Tác Phẩm Lý Tứ

Bước Đột Phá: Sự Khác Biệt Giữa Suy Lường − Suy Nghĩ − Chánh Tư Duy; Niệm − Vô Niệm − Chánh Niệm

MB 880 Lý Minh Dáp 06.02.2023

Phật đạo không ngăn chặn tư duy hay niệm của người tu hành, mà hướng tư duy và niệm của người tu hành trở thành công cụ phục vụ cho việc tu tập, từ đó thành tựu mục tiêu đề ra. Tư duy chân chánh sẽ đưa đến giải thoát chân chánh (giải thoát), thường niệm pháp lành sẽ thành tựu vô niệm (bất động).

Tâm Tông & Trò Chơi Trí Tuệ - Tác Giả Lý Tứ

Các bạn! ...  Mình nhận được của HĐ một số phản hồi cảm tưởng về cách tu tập mới, hầu hết những phản hồi này là tích cực!

Trong học tập, từ xưa đến nay chưa bao giờ có sự đồng nhất giữa những người học với nhau, sai biệt này là chuyện tất nhiên vì nhiều lý do. Vấn đề được đặt ra là, đã học tập, nhất định phải vươn đến những điều cao hơn mà ta chưa biết, những điều đã biết rồi, thì học nữa mà làm gì? Trong thể thao, người ta luôn luôn nêu cao khẩu hiệu: "Nhanh hơn, cao hơn và xa hơn". Tất nhiên, khi tiếp cận một vấn đề mới, không bao giờ là việc dễ dàng. Vì thế, nó đòi hỏi người học cần có một quyết tâm mạnh mẽ và quyết tâm này phải thường trực... Ngoài đời, người ta vẫn thường đề cập đến sự quan trọng của việc không ngừng nâng cao học tập bằng câu nói vừa mang tính triết lý, vừa giàu tính hình tượng, vừa có ý nghĩa khuyên răn, câu nói đó là: "Sự học cũng như con thuyền đi trên giòng nước ngược, không tiến ắt là lùi".

Trong Phật đạo, hai chữ “Tinh Tấn” tuy ngắn gọn, nhưng hàm chứa rất nhiều ý vị của sự học tập. Bản thân mình, trên ba chục năm nay, thậm chí cho đến tận bây giờ, chưa bao giờ ngưng nghỉ việc rèn luyện và học tập. Chúng ta có một giáo trình từ thấp lên cao hẳn hoi, chúng ta đã bước những bước đi rất bài bản, vững vàng. Chưa nói đến, những điều được coi là ẩn mật của Giáo Pháp, của Tâm Tông, cũng được chúng ta trao đổi minh bạch. Đây được coi là thành công lớn và đặc biệt của chúng ta, khó tìm thấy ở nơi khác trong hiện tại!

Nếu chúng ta thử dạo một vòng, tiếp cận với các HĐ bên ngoài, và trao đổi về Phật Pháp. Mới thấy, những nỗ lực học tập của HĐ chúng ta trong thời gian qua là không uổng phí. Điều gì đã biết, chúng ta biết một cách chắc thật, không mơ hồ. Chẳng những hiểu biết, mà chúng ta còn ứng dụng những hiểu biết này vào việc tu tập và đời sống hằng ngày, vì thế mỗi người đã có những đổi thay đáng kể trong đời sống tâm linh.

Mình suy nghĩ, giống như người thợ rèn, muốn rèn một con dao bén, phải hội đủ hai yếu tố. Đó là năng lực của người thợ, và vật liệu để rèn nên con dao. Có vật liệu tốt, mà người thợ dở, hoặc ngược lại, thì sẽ khó có một con dao như ý! Vì thế, nỗ lực để trở thành một người thợ rèn giỏi và siêng năng tôi luyện để trở thành nguyên liệu tốt, luôn luôn là hai vấn đề cần thiết, nó tỷ lệ thuận với nhau, một khi hội đủ hai yếu tố này mới có thể vượt qua những rào cản kỹ thuật.

Để không khí tu tập sôi nổi, mạnh dạn triển khai những vấn đề. Rất mong nhận được những phản hồi của HĐ về cả hai mặt tích cực và tiêu cực khi triển khai cách tu tập mới. Sự chấp nhận cũng như tiếp thu một cách thụ động, chưa bao giờ được coi là phương pháp học tập đưa đến thành công. Từ những phản hồi này, chúng ta sẽ tìm ra một giải pháp được coi là tối ưu cho giai đoạn kế tiếp!

Mình có hai câu hỏi giúp các bạn quay lại chính tâm này, nhằm xem xét và phân tích những hoạt động nhỏ nhiệm của tâm, ý, ý thức. Nếu giải quyết được, việc "xâm nhập kinh điển" sẽ không còn là điều khó khăn! Các câu hỏi như sau:

  • CÂU HỎI TCTT 2016/02 − Về Sự Khác Biệt giữa “Suy Lường − Suy Nghĩ − Chánh Tư Duy”; “Niệm − Vô Niệm − Chánh Niệm”

1) Bạn hãy cho biết: Suy lường, suy nghĩ và chánh tư duy, ba điều này khác nhau ở chỗ nào? Ở giai đoạn tu tập nào, chúng ta sử dụng một trong ba khái niệm trên?

2) Bạn hãy cho biết, sự khác biệt của: Niệm, vô niệm và chánh niệm? Ở giai đoạn tu tập nào, chúng ta sử dụng một trong ba khái niệm này?                     

Rất mong nhận được các câu trả lời thú vị từ các bạn. (18-05-2016)

  • GỢI Ý TCTT 2016/02 – Về Sự Khác Biệt giữa “Suy Lường...”

Các bạn! ...  Rất bất ngờ mình cứ ngỡ rằng, phần lớn các bạn sẽ "bí hầm dừa" các câu hỏi. Vì bởi, tự phân tích tâm ý thức, rồi hình thành cơ sở lý luận, để cho ra định nghĩa về một khái niệm mơ hồ là việc làm rất mới đối với các bạn. Nhưng mọi thứ ngược lại.

Trả lời của hầu hết HĐ đều đạt từ 70% đến 80% yêu cầu câu hỏi về cơ bản, còn thiếu một chút chiều sâu cần thiết. Chỉ cần bổ khuyết một chút ấy sẽ trở thành các câu trả lời hoàn hảo. Thế mới biết, trí tuệ là vô hạn.

Vấn đề được đặt ra là, chúng ta có biết khai thác tiềm năng vô hạn của trí tuệ hay không, dựa vào cơ sở nào, bắt đầu từ đâu và khai thác ra sao? Nếu giải quyết thoả đáng các yêu cầu trên, nhất định sẽ không còn gì là khó đối với các bạn! ...  

Không phải bỗng dưng mà mình đổi chiêu thức. Đang hỏi Kinh Kim Cang lại đưa ra một đề tài chẳng ăn nhập gì tới kinh điển, mà nó thuộc về tâm, ý, thức (ý thức). Thật ra, khi đổi chiêu thức, mình muốn thả quả bóng thăm dò năng lực "tác chiến độc lập" của các bạn, từ đó đưa ra một giải pháp hợp lý để giúp các bạn tu tập hiệu quả.

Từ xưa đến nay, chúng ta có thói quen dựa vào kiến thức có sẵn để trả lời câu hỏi, nó giống như người lính "tác chiến có hoả lực yểm trợ". Quen với cách này rồi, khi đặt người lính đó vào hoàn cảnh "tác chiến độc lập", không có sự yểm trợ nào, người lính lập tức mất niềm tin và ý chí. Chính vì điều này, khi đưa ra câu hỏi bất ngờ, yêu cầu phân tích, lập luận đoạn Kinh Kim Cang để trả lời câu hỏi, các bạn hụt hẫng, mất phương hướng và không biết đâu là đầu mối. Hai câu hỏi nêu trên chính là phép thử, đồng thời tập dần khả năng làm quen phương pháp tác chiến độc lập của các bạn (không cần hỗ trợ kiến thức) đi dần từ dễ đến khó. Và phép thử này đã thành công ngoài mong đợi!

Dựa vào cơ sở giác ngộ, dựa vào khả năng quan sát lặng lẽ, dựa vào năng lực lập luận, không cần hỗ trợ kiến thức. Các bạn vẫn có thể phát huy hiệu quả của Chánh Tư Duy để tăng ích trí tuệ. Điều này giống như một chiếc xe, tầm hoạt động bị hạn chế vì chiếc xe này lệ thuộc vào số lượng nhiên liệu (xăng, dầu) mà nó mang theo, hết “xăng” chiếc xe phải dừng. Nếu chiếc xe có thể sử dụng tất cả vật chất có chung quanh nó (là không khí chẳng hạn) để làm nguyên liệu cho động cơ, tầm hoạt động của chiếc xe sẽ là vô hạn, vì không khí có mặt khắp nơi trên quả đất này. ...

Dựa vào "kiến thức đã có" làm nguyên liệu phát sinh trí tuệ, giống như chiếc xe bị lệ thuộc vào xăng dầu. Tầm hoạt động hạn chế là việc tất nhiên, vì kiến thức có được trong ta luôn là hữu hạn, không thể dựa vào cái hữu hạn để tìm thấy vô hạn. Nếu mọi người biết biến "thấy, nghe, hay, biết" làm thứ nguyên liệu đốt cháy để khởi động cho hoạt động trí tuệ, giống như biến không khí thành nguyên liệu chạy xe. Chừng ấy, trí tuệ các bạn sẽ là vô hạn, vì “thấy nghe hay biết” có mặt khắp mọi nơi.

Tất nhiên, để thực hiện được điều này, vị ấy cần hội đủ yêu cầu quan trọng: “Phải là một người thật sự giác ngộ”. Người đã giác ngộ, nguồn tâm rỗng rang, lặng lẽ quan sát, dựa vào bất động tâm để tìm ra bản chất của vấn đề. Khi thấy được bản chất của vấn đề sẽ hình thành hệ thống lập luận chắc thật, mang ý nghĩa giải thoát. Những điều nêu trên, là cơ sở để chúng ta biến “tất cả pháp trở thành Phật pháp” theo tinh thần Kinh Kim Cang "Nhất thiết pháp giai thị Phật pháp". Khởi động trong hiện tại của chúng ta, chính là tiền đề thành tựu tinh thần này!

Rất mong, sau các câu hỏi kinh Kim Cang và hai câu hỏi vừa rồi, sẽ là bước khởi đầu tốt nhất trên mặt trận mới, biến tất cả trở thành trí tuệ, đúng tinh thần của khẩu hiệu "Nhất thiết pháp giai thị Phật pháp"! và, HĐ tích cực tham gia trả lời câu hỏi chính là sự khởi động cần thiết để tự thành tựu tiến trình này.                                                                                                    (19-05-2016) 

Các bạn! ... Muốn trả lời được câu hỏi, các bạn phải đưa ra định nghĩa cụ thể thế nào là “tư duy”, thế nào là “niệm”, nếu chưa được định nghĩa, rất khó để nhìn ra sự khác biệt của chúng. Khi có được định nghĩa của hai khái niệm (tư duy và niệm) này rồi, sự khác nhau sẽ hiện lên rất rõ. Trong Phật đạo, nắm vững từ ngữ là rất quan trọng, từ ngữ chưa nắm vững thì sẽ rất khó biết chính xác nghĩa của nó. Trong giai đoạn này, chúng ta tập làm quen với việc định nghĩa một từ và hiểu rõ ý nghĩa của từ ngữ đó. Mục đích của việc làm này là, giúp các bạn hiểu rõ kinh điển khi đọc cũng như sử dụng đúng từ ngữ khi nói chuyện. Đây là cơ sở để sau này (vị lai) thành tựu tứ vô ngại biện (từ vô ngại, nghĩa vô ngại, pháp vô ngại và biện tài vô ngại).                                        (26-05-2016)

Lần này, hầu như mọi người trả lời đạt yêu cầu. Những gì cần điều chỉnh, mình đã email hoặc ĐT riêng. Nắm vững từ, ngữ, nghĩa là chiếc chìa khoá đầu tiên để mở cánh cửa thuyết thông, đây là một phần của Tâm Tông. Bởi lẽ, nhân nơi ngôn thuyết người tu hành đưa ý nghĩa chân thiệt vào tâm, nhân tâm khế với nghĩa sẽ thành tựu Tông thông, từ Tông thông sẽ đưa đến thuyết thông. Chúng ta sẽ lần lượt đi từ cạn đến sâu, từ hẹp đến rộng. Thời gian đến, nhất định chúng ta sẽ thành công!   (27-05-2016)

Các bạn! ...  Không phải mọi tư duy đều không tốt, cũng không phải mọi niệm đều là tà. Vấn đề đặt ra, chúng ta tư duy hay niệm điều gì? Tư duy hay niệm này có phục vụ mục tiêu tu tập hay không? Vì thế, Phật đạo không ngăn chặn tư duy hay niệm của người tu hành, mà hướng tư duy và niệm của người tu hành trở thành công cụ phục vụ cho việc tu tập, từ đó thành tựu mục tiêu đề ra. Tư duy chân chánh sẽ đưa đến giải thoát chân chánh (giải thoát), thường niệm pháp lành sẽ thành tựu vô niệm (bất động). Trong kinh Lõi Cây, Phật dạy rằng: "Giải thoát bất động là mục tiêu của phạm hạnh này."

Ở một tầng bậc cao hơn, chúng ta sẽ thấy rằng, bản chất của “tư duy” hay “niệm” tự nó không tánh, cho nên tự một niệm hay một suy nghĩ chẳng có tính chất của tà hay tính chất của chánh. Mà, tà hay chánh là do tâm này. Tâm này tà, thì mọi hành động hay nghĩ suy đều thành tà. Tâm đã chơn chánh, mọi hành động cho đến nhớ tưởng đều chơn chánh. Vì thế người xưa có câu: "nhứt chơn nhứt thiết chơn" (tâm đã chơn, mọi thứ sẽ chơn). Một vài ý nghĩa của hai khái niệm “tư duy” và “niệm” dùng để tham khảo:

  • TƯ DUY: Nghĩ suy (thuộc về ý). Suy nghĩ đến một điều gì đó, một việc nào đó nhằm tìm ra đáp án, hay làm sáng tỏ vấn đề... Ví dụ: Học sinh suy nghĩ về bài toán mà thầy giáo đã ra sáng nay. Hoặc người tu hành suy nghĩ để tìm ý nghĩa lời dạy của Phật trong một đoạn kinh.

  • NIỆM: Nhớ tưởng (thuộc về tâm). Nhớ tưởng đến một vật, một việc, một đối tượng nào đó gọi là niệm. Ví dụ: Mặc niệm (Tưởng nhớ những anh hùng). Niệm Phật (Nhớ tưởng những đức tính tốt của Phật).                      (28-05-2016)

Tác Phẩm Lý Tứ

Quyền Hay Thiệt

MB 1157 Lý Mỹ Linh 06.02.2023

Cực Lạc và Ta Bà là quyền hay thiệt? Chuyện thần thông là có hay không và các vấn đề liên quan đến phương tiện của Bồ Tát...?

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ

Các bạn!!!

Có HĐ hỏi: Cực Lạc và Ta Bà là quyền hay thiệt? Chuyện thần thông là có hay không và các vấn đề liên quan đến phương tiện của Bồ Tát...? Mình tạm thời giải thích như sau:

Trả lời: Bạn cho rằng, tất cả chỉ là phương tiện, điều này rất đúng... Phương tiện của chư Phật nhiều vô số và vì số lượng chúng sanh cần độ cũng như căn cơ sai biệt, nên Phật cũng bày ra vô lượng phương tiện.

- Nếu biết Phật quốc hay chúng sanh quốc cũng chỉ là giả danh, và chẳng có Phật quốc chẳng có chúng sanh quốc, tất cả chỉ là phương tiện, thì thần thông và không thần thông cũng chỉ là phương tiện và giả danh.

- Tại sao bảo cái này không hai, mà đòi cái kia lại phải có hai, bảo cái này giả danh cái kia lại thật danh.

- Do đó, nói hai hay một, bảo rằng Phật quốc và Ta bà là một hay hai cần phải coi lại. Tại sao nói hai, tại sao nói một, tại sao nói có, tại sao nói không, tại sao chẳng phải có, tại sao chẳng phải không…. Nói một mang ý nghĩa gì, nói hai mang ý nghĩa gì, nói có mang ý nghĩa gì, nói không mang ý nghĩa gì… Khi nào thật sự thấu suốt những ý nghĩa này thì, khi nói một, một này không lỗi, nói hai hai này không lỗi. Nói có nói không cũng như vậy. Tại sao lúc Phật nói thần thông, tại sao lúc Phật nói thuyết thông, tất cả lời Phật nói ra chẳng phải vô cớ.

- Để bàn sâu những vấn đề như vậy, điều kiện tiên quyết là, luận giả phải nhất quán, có nghĩa người tạo luận phải tự biết rằng vạn pháp là hai hay một, là có hay là không… Nếu bảo hai thì tiền đề đưa ra và văn tự phải nhất quán là hai, lấy một làm tiền đề cũng phải như vậy. Không nên bảo cái này là một, mà cái kia phải là hai. Chuyện Phật quốc và chúng sanh quốc, chuyện Cực Lạc và Ta Bà, chuyện thần thông và không thần thông cũng phải nhất quán như vậy. Cái này một thì cái kia cũng một, cái này không thì cái kia cũng phải không chớ!!! Đâu có lộn xộn được!!!

- Chỉ vì chúng sanh điên đảo, nên Phật nói có quốc độ này khác quốc độ kia, và đặt ra yêu cầu cho người tu hành phải bỏ đây đến kia. Hễ có chuyện bỏ đây đến kia thì phải nói chuyện thần thông chứ. Giống như chuyện ông thần biến hóa đưa cô bé lạc đường ra khỏi bàn tay mụ phù thủy hung ác, như người lớn kể chuyện cho con nít và sự biến hóa của ông Kẹ. Và những chuyện cổ tích này hàm ý nói lên điều gì, người nghe mong mỏi gì trong câu chuyện, người trí cần nên xét kỹ. Hễ tin có ông kẹ hoặc mụ phù thủy biến hóa thì phải bàn chuyện ông kẹ, chứ đâu được phép nói ông kẹ chỉ là giả danh, hoặc mụ phù thủy chỉ là chuyện cổ tích…

Hỏi:  Tại sao Bồ Tát ở Cực Lạc có thần thông, còn cõi Ta Bà chỉ có thuyết thông mà không thấy một ai hiển lộ thần thông... Không lẽ Bồ Tát ở hai cõi, năng lực khác nhau hay sao???

Trả lời:    Còn phân biệt kia là Tịnh Độ, đây là Ta Bà thì chư Bồ Tát ở hai nơi nhất định phải khác nhau... Cực Lạc phải có thần thông như vậy, còn cõi Ta Bà phải có thuyết thông như vậy.

- Nếu đã thấy cõi Tịnh Độ và cõi Ta Bà không hai, thì Bồ Tát cõi này và cõi đó bình đẳng, cũng đầy đủ thần thông biến hoá, cũng tự tại ngôn thuyết. Chỉ tại mình không đủ duyên để thấy thì biết trách ai?

- Bảo rằng, người có nhiều tiền có thể đi lại dễ dàng, còn không có tiền thì đi lại khó khăn, cho điều này là phương tiện sai khác của Bồ Tát các cõi, sự việc này nên coi lại!!! Đây là chuyện xưa như trái đất, đâu có cần người Mỹ hay Việt. Phàm phu đặc sệt mà có tiền thì đi lại dễ như trở bàn tay đâu cần Bồ Tát. Nhưng có tiền nhiều đâu phải phương tiện của Phật Giáo. Hiểu sai vấn đề rồi. Phật ngày xưa còn cầm bình bát khất thực, khất thực không được phải ôm bình không mà về. Móc túi Phật chưa chắc có đồng xu, nhưng Phật đâu có thiếu phương tiện. Phương tiện của Phật Giáo đâu có liên quan gì đến chuyện tiền bạc.

- Chư Bồ Tát đâu có thiếu phương tiện. Bồ Tát thì có đến ba thân. Phàm phu chỉ thấy nhục thân ví như ngày xưa phàm phu và ngoại đạo thấy Cù Đàm, Cù Đàm đâu có thần thông. Nhưng các A La Hán, Bích Chi chứng quả và những người đủ duyên thấy hoá thân Thích Ca Mâu Ni với 32 tướng tốt đầy đủ thần thông tự tại. Còn các Đại Bồ Tát thì thấy đó là Đức Tỳ Lô Giá Na với Pháp thân lớn như hư không. Như vậy thấy và lấy thân nào để kết luận đây?

- Con kiến và loài người (nói chung các loại chúng sanh) đều là chúng sanh nên có thể coi là giống nhau, tướng khác nhưng tâm hư dối không khác. Phật và chúng sanh thì không có chỗ so sánh. Nếu quyết so sánh giữa Phật và chúng sanh để tìm chỗ đồng hay khác, thì sự so sánh này sẽ là đầu mối cách xa đạo!!!  

(09-2010)

Tác Phẩm Lý Tứ

Phát Nguyện Trong Bồ Tát Đạo

MB 1157 Lý Mỹ Linh 06.02.2023

Một khi lời nguyện thành thường nguyện, thì dù nhớ hay không, lời nguyện này cũng không mất. Có nghĩa người đó nếu có “tồn tại trên cõi đời này” và “làm bất kỳ điều gì” cũng chỉ do nguyện chi phối và dẫn dắt.

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ

Hỏi: Phát Nguyện quan trọng như thế nào trong Bồ Tát Đạo?

Trả lời: Để suốt thấu sự quan trọng của “Phát Nguyện” trong đời sống tu hành, mọi hành giả nên quán chiếu những điều sau đây:

1. Phát nguyện có ba phương thức.
1) Tự hứa với lòng mình: Đối trước tự tâm phát nguyện, đây là nền tảng làm thay đổi hành vi.

2) Hứa trước ba cõi: Đối trước muôn cảnh, muôn pháp phát nguyện, đây là nền tảng để nảy nở từ bi.

3) Hứa với Chư Phật: Đối trước thanh tịnh tâm phát nguyện, đây là nền tảng để lời nguyện thành Ba La Mật, một trong những ý nghĩa của pháp Hồi Hướng.

- Muốn thành tựu những điều này, Bồ Tát phải phát nguyện thường xuyên. Mục đích của “phát nguyện thường xuyên” là biến lời hứa này trở thành hiện thực.

- Người tu tập một khi phàm tâm chưa sạch thì lời hứa khi nhớ khi quên. Để tránh nhớ quên vô thường, người tu hành phải luôn luôn phát nguyện. Phát nguyện đến bao giờ nguyện này, lời hứa này, trở thành “lẽ sống”, là “sinh mạng”, không còn thay đổi vì nhớ hay quên nữa.

- Một khi lời nguyện thành thường nguyện, thì dù nhớ hay không, lời nguyện này cũng không mất. Có nghĩa người đó nếu có “tồn tại trên cõi đời này” và “làm bất kỳ điều gì” cũng chỉ do nguyện chi phối và dẫn dắt.

Giống như người mẹ dù làm gì với những đứa con của mình, cũng chỉ vì đó là hành động của “người mẹ với những đứa con”.  Như vậy, ở đây đã hoàn toàn mất đi sự so đo toan tính, chỉ còn “tâm nguyện” muốn thành toàn điều gì đó với các con của mình mà thôi.

- Phát nguyện thường xuyên là hành động “biến nghiệp lực thành nguyện lực”. Một khi “nguyện trở thành lẽ sống” hay “sinh mạng”, người này nếu có đời sau, thì đời sau của vị này sẽ do nguyện dắt dẫn mà không do bởi nghiệp. Như vậy, dù có thân sau cũng chỉ là “Bất tư nghì biến dịch sanh tử” để tiến dần về quả Vô Thượng Bồ Đề. Các thân này gọi là “sắc giải thoát”, tức có thân mà không phải thân do nghiệp báo trôi lăn.

Nói rõ hơn, các thân sau này, Bồ Tát dùng nó để làm công hạnh và tăng trưởng trí tuệ. Thí dụ như người sắm chiếc đò để đưa người qua sông, khi đưa người qua đến bờ kia, vị này chở trí tuệ và công đức về cho tự thân. Khi tích lũy đầy đủ công đức, vị này thị hiện tùy ý. Đến đây viên mãn ba ý sanh thân. Do đó, những thân Bồ Tát thị hiện dù hữu vi hay vô vi đều được gọi là “sắc chân như”. Sắc này là sức ảnh chiếu của bốn tâm vô lượng làm nên. Bồ Tát Di Lặc là một điển hình.

- Đến thời kỳ Chánh pháp, châu kỷ Phật pháp mới bắt đầu. Vị này từ cung trời Đâu Suất đản sanh thị hiện thành Đẳng Chánh Giác, tuyên bố giáo pháp của mình. Khi thị hiện, Đức Phật này thị hiện thân tướng đầy đủ với 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, 64 phạm âm. Thân rốt sau này (tối hậu thân) gọi là “Sắc Thường Trụ”, có nghĩa sắc này không thay đổi vì đã tích lũy đầy đủ công đức.

Khi Phật ra đời, đây là lúc “trí huệ” và “thân tướng” đồng viên mãn gọi là “phước huệ đồng viên”. Sự viên mãn này là hình ảnh của “hạt bảo châu vô giá đựng trong bình làm bằng gỗ chiên đàn”.

Tất cả những chúng sanh được Bồ Tát này giáo hóa trong quá khứ cũng đồng thị hiện để làm nên một Liên Hoa Đài Tạng nhằm tôn vinh Đẳng Chánh Giác ra đời và trang nghiêm Phật quốc. Các Bồ Tát như Văn Thù, Phổ Hiền v.v... Chư Thanh Văn như Đại Ca Diếp, Xá Lợi Phất, Mục kiền Liên, A Nan...v.v… Các Cư Sĩ như Cấp Cô Độc, Ba Tư Nặc, Thuần Đà...v.v… và toàn thể gia quyến của họ cũng đều quy y đức Phật này... Hình ảnh tiêu biểu là châu kỷ của Thích Ca Mâu Ni. Vì thế, trong kinh Phật thường nói: “Các Thanh Văn như Xá Lợi Phất… của ta đều là Bồ Tát mật hạnh thị hiện làm Thanh Văn…”

2. Điển hình về “nguyện”.
Có một chuyện Tiền Thân của Bồ Tát Thích Ca Mâu Ni như sau:

Lúc ấy có một chàng trai trẻ ham ưa theo nghiệp cha ra biển tìm châu báu. Mẹ chàng không muốn con đi vì quá nguy hiểm. Chàng trai cãi lời mẹ thậm chí còn xô ngã mẹ để dứt áo ra đi. Mẹ chàng do đó mà chết. Vì nghiệp bất hiếu này mà khi chết chàng trai bị đọa ngay vào địa ngục vô gián.

Khi những vòng lửa liên tu bất tận đến thiêu đốt thân tâm, chàng trai chợt hối hận về ác hạnh của mình. Chàng cũng hiểu đây là quả báo cho những ai tạo tác các ác nghiệp tương tự. Trong cơn đau đớn kinh hoàng khủng khiếp, lòng từ bi dấy sanh. Chàng nghĩ đến tất cả chúng sanh nếu lầm lỡ sa vào ác nghiệp như mình thì sẽ chịu quả báo khủng khiếp này, thiệt không thể nào chịu nổi, nên liền phát đại nguyện:

“Nguyện gánh hết tất cả tội chướng báo chướng vô gián này cho bất cứ ai lỡ tạo tội! Tôi nguyện chỉ một mình tôi chịu khổ cho mọi chúng sanh được vui!”

Vi diệu thay! Khi lòng đại bi phát khởi, khi những lời nguyện chân thật tự đáy lòng phát ra vì “thương chúng sanh như con một” thì những vòng lửa vô gián liền biến thành hoa sen thơm diệu quấn quanh thân Bồ Tát; âm thanh địa ngục vô gián biến thành diệu âm tuyên thuyết thường, ngã, lạc, tịnh và Từ, Bi, Hỷ, Xả; địa ngục vụt biến thành trời tam thiền. Bồ Tát lúc ấy an nhiên tự tại “du hý thần thông”, dạo khắp các cõi độ thoát chúng sanh.

- Một nguyện chân thật còn có năng lực bất khả tư nghì như vậy, hà huống vô lượng nguyện tận đáy lòng được phát ra liên tục (thường nguyện) thì quả Vô Thượng Bồ Đề nào quá tầm tay!

- Nếu ai đã thành tâm phát đại nguyện thì mới cảm nhận được cái “lạc bất khả tư nghì” mà các ngài Quán Âm, hay Địa Tạng thường nguyện, nhờ đó mà độ sanh không nhàm mỏi dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. Quán Âm cùng Địa Tạng thì như thế, còn mình thì sao?

- Tóm lại, phát nguyện thường xuyên là điều cần thiết trong Bồ Tát đạo, là Bồ Tát tâm, là năng lực dẫn đến quả Vô Thượng Bồ Đề. Pháp Bảo Đàn Kinh, Tổ Huệ Năng dạy, “Siêng nghĩ đến việc tu hành là năng lực của thệ nguyện”, nghĩa là “thường nguyện mới đủ năng lực tu hành thành Phật”.

(08-2010)

Tác Phẩm Lý Tứ

Công Dụng Của Văn Tự Kinh

MB 857 Lý Diệu Sinh 06.02.2023

Trong đời sống tu hành, văn tự hay ngôn thuyết đóng vai trò quan trọng, nó giúp người tu hành có thể hiểu thấu sự việc cũng như tu tập thành công.

Các bạn! ...  Cũng giống như thế gian, chữ viết và ngôn thuyết trong Phật đạo là hai hệ thống ký hiệu chủ yếu, là công cụ giao tiếp căn bản giúp truyền tải thông tin hoặc miêu tả điều gì đó đến một đối tượng nhất định. Vì thế, trong đời sống tu hành, văn tự hay ngôn thuyết đóng vai trò quan trọng, nó giúp người tu hành có thể hiểu thấu sự việc cũng như tu tập thành công. 

Văn tự hay ngôn thuyết của Phật đạo là chiếc chìa khoá mở cánh cửa tri thức để người tu hành hiểu rõ một pháp (một cảnh giới), gọi là “như thị tri”. Từ hiểu rõ một pháp nó còn làm công việc thứ hai là mở cánh cửa tâm thức để người tu hành nhìn thấy pháp hay cảnh giới đó nơi tâm này, gọi là “như thị kiến”. Và cuối cùng, nó là chiếc chìa khoá giúp người tu hành mở cánh cửa trí tuệ gọi là “như thị giác ngộ”. Chính sự quan trọng của văn tự và ngôn thuyết trong đời sống và tu tập nên các kinh Đại thừa Phật thường hay nói: "Người tu hành nào thấu suốt được bài kệ bốn câu, nửa bài kệ, một câu hoặc một chữ trong kinh này, sẽ phát sinh vô lượng công đức."

Vì sao chỉ cần thấu suốt một câu, một chữ trong một bài kinh lại phát sinh vô lượng công đức? Như đã nói: Văn tự hay ngôn thuyết là chiếc chìa khoá mở cánh cửa tri thức, mở cánh cửa tâm thức và mở cánh cửa trí tuệ. Cho nên mỗi một chữ, mỗi một câu trong Phật đạo là ký hiệu chỉ ra hoặc miêu tả một pháp hay một cảnh giới nào đó, giúp người tu hành nhân ký hiệu này tìm về và thể nhập cảnh giới đó. Thành tựu mỗi một cảnh giới trong Phật đạo sẽ cho ra một số công đức tương ưng.

Người tu hành khi đọc một lời kinh, muốn thành tựu viên mãn lời kinh để có được công đức phải lần lượt trải qua các bước nhất định mới có thể đạt được cảnh giới mà lời kinh đã chỉ. Cách thực hiện các bước như sau:

  • MỞ CÁNH CỬA TRI THỨC (Như Thị Tri)

Muốn mở được cánh cửa này, người tu hành bước đầu "buộc phải hiểu đúng ý nghĩa văn tự" của lời kinh. Chưa hiểu đúng hoặc hiểu sai ý nghĩa văn tự sẽ không thể thành tựu bước thứ hai là "mở cửa tâm thức để thấy như pháp". Điều này giống như cánh cửa ngôi nhà ở phía đông, ta lại đi tìm ở phương khác.

  • MỞ CÁNH CỬA TÂM THỨC ĐỂ THẤY NHƯ PHÁP (Như Thị Kiến)

Muốn mở được cánh cửa này, sau khi hiểu rõ ý nghĩa văn tự, người tu hành phải đưa ý nghĩa đó vào tâm thức, chiêm nghiệm quan sát đến bao giờ thấy rõ ý nghĩa của lời kinh nằm ngay trong tâm.

Nếu lời kinh chỉ ra chướng pháp phải tịch diệt chướng pháp này, nếu lời kinh chỉ ra thiện pháp phải an trú cảnh giới đó trong tâm thức. Khi nào tâm và kinh không còn là hai pháp (Nhất Thể), lúc đó người tu hành tự biết rằng tâm và kinh đồng viên. Thực hiện hai điều nêu trên, kinh gọi là "hàng phục tâm và an trụ tâm".

  • MỞ CÁNH CỬA TRÍ TUỆ (Như Thị Giác Ngộ).

Đây là cánh cửa thứ ba người tu hành phải mở, chưa mở được cánh cửa này tức chưa thấu suốt thiệt tướng, chưa thấu suốt thiệt tướng, trí tuệ chưa thể khai mở... Muốn thành tựu điều này, người tu hành sau khi “Như thị Kiến”, phải "lặng lẽ quan sát" để tìm xem sự sai khác giữa "hư vọng tâm và niết bàn", tìm xem sự sai khác giữa "thân căn” và “thế giới", tìm xem sự sai khác giữa "giác ngộ” và “các pháp"... Khi thấy được các thứ sai khác này, vị ấy mới có thể phát khởi “Phương tiện môn” để thành tựu trí tuệ. Vì thế:

- Thiệt tướng chính là cái thấy cuối cùng giúp người tu hành “hết mê”, nhưng nó cũng vừa là cái thấy ban đầu giúp người tu hành “hết lầm” để khai mở trí tuệ. "Có được trí tuệ" mới có thể vào Đẳng giác tánh, "viên mãn trí tuệ" mới có thể vào Diệu giác tánh, thành tựu rốt ráo hai tánh này mới có thể thành Đẳng chánh giác.

- Đẳng Giác tánh chính là Như Lai Địa, tức biết được điều Phật biết, hiểu thấu điều Phật nói.

- Phật địa chính là làm được những điều Phật làm!

Ba bước trên nhằm minh hoạ con đường giúp người tu hành có thể vận dụng một lời kinh, lần lượt thành tựu viên mãn ý nghĩa lời kinh đó. Giống như cách thức giúp người săn thú, khi nghe tiếng kêu hoặc thấy dấu chân, người thợ săn có thể xác định đúng chủng loại, tìm gặp, bắt con thú, và sử dụng con thú vào việc có ích!                                                                  (11-11-2016)

Tác Phẩm Lý Tứ

Cách Thức Đoạn Trừ Lậu Hoặc

MB 1157 Lý Mỹ Linh 06.02.2023

Vì bởi một khi đã mê muội thì người ta sẽ lầm tính chất và giá trị của mọi sự việc... Ví như ảo sư chặt đầu ảo nhân. Ở đây không hề có các giá trị đích thực, chỉ vì mê muội các sự việc trên mà lầm nhận in tuồng như có, rồi tích chứa các giá trị (không thực) nào đó, vì thế phát sanh phiền não

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ

Các bạn!!!

Có một vài HĐ hỏi về cách thức đoạn trừ lậu hoặc, mình tạm giải thích như sau:

─ Thanh Văn tu cho dứt lậu hoặc để tiến về cảnh giới Vô Lậu, thành tựu giải thoát. Nhu cầu của Thanh văn là giải thoát, cho nên việc yểm ly để giải thoát theo đúng quy trình bốn đế được thực hiện nghiêm ngặt. Sau đây là một vài ví dụ.

“... Cắt ái ly gia để yểm ly cộng nghiệp, thường gọi là xuất thế tục gia. Thọ nhận giới cụ túc để yểm ly năm ấm gọi là xuất ngũ ấm gia. Tìm nơi thanh vắng tu hành hộ trì các căn, thoát ly khỏi trói buộc năm dục (đối với năm căn) để ra khỏi dục giới gọi là ly dục giới gia (trừ dục lậu)...” (Phật Giáo và Thiền).

─ Bồ tát có cách nhìn vấn đề khác hơn. Thân, Thọ, Tâm, Pháp sở dĩ là nền tảng để tham sân hiện khởi chỉ vì tâm mê nơi bốn món này.

“Vì bởi một khi đã mê muội thì người ta sẽ lầm tính chất và giá trị của mọi sự việc... Ví như ảo sư chặt đầu ảo nhân. Ở đây không hề có các giá trị đích thực, chỉ vì mê muội các sự việc trên mà lầm nhận in tuồng như có, rồi tích chứa các giá trị (không thực) nào đó, vì thế phát sanh phiền não.

Bồ tát nhìn nhận giá trị thực của bốn niệm xứ bổn lai thanh tịnh nên hết mê. Hết mê thân thọ tâm pháp thì vọng tưởng không phát sanh. Vọng tưởng không phát sanh ngay đấy chân giá trị của bốn niệm xứ xuất hiện. Đó là bản lại tự tịnh của bốn món ấy. Khi thấy được ý nghĩa này, Bồ tát không vọng cầu, không mê muội; bây giờ các đế trở về bổn chơn gọi là chơn đế. Một khi bốn đế đã chơn thì khổ và tập tự chơn, ngay đây là Niết Bàn an tịnh.” (Phật Giáo và Thiền)                            

(08-2010)

−−−••• ⁕ ⁕  ۝⁕ ⁕ •••−−−

Tác Phẩm Lý Tứ

Dùng Kim Cang Để Hộ Trì

MB 857 Lý Diệu Sinh 06.02.2023

Các bạn! ...  Vừa qua chúng ta đã khảo sát Bát Nhã Tâm Kinh. Bát Nhã Tâm Kinh có công năng giúp người tu hành căn cứ vào chính hiểu biết chắc thật của mình (bát nhã, trí tuệ) để có thể thành tựu một nguồn tâm thảnh thơi, chấm dứt phiền não.

Muốn có được thành tựu này, người tu hành phải xả bỏ tất cả vướng mắc trong lòng (các uẩn, các thứ rắc rối). Xả bỏ từ sắc uẩn đến thức uẩn. Sau khi xả bỏ rồi, người tu hành phát triển tâm thức lên một cung bậc cao hơn, đó là thành tựu một nguồn tâm hoàn toàn vắng lặng, ta quen gọi là “không tâm”. Loại bỏ tâm chấp mắc và đưa đến rốt ráo không, giống như việc chiếm thành, đánh đuổi quân địch, và sau đó là giữ thành an dân, không cho quân địch tái chiếm là việc làm cần thiết.

Chiếm được thành đã khó, giữ được thành là chuyện càng khó hơn, giác ngộ đã khó, gìn giữ thành quả đã giác ngộ là việc làm rất khó. Để giúp người tu hành giữ được thành, tức là giữ được nguồn tâm hoàn toàn bất động, thường thanh tịnh. Kinh Kim Cang chính là vũ khí tối ưu giúp chúng ta giữ gìn thành quả giác ngộ đã có.

Giai đoạn này, để tiến sâu và hộ trì chỗ giác ngộ, HĐ chúng ta sẽ lần lược tìm hiểu, mổ xẻ và ứng dụng kinh Kim Cang vào đời sống tu hành. Giống như trước đây, mình sẽ trích một đoạn kinh ngắn, đặt các câu hỏi, HĐ chiêm nghiệm để trả lời. Việc làm này là một hình thức tu tập, có được câu trả lời thoả đáng, nhất định các bạn sẽ tự ứng dụng được nghĩa kinh vào đời sống.

Đoạn văn Kinh KIM CANG (trích phần đầu).
“Tôi nghe như vầy. Một hôm Phật ngụ tại thành Xá-vệ, vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng với các vị đại tỳ-kheo là một ngàn hai trăm năm mươi vị.

Đến giờ thọ trai, Thế Tôn đắp y mang bát vào thành Xá-vệ khất thực. Vào trong thành, ngài theo thứ tự từng nhà khất thực, khất thực xong, ngài trở về tinh xá. Thọ trai xong, ngài thu dọn y bát, rửa chân tay, trải toạ cụ ra ngồi.

Lúc ấy Trưởng lão Tu-bồ-đề từ chỗ ngồi trong đại chúng đứng dậy, bày vai bên phải, quỳ gối phải, cung kính chắp tay bạch Phật rằng: “Thế Tôn, thật ít có! Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ Tát, khéo dặn dò các vị Bồ Tát.

“Thế Tôn! Nếu có những thiện nam hay tín nữ có lòng lành, phát tâm cầu đạo vô thượng bồ đề, (các vị ấy) nên trụ tâm như thế nào? (Nên) hàng phục tâm như thế nào?”

Phật dạy: “Lành thay! Lành thay! Tu-bồ-đề, đúng như ông vừa nói. Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ Tát, khéo dặn dò các vị Bồ Tát. Nay ông hãy lắng nghe, ta sẽ vì các ông mà giảng thuyết.

“Nếu những kẻ nam người nữ có lòng lành phát tâm bồ đề, nên trụ tâm như thế này, nên hàng phục tâm như thế này.”

“Bạch Thế Tôn! Chúng con nguyện được lắng nghe.”

Phật dạy Tu-bồ-đề: “Các vị Đại Bồ Tát nên hàng phục tâm như thế này:

- "Đối với tất cả các loài chúng sinh, hoặc sinh từ bào thai (thai sinh), hoặc sinh từ trứng (noãn sinh), hoặc sinh nơi ẩm thấp (thấp sinh), hoặc do biến hóa sinh ra (hoá sinh), hoặc có hình sắc (sắc giới), hoặc không có hình sắc (vô sắc giới), hoặc có tư tưởng (hữu tưởng), hoặc không có tư tưởng (vô tưởng), hoặc chẳng phải có tư tưởng cũng chẳng phải không có tư tưởng (phi tưởng phi phi tưởng), ta đều độ cho nhập vào vô dư niết-bàn. Như vậy diệt độ vô số chúng sinh, nhưng thật không có chúng sinh nào được diệt độ.

“Vì sao vậy? Tu-bồ-đề, nếu bồ tát có các tướng ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả, thì chẳng phải là bồ tát.

"Lại nữa, Tu-bồ-đề! Bồ Tát theo đúng pháp, nên lấy tâm không chỗ trụ mà làm việc bố thí. Nghĩa là chẳng nên trụ nơi hình sắc mà bố thí, chẳng nên trụ nơi âm thanh, hương thơm, mùi vị, cảm xúc, pháp tướng mà bố thí.

“Tu-bồ-đề! Bồ Tát nên bố thí như vậy đó, không trụ nơi tướng.

“Vì sao vậy? Nếu Bồ Tát bố thí với tâm không trụ tướng, phước đức ấy chẳng thể suy lường...".  Các câu hỏi như sau:

Câu Hỏi TCTT 2016/01 – Dùng “KIM CANG” Để Hộ Trì.
1)  Ở đoạn kinh đã dẫn, Thế Tôn phó chúc cho chư bồ tát muốn hàng phục tâm phải diệt độ tất cả chúng sinh (từ thai sinh đến phi tưởng, phi phi tưởng). Lời phó chúc này ngoài việc chỉ ra hành động cụ thể cần làm ngay của một bồ tát, nó còn ẩn chứa điều gì đối với người đang tu tập?

2) - a) Vì sao kinh nói: "Diệt độ vô số chúng sinh, nhưng thật không có chúng sinh nào được diệt độ"?

 - b) Bạn hãy cho một ví dụ cụ thể để làm sáng tỏ ý nghĩa lời kinh này. (Câu hỏi này có 2 phần a & b)

3) Kinh dạy: "Lại nữa, Tu-bồ-đề! Bồ tát theo đúng pháp, nên lấy tâm không chỗ trụ mà làm việc bố thí".

Xin hỏi: Nếu thành tựu pháp bố thí này, bồ tát sẽ giác ngộ được điều gì trên bước đường tu tập?

Rất mong nhận được những câu trả lời lý thú của HĐ (14-05-2016)

Gợi ý TCTT 2016/01 - Dùng “KIM CANG” Để Hộ Trì
Sau khi đọc trả lời của các bạn, mình có một vài nhận xét:

− Căn cứ vào mức độ thành tựu của từng người (về mặt tâm chứng) những câu trả lời mà mình đã nhận được từ các bạn rất thú vị. Nó phản ánh được nguồn tâm của từng người, rất đáng ghi nhận!

− Xét theo yêu cầu của câu hỏi thì phần lớn trả lời của các bạn mới chỉ đáp ứng yêu cầu cơ bản về việc hàng phục tâm, chưa có cái nhìn sâu hơn về lời kinh để tìm ra một số ý nghĩa nào đó ẩn chứa trong đó mà mình muốn hỏi ở câu hỏi số một và câu hỏi số hai. Muốn làm được điều này, ngoài việc căn cứ vào tâm này phải đọc kỹ, nghiền ngẫm lời kinh để xem ngoài ý nghĩa ta đã thấy, trong đó còn gởi gắm điều gì nữa và cuối cùng là phải hiểu được nội dung câu hỏi. Chỉ khi nào các bạn thực hiện đủ ba điều đã nêu ở trên, chừng ấy, việc trả lời mới thoả đáng.

Các bạn! ...Khi đưa ra ba câu hỏi kỳ này ngoài việc giúp các bạn thâm nhập sâu hơn chỗ đã giác ngộ. Mình còn một ý đồ nữa, đó là mong muốn các bạn thoát ra khỏi "sự xơ cứng của tâm chứng", hình thành thói quen chánh tư duy, đào sâu ý nghĩa kinh điển để tìm ra những ẩn mật trong lời kinh (câu số 1), sau đó tập cho ví dụ (câu số 2) và cuối cùng là xác định cảnh giới rồi dùng thuật ngữ để xác chứng cảnh giới đó (câu số 3). Vì sao chúng ta phải thực hiện cùng một lúc ba yêu cầu này. Theo tinh thần kinh Kim Cang, Bồ Tát muốn hàng phục tâm phải hoá độ chúng sinh. Muốn hoá độ chúng sinh, vị Bồ Tát này phải có nhiều phương tiện. Muốn có nhiều phương tiện, Bồ Tát phải hội đủ ít nhất là ba điều:

- Điều thứ nhất: Thấy được thâm ý của lời kinh, có thấy được thâm ý của lời kinh, khi thí pháp Bồ Tát mới rộng đường giảng giải, nhờ đó dùng ngôn thuyết đoạn dứt những vướng mắc trong lòng người nghe một cách thuyết phục. (Yêu cầu của câu số 1)

- Điều thứ hai: Bồ Tát phải biết cho ví dụ. Phật đạo mang tính trừu tượng, khéo ví dụ và ví dụ có cụ thể, có gần gũi sẽ giúp người nghe sáng tỏ vấn đề một cách dễ dàng. (Yêu cầu của câu số 2)

- Điều thứ ba: Bồ Tát phải nắm vững cảnh giới và dùng đúng thuật ngữ để chỉ cảnh giới đó. Điều này sẽ tránh giảng nói chung chung, không rõ ràng. (Yêu cầu câu số 3)

Có thể các bạn chưa quen với cách làm việc mới này. Chúng ta sẽ tập dần dần. Đạo Phật là đạo của trí tuệ. Ba cách mình vừa nêu và đặt câu hỏi nhằm giúp các bạn tập làm quen với hình thức tu tập mới "ba trong một", đây là hình thức tu tập trí tuệ. Khi trí tuệ các bạn sâu hơn, chỗ giác ngộ cũng sẽ sâu thêm.

Hiểu rõ câu hỏi, thấm nhuần lời kinh, đặt vấn đề rồi phân tích để thấy được những ý nghĩa ẩn chứa sau lớp vỏ văn tự kinh, giải quyết đúng trọng tâm. Có thực hiện những việc làm này mới có thể trả lời thoả mãn các câu hỏi. Huynh Đệ chúng ta có thói quen lời kinh mặc lời kinh, câu hỏi mặc câu hỏi. Cứ lấy ngay cái đang có của mình mà trả lời. Giống như có người hỏi:

Hỏi: Trong nhà ông có mấy người?
Trả lời: Tôi vừa ăn sáng xong!
Chấp nhất! Một câu trả lời hoàn toàn mang nặng tư tưởng chấp nhất cái mình đang có. Hỏi và trả lời chẳng ăn nhập gì với nhau, sẽ rất khó cho việc thành tựu trí tuệ và công hạnh sau này!

                                                                                   (16-05-2016)

Các bạn! ...  Để tập làm quen với cách tu tập này (bám sát lời kinh rồi phân tích để tìm thấy các ý nghĩa trong đó), mình đã đưa ra ba câu hỏi, mục đích của các câu hỏi là, chúng ta tập hình thành thói quen bám sát, đào sâu ý nghĩa kinh điển, căn cứ vào đoạn kinh đã trích dẫn, lấy đó làm cơ sở phân tích và giải quyết vấn đề theo yêu cầu của các câu hỏi.

Việc làm này giúp chúng ta có nhiều phương tiện hơn trong việc tu tập và làm công hạnh, để vị lai có thể thành tựu thuyết thông.

Tham Khảo Cảm Nhận TCTT 2016/01 – Dùng Kim Cang Để Hộ Trì.

Trả lời câu hỏi 1:
Căn cứ vào đoạn Kinh Kim Cang đã trích dẫn, ta thấy trong đoạn kinh này, Phật dạy các Bồ tát nên hàng phục tâm bằng cách diệt độ hết thảy chúng sanh từ thai sanh đến phi tưởng, phi phi tưởng vào vô dư niết bàn. Ngoài việc cần làm ngay để hàng phục tâm như đã nêu ở trên, khi đọc kỹ đoạn kinh đã dẫn, chúng ta sẽ thấy những điều ẩn chứa trong đoạn kinh này như sau:

1) Phật liệt kê rất cụ thể những hữu tình nào được gọi là chúng sinh, liệt kê này chính là những đường biên được vẽ ra để phân định đâu là ranh giới của một hữu tình đã giác ngộ và không giác ngộ đối với Phật đạo. Trong mười loại chúng sinh này, cho dù đó là các loài chúng sinh được sinh ra từ Dục giới (noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hoá sanh), Sắc giới (có sắc thân) hay Vô sắc giới (không thân, có tưởng, không tưởng, cũng có tưởng, cũng không tưởng) đều chưa thoát khỏi quy luật sanh diệt và cần phải được diệt độ vào vô dư niết bàn. Điều này có nghĩa rằng, nếu người tu hành chưa giác ngộ, cho dù có thiền định hay không có thiền định, một khi còn luẩn quẩn ở cõi Dục, cõi Sắc (sơ thiền đến tứ thiền), hay Vô sắc (không có tưởng đến phi tưởng và phi phi tưởng) đều được coi là một chúng sinh, và cần được Bồ Tát diệt độ.

2) Nếu mười loài hữu tình được kinh liệt kê ra là những chúng sinh cần được diệt độ thì các Bồ Tát đã giác ngộ, trong tâm thức Bồ Tát ấy sẽ không còn có các quan niệm (tình, tưởng) như những loài chúng sinh đó, và đây được coi như vị ấy đã đắc vô dư Niết Bàn. Ngược lại, khi nào Bồ Tát còn có khởi lên quan niệm giống như những loài chúng sanh được liệt kê trong kinh thì Bồ Tát phải ngay tức khắc diệt độ các quan niệm này để vào vô dư niết bàn (để không còn thấy Thiền Định và Giải Thoát là hai pháp.)

3) Theo như những gì trong kinh liệt kê, một người tu thiền định, cho dù thành tựu thiền định cao nhất là phi tưởng phi phi tưởng, nếu không giác ngộ thì cũng chưa được coi là đắc vô dư niết bàn và vị đó vẫn đang là một chúng sinh cần được diệt độ.

4) Như vậy một vị hữu tình đã giác ngộ để trở thành bồ tát, vị hữu tình này không nằm trong thai sanh cho đến vô sắc sanh. Mà: Chư thánh từ miệng Phật (hay đạo sư) sanh, bồ tát từ trí tuệ (bát nhã) sanh và đẳng chánh giác là đản sanh. Vì thế kinh Tăng Chi dạy: “Một người, này các Tỳ-kheo, khi xuất hiện ở đời (không phải sanh ra từ mười loài chúng sinh), sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Người ấy là ai? Chính là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Đẳng chánh giác (nên gọi là đản sanh). Một người, này các Tỳ-kheo, khi xuất hiện ở đời là sự xuất hiện một người, không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương tợ, không có đối phần, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc tối thượng giữa các loài (không chung cùng mười loài chúng sinh). Người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A-la-hán, đẳng chánh giác."

Trên đây chỉ là bốn trong số rất nhiều điều còn ẩn chứa trong đoạn kinh đã dẫn, nếu có duyên lành chúng ta sẽ phân tích lời kinh sâu hơn. Một khi thấu suốt hết các nghĩa ẩn chứa trong đoạn kinh, chúng ta sẽ thành tựu thuyết thông bằng con đường Pháp Vô Ngại (không ngại trước ý nghĩa kinh điển)

Trả lời câu hỏi 2:
- Kinh nói "diệt độ vô số chúng sinh, nhưng thật không có chúng sinh nào được diệt độ". Vì rằng: Chúng sinh không thật, chỉ do một niệm mê. Dứt mê, chúng sinh đó chẳng phải là chúng sinh! Cũng kinh Kim Cang, Phật dạy: "Chúng sanh, chúng sanh ấy chẳng phải là chúng sanh, chỉ tạm gọi là chúng sanh"

- Ví dụ: Giống như một người giàu ngủ mê chiêm bao thấy mình nghèo. Khi giật mình thức giấc, người đó không mất sự giàu có kể cả trong lúc ngủ. Mới biết rằng: "thiệt chẳng có cái nghèo nào đối với người này". Nếu chúng sanh là thật, thì chẳng thể độ được!

Trả lời câu hỏi 3:
Theo tinh thần đoạn kinh trên, nếu Bồ Tát theo đúng pháp để thành tựu pháp bố thí này, Bồ Tát đó sẽ thành tựu Bố Thí Ba La Mật (Ba La Mật đầu tiên trong sáu Ba La Mật).

Tác Phẩm Lý Tứ

Chuyển Y Bát Nhã Tâm Kinh (tiếp theo)

MB 857 Lý Diệu Sinh 06.02.2023


Các bạn! ... Hôm nay chúng ta tiếp tục khảo sát bài Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh. “Bài bát nhã tâm kinh” có đoạn văn sau:

“… Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành thức. Vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, vô sắc, thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới. Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận. Vô khổ, tập, diệt, đạo. Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố. Bồ đề tát đỏa y bát nhã ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn."

Tạm dịch:

- Xá Lợi Tử! Các pháp đều không tướng, không sanh, không diệt, không cấu, không tịnh, không tăng, không giảm.

- Cho nên trong “cái không đó”: Không thấy có sắc (thân), không thấy có thọ, tưởng, hành, thức (tâm).

- Không thấy có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý (không căn).

- Không thấy có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp (không trần).

- Không thấy có nhãn giới cho đến không có ý thức giới (không thức).

Vì thế, người thành tựu cái “không” này:

Không thấy có vô minh và cũng không thấy có hết vô minh.
Không thấy có già chết, mà cũng không thấy có hết già chết (Rốt ráo rỗng rang, không ngã cùng ngã sở).
Cho nên, họ không thấy có Khổ, Tập, Diệt, Đạo (không thấy có đạo để tu, không thấy có đế để nương tựa)
Cũng không thấy có trí, không thấy có đắc, vì (tất cả) không có sở đắc (không thấy có trí để thành, không thấy có quả để chứng).
Khi vị bồ tát nương tựa vào trí tuệ bát nhã này, thì tâm không còn chướng ngại, vì tâm không chướng ngại nên không còn sợ hãi, xa lìa được những điên đảo mộng tưởng (của một chúng sinh), đạt thẳng cứu cánh niết bàn (của Phật đạo).

Chư phật ba đời, nương theo trí tuệ Bát Nhã nầy mà đắc quả vô thượng đẳng chánh giác (thành Phật).

CHTT/03 – Chuyển Y “Bát Nhã Tâm kinh” (tiếp theo)
Xin hỏi:

1) Thật nghĩa đoạn văn kinh nêu trên, muốn chúng ta thành tựu điều gì? (Khi trả lời, các bạn hãy mô tả bằng chính tâm chứng của mình, không diễn giải theo văn tự kinh)

2) Làm thế nào để thành tựu rốt ráo tinh thần đoạn kinh đã trích dẫn?

3) Vì sao lời kinh dạy rõ ràng như thế mà người tu hành phần lớn chưa thể thực hiện rốt ráo lời dạy này? Theo bạn trong sự tu tập của họ còn thiếu điều gì? (không nên thấy có thân tâm, không nên thấy có căn trần thức, không nên thấy có ngã cùng ngã sở, không nên thấy có vô minh cũng như làm cho hết vô minh, không nên thấy có đạo để tu, không nên thấy có đế để nương, không nên thấy có trí để thành, không nên thấy có quả để đắc, v.v...).

Rất mong nhận được những câu trả lời có ý nghĩa chắc thật nhất, từ sự trực nhận của các bạn!                               (05-05-2016)

Gợi ý TCTT/03 - Chuyển y “bát nhã Tâm kinh” (tiếp theo)
Đọc trả lời của các bạn mình cảm nhận như "những nhát dao bén chặt đứt phàm tình", thấy ngay sự an lạc, thản nhiên, tự tại trong lòng mỗi người. Thế mới biết, khi đã giác ngộ rồi, thì cho dù đang mang thân nữ cũng trở thành trượng phu!

Giá trị tâm tông là như thế, nó là những gì hiển nhiên nhất của thành quả thực chứng. Khác với giáo tông ở chỗ, một bên là dùng kiến thức để kiến giải câu hỏi rồi trả lời, một bên là dựa vào tâm chứng để trực nhận ngay việc ấy là cái gì. Tâm tông không dài dòng, không chú trọng diễn giải, không nặng về lý luận, chỉ nhắm thẳng tâm này mà hàng phục. Người xưa gọi là "trực chỉ nhân tâm". Trong Phật đạo, tâm tông hướng người tu hành thẳng một đường đến đích.

Nhìn vào câu hỏi Tâm Tông, tưởng chừng như rất dễ, nhưng lại cực khó. Để trả lời đúng câu hỏi tâm tông, người trả lời phải: "Bỏ kiến thức xuống, không chạy theo văn tự, không khởi suy lường, không chạy ra ngoài. Quay lại tâm này, tịch diệt tất cả, với một cái tâm rỗng rang nhìn thẳng vào nó để trực nhận vấn đề”.

Nhìn chung mọi người đều có những thành tựu đáng kể trong việc tu học thông qua nhãn quan tâm tông. Lợi thế của HĐ chúng ta là đã có một quá trình rất dài tu học giáo tông. Giáo tông như tấm bản đồ, chỉ cặn kẽ, rõ đường đi nước bước. Đến nay, HĐ chúng ta chỉ một việc, y như những gì đã biết, cứ thế mà tinh tấn.

Mình là người chỉ huy, ra hiệu lệnh để đoàn người cứ như hiệu lệnh mà thẳng tiến. Những sai sót của từng người sẽ được điều chỉnh bằng email riêng hoặc ĐT, như cách trước nay chúng ta vẫn làm. Các bạn cứ yên chí mà đi tới, không sợ sai lệch. Chính vì thế mà các câu trả lời của mỗi bạn là những tiêu ký (dấu vết), để từ tiêu ký này, mình nhận ra HĐ nào chưa đi đúng hướng sẽ điều chỉnh cho phù hợp! Đây là lý do vì sao, tâm tông đặt ra yêu cầu: "thường xuyên có những câu hỏi do mình đề ra, và các bạn có nhiệm vụ trả lời, sau đó là những bài kệ tụng".

Trước đây, sinh hoạt tâm tông dưới hình thức nhóm chúng, tập hợp tất cả mọi người. Vị đạo sư sau khi giảng giải, cắt nghĩa một đoạn kinh sẽ đặt ra các câu hỏi, sau đó môn đồ tư duy, ứng dụng và trực tiếp gặp để trình bày sở chứng.

Ngày nay, chúng ta không thể nhóm chúng được, không trực tiếp gặp nhau thường xuyên, hình thức email hay điện thoại là phương án tối ưu, là cách tốt nhất nhằm giải quyết những trở ngại về mặt địa lý. Kinh nghiệm cho thấy, những HĐ trao đổi với mình thường xuyên, HĐ đó gặt hái được những thành quả không ngờ.

Câu hỏi tâm tông đặt ra nhằm giúp các bạn "chuyển nghĩa kinh thành tâm chứng". Sau đó "trực chỉ chính tâm này" mà trả lời. Các vị HĐ chưa thành công trong việc chuyển y này nhất định sẽ trả lời sai, cần nỗ lực hơn nữa. Trả lời câu hỏi là một hình thức tu tập của tâm tông. Đây là bước tu tập rất quan trọng, nếu chúng ta chưa thành tựu bước này, sẽ không thể chuyển những hiểu biết của giáo tông ngày trước thành thuyết thông sau này... Nó giống như một phản ứng hoá học (giữa nghĩa kinh và tâm thức), kết quả của một phản ứng sẽ là câu trả lời thuyết phục nhất. Trong tâm tông khi nghĩa kinh phản ứng với tâm thức sẽ cho ra kết quả sau cùng, kết quả sau cùng chính là những câu trả lời đúng nhất.

Vì thế, sai đúng không quan trọng, cứ thoải mái trình bày thấy biết của bản thân. Rụt rè, e ngại, sợ sệt thì không phải là tâm thế của người tu hành sẵn sàng mở cánh cửa tâm tông! (06-05-2016)

Trong đợt trả lời câu hỏi lần này, có rất nhiều HĐ trả lời hay, chính xác, và thể hiện được chỗ giác ngộ. Một vài HĐ yêu cầu mình gởi ra những câu trả lời tiêu biểu, để mọi người tham khảo. Yêu cầu này có vẻ hợp lý, nhưng nếu xét kỹ, nó lại không tốt cho Các bạn! ... Các câu hỏi có công dụng nhất định cho từng người, mục đích của mình là: “Giúp các bạn tư duy, chiêm nghiệm, ứng dụng tự thân để thành tựu điều gì đó trong Phật đạo”. HĐ chưa giác ngộ, nhân chiêm nghiệm câu hỏi để có thể giác ngộ, các vị HĐ đã giác ngộ rồi, nhân câu hỏi sẽ đào sâu tư duy để có thể giác ngộ sâu hơn. Vị HĐ nào trả lời chưa đúng, sẽ tiếp tục tìm con đường đúng nhất.

Nói chung, một câu hỏi đưa ra có nhiều mục tiêu để các bạn đạt đến! Phần trả lời đúng của HĐ được coi là tiêu biểu chỉ mang tính chất tham khảo. Vì vậy, thời điểm này, mình chỉ thông báo tên các HĐ trả lời đúng, mà không công bố câu trả lời để tránh cho các bạn bị cột chặt vào một đáp án cứng nhắc, ảnh hưởng đến sức tinh tấn của mọi người. Điều này, đi ngược lại tinh thần của tâm tông.                                                                        (09-05-2016)

Các bạn! ...  Giác ngộ trong Phật đạo rất quan trọng. Giác ngộ có rất nhiều tầng bậc, sâu cạn khác nhau, nó như một sợi dây xuyên suốt quá trình từ sơ tâm đến vô thượng bồ đề. Tu hành trong Phật đạo mà chưa giác ngộ, giống như người đi tìm châu báu, mà không biết châu báu là gì, hình dáng nó như thế nào. Con đường tiến về vô thượng bồ đề có rất nhiều kho châu báu như thế, được để ở những vị trí tuần tự khác nhau, người tu hành sẽ lần lược khai thác từng kho châu báu một, cho đến kho cuối cùng mới thôi.

Người không giác ngộ, cũng giống như người ngồi trong thau, muốn nhấc chiếc thau lên. Hoặc giả như, người tự nắm tóc muốn nhấc mình lên khỏi mặt đất. Đây là việc làm không thể đối với một con người. Các câu hỏi chính là "tác động ngoại lực" giúp nhấc bổng một người lên khỏi mặt đất. Các câu hỏi qua emails là hình thức bổ khuyết những thiếu sót trong điều kiện mình và các bạn không thể gặp nhau thường xuyên để trực tiếp trao đổi!

Các dấu hiệu của việc giác ngộ ban đầu, ngoài mười dấu hiệu mình đã gởi cho các bạn hôm trước, nó còn có một điểm đặc biệt rất dễ thấy, đó là: "Bỗng dưng tâm ý lặng mất. Mọi suy lường không còn hiện khởi" …

Nếu còn vài tập khí suy lường, sinh tâm sinh pháp, tập khí này sẽ tịch diệt theo thời gian do sức mạnh của giác ngộ. Giống như sương mù nếu có sẽ bị mặt trời xua tan trong chốc lát. Chỉ dấu vừa nêu sẽ giúp các bạn kiểm chứng thành quả tu tập! (12-05-2016)

Tác Phẩm Lý Tứ

Những Dấu Hiệu của Giác Ngộ

MB 857 Lý Diệu Sinh 06.02.2023

Các bạn! ... Giác ngộ rất quan trọng, giác ngộ chính là sinh mạng thứ hai của người tu hành. Dù giác ngộ sâu hay cạn, giác ngộ luôn luôn là tài sản quý nhất mà người tu hành nào cũng mong muốn có được. Tu hành trong Phật đạo mà chưa một lần giác ngộ, cho dù đó là sơ ngộ thì vị tu hành này “chỉ như một người bình thường nhìn về Phật giáo”!

“Không” hay “chưa giác ngộ”, kinh điển, lời thuyết pháp chỉ là thứ ngoại ngữ xa lạ. Nếu cố dùng tri thức để hiểu thì cũng giống như học thuộc thực đơn của nhà hàng, thuộc như cháo, nói vanh vách mà chẳng no béo gì! Còn người giác ngộ, cho dù sơ ngộ, đối với họ kinh điển, lời pháp chính là thức ăn là hơi thở. Tùy công đức, tuỳ chỗ ngộ mà hưởng được lợi ích từ lời kinh, từ lời thuyết pháp. Giống như người có tiền vào nhà hàng, tuỳ vào số tiền nhiều ít, sẽ được phục vụ những thức ăn tương xứng.

Xưa nay, người cầu đạo giác ngộ phải lặn lội, đôi khi băng rừng vượt suối đánh đổi cả sinh mạng để mong tìm được điều cần tìm. Thế nhưng, tìm kiếm đạo giác ngộ không dễ, nếu không nói như “mò kim đáy bể”.  Ngày nay, tuy rằng sinh ra trong thời mạt pháp, nhưng HĐ chúng ta có được may mắn là đã tìm thấy một chút ánh sáng của đạo giác ngộ, một chút ánh sáng này tuy nhỏ nhưng nó cũng đủ sức soi rọi để chúng ta hết vô minh tăm tối. Thế thì chẳng còn lý do gì chúng ta không nỗ lực tinh tấn, không có lý do gì để chúng ta không cần cầu mong muốn có được chút ánh sáng này. Không lý do gì mãi mãi gìn giữ tiểu tâm như người đời để đón nhận phiền não mà không mở cửa lòng để đón nhận đại tâm, hầu thoát ra khỏi kiếp phàm phu nhỏ nhen, trở thành một đại trượng phu!

Các bạn! ... Giác ngộ không khó. Chỉ cần bỏ cái ngã này, chỉ cần quay lại nguồn tâm không chạy ra bên ngoài, chỉ cần không làm tôi mọi cho ý thức, từ bỏ mọi toan tính hơn thua như người đời, từ bỏ thứ “tâm hạ liệt” đố kỵ ganh ghét, từ bỏ chuyện thị phi phải quấy đúng sai, hãy tự coi mình "chẳng là cái đinh gì trong cuộc đời này". Làm được như thế, không cầu giác ngộ cũng đến, không mong vô minh cũng tiêu! Người giác ngộ nhất định sẽ tự biết mình đã giác ngộ hay chưa. Các dấu hiệu để ta có thể cảm nhận được rằng đây chính là tâm thế của một người giác ngộ:

−  Kiết sử tự mất, không còn tham sân si.

− Không dụng công mà thiền vẫn tự được, thường sinh hỷ lạc, thường thấy khinh an, không còn sợ hãi.

− Các thứ tiểu tâm bỗng dưng biến mất, như trời không mây (Đố kỵ, ganh ghét, bè phái, phiền não...).

− Thích độc cư thiền định, chẳng ưa bầy đàn, chẳng ham tranh đấu.

− Không thích chuyện đời, tránh xa thị phi phải quấy, chỉ thích tụng đọc, nghe thuyết, trao đổi Phật Pháp.

− Có tâm ít muốn biết đủ, không có tâm mong cầu.

− Thường sinh tâm vui mừng khi biết được có người vừa mới giác ngộ, giống như loài sư tử vui mừng khi biết rằng đang có sư tử con ra đời. (Khi nghe có người giác ngộ mà sinh tâm muộn phiền tật đố, phải biết cái tâm hạ liệt hãy còn, nếu giữ tâm này, rất khó giác ngộ)

− Không có tâm làm Thầy, vì chẳng ưa danh tướng.

− Tôn trọng chân lý, thường hay sinh trí tuệ, chẳng khởi niệm vô minh.

− Niết Bàn an vui chính là ngôi nhà, là nơi người giác ngộ an trú.

Có rất nhiều dấu hiệu để một người có thể tự nhận biết mình đã thật sự giác ngộ hay chưa. Nếu đã giác ngộ, mà thi thoảng vẫn còn có một vài điều chưa được như ý khởi lên, phải biết đó là tập khí vô thuỷ, lập tức ngăn chặn, dừng ngay, thì tâm sẽ bình yên trở lại.

                                                                                            (29-04-2016)

Tác Phẩm Lý Tứ

Chuyển Y Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh

MB 857 Lý Diệu Sinh 06.02.2023

Các bạn! ... Tôn chỉ đầu tiên của tâm tông là chuyển hoá tâm kinh thành tâm tông để thành tựu bất nhị pháp môn, tức kinh với tâm không còn là hai pháp. Có nghĩa: "Kinh là tâm và tâm là kinh". Đây là tiền đề quan trọng để thành tựu trí tuệ vô tướng, gọi là thành tựu bát nhã trí, khác với tương tợ bát nhã của nhị thừa.

Thời gian vừa qua, trong yêu cầu này, nhằm giúp các bạn thấu suốt thật nghĩa của "tâm và niệm", chúng ta đã khảo sát bản chất của tâm và niệm thông qua bản chất của hai nghĩa "sắc và không" trong bát nhã tâm kinh. Để tiếp tục công việc của tâm tông, chúng ta lại tiếp tục khảo sát bài bát nhã tâm kinh. Lần này, mình có vài câu hỏi gởi đến các bạn. Trong lúc các bạn tìm cách trả lời câu hỏi, đây cũng chính là lúc các bạn tập: “Rời xa kiến giải, thoát khỏi ảnh hưởng của văn tự quay trở về bổn tâm, lặng lẽ quan sát, từ đó mới có thể trả lời đúng câu hỏi”. Làm việc này, chính là một hình thức tu tập mới của tâm tông, tức "y nơi bổn tâm" để soi thấu (chiếu kiến) "bổn pháp", một dạng tu tập thông qua bát nhã trí.

CHTT/02 – Chuyển Y “Bát Nhã Tâm Kinh”
Trong bát nhã tâm kinh có đoạn văn sau: "Xá Lợi tử! Thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm". (Xá Lợi Tử, các pháp đều không tướng, không sanh, không diệt, không cấu, không tịnh, không tăng, không giảm).

Lời kinh trên có nghĩa rằng: Này ông Xá Lợi Phất! Tất cả các khái niệm, quan niệm, nhận thức, nghĩ suy (pháp) đều không có tướng, vì thế nó không có tướng sanh, tướng diệt (vô tướng). Nó cũng chẳng có tánh dơ hay tánh sạch (không tánh). Cho nên, nó chẳng thể tăng, chẳng thể giảm (vô lực, vô tác dụng).

Xin hỏi:

1) Muốn thấu suốt thật nghĩa lời dạy này, người tu hành phải "dùng cái gì? (nương vào đâu)" để quan sát đoạn kinh trên?

2)  Lời dạy trên nhằm giúp người tu hành sau khi thấu suốt thật nghĩa, sẽ thành tựu điều gì trong Phật đạo?

3)  Sau khi đã chuyển y “lời kinh” thành “tâm chứng”, các bạn ứng dụng chỗ chứng này như thế nào (bằng cách gì) vào đời sống hằng ngày?

Chú ý! Vì đây là câu hỏi của tâm tông, các câu trả lời phải thuộc về tâm chứng, mọi kiến giải hay suy lường đều không được chấp nhận! Mỗi câu trả lời của HĐ, chính là tự thân trình bày phần sở chứng của mình trước đại chúng. Vì thế, câu trả lời phải chín chắn, thể hiện sự thấu suốt và truyền tải được nét siêu việt của Tâm Tông.                                                                   (25-04-2016)

Gợi ý CHTT/02 – Chuyển Y “Bát Nhã Tâm Kinh”
Các bạn! ... Thật ra, các câu hỏi tâm tông vừa dễ lại vừa khó.

-  Dễ là, đối với những vị đã giác ngộ, sâu cạn không cần thiết, chỉ cần nhìn vào tâm này là có thể trả lời được ngay, lại không cần văn tự trau chuốt, nói theo cách của Ngũ Tổ là: "hễ thấy là thấy liền, vừa khởi suy lường liền sai."

- Khó là, nếu lấy kiến thức để suy lường, để cân đong đo đếm, rồi chọn phương án trả lời tối ưu thì không thể cho ra một kết quả đúng với yêu cầu tâm tông. Nó giống như sáng mua vé số, quyết lựa số trúng, nhưng chiều dò thành trật lất!               (26-04-2016)

Các bạn! ...  Có thể nói, đọc những câu trả lời của HĐ từ bữa đầu đến giờ, mình rất hoan hỷ. Sáng nay, mình có buổi nói chuyện thường lệ với HĐ Houston, mọi người đều tốt. Mình cũng rất vui mừng, từ lúc triển khai tâm tông đến nay, rất nhiều HĐ giác ngộ chắc thiệt. Họ thành tựu từ tâm chứng hẳn hoi, chẳng phải suy diễn bằng cái đầu hay dựa theo kiến thức rồi phán bừa!

Mình cảm nhận HĐ rất vững vàng. Mỗi người đều có chỗ thành tựu nhất định, có thể coi đây là kỳ tích, không ngờ tiền bán thế kỷ 21 mà lại có những con người tu hành thực chứng không khác chi thời chánh pháp. Có tâm sự với những vị đó mới thấy họ là những con người rất bình thường nhưng không tầm thường, những điều họ đạt được hiếm thấy xưa nay! Nhân niềm vui này, rất mong mọi HĐ đều có những thành tựu như vậy hoặc tốt hơn để mai này làm lợi ích cho đời.             (27-04-2016)

Các bạn! ...  Trả lời lần này của vị HĐ rất rõ ràng, chính xác. Không còn chạy theo kiến thức: “Hôm bữa, nhận được câu hỏi từ Thầy, khi ấy trong con nổi lên máu ngu và phóng dật, nó trú ẩn trong con lúc nào không hay, đọc xong câu hỏi thấy rất đơn giản, vội viết email gởi cho Thầy liền... Ha ha ha! Sự thật thiệt là tréo ngoe, kết quả 3 lần chẳng đúng. Thiệt buồn cười cho cái ngu phóng dật.”

Các bạn! ... Tâm tông đòi hỏi thực chứng, từ thực chứng sẽ cho ra chiều sâu nội tâm, từ chiều sâu nội tâm sẽ nhìn sự việc hoàn hảo, thấy được sự việc hoàn hảo sẽ “hết ngu”, từ “hết ngu” sẽ trở thành “kẻ trí”! ... Trí tuệ là đỉnh cao nhất của Phật đạo. Muốn có trí tuệ trong Phật đạo phải lần lượt trải qua (thành tựu) những địa vị nhất định của bồ tát đạo, gọi là chứng quả.

Trí tuệ càng sâu, quả vị (chứng) càng cao, chứng đến bao giờ không còn một quả nào nữa để chứng, gọi là bậc vô tu vô chứng. Giống như người xa quê hương nhiều năm tháng, trên đường quay trở về nhà, về đến nhà, người này thôi không còn đi nữa. Chính điều này, tất cả kinh Phật đều ca ngợi, tán thán bậc vô tu vô chứng. Vô tu vô chứng là không còn gì để tu để chứng nữa, như Thế Tôn của chúng ta!                                                               (28-04-2016)

Tác Phẩm Lý Tứ

Tâm Tông Và Giáo Tông

MB 857 Lý Diệu Sinh 06.02.2023

Sao Gọi Là “PHẬT TÂM TÔNG” Hay “TÂM TÔNG”?
Tâm tông là ngay nơi phàm tâm, thẳng tiến về thánh tâm (trực chỉ nhân tâm), từ thánh tâm trực chỉ bồ tát tâm, từ bồ tát tâm trực chỉ phật tâm gọi là phật tâm tông (nói gọn là tâm tông).

Để vượt qua các thứ tâm này, từng môn đồ sẽ lần lượt được đạo sư trực tiếp khai thị, sau đó hộ trì bằng các bài kệ tụng cho mỗi giai đoạn, gọi là kệ tụng tâm tông. Những bài kệ tụng này được đồ chúng học thuộc, tụng đọc hàng ngày, chiêm nghiệm ý nghĩa, làm cơ sở trao đổi với nhau.

Trong bài kệ khai tâm vừa gởi cho các bạn, chính là công cụ để tối ưu hoá con đường tiến về tâm tông. Tức là chuyển y tâm kinh thành tâm tông. Bài kệ này ẩn chứa rất nhiều vi mật. Có công dụng giúp người chưa giác ngộ trì tụng thường xuyên sẽ được giác ngộ. Người đã giác ngộ, trì tụng thường xuyên sẽ viên mãn chỗ đã giác. Người viên mãn chỗ đã giác ngộ, trì tụng thường xuyên sẽ phát sinh trí tuệ và vị lai thấu đạt phật tâm tông.

Trong tông môn sẽ có nhiều bài kệ như thế, để giúp các bạn thành tựu từng giai đoạn. Vì thế, các bạn hãy trì tụng và chiêm nghiệm từng lời, từng câu, nhất định vô cùng lợi ích.  (10-04-2016)

Sự Khác Biệt Giữa “TÂM TÔNG” Và “GIÁO TÔNG”
Các bạn! ...  Giáo tông thuộc về khoa giáo, nhờ vào học tập và suy luận mà thành, thành tựu này thuộc về kiến giải. Sau sáu năm triển khai "giáo tông" qua cả ngàn bài viết, giống như dẫn các bạn đi du lịch trên tấm bản đồ.  

Những HĐ dám căn cứ vào những hiểu biết từ tấm bản đồ để tự mình dấn thân vào thực địa, kinh gọi là "từ bỏ ngón tay để thấy mặt trăng" nhằm xác chứng những gì đã học để chứng thiệt tế, số lượng HĐ này không quá số ngón tay của hai bàn tay (< 10).

Thế nhưng, chỉ hơn một tháng triển khai "tâm tông" bằng cách các HĐ đọc Đại Bát Nhã, mình nương vào những vướng mắc trong đó để khai thị, đồng thời tụng kệ tụng tâm tông để hộ trì. Số lượng HĐ thật sự giác ngộ bằng cách này, lại tăng gấp ba lần số lượng người giác ngộ của sáu năm giáo tông. Thế mới biết oai lực của tâm tông mạnh đến chừng nào!

Trong thời gian triển khai giáo tông, có một số người ngộ nhận. “Học thuộc tấm bản đồ mà tưởng đã đến nơi.” lại rơi vào kiến giải. Thực tế trong HĐ chúng ta hiện nay không thiếu những vị lâm vào hoàn cảnh này, rốt cuộc "cơm chẳng ra cơm cháo chẳng ra cháo". Vì thế, giáo tông và tâm tông trở thành "điều kiện cần và đủ" của tông môn. Hai thứ này giống như con chim với đôi cánh, chiếc cánh giáo tông trở thành thuyết thông, chiếc cánh tâm tông trở thành tông thông. Nếu con chim chỉ có một cánh, con chim này sẽ thành "con chim què"....

Trong Vô Đối Môn (VĐM), mình có viết: "Đã qua rồi thời kỳ chúng ta được nuôi lớn bởi bầu sữa giáo tông", không biết khi đọc VĐM, các bạn có để ý câu này hay không? Hoặc mình cảnh báo trước trong Tâm Pháp bằng hai câu đối:

"Lý viên dung diệu pháp (giáo tông), Tứ thâm đạt tâm tông"

Hai câu này nhằm ám chỉ người tu hành phải hội đủ hai điều là giáo tông và tâm tông. Giáo Tông thuộc về khoa giáo, thành tựu này thuộc về kiến giải, giống như "học thuộc thực đơn của một nhà hàng", học thực đơn thì chẳng phải mất tiền, vì thế ai học cũng được, thậm chí nhà hàng khuyến khích người học, nhưng thuộc mà chẳng được no bụng.

Trái lại, sau khi thuộc món ăn từ thực đơn, thực khách muốn no, phải gọi món ăn, mà gọi món ăn trong túi phải có tiền. Đây là cái ngặt nghèo của Tâm Tông, vì thế ngày xưa Huệ Khả chặt tay trả nợ, Tát Đà Ba Luân bán thân lấy tiền để mua tâm tông, tiền thân Bồ Tát cho quỷ ăn thịt mình coi như học phí.

Nói theo ngôn ngữ thiền môn, "muốn vào cửa tâm tông, phải đi bằng hai cái đầu gối", nếu những ai chưa biết đi bằng hai đầu gối mà cầu được tâm tông, chỉ là chuyện nằm mơ giữa ban ngày!

Kinh và lịch sử nói như thế, hôm nay mình cũng lại nói như thế. Thời gian qua, những HĐ nào dám từ bỏ cái “ngã hạ liệt”, chẳng vừa chạy vừa la như đạp lửa, biết đi bằng hai cái đầu gối để cầu Giác Ngộ Tâm Tông đều được toại nguyện. Hơn một tháng nay, hàng loạt HĐ của chúng ta đã minh chứng sự đúng đắn của chân lý này.

Các bạn! ...  Đã đến lúc chúng ta thật sự phải rời "cái bầu sữa giáo tông", giai đoạn của suy luận và kiến giải. Chúng ta bước tiếp vào con đường mới của tâm tông.

Để thực sự lần lượt chiếm lĩnh các ngọn núi tâm tông, mình có một câu hỏi thuộc về bát nhã tâm kinh. Vì là câu hỏi của tâm tông, phần trả lời phải đúng văn phong của tâm tông không thuộc phạm vi kiến giải. Rất mong nhận được những câu trả lời đạt thẳng ý nghĩa tâm tông từ các bạn.

(Câu Hỏi Tâm Tông) CHTT/01 – Thấu Suốt Thật Nghĩa.
Muốn thấu suốt thật nghĩa của hai câu "sắc tức thị không hoặc sắc bất dị không" người tu hành phải chân thật thấy được điều gì?

Chú ý: Không được trả lời rằng “Phải thấy ngũ uẩn giai không, hay hành thâm bát nhã ba la mật đa”, hoặc hô khẩu hiệu “thấy bổn tâm”.                                                                        

(04-04-2016)
 

Subscribe to