Về …Khổ Trí
Câu hỏi Trò Chơi Trí Tuệ 2017/02: Về... Khổ Trí.

Các bạn! ... Buổi sinh hoạt hôm qua, mình có đưa ra một câu hỏi trong phạm vi của Khổ Tục Đế. Câu hỏi nhằm giúp các bạn tập hình thành thói quen "phản xạ có trí tuệ" khi đối diện một đương cơ bất kỳ. Để trả lời thoả đáng câu hỏi, bắt buộc các bạn phải "dựa vào cơ sở của giáo pháp". Tức là không phán bừa, không áp đặt, không hô khẩu hiệu suông. Mà phải đưa ra một giải pháp vững chắc (như pháp) để tịch diệt mối khổ đó. Câu hỏi như sau:
CÂU HỎI TCTT 2017/02 − Về… “KHỔ TRÍ”
Thế gian có năm món khổ:
1) Sanh, Lão, Bịnh, Tử.
2) Ái biệt ly.
3) Cầu bất đắc.
4) Oán tắng hội.
5) Ngũ ấm xí thịnh.
Bạn hãy căn cứ vào cơ sở của giáo pháp, đưa ra các pháp tương ứng để giải quyết từng món khổ một của năm món khổ nêu trên?
Ví dụ: Muốn chấm dứt ngũ ấm xí thịnh khổ, dựa trên cơ sở B của giáo pháp, người này dùng pháp A. Vì pháp A chính là nguồn gốc phát sinh mối khổ đó. Rất mong, nhận được những cách giải quyết hợp tình hợp lý và như pháp của các bạn.
Chúc Mừng Năm Mới 2020

Các bạn!!!
Như vậy là, chỉ còn khoảng vài chục tiếng đồng hồ nữa, năm 2019 vượt qua những cây số cuối cùng để hoàn thành quỹ đạo của mình, nhường chỗ cho năm 2020 tiếp tục cuộc hành trình!!!
Có nghĩa rằng, năm 2019, chúng ta đã có 365 ngày đêm du lịch miễn phí trong quãng đường dài chừng 150 triệu Ki lô mét trên đường hoàng đạo!!!
Tính sơ sơ, với một chiếc sedan bốn chỗ, một trăm cây số tiêu thụ hết 6 lít xăng, và với giá 20 ngàn 880 VNĐ một lít Ron 95 (theo PVoil) ... Như vậy, thiên nhiên đã phải trả cho chúng ta số tiền xăng (ước tính) của một năm du lịch là:
● (6 Lít/100Km) x 150.000.000Km = 9.000.000 Lít
à 9.000.000 Lít x 20.880VNĐ = 187.920.000.000 VNĐ
(Một trăm tám bảy tỉ, chín trăm hai mươi triệu đồng)!!!
Trong 65 năm du lịch, Lão Lý đã hưởng ưu đãi của Ông Trời miễn phí nhiên liệu, qui ra tiền xăng (ước tính) là:
● 187.920.000.000 x 65 = 12.214.800.000.000 VNĐ
(Mười hai ngàn hai trăm mười bốn tỉ, tám trăm triệu đồng)!!!
Trên đây, chỉ mới tính sơ bộ tiền nhiên liệu cho chuyến đi, chưa kể đến số lượng không khí miễn phí để một người hít thở: “Theo thống kê, khi cơ thể ở trạng thái tĩnh sẽ hít thở 16 lần mỗi phút, mỗi lần hít lượng khí khoảng 500 ml. Theo đó, mỗi ngày một người cần 10.000 lít không khí mới có thể đáp ứng nhu cầu thở của cơ thể” (Trích VnExpress)!!!
● Nếu tính 32 đôla Mỹ cho một chai không khí 7,7 lít với 150 nhịp thở, của công ty Vitality Air có trụ sở tại Alberta, Canada (theo Báo Th. Niên) ... Thì, (32/7,7)x10.000x365 ... Các bạn nghĩ coi, mỗi năm Ông Trời còn cấp miễn phí cho chúng ta bao nhiêu tiền không khí!!!???
Có tính như thế, chúng ta mới thấy, được sống trên trái đất này, được đi du lịch vòng quanh mặt trời hằng năm, được hít thở không khí “chùa”[1] của vũ trụ... Nếu quy thành tiền những thứ ta và muôn loài đã xài thì, từ gà, vịt, chó, heo, sư tử, thằn lằn, rắn mối, người ta, v.v... không có một loài nào được coi là nghèo hết trơn hết trọi (dựa vào chi tiêu nói trên)!!!
Về mặt phúc lợi xã hội, không một quốc gia nào trên thế giới qua mặt được Cụ Lão Thiên Nhiên về khoảng hào phóng!!!
Thiên nhiên không chỉ hôm nay mới ưu đãi cho chúng ta, mà từ thời Ông Bành Tổ đến bây giờ muôn loài vẫn được hưởng phúc lợi như thế, và có lẽ muôn loài sẽ còn được hưởng dài dài như thế!!! Tất cả đồng du lịch trên quả cầu, giống như đoàn người cùng đi trên một chiếc thuyền!!!
Có thể nói, muôn loài trong năm châu bốn bể, vừa sinh ra là đã “cùng hội cùng thuyền” với nhau!!! “Có phước cùng hưởng, có hoạ cùng chia”!!! Thế thì, tại sao muôn loài (nhất là loài người khôn ngoan) lại không biết bảo vệ con tàu mình đang đi trên đó và thương yêu nhau nhiều hơn!!!???
Rồi lại có những anh, tối ngày được chu du thiên hạ chùa, hít thở không khí chùa, ngắm cảnh trời trăng chùa, v.v... lại không biết tận hưởng thứ hạnh phúc trời cho ấy...!!! Cứ ôm một cục phiền não, hết than trời đến trách đất...!!! Hết than mình đến trách người...!!! Than thở như thế để làm gì nhỉ!!!??? Hãy đứng dậy giải quyết cục phiền não tự thân đi chớ!!!
Một cuộc du lịch mà, nếu một ai đó chẳng may xuống lỗ, chắc chắn chẳng bao giờ được hưởng những chuyến ngao du đồng hành cùng nhiều bằng hữu đến thế!!! Thế thì, mỗi ngày qua đi, tại sao ta lại không biết trân quý những gì ta đã bắt gặp trên chuyến du hành này!!!???
Các bạn!!!
Buồn vui gì, năm 2019 cũng sắp qua rồi!!! Năm 2020 gần đến!!! Chúng ta lại phải chuẩn bị một cuộc du lịch mới thôi!!! Một cuộc du lịch mà quãng đường 150 triệu ki lô mét với bao nhiêu điều kì thú đang chào đón phía trước!!!
Năm mới 2020, thay mặt BQT FANPAGE LÝ TỨ... Xin chúc mọi người có một chuyến du lịch 365 ngày của năm mới thật tuyệt vời, đầy ắp thú vị, quên hết sầu khổ, tìm thấy niềm vui, và luôn luôn hạnh phúc!!!
31/12/2019 LÝ TỨ
[[1]].. hít thở không khí “chùa” (nghĩa bình dân: miễn phí, cho không); .. hít thở không khí miễn phí..
Về…Thể Nhập Đại Đạo
Muốn thể nhập Đại Đạo, phải có con người của Đại Đạo. Con người của Đại Đạo là hạng người mang trong mình tâm thế của Đại Đạo. Tâm thế của Đại Đạo là thứ tâm thế của một trượng phu.

CHUẨN BỊ “CẤU HÌNH ĐỦ MẠNH” ĐỂ THỂ NHẬP ĐẠI ĐẠO
Các bạn! ... − “Đại Đạo” là gì? − Làm thế nào để “thể nhập”? − Có bao giờ các bạn đặt hai điều này trở thành "Chánh Niệm" để tư duy hay không?
Giống như một cái máy tính, muốn chạy được những phần mềm (Software) hiện đại, có dung lượng cực lớn, điều kiện bắt buộc là cái máy tính đó phải có cấu hình (computer configuration) đủ mạnh. Vì rằng, cấu hình không đủ mạnh, độ tương thích không cao. Việc cài đặt phần mềm vào máy đã khó, nói gì đến việc (mong rằng) phần mềm này hoạt động hiệu quả trong một cái máy "cổ lỗ sĩ" hay "cù lần". Đại Đạo giống như một hệ điều hành hay một phần mềm hiện đại, có dung lượng cực lớn. Tâm và Trí người tu hành giống như một máy tính có cấu hình siêu mạnh. Chỉ khi nào hai thứ này (Tâm, Trí và Đại Đạo) tương thích với nhau, việc tiếp nhận Đại Đạo mới có thể thực hiện được.
Hy vọng sau bài viết này, mỗi HĐ chúng ta sẽ nỗ lực làm thế nào đó để có một "cấu hình mạnh", sẵn sàng tiếp nhận một Software hiện đại, có “dung lượng” cực lớn. Giống như ngày xưa Thiện Tài với cấu hình siêu mạnh, chỉ cần nghe thoáng qua tai tên một Tam Muội Môn hay một Giải Thoát Môn liền thể nhập vào Software đó. Hoặc Tát Đà Ba Luân mang một cấu hình vĩ đại đi cầu Software Bát Nhã. Hay tiền thân Phật với cấu hình cực tốt, cho dù bửa củi, quét nhà, gánh nước, nấu ăn cho vị Tiên Ngũ Thông "mà lại cài đặt được Đại Đạo" Rất mong, "một vượt thoát tức thì nào đó" từ các bạn sau email này! (23-01-2017)
VỀ “THỂ NHẬP ĐẠI ĐẠO”
Những ngày qua, chúng ta có đề cập đến mục tiêu tu học sắp đến là: Thể Nhập Đại Đạo. Và mình đã giới thiệu đến các bạn bài viết “Những Nguyên Lý Căn Bản Để Thể Nhập Tam Tự Quy”. Đồng thời thỉnh thoảng tâm sự với vài HĐ về việc vì sao một Đức Phật ra đời phải hội đủ ba yếu tố gần như bắt buộc, đó là:
● Sanh từ hông phải,
● Tuyên bố độc tôn và
● Đầy đủ ba mươi hai tướng tốt.
Cũng có một vài HĐ, được nghe mình phân tích ý nghĩa đích thực của bốn đức Thường, Ngã, Lạc, Tịnh của Đại Niết Bàn... Cũng có HĐ cùng mình trao đổi đề tài bốn đức Thường, Ngã, Lạc, Tịnh của Đại Niết Bàn (Đại Đạo, Đạo Chủng Tánh) khác với Lạc, Tịnh của Nhị Thừa (Thánh Chủng Tánh) như thế nào... Điều gì đã làm nên hai đức này, v.v... từ câu chuyện: "Những Nguyên Lý... đến Sanh Ngang Hông... và bốn đức Thường, Ngã, Lạc, Tịnh" đã được nêu lên trong thời gian gần đây…
Tuy rằng mình không trực tiếp đề cập hay phân tích những điều này có mối liên hệ như thế nào đến việc Thể Nhập Đại Đạo, nhưng đây là những tiền đề quan trọng để người tu hành "nếu tinh ý" sẽ trực nhận cái gì làm nên Đại Đạo và những thứ ấy có mối liên hệ như thế nào đến Đại Đạo. Như người thợ săn thiện nghệ, nhìn dấu vết của cây cỏ, nghe tiếng xào xạc của núi rừng. Lập tức người này "có thể trực nhận" loài thú nào đã đi qua hay đang hiện diện trong khu rừng này.
Thế nhưng, sau những lần giới thiệu hoặc trao đổi với một vài HĐ về những dấu vết đó.... "Núi rừng lại lặng yên!" Chỉ một vài HĐ cảm nhận mơ hồ những gì mình đã nói, còn lại, tất cả đều khó… Khó nói!
Mình nhận được một số kiến giải của HĐ về đề tài Thể Nhập Đại Đạo và ba điều nhất thiết phải có của một Đức Phật, phần lớn các bạn tạm hiểu ra vấn đề, nhưng khi lý giải thì chưa đủ sức thuyết phục. Để giúp các bạn có cơ sở tư duy, một vài gợi ý như sau:
THỂ NHẬP ĐẠI ĐẠO LÀ GÌ?
Trong quá trình tu tập từ một phàm phu đến Vô Thượng Bồ Đề, tạm chia thành hai giai đoạn như sau:
− Giai đoạn thứ nhất là phần tự độ: Phần tự độ (hay tự cứu) là giai đoạn người tu hành dùng giáo pháp làm phương tiện tẩy rửa những tính chất hư nguỵ của một chúng sanh đang hiện hữu trong tâm và trí. Giai đoạn này gồm Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn, Duyên giác thừa, Bồ Tát Quyền thừa (làm phước bố thí, thiền định, yểm ly... nói chung, việc tu hành từ phàm phu đến A La Hán, chứng viên mãn Diệt đế).
− Giai đoạn thứ hai là phần độ tha (giúp người): Độ tha hay Nhiếp Thọ Chánh Pháp Vô Dị Biệt, là giai đoạn người tu hành từ bỏ các quả chứng quyền tiểu thuộc giai đoạn thứ nhất, thể nhập vào Đại Đạo tức Bồ Tát Đạo hay Nhất Thừa Đạo để thấu suốt diệu lý của chư Phật, từ đó mới đủ năng lực làm công hạnh.
Như vậy, ta có thể hiểu, Thể Nhập Đại Đạo là: Không thể nhập Nhân đạo, Thiên đạo, Thanh văn đạo và Duyên giác đạo. Thể nhập đại đạo là tiền đề để thành tựu Thập Bát Bất Cộng, một trong những đặc tính của Vô Thượng quả.
Ba điều kiện nhất thiết phải có của một vị Phật: Một vị Phật xuất hiện trên đời, phải gồm đủ ba điều căn bản mà trong kinh hay đề cập, đó là: “Sanh từ hông, tuyên bố độc tôn và đủ ba mươi hai tướng tốt”. Thế gian có thói quen, khi nói đến một ai đó, người ta liền nghĩ đến cái bên ngoài dựa trên những đặc điểm nhận biết. Ví dụ: Ông A là người cao lớn, bà B là kẻ giàu có, cô C là một hoa khôi, cậu D là người hiền lương, Phật là người có hào quang sáng, nhấp nháy như đèn led, v.v… và, v.v...!
Phật đạo là Đạo Xuất Thế, nên có cách nhìn ngược lại, tức không nhìn hay nhận biết đối tượng bằng những thứ bên ngoài, mà đánh giá qua tâm lượng và trí tuệ của người đó. Với một Đức Phật thì chúng ta càng không thể tiếp cận bằng một "nhãn quang bình thường" để nhận định rằng, đây có phải là một Đức Phật hay không. Vì thế, kinh mới dạy "Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như lai...". Lời kinh này có nghĩa: Những người đang nhìn vào thân tướng (hình dáng bên ngoài), hay nghe tiếng nói mà bảo rằng đó là một Đức Phật, đây là cách nhận biết và đánh giá của một người theo tà đạo, người này không thể thấy (hiểu) được Đức Phật đích thực.
Hoặc câu kinh: "Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như lai...”. Câu kinh này có nghĩa: Những gì thuộc về thân tướng bên ngoài đều là các thứ hư vọng, không chơn thiệt. Khi nào trong lòng không còn các kiến chấp về tướng bên ngoài, mới thấu hiểu được ý nghĩa đích thực của một Như Lai. Có thể hiểu: Nói đến Phật (hay một vị Phật) là nói đến trí tuệ, nói đến nhận thức bên trong chứ không phải nói đến cái bên ngoài (mà một người bình thường có thể tiếp cận qua thấy nghe). Và cũng chính nhận thức bên trong, cái thuộc về trí tuệ là những gì trừu tượng, khó diễn đạt bằng lời... nên các kinh Đại Thừa thường mượn hình ảnh bên ngoài, hoặc văn hoá Bà La Môn (văn hoá thịnh hành của Ấn Độ thời đó) để gởi gắm những điều ẩn mật thuộc về trí tuệ mà không thể "nói thẳng" bằng lời.
Giống như mình từng mượn hình ảnh của chiếc máy tính (computer) để mô tả Phật pháp. Tất nhiên khi mượn hình ảnh Bà La Môn hay chiếc máy tính, không có nghĩa lời nói hay ý nghĩa trong đó có giá trị rao giảng hay hô hào chủ thuyết Bà La Môn hoặc Tin Học. Điều này dẫn đến hệ luỵ là, có những người không thấu suốt giáo pháp khi đọc kinh Đại Thừa, cho rằng kinh Đại Thừa là những tác phẩm của Bà La Môn... Biết đâu mai mốt lại có người nói, những bài viết của Lão Lý là sản phẩm của Tin Học Giáo (mình đang dự tính viết đề tài: Làm Thế Nào Để Có Được Một Cấu Hình Đủ Mạnh Để Thể Nhập Đại Đạo).
Trong kinh cũng kể câu chuyện, người sáng nói với người mù bẩm sinh rằng: "Con cò màu trắng như tuyết", người mù bèn phán một câu xanh dờn: "nhất định con cò phải... rất... chi... là... lạnh!". ... Cớ sự "mù bẩm sinh" tai hại ghê gớm đã như vậy, thì cái cớ sự nói rằng Kinh Đại Thừa là sản phẩm của Bà La Môn nó còn mù tối và tai hại đến như thế nào? (23-01-2017)
Mình xin trở lại vấn đề.
● BA ĐIỀU KIỆN CẦN CÓ ĐỂ PHẬT ĐẢN SANH
Một vị Phật xuất hiện trên đời, phải gồm đủ ba điều căn bản mà trong kinh hay đề cập, đó là: Sanh từ hông, tuyên bố độc tôn và đủ ba mươi hai tướng tốt.
a) Sanh ngang hông: Chân lý được Đức Phật tự tìm thấy, không do bởi sự kế thừa hay sản sanh từ bất kỳ một quan niệm, một triết lý, hay một pháp thế gian nào. Nó như là thứ sanh ngang hông ấy! Vì thế Phật (Phật Trí) thường được ví, “trí” này xuất sanh (Đản Sanh) từ "hông người mẹ"! Sanh ngang hông là trí sanh chứ không phải thân sanh (Phật có đến ba thân). Điều này được đề cập trong kinh Kim Cang như sau: "Này Tu Bồ Đề! Ta không có một chút pháp chi. nên Phật Nhiên Đăng mới thọ ký cho ta thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni, nếu ta có một chút pháp chi thì Phật Nhiên Đăng không thọ ký cho ta”. Trong Anh Lạc Luận bài Kỳ Cục Môn, mình cũng hài hước rằng: "Tam Muội này do ăn mà thành chứ không phải do học mà thành"!
b) Tuyên bố độc tôn: Kinh kể rằng, khi vừa Đản Sanh (không phải từ trong thai sanh ra), Đức Phật đi bốn hướng, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất tuyên bố "Thiên thượng thiên hạ duy Ngã độc tôn".... Trên đời này, phàm cái gì được sanh từ một thứ khác, như: Sanh từ một quan niệm, sanh từ một triết lý, sanh từ một quan điểm, sanh từ một pháp, sanh từ chủ thuyết, sanh từ tu hành, sanh từ thiện ác, sanh từ thiền định, sanh từ yểm ly, sinh từ học tập, sanh từ giữ gìn đều thấp hơn chủ thể sanh ra nó, không thể gọi là "độc tôn". Chỉ có cái "tự sanh", cái "không do bởi thứ gì sanh" ra, cái “sanh ngang hông” mới chơn thiệt là chân lý, mới là cái đáng tôn quý. Vì thế, Đức Phật tuyên bố độc tôn là chuyện tự nhiên của chân lý!
c) Ba mươi hai tướng tốt: Ba mươi hai tướng tốt là tướng của trí tuệ (không phải tướng thực tế trên thân), đây là biểu hiện của năng lực trí tuệ và công đức. Ví dụ:
− Tướng nhục kế (vô kiến đảnh, hay đảnh đầu) cao không ai thấy được, nhằm chỉ cho trí tuệ siêu thắng mà trong thế gian chẳng ai bằng được.
− Tướng lưỡi rộng dài (quảng trường thiệt tướng), tướng này khi thè ra, che phủ ba cõi, đây là tướng ngôn thuyết, trong ba cõi không ai có thể chiết phục được.
− Tướng bánh xe ngàn căm dưới lòng bàn chân (tướng pháp luân), tướng này biểu hiện Thế Tôn đến đâu, chuyển pháp luân cứu khổ đến đó, v.v… và v.v… Nói chung, mỗi tướng trong ba mươi hai tướng khi Phật tuyên thuyết nhằm ám chỉ năng lực trí tuệ và công đức của một vị Đẳng Chánh Giác.... Giả sử trong hiện tại này, nếu có một ai đó trên thân có đủ ba mươi hai tướng xuất hiện trước công chúng. Chắc chắn một điều là, con nít bu theo coi đông như kiến, lại còn sờ mó, còn đường phố thì kẹt xe vì thiên hạ "dòm cái sự lạ" mà không lo chạy xe. Có lẽ mọi hoạt động sẽ trở nên bất bình thường vì "một con người kỳ dị" xuất hiện. Mình ngẫm nghĩ, nếu ngày đó Cù Đàm hiện 32 tướng trên thân, khi đi hỏi vợ, chắc bà Da Du Đà La trốn biệt ngàn không dám ló ra để gặp, chứ đừng nói đến chuyện chịu nhận làm vợ! ......
Các bạn! ... Thể nhập đại đạo và ba điều nhất thiết phải có của một vị Phật, là sự thực chứng (trong tâm trí) của người tu hành Những thứ này là "câu chuyện dài nhiều tập" thuộc về trí tuệ. Vị lai chúng ta sẽ mổ xẻ đến nơi đến chốn những gì còn ẩn mật trong từng điều. Hy vọng bài viết này, sẽ là những gợi ý căn bản để các bạn làm cơ sở tư duy hầu mai này có được thực chứng nào đó!
THỂ NHẬP ĐẠI ĐẠO
Các bạn! ... Muốn thể nhập Đại Đạo, phải có con người của Đại Đạo. Con người của Đại Đạo là hạng người mang trong mình tâm thế của Đại Đạo. Tâm thế của Đại Đạo là thứ tâm thế của một trượng phu. Tâm thế một trượng phu là loại tâm thế sẵn sàng từ bỏ cái nhỏ nhen, quyền tiểu của Ba Thừa để bước vào biển lớn Trí Tuệ. Hay nói khác đi, Đại Đạo là Không Đạo. Không Đạo là trong lòng “chẳng thấy đời và đạo khác nhau" (Bất Nhị Pháp Môn).
Muốn được thứ tâm thế như vậy, đòi hỏi người tu hành trong lòng không còn “chấp nhất”. Trong lòng không chấp nhất là, không thấy đời khác đạo, không thấy “thiện” khác “ác”, chẳng thấy đâu là thế gian đâu là xuất thế, không thấy ngồi thiền tụng kinh khác với mặc áo ăn cơm. Ở đâu, làm việc gì, tâm cũng như vậy! Như vậy!
Như vậy! Như vậy! Là một thứ “Đại Tâm”, một loại “trượng phu tâm”, dù bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không phát sinh “dị tâm” hay “kỳ tâm” (tâm khác). Nói khác hơn, đây là một thứ tâm đã được quét sạch hoàn toàn bóng dáng của "Bốn Tướng" (ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả), còn gọi là Ba La Mật Tâm hay Kim Cang Tâm. Chỉ có một thứ tâm như vậy, mới đủ sức chuyển tải hết ý nghĩa của Đại Đạo. Chỉ có Đại Đạo mới có thể dung chứa cái "vô hạn của Trí Tuệ". Và, chỉ có Trí Tuệ, mới có thể biến "Nhất thiết pháp giai thị Phật Pháp" (hết thảy pháp đều trở thành Phật Pháp). Giống như muốn vào biển lớn để bắt con Kình Ngư, phải có con người của biển lớn. Con người của biển lớn là hạng người với tâm thế dõng mãnh, không sợ biển khơi, sẵn sàng từ bỏ luồng lạch nhỏ nhen của ao hồ, sông rạch để dong thuyền ra biển lớn! Cho dù đang dong thuyền ra biển khơi, nhưng trong lòng vị này tự tại, thấy biển khơi và sông rạch chẳng có gì sai khác! Nếu chúng ta chưa sẵn sàng tu tập để hình thành “Đại Tâm” như đã nêu thì, con đường vào biển lớn Trí Tuệ hãy còn xa lắm.
Giống như muốn vào biển khơi để bắt con cá kình mà một người hèn yếu lại bơi trên chiếc thuyền nan nhỏ bé, nhất định người này không thể hoàn thành ước nguyện! Giống như miệng nói rằng, "hết thảy pháp đều là Phật Pháp", mà trong lòng luôn thấy đây kia sai khác, pháp thiện khác pháp ác, đời khác đạo, phàm khác thánh, phiền não khác Bồ Đề. Cái thấy như thế là cái thấy của phàm phu, cái thấy phiến diện của ba thừa chứ chẳng phải cái thấy bằng tinh thần câu kinh vừa nêu hay cái thấy của “Đại Đạo”!
Các bạn! ... Cuộc trao đổi gồm nhiều thứ, với email, mình không thể viết hết những điều đã luận bàn. Những gì đã viết, chỉ là phần "giới thiệu sơ lược ý nghĩa Thể Nhập Đại Đạo". Những ngày tới, chúng ta sẽ tuần tự triển khai sâu hơn đề tài này! Mong rằng, trong năm mới 2017, HĐ chúng ta sẽ hoàn thành Tam Tự Quy thứ nhất để làm tiền đề cho những năm tiếp theo hoàn thành các Tam Tự Quy còn lại! (02-01-2017)
Các bạn! ... Để có những bước đầu tiên trên con đường "Thể Nhập Đại Đạo" một cách tốt nhất, như người tập bơi thuyền ra biển lớn, người này phải có những hiểu biết nhất định và nhìn nhận thấu đáo về biển. Có được hiểu biết và nhìn nhận thấu đáo, con đường chinh phục biển cả mới không gặp hiểm nguy. Trong Phật đạo, người có giác ngộ hoặc am tường kinh điển, sẽ có cách nhìn sự việc không giống người đời, giống như người am tường biển cả sẽ có cách nhìn tinh tế khi đi ra biển. Với trực nhận của một kẻ giác ngộ (hay am tường kinh điển), vị này không thể có cái nhìn lẫn lộn (lầm nhận) như người đời. Vì thế, đâu là người tu hành chân chính, đâu là kẻ giả danh (tu hành chân chính) không thể gạt được người thật sự giác ngộ trong Phật đạo.
Để làm sáng tỏ điều này, mình có một câu hỏi mang tính giả định, có thể có xảy ra hoặc không có xảy ra trên đời. Hy vọng, câu hỏi sẽ giúp các bạn tư duy và dùng chính sự trực nhận của một người có giác có ngộ (hay am tường kinh điển) để tìm ra câu trả lời thoả đáng. Trả lời được câu hỏi này, nhất định các bạn sẽ không còn lầm nhận hay mơ hồ về một đối tượng bất kỳ nào đó có thể chính các bạn bắt gặp ở vị lai. Câu hỏi như sau:
CÂU HỎI TCTT 2017/01 −Thể Nhập Đại Đạo
Giả sử, bạn bắt gặp ba người, gồm: Một người tu hành chân chính trong Phật đạo, cùng một ngoại đạo và một con ma, cả hai cũng giả làm người tu hành chân chính! Nhìn vào xuất thân (họ hàng, dòng giống, giai cấp), nhìn vào bề ngoài (y áo, thân tướng), nhìn vào trú xứ (chùa am, nhà cửa), nhìn vào phép tắc ngồi thiền tụng kinh, nhìn vào phong cách tế lễ (cúng lạy), nhìn vào phong thái (đi đứng, oai nghi), nhìn vào ngủ nghỉ, nhìn vào cách trì giới, nhìn vào cách hiển thị thần thông.
Xin hỏi: Làm thế nào để bạn biết (hay nhận định) đâu là người tu hành chân chính, đâu là ngoại đạo, đâu là con ma?
Những câu trả lời lý thú, phân tích đến nơi đến chốn đầy sáng suốt, đúng nhất của các bạn sẽ được chuyển đến đại chúng sau khi kết thúc đợt trả lời kỳ này. (04-01-2017)
GỢI Ý... TCTT 2017/01 − Thể Nhập Đại Đạo
Các bạn! ... Những gì liệt kê trong câu hỏi, bao gồm các thứ bên ngoài, cái không nói được gì nhiều, cái không phải khuôn mẫu của một người tu hành chân chính trong Phật đạo. Vì thế, không thể nhìn vào những thứ ấy để đánh giá đó là chân chánh trong tu tập hay không. và những thứ này, ai cũng giả được, giả tuốt luốt! Giống như một món đồ, hay một khúc cây được tô phết bên ngoài bởi lớp sơn "có chủ đích". Thì, không thể nhìn qua lớp sơn mà đánh giá rằng, món đồ hay khúc cây đó là “giả hay thiệt”!
Muốn biết giả hay thiệt, chỉ có cách cạo bỏ lớp sơn hay cắt đoạn cây ấy ra. Và “tốt gỗ hơn tốt nước sơn” luôn luôn là tiêu chí của sự học, (trừ học làm đồ giả!). Vì thế, Phật dạy: "Ba mươi hai tướng tốt Chuyển Luân Thánh Vương cũng có, và ma ngoại đều giả được". Hoặc câu chuyện Tổ Ưu Ba Cúc Đa và đệ tử của mình là Đề Ca Đa là một ví dụ về cái cớ sự giả hình tướng bên ngoài!
Trong Phật đạo, muốn biết một người tu hành chân chánh hay không, muốn biết mức độ thành tựu. Phải trực tiếp đối thoại, phải trực tiếp nghe thuyết, phải trực tiếp đặt câu hỏi và phản biện, phải lột bỏ cái lớp bên ngoài rồi thẩm định kỹ càng cái bên trong. Từ đó, mới có thể đánh giá đúng mức về việc tu hành của một ai đó. Vì, Phật đạo là đạo của nhận thức, của trí tuệ, của chiều sâu bên trong chứ chẳng phải cái thể hiện bên ngoài.
(07-01-2017)
Về… Tam Tự Quy
Thể nhập Đại Đạo là một trong Tam Tự Quy (Tam Thể Nhập) của Bồ Tát Tam Tự Quy gồm Tự quy y Phật, Tự quy y Pháp, Tự quy y Tăng. Người thành tựu Tam Tự Quy, vị lai sẽ là người có thể làm nơi tự nương tựa và nương tựa cho người.

TAM TỰ QUY
Các bạn! ... Chặng đường tu hành sắp tới của HĐ chúng ta trong năm 2017 là: Bước vào Đại Đạo hay còn gọi là "Thể Nhập Đại Đạo". Thể nhập Đại Đạo là một trong Tam Tự Quy (Tam Thể Nhập) của Bồ Tát Tam Tự Quy gồm:
1) Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sanh, thể nhập Đại Đạo, phát Vô Thượng Tâm.
2) Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sanh, thâm nhập Kinh tạng, Trí Tuệ như biển.
3) Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sanh, thống lý Đại Chúng, hết thảy không ngại.
Người thành tựu Tam Tự Quy, vị lai sẽ là người có thể làm nơi tự nương tựa và nương tựa cho người.
NGUYÊN LÝ CĂN BẢN ĐỂ THỂ NHẬP TAM TỰ QUY
Các bạn! ... Mình nhận được tâm sự của một số HĐ, đặc biệt bài viết của Tâm Pháp về đề tài: "NHỮNG NGUYÊN LÝ CĂN BẢN ĐỂ THỂ NHẬP TAM TỰ QUY".
Đọc đi đọc lại nhiều lần bài viết này, quyết tìm một điều gì đó để phản biện, nhưng đành chịu. Và cuối cùng, mình chỉ hồi âm cho vị HĐ này bằng vài dòng ngắn ngủi: "Bài viết rất hay! Dấu hiệu của tự thông! Xin chúc mừng!"
Có thể nói, bài viết của Tâm Pháp cho thấy mức độ thông suốt của vị HĐ này. Thời gian qua, mình nhận được rất nhiều emails trình bày sở chứng của HĐ, nhưng chưa có bài viết nào làm mình cao hứng như bài viết của Tâm Pháp. Ngộ ra một nguyên lý nào đó của Phật đạo, được coi là "một phát hiện sâu thẳm của trí tuệ".
Người tu hành, chỉ cần trong đời có một lần phát hiện như thế, nhất định sẽ làm cơ sở cho sự bừng sáng sau này. Rất mong, trong những ngày tới, sẽ có nhiều HĐ phát hiện ra cái sâu thẳm của Phật đạo bằng chính trí tuệ này. (16-01-2017)
Về Tâm, Pháp, Tri và Giác
Để giúp các bạn có cái nhìn cụ thể về tâm, pháp, tri, giác, cũng như thấu suốt mối liên hệ hữu cơ giữa từng món này và thứ lớp tu hành đối với bốn món nói trên. Bài viết sau đây, sẽ giúp các bạn giải quyết phần nào những thắc mắc xung quanh bốn khái niệm này.

Các bạn! ... Mấy hôm nay, mình nhận được rất nhiều thắc mắc của HĐ xoay quanh ý nghĩa của “tâm, pháp, tri và giác”. Khi trả lời thắc mắc, mình nhận ra, phần lớn HĐ chúng ta vẫn còn "mù mờ" về ý nghĩa của bốn món này. Để giúp các bạn có cái nhìn cụ thể về từng món, cũng như thấu suốt mối liên hệ hữu cơ giữa tâm, pháp, tri, giác và thứ lớp tu hành đối với bốn món nói trên. Bài viết sau đây, sẽ giúp các bạn giải quyết phần nào những thắc mắc xung quanh bốn khái niệm này.
I. TÂM VÀ PHÁP
I.1. TÂM (phàm Tâm): Là hiệu ứng, là vùng tối khi tánh giác chiếu ra bị che khuất bởi một pháp nào đó trong lúc hữu tình đang mê pháp ấy. Ta có thể hiểu: Tánh giác như ánh sáng, pháp như hình, tâm như bóng. Ví dụ: Tánh giác như mặt trời (thường chiếu sáng), bị một đám mây (pháp) che khuất, trên đất hiện ra một vùng tối có hình dáng giống đám mây (hay hình bóng một cái cây), vùng tối này chính là hư vọng tâm (phiền não tâm, si ám tâm). Kinh gọi vùng tối này là "bóng dáng của tiền trần".
I.2. PHÁP: Là sản phẩm được thức sản sinh khi sáu căn xúc đối sáu trần. Vì là sản phẩm của nhận thức, nên pháp có thể là: Nhận thức, quan niệm, tri thức (tri), nghĩ suy, nhãn quan. Ví dụ: Cái bình này đẹp, người kia cao sang, thân này phải thế này, cảm thọ phải thế kia
II. TRI và GIÁC
Phật đạo cho rằng, loài nào gồm đủ hai tính chất đặc trưng là Tri và Giác, loài đó được coi là một hữu tình. Ngược lại, loài nào không có hai tính chất đặc trưng này, thuộc về vô tình. Ngũ Tổ nói: "Hữu tình lai hạ chủng. Vô tình diệc vô chủng" có nghĩa: Loài hữu tình mới có thể gieo giống giác. Vô tình thì "pó tay"!
II.1. TRI (hay Tri Thức): Thuộc về thức ấm, là sự hiểu biết do học tập, do huân tập, do tập nhiễm từ trước cho đến hiện tại. Khi hữu tình mê tri thức (thức ấm), tri thức trở thành pháp, pháp hiện hữu làm vật che khuất sức chiếu sáng của tánh giác tạo ra vùng tối tâm thức, bị vùng tối tâm thức che đậy, hữu tình đó không thấy chân tướng của đối tượng bị thấy, gọi là vô minh. Vô minh chính là "phản xạ có điều kiện" trong lúc "hữu tình mê". "Hữu tình giác (Bồ Đề Tát Đoả)" là thuật ngữ phản nghĩa của "hữu tình mê"! Ví dụ: Gặp một người, tri thức nhận biết đó là kẻ thù, lập tức ý thức cho ra phản xạ giận dữ hoặc tư thế sẵn sàng đối kháng (phương thức giải quyết trong mê của hữu tình mê).
II.2. GIÁC (Tánh biết, Tánh giác): Chính là cái biết bản nhiên mà mọi hữu tình đều có. Khi tánh giác chiếu vào con mắt sẽ cho ra cái thấy, khi tánh giác chiếu vào lỗ tai sẽ cho ra cái nghe, v.v... Thấy nghe này là thường, vì nó không bị đoạn dứt. Ví dụ: Khi có âm thanh liền nghe, khi có hình ảnh liền thấy. Không có âm thanh thì nghe cái không nghe, không có ánh sáng thì thấy bóng tối.
II.3. Mối Liên Hệ giữa TRI và GIÁC: Hữu tình sống trong đời, huân tập tất cả những gì xảy ra xung quanh mình, hình thành tri thức (Tri). Để đối phó với đời, hữu tình lấy tri thức trộn lẫn với giác làm cho tánh giác bị nhiễm ô khi thấy nghe, vì thế thấy nghe bị sai lệch. Thấy nghe sai lệch, hữu tình đó không thấy bản chất (thiệt tướng) của sự việc, vì thế phiền não khổ phát sinh. Khi phiền não khổ phát sinh Phật đạo tạm gọi kẻ đó là chúng sanh. Kinh dạy: "Chúng sanh chúng sanh giả, Như Lai thuyết phi chúng sanh, thị danh chúng sanh". Lời kinh này có đại ý rằng, chúng sanh đó chẳng phải thật là chúng sanh (như người ngủ mê) Phật chỉ tạm gọi là chúng sanh (thức giấc hết mê, hết chúng sanh).
III. PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT:
Để giúp hữu tình ra khỏi mê muội, trả Tri và Giác về đúng với bản chất của nó, cũng như biến Tri trở thành Trí, biến Giác trở thành Đại Giác. Phật đạo chia quá trình này thành bốn giai đoạn:
III.1. Tịch TRI: • Đối với người chưa giác ngộ, còn trong Khổ Đế. Muốn hết khổ, người này phải "tịch tri", tức dùng năng tri để tịch diệt sở tri. Giống như người ta dùng phèn lóng trong nước. Khi tri không còn lẫn lộn trong giác, thấy nghe không bị nhiễm ô, phiền não khổ không hiện khởi. Đây là cách đối trị bằng các pháp Tam Ma Đề, Thiền Định, Giác Quán. • Cách tu này là hình ảnh của những người lên tận non cao, để tránh lũ...
III.2. Tịnh NĂNG SỞ GIÁC: • Đối với người đã hết khổ nhưng còn bị trói buộc bởi tập nhân của Tập Đế. Sau khi tánh giác không bị nhiễm ô bởi tri, người này dùng tánh giác soi chiếu vào ngũ ấm, thấy rõ bản chất của năm món này không tánh, tức “không có tánh trói buộc hay giải thoát”, “người này không nắm giữ ngũ ấm” (trong đó có thức ấm tức là tri thức) ...
Nói khác hơn, đây là công đoạn thanh tịnh năng giác và sở giác, kinh gọi là "không lấy sắc làm ta, làm ngã của ta và tự ngã của ta. Thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như vậy...". Tức không cho rằng ngũ ấm là của ta, không cho rằng ngũ uẩn (không phải ấm) là ngã của ta, không mong cầu nơi ngũ ấm này có sự vững bền. Thấu suốt được như thế, người này “không nắm giữ” nên thoát ra khỏi mọi trói buộc của ngũ ấm, tuy ở chung với ngũ ấm (trong đó có tri thức) nhưng không bị trói buộc, kinh gọi là "sắc giải thoát, thọ tưởng hành thức giải thoát!" • Đây là hình ảnh của người chỉ biết "sống chung với lũ", nhưng chưa biết trong dòng lũ tri thức (Tri) ẩn chứa tài nguyên vô giá!...
III. 3. Tịch NĂNG SỞ: • Đã chứng giải thoát nhưng chưa vào Niết Bàn Diệt Đế. Sau khi thoát khỏi trói buộc của năm ấm, người này "dùng tánh giác lặng lẽ quan sát" bản chất của thân tâm, thấy rõ thân tâm này bản lai tự Niết Bàn, không có người được cũng như cái để được (vô sở đắc), xưa nay nó tự như vậy. Thấy được như thế, vị này “tịch diệt năng giác cùng sở giác”, chứng Bất Động, thành tựu Niết Bàn Diệt Đế. • Đây là hình ảnh của con cá sống trong dòng lũ, mà không bị lũ nhấn chìm!
IV. CẢNH GIỚI TỰ CHƠN:
· Đã vào Diệt Đế nhưng chưa được trí tuệ của Đạo Đế. Sau khi vào Diệt Đế, giống như người chạy khỏi nhà lửa, một chân vào thành an ổn, người này sực nhớ quyến thuộc của mình còn ở trong nhà lửa. Bèn phát đại tâm tìm học các thứ phương tiện để cứu quyến thuộc đang còn kẹt mắc. Vị này lên rừng, xuống biển, lên bờ, xuống ruộng. quyết tìm cho được Thiện Tri Thức để học Đạo Nhất Thừa. Với trí tuệ của Đạo Nhất Thừa học được (Nhất Thiết Trí), vị này chợt nhận ra thiệt tướng của ngũ ấm là"chơn thường, chơn ngã", kinh gọi là"sắc thường trụ, thọ tưởng hành thức thường trụ" ứng hợp với câu: "Kiều Trần Như! Diệt sắc vô thường, sẽ được sắc giải thoát, sắc thường trụ."!
Từ đây, vị này biết chắc rằng: "Nhất thiết pháp giai thị Phật pháp". Dòng lũ (Tri) kia, cũng chính là dòng Trí tuệ. Tri và Giác chẳng phải hai pháp. Kinh gọi là "hoặc loạn tức thường". Vì thế, ngày xưa Thế Tôn ngay nơi cội Bồ Đề bên dòng sông Ni Liên Thuyền của cõi Diêm Phù (chứ không phải đâu khác), một đêm trăng sáng chứng Đại Giác!
Bài viết không thể nói hết cái thâm u của Đạo Pháp. Buổi sinh hoạt tới, nếu HĐ nào có thắc mắc về những vấn đề nêu trên, xin có câu hỏi, mình sẽ giải đáp cụ thể. (19-03-2017)
Luận Về Chánh Tinh Tấn
Nếu chưa thấu suốt ý nghĩa đích thực của Chánh Tinh Tấn, chắc chắn công sức bỏ ra sẽ không thể có được một kết quả như ý, thậm chí ngược lại, điều này không phải là chuyện hiếm của người tu hành!

Các bạn! ... Hôm nay Chủ Nhật là ngày nghỉ, dự tính thứ Hai chúng ta mới tiếp tục công việc tu học. Nhưng rồi bốn câu kệ của Thế Tôn, lại văng vẳng vang lên trong lúc đang ngồi uống trà. Bốn câu kệ như "một mệnh lệnh" thôi thúc bản thân dẹp chuyện nghỉ ngơi để viết email này cho mọi người.
"Thị nhật dĩ quá,
Mạng diệc tùy giảm,
Như thiểu thủy ngư,
Tư hữu hà lạc?
Đại chúng!
Đương cần tinh tấn,
Như cứu đầu nhiên,
Thân vật phóng dật!"
Tạm dịch:
Hiện tại sẽ qua mau,
Quỹ thời gian còn mấy,
Như cá gặp mùa hạn,
Thế gian có gì hay?
Mọi người!
Phải cần cù tinh tấn,
Như cứu lửa cháy đầu,
Chớ vui theo thế gian,
Phóng dật (ngày) sau sẽ khổ!
Mình lại suy nghĩ, việc tu tập cũng giống như chuyện học ở đời, nếu không siêng năng, không có định hướng đúng, không xây dựng thái độ tu hành nghiêm túc (Giống như đứa trẻ cắp sách đi học mà không đến lớp, chỉ quanh quẩn trong các phòng game, hoặc mải mê theo thú vui bên ngoài) tương lai, chắc chắn không thể thành tựu việc học tập!
Nhưng rồi mình lại suy nghĩ, hai chữ Tinh Tấn người tu hành nào cũng biết. Nhưng Tinh Tấn như thế nào, ý nghĩa ra làm sao để người tu hành bỏ công sức và gặt hái được kết quả như Phật đạo mong muốn (gọi là Chánh Tinh Tấn) lại là việc cần bàn! Nếu chưa thấu suốt ý nghĩa đích thực của Chánh Tinh Tấn, chắc chắn công sức bỏ ra sẽ không thể có được một kết quả như ý, thậm chí ngược lại, điều này không phải là chuyện hiếm của người tu hành! Đây là lý do vì sao các câu hỏi được gởi đến các bạn.
CÂU HỎI TCTT 2016/12 − Về… “Chánh Tinh Tấn”
1) Làm thế nào để biết chắc rằng, việc tu học trong hiện tại của bản thân đang đúng với ý nghĩa của Chánh Tinh Tấn trong Phật đạo? Có thể đưa ra một vài ví dụ của bản thân, để minh hoạ cho việc tu tập của bạn đúng với ý nghĩa của Chánh Tinh Tấn (minh hoạ này không bắt buộc)!
2) Xin nêu lên, có bao nhiêu mục tiêu cơ bản trong Phật đạo người tu hành cần phải biết rõ, để vị lai có thể chiếm lĩnh từng quả vị (tuần tự từ thấp lên cao) cho đến Đạo quả cao nhất?
Rất mong nhận được những kiến giải lý thú từ mọi người, những kiến giải lý thú của các bạn sẽ giúp chúng ta hiểu rõ thế nào là Chánh Tinh Tấn, từ đó chúng ta mới vững tin tu hành, không sợ lạc vào Tà Tinh Tấn (có Tinh Tấn nhưng lệch hướng) (21-08-2016)
GỢI Ý... TCTT 2016/12 − Về… “Chánh Tinh Tấn”
Nói đến Chánh Tinh Tấn, là nói đến sự mẫu mực với đầy đủ tính chân lý của Giáo Pháp, nó hoàn toàn cụ thể, không mang tính ước lệ. Về câu hỏi thứ hai cũng như vậy. Tất nhiên, mục tiêu tu tập trong Phật đạo là tự độ và độ tha. Nhưng, cột mốc cụ thể là gì? Đâu là hệ quy chiếu mang tính cơ học của những cột mốc này? Nếu không đáp ứng các yêu cầu như thế, câu trả lời chỉ có "giá trị bóng gió" hơn là "thực tiễn biện chứng"!
Tất cả những gì vừa nêu, hình như không có điều gì HĐ chúng ta chưa biết. Chỉ có một điều, khi trả lời, các HĐ chỉ viết theo cảm tính mà thiếu hẳn sự "liên hệ giữa tu tập và nền tảng giáo pháp" để chứng minh cho điều mình đã viết. Nói chung, dường như HĐ chúng ta không nắm vững trọng tâm việc tu hành (để làm gì), cũng như hệ thống tu tập gồm những cấp độ nào! Mình xin đơn cử một vài câu hỏi ngoài đời và cách trả lời, để HĐ có thể liên hệ đến hai câu hỏi vừa rồi.
Ví như có người hỏi: 1) Sau thời gian chữa trị, làm thế nào để bạn nhận biết bệnh tình trong người có thuyên giảm?
Tất nhiên, nếu chữa trị đúng, có hiệu quả. Người trả lời phải liệt kê các thứ bệnh trước đây mắc phải, đến hôm nay đã giải quyết được những bệnh nào. Và bản thân là bảng tham chiếu để cho ra kết quả đó...
Hoặc có người hỏi: 2) Xin cho biết, muốn hoàn thành các bậc học trong Hệ thống Giáo dục hiện nay (từ thấp lên cao), người học trò phải trải qua bao nhiêu cấp học để thành tựu học vị cuối cùng?
Tất nhiên, trước câu hỏi này, người trả lời phải nắm vững các bậc học trong Hệ thống Giáo dục Quốc dân. Cụ thể như, có bốn cấp học, người học phải hoàn thành, mới có thể đạt đến học vị cao nhất. Đó là cấp Tiểu học, cấp Trung học cơ sở, cấp Trung học Phổ thông, cấp Đại học và sau Đại học. Hệ thống Giáo dục, chính là hệ quy chiếu mang tính cơ học, nhờ tính cơ học này người học trò có thể tìm cho mình loại hình học tập phù hợp. Vì rằng, thực tế có nhiều loại hình giáo dục khác nhau, nên tính cơ học trong Hệ thống Giáo dục cũng linh hoạt vận động theo!
Thói quen trả lời chung chung, trả lời khơi khơi, không cụ thể, vô căn cứ, sẽ khó có được một kết quả thuyết phục. Câu trả lời thuyết phục phải căn cứ vào những cơ sở có giá trị và đáng tin cậy. Trong Phật đạo, nếu không tìm thấy cơ sở lý luận, và không quy kết được, sẽ rất khó để người tu hành hoàn thành Đạo Đế! (22-08-2016)
Chánh Tinh Tấn là một khái niệm rất quan trọng của Đạo Pháp. Chỉ khi nào, người tu hành hiểu rõ khái niệm này, thì bây giờ nỗ lực tu tập của người ấy mới không bị sai lệch. Sai lệch trong tu tập gọi là Tà Tinh Tấn! Chánh Tinh Tấn và các bước tu tập trong hệ thống Giáo Pháp giống như mũi tên chỉ đường. Vì thế, Giáo Pháp và các mục tiêu của Giáo Pháp đề ra, chính là cơ sở giúp người tu hành căn cứ để biết rằng con đường ta đang đi là đúng hay sai...
Các câu hỏi sẽ giúp các bạn nắm vững ý nghĩa của Chánh Tinh Tấn. Khi đã nắm vững khái niệm này, nhất định việc tu tập sẽ đạt kết quả như ý! Sau đây là đáp án tham khảo. (23-08-2016)
(Tham khảo) CẢM NHẬN TCTT 2016/12 − ... “Chánh Tinh Tấn”
Trả lời câu hỏi 1: Từng bước hoàn thành các mục tiêu của giáo pháp đề ra. Cụ thể là bốn cấp tu học của Tứ Đế. Hệ thống giáo pháp giống như những mũi tên chỉ đường. Mỗi mũi tên, hướng người tu hành đến một mục tiêu trước mắt, cứ thẳng bước đi theo mũi tên đó để tiến về đích, không đi sai lệch thì gọi là Chánh. Chỉ cần lệch một góc rất nhỏ ra khỏi mũi tên, càng tinh tấn càng rời xa mục tiêu, sẽ không thể về đích gọi là Tà. Nỗ lực tu tập, hay thực hiện những điều giáo pháp không đề ra, cũng gọi là Tà Tinh Tấn!
Dấu hiệu để nhận biết kết quả của Chánh Tinh Tấn:
− Dứt phiền não khổ; − Thối mòn kiết sử; − Xuất hiện thanh tịnh tâm; − Trí tuệ khai mở. Bốn điều này là "những dấu hiệu mà người tu hành sơ cơ có thể thấy rõ”.
Còn có rất nhiều dấu hiệu của Chánh Tinh Tấn khi "Nhãn lực cao hơn được khai mở", người tu hành “giác ngộ” mới thấy được.
Trả lời câu hỏi 2: Có bốn bước là − Hết Khổ; − Dứt Tập; − Chứng Diệt; − Tu Đạo và hành Bồ Tát đạo. Thành tựu viên mãn Tứ Đế, sẽ thành tựu hầu hết các quả vị trong Phật đạo. Trong nhiều kiếp đời làm công hạnh, khi nào duyên chúng sanh hội đủ, vị Bồ Tát này sẽ thành Đẳng Chánh Giác. (25-08-2016)
* * * * *
NHẬN THỨC RÕ RÀNG, MINH BẠCH VỀ… “CHÁNH KIÊN, CHÁNH TỬ DUY, CHÁNH TINH TẤN”
Các bạn! ... Mình nhận được ba câu hỏi liên quan đến việc tu tập của HĐ nhờ mình giải quyết, ba câu hỏi này cũng là thắc mắc chung của một số HĐ chúng ta và người tu hành hiện nay. Mình nghĩ, đây là cơ hội tốt để chúng ta tập phân tích và kết luận một vấn đề như pháp, giúp giải toả những thắc mắc của người tu hành. Và đây cũng là một trong những đề tài, mà nhất định trên con đường hoằng hoá sau này, thế nào các bạn cũng gặp!
Kính thưa Thầy!
Con xin cám ơn Thầy đã gởi cho con bài Chánh Tinh Tấn. Đối với con, bài email quá nhiều lợi lạc, thật tình xưa nay con rất mơ hồ về nghĩa này, con đã từng nhiều lần tư duy nhưng không tài nào nắm rõ được. Sau bài Pháp về “Chánh Tinh Tấn”, con khẩn thỉnh Thầy chỉ dạy con và HĐ mấy câu hỏi sau:
CÂU HỎI TCTT 2016/12p − Nhận Thức Rõ Ràng, Minh Bạch Về… “Chánh Tư Duy, Chánh Kiến, Chánh Tinh Tấn” (Lý Ngộ Tuấn)
Câu 1) Thế nào là Chánh Tư Duy?
Câu 2) Có ý kiến cho rằng, Chánh Tư Duy và Chánh Tinh Tấn là kết quả của Chánh Kiến. Ý kiến này là đúng hay sai?
Câu 3) Theo con, Chánh Tư Duy do thấu suốt ý nghĩa trong Phật đạo mà thành, còn suy nghĩ là pháp làm ra, nó chính là hữu vi pháp. Con suy nghĩ như vậy có đúng hay không? (27-08-2016)
Con kính đảnh lễ Thầy 3 lạy, xin Thầy từ bi chỉ dạy! Con.
(Tham khảo) TRẢ LỜI TCTT 2016/12p − Nhận Thức Rõ Ràng...
Các bạn! ...Có lẽ, đến giờ này phần trả lời của các HĐ đã xong. Bây giờ, đến lượt mình trả lời các câu hỏi!
Trả lời_TCTT 2016/12p − Câu 1: Căn cứ vào ý nghĩa của Chánh Tinh Tấn đã được giải thích trước đây, ta có thể hiểu: Những suy nghĩ nào, giúp người tu hành từng bước hoàn thành các mục tiêu của “Giáo Pháp” đề ra, suy nghĩ đó được coi là “Chánh Tư Duy”. Tư duy nào, không giúp ta hoặc người hoàn thành nhiệm vụ nói trên, gọi là “Tà Tư Duy”.
Trả lời_TCTT 2016/12p − Câu 2: Ý kiến ở câu hỏi số 2 là phiến diện, chỉ nhìn thấy một mặt, chưa hoàn toàn đúng. Xét ra, ý kiến đó chỉ đúng một phần ba (1/3) vấn đề.
Ba thứ: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Tinh Tấn như ba đạo binh, tuỳ hoàn cảnh, tuỳ trường hợp, tuỳ nhân duyên, tuỳ tình huống. Chánh này sẽ là cơ sở để cho ra kết quả có hai Chánh kia...
Khi anh này giữ vai trò chủ công thì các anh kia theo đó mà hành động, điều này Phật Giáo gọi là Nhân duyên, Tăng thượng duyên, Thứ đệ duyên, Sở duyên duyên. Giống như khi lâm trận, đạo binh nào gặp giặc trước thì "oánh... nhau... trước", không nhất thiết chờ anh kia! Hoặc có thể, ba anh cùng một lúc xúm lại "oánh... hội... đồng" tức Đẳng vô gián duyên! Các ví dụ minh họa như sau:
a) Chánh Tư Duy là cơ sở để cho ra Chánh Tinh tấn và Chánh Kiến. Trường hợp này Chánh Tư Duy là nhân. Ví dụ: Như một người bị lạc giữa sa mạc, khát nước đến muốn chết. Người này bèn suy nghĩ, "ở đâu có cây cối mọc, ở đó có nước". Với suy nghĩ này, người ấy tinh tấn đi tìm chỗ có cây mọc. Và tìm thấy nước! Nước dụ cho Chánh Kiến, suy nghĩ dụ cho Chánh Tư Duy, đi tìm cây xanh dụ cho Chánh Tinh Tấn! Trong tu tập, đây là hình ảnh của đệ tử Ngài Xá Lợi Phất khởi đầu bằng Chánh Tư Duy để chứng Đạo Quả!
b) Chánh Tinh Tấn là cơ sở để cho ra Chánh Tư Duy và Chánh Kiến. Trường hợp này Chánh Tinh Tấn là nhân. Ví dụ: Như người đi đường hiểm trở, bị ăn cướp chặn bắt. Người này tinh tấn chống lại bọn cướp, sau khi bọn cướp bỏ chạy, người này suy nghĩ, "con đường này có giặc cướp, nhiều hiểm hoạ, ta phải đi con đường khác". Nhờ tinh tấn đánh tan bọn cướp, sau đó đi con đường bình yên, người này đến nơi an toàn. Chống trả bọn cướp dụ cho Chánh Tinh Tấn, suy nghĩ con đường khác dụ cho Chánh Tư Duy, đến nơi an toàn dụ cho Chánh Kiến. Trong tu tập, đây là hình ảnh của vị Bà La Môn tinh tấn đi tìm Phật, nhờ tinh tấn này mà vị đó đắc quả A Na Hàm (vì chưa xuất gia)!
c) Chánh Kiến là cơ sở để cho ra Chánh Tư Duy và Chánh Tinh Tấn. Trường hợp này, Chánh Kiến là nhân. Ví dụ: Như một người nghèo, trong lúc đói kém, bỗng dưng gặp khối vàng lớn. Đứng trước khối vàng, người này suy nghĩ cách thức đem khối vàng về nhà an toàn. Và người này tinh tấn, lần lượt đưa khối vàng về nhà, nhờ thế được giàu sang. Khối vàng dụ cho Chánh Kiến, suy nghĩ cách đem về dụ cho Chánh Tư Duy, nỗ lực đem vàng về nhà dụ cho Chánh Tinh Tấn. Trong tu tập, đây là hình ảnh của A Nan nhìn thấy vẻ đẹp của Phật, trong lòng an vui, xuất gia tu hành!
d) Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Tinh Tấn cùng xuất hiện đồng thời (Đẳng vô gián duyên). Ví dụ: Lục Tổ Huệ Năng nhờ nghe kinh Kim Cang khi đang trên đường gánh củi, hoắt nhiên Giác Ngộ. Cùng một lúc thực hiện các phần việc mà trước đây chưa từng suy nghĩ đến, đó là bỏ nghề tiều phu, xin 30 lạng bạc cấp dưỡng mẹ già, và bỏ nhà đến Huỳnh Mai. Một người hoắt nhiên Giác Ngộ, từ đó về sau mọi hành tác đều chân chánh, đối với vị ấy không có Chánh nào trước Chánh nào sau. Giống như cây đèn đã thắp sáng, mười phương đồng được chiếu. Đây là ba anh, có thể là tám anh của Bát Chánh cùng "đánh hội đồng" một mục tiêu.
Trả lời_TCTT 2016/12p − Câu 3: ... Con ơi! Con suy nghĩ như vậy là trật lất… "gồi"! (gồi: ≈ rồi, tiếng Nam Bộ VN)
- Tư duy (tiếng Hán Việt) là cách nói khác của suy nghĩ (tiếng Việt). Tiếng Hán Việt “Chánh Tư Duy”, tiếng Việt dịch là “suy nghĩ chân chánh”, giống như Bộ Hành là đi bộ, Cộng Hoà là cùng chung, Ưu Bi là lo sợ, Hoan Hỷ là vui mừng, v.v... Thậm chí mỗi miền cũng nói khác. Cái muỗng (miền Nam) và cái thìa (miền Bắc), cái giường (miền Nam) và cái chõng (miền Trung), cái chân (miền Bắc) và cái giò (miền Trung), cái chăn (miền Bắc) cái mền (miền Nam), v.v...
- Hữu vi hay vô vi là tự tâm này, chứ chẳng phải do nghĩ suy.
- Suy nghĩ hay tư duy là chức năng tự nhiên của Ý căn, tự thân nó không tánh (chứ không phải Tánh Không!).
- Kết quả của tư duy (hay nghĩ suy) gọi là "Pháp". Vì thế, có pháp hữu pháp vô, pháp cấu pháp tịnh, pháp thế gian pháp xuất thế, pháp phược (cột trói) pháp giải (mở), pháp cộng pháp ly, pháp hiền (trí) pháp ngu, phàm phu pháp, thánh pháp...
Trên đây là kiến giải của mình về ba câu hỏi, không biết có giúp Lý Ngộ Tuấn và HĐ thoả mãn hay không? (30-08-2016)
Luận Về Tầng Nghĩa Của Tứ Đế (Tiếp Theo)
Hy vọng bài viết ngắn này giúp các HĐ hiểu thêm điều gì đó về chữ Ngã, một từ ngữ có ý nghĩa và tính chất cao quý của Phật đạo. Mà chỉ có Thế Tôn của chúng ta mới xứng đáng được xưng tán bằng từ ngữ tốt đẹp này.

Các bạn!... Sáng nay, mình nhận được bài viết của HĐ có đề cập đến câu nói của các Bồ Tát: "Thế Tôn! Lạ lùng thay, chúng con lưu chuyển thọ vô lượng sanh tử, thường bị Vô Ngã làm mê lầm". Trong bài viết, HĐ cũng đã lý giải ý nghĩa câu nói này.
Để làm sáng tỏ các tầng nghĩa của câu nói trên, mình có vài câu hỏi, Rất mong, nhận được những kiến giải thú vị!
CÂU HỎI TCTT 2016/11 – Về “Tầng Nghĩa Của Tứ Đế” (tiếp theo)
1) Vì sao Tứ Pháp Ấn của Nhị Thừa (Vô Thường, Khổ, Không, Vô Ngã) có đề cập đến Vô Ngã, coi Vô Ngã như một yêu cầu bắt buộc để thành tựu Đạo Quả của Thanh Văn. Còn Tam Pháp Ấn của Bồ Tát (Không, Vô Tướng, Vô Tác) lại không đề cập đến Vô Ngã?
2) Chữ Ngã người đời thường đề cập (cái tôi, cái ta, ngã mạn, v.v...), có giống ý nghĩa của chữ Ngã trong bốn đức Thường, Ngã, Lạc, Tịnh của Đại Niết Bàn hay không? Xin các bạn cho biết, ý nghĩa của hai chữ Ngã này khác nhau như thế nào? (13-08-2016)
GỢI Ý TCTT 2016/11 − Về “Tầng Nghĩa Của Tứ Đế” (tiếp theo)
Về hai chữ “Ngã” và “Vô Ngã”, xin gửi thêm tư liệu tham khảo đến các bạn, phần trích kinh Samyutta Nikāya và kinh Đại Niết Bàn có đề cập đến nghĩa lý của hai pháp này. (14-08-2016)
Trích Kinh Saṃyutta Nikāya 22.59; (TK. Thích Minh Châu dịch).
"1) Một thời Thế Tôn ở Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Isìpatana (Chư Tiên đọa xứ), vườn Lộc Uyển.
2) Ở đây Thế Tôn nói với đoàn năm vị Tỉ-khâu: "Này các Tỉ-khâu".
− "Thưa vâng bạch Thế Tôn". Các Tỉ-khâu ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
3) Sắc, này các Tỉ-khâu (Tỳ kheo), là vô ngã. Này các Tỉ-khâu, nếu sắc là ngã, thời sắc không thể đi đến bệnh hoạn và có thể được các sắc như sau: "Mong rằng sắc của tôi là như thế này! Mong rằng sắc của tôi chẳng phải như thế này!"
4) Và này các Tỉ-khâu, vì sắc là vô ngã. Do vậy sắc đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các sắc: "Mong rằng sắc của tôi như thế này! Mong rằng sắc của tôi chẳng phải như thế này!"
5) Thọ, này các Tỉ-khâu, là vô ngã. Này các Tỉ-khâu, nếu thọ là ngã, thời thọ không thể đi đến bệnh hoạn, và có thể được thọ như sau: "Mong rằng thọ của tôi như thế này! Mong rằng thọ của tôi chẳng phải như thế này!"
6) Và này các Tỉ-khâu, vì thọ là vô ngã. Do vậy, thọ đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các thọ: "Mong rằng thọ của tôi như thế này! Mong rằng thọ của tôi chẳng phải như thế này!"
7) Tưởng là vô ngã...
8) Các hành là vô ngã, này các Tỉ-khâu, nếu các hành là ngã, thời các hành không thể đi đến bệnh hoạn và có thể được các hành như sau: "Mong rằng các hành của tôi như thế này! Mong rằng các hành của tôi chẳng phải như thế này!"
9) Và này các Tỉ-khâu, vì các hành là vô ngã. Do vậy, các hành đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các hành: "Mong rằng các hành của tôi như thế này! Mong rằng các hành của tôi không phải như thế này!"
10) Thức là vô ngã, này các Tỉ-khâu, nếu thức là ngã, thời thức không thể đi đến bệnh hoạn, và có thể có được thức như sau: "Mong rằng thức của tôi như thế này! Mong rằng thức của tôi chẳng phải như thế này!"
11) Và này các Tỉ-khâu, vì thức là vô ngã. Do vậy, thức đi đến bệnh hoạn, và không có thể có được thức: "Mong rằng thức của tôi như thế này! Mong rằng thức của tôi chẳng phải như thế này!"
12) Này các Tỉ-khâu, các Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn!
Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
− Là khổ, bạch Thế Tôn.
Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?"
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
13) Thọ là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn.
Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
− Là khổ, bạch Thế Tôn.
Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?"
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
14) Tưởng là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn.
Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
− Là khổ, bạch Thế Tôn.
Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?"
− Thưa không, bạch Thế Tôn
15) Các hành là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn.
Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
− Là khổ, bạch Thế Tôn.
Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?"
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
16) Thức là thường hay vô thường?
− Là vô thường, bạch Thế Tôn.
Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
− Là khổ, bạch Thế Tôn.
Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?"
− Thưa không, bạch Thế Tôn.
17) Do vậy, này các Tỉ-khâu, phàm sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi."
18) Phàm thọ gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả thọ cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi."
19) Phàm tưởng gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả tưởng cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi."
20) Phàm các hành gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả các hành cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi."
21) Phàm thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả thức cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi."
22) Thấy vậy, này các Tỉ-khâu, bậc Đa văn Thánh đệ tử yếm li đối với sắc, yếm li đối với thọ, yếm li đối với tưởng, yếm li đối với các hành, yếm li đối với thức. Do yếm li, vị ấy li tham. Do li tham, vị ấy giải thoát.
Trong sự giải thoát, trí khởi lên: "Ta đã được giải thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa."
23) Thế Tôn thuyết như vậy. Nhóm năm vị Tỉ-khâu hoan hỉ, tín thọ lời Thế Tôn dạy. Trong khi lời dạy này được nói lên, tâm của nhóm năm vị Tỉ-khâu được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ"
Trích kinh ĐẠI NIẾT BÀN (HT Thích Trí Tịnh dịch)
"... Nầy Thiện-nam-tử! Đức Như-Lai cũng vậy. Vì độ tất cả chúng sanh nên dạy pháp vô ngã. Nhờ biết rõ pháp vô ngã, nên tâm dứt hẳn tâm chấp ngã, được nhập Niết- bàn. Vì trừ những vọng kiến trong đời nên thị hiện pháp xuất thế gian. Lại chỉ rõ quan niệm chấp ngã của người đời là hư vọng chẳng phải chơn thật, nên chỉ rõ pháp vô ngã để được thân thanh tịnh.
Như cô gái kia chữa bịnh cho con, lấy chất đắng thoa trên vú. Cũng vậy, Đức Như-Lai vì dạy tu pháp không nên nói các pháp đều không có ngã.
Như cô gái kia rửa sạch vú rồi kêu con đến bú. Cũng vậy, đức Phật hôm nay nói Như-Lai tạng. Vì thế nên các Tỳ-kheo chớ sanh lòng kinh sợ… Như đứa trẻ kia nghe mẹ kêu lần lần đến bú. Cũng vậy, các Tỳ kheo nên tự phân biệt Như-Lai tạng, chẳng được, chẳng có.
Ca-Diếp Bồ-Tát bạch Phật: “Thế-Tôn! Thiệt không có ngã. Vì lúc đứa trẻ mới sanh không hiểu biết. Nếu là có ngã thời ngày mới sanh lẽ ra liền có hiểu biết. Do nghĩa nầy nên định biết là không ngã.
Nếu quyết định có ngã, sau khi đã thọ sanh, lẽ ra không chết mất. Nếu tất cả chúng sanh đều có Phật tánh là thường trụ, lẽ ra không hư hoại. Nếu là không hư hoại, sao lại có Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Tỳ-xá, Thủ-đà, Chiên-đà-la, Súc sanh, v.v… sai biệt nhau. Hiện nay thấy các thứ nghiệp duyên chẳng đồng, các loài đều riêng khác. Nếu quyết định có ngã, thời tất cả chúng sanh lẽ ra không hơn kém.
Do những nghĩa trên đây nên định biết Phật tánh chẳng phải là pháp thường trụ… Nếu cho rằng Phật tánh quyết định là thường trụ, thời do duyên gì lại nói có sát sanh, trộm cướp, tà dâm, lưỡng thiệt, ác khẩu. Vọng ngôn, ỷ ngữ, tham lam, sân khuể, tà kiến.
Nếu ngã tánh là thường trụ, cớ gì sau khi uống rượu lại say mê… Nếu ngã tánh là thường trụ, thời kẻ mù lẽ ra thấy sắc, kẻ điếc lẽ ra nghe tiếng, kẻ câm lẽ ra nói được, người què lẽ ra có thể đi… Nếu ngã tánh là thường trụ, lẽ ra chẳng còn tránh hầm lửa, nước lụt, thuốc độc, dao gươm, kẻ ác, thú dữ... Nếu ngã là thường trụ, thời những việc đã từng nghe thấy lẽ ra chẳng quên. Nếu chẳng quên cớ gì lại nói: tôi đã từng thấy người nầy ở chỗ đó…
Nếu ngã là thường, thời lẽ ra chẳng nên có niên thiếu, tráng niên, lão thành, v.v... Lẽ ra chẳng nên có thạnh, suy, mạnh, yếu cùng nhớ đến việc đã qua… Nếu ngã là thường, thời nó ở chỗ nào? Nó ở trong nước mũi, nước miếng, hay ở trong các màu sắc xanh, vàng, đỏ, trắng ư! … Nếu ngã là thường, lẽ ra nó phải khắp trong thân, như dầu mè không chỗ hở trống. Nếu như vậy lúc chặt đứt thân thể, thời ngã đó lẽ ra cũng bị đứt!”
Phật bảo Ca-Diếp Bồ-tát: “Thiện-nam-tử! Ví như nhà vua có đại lực sĩ. Trên trán lực sĩ gắn hột châu kim cương. Lực sĩ nầy cùng người đánh vật. Hột châu kim cương bị đầu kẻ địch đụng lún khuất trong da, Nơi đó thành vết thương. Liền nhờ y sĩ cứu chữa. Y sĩ tài giỏi xem vết thương biết là do hột châu lún vào ở khuất dưới da. Y sĩ hỏi lực-sĩ: “Châu kim cương trên trán của ông đâu rồi?”
Lực sĩ kinh hãi đáp: “Hột châu trên trán của tôi đã mất rồi ư? Nó rơi rớt ở đâu?” Nói xong lo rầu khóc lóc… Y sĩ an ủi: “Nay ông chẳng nên buồn khổ. Vì lúc ông đánh vật, hột châu lún vào ở ẩn dưới da, bóng nó hiện ra nơi ngoài. Lúc các ông vật đánh nhau, lòng quá giận tức, nên hột châu lún vào trán mà chẳng hay biết”.
Lực sĩ chẳng tin lời của y sĩ. Nghĩ rằng: Nếu hột châu ở dưới da, máu mủ chảy tuôn cớ sao hột châu chẳng trồi lên. Còn nếu hột châu ở trong gân, lẽ ra không thể thấy. Hoặc giả y sĩ gạt gẫm ta chăng? Bấy giờ y sĩ cầm gương soi trên mặt lực sĩ. Hột châu kim cương hiện ánh sáng trong gương. Lực sĩ nhìn thấy, ngạc nhiên mừng rỡ.
Nầy Thiện-nam-tử! Tất cả chúng sanh cũng như vậy. Vì không được gần gũi bực thiện-tri-thức, dầu có Phật tánh mà đều không nhận thấy. Bị tham, sân, si che đậy. Vì thế nên đọa địa ngục, súc sanh, ngạ quỹ, A-tu-la, Chiên-đà-la, Sát- đế-lợi, Bà-la-môn, Tỳ-xá, Thủ-đà. Sanh vào trong các dòng đó, nhơn tâm tưởng mà gây ra các thứ nghiệp duyên. Dầu được thân người, nhưng phải điếc, đui, câm, ngọng, què, thọt, vô trí. Thọ các quả báo trong hai mươi lăm cõi. Vì tham, sân, si, che lấp bổn tâm, nên chẳng biết Phật tánh. Như lực sĩ kia hột châu vẫn ở trong thân mà hô đã mất.
Cũng vậy, chúng sanh chẳng biết gần gũi thiện-tri-thức, chẳng biết bảo tạng Như- Lai, nên tu học vô ngã. Như hạng chẳng phải bực Thánh, dầu nói là có ngã, nhưng lại chẳng biết chơn tánh của ngã... Hàng đệ tử của ta cũng giống như vậy, vì chẳng biết gần gũi bực thiện-tri- thức, nên tu học vô ngã mà chẳng biết chỗ thật của vô ngã. Còn chẳng tự biết chơn tánh của vô ngã, huống lại có thể biết chơn tánh của ngã.
Nầy Thiện-nam-tử! Đức Như-Lai nói các chúng sanh đều có Phật tánh, ví như y sĩ chỉ hột châu kim cương cho lực sĩ, các chúng sanh nầy bị vô lượng phiền não che đậy chẳng biết Phật tánh. Nếu dứt hết phiền não, bây giờ mới đặng chứng biết rõ ràng. Như lực sĩ thấy hạt châu trong gương sáng… Tạng Như-Lai vô lượng chẳng thể nghĩ bàn như vậy.
Nầy Thiện-nam-tử! Ví như núi Tuyết có một vị thuốc tên là “Dược vị”. Thuốc đó rất ngọt, ở dưới lùm bụi rậm, người không thấy được. Có người nghe mùi thuốc liền biết chỗ đó chắc có thuốc ấy. Thuở trước có vua Chuyển Luân ở nơi núi Tuyết nầy đặt những bộng cây để tiếp lấy thuốc. Lúc thuốc đó chín thời từ đất chảy ra chứa vào trong bọng cây, mùi vị thuốc ngọt ngon. Sau khi Vua đã băng, thời thuốc đó hoặc chua, hoặc mặn, hoặc ngọt, hoặc đắng, hoặc cay, hoặc lạt, tùy địa phương của thuốc sanh ra mùi vị đều khác nhau. Nhưng vị thật của thuốc đọng ở nơi núi như mặt trăng tròn. Người phàm ít phước dầu có đào xới chỉ luống khốn khổ mà không thể được. Lúc có Thánh-Vương ra đời, vì phước lớn của Vua, liền đặng vị thật của thuốc.
Nầy Thiện-nam-tử! Mùi vị tạng Như-lai cũng như vậy, bị các rừng bụi phiền não che đậy, chúng sanh mê mờ chẳng thấy được… “Dược vị” trên kia dụ cho Phật tánh. Bởi các phiền não nên sanh ra các thứ mùi vị sai khác như là địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, Trời, người, nam, nữ, Sát-lợi, Bà-la-môn, Tỳ-xá, Thủ-đà, v.v...
Phật tánh hùng mãnh không thể hư hoại, vì thế nên không ai có thể sát hại được. Nếu sát hại được thời Phật tánh dứt, nhưng Phật tánh trọn không thể dứt, vì không bao giờ tánh có thể dứt được.
Như tánh của ngã tức là tạng Như-Lai không có gì phá hoại, đốt cháy được tánh ấy. Dầu không có thể phá hoại, nhưng chẳng thấy được. Nếu chứng đặng vô thượng chánh đẳng chánh giác mới thấy được tánh. Do cớ đó nên không ai có thể sát hại được.
Ca-Diếp Bồ-Tát bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Nếu không ai sát hại được, thời lẽ ra không có nghiệp bất thiện?”
Phật nói: "Nầy Ca-Diếp! Thiệt có sát sanh. Vì Phật tánh của chúng sanh ở trong thân ngũ ấm, nếu sát hại ngũ ấm, gọi là sát sanh, đã có sát sanh, thời đọa ác thú… Do nhơn duyên của nghiệp mà có Sát-lợi, Bà-la-môn, Tỳ-xá, Thủ- đà, Chiên-đà- la, nam-nữ, v.v... hai mươi lăm cõi sai khác lưu chuyển trong dòng sinh tử... Người chẳng phải bực thánh vọng chấp tướng của ngã là lớn hay nhỏ, bằng hột cỏ, hoặc bằng hột gạo, hột đậu, nhẫn đến bằng ngón tay cái. Họ vọng sanh các thứ tưởng tượng như vậy. Tướng của vọng tưởng không có chơn thật… Tướng ngã xuất thế gian, gọi là Phật tánh. Thấy được ngã nầy, gọi là rất lành.
Nầy Thiện-nam-tử! Ví như có người giỏi biết kho báu dưới đất, liền lấy cuốc bén đào đất, thẳng đến đá bàn, cát, sỏi, có thể đào qua không khó, chỉ đến lớp kim cương thời không thể xoi thấu… Luận Về chất kim cương, tất cả dao búa không thể làm hư bể. Phật tánh[[1]] ẩn chứa trong chúng sanh cũng lại như vậy, tất cả nhà biện luận, Thiên-ma, Ba-tuần, cho đến các hàng Trời, người, không thể phá hoại được..."
* * * * *
Các bạn! ... Mình có cuộc trao đổi ngắn với các HĐ, đề tài được đưa ra thảo luận, đó là ý nghĩa của chữ Ngã trong Phật đạo.
Trong Phật đạo, chữ Ngã được chỉ cho chân lý và những gì thường hằng, bất biến. Ngã là Như Lai Bảo Tạng, là Chơn Thiệt Nghĩa, là Quyết Định Nghĩa. Vì thế, trong kinh Đại Niết Bàn Phật dạy:
"Phật Tánh là Ngã, Ngã là Phật Tánh". Hay "Như Lai là Ngã"
Ngày xưa (và có thể là cả hôm nay), người ta nhầm lẫn rằng, Thượng Đế là Ngã (Thượng Đế bất biến), Phạm Thiên là Ngã. Thậm chí các nhà ngoại đạo (và cả người không Giác Ngộ) còn cho rằng, có thể tu luyện để ngũ ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) trở thành bất diệt… Chính vì điều này, để ngăn chặn những nhận thức sai lầm như thế, Tứ Pháp Ấn của Nhị Thừa có Pháp Ấn Vô Ngã. Vì rằng, Nhị Thừa chủ trương y nơi ngũ ấm mà tu tập có thể thấy được Đạo Quả! Như Lai tuyên “Tứ Pháp Ấn” để Nhị Thừa thấy được bản chất của ngũ ấm, chừng ấy tu hành mới không rơi vào lối tẻ của Ngoại Đạo!
Khi Thế Tôn ra đời, Ngài tuyên thuyết: "Hết thảy hữu vi pháp, đều vô thường biến hoại, không bền chắc". Và Phật cũng chứng minh rằng, Thượng Đế hay Phạm Thiên cũng chỉ là một hữu vi pháp. Vì thế, tất cả những thứ này đều Vô Ngã. Trong bốn đức Thường, Ngã, Lạc, Tịnh của Đại Niết Bàn, có hai đức, người tu hành khi Giác Ngộ có thể thấy được đó là Lạc và Tịnh, viên mãn Diệt Đế sẽ thân chứng một phần hai đức này. Còn hai đức Thường và Ngã, chỉ đến bao giờ vị tu hành này viên mãn Đạo Đế, có nghĩa phải thấy Phật Tánh, thì hai nghĩa này mới xuất hiện. Trong quá trình làm công hạnh (Như Lai Địa), nghĩa Ngã sẽ viên mãn!
Tóm lại, chữ Ngã trong Phật đạo không có mối liên hệ nhiều đến chữ Ngã người đời thường nói. Cái ta, cái tôi, ngã mạn, v.v... mang ý nghĩa chữ Mạn nhiều hơn. Ví dụ: Ngã mạn, Tăng thượng mạn, Ty liệt mạn, mạn quá mạn. Đều không giống ý nghĩa của chữ Ngã trong Phật đạo.
Hy vọng bài viết ngắn này giúp các HĐ hiểu thêm điều gì đó về chữ Ngã, một từ ngữ có ý nghĩa và tính chất cao quý của Phật đạo. Mà chỉ có Thế Tôn của chúng ta mới xứng đáng được xưng tán bằng từ ngữ tốt đẹp này. (15-08-2016)
"Ngã là Như lai, Như Lai là Ngã"
---------------------------------------
[[1]] vì không phá hoại được nên là thường, là ngã!!! (Kinh Đại Niết Bàn, HT. Thích Trí Tịnh)
Các Cảnh Giới Người Tu Phật Trải Qua Trong Kinh Tạng Nhị Thừa (Nikaya)

Các bạn! ... Mình có buổi trao đổi Phật Pháp với HĐ. Đề tài được đưa ra là, từ bắt đầu dứt Tập đến rốt ráo chứng Diệt (từ sơ ngộ đến bất động) người tu hành phải trải qua những cảnh giới nào.
Mục đích của việc triển khai này, giúp các bạn dần dần tập làm quen với các cảnh giới từ thấp lên cao, điều này sẽ giúp các HĐ tự đánh giá chính mình và làm cơ sở giúp người trong vị lai. Hiểu rõ các quả vị cũng như các cung đường tu tập trong Phật đạo là điều bắt buộc của Đạo Đế, đây là tiền đề để chúng ta thành tựu các Tam Muội Môn và các Giải Thoát Môn. Các bạn đọc và chiêm nghiệm:
- Đoạn trích Kinh Trung Bộ, Kinh 118. (HT. Thích Minh Châu dịch Việt): “… Có những Tỳ-khưu là những vị A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn trừ, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, gánh nặng đã đặt xuống, mục đích đã thành đạt, hữu kiết sử đã được đoạn tận, được giải thoát nhờ chánh trí.
Có những Tỳ-khưu là những vị Bất lai (A na hàm), đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, từ ở đấy được nhập Niết-bàn, không còn phải trở lại đời này nữa.
Có những Tỳ-khưu là những vị Nhất lai (Tư đà hàm), đã đoạn trừ ba kiết sử, đã làm cho muội lược tham, sân, si, sau khi sanh vào đời này một lần nữa, sẽ đoạn tận khổ đau.
Có những Tỳ-khưu là những vị Dự lưu (Tu đà hườn), đã đoạn trừ ba kiết sử (giới thủ, thân kiến và nghi), không còn đọa vào ác đạo, chắc chắn sẽ được giác ngộ”. (Trích Kinh Trung bộ; Kinh 118. HT. Thích Minh Châu dịch Pali-Việt). (15-07-2016)
Các bạn! ... Mình đã chuyển đến các bạn một đoạn của Kinh Trung Bộ. Hôm nay, một số câu hỏi về nội dung kinh này được gởi đến HĐ. Rất mong, nhận được những trả lời thấu đáo từ các bạn.
- CÂU HỎI TCTT 2016/09 − Về Cảnh Giới Của Nhị Thừa
1) Theo nội dung đoạn Kinh Trung Bộ đã viết: "Có những Tỳ-khưu là những vị Dự lưu (Tu đà hườn), đã đoạn trừ ba kiết sử (giới thủ kiến, thân kiến và nghi), không còn đọa vào ác đạo, chắc chắn sẽ được giác ngộ (Diệt đế) …”. Xin hỏi: Vì sao một Tu đà hườn chỉ đoạn ba kiết sử (giới thủ kiến, thân kiến và nghi) nên được sơ ngộ, chắc chắn vị này sẽ giác ngộ triệt để, để vào Diệt đế ở vị lai. Mà không phải tham, sân, si mới là kiết sử quan trọng cần đoạn trừ đầu tiên để được sơ ngộ (của một Tu đà hườn)?
2) Vì sao, một Tư đà hàm (Nhất lai) sau khi đã đoạn ba kiết sử ở sơ ngộ là thân kiến, giới thủ kiến và nghi. Chỉ cần làm cho muội lược (mỏng nhẹ) tham, sân, si là có thể "đoạn tận khổ đau" sau một đời sanh trở lại. Mà kinh không nói phải "đoạn tận tham, sân, si" thì sau một đời sanh trở lại sẽ đoạn tận khổ đau?
3) Một vị A la hán "được giải thoát nhờ chánh trí". Xin hỏi: Nếu một người, chỉ chuyên dụng công tu hành mà không có chánh trí. Người này có thể thành tựu giải thoát hay không? Xin đưa ra ví dụ để minh chứng cho lập luận của bạn!
4) Chữ "chánh trí" trong trường hợp này (thuộc câu hỏi 3) gồm những hiểu biết nào? (21-07-2016)
GỢI Ý... TCTT 2016/09 − Về Cảnh Giới Của Nhị Thừa
Hầu hết trả lời của HĐ đã giải quyết được ba câu hỏi đầu, riêng câu thứ tư, gần như mọi người vẫn còn bế tắc. Theo quan sát cá nhân, phần lớn HĐ hiểu được vấn đề, chỉ chưa quen cách quan sát để hình thành cở sở lý luận. Một số HĐ cho rằng các câu hỏi đợt này rất khó... Nhưng sau một vài gợi ý, các HĐ này đều giải quyết thoả đáng các câu hỏi. Điều này cho thấy rằng, chúng ta chưa quen cách quan sát để hình thành cơ sở lý luận như đã nói ở trên là đúng đắn. Mình nghĩ, chỉ cần có thêm thời gian để quen dần với cách nhìn sự việc rồi đưa ra cơ sở lý luận, nhất định các câu hỏi ở dạng này sẽ không còn khó khăn với Các bạn! ...
Kỹ năng phân tích kinh điển rất quan trọng, nó là cốt lõi của Đạo Đế... Vì rằng, Đạo Đế chính là thấu suốt kinh điển, nói khác hơn Đạo Đế giúp người tu hành "ngộ nhập Phật Tri Kiến". Chưa thấu suốt kinh điển, chưa hiểu hết ý nghĩa của lời Phật dạy, chưa thấm nhuần Đạo Đế thì chưa thể giúp người một cách tốt nhất! Muốn thành tựu điều này, không có con đường nào khác hơn là tập quan sát, tư duy để giải mã ý nghĩa kinh điển...
Có lần mình đã viết: "Giống như việc học ở đời. Học sinh nào siêng năng làm bài tập, quyết tâm giải những bài toán khó, nhất định học sinh này sẽ trở thành những học sinh giỏi. Và ngược lại! Hy vọng trong thời gian tới, với cách học này, kinh điển sẽ không thể làm khó HĐ chúng ta được nữa! (25-07-2016)
Các bạn! ... Đạo Phật ra đời nhằm giúp chúng sanh thay đổi nhận thức, khi một hữu tình nhận thức rõ bản chất của các pháp, không phát sinh những kiến chấp sai lầm, tâm thức vị hữu tình này không bị mê mờ (vô minh), ba độc tham sân si sẽ không thể hiện khởi. Điều này, trong kinh Phật ví “kiết sử” của chúng sanh giống như vết thương do chuột độc cắn, nếu không đoạn trừ tận gốc độc tố, nguy cơ vết thương sẽ tái phát, dẫn đến tử vong! Độc tố ở đây dụ cho nhận thức, vết thương dụ cho mười kiết sử. Đây là lý do vì sao ngày xưa, ngoại đạo giữ giới và tu thiền định quyết liệt, nhưng không có trí tuệ, đành phải "pó tay", chờ Thế Tôn ra đời!
Chính vì lẽ này, người tu hành muốn được dự phần vào dòng Thánh, thể nhập quả vị đầu tiên của Phật đạo là Dự Lưu (Tu đà hườn), người này phải thay đổi căn bản nhận thức.
Có ba thứ nhận thức quan trọng cần thay đổi trước nhất để làm nên một Tu đà hườn, đó là thân kiến, giới thủ và nghi, nếu chưa giải quyết được ba điều này, sẽ giống như chiếc thuyền bị thủng và không có bánh lái, sẽ không thể đưa người sang sông!
Thân kiến: Thân là nguyên nhân chính yếu cột trói, không cho chúng sanh thoát khỏi Dục giới (cõi lấy tham dục làm đời sống). Phàm ở đời, cái gì quý nhất, khi mất đi người ta sẽ tiếc nuối và tìm kiếm cho bằng được… Vì thế, những ai coi trọng, xem thân là vật quý, khi mất thân, người này sẽ quyết tâm tìm thân, đây là lý do vì sao chúng sanh có đời sau và mọi hữu tình đều phải mang thân rồi khổ sở vì nó... Chính vì lẽ này, một hữu tình muốn chứng nhập Tu đà hườn quả, phải có chánh kiến về thân, hay nói khác đi, phải đoạn trừ những kiến chấp về thân, Phật đạo gọi là đoạn thân kiến! Thân kiến chưa đoạn trừ, giống như chiếc thuyền bị thủng chính giữa, nếu chưa bít lỗ thủng này mà cố đưa nó ra sông rạch, vị tu hành này coi như đã làm đơn xin gia nhập "đại gia đình Hà Bá"!
Giới thủ: Giới thủ gồm hai phần, chấp chặt cảnh giới (giới thủ kiến) và chấp chặt giới cấm (giới cấm thủ kiến).
- Cảnh giới chúng ta đang sống, cảnh giới chúng ta tu tập có được, đều do tâm thức biến hiện. Đời và đạo chỉ là hai mặt đối lập của nhận thức. Nếu khư khư ôm giữ đời hoặc đạo, đời là thế này, đạo là phải thế kia! Chấp chặt những định kiến như vậy trong lòng, không biết tự xả, sẽ bị các định kiến này cột trói và nhấn chìm. Giống như người muốn sang sông, từ bỏ tảng đá đời, để ôm vào lòng khối vàng đạo. Nhất định người này sẽ bị một trong hai thứ nói trên nhấn chìm khi vừa đặt chân xuống nước!
- Giới của Phật đạo như con mắt sáng (kinh Phạm Võng), dùng để ngăn lỗi ác. Người tu hành không biết điều này, chấp chặt, mong tìm kiếm cứu cánh từ nó. Sẽ chẳng khác gì ngoại đạo ngày xưa, ăn củ rễ, nuốt nước bọt, ngồi chồm hổm, ăn một thứ suốt đời… Mong rằng “những gìn giữ này sẽ cho ta cứu cánh”! Kiên cố kiểu này, giống như người lật úp chiếc thuyền mong rằng nước sẽ không vào, rồi cỡi trên lưng nó, như người ta cỡi con trâu, để đòi... sang... sông!.. Chiếc thuyền chứ không phải... con... trâu!
Nghi: Khi người tu hành nhận thức rằng, thanh tịnh tự thân chẳng do thứ gì làm ra. Chỉ cần "không chạy theo dòng đời", lập tức an vui sẽ hiện. Nhận thức được như thế, người này tinh tấn sống với đời sống thiểu dục tri túc (ít muốn, biết đủ), bằng lòng với hiện tại (những gì đang có), quay về với tự tâm. Giống như người bơi thuyền sang sông, giữ chặt bánh lái, cứ một đường thẳng tiến, sau bảy lần khua mái chèo, bờ bên kia sẽ hiện! Đã thấy bờ bên kia, cho dù thuyền chưa đến nơi, nhưng nghi ngờ trong lòng vị này chắc chắn không còn nữa!
Trong mười kiết sử, một Tu đà hườn đã đạt được ba, còn lại bảy thứ kiết sử nữa phải lần lượt vượt qua. Kinh gọi là còn bảy đời, tức là bảy lần mê muội của kiết sử cần phải đoạn dứt mới thành tựu giải thoát… Chữ đời ở đây, phải hiểu là một lần ngu muội (vô minh do kiết sử che mờ), không phải bảy lần chết đi sống lại! Để dễ nhớ, mình có mấy câu thơ, phỏng theo bài sấm của Cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: "Mười phần còn bảy hết ba, còn hai hết một mới ra A na hàm"....
Các bạn! ...Đạo Phật là Đạo Giác Ngộ, là Đạo Trí Tuệ! "Duy Tuệ Thị Nghiệp", Phật đã dạy như thế! Giống như người đi buôn, muốn kiếm lời, muốn khỏi bị phá sản. Người này phải biết rõ "trong hiện tại, ta phải mua bán thứ gì mới có lời", nếu không biết thị trường cần gì. Cầm bằng sẽ trở thành "anh buôn vịt trời"!
Với nguyên lý này: − Hết thân kiến, dứt tham! − Hết biên kiến, dứt sân! − Hết kiến thủ, dứt si! Đây là lý do vì sao Phật đạo không chủ trương coi tham, sân, si như mối đe doạ nguy hiểm cần đoạn trừ đầu tiên, như tinh thần đoạn Kinh Trung Bộ đã dẫn ở email trước mà chỉ khi nào thành tựu A na hàm (Bất Lai), không cần đoạn trừ, tham, sân, si của năm hạ phần kiết sử cũng tự dứt… Giống như người đã chữa lành con mắt, nhất định người này lần lượt sẽ thấy được mọi vật chung quanh! (26-07-2016)
Có lẽ đến giờ này, các câu hỏi trong TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ 2016/09 đã được các bạn mổ xẻ đến nơi đến chốn. Xin chuyển đến mọi người, đáp án tiêu biểu để các HĐ tham khảo.
(Tham khảo) CẢM NHẬN TCTT 2016/09 − Cảnh Giới… Nhị Thừa
Cảm Nhận TCTT 2016/09 – Về Cảnh Giới... Nhị Thừa (Lý Thái Đăng)
Kính thưa Thầy! Con xin trả lời các câu hỏi:
"Lửa"−"Củi" trong trường hợp này được ví như 10 kiết sử. Trong đó 3 kiết sử đầu (Tham, Sân, Si) thuộc nhóm độn sử (tạm gọi: lỗi hành vi), là cái biểu hiện bề ngoài giống như sức nóng, như hình tướng của ngọn lửa… Các kiết sử còn lại (Thân kiến, giới cấm thủ kiến, biên kiến, kiến thủ kiến và tà kiến) thuộc nhóm lợi sử (tạm gọi: lỗi nhận thức), là gốc của si mê, là "củi" phát sinh và duy trì ra "lửa”. Vì vậy: Người tu hành nào nhận ra được điều này, đừng ném củi vào nữa thì chắc chắn "củi hết lửa tắt" chấm dứt lửa phiền não, tham, sân, si cũng không còn.
Ứng dụng thành tựu được điều này được coi là Chánh trí.
Người nhận ra được lỗi nhận thức và đoạn trừ ba kiết sử (giới thủ kiến, thân kiến và nghi) có thể ví như người có nhân giải thoát chắc chắn sẽ được giác ngộ (Diệt đế) ở vị lai. Mà “tham, sân, si” không phải là “kiết sử quan trọng” cần đoạn trừ đầu tiên để được sơ ngộ (của một Tu đà hườn). Tiếp tục tinh tấn trên con đường giác ngộ thì sẽ đạt những quả vị tiếp theo tức là (củi yếu thì lửa yếu) mỏng nhẹ tham, sân, si.
Một vị A la hán "được giải thoát nhờ chánh trí", tức là "Củi hết Lửa tắt”. Nếu một người, chỉ chuyên dụng công tu hành mà không có chánh trí. Không nhận ra đâu là củi, đâu là lửa mà vừa thêm củi vừa "Dụng công" vào ngọn lửa hòng dập tắt lửa thì cũng như đòi "ép cát mà muốn ra dầu", chuyện không thể có được.
Con xin đảnh lễ Thầy ba lễ! Con.
Luận Về Tầng Nghĩa Của Tứ Đế
Trong đợt câu hỏi kỳ này, mình muốn các bạn tìm hiểu thêm một tầng nghĩa nữa của Tứ Đế. Nắm vững tầng nghĩa này, các bạn có thể xây dựng cho bản thân "một cơ sở lý luận vững chắc về Phật đạo"…

Các bạn! ... Để tiếp tục công việc tìm hiểu, và giúp chúng ta lần lượt thể nhập từng cảnh giới một, từ thấp lên cao trong Phật đạo. Vừa rồi, trong Trò Chơi Trí Tuệ 2016/09, mọi người đã nắm vững Tứ Thánh Quả (Tu đà hườn, Tư đà hàm, A na hàm và A la hán). Cũng như biết rõ muốn thành tựu từng quả vị trong Tứ Thánh Quả này, người tu hành phải hội đủ những điều kiện nào.
Thừa thắng xông lên! Lần này, chúng ta lại tiếp tục làm sáng tỏ những gì còn thiếu sót từ "Cảnh Giới Giải Thoát" của Nhị Thừa (một thành tố quan trọng của Diệt Đế). Hiểu rõ cảnh giới này, nhất định các bạn sẽ tự tin xâm nhập, và biết cách làm thế nào để bổ khuyết những thiếu sót trên bước đường tu học, hầu có thể thành tựu "Giải Thoát Bất Động", mau chóng viên mãn Diệt Đế.
Trong đợt câu hỏi kỳ này, mình muốn các bạn tìm hiểu thêm một tầng nghĩa nữa của Tứ Đế. Nắm vững tầng nghĩa này, các bạn có thể xây dựng cho bản thân "một cơ sở lý luận vững chắc về Phật đạo"… Từ đó, các bạn sẽ hình dung ra mối liên hệ mật thiết giữa Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế và Đạo Đế. Hiểu biết này, chính là tiền đề quan trọng để chúng ta đi sâu vào "phần Đạo" của Đạo Đế.
CÂU HỎI TCTT 2016/10 – Luận Về “Tầng Nghĩa Của Tứ Đế”
1) Một vị có Chánh Trí, dứt được mười Kiết Sử, chứng Giải Thoát. Xin các bạn cho biết:
- Vị tu hành này đã viên mãn Diệt Đế hay chưa? Vì sao?
- Nếu vị tu hành này chưa được coi là viên mãn Diệt Đế. Theo bạn, vị này còn thiếu điều gì?
2) Chúng ta đều biết, Phật đạo ra đời nhằm giải quyết tận gốc mọi sự khổ của Khổ Đế bằng ba tầng bậc.
- Dùng Tập Đế, để dứt khổ của phàm phu gọi là diệt khổ Tục đế.
- Dùng Diệt Đế, dứt khổ của Bậc Thánh gọi là diệt khổ Thánh Đế.
- Dùng Đạo đế, để dứt khổ của Bồ Tát gọi là diệt khổ Chân Đế.
Xin hỏi:
- Phàm phu gồm những khổ nào? Làm sao để dứt?
- Bậc Thánh gồm những khổ nào? Làm sao để dứt?
- Bồ Tát gồm những thứ khổ nào? Làm sao để dứt?
Rất mong nhận được những kiến giải lý thú! (03-08-2016)
GỢI Ý TCTT 2016/10 – Luận Về “Tầng Nghĩa Của Tứ Đế”
Phật dạy: "Tứ đế như bốn bậc thang của một cái thang, muốn đến nấc thang thứ hai phải qua nấc thang thứ nhất. Và các nấc thang kia cũng như vậy…". Theo lời dạy này thì, Tứ Đế là quy trình tu tập của Phật đạo không thể đảo ngược được. Có nghĩa rằng, người tu hành phải tuần tự diệt Khổ bằng cách, dứt Tập, chứng Diệt, rồi mới có thể thành tựu Đạo (đế). Và, chúng ta cũng có thể hiểu, đối với một hữu tình, con đường tiến về Vô Thượng Trí lần lượt vượt qua các giai đoạn sau: Chết phàm để Thánh sanh. Chết Thánh để chân lý sanh. Từ chân lý mới có thể ươm mầm trí tuệ để Phật đản sanh. Điều này, kinh gọi là "hai tử và một sanh", tức phải trải qua "Phần đoạn sanh tử" và "Bất tư nghì biến dịch sanh tử" để sau đó vào "Nhất sanh bổ xứ"!
Hy vọng những gợi ý trên, sẽ giúp các bạn có được cái nhìn thấu đáo hơn về hành trình cần phải đi qua của Phật đạo. (03-08-2016)
Nhìn chung, mọi người cơ bản hiểu được tiến trình Tứ Đế cũng như những yêu cầu đặt ra để người tu hành vượt qua và viên mãn từng đế. Thấy được điều căn bản này, coi như là một thành công lớn của HĐ chúng ta. Phần còn lại là thâm nhập cảnh giới và thành tựu các kỹ thuật tu tập, nói nôm na là "Pháp môn vô lượng”, thuộc Đạo Đế, chuyên sâu vào các lĩnh vực như: Các cảnh giới, các Giải Thoát Môn, các Tam Muội Môn, kỹ thuật Khai Thị, kỹ thuật Điều Tâm, kỹ năng Thuyết Pháp, các A Tự Môn, v.v... Những món này đòi hỏi có thời gian học tập, độ thấm nhuần Tâm Tông và thành tựu tự thân! (05-08-2016)
Các bạn! ... Lần này, các HĐ hầu như đã thấy được trình tự của Tứ Đế cũng như mối liên hệ của đế trước với đế sau, và mọi người cũng nhận ra muốn thành tựu từng đế, cần có điều kiện nào.
Hầu hết mọi người đều cho rằng, Khổ Tục Đế có hai món cần phải giải quyết. Đó là "tám món khổ thế gian" và "mười kiết sử". Việc này đã hẳn là như vậy, tám món khổ thế gian phần lớn do ái sanh. Ví dụ như ái thân, sẽ bị sanh lão bịnh tử làm khổ, ngũ ấm xí thịnh khổ, oán tắng hội khổ. Ái quyến thuộc, sẽ bị ái biệt ly khổ. Ái tài sản sẽ bị cầu bất đắc khổ, v.v...
Vì thế, để dứt các món ái này, mới có "cát ái ly gia", đây là con đường tốt nhất mà Nhị thừa chọn cho mình để chấm dứt một số khổ của tám món này. Còn mười kiết sử, chỉ do nhận thức sai lầm vì thế bị chúng trói buộc mà khổ, khổ này muốn chấm dứt phải có chánh trí mới mong thoát ra khỏi vòng cương toả của nó, gọi là giải thoát. Thực tế, một số món khổ trong tám thứ khổ có mối liên hệ với kiết sử. Ví như, oán tắng hội, ngũ ấm xí thịnh. Khi kiết sử không còn thì, các thứ khổ này cũng tự tịch diệt...
Để giải quyết triệt để “khổ tục đế”, con đường cắt ái ly gia phải trải qua ba giai đoạn. Đó là, xuất thế tục gia, xuất ngũ ấm gia và xuất tam giới gia.
Xuất thế tục gia, giải quyết cơ bản về ái biệt ly, cầu bất đắc.
Xuất ngũ ấm gia, giải quyết cơ bản về ngũ ấm xí thịnh, oán tắng hội.
Xuất tam giới gia, giải quyết cơ bản về sanh lão bệnh tử.
Và cuối cùng, chánh trí sẽ giúp giải thoát vĩnh viễn cột trói của mười kiết sử.
Đây là lý do vì sao Tập Đế chỉ có thể giải quyết một phần của khổ tục đế. Chỉ khi nào người tu hành bước vào Diệt Đế, sức mạnh của Diệt Đế mới đủ sức giải quyết tận gốc các mối khổ này.
Hy vọng những kiến giải trên, sẽ giúp các bạn có cái nhìn thấu đáo hơn về cách giải quyết “khổ tục đế”.
(Tham Khảo) TRẢ LỜI TCTT 2016/10 – Về “Tầng Nghĩa... Tứ Đế”
Trả lời câu 1: Vị tu hành này đã dứt "Kiết Sử", nhưng "Tập Nhân" hãy còn. Vì thế, chưa thấy được "Bổn Tâm". Chưa thấy được Bổn Tâm chưa thể vào "Bất Động". Muốn viên mãn Diệt Đế phải gồm đủ hai phần, đó là "Giải Thoát, Bất Động". Chỉ mới một phần Giải Thoát thôi, còn thiếu Bất Động, "chưa được gọi là Viên Mãn Diệt Đế".
Trả lời câu 2: Ba thứ khổ cần phải diệt gồm:
a) Phàm phu: Bị tám món khổ đó là: Sinh, lão, bịnh, tử, ái biệt ly, cầu bất đắc, oán tắng hội, ngũ ấm xí thịnh. Tám món này gọi là "Khổ Tục Đế”. Vị tu hành vào Tập Đế biết rõ nguyên nhân sanh khởi Kiết Sử và tám món này chỉ do mê, dừng mê, không sanh khởi hư vọng tâm, không sanh khởi hư vọng thức. Kiết sử diệt, tám món này cũng diệt theo. Chứng Thánh Quả!
b) Bậc Thánh: Tuy đã dứt khổ của phàm phu nhưng "Tập Nhân" hãy còn. Vì thế, không thấy được chân lý, gọi là "Khổ Thánh Đế". Vị này vào sâu trong Diệt Đế, quán Bổn Tâm xưa nay "tự Thanh Tịnh, Bất Động". Biết được như vậy, vị này "thôi không sanh pháp”. Từ bỏ các quan niệm, từ bỏ các kiến chấp, từ bỏ cái ngã, Bổn Tâm tự hiện như hồ nước không bị ô nhiễm vẩn đục, chiếu soi vạn vật, thấy được "Chân Lý", dứt "Khổ Thánh Đế". Viên mãn Diệt Đế. Viên mãn Diệt Đế, ra khỏi Phần Đoạn Sanh Tử.
c) Bồ Tát: Sau khi thấy được Chân Lý, vị này phát tâm Vô Thượng Bồ Đề một lần nữa. Phát nguyện cứu độ hết thảy chúng sanh.
Tuy đã thấy Chân Lý ở Diệt Đế, nhưng phương tiện không có, vì chưa đầy đủ trí tuệ. “Không đầy đủ trí tuệ” gọi là "Khổ Chân Đế". Vị tu hành này, bán thân bán mạng, cầu Thiện Tri Thức dạy đạo Trí Tuệ. Nhờ phát tâm dõng mãnh, phát nguyện rộng sâu, không tiếc thân mạng, được Thiện Tri Thức dắt vào Đạo Đế, chỉ bày các môn phương tiện, giảng rõ vô lượng cảnh giới, giúp thành tựu các Giải Thoát Môn và các Tam Muội Môn. Vị tu hành này, thành tựu Trí Tuệ, thoát khỏi Khổ Chân Đế. Viên mãn Đạo Đế, dứt Bất Tư Nghì Biến Dịch Sanh Tử.
d) Thành tựu cuối cùng: Sau khi viên mãn Trí Tuệ, được Chư Phật thọ ký còn một đời nữa thành Phật. Vị này thị hiện trong đời để làm công hạnh, gọi là "Nhất Sanh Bổ Xứ". Công hạnh viên mãn, chứng Đẳng Chánh Giác, thành Phật, đồng chư Phật ba đời cả công hạnh lẫn trí tuệ, gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. (11-08-2016)
Thiền Định Chuyên Sâu

Các bạn!...Như vậy là mọi người đã thấy được rằng, thiền định chỉ có thể giải quyết ba kiết sử đầu (tham, sân, si) trong mười kiết sử của Tập Đế. Còn lại bảy kiết sử sau: Nghi ngờ, mạn, thân kiến, biên kiến, giới thủ kiến, kiến thủ kiến và tà kiến (hay ác kiến) thì thiền định bó tay! Và chắc mọi người cũng đã hiểu được, cái gì là tập nhân, cái gì là giao báo. Và dưới hình thức nào, "tập nhân chiêu cảm với giao báo để hình thành cõi nước" như Kinh Thủ Lăng Nghiêm đã dạy. Sau khi biết được điều này, chúng ta có thể kết luận chính xác về Thế Giới Ta Bà mà chúng ta đang sống do đâu hình thành theo quan điểm Phật Giáo. Những câu nói như: "Tam giới duy tâm", hay "hết thảy do tự tâm hiện" không còn là chủ đề khó đối với bạn nữa rồi!
Tiếp tục đào sâu tư duy về những gì liên quan đến đề tài này... Mình có mấy câu hỏi, rất mong nhận được câu trả lời lý thú từ HĐ.
CÂU HỎI TCTT 2016/08 − Thiền Định Chuyên Sâu
1) Dựa trên nguyên lý nào, để nói rằng "thiền định chỉ có thể chế ngự ba kiết sử đầu (tham, sân, si)". Còn bảy kiết sử sau, thiền định không thể chế ngự được? Muốn đoạn dứt bảy kiết sử này, người tu hành cần phải thành tựu điều gì, vì sao như vậy?
2) Cõi nước (quốc độ) của chúng sinh có được là do "tập nhân chiêu cảm với giao báo mà thành". Xin hỏi, như vậy thiền cảnh do điều gì làm thành?
3) Một vị đã giác ngộ triệt để Diệt Đế, trong lòng không còn tập nhân nữa. Nếu vị này hướng tâm đến thiền cảnh (thiền thú), vị ấy sẽ thành tựu điều gì? (09-07-2016)
GỢI Ý... TCTT 2016/08 − Thiền Định Chuyên Sâu
Các bạn! ... Mình biết, cứ mỗi lần có câu hỏi gởi đến các bạn, mạch tư duy của các bạn làm việc không ngưng nghỉ... Tư duy câu hỏi để có đáp án tốt nhất, hầu như đã đi vào cuộc sống, đi vào hơi thở, thậm chí nó còn chập chờn trong giấc ngủ. Điều này thể hiện qua những emails, những cuộc điện thoại mình nhận được từ các bạn trong tất cả mọi thời gian, bất kể ban ngày hay ban đêm... Có những emails mình nhận được lúc gần 11 giờ khuya như của Lập, lúc 00 giờ 37 của Đức, vào lúc 00 giờ 47 của Tuấn, ĐT của Chị Bích lúc giấc ngủ đang chập chờn. Điều này nói lên những nỗ lực không mệt mỏi của các bạn. Và chính điều này là động lực rất lớn hun đúc tình yêu Đạo Pháp vô bờ đối với bản thân mình!
Xin cảm ơn tất cả! Cảm ơn sức tinh tấn của Các bạn! ...
Các bạn! ... Nếu như "tập nhân xấu ác" được huân tập dài lâu trong đời sống của một hữu tình, để chiêu cảm với một "giao báo xấu ác" rồi hình thành "cõi nước xấu ác". Thì, những "tập nhân thiện" cũng được huân tập dài lâu trong đời sống của người tu hành, để chiêu cảm với những "giao báo tốt đẹp", và cho ra "cõi nước tốt đẹp"! Chánh tư duy mà chúng ta đang huân tập qua từng câu hỏi, chính là những "vô lậu thiện nghiệp" đang giúp chúng ta huân tập để có được "tập nhân vô lậu với đầy đủ thiện trí". Nó theo chúng ta qua từng hơi thở, từng cảm xúc, từng vị ngọt vô lậu huân ướp qua từng phút giây của mạch sống, hình thành "giao báo vô lậu”. Từ tập nhân vô lậu với đầy đủ thiện trí, chiêu cảm với giao báo vô lậu sẽ hình thành cõi nước vô lậu (xã hội Thiện Trị) tốt đẹp trong vị lai!
Các bạn! ... Chúng ta đang bước trên con đường mà thánh chúng ngày xưa đã bước. Chúng ta tư duy những điều mà các bậc trí đức ngày xưa đã tư duy. Chúng ta đang xây dựng điều mà Chư Phật ba đời đã từng xây dựng. Chúng ta sẽ được sống trong một cõi nước mà tất cả chúng sinh đều mong ước. Sức tinh tấn của các bạn hôm nay, sẽ làm nên tất cả, nó chính là lương dược của Chư Phật ba đời đã từng ban rải nơi cõi Diêm Phù này để cứu giúp chúng sinh!
Một lần nữa, mình xin xưng tán sức tinh tấn, sức tư duy không mệt mỏi của tất cả Các bạn! ... Xin gửi câu trả lời tiêu biểu của HĐ để các bạn tham khảo. Những HĐ nào chưa trả lời thoả đáng, sẽ tự điều chỉnh mạch tư duy của bản thân. (12-07-2016)
(Tham khảo) CẢM NHẬN TCTT 2016/08 − Thiền Định Chuyên Sâu
Cảm Nhận TCTT 2016/08 − Thiền Định Chuyên Sâu (Lý Thiện Cảnh).
Kính Bạch Thầy! Kính Chư HĐ! Con xin phép trả lời câu hỏi:
Trả lời câu hỏi 1: Dựa vào nguyên lý phân loại hành vi (hành vi nào thuộc về cái gì) ta có thể biết, ba kiết sử đầu là: (tham, sân, si) thuộc về biểu hiện của tâm. Thiền định có năng lực điều phục tâm, vì thế ba kiết sử này có thể dùng thiền định để chế ngự. Còn bảy kiết sử sau: Hai độn sử và năm lợi sử là nghi ngờ, mạn, thân kiến, biên kiến, giới thủ kiến, kiến thủ kiến, tà kiến (-> ác kiến), thuộc về lỗi nhận thức, phải dùng huệ (giác), tức phải có một tri kiến đúng đắn, mới có thể tịch diệt bảy kiết sử này... Ví dụ: Đói là biểu hiện của thân, có thể dùng cái ăn để chế ngự, nhưng cái ngu (lỗi nhận thức), thì ăn không thể giải quyết cho hết ngu mà phải học tập.
Trả lời câu hỏi 2: Thiền cảnh là do “thiện tập nhân” chiêu cảm “thiện giao báo” mà thành. Ví dụ: Vị này hướng tâm lần lượt từ bỏ dục đến sắc và vô sắc, thiền cảnh sẽ xuất hiện.
Trả lời câu hỏi 3: Một vị đã giác ngộ Diệt đế, vị này hướng tâm đến thiền thú, vị này sẽ thành tựu các tam muội. Giống như một người ở trên cao, với đôi mắt sáng, có thể quan sát mười phương và thấy rõ mọi thứ.
Đây là trình bày của Con, xin Thầy chỉ giáo! Con. (14-07-2016)