết. Giống như muốn chấm bài của học sinh, phải là Thầy giáo dạy học sinh đó! Nếu bảo rằng, yêu cầu người thẩm định phải có trình độ cao hơn người viết thì, các HĐ của chúng ta có đủ năng lực thẩm định, đánh giá bài viết của các HĐ khác hay không? Trước khi đưa ra yêu cầu các bạn đánh giá và bình chọn bài viết hay nhất, mình đã có chủ đích: “Tất nhiên, trong HĐ chúng ta ở hiện tại, chưa thấy một vị nào hoàn toàn vượt trội HĐ khác, xét mặt bằng chung, độ chênh lệch nhau không nhiều!” Nhưng, từ khi gởi câu hỏi đến lúc đưa ra yêu cầu bình chọn, hầu như mỗi bài viết của mình là một định hướng để các bạn trả lời, mỗi bài viết luôn luôn ẩn chứa những hướng dẫn cần thiết đủ để các bạn hiểu ra những điều đã hỏi là gì, và trả lời như thế nào là đúng nhất. Thậm chí, nếu tinh ý, các bạn có thể tìm thấy kết quả đúng nhất từ trả lời của các HĐ khác sau mỗi gợi ý của mình! Vì thế, nếu vị HĐ nào đó đọc kỹ những gì mình đã gợi ý cũng như các câu trả lời, nhất định việc thẩm định, đánh giá bài viết nào tốt nhất trong những bài viết không còn là việc làm quá sức của Các bạn!
Tập thẩm định, đánh giá bài viết của HĐ cũng là một cách học Phật tri kiến. Vì rằng, đọc kĩ và hiểu rõ bài viết của HĐ, cộng với những định hướng trả lời đã ngầm gởi gắm trong các emails, là cơ sở tốt nhất giúp các bạn hiểu ra và thể nhập những đạo lý cao hơn!
Trước khi thuyết Diệu Pháp Liên Hoa, Phật thuyết kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa. Sau đó, nhập vào Vô Lượng Nghĩa Xứ Tam Muội. Hiện thần tướng, phóng quang trên chiếu đến trời Hữu Đảnh (Sắc Cứu Cánh) dưới chiếu đến địa ngục A Tỳ... Khi thuyết kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa cùng với việc nhập Chánh Định và phóng quang, Phật đã ngầm gởi gắm tất cả những gì được gọi là Phật tri kiến trong đó, đây được coi như “nghi thức khai diễn và trình bày nội dung Phật tri kiến”.
Các Bồ Tát, các vị La Hán khi thấy Phật hiển lộ thần biến như thế, đều kinh ngạc và hoan hỉ!!! Riêng 500 vị tăng thượng mạn, chưa được tưởng được, chưa chứng tưởng chứng diệt đế, lặng lẽ bỏ đi! Vì sao? Vì “Phật tri kiến không dành cho những ai không ham thích trí tuệ và chưa vượt qua những nhỏ bé của tự thân!”
Mình không dám bảo rằng, hai lần chúng ta thực hiện Trò Chơi Trí Tuệ vừa rồi giống với những gì ngày xưa Cổ Đức đã làm! Nhưng chí ít ra, trong hai lần Trò Chơi Trí Tuệ vừa qua, đã giúp một phần nào đó để HĐ chúng ta hiểu ra thế nào là Phật tri kiến. Tất nhiên người hiểu ra “thì phấn khởi”, người chưa hiểu ra thì “ngoảnh mặt làm ngơ”, hai thái độ khác nhau này xảy ra trong đạo pháp xưa nay không phải là... chuyện... “lạ”. Vì thế, đánh giá, thẩm định, chọn bài viết hay... Chính là tự đánh giá, tự thẩm định, tự kết luận năng lực tiếp thu của bản thân trước một đề tài lớn trong Phật đạo. Tập đánh giá, là hình thức tự đánh giá mức độ thể nhập của chính bản thân, đánh giá này chưa hẳn đã thành tựu tất cả, vì thế các bạn cũng đừng ngại. Đây cũng là một cách giúp ta vượt qua những hạn chế cố hữu “của cái được gọi là người”, hầu vươn tới những “lớn lao hơn của đạo Trí Tuệ”!
Các bạn! ... Nhìn vào tỉ lệ bình chọn lần này, cho phép chúng ta có thể đánh giá hai môn học đầu tiên trong tám môn học của Đạo Đế là Thấu Thị Môn và Thẩm Sát Môn, hay bước đầu của “Khai và Thị” đã có những thành công tốt đẹp!
− Thấu Thị Môn, là môn học giúp nhìn xuyên thấu, thấy biết không ngăn ngại khi đối trước một nội pháp hay ngoại pháp. Thấu thị còn cho phép nhìn rõ thật tướng của các pháp, hoặc cho phép thành tựu những thấy biết cao hơn!
− Thẩm Sát hay Trạch Pháp, là phương pháp thẩm định, đánh giá, xem xét tỉ mỉ một sự vật, một sự việc xảy ra từ nội tâm hay ngoại giới đúng với bản chất của nó bằng chính Tuệ Giác của mình! Đức Phật đã định nghĩa trạch pháp (dhammavicaya) như sự “tìm kiếm, thẩm sát, xem xét kỹ lưỡng, để có tuệ giác hay sự hiểu biết sâu sắc về những vấn đề (pháp) bên trong tự thân… và những vấn đề (pháp) bên ngoài.”
Nói khác hơn, ở cấp độ Đạo Đế, Thấu Thị Môn và Thẩm Sát Môn [[1]] là môn học chính yếu giúp có được Chánh Kiến và Chánh Tư Duy bằng vào chính những tri kiến hay tri thức đã được “Tuệ Giác Hoá” bởi năng lực của chính chúng ta! Đây cũng là lý do vì sao Trò Chơi Trí Tuệ - 2018/08, đặt ra yêu cầu, các bạn vừa là khán giả, vừa làm diễn viên, đồng thời cũng kiêm nhiệm thêm vai trò giám khảo! Động tác “ba trong một” này, là điều kiện tối ưu để các bạn tập làm quen với loại hình học tập mới của Đạo Đế, hay còn gọi là khai thị Phật tri kiến! Theo sách vở ghi lại, Thế Tôn của chúng ta phải mất đến hơn mười năm, mới thực hiện xong công việc khai thị Phật tri kiến. Ngày nay, cũng bắt chước Cổ Đức. Hy vọng, với các Trò Chơi Trí Tuệ tiếp theo, chúng ta sẽ gặt hái những thành công mà Chư Phật đang mong đợi! Rất mong, nhận được nhiều bình chọn từ Các bạn!...
Mình đã chuẩn bị các câu hỏi tiếp theo cho Trò Chơi Trí Tuệ 2018/09, các câu hỏi lần này cũng chỉ gói gọn trong đề tài Phật tri kiến!... Đến khi nào, chúng ta còn chưa thật sự hiểu ra Phật tri kiến là gì, quyết không dừng lại! (22-07-2018)
KẾT QUẢ BÌNH CHỌN BÀI VIẾT HAY NHẤT
Các bạn! ... Bây giờ là 18 giờ 01 phút, ngày 26/07/2018. Việc bình chọn trả lời của Lý Anh Lạc hay nhất Trò Chơi Trí Tuệ -2018/08. Theo mình, đây là “Bình Chọn Sáng Suốt Nhất” của HĐ Lý Gia!
Kể từ giờ phút này, Lý Nữ Phương Danh Lý Anh Lạc chính thức là người sở hữu Cụ Kinh “Diệu Pháp Liên Hoa” xuất bản 1950 (PL 2518)! Xin chúc mừng SM. Lý Anh Lạc! Xin cảm ơn tất cả HĐTM Lý Gia! Hẹn gặp lại các bạn ở Trò Chơi Trí Tuệ - 2018/09
Xin chuyển đến các bạn, “Bài Bình Chọn Tiêu Biểu” của SH Lý Thái Đăng và “Bài viết có các câu trả lời TCTT 2018/08 (Kỳ 8) hay nhất của Lý Nữ Phương Danh Lý Anh Lạc”. Bài viết bình chọn của Lý Thái Đăng rất hay! (Có thể nói, hay nhất từ xưa đến giờ trong các bài viết của Thái Đăng Đại Ca). Điều này cho thấy, tác giả đã hiểu ra điều gì đó qua Trò Chơi Trí Tuệ lần này!
Bài Viết Bình Chọn: Cảm Nhận TCTT 2018/08... Hay Nhất (Lý Thái Đăng).
Kính Thầy! Đọc lại các bài trả lời của HĐTM về các câu hỏi trong TCTT 2018/08. Con ấn tựợng cách trả lời của Lý Anh Lạc và xin bình chọn là câu trả lời hay nhất.
Con cảm nhận: Sau khi đọc xong con thấy, bài viết không những đáp ứng, làm thỏa mãn các yêu cầu câu hỏi đặt ra mà còn thể hiện mạch tư duy rõ ràng, mạch lạc, như kết nối các hạt ngọc, làm cho người xem thấy đẹp như xâu chuỗi có tên Anh Lạc của các vị Bồ Tát thường cúng dường chư Phật.
Con xin tán thán trí tuệ của bài viết, và vui mừng trước sản phẩm (viên ngọc lớn nhất thế giới mà Thầy trao đầu năm 2018) đến nay được gọt giũa đã bắt đầu tỏa sáng. Đây là minh chứng cho sự lớn mạnh và giàu có của Đại gia đình Lý Gia. Qua bài viết này con cũng rút ra được một số bài học:
Để học thuyết thông (qua văn nói hay văn viết) trước hết phải xác định cho được “Điểm nhấn”hay là chiếc chìa khóa, mã khóa để mở được cánh cửa đi vào kho báu. Tạm gọi là “chủ đề cần thuyết, cần làm sáng tỏ”, nếu không xác định rõ mục tiêu thì triển khai không đúng trọng tâm.
Khi vào lấy được của báu, phải biết thẩm định tài sản. Để tránh được những“cái bẫy”phải nắm vững các nguyên tắc đừng ngây thơ như thỏ non, sau đó đánh giá phân loại tài sản có được một cách rành mạch, chi tiết…
Sử dụng của báu một cách hợp lý, tiết kiệm vừa đủ (tránh lạm dụng), trang điểm nhẹ nhàng kín đáo, nhưng vẫn thể hiện được sự giàu sang của trí tuệ. Đây cũng là một cách ứng dụng bài học “Danh, cú, hình thân”mà Thầy đã chỉ dạy vào trong ứng dụng thực tiễn.
Thông qua bài viết, con cũng đã hiểu được phần nào cách ứng dụng phép quán ở cấp độ “Quán chân thực lý trí và quán nhất thiết cảnh trí” thực hiện công đoạn “hút”, “ép” nhiên liệu, chờ thời điểm “đánh lửa” để “nổ”, “xả”.
Ngoài ra, việc sử dụng môn Thần Công “Chiết Phát Đẳng Pháp”của Lý Gia, tác giả cũng đã mang lại hiệu quả trong việc dùng “Từ” dễ hiểu, phân tích hợp lý thể hiện “Nghĩa” rõ ràng, văn tự nhẹ nhàng nhưng mạnh mẽ, dứt khoát, có đủ “Quyết định Nghĩa” làm thuyết phục người đọc, nhất là làm cho nhiều người hoan hỷ, biểu hiện của sự thay đổi được nhận thức, cảnh giới trong tâm, bớt đi những cái che chướng và thấu tỏ được nhiều điều sau khi đọc bài của tác giả... Ví dụ: Phật tánh là “Nhân” tám tính chất Từ, Bi, Hỷ, Xả, Thường, Ngã, Lạc Tịnh là “Quả”của Phật tánh. Các vị “Bồ tát chỉ thấy một số phần trong tám phần này…” Do vậy khi dùng “Quả” của Phật tánh để trả lời câu hỏi về “Nhân” thì chưa đầy đủ và chưa hợp lý.
Năm 2018, Pháp Hội Diệu Pháp Liên Hoa đã được mở, “Khai, Thị, Ngộ, Nhập” Phật tri kiến đã được Thầy triển khai, các bức tượng mà mỗi học trò hì hục đục đẽo ngày đêm từ đầu năm 2018 cho đến nay, dường như đã có hồn. Không biết Thầy “Khai Tâm” “Điểm Nhãn” khi nào mà các bức tượng có trí tuệ vượt trội hẳn lên, giống như đã được cài phần mềm ứng dụng công nghệ 4.0 của thời đại. Sự thật này đã làm cho mọi người hoan hỷ, đi từ ngạc nhiên này đến bất ngờ khác. Con xin đảnh lễ Thầy ba lễ! Con.
Bài Viết Hay Nhất: Cảm Nhận TCTT 2018/08 − “Thuyết thông, Tông thông và Tầng Bậc của Kiến Tánh Trong Phật đạo” (Lý Anh Lạc)
Thầy kính! Con xin kiến giải các câu hỏi như sau:
Trả lời câu hỏi 1: Thưa Thầy! Để có thể giải quyết rốt ráo yêu cầu câu hỏi do Thầy đưa ra. Con xin tạm phân tích hai thành phần được coi là quan trọng, cấu thành câu hỏi, đó là:
− Một là, “ý đồ hay thành tố” nào làm nên “điểm nhấn” của câu hỏi. − Hai là, điều kiện “ắt có và đủ” để một người “có thể ngộ nhập” Phật tri kiến.
Theo con, nếu giải quyết được hai nút thắt trên, câu trả lời sẽ có tính thuyết phục cao! Khi đọc kỹ câu hỏi, con nhận thấy ý đồ của Thầy trong câu hỏi rất rõ ràng. Đây là điểm nhấn, đồng thời cũng là chiếc bẫy, sẵn sàng sập bất kì lúc nào, khi một chú thỏ ngây thơ vội vàng bước qua mà không để ý! Như vậy, ý đồ hay điểm nhấn đó là gì? Nếu đặt câu hỏi theo hướng: “Giả sử có một người vừa được “Khai Thị Phật tri kiến”, người này có được gọi là “Thuyết Thông” chăng?” Xin thưa, chỉ mới được “khai thị” thì chắc hẳn là chưa. Đằng này, câu hỏi đặt theo chiều ngược lại, đó là: “Giả sử, một người tu hành đã Ngộ Nhập Phật tri kiến... Theo bạn, ngộ nhập của người đó có được coi là thành tựu thuyết thông hay chưa?”. Chiều ngược lại, theo con, vừa là ý đồ, vừa là điểm nhấn của câu hỏi, ý đồ hay điểm nhấn này nằm ở hai chữ “Ngộ Nhập”
Ngộ, nhập là gì? Để giải quyết hai khái niệm này, phải nhờ đến công việc mở nút thắt thứ hai, đó là: “Điều kiện ắt có và đủ để một người có thể ngộ nhập Phật tri kiến”. Thầy từng giảng, muốn thành tựu Phật tri kiến (con đường đưa đến Phật trí), người tu hành phải trải qua bốn giai đoạn là: “Khai, Thị, Ngộ, Nhập”. “Điều kiện để được khai thị”, phải là những người đã chứng diệt đế.
− Như vậy, Thánh quả Diệt đế là điều kiện bắt buộc, cũng có nghĩa là “trời người hay những người chưa thành tựu giác ngộ và giải thoát không có phần ở đây”. − Và bốn bước khai, thị, ngộ, nhập là bốn công đoạn “cần phải có và đủ” để thành tựu Phật tri kiến. Bốn công đoạn này, con hiểu như sau:
Khai: Mở ra.
Thị: Thấy để quan sát và học tập.
Ngộ: Hiểu rõ, thấu suốt, nhận chân cái đã thấy (Chân Ngộ).
Nhập: Thành tựu, chứng nhập đạo quả đã thấy (Liễu Nhập).
Căn cứ các kiến giải trên, theo con: “Vị đã ngộ nhập Phật tri kiến, chính là vị thành tựu thuyết thông”. Con còn nhớ, trong một lần nào đó rất lâu rồi, Thầy có giảng: “Thật tình mà nói, kinh Diệu Pháp Liên Hoa chỉ đảm nhận vai trò khai thị Phật tri kiến. Còn hai giai đoạn ngộ nhập, phải đợi đến khi Phật tuyên thuyết Đại Niết Bàn, người tu hành mới thể nhập được”. Lời thuyết này, giúp con tìm ra “cái bẫy” Thầy đã gài sẵn trong câu hỏi số một. Hi hi hi hi! Con thỏ ngây thơ, nhất quyết phải lớn nhanh, để trở thành con cáo già của Phật đạo, như nàng Long Nữ đã từng trong nháy mắt biến thành Nam Bồ Tát trước mặt Xá Lợi Phất, được ghi lại ở kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Trả lời câu hỏi 2: Thưa Thầy! Ba thứ kiến trên cùng thấy chung một điều, đó là thấy Phật tánh. Và vì sao lại thấy đến ba lần? Vì:
− Kiến tánh giác: Thấy Phật tánh qua lăng kính tánh thấy, tánh nghe, tánh hay, tánh biết. Nên chỉ thấy Phật tánh lờ mờ.
− Kiến tự tánh: Thấy Phật tánh thông qua tự tánh. Nên thấy Phật tánh chưa trọn vẹn.
− Kiến Phật tánh: Thấy rất rõ Phật Tánh.
Ba cái thấy trên, giống như một người trên đường đi về ngôi nhà của mình, xảy ra ba giai đoạn thấy:
− Thấy tánh giác, dụ cho thấy ngôi nhà lờ mờ.
− Thấy tự tánh, dụ cho thấy ngôi nhà và các màu sắc nhưng chưa thấy đồ đạc trong đó.
− Thấy Phật tánh, dụ cho thấy tất cả khi người đó bước vào ngôi nhà của mình.
Trả lời câu hỏi 3: Thưa Thầy! Phật trí là nói đến trí tuệ của một vị Phật, còn Phật tri kiến là nói đến thấy biết của một vị Phật.
Ta có thể hiểu Phật trí ví như mặt trời (thể), Phật tri kiến ví như ánh sáng (dụng) từ mặt trời soi rọi ra. Cho nên nếu là một vị Phật, thì Phật trí và Phật tri kiến là một (vừa thể vừa dụng). Còn HĐ chúng con thì, phải nương vào trí tuệ nơi Thầy, để vị lai thành tựu Phật tri kiến. Vì thế, đối với chúng con, Phật trí và Phật tri kiến là hai, một cái là thể, một cái là dụng. Chúng con đang nương nơi “Dụng” của Thầy, để tìm về “Thể” của Phật.
Thưa Thầy! Kính Thầy chỉ dạy thêm, để kiến giải của con được hoàn thiện hơn. Con kính lễ Thầy ba trăm ba mươi ba lạy! Con.
THƯ CẢM ƠN:
Các bạn! ... Mình nhận được email của Tịnh Hiền (Lý Anh Lạc) xin chuyển đến Các bạn! ... Đọc tâm sự của Tịnh Hiền, mình chợt suy nghĩ trong đầu: “Một người với tâm tính như thế này, không thông suốt Phật đạo mới là...chuyện...lạ”!
Các bạn! ... Đối với Phật đạo, tâm tính con người rất quan trọng. Theo mình, nó chiếm đến 80 phần trăm yếu tố thành công trong tu tập! “Vì nó chỉ có một quyển, nên Tịnh Hiền sẽ pho to gởi đến những HĐTM có nhu cầu...”. Một suy nghĩ rất mộc mạc! Suy nghĩ mộc mạc, chơn chất nhưng sâu sắc và thể hiện đầy đủ phong cách Lý Gia! Rất xứng đáng và rất xứng đáng! Xin chuyển đến HĐ, Thư Cảm Ơn, và cũng là tâm sự của Tịnh Hiền. (26-07-2108)
Thư cám ơn của Lý Nữ Phương Danh Lý Anh Lạc.
Kính Thầy! Kính HĐTM! Khi vừa đọc xong kết quả bình chọn Cảm Nhận TCTT 2018/08... Tịnh Hiền đã khóc. Tịnh Hiền vừa khóc, vừa hướng về nơi có Thầy để lễ lạy...
Thầy kính, con cảm ơn Thầy rất nhiều vì đã nhận con làm đệ tử, làm con của Thầy. HĐTM kính, Tịnh Hiền cảm ơn HĐTM rất nhiều vì đã bình chọn bài viết lần này.
Thưa Thầy! Thưa HĐTM! Về phần thưởng lần này, Tịnh Hiền nghĩ nó là món quà chung cho tất cả HĐTM chúng con. Vì nó chỉ có một quyển, nên Tịnh Hiền sẽ photo gởi đến những HĐTM có nhu cầu. Kính Thầy chỉ dạy. Con, Tịnh Hiền. (Lý Anh Lạc)
[[1]] Tám môn học của Đạo Đế gồm: Thấu Thị Môn, Thẩm Sát Môn, Đẳng Ngữ Môn, Đại Hạnh Môn, Đại Đạo Môn, Thật Nghĩa Môn, Đẳng Trì Môn, Chân Giác Môn.
Làm Gì Sau Khi Thực Hành Thiểu Dục Tri Túc?

“Một vị tu học sau khi thực hành sống thiểu dục tri túc sau một thời gian tâm vị này không còn cảm thấy ham thích những thứ như ngày trước như được ăn ngon, mặc đồ đẹp, nhiều tiền bạc, hay nghe những lời khen ngợi... vị này nhận ra được cái không chân lý của hạnh phúc tạm thời nơi được ăn món ngon, được mặc đồ đẹp, được nghe những lời tốt đẹp khen ngợi, hay tận hưởng đi chơi như trước kia, và trở lên nhàm mỏi trần thế, cảm nhận này đôi khi thật sâu sắc, dẫn đến chán tiếp xúc với đời sống, chỉ muốn ở nơi thanh vắng để tư duy Phật pháp.
Con xin hỏi: vị này cần tiếp tục tu học hay dẫn tâm như thế nào để không bị xa rời đời sống, vào được cảnh giới không còn chán ghét cũng không còn yêu thích, đạt được tâm thanh tịnh và nếu sống ở hiện đời nhưng vẫn tỉnh giác, không bị quay lại mê đắm các pháp thế gian”.
(29/01/2020 11:11:19; Phạm Thuỳ)
Trước khi trả lời câu hỏi, mình có những lời ngợi khen đặc biệt đến Thuỳ!!! ... Thuỳ là một trong những HĐ của Lý Gia tuổi còn rất trẻ, có học vị không nhỏ ở đời, công việc làm ổn định... Thuỳ trở thành môn đệ Lý Gia chỉ mới trên một năm, nhưng sau lần nói chuyện vừa rồi (hình như hôm mùng 2 tết), mình nhận ra Thuỳ trưởng thành rất nhiều và đã bắt đầu đi vào quỹ đạo...!!!
“Đi vào quỹ đạo” là một trong những bước khởi đầu quan trọng đối với người tu hành... Nó giống như một con thuyền đã có những chuyển động đầu tiên để rời bến!!! Mọi thứ đều thay đổi trên đường đi của nó, vì thế chỉ có những người cùng đi trên con thuyền đó mới cảm nhận hết những đổi thay liên tiếp diễn ra!!! Và, những người còn trên bến đồng thời cũng nhận ra “người kia đã rời bến, đi xa ta và... mất... Hút”!!! ... Ha ha ha ha!!! ... Người trên thuyền và kẻ dưới bến “đều ngạc nhiên” trước sự đổi thay!!!
Chắc giờ này, với một thứ tâm thức “mới rợi” này, Thuỳ dần dần sẽ thấm thía với hai chữ “cảnh giới” trong Phật đạo!!! ... Cảnh giới, chẳng phải là cái gì ghê gớm như người ta thường ảo tưởng về nó, mà nó chỉ là sự chuyển đổi ngoạn mục từ “tâm thức thế gian sang tâm thức xuất thế”!!! ... Có nghĩa là, cũng tại nơi này, cũng con người này, cũng việc làm này, cũng tô hủ tiếu này, cũng ổ bánh mì này, cũng những bằng hữu này... Nhưng, bây giờ mọi thứ mang một ý nghĩa khác, một nhãn quang khác, chẳng giống như hồi trước!!! ... Và cuối cùng, một thế giới khác đang hình thành trong tâm thức, ta tạm gọi là cảnh giới cho oai vậy thôi!!!
Dân gian có câu nói: “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”!!! Câu này hàm ý rằng, những người “cùng cảnh giới” sẽ tìm nhau, còn “khác cảnh giới” sẽ khó thân thiện vì không hiểu, không hợp nhau!!! ... Đây là lí do vì sao, “mà...”, chắc giờ này Thuỳ hiểu sâu sắc chữ “mà...” này!!! Nhưng không sao!!! ... Chỉ một thời gian ngắn nữa thôi, mình tin rằng, mọi thứ lại tốt đẹp!!! ... Cái ngỡ ngàng ban đầu rồi cũng sẽ quen đi... mọi việc lại “đâu vào đấy”!!!
֎ 27. Đáp: Về câu hỏi, mình xin trả lời như sau: (đây cũng là trả lời chung cho những HĐ Lý Gia bắt đầu rời bến thế gian)!!!
Khi thực hành thành công phép “thiểu dục tri túc”, những chuyển biến dễ thấy như, không còn ham ăn ngon, chẳng thích mặc đẹp, chẳng ưa hội hè hát xướng, chẳng thích chuyện thiên hạ, chán ghét thị phi, v.v... xảy ra trong tâm thức là chuyện tự nhiên... Nó tự nhiên như con bò thích cỏ!!!
Nếu giác ngộ mà đời sống không có gì thay đổi, tâm ý chẳng khác người đời, gặp gì cũng ham, thấy gì cũng thích, chuyện gì cũng có mình, ham ưa hội hè đình đám đông vui, bạ đâu cũng tham gia phê phán, chẳng ưa độc cư đọc tụng tư duy, v.v... thì, giác ngộ mà làm gì???!!! ... Vì thế, thành tựu phép thiểu dục tri túc là bước khởi đầu của những đổi thay quan trọng, giống như con nòng nọc bắt đầu xa rời cái đuôi thân yêu của nó, để sau đó trở thành một con ếch, con ếch mới có thể lên bờ và trở thành loài lưỡng cư, tự tại cả dưới nước lẫn trên khô!!!
“Con xin hỏi: vị này cần tiếp tục tu học hay dẫn tâm như thế nào để không bị xa rời đời sống, vào được cảnh giới không còn chán ghét cũng không còn yêu thích, đạt được tâm thanh tịnh và nếu sống ở hiện đời nhưng vẫn tỉnh giác, không bị quay lại mê đắm các pháp thế gian”.
Để có thể thành tựu những điều Thuỳ viết, sau khi thành tựu đời sống thiểu dục tri túc, phải tiếp tục tư duy, quan sát tâm thức để thành tựu “hai vô sanh” ... Đó là “không sanh tâm” và “không sanh pháp”!!! ... Khi thành tựu hai vô sanh, những thứ như ghét, yêu, đây, kia, v.v... nói chung các pháp đối đãi, nhị nguyên của thế gian sẽ tự tịch diệt... Từ đó, tuy đang sống ở đời, trước cái lao xao của thiên hạ mà tâm thức vẫn tự thanh tịnh Niết Bàn, gọi là chứng “Giải Thoát Bất Động”, vĩnh viễn không còn thối lui, gọi là thành tựu “Bất thối chuyển”!!!
Nói chung, thành tựu thiểu dục tri túc chỉ là thành tựu bước đầu trên con đường tiến về đạo quả xuất thế... Đây là một trong những thành tựu quan trọng, nhưng chỉ quan trọng đối với người sơ ngộ, cho nên thành tựu này chưa phải là tất cả!!! ... Con đường phía trước còn rất dài, cách thức thực hiện các bước tiếp theo như thế nào, tài liệu tu tập hiện tại Thuỳ và HĐ Lý Gia đang có trong tay, mình đã viết đầy đủ ở đó, các bạn hãy đọc và tìm hiểu thêm!!!
Chúc Thuỳ có những thành công tiếp theo... Đẹp... mắt... trên con đường tu tập...!!!
Dùng Chánh Niệm Để Diệt Trừ Sân Hận - Giới Định Huệ Hữu Lậu Và Vô Lậu

− Hỏi: “Trong lúc bị đối phương xúc phạm, thì tâm sân khởi lên (vô minh). Lúc tâm sân khởi lên thì liền chánh niệm (vô ngã) vì tâm sân này rất mạnh nên lúc nó diệt đi thì tim cũng đập rất mạnh... Nhưng tại thời điểm đó có một tâm sợ hãi khởi lên và diệt đi cũng rất nhanh chỉ còn lại sự thở vào ra... Như vậy 3 yếu tố giới định tuệ đã đúng chưa? ... Hiện tượng đó được gọi là gì?
(19/01/2020 23:46:44; Lê Tới)
Đáp
26.1. Lúc tâm sân khởi lên thì liền chánh niệm?
Theo phỏng đoán (dựa vào bạn hỏi), có lẽ bạn đang dùng phép “quán niệm hơi thở” để điều phục vọng tâm!!!
Theo mình biết, mỗi một người trong chúng ta, đều có một ngưỡng chịu đựng nhất định, có người sức chịu đựng rất cao, có người sức chịu đựng trung bình, có người sức chịu đựng kém!!! Khi gặp một tác động bất như ý, tuỳ vào ngưỡng chịu đựng của từng người mà tâm thức hư vọng của người ấy sinh khởi nhanh hay chậm!!!
Tuy nhiên, do người tu tập có được chánh kiến, có được chánh niệm và được hỗ trợ bởi một phép tu nào đó... nhờ huân tập thường xuyên, huân tập một cách liên tục, nên ngưỡng chịu đựng cũng theo đó tăng lên!!! ... Nhưng vì, đã là “một ngưỡng” thì nhất định phải có giới hạn của nó!!!
Khi nào, sức chịu đựng vượt qua ngưỡng ấy, thân tâm cùng các pháp hư vọng sẽ bùng phát, các dấu hiệu của sự bùng phát ấy là “sân hận”, “rối loạn tim mạch” cũng như “sợ hãi” như bạn nói!!!
Nhưng, nhờ có chánh kiến, chánh niệm nên các thứ ấy cho dù có hiện khởi cũng chỉ thoáng qua rồi diệt đi rất nhanh!!! Đây được coi là thắng lợi ban đầu trong việc tu học, và cũng là một trong những thắng lợi trên bước đường chế ngự vọng tâm bằng các pháp hữu lậu!!!
26.2. Bạn hỏi: “Như vậy 3 yếu tố giới định tuệ đã đúng chưa”???
Theo mình, việc tu tập như vậy chỉ là bước khởi đầu của người thực hành “giới, định, tuệ hữu lậu”!!! ... Có nghĩa, nếu thực hành thường xuyên và liên tục phương pháp này, kết quả cuối cùng đạt đến, cũng chỉ thành tựu “học pháp hữu lậu” ... Tức, có dụng công, có để tâm, có chế ngự v.v…thì hữu lậu tâm không hiện!!! ... Khi nào thất niệm, bất giác thì, phiền não, lậu hoặc sẽ hiện trở lại!!!
26.3. Hiện tượng đó được gọi là gì”???
Theo mình, đây là hiện tượng của người “dùng sức giác để tu tập” ...!!!
Việc “dùng sức giác để tu tập”, xin có một chia sẻ nhỏ như sau:
− Nếu ta tu tập như thế đến nhất tâm... Có nghĩa, mọi thời, mọi lúc, mọi nơi chỉ một tâm, không sinh các thứ tâm khác (dị tâm), không bị tán tâm do tác động cảnh duyên, người ấy sẽ thành tựu “giác lực”!!!
− Khi có được giác lực, người tu hành dùng giác lực để quán chiếu bốn niệm xứ nhằm phát hiện quy luật sanh diệt của thân, của cảm thọ, của hư vọng tâm và của hư vọng pháp (quán thân bất tịnh, quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã)!!!
− Quán chiếu như thế, đến khi nào thấy rõ bản chất sanh diệt, không bền chắc, nhiều phiền toái, vô ngã, không chân lí, v.v... của bốn món ấy!!! ... Thấy được như thế, vị này xả bỏ, không nắm giữ bốn niệm xứ trong lòng, đồng thời cũng xả luôn phép quán!!! ... Giai đoạn này, người tu hành bắt đầu quy trình mới của việc tu tập “vô xứ, vô trụ”!!!
− Xả bỏ và trong lòng không nắm giữ bất kì một niệm xứ nào, cũng không khởi quán... Nhưng, mọi thời, mọi lúc, mọi nơi tâm thức vị ấy đều tĩnh lặng... đây là lúc tốt nhất, đây là cơ duyên lành để vị ấy “trực nhận” tính chất hư dối của tâm thức cùng vạn pháp, nhận ra con đường nào dẫn ta đến hữu lậu, con đường nào đưa ta đến vô lậu!!! ... Sự thấy biết này, giúp người tu hành thành tựu “huệ lực”!!!
− Huệ lực là cảnh giới của người sơ ngộ, bắt đầu hiểu ra thế nào là ba học pháp vô lậu!!! Nhờ biết được thế nào là ba học pháp vô lậu, vị ấy hướng tâm đến việc tu tập ba học pháp này (từ bỏ ba học pháp hữu lậu)!!! Bạn có thể tìm hiểu cách ứng dụng cụ thể về cách tu tập ba học pháp vô lậu từ bài kinh Các Căn Tu Tập!!!
− Khi có được huệ lực, người tu hành dùng huệ lực ấy phân tích (trạch pháp) sự sinh khởi cũng như sự diệt tận của một pháp cùng vạn pháp, và tìm con đường thoát ra khỏi sự sinh khởi và diệt tận ấy!!! Tìm thấy con đường này gọi là “ngộ”!!!
− Khi nào thấy con đường giải thoát khỏi sự sinh diệt cũng như trói buộc của các pháp, tâm thức người này tự dừng lặng... Tâm thức tự dừng lặng (không do dụng công) là thuộc tính tự nhiên của học pháp vô lậu!!!
− Đây là bước khởi đầu quan trọng để quy trình vận hành của Thất giác chi hình thành!!! Thất giác chi hình thành, các chi phần giác ngộ như niệm, hỉ, khinh an, tinh tấn, định và xả giác chi hình thành theo!!! Đến đây, mới được coi là viên mãn ba học pháp vô lậu là: Giới vô lậu, định vô lậu và tuệ vô lậu!!!
Bạn thân mến!!! ... Ba học pháp hữu lậu chỉ cho ra kết quả hữu lậu của thế gian pháp!!!
Muốn thành tựu đạo quả giải thoát, phải thực hành ba học pháp vô lậu!!! Khi thành tựu các học pháp vô lậu, có được vô lậu quả, cảnh giới giải thoát mới hiện!!! ... Chỉ có thực hành ba học pháp vô lậu, tính chất “ba trong một” là nhân giới có định, nhân định có tuệ mới phát huy triệt để...!!!
Điều này, không thể có được từ việc thực hành các học pháp hữu lậu, tức những người hy vọng dụng công (hữu tác, hữu sự) để tìm thấy cứu cánh xuất thế (vô tác, vô sự)!!!
Người thành tựu cảnh giới giải thoát, là người đã thoát ra khỏi sự sanh diệt cũng như trói buộc của các hữu vi pháp “nhân giác ngộ mà được”, vì thế nó thuộc về đạo quả xuất thế (một thứ đạo quả chỉ có từ việc giác ngộ)!!!
Vì nó là đạo quả xuất thế, nên các tác động bất như ý của thế gian giới mới vĩnh viễn không tác động lên tâm thức họ được... Giống như mưa bão từ tầng đối lưu không thể tác động lên tầng ngoại quyển hay vùng không gian liên hành tinh!!! ... Từ đó các thứ sân hận, tim đập nhanh, sợ hãi, hồi hộp, v.v... như bạn hỏi mới dần dần tịch diệt!!!
Sự tịch diệt này diễn ra mau hay chậm, tuỳ thuộc vào tập khí (thói quen vô thức) của từng người!!! ... Đây là lí do vì sao một số Tì Kheo như, Liên Hoa Sắc, Ngưu Tinh, Hầu Nhi, Xá Lợi Phất, v.v... tuy rằng trong hiện đời đã chứng đạo quả giải thoát của một A la hán, mà các tập khí chưa thể tịch diệt hoàn toàn trong đời sống của họ!!!
Để minh hoạ sự diệt tận các hữu vi pháp quan trọng như thế nào đối với đời sống tu hành, Kinh Đại Niết Bàn có bài kệ như sau: “Chư hành vô thường, thị sinh diệt pháp, sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc”!!! ... Câu này có nghĩa là: Tất cả những động lay (hành hoạt) của tâm thức đều vô thường (hữu vi, hữu lậu), đó là cảnh giới sinh diệt của các pháp (hư vọng), đến khi nào tâm thức cùng các pháp hư vọng chấm dứt vĩnh viễn, đây mới thật sự là cảnh giới an vui, giải thoát của Phật đạo...!!!
Hy vọng, những giải đáp trên, có thể giúp bạn tìm thấy con đường hàng phục tâm thức, thoát khỏi những hệ luỵ do tác động ngoại duyên gây nên nhờ ứng dụng thành công các học pháp vô lậu!!!
Kinh Căn Tu Tập

Như vầy tôi nghe; Một thời Thế Tôn ở Kajangala, tại Mukheluvana.
Rồi thanh niên Bà la môn Uttara, đệ tử của Pasariya đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với thanh niên Bà la môn Uttara, đệ tử của Pasariya đang ngồi một bên:
⁕ Này Uttara, Bà la môn Pasariya có thuyết về căn tu tập cho các đệ tử không?
− Thưa Tôn giả Gotama, Bà la môn Pasariya có thuyết về căn tu tập cho các đệ tử.
⁕ Nhưng này Uttara, Bà la môn Pasariya thuyết về căn tu tập cho các đệ tử như thế nào?
− Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, không nên thấy sắc với mắt, không nên nghe tiếng với tai. Như vậy, thưa Tôn giả Gotama, Bà la môn Pasariya thuyết căn tu tập cho các đệ tử.
⁕ Nếu là như vậy, này Uttara, theo như lời nói của Bà la môn Pasariya, người mù sẽ là người có căn tu tập, người điếc sẽ là người có căn tu tập. Này Uttara, người mù không thấy sắc với mắt, người điếc không nghe tiếng với tai.
Khi được nói vậy, thanh niên Bà la môn Uttara đệ tử của Pasariya ngồi im lặng, hổ thẹn, thụt vai, mặt cúi gầm xuống, trầm ngâm, không nói năng gì.
Rồi Thế Tôn, sau khi biết được Uttara, đệ tử của Pasariya im lặng, hổ thẹn, thụt vai, mặt cúi gầm xuống, trầm ngâm, không nói năng gì, liền gọi Tôn giả Ananda và nói:
⁕ Này Ananda, Bà la môn Pasariya thuyết cho các đệ tử căn tu tập một cách khác; Nhưng trong giới luật các bậc Thánh, vô thượng căn tu tập khác như vậy.
− Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời! Bạch Thiện Thệ! nay đã đến thời để Thế Tôn thuyết vô thượng căn tu tập trong giới luật bậc Thánh. Sau khi nghe Thế Tôn, các vị Tỷ kheo sẽ thọ trì.
⁕ Vậy này Ananda, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
− Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói như sau:
⁕ Này Ananda, thế nào là vô thượng căn tu tập trong giới luật bậc Thánh?
Ở đây, này Ananda, vị Tỷ kheo, mắt thấy sắc, khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý bất khả ý.
Vị ấy tuệ tri như sau: "Khả ý này khởi lên nơi ta, bất khả ý này khởi lên, khả ý bất khả ý này khởi lên. Cái này khởi lên, vì là hữu vi nên thô. (Nhưng) cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là xả".
Cho nên, dầu cho cái gì khởi lên là khả ý, bất khả ý hay khả ý và bất khả ý, tất cả đều đoạn diệt (trong vị ấy), và xả tồn tại.
Này Ananda, như một người có mắt, sau khi mở mắt, lại nhắm mắt lại, hay sau khi nhắm mắt, lại mở mắt ra; cũng vậy, như vậy là tốc độ, như vậy là sự mau chóng, như vậy là sự dễ dàng đối với cái gì đã khởi lên, khả ý, bất khả ý hay khả ý bất khả ý, (tất cả) đều đoạn diệt (trong vị ấy), và xả tồn tại.
Trong giới luật bậc Thánh, này Ananda, như vậy gọi là vô thượng căn tu tập đối với các sắc do mắt nhận thức.
Lại nữa, này Ananda, Tỷ kheo tai nghe tiếng khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý bất khả ý.
Vị ấy tuệ tri như sau: "Khả ý này khởi lên nơi ta, bất khả ý này khởi lên, khả ý bất khả ý này khởi lên. Cái này khởi lên, vì là hữu vi nên thô. (Nhưng) cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là xả".
Cho nên dầu cho cái gì khởi lên là khả ý, bất khả ý, hay khả ý bất khả ý, tất cả đều đoạn diệt (trong vị ấy), và xả tồn tại.
Này Ananda, như một người lực sĩ có thể búng tay một cách dễ dàng; cũng vậy, như vậy là tốc độ, như vậy là sự mau chóng, như vậy là sự dễ dàng đối với cái gì đã khởi lên, khả ý, bất khả ý hay khả ý bất khả ý, (tất cả) đều đoạn diệt (trong vị ấy) và xả tồn tại.
Trong giới luật bậc Thánh, này Ananda, như vậy gọi là vô thượng căn tu tập đối với các tiếng do tai nhận thức.
Lại nữa, này Ananda, Tỷ kheo do mũi ngửi hương khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý bất khả ý.
Vị ấy tuệ tri như sau: "Khả ý này khởi lên nơi ta, bất khả ý này khởi lên, khả ý bất khả này khởi lên. Cái này khởi lên, vì là hữu vi nên thô. (Nhưng) cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là xả".
Cho nên dầu cho cái gì khởi lên là khả ý, bất khả ý hay khả ý bất khả ý, tất cả đều đoạn diệt (trong vị ấy) và xả tồn tại.
Này Ananda, như những giọt nước mưa chảy trượt đi, không có đọng lại trên một lá sen hơi chúc xuống; cũng vậy, như vậy là tốc độ, như vậy là sự mau chóng, như vậy là sự dễ dàng đối với cái gì đã khởi lên, khả ý, bất khả ý hay khả ý bất khả ý, (tất cả) đều đoạn diệt (trong vị ấy), và xả tồn tại.
Trong giới luật bậc Thánh, này Ananda, như vậy gọi là vô thượng căn tu tập đối với các hương do mũi nhận thức.
Lại nữa, này Ananda, Tỷ kheo lưỡi nếm vị khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý bất khả ý.
Vị ấy tuệ tri như sau: "Khả ý này khởi lên nơi ta, bất khả ý này khởi lên, khả ý bất khả ý này khởi lên. Cái này khởi lên, vì là hữu vi nên thô. (Nhưng) cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là xả".
Cho nên dầu cho cái gì khởi lên là khả ý, bất khả ý, hay khả ý bất khả ý, tất cả đều đoạn diệt (trong vị ấy) và xả tồn tại.
Này Ananda, như một người lực sĩ có thể nhổ ra một cách dễ dàng cục đờm đọng lại trên đầu lưỡi; cũng vậy, như vậy là tốc độ, như vậy là sự mau chóng, như vậy là sự dễ dàng đối với cái gì đã khởi lên, khả ý, bất khả ý hay khả ý bất khả ý, (tất cả) đều đoạn diệt (trong vị ấy) và xả tồn tại.
Trong giới luật bậc Thánh, này Ananda, như vậy gọi là vô thượng căn tu tập đối với các vị do lưỡi nhận thức.
Lại nữa, này Ananda, Tỷ kheo thân xúc cảm khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý bất khả ý.
Vị ấy tuệ tri như sau: "Khả ý này khởi lên nơi ta, bất khả ý này khởi lên, khả ý bất khả ý này khởi lên. Cái này khởi lên, vì là hữu vi nên thô. (Nhưng) cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là xả".
Cho nên dầu cho cái gì khởi lên là khả ý, bất khả ý hay khả ý bất khả ý, tất cả đều đoạn diệt (trong vị ấy), và xả tồn tại.
Này Ananda, ví như một người có thể co duỗi cánh tay được co lại của mình, hay co lại cánh tay duỗi ra của mình; cũng vậy, như vậy là tốc độ, như vậy là sự mau chóng, như vậy là sự dễ dàng đối với cái gì đã khởi lên, khả ý, bất khả ý hay khả ý bất khả ý, (tất cả) đều đoạn diệt (trong vị ấy) và xả tồn tại.
Trong giới luật bậc Thánh, này Ananda, như vậy gọi là vô thượng căn tu tập đối với các xúc do thân nhận thức.
Lại nữa, này Ananda, Tỷ kheo, ý nhận thức các pháp khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý. Khởi lên khả ý bất khả ý.
Vị ấy tuệ tri như sau: "khả ý này khởi lên nơi ta, bất khả ý này khởi lên, khả ý bất khả ý này khởi lên. Cái này khởi lên, vì là hữu vi nên thô. (Nhưng) cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là xả".
Cho nên dầu cho cái gì khởi lên là khả ý, bất khả ý hay khả ý bất khả ý, tất cả đều đoạn diệt (trong vị ấy), và xả tồn tại.
Này Ananda, như một người cho nhỏ hai ba giọt nước trong một cái chậu bằng sắt đun nóng mỗi ngày, này Ananda, các giọt nước rơi rất chậm nhưng chúng bị tiêu diệt, biến đi rất mau, cũng vậy, như vậy là tốc độ, như vậy là sự mau chóng, như vậy là sự dễ dàng đối với cái gì đã khởi lên khả ý, bất khả ý hay khả ý bất khả ý, (tất cả) đều đoạn diệt (trong vị ấy) và xả tồn tại.
Trong giới luật bậc Thánh, này Ananda, như vậy gọi là vô thượng căn tu tập đối với các pháp do ý nhận thức.
Như vậy, này Ananda, là vô thượng căn tu tập trong giới luật bậc Thánh.
⚜ Và này Ananda, thế nào là đạo lộ của vị hữu học?.
Ở đây, này Ananda, Tỷ kheo mắt thấy sắc khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý bất khả ý.
Vì rằng có khả ý khởi lên, có bất khả ý khởi lên, có khả ý bất khả ý khởi lên, vị ấy ưu não, tàm quý, ghét bỏ. Sau khi tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân xúc cảm, ý nhận thức pháp, vị ấy khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý bất khả ý.
Vì rằng có khả ý khởi lên, có bất khả ý khởi lên, có khả ý bất khả ý khởi lên, vị ấy ưu não, tàm quý, ghét bỏ. Như vậy, này Ananda là đạo lộ của vị hữu học.
⚜ Và này Ananda, thế nào là bậc Thánh, các căn được tu tập?
Ở đây, này Ananda, sau khi mắt thấy sắc, vị Tỷ kheo khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý bất khả ý.
Nếu vị ấy khởi lên ước muốn: "Mong rằng tôi an trú với tưởng không yểm ly đối với (sự vật) yểm ly", thời ở đây, vị ấy an trú với tưởng không yểm ly.
Nếu vị ấy khởi lên ước muốn: "Mong rằng tôi an trú với tưởng yểm ly đối với (sự vật) không yểm ly", thời ở đây, vị ấy an trú với tưởng yểm ly.
Nếu vị ấy khởi lên ước muốn; "Mong rằng tôi an trú với tưởng không yểm ly đối với (sự vật) yểm ly và (sự vật) không yểm ly", thời ở đây, vị ấy an trú với tưởng không yểm ly.
Nếu vị ấy khởi lên ước muốn: "Mong rằng tôi an trú với tưởng yểm ly, đối với (sự vật) không yểm ly và (sự vật) yểm ly", thời ở đây, vị ấy an trú với tưởng yểm ly.
Nếu vị ấy khởi lên ước muốn: "Mong rằng tôi sau khi từ bỏ cả hai yểm ly và không yểm ly, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác", thời ở đây, vị ấy an trú xả chánh niệm, tỉnh giác.
Lại nữa, này Ananda, Tỷ kheo sau khi tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân xúc cảm, ý nhận thức pháp, vị Tỷ kheo khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý bất khả ý.
Nếu vị ấy khởi lên ước muốn: "Mong rằng tôi an trú với tưởng không yểm ly đối với (sự vật) yểm ly", thời ở đây, vị ấy an trú với tưởng không yểm ly.
Nếu vị ấy khởi lên ước muốn: "Mong rằng ta an trú với tưởng yểm ly (đối với sự vật) không yểm ly", thời ở đây, vị ấy an trú với tưởng yểm ly.
Nếu vị ấy khởi lên ước muốn: "Mong rằng tôi an trú với tưởng không yểm ly (đối với sự vật) yểm ly và (sự vật) không yểm ly", thời ở đây, vị ấy sống an trú với tưởng không yểm ly.
Nếu vị ấy khởi lên ước muốn: "Mong rằng tôi an trú với tưởng yểm ly (đối với sự vật) không yểm ly và sự vật yểm ly", thời ở đây, vị ấy an trú với tưởng yểm ly.
⁕ Nếu vị ấy khởi lên ước muốn: "Mong rằng tôi, sau khi từ bỏ cả hai yểm ly và không yểm ly, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác", thời ở đây, vị ấy an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác. Như vậy, này Ananda, là bậc Thánh, các căn được tu tập.
⁕ Như vậy, này Ananda, Ta đã giảng vô thượng căn tu tập trong giới luật bậc Thánh, đã giảng đạo lộ của bậc hữu học, đã giảng bậc Thánh, các căn được tu tập.
⚜ Này Ananda, những gì một bậc Ðạo sư phải làm, vì lòng từ mẫn, mưu cầu hạnh phúc cho các đệ tử, những điều ấy Ta đã làm cho các Ông.
⚜ Này Ananda, đây là những gốc cây, đây là những chỗ trống. Này Ananda, hãy Thiền tư, chớ có phóng dật, chớ có hối hận về sau. Ðây là những lời giáo giới của Ta cho các Ông.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ananda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Vô Niệm, Vô Tâm

− Hỏi: “Thưa thầy, con có một câu hỏi rất mong được thầy giải đáp, đó là: Nhiều người hiểu rằng một người tu tập sống “thiểu dục tri túc”, đối với chuyện trên đời không còn ham thích? “Vô niệm” hay không chấp một niệm nào thì dần dần sẽ trở thành “vô tâm”? ... Con hiểu rằng, không phải vô tâm mà khi tâm lặng, dừng phiền não sinh diệt, nhất định từ bi sẽ hiện thì sao lại thành người vô tâm ... Mong Thầy từ bi chỉ dạy cho con ạ!”.
(14/01/2020 11:19:46; Phạm Thuỳ; TP Hồ Chí Minh)
Đáp: Mình xin chia câu hỏi thành ba phần để trả lời!!!
25.1. Nhiều người hiểu rằng một người tu tập sống “thiểu dục tri túc”, đối với chuyện trên đời không còn ham thích?
Bản thân cụm từ “thiểu dục tri túc” có nghĩa là, ít ham muốn và luôn biết đủ!!! ... Đây là điều kiện cơ bản để người tu hành hết phiền não, tìm đến an vui chân thật!!!
An vui chân thật theo tinh thần Phật đạo, là thứ an vui do “ham muốn đã được chế ngự” và “bằng lòng với những gì đang có” ... Có nghĩa là, vị ấy thản nhiên trong đời sống, không tham vọng khi chưa có, không thất vọng khi chưa đạt, và không hi vọng khi hành động!!!
Có năm thứ ham muốn thuộc về cõi dục người ấy phải chế ngự, đó là: Chế ngự khi mắt thấy sắc, chế ngự khi tai nghe âm thanh, chế ngự khi mũi ngửi mùi hương, chế ngự khi lưỡi nếm các vị, chế ngự khi thân xúc chạm!!!
Bằng lòng với những gì đang có là: Giàu hay nghèo, nhiều hay ít, thắng hay thua, được hay mất, v.v... Cũng không vì thế sinh tâm muộn phiền, luôn tự biết rằng “nhân duyên nó như vậy”!!! ... Chính cách sống này, sẽ giúp người tu hành an bình trước mọi cảnh duyên... Nhờ thế, tâm thức không dao động, an tâm tu tập, có được niềm vui không do được, mất, hơn, thua làm nên, Phật đạo gọi niềm vui này là tự vui hay niềm vui chân thật!!! ... Chân thật vì bởi an vui đó không do cái gì làm ra, nên nó sẽ không bị mất đi!!!
Kinh cũng dạy: “Tri túc chi nhơn, tuy ngọa địa thượng du vi an lạc, bất chi túc chi nhơn, tuy xứ thiên đường diệt bất xưng ý”. Nghĩa là: Người biết đủ, dù nằm trên đất cát vẫn an lạc, trái lại, người không biết đủ, dù ở cung trời cũng không vừa ý.
Theo những gì trao đổi ở trên, cái câu: “Nhiều người hiểu rằng một người tu tập sống thiểu dục tri túc, đối với chuyện trên đời không còn ham thích”!!! ... Theo mình thì, câu nói này rất đúng với một người đang bước chân vào con đường tu hành!!!
25.2. “Vô niệm hay không chấp... niệm nào thì dần... trở thành vô tâm”?
Để trả lời câu hỏi này, đầu tiên chúng ta phải thống nhất thuật ngữ!!! ... Vì rằng, khi chưa thống nhất thuật ngữ, mọi kết luận giữa người nói và người nghe khi đưa ra sẽ không thống nhất!!! ... Đây là lí do vì sao, hai người tu hành hay hai người không cùng cảnh giới, khi trao đổi Phật pháp thường xảy ra bất đồng ý kiến!!! ... Giống như chuyện, “ông nói gà, bà hiểu vịt”!!! Một vật thể đặt trước mặt, khi chưa thống nhất quan điểm còn xảy ra tranh luận, huống gì cảnh giới tâm thức!!!????
Trong câu hỏi, có hai thuật ngữ chúng ta cần làm sáng tỏ để thống nhất ý nghĩa của nó: đó là: “Vô niệm” và “vô tâm”!!!
a) Vô niệm: Đồng thời là chữ vô niệm, nhưng người nói và người nghe hiểu như thế nào về thuật ngữ này, cả hai đã đạt được cảnh giới đó hay chưa???
Theo mình thì, nếu một trong hai người (hoặc cả hai) chưa hiểu ý nghĩa, chưa chứng thật cảnh giới “vô niệm” thì bàn sao đây!!!??? ... Để rõ “vô niệm” là gì, xin trích một bình luận về vô niệm đầy đủ ý nghĩa và dễ ứng dụng như sau:
“Vô niệm: Không khởi trong lòng một quan niệm nào hết (đúng, sai, thiện, ác...) về sự việc đã diễn ra... Không phán xét, không đem sự việc ấy vào trong lòng!!!... Lục Tổ dạy: Lấy vô niệm làm tông, vô tướng làm thể, vô trụ làm gốc!!!”
b) Vô tâm: được cả “thế gian” và “xuất thế” sử dụng...
Thế gian: “vô tâm” được hiểu như một tính từ, vô tâm có nghĩa rằng: Không hay để ý, cả đến những điều người khác thường chú ý... “vô tâm nên nói trước quên sau”, “người vô tâm”, “đàn ông vô tâm”, v.v...!!!
Xuất thế gian: Trong Phật đạo, “vô tâm” (hay không tâm), là thuật ngữ để chỉ cảnh giới của người giác ngộ đã chứng diệt đế... Nó hoàn toàn không giống ý nghĩa chữ “vô tâm ở đời”!!! ... Vô tâm của cảnh giới của người đã giác ngộ là, khi đối cảnh, vị ấy không sinh khởi các thứ tâm hư vọng như những gì kinh Kim Cang đã dạy: “Bất ưng trụ sắc sinh tâm... Bất ưng trụ thinh, hương, vị, xúc, pháp sinh tâm... Ưng vô sở trụ nhi sinh kì tâm”!!!
Theo những gì đã trình bày trên, ta có thế thấy “vô tâm” và “vô niệm” trong Phật đạo chỉ là hai mặt của một vấn đề!!! ... Cái này thành tựu, tức thì cái kia thành tựu!!! ... Cái này sanh diệt, tức thì cái kia sanh diệt!!! ... “Nhất chơn, nhất thiết chơn”!!!
Cho nên, câu nói: “Vô niệm hay không chấp một niệm nào thì dần dần sẽ trở thành vô tâm”!!! ... Câu nói này nhất định có vấn đề (theo quan điểm Phật đạo), và người nói chắc chắn không phải là người am tường Phật đạo!!! ... Vì rằng, người thật sự giác ngộ cảnh giới vô niệm chẳng bao giờ nói như thế, do họ biết rõ niệm và tâm tuy hai mà một, hai thứ ấy như bóng với hình... Cái này là thể, thì cái kia là dụng... Làm gì có chuyện “dần dần”!!!
25.3. Con hiểu... không phải vô tâm mà khi tâm lặng, dừng phiền não sinh diệt, nhất định từ bi sẽ hiện thì sao lại thành người vô tâm...?
Kết luận của bạn..., theo mình là “có thể chấp nhận” đối với cảnh giới tu tập của bạn hiện nay!!! ... Cứ như kết luận (tạm thời) ấy mà tu tập!!! ... Cứ như hiểu biết đó mà ứng dụng vào đời sống, nhất định phiền não sinh diệt sẽ tịch diệt và từ bi sẽ nảy nở!!! ... Đây là con đường đúng!!! ... Ha ha ha ha!!! ... Lúc này, vô tâm hay hữu tâm chưa quan trọng, mà ưu tiên một là, làm thế nào để phiền não sinh diệt chấm dứt, từ bi tâm phát khởi!!!
֎ Một vài góp ý!!! ... Đối trước phát biểu của ai đó về đạo pháp, không nên vội kết luận phát biểu ấy là đúng hay sai, cũng không nên tranh biện, mà phải “lặng lẽ quan sát” và sau đó, ta thực hiện những bước sau:
− Đánh giá mức độ tu tập của người nói: Ở đời, có rất nhiều người chưa từng tu tập, không hiểu gì về Phật đạo, hoặc hiểu rất mơ hồ nhưng thích phê phán (bình luận) người tu hành!!!
− Để ý xem, người nói có hiểu đúng điều mình đã nói hay chưa: Ở đời, có rất nhiều người học thuộc văn tự mà không hiểu hoặc hiểu sai ý nghĩa... Vì thế, khi người ấy nói hay viết, văn tự cùng ý nghĩa không chính xác (lộn lạo giữa thế gian và xuất thế) ... Nói, viết để thoả mãn nhu cầu được nói (hay viết), hơn là nói có trọng tâm và đúng ý nghĩa để lợi mình, lợi người!!!
Xem xét từng đối tượng cụ thể, sau đó ta có những ứng xử thích hợp!!! ... Ví dụ:
Với người nói sai nhưng biết lắng nghe, ham thích tu tập... Xét thấy hợp thời, ta ôn tồn điều chỉnh tri kiến của họ, có những giải thích phù hơp tâm cơ hiện tại của người đó, và giúp họ đi đúng hướng!!!
Với người hiểu sai, không biết lắng nghe, tâm tình cố chấp, bụng dạ hẹp hòi, chỉ muốn đấu tranh, đầy rẫy tà kiến, ham nói hơn nghe... Ta nên im lặng, tìm cơ hội “chuồn” cho lẹ để khỏi phiền phức!!!
Với người không hề biết Phật pháp là gì, chẳng thích tu hành, không ưa đạo pháp... Nhưng gặp người tu hành là chỉ trích, bắt bẻ... Đối với hạng người này, nên dấu kín chuyện tu tập... Giả lả cho qua chuyện, nếu cần, nói vài câu cho họ mát dạ... (để mai mốt còn được ăn, uống cà phê miễn phí!!!)
Cuối cùng!!! ... Mỗi một thuật ngữ của Phật đạo, đều là những từ ngữ chỉ cảnh giới tu hành... Không cùng cảnh giới, không đồng thuận ý nghĩa, rất khó bàn luận!!! ... Hy vọng, những gì đã trao đổi, bạn... sẽ có đủ tự tin trong tu học, cũng như có những hành xử phù hợp trong giao tiếp!!! ... Chúc bạn... an vui, tinh tấn!!!
Xin giới thiệu đến các bạn môn “Thám Phúc Công” (Trích Tâm Pháp; NXB Hội Nhà Văn; Lý Tứ)
“Lão Huynh ơi! Lão Huynh chuyên nghề mua bán, để tránh lầm đồ dỏm đồ giả, tôi có môn công phu gọi là Thám Phúc Công, môn công phu này có cái hay riêng của nó, đó là sờ cái bụng mà biết cái tâm. Vì thế mới có tên là Thám Phúc. Luyện thành công phu này, cái miệng người đời dù nói nhiều hay ít cũng không gạt được Lão Huynh, bán buôn nhất định thắng lợi...!!!
Để tôi nói sơ lược công phu này cho Lão Huynh nghe, vui thì luyện, buồn thì thôi thành hay không chẳng hại gì...!!!
Khi gặp người tu hành, muốn biết thiệt giả, chỉ cần Lão Huynh lấy năm ngón của bàn tay phải của mình, lật ngược gõ gõ vào bụng của họ... Nếu nghe tiếng bịch bịch như trái mít chín cây, Lão Huynh lại chú tâm định thần, thoảng nghe có mùi khai khai thì biết hạng này trong bụng chỉ chứa toàn xôi chuối, mau mau cúng dường một ít rồi đảnh lễ mà lui...!!!
Nếu Lão Huynh gõ gõ bàn tay vào bụng mà nghe lộc cộc như cua ốc bò trong thau đồng, lại có mùi hôi mốc thì Lão Huynh biết người này tạp văn chứa đầy trong bụng, tà kiến toàn thân, mau mau cúng dường một liều thuốc xổ, để lâu có hại cho người...!!!
Còn nếu đó là tiếng cạch cạch như gõ vào gỗ quý, lại có mùi thơm giáng hương, thì biết người này đầy bụng Kinh Điển nhưng chưa tiêu hoá được, phải cấp tốc cúng dường vài hộp thuốc tiêu...!!!
Cuối cùng nếu Lão Huynh gõ vào mà nghe như tiếng thùng rỗng, kêu dậy trời lại có mùi chiên đàn thì mau mau sụp gối lễ lạy để nghe đạo lý. Bằng không được thì phải đấm lưng, cạo chân để tìm chút phước, họa may nghe đặng pháp âm...!!!
Môn này tôi đã luyện thành, chưa sai một ly, chưa trật một lần. Vì thế từ ngày ra giang hồ đến nay chỉ bị gạt ngân lượng, chứ chưa từng bị gạt về đạo lý. Lão Huynh thử xem, học thần công này, may ra làm ăn có lãi” ... (Trích TÂM PHÁP; Lý Tứ)
Giải Bài Toán Đúng Trong Phật Đạo_Lý Thái Đăng
Lập được bài toán đúng trong Phật đạo và đi tìm lời giải “có đầu có đuôi, khúc chiết” theo quy trình Văn Tư Tu… cho ra kết quả an vui… (người học) được coi là giác được tấm bản đồ Phật đạo (hay còn gọi là Giáo tông)…

Thầy (Lý Tứ) chỉ dạy “ Phật đạo như một nền giáo dục nhằm thay đổi nhận thức”. Do vậy, có thể ứng dụng phương pháp tư duy toán học để giải bài toán đúng trong Phật đạo.
Theo giảng giải của Thầy: “Tứ đế như bốn cấp học, được triển khai thành 37 môn học hay tín chỉ”. Việc người học giải được bài toán đúng trong Phật đạo được coi là Giác Ngộ quan trọng trong học tập và (người đó) không khó để nhận ra những bài toán sai… liên quan đến giải bài toán Phật đạo.
Những bài toán bế tắc (không thể giải) hiện nay chủ yếu là do không chung cùng với mục tiêu của Phật đạo đề ra:
VD1 Phật ra đời là để giúp chúng sanh “RA KHỎI SANH TỬ KHỔ” có nghĩa là có SANH, có TỬ… mà vẫn an vui; nhưng có người (không biết vô tình hay hữu ý) mà bỏ đi chữ “KHỔ” thành ra mục tiêu thay đổi, chỉ còn bốn chữ “RA KHỎI SINH TỬ” có nghĩa là tu hành để thành “TRƯỜNG SANH BẤT LÃO”; “TRƯỜNG SANH BẤT TỬ”; “VẠN TUẾ ! VẠN TUẾ ! VAN VẠN TUẾ” !!! Quả thực, mong ước là một chuyện, còn việc thực hiện mong ước này thì… chỉ có trong giấc mơ và tiểu thuyết…
VD2 Mở đầu Kinh Niệm Xứ Phật chỉ rõ “Này các Tỳ Kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết bàn. Đó là Bốn Niệm xứ”.
Ứng dụng trong học tập, ta nhận ra rằng có Bốn nơi chốn (Thân, Thọ, Tâm, Pháp) như bốn trụ cột nền móng của ngôi nhà hạnh phúc 37 tầng… Nơi đây, có bốn thang máy lắp đặt tại bốn cánh cửa kiểm soát đầu vào là Thân Thọ Tâm Pháp, bất cứ ai vào đúng cửa, vận hành đúng quy trình hướng dẫn có thể lên tới tầng cao nhất của toà nhà mà không nhọc công tốn sức.
Ngược lại, những ai không bước vào một trong bốn cửa Thân Thọ Tâm Pháp để vận hành thang máy, mà đi tim niệm xứ thứ năm trở lên ngoài toà nhà 37 tầng… thì dù có lao tâm khổ tứ hết cuộc đời, cũng không bao giờ biết được niềm vui của toà nhà Giác ngộ Giải thoát và Trí tuệ.
Ngoài việc xác định mục tiêu sai, người học còn có vô số chướng ngại trong quá trình học tập như:
Chướng ngại thường gặp đầu tiên là hàng rào ngôn ngữ trong Phật đạo. Hiểu sai các khái niệm chuyên môn sử dụng trong Phật đạo… sẽ dẫn đến ứng dụng sai, nhầm đường lạc lối, đưa đến hệ quả sầu ưu bi khổ não không dứt.
VD Người học hiểu sai các khái niệm về Tâm, Pháp. Ngã, căn, trần thức, ấm, uẩn, ba duyên hoà hợp; tam vô lậu học; tam giải thoát môn; tam muội môn; giới định tuệ vô lậu; giới định tuệ hữu lậu…vv… Điều này chẳng khác người điều khiển phương tiện tham gia giao thông nhưng không thấu hiểu biển báo giao thông nên không chấp hành đúng luật lệ quy định, do vậy khi tham gia giao thông hậu quả, tai hoạ là khôn lường.
Thực tế cho thấy, đối với người được học tập luật lệ giao thông đúng quy trình, khi tham gia giao thông, luôn có ý thức, thái độ chấp hành đúng luật lệ quy định, kết quả sẽ đi đến nơi về đến chốn gọi là “Thượng lộ bình an”; Ngược lại không hiểu hoặc hiểu sai biển báo giao thông, mà cố tình chạy ẩu, vi phạm pháp luật, thậm chí còn xảy ra tai nạn, nguy hiểm đến tính mạng và tài sản, lúc này thì dù thượng lộ, trung lộ hay hạ lộ đều phải nằm im chờ xử lý...
Ngoài ra người học còn mắc một số bệnh trong bốn bệnh “Nhậm Tác Chỉ Diệt”. VD Tuyên bố tu hành là không làm cái gì cả, mặc kệ mọi thứ… gọi là bệnh Nhậm; Tu hành là phải dụng công, phải có phép tu như thế này hoặc thế kia… gọi là bệnh Tác; Tu hành là phải đình chỉ các căn, không thấy nghe hay biết, dừng mọi nghĩ suy… gọi là bệnh Chỉ; Tu hành là phải diệt tham, sân si… gọi là bệnh Diệt
Tóm lại : Có thể gọi “Bài toán” đúng trong Phật đạo là bài toán chỉ rõ mục tiêu trên bốn cấp học đó là Khổ đế; Tập đế; Diệt đế và Đạo đế. Phương pháp học tập là Văn Tư Tu. Xa lìa Bốn bệnh (Nhậm Tác Chỉ Diệt). Tâm không ba thời (Quá khứ, hiện tại, Tương lai). Xử sự không bốn tướng (Nhân, Ngã, Thọ giả, Chúng sanh). Xử lý theo quy trình “Tồi tà hiển chánh”; Đoạn mê khai giác”; Khi giải được một bài toán đúng thì bớt được một điều ngu. Lấy niềm vui làm thước đo trong giáo dục, luôn tiến bộ qua từng cấp học đó là: Hết khổ mà vui. Dứt tập mà an vui. Chứng diệt mà mãi vui. Thành tựu trí tuệ mà ung dung tự tại…
Sau đây học trò xin phép Thầy, lập và giải bái toán theo cách của học trò:
Bài toán MA TRẬN Bốn hàng; Bốn cột (4 X 4 có 16 ô) được lập ra chứa các giá trị như sau:
THÂN THỌ TÂM PHÁP
XÚC THỌ ÁI THỦ
LY BẤT VÔ PHI
TỊNH LẠC THƯỜNG NGÃ
Căn cứ vào dữ liệu 16 ô trong MA TRẬN, học trò tiến hành đánh giá tổng quan về Hàng và Cột.
Một số giải thích về HÀNG.
Hàng thứ nhất (THÂN THỌ TÂM PHÁP): Chỉ rõ bốn nơi chốn mà người học cần phải ghi nhớ gọi là TỨ NIỆM XỨ..; tương ưng với từng niệm xứ chú yếu của Thanh văn; Duyên giác; Bồ tát quyền thừa và Bồ tát Nhất thừa;
Hàng thứ hai (XÚC THỌ ÁI THỦ) chỉ rõ nguyên nhân phát sanh nỗi KHỔ trên bốn chỗ (THÂN THỌ TÂM PHÁP) tương ưng của từng thừa.
Hàng thứ ba (LY BẤT VÔ PHI) là triết lý, phương pháp hay cách thức để đoạn tận nguyên nhân sanh khổ của các thừa.
Hàng thứ tư (TỊNH LẠC THƯỜNG NGÃ) Là cảnh giới, mục tiêu hướng đến của từng thừa.
Một số giải thích về CỘT
Cột thứ nhất (THÂN XÚC LY TỊNH) là triết lý tu hành của THANH VĂN;
Cột thứ hai (THỌ THỌ BẤT LẠC) là triết lý tu hành của duyên giác;
Cột thứ ba (TÂM ÁI VÔ THƯỜNG) là phương pháp giải quyết nguồn tâm của Bồ tát quyền thừa;
Cột thứ tư (PHÁP THỦ PHI NGÃ) Là phương pháp học tập trí tuệ của Bồ tát nhất thừa;
Theo cảm nghĩ của học trò, điều quan trọng trước tiên là lập được bài toán đúng Còn cách giải bài toán chi tiết, cụ thể thì tuỳ theo từng cấp học, cảnh giới, căn cơ, sở thích của từng người mà có cách luận giải tương ứng, miễn là đạt được lợi ích trong học tập và hướng tới mục tiêu chân chánh trong Phật đạo.
Lập được bài toán đúng trong Phật đạo và đi tìm lời giải “có đầu có đuôi, khúc chiết” theo quy trình Văn Tư Tu… cho ra kết quả an vui… (người học) được coi là giác được tấm bản đồ Phật đạo (hay còn gọi là Giáo tông)…
Y vào chỗ đã Giác, người học ứng dụng những quy tắc vàng được Thầy chỉ dạy mà khế hợp với cánh giới trong tâm gọi là tâm kinh. Khi hoát nhiên bắt gặp những điều đã giác trong tâm mình … vốn xưa nay rỗng rang thanh tịnh, gọi là Ngộ (diệt đế)… Xuất hiện trang thái mãi vui… cho đến tự tại, gọi là Tâm tông.
Có được giáo tông và tâm tông, ví như con chim có đôi cánh dang rộng, tự tại bay lượn trên bầu trời của cảnh giới giác ngộ giải thoát và trí tuệ./.
Con xin đảnh lễ tri ân công đức giáo dạy của Thầy !!!
Tây nguyên, ngày 08/02/2023
Con, Lý Thái Đăng
Kinh Tất Cả Các Lậu Hoặc (Sabbàsava sutta)

Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá vệ), tại Jetavana (Kỳ đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).
Khi ở tại chỗ ấy, Thế Tôn gọi các Tỷ kheo: "Này các Tỷ kheo!"
− "Bạch Thế Tôn", các Tỷ kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
Thế Tôn nói: "Này các Tỷ kheo, Ta sẽ giảng cho các Người pháp môn phòng hộ tất cả lậu hoặc. Hãy nghe và khéo tác ý. Ta sẽ nói".
− "Thưa vâng, bạch Thế Tôn".
⁕ Thế Tôn nói như sau:
Này các Tỷ kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy.
Và này các Tỷ kheo, thế nào là sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy: có như lý tác ý và không như lý tác ý.
Này các Tỷ kheo, do không như lý tác ý, các lậu hoặc chưa sanh được sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được tăng trưởng.
Này các Tỷ kheo, do như lý tác ý, các lậu hoặc chưa sanh không sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được trừ diệt.
Này các Tỷ kheo,
− Có những lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ;
− Có những lậu hoặc phải do phòng hộ được đoạn trừ;
− Có những lậu hoặc phải do thọ dụng được đoạn trừ;
− Có những lậu hoặc phải do kham nhẫn được đoạn trừ;
− Có những lậu hoặc phải do tránh né được đoạn trừ;
− Có những lậu hoặc phải do trừ diệt được đoạn trừ;
− Có những lậu hoặc phải do tu tập được đoạn trừ.
⁕ Này các Tỷ kheo, và thế nào là các lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ?
Này các Tỷ kheo, ở đây có kẻ phàm phu ít nghe, không được thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy các bậc Chơn nhơn, không thuần thục pháp các bậc Chơn nhơn, không tu tập pháp các bậc Chơn nhơn, không tuệ tri các pháp cần phải tác ý, không tuệ tri các pháp không cần phải tác ý; vị này vì không tuệ tri các pháp cần phải tác ý, vì không tuệ tri các pháp không cần phải tác ý nên tác ý các pháp không cần phải tác ý và không tác ý các pháp cần phải tác ý.
⁕ Này các Tỷ kheo, và thế nào là các pháp không cần phải tác ý mà vị ấy tác ý?
Này các Tỷ kheo, nghĩa là các pháp do vị ấy tác ý mà dục lậu chưa sanh được sanh khởi, hay dục lậu đã sanh được tăng trưởng; hay hữu lậu chưa sanh được sanh khởi, hay hữu lậu đã sanh được tăng trưởng, hay vô minh lậu chưa sanh được sanh khởi, hay vô minh lậu đã sanh được tăng trưởng. Những pháp ấy là những pháp không cần phải tác ý mà vị ấy tác ý.
⁕ Này các Tỷ kheo, và thế nào là các pháp cần phải tác ý mà vị ấy không tác ý?
Này các Tỷ kheo, nghĩa là các pháp do vị ấy tác ý mà dục lậu chưa sanh không sanh khởi, hay dục lậu đã sanh được trừ diệt, hay hữu lậu chưa sanh không sanh khởi, hay hữu lậu đã sanh được trừ diệt, hay vô minh lậu chưa sanh không sanh khởi, hay vô minh lậu đã sanh được trừ diệt. Những pháp ấy là những pháp cần phải tác ý mà các vị ấy không tác ý.
Do vị ấy tác ý các pháp không nên tác ý, do vị ấy không tác ý các pháp cần phải tác ý, nên các lậu hoặc chưa sanh được sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được tăng trưởng.
Vị ấy không như lý tác ý như sau:
"Ta có mặt trong thời quá khứ, hay ta không có mặt trong thời quá khứ?
Ta có mặt trong thời quá khứ như thế nào?
Ta có mặt trong thời quá khứ hình vóc như thế nào?
Trước kia ta là gì và ta đã có mặt như thế nào trong thời quá khứ?
Ta sẽ có mặt trong thời vị lai hay ta sẽ không có mặt trong thời vị lai?
Ta sẽ có mặt trong thời vị lai như thế nào?
Ta sẽ có mặt trong thời vị lai, hình vóc như thế nào?
Trước kia ta là gì và ta sẽ có mặt như thế nào trong thời vị lai?"
Hay, nay vị ấy có nghi ngờ về mình trong thời hiện tại:
"Ta có mặt hay ta không có mặt?
Ta có mặt như thế nào?
Ta có mặt hình vóc như thế nào?
Chúng sanh này từ đâu đến?
Và rồi nó sẽ đi đâu?".
Với người không như lý tác ý như vậy, một trong sáu tà kiến này khởi lên:
─ "Ta có tự ngã", tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn;
─ "Ta không có tự ngã", tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn;
─ "Do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã", tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn;
─ "Do tự mình, ta tưởng tri ta không có tự ngã", tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn.
─ "Không do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã", tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn; Hay tà kiến này khởi lên với người ấy:
─ "Chính tự ngã của ta nói, cảm giác, hưởng thọ quả báo các nghiệp thiện ác đã làm chỗ này, chỗ kia, chính tự ngã ấy của ta là thường trú, thường hằng, hằng tồn, không chuyển biến, và sẽ vĩnh viễn tồn tại".
Này các Tỳ kheo, như vậy gọi là tà kiến, kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phược.
Này các Tỷ kheo, trói buộc bởi kiến kiết sử, kẻ phàm phu ít nghe, không được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói kẻ ấy không thoát khỏi khổ đau.
Này các Tỷ kheo, và vị Thánh đệ tử nghe nhiều, được thấy các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh; được thấy các bậc Chơn nhơn, thuần thục pháp các bậc Chơn nhơn, tu tập pháp các bậc Chơn nhơn, tuệ tri các pháp cần phải tác ý, tuệ tri các pháp không cần phải tác ý.
Vị này, nhờ tuệ tri các pháp cần phải tác ý, nhờ tuệ tri các pháp không cần phải tác ý, nên không tác ý các pháp không cần phải tác ý và tác ý các pháp cần phải tác ý.
⁕ Và này các Tỷ kheo, thế nào là các pháp không cần phải tác ý và vị này không tác ý?
Này các Tỷ kheo, những pháp nào do tác ý mà dục lậu chưa sanh được sanh khởi, hay dục lậu đã sanh được tăng trưởng; hay hữu lậu chưa sanh được sanh khởi, hay hữu lậu đã sanh được tăng trưởng; hay vô minh lậu chưa sanh được sanh khởi, hay vô minh lậu đã sanh được tăng trưởng. Đó là những pháp không nên tác ý và vị ấy không tác ý.
⁕ Và này các Tỷ kheo, thế nào là các pháp cần phải tác ý và vị ấy tác ý?
Này các Tỳ kheo, những pháp nào do tác ý mà dục lậu chưa sanh không sanh khởi, hay dục lậu đã sanh được trừ diệt, hay hữu lậu chưa sanh…(như trên)…hay vô minh lậu chưa sanh không sanh khởi, hay vô minh lậu đã sanh được trừ diệt, đó là những pháp cần phải tác ý và vị ấy tác ý. Nhờ vị ấy không tác ý các pháp không cần phải tác ý, tác ý các pháp cần phải tác ý nên các lậu hoặc chưa sanh không sanh khởi và các lậu hoặc đã sanh được trừ diệt.
Vị ấy như lý tác ý: "Đây là khổ", như lý tác ý: "Đây là khổ tập", như lý tác ý: "Đây là khổ diệt", như lý tác ý: "Đây là con đường đưa đến khổ diệt".
֎ Nhờ vị ấy tác ý như vậy, ba kiết sử được trừ diệt: thân kiến, nghi, giới cấm thủ. Này các Tỷ kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ.
⁕ Và này các Tỷ kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do phòng hộ được đoạn trừ?
Ở đây, có Tỷ kheo như lý giác sát, sống phòng hộ với sự phòng hộ con mắt. Này các Tỷ kheo, nếu Tỷ kheo ấy sống không phòng hộ với sự phòng hộ con mắt, các “lậu hoặc tàn hại và nhiệt não” có thể khởi lên.
Nếu sống phòng hộ với sự phòng hộ con mắt, các “lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy” không còn nữa.
Vị ấy như lý giác sát, sống phòng hộ với sự phòng hộ lỗ tai... (như trên)... sống phòng hộ với sự phòng hộ lỗ mũi... (như trên)... sống phòng hộ với sự phòng hộ lưỡi... (như trên)... sống như lý giác sát, phòng hộ với sự phòng hộ thân căn... (như trên)... sống như lý giác sát, phòng hộ với sự phòng hộ ý căn.
Này các Tỷ kheo, nếu Tỷ kheo ấy sống không phòng hộ với sự phòng hộ ý căn, các “lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy” có thể khởi lên.
֎ Nếu sống phòng hộ ý căn, các “lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy” không còn nữa. Này các Tỷ kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do phòng hộ được đoạn trừ.
⁕ Và này các Tỷ kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do thọ dụng được đoạn trừ?
Này các Tỷ kheo, ở đây, Tỷ kheo như lý giác sát, thọ dụng y phục chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc phạm của ruồi muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát, chỉ với mục đích che đậy sự trần truồng.
Vị ấy như lý giác sát, thọ dụng món ăn khất thực không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để (thân này) khỏi bị thương hại, để hỗ trợ phạm hạnh, nghĩ rằng:
"Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn”.
Vị ấy như lý giác sát, thọ dụng sàng tọa, chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa xúc phạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loại bò sát, chỉ để giải trừ nguy hiểm của thời tiết, chỉ với mục đích sống độc cư an tịnh.
Vị ấy như lý giác sát, thọ dụng dược phẩm trị bệnh, chỉ để ngăn chận các cảm giác khổ thống đã sanh, để được ly khổ hoàn toàn.
Này các Tỷ kheo, nếu vị ấy không thọ dụng như vậy, các “lậu hoặc tàn hại và nhiệt não” có thể khởi lên.
֎ Nếu vị ấy thọ dụng như vậy, các “lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy” không còn nữa. Này các Tỷ kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do thọ dụng được đoạn trừ.
⁕ Và này các Tỷ kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do kham nhẫn được đoạn trừ?
Này các Tỷ kheo, ở đây, có Tỷ kheo như lý giác sát, kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc phạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát; kham nhẫn những cách nói mạ lỵ, phỉ báng.
Vị ấy có tánh kham nhẫn các cảm thọ về thân, những cảm thọ thống khổ, khốc liệt, đau nhói, nhức nhối, không sung sướng, không thích thú, chết điếng người.
Này các Tỷ kheo, nếu vị ấy không kham nhẫn như vậy, “các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não” có thể khởi lên.
֎ Nếu vị ấy kham nhẫn như vậy, các “lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy” không còn nữa. Này các Tỷ kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do kham nhẫn được đoạn trừ.
⁕ Và này các Tỷ kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do tránh né được đoạn trừ?
Này các Tỷ kheo, ở đây, Tỷ kheo như lý giác sát, tránh né voi dữ, tránh né ngựa dữ, tránh né bò dữ, tránh né chó dữ, rắn, khúc cây, gai góc, hố sâu, vực núi, ao nước nhớp, vũng nước.
Có những chỗ ngồi không xứng đáng ngồi, những trú xứ không nên lai vãng, những bạn bè ác độc mà nếu giao du thì bị các vị đồng phạm hạnh có trí nghi ngờ, khinh thường; Vị ấy như lý giác sát, tránh né chỗ ngồi không xứng đáng ấy, trú xứ không nên lai vãng ấy và các bạn độc ác ấy.
Này các Tỷ kheo, nếu vị ấy không tránh né như vậy, các “lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy” có thể khởi lên.
֎ Nếu vị ấy tránh né như vậy, các “lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy” không còn nữa. Này các Tỷ kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do tránh né được đoạn trừ.
⁕ Và này các Tỷ kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do trừ diệt được đoạn trừ?
Này các Tỷ kheo, ở đây, Tỷ kheo như lý giác sát, không có chấp nhận dục niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (dục niệm ấy); không có chấp nhận sân niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (sân niệm ấy); không có chấp nhận hại niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (hại niệm ấy); không chấp nhận các ác bất thiện pháp luôn luôn khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (các ác bất thiện pháp ấy).
Này các Tỷ kheo, nếu vị ấy không trừ diệt như vậy, các “lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy” có thể khởi lên.
֎ Nếu vị ấy trừ diệt như vậy, các “lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy” không còn nữa. Này các Tỷ kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do trừ diệt được đoạn diệt.
⁕ Và này các Tỷ kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do tu tập được đoạn trừ?
Này các Tỷ kheo, ở đây, Tỷ kheo như lý giác sát, tu tập niệm giác chi, niệm giác chi này y viễn ly, y ly tham, y đoạn diệt, hướng đến từ bỏ; như lý giác sát, tu tập trạch pháp giác chi... (như trên) ... tu tập tinh tấn giác chi… tu tập hỷ giác chi… tu tập khinh an giác chi... tu tập định giác chi... tu tập xả giác chi; xả giác chi này y viễn ly, y ly tham, y đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
Này các Tỷ kheo, nếu vị ấy không tu tập như vậy, các “lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy” có thể khởi lên.
֎ Nếu vị ấy tu tập như vậy, các “lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy” không còn nữa. Này các Tỷ kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do tu tập được đoạn trừ.
Này các Tỷ kheo, đối với Tỷ kheo những lậu hoặc nào:
⁎ phải do tri kiến được đoạn trừ đã được tri kiến đoạn trừ, những lậu hoặc nào:
⁎ phải do phòng hộ được đoạn trừ đã được phòng hộ đoạn trừ, những lậu hoặc nào:
⁎ phải do thọ dụng được đoạn trừ đã được thọ dụng đoạn trừ, những lậu hoặc nào:
⁎ phải do kham nhẫn được đoạn trừ đã được kham nhẫn đoạn trừ, những lậu hoặc nào:
⁎ phải do tránh né được đoạn trừ đã được tránh né đoạn trừ, những lậu hoặc nào:
⁎ phải do trừ diệt được đoạn trừ đã được trừ diệt đoạn trừ, những lậu hoặc nào:
⁎ phải do tu tập được đoạn trừ, đã được tu tập đoạn trừ.
Này các Tỷ kheo, Tỷ kheo ấy được gọi là đã sống phòng hộ với sự phòng hộ tất cả lậu hoặc, đã đoạn diệt khát ái, đã thoát ly kiết sử, đã chánh quán kiêu mạn, đã diệt tận khổ đau.
Như vậy Thế Tôn thuyết giảng. Các Tỷ kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Chỉ Thú Cốt Lõi Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
Bộ kinh giáo Diệu Pháp Liên Hoa được mệnh danh “khai thị ngộ nhập Phật tri kiến” thì, nhất định độ rộng và sâu của nó thật sự khó nghĩ bàn...

Tâm tông & trò chơi trí tuệ - Tác Giả Lý Tứ
Các bạn! ... Nhận ra chỉ thú cốt lõi của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa hay bất kì chỉ thú cốt lõi của một bộ kinh nào đó, các bạn sẽ thấy, cho dù mỗi một bộ kinh có một chỉ thú khác nhau, hoàn cảnh ra đời, mức độ cạn sâu của từng bộ kinh không giống nhau, nhưng tất cả đồng quy về một mối, đó là giải quyết rốt ráo bốn giai đoạn của Tứ Đế!
Có nhận ra tính nhất quán trong hệ thống kinh điển Phật Giáo, ta mới thấy rằng, lời dạy của Thế Tôn: “Như Lai thuyết pháp; thượng, trung, hạ đều thiện”. Lời dạy này, chính là hình mẫu cho thấy cứu cánh ba thừa hay nhất thừa tuy sâu cạn có sai khác, nhưng cùng đi trên con thuyền chân lý. Con thuyền chân lý đó, đã được Thế Tôn khái quát trong câu nói: “Như một đĩa mật, cho dù một người ăn trọn đĩa mật, hay người liếm mép đĩa, vị ngọt của mật cũng không khác”!
Vị ngọt của đĩa mật Niết Bàn, được người tu hành hưởng dụng ngay từ lúc sơ ngộ cũng chẳng khác vị ngọt của đĩa mật Niết Bàn đối với người liễu ngộ. Có nghĩa rằng, từ những lời pháp đầu tiên cho ra những nhận thức đầu tiên, hương vị thanh lương, an ổn từ sự dứt trừ những khổ nạn đầu tiên; chẳng khác hương vị thanh lương, an ổn của những đạo quả sâu hơn!
Điều này, cho phép chúng ta có thể lý giải, vì sao một người tu đúng chánh pháp, chỉ cần thể nhập quả vị Nhập Lưu, từ đó con thuyền của vị ấy cứ một đường, xuôi dòng chảy thẳng về đạo quả giải thoát rồi đi xa hơn, mà không hề tấp vào các bến bờ kiết sử. Sự vi diệu của chánh pháp ẩn chứa trong tính nhất quán này! Và điều này, cũng cho phép chúng ta nhận ra rằng, những ai tu hành trong Phật đạo, mà con thuyền của họ còn ghé vào cồn bãi ba cõi, nhất định con thuyền mà người đó đang nương tựa, có thể không phải là con thuyền chánh pháp. Vì rằng, con thuyền chánh pháp, ngay khi vừa rời bến, nhận thức đầu tiên của nó là: “Chỉ cập vào bến bờ vô lậu”.
Trong quá trình chuẩn bị các câu hỏi, mình thực hiện ý tưởng: “làm thế nào chỉ trong vòng vài ba câu hỏi đặt ra, khi thông suốt, các bạn có thể tìm thấy đạo lộ tốt nhất tiến về Vô Thượng Quả thông qua Diệu Pháp Liên Hoa!” Tuy nhiên, với bộ kinh giáo Bồ Tát như Diệu Pháp Liên Hoa, để chắt lọc những điều cốt tuỷ nhất, nêu ra vài ba gợi ý mà có thể giúp các bạn thông suốt đạo lộ vô thượng, việc làm này không thể nói là dễ dàng. Vì bởi, đây là bộ kinh được mệnh danh “khai thị ngộ nhập Phật tri kiến” thì, nhất định độ rộng và sâu của nó thật sự khó nghĩ bàn...
Đây cũng là lý do vì sao, từ xưa đến nay, người tu hành thường coi kinh này như bộ kinh gối đầu giường, thậm chí có những người lấy đây làm pháp bảo, tụng đọc tư duy hàng ngày, và cũng không ít pháp sư lấy kinh này làm đề tài giảng nói... Có một câu chuyện liên hệ đến Diệu Pháp Liên Hoa, được Pháp Bảo Đàn Kinh ghi lại như sau: “Pháp Đạt là người xuất gia, từng tụng Pháp Hoa đến ba ngàn lần, nhưng chẳng thông suốt... Một hôm, nhờ Lục Tổ khai thị, chỉ trong vòng mấy câu, Pháp Đạt lãnh hội chỉ thú của kinh! Mừng quá, để tỏ lòng biết ơn công đức khai thị của Lục Tổ, Pháp Đạt bèn làm kệ xưng tán rằng:
Tụng kinh ba ngàn lượt,
Tào Khê một câu quên.
Chưa rõ lẽ xuất thế,
Qua bao kiếp mê cuồng.
Dê, nai, trâu, giả lập,
Trước sau, khéo giải bày.
Ai hay trong nhà lửa,
Thật có đấng Pháp vương.
Nghe xong, Lục Tổ bảo: “Từ nay, có thể gọi ông là ông Thầy biết tụng kinh...” ...! ... Huệ Năng quả là cáo già! “Từ nay, có thể gọi ông là ông thầy biết tụng kinh...” ... Mèo lại hoàn mèo, có khác chăng, một con mèo cụt đuôi bỗng dưng biến thành con mèo có đuôi!
Tại sao:“Từ nay, có thể gọi ông là ông thầy biết tụng kinh...”?
Mà không là,“Từ nay, ông sẽ là con rồng biết mưa pháp”?
Các bạn thử suy gẫm xem! Tại sao… và tại sao? Qua câu chuyện vừa rồi mới biết, tụng đọc giảng nói là một chuyện, thấu suốt lí lẽ siêu mầu của kinh lại là một chuyện. Vì rằng, lí lẽ siêu mầu, không ở trong lớp vỏ văn tự ngữ ngôn của kinh!
Về ba câu hỏi từ Diệu Pháp Liên Hoa, chúng ta có thể tìm thấy đạo lộ từ một phàm phu tiến về Vô Thượng Quả, được phát hoạ bởi ba bước như sau:
Bước thứ nhất: Dời thế gian pháp ra khỏi tâm thức...
Bước thứ hai: Dùng tâm trí, thể nhập tất cả các pháp lành của chư Phật...
Bước thứ ba: Khi tâm trí (của hành giả) và pháp lành (của chư Phật) không còn là hai pháp... Dùng chính nhục thân này làm công hạnh, hoá độ chúng sanh, viên mãn công đức, chứng Vô Thượng Quả...
Điều này ta có thể hiểu qua ví dụ sau: “Như có người dấn thân đi tìm châu báu... Người này dùng một chiếc thuyền lớn (dõng tâm, dõng trí), chở đầy tạp hoá, vừa rong ruổi vừa buôn bán làm kế sinh nhai trên đường tìm kho báu (tạp hoá dụ cho các pháp lành thế gian và thiền định)... Thấp thoáng thấy kho báu (pháp lành xuất thế hay Phật tri kiến), lập tức đổ bỏ tất cả những thứ trên thuyền xuống biển một cách không thương tiếc (dời trời người ra khỏi tâm thức)... Với chiếc thuyền trống (bổn tâm), người lái buôn gom tất cả báu vật (pháp lành của chư Phật) chất đầy thuyền (Trí xuất thế đựng pháp xuất thế)... Sau đó, quay trở lại chốn cũ (nhập thế gian giới), tự thân đem châu báu bán cho người đời (dùng nhục thân làm công cụ hoá độ), trở thành người giàu có bậc nhất (chứng Vô Thượng Trí)…
Về lý thuyết, ba bước là như vậy! Vấn đề là: “Bằng cách nào, người tu hành có thể thực hiện thành công ba bước này?”
Đây là câu hỏi lớn, giải quyết được câu hỏi này, nhất định con đường tu tập của bản thân và đạo lộ giúp người của các bạn, vi lai nhất định sẽ thông suốt.
Trong thời gian tới, HĐ nào có thể giải quyết rốt ráo câu hỏi trên... Xin rỉ tai, nói nho nhỏ để mình biết với! Nhớ đừng la lớn! La lớn nó chui xuống hang! Rất mong!...
Có lẽ giờ này, mọi người đã đọc xong những bài viết của mình, cũng như các câu trả lời của HĐ chúng ta về TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ - 2018/07... Theo mình nghĩ, mỗi người trong HĐ chúng ta, từ nay, tự thân có thể tìm ra các câu trả lời đúng nhất đối với năm câu hỏi vừa qua, cũng như biết rõ chỉ thú cốt lõi của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa là gì!
Chúc các bạn an vui và tinh tấn! (02-07-2018)
Khai, Thị, Ngộ, Nhập Phật Tri Kiến

Tâm tông & trò chơi trí tuệ - Tác Giả Lý Tứ
Các bạn! ... Đề tài trong Phật đạo thì không thiếu, nhưng để có một đề tài khế cơ, đòi hỏi phải hội đủ nhân duyên công đức. Có nghĩa rằng, mỗi một đề tài gởi đến các bạn, phải tương ưng với tiến trình tu tập của số đông, và đề tài đó phải nằm trong tiến trình tu học, đề tài thấp dễ đâm ra nhàm chán, đề tài quá cao sẽ dẫn đến hụt hẫng! Chưa tìm ra một đề tài phù hợp để giúp các bạn tư duy, mình luôn cảm thấy như có một “bất thiện pháp” đang hiện hữu trong lòng!
Thật may mắn! Chiều nay, có buổi trao đổi ngắn với SĐ Giác Minh. Thế là, cuộc trao đổi ngắn của mình với vị SĐ này xoay quanh tinh thần kinh Diệu Pháp Liên Hoa! Mình còn nhớ như in, những ngày cách đây trên bốn mươi năm, mình và một số bạn bè thường hay đến ngôi chùa gần nhà để tụng Diệu Pháp Liên Hoa hàng đêm. Tất nhiên ngày ấy, mình chỉ biết cùng chuông mõ tụng hết phẩm này sang phẩm khác, nhưng ý nghĩa của nó, ngô khoai như thế nào thì mù tịt!
Mình chỉ tin một điều, tụng kinh Diệu Pháp Liên Hoa sẽ phát sinh công đức, điều này cũng chỉ nghe thiên hạ đồn. Và, công đức là thứ gì, nó được tính bằng lon, lít, ký, tạ, tấn hay mét... mình cũng không hình dung nổi. Nhưng, chỉ với niềm tin vào kinh Phật, mình đã tụng đọc bộ kinh này không biết bao nhiêu lần! ... Thế rồi, không biết có phải do tích lũy được nhiều ký (Kg) hay nhiều tấn (1000Kg) công đức hay không...
... Một ngày cách đây chừng mười năm, mình đã hiểu ra kinh Diệu Pháp Liên Hoa nói gì, dành cho đối tượng nào và ứng dụng ra sao! ... Theo mình biết, trong hiện tại, cũng có rất nhiều Phật tử đang tụng Diệu Pháp Liên Hoa như mình hồi xưa, thậm chí có những đạo tràng chuyên tụng kinh này. Và, cũng không ít Pháp Sư đang giảng nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa trong hiện tại.
Khi viết những dòng này, tận sâu thẳm của thâm tâm, mình cầu mong cho những vị Phật tử đang gởi gắm niềm tin vào việc tụng đọc kinh Diệu Pháp Liên Hoa, rồi sẽ có ngày tích tụ đủ công đức để có thể nhận ra Phật tri kiến là cái gì và trực nhận rõ ràng làm thế nào để phát sinh công đức!
Các bạn! ... Hầu như mọi người tu hành trong Phật đạo đều biết, kinh Diệu Pháp Liên Hoa ra đời, nhằm khai, thị, ngộ, nhập Phật tri kiến... Có nghĩa kinh này chỉ ra rằng, Phật đạo không dừng lại ở những quả vị nhỏ của phần tự độ [[1]] mà mục tiêu tối thượng là: “Giúp hết thảy người tu hành trong Phật đạo thành tựu quả vị cao nhất, đó là Vô Thượng Bồ Đề quả!”.
Muốn thành tựu Vô Thượng Bồ Đề, ngoài việc phải thành tựu phần tự độ của Diệt Đế, người này còn phải học trí tuệ (của Đạo Đế). Có trí tuệ, vị tu hành mới có thể làm công hạnh, để hoàn thành công việc độ tha, khi công việc độ tha viên mãn, chừng ấy quả Vô Thượng Bồ Đề với mười danh hiệu mới hiện!
Phàm ở đời, muốn học nghề gì, phải biết rõ nghề đó. Muốn mua món đồ nào, phải hiểu thứ mình cần mua. Cũng vậy, muốn thành tựu Vô Thượng Quả, muốn có trí tuệ trong Phật đạo, điều đầu tiên vị tu hành này phải biết trí tuệ của Phật đạo là gì, Vô Thượng Quả do đâu mà thành! Kinh Diệu Pháp Liên Hoa đảm nhận vai trò chỉ rõ hai công việc: Giới thiệu thế nào là Phật tri kiến[[2]] và điều kiện để chứng Vô Thượng Bồ Đề! Tất nhiên để học Phật Trí và sau đó là chứng Phật Quả[[3]], hai thứ này luôn luôn bao gồm những điều kiện bắt buộc của nó. Một trong những điều kiện không thể thiếu, đó là: “Vị tu hành phải thành tựu Diệt Đế và học trí tuệ để thành tựu Đạo Đế”.
Ta có thể hiểu, Pháp Hội Diệu Pháp Liên Hoa có phần nào đó giống như một buổi tư vấn hướng nghiệp đối với những học sinh vừa tốt nghiệp Phổ Thông Trung Học, các học sinh đang cần những kiến thức tối thiểu về ngành nghề và cơ sở đào tạo, để tự mình có thể chọn ngành nghề, trường lớp phù hợp với năng lực bản thân. Đây cũng là lý do vì sao năm trăm vị tăng thượng mạn [[4]] từ bỏ pháp hội ra đi. Tất nhiên, giới thiệu về Phật tri kiến hoàn toàn không giống một buổi tư vấn hướng nghiệp tuyển sinh. Vì, những ngữ nghĩa thâm u của cảnh giới xuất thế chỉ có những tâm cảnh tương ưng xuất thế mới cảm nhận được; ta có thể hiểu, nó giống như buổi hướng nghiệp được giảng giải bằng một thứ ngôn ngữ đặc biệt, mà chỉ có những người đã tốt nghiệp mới có thể hiểu được (còn những ai chưa tốt nghiệp “Diệt Đế” thì... pó... tay)!
Đây cũng là lý do vì sao kinh Đại Thừa khó hiểu hoặc không thể hiểu nổi với những người chưa Giác Ngộ. Điều này, cũng phù hợp với câu nói bất hủ của Ngũ Tổ: “Bất thức bổn tâm, học pháp vô ích”. Ta có thể hiểu nôm na câu nói trên với đại ý: “Chưa Giác Ngộ, chưa chứng Diệt Đế, không thể học Đại Thừa Pháp của Đạo Đế”. Và đây cũng là lý do vì sao, các kinh giáo Nhị Thừa (bất liễu nghĩa, dạy pháp thế gian) khi đọc lên, dù người có tu hay không tu... đều có thể nhận hiểu một cách dễ dàng!
Đến đây, chúng ta mới thấy rõ ngữ nghĩa, cảnh giới của văn tự thế gian được biên chép phần lớn trong kinh tạng Nikaya khác biệt với ngữ nghĩa, cảnh giới của văn tự xuất thế gian được biên chép phần lớn trong kinh tạng Đại Thừa là như thế nào!
Nếu, Tứ Đế là quy trình học tập, nhằm đưa một phàm phu vô văn đến quả vị cao tột Vô Thượng Bồ Đề thì, kinh Diệu Pháp Liên Hoa được coi là tư liệu cơ sở nhằm đặt nền móng xây dựng một loại hình văn hoá mới, đó là văn hoá Đại Thừa, một loại văn hoá thể hiện đầy đủ cảnh giới rộng lớn của Trí Tuệ (thuộc về Đạo Đế), ta thường gọi là “Khai”, “Thị” Phật tri kiến... Khai thị, là giới thiệu, là chỉ cho thấy, là tập làm quen, là tập nhận biết... Khi đã thấy, đã làm quen, đã nhận biết. Chừng ấy, cơ may “Ngộ, Nhập” Phật tri kiến mới có thể đến!
Ngày xưa, khi chưa tuyên thuyết kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Thế Tôn chưa tuyên nói về những điều thâm u của Phật tri kiến. Các La Hán thường nghĩ rằng, quả vị A La Hán là cứu cánh cuối cùng của Phật đạo, sự nhầm lẫn này được biểu hiện rõ nét qua lời tuyên bố: “Chư lậu dĩ tận, phạm hạnh dĩ lập, sở tác dĩ biện, bất thọ hậu hữu”. Cho đến khi Pháp Hội Diệu Pháp Liên Hoa ra đời, chừng ấy các A La Hán mới biết rằng, quả vị La Hán chỉ là Hoá Thành. Đây là lý do vì sao các Phẩm Thí Dụ, Phẩm Hoá Thành Dụ hay câu chuyện Gã Cùng Tử có mặt trong kinh! Và, đây cũng là lý do vì sao các Phẩm Pháp Sư; Như Lai Thọ Lượng; Tòng Địa Dõng Xuất; Phân Biệt Công Đức hay Phẩm Thọ Ký được tuyên thuyết trong Pháp Hội này!
Các bạn! ...Học Đạo Đế mà không có những hiểu biết nhất định về kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Nó giống như người đi tìm châu báu mà không có những hiểu biết nhất định về châu báu!
Để tập làm quen với kinh văn, tập làm quen với văn hoá Đại Thừa cũng như tập làm quen với cảnh giới trí tuệ. Ngay từ giờ phút này, chúng ta tập phân tích một số ý nghĩa cơ bản của kinh Đại Thừa, mà cụ thể là kinh Diệu Pháp Liên Hoa! Mình sẽ đưa ra một số câu hỏi đơn giản theo nội dung kinh, kèm theo đó vài câu hỏi thuộc cơ sở lý luận, sau đó các bạn phân tích và trả lời. Những câu hỏi này, phần liên hệ đến kinh văn, sẽ giúp các bạn thâm nhập hành trình và ý nghĩa của Đạo Trí Tuệ. Phần câu hỏi thuộc về lý luận, giúp các bạn lập luận để giải quyết một vấn đề như pháp!
CÂU HỎI TCTT 2018/07 – “Khai, Thị, Ngộ, Nhập” Phật Tri Kiến
1) Vì sao, khi tuyên thuyết Diệu Pháp Liên Hoa, trong kinh bảo rằng “phải dời trời người” đi nơi khác?
2) Vì sao, muốn tuyên thuyết Diệu Pháp Liên Hoa... Phải “thỉnh tất cả Hoá Phật” về với Pháp Hội?
3) Vì sao Phật Đa Bảo phát nguyện: “Nơi nào tuyên thuyết Diệu Pháp Liên Hoa, sẽ đem nhục thân đến cúng dường”?
4) Có người bảo rằng: “Kiến tánh thành Phật” [[5]]... Có người lại bảo rằng: “Kiến tánh khởi tu” [[6]]... Trong hai câu nói này, câu nào đúng??? Hay cả hai đều đúng? Hãy phân tích cụ thể, có ví dụ minh hoạ càng tốt!
5) Có người bảo rằng: “Kinh nào đọc dễ hiểu, đó là kinh Phật. Còn kinh nào đọc khó hiểu, là do người đời nguỵ tạo!” Theo bạn, câu nói này có hợp lý hay không? Vì sao hợp lý? Vì sao không? Hãy phân tích, lập luận và cho ví dụ để làm sáng tỏ ý kiến của bạn!
Rất mong, nhận được những kiến giải bổ ích từ Các bạn! ...
[Hiện nay (2018), đường link (liên kết) tải về Kinh Diệu Pháp Liên Hoa (nếu chưa có Kinh) có địa chỉ sau: https:// thuvienhoasen.org/a567/kinh-dieu-phap-lien-hoa]
GỢI Ý... TCTT 2018/07 – “Khai, Thị, Ngộ, Nhập” Phật Tri Kiến
Các bạn! ... Để có thể trả lời hoàn hảo các câu hỏi. Mình có một vài gợi ý sau: Đầu tiên, các bạn cần xác định ý nghĩa của những thành tố quan trọng, mang tính quyết định trong câu hỏi. Ví dụ:
− “Trời người” nhằm ám chỉ điều gì? Vì sao phải dời? Dời đi đâu? Ai dời? Nếu không dời, điều gì sẽ xảy ra?
− “Hoá Phật” được nêu trong kinh, nhằm ám chỉ điều gì? Vì sao “cần phải” cung thỉnh các Hoá Phật ấy về khi khai thị Phật tri kiến?
− “Nhục thân” đóng vai trò quan trọng như thế nào đối với Phật Trí, đến độ Phật Đa Bảo phát nguyện cúng dường khi biết được ở quốc độ nào có tuyên thuyết Kinh Diệu Pháp Liên Hoa?
Muốn lập luận thuyết phục, có lẽ các bạn cần xác định khái niệm “kiến tánh”là kiến cái gì? Khi xác định được điều này. Theo mình, cánh cửa lập luận sẽ rộng mở và không rơi vào cực đoan.[[7]]
Các bạn! ... Ngoài việc trả lời đúng các câu hỏi, yêu cầu được đặt ra cho các bạn lúc này là: Cần có một lập luận thuyết phục, cách đặt vấn đề sắc bén, cộng thêm một...chút...chút...văn...trong bài viết! Các câu trả lời từ hôm qua đến giờ, nếu chúng ta chỉ trả lời theo kiểu hỏi đâu đáp đó, lý luận không thuyết phục, dẫn chứng không đặc sắc, ví dụ không cô đọng, văn tự không trôi chảy, v.v...
Theo mình thì, chúng ta sẽ gặp nhiều trở ngại trong việc nhiếp phục người ở vị lai! Mình đang chờ đợi một bức phá nào đó từ các bạn về phương diện trình bày. Đành rằng: “Diệu lý của Chư Phật chẳng can dự gì đến văn tự” theo cách nói của Lục Tổ. Nhưng, nếu chúng ta thể hiện “đệ nhất nghĩa” bằng một thứ văn tự thiếu chất văn (đôi khi đọc lên tức ngược!). Có lẽ điều này cũng không phải là một ưu thế!
Các bạn! ... Hôm nay, mình và các HĐ có chuyến viếng thăm và cúng dường Chư Tăng Trường Hạ Phước Long. Nơi có hai vị HĐ của chúng ta là SĐ Giác Minh và SĐ Giác Bảo đang an cư ở đó.
Trong ngày hôm nay, mình nhận thêm trả lời của HĐ. Đọc bài viết của các HĐ này, mình có cảm giác “cái cớ sự nghèo cùng văn chương” đã không còn nữa. Theo mình, có thể đây là bước ngoặt lớn trong việc tu tập!
Không biết, cái bước ngoặt đầy bất ngờ này, có phải do phước duyên từ việc cúng dường Chư Tăng mùa An Cư Kiết Hạ hôm qua, được chùa đãi ăn món “khổ qua bào mỏng sấy khô trộn gia vị” rồi xào hay không, mà các vị HĐ của ta tỏ ra thông suốt đến thế? Nếu điều này là đúng, chúng ta nên phát động phong trào “ăn khổ qua bào mỏng phơi khô” để cùng nhau tống cổ cái khổ “nghèo túng văn chương”, cho nó mau mau đội nón ra đi theo đúng nghĩa đen của hai chữ “khổ qua”!
Mình vừa nghĩ ra, tên của pháp này, chúng ta nên đặt cho nó là “Khổ Qua Đế”, đây là đế thứ năm do ăn mà Lão Lý ngộ ra. Điều này cũng phù hợp với “Kỳ Cục Môn” của Lý Gia!...
Các bạn! ... Đến giờ, chúng ta có thể thấy rõ một điều, đó là: “Nếu chịu khó đầu tư kỹ lưỡng, không có gì là không thể đối với HĐ chúng ta”! Như mọi người đều biết, Diệu Pháp Liên Hoa là loại kinh Giáo Bồ Tát Thừa hay còn gọi là Giáo Nhất Thừa. Có nghĩa rằng, Nhị Thừa và Bồ Tát Quyền Thừa sau thời gian tu học, các thừa này đã thành tựu đạo quả sau cùng theo yêu cầu của thừa đó. Ví dụ như, Thanh Văn chứng A La Hán Quả, Duyên Giác chứng Duyên Giác Đạo, Bồ Tát Quyền Thừa chứng hai Vô Sanh.
Từ khởi điểm này, ba thừa nói trên, bằng lòng từ bỏ Niết Bàn an vui của riêng mình, họ dõng mãnh phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, phát nguyện độ tận chúng sinh với mong muốn thành tựu mục tiêu cao nhất của Phật đạo. Để thực hiện thành công hai mục tiêu này, sau khi chứng Thánh, các thừa ấy phải lần tìm về biển Đại Giác để cầu học trí tuệ. Vì bởi, muốn thành tựu Vô Thượng Quả, muốn độ tận chúng sanh, con đường duy nhất là “Phải Có Trí Tuệ”, không có trí tuệ thì, mọi tâm nguyện chỉ là những khẩu hiệu suông, hô xong...rồi...bỏ!
Khái quát ba giai đoạn: Từ bỏ Niết Bàn an vui, đồng vào Nhất Thừa để cầu học trí tuệ và độ tận chúng sinh. Trong kinh có những lời dẫn dụ vừa ẩn mật, vừa như một mệnh lệnh khẩn thiết của Đạo Pháp... Những ẩn dụ và mệnh lệnh khẩn thiết này, chúng ta có thể tìm thấy trong những câu chuyện cụ thể như:
− Chuyện: “Người cha một chân bước vào thành An Ổn, chân kia còn ở ngoài, đã trực nhớ các con mình còn ở nơi hiểm nạn, bèn từ bỏ toà thành An Ổn, quay trở về chốn cũ để “Tìm Cách” cứu các con của mình!”
− Câu chuyện “Người cha thấy các con mãi mê ham vui nơi nhà lửa ba cõi, đã đem ba xe (ba thừa) là xe dê, xe hưu, xe nai để dẫn dụ các con ra ra khỏi nơi ấy... Nhưng, cuối cùng đồng cho một loại xe, đó là xe trâu trắng (Nhất Thừa) cao quý nhất!”
− Câu chuyện “Gã cùng tử (ba thừa) phải đi làm thuê làm mướn (học pháp quyền tiểu) cho Ông Trưởng Giả (Phật) để tìm miếng cơm thừa (Niết Bàn ba thừa), nhưng lại không biết bản thân mình chính là đứa con một yêu quý nhất của Ông Trưởng Giả đã thất lạc từ bé...
Chỉ cần người con này nhận ra Ông Trưởng Giả chính là cha mình, bằng lòng từ bỏ thân phận thấp hèn của kẻ tôi đòi (Niết Bàn tự độ), nhận ông Trưởng Giả làm cha, nhất định gã cùng tử sẽ kế thừa gia sản (trí tuệ) của Ông Trưởng Giả ở vị lai...”
− Gia sản Trí Tuệ Vô Đối của Ông Trưởng Giả, không thể và vĩnh viễn không thể là thứ được thừa kế bởi những kẻ chỉ bằng lòng với thân phận thấp hèn qua những tư duy, những quan niệm nhỏ nhoi của thế gian mà con người (Người) là điển hình của sản phẩm đó!
− Nó lại càng không thể là thứ được kế thừa bởi những hạng người chỉ biết ôm ấp, thoả nguyện, tự hào bởi những cảnh giới Thiền Định (Trời) mà bản thân đạt được trong quá trình tu hành!
− Và, cuối cùng, cho dù “đã chứng Thánh Quả Ba Thừa”, nhưng không có tâm “Từ Bi”, không vì hết thảy chúng sinh, coi “Niết Bàn quyền tiểu” như là một “Trú Xứ Bình Yên” không dám từ bỏ thì, chẳng khác nào “Hạt Giống Thối” sẽ tự phân huỷ theo thời gian!
Phật tri kiến là loại văn hoá Xuất Thế Gian Thượng Thượng, là cảnh giới cao tột của trí tuệ, là không gian dành riêng cho những “Pháp Lành” mà các Hóa Phật đã tuyên thuyết từ quá khứ cho đến hôm nay. Những pháp lành này, nhiều như số lá trong một rừng cây, còn những gì ba thừa biết được, chỉ nhỏ bé như số lá trong nắm tay. (Muốn biết lá trong rừng là bao nhiêu? Hãy đi đến từng khu rừng, từng ngọn cây… mà chứng kiến)!
Để có thể thấy biết Phật tri kiến là gì, đòi hỏi người tu hành phải thoả mãn các điều kiện bắt buộc của nó. Giống như muốn bay vào không gian, phải có một cơ thể đủ sức chịu đựng điều kiện không trọng lực. Muốn thấy xa hơn người, phải có con mắt cực sáng. Muốn chạy nhanh, phải có đôi chân lành. Muốn vào đại học, phải tốt nghiệp phổ thông. Thiếu những yếu tố bắt buộc này, chuyện đặt một chân vào một ngưỡng nào đó, nhất định sẽ là điều không thể! Để có thể chứng nhập Phật tri kiến, đòi hỏi người tu hành phải đủ năng lực trí tuệ và một tâm địa vô bờ. Giống như muốn bắt con kình ngư, phải ra ngoài biển lớn. Muốn bắt con cọp chúa, phải vào tận thâm sơn! Con kình ngư không có nơi ao lạch, con hổ chúa không có nơi bụi lùm!...
Các bạn! ... • Hãy, “đầu tư thật nhiều, nhất định sẽ thành công”! • Và, “đầu tư cho trí tuệ, chính là đầu tư khôn ngoan nhất”!
Chúng ta có thể khẳng định như đinh đóng cột rằng: Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ra đời, theo mọi người thường hiểu, đó là khai, thị, ngộ, nhập Phật tri kiến cho chúng sanh! Và lời kinh cũng dạy như vậy: “Đại sự nhân duyên Phật ra đời là để khai, thị, ngộ, nhập Phật tri kiến cho chúng sanh”. Bài viết trước, mình có đề cập đến những ẩn mật và mệnh lệnh khẩn thiết chứa đựng trong lời kinh... Như vậy, những ẩn mật và mệnh lệnh khẩn thiết đó là gì?
Nếu bảo rằng, kinh Diệu Pháp Liên Hoa chỉ gói gọn trong việc khai, thị, ngộ, nhập Phật tri kiến thì... Có lẽ, bộ kinh này không làm “đau đầu nhức óc” bao thế hệ người tu hành. Đến nỗi, chính mình được nghe câu chuyện đối đáp giữa một vị thính chủ tham vấn đạo pháp với một vị Sa Môn về một vài ý nghĩa có liên hệ đến kinh này. Sau một hồi giảng giải, vị ấy kết luận: “Kinh nào khó hiểu, đó chẳng phải là kinh...Phật”... Ấy thế mà! Sau khi vị Sa Môn kia trả lời, Vị nữ thính chủ nọ tỏ ra mãn nguyện, lại nhoẻn miệng cười...tươi!
Đúng là, “trên cõi đời này, chuyện gì cũng có thể xảy ra”. Lúc đó, trong đầu mình chợt loé lên một suy nghĩ rất hài hước nhưng mà đắng... như… khổ...qua! Rằng! Đối với vị Sa Môn này, ta chỉ nên kết luận: “Những kinh nào ông ta đọc mà hiểu, nhất định chẳng phải kinh Phật... Kinh nào ông ta không hiểu, đích thị đó là... kinh... Phật” .... Rồi, mình lại tư duy đến câu chuyện Phật Đa Bảo phát nguyện cúng dường nhục thân khi ở đâu có đề cập đến Phật tri kiến. Mình cảm nhận, Vị Cổ Phật này khôn thiệt! Phật đạo có ba thứ tôn quý là Phật Bảo, Pháp Bảo và Tăng Bảo, thì ông ta phát nguyện dành hết!
− Phật bảo (hay Pháp thân): Muốn thấy được món quý báu này, phải dời “trời người” ra khỏi tâm thức (trời người đi chỗ khác chơi). Vì đây là điều kiện tiên quyết để tâm thức sạch sẽ, tĩnh lặng, không còn bóng dáng hữu lậu, mới có thể cất chứa cũng như không làm nhiễm ô Phật tri kiến. Từ đây, “Hằm Bà Lằng Thức” mới có thể thành Như Lai Tàng Tâm! ... Cái Phật tri kiến tuy quý như vậy, nhưng vào tay các anh phàm phu và mấy bác ham ưa Thiền Định, nhất định nó sẽ trở thành món “khổ qua xào tàu hủ, giả bộ như xào trứng để đỡ thèm!”. Tuyệt đối, muôn ngàn lần không thể bì với món “khổ qua bào mỏng, phơi khô xào với gia vị” do Lão Lý giới thiệu! Nếu bạn nào không tin, hãy tìm thấy ý nghĩa của những điều này trong Kinh Đại Thí Dụ Lõi Cây! Cái lõi! Nhất định phải là cái lõi cây, mới có thể tạc nên những bức tượng cao quý, sừng sững trước thời gian!
− Pháp bảo (hay Hoá thân): Báu vật này, đối với Phật quốc độ, nó nhiều như lá mùa thu. Nhưng ở Hồng Trần, nó lại tản mác trong thập phương thế giới. Bây giờ là lúc Thích Ca Mâu Ni hô hào “quy tập” để tiếp thị với cộng đồng vô lậu. Sau lần tiếp thị này, một phen người ta chứng kiến sự khốc liệt giữa cuộc chiến một bên là Trí Tuệ với bên kia là lũ giặc phiền não vô trí... Cuộc chiến sanh tử này đã làm hao tốn biết bao “chất xám”. Nhiều đến nỗi, Thiền Sư Tào Tùng, năm Quảng Minh (880 DL) phải thốt lên:
“Trạch quốc giang sơn nhập chiến đồ,
Sinh dân hà kế lạc tiều tô.
Bằng quân mạc thoại phong hầu sự,
Nhất tướng công thành vạn cốt khô...”
Lão Lý bèn cao hứng phỏng dịch như sau:
“Ba cõi xưa nay ham đánh nhau
Sứt đầu, mẻ trán thiệt khổ đau
Ngồi đó, tham thiền đâu tránh được
Trí tuệ mới làm tiêu binh đao!”
...
− Tăng bảo (hay Nhục thân): Nhục thân tuy là vô thường, nhưng nó lại chứa được hai thứ bảo trên. Anh nào tuy mang tấm thân cha sinh mẹ đẻ, nhưng trong mình có được hai thứ bảo trên thì...thì...thì sớm muộn gì cũng được “ngồi bàn thờ” để thiên hạ sớm tối đèn nhang, chuối bánh, hì hục sụp lạy để... để... để xin... số... đề... Đời nay, người gặp Phật xin số đề thì nhiều mà cầu Pháp thì chẳng được bao nhiêu! ... Thói đời là như vậy! Thôi thì, tạm chuối bánh qua ngày, vì bởi: “Gặp thời thế, thế thời phải thế” theo cách nói của cụ Ngô Thì Nhậm.
Thế mới biết! Sau vụ phát nguyện cách đây trên 2.600 năm, kẻ có trí mới phát hiện ra, Phật Đa Bảo, biểu hiện Trí Tuệ hơn người khi phát nguyện: “Ở đâu có hai bảo kia, ở đâu có hai thân kia! Thậm chí, ở đâu có người dám luận bàn về hai thứ ấy! Ông xin đem nhục thân đến cúng dường đặng đựng hai cái của quý này, để từ cái nhục thân 60 ký không đáng một đồng xu trở thành Tăng Bảo Xuất Thế Gian... Để từ món vô thường trở thành Sắc Thường Trụ”.
Các bạn! ... Muốn giải mã thành công những ẩn mật, phải có trí bén... Muốn thực thi mệnh lệnh hoàn hảo, phải có dũng khí hùng tâm... Muốn biết được Tam Bảo cao quý đích thực là gì, phải không nên là người có “nụ cười xinh đẹp mà ngây thơ... như con nghé mừng vui, khi được quẩn quanh bên...vú... mẹ!”
Việc đa số các bạn đã trả lời sai câu 4 cũng không có gì lạ, vì từ trước đến giờ, đối với câu 4, hầu như mình chỉ triển khai khái niệm “Kiến Tánh” mang ý nghĩa của “Kiến Giác Tánh” và “Kiến Tự Tánh”, mà chưa đề cập đến khái niệm thứ ba đó là “Kiến Phật Tánh”! Vì sao nó lại như vậy? Các bạn đều biết, việc tu tập trong Phật đạo phải được thực hiện bởi một quy trình nghiêm ngặt. Quy trình này được dẫn dắt từ cạn đến sâu, từ thô đến tế, từ thế gian đến xuất thế rồi mới đến xuất thế gian thượng thượng.
Quy trình này được dẫn đạo bởi Tứ Đế, Tứ Đế như bốn nấc thang của một cái thang, muốn đến nấc thang thứ hai phải qua nấc thang thứ nhất, muốn đến nấc thang thứ ba phải đi qua hai nấc thang trước, chuyện này không thể đảo ngược, còn việc đi chậm hay mau là tuỳ thuộc vào năng lực của từng người. Khái niệm Kiến Tánh, nhằm chỉ cho ba giai đoạn cơ bản, phụ thuộc vào sự thành tựu các Đế như sau:
Giai đoạn I (Kiến Tánh Giác): Gồm Khổ Đế và Tập Đế thuộc về Thế Gian Đế... Muốn hoàn thành hai đế này, người tu hành phải dùng “Sức Giác” (hiểu biết như pháp) để “Thay Đổi Nhận Thức”. Trong quá trình thay đổi nhận thức, phàm tâm cùng các Kiết Sử và Lậu Hoặc thối mòn, sự thối mòn này được diễn ra theo logich “Nhận Thức Thay Đổi, Hành Vi Thay Đổi”. Hành vi được thay đổi đến một ngưỡng nào đó, hành giả chợt nhận ra “Tâm Này Tự Thanh Tịnh” ... Khi tâm thức tiếp cận được đạo vị thanh lương đầu tiên (gọi là Sơ Ngộ); Đời sống của Hành Giả bắt đầu thay đổi. Trong đời sống mới, hành giả chợt “Ngộ” ra ba điều:
− Sáu căn tự thanh tịnh không cần gìn giữ.
− Tâm thức không duyên theo trần cảnh.
− Ý căn có được sự tĩnh lặng nhất định.
Giai đoạn này, năm căn thân không duyên nơi trần cảnh, Ý căn không lao xao như trước, nhưng “Thấy Nghe Hay Biết” vẫn rõ ràng, lúc này hành giả trực nhận thế nào là “Tánh Thấy, Tánh Nghe” mà Kinh Thủ Lăng Nghiêm từng đề cập... Tánh thấy, tánh nghe Kinh Thủ Lăng Nghiêm đề cập, chính là “Tánh Giác”. Đây là lúc Tánh Giác phát huy sức diệu dụng của nó để “Thay Thế Sáu Thức”, cảnh giới này, được gọi là “Kiến Tánh Giác” (Thấy Tánh Giác). Chữ “Kiến Tánh” trong giai đoạn này, là cách nói vắn tắt của ba chữ “Kiến Tánh Giác”. Ta có thể hiểu, trạng thái Kiến Tánh ở đây, tương tự như hoàn cảnh tâm thức Huệ Năng lần đầu nghe Kinh Kim Cang. Sau đó trình bài kệ với nội dung “Xưa nay (tâm thức) không một hạt bụi, đâu có cần phải lau chùi”....
Loại tâm thức này, hạt bụi nhỏ của Kiến Hoặc và Tư Hoặc thì không còn, nhưng hạt bụi cực nhỏ gọi là Trần Sa Hoặc thì hãy còn. Vì thế, Huệ Năng sau đó còn phải lên thất của Ngũ Tổ một lần nữa, để nhờ Ngũ Tổ quét luôn cho sạch!
Sau khi được Ngũ Tổ quét cho sạch sẽ, Huệ Năng mới sững sốt thốt lên: “Ai dè! Ai dè nó là như vậy... hả... Thầy!” (Nào dè tự tánh...). Ta cũng có thể tìm thấy cách giáo hoá của giai đoạn này trong các bản kinh Nikaya, loại kinh do Báo Thân Phật thuyết. Hình thức giáo hoá trên, nhằm giúp người tu hành thành tựu các bước của Kinh Lõi Cây (Xuất gia, giữ giới, thiền định, tri kiến). Trong các bước vừa nêu, thành tựu bước thứ tư (có tri kiến) mới là thành tựu cốt lõi trong việc tu học. Tri kiến ở đây, chính là nhận thức như pháp của giai đoạn I trong bài viết. Nhờ có được nhận thức như pháp, nên hành vi người tu hành từ đó sẽ chuyển biến như pháp, nhờ hành vi chuyển biến như pháp, sẽ có được một đời sống như pháp.
A La Hán quả (Bất động, Giải thoát) là hệ quả của một nhận thức như pháp, chứ không phải là thành quả của việc Thiền Định. Vì rằng, thành tựu tột cao của Thiền định, chỉ có thể đến được cõi Trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ (không thể ra khỏi ba cõi). Đây cũng là lý do vì sao, muốn thể nhập Phật Tri Kiến, phải dời “trời người” ra khỏi tâm thức. Hoặc như Kinh Lõi Cây chỉ ra, thành tựu Thiền Định chỉ được xếp vào vị trí thứ ba, trước khi thành tựu hai điều quan trọng là Tri Kiến (nhận thức như pháp) và Bất Động Giải Thoát (chứng Diệt Đế).
Giai đoạn II (Kiến Tự Tánh): Hoàn thành giai đoạn một, hành giả ở yên nơi Tánh Giác, “Lặng Lẽ Quan Sát”. Trong quá trình lặng lẽ quan sát, hành giả được Đạo Sư khai thị một lần nữa, lần này lại ngộ ra Ngũ Ấm Rỗng Không, trong cái rỗng không ấy, hành giả trực nhận ý nghĩa đích thực của Bất Động Giải Thoát. Ở yên nơi Cảnh Giới Bất Động, vị hành giả này hoát nhiên nhận ra thế nào là Bổn Tâm, thế nào là Bổn Tánh. Từ đây, các tính chất tự nhiên của Bổn Tánh lần lượt xuất hiện như: Thường thanh tịnh, không động lay, không sanh diệt, hay liễu tri... [[8]]
Sự nhận biết của giai đoạn này, tương tự như những gì Lục Tổ đã mô tả khi chợt thấy Tự Tánh sau khi lên thất của Ngũ Tổ “Nào dè tự tánh vốn tự thanh tịnh, nào dè tự tánh vốn không lay động, nào dè tự tánh vốn không sanh diệt, v.v...”. Sự thấy biết trên cũng gọi là Kiến Tánh. Hai chữ Kiến Tánh ở đây là cách nói rút gọn của ba chữ “Kiến Tự Tánh”. Đến đây, hành giả hoàn thành công việc tự độ, gọi là “Chứng Diệt Đế”. Thành tựu “Cảnh Giới Xuất Thế”.
Hoàn thành giai đoạn vừa nêu, để giúp người tu hành từ cảnh giới Xuất Thế Gian tiến vào cảnh giới Xuất Thế Gian thượng thượng. Các Hoá Phật xuất hiện tuyên thuyết kinh Giáo Bồ Tát Nhất Thừa, thuộc hệ Đại Thừa Phương Đẳng. Cũng chính vì lẽ ấy, các kinh thuộc dạng liễu nghĩa văn tự khó hiểu, ngữ nghĩa thường được mô tả thông qua “ngôn ngữ hình ảnh” ta quen gọi là cảnh giới, hoặc “ngôn ngữ ẩn dụ” ta quen gọi là mật ngữ! Thật ra ngôn ngữ hình ảnh hay mật ngữ chỉ khó hiểu đối với những ai chưa thoát khỏi lậu hoặc, còn ở trong Tục Đế (Thế Gian Đế). Nó giống như văn hoá, ngữ ngôn của loài này, loài kia không thể hiểu.
Giai đoạn III (Kiến Phật Tánh): Sau khi Chứng Diệt Đế, vị tu hành phát khởi Từ Bi Tâm... Phát Đại Nguyện: Trên, thành tựu Vô Thượng Bồ Đề Quả... Dưới, thí xả thân mạng vì hết thảy chúng sanh... Để có thể thành tựu hai đại nguyện này, vị tu hành bây giờ cầu học cho bằng được Trí Tuệ của Chư Phật! Vì họ biết rằng, với trí tuệ hiện có, chỉ đủ để giải quyết bản thân. Từ đây, “Quá Trình Cầu Học Nhất Thiết Trí Hình Thành” (Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ra đời trong giai đoạn này) …
Trong quá trình cầu học Nhất Thiết Trí, hành giả không tiếc thân mạng, đem thân cúng dường cho bất kỳ những ai có thể dạy họ “Đạo Trí Tuệ”. Học được Đạo Trí Tuệ, vị tu hành thành tựu viên mãn “Đạo Đế”, nhập “Xuất Thế Gian Thượng Thượng”. Với Xuất Thế Gian Thượng Thượng Nghĩa, vị ấy lấy “Trung Đạo” làm con đường để “Trở Lại Ba Cõi” vì hết thảy chúng sanh, không tiếc thân mạng ra sức giáo hoá (Kinh gọi là Nhập Pháp Giới).
Trong quá trình giáo hoá, một lần nữa, vị này “Thấy Trọn Vẹn Phật Tánh”, người xưa gọi là “Kiến Phật Tánh” hay còn gọi là Kiến Tánh Thành Phật! Kiến Phật Tánh hay Kiến Tánh là cái thấy cuối cùng của người tu hành. Với cái thấy này, kinh dạy: “Trước khi thọ thực, thân Bồ Tát là nhục thân... Thọ thực xong, Bồ Tát nhập Kim Cang Tam Muội tiêu hoá thức ăn, biến nhục thân thành Kim cang thân... Thấy Phật Tánh thành Đẳng Chánh Giác...” Người tu hành có thể tìm thấy cách giáo hoá, cũng như ý nghĩa của giai đoạn trên trong các kinh Đại Thừa Phương Quảng. Loại kinh này do Pháp Thân Phật thuyết, nội dung thường nói về thật tướng của các pháp và thật tướng các quốc độ. (Nội dung nói về thật tướng các pháp, phần lớn được ghi lại trong các kinh Đại Bát Nhã, Đại Niết Bàn... Nội dung nói về thật tướng các quốc độ ta có thể tìm thấy phần lớn trong kinh Hoa Nghiêm hoặc các kinh tương tự!)
Các bạn! ... Như vậy, ba giai đoạn Kiến Tánh đã được mình khái quát. Trong mười năm qua, để dẫn dắt các bạn từng bước lần lượt thành tựu ba giai đoạn nêu trên, mình đã tuần tự giải thích hai chữ Kiến Tánh thông qua ý nghĩa của giai đoạn một và giai đoạn hai, tức Kiến Tánh Giác và Kiến Tự Tánh, và phần lớn HĐ chúng ta đã thể nhập. Đến nay, hai chữ Kiến Tánh thuộc giai đoạn ba, tức Kiến Phật Tánh, đã được trình bày cụ thể cách thức tu tập ở phần trên của bài viết. Hy vọng, chúng ta sẽ nỗ lực dắt tay nhau, để trong những ngày tới mọi người có thể chạm vào ngưỡng cửa Trí Tuệ của Đạo Đế. Và rồi vị lai, cái thấy cuối cùng, đó là Kiến Phật Tánh trở thành hiện thực. Về việc vì sao, thời gian vừa qua mình không đề cập cụ thể ý nghĩa của Phật Tánh, thậm chí đôi lúc còn quở trách khi các bạn đề cập đến tính chất nhạy cảm của hai từ này, chắc giờ này mọi người đã hiểu rõ!
Kinh nghiệm bản thân, đã cho mình thấy rằng: Hầu như hai chữ Phật Tánh hay Kiến Tánh đã bị người tu hành “lạm dụng” quá nhiều. Đi đâu, đến đâu, cũng nghe người ta bàn Luận Về Kiến Tánh, có thể nói, nhiều người lạm dụng vô tội vạ. Sự lạm dụng vô lối này, dẫn đến nhiều hệ quả tai hại. Hệ quả tai hại nhãn tiền là, có nhiều anh “dốt đặc Phật Pháp”, một câu kinh cũng chưa từng đọc qua, chỉ nghe lõm vài lý luận vô bổ của ai đó, rồi nghĩ tưởng mình cũng đã Kiến Tánh, cứ thế mà mặc tình phóng dật. Lại có những anh, chỉ võ vẽ đọc vài cuốn sách vớ vẩn... Thế là, cả cuộc đời sống trong hoang tưởng, mở miệng là Kiến Tánh, mà thực chất bụng dạ cố chấp, tệ hại hơn cả một phàm phu.
Có vô số, vô số những điều tệ hại về việc lạm dụng hai chữ Kiến Tánh như thế, mà bản thân đã tiếp xúc. Đây cũng là lý do vì sao mình ít đề cập đến hai khái niệm này khi trao đổi Phật Pháp với nhau. Vì rằng, “Cho dù đó là thuốc quý, cũng chỉ tác dụng khi dùng đúng bệnh... Dùng sai cách, thiếu hiểu biết, món thuốc quý sẽ trở thành thuốc độc!”
Người xưa, dùng hai chữ Kiến Tánh để chỉ việc thành tựu một giai đoạn nào đó trong quá trình tu tập. Khi nói đến Kiến Tánh, họ biết rất rõ hai chữ Kiến Tánh thuộc về giai đoạn nào: Kiến Tánh Giác, Kiến Tự Tánh hay Kiến Phật Tánh. Vì thế, nếu Kiến Tánh là:
− Kiến Tánh Giác: Khi Kiến Tánh này phải tu, gọi là “Kiến Tánh Khởi Tu”!
− Kiến Tự Tánh: Khi Kiến Tánh này cũng tu cũng không tu... Vì bởi, việc tu của hạng này, ra khỏi thấy biết, ra khỏi nghĩ bàn của người thế gian!
− Kiến Phật Tánh thì: “Yết đế, yết đế, ha ha yết đế, ha ha ha yết đế, Bồ Đề Tát Bà... ” ... Cho nên, khi nghe người đời nay bảo rằng, Kiến Tánh rồi mới tu, hay Kiến Tánh thành Phật ngay. Các bạn chớ nên vội phản bác, vì phải biết rằng chỉ hai chữ Kiến Tánh không thôi, chưa nói lên được điều gì. Trước khi kết luận rằng, Kiến Tánh là tu hay không tu, các bạn cần phải hỏi lại người đó một cách cụ thể, ví dụ như:
− Ông nói Kiến Tánh là Kiến Tánh ở giai đoạn nào? Hai chữ Kiến Tánh ông đã nói, ám chỉ thành tựu điều gì trong Phật đạo?
− Khi họ giải thích rõ ràng khái niệm Kiến Tánh mình đã nói... Chừng ấy, chúng ta sẽ kết luận phát biểu kia là đúng hay sai cũng không muộn!
Hai chữ Kiến Tánh... Theo mình, nó cũng giống như hai chữ “tốt nghiệp” trong Giáo Dục. Có thứ tốt nghiệp rồi phải học nữa, có thứ tốt nghiệp xong vừa học vừa làm, nhưng cũng có những học vị, khi tốt nghiệp xong, đi làm Thầy thiên hạ. Như vậy, hai chữ tốt nghiệp khi phát ra nhằm nói đến tốt nghiệp bậc học nào. Vì thế, tốt nghiệp xong phải đi học và tốt nghiệp xong không phải học nữa, cả hai đều đúng. Vấn đề đặt ra là: “Đúng với ai và không đúng với... ai... đây?”
Câu hỏi này, mình đưa ra, nhằm giúp HĐ chúng ta chuẩn bị một thói quen của Đạo Đế đó là: Đối với Phật Pháp, mọi thứ phải “minh bạch” ... Mỗi phát ngôn phải rõ ràng, mỗi lời nói ra đều có chỉ thú cụ thể, mỗi từ ngữ phải mang đầy đủ ý nghĩa của cảnh giới thuộc về từ ngữ đó, “mỗi một pháp khi tuyên xưng phải vô ngại”. Học tập việc làm này, đến khi thuần thục, các bạn sẽ tránh được những phát ngôn vô ích, những lập luận hồ đồ khi chưa biết chắc phát ngôn ấy nhằm ám chỉ điều gì, và nhất là ngữ ngôn của Đạo Pháp không phải là một công cụ của hý luận hay phóng dật. Đây cũng là, một trong những nét đặc trưng của Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa và Bát Nhã Văn Tự. Rất mong các bạn chú ý.
Thế đấy! Món “Khổ Qua” của Lão Lý giới thiệu mấy hôm nay, nay “Khổ Đã Qua” theo tinh thần “Ai chưa thông suốt Tứ Đế chính là Khổ Đế” như lời Phật dạy!
Năm câu hỏi của TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ lần này tuy ít, nhưng nó chính là năm cửa ngõ, giúp các bạn thông thuộc hành trình Tứ Đế với ba lần Kiến Tánh, hiểu rõ Ba Thân Phật cùng Tam Bảo Xuất Thế chẳng phải hai (Bất Nhị), nhận ra rằng: Phật Trí là vô biên, Phật Tri Kiến là vô tận... Từ đó Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa sẽ là đạo lộ thênh thang mà các bạn có thể từng bước, từng bước chiếm lĩnh ngọn núi cao nhất của Phật đạo! (27-06-2018)
--------------------------------------------------------
[[1]] quả vị nhỏ của phần tự độ: Giới hạn cuối cùng của chứng Diệt Đế.
[[2]] Phật tri kiến: Thấy biết của một Đức Phật.
[[3]] Phật quả, Vô Thượng Bồ Đề quả: Tức thành Phật đủ mười danh hiệu; Điều kiện để chứng Vô Thượng Bồ Đề: Độ vô lượng chúng sinh, cúng dường vô lượng Chư Phật để cầu học Trí Tuệ.
[[4]] tăng thượng mạn: Chưa chứng nói chứng, chưa đắc nói đắc.
[[5]] Kiến tánh thành Phật: Kiến tánh rồi, không phải tu.
[[6]] Kiến tánh khởi tu: Kiến tánh rồi, phải tu mới có thể thành Phật.
[[7]] cực đoan: Chấp giữ một phía, một bên.
[[8]] các tính chất này, là thuộc tính của Bổn Tánh, gọi là Tự Tánh