Thư viện

Phần XV: Kinh "Thí Dụ Lõi Cây" Và Đời Sống Tu Hành (Trang 230 - 245)

MB 1157 Lý Mỹ Linh 06.02.2023

Tâm Pháp

Tác giả: Lý Tứ

NXB Hội nhà văn Việt Nam, năm 2019

Phần XV: Kinh "Thí Dụ Lõi Cây" Và Đời Sống Tu Hành 

Từ trang 230 - 245

Giọng đọc: Nhã Quỳnh - phát thanh viên Đài tiếng nói nhân dân TP Hồ  Chí Minh

Tags:

Thư viện

Phần XIV: Kinh "Thí Dụ Lõi Cây" Và Đời Sống Tu Hành (Trang 213 - 230)

MB 1157 Lý Mỹ Linh 06.02.2023

Tâm Pháp

Tác giả: Lý Tứ

NXB Hội nhà văn Việt Nam, năm 2019

Phần XIV: Kinh "Thí Dụ Lõi Cây" Và Đời Sống Tu Hành 

Từ trang 213 - 230

Giọng đọc: Nhã Quỳnh - phát thanh viên Đài tiếng nói nhân dân TP Hồ  Chí Minh

Tags:

Thư viện

Phần XIII: Trung Nguyên Cửu Tuyệt, Từ Bỏ Vũ Khí Danh - Tướng Về Hư Không (Trang 198 - 212)

MB 1157 Lý Mỹ Linh 06.02.2023

Tâm Pháp

Tác giả: Lý Tứ

NXB Hội nhà văn Việt Nam, năm 2019

Phần XIII: Trung Nguyên Cửu Tuyệt, Từ Bỏ Vũ Khí Danh - Tướng Về Hư Không

Từ trang 198 - 212

Giọng đọc: Nhã Quỳnh - phát thanh viên Đài tiếng nói nhân dân TP Hồ  Chí Minh

Tags:

Thư viện

Phần XII: Trung Nguyên Cửu Tuyệt, Từ Bỏ Vũ Khí Danh - Tướng Về Hư Không (Trang 177 - 198)

MB 1157 Lý Mỹ Linh 06.02.2023

Tâm Pháp

Tác giả: Lý Tứ

NXB Hội nhà văn Việt Nam, năm 2019

Phần XII: Trung Nguyên Cửu Tuyệt, Từ Bỏ Vũ Khí Danh - Tướng Về Hư Không

Từ trang 177 - 198

Giọng đọc: Nhã Quỳnh - phát thanh viên Đài tiếng nói nhân dân TP Hồ  Chí Minh

Tags:

Tác Phẩm Lý Tứ

Tất Cánh (Cứu Cánh Cuối Cùng) Của Thiền Định

MB 857 Lý Diệu Sinh 06.02.2023

Các bạn! ... Để tiếp tục đào sâu tư duy và có những bước khởi đầu tốt nhất trên con đường tìm kiếm trí tuệ. Có ba câu hỏi sau, rất mong nhận được những câu trả lời thú vị từ các bạn.

  • CÂU HỎI TCTT 2016/07 − Tất Cánh Của Thiền Định

1)  Pháp giới chúng sinh, bao gồm những cảnh giới nào???

2) Một người thành tựu cứu cánh cuối cùng (tất cánh) của thiền định, người đó sẽ giải quyết được đế nào trong bốn đế (khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế)? hãy đưa ra lập luận thuyết phục để bảo vệ ý kiến của bạn!

3) Bốn đế (khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế), đế nào thuộc về hữu vi, đế nào thuộc về vô vi? Vì sao nó như vậy?   (03-07-2016)

  • GỢI Ý... TCTT 2016/07 − Tất Cánh Của Thiền Định

Rất mau chóng! Câu số 2 là câu hỏi khó, mặc dù mới nhìn vào, thấy nó rất dễ. Muốn trả lời được câu hỏi này, rất cần đến "những cảm nhận tinh tế" từ người trả lời... Sự tinh tế này, hai ngày qua chỉ có Minh Pháp và Tâm Pháp nhìn ra!                     (04-07-2016)

Các bạn! ...  Để giúp các bạn nắm vững vấn đề, nhìn ra giá trị thực của thiền định, không rơi vào tình cảnh đề cao quá mức hay chối bỏ giá trị của thiền định. Một vài ý kiến sau, sẽ giúp các bạn hiểu hơn về giá trị của thiền định trong Phật đạo...

- Muốn thành tựu Vô Lậu Quả, Phật dạy Tam vô lậu học, đó là: Giới, định, huệ. Trong ba học pháp vô lậu, thiền định đứng sau giới và trước huệ (giác). Có nghĩa rằng, chỉ đơn thuần là thiền định, mà thiếu huệ (giác), thì thiền định đó đồng ngoại đạo, không có giải thoát. Cho nên, muốn giải quyết một vấn đề nào đó của Phật đạo (trong phạm vi Tứ Đế), phải hội đủ ba điều trên, giống như ba chân của một chiếc kiềng. Thiếu một trong ba điều, đời sống tu hành sẽ khó thành tựu.

- Tập đế gồm hai phần, đó là kiết sử và tập nhân. Thiền định chỉ có thể giúp người hạn chế, tạm thời không cho kiết sử hiện hữu. Giống như dùng phèn lóng trong nước, nhưng không thể làm sạch nước. Riêng tập nhân, muốn giải quyết được nó phải có một tri kiến tốt (gọi là huệ), từ sức hiểu biết này, người tu hành mới có thể làm sạch tập nhân bằng con đường giác ngộ. Chính vì thế mà Kinh Lõi Cây, Phật chỉ ra trình tự đưa đến giác ngộ phải gồm đủ năm điều: Xuất gia, giữ giới, thiền định, tri kiến, bất động giải thoát… Không nắm vững hai điều này, có thể chúng ta trả lời đúng nhưng không thoả đáng vì thiếu lập luận bảo vệ vững chắc, sẽ rơi vào tình cảnh hoặc chối bỏ, hoặc cho rằng thiền định có thể tuyệt đối giải quyết một đế nào đó trong bốn đế.

Các bạn! ...  Trí tuệ trong Phật đạo là sức lý luận, và lý luận này phải hoàn toàn có chân lý và dựa trên cơ sở thuyết phục. Trí tuệ trong Phật đạo thể hiện qua cách lập luận trình bày một vấn đề. Đã gọi là trí tuệ, thì không thể chỉ trả lời theo kiểu “yes hay no”, mà không có lý lẽ đủ sức thuyết phục. Sức thuyết phục trong lý luận của Phật đạo, giống như chẻ sợi tóc làm tám phần bằng nhau, không một mảy may sai sót, ngày xưa mình đặt cho nó cái tên nghe vui tai: "Chiết Phát Đẳng Pháp". Vì thế, từ xưa đến nay, học trí tuệ là việc làm rất khó, nó đòi hỏi nhiều yếu tố...  (05-07-2016)

Các câu hỏi và trả lời, là một trong những hình thức chúng ta tập làm quen với việc chia chẻ “sợi tóc pháp” thành nhiều phần bằng nhau một cách thuyết phục. Không thể chia chẻ một pháp đến tận bờ mé chân lý, thì chuyện thành tựu trí tuệ trong Phật đạo là điều không thể xảy ra!!! ... Tập dần sẽ quen, đây là cách rèn luyện để thành tựu một trong những tố chất cần thiết để làm nên trí tuệ!

Các bạn! ...  Muốn trả lời được ba câu hỏi lần này, phải biết dùng năng lực tư duy, quán trực tiếp bổn tâm, sau đó đi ngược dòng để tìm đầu mối nhằm giải quyết các câu hỏi. Làm như vậy, chính là cách tu Tam Muội.  Tu Tam Muội không giống tu Thiền Định.

- Thiền định thuận theo dòng tâm tức để chiêu cảm cảnh giới, giống như người từ chân núi hướng về đỉnh núi để chọn đường đi.

- Tam Muội khác hơn, đó là đi ngược từ Bổn Tâm truy nguyên xuất phát điểm của điều cần tìm, sau đó quan sát tâm thức. Giống như từ một vệ tinh trên cao quan sát toàn bộ trái đất để đưa ra các dự báo chính xác. Sau đây là bài trả lời tiêu biểu, HĐ tham khảo.

(Tham khảo) CẢM NHẬN TCTT 2016/07 − Tất cánh... Thiền Định

  • Cảm Nhận TCTT 2016/07 − Tất cánh Của Thiền Định (Lý Anh Lạc)

Thưa Thầy! Con xin trả lời ba câu hỏi:

  • Trả lời câu hỏi 1: Pháp giới chúng sinh, bao gồm những cảnh giới của ba cõi, đó là cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc.

  • Trả lời câu hỏi 2: Một người thành tựu cứu cánh cuối cùng (Tất cánh) của thiền định, chỉ giải quyết được một phần của tập đế. Tập đế gồm mười kiết sử và mười tập nhân, người đắc thiền định "chỉ có thể" giải quyết ba kiết sử đầu của độn sử. Còn lại, bảy kiết sử (5 lợi sử, 2 độn sử) và mười tập nhân, thì thiền định không thể chạm đến được. Vì rằng, muốn các thiền thú hiện, người đó phải còn tập nhân và ở trong pháp giới, cho dù đó là thiền cảnh cao nhất cũng không ngoại lệ. Thiền cảnh là kết quả của tập nhân chiêu cảm với thiện báo mà sanh, cho thấy thiền định không thể giải quyết rốt ráo bất kỳ một đế nào trong bốn đế vì tập nhân chưa dứt.

  • Trả lời câu hỏi 3: Trong bốn đế thì khổ đế, tập đế thuộc hữu vi. Còn diệt đế và đạo đế thuộc vô vi… Vì sao? Vì khổ đế và tập đế thuộc nhân hữu lậu (làm ra), nên nó là hữu vi. Còn diệt đế và đạo đế thuộc nhân vô lậu, nên nó là vô vi.                     

Kính Thầy chỉ dạy thêm. Kính chúc Thầy luôn khỏe! Con.     (06-07-2016)

Thư viện

Phần XI: Trung Nguyên Cửu Tuyệt, Từ Bỏ Vũ Khí Danh - Tướng Về Hư Không (Trang 161 -177)

MB 1157 Lý Mỹ Linh 06.02.2023

Tâm Pháp

Tác giả: Lý Tứ

NXB Hội nhà văn Việt Nam, năm 2019

Phần XI: Trung Nguyên Cửu Tuyệt, Từ Bỏ Vũ Khí Danh - Tướng Về Hư Không

Từ trang 161 - 177

Giọng đọc: Nhã Quỳnh - phát thanh viên Đài tiếng nói nhân dân TP Hồ  Chí Minh

Tags:

Tác Phẩm Lý Tứ

Về… Các Phép Tu Tìm Cầu… Giác Ngộ, Giải Thoát

MB 857 Lý Diệu Sinh 06.02.2023

Các bạn! ...  Từ xưa đến nay, đa số những người ra sức dụng công tu tập (hoặc thiền định hoặc chỉ quán), nếu không gặp Phật hoặc Thiện Tri Thức khai ngộ, không thể tự mình ra khỏi pháp giới (giác ngộ hay giải thoát). Đơn cử như ngoại đạo trước thời Phật ra đời, hoặc Ngài Vĩnh Gia Huyền Giác bỏ công sức 20 năm tu chỉ quán trong câu chuyện Nhất Túc Giác Hoà Thượng (một đêm giác ngộ). Nếu các ngoại đạo này không gặp Phật, hoặc Ngài Huyền Giác không gặp Lục Tổ thì sẽ khó có cơ hội giải thoát hay giác ngộ…Một vài câu hỏi khi trao đổi với một số HĐ được nêu ra, xin gửi đến các bạn để cùng nhau tìm lời giải đáp tốt nhất. Câu hỏi là:

  • CÂU HỎI TCTT 2016/06 – Về... Các PHÉP TU Tìm Cầu GIÁC NGỘ ...

1) Điều gì chính yếu đã ngăn trở nỗ lực tự thân của một hữu tình, cho dù tự thân người đó có cố gắng tu hành cách mấy mà không được sự hỗ trợ (khai thị) của Phật hoặc Thiện Tri Thức, bản thân họ không thể vượt ra khỏi ba cõi, tức chẳng thể giải thoát hay giác ngộ? Có thể cho ví dụ để làm sáng tỏ điều các bạn trình bày.

2) Trong khi đàm luận Phật Pháp với một đối tượng bất kỳ, đặc điểm hay dấu hiệu nào được họ thể hiện trong ý nghĩa của câu nói hay cách nói. Nhân đó bạn có thể nhận biết rằng, người đối diện đang đàm luận với mình, còn kẹt mắc bởi ba cõi, hay vị này đã giác ngộ (hoặc giải thoát)?

Rất mong nhận được những câu trả lời lý thú! (Các bạn thoải mái phân tích, kiến giải, biện luận để làm sáng tỏ vấn đề!) 24-06-2016 

  • GỢI Ý... TCTT 2016/06 – Về “Các Phép Tu Tìm Cầu Giác Ngộ ...”

Trong Phật đạo, trí tuệ là tối thượng. Trí tuệ chính là Phật đạo, Phật đạo là trí tuệ. Trí tuệ của Phật đạo sâu không đáy như kinh Đại Niết Bàn mô tả về đại hải. Nếu chúng ta chưa thể lội vào nguồn sâu tối thiểu, thì chuyện đi dần đến nơi sâu nhất là không thể!

Từ trước đến giờ, phần lớn các câu hỏi chỉ khơi dậy mầm tư duy, chưa đụng chạm đến chiều sâu. Và khi cần một chiều sâu tối thiểu, thì hầu như chúng ta chưa bắt kịp. Bước đầu nhằm khơi mào "đánh thức chiều sâu tư duy" của các bạn. Hai câu hỏi vừa rồi, câu số một giúp chúng ta phải tìm cho ra cái gốc (bản chất) của vấn đề để kết luận "tại sao cái ngọn nó như thế". Câu số hai thì ngược lại, nhìn cái ngọn, ta phăng dần để biết được "cái gốc của nó là gì".

Muốn trả lời được hai câu hỏi này, phải đưa tư duy đến chỗ sâu nhất rồi từ đó phân tích, phản biện và tìm ra câu trả lời thoả đáng. Chưa tìm ra bản chất (cái gốc) của vấn đề, mọi kết luận đều chỉ là "gãi ngứa ngoài hia" (hia, một loại giày). Hai câu hỏi kỳ này, là chiếc chìa khoá để mở cửa trí tuệ. Nếu chưa giải quyết được, rất khó để chúng ta có được "thần cảnh trí", vị lai nhằm thâm nhập "tâm thức một hữu tình". Đã không thâm nhập được tâm thức một hữu tình, lấy gì làm cơ sở hoàn thành Bồ Tát Đạo bằng chính chiều sâu trí tuệ?  Các bạn! ...  Hãy cố lên! Rất mong nhận được những câu trả lời có vị mặn đầu tiên của “Đại Hải” [[1]]  (26-06-2016)

Xin chúc mừng! HĐ là người đầu tiên đã trả lời thoả đáng hai câu hỏi... Như vậy là bế tắc đã được khai thông. Giống như trong những phút cuối của một trận bóng đá, một tiền đạo lại ghi liên tiếp hai bàn thắng…

  • Câu hỏi số một, mang tính kỹ thuật. Nội dung mình muốn hỏi là: Vì sao hai pháp tu "thiền định và chỉ quán" không thể đưa người ra khỏi pháp giới? Chúng ta cần mổ xẻ đến tận cùng bản chất của hai pháp tu này, nhất định sẽ có câu trả lời đúng trọng tâm câu hỏi.

  • Câu hỏi số hai, những câu nói hàm chứa ý nghĩa gì là biểu hiện của “người không giác ngộ, hoặc ngược lại”. Chỉ cần đưa ra một vài câu nói có ý nghĩa tiêu biểu sẽ minh chứng được những gì ta cần trình bày. (26-06-2016)

Các bạn! ...  Mình chỉ hỏi vì sao hai phép tu thiền định và chỉ quán không thể đưa người giác ngộ, chứ đâu có hỏi người tu hành phải làm như thế nào để được giác ngộ đâu? Vì thế bàn chuyện tâm, pháp, niệm, ngã, ý, v.v... không phải là trọng tâm của câu hỏi. Muốn trả lời được câu hỏi, phải đi tìm "bản chất" của hai phép tu này, xem xét vì sao nó không đưa người đến giác ngộ. Giống như mình hỏi vì sao phi thuyền của người Đức không thể bay vào không gian. Chứ đâu có hỏi người ta phải lái như thế nào để nó có thể vào quỹ đạo!                                                       (27-06-2016)

Khi đàm luận Phật Pháp với một người, người đó đã giác ngộ hay chưa, đây là điều không khó để HĐ chúng ta nhận ra... Chỉ cần tinh ý để thấy các ý nghĩa trong câu nói của họ có tính ràng buộc, chấp nhất, hoặc ngược lại thì biết chắc họ còn bị cột trói hay đã giác ngộ. Giống như người săn voi, chỉ cần thấy dấu chân, là có thể đánh giá con voi vừa mới đi qua!

Hiện nay, người dụng công tu thiền định và chỉ quán nhiều vô số... Trong những trả lời vừa rồi, có vị HĐ viết: "Ví dụ một người muốn ra khỏi quả địa cầu (trái đất) dù đã leo lên tới đỉnh núi cao nhất. Toàn thân đã ở trong hư không. Nhưng da bàn chân vẫn còn tiếp xúc với đỉnh núi. Nếu bước thêm bước nữa thì lại rơi xuống chân núi. Vì vậy phải chờ người ở bên ngoài quả địa cầu kéo lên". Vị HĐ này đã phân tích câu hỏi số một đến đây, rất tiếc, vị HĐ này đến đây rồi dừng lại, mà không tiếp tục phân tích sâu hơn nữa, để tìm ra nguyên nhân vì sao người kia không thể tự mình vào được hư không, mà phải cần đến một tác động ngoại lực (như Phật hay Thiện Trí Thức)? Nếu tiếp tục phân tích để thấy được cái gốc của vấn đề, chắc chắn việc giải quyết câu hỏi số một không còn là chuyện khó khăn.

Trước đây, mình có đọc một tài liệu nói về tàu vũ trụ. Tài liệu này có đề cập đến việc, trong đệ nhị thế chiến, người Đức muốn chế tạo một con tàu có thể vượt không gian bay vào vũ trụ, từ đó có thể khống chế thế giới. Người Đức đã thiết kế một con tàu có hình dáng giống với con tàu vũ trụ bây giờ. Khi thế chiến thứ hai chấm dứt, người Đức không thể tiếp tục thử nghiệm con tàu đó…

Đến nay, công nghệ tên lửa đẩy ra đời, nhờ công nghệ này người ta có thể đưa tàu vũ trụ đi vào không gian. Các nhà khoa học đã chỉ ra, con tàu mà người Đức đã phát minh, không thể bay vào vũ trụ vì số lượng nhiên liệu mà tự thân của nó mang theo không đủ sức để đưa con tàu đó thoát ra khỏi lực hấp dẫn!           (27-06-2016)

Các bạn! ...  Theo mình nghĩ, với kiến thức đã được trang bị. Với sức tu tập của HĐ thời gian qua. Hai câu hỏi đợt này thuộc loại "dễ", không thể làm khó các bạn được. Thế nhưng, phần lớn HĐ chưa có thói quen nắm vững câu hỏi mà đã vội trả lời rất chủ quan, cứ tưởng chừng như mình đã hiểu được nội dung câu hỏi, nhưng suy nghĩ cho kỹ thì "trớt hướt", do vì "hoả mù chữ nghĩa" nên bị “từ ngữ” câu hỏi nó gạt! Đây cũng là một kinh nghiệm cần ghi nhớ!                               (27-06-2016)

Các bạn! ...  Tinh thần "quyết chiến thắng" của HĐ rất đáng khâm phục. Cho dù giữa khuya, các HĐ vẫn miệt mài tư duy, chưa tìm ra đáp án chưa ngưng nghỉ. Với tinh thần tu tập như thế, không có gì là không thể. Con đường tiến về trí tuệ rất cần sức tinh tấn. Tinh tấn chính là động lực đưa đến thành công. Xin tán thán sức tinh tấn này!                                                    (28-06-2016)

Các bạn! ... Thiền định và chỉ quán là hai phép tu tiêu biểu trong vô số phép tu mà người tu hành trong quá khứ cũng như hiện tại đang áp dụng. Và, tất cả những phép tu như vậy, nhất định không thể đưa người đến giác ngộ. Mặc dù, người tu hành "cố tìm một phép mầu" từ những pháp tu này, nhưng tất cả đều không thể! Vì các "nguyên lý cơ bản" của những phép tu đó không mang trong nó "nội hàm giác ngộ". Điều này không phải người tu hành nào cũng biết. Phật sử chính thống (kinh điển và các vị Tổ có y bát), chưa một vị nào giác ngộ từ những phép tu này.

  • Ngũ Tổ dạy: "Bất thức bổn tâm, học pháp vô ích".

  • Hay Lục Tổ còn nói: "thiền định và giải thoát là hai pháp, mà Phật pháp là pháp không hai".

  • Phật cũng dạy: "điều (thành tựu từ thiền định) mà các ông có được, ngoại đạo cũng được". Vì Đức Phật đã tu thành thục những pháp này trong thời kỳ khổ hạnh, nhưng cuối cùng cũng phải từ bỏ nó!

Quyết tâm từ bỏ nó, Đức Phật đến bờ sông Ni Liên Thuyền ngồi xuống chiêm nghiệm và đã giác ngộ để trở thành Đẳng Chánh Giác! Phần lớn người tu hành không nắm rõ "hạn chế" của những phép tu, và thực tế họ cũng không còn lựa chọn nào khác trong lúc bế tắc, không có được một tri kiến chuẩn làm ngọn đuốc soi đường để đi đến giác ngộ, họ đành chấp nhận "ôm" một pháp bất kỳ với hy vọng tìm kiếm điều gì đó bất lực và vô vọng, nhưng không thể làm khác, đây cũng là điều tự nhiên!

- Tất nhiên, không phải thiền định, chỉ quán và những pháp tu khác là không tốt cho người tu hành. Mình không nói nó không tốt, mà chỉ muốn nói rằng: “bản chất của những phép tu đó không đưa người ra khỏi pháp giới, tức không thể đưa người đến giác ngộ, không đưa người đến giải thoát và cũng không có công dụng phát sinh trí tuệ!”

- Tìm kiếm giác ngộ, giải thoát và trí tuệ trong các pháp tu, chẳng khác nào người đi tìm sừng thỏ lông rùa, như người muốn sở hữu hoa đốm của hư không. Đây là việc làm không thể! May mắn nhất của HĐ chúng ta, là có được nguồn sáng của giáo pháp. Chúng ta đã được trang bị những tri kiến đúng đắn, nhờ tri kiến này chúng ta làm ngọn đuốc soi sáng con đường giác ngộ. Và chúng ta đã làm được việc này, giống như người đi tìm lõi cây đã tìm thấy giác cây và tiếp tục thu hoạch lõi cây. Chúng ta thử đặt vấn đề, nếu giờ này các bạn không được trang bị ngọn đuốc giáo pháp để soi sáng con đường các bạn đang đi, và có được thành tựu như hiện tại, mà các bạn đang ôm một trong các pháp tu như các HĐ ngoài kia, thì điều gì sẽ xảy ra trong cuộc đời tu hành của các bạn?

Chắc chắn đó là những mảng tối của bức tranh tu tập!  Có lẽ, chính các bạn là những người biết và thấy rõ điều này hơn ai hết. Biết như vậy! Nhưng nếu không tìm ra "sự thật" từ các phép tu, phỏng chúng ta có đủ cơ sở giúp người thoát ra khỏi "vòng luẩn quẩn" của nó hay không?

Kinh Lõi Cây, Phật cũng đã phân tích rất rõ: "Người xuất gia, đầy đủ giới đức, có được thiền định, tri kiến thật tốt. Nếu không thành tựu giải thoát bất động, thì chưa thể đạt được mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh. Nó giống như người đi tìm lõi cây mà chỉ đem về cành lá, vỏ ngoài, vỏ trong và giác cây, chứ chưa được lõi cây".

Thiền định, chỉ quán và các phép tu khác chỉ là vỏ trong của một cái cây, nó chưa phải là giác cây và càng không phải là lõi cây... Giáo Tông (tri kiến) như giác cây, Tâm Tông (giác ngộ) mới đích thực là lõi cây, đây mới chính là thứ mà người tu hành cần tìm... Và, chỉ có lõi cây Giác Ngộ mới có thể làm được công việc cần đến lõi cây, chỉ có giác ngộ mới có thể giúp người tu hành tiếp tục con đường tìm kiếm Trí Tuệ của Đạo Đế. Giống như chỉ có lõi cây mới có thể tạc nên một bức tượng vĩnh cữu, không bị mối mọt và tác động tự nhiên xâm hại!

Đây là lý do vì sao, sau khi các bạn đã có được lõi cây Giác Ngộ, mình yêu cầu các bạn quay trở lại tìm xem nguyên nhân gì mà "vỏ trong của một cái cây" (thiền định, chỉ quán) không thể làm được công việc của một lõi cây!

Nói đến trí tuệ, là nói đến sức thấu suốt những gì đưa người đến giác ngộ và những gì không đưa đến giác ngộ. Tìm hiểu bản chất của những phép tu chính là đi tìm sự thấu suốt đầu tiên của giáo pháp, đây là những dấu chân đầu tiên của người bắt đầu "lội vào biển lớn Đại Giác"!

Giống như phát hiện đầu tiên của Thế Tôn ngày xưa về các phép tu. Nhờ phát hiện quan trọng này, nên Ngài đã từ bỏ nó không thương tiếc, để sau đó Ngài có cơ hội Giác Ngộ và trở thành một Đẳng Chánh Giác! Rất mong các bạn nỗ lực tư duy, trả lời thoả đáng hai câu hỏi để chúng ta thực hiện những bước tiếp theo, "lội vào biển lớn"!                                                (29-06-2016)

  • TỔNG KẾT TCTT 2016/06 Về “... Phép Tu Tìm Cầu Giác Ngộ ...”

1) Thiền định, chỉ quán là sản phẩm của pháp giới, là hữu vi pháp do tạo tác (làm ra) mà thành, là pháp hữu lậu, nên không thể đưa người ra khỏi pháp giới hay giải thoát để chứng vô lậu quả. Giống như nước, không thể làm khô nước, lửa không thể dập tắt lửa.

2) Những câu nói hay cách nói nào, mang trong nó ý nghĩa trói buộc, chấp nhất. Đây là lời nói mang biểu hiện của người không giác ngộ.                                                                         (03-07-2016)

 

------------------------------

[[1]] Đại Hải: Biển lớn (Tiếng Hán-Việt).

Tác Phẩm Lý Tứ

Phật Giáo Và Giác Ngộ

MB 1157 Lý Mỹ Linh 06.02.2023

Giác ngộ trong Phật đạo là chất liệu quan trọng. Nó là khái niệm đầu tiên và cũng là nhân tố làm nên quả vị cuối cùng

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ

- Giác ngộ là thuật ngữ Phật Giáo, được dịch từ chữ Bodhi của Phạn văn là Bồ Đề, để chỉ sự thức tỉnh, chợt nhận ra một điều gì đó mà từ trước mình chưa nhận ra.

Thuật ngữ này nguyên thủy không hàm ý nói đến sự kế thừa của ý thức hoặc kinh nghiệm đời sống, mà nhằm chỉ sự bùng vỡ hoàn toàn của tri thức. Một khi tri thức vượt ra khỏi giới hạn chính mình, phá nát sự bao bọc che khuất chủ quan của ý thức và mọi thói quen nghe nhìn thẩm định của các giác quan được chỉ định bởi thức nghiệp. Khi không còn những thứ này bủa vây, người ta mới thật sự biết đến nó.

Vì thế, ‘Giác ngộ’ hay ‘Bohdi’ hoàn toàn mang ý nghĩa tự thân cảm nhận hay còn gọi là tự chứng. Sở dĩ nói tự thân cảm nhận vì đây là một thứ cảm nhận đặc biệt mang nặng dấu ấn của trí tuệ hơn là sự nhận biết chủ quan của nghiệp thức phân biệt thông qua các căn. Ngày xưa các nhà tu hành chỉ dùng chữ Bồ Đề (Bodhi) để chỉ sự nhận biết đặc biệt này. Phật Thích Ca chứng quả Vô Thượng Bồ Đề, tức đạt được quả vị tột cao của trí tuệ giác ngộ, người tu hành thường gọi nôm na là Vô Thượng giác.

- Theo Tự Điển Phật Học Hán Việt của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, Phân viện nghiên cứu Phật học (Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội) thì Giác (覺; bodhi; thuật ngữ): Tiếng Phạn là Bồ Đề, cách dịch cũ là Đạo, và cách dịch mới là Giác. Giác có hai nghĩa là Giác sát (xem xét hiểu biết) và Giác ngộ.

- Theo Đại Thừa nghĩa chương, quyển 2 thì giác cũng có hai nghĩa: 1) Giác sát gọi là giác; 2) Giác ngộ gọi là giác, như người ngủ thức dậy.

- Giác sát là nhận ra các chướng phiền não. Việc phiền não xâm hại giống như giặc cướp, chỉ có thánh nhân hiểu biết mới không bị nó làm hại.

- Giác ngộ là nhận biết các chướng ngại che lấp trí tuệ. Bị vô minh hôn ám xâm hại, giống như giấc ngủ. Khi trí tuệ thần thánh khởi lên, liền tỉnh ngộ, như đang ngủ say chợt tỉnh, nên gọi là Giác”.

Luận Câu Xá coi hai loại Tận trí vô sinh địa là Giác thể; Duy thức coi bốn trí như Đại viên kính trí là Giác thể; Mật giáo coi 5 trí như Pháp giới thể tính trí là Giác thể.

- Còn theo Từ Điển Phật Học của Ban biên dịch Đạo Uyển (Nhà Xuất Bản Tôn Giáo) thì danh từ Giác ngộ (覺 悟; S, P: Bodhi) được dịch nghĩa từ chữ Bodhi (Bồ-đề, tỉnh thức) của Phạn ngữ (S); chỉ trạng thái tỉnh thức. Lúc con người bỗng nhiên trực nhận tính Không (S: śūnyatā), bản thân nó là Không cũng như toàn thể vũ trụ cũng là Không. Chỉ với trực nhận đó, con người mới rõ biết được thể tính mọi hiện tượng. Trên đây nói tính không không phải sự trống rỗng thông thường mà nói về một thể tính vô biên không thể dùng suy nghĩ, cảm nhận để đo lường, vì nằm ngoài sự đối đãi có, không. Tính Không này không phải là một đối tượng để một chủ thể tiếp cận đến vì bản thân chủ thể cũng thuộc về nó. Vì vậy, giác ngộ là một kinh nghiệm không thể giải bày.

Theo lịch sử, người giác ngộ hoàn toàn là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, cũng là người bắt đầu giáo hoá cho nên đạo Phật còn được gọi là “Đạo Giác Ngộ” (Ðại ngộ triệt để, Ngộ Kiến tính).

Dù rằng cái thể của tính Không là một, nhưng người ta cho rằng có nhiều mức độ giác ngộ khác nhau. Nếu so sánh giác ngộ như phá vỡ một bức tường, thì có những giác ngộ như chỉ hé mở một lỗ nhỏ và giác ngộ như đức Thích Ca là phá vỡ hoàn toàn bức tường đó. Có vô vàn khác nhau giữa các mức độ giác ngộ, biểu hiện bằng sự rõ ràng chính xác của thiền giả đạt được. Dựa trên kinh nghiệm của các bậc Giác Ngộ, thế giới của sự giác ngộ không hề khác với thế giới hiện tượng của chúng ta. Tất cả đều là một, chỉ khác nhau ở mức độ tương đối hoặc tuyệt đối. Kinh nghiệm về cái tất cả là một này chính là kinh nghiệm về thể tính tuyệt đối đó. Trong Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm kinh (S: Mahāprajñā-pāramitā-hṛdaya-sūtra) chỉ rõ “Sắc tức là không, không tức là sắc”, tức là không hề có hai thế giới. Nhờ sự giác ngộ sâu xa, hành giả từ bỏ được ngã chấp. Trong Thiền tông, một khi cái ngã mất đi (đại tử) thì đời sống mới bắt đầu, đó là một cuộc sống tự tại và an lạc.

- Một câu hỏi cụ thể được rất nhiều người mộ đạo đặt ra là: Do đâu mà người ta có thể nhận ra được một Thánh nhân, một Bậc giác ngộ bằng những giác quan của một “Phàm phu” để theo người đó tu tập? Nếu theo sách vở thì câu trả lời thường là, “chỉ có một bậc Giác Ngộ mới nhận ra một bậc Giác Ngộ (Vô thượng du-già)”.

- Nhưng kinh nghiệm chung cho thấy, người bình thường cũng có khả năng nhận ra được một người đã đạt một cấp bậc siêu việt trên con đường tu tập qua các biểu hiện, qua bầu không khí xung quanh người đó. Ðó là một khung cảnh thái bình, tịch tịnh mà người nào cũng có thể cảm nhận được, kể cả thú rừng. Trong khung cảnh này thì tâm của con người không còn bị những câu hỏi, hồ nghi quấy nhiễu. Không phải vì chúng mỗi mỗi được giải đáp mà vì chúng đã tự biến mất, tự hủy diệt trong cái tĩnh mịch vô biên của Chân như.

- Một Triết gia người Ðức Veltheim-Ostrau đã mô tả cảm giác của ông trong bầu không khí và những hiện tượng xung quanh một bậc Giác Ngộ hiện đại. Đó là ông Śrī Ra-ma-na Ma-hā-ri-shi (1897-1950) tại Tiruvannamalai, núi A-ru-nā-cha-la ở miền Nam Ấn Ðộ (“mahāṛṣi” dịch sát nghĩa là Ðại Thấu Thị, một Ðại nhân đã nhìn thấu suốt vạn sự) như sau: “Tôi cảm nhận sự hiện diện của tất cả mọi người, những động vật xung quanh, một bầu không khí thái bình, một sự yên tịnh không tả nổi. Tôi đứng bên cạnh họ với một tâm trạng vô tư, hoàn toàn không quen biết, nhưng với một tình thương ấm áp. Tâm trạng này không dễ miêu tả bởi vì nó quá đơn giản, quá tự nhiên. Tôi chỉ cầu mong nhớ lại được trạng thái này trước khi tôi qua đời...”

- Còn theo Tiểu Từ Điển Phật Học thông dụng của Thiện Nhựt Huỳnh Hữu Hồng thì Giác cũng có hai nghĩa:

1) Nghĩa thông-thường, giác là hiểu-biết.

2) Nghĩa chuyên-môn trong Phật-học, giác là giác-ngộ, sự hiểu-biết chơn-chánh, thấu-đáo về lẽ sống chết và bản-thể chơn-thật của muôn pháp. Chữ giác dùng để dịch chữ Phạn Bodhi, Bồ-đề.

Giác-ngộ (giác = biết; ngộ = hiểu rõ) = tình-trạng hiểu-biết thật rõ-ràng, chính-xác, đúng với Chơn-lý. Chữ giác-ngộ nghĩa mạnh hơn chữ tỉnh-ngộ, vì tỉnh-ngộ có nghĩa là trước kia chưa biết về một điều gì, nay sực thấy ra hiểu - biết được điều ấy. Còn nơi chữ giác-ngộ, sự hiểu-biết rộng-rãi hơn về mọi điều nhìn thấy dưới ánh sáng của Trí-huệ, nhứt là về lẽ sống chết và bản-thể chơn-thật của muôn sự-việc. Vả lại, chữ giác-ngộ chỉ dành cho các bực tu-hành nhận ra được Chơn-lý của muôn pháp.

Giác-giả (giác = biết; giả = người) = danh-từ chánh-thức dùng để dịch chữ Phạn Buddha, Phật-đà. Đức Phật có nghĩa là bực đã hiểu-biết. Hiểu-biết gì? Hiểu rõ lẽ sống-chết và bản-thể chơn-thật của muôn sự-vật. Cùng nghĩa với chữ bực Đại-giác.

- Theo Tác giả Thiều Chữu thì chữ Giác và chữ Ngộ được định nghĩa như sau. Giác (覺): Hiểu biết, hiểu những điều không biết đến gọi là giác. Đạo Phật (佛)cốt nhất phải giác ngộ chân tính tỏ rõ hết mọi lẽ, cho nên Phật được gọi là Giác vương (覺王). Người học Phật được chứng tới quả Phật gọi là chánh giác (正覺). Ngộ (悟) là tỏ ngộ, biết. Trong lòng hiểu thấu gọi là ngộ, đọc sách hiểu được ý hay gọi là ngộ tính (悟性). Mở, bảo cho người biết tỉnh lại không mê muội nữa.

Bấy nhiêu ý kiến về chữ Giác ngộ trong Phật Giáo chưa phải là tất cả, nhưng nhìn chung mọi người đều đồng ý rằng: Giác ngộ phải là sự thấu suốt nào đó mà một con người bình thường, dựa trên hiểu biết bình thường và thẩm định giá trị bằng những cách thông thường (kinh nghiệm) thì không thể đến được.

- Nếu xét theo Phật Học Từ Điển Hán Việt trích dẫn từ Đại Thừa Nghĩa Chương, quyển 2 thì Giác ngộ có hai nghĩa: 1) Giác sát gọi là giác; 2) Giác ngộ gọi là giác, như người ngủ thức dậy. Giác sát là nhận ra các chướng phiền não. Việc phiền não xâm hại giống như giặc cướp, chỉ có thánh nhân hiểu biết mới không bị nó làm hại. Giác ngộ là nhận biết các chướng ngại che lấp trí tuệ. Bị vô minh hôn ám xâm hại, giống như giấc ngủ. Khi trí tuệ thần thánh khởi lên, liền tỉnh ngộ, như đang ngủ say chợt tỉnh, nên gọi là Giác”.

Hai nghĩa Giác sát và Giác ngộ trên đây rất gần gũi với đời sống tu hành. Có thể nói, những ý kiến này rất cụ thể và có thể lấy đây làm định hướng để tu tập. Giác ngộ được hiểu bằng hai nghĩa là Giác sát và Giác ngộ không nặng triết lý, nó mang tính thực dụng phù hợp với yêu cầu được học tập và ứng dụng. Ngoài ra, hai nghĩa này cũng rất gần với ý nghĩa Hán tự của chữ Giác và Ngộ theo định nghĩa Từ điển của Phật tử Thiều Chữu.

-  Giác ngộ xét về mặt văn tự, thì đây là một cặp từ gồm hai từ. Đó là: Từ giác (覺) có nghĩa hiểu biết, hiểu được những điều mà từ trước tới nay không biết gọi là giác; và từ Ngộ (悟) có nghĩa rõ biết như thật, như nhận ra một vật thể rõ ràng trước mắt. Hai từ ngữ này khi đứng chung thành ra chữ Giác ngộ.

Nếu so sánh cặp từ Giác ngộ với toàn bộ kinh văn Đức Phật đã thuyết để dạy đệ tử Giác ngộ, thì hai điều này giống nhau, và đã minh họa được ý nghĩa Phật dạy, đó là biết được chướng đạo. Một trong những thứ từ xưa đến nay chúng sanh không biết vì mải lo chạy theo chướng đạo nên bỏ quên nó, đó là sự thanh tịnh hồn nhiên, như người say quên trong chéo áo mình có hạt minh châu. Nó cũng phù hợp với ý nghĩa Diệt đế và Đạo đế trong Tứ diệu đế. Có nghĩa khi biết được trong chéo áo có hạt châu vô giá thì người này mới không sợ đói nghèo cho nên không tiếp tục say sưa, mà chuyên tâm giữ gìn hạt châu.

- Nếu từ Giác ngộ được hiểu trên ý nghĩa văn tự, thì giác ngộ này chưa có định hướng rõ rệt, bởi lẽ người ta không rõ biết chân thật cái gì cần giác cái gì cần ngộ. Vì thế, người ta có thể hiểu giác ngộ bằng nhiều cách với nhiều ý nghĩa khác nhau.

- Nhưng nếu hiểu Giác ngộ theo ý nghĩa Phật Giáo, thì phải có thú hướng rõ rệt, vì bởi Giác ngộ của Phật Giáo có đặc thù của Phật Giáo. Phật là đấng đã giác ngộ trước. Phật rõ biết cái gì cần giác, cái gì cần ngộ. Bây giờ, người tu hành trong Phật đạo chỉ cần thừa hưởng thành quả mà Phật đã đạt được và truyền dạy lại cho đời sau.

Do đó người cầu giác ngộ trong Phật đạo phải có cái nhìn và hiểu khác cái nhìn và hiểu về giác ngộ của các loại giải thích không căn cứ vào sự giáo dạy của Phật. Ngoài đời không thiếu những cách giải thích và trình bày chỗ giác ngộ của mình. Tất nhiên giải thích và trình bày này không có gì là sai, nhưng chưa thể nói là giác ngộ này đúng yêu cầu Phật đạo.

- Bởi lẽ, khi Phật giác ngộ thì Phật thấu suốt Phật pháp (Pháp đẳng). Ngày nay cũng có người giác ngộ nhưng không hề biết Phật pháp nói gì, thậm chí hiểu sai lời Phật dạy, thì có lẽ nên coi lại sự giác ngộ này đến đâu và có thật sự giác ngộ trong Phật đạo hay không? Nếu chúng ta đánh đồng và coi tất cả giác ngộ là một, thì e rằng sự đánh đồng này chưa hợp lý. Vì nếu, giác ngộ mà giữa người giác ngộ và chủ trương giác ngộ không đồng nhất, thì chữ “Chánh Đẳng Chánh Giác” có vấn đề. Trong kinh Phật thường dạy: “Tam thế chư Phật khác miệng đồng lời…” để minh định rằng mọi người nếu giác ngộ đúng Phật đạo, thì không hề có lý giải sai khác về giáo pháp. Như vậy có nghĩa lý giải sai khác hoặc không biết giáo pháp nói gì, thì giác ngộ này chẳng thể gọi là giác ngộ trong Phật đạo.

- Như vậy, sự định hướng cho việc giác ngộ là điều kiện tiên quyết tối cần và không thể thiếu. Và nói như Ban biên dịch Đạo Uyển thì: “…Dù rằng cái thể của tính Không là một, nhưng người ta cho rằng có nhiều mức độ giác ngộ khác nhau. Nếu so sánh giác ngộ như phá vỡ một bức tường, thì có mức giác ngộ như chỉ hé mở một lỗ nhỏ và giác ngộ như đức Thích-ca là phá vỡ hoàn toàn bức tường đó. Có vô vàn khác nhau giữa các mức giác ngộ, biểu hiện bằng sự rõ ràng chính xác của thiền giả đạt được…”

- Lời giải thích trên được hiểu dù rằng giác ngộ có nhiều cấp độ, nhưng giống như phá một cái lỗ bức tường hay phá vỡ toàn bộ bức tường, cái thấy giữa các món đồ vật bên trong không khác. Ở đây, chỉ khác nhau chỗ ít nhiều vì một bên thấy ít đồ vật, một bên thấy toàn bộ đồ vật. Phật cũng khẳng định điều này với câu nói sau: “Cũng như một đĩa mật, này các Tỳ kheo, người liếm mép đĩa và người ăn trọn đĩa mật, vị ngọt của nó không khác”.

- Tính thống nhất, sự cảm nhận và hiểu biết về vị ngọt không khác. Hay khác hơn, một người nhìn căn phòng qua khe cửa hẹp thấy được chiếc ly trong phòng không khác người ở trong phòng thấy được chiếc ly. Nếu có khác chăng là người ở trong phòng thấy được toàn bộ căn phòng, còn người nhìn qua khe cửa chỉ thấy được chiếc ly.

- Vì thế, sự cần thiết phải định hướng giác ngộ như thế nào mới đúng và cần giác ngộ cái gì nhất định không thể thiếu trong Phật đạo. Sự định hướng này phải được căn cứ trên tinh thần những điều mà kinh điển ghi lại. Có như vậy khi đã giác ngộ thật sự thì sự mô tả “vật được thấy” sẽ không sai với những gì kinh điển đã nói. Có thể lấy đây làm mực thước trên con đường tìm đến giác ngộ.

- Nếu toàn bộ sự nghiệp tu hành trong Phật đạo đều bắt nguồn từ giác ngộ, từ thấp đến cao và sau cùng là rốt ráo, thì có thể nói giác ngộ đúng như Phật đạo phải là thể thống nhất. Sự hiểu biết và bắt gặp có tính nhất quán cao, không hề có sự trái ngược dù nhỏ nhất trong thể thống nhất này. Vì thế Ba thừa trong Phật đạo giống như ba người nhìn vào căn phòng bằng ba khung cửa hẹp khác nhau để thấy một cây đèn trong đó. Đây là mục tiêu, nơi phải đến và phải thấy đầu tiên để rồi cuối cùng họ phải phá những bức tường của căn phòng để đến với ánh sáng của cây đèn. Cây đèn cần phải đến chính là Nhất thừa.

Ba người thấy cây đèn ở các góc nhìn khác nhau, nhưng nhất định họ không thể mô tả sai ánh sáng tỏa ra từ cây đèn. Nếu ai đó mô tả sai, thì nhất định người này chưa nhìn thấy ngọn đèn giác ngộ. Vì thế giác ngộ trong Phật đạo là điều kiện tiên quyết để nhờ giác ngộ này mà định hướng tu hành hầu đạt đến sự giác ngộ cao hơn và viên mãn hơn.

- Đức Phật chứng Vô Thượng Bồ Đề hay Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là sự giác ngộ tột cao không có giác ngộ nào cao hơn, và đồng chỗ chứng của chư Phật ba đời, cho nên mới gọi là Chánh Đẳng Chánh Giác. Trong kinh, Phật mô tả đó là sự thanh tịnh tột bậc, một trí tuệ siêu việt. Nếu lấy những điều được Phật mô tả làm định hướng để hướng đến, thì giác ngộ đầu tiên có được phải đủ yếu tố là thanh tịnh và trí tuệ, tuy rằng nó không bằng Đức Phật.

Chỗ thấy thanh tịnh đầu tiên của Giác ngộ là một thứ Xa Ma Tha (định), một loại định do thấu suốt mà thành. Định này không do bởi một kinh nghiệm sống nào có thể đến được, vì nó chính là quá trình tột cao của giác. Giác đến tột bờ mé, ý thức bị triệt tiêu, chủ thể giác vượt ra khỏi chính mình để ngộ được bản tâm thanh tịnh. Vì thế Giác và Ngộ hai thứ làm nhân cho nhau, khi người ta giác đến tột cùng sự hư dối của vạn pháp thì tâm tự dừng lặng. Sự dừng lặng này giống như một người nhìn vào tấm kính trong suốt để thấy vạn hữu đang chết lặng trong đó.

- Khi thấy được sự tĩnh lặng thanh tịnh này, người tu hành mới vỡ lẽ ra rằng, bản tâm này bổn lai thanh tịnh. Vì mê mờ chạy theo thấy, nghe, hay biết của vọng thức, lấy đây làm tâm mà quên đi cái thanh tịnh vốn đã sẵn. Khi thấy được thanh tịnh ban sơ này, mới biết thế nào là tu hành, và mới biết lý do vì sao Diệt đế đứng trước Đạo đế. Tu hành bây giờ chỉ là quở trách tập khí mê lầm còn sót lại để giúp cho thanh tịnh viên mãn. Sự trợ giúp này chính là pháp Tỳ Bà Xá Na. Tỳ Bà Xá Na hay huệ quán là một thứ huyễn nhận thức để đoạn trừ huyễn pháp. Vì trong thanh tịnh bản nhiên nếu tập khí hư vọng nổi lên, gọi là pháp hư huyễn. Bây giờ phải dùng huyễn trí để quở trách nó. Khi pháp huyễn diệt, trí huyễn cũng tự diệt. Pháp huyễn diệt, trí huyễn diệt tâm lại thanh tịnh.

-  Khi nào tập khí hư vọng không còn hiện khởi, có nghĩa Chỉ và Quán đồng thanh tịnh thì trí tuệ tự hiện. Giống như ngọn đèn đã thắp lên hoàn hảo, nó sẽ tự chiếu mình và đồ vật chung quanh. Sự tự chiếu này gọi là Thiền Na, tức giai đoạn tự giác đã xong. Bây giờ chỉ còn tăng thêm cường độ ánh sáng bằng cách mồi nhiều ngọn đèn để toàn thể hang động vô minh được sáng, và những nơi tối tăm nhất cũng sẽ được chiếu đến. Vì thế, khi thọ ký Phật thường mở đầu bằng các câu sau: “Sau khi ông cúng dường vô lượng chư Phật, độ vô số chúng sanh…” Viên giác là giác ngộ viên mãn. Đó là tự giác và giác tha, và không thể có sự viên mãn trong Phật đạo chỉ bằng một thứ giác.

- Giác ngộ trong Phật đạo vừa là nhân và đây cũng là quả. Phật dạy chỉ lấy nhân Phật tu mới được quả Phật. Giác ngộ là điểm đầu tiên phải đến. Đây là ngọn đèn được thắp lên để hướng người tu hành về đến Vô Thượng giác. Cho nên, tu hành trong Phật đạo mà thiếu giác ngộ thì giống như người đi đêm trong rừng sâu không có đèn, sẽ không thể tìm ra phương hướng. Giới, định, huệ như chiếc kiềng ba chân làm nên quả vị vô thượng Niết bàn.

- Giác ngộ trong Phật đạo là chất liệu cần thiết để lóng sạch phàm tâm, cũng giống như nước đục được lóng phèn, tất cả mọi tạp chất sẽ lắng xuống đáy. Nếu không giác ngộ, chỉ có giới và định, khi đem thân tâm vào yên lặng sẽ giống như đưa bình nước đục vào nơi thanh vắng. Khi bình nước được để yên, vật nhẹ sẽ nổi lên trên. Vật có tỷ trọng tương đương với nước thì lững lờ cùng nước. Vật tỷ trọng nặng hơn sẽ chìm xuống đáy. Tạp chất được phân lớp rõ ràng.

- Nổi lên trên tâm, là những thứ nhạy cảm nhất sẽ hiện khởi, đó là nhân ngã. Thứ lững lờ cùng tâm không thể tách ra, đó là nhận thức. Nhận thức là sự nhập nhằng không thể phân định cái nào là Thánh pháp cái nào là thế pháp, gây ra lầm nhận giữa Phật pháp và thế pháp. Sự nhập nhằng này rất dễ nhận ra trong khi trình bày lý giải Phật pháp. Thứ chìm xuống đáy tâm chính là các lậu hoặc. Khi có dịp hoặc bị khuấy động, nó sẽ trào lên như dung nham trào ra khỏi miệng núi lửa, và không có một thứ giới nào có thể ngăn chặn được.

- Như vậy có thể đặt câu hỏi ngược lại, người đã giác ngộ, các thứ tạp chất lắng xuống có bị trào lên không? Xin thưa có trào lên, nhưng nhờ sức thanh tịnh giác ngộ giống như thế lực của phèn trong nước, nó sẽ làm nước trong trở lại. Và chỉ khi nào giác ngộ người này mới nhận ra “Tập khí” và dùng Tỳ Bà Xá Na (huệ quán) để quở trách nó.

Một thứ vũ khí mà người không giác ngộ chẳng thể nào có được, chính là thế lực của giác ngộ, kinh gọi là thế lực viên “Thủy thanh châu” sẽ làm trong nước và thế lực của trí tuệ sẽ làm cho nước không bị khuấy động. Đến khi sức giác ngộ đủ mạnh, chỉ và quán quân bình thì mọi gió cảnh có thổi cũng không đủ sức làm cho biển đại giác nổi sóng. Mà nó trở thành thứ thiền na thổi mát lòng, cho ra khái niệm an lạc. Vì an nên có lạc, lạc này là quả của an nên lạc trở thành thường.

Tóm lại, Giác ngộ trong Phật đạo là chất liệu quan trọng. Nó là khái niệm đầu tiên và cũng là nhân tố làm nên quả vị cuối cùng. Nó là tuệ, là thứ trí tuệ vô tướng mà mỗi chúng sanh tự có, chỉ vì mê say tà khúc cảnh duyên nên quên đi bản thể. Nếu chỉ có định và giới mà muốn thành tựu trong Phật đạo thì ngày xưa các ngoại đạo dưới thời Phật, những người bỏ cả cuộc đời chuyên tu thiền định và giữ giới lẽ ra phải tự mình giải thoát và thành Phật lâu rồi. Ngày xưa đã thế thì ngày nay khác chăng? Nếu chỉ có giới và định là đủ, thì Tu Bạt Đà La sẽ không tìm đến và sẽ không khóc khi làm môn đệ cuối cùng của Đức Phật.

(12-2010)

Tác Phẩm Lý Tứ

Tiến Trình Tu Tập

MB 1157 Lý Mỹ Linh 06.02.2023

Tu hành vì người là thật nghĩa của tu hành vì mình, Bồ Tát lấy chúng sanh làm tự thể tu tập. Thanh Văn chủ trương vô ngã nên không thể giác ngộ chúng sanh, Bồ Tát biến Ngã thành Bi, biến Khổ thành Từ, thấy Không thành Hỷ, hiểu Vô Thường nên tâm thường tự Xả. Vì rốt ráo xả nên tâm thanh tịnh, tâm thường thanh tịnh nên gọi là tinh tấn..

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ

- A La Hán chỉ dứt sanh tử phần đoạn, ra khỏi khổ đau ba cõi, còn thấy có sanh tử có Niết Bàn vì thế vị này bỏ sanh tử cầu Niết Bàn, vì chưa thấy phiền não cùng Bồ Đề chẳng hai, nên vị này sợ phiền não tìm Bồ Đề. A La Hán chỉ chứng được nhân không mà chưa thấy pháp cũng không và A La Hán cũng chưa thấy được thiệt tướng.

- Sau khi chứng La Hán, muốn thành tựu những điều nêu trên, vị này phải phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, phát nguyện độ sanh và cầu học Nhất Thiết Trí. Thực hiện những điều này, một A La Hán sẽ không còn danh xưng là A La Hán, mà được gọi “hồi tâm A La Hán”.

- Sau khi có trí tuệ, vị này hành công hạnh Bồ Tát gọi là Bồ Tát sơ phát tâm, trải qua hai vô số kiếp, chuyển biến trong “Bất tư nghì biến dịch sanh tử” vì công hạnh, vị này viên mãn Nhất thiết trí, dứt hai phần Sở trí ngu, Bồ Tát này mới thấy được thiệt tướng, đồng thời thấy Phật tánh.

- Thấy Phật tánh, Bồ tát này được thọ ký, có danh xưng là Đại Bồ Tát. Trải qua một vô số kiếp còn lại gọi là “Hậu biên thân”. Về thân, Đại Bồ Tát tu tập 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp. Về trí, Đại Bồ Tát Tu tập Nhất Thiết Chủng Trí. Về cõi nước, thiết lập cõi nước, trang nghiêm chúng sanh.

- Viên mãn hai phần công đức và trí tuệ, tức thân tướng đầy đủ và trí huệ tối thượng, Bồ Tát này nhập “Tối hậu thân” còn gọi là “Sắc thường trụ” giống như thân Thích Ca Mâu Ni, từ cung trời Đâu Suất đản sanh chứng Vô Thượng Bồ Đề. Đây mới được gọi là thân rốt sau. Vì thế mới có danh xưng “Chánh Đẳng Chánh Giác” tức thân và trí đồng chư Phật mười phương.

- Người tu hành trong Phật đạo đều không thể ra khỏi tiến trình này, nếu muốn chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

- Trong kinh Đại Niết Bàn, Phật dạy: “Trước khi thọ thực, thân Bồ Tát là nhục thân. Thọ thực xong, Bồ Tát nhập Kim Cang Tam Muội tiêu hóa thức ăn, biến nhục thân thành kim cang thân, thấy Phật tánh chứng Vô Thượng Bồ Đề”.

Từ La Hán đến thành Phật, nên Phật còn được gọi là Đại A La Hán.

“Tu hành vì người là thật nghĩa của tu hành vì mình, Bồ Tát lấy chúng sanh làm tự thể tu tập. Thanh Văn chủ trương vô ngã nên không thể giác ngộ chúng sanh, Bồ Tát biến Ngã thành Bi, biến Khổ thành Từ, thấy Không thành Hỷ, hiểu Vô Thường nên tâm thường tự Xả. Vì rốt ráo xả nên tâm thanh tịnh, tâm thường thanh tịnh nên gọi là tinh tấn..."

(12-2010)

−−−••• ⁕ ⁕  ۝⁕ ⁕ •••−−−

Tags:

Tu tập

Tác Phẩm Lý Tứ

Nghệ Thuật Chỉ Đường

MB 857 Lý Diệu Sinh 06.02.2023

Các bạn! ...  Theo lịch sử ghi lại, sau một thời gian rất dài khoảng gần 20 năm, lúc mà các đệ tử của mình hầu như đã nắm toàn bộ giáo lý cơ bản và đã chứng Thánh (A La Hán, giác ngộ), bây giờ Thế Tôn mới bắt đầu triển khai dạy về trí tuệ, cụ thể là Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Bát Nhã và các tạng kinh Đại Thừa...

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa có kể rằng, trước khi thuyết kinh này, Phật nhập vào "Vô lượng nghĩa xứ Tam muội", và thuyết kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa, sau đó mới triển khai Phật Tri Kiến (tức kinh Diệu Pháp Liên Hoa). Điều này nói lên rằng, trong Đại Thừa Pháp, một pháp, một từ có đến vô lượng nghĩa. Tuỳ tâm cơ của chúng sanh mà Phật giảng giải một nghĩa nào đó phù hợp nhất trong thời điểm hiện tại, để giúp họ phát sanh công đức, có được trí tuệ, thành tựu đạo nghiệp. Cũng pháp đó, cũng từ đó, nhưng trong một nhân duyên khác, có thể được giảng một nghĩa khác. Vì nguyên lý này, mà kinh Phật có khối lượng đồ sộ như hiện nay.

Trong Kinh Kim Cang, Phật cũng nói rằng: "Thời còn tu học dưới Phật Nhiên Đăng, ta không có một chút pháp gì để thành tựu, nên Phật Nhiên Đăng mới thọ ký cho ta thành Đẳng Chánh Giác hiệu là Thích Ca Mâu Ni".

Không có một chút pháp chi để thành tựu, nhưng Phật đã thuyết đến vô lượng pháp lành. Điều gì đã làm nên vô lượng pháp lành để Thế Tôn có thể tuyên nói ròng rã bốn mươi chín năm? Đó chính là: Nguyên Lý Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa! Trong Đại Thừa Pháp, vì tâm cơ chúng sanh vô lượng (đa tâm), nên một pháp của Phật pháp cũng có vô lượng nghĩa!

Vấn đề được đặt ra là, làm sao ta có thể biết hết vô lượng nghĩa này? Đây là câu hỏi không dễ trả lời cho những người chưa giác ngộ, hoặc giác ngộ không sâu. Nhưng đối với một vị đã giác ngộ, bằng trí tuệ chân thật trong Phật đạo, câu trả lời sẽ là không khó!

Khi vị ấy chạm đến chỗ sâu nhất của công đức, và bằng trí tuệ của mình, vị này quán được tâm địa của chúng sanh, trong đương cơ vị này sẽ tìm thấy các nghĩa cần thuyết. Sự tìm thấy này, dựa vào nguyên lý Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa. Điều này các bạn có thể hiểu qua ví dụ sau: Có rất nhiều người, ở những vị trí rất khác nhau, đồng hỏi con đường đi đến căn nhà của bạn. Tuỳ vào vị trí của người đó, bạn có thể chỉ ra ngay tức thì con đường để họ đi đến nhà của mình mà không cần suy nghĩ.

Căn nhà của bạn, dụ cho Phật quả hoặc quả vị hiện tại của người tu hành. Rất nhiều người ở những vị trí khác nhau, dụ cho chúng sinh đa tâm và các quả vị khác nhau trong Phật đạo. Chỉ cho họ các con đường khác nhau để đi đến căn nhà của mình, chính là Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa...

Còn một vấn đề nữa cần được đặt ra, bạn chỉ có thể chỉ cho mọi người ở những vị trí khác nhau đến được căn nhà của bạn, hoặc một nơi mà bạn đã biết rất rõ. Còn nơi mà bạn chưa từng biết đến, nếu có ai hỏi đường, chắc chắn là bạn bó tay, không thể chỉ được...

Nếu cố chỉ, một ác pháp nhất định sẽ sinh khởi, người hỏi đường sẽ mê mờ, đi sai lạc, không đến được nơi mong muốn, vì được chỉ con đường mà bản thân người chỉ không biết rõ. Đây là lý do vì sao việc tìm thấy vô lượng nghĩa trong một pháp, sẽ rất dễ đối với một số người và sẽ rất khó đối với một số người. Bạn đã thật sự giác ngộ hay chưa, ngọn đèn vô lượng nghĩa sẽ soi ra tất cả!

Thời điểm này, phần lớn HĐ chúng ta đã nắm được giáo pháp căn bản, một số không nhỏ đã giác ngộ. Để bắt đầu tiến về Đại Thừa Pháp, học cách chỉ đường, chúng ta tập làm quen với việc xác định vị trí mình đã đến trong đạo pháp bằng khái niệm tầng sâu công đức, và quan sát vị trí người hỏi đường (soi chiếu tâm địa chúng sanh), để tìm ra con đường ngắn nhất giúp người hỏi đường đi đến đúng vị trí họ cần tìm mà không bị sai lệch... Đây là lý do vì sao năm kỳ câu hỏi vừa rồi được chuyển đến các bạn. Năm kỳ câu hỏi này, được mở đầu bằng câu hỏi công đức. Câu hỏi này nhằm giúp các bạn xác định đúng vị trí đang đứng của các bạn, câu trả lời sẽ thể hiện tầng sâu công đức của chính bạn. Câu hỏi về Chánh Kiến, giúp các bạn thấy rõ những gì chung quanh mình trong quả vị hiện tại. Hai câu hỏi liên quan đến Đạo Đế, tập cho các bạn xác định con đường các bạn đã đi qua, và đoạn đường còn lại các bạn sẽ đi tiếp. Chúng ta vừa đi, vừa làm quen việc chỉ đường cho người khác cùng đi, gọi là Bồ Tát Đạo!

Chỉ đường là một nghệ thuật. Bồ Tát Đạo là một nghệ thuật. Chặng đường sắp tới, chúng ta xâm nhập nghệ thuật này, đến bao giờ mỗi người trong chúng ta đi đến đích cuối cùng, cũng là lúc từng HĐ sẽ là những bậc thiện xảo trong nghệ thuật chỉ đường. Thành tựu được điều này, sẽ là công cụ hữu hiệu giúp ta và những chúng sinh theo ta đi đến Vô Thượng Quả không sai lệch!

Các bạn càng tập trả lời nhiều chừng nào, những khái niệm về vị trí, về đường đi, về phương tiện để đi trong lòng các bạn sẽ nhuần nhuyễn chừng đó.

Như mình đã nói trước đây, không nhất thiết mọi câu trả lời của các bạn đều phải giống nhau, vì sức giác ngộ, công đức, trí tuệ mỗi người khác nhau. Tuy những câu “Trả Lời” khác nhau, nhưng nó đồng mô tả căn nhà đạo quả các bạn đang ở và con đường các bạn đã đi qua cũng như phương hướng dự kiến sẽ đi tiếp trong vị lai!                                                         (20-06-2016)

Subscribe to