Thư viện

Phần II: 3. Lục Chủng Tánh Anh Lạc (Trang 21 - 40)

Content Editor 04.02.2023

Anh Lạc Luận 1

Tác giả: Lý Tứ

NXB Dân Trí - Phát hành MinhThangBooks

Phần 2: 3. Lục Chủng Tánh Anh Lạc 

Từ trang: 21 - 40 

Giọng đọc: Lý Ngọc Linh

Nguồn nhạc: Giấy phép Creative Commons

Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời

Thư viện

Phần I: Thay lời tựa "Giờ huỳnh đạo; 1. Luận về; "Cái sự ăn"; 2. Tản mạn về "Văn - Tư - Tu"(Trang 5 - 20)

Content Editor 04.02.2023

Anh Lạc Luận 1

Tác giả: Lý Tứ 

NXB Dân Trí

Phần 1: Thay lời tựa "Giờ huỳnh đạo; 1. Luận về; "Cái sự ăn"; 2. Tản mạn về "Văn - Tư - Tu"

Từ trang: 5 - 20

Giọng đọc: Lý Ngọc Linh

Nguồn nhạc: Giấy phép Creative Commons

Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời

Tác Phẩm Lý Tứ

Phật Giáo Và Giải Thoát

Content Editor 04.02.2023

Phật Giáo được mệnh danh là “Đạo giải thoát”, tất nhiên giải thoát chỉ là một tính chất trong vô số tính chất có được của Phật Giáo. Tuy nhiên khi nói đến Phật Giáo người ta thường nghĩ ngay đến tính chất này. Vì bởi Phật Giáo đặt giải thoát làm trọng tâm, lấy đây làm tiêu chí đầu tiên mà người tu hành trong Phật đạo phải đạt được, và giải thoát là một trong những “chuyên ngành đào tạo” đặc trưng của Phật Giáo.

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ

Nếu thử dạo một vòng tìm hiểu những tôn giáo bạn thì không thấy có một tôn giáo nào chủ trương điều này, vì bởi các tôn giáo phần lớn mang nặng tính mặc khải, thần quyền.

Có nghĩa vị giáo chủ hoặc đấng bề trên quyết định số phận của môn đồ, thường không dành cơ hội hoặc tạo điều kiện cho môn đồ làm chủ bản thân và tự giải quyết vấn nạn của chính mình.

Riêng Đức Phật thì khác, Đức Phật không coi học trò của mình là những môn đồ bé bỏng, mà luôn tạo điều kiện thuận lợi và trao cho họ ngọn đuốc với lời khuyên: “Hãy tự mình đốt đuốc lên mà đi…”

Thời Đức Phật, giải thoát là tiêu chí đầu tiên người tu hành cần phải tự chứng nghiệm. Nếu không coi đây như con đường mình chọn, thì ít ra các vị này phải được trang bị một tri kiến tương đương.

Vì rằng, toàn bộ hành trình chinh phục đỉnh cao chân lý của Phật Giáo, giải thoát hay tri kiến tương đương chính là những trang bị tối cần thiết, không thể thiếu, nếu vị này không muốn bỏ cuộc giữa chừng.

Chính sự quan trọng của giải thoát, nên với Nhị Thừa học thuyết Ngũ Ấm ra đời, và Bồ Tát thì Tam Giải Thoát Môn có mặt.

Đến bây giờ, khi nói đến khái niệm giải thoát, rất ít người tu hành trong Phật đạo chú trọng, thậm chí khái niệm này được đánh giá như một hoài bão thấp kém của Thanh văn thừa.

Tất nhiên kết luận như vậy không sai, nhưng bảo rằng đây là kết luận hoàn hảo thì có lẽ phải coi lại. Và thực tế, cũng có một số Phật tử quan tâm hoặc lấy đây làm chủ trương tu tập, nhưng rất tiếc đa số họ lại hiểu ý nghĩa giải thoát rất mơ hồ, thậm chí không tin rằng ý nghĩa này tự thân có thể đạt được. Họ không nêu ra được cụ thể vì sao người tu hành cần phải giải thoát hoặc có một hiểu biết tương đương. Họ cũng không xác định được cái gì cần giải thoát cũng như đến đâu mới được coi là thành tựu.

Khi Phật Giáo đưa ra khái niệm giải thoát thì khái niệm này đứng ở đâu và có giá trị gì trong toàn bộ hệ thống đào tạo Phật Giáo, họ chưa một lần nghĩ đến.

Những hụt hẫng về mặt lý luận đã không làm cho người tu hành xác định được vị trí của mình, không tìm thấy phương hướng và cuối cùng mặc dù vẫn cố đi, nhưng những hoài nghi về chân lý đang tìm và sự thật có hay không về một chân lý luôn đeo bám, trì kéo bước chân của họ.

Mặc dù trong mỗi thời tụng niệm sáng chiều, tất cả đều xưng tán ngũ phần hương, những khẩu hiệu được hô lên một cách bất đắc dĩ. Hô lên vì rằng không thể tách rời tự thân ra khỏi “văn hóa đám đông”.

Họ không thật sự tin rằng ngũ phần hương có cả giải thoát hương, một phần quan trọng không thể thiếu trong bước đường tu tập trước khi đạt đến mùi hương cuối cùng trong Phật đạo, đó là giải thoát tri kiến hương, tức thành tựu Nhất thiết trí, một trong những nhân tố không thể thiếu của Phật quả vì đó là nhân lành của Nhất thiết chủng trí.

Phật Giáo có Ba thừa, nhưng cuối cùng đồng phải học Nhất thừa. Giống như ba con sông chảy ba hướng khác nhau nhưng đồng vào biển lớn. Giải thoát hay tri kiến tương đương của ba thừa là ba chiếc tàu không thể thiếu để mỗi người đi trên một dòng sông có thể nhờ con tàu này đưa mình đến biển lớn an toàn.

Nếu không có con tàu giải thoát hoặc tách rời con tàu thì mong muốn ra đến biển khơi sẽ là chuyện không tưởng, thậm chí người kia sẽ bị cuốn trôi và tấp vào một bến bờ nào đó của dòng chảy ba cõi. Sự khốc liệt và cuồng nộ của dòng chảy ba cõi không một ai từ trước đến nay có thể tự mình vượt qua.

Chính điều này Phật Giáo ra đời và trao cho những ai có ý muốn vượt qua dòng chảy này con tàu giải thoát. Một khi đã có con tàu hay ít ra công cụ tương đương thì hành trình vượt qua biển lớn không thành vấn đề. Sự cuồng nộ của dòng chảy ba cõi được ví như Khổ Đế, thì Tập Đế là nguyên nhân làm nên cơn giận dữ này.

Phật đã hóa hiện ra Diệt Đế như một dòng sông yên bình để con tàu giải thoát chuyên chở người tu hành tìm đến biển khơi Đạo Đế một cách an toàn.

Sự hóa hiện thần diệu của Đức Phật đặt người tu hành vào hóa thành giải thoát tạm gọi Niết bàn. Đây là nơi tập kết trước khi hòa cùng dòng chảy đại giác. Chính vì thế Niết bàn Ba Thừa chỉ là chân dung, sự ảnh chiếu từ mặt trăng Viên Giác. Mặt trăng thứ hai trong nước tuy rằng chưa phải là mặt trăng thật vì nó chỉ là chân dung của một cái gì đó từ chư Phật ảnh chiếu ra, nhưng xét về mặt hình thể và sự thanh lương thì cả hai không khác.

Nếu có khác thì, mặt trăng thứ nhất chiếu sáng vạn hữu, còn mặt trăng trong nước chỉ đủ để tự chiếu cho mình.

Tuy vậy khi đã thấy chân dung của vật cần tìm, đến lúc vật đó hiện hữu người ta sẽ không bỡ ngỡ và nhận ra không mấy khó khăn. Vì thế con tàu giải thoát và sự quan trọng của nó nhất định không thể thiếu đối với Ba Thừa.

Nếu bốn đế là sự uốn nắn dòng chảy ba cõi từ cuồng nộ giận dữ sang hiền hòa, thì ngũ ấm và sự thấu suốt ngũ ấm chính là con tàu đưa Nhị Thừa vượt qua sóng dữ.

Nhị Thừa mê mờ ngũ ấm như con nai khát chạy đi tìm nước. Nóng và khát đã làm con nai thấy sóng nắng thành nước. Lầm tưởng này con nai cứ mải miết chạy theo bóng nước và cuối cùng chết trong ảo vọng được nước. Ngũ ấm và những cảnh báo nguy hiểm của Đức Phật đối với Nhị Thừa là tiếng chuông làm bừng tỉnh những ai còn mê mờ ngũ ấm hãy dừng lại, để thấy được ngũ ấm bản chất của nó không thật. Giống như sóng nắng đối với con nai, chỉ cần dừng lại mới biết rằng nắng ấy tức nước, nước do lầm nắng mà thành. “Sắc tức thị không”, nắng tức thị nước, thấy được bản chất của sắc chỉ mê ‘Không’ mà hiện, thì ngũ uẩn tự nhiên chấm dứt. Một hiểu biết mới không bị trói buộc bởi mê mờ ngũ ấm để rồi ngũ ấm bỗng dưng biến thành ngũ uẩn.

Hiểu biết không trói buộc và mê mờ này Phật tạm đặt tên là Bát Nhã trí. Cho nên trong đại kinh Bát Nhã Phật tuyên thuyết: “Sắc không sanh, Bát Nhã sanh, thọ, tưởng, hành, thức không sanh, Bát Nhã sanh…” Lời kinh chính là sự đánh thức hoàn toàn cơn mê dài ngũ ấm của Nhị Thừa.

Sự ngộ nhận ngũ ấm thành ngũ uẩn trong kinh Phật có ví như con nít tưởng lầm bong bóng nước là lưu ly. Bong bóng nước dụ cho ngũ ấm, lầm thành lưu ly dụ cho ngũ uẩn. Ngũ ấm bản chất nó đã không thật thì lưu ly lại càng không thật. Để tránh lầm nhận đáng tiếc này, lời khuyên của Phật đối với Nhị Thừa là phải yểm ly triệt để. Bình yên chỉ đến với những ai biết dựa vào đại giới để yểm ly.

A Lan Nhã chính là vùng đất yên bình cần đặt chân đến để con rắn độc hóa kiếp từ sợi dây trong bóng tối không còn não hại. Con rắn ngũ ấm chỉ não hại những ai còn lảng vảng trong khu rừng ngũ dục. Nhị thừa đã đạt đến bình yên cần thiết do vâng nghe lời Phật dạy. Từ đây danh xưng Thanh văn ra đời. Vâng nghe này đã đưa Thanh văn từ địa vị phàm phu thành thánh đệ tử bởi Thanh văn do Thánh giáo mà thành. Vì thế Thanh văn được mệnh danh là thánh đệ tử của Phật, và đời sống của họ với danh xưng tốt đẹp là thánh hạnh. Ngài Xá Lợi Phất vẫn thường xưng tán: “Con từ miệng Phật sanh…” Sự tốt đẹp này đã làm nên kỳ tích đáng để ba cõi tôn trọng cúng dường.

- Trong quá trình vượt sông ba cõi, Nhị Thừa yểm ly ngũ dục (sắc, thanh, hương, vị, xúc) ra khỏi trói buộc dục giới… Còn lại sắc giới, yểm ly giác quán và hỷ lạc, sống trong nội tĩnh nhất tâm… Yểm ly giác quán còn hỷ lạc… Yểm ly hỷ còn lạc… Yểm ly lạc, vào bất khổ bất lạc, vượt ra khỏi thân cảm, gọi là ra khỏi sắc giới…

Cuối cùng còn lại ý thức, thuật ngữ gọi là vô sắc giới, vị này chia bó đũa ý thức thành bốn, tuần tự bẻ từng chiếc đũa một. Dứt tưởng, ý thoát ra khỏi trói buộc của thức tưởng vào diệt thọ tưởng định, chấm dứt quá trình tìm kiếm.

Gọi là diệt thọ tưởng định vì rằng thọ được diệt ở sắc giới, tưởng bị diệt ở vô sắc giới. Ba giới là dục giới (ngũ dục), sắc giới (thân cảm), vô sắc giới (ý thức) không còn trói buộc gọi là giải thoát, hoàn thành Cửu Thứ Đệ Định, một chuyên ngành đào tạo của hệ Tứ Thiền Phật Giáo đặc trưng dành cho Nhị Thừa đã giác ngộ.

- Đối với Bồ tát thừa thì con đường tìm kiếm giải thoát không giống như vậy. Bồ tát không chủ trương ra khỏi ba cõi, vì bởi họ không thấy khổ trong ba cõi. Họ khát khao tìm thấy chân lý từ nơi mình đang sống và không bằng lòng với hiểu biết có được từ thế pháp. Vì rằng họ nhận ra thế pháp không có chân lý, hay khác hơn không thể dựa nương vào lý luận vô thường để tìm kiếm sự an bình tuyệt đối trong tâm.

Chính đặc điểm này Phật không đề cao khẩu hiệu yểm ly đối với Bồ tát và cũng không đặt nặng vấn nạn ngũ ấm, vì vậy chân giáo ra đời. Chân giáo là hướng người nghe vào chân lý, lấy thấy biết bản chất sự việc làm mục tiêu hướng đến. Từ đây học thuyết ngũ uẩn ra đời. Có thể nói ngũ uẩn giải quyết rốt ráo sự lầm nhận bản chất sự việc, chấm dứt quá trình tích lũy nội tại những hư vọng không đáng có để phát sinh phiền não. Lý thuyết bất dị ra đời, “Sắc bất dị không…”.

Không giống như Thanh văn do mê ngũ ấm nên Phật nói: “Sắc tức thị không…”, có nghĩa quầng đèn ngũ ấm chính là hư không. “Sắc bất dị không…” là bản chất của quầng đèn chỉ do mắt bệnh mà thành, hình thể và màu sắc chính là hình thể và màu sắc của hư không, không ai làm ra (không tác giả), không ai có thể sở hữu được (không thọ giả). Vì thế những giá trị từ nơi quầng đèn (mà ông đã lầm nhận) không thật có, nó đích thị là hư không. Không hề có một quầng đèn thật sự (không giải thoát môn), không hề có hình tướng như ông đã thấy (vô tướng giải thoát môn), không hề có ai làm ra và chẳng ai có thể sở hữu, đừng mong cầu vô ích nơi nó (vô tác hay vô nguyện cầu giải thoát môn).

Ba giải thoát môn chính là đúc kết sự tồn tại không thật của cái quầng đèn. Bồ tát từ đây hết lầm. Giống như thấy bóng dáng một người đi qua trước mặt, lầm người đó là kẻ thù. Sự thù hận khiến phải chạy theo để giải quyết món nợ oan gia, khi biết rằng người kia không phải kẻ thù, mọi sân hận thù oán tiêu tan. Không còn nỗ lực chạy theo. Biết rõ không lầm, Phật Giáo gọi là thấy được thiệt tướng. Như kẻ kia hết lầm bóng dáng người trước mặt là kẻ thù, bèn dừng lại. Sự dừng lại do thấu suốt nguồn cơn hay thấy thiệt tướng sự việc không đem tâm tìm kiếm. Dừng lại này Phật Giáo gọi là định.

Định hay chánh định của Phật Giáo là kết quả của thấu suốt sự việc, thuật ngữ gọi là Giác Ngộ. Biết rõ sự thật không giong ruổi nơi thấy nghe hay biết nên tâm an định, định này mới là cốt lõi của định Phật đạo. Vì thế không giống định của ngoại đạo mà thế gian thường nhắc đến. Không phải loại định do cột trói tâm thức bằng cách đưa ra một đối tượng để tâm hướng vào đối tượng tạm quên cảnh duyên.

Phật Giáo không hề dạy người tìm kiếm cứu cánh bằng loại định này. Phật Giáo không hề chủ trương đặt bó cỏ trước mặt con lừa, buộc con lừa chạy theo để tạm quên cái đói, mà Phật Giáo giải quyết vấn đề bằng chính nhận thức rốt ráo của mỗi cá nhân gọi là giác ngộ chân lý.

Giác ngộ chân lý bằng chính chân giáo nên có được sự an bình ngay tại nơi này trên con người này, và học thuyết “Vạn pháp duy thức” ra đời. Học thuyết này giải quyết rốt ráo tính chất nhị nguyên trên mỗi con người, giải quyết rốt ráo điều này Phật Giáo gọi là chứng chân đế. Chân đế là đưa đế trở về bản chân của nó để không còn lầm nhận hai pháp.

Phật dạy: “Khi thân tâm có khuynh hướng bất động, thiền sẽ hiện. Vì bởi chủng tử thiền có sẵn trong mỗi chúng sinh…”

Lời tuyên thuyết này minh định rõ thế nào là thiền của Phật Giáo. Khi tâm an định do giác ngộ và không giong ruổi nơi cảnh duyên thì thiền sẽ xuất hiện. Như vậy có thể hiểu: Năm căn không giong ruổi nơi cảnh duyên theo mệnh lệnh của thức gọi là thiền, ý căn an định, không phán xét sự việc một cách mù quáng của nghiệp gọi là định. Hay nói cách khác: “Thân căn” không chạy theo thiện ác gọi là thiền (thiện ác của tứ chánh cần, không phải tội phước theo cách hiểu thế gian), “Ý căn” tự tịnh do giác ngộ gọi là định (tự tịnh kỳ ý). Hoặc nói theo Lục Tổ Huệ Năng: “Ngoài không loạn gọi là thiền, trong không động gọi là định…”.

Nói chung dù diễn giải theo cách nào thì, thiền định của Phật Giáo luôn đặt trên nền tảng giác ngộ, không phải sự cột trói áp đặt. Thiền định do giác ngộ mới cho ra trí tuệ vô lậu, còn thiền định do sự cột trói tâm thức thì có cho ra trí tuệ được chăng? Loại thiền định nào không bắt đầu bằng giác ngộ thì chẳng thể cho ra trí tuệ. Loại thiền định nào hình thành từ nhân cột trói thì chẳng thể cho ra quả giải thoát, vì tính nhân quả của nó. Chính vì vậy, chỉ có nhân giác ngộ vô lậu mới có quả vô lậu, còn các thứ làm nên (hữu vi) từ nhân hữu lậu sẽ cho ra quả phiền não.

Cuối cùng, dù Bồ tát giác ngộ bản chân, không chạy theo tiền cảnh vì hết lầm nhận, thân tâm vào vắng lặng bất động thì hệ quả của nó là thân tâm cũng lần lượt vượt qua các dục. Tuần tự vượt qua thân cảm (thân và cảm thọ) và rốt ráo thức tưởng không còn tồn tại nơi ý, tự nhiên ra khỏi ba cõi ngay tại chỗ ngồi. Bây giờ mới biết “Tam giới duy tâm”. Hoát nhiên hiểu ra rằng ba cõi tại đây, niết bàn cũng tại đây. Kinh gọi là: “Mộng qua sông đã tỉnh…”

Điều thú vị nhất trong khái niệm giải thoát đối với Phật Giáo là, dù mong muốn thoát ra khỏi ba cõi như Nhị thừa hay mong cầu chân lý như Bồ tát, khi hiểu ra mới thấy rằng cả hai đều được Phật ban cho con thuyền trí tuệ. Từ đây êm ả vượt qua sóng to gió lớn bằng các thứ thiền định và đồng về đến đích là biển đại giác Nhất thừa.

Ba xe chỉ là quyền phương tiện, cuối cùng chỉ cho đồng một xe trâu trắng. Nhị thừa do giác ngộ ngũ ấm vô thường, nên biết rằng vô ngã, Bồ tát giác ngộ ngũ uẩn vô ngã nên thấy được vô thường. Tứ pháp ấn (vô thường, khổ, không, vô ngã) hay tam pháp ấn (không, vô tướng, vô nguyện) cũng chỉ như câu chuyện ngụ ngôn con khỉ và ba trái chuối. Nếu không đồng ý sáng ăn một trái chiều ăn hai trái, thì ông chủ bèn đổi lại sáng ăn hai trái chiều ăn một trái. Cuối cùng, cũng chỉ có ba trái chuối mà bầy khỉ cảm thấy an tâm và no bụng. Phật là đại y vương tùy bệnh cho thuốc, kinh nói: “Tùy theo tánh tình, chí hướng, lý tưởng…của chúng sanh mà Phật chỉ bày phương tiện” để dắt dìu hết thảy đến bờ an vui.

Giải là cởi mở, thoát là ra khỏi. Không biết cởi mở cái gì, không biết cái gì trói buộc, liệu có mở được chăng? Không biết đang ở đâu thì nên thoát đi đâu?

Phật Giáo là đạo của trí tuệ. Hãy dùng trí tuệ để cởi trói những ràng buộc hư vọng thì ngay tại đây chính là Phật Quốc.                    

(06-2010)

−−−••• ⁕ ⁕  ۝⁕ ⁕ •••−−−

Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời

Tác Phẩm Lý Tứ

Lục Chủng Tánh Anh Lạc

Content Editor 04.02.2023

(31) SÂN CHƠI TRỰC TUYẾN LÝ GIA

Các bạn !!!

Như vậy là chúng ta đã thực hiện được 25 kì sinh hoạt trực tuyến với chủ đề Thực Tập Kĩ Năng Trình Bày Một Đề Tài Bất Kì Trong Phật Đạo !!!

Có thể nói, qua 25 kì vừa rồi, tất cả các HĐ được BQT chọn làm chủ toạ thuyết trình, điều hành buổi sinh hoạt...đều thực hiện rất tốt nhiệm vụ của mình !!! Không muốn nói là, những kì sinh hoạt sau luôn hấp dẫn hơn các kì sinh hoạt trước, do chúng ta biết rút kinh nghiệm, phát huy điều hay, khắc phục thiếu sót..v..v... Và, trên 3 tháng vừa rồi, mình (Lý Tứ) trở thành "cầu thủ siêu dự bị", không được tham gia trận nào !!!

Trưa nay, do một vài cầu thủ đã đăng kí với BQT không thể ra sân vào buổi sinh hoạt đêm 15/06 !!! Thế là BQT đã đôn mình lên đá chính !!! Tối nay, lại được một số HĐ yêu cầu trình bày đề tài Lục Chủng Tánh Anh Lạc, lý do các HĐ mới chưa được nghe đề tài này lần nào !!! Thế là, mình tốc hành lục lại bài viết cũ nói về Chủng Tánh Anh Lạc để đăng lên trang, giúp các HĐ xem trước nội dung cũng như đặt các câu hỏi, hay nêu lên thắc mắc..v..v...như thông lệ trong buổi sinh hoạt tới !!!

Xin giới thiệu đến mọi người bài viết Lục Chủng Tánh Anh Lạc !!! Trích từ sách Anh Lạc Luận 1 - Dân Trí xuất bản - Minhthangbook phát hành năm 2019 !!!

14/06/2021

LÝ TỨ

LỤC CHỦNG TÁNH ANH LẠC

Các bạn!!!

Từ xưa đến giờ, phần lớn người tu hành trong Phật Đạo thường băn khoăn, thường tự hỏi, làm thế nào để biết chắc rằng, kết quả tu học của bản thân từ ngày hôm nay, có thể bảo lưu, để kết quả đó được tiếp tục thăng tiến sau này hoặc đời vị lai... Nếu chẳng may, vì một lí do bất khả kháng, công việc tu tập của người đó bị gián đoạn trong hiện tại, hoặc không còn ở cõi đời, công sức tu tập đã qua có còn tồn tại và kế thừa trong những ngày sau???

Xét thấy những băn khoăn trên là chánh đáng, nhân dịp năm mới, mình xin chuyển đến mọi người một số kiến giải nhằm giải thích, và đưa ra những định lượng cần thiết để giúp các bạn từ những giải thích và các định lượng này, có thể tìm cho mình con đường đúng nhất cũng như có được niềm tin chắc thật không mất vào giáo pháp sau khi tu tập!!!

Các bạn!!!

Phật đạo có sáu chủng tánh, tên gọi đầy đủ là LỤC CHỦNG TÁNH ANH LẠC... Nếu người tu tập thành tựu một chủng tánh hoặc cả sáu chủng tánh ấy trong hiện đời, nhất định dù ở đâu, làm việc gì, đời này hay đời sau... Các chủng tánh này sẽ là hạt giống tốt nhất, khi đủ duyên, nó sẽ nảy mầm và tiếp tục thành tựu Bồ Đề Thọ tức Cây Giác Ngộ, cho đến khi nào viên mãn Bồ Đề Quả mới thôi!!!

Về Lục Chủng Tánh Anh Lạc!!! Nếu mình không lầm thì, trong thời gian qua, đã có ít nhất bốn lần mình trao đổi với các bạn đề tài trên... Tuy nhiên, do đương cơ, do chưa phải là thời điểm chín muồi, nên những lần trao đổi đó, mình chỉ sơ lược về đại cương, chủ yếu giới thiệu sáu chủng tánh đặc trưng của Phật Đạo hơn là triển khai chi tiết... Hy vọng bài viết lần này, chúng ta khảo sát tỉ mỉ về Lục Chủng Tánh Anh Lạc, cũng như bằng cách nào người tu hành có thể thành tựu từng chủng tánh!!!

I- CHỦNG TÁNH ANH LẠC LÀ GÌ???

I.1- Chủng tánh: Chúng ta có thể hiểu nôm na, chủng tánh là hạt giống... Giống như người nông dân, muốn gieo trồng một loại cây nào đó, điều đầu tiên, phải tìm cho bằng được hạt giống đó!!!

Phật đạo có sáu chủng tánh, tức là sáu hạt giống Bồ Đề thành tựu từ tâm thức... Người tu hành muốn trồng cây Giác Ngộ để có Đạo Quả Bồ Đề, phải rèn luyện để tâm thức thành tựu các hạt giống nói trên!!! Vì nó là hạt giống xuất thế, nên khi đủ duyên, các hạt giống sẽ nảy mầm cho dù bất kì ở nơi nào cũng như thời điểm nào!!!

Sáu hạt giống của Phật đạo gồm: Tập chủng tánh, Tánh chủng tánh, Thánh chủng tánh, Đạo chủng tánh, Đẳng giác chủng tánh và Diệu giác chủng tánh!!!

I.2- Anh Lạc là gì???

Anh Lạc là tên gọi của xâu chuỗi bằng ngọc quý, người ta dùng nó để trang sức!!! Đối với Phật đạo, sáu chủng tánh Anh Lạc, giống như những viên ngọc quý, người tu hành coi các viên ngọc chủng tánh như một xâu chuỗi vô lậu dùng để trang nghiêm tự thân!!!

II- TÍNH CHẤT CỦA MỖI CHỦNG TÁNH

Mọi người tu hành đều biết rằng, tu tập trong Phật đạo là đi trên con đường rất dài, trải qua nhiều giai đoạn, có thể mất nhiều đời kiếp mới đến được mục tiêu cuối cùng, cứ một số đời kiếp rèn luyện nào đó, người tu hành mới có thể thành tựu một giai đoạn, và cứ như thế, hết đời này đến đời khác, sự tu tập thăng tiến từ thấp lên cao!!!

Kết quả một giai đoạn tu tập, thành tựu một chủng tánh... Từ hạt giống ban đầu, khi đủ duyên, hạt giống kế tiếp lại thành tựu, cho đến hạt giống sau cùng... Vì thế, các hạt giống của Phật đạo vừa là nhân, cũng vừa là quả của nhau trong các giai đoạn tu tập... Hạt giống sau cùng, tức “Vô Thượng Bồ Đề Quả” mới không còn là nhân sanh, nên kinh gọi là “quả quả” hay “liễu nhân”, tức nó vĩnh viễn không còn sự tiếp nối một hạt giống nào nữa trong vị lai!!!

Sáu hạt giống anh lạc là thường hay vô thường???

Khi nói đến sự tiếp nối của sáu chủng tánh, người tu hành thường nghĩ ngay đến lẽ vô thường trong mỗi chủng tánh... Vì rằng, cái gì có mất đi để một cái mới xuất hiện, theo lẽ đương nhiên nó phải chịu quy luật sanh diệt vô thường... Nếu vô thường thì, cho dù có tu tập để đạt được một chủng tánh nào đó trong sáu chủng tánh kia, cũng không thể tin cậy vào thành tựu này, làm sao bảo đảm rằng nó được tiếp nối ở vị lai trong khi bản chất vô thường đang ở trong chính nó???

Về phương diện lí luận, câu hỏi trên là chánh đáng, được coi như đủ sức thuyết phục... Tuy nhiên, lí luận trên chỉ đúng với các loại quả hữu lậu, thuộc hữu vi pháp của thế gian giới!!! Trong khi đó, sáu hạt giống Anh Lạc là nhân quả xuất thế gian, nó không bị chi phối bởi các quan niệm thế gian, nên luận thuyết trên không thể ứng hợp!!!

Nói rằng Lục Chủng Tánh Anh Lạc là sáu hạt nhân, làm nhân quả cho nhau, đây là cách nói để người tu hành hình dung ra con đường mình đang đi và các giai đoạn của nó... Kì thật, trong Phật đạo, lục chủng tánh không hoàn toàn là sáu hạt giống hay sáu giai đoạn riêng lẻ như hạt mướp, hạt xoài, hạt bí... Mà nó là sáu giai đoạn ảnh chiếu từ một hạt nhân thường trụ, hạt nhân đó là Phật tánh... Trong quá trình tu hành để thành tựu một chủng tánh nào đó, chính là quá trình gọt rửa tâm thức để những thứ nhiễm ô từ vô thuỷ mất đi, từ đó ánh sáng của Phật tánh trong mỗi chúng sanh tự chiếu... Sáu chủng tánh Anh Lạc, chính là sáu lớp ngăn che, mà người tu hành loại bỏ từng lớp một, đến lớp sau cùng, Phật tánh sẽ hiện viên mãn!!!

Vì thế, sáu chủng tánh hay sáu giai đoạn thành tựu trong quá trình tu hành đều được chiếu từ một nhân nên chúng có những đặc điểm chung... Những đặc điểm đó là, an lạc, thanh tịnh, vô lậu, căn lực bất thối, trí tuệ thăng tiến như pháp, không thể dùng phàm trí suy lường..v..v...!!! Chính những đặc điểm nêu trên, sáu chủng tánh Anh Lạc là thường với thế gian, nó chỉ vô thường với đạo xuất thế và Vô Thượng Bồ Đề... Sáu chủng tánh từ thấp lên cao chính là công việc xa rời “phần đoạn sanh tử” của một chúng sanh, để thâm nhập “bất tư nghì biến dịch sanh tử” của một vị Thánh trong Phật đạo hay khác hơn, nó là sự thăng hoa của “bảy cảnh giới trí tuệ” gồm, tâm cảnh giới, trí cảnh giới, tuệ cảnh giới, kiến cảnh giới, siêu nhị kiến cảnh giới, siêu tử địa cảnh giới và Như Lai tự đáo cảnh giới!!!

Lục chủng tánh Anh Lạc hình thành, giống như ánh sáng từ mặt trời, chiếu từ gần đến xa... Nơi xa nhất là Tập chủng tánh, nơi gần nhất là Diệu giác chủng tánh... Hay khác hơn, như một người bị lạc trong rừng đêm, bìa rừng có một điểm sáng, người đó phải mất sáu giai đoạn nhìn thấy đốm sáng và chăm chú đi theo nó để đến bìa rừng!!!

III- TÊN GỌI, CÁCH NHẬN BIẾT VÀ PHƯƠNG THỨC THÀNH TỰU TỪNG CHỦNG TÁNH

Đạo Phật là Đạo Giác Ngộ, là Đạo Giải Thoát và là Đạo Trí Tuệ... Cho nên, muốn tiếp cận và tu tập thành công mỗi chủng tánh, con đường duy nhất đó là phải giác ngộ... Giác là, biết cái cần biết, biết như pháp, như lí tác ý... Ngộ là, tiếp cận, bắt gặp, sở hữu cái ta đã giác... Giác chính là những thông tin hữu ích và đầy đủ về một điều gì đó, ngộ là ta bắt gặp điều đó khi ta thực hiện đầy đủ thông tin của giác!!!

Vì thế, sẽ không có một cơ hội cho dù nhỏ nhất đối với những ai muốn thành tựu chủng tánh Anh Lạc, mà chưa có những thông tin chính xác của giác, và chưa một lần dấn thân thực hiện hoàn hảo các chỉ dẫn từ những thông tin kia!!! Hay nói khác hơn, giác ngộ chính là quy trình của sự thay đổi nhận thức, nhận thức thay đổi hành vi thay đổi, hành vi thay đổi đời sống thay đổi, đời sống thay đổi như pháp gọi là thành tựu một chủng tánh!!!

III.1- Tập chủng tánh

Tập chủng tánh là, hạt giống đầu tiên của Phật đạo... Biểu hiện của người thành tựu Tập chủng tánh là: Khổ, kiết sử, phiền não, lậu hoặc giảm thiểu đến mức thấp nhất hoặc dứt hẳn... Đặc biệt, ba kiết sử tiêu biểu là thân kiến, giới cấm thủ và nghi hoàn toàn tịch diệt... Nhờ tịch diệt các món này, nên việc nghi ngờ bản thân, nghi ngờ con đường mình đang đi, nghi ngờ bậc đạo sư không còn!!!

Trong đời sống thường nhật hay trong giấc ngủ... Vị tu hành thành tựu Tập chủng tánh thường không mất chánh niệm, bất kì hoàn cảnh nào, cho dù thuận duyên hay nghịch duyên, hỉ lạc, khinh an vẫn sung mãn... Sở dĩ gọi là tánh, vì tâm tánh của vị này gần như thành thường, nếu có bất giác hay thất niệm, chính chủng tánh hình thành từ tâm thức sẽ là “người thầy” nhắc nhở vị tu hành đó như pháp mà quay trở lại!!!

Muốn thành tựu Tập chủng tánh, người tu hành phải thấu suốt và tu tập các việc sau:

1) Như pháp quan sát Tứ Niệm Xứ... Không mê mờ bốn món trên như hồi chưa tu học...

2) Thấu suốt thật nghĩa thế nào là: Pháp, trần, căn, cảnh, thức, hiểu rõ hai nghĩa ấm, uẩn và hư vọng tâm... Nhờ thế, không bị các khái niệm trên làm đảo điên như người đời...

3) Giữ gìn sáu giới vô lậu như giữ gìn con ngươi của mắt mình... Do sức hộ trì của vô lậu giới, nên không chấp thủ quy ước giới, nhờ thế thoát khỏi giới cấm thủ kiến... Hiểu rõ quy luật của thân, nên không chấp thân, nhờ thế ra khỏi thân kiến... Thấy được con đường vô lậu, nhờ thế hết nghi ngờ!!! Do lực dụng của ba món trên, huệ vô lậu bắt đầu sanh khởi, tức vị ấy biết rất rõ con đường nào dẫn đến hữu lậu, con đường nào đưa đến vô lậu...!!!

Người thành tựu Tập chủng tánh, coi như đạt được mục tiêu của khổ đế và tập đế... Địa vị này tương đương quả vị A Na Hàm của Nhị thừa... Nếu là Bồ Tát thừa, tương đương địa vị thứ bảy của hàng Thập trụ tức Bất thối trụ!!!

III.2- Thánh chủng tánh và Tánh chủng tánh

Hai quả vị Thánh chủng tánh và Tánh chủng tánh dành cho người tu hành sau khi đã hết khổ và dứt tập, tiếp tục tu tập để chứng diệt đế, người chứng diệt đế sẽ thành tựu hai chủng tánh trên... Sở dĩ, hai chủng tánh nói trên có tên gọi sai khác là vì, Thánh chủng tánh chỉ cho Nhị thừa viên mãn diệt đế... Tánh chủng tánh chỉ cho Bồ Tát thừa thấy được bổn tâm, kiến được bổn tánh!!!

- Nhị thừa, muốn chứng viên mãn diệt đế vào Thánh chủng tánh... Sau khi thành tựu Diệt thọ tưởng định, phải tu tập Bát Bội Xả, tức xả những gì chướng với chân Niết Bàn, cho dù đó là Niết Bàn của Vô Tưởng Thiên, đây là loại Niết Bàn do dụng công tu hành tịch diệt sắc, thọ, tưởng ấm mà được... Có tu Bát Bội Xả mới hy vọng thanh tịnh hành ấm và thức ấm... Bát bội xả gồm: Xả sơ thiền, xả nhị thiền, xả tam thiền, xả tứ không định và xả diệt thọ tưởng định!!!

Nhị thừa, còn một con đường khác để đi đó là, khi vào tứ thiền (bất khổ bất lạc), nếu vị ấy được Đạo Sư khai thị, nhờ thắng căn, có thể chứng thẳng Diệt Tận Định mà không cần phải kinh qua Cửu thứ đệ định và tu Bát bội xả!!! Phần lớn, đây là hình ảnh của hàng Thiện Lai Tỳ Kheo, các vị ấy đã từng là Bồ Tát nhiều đời kiếp, trong hiện đời vì thương tưởng chúng sanh nên thị hiện hình tướng Nhị thừa để làm duyên cho Đạo Sư thuyết các nghĩa bán tự!!!

- Nếu là Bồ Tát, điều kiện để thành tựu Tánh chủng tánh là, vị này phải thấu suốt thật nghĩa “các pháp không tánh”... Dứt sinh tâm, dứt sinh pháp, thấy bổn tâm, kiến bổn tánh... Gọi nôm na là “minh tâm kiến tánh”...!!!

- Thánh chủng tánh, tương đương quả vị A La Hán hồi tâm của Nhị thừa... Tánh chủng tánh, tương đương Bát Địa Bồ Tát!!!

III.3- Đạo chủng tánh

Sau khi thành tựu diệt đế, chứng chân Niết Bàn... Cả Bồ Tát và Nhị thừa đồng phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, phát nguyện cầu Nhất Thiết Trí...!!!

Phát nguyện xong, ba thừa cùng học Đạo Đế, bây giờ danh xưng ba thừa không còn nữa, gọi là đồng vào Nhất thừa!!! Giống như các con sông đã chảy vào biển lớn, mọi tính chất riêng tư, những dị biệt của các con sông không còn nữa...!!!

Học xong các thứ huyển trí của Nhất Thiết Trí, Nhất thừa đồng thành tựu Đạo chủng tánh... Trí này sáng như trăng 12... Địa vị này tương đương Cửu Địa Bồ Tát, gọi là Thiện Huệ Địa, tức do học tập mà biết tất cả các Tam Muội Môn và Giải Thoát Môn của Chư Phật!!!

III.4- Đẳng giác chủng tánh

Sau khi thành tựu Nhất thiết trí, vị này lặng lẽ quan sát mười pháp giới... Quan sát xong, mới biết rằng sở dĩ có các pháp giới sai biệt là vì, hữu tình trong thập phương thế giới do nhận thức sai biệt, nên có các pháp giới sai biệt!!!

Thấy như vậy rồi, Bồ Tát này y chỗ sai biệt của hữu tình, tuỳ tâm lượng từng hữu tình, mỗi mỗi dùng thiện xảo phương tiện khiến họ đồng được những điều cần được của Phật đạo, gọi là Đại Bồ Tát phát khởi đại từ đại bi!!!

Vị Bồ Tát thực hành công hạnh của mình, đến khi đầy đủ công đức, thấy điều Phật thấy, biết điều Phật biết, chứng điều Phật chứng gọi là Đẳng giác Bồ Tát... Giống như người học thành thục nghề kim hoàn, thiện xảo làm ra các món trang sức như dây chuyền, vòng xuyến, bông tai..v..v... Tất cả chúng sanh có nhu cầu trang sức, khi đủ duyên, đều được Bồ Tát cấp thí đúng như mong ước!!!

Đẳng giác chủng tánh, chính là người thợ điêu khắc tài ba... Mỗi mỗi lõi cây, đều có thể tạc thành những bức tượng thù thắng theo ý nguyện của khách hàng... Chính sức thiện xảo của Bồ tát này, từ đây danh xưng tốt đẹp Đại Bồ Tát ra đời!!!

III.5- Diệu giác chủng tánh

Đây là chủng tánh cuối cùng của người tu hành trước khi thành Đẳng Chánh Giác đủ mười danh hiệu...Diệu giác chủng tánh có được là do quá trình giáo hoá chúng sanh... Chủng tánh này, chính là Pháp Vân Địa trong Thập Địa Bồ Tát!!!

Trong quá trình giáo hoá của Đẳng Giác, phút giây bất chợt nào đó, tâm thức bùng vỡ lần cuối cùng, vị Bồ Tát ấy thoát khỏi huyễn trí, thành tựu thật trí... Với thật trí, vị ấy biết rõ ba đời Chư Phật và phép tắc lập nên một Liên Hoa Đài Tạng... Vị ấy thị hiện vai trò một Hậu Biên Thân, chờ ngày thành tựu Tối Hậu Thân như Chư Phật xưa!!!

Đây là hình ảnh một Di Lặc Bồ Tát thị hiện ở cõi thế trước khi thành Đẳng Chánh Giác đủ mười danh hiệu!!!

IV- KẾT LUẬN

Có thể nói, tu tập trong Phật đạo để thành tựu sáu chủng tánh Anh Lạc, chính là sáu giai đoạn đào bới tâm thức để tìm Phật tánh trong mỗi chúng ta!!!

Phật dạy: “Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh”, lời dạy trên chỉ ra rằng, tu tập trong Phật đạo là công việc đi tìm cái đã có, cái thường hằng trong mỗi con người, chứ không phải làm ra cái mới!!!

Cái đã có ấy chính là Phật tánh... Phật tánh là một thứ tâm tánh nào đó mà, trong nó hội đủ những đức tính siêu việt của một đức Phật, các đức tính ấy được Phật khái quát bằng những ý vị cụ thể như: Thường, ngã, lạc, tịnh, từ, bi hỉ, xả v.v...!!!

Phật tánh là thường, thế nhưng hữu tình vì điên đảo, vì ham ưa dục tưởng, vì chạy theo các quan niệm hư dối, vì mê cảnh duyên, vì chẳng biết tự dừng... Cho nên tâm trí bị các thứ nói trên làm cấu nhiễm, do cấu nhiễm nên tuy Phật tánh có đó mà không thể hiện ra, vì vậy phải chịu ngu si phiền muộn!!! Giống như mặt trời thường sáng, thường chiếu soi, nhưng vì mây đen, vì mù loà, vì duyên xoay vần của vũ trụ nên mặt trời không hiện!!!

Phật ra đời, vì thương tưởng chúng sinh, để khiến chúng sinh hết ưu não, để khiến chúng sinh có trí tuệ... Phật lập bày các món phương tiện, vạch ra con đường để chúng sinh tìm lại vật quý nhất mà mỗi người tự có... Con đường đó chính là giáo pháp!!!

Lần theo con đường Phật đã dạy, từng lớp u tối được phá bỏ, nhờ sức chiếu soi từ Phật tánh, sáu lớp u tối lần lượt rực sáng bởi sức chiếu vô tận của Phật tánh, mỗi một lớp u tối bị phá bỏ để Phật tánh chiếu đến, tạm gọi là chủng tánh Anh Lạc... Cho nên, tuy có sáu lớp và sáu lần chiếu nhưng tất cả đều cùng một nhân nên những ý vị cốt lõi không hề sai khác!!!

Sáu chủng tánh Anh Lạc từ tâm thức người tu hành giống như người đào giếng... Tâm thức u tối của hữu tình giống như trên mặt đất khô, nhưng dưới đó có mạch nước ngầm... Cứ mỗi lớp đất được đào bỏ, dấu hiệu có nước lại hiện ra, từ khô cằn, đến thấm ướt, đến đất nhão, đến nước đục rồi cuối cùng là nước trong xuất hiện... Mỗi một dấu hiệu có nước, là một động lực khiến người đào giếng không còn nghi ngờ, thêm quyết tâm và cuối cùng là sự đền đáp xứng đáng bởi những giọt nước mát lành!!!

Để có thể tìm thấy dòng nước quý giá, kiến thức, công sức, kĩ thuật, công cụ chuyên dùng là những món không thể thiếu đối với người đào giếng... Đào tìm Phật tánh cũng như thế, giác ngộ, tốc lực tâm, tốc lực trí, tốc lực công hạnh là những món nhất thiết phải có, thiếu một món trong những món kể trên, rất khó thành toàn cho những ai đi tìm Phật tánh thông qua lục chủng tánh Anh Lạc!!!

V- LƯU THÔNG

Các bạn!!!

Như vậy, những gì cần thiết trong việc thành tựu lục chủng tánh Anh Lạc đã được chúng ta điểm qua!!!

Đối với Tâm Tông, lục chủng tánh Anh Lạc là cơ sở trọng yếu mà mỗi HĐ chúng ta phải tuần tự vượt qua và sở hữu nó... Lục chủng tánh của Tâm Tông, không giống những gì của Giáo Tông mà các năm trước HĐ Lý Gia chia sẻ... Mỗi một chủng tánh, về lí thuyết phải trả qua nhiều đời kiếp tu tập miệt mài...!!!

Nhưng cũng chừng ấy chủng tánh, với sức diệu dụng của Tâm Tông có thể là một vài sát na chúng ta có thể biến nhiều đời kiếp thành một chớp mắt... Mê hay ngộ, ngu hay trí khoảng cách của những thứ ấy không thật... Giống như một hang động tăm tối cả ngàn năm, chỉ cần một cây đèn có cường độ cực mạnh được đốt lên, cái hang tối ngàn năm tức thì ngập tràn ánh sáng!!!

Tâm trí của một hữu tình cũng như thế... Nếu một cây đèn nhỏ thắp lên, vùng sáng rất nhỏ, muốn thấy toàn hang động phải thắp nhiều ngọn đèn, thắp nhiều ngọn đèn để thấy toàn hang động, Phật đạo gọi là Vô Tận Đăng dụ cho Giáo Tông... Nhưng, quả đất này, tuy lớn như vậy, nhưng chỉ cần bình minh ló dạng, những nơi nào trên địa cầu có đủ duyên đều được sáng dụ cho Tâm Tông!!!

Ha ha ha ha!!! Giác ngộ, tốc lực tâm, tốc lực trí, tốc lực hạnh nguyện chính là bốn yếu tố làm nên mặt trời trí tuệ!!!

Các bạn!!!

Hãy làm một mặt trời trí tuệ của Tâm Tông để có thể đem ánh sáng rực rỡ đến những nơi tăm tối nhất!!!

Năm mới Kỉ Hợi, năm thứ hai chúng ta xâm nhập Tâm Tông... Cái thời sống nhờ bầu sữa Giáo Tông của mười năm trước đã qua rồi!!!

Hy vọng sau bài viết này, toàn bộ HĐ chúng ta có một năm mới với những thành tựu mới!!!

Nhật quang thường chiếu!!!

Chánh pháp hiện tiền!!!

Chúc mọi người an vui, tinh tấn!!!

Mùng năm tết Kỉ Hợi (2019)

LÝ TỨ

(31) SÂN CHƠI TRỰC TUYẾN LÝ GIA

(31) SÂN CHƠI TRỰC TUYẾN LÝ GIA

(31) SÂN CHƠI TRỰC TUYẾN LÝ GIA

(31) SÂN CHƠI TRỰC TUYẾN LÝ GIA

Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời

Tác Phẩm Lý Tứ

Tản Mạn Về Văn Tư Tu

Content Editor 04.02.2023

Để có được Pháp thân, nuôi lớn Pháp thân và trưởng dưỡng cho đến viên mãn, người tu hành hằng ngày phải biết cách chăm sóc nó... Chăm sóc, nuôi dưỡng Pháp thân bằng cách "văn, tư, tu", giống như người ta nuôi lớn nhục thân bằng "thức ăn vật chất"...

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ

Các bạn!!!

Có bao giờ, bạn ngồi xuống, tự thẩm định bản thân rằng:

− Đối với Phật đạo, ta đã hiểu biết đến đâu???

− Ứng dụng được bao nhiêu phần trăm những hiểu biết này???

Theo mình, nếu cuộc đời tu tập, chúng ta chưa một lần thực hiện hai điều trên, chưa tự đánh giá nghiêm túc bản thân, nhất định chúng ta chưa thật sự hiểu hết, chưa thật sự thấu suốt bản chất (thật nghĩa) từng pháp (mỗi pháp) của Phật pháp!!!

Vì rằng, Phật đạo là đạo ứng dụng, cái được gọi là ‘Nghĩa’ của mỗi pháp, không chỉ dừng lại ở hiểu biết, kiến giải, suy luận về mặt văn tự, hay vài cảm nhận thoáng qua...

Mà ‘thật nghĩa của mỗi pháp’, chính là ‘sự ứng dụng nhuần nhuyễn pháp đó trong đời sống’, sau khi được học tập (văn), nghiêm cẩn tư duy (tư) và cuối cùng là ứng dụng một cách thuần thục vào ngay trong cuộc sống này (tu).

Có thực hiện ba điều nêu trên (Văn, Tư, Tu) cho mỗi pháp, chúng ta mới thấy được giá trị đích thực của Phật pháp... Giá trị đích thực từ mỗi pháp do ứng dụng nhuần nhuyễn, mới chính là thật nghĩa của pháp đó!!!

Có nghĩa rằng, thật nghĩa của một pháp chỉ có được, khi nào pháp này trở thành văn hoá, trở thành đời sống, trở thành hơi thở, trở thành máu thịt, trở thành chất dinh dưỡng nuôi sống tâm trí, và trở thành trí tuệ, hay khác hơn "thật nghĩa chính là bạn"!!!

‘Tâm trí người tu hành’, có được sinh ra và lớn lên bằng chính thức ăn Phật pháp (Pháp thực), bây giờ tâm trí mới trở thành ‘Pháp thân’!!!

‘Pháp thân’ chính là một thứ thân (nằm trong nhục thân này), được sinh ra từ Phật pháp, nuôi lớn bằng Pháp thực và tồn tại bằng chính thật nghĩa của nó, gọi là Thật tánh...

Như vậy, khi chúng ta chưa thật biết, chưa thật sống bằng ‘Pháp thực’, chưa ứng dụng được nó thì, thật nghĩa một pháp từ ‘Phật pháp’ chưa trở thành ‘Trí tuệ’ (sự sống, sự nghiệp) của chính chúng ta!!!

Điều này có thể được minh hoạ qua vài ví dụ sau:

− Giống như một diễn viên trong vai "hiệp sĩ vô địch chuyên trừ gian diệt ác" trên sân khấu!!! Trong lúc diễn, chẳng may có "bọn ác thật" đến cướp tài sản (của sân khấu), và chính diễn viên đó là người "bỏ chạy" đầu tiên!!!!!!!

− Hay một con mèo "đang tự cho" mình là sư tử, nó gầm tiếng gầm của sư tử, với bộ dạng của một con sư tử thực thụ trước những con mèo đứng xem chung quanh, tán thưởng và khiếp sợ!!! Nhưng rồi, một tiếng gầm từ xa của sư tử thật, lũ mèo còn chưa biết điều gì xảy ra, chính con mèo giả làm sư tử đã "đột tử" vì...vỡ...mật!!!!!!!

Hai ví dụ trên, có thể minh hoạ tình cảnh người tu hành không thể biến giáo pháp trở thành Pháp thân, hay không thực hiện đầy đủ "văn, tư, tu" trong đời sống tu hành... Để rồi, trước "bọn ác sinh diệt" hay con "sư tử phiền não" lại "nhanh chân bỏ chạy" hoặc "vỡ mật" như con mèo hoặc người diễn viên kia!!!

Để có được Pháp thân, nuôi lớn Pháp thân và trưởng dưỡng cho đến viên mãn, người tu hành hằng ngày phải biết cách chăm sóc nó... Chăm sóc, nuôi dưỡng Pháp thân bằng cách "văn, tư, tu", giống như người ta nuôi lớn nhục thân bằng "thức ăn vật chất"...

Văn, tư, tu chính là ‘Pháp thực’ và phải biết cách tiêu hoá các pháp đã ăn, biến nó trở thành chất dinh dưỡng nuôi lớn ‘Pháp thân’, ta tạm coi điều này như "thức ăn tinh thần"!!!

Trong khi ăn, quá trình tiêu hoá thức ăn, kết quả có được đối với cơ thể từ những gì đã ăn, sẽ cho ra những nhận biết đích thực về các thứ ta đã ăn như: Cái ngon, mức độ dinh dưỡng, hiệu quả sau khi ăn...

Thức ăn tinh thần hay Pháp thực, khi ăn đúng cách và tiêu hoá trọn vẹn, sẽ cho người tu hành những cảm nhận, ý nghĩa đích thực của nó như món ăn vật chất...

Nếu đối trước vật thực thế gian hay Pháp thực, mà ta chỉ nhìn ngắm, không thật sự thưởng thức, hoặc không thể tiêu hoá, kết quả cũng chỉ là người đói!!!                

Đây là lý do vì sao, phần lớn người tu hành sau một thời gian tu tập, chỉ dừng lại ở khả năng "kiến giải" mà chẳng thể thấy được "thật nghĩa" của một pháp...

Biểu hiện của kiến giải là, chỉ học thuộc văn tự, diễn nói một pháp trên ý nghĩa văn tự, còn chiều sâu của pháp đó, sự thực dụng của nó, vị tu hành này hoàn toàn như "con mèo giả làm sư tử"!!!

Vài lời tản mạn buổi sáng!!! Hy vọng, tất cả HĐ chúng ta biết cách tạo ra Pháp thân, nuôi lớn Pháp thân và vị lai viên mãn Pháp thân bằng chính sự thực dụng "văn, tư, tu"qua những gì chúng ta học được, gọi là Pháp thực trong đời sống tu hành...

Đừng để Pháp thân bị "suy dinh dưỡng" dẫn đến "chết queo" trước "mâm cao cỗ đầy" Pháp thực thượng vị mà HĐ chúng ta đang có trước mắt!!! Ha ha ha ha!!!

Hãy làm một Long Vương thực thụ, biết giăng mây, nổi sấm, làm mưa... Chẳng nên làm anh Hà Bá suốt đời quanh quẩn trong sông rạch, chỉ chuyên tán gẫu chuyện Long Vương mà chưa một lần ghé thăm biển lớn!!!

(25-01-2017)

Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời

Tác Phẩm Lý Tứ

Thay Lời Tựa Giờ Huỳnh Đạo

Content Editor 04.02.2023
Anh Lạc Luận Tập 1 Tác Giả Lý Tứ

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ

Các bạn!!!

Giờ này đích thị là giờ huỳnh đạo!!! Giờ tốt nhất trong mọi giờ (09 giờ 09 ngày 29 tháng 9 năm 2016).

Khi viết những dòng chữ này cho các bạn, là lúc mình hoàn tất "một núi công việc", để ANH LẠC LUẬN được khai sinh.

Anh Lạc Luận là tập hợp những bài viết của mình từ năm 2010 đến 2016. Trong một rừng emails ước chừng đến mấy chục ngàn bài, của mình lẫn các bạn gởi cho mình trong sáu năm qua. Sau đó được trích ra gần một ngàn bài viết riêng của mình, với khoảng sáu trăm chủ đề đã triển khai. Từ sáu trăm bài đó, chọn lọc gần ba trăm bài viết có tính ứng dụng cao và phù hợp với công việc tu tập của các bạn trong hiện tại, sau đó chỉnh sửa cho hoàn hảo.

Công việc bắt đầu từ ngày 03-09-2016, theo dự tính phải mất từ ba đến bốn tháng, có nghĩa đến cuối năm nay mới hoàn thành. Nhưng nhờ ơn Tam Bảo gia hộ, mình đã làm xong trong vòng hai mươi sáu ngày!!! Vì thế, giờ này đối với mình "chính là giờ huỳnh đạo" Ha ha ha ha!!! Không có gì vui thích bằng!!!

Trong lúc chỉnh sửa từng bài, mình có cảm giác như những người thợ mài ngọc thủ công, cứ mỗi bài viết, phải cặm cụi mài cho sáng.

Mình lại sực nhớ đến câu chuyện Vua Ba Tư Nặc cúng dường xâu chuỗi Anh Lạc cho Thế Tôn, và câu chuyện Vô Tận Ý Bồ Tát cúng dường xâu chuỗi Anh Lạc cho Bồ Tát Quán Thế Âm. Kinh Anh Lạc cũng viết: "Về dụ Lục chủng tánh là chuỗi công đức Anh Lạc, tất cả Bồ Tát đều dùng sáu thứ này để trang nghiêm hai thứ Pháp thân. Bồ Tát mang một ngàn A tăng kỳ công đức hạnh làm chuỗi Anh Lạc.  Nếu tất cả Bồ Tát không vào pháp môn công đức Anh Lạc mà được chánh vị Chơn như, thì không có sự kiện ấy". Thế là mình quyết định đặt tên cho tập luận này là ANH LẠC LUẬN.

Mỗi bài viết, theo mình là một viên ngọc, xâu kết tất cả lại, thành chuỗi Anh Lạc với trên ba trăm viên. Chuỗi Anh Lạc này sau khi hoàn tất, trên cúng dường Chư Phật như Bồ Tát xưa vẫn làm, kế đến kính tặng tất cả HĐ Lý Gia và những ai có nhân duyên, mỗi vị một chuỗi để trang nghiêm tự thân!!!

Nhân duyên ra đời của Anh Lạc Luận là như thế!!!

29/9/2016

Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời

Tác Phẩm Lý Tứ

Luận Về Cái Sự Ăn

Content Editor 04.02.2023

Người biết ăn trong đạo pháp mới được tạm coi là hạng người có trí, người có trí tức là người biết nên ăn như thế nào để cân bằng năng lượng nhằm trưởng dưỡng thân tâm và trí tuệ, tránh xảy ra xung đột giữa thái và thiếu...

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ

LUẬN VỀ.. ‘CÁI  SỰ ĂN ’
Các bạn!!!
Buổi tối cuối cùng của năm con Khỉ (2016), mình xin có đôi dòng tản mạn, gọi là ‘Luận Về cái Sự Ăn’... Vì bởi, ăn là nhu cầu có thực trong đời sống... Và hai chữ "ăn Tết", chính là minh hoạ cụ thể nhất về nhu cầu có thật từ những ngày đầu trong một năm của "cái sự ăn" ấy!!!
"Dĩ thực vi tiên" tức lấy ăn làm đầu, theo mình đây là câu nói được coi là bất diệt khi nào sự sống hãy còn, thậm chí người chết cũng có khi...được...ăn...theo quan niệm dân gian!!! 
Vì thế những từ như, "ăn Tết", "ăn đám", "ăn giỗ", "ăn cưới", "ăn thôi nôi", "ăn đầy tháng", “ăn tiệc”, “ăn mừng”, “ăn dặm”, “ăn tạp”, "ăn đòn", "ăn có", "ăn ké",  "ăn trộm", "ăn cướp", "ăn vạ", "ăn quỵt", “ăn hối lộ”, “ăn gian”, “ăn tham”, “ăn giựt”, “ăn thua”, “ăn chia”, “ăn hoa hồng”, “ăn hàng”, “ăn lương”, “ăn cờ (ăn con tốt, xe)”, “ăn mòn”, “ăn hỗn”, “ăn học”, “ăn kiêng”, ..v.v.. và ..v.v… là những từ ngữ luôn có từ “ăn” đi đầu… 
Thế mới biết, ăn là cái sự đầu tiên trong các sự... Để mô tả ăn là hành động dẫn đạo trong các hành động, các câu nói sau cho thấy "cái sự ăn" quan trọng đến chừng nào, ví dụ như: "Ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau", "ăn coi nồi, ngồi coi hướng", hoặc "thực túc binh cường" (ăn no lính khoẻ), "có thực mới vực được đạo" (câu nói này ngụ ý, đói thì tu còn không xong, nói gì đến chuyện chứng đắc)!!!...
Những từ đồng nghĩa để mô tả sự ăn cũng rất phong phú như: "Chén, đớp, hốc, măm, ngốn, tọng, xơi, xực..."!!!
Cái sự ăn cũng bao trùm toàn bộ đời sống, văn hoá, xã hội... Nhìn vào bữa ăn, cách thức ăn, nơi ăn, món ăn... v.v... ta cũng có thể đoán biết giai cấp, trình độ, nghề nghiệp, văn hoá, tính cách, xuất thân... của một con người!!! 
Rất tiếc, cho đến thời điểm hiện tại, trên đời có rất nhiều sách nói về tướng số như: Coi chỉ tay, coi nốt ruồi, coi khuôn mặt, coi tướng đi, đoán mộng, coi sao, coi ngày, coi tháng, bốc cỏ thi, mu rùa... nhưng hình như chưa có (hoặc mình chưa thấy) một học giả nào công bố công trình nghiên cứu về "tướng ăn", tức nhìn vào tướng của một người đang ăn, có thể đoán biết quá khứ, hiện tại, vị lai, công danh, sự nghiệp, tình duyên, gia đạo, tài lộc, phúc hoạ của người đó... 
Thiết nghĩ, nếu nhân loại chưa ra đời một công trình như vậy, hoặc tương đương như vậy, có lẽ đây là một trong những thiếu sót nhất của "loài người văn minh"... Nói chung, cái sự ăn đã được con người tôn vinh và thăng hoa đến mức trở thành một loại văn hoá, người ta gọi là "văn hoá ẩm thực", có nghĩa cái ăn được đặt ngang hàng với các loại văn hoá khác, lẽ nào các nhà Dịch học lại không lưu ý đến cái sự ăn!!!
Từ thực vật đến động vật, tất cả đều phải ăn mới tồn tại!!! Thực vật ăn bằng rễ, thân, lá... thức ăn của chúng là đất, nước, đá, cát, sạn, đạm, lân, kali... thậm chí xi măng, vôi, gạch, tường, vách... Động vật cấp thấp thì ăn bằng mồm, bằng lưỡi, bằng thân, bằng cọ xát, hạng này có gì ăn nấy, khô, tươi, ráo, ướt, đặc, lỏng... đều xực ráo trọi, không đòi hỏi!!! 
Lại, trong ba cõi được chia ra bốn cách ăn, đó là đoạn thực (ăn qua nhai nuốt), xúc thực (ăn qua tiếp xúc), thức thực (ăn qua tưởng nhớ), tư niệm thực (ăn qua nghĩ suy) tuỳ loài, tuỳ nghiệp mà có cách ăn khác nhau... 
Người tu hành cũng có bốn thứ để ăn, đó là pháp thực (nghe pháp mà no bụng), thiền duyệt thực (được thiền mà no bụng), hỷ thực (vui vẻ mà no bụng) và lạc định thực (an ổn không bấn loạn mà được no bụng)... Ha ha ha ha!!! 
Nói chung, cái sự ăn nó rất phong phú, đa dạng... gồm đủ các hạng, từ vô vi đến hữu vi, từ đơn giản đến cầu kỳ, từ dân dã đến thượng lưu, từ bần dân đến quan lại, từ thất học đến trí thức, từ hạ tiện đến cao sang, từ thánh đến phàm, từ trên trời đến dưới đất, từ địa ngục đến Niết Bàn... tất cả đều ăn, ăn và phải ăn!!!
Xét cho cùng, ăn là hành động chủ yếu, hổ trợ cơ chế cân bằng năng lượng giữa thu nạp và tiêu hao... Vì thế, nếu năng lượng không cân bằng thông qua sự ăn, sẽ dẫn đến hệ quả là thừa hay thiếu năng lượng, tức mất đi tính cân đối giữa thu nạp và tiêu hao... 
Do sự mất cân đối này, mà một số bệnh lý phát sinh như béo phì hay suy dinh dưỡng!!! Và, cái ăn giữa các nhóm đối tượng cũng có rất nhiều ý nghĩa sai khác... 
Với thực vật và động vật cấp thấp, ăn là hoạt động tự nhiên để tồn tại, động vật cấp cao như con người lại chia cái sự ăn ra thành hai thứ, đó là thức ăn vật chất và thức ăn tinh thần...
Thức ăn vật chất dùng để nuôi thân, thức ăn tinh thần dùng để nuôi tâm và trí!!! 
Thức ăn vật chất chủ yếu làm từ vật chất như gạo, thịt, cá, tàu hủ, rau, củ, quả, nước mắm, nước tương, muối, bọt ngọt, đường, sữa... 
Thức ăn tinh thần để nuôi tâm và trí như văn nghệ, văn hoá, triết lý, tôn giáo, đạo đức, học thuật, khoa học, kỹ nghệ... Con người được coi là động vật cấp cao, có lẽ một phần được đánh giá qua cái sự ăn có tính chất triết lý này chăng!!!
Người tu hành trong Phật đạo, ngoài thức ăn vật chất để nuôi thân, về thức ăn tinh thần để nuôi tâm và trí cũng chia thành nhiều nhóm sai biệt... Ví như Nhị thừa ăn ngũ ấm, Bồ Tát ăn giác quán, Nhất thừa ăn bát chánh, nói chung nhìn vào món ăn, ta có thể biết ngay người đó tu ở thừa nào... 

Khi còn tu, ăn là như vậy, nhưng đến lúc chứng quả, ba thừa lại ăn những thứ khác như: Nhị thừa ăn Niết Bàn, Bồ Tát ăn Nhất Thiết Trí, Nhất thừa ăn công hạnh...

Nói chung ba thừa ăn đến khi nào sạch sẽ ‘khổ tập diệt đạo’, Phật thừa ăn đến chí hết ‘vô minh của chúng sanh’ mới thôi!!!

Tóm lại, tu hành là ăn, ăn và ăn... Người nào ăn không chừa một đế nào của bốn đế, mới tạm gọi là người biết thưởng thức "văn hoá ẩm thực tinh thần của Phật đạo"!!!

֎ Các bạn!!!

Ăn là một nhu cầu!!! Tuy nhiên, ăn và ngủ trong đạo pháp có chuẩn mực và văn hoá riêng...

Người biết ăn trong đạo pháp mới được tạm coi là hạng người có trí, người có trí tức là người biết nên ăn như thế nào để cân bằng năng lượng nhằm trưởng dưỡng thân tâm và trí tuệ, tránh xảy ra xung đột giữa thái và thiếu...

Nếu, người được coi là tu hành, mà đến cái ăn còn không biết, phỏng người ấy có được gọi là kẻ có trí chăng???

Để biết cái sự ăn và biết ăn nó quan trọng đến mức nào, cổ đức đã từng làm thơ quở trách bọn ăn ngủ vô độ bằng câu thơ bất hủ sau: "Cơ tắc xan hề khốn tắc miên", có nghĩa (người mà chỉ biết) đói ăn, khát uống, buồn ngủ đi ngủ thì... thì... thì..... năm mới xin hoan nghênh tinh thần của câu thơ bất hủ nhằm chỉnh lý cái sự ăn này!!!

֎ Các bạn!!!

Sau khi đọc xong những dòng tản mạn về "cái sự ăn"... Chúc các bạn "lai rai ăn hạt dưa, bánh, mứt..." đón Giao thừa Đinh Dậu vui vẻ!!!

Mình cũng vừa nhận được một số emails chúc Tết...

Rất cảm ơn!!!                                              

(27-01-2017)

Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời

Gửi tin nhắn đến người dùng

Thông báo bài viết mới

Quản trị viên 06.10.2026

Xin chào Quý Đọc Giả,

Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.

https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/loi-gioi-thieu

Trân trọng,

Tags:

Tác Phẩm Lý Tứ

Lời Giới Thiệu

Quản trị viên 11.03.2022

Trải qua thời gian mười năm, cuốn sách Phật Giáo Và Thiền lưu hành trong nội bộ Huynh Đệ Lý Gia, coi như một tài liệu mang ý nghĩa giáo khoa đặc trưng của Lý Gia. Và cuốn sách đã giúp rất nhiều Huynh Đệ Lý Gia thành công trong tu tập !!!

Phật Giáo Và Thiền - Tác Giả Lý Tứ

Bạn đọc thân mến !!!

Cuốn Phật Giáo và Thiền các bạn đang cầm trên tay, được mình viết từ năm 2010.

Năm ấy, có một số Phật tử trẻ từ Mỹ về thăm, và mong muốn có một tài liệu Phật pháp cô đọng, nhưng đầy đủ, để họ mang về bên ấy tu tập. Thế là mình bắt tay viết cuốn Phật Giáo Và Thiền !!!

Trải qua thời gian mười năm, cuốn sách lưu hành trong nội bộ Huynh Đệ Lý Gia[1], coi như một tài liệu mang ý nghĩa giáo khoa đặc trưng của Lý Gia. Và cuốn sách đã giúp rất nhiều Huynh Đệ Lý Gia thành công trong tu tập !!!

Về nội dung, cuốn sách được viết dưới dạng giáo trình dạy và học, nên nó hình thành theo thứ lớp từ thấp lên cao, từ cạn đến sâu, từ đại cương đến chi tiết, hướng dẫn người học từng bước tu tập cụ thể. Trong đó các khái niệm cơ bản của Phật đạo cũng được cắt nghĩa một cách rõ ràng và khoa học !!! Đây là lí do vì sao cuốn sách lại mang hình thức của một luận văn, như:

* Phần I: Tổng quan, gồm các chương: Phương pháp tiếp cận, định hướng, cơ sở lí luận
* Phần II: Giáo lý Phật giáo và thiền, gồm các chương: Liên hệ giữa thiền và giác ngộ, thiền và ngũ triền cái, bốn đế và ba thừa, ba mươi bảy phẩm
* Phần III: Một số khái niệm liên quan đến thiền, gồm các chương: Khái niệm nghiệp, khái niệm sám hối, khái niệm ngũ trược, khái niệm tập nhân giao báo, khái niệm ba duyên hoà hiệp, khái niệm ngã và tâm
* Phần IV: Thiền của Phật giáo, gồm các chương: Các loại thiền, thiền và các ba la mật, thiền đốn ngộ
* Phần V: Lịch sử Phật giáo và thiền
* Phần VI: Chánh kiến
Các bạn !!!

Với nội dung được trình bày ở trên, hy vọng cuốn Phật Giáo và Thiền sẽ mang đến một số kiến thức bổ ích, giúp con đường tiến tu, hoặc nghiên cứu Phật giáo của bạn đọc có thêm những lợi ích nhất định !!!

Chúc bạn đọc an vui, tinh tấn !!!

Trung Thu – 2019

Lý Tứ

[1] Lý Gia: Nhóm Huynh Đệ tu tập được hình thành từ năm 2008, do Lý Tứ hướng dẫn... Các bạn có thể tìm hiểu từ Website Lytu.vn, Fanpage Lý Tứ hoặc Nhóm FB Lý Gia

Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời

Kinh

Phật Thuyết Kinh Bốn Mươi Hai Chương - Phần 4

Quản trị viên 18.03.2022
Kinh bốn mươi hai chương

Kinh bốn mươi hai chương

Chương 28: ĐỪNG THEO “CON NGỰA” Ý NIỆM

Đức Phật dạy: "Phải thận trọng, chớ tin ý ông; ý của ông không thể tin được. Phải thận trọng, chớ gần gũi sắc dục; gần gũi sắc dục tất sanh họa.[[1]] Chứng được A la hán rồi mới có thể tin được ý ông."

Chương 29: QUÁN TƯỞNG CHÂN CHÁNH THẮNG ĐƯỢC SẮC DỤC

Đức Phật dạy: “Hãy thận trọng, đừng nhìn ngó nữ sắc, cũng đừng nói năng với họ. Nếu phải nói chuyện với họ, hãy chánh tâm nhớ nghĩ: “Ta là bậc Sa môn sống ở đời ô trược,[[2]] phải như hoa sen chẳng bị bùn làm ô uế.” Tưởng người già như mẹ, người lớn như chị, kẻ nhỏ như em, đứa bé như con; rồi sanh lòng độ thoát thì mới diệt được niệm xấu.”

Chương 30: LÁNH XA LỬA DỤC

Đức Phật dạy: "Người hành Đạo cũng giống như cỏ khô, lửa đến phải tránh. Người tu Đạo thấy sự dục lạc tất phải tránh xa."[[3]]

Chương 31: TÂM VẮNG LẶNG, DỤC VỌNG DỨT

Đức Phật dạy: "Có người lo lòng dâm dục chẳng dứt được, muốn tự đoạn âm. Phật bèn bảo rằng: “Đoạn âm không bằng đoạn tâm.[[4]] Tâm như người Chủ, thân như kẻ làm công. Nếu người Chủ nghỉ, thì kẻ tòng sự đều nghỉ. Tà tâm chẳng dứt, đoạn âm ích gì?” Đức Phật vì đó mới nói bài kệ:

"Dục sanh từ ý ông,           

Ý do tư tưởng sanh.       

Cả hai tâm vắng lặng,[[5]]   

Phi sắc cũng phi hành."

Đức Phật dạy: "Bài kệ này do Đức Phật Ca Diếp nói"[[6]]

Chương 32: KHÔNG CÒN “NGÔ THÌ HẾT SỢ HÃI

Đức Phật dạy: "Người ta vì ái dục mà sanh lo, vì lo mà sanh sợ. Nếu xa lìa được ái dục thì còn gì để lo, còn gì để sợ?"

Chương 33: TRÍ HUỆ VÀ SỰ SÁNG SUỐT PHÁ TAN CHÚNG MA

Đức Phật dạy: "Người hành Đạo ví như một người chiến đấu với muôn người; mang giáp ra cửa, hoặc có ý khiếp nhược, hoặc nửa đường rồi lui, hoặc chống cự đến chết, hoặc đắc thắng mà về.

Sa môn học đạo nên giữ vững lòng mình, tinh tấn dũng mãnh, chẳng sợ những gì sắp tới, phá diệt chúng ma[[7]] mà chứng đắc đạo quả.”

Chương 34: GIỮ TRUNG DUNG, TẤT ĐẮC ĐẠO

Có thầy Sa môn ban đêm tụng kinh Di Giáo của Phật Ca Diếp,[[8]] giọng nghe có vẻ buồn thảm, hối hận muốn thụt lùi.

Đức Phật hỏi: "Trước kia, ông ở nhà từng làm nghề gì?"

Đáp rằng: "Thưa, con thích gảy đàn cầm."

Phật hỏi: "Dây đàn chùng thì sao?"

Đáp rằng: "Thưa, thì không rền vang được."

          …  "Dây đàn căng thì sao?"

Đáp rằng: "Thưa, thì âm thanh đứt đoạn."

           …  "Chùng, căng vừa chừng thì sao?"

Đáp rằng: "Thưa, thì âm thanh phổ khắp."

Đức Phật dạy: "Bậc Sa môn học Đạo cũng thế. Tâm, nếu giữ chừng mực thì Đạo có thể chứng được. Đối với Đạo, nếu hấp tấp thì thân mỏi mệt; thân nếu mỏi mệt thì ý liền sanh phiền não; ý nếu sanh phiền não thì hành liền thụt lùi; hành đã thụt lùi thì tội tất thêm lên. Chỉ có thanh tịnh, an lạc thì Đạo mới không mất vậy!"

Chương 35: SẠCH CÁU BẨN, CHỈ CÒN VẺ SÁNG

Đức Phật dạy: "Như người luyện sắt loại bỏ chất cặn rồi làm thành đồ dùng thì đồ dùng được tinh hảo; người học Đạo từ bỏ tâm cấu nhiễm thì hạnh liền thanh tịnh vậy."

Chương 36: SỰ CHUYỂN ĐỔI THÙ THẮNG

Đức Phật dạy:

1) "Ra khỏi ác đạo,[[9]] được làm người là khó;

2) Đã được làm người, bỏ thân nữ được thân nam[[10]] là khó;

3) Đã được thân nam, sáu căn[[11]] đầy đủ là khó;

4) Sáu căn đã đủ, được sanh nơi xứ trung tâm[[12]] là khó;

5) Đã sanh nơi xứ trung tâm, gặp Phật ra đời là khó;

6) Đã gặp Phật ra đời, lại được gặp bậc tu Đạo là khó;

7) Đã được gặp Đạo, lại sanh lòng tin là khó;

8) Đã sanh lòng tin, lại phát tâm Bồ đề[[13]] là khó;

9) Đã phát tâm Bồ đề, mà đạt đến chỗ vô tu, vô chứng[[14]] là khó." 

Chương 37: NGHĨ ĐẾN GIỚI LÀ GẦN VỚI ĐẠO

Đức Phật dạy: "Phật tử ở cách Ta vài ngàn dặm mà nhớ nghĩ đến Giới của Ta, tất sẽ chứng được Đạo quả; còn ở ngay bên phải bên trái Ta, tuy thường trông thấy Ta, nhưng chẳng y theo Giới của Ta, thì rốt cuộc sẽ không đắc được Đạo."

Chương 38: CÓ SANH TẤT CÓ DIỆT

Đức Phật hỏi một vị Sa môn: "Mạng người được bao lâu?"

− Đáp rằng: "Thưa, trong khoảng vài ngày."

Đức Phật dạy: "Ông chưa hiểu Đạo!" Lại hỏi một vị Sa môn khác: "Mạng người được bao lâu?"

− Đáp rằng: "Thưa, trong khoảng một bữa ăn."

Đức Phật dạy: "Ông chưa hiểu Đạo." Lại hỏi một vị Sa môn khác: "Mạng người được bao lâu?"

− Đáp rằng: "Thưa, trong khoảng một hơi thở."

Đức Phật dạy: "Lành thay! Ông đã hiểu Đạo rồi vậy!"

Chương 39:  PHẬT PHÁP NHẤT VỊ

Đức Phật dạy: "Người học Đạo Phật, đối với những lời Phật nói đều phải nên tín thuận. Ví như ăn mật, trong ngoài đều ngọt; kinh điển của Ta cũng vậy."[[15]]

Chương 40: TÂM PHẢI THỰC HÀNH THEO ĐẠO

Đức Phật dạy: "Bậc Sa môn hành Đạo[[16]] đừng như con trâu kéo xay,[[17]] tuy thân hành Đạo nhưng tâm lại chẳng theo Đạo. Nếu tâm theo Đạo thì cần gì hành Đạo?"[[18]]

Chương 41: NHẤT TÂM NIỆM ĐẠO, DỨT TRỪ DỤC VỌNG

Đức Phật dạy: "Người hành Đạo ví như con trâu chở nặng đi trong bùn sâu. Trâu hết sức mỏi mệt, chẳng dám nhìn phải ngó trái; ra khỏi chỗ bùn lầy rồi mới được thư thả. Bậc Sa môn phải quán tưởng tình dục còn hơn cả bùn lầy. Phải một lòng chuyên chú[[19]] nhớ đến Đạo thì mới có thể thoát được sự khổ." 

Chương 42: HIỂU ĐƯỢC CÕI ĐỜI LÀ HƯ HUYỄN

Đức Phật dạy: "Ta xem ngôi vị Vương, Hầu như bụi qua kẽ hở;[[20]] xem vàng ngọc quý báu như ngói gạch vỡ; xem y phục bằng tơ lụa như vải thô; xem đại thiên thế giới như một trái táo;[[21]] xem nước hồ A nậu[[22]] như dầu thoa chân.

"Xem môn phương tiện như đống châu báu hóa hiện; xem Vô thượng Thừa[[23]] như giấc mộng vàng lụa; xem Phật Đạo như hoa trước mắt; xem Thiền Định như trụ chống đỡ núi Tu di;[[24]] xem Niết bàn[[25]] như ngày đêm đều thức; xem sự đảo và chánh[[26]] như sáu con rồng múa lượn;[[27]] xem sự bình đẳng[[28]] như Nhất chân địa; xem sự hưng hóa như cây cối bốn mùa."[[29]]

Các vị đại tỳ kheo nghe Phật thuyết kinh này xong, thảy đều vui vẻ phụng hành.

Hết chương 42 (Trọn bộ)

---

Phần chú giải

[[1]] Tâm ý của người ta hay chạy theo cảnh ngoài, như con ngựa không cương. Phải kiềm chế, chú tâm vào đạo lý. Nhất là đừng một mình tiếp xúc với đàn bà, con gái…  

   Phật dạy: “Này các Tỳ kheo, khi thánh giới được giác ngộ, thể nhập thánh định, thánh trí, thánh giải thoát cũng được giác ngộ, thể nhập. Khi những pháp này được thể nhập thì sợi dây hữu ái sẽ được cắt đứt, sợi dây đưa đến sinh hữu được đoạn tận và không còn tái sinh.” (Tăng Chi II, tr. 527)

  Do đó, chỉ khi nào chứng được A la hán mới có thể tự tin nơi tâm ý mình. 

[[2]]  ô trược: Nhơ bẩn, điều không tốt lành; Ngũ trược (năm thứ nhiễm ô ở cõi Ta bà): Kiếp trược (kỳ kiếp trược), Kiến trược (sự thấy biết ô trược), Phiền não trược, Chúng sanh trược và Mạng trược (đời sống ô trược).

[[3]] Người tu hành chớ nên tham đắm các dục, phải biết hộ trì các căn.

[[4]] Kinh văn là "đoạn âm", "âm" ở đây là âm hành (nam căn), là bộ phận sinh dục nam. “Nam căn” có động đều là do vọng tâm khởi lên. Nếu tâm được yên lặng, nam căn cũng nguội lạnh theo. Cho nên tâm ví như người cai quản, nam căn chỉ như người làm theo.

[[5]] Kinh văn là "nhị tâm", tức là chỉ đến ý và tư tưởng vừa nói ở hai câu trên.

[[6]] Phật Ca diếp (S: Kãsyapa; P: Kassapa): Đức Phật quá khứ, trước Phật Thích ca; cũng như đức Phật Thích ca trước Phật Di lặc.

[[7]] Có bốn loại ma: 1)Tử ma (ma chết); 2)Ấm ma (Ngũ ấm gồm: sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm, hành ấm và thức ấm); 3)Thiên ma (Ma vương và quyến thuộc); 4)Phiền não ma (ma phiền não). Các thứ ma này do tâm mê mà biến hiện.

[[8]] Kinh Di giáo ở đây là chỉ kinh ghi lại lời dạy dỗ, dặn dò của Phật Ca diếp (trước Phật Thích ca).

[[9]] Các đường ác: nơi đọa lạc, lãnh chịu các ác nghiệp. Có ba đường ác là: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

[[10]] Thân người nam quý hơn người nữ, vì dễ tu hành hơn. Khi Phật còn tại thế, ban đầu cũng chưa muốn cho người nữ xuất gia, vì có lắm điều bất tiện.

[[11]] Sáu căn là: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Trong thân là bao hàm cả tứ chi và các bộ phận. Làm người được sáu căn trọn đủ, tránh khỏi tàn tật là khó.

[[12]] Kinh văn là "trung quốc", là ở giữa nước (ở vùng trung tâm). Dùng ý này là đối nghịch với "biên địa hạ tiện", tức là những nơi biên thùy, xa xôi hẻo lánh, văn minh không truyền đến đầy đủ.

[[13]] Phát tâm Bồ đề: Phát khởi cái chí nguyện tu hành cho đến khi thành Phật.

[[14]] Chỗ vô tu, vô chứng: Chỗ không còn gì để tu, để chứng. 

  −  Bậc “Vô Tu Vô Chứng”: Vị tu hành này sau khi thành tựu trí tuệ, vào Đẳng Giác Bồ Tát, tức Bồ Tát biết cái Phật biết, thấy cái Phật thấy, chứng điều Phật chứng... Thế nên, đạo quả này còn gọi là Vô Tu Vô Chứng... 

   −  Gọi Vô Tu Vô Chứng là vì Bồ Tát này không còn gì để tu, không còn gì để chứng, chứ chẳng phải Vô Tu Vô Chứng là không biết cái để tu, chẳng biết cái để chứng như đa số người tu hành thường hiểu... 

  Phật đạo còn gọi quả vị này là Vô Dị Biệt Quả, tức vị ấy với chánh pháp không còn khác biệt...

[[15]] Tỷ như mật ngọt, dù nếm chỗ nào cũng là vị ngọt. Kinh điển của Phật cũng như thế, dù trước, sau, khoảng giữa cũng chỉ thuần một vị giải thoát mà thôi.

[[16]] hành Đạo: Tâm thuận theo chân lý.

[[17]] Lấy ví dụ con trâu kéo cối xay, nó làm như vậy là do bắt buộc, lại vô tâm (không chú tâm) mà làm. Vị sa môn không nên như vậy.

[[18]] Đạo ở nơi tâm và trí chứ chẳng phải ở nơi thân hoặc hình tướng bên ngoài.

[[19]] Kinh văn là "trực tâm": Lòng ngay thẳng, không tà vạy, không nịnh bợ, không dối gạt (một lòng.. một dạ).      

   Kinh Duy ma nói: "Trực tâm là đạo tràng." Kinh Lăng Nghiêm nói: "Chư Phật mười phương đều đồng một đạo, thảy đều dùng trực tâm mà ra khỏi sanh tử."

   Hình ảnh con trâu là hình ảnh của người tinh tấn. Có thể nói, tinh tấn là điều kiện tiên quyết, là chìa khóa vạn năng, là cẩm nang ý chí hướng đến thành công và thành công một cách mỹ mãn. Với dục hạ liệt là ý muốn mãnh liệt để thực thi điều bất thiện, thì tinh tấn hướng hành giả đến sự an lạc, giải thoát. Do đó, tu học đạo giải thoát mà không có tinh cần tinh tấn, thời không bao giờ đạt được đạo quả.

   Phật dạy: “Này các Tỳ kheo, hãy nỗ lực với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp từ trước chưa sinh, thời không cho sinh khởi lên. Các ác, bất thiện pháp đã sinh được trừ diệt. Các thiện pháp từ trước chưa sinh, nay làm cho sinh khởi. Các thiện pháp đã sinh, cố gắng duy trì, làm cho tăng trưởng, quảng đại, được tu tập, được viên mãn.” (Tăng Chi I, tr. 365). 

    Kệ Pháp cú cũng xác nhận:   “Vui thích không phóng dật / Không thể bị thối đọa / Tỳ kheo sợ phóng dật / Nhất định gần Niết bàn.” (Dhp _Pháp cú. 32)

[[20]] Kinh văn là "quá khích trần".

[[21]] Kinh văn là "ha tử", trái ha, hạt ha, nói đủ là Ha lê lặc (Haritaki), cũng đọc là Ha la lặc, Ha lỵ lặc. Trái ấy chất đắng, dùng làm thuốc, bằng cỡ như trái táo. Đây chỉ dùng với ý so sánh về kích thước, nên chúng tôi thay hẳn bằng trái táo cho dễ hiểu.

[[22]] A nậu (tiếng Phạn: Anavatapta; Hán dịch âm là A nậu, A nậu đạt, nói đủ là A na bà đạp đa; Hán dịch nghĩa là Vô nhiệt não): Hồ A nậu ở trong núi Hy mã lạp, nước hồ có đủ tám công đức.

[[23]] Lời nói để tán xưng giáo pháp chí cực, tức là Đại thừa. Kinh Hoa nghiêm nói: "Qua khỏi hai thừa (Nhị thừa: Thanh văn thừa, Duyên giác thừa), gọi là Đại thừa, Đệ nhất thừa, Thắng thừa, Tối thắng thừa, Thượng thừa, Vô thượng thừa, Lợi ích nhất thiết chúng sanh thừa."

[[24]] Núi Tu di (Hán dịch là Diệu cao sơn): Cũng viết Tu di lâu, Tu mê lư.

[[25]] Niết bàn (S: Nirvana; Hán dịch âm là Niết bàn na, Nê hoàn, Nê bạn): Cảnh giới dứt sạch các phiền não của tham dục, sân nhuế và ngu si.

   Niết (Nir) nghĩa là "ra khỏi". Bàn hay Bàn na (vana) nghĩa là "rừng". Niết bàn là ra khỏi rừng mê tối, rừng phiền não.

  Hán dịch nghĩa có những tên gọi khác như Tịch, Diệt độ, Bất sanh, Vô vi, An lạc, Giải thoát, Viên tịch…

[[26]] Kinh văn là "đảo chánh". Chỗ thấy biết quấy bậy, ngược ngạo, gọi là "đảo". Chỗ thấy biết chánh đáng, đúng đắn, gọi là "chánh". Như lấy khổ làm vui, lấy vô thường làm thường, lấy vô ngã làm ngã, lấy bất tịnh làm tịnh, gọi là đảo, đảo kiến hay điên đảo kiến. Ngược lại thì gọi là chánh, chánh kiến, chánh tri kiến.

[[27]] Sáu con rồng lượn múa: Phật xem chánh kiến với đảo kiến chẳng qua như rồng lượn múa, quay đầu ra đuôi, lộn đuôi ra đầu.

[[28]] Bình đẳng như địa vị chân thật duy nhất: Nếu tu đắc Bình đẳng tâm thì đạt tới cảnh chân tuyệt đối. Phật đem tâm bình đẳng đối với chúng sanh, yêu thương tất cả như con một của mình.

[[29]] Việc hành hóa đạo lý như cây cối bốn mùa: Khi đắc bình đẳng rồi, khi chứng địa vị chân thật duy nhất rồi, Bồ tát nương địa vị ấy mà hóa đạo, tiếp độ chúng sanh, cũng như cây cối bốn mùa nương đất đai mà sanh nảy vậy.

Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời

Subscribe to