Tác Phẩm Lý Tứ

Kệ Tụng Tâm Tông

MB 857 Lý Diệu Sinh 06.02.2023

(Bài số 1)        KỆ KHAI TÂM

Khi mê, thấy có sắc không [[1]]

Ngộ thời, tâm diệt sắc vong tức thì [[2]]

Ngộ thời, sắc chẳng khác không [[3]]

Mê thời, không ấy cũng thành sắc kia [[4]]

Ngộ thời, sắc chính là không [[5]]

Mê thời, không ấy chờ mong sắc này [[6]]

Vượt qua bể khổ trần ai [[7]]

Đến bờ giác ngộ chẳng hai trong lòng [[8]]

Ai người có trí chớ mong [[9]]

Sắc không như bóng nhạn trông đáy hồ [[10]]

Vô niệm tức niệm Nam Mô [[11]]

Không tâm đích thực đến bờ bên kia! [[12]]

(Phóng tác theo bài BÁT NHÃ TÂM KINH)                    

Kệ tụng dành cho “người tu hành” (hành giả) sau khi đã qua phần cơ bản Giáo Tông, hiểu rõ thế nào là “sắc và không”, chuẩn bị bước vào Tâm Tông. Có thể tụng kệ này một ngày nhiều lần, bất kể đi đứng nằm ngồi hay trong chiêm bao, vừa tụng vừa chiêm nghiệm ý nghĩa, vừa quán Bổn Tâm.  Quán đến bao giờ không còn tâm, không còn niệm, dứt giác quán, khi ấy bài kệ này trở thành bài vè đọc cho vui miệng. Đọc thường xuyên “kệ Khai Tâm”, ba nghiệp thân, khẩu, ý đồng được khai, miệng thường phát ra mùi thơm như hương chiên đàn.                                      

(08-04-2016)      

*****                    

(Bài số 2)   NHẠN QUÁ TRƯỜNG KHÔNG [[13]]

Đến đi không dấu tích

Như bóng nhạn lưng trời

Nói im không một niệm

Như tiếng vọng hang nông [[14]]

Thấy nghe không mảy động

Như ảnh chiếu gương đồng [[15]]

Ba thời [[16]] thôi tìm kiếm

Tỉnh mộng giữa đêm đông                

Ai là người không ngã

Chẳng khởi tưởng có mình

Ai là người không tâms

Chẳng suy lường vô ích

Ai là người không pháp

Chẳng chạy theo trần gian

Ai làm được như thế

Sẽ mở cửa Tâm Tông.                          

Bài “Kệ Khai Tâm” giúp “hành giả” thành tựu vô niệm, coi như mở cánh cửa tâm tông. Bài kệ “Nhạn Quá Trường Không” nếu tụng đọc thường xuyên, sẽ hộ trì rất lớn cho thành tựu từ bài số 1.

(20-04-2016)

*****

(Bài số 3)    YẾU CHỈ THIỀN NA

Sen kia tự "không tánh",

Cũng "chẳng có tướng trần"

Xưa nay tâm và ý

Vắng lặng, “Thiền” tự sanh!

Người cố đi tìm sen

Qua hương và màu sắc

Nếu kẻ này được Thiền

Có chi là đáng khen!

Quán vạn hữu không tánh

Tâm ý chưa từng sanh

Người này không cầu được

Thiền Na cũng viên thành!

Xưa nay ba đời Phật

Đều "không pháp không tâm"

Không mảy may hiện khởi

Gọi hết "Ngu Mê Lầm"!

Các bạn! ...  Bài kệ “Nhạn Quá Trường Không” nhận được rất nhiều phản hồi tích cực từ một số HĐ. Mình chiêm nghiệm: “Lời ví dụ của Phật: Ngà voi già, trời gầm thì nổi vân”. Thử đặt vấn đề, nếu là sừng trâu, sừng bò hoặc ngà voi chưa già, những thứ ấy sẽ thế nào khi trời gầm?

Cũng như thế, bài kệ chỉ có tác dụng với những ai có tâm tương ưng, còn những ai chưa tương ưng, thì cũng giống như sừng trâu sừng bò chưa già, chẳng có một chút tác dụng gì cho dù trời có gầm đến năm lần bảy lượt.

 

---------------------------------------

[[1]] Khi mê, thấy có sắc không (nhị nguyên, hai món)

[[2]] Ngộ thời, tâm diệt sắc vong (mất) tức thì (không hai)

[[3]] Ngộ thời, sắc chẳng khác không (sắc bất dị không)

[[4]] Mê thời, không ấy cũng thành sắc kia (không bất dị sắc)

[[5]] Ngộ thời, sắc chính là không (sắc tức thị không)

[[6]] Mê thời, không ấy chờ mong sắc này (không tức thị sắc)

[[7]] Vượt qua bể khổ ải trần ai (yết đế ba la yết đế)

[[8]] Đến bờ giác ngộ chẳng hai trong lòng (ba la tăng yết đế bồ đề tát bà ha)

[[9]] Ai người có trí (bát nhã) chớ mong,

[[10]] Sắc không như bóng nhạn trông đáy hồ. (chim nhạn tìm hình bóng của mình trong đáy hồ nước khi bay ngang qua)

[[11]] Vô niệm tức niệm Nam Mô. (quay về, trở lại, quy y)

[[12]] Không tâm đích thực đến bờ bên kia (đáo bỉ ngạn).

[[13]] Nhạn quá trường không: Chim nhạn bay qua bầu trời, trong bài kệ vô đề của Minh Châu Hương Hải Thiền Sư (1628-1715) có câu: "Nhạn quá trường không; Ảnh trầm hàn thuỷ"

[[14]] Hang nông: Hang cạn trong vách núi.

[[15]] Gương đồng: Gương soi mặt ngày xưa làm bằng đồng.

[[16]] Ba thời: Quá khứ, hiện tại, vị lai.

Tác Phẩm Lý Tứ

Liên Hệ Giữa Thiền Và Giác Ngộ

MB 1059 Trần Văn Thắng 12.03.2022

Thiền Phật giáo không hoàn toàn là một pháp môn mà chỉ là hệ quả của giác ngộ và tương ưng giác ngộ. Thiền Phật giáo và giác ngộ là mối liên hệ giữa ‘thấy biết như pháp’ và ‘đời sống như pháp’ (giống như con chim với đôi cánh), không thể chỉ tồn tại một vế, có cái này mà không có cái kia.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Dưới thời Phật không thấy nói đến thiền như một pháp môn. Tất cả thánh đệ tử sau khi nghe pháp, nhân chỗ thấy biết tìm nơi thanh vắng suy gẫm ý nghĩa lời dạy.

Tùy vào căn cơ, tùy sức lãnh hội, y đó tu hành. Từ đây tâm ý và lời dạy khế hợp tạm gọi là khế chứng. Chỗ khế chứng cũng cạn sâu sai khác do giác ngộ cạn sâu sai khác, thời gian tu chứng sai khác; có người vừa nghe pháp xong đã chứng, có người sau bảy ngày, có người một năm, có người lâu hơn nữa, do đốn tiệm sai khác (Sa Môn quả).

Cũng từ một lời dạy mà sức lãnh hội khác nhau, căn trí không đồng nên ba thừa xuất hiện. Chính sai biệt này mà cách tu hành của người này không giống người kia, thừa này không giống thừa kia.

Phật không lập ra một quy chuẩn nào cho đệ tử.

Thậm chí kinh Lăng Già, Phật quở trách việc lập tông cho dù đó là tông bất sanh: “Đại Huệ ! Nếu khiến tông kia chẳng sanh, tất cả tánh chẳng sanh mà lập tông, như thế tông kia ắt hoại vì có. Vì không tánh tướng, chẳng sanh, chẳng nên lập tông. Vì năm phần luận nhiều lỗi, vì lần lượt nhơn tướng khác, và vì tạo tác chẳng nên lập tông phần. Bảo tất cả pháp chẳng sanh, như thế tất cả pháp không tự tánh, chẳng nên lập tông.”[[1]]

Như vậy dưới thời Phật, phần lớn đệ tử sau khi nghe thuyết pháp, nhân pháp đã nghe, giác ngộ lập tâm tu hành. Khi tu hành theo ý nghĩa đã giác, thì tâm sanh chuyển biến, chỗ chuyển biến tạm gọi là thiền.

Thời Phật, khi một bài kinh vừa được tuyên thuyết hoặc cho đến khi chấm dứt thời thuyết, nhiều hiệu ứng không đồng nhất xảy ra trong những người thính pháp.

  • Có người nghe xong liền chứng (đời sau gọi là thiền tông). Một số chứng quả vị này, số khác chứng quả vị khác.

  • Có người sau thời gian suy gẫm lời dạy, thấu được ý nghĩa và thấy vấn đề (đời sau cho đây là giáo tông).

  • Cũng có nhiều người, nghe thuyết rồi phát nguyện đời sau sẽ tu hành (đời sau cho là tịnh).

Sở dĩ có hiệu ứng khác nhau trong một thời thuyết là vì công đức, phước báu, trí huệ của người thính pháp không đồng đều. Sự không đồng đều này cho ra nhận thức sai biệt, mà thật ra Phật chỉ dùng một lời để thuyết, không thuyết hai ba thừa, không chủ trương ‘thiền - tịnh’.

Cái gọi là pháp môn hoặc hai hay ba thừa là do người nghe căn tánh sai biệt nên có sự sai khác như đã nêu, mà thật ra Phật không hề có chủ trương như vậy.

  • Lời kinh dạy: “Phật dùng một âm diễn nói pháp, chúng sanh tùy loài được hiểu. Song Như Lai thật không có tâm tùy loài, do các loài có duyên mà mỗi loài thấy khác.”

  • Nếu chấp rằng đây Phật dạy thiền kia tịnh, đây Thanh Văn kia Bồ Tát, phân chia này nên coi lại. Bởi Phật chưa từng có chủ ý này.

Trong Phật sử, không thiếu những người chưa thật sự giác ngộ nhưng chán ghét khổ đau, muốn thoát ra khỏi những trói buộc nên họ thành tâm tu hành; những người này tin tuyệt đối vào lời dạy của vị đạo sư, niềm tin này giúp họ có được đời sống như pháp.

Chính đời sống như pháp này cho ra hệ quả rồi cũng được thiền và sau cùng là giác ngộ. Cách tu này phần lớn nương vào giới luật. Giới luật không khuyết, thấy được lợi ích thiết thực trong việc xả ly tham ái, nhờ xả ly chướng đạo nên tâm an ổn; do tâm an ổn các thứ lớp thiền phát sinh, vì tâm có thiền nên tâm dễ dàng giác ngộ.

Đây thường là cách tu của những Phật tử có đủ niềm tin, nghiêm trì giới luật, quở trách ái dục, ái dục tiêu mòn, hỷ lạc xuất hiện. Vì tu thiền khi chưa thật sự giác ngộ, nên người tu phải cần có những hiểu biết nhất định về giáo lý; cần phải ý thức rõ lợi ích của việc mình đang làm, và không mơ hồ. Chính ý thức rõ ràng việc mình đang làm, tâm không mơ hồ, đây là cơ sở để mau chóng giác ngộ và giới luật không khuyết là căn bản vững chắc để xa rời ái dục; từ xa lìa ái dục nên tâm có thiền, nhân nơi có thiền tâm sẽ giác ngộ.

Như người nhặt đậu, trong thúng lẫn lộn bốn thứ đậu gồm: Đậu đỏ, xanh, đen, và trắng. Cần lấy đậu trắng, nhưng không biết đậu trắng thế nào? Người ấy chỉ cần biết những thứ không phải đậu trắng, và loại bỏ những hạt đậu mình đã biết. Số đậu còn lại nhất định là đậu trắng, tìm được thứ mình cần tìm, ngộ được thứ mình cần ngộ.

Tương tự như vậy, Niết Bàn là gì? Giác ngộ như thế nào? Những thứ này vì khó thấy, khó biết, nên người tu hành khi chưa thật sự giác ngộ, chỉ cần biết những gì chướng Niết Bàn, loại bỏ những gì chướng đạo, thì đạo sẽ hiện. Cách tu hành này đơn giản nhưng hiệu quả.

Dù tu thiền do giác ngộ, hay tu để đợi giác ngộ, tất cả người tu hành phải có chánh tư duy, vì chánh tư duy là công cụ phát hiện cách thức tu hành.

Chưa giác ngộ thì chánh tư duy được coi như động lực thúc đẩy giác ngộ; nếu chỗ giác chưa sâu, cũng giác được chướng đạo và mối nguy hại chướng đạo, và những thứ giác ngộ này đều có khuynh hướng đưa đến an lạc. Vì thế, Phật không dạy đệ tử cách tu thiền phải như thế nào, chỉ hướng dẫn đệ tử cách thức tư duy một vấn đề, tư duy tột nguồn cơn nhất định thấy được phương tiện (Phật giáo gọi là văn huệ, tư huệ, tu huệ).

Nếu có cách nào đó để tu và coi đây là công cụ cứng nhắc, sự cứng nhắc này có khi được thiền nhưng nhất định không cho ra hệ quả giác ngộ.

  • Điều này có thể thấy các ngoại đạo dưới thời Phật dù được tám thiền chứng và năm thắng trí nhưng vẫn phải chịu sanh tử luân hồi.

Vì vậy Phật giáo luôn đòi hỏi người tu hành cần phải giác ngộ. Bởi lẽ, chỉ có giác ngộ mới thấy được bổn tâm thanh tịnh, mà bổn tâm thanh tịnh thì tự mỗi chúng sanh sẵn đủ, không phải do nay tu hành mới có, hay tu hành để làm ra pháp thanh tịnh. Nếu trong kinh có đề cập đến một vài cách thức tu hành nào đó, thì cũng chỉ để hỗ trợ phương tiện, hầu loại bỏ chướng đạo và mau chóng giác ngộ; hoặc nhân nơi công cụ này tạm ngăn phiền não chờ thấy vấn đề.

  • Đây là điểm đặc biệt của thiền Phật giáo, tất cả các thứ thiền khác không có cách thức này.

Có rất nhiều điều để một đệ tử giác ngộ từ cạn đến sâu như: Giác ngộ lợi ích thiết thực của Sa Môn Bà La Môn, giác ngộ lợi ích phạm hạnh, giác ngộ sự nguy hại của dục, giác ngộ lợi ích của thiểu dục tri túc, giác ngộ mối nguy hại của tham ái, giác ngộ sự vô thường của hữu vi pháp.

Nếu liệt kê ta thấy có nhiều món cần phải giác ngộ, tuy vậy Phật quy kết vào bốn món, đó là: Thân, Thọ, Tâm, Pháp (gọi chung là Bốn Niệm Xứ). Người tu hành chỉ cần giác ngộ một trong bốn điều này, đem một trong bốn điều này tư duy tích cực, tư duy đúng pháp nhất định thấy được cứu cánh. Đây cũng là lý do vì sao trong 37 phẩm trợ đạo, tứ niệm xứ đi đầu.

Đồng một chỉ thú là thoát khỏi khổ đau. Mỗi căn tánh nghe hiểu theo riêng mình lại thấy nguyên nhân phát sinh khác nhau, giác ngộ chỗ diệt khác nhau, nên phát khởi phương tiện tu hành cũng khác nhau. Tuy mỗi người có một cách rất riêng để tu hành, nhưng tất cả chỗ đến đồng thanh tịnh và chấm dứt khổ đau.

  • Trong quá trình tu hành, nguồn tâm được chuyển biến, chuyển biến này tạm gọi là thiền (tâm).

  • Nguồn tâm được giản trạch (xả) từ thô đến tế; các giai đoạn do giản trạch sinh ra tạm có tên sơ thiền, nhị thiền ...

  • Mỗi thứ đệ thiền, tâm ý cảm nhận đặc biệt, cảm giác này nổi lên gọi là thiền chi; sơ thiền có năm, nhị thiền có ba, tên gọi là giác, quán (tầm, tứ), hỷ, lạc, an định; càng vào sâu càng an định (kinh nói làm cho sung mãn).

  • Nguồn tâm được xả dần đến chỗ không còn thấy sai khác (bất khổ bất lạc), căn bản tâm này là: “Định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến….”

Từ đây hành giả dùng pháp bất cộng phàm phu xả bỏ năng sở, khi năng sở không còn, có thể hướng tâm đến nhiều lĩnh vực của Phật giáo. Mỗi thừa có cách hướng tâm khác nhau, dựa vào tứ niệm xứ là: Thân, Thọ, Tâm, Pháp để hướng tâm.

Kết quả này sẽ thấy những điều cần thấy, biết những điều cần biết. “Chỗ trước chưa thấy nay thấy, điều trước chưa nghe nay được nghe.”

Cũng có những bậc khi giác ngộ vào ngay chỗ ngộ không kinh qua các thứ lớp của thiền; đây là điều hy hữu, nguồn tâm chuyển biến mau chóng (kinh gọi là đốn soi các sắc tượng). Sự kinh qua này mau chóng đến không kịp thấy thứ lớp chứ chẳng phải không có thứ lớp, giống như vòng lửa do quay nhanh không thấy đốm lửa di chuyển.

Chỉ riêng đốn ngộ không thứ lớp vì ngay nơi ngộ thấy rõ thiệt tướng, biết rõ hành tướng mọi chủng tánh nên không phải mất công đoạn trừ đa chủng tánh, hay nhất chủng tánh như Thanh Văn, Duyên Giác (ngoại trừ vì công hạnh mà tu tập các tam muội để làm lợi ích chúng sanh).

Như vậy thiền Phật giáo không hoàn toàn là một pháp môn mà chỉ là hệ quả của giác ngộ và tương ưng giác ngộ (năng sở tương ưng).

Có thể ví như người đào giếng, muốn đào giếng trước tiên phải dò tìm mạch nước (sơ giác ngộ). Dùng các công cụ (phòng hộ, đoạn trừ, yểm ly, giới luật) ra công đào đất (đưa nguồn tâm khế giác ngộ). Có kẻ đào cạn lấy được nước, có người đào sâu mới có nước (đốn tiệm khế chứng sai khác), thời gian và công sức tùy thuộc vào mỗi người (sức tinh tấn).

Công sức đào đất chẳng phải là nước (thiền chẳng phải giác ngộ, giác ngộ chẳng phải thiền). Lấy được nước mới biết nước này tự có (thiền và giác ngộ bản nhiên có sẵn), trong đó độ sâu và các cảm nhận về nước là các thứ lớp thiền và thiền chi.

Phật dạy: “Khi kiếp hoả nổi lên đốt cháy hoàn toàn cõi Diêm Phù, bấy giờ tất cả chúng sanh đều vào sơ thiền vì chủng tử sơ thiền có sẵn trong mỗi chúng sanh.” Do đó trong mỗi chúng sanh đã có sẵn chủng tử thiền, chỉ vì bị ngũ dục cột trói và che khuất nên chúng sanh không thấy. Vì thế thiền không hiện hay chưa đủ duyên để hiện.

  • Tu thiền là làm sạch những gì che khuất, làm cho đủ duyên, chứ không phải làm ra thứ thiền mới.

  • Chính vì ý nghĩa này nên Phật giáo được gọi là đạo giác ngộ. Bởi lẽ Phật giáo dẫn khởi nguồn tâm từ giác ngộ đến chứng nhập, từ không trí huệ đến thấu suốt, từ có đủ năng tu sở giác đến nhân pháp đều không.

“Tỳ kheo dứt trừ ái dục, thấu suốt nguồn tâm, trong không sở đắc, ngoài không sở cầu, cũng không có quan niệm về đạo.” [[2]]

  • Đây là điều khác biệt giữa Phật giáo và tôn giáo khác, giữa thiền Phật giáo và các loại thiền khác.

Người tu hành nếu không lấy thấy biết (giác ngộ) như pháp làm nhân, không có đời sống như pháp (tịnh hạnh) làm duyên, mà gắng công tu hành với mong muốn đoạn tận khổ đau, thì giống như đào giếng trên đá, ép cát tìm dầu, không khác ngoại đạo. Cho dù có được thiền, nhưng vì thiền này không từ nhân giác ngộ cho nên không thể có quả đoạn trừ vĩnh viễn khổ ách. Tu Bạt Đà La trước khi gặp Phật là một ví dụ.   

  • Phật thường dạy: “Thiền của Ta không nhọc công tốn sức, không phải cái làm ra.”

Tóm lại, thiền và giác ngộ hai món có mối liên hệ hữu cơ, cái này có thì cái kia có. Cái này làm nhân, cái kia làm quả và ngược lại; hai món này xuất hiện đồng thời, trong nhân có quả, trong quả có nhân, nhân quả đồng thời. Điều này Phật  khen ngợi trong kinh Đại Bảo Tích: “Chỉ có thiền mới có nhân quả đồng thời.”

  • Thiền Phật giáo và giác ngộ là mối liên hệ giữa ‘thấy biết như pháp’ và ‘đời sống như pháp’ (giống như con chim với đôi cánh), không thể chỉ tồn tại một vế, có cái này mà không có cái kia. Đây cũng là đặc trưng của Phật giáo.

Giác ngộ là cơ sở để tín căn phát sinh; có tín căn mới sinh tín lực, chính tín lực làm động lực hấp thụ mạnh mẽ giới-định-huệ cho ra chất liệu dinh dưỡng nuôi lớn cây giác ngộ, và quá trình ‘tín, tấn, niệm, định, huệ’ hình thành. Trường hợp năm anh em Kiều Trần Như hoặc đệ tử ngài Xá Lợi Phất khi thấy người ta vót tên, khơi dòng nước, hay ngài Tất Lăng Già Bà Ta khi đạp cây gai độc và Lục Tổ Huệ Năng là một vài ví dụ.

Vì lẽ này khi thuyết kinh ta không hề thấy Phật chỉ dạy cách tu, cách hiểu cụ thể như thế nào, chỉ nói phát tâm và tinh tấn tu hành. Từ đó có thể hiểu Phật giáo hay khác hơn là thiền của Phật giáo được xây dựng trên một hệ thống lý luận vững chắc, và hoàn hảo về mặt học thuật.

Khi thấm nhuần và thấu suốt học thuật sẽ có những hiểu biết nhất định về thuật ngữ. Khi thuật ngữ đã sáng tỏ thì kỹ thuật không còn là vấn đề. Kỹ thuật bây giờ sẽ là công cụ chứng minh tính đúng đắn của học thuật bằng kết quả của nó, đó là sự tu chứng. Vì thế thuật ngữ đặc trưng của Phật giáo khó có thể dựa vào sự kiến tạo cứng nhắc của tự điển thế tục, cũng không thể hiểu hết ý nghĩa của thuật ngữ khi chưa có sự thấm nhuần chân lý; mà thuật ngữ không thấu suốt thì kỹ thuật nhất định thiếu tính đúng đắn.

Ví dụ như cái bay trong xây dựng là thuật ngữ để chỉ công cụ trát hồ, thì không thể hiểu chữ bay ở đây là hành động thoát khỏi mặt đất, hoặc hiểu tương đương chữ phi trong Hán tự. Cho nên lập bày cách tu, định hướng cho người hoặc phải thế này hay thế khác đều không phải chủ trương của thiền Phật giáo.

Phật giáo chỉ tùy duyên, tùy căn, tùy cơ nói pháp, không áp đặt, không định trước, mỗi căn cơ khi thấu hiểu sẽ tự biết mình phải làm gì để tùy thuận chân lý. Sự tùy thuận này là phần kỹ thuật tự nhiên phát sinh, hệ quả của tùy thuận chân lý tạm gọi là thiền (thuật ngữ thường dùng là: Dục giải, thắng giải, thắng trí, thắng tri, thắng nghĩa, và kết quả là liễu tri hay liễu ngộ).

Đây cũng là lý do vì sao Phật giáo nhiều kinh điển hơn những tôn giáo khác hay các học thuyết thế gian.

Cũng vì lý do này mà kinh Phật là thuốc chữa bệnh, nhưng nó cũng sẽ phát sinh bệnh hoạn khi người dùng không am tường cơ chế và dược tính của mỗi loại thuốc. Điều này giống như không biết dược tính của thuốc mà tự vào kho để lấy thuốc uống, mong rằng mình sẽ hết bệnh thì đây là đại họa, mặc dù thuốc đã uống là thuốc chữa bệnh. Phật là bậc Đại Y Vương chữa muôn thứ bệnh, không từng thiết lập một chuyên khoa chữa trị đặc thù nào cho bệnh nhân, không hề có chuyện nơi này chỉ chuyên chữa bệnh này, nơi kia chuyên chữa bệnh khác, và cũng không hề bệnh này chữa thuốc khác.

Phật giáo có một điểm chung duy nhất cho tất cả người tu hành là giới luật và nghĩa kinh (37 phẩm, bốn đế).

Đây là tư lương xuyên suốt cuộc đời tu hành của Phật tử, dựa vào tứ niệm xứ làm cơ sở giác ngộ.

Bởi lẽ, mê lầm bốn món ‘thân, thọ, tâm, pháp’ nên chúng sanh khổ đau. Bậc trí giả cũng từ bốn món này khai nguồn trí tuệ. Chúng sanh lầm bốn món này giống như người ta lầm trái phá làm bằng vàng. Trái phá tưởng lầm là vàng nên sinh tham, tham không được thì sân, đắm chìm trong tham sân gọi là si. Nếu không lầm lẫn, biết đây là trái phá, món nguy hiểm chết người thì chẳng ai tham sân làm gì.

Đây là tiền đề làm cơ sở cho hệ thống lý luận Phật giáo. Mê lầm bốn món trên gọi là chẳng thấy thiệt tướng. Cũng vì thế mà tứ niệm xứ được đưa lên hàng đầu của ba mươi bảy phẩm, làm cơ sở tư duy, tu hành, và giác ngộ. Cũng chính tiền đề này, các pháp ấn tâm ra đời để người tu hành có nơi quy kết.

  • Với Thân và Thọ Niệm Xứ, người tu hành lấy tứ pháp ấn là ‘vô thường, khổ, không, vô ngã’ để soi chiếu và hướng tâm, giác ngộ hai niệm xứ này gọi chung nhị thừa (Thanh Văn, Duyên Giác).

  • Với Tâm và Pháp Niệm Xứ, lấy tam pháp ấn là ‘không, vô tướng, vô nguyện’ để thanh tịnh thấy nghe gọi là Bồ Tát thừa.

  • Nếu giác ngộ ‘bốn niệm xứ này bản lai thanh tịnh’ gọi là Phật thừa hay nhất thừa, chỗ ấn tâm là ‘sanh tử Niết Bàn, phiền não Bồ Đề’ không hai. Từ đây tinh tấn đến viên mãn 37 phẩm.

Theo kinh Đại Bát Nhã, chư Phật có Tứ Bình Đẳng, trong đó Pháp đẳng là viên mãn 37 đạo phẩm. Bốn đế là quy trình chuẩn nhằm thuyết minh vạn pháp và làm sáng tỏ nguyên lý đưa người từ mê đến giác.

Đây có thể coi là quy trình xử lý vạn pháp mà nguyên liệu đầu vào là khổ đế, thành phẩm cho ra là đạo đế thanh tịnh Niết Bàn. Ba thừa đều từ bốn đế hoàn thành sở nguyện, lấy bốn niệm xứ làm nhân địa tu hành. Mỗi thừa sử dụng một công nghệ khác nhau nhưng quy trình thì không khác; công nghệ khác nhau này phân hóa bốn đế thành tục đế, thánh đế, và chơn đế.

Cho đến khi không còn chỗ dựa nương (các đế đoạn tận) như chư Phật thì chỉ gọi là chơn mà không có đế: “Vô khổ, tập, diệt, đạo. Vô trí diệc vô đắc.”

Bốn hoằng thệ nguyện của chư Phật cũng không lìa xa bốn công đoạn này:

“Chúng sanh nào chưa kinh qua khổ khiến kinh qua khổ, chưa biết được tập khiến biết được tập, chưa chứng được diệt khiến chứng được diệt, chưa tu được đạo khiến tu được đạo.”

Nói chung quy trình bốn đế làm trong sạch bổn tâm, trả lại chỗ chí chơn cho thân thọ tâm pháp, hết mê lầm thấy thiệt tướng. Chỗ chí chơn này Phật giáo gọi là thiện hay thiện giải thoát, chữ thiện này được dùng trong tứ chánh cần, không giống nghĩa ‘thiện ác’ của thế gian.

Có thể hiểu, khi nào nguồn tâm hướng về giải thoát gọi là thiện, không tinh tấn là bất thiện, thối tâm có xu hướng quay lại thế gian gọi là ác pháp.

[[1]] Trích kinh Lăng Già – HT. Thích Thanh Từ dịch

[[2]]  Trích kinh Tứ Thập Nhị Chương.

(còn nữa)

Tác Phẩm Lý Tứ

Giáo Lý Phật Giáo Và Thiền

MB 1059 Trần Văn Thắng 12.03.2022

Thiền Phật giáo, tuy giáo nghĩa mênh mông nhưng đều một nghĩa, cách thức tu thiền có khác nhưng chỗ tột chứng không có hai ba. Nếu không cùng một gốc (kinh điển) thì tu hành (thiền) chẳng thể cho ra nghĩa này.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Nói đến thiền thì có vô số. Mỗi loại thiền có cách dụng công khác nhau, có mục đích khác nhau, và cứu cánh cũng khác nhau. Ở đây chúng ta riêng khảo sát thiền Phật giáo. Thiền đóng vai trò gì trong giáo lý?

Thiền Phật giáo, thông thường Phật tử hiểu đó là cách tu hành trong hiện đời, có thể sinh ra trí tuệ, đem đến giác ngộ, thoát khỏi khổ đau, vượt ngoài sanh tử, hay thấy Phật tánh.

Các tông phái thiền chủ trương tu thiền theo cách riêng của mình; có tông chỉ, có môn quy, như một biệt môn dành cho người trong tông phái đó.

Tất cả những hiểu biết trên không phải sai, nhưng chưa thể gọi là đúng. Bởi lẽ, thiền của Phật giáo chỉ có được, khi nào phép tu (thiền) này được xây dựng trên nền tảng giáo lý Phật giáo.

Nền tảng ấy là: Chỉ cho chúng sinh các hiểm nguy, nguyên nhân phát sinh hiểm nạn, biết nơi chốn bình an và con đường đi đến nơi này.

Ba thừa đều từ nguyên lý này mà giác ngộ, kinh luật cũng y nơi nguyên lý này mà thuyết minh vạn pháp. Cho nên thiền của Phật giáo tuy mênh mông, nhiều cách thức, nhưng đều từ một nguồn phát tích; có cứu cánh rõ ràng, người tu biết mình đang làm gì, làm như vậy thì được những gì, đâu là lợi ích và đâu không lợi ích.

Những cách thức như vậy được Phật thuyết cho đệ tử hiện đời, và cũng đã thọ ký cho đời sau, được kết tập bởi các thánh đệ tử không còn lỗi lầm. Điều này các tài liệu về đại hội kết tập nêu rõ, thậm chí ngài A Nan khi chưa chứng thánh, tuy đa văn, nhớ từng lời Phật dạy, nhưng vì chưa hết lỗi lầm nên cũng không được tham dự.

Kinh điển để lại có giá trị tuyệt đối như trên, nghĩa lý thậm thâm, là nguồn sản sinh ra chư Hiền Thánh Phật giáo. Nên kinh Pháp Hoa mới nói: “Chỉ một Phật thừa không có hai ba thừa.”

Ý nghĩa này nêu rõ chỗ đồng của thiền Phật giáo, tuy giáo nghĩa mênh mông nhưng đều một nghĩa, cách thức tu thiền có khác nhưng chỗ tột chứng không có hai ba. Nếu không cùng một gốc (kinh điển) thì tu hành (thiền) chẳng thể cho ra nghĩa này.

Giáo lý Phật giáo và thiền giống như mặt trời và ánh sáng. Ở đâu có mặt trời ở đó có ánh sáng, mặt trời nhất định phát ra ánh sáng. Giác ngộ đúng giáo lý Phật giáo nhất định có thiền. Ánh sáng là thuộc tính của mặt trời, thì thiền là thuộc tính của giáo lý Phật giáo.

Nhưng không phải ở đâu có ánh sáng ở đó cũng có mặt trời, và cũng không phải ở đâu có thiền ở đó đều có giáo lý Phật giáo!

(còn nữa) 

Tác Phẩm Lý Tứ

Tâm Tông và Trò Chơi Trí Tuệ - Thay Lời Tựa

MB 880 Lý Minh Dáp 05.02.2023

Các bạn! [[1]] ... Những ngày trăng tròn tháng tư âm lịch này, đi qua từng con phố, từng làng quê… đâu đâu chúng ta cũng có thể nhìn thấy rất nhiều cờ, hoa mừng ngày Phật Đản.

Hoà cùng niềm vui chung của ba cõi, HĐ chúng ta là những Phật Tử, những người con được sinh ra từ miệng Đức Như Lai, được nuôi lớn bằng pháp thực thượng diệu của bậc Đẳng Chánh Giác và được sống yên vui trong ngôi nhà chung Thanh Tịnh Niết Bàn do Chư Phật dựng nên.Là những người con của Đấng Cha Lành, công ơn này và tài sản có được, chúng ta “không được quyền quên”, “không thể không báo ơn”, và nhất định phải “có bổn phận phải gìn giữ tài sản vô giá” này.

Giáo Pháp của Đức Phật là thứ tài sản vô giá nhất trong các thứ tài sản mà ba cõi có được. Trên 2500 năm trước, Đấng Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni đã dành cả cuộc đời gây dựng, để lại và hôm nay chúng ta may mắn được thừa hưởng!

Biết ơn, báo ơn và giữ gìn tài sản của Đức Thế Tôn để lại. Theo mình, đây là nghĩa vụ thiêng liêng của bất kỳ những ai đã và đang coi mình là một Phật Tử (con của Phật) nói chung và của HĐ chúng ta nói riêng. Bất kỳ phút giây nào trong đời sống này, tạm quên ba điều đã nêu, chúng ta phải tự coi đó là nỗi bất hạnh lớn nhất trong cuộc đời này.

Bất hạnh vì bởi ta đã không toàn tâm toàn ý để kế thừa sự nghiệp trí tuệ (Duy Tuệ Thị Nghiệp) của Đức Phật, lại không biết gìn giữ thứ tài sản vô giá mà mỗi một châu kỷ thế gian mới có một Đức Phật làm nên và để lại. Điều này giống như người cha đã để lại cho những đứa con của mình một khối tài sản vô giá mà đứa con đó vì ngu muội “không biết kế thừa”, cũng “chẳng biết phát huy” khối tài sản này, lại mải mê bất giác chạy theo thú vui ở đời, “quên mất bổn phận gìn giữ” khối tài sản vô giá.

“Không kế thừa” được thì khối tài sản vô giá trở thành đồ vô dụng. “Không biết giữ gìn” thì tài sản đó sẽ mất dần theo tháng năm. “Không biết phát huy” để báo ơn Chư Phật là có lỗi với thế hệ đi sau.

Vì thế hệ đi sau sẽ không có cơ hội thấu suốt Giáo Pháp, giống như con cháu không biết rằng ông cha đã để lại kho tàng vô cùng lợi ích ở nơi đâu và tìm kiếm nó bằng cách nào! Để thực hiện trọn vẹn ba điều nêu trên. Theo mình thì mỗi người trong Huynh Đệ chúng ta phải:

- Tự nỗ lực bản thân, không rời chánh niệm, quyết tâm tu hành, thành tựu cho bằng được những lời Phật dạy. Có làm như vậy theo mình thì đây chính là biện pháp thiết thực để "giữ gìn trọn vẹn tài sản" của Chư Phật để lại.

-  Quyết đem những gì thành tựu được dù ít hay nhiều, dù sâu hay cạn, như pháp mà trao đổi với người chưa biết, để họ cùng có được điều tốt đẹp như ta. Làm như vậy theo mình thì đây chính là hành động cụ thể để "báo ơn Phật".

-  Chưa đạt được mục tiêu cuối cùng của Phật đạo vì lợi ích muôn loài, quyết “chưa thôi tu tập”. Chưa đạt được mục tiêu cuối cùng của Phật đạo vì lợi ích của ba cõi, phải biết hổ thẹn với lòng mình.

Chưa đạt được mục tiêu cuối cùng của Phật đạo, vì lợi ích thăng tiến của người tu hành cùng bản thân, phải tự biết rằng: “Mỗi một giây phút đi qua, là mỗi phút giây đang nuôi lớn lòng vị kỷ”.

Ngăn chặn lòng vị kỷ, vì lợi ích của muôn loài, quyết tâm tu tập để đạt được mục tiêu cuối cùng của Phật đạo, chính là hành động thiết thực nhất nói lên "lòng biết ơn đối với Chư Phật" bằng chính tấm lòng này.

Các bạn! ...  Mừng ngày Đấng Từ Phụ Đản Sanh, để tỏ lòng biết ơn, hành động báo ơn, thật tâm giữ gìn tài sản trí tuệ mà Thế Tôn đã để lại, ngoài chuyện treo đèn kết hoa như ngoài kia, theo mình thì trong tận cùng thẳm sâu của mỗi HĐ, chúng ta nhất định phải thực hiện cho bằng được ba điều nói trên.

Ngày nào chúng ta chưa làm được những điều này, giống như “một người con bất hiếu”, “một gia đình bất hạnh”, “một đời sống của những kẻ bất lực”. Chúng ta phải tự biết xấu hổ với Chư Phật, chúng ta phải tự biết xấu hổ với tiền nhân, bản thân, thế hệ đi sau, phải tự biết xấu hổ với muôn loài.

Có quyết tâm như thế, có biết xấu hổ như thế, có dành trọn tấm lòng này trong từng mỗi niệm như thế vì Giáo Pháp chúng ta mới không phụ công ơn của Chư Phật, chúng ta mới có thể tự hào mà nói rằng ta nay “quy y nơi Đức Phật, nơi Hiền Thánh Tăng” và chúng ta mới không “đánh mất Giáo Pháp của Chư Phật”.

Chỉ có suy nghĩ và hành động như thế, chúng ta mới xứng đáng với danh xưng là Phật Tử trong ngày mừng Đức Phật Đản Sanh này.

Chúc các HĐ tinh tấn và nhiều an lạc!          

                                                                                        LÝ TỨ

------------------

[[1]] Trích Email của Lý Tứ gửi cho các Huynh Đệ (HĐ) Lý Gia.

Thư viện

Phần X: Trung Nguyên Cửu Tuyệt, Từ Bỏ Vũ Khí Danh - Tướng Về Hư Không (Trang 144 - 161)

MB 1157 Lý Mỹ Linh 05.02.2023

Tâm Pháp

Tác giả: Lý Tứ

NXB Hội nhà văn Việt Nam, năm 2019

Phần X: Trung Nguyên Cửu Tuyệt, Từ Bỏ Vũ Khí Danh - Tướng Về Hư Không

Từ trang 144 - 161

Giọng đọc: Nhã Quỳnh - phát thanh viên Đài tiếng nói nhân dân TP Hồ  Chí Minh

Tags:

Thư viện

Phần IX: Trung Nguyên Cửu Tuyệt, Từ Bỏ Vũ Khí Danh - Tướng Về Hư Không (Trang 128 - 144)

MB 1157 Lý Mỹ Linh 05.02.2023

Tâm Pháp

Tác giả: Lý Tứ

NXB Hội nhà văn Việt Nam, năm 2019

Phần IX: Trung Nguyên Cửu Tuyệt, Từ Bỏ Vũ Khí Danh - Tướng Về Hư Không

Từ trang 128 - 144

Giọng đọc: Nhã Quỳnh - phát thanh viên Đài tiếng nói nhân dân TP Hồ  Chí Minh

Tags:

Thư viện

Phần IV: 5 Bất Tư Nghì Huân Biến; 6. Phật giáo và Trí tuệ (Trang 55 - 75)

MB 1157 Lý Mỹ Linh 05.02.2023

Anh Lạc Luận 1

Tác giả: Lý Tứ

NXB Dân Trí - Phát hành MinhThangBooks

Phần 4: 5 Bất Tư Nghì Huân Biến

6. Phật giáo và Trí tuệ

Từ trang: 55 - 75

Giọng đọc: Lý Ngọc Linh

Nguồn nhạc: Giấy phép Creative Commons

Tác Phẩm Lý Tứ

Bát Nhã Không Tánh Không Tướng

MB 1157 Lý Mỹ Linh 05.02.2023

Bát nhã không tánh, nên người đủ duyên sẽ được cứu hộ, nếu Bát Nhã "tánh không" (tánh là không) thì không thể làm được việc cứu hộ này. Kinh dạy, "Bát Nhã thường hay cứu hộ..."

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ

Hỏi: Bát nhã không tánh, không tướng hay tánh không, tướng không?

Trả lời: Bát nhã là vô vi nên ‘không tánh, không tướng’… chứ không phải "tánh không, tướng không".

Bát nhã không tánh, nên người đủ duyên sẽ được cứu hộ, nếu Bát Nhã "tánh không" (tánh là không) thì không thể làm được việc cứu hộ này. Kinh dạy, "Bát Nhã thường hay cứu hộ..."

Trong mười tám pháp không, Phật nói: “Nội không, ngoại không, nội ngoại không, hữu vi không, vô vi không, tánh không, tướng không, đệ nhất nghĩa không…”

Có nghĩa: Không trong, không ngoài, không hữu vi, không vô vi, không tánh, không tướng ..v.v... Gọi là rốt ráo không.

Tóm lại, cái gì có tướng, cho dù là tướng đó là tướng không cũng là pháp hư vọng, kinh nói: "phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng".

Cái gì tánh là không, thì không thể làm được việc của nó. Bát Nhã là chơn thiệt, bất hư, nên không tánh, không tướng.                        

(08-2010)

Tác Phẩm Lý Tứ

Bất Khả Đắc

MB 1157 Lý Mỹ Linh 05.02.2023

Người nhắm mắt lầm hư không mà thấy quầng đèn, nên quầng đèn đó thấy có tướng mà thật vô tướng. Thấy có hình dáng màu sắc mà thật không thể cầm nắm được. Khi hết bệnh mới biết nơi đó chỉ là hư không, nên mới biết quầng đèn chỉ là không.

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ

Các bạn!!!

Có vị HĐ hỏi mình, thế nào là "pháp bất khả đắc" và các vấn đề liên quan. Mình tạm giải thích như sau:

- Bất khả đắc có nghĩa không thể được, tức là không thể lấy không thể bỏ. Ví dụ như người đau mắt thấy đèn có quầng. Quầng ấy chẳng ai làm ra (không tác giả, vô tác), không ai có thể sở hữu (không thọ giả, bất khả đắc, bất khả thủ, bất khả nguyện cầu). Khi mắt hết bệnh thì quầng đèn đó đi về đâu? Làm thế nào để thủ để đắc nó đây?

- Thì cũng vậy, do tâm mê nên pháp sanh, hết mê thì pháp tự diệt. Khi pháp sanh chẳng từ đâu đến, khi pháp diệt chẳng đi về đâu. Người nhặm mắt lầm hư không mà thấy quầng đèn, nên quầng đèn đó thấy có tướng mà thật vô tướng. Thấy có hình dáng màu sắc mà thật không thể cầm nắm được. Khi hết bệnh mới biết nơi đó chỉ là hư không, nên mới biết quầng đèn chỉ là không.

- Chữ “Đắc” là quyền, phương tiện dùng ngôn thuyết hiển bày cái gì đó cho chúng sanh tạm hiểu. Nói “Đắc pháp lành” là “Đắc cái không pháp”. Đã là không pháp thì đắc cái gì đây. Nhưng nếu không nói thì người đời lại càng không hiểu, Phật bất đắc dĩ phải nói: “Đắc Pháp lành”. Nên có thể tạm hiểu “Đắc” là “không Đắc” vậy. Ví dụ như nói: Sừng con thỏ, lông con rùa, hai món này chỉ có danh tự mà thực tế ở đời không có. Nói tôi được (đắc) sừng con thỏ, hay được (đắc) lông con rùa… có nghĩa là được cái không thể được. Chữ “Đắc” của Phật Giáo tương tự nghĩa này.

- Cứu cánh Phật đạo không một pháp có thể có, không một pháp có thể được (đắc), chỉ là hư không. Nói sanh pháp lành là vì thương tưởng chúng sanh nên Phật từ bi tạm dùng ngôn thuyết hiển bày cái khó hiển bày. Vì là hư không nên có nghĩa thường, vì là hư không nên có nghĩa ngã, vì là hư không nên có nghĩa lạc, vì là hư không nên có nghĩa tịnh, cho nên kinh nói, "Phật tánh đồng như hư không", nhưng cũng phải hiểu rằng, hư không chẳng phải là Phật tánh. Muốn thấu suốt điều này, phải lìa văn tự, nếu y nơi văn tự mà cắt nghĩa, sẽ không thấy được vấn đề.

(08-2010)

−−−••• ⁕ ⁕  ۝⁕ ⁕ •••−−−

Tác Phẩm Lý Tứ

Pháp Lành

MB 1157 Lý Mỹ Linh 05.02.2023

Trong kinh Phật cũng thường nói, “Thân Như Lai không phải thân huyết nhục, chẳng phải nuôi lớn bằng thuốc men cơm cháo”…

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ

Các bạn!!!

Mấy ngày nay, đúng hơn là ba hôm rồi, mình bận nên không mở máy đọc email. Bữa nay mới xong, đọc câu hỏi và trả lời của mấy bạn, đúng là người hỏi hay mà người trả lời cũng hay.

Mình xin bổ sung một số ý sau:

1) Vì tất cả các pháp bất khả đắc, nên mới gọi “pháp lành để đắc”. Nếu có một pháp nào đó để đắc thì chẳng thể gọi là pháp lành, nghĩa thường cũng như vậy.

2) Tất cả Pháp của chư Phật đều là pháp lành. Phổ Hiền hạnh là Phật hạnh, Văn Thù trí là Phật trí. Trí và hạnh này chẳng phải hai chẳng phải một. Ví dụ như viên ngọc trong suốt nhưng khi chiếu ra lại thấy nhiều màu. Màu sắc và sức chiếu chẳng phải hai chẳng phải một, cái này có nên cái kia có. Bản thân viên ngọc không màu sắc, nhưng khi nhìn thì lại thấy nhiều màu. Trí và hạnh của Phật hay Văn Thù, Phổ Hiền cũng như vậy. Do công đức chúng sanh tự chiếu. Giống như cái trống, không có tiếng, nhưng khi có người đánh thì nghe trống có tiếng. Đánh mạnh thì kêu lớn, đánh yếu thì nghe nhỏ. Cái trống không tự kêu cũng chẳng phải không kêu.

3) Câu hỏi này ý nghĩa cũng giống như câu hỏi trên. Giống như hư không, không có đến đi, cũng không có chủ thể đến đi. Nhưng có người đào lỗ tròn thì thấy hư không tròn, đào lỗ dài thì thấy hư không dài. Hư không trong lỗ và hư không ngoài kia không hai không khác. Pháp của Bồ Tát và Phật cũng như vậy. Phật và Bồ Tát không phải là người, nên chẳng thể nói “người hành hạnh ấy”. Giống như chiêm bao, thấy có người đến nói với mình, người đến trong chiêm bao có thật là người chăng? Có sinh ra, có lớn lên, có phát nguyện, có hành hạnh Bồ Tát không…? Điều này chỉ tự hiểu. Nói huyễn cũng chỉ là một cách nói, vì nếu không dùng văn tự thì chẳng thể chỉ bày nên “bất đắc dĩ” phải dùng ngôn thuyết. Cái này cũng phải khéo hiểu. Ba thân Phật cũng từ những ý nghĩa này mà có.

Trong kinh Phật cũng thường nói, “Thân Như Lai không phải thân huyết nhục, chẳng phải nuôi lớn bằng thuốc men cơm cháo”…

Chiêm nghiệm những nghĩa này phát sanh vô lượng công đức. Mình đang chờ email các bạn.             (08-2010)

−−−••• ⁕ ⁕  ۝⁕ ⁕ •••−−−

Subscribe to