Tác Phẩm Lý Tứ

Tự Tại Và Thần Thông

MB 1157 Lý Mỹ Linh 05.02.2023

Tâm phải thanh tịnh rốt ráo, đầy đủ trí tuệ. Nếu chưa được như vậy thì người tu hành tâm có tự tại nhưng không rốt ráo, vì tập khí và “vô minh trụ địa” vẫn còn, Phật gọi là hai phần sở trí ngu. Viên mãn quả Vô Thượng Bồ Đề tức khi thân, khẩu, ý hành động theo trí tuệ như Phật thì mới được thật sự tự tại. Người còn ở địa vị tu hành, tự tại có chừng mực, và vì còn chừng mực nên phải tinh tấn tu hành. Vả chăng khái niệm “tự tại” hiểu như thế nào còn phải coi lại.

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ

Hỏi:    Thưa Thầy,

Trong Phật đạo thường đề cập đến hai chữ tự tại... Xin Thầy cho biết, tâm tự tại, thân tự tại, hay cả hai cùng tự tại? Tu hành đến chừng mực nào mới được tự tại?

Trả lời: Đúng là có tự tại cả thân và tâm, nhưng muốn được như vậy thì:

- Tâm phải thanh tịnh rốt ráo, đầy đủ trí tuệ. Nếu chưa được như vậy thì người tu hành tâm có tự tại nhưng không rốt ráo, vì tập khí và “vô minh trụ địa” vẫn còn, Phật gọi là hai phần sở trí ngu. Viên mãn quả Vô Thượng Bồ Đề tức khi thân, khẩu, ý hành động theo trí tuệ như Phật thì mới được thật sự tự tại. Người còn ở địa vị tu hành, tự tại có chừng mực, và vì còn chừng mực nên phải tinh tấn tu hành. Vả chăng khái niệm “tự tại” hiểu như thế nào còn phải coi lại.

- Thân tự tại? Thân nào mới tự tại? Thân mà mình đang cưu mang là thân nghiệp, đã là thân nghiệp thì ít nhiều phải chịu tác động của nghiệp. Tuy vậy, nếu tâm tự tại thì thân nghiệp tuy bị chi phối bởi nghiệp quả, nhưng tâm vẫn có thể vượt qua, nên tâm tự tại thì thân cũng tự tại. (Người đắc đệ tứ thiền có thể đáp ứng yêu cầu này).

Các Bồ Tát tự tại, vì thân của họ là thân thị hiện, tự tại đến mọi nơi mọi chỗ không bị ngăn ngại bởi nghiệp. Ví dụ: Một người nếu cầu Quán Thế Âm Bồ Tát cứu độ. Khi nguyện cầu này thành tựu, dù người đó ở đâu Bồ Tát Quán Thế Âm vẫn có thể hiện đến cứu hộ, cho dù ở giữa biển khơi hay trong lòng đất…

- Muốn được “thân này” người tu hành phải như “Hư Không”, không còn chủ thể, chỉ còn nguyện lực. Vì là hư không nên có thể đến mọi nơi không ngăn ngại gọi là tự tại. Ví như người đào đất, khi đào lỗ tròn thì hư không liền đến với lỗ tròn, lỗ dài thì đến lỗ dài, trên núi thì hư không lên núi… Một người đào thì hư không đến với một người, ngàn người đào thì hư không đến ngàn nơi nên gọi là tự tại. Quán Thế Âm là nguyện chứ không phải con người có chủ thể, có thể tùy hiện theo công đức và tâm nguyện chúng sanh nên Bồ Tát Quán Thế Âm có mười hai ứng thân.

Hỏi: Khi con hỏi đến thần thông về thân thì lại có một số người không cho con hỏi tới hay thắc mắc. Làm như thế có được cho là đúng không?

Trả lời: Không cho hỏi hay thắc mắc là trật (sai). Khi có người hỏi đến những vấn đề liên quan Phật pháp phải ôn tồn giải thích, và lời giải thích phải dựa trên cơ sở kinh điển, ý nghĩa và đúng Chánh pháp.

Hỏi: Nhưng quả thật trong các kinh điển những bậc A La Hán và Bồ Tát đều thần thông tự tại cả thân và tâm. Chuyện đó như thế nào?

Trả lời: Đúng là các A La Hán và Bồ Tát đều thần thông tự tại cả thân và tâm. Nhưng không phải tất cả đều như nhau vì nhiều nguyên nhân. Đó là: Công đức, trí tuệ và phước đức. Câu chuyện ngài Mục Kiền Liên thấy hai con quỷ khoáng dã còn ngài Xá Lợi Phất cũng ở đó mà không thấy, hoặc ngài Ma Ha Ca Diếp thấy bộ xương bay trên hư không còn các A La Hán đi theo không thấy là một ví dụ…

Hỏi: Đức Phật là ‘Pháp Vương Tử’, chẳng lẽ không phải vua pháp của thần thông luôn hay sao? Ngày xưa hiển lộ thần thông thì cũng chẳng ai bằng. Sao pháp này mình chưa được tự tại hoặc ít ra cũng thấy được một chút gì?

Trả lời:  Đức Phật là đấng Pháp Vương, tức là vua pháp, không phải “Pháp vương tử”. Vua pháp hay vua thần thông? Phật biết tất cả các thứ thần thông, kể cả những thứ người đời không biết hoặc chưa từng nghe đến. Nhưng Phật chưa bao giờ xưng là vua thần thông, chỉ xưng là vua pháp (pháp vương). Pháp khác thần thông khác, hai món này không can hệ với nhau. Pháp là những nhận thức do ý hoặc trí huệ sanh. Thần thông là một nghiệp riêng (biệt nghiệp trong biệt nghiệp) khác nghiệp quả hiện tiền. Có thể hiểu đây là một dạng năng lực đặc biệt. Ví dụ con chim bay gọi là nghiệp, nếu con người bay được thì gọi là thần thông, tức là những hành động tạo tác không giống (vượt khỏi) nghiệp người đó đang cưu mang.

- “Mình không thấy?” Mình: Thì chỉ thấy những gì trong nghiệp. Nghiệp cho phép thấy mới được thấy. Ví dụ: Con mắt (nhục nhãn) chỉ được phép thấy cái bình, cái bàn… xa quá không thấy, nhỏ quá không thấy. Tai, mũi, lưỡi và các căn cũng vậy. Tu tập đến khi nào hết cái mình thì có thể thấy được chút đỉnh nhưng không phải bằng con mắt thịt (nhục nhãn) này. Vì thế Phật Giáo có đến năm con mắt gọi là Ngũ Nhãn. Không thấy thì tự trách mình, các con mắt kia không phải thứ đòi hỏi mà được, vì nó là kết quả cần khổ tu hành. Cố gắng. Muốn tự tại cũng vậy.

Hỏi:  Trong Kinh Sa Môn Quả cũng đề cập là tất cả A La Hán đều có lục thông và có thể phi hành. Điều này như thế nào?

Trả lời:  Điều này có gì thắc mắc, giống như người giàu có xe hơi, đây là việc tự nhiên.

Khi A La Hán phi hành, chỉ có những người có nhãn lực tương ưng mới thấy, không phải ai cũng thấy. Bồ Tát phi hành thì chưa chắc A La Hán đã thấy. Đọc Hoa Nghiêm Quyển Bốn sẽ thấy điều này. Xá Lợi Phất muốn đi theo ngài Văn Thù Sư Lợi phải nhờ Phật gia bị thần lực…

Hỏi:  Nếu chẳng có tha tâm thì khó biết người suy nghĩ gì để điều phục phải không Thầy?

Trả lời:  Không hẳn như vậy. Nếu có được Đạo Tướng Trí, thì điều phục người hiệu quả hơn.

Hỏi: Nếu chẳng có Thiên nhãn thì đâu thấy được các cõi nước để chứng minh rằng khi mình nói mình thấy, mình không vọng ngữ. Giống như chuyện thấy Cực Lạc. Nếu con thật chưa thấy thì nói ai tin, và lấy cái gì để mà nói cho người?

Trả lời:    Như vậy thì nên có Thiên nhãn.

- Ai biểu nói mình thấy để rồi mang lỗi vọng ngữ, cứ nói kinh nói như vậy, như kia thì khỏi sợ lỗi, và lời này mới đáng trân trọng.

- Không cần phải chứng minh, và kinh đã nói như thế ai không tin thì đành chịu. Người đời rất nhiều thứ đâu có thấy mà vẫn tin, ví dụ như ông cao tổ của họ, họ đâu có thấy, hoặc con virus chẳng hạn.

- Căn cứ kinh mà nói chứ lấy cái gì. Ai không tin uy tín của Phật thì hãy lánh xa người đó là cách tốt nhất.

Hỏi:  Ngày xưa Đức Phật có thể làm cho tự tâm bà Vi Đề Hi thấy các cõi nước Phật. Vì thế khi Phật hỏi đến thì bà Vi Đề Hi không tin sao được?

Trả lời:  Có những điều Phật làm được mình không làm được. Muốn làm được như vậy thì hãy tu cho thành Phật. Điều này đâu có gì lạ.

Bà Vi Đề Hi muốn thấy các cõi nước phải nhờ Phật gia bị thần lực chứ không phải tự nhiên mà thấy.

Hỏi: Con lại suy nghĩ chắc có thể con phải hành phép quán Cực Lạc để thấy một lần cho biết (không còn nghi ngờ gì nữa). Người ở Cực Lạc còn thần thông khôn cùng huống chi là những Bồ Tát cao hơn ở cõi Ta Bà?

Trả lời:  Hoan hô ý tưởng độc đáo này.

Giả sử mình thấy mà người khác chưa thấy liệu chỉ một mình mình thấy đủ làm cơ sở cho họ tin chăng. Kinh ở trước mặt mà không tin thì người này đối với Phật Giáo “hết thuốc chữa”.

Hỏi: Vấn đề thứ hai nói về nhãn. Nếu các thức vốn “Một” (cũng chưa đúng lắm, chẳng đồng chẳng dị) thì tri và kiến thật chẳng khác?

Trả lời:  Các thức vốn “một”.

− Tri: Biết (thuộc về ý); − Kiến: Thấy (thuộc về con mắt). Ai bảo hai cái này không khác.

Hỏi: Vậy Thiên nhãn và Nhục nhãn rõ ràng nói về con mắt thấy của nhãn thức, thì ba nhãn kia chẳng lẽ không nói về cái thấy của nhãn thức hay sao?

Trả lời: Thiên nhãn và Nhục nhãn là hai cái thấy khác nhau. Nhục nhãn có cái thấy của Nhục nhãn, Thiên nhãn có cái thấy của Thiên nhãn. Hai thứ này không thể thay thế nhau. Ví dụ như ông A Na Luật là đệ nhất Thiên nhãn, thấy các cõi trời. Nhưng khi xỏ kim lại phải nhờ Phật, vì xỏ kim cần phải có nhục nhãn, mà ông ta bị mù nên bèn chịu thua.

Ai bảo ba nhãn kia nói về nhãn thức?

Hỏi: Chắc chắn ba nhãn kia cũng đồng từ nhãn thức nhưng được gia vào hương vị “Từ, Bi, Hỷ, Xả” để biến dạng?

Trả lời:    Nói bậy!!!

Hỏi: Nhưng nói cho cùng thì người có Pháp nhãn sao lại chẳng thấy (tức cái nhìn xa trăm dặm) của Thiên nhãn (con hiểu rằng vẫn do mê mà thấy mà biết)?

Trả lời: Pháp nhãn khác, Thiên nhãn khác.

Giống như câu trả lời ở trên, không thể thay nhau. Phật có Phật nhãn thì có luôn bốn nhãn kia, nhưng Bồ tát và các địa vị tu hành thì không nhất thiết như vậy, tùy vào địa vị mới được.

Hỏi:  Nếu không như vậy thì làm sao làm chủ Pháp đó?

Trả lời: Phật dạy: Các pháp không ai thọ giả, không ai tác giả, không thể lấy, không thể bỏ. Sao lại bảo phải làm chủ pháp đó!!!

Hỏi: Chắc chắn phải được chứ. Cũng giống như người thấy xa thì phải thấy gần (Thiên nhãn phải thấy được những gì Nhục nhãn thấy). Vậy người có Pháp nhãn phải có luôn Thiên nhãn chứ...?

Trả lời:   Giống như các câu hỏi trên.

Hỏi: Phật không thấy cảnh giới Cực Lạc rõ rệt thì làm sao nói trúng bon hết được vậy Thầy?

Trả lời: Đây là câu hỏi được đánh giá hay nhất, chờ lãnh thưởng!                                                            

(08-2010)

Hỏi: Con vẫn chưa hài lòng về sự “hiểu sơ sơ” của mình về Phát Nguyện và khám phá ra “thủ phạm” là vì thật sự con vốn không hiểu rõ định nghĩa của chữ ‘Nguyện’ hay ‘Phát Nguyện’ của Phật Giáo, cho nên thấy Bốn Hoằng Thệ Nguyện nặng nề đối với con.

Con tự hỏi Nguyện là gì? Là một điều ước muốn, mong mỏi?

Ví dụ như tôi ước gì tôi được trúng số thì tôi sẽ quyên hết số tiền cho trẻ em mồ côi, khuyết tật (không có ràng buộc bởi thời gian nào cả, và chừng nào tới trúng số thì tôi mới có tiền để mà cho chứ). Hay ‘Nguyện’ là một lời hứa? Ví dụ như tôi hứa là tôi sẽ tặng món A cho bà B vào tháng X năm Y này (có ràng buộc thời gian). Hay tôi hứa là tôi sẽ trả số nợ mà tôi đã mượn cho ông C vào cuối tháng này khi tôi lãnh lương (cũng có ràng buộc thời gian)? Có lẽ con chưa phân biệt được giữa lời hứa thế gian và Phát Nguyện trong Phật Giáo. Thầy có thể giải thích thêm, cho con dễ hiểu hơn không?

Trả lời:  Nguyện: Là lời hứa phát ra “Tận đáy lòng”. Nguyện khác lời hứa thế gian ở chỗ nguyện (tự nguyện) không dính mắc thời gian và không gian. Vì là lời tự hứa nên không bị ràng buộc. Khi đã nguyện, người phát nguyện nuôi dưỡng lời hứa này trong lòng đời đời kiếp kiếp, và tự mình thường nhắc nhở lời hứa này. Khi nào có cơ hội thì thực hiện và thực hiện bằng tất cả khả năng có được và bằng tấm lòng “bất vụ lợi”. Một người phát nguyện đến khi nào mình chính là lời nguyện này thì, lời nguyện sẽ thành tựu. Khi mình và nguyện không hai, thì đâu còn có kẻ phát nguyện và nguyện được phát, vì bây giờ nguyện hay họ là một. Cứ phát nguyện và nuôi dưỡng, còn việc thực hiện đến đâu và được bao nhiêu tùy khả năng, không ràng buộc bởi cái gì hết.

Hỏi: “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”. Con chưa hiểu nên thấy “vô biên” nhiều quá làm sao mà độ hết được tất cả chúng sanh? Nguyện thì cứ nguyện, đời này không thực hiện được thì đời sau nguyện tiếp. Đời sau vẫn không thực hiện được thì tiếp tục nguyện đời sau nữa nữa… (Khi nào mình dùng đời, khi nào mình dùng kiếp?) Có lẽ, thật không có chúng sanh hay nhiều chúng sanh như con tưởng vậy nhưng con vẫn chưa hiểu. Hay con cứ đọc theo như con vẹt bây giờ đi, rồi đến một lúc nào đó tự nhiên hiểu?

Trả lời: Đúng là chúng sanh vô biên, nên Bồ tát nguyện cũng vô biên, đã nguyện thì đâu có kể nhiều ít và bao lâu.

Đời hay kiếp trong Phật Giáo không phải là con số chỉ thời gian cụ thể, nhưng có thể tạm hiểu đời hay kiếp là tính từ lúc chúng sanh sinh ra và chết đi. Cũng có khi chỉ sự dài lâu không thể tính đếm được. Trong kinh có người hỏi Phật, thế nào là một kiếp, Phật đưa ví dụ: “Có một hòn đá to như núi Tu di, một người cứ một trăm năm lấy tấm vải Saki lau một lần, cứ một trăm năm lại lau, đến khi nào hòn đá này mòn hết thì gọi là một kiếp”. Do vậy, đời kiếp chỉ là con số mang tính ước lệ để chỉ sự bền bỉ dài lâu của việc gì đó. Khái niệm này không quan trọng, “hiểu” hay “không” không hề ảnh hưởng đến việc tu hành.

Hỏi: “Phiền não vô tận, thệ nguyện đoạn”. Con thấy “vô tận” cũng nhiều quá làm sao mà dứt hết tất cả phiền não? Phiền não ở đây là của chính bản thân mình… Của mình thì may ra dứt được, còn phiền não của tất cả chúng sanh khác thì làm sao mà có thể nguyện giùm để dứt giùm được?

Trả lời: Phiền não của chúng sanh cũng vậy. Phiền não chúng sanh nhiều nên Bồ Tát cũng phát nguyện dài lâu. Không nên quan tâm đến nhiều hay ít, quan trọng là phát nguyện và nguyện này có chân thật hay không. Một khi nguyện chân thật “tận đáy lòng” thì nhiều hay ít đâu có gì quan trọng.

Hỏi: Con không hiểu rõ Phát Nguyện như là “kỳ đà cản mũi” sự tinh tấn. Con nghĩ “Phát Nguyện” là một động lực giúp người tu hành tinh tấn hơn. Con không muốn nó biến thành một áp lực khi chưa hiểu rõ ý nghĩa. Ngoài mấy nguyện chung này (hai nguyện sau tính sau), có thể cũng sẽ có những nguyện riêng của con không?

Trả lời: Mỗi Bồ Tát có một số nguyện riêng, các nguyện trên là của ngài Phổ Hiền Bồ Tát. Nếu thấy ưng ý thì làm theo, nếu không đúng tâm nguyện thì có thể nguyện một ý nghĩa khác, đâu nhất thiết mọi người tu hành đều nguyện như vậy. Đúng, nguyện là một động lực để mình tinh tấn, khi nguyện mà tâm thanh tịnh thì nguyện này sẽ không ràng buộc. Vì thế, cái người tu hành nên quan tâm là:

Làm sao cho tâm này thanh tịnh. Một khi tâm không thanh tịnh thì nguyện cho nhiều cũng chỉ là lời hứa suông, vì bởi tâm không thanh tịnh thì lời nguyện sẽ vô thường, sớm nguyện chiều quên. Tốt nhất là tu cho tâm thanh tịnh, lúc đó không phát nguyện thì Phật cũng nhắc, đừng có lo.                                                      

(08-2010)

−−−••• ⁕ ⁕  ۝⁕ ⁕ •••−−−

 

Tác Phẩm Lý Tứ

Cơ Sở Lý Luận

MB 1059 Trần Văn Thắng 05.02.2023

Các thánh đệ tử trùng tuyên và Phật hứa khả hoặc thọ ký, đó là những gì kinh điển để lại. Đây là cơ sở đáng tin cậy vì không ai dạy đạo Phật giỏi hơn Phật. Cũng như học nghề thầy thuốc không ai giỏi hơn các giáo sư ngành y; nếu không phải các vị này nói ra thì lời nói người đời sau phải hội đủ hai điều, đó là Giới Luật và Nghĩa Kinh, như những gì trong kinh Phật có minh định rõ ràng.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Dù hiểu thế nào, tu thế nào với phương pháp trên, điều tiên quyết khi bắt tay ứng dụng tu hành phải căn cứ vào những cách thức tu tập do chính Phật tuyên nói.

1. Y cứ vào Giới luật và nghĩa kinh.

Các thánh đệ tử trùng tuyên và Phật hứa khả hoặc thọ ký, đó là những gì kinh điển để lại. Đây là cơ sở đáng tin cậy vì không ai dạy đạo Phật giỏi hơn Phật. Cũng như học nghề thầy thuốc không ai giỏi hơn các giáo sư ngành y; nếu không phải các vị này nói ra thì lời nói người đời sau phải hội đủ hai điều, đó là Giới Luật và Nghĩa Kinh, như những gì trong kinh Phật có minh định rõ ràng.

Trước lúc nhập Niết Bàn ngài A Nan hỏi Phật: “Bạch Thế Tôn! Sau khi Phật nhập Niết Bàn có người xưng là đệ tử Phật hoặc sứ giả của Phật tuyên nói một số điều cho đây là lời Phật. Bạch Thế Tôn! Phật tử đời sau làm sao biết đó có phải là lời Phật hay không?

Phật dạy: Sau khi ta nhập Niết Bàn nếu có người tuyên nói một chữ, một câu, bảo rằng đây là lời của Như Lai thì các ông đừng vội tin cũng đừng vội phê phán, đừng vội kết luận đúng sai mà hãy xem kỹ lời nói của người này có hợp với giới luật, có hợp với nghĩa kinh hay không?[[1]]

Nếu lời nói nào phù hợp với giới luật, phù hợp với nghĩa kinh thì biết rằng đây là lời Phật, nếu lời nói nào thiếu một trong hai điều này thì các ông phải coi lại.”[[2]]

Làm như thế để nhận biết sự khác biệt giữa thiền do Phật dạy và các loại thiền khác là việc làm rất quan trọng. Vì trong đời có vô số loại thiền và các loại thiền này có ý nghĩa mục đích riêng của nó; thậm chí trước thời Phật cũng đã xuất hiện nhiều loại thiền với nhiều hình thức tu tập, nên y như những gì Phật dạy, và căn cứ vào đó tu hành là tự chọn cho mình biện pháp khôn ngoan.

Vì khi chưa biết hết cái hay dở của các loại thiền khác, chưa biết rõ đừng đụng vào là cách tốt nhất để tự bảo vệ mình.

Khi nào tâm hết phân vân nghi hoặc và cứ lấy kinh điển làm chuẩn mực, thước đo thì tâm ấy sẽ không còn do dự; giống như người đi đêm ‘cứ nhìn thẳng đốm sáng’ mà bước, giống như người thợ xây dựng khi cân bằng chiều ngang có thước thủy, khi xác định phương thẳng đứng dùng dây dọi; phương tiện tuy thô sơ nhưng hiệu quả, và nếu người thợ hồ thiếu hai công cụ chuẩn này thì việc làm không được kết quả như ý.

Thế kỷ 21, kỷ nguyên của những thành tựu khoa học lớn lao, và việc trung thành với một phương pháp tu hành ra đời cách đây trên 2.500 năm quả là việc làm ‘mới thoáng nhìn hình như có gì đó không ổn và lạc hậu’.

Lịch sử phát triển của nhân loại sẽ không chờ đợi những ai đi chậm hơn nó hoặc cố ý tách rời nó.

Mọi người rồi phải hối hả chạy theo để bắt kịp con tàu phát triển, ai ngăn cản hoặc làm chậm lại sẽ là người có tội.

2. Đặt tâm cơ vào quá khứ.

Nhưng việc giải mã một cổ vật của lịch sử thì con tàu phát triển không thể nào chuyên chở hết những hiểu biết của quá khứ; do vì vấn đề cần giải quyết đó là ‘sanh tử xưa nay chẳng khác’; mà phương pháp truyền thống đã đáp ứng được yêu cầu này, nên việc giải mã bằng phương pháp đó là chánh đáng. Và khi muốn giải mã trí tuệ của quá khứ phải đặt tâm cơ của mình vào quá khứ mới mong có chút hy vọng đồng cảm với những gì quá khứ đã sống và nghĩ suy.

Do vậy trung thành với phương pháp tu hành ngày xưa để mong tìm cho mình lối thoát ngay hiện tại lại là công việc hữu hiệu. Chính đây cũng là phương cách ủng hộ con tàu phát triển để có được sự cân bằng nào đó khi nó di chuyển với tốc độ quá cao, mà con người ngồi trên đó cảm thấy chông chênh và mỏi mệt.

Phật giáo hay thiền của Phật giáo cho đến bây giờ chưa hề giảm bớt sự thu hút đối với con người; hay nói khác đi tuy kỷ nguyên của đỉnh cao khoa học, nhưng con người ngày một tìm đến với thiền nhiều hơn. Đây là bằng chứng xác thực cho ta thấy sự ủng hộ tinh thần của thiền Phật giáo đối với nhân loại; hay khác hơn một sự cộng sinh đầy thú vị giữa vật chất và tinh thần.

Trong thời đại văn minh giao thoa và sự mở cửa hội nhập giữa các nền văn hóa với nhau, lời kêu gọi giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc lại có giá trị nhất định của nó.

Vì sao Phật giáo cần phải giữ gìn bản sắc văn hóa của mình? Bản sắc văn hóa chính là tinh túy của nền văn hóa đó. Không giữ gìn thì khó lòng tìm thấy giá trị đích thực, và trung thành với phương pháp truyền thống sẽ là chiếc chìa khóa giải mã những bí ẩn của ngữ ngôn mà kinh điển đang tích chứa trong nó.

Tập sách này ghi lại những gì tìm được trong phương pháp cổ điển kia, với hy vọng sẽ góp phần làm phong phú kiến thức cho những ai muốn tìm hiểu Phật giáo và biết đâu có một chút gì đó bình an sau những căng thẳng trong đời sống tinh thần. 

“Trước đây trên 2.500 năm chúng sanh đau khổ vì sanh tử như thế nào thì 2.500 năm sau chúng sanh đau khổ cũng giống như vậy, và trước đây chư Hiền Thánh dạy chúng sanh giải quyết đau khổ như thế nào thì bây giờ cũng chỉ giải quyết như vậy, cho tới tận cùng đời vị lai cũng chỉ giải quyết như vậy mới mong đoạn tận khổ đau”.

[[1]] Trong kinh Di Giáo Phật dạy lấy Ba La Đề Mộc Xoa làm Thầy và trụ nơi Tứ Niệm Xứ.

[[2]] Trích tóm lược kinh Di Giáo.

(còn nữa) 

 

Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời

Tác Phẩm Lý Tứ

Định Hướng

MB 1059 Trần Văn Thắng 11.03.2022

Đãi lọc kinh điển để tìm ý nghĩa giống như người ta ép mía lấy nước, kinh như mía nguyên liệu, ý nghĩa bốn đế và 37 phẩm giống như phương pháp ép mía để lấy nước mía tinh chất... Hồi Phật còn tại thế, ba vô lậu học được áp dụng triệt để vì thế người tu hành thời đó thành tựu không khó, và các kinh điển để lại xác chứng điều này.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

1. Tìm hiểu cặn kẽ, thấu suốt bốn đế và 37 phẩm. 

Phương pháp quy đổi nói trên phải dựa vào các định hướng bắt buộc của Phật giáo, đó là ‘bốn đế và 37 phẩm’.

Nếu không biết định hướng hoặc xa rời định hướng này thì số vàng kia sẽ không thể tiêu thụ. Giống như người ăn không tiêu, thức ăn không được tiêu hóa sẽ là mầm bệnh mới. Bệnh cũ đã khổ rồi nay cưu mang thêm mầm bệnh mới thì khổ lại chồng thêm khổ.

Chính vì thế, công việc tiêu hóa văn tự kinh để cho ra nguồn sáng vô lậu làm xóa tan vô minh là một công việc hết sức khó khăn, đòi hỏi phải cần tới tư duy và trí tuệ. Giống như người ta đãi cát tìm vàng, sự cần khổ và tinh tế không thể thiếu trong hoàn cảnh này; hay giống như người dùi cây lấy lửa mọi ngưng nghỉ giữa chừng đều không tốt.

Tìm hiểu cặn kẽ bốn đế và 37 phẩm để ứng dụng tu hành giống như hiểu biết rành rẽ quy trình và phương pháp đãi vàng, sẽ không có một chút vàng nào cho người không thấu suốt quy trình và phương pháp đãi lọc.

2. Đãi lọc kinh điển để tìm ý nghĩa chân lý.

Đãi lọc kinh điển để tìm ý nghĩa giống như người ta ép mía lấy nước, kinh như mía nguyên liệu, ý nghĩa bốn đế và 37 phẩm giống như phương pháp ép mía để lấy nước mía tinh chất. Khi ép được nước phải bỏ bã xác, tức ‘từ bỏ chấp nhứt văn tự’; nếu thương tiếc xác bã hay tưởng lầm đó là thứ mình cần thì sẽ uổng công phí sức và không đạt được mục đích của người đi tìm nước mía.

Phương pháp nghiên cứu này không phải mới. Hồi Phật còn tại thế, ba vô lậu học được áp dụng triệt để vì thế người tu hành thời đó thành tựu không khó, và các kinh điển để lại xác chứng điều này.

Lần hồi theo thời gian hình như người tu hành không còn trung thành tuyệt đối với phương pháp truyền thống này nữa. Những dời đổi của thế sự, những tất bật của cuộc sống, sự rập khuôn tỉ mỉ không được ưa chuộng, vì thế nhiều phương pháp tu học mới ra đời để thuận hạp với đa số quần chúng và làm thỏa mãn thị hiếu tu hành, cũng như cách triển khai đơn giản nhằm giảm bớt sự đồ sộ của kinh điển.

Có lẽ vì thế qua thời gian làm đổi thay phương pháp, sự thành tựu ít đi và ý nghĩa kinh điển không được quan tâm đúng mức.

Những cái người xưa gần gũi bây giờ trở thành xa lạ với nhiều người tu hành; thực tế không ít người tu hành ngán ngẩm kinh điển, họ mong muốn cái gì đó hay một phương tiện ‘ít tốn công nhọc sức, đỡ vất vả tư duy, không phải siêng năng cần mẫn’ mà vẫn gặt hái được kết quả như ý.

Mong muốn như vậy không có gì đáng bàn bởi Phật cũng có mong ước như vậy: “Đại sự nhân duyên Phật ra đời là để khai thị ngộ nhập Phật tri kiến cho chúng sanh.”[[1]]

Nhưng muốn làm được điều này, theo lịch sử gần hai mươi năm sau, tức đa số đệ tử chứng thánh, Phật mới thực hiện được hoài bão của mình.

Đành rằng mong ước mau chóng thành tựu là chánh đáng nhưng một phương pháp được gọi là cổ truyền hay truyền thống hình như đến bây giờ vẫn còn nguyên giá trị.  Bởi trước đây trên 2.500 năm chúng sanh đau khổ vì sanh tử như thế nào thì 2.500 năm sau chúng sanh đau khổ cũng giống như vậy, và trước đây chư Hiền Thánh dạy chúng sanh giải quyết đau khổ như thế nào thì bây giờ cũng chỉ giải quyết như vậy, cho tới tận cùng đời vị lai cũng chỉ giải quyết như vậy mới mong đoạn tận khổ đau, vì rằng ‘sanh tử khổ đau’ ngày xưa và bây giờ hình như không khác.

Giới-định-huệ cho ra mảnh đất tâm trong sạch vô lậu, và khi mảnh đất nghiệp trở thành mảnh đất vô lậu thì bây giờ hạt giống Bồ Đề mới có thể gieo trồng và nảy mầm trên đó.

Môi trường bát chánh đạo không bị nhiễm ô khi nó được gìn giữ bởi giới-định-huệ thì đạo quả mới có thể tồn tại. Giống như cá chỉ tồn tại trong nước, thiếu ba món này thì ngũ căn và ngũ lực hút bằng cái gì đây để cho ra cành nhánh giác chi và hoa trái giải thoát?

Khi tâm chưa thật sự trong sạch thì mọi hy vọng tỏa hương của hai thứ hương vô lậu là giải thoát và giải thoát tri kiến hương làm sao tỏa mùi tinh khiết trong môi trường nhiễm ô cho được? Phật tri kiến chỉ được vẽ trên một nguồn tâm không cấu nhiễm, đoạn kinh sau nói lên điều này:

“Này các Tỳ Kheo, như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi, một người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay thuốc nhuộm khác - hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc tía - vải ấy sẽ được màu nhuộm không tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm không sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỳ Kheo, vì tấm vải không được trong sạch.

Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, cõi ác chờ đợi một tâm cấu uế.

Này các Tỳ Kheo, như một tấm vải thanh tịnh, trong sạch, một người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay thuốc nhuộm khác - hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc tía, vải ấy sẽ được màu nhuộm tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỳ Kheo, vì tấm vải được trong sạch.

Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, cõi thiện chờ đợi một tâm không cấu uế.” [[2]]

[[1]] Trích kinh Diệu Pháp Liên Hoa

[[2]] Trích kinh Trung Bộ, số 7 –Vatthùpatma sutta;  HT.Thích Minh Châu dịch.

(còn nữa) 

Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời

Tác Phẩm Lý Tứ

Phương Pháp Tiếp Cận

MB 1059 Trần Văn Thắng 11.03.2022

Ngọn đèn vô lậu của Phật giáo được làm nên bởi ba chất liệu quan trọng đó là: Giới - Định - Huệ. Khi ba món này hòa hợp nhuần nhuyễn sẽ cho ra thứ ánh sáng trí tuệ hay còn gọi là mùi hương, đó là giới hương, định hương, và huệ hương.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Phật giáo, hay nói khác đi ‘thiền của Phật giáo’ giống như một viên ngọc quý nhiều cạnh, nhiều màu. Khi đối diện tùy vào góc nhìn, ánh sáng, người ta cảm nhận về màu sắc, hình thể của viên ngọc rất khác nhau vì “nghiệp quả sai biệt cho ra thấy biết sai biệt.” Chính thấy biết khiếm khuyết này buộc người ta phải loay hoay đi tìm màu sắc đích thực của viên ngọc; càng đi tìm mới ngộ ra rằng thấy biết hôm qua không giống hôm nay và cứ thế càng đào sâu càng thấy vi diệu.

Chính sự loay hoay buộc người nghiên cứu phải tìm cho mình một phương pháp nghiên cứu; phương pháp hợp lý sẽ làm giảm bớt công sức khi những gì không liên hệ đến mục đích được loại trừ.

1. Nhắm thẳng điểm sáng.

Như người đi đêm ‘cứ nhắm thẳng điểm sáng’ bước tới, mắt không rời điểm sáng cho dù bóng đêm có tăm tối bao nhiêu cũng không sợ sai lạc phương hướng, vì một khi trong lòng không còn hồ nghi thì mục tiêu sẽ mau đạt được.

Với phương châm như vậy, điều đầu tiên phải xác định mục tiêu hay đốm sáng ấy là gì; Người tu hành thường hay nói nôm na Phật giáo có tám mươi bốn ngàn pháp môn. Tám mươi bốn ngàn pháp môn là tám mươi bốn ngàn cánh cửa vào đạo. Nó như ánh sáng của đốm sáng, nhưng cái gì làm nên đốm sáng để có tám mươi bốn ngàn tia sáng kia chính là mật mã đầu tiên cần phải giải.

Nếu giải được mật mã này thì tám mươi bốn ngàn hay hơn thế nữa cũng không là vấn đề. Công việc cần xác định bây giờ là dùng công cụ gì để có thể nhìn thấy những tia sáng ấy; vì những tia sáng pháp môn không phải là vật thể nên chẳng thể dùng con mắt quan sát ngũ dục để nhìn.

Vì vậy cần tạo một nhãn quan tương thích với tia sáng pháp môn để làm phương tiện nhìn ngắm là công việc đầu tiên. Giống như thỏi nam châm chỉ hút sắt, điều kiện để nam châm hút được phải là sắt và phải nằm trong vùng phủ từ trường, không phải sắt hoặc sắt mà nằm ở cự ly xa quá thì nam châm cũng đành chịu. Chính đây là nguyên tắc, xa rời nguyên tắc này thì việc nghiên cứu không đạt yêu cầu.

2. Ngọn đèn vô lậu.

Ngọn đèn vô lậu của Phật giáo được làm nên bởi ba chất liệu quan trọng đó là: Giới - Định - Huệ.

Khi ba món này hòa hợp nhuần nhuyễn sẽ cho ra thứ ánh sáng trí tuệ hay còn gọi là mùi hương, đó là giới hương, định hương, và huệ hương. Muốn thấy hay ngửi được mùi hương này phải là con mắt được thanh lọc hiện nghiệp, giống như tấm gương được lau chùi sạch sẽ.

Mọi Phật tử đều biết rằng chúng sanh sở dĩ bị trói buộc trong ba cõi hay bị các phiền não làm khổ đau vì đang sở hữu nghiệp quả. Nếu thoát ra hoặc bỏ rơi nghiệp quả thì họ sẽ không còn bị nghiệp quả trói buộc, giống như người tù được tha, mọi phiền não khổ đau do lao tù gây ra tự dưng chấm hết.

Nghiệp như bóng tối, Phật gọi là vô minh, nếu thắp lên ngọn đèn trí tuệ thì bóng tối vô minh sẽ tan biến, và mọi khổ đau sợ hãi không còn. Chính vì vậy ngọn đèn giới-định-huệ được thắp lên để xóa tan bóng đêm tăm tối và con mắt không bị nhiễm ngũ dục mới mong thấy được ánh sáng này.

Theo Phật giáo, một chúng sanh có mặt là do nhiều đời kiếp quá khứ đã tạo vô số nhân chẳng lành. Vì thế tu hành hôm nay là làm một cuộc sám hối dài cho đến khi nào hiện nghiệp không còn ngăn che, như con mắt đã tháo bỏ lăng kính nghiệp quả mới mong thấy được màu sắc trung thực của các pháp.

Giữ giới, tu thiền định, và tư duy ý nghĩa kinh điển chính là sám hối thân tâm; ba thứ này khi hòa được với nhau sẽ giúp nghiệp quả hiện tiền mỏng nhẹ. Bây giờ ý nghĩa kinh điển dễ hiểu hơn, thấm nhuần ý nghĩa kinh điển sẽ cho ra con mắt trí tuệ, mà kinh thường gọi là ‘tịnh pháp nhãn’.

Tịnh pháp nhãn trở thành công cụ thanh lọc nghiệp quả để nghiệp quả nếu có chiêu cảm thì chỉ chiêu cảm báo ác thành báo lành giải thoát, tức tập nhân và giao báo không đan xen lẫn nhau, giống như trời nóng bức gặp được bóng râm.

Vì thế, giới-định-huệ vừa là công cụ để nhìn vừa là đốm sáng soi đường cho hành trình sám hối.

  • Giới không khuyết giúp người tu hành dừng tạo nhân mới.

  • Thiền định thâm sâu là phương thức làm cho hiện tại không đủ duyên để nhân cũ thành tựu.

  • Trí tuệ thù thắng giúp thay đổi tính chất của quả báo hiện tại từ hữu lậu thành vô lậu, biến báo dữ thành báo lành.

Để có được ba món vô lậu quý giá này không có nơi nào tốt hơn là tìm kiếm trong núi rừng kinh điển. Chánh kinh chính là vùng đất chứa đầy pháp lành để người tu hành có thể tìm ba món báu vô lậu.

Nó là giềng mối, là điểm xuất phát của hành trình đi tìm chân lý;  Giống như người đi tìm vàng, kinh điển như núi vàng, khi vào đến đó tùy theo sức mỗi người sẽ mặc sức thu lượm. Có thể trong thời gian còn ở trong núi, người tìm vàng không có cơ hội sử dụng, nhưng khi về đến thôn làng, với những túi vàng đầy ắp người kia tha hồ mua sắm. Vàng có thể quy đổi thành nhiều thứ giá trị mà người không có nó hoặc những hiện vật tương tự, sẽ vĩnh viễn không thể được các vật phẩm giá trị này.

Phương thức tìm vàng, sau đó chờ thời cơ sử dụng, sẽ cho phép người tu hành quy đổi ‘ngữ nghĩa ẩn mật của kinh’ thành ‘ngọn đèn ba vô lậu học’, khi có được ngọn đèn ba vô lậu thì việc hóa dữ thành lành mới có thể thực hiện.

(còn nữa) 

Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời

Tác Phẩm Lý Tứ

Tổng Quan

MB 1059 Trần Văn Thắng 06.03.2022

Phần lớn tài liệu, bài giảng trong Phật giáo và Thiền là tâm huyết, đúc kết một đời tu hành, được phổ biến với mong muốn đem những gì tự thân thu hoạch được trong quá trình tu tập nhằm trao đổi, gởi gắm, và cùng nhau chia sẻ làm lợi ích cho những Phật tử khác cũng có mong muốn tìm hiểu chân lý trên tinh thần “tự độ, độ tha” là những việc làm đáng khuyến khích, ngợi khen và trân trọng.

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Hiện nay số lượng bài giảng Phật pháp, tài liệu nói về thiền không phải ít, một khối lượng đồ sộ, đa dạng, phong phú. Phật tử có thể tìm thấy ở nhiều nguồn, từ các buổi thuyết pháp, ấn bản, băng đĩa, mạng Internet, hay các cuộc mạn đàm do các nhóm người tu hành gặp nhau trao đổi.

Có thể nói những nguồn này góp phần rất lớn vào công việc phổ biến giáo lý, và tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu Phật pháp.

Phần lớn tài liệu, bài giảng này là tâm huyết, đúc kết một đời tu hành, được phổ biến với mong muốn đem những gì tự thân thu hoạch được trong quá trình tu tập nhằm trao đổi, gởi gắm, và cùng nhau chia sẻ làm lợi ích cho những Phật tử khác cũng có mong muốn tìm hiểu chân lý trên tinh thần “tự độ, độ tha” là những việc làm đáng khuyến khích, ngợi khen và trân trọng.

Phật giáo như một cổ vật, mà đã là cổ vật thì việc giải mã tìm hiểu  những bí mật còn ẩn dấu sau lớp bụi thời gian là việc làm mà những ai đam mê và quan tâm đến cổ vật chắc chắn không coi đó là việc làm thừa.

Ngoài việc giải mã để tìm hiểu giá trị đích thực, mọi người đều biết Phật giáo không thuần túy là một tôn giáo mà Phật giáo còn là một nền giáo dục, một loại văn hóa, một phương thuốc hữu hiệu nhằm xoa dịu những khổ đau con người phải cưu mang. Nhất là trong thời đại các giá trị vật chất đã làm con người bôn ba chạy theo và phải khổ vì nó.

Vì thế, giải mã Phật giáo để tìm hiểu những giá trị còn dấu kín phía bên trong là cần thiết. Đa số Phật tử coi đây là phương cách làm giảm mỏi mệt, là liệu pháp cân bằng giữa ồn náo vật chất và tĩnh lặng tâm linh. Điều này luôn là mối ưu tư, việc làm thường xuyên của những ai còn quan tâm đến việc giải phóng chính mình ra khỏi nô lệ trói buộc nói trên.

Đi tìm chân lý và khát khao tìm thấy chân lý luôn tồn tại trong nhân loại. Đối với Phật tử, chân lý cần tìm còn nằm sâu trong những ngữ ngôn kỳ ảo của kinh điển.

Mọi giải mã từ xa xưa đến hôm nay vẫn chưa thể làm thỏa mãn khát khao "làm thế nào để biết hết ý nghĩa ngữ ngôn kỳ ảo kia là gì và đến đâu mới được coi là giá trị đích thực của nó?"

Đây chính là động cơ thúc đẩy vô số cuộc hành trình tìm kiếm. Dù qua mọi thời gian hay không gian nó vẫn còn đang tiếp diễn. Vì thế những khám phá mới luôn luôn có mặt, Phật giáo gọi đó là tinh tấn. Tinh tấn với mục tiêu và ý nghĩa như thế nào, dầu giống hay khác nhau về tri thức hoặc mục đích đều có giá trị riêng của nó và tất cả đều đáng được trân trọng.

Tất nhiên việc giải mã một cổ vật đã khó, chưa nói đây là sản phẩm của trí tuệ thì nhất định không đơn giản và bất đồng quan điểm giữa những kiến giải là chuyện không thể tránh khỏi. Giống như ví dụ con dao của nhà vua hay chuyện những người bán sữa trong kinh Đại Bát Niết Bàn là các điển hình nói lên điều này.

Đạo Phật là đạo của trí tuệ mà đã là trí tuệ thì việc tìm hiểu làm giàu kiến thức, nhằm thỏa mãn đòi hỏi cần vươn tới của đỉnh cao trí tuệ không bao giờ có điểm dừng. Chính vậy những lời giải về Phật giáo ngày một phong phú hơn cả về ý nghĩa lẫn về số lượng là điều đương nhiên.

Trong đời sống của những vị tu hành cũng như những nhà nghiên cứu Phật học chưa một ai tự cho rằng mình đã hiểu hết Phật giáo, cho nên việc đi tìm sự thật chắc chắn còn tiếp tục.

Trên tinh thần vừa nêu, những kiến giải Phật giáo của tập sách này chỉ là một nét chấm phá trong bức tranh Phật giáo.

Với kinh nghiệm bản thân, tích luỹ kiến thức, cho ra lời giải đáp của riêng mình về Phật giáo; giống như người nội trợ chế biến thức ăn, cũng bao nhiêu vật liệu nhưng mâm cỗ này ý vị không giống mâm cỗ kia, đã nói lên cái khéo, cái sức sáng tạo của người nấu.

Cái mới bao giờ cũng làm người thưởng thức cảm thấy ngon miệng hơn. Vì thế sự chọn lựa thức ăn trên bàn tiệc luôn là quyền tự do của mỗi người. Không ai có thể ép buộc người khác phải ăn món này, từ bỏ món kia, và không thể nói rằng món này đúng món kia sai vì đã là thưởng thức thì không thể có chuyện đúng sai hơn kém.

Điều này giống như thuốc chữa bệnh, giá trị tinh thần của mỗi món thuốc chỉ có khi nào phương thuốc này phù hợp và làm giảm nhẹ bệnh tật.

Mọi so sánh giữa hai phương thuốc có công dụng khác nhau nhất định sẽ khập khiểng và không muốn nói là vô lý. Nhất là về phương diện tôn giáo, mỗi người tự chọn cho mình con đường để đi và mục tiêu hướng đến. Người tu hành hay gọi đó là pháp môn, thật ra pháp môn chỉ là tên gọi để phân biệt cách thức tu hành.  Quan trọng là pháp môn đó giúp ích gì cho mình và đưa mình đến đâu trong Phật đạo.

Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời

Gửi tin nhắn đến người dùng

Thông báo bài viết mới

MB 1059 Trần Văn Thắng 06.10.2026

Xin chào Quý Đọc Giả,

Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.

https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/phat-giao-va-thien-tac-gia-ly-tu-0

Trân trọng,

Tags:

Tác Phẩm Lý Tứ

Phật Giáo Và Trí Tuệ

Content Editor 05.02.2023

Người tu hành trong Phật đạo lấy trí tuệ làm sự nghiệp. Cho nên một khi “sự nghiệp” này không được đặt lên hàng đầu, hoặc chưa thành tựu, thì bất cứ việc gì không nhằm mục tiêu tăng trưởng trí tuệ và thành tựu trí tuệ, dù nhân danh bất cứ ai, bất cứ điều gì và tốt đẹp cách mấy, cũng đều được coi là chướng đạo.

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ

Đối với Phật Giáo và những người tu hành trong Phật đạo, “Duy Tuệ Thị Nghiệp” được nhắc đến như một khẩu hiệu.

Điều này có thể được xem như là “Tuyên Ngôn Phật Giáo”, một “Thông điệp” gởi đến mọi người. Hay nói một cách khác, “Duy Tuệ Thị Nghiệp” là kim chỉ nam, là tư tưởng dẫn đạo trong hệ thống giáo dục Phật Giáo.

Cứu cánh của Phật Giáo là thành Phật hay chứng quả Vô Thượng Bồ Đề, có nghĩa là đạt đến Vô Thượng Trí Tuệ.

Vì vậy, Phật Giáo rất coi trọng trí tuệ. Người tu hành trong Phật đạo lấy trí tuệ làm sự nghiệp. Cho nên một khi “sự nghiệp” này không được đặt lên hàng đầu, hoặc chưa thành tựu, thì bất cứ việc gì không nhằm mục tiêu tăng trưởng trí tuệ và thành tựu trí tuệ, dù nhân danh bất cứ ai, bất cứ điều gì và tốt đẹp cách mấy, cũng đều được coi là chướng đạo.

Tuyên ngôn “Duy Tuệ Thị Nghiệp” không những chỉ có giá trị trong Phật đạo hay những người theo đạo Phật, mà nó còn là lời kêu gọi hết thảy nhân loại lấy đây làm phương châm sống.

Coi trọng sự nghiệp giáo dục và những thành tựu thuộc phạm trù trí tuệ. Vì rằng Phật đạo không thuần túy chỉ nhắm đến những tín đồ trung thành của mình. Trong thẳm sâu, Phật Giáo biết chắc rằng chỉ có trí tuệ mới là con đường duy nhất khiến chúng sanh thoát khỏi hoàn toàn khổ đau, hay ít ra giảm thiểu đến mức thấp nhất khổ đau mà mỗi chủng loại đã và đang cưu mang như là một đặc hữu của sự sống.

Điều thẳm sâu này đã được minh chứng rất rõ trong hệ thống kinh điển hay giáo lý Phật Giáo. Phật thuyết pháp cho mọi đối tượng ở trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Không một chúng sinh nào khi được tiếp cận, dù xa hay gần giáo pháp này, mà không thể không thấy lợi ích bởi những điều đã được nghe thấy.

Dù nhìn Phật đạo dưới bất kỳ nhãn quan nào, tích cực hay ngược lại, tất cả đều phải đồng ý rằng: Phật Giáo luôn đưa người đến thấu đáo sự việc và hướng dẫn cách giải quyết vấn đề tận gốc bằng chính nhận thức của mình. Điều này Phật Giáo gọi là Chánh Tư Duy.

Cứu cánh của Phật Giáo là thành Phật. Thành Phật là đích đến cao nhất của Phật đạo, là bản hoài của ba đời chư Phật. Trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phật minh định rất rõ điều này.

Nhưng cứu cánh thành Phật là mục tiêu xa và lâu dài.  Trên con đường tiến về mục tiêu này, con người phải trải qua vô số khó khăn mà sức một con người, nếu không được trang bị những kiến thức cơ bản cần có của Phật Giáo, thì khó lòng hoàn thành được ước nguyện của mình.

Vì thế, Phật chia nhỏ hành trình tu học ra thành nhiều giai đoạn. Mỗi giai đoạn như một cung đường. Trong từng cung đường, người lữ hành được trang bị những kiến thức tối cần thiết để tự mình chiếm lĩnh các cột mốc trước mắt, mà không phải quá khổ nhọc tốn sức.

Sự chia nhỏ khéo léo này, đã mặc nhiên thiết lập một hệ thống giáo dục từ thấp lên cao, nhằm làm cho người tu học tự hiểu biết và thích nghi với từng giai đoạn của đời sống mới.

Giống như con cá nước ngọt, muốn ra biển khơi và sinh sống ở đó, con cá này phải được nuôi dưỡng và thích nghi dần với nhiều môi trường có độ đậm của muối khác nhau. Sự đậm dần chất muối của môi trường, sẽ khiến con cá kia không bị sốc khi ra biển khơi do quá trình thích ứng trước đó.

Như vậy, hệ thống giáo dục Phật Giáo gồm có: Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn Duyên giác thừa, Bồ tát thừa và Phật thừa. Phật Giáo cũng đưa ra năm giai đoạn cho người phát tâm Vô Thượng Bồ Đề là:

1. Phát tâm Bồ Đề.
2. Phục tâm Bồ Đề.
3. Minh tâm Bồ Đề.
4. Xuất đáo Bồ Đề.
5. Vô thượng Bồ Đề.

Năm thừa hay năm giai đoạn phát tâm đã nêu, chính là những cung đường mà người tu hành phải vượt qua để tiến đến mục tiêu “Thành Phật” một cách an toàn.

Cũng trong năm điều nêu trên, tuy rằng Phật Giáo đề cao khẩu hiệu chung là “Duy Tuệ Thị Nghiệp”, nhưng Phật Giáo cũng minh định rạch ròi có hai thứ trí tuệ. Đó là, Trí tuệ thế gian và Trí tuệ xuất thế gian (Trí huệ).

Trí tuệ thế gian hay ‘trí thức’, là loại trí tuệ được hình thành do văn hóa, văn minh, tri thức, thành tựu khoa học, học thuyết, các môn triết lý và các loại thiền định không có cứu cánh giải thoát. Loại trí tuệ này, trong chừng mực nào đó, đã góp phần thăng hoa đời sống bằng nhận thức tinh thần hay thành tựu vật chất, cố gắng thiết lập một cuộc sống tốt nhất trên nền tảng nhân bản, được cộng thêm sự hiểu biết mới hoặc trợ giúp bởi những thành tựu vật chất, khoa học, công kỹ nghệ cao hơn và đầy đủ hơn.

Trí tuệ xuất thế hay ‘trí tuệ Phật Giáo’ là loại trí tuệ được thấm nhuần bởi giáo pháp của Phật. Loại trí tuệ này đã được thanh lọc và xử lý rốt ráo bản chất chúng sanh bằng những công cụ đặc biệt mà khoa học và kỹ thuật không với tới. Đại loại như cách xử lý ngũ ấm của Thanh văn, xử lý các duyên của Duyên giác, xử lý thấy nghe của Bồ tát bằng thấu suốt ngũ uẩn. Tất cả ba thừa đều có thể xử lý bằng công cụ đặc biệt, đó là thanh lọc các căn hay ấm để tạo ra một sự thấy biết mới, kinh gọi là “Tánh thấy, Tánh nghe” nhằm có thể thấy được bản chân của thân-tâm và vạn pháp.

Trong những công cụ này, mỗi công cụ có một giá trị riêng cho mỗi cá nhân. Tùy vào mức độ thấm nhuần và nhận thức sẽ tìm thấy công cụ cho riêng mình. Giống như người ta muốn nhìn thấy con virus phải dùng kính hiển vi, muốn thấy sao hỏa phải dùng kính viễn vọng. Như vậy, phải dùng một công cụ đặc biệt nào đó có độ tương thích cao để nhìn thấy bản chất của sự vật.

Chính vì điểm đặc thù này mà trong Phật đạo có “Ngũ Nhãn”. Ngũ nhãn chính là thấy biết khi được trang bị một công cụ đặc biệt. Khi nói đến cái thấy, người ta thường nghĩ ngay đến con mắt (nhục nhãn). Thật ra chữ “thấy” trong Phật đạo không thuần túy nói đến cái thấy của con mắt, mà chữ thấy trong Phật đạo đôi khi lại dùng để chỉ một nhận thức chẳng hạn. Ở đời, chữ thấy đôi khi cũng không nhằm nói đến cái thấy của con mắt. Ví dụ thấy đói, thấy buồn, thấy bâng khuâng, v.v… Chẳng lẽ những ai bị đui mù thì không thấy được cơn đói hay nỗi buồn trong lòng của họ?

Vì vậy ngũ nhãn, hay thay đổi nhãn lực, trong tu hành phải được hiểu đúng bản chất của nó. Có khi chữ thấy lại chỉ cho trí tuệ, không nhất thiết “thấy” thì nhất định phải do con mắt. Khi thuyết kinh Đại Thừa, Phật hay nói đến cảnh giới. Những cảnh giới này muốn thấy được, cần phải có một nhận thức tương đương, hay ít ra một sự thấm nhuần Phật pháp nào đó tương thích với cảnh giới. Nhất định thấy các cảnh giới không giống như người ta xem một bộ phim bằng con mắt thường dùng (nhục nhãn).

Khi thấy nghe được thanh lọc và xử lý rốt ráo thì, người tu hành sẽ có một sự hiểu biết mới. Hiểu biết này không hoàn toàn kế thừa bởi kiến thức thế gian và nhất định không phán xét sự việc theo cách nhìn thuần túy thế pháp. Thấy nghe và hiểu biết này Phật Giáo gọi là “Trí tuệ xuất thế”. Đây mới được tạm coi như thành tựu bước đầu trí tuệ Phật Giáo.

Nói thành tựu bước đầu trí tuệ Phật Giáo bởi lẽ, trong quá trình thành tựu viên mãn trí tuệ, người tu hành phải vượt qua 11 thứ trí. Đó là: 1) Khổ trí, 2) Tập trí, 3) Diệt trí, 4) Đạo trí, 5) Loại trí, 6) Pháp trí, 7) Tận trí, 8) Vô sanh trí, 9) Nhất thiết trí, 10) Đạo tướng trí, 11) Nhất thiết chủng trí. Mười một loại trí này, giống như mười một chiếc chìa khóa mở cửa kho tàng Phật đạo, người ta sẽ lần lượt mở từng chiếc một. Khi nào đến cánh cửa cuối cùng gọi là viên mãn.

Muốn có được mười một chiếc chìa khóa mở cánh cửa trí tuệ này, người tu hành phải trải qua một quá trình tìm kiếm. Chiếc chìa khóa đầu tiên sẽ có được một khi người đó tự vượt qua sự cột trói bởi ngũ ấm. Hoặc nếu là thắng căn hơn thì đó là lúc nhận được bản tâm thanh tịnh. Khi có được chiếc chìa khóa đầu tiên thì những chiếc chìa khóa sau sẽ lần lượt xuất hiện tùy vào sức tinh tấn của bản thân.

Như vậy, có thể hiểu năm thừa hay năm giai đoạn phát tâm Bồ Đề (như những chiếc chìa khóa mở cửa trí tuệ), giống như một người muốn lấy nước sạch trong dòng nước đục đang chảy siết, phải tuần tự thứ lớp thực hành xử lý qua năm công đoạn:

1. Phát tâm Bồ Đề.  
Quy Y Tam Bảo, phát tâm tu hành, quyết tìm con đường thoát khỏi khổ đau. Giống như người múc nước đục trên dòng chảy vào một cái thùng. Đây là giai đoạn đưa người tu hành từ Nhân thừa lên Thiên thừa bằng sự thấu đáo ngũ giới, bát giới và thập thiện, hoặc các loại giáo điển tương ưng.

Phương cách này giúp người tu hành dừng hiện nghiệp gồm cả biệt nghiệp và cộng nghiệp (Nhân thừa), thăng tiến vào một nghiệp mới thắng diệu hơn đó là Thiên thừa. Cụ thể là Sa Di giới (xuất gia) và Bát giới (cư sĩ). Trong đây, ngoài năm giới căn bản, còn có ba giới quan trọng nữa là giới không đeo trang sức, không xem ca múa hát không nằm giường cao chiếu rộng, lấy ngọ trai làm thể (không ăn phi thời), kinh gọi là “Trai Pháp Bát Chi”, nhằm giúp hành giả xử lý bước đầu biệt nghiệp và cộng nghiệp, làm thay đổi y báo và chánh báo.

Tách khỏi biệt nghiệp và cộng nghiệp, làm thay đổi y báo chánh báo, là cơ sở quan trọng để tiếp nhận một tri kiến mới tốt hơn. Đó là tri kiến giải thoát. Phật Giáo không chủ trương coi Thiên thừa như một miền đất hứa và dừng lại ở đó. Nhưng Phật Giáo biết rất rõ Thiên thừa là bệ phóng tốt nhất cho con tàu giải thoát. Vì thế, thập thiện đạo được chú trọng nhằm giúp người tu hành đặt chân vào bệ phóng này.

“Chư ác mạc tác

  Chúng thiện phụng hành

  Tự tịnh kỳ ý

  Thị chư Phật Giáo”.   (Trích Kinh Pháp Cú)

Người thọ Bát Quan Trai giới lấy ngọ trai làm thể để không kẹt ở Thiên thừa mà sẵn sàng bước lên con tàu giải thoát khi có điều kiện. Người tu Bát Quan Trai cũng phải tu lục niệm để thấu đáo rằng Thiên thừa cũng vô thường nên thường tâm niệm “Không phải chỗ mong cầu của tôi…”  Kinh Đại Bát Niết Bàn hoặc Kinh Lăng Già Phật cũng nói rõ: “Như Lai đặt yên người tu hành nơi trời Sắc cứu cánh…”.

2. Phục tâm Bồ Đề.
Làm thay đổi hẳn nhận thức bằng sự thấm nhuần Bốn đế thông qua 37 Phẩm trợ đạo. Giống như đặt yên thùng nước một nơi nào đó và cho chất liệu vào thùng nước làm trong nước (ví dụ như phèn chua).

Đây là giai đoạn cực kỳ quan trọng. Đối với người tu hành thì ở A Lan Nhã rất cần thiết như để yên thùng nước, và chất liệu làm trong nước là những tri kiến liên quan đến sự thấy biết mới gọi là giác ngộ. Đó là, khổ đau hiện hữu là do mê mờ ngũ ấm, hay không thấu suốt bản chất bốn đế. Trong đó bốn món Thân, Thọ, Tâm, Pháp, tức Tứ Niệm Xứ, phải được thấu hiểu như tiền đề làm nên thánh quả.

Tâm thức của chúng sinh thường nhật bị chảy (trôi lăn) trong dòng tạp niệm, là sự tiếp nối các niệm được câu hữu bởi sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Bốn niệm xứ chính là chất liệu khiến tạp niệm trước kia trở thành nhớ nghĩ có thú hướng. Sự thấu suốt bốn đế và bốn niệm xứ sẽ làm lóng trong Thân, Thọ, Tâm, Pháp. Từ sự lóng trong bốn điều này, người tu hành nhìn nhận lại chính thân tâm của mình, hay nói khác đi là sự thấu suốt mối nguy hại khi bị năm ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) cột trói. Bây giờ người tu hành mới nhận ra rằng, tạp niệm trước kia chỉ là sự hiện khởi liên tục của ngũ ấm, bản chất không thật.

Vì lầm nhận lấy ngũ ấm làm ngã, trong khi ngã này không thật có, và mê mờ ngũ ấm nên bị ngũ ấm che khuất và cột trói. Giống như người bị bệnh mắt nhận lầm đèn có quầng và chính quầng đèn làm sai lệch ánh sáng của cái đèn. Sự hiểu biết tường tận này có công năng giúp người tu hành tiêu thất tự ngã và không bị ngũ ấm cột trói nữa. Khi không bị ngũ ấm cột trói tạm gọi là giải thoát.

Tạng Nikaya thuyết minh rất cụ thể điều này. Tri kiến hay trí tuệ về giải thoát là bước quan trọng làm thay đổi nhận thức của một chúng sinh từ mê mờ bước ra ánh sáng. Đây là chất liệu cần thiết để làm trong nước. Một khi nước đã hòa tan chất liệu này, sớm hay muộn nước cũng sẽ trong. Giống như thùng nước đục được bỏ phèn và quậy đều, nếu tiếp tục quậy, nước sẽ đục. Nhưng một khi để yên, nước sẽ tự lắng trong mà không cần phải gia thêm một công sức nào hết.

Quá trình tự trong của nước là quá trình từ mê đến giác. Sự chuyển biến tự nhiên này xảy ra đối với thân tâm, Phật Giáo gọi đó là Thiền. Do đó, Thiền của Phật Giáo hay thiền giải thoát chính là hệ quả của giác ngộ ngũ ấm. Đây là hiệu ứng tự nhiên của thân tâm từ mê mờ ngũ ấm đến hết mê mờ.

Giác ngộ và giải thoát chính là sự tương tác giữa hiểu biết như pháp và điều chỉnh hành vi cá nhân. Sự thay đổi nhận thức cực kỳ quan trọng. Phật Giáo gọi đó là thắng giải và thắng tri. Hiểu biết và thay đổi hoàn toàn hành vi thuận theo giải thoát gọi là Thắng Trí. Đây có thể coi như hoa trái trí tuệ đầu tiên trong Phật đạo mà người tu hành gặt hái được.

3. Minh tâm Bồ Đề.  
Bắt đầu tiếp nhận một loại văn hóa mới, đó là Bát Nhã trí. Bát Nhã Trí có công dụng làm sạch nguồn tâm bằng mười tám pháp không. Giống như nước đã trong nhưng phải dùng nhiệt để xử lý mầm bệnh còn tiềm ẩn. Khi xử lý xong thì nước này mới sử dụng an toàn. Hệ Bát Nhã xử lý triệt để nguồn tâm và pháp giới thông qua mười tám pháp không. Thấy biết bây giờ đã hoàn toàn tinh sạch, thuật ngữ Phật Giáo gọi là “Nhân không và Pháp không” hay “Nhân Pháp vô ngã” (hai vô ngã). Viên mãn trí này, người tu hành hoàn tất Căn Bản Trí. Đến đây, có thể tạm coi phần tự giác đã xong.

4. Xuất đáo Bồ Đề.  
Sau khi nguồn tâm và pháp giới đã sạch, tiếp tục bỏ một thứ chất liệu đặc biệt vào để giúp trí tuệ thăng tiến. Đó là học Nhất Thiết Trí, tức là học tất cả các môn giải thoát của chư Phật.

Học Nhất Thiết Trí giống như biến nước sạch thành Cam Lồ. Đây là giai đoạn mà kinh Đại Bát Niết Bàn Phật gọi giai đoạn tô biến thành đề hồ (đề hồ là loại dược liệu có thể trị bệnh). Giai đoạn này thông thường người tu hành “vừa học vừa làm”. Đó là thực hành Lục độ Ba la mật. Thực hành sáu Ba la mật chính là cách vừa học vừa tu. Nếu phát nguyện rộng sâu, lấy bốn tâm vô lượng làm tư lương Bồ đề, người này sẽ có thêm bốn Ba la mật sau. Đó là:

1) Phương tiện Ba la mật,

2) Nguyện Ba la mật,

3) Lực Ba la mật, và

4) Huệ Ba la mật.  

Khi bốn Ba la mật này viên mãn, đây là lúc thành tựu Đạo tướng trí. Như vậy, độ thứ sáu trở thành Trí Ba la mật và độ thứ mười trở thành Huệ Ba la mật, thành tựu đầy đủ Trí và Huệ. Trí là Căn Bản Trí, Huệ là Sai Biệt Trí. Đầy đủ trí và huệ này, tạm có thể hiểu “thể và dụng đều viên”.

5. Vô thượng Bồ Đề.  
Đem nước Cam lồ dập tắt lửa phiền não của chúng sinh. Đây là giai đoạn của Nhất thiết chủng trí, Bồ tát làm công hạnh để Nhất thiết chủng trí viên mãn. Khi viên mãn trí này gọi là Vô thượng Bồ Đề.

Tóm lại, Trí tuệ của Phật Giáo là loại trí tuệ đặc biệt, chỉ dành cho những người chuyên tâm tu hành cầu Phật đạo. Loại trí này không giống thế trí, tức nó không được kế thừa bởi sự khôn ngoan hay kiến thức ở đời. Người trí có thể minh họa các thứ bậc của Trí huệ này bằng ví dụ sau:

1) Đem trái ấu (một loại trái mọc ở ao) ra khỏi ao bùn (Nhân Thiên thừa).

2) Rửa sạch, không cho trái ấu hôi mùi bùn (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát quyền thừa) gọi là Niết Bàn quyền thừa hay Hóa thành.

3) Dùng công nghệ cao làm mất bản chất của ấu (Bát nhã trí).

4) Biến trái ấu thành củ sen (ấu thành sen nên gọi diệu pháp). Khai diệu pháp dạy Nhất thiết trí.

5) Đem củ sen trồng lại trong ao bùn, từ một củ sen có thể nhân lên thành vô lượng cây sen (chủng). Đây là Nhất thiết chủng trí, viên mãn Phật đạo.

Như vậy, “Duy Tuệ Thị Nghiệp” là thông điệp mà Đức Phật gửi đến cho toàn thể chúng sanh gồm năm công đoạn, từng bước tu hành thành tựu suốt thấu Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh Văn Duyên Giác thừa, Bồ Tát thừa và sau cùng là Phật thừa. Thành tựu cứu cánh này là quả Vô Thượng Bồ Đề chứng Vô Thượng Trí Huệ, Phật tri kiến có công năng giáo dạy chúng sanh tiến đến trí tuệ siêu việt này. Kinh Pháp Hoa Phật dạy, “Đại sự nhân duyên Phật ra đời nhằm khai thị cho chúng sanh ngộ nhập Phật Tri Kiến”.                                                

(08-2010)

−−−••• ⁕ ⁕  ۝⁕ ⁕ •••−−−

Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời

Tác Phẩm Lý Tứ

Bất Tư Nghì Huân Biến

Content Editor 05.02.2023

Kinh dạy: "Hiện thức lấy sự biến hóa bất tư nghì huân làm nhân cho nhau”, có nghĩa rằng: Những gì một hữu tình thấy; nghe; hay; biết... đều do sự huân biến của tâm thức thành kinh nghiệm phán xét. Sự huân biến này theo dòng nghiệp thức, không tự làm chủ được nên gọi là: Bất tư nghì huân biến. Phật Giáo ra đời giúp chúng sanh thoát khỏi sự huân biến không tự làm chủ của thức (của mình), đây là loại tập nhiễm tự nhiên của nghiệp.

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ

Các bạn!!!

Kinh dạy: "Hiện thức lấy sự biến hóa bất tư nghì huân làm nhân cho nhau”, có nghĩa rằng: Những gì một hữu tình thấy; nghe; hay; biết... đều do sự huân biến của tâm thức thành kinh nghiệm phán xét. Sự huân biến này theo dòng nghiệp thức, không tự làm chủ được nên gọi là: Bất tư nghì huân biến. Phật Giáo ra đời giúp chúng sanh thoát khỏi sự huân biến không tự làm chủ của thức (của mình), đây là loại tập nhiễm tự nhiên của nghiệp.

Muốn chấm dứt huân biến hư vọng này, người tu hành phải giác ngộ thật sự, có nghĩa chỉ căn cứ vào bản tâm thanh tịnh không nghiệp, không y cứ vào thấy nghe thường tình. Trung đạo (Sunya) chính là cơ sở để chấm dứt huân biến một chiều này, kinh thường gọi là hữu biên luận, tức là hiểu biết và y cứ một chiều. Hiểu biết và y cứ này không giải thoát vì không căn cứ vào giác ngộ mà huân. Người giác ngộ thay thế sự huân biến này bằng huân biến của tự giác, tức là chỉ huân biến trong thanh tịnh. Bát Nhã là công cụ làm sạch nhân bất tư nghì huân này.

Thức có ba thứ là: Hiện thức, nghiệp thức và chuyển thức.

− Hiện thức là thấy biết hiện tiền.

− Nghiệp thức là y theo thấy biết này mà hồ đồ phán xét sự việc.

− Chuyển thức là sau khi tiếp nhận sự việc và hồ đồ phán xét, thức sẽ y cứ vào đây để làm nhân cho nhận thức sau này (đây chính là Bất tư nghì huân biến). Thức này sẽ trở thành Tàng thức, chữ Phạn gọi là A Lại Da thức, một trong tám thức.

Mạt Na thức (ngã) là nhân của huân biến, A Lại Da thức là phần tích chứa và nuôi lớn ngã. Muốn chấm dứt ba thứ thức này phải giác ngộ vô ngã.

Xả bỏ mọi thứ kiến chấp, thì ba thứ thức trở thành ba thứ trí. Đó là: “Hiện thức” thành “Diệu Quan Sát Trí”, “Nghiệp thức” trở thành “Bình Đẳng Tánh Trí” (hết ngã), “Chuyển thức” trở thành “Đại Viên Cảnh Trí”, tự tâm thanh tịnh, không tích chứa và làm nhân cho đời sau. Gọi là Bất tư nghì huân biến của Trí.

Khi tâm bình đẳng, ngã và ngã sở đều không, trong ngoài đều tịch diệt, thì ý căn liền thanh tịnh. Khi ý căn thanh tịnh (không bị vọng thức làm mê mờ chạy theo vọng cảnh), chỉ huân những gì thanh tịnh thì ý thức biến thành Diệu quan sát trí. Từ đây, ý thanh tịnh chủ đạo mọi hoạt động huân biến của năm căn còn lại. Do đó, năm căn chỉ theo mệnh lệnh thanh tịnh của ý căn (Diệu quan sát trí) mà huân những gì thanh tịnh. Vì chỉ huân những gì thanh tịnh do ý thanh tịnh chủ đạo, nên năm thức đầu tiên (có tên là tiền ngũ thức) trở thành Thành sở tác trí, năm công cụ hành hoạt của Bát Nhã trí vậy.  

Khi đáp kệ ngài Ngoại Luân, Tổ Huệ Năng nói, “...Đối cảnh tâm liền sanh...” là nói khi đối cảnh tâm ngài y nơi Bát Nhã trí, tiền ngũ thức sanh Thành sở tác trí, Ý thức sanh Diệu quan sát trí, Mạt Na thức sanh Bình đẳng tánh trí và A lại da thức sanh Đại viên cảnh trí. Viên thủy thanh châu giác ngộ đã biến tám thức thành Bát Nhã. Kinh Lăng Già Phật dạy, “...Giác cảnh thức là Phật...” Câu này có nghĩa rằng, khi giác ngộ triệt để thì thức chính là trí vậy.

                                                                        (06-2010)

Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời

Thư viện

Phần III: 4 Phật Giáo Và "Giải Thoát" (Trang 40 - 55)

Content Editor 04.02.2023

Anh Lạc Luận 1

Tác giả: Lý Tứ

NXB Dân Trí - Phát hành MinhThangBooks

Phần 3: 4 Phật Giáo Và "Giải Thoát"

Từ trang: 40 - 55

Giọng đọc: Lý Ngọc Linh

Nguồn nhạc: Giấy phép Creative Commons

Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời

Subscribe to