Phiền Não Và Ba Thừa
Đồng một phiền não mà ba thừa có ba kết luận và ba cách giải quyết khác nhau. Tuy rằng khác nhau từ cách nhìn nhận đến cách giải quyết, nhưng khi giải quyết rốt ráo, ba thừa đồng dứt phiền não. Đây chính là mục tiêu căn bản của Phật đạo.

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ
Các bạn!!!
Mình muốn tạm dùng email này, để nêu ra cách giải quyết phiền não của ba thừa. Mong góp thêm một ý nhỏ làm sáng tỏ vấn đề.
- Thanh văn thấy có phiền não là do trong lòng còn nhân sanh, khi đủ duyên sẽ thành quả khổ. Để giải quyết cái khổ, Thanh văn tìm chốn an vui. Giống như trời nóng, người đi ta đi lên nơi cao, hay tìm khoảng trống để hứng gió...Vì thế, lạc thọ khổ thọ xảy ra.
Muốn chấm dứt phiền não, Thanh văn phải từ bỏ, xa rời các duyên sanh phiền não. Xa rời đến triệt để, nhân cạn duyên tàn, phiền não không còn hiện khởi gọi là giải thoát. Tức giải thoát các nguyên nhân sản sinh phiền não và trói buộc. Niết bàn này do yểm ly mà được, nên Phật gọi là “bỏ đây lấy kia”.
- Duyên Giác thấy phiền não sinh ra chỉ do duyên hoà hiệp, thật sự không nhân. Như gió xuất hiện là do bàn tay quạt vào hư không, hoặc hai bàn tay chà nhau sinh nóng, nóng lạnh nhờ có cảm thọ mà nhận biết… Phiền não không từ một nhân nào sinh ra, chỉ do các duyên hoà hiệp mà thành. Đoạn trừ các duyên, phiền não tự diệt.
- Bồ Tát thấy phiền não như quầng đèn, chỉ do tâm mê chẳng có nhân duyên. Giống con mắt bệnh, thấy đèn có quầng, mắt hết bệnh, quầng đèn tự diệt. Tâm hết mê, phiền não không còn.
Như vậy, đồng một phiền não mà ba thừa có ba kết luận và ba cách giải quyết khác nhau. Tuy rằng khác nhau từ cách nhìn nhận đến cách giải quyết, nhưng khi giải quyết rốt ráo, ba thừa đồng dứt phiền não. Đây chính là mục tiêu căn bản của Phật đạo.
Giống như ba người cùng muốn đến một nơi, mỗi người xuất phát một hướng, phương tiện không đồng, nhưng rốt sau cả ba người đều gặp nhau ở đích đến.
Sau cùng, là đạo Nhất thừa. Nhất thừa chính là sự nhìn nhận lại vấn đề một cách thống nhất, nhìn nhận sau cùng này không giống cách nhìn nhận trước đây của ba thừa. Sự thống nhất này tạm gọi là “thấy thiệt tướng”, thấy thiệt tướng là thấy được bản chất của sự việc. Thấy được bản chất sự việc, thì những dị biệt và cách giải quyết không đồng của ba thừa sẽ không còn.
Giống như sáng ra người ta thấy được con rắn trong bóng tối khi hôm chỉ là sợi dây, sợi dây mới là bản chất thật của con rắn. Khi người ta lầm sợi dây thành con rắn, con rắn từ đâu đến, nay con rắn trở lại sợi dây, con rắn đã đi về đâu?
Như vậy, thực chất của phiền não là gì???
(12-2010)
Định Và Tuệ
Thiền định của Phật Giáo giống như con cá sống ở nước ngọt, muốn tồn tại nơi biển khơi, đầu tiên con cá này phải bơi đến những vùng pha lẫn hai thứ nước mặn ngọt và tăng dần độ đậm của muối. Đây là sự thích nghi cần thiết với môi trường, làm quen với loại văn hóa mới. Nếu thiếu sự thích nghi và học tập văn hóa mới này, con cá sẽ không dễ dàng tồn tại trong hoàn cảnh mới.

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ
- Trong Phật pháp thiền định và trí tuệ có mối liên hệ mật thiết, đây là hai chân của chiếc kiềng ba chân giới, định, huệ. Nếu có sự thiên lệch nào đó của một chân trong ba chân này thì chiếc kiềng Phật pháp sẽ không đứng vững.
- Hiện tượng thường thấy của những người tu hành là, chiếc kiềng ba chân giới, định, huệ không đồng nhau. Người coi trọng chân này, người đặt nặng chân kia. Sự coi trọng hay đặt nặng một chân sẽ dẫn đến hệ quả làm mất đi sự cân bằng cần thiết trong đời sống tu hành.
- Đỉnh cao Phật pháp là “định huệ quân bình”; cụm từ này thường được nêu lên như một tiền đề để người tu hành vươn tới. Thế nhưng tiền đề là như vậy, đòi hỏi của người tu hành là như vậy. Nhưng để tạo được sự “quân bình” này, người tu hành phải làm gì, và vì sao phải thực hiện hai học pháp vô lậu này hầu như còn bỏ ngỏ.
- Trong các buổi thảo luận Phật pháp, hoặc nhìn vào đời sống cũng như cách ứng xử của một Phật tử, chúng ta dễ dàng bắt gặp một hiện tượng đó là: Một số người thiên về thiền định, một số người thiên về trí tuệ. Và hai nhóm này bằng biểu hiện này hay biểu hiện khác thường không gặp nhau trên quan điểm, không đồng ý nhau trong đời sống, và các buổi thảo luận Phật pháp thì không thống nhất ý kiến với nhau.
- Biểu hiện của người thiên về trí tuệ mà thiếu thiền định là ưa lập luận, và họ giải quyết vấn đề tu hành hay đời sống bằng những suy luận mang tính thế tục, dựa vào suy luận thế tục để kết luận vấn đề. Những kết luận như vậy đối với thế pháp không sai, nhưng lại không phải là cách chọn lựa thỏa đáng để mình và người đặt chân vào ngưỡng cửa Thánh pháp.
Đây chính là rào cản rất lớn trên con đường chiếm lĩnh đỉnh cao trí tuệ vô lậu. Họ sẽ bị dừng lại, bị níu chân bởi những suy luận mang nặng thế tục này. Thậm chí nếu tự thân không vượt qua nhất định sẽ phát sinh tà kiến.
- Vì sao không vượt qua nhất định phát sinh tà kiến? Vì tất cả mọi suy luận, cho dù suy luận tốt nhất thế gian cũng đều nằm trong đối đãi và mang tính trói buộc bởi mặt này hay mặt kia của suy luận. Có nghĩa suy luận này chỉ là sự trưởng thành của ngã thông qua con đường giáo pháp. Một ngả rẽ không mong muốn của Phật đạo, thậm chí đi ngược lại giáo pháp một cách “vi tế” mà đôi khi tự thân hành giả không nhận ra.
Những Phật tử này cắt nghĩa vấn đề dựa trên “cơ hiềm” nhiều hơn là mong muốn cởi trói, họ dựa vào sự phải quấy thế pháp để phán định đúng sai. Về mặt thế pháp cắt nghĩa vấn đề như vậy là đúng, là thuyết phục. Nhưng trong giáo pháp, loại lý luận này vô tình đẩy người nói lẫn người nghe vào sự chấp nhất, và đây là nguyên nhân phát sinh phiền não.
- Mà, lời nói hoặc hành động nào như vậy hay gần như vậy, Phật Giáo gọi là “tà kiến”; tà bởi vì không cởi trói cho mình cho người, tà kiến vì khiến mình người thấy sai bản chất vấn đề, chấp nhất sự việc.
- Để vượt qua khó khăn này, cần phải tự rèn luyện mình bằng cách ‘gia cố thêm công phu thiền định’.
Thiền định của Phật Giáo giống như con cá sống ở nước ngọt, muốn tồn tại nơi biển khơi, đầu tiên con cá này phải bơi đến những vùng pha lẫn hai thứ nước mặn ngọt và tăng dần độ đậm của muối. Đây là sự thích nghi cần thiết với môi trường, làm quen với loại văn hóa mới. Nếu thiếu sự thích nghi và học tập văn hóa mới này, con cá sẽ không dễ dàng tồn tại trong hoàn cảnh mới.
Thiền định của Phật Giáo cũng như vậy, nó là sự thay đổi môi trường một cách cần thiết, để người tu hành hòa nhập vào biển Đại Giác.
- Trên con đường giác ngộ, thiền định giúp người tu hành lần lượt thay đổi tâm sinh lý để phù hợp với đời sống mới gọi là đời sống tu hành. Nếu không có một tâm sinh lý mới, đời sống không được thay đổi bởi thiền định, người này mong muốn thể nhập vào trí tuệ vô lậu là điều không thể.
- Một điều không khó nhận ra, đó là có người tri kiến tốt nhưng thiếu thiền định (tạm gọi công phu hàm dưỡng) thì biểu hiện của người này khi thuyết giáo thường hay chấp chặt định kiến của mình, trong đời sống thường nhật thích chuyện cơ hiềm thế gian, chán cảnh tịch lặng, ham ưa ồn náo và bị cuốn hút bởi các dục cũng như hay tham gia tranh biện.
- Do không tu tập thiền định, hạng này không có tác phong của người tu thiền (người xưa gọi là thiền phong), làm mất đi sự tôn trọng của người khác đối với mình và thiền môn.
- Vì thế, có tri kiến tốt là điều đáng hoan nghênh, nhưng thiếu “công phu hàm dưỡng” là điều đáng chê trách.
- Để thiền định và trí tuệ cân bằng, hãy siêng năng tu thiền và trong đời sống thường nhật phải ra công “hàm dưỡng”. Đây là cách tốt nhất để thích nghi với môi trường mới của giác ngộ.
- Hãy đi đến biển lớn Đại Giác bằng ngọn đuốc trí tuệ và đôi chân thiền định.
- Hãy nhổ cây cột ngã kiến bằng cách dùng thiền định để lung lay tận gốc cây cột kia, và nhổ nó lên bằng sức mạnh trí tuệ.
(11-2010)
Phiền Não Trụ Địa Và Vô Minh Trụ Địa
Ta có thể hiểu, Vô minh trụ địa như bóng tối, Phiền não trụ địa như ma quỷ... Tất nhiên, theo quan niệm thế gian, ở đâu tối tăm ở đó ma quỷ cư trú!!! Và, chúng ta cũng biết, trí tuệ như mặt trời, tâm thức như thế giới... Mặt trời lặn, thế giới tối tăm!!! Mặt trời mọc, thế giới sáng tỏ!!!

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ
Các bạn!!!
Có vị HĐ hỏi về hai thứ trụ địa. Đó là, Vô minh trụ địa và Phiền não trụ địa... Mình xin trả lời vắn tắt như sau:
Người tu hành có hai thứ cần phải loại ra khỏi tâm và trí, đó là “Phiền não trụ địa” và “Vô minh trụ địa”. Phiền não trụ địa thuộc về tâm, Vô minh trụ địa thuộc về trí...
Có một số Luận giả gộp hai thứ trụ địa này thành năm món, gọi là Ngũ trụ địa phiền não. Cũng có Luận giả cho rằng, Vô minh trụ địa của xuất thế gian, thuộc về hoặc giới ngoại, phải trải qua Bất tư nghì biến dịch sanh tử mới chấm dứt...
Theo mình thì, để riêng hai món, gộp chung thành năm, hay phân thành bốn hoặc giới nội, một hoặc giới ngoại... tất cả đều không quan trọng. Mà… làm thế nào có thể tống khứ, không cho hai món này cư trú bất hợp pháp trong tâm trí của người tu hành mới là điều quan trọng nhất!!!
Ta có thể hiểu, Vô minh trụ địa như bóng tối, Phiền não trụ địa như ma quỷ... Tất nhiên, theo quan niệm thế gian, ở đâu tối tăm ở đó ma quỷ cư trú!!! Và, chúng ta cũng biết, trí tuệ như mặt trời, tâm thức như thế giới... Mặt trời lặn, thế giới tối tăm!!! Mặt trời mọc, thế giới sáng tỏ!!! Bây giờ, chúng ta thử điểm qua hai thứ trụ địa này, và tìm xem Phật đạo dùng cách gì để làm cho thế giới sáng soi, xua tan bóng tối, quét sạch "phiền ma não quỷ"!!!
1. Phiền não trụ địa là gì???
Là nơi cư trú của hết thảy phiền não, trụ địa này thuộc về Phiền não chướng. Có bốn nơi để phiền não cư trú đó là: Kiến nhất thiết xứ phiền não trụ địa, Dục ái phiền não trụ địa, Sắc ái phiền não trụ địa và Vô minh ái phiền não trụ địa.
- Kiến nhất thiết xứ phiền não trụ địa: Thấy nghe phân biệt, phiền não phát sinh. Dứt phân biệt, phiền não này chấm dứt.
- Dục ái phiền não trụ địa: Năm căn thân ham mê năm trần mà sinh phiền não. Sơ thiền đoạn phiền não này.
- Sắc ái phiền não trụ địa: Mê sắc thân mà sanh phiền não. Tứ thiền dứt phiền não này.
- Vô minh ái phiền não trụ địa: Tham đắm nghĩ suy, ham ưa vọng tưởng mà sinh phiền não. Thành tựu Tứ không định dứt chín phần, chứng Diệt thọ tưởng định chấm dứt toàn phần.
Phiền não trụ địa gọi là Pháp tương ưng... Có nghĩa rằng, phiền não dứt thì tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh thì phiền não dứt.
2. Vô minh trụ địa.
Gồm ba phần, hai phần của hoặc giới nội, một phần của hoặc giới ngoại.
- Vô minh trụ địa của hoặc giới nội gồm Nhuận chi vô minh và Căn bản vô minh, hai thứ vô minh này thuộc về Sở tri chướng.
- Vô minh trụ địa hoặc giới ngoại là Vô minh trụ địa của Bất tư nghì biến dịch sanh tử, thuộc về Sở trí ngu.
Để dễ hiểu các thứ vô minh nói trên, ta có thể lấy ví dụ về quả trứng. Quả trứng gồm có ba phần cơ bản: Vỏ trứng, lòng đỏ và lòng trắng. Nhuận chi vô minh như lòng đỏ, Căn bản vô minh như lòng trắng, lòng đỏ và lòng trắng bị hư, quả trứng không thể nở ra con gà. Một chúng sanh, do hai thứ vô minh này làm cho tăm tối, hai thứ này chấm dứt, tăm tối của chúng sanh chấm dứt, tăm tối của chúng sanh chấm dứt Thánh trí sẽ hiện.
- Thánh trí đã hiện nhưng chưa thể thoát ra khỏi cái ngu ba thừa... Giống như quả trứng đã hư, nhưng bản thân cái vỏ hãy còn, cái vỏ hãy còn chính là Vô minh trụ địa hoặc giới ngoại, chính cái vỏ này là lớp ngăn che bên ngoài làm cho ba thừa không thấy được thiệt tướng vạn pháp... Đây là hình ảnh, "con ếch mắt sáng" ngồi dưới đáy giếng, thế giới đối với con ếch không lớn hơn cái giếng, muốn biết tướng chơn thật của thế giới, con ếch phải ra khỏi cái giếng. Thánh trí muốn thoát ra khỏi cái hạn hẹp của ba thừa để thành Phật trí, phải phá bỏ lớp vỏ cuối cùng của Sở trí ngu, gọi là ra khỏi ‘Vô minh trụ địa hoặc giới ngoại’.
Nhuận chi vô minh: Tiền ngũ thức mù tối. Dứt tập, hết vô minh này.
Căn bản vô minh: Ý thức mù tối. Chứng diệt, hết vô minh này.
Vô minh trụ địa: Trí tuệ bị che lấp bởi Sở trí ngu. Thành tựu Đạo đế, hết cái ngu này.
Các bạn!!!
Chắc có lẽ giờ này các bạn hiểu rõ về ba phần của Vô minh trụ địa. Con đường tiến về Vô thượng trí còn rất dài. Con ếch cần phải "phiêu lưu khắp thế gian" để một ngày kia hùng hồn tuyên bố với bạn bè rằng, "Thế giới nhất định lớn gấp...ba...trăm...lần... cái...giếng...nhà...ta". Ha ha ha ha!!!
(11-2010)
Thông báo bài viết mới
Xin chào Quý Đọc Giả,
Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.
https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/thay-loi-tua-tu-dung-hay-tu-sai
Trân trọng,
Rộng Sâu Và Mười Một Thứ Trí
Rộng và sâu là hai điều kiện bắt buộc của bất kỳ sự học tập nào, nếu muốn có được thành tựu cao nhất đối với ngành học của mình, chẳng riêng gì Phật đạo... Trong võ học, rộng được ví như chiêu thức, sâu được ví như nội lực!!!

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ
Các bạn!!!
Hôm nay, có HĐ hỏi mình về chiều rộng và chiều sâu trong Phật đạo... Mình xin tóm tắt trả lời như sau:
Chiều rộng và chiều sâu trong Phật đạo là hai lãnh vực mà mỗi người tu hành cần phải đạt đến.
1. Chiều rộng (trong Phật đạo).
Bao gồm những hiểu biết về các loại văn hóa Phật Giáo như: Kiến thức từ kinh tạng, kiến thức từ luận tạng, kiến thức luật tạng, kiến thức về lịch sử và các loại văn hóa thế gian có mối liên hệ đến Phật Giáo…
Nói chung, chiều rộng của Phật Giáo là những kiến thức liên hệ đến đạo Phật được tích lũy qua thời gian, muốn có kiến thức tốt đòi hỏi phải có sự đầu tư nhất định. Đã là kiến thức, luôn luôn có hai mặt. Nếu chỉ dùng kiến thức có được như một thứ trang sức, mà không biết vận dụng để trở thành văn hoá sống, mang lại lợi ích thiết thực, kiến thức bây giờ trở thành cái ‘ngã’, chẳng lợi cho mình, chẳng lợi cho người. Thậm chí, kiến thức rộng mà không biết biến kiến thức trở thành ngọn đuốc soi sáng, vô hình trung kiến thức chính là chướng đạo, gọi là ‘sở tri chướng’.
2. Chiều sâu Phật Giáo.
Là kết quả có được từ chiều rộng cộng với năng lực tư duy và phương pháp ứng dụng hiệu quả, từ đó cho ra thành tựu như pháp. Nói khác đi, nó là kết quả của một đời sống tu hành được kiến thức soi sáng một cách chân chánh. Chiều sâu của Phật Giáo chính là trí tuệ, loại trí tuệ này có năng lực đưa người từ bờ này sang bờ kia, cao hơn nữa có thể giúp người đến Vô Thượng Quả.
- Trong Phật đạo, chiều rộng và chiều sâu, nếu nói quan trọng, hai điều này quan trọng như nhau... Giống như người ta đào giếng lấy nước, miệng giếng hẹp không thể đào sâu, muốn đào giếng thật sâu, người ta phải tăng chiều rộng, rộng và sâu có hài hoà, thì giếng mới chứa được nhiều nước và không sợ tắt mạch khô dòng...
3. Mười một thứ trí của Phật đạo.
Là sự kết hợp tốt nhất giữa chiều rộng và chiều sâu, đây là chuỗi những chuyển biến tâm, ý, ý thức xảy ra trong quá trình phát sinh trí tuệ. Ta cũng có thể hiểu, mười một thứ trí là mười một tầng thấu triệt như pháp của Phật Giáo. Để dễ hiểu công dụng của một thứ trí, ta có thể chia thành các nhóm như sau:
- Nhóm khổ trí, tập trí, diệt trí, đạo trí: Nhóm này thấu suốt nguyên lý Bốn Đế.
- Nhóm loại trí, pháp trí: Nhóm này biết rõ sự sai khác của từng căn cơ, do biết rõ căn cơ chúng sanh nên có thể tuyên thuyết khế thời, khế cơ và khế lý.
- Nhóm tận trí, vô sanh trí: Nhóm này biết rõ nguyên nhân phát sinh lậu hoặc và biết rõ cách chấm dứt lậu hoặc.
- Nhóm đạo tướng trí, nhất thiết trí và nhất thiết chủng trí: Nhóm này, có thể thiết kế chương trình giảng dạy cho từng thừa đến viên mãn nhất thừa.
Tóm lại, rộng và sâu là hai điều kiện bắt buộc của bất kỳ sự học tập nào, nếu muốn có được thành tựu cao nhất đối với ngành học của mình, chẳng riêng gì Phật đạo... Trong võ học, rộng được ví như chiêu thức, sâu được ví như nội lực!!!
Người có nhiều chiêu thức mà không có nội lực, khi lâm trận chẳng khác gì phế nhân!!! Người nội lực sung mãn mà
không biết chiêu thức, chẳng khác nào con trâu chỉ biết dùng sức mạnh để kéo cày!!! Người có đủ hai thứ này, sẽ là thiên hạ...vô...địch!!!
(10-2010)
Luận Về Thiền Và Thiền Định
Quá trình điều phục thân và căn được gọi là thiền. Cho nên bốn thiền ra đời để giải quyết dục giới, sắc giới. Tức giải quyết nhiễm ô của căn và thân. Quá trình điều phục tâm ý gọi là định. Nên tứ không định là quá trình điều phục tâm, ý thức, gọi là vô sắc.

Anh Lạc Luận Tập 1 - Tác Giả Lý Tứ
Các bạn!!!
Mọi người luận về Thiền rất hay, nhưng mình có vài ý kiến không biết đúng không, nếu không đúng xin đừng cười chê.
1. “THIỀN”
- Thứ nhất: Ở đời có những chuyện không hiểu nổi, bình thường con người không thể nhảy qua cái hàng rào cao chừng 1,7 mét trở lên. Nhưng nếu có người đuổi mình để giết, trong lúc nguy cấp, chạy trối chết, có thể nhảy qua cái hàng rào cao 2 mét.
Mình nhớ trong chiến tranh, khi chiến sự xảy ra ban đêm, có người vì sợ quá bèn chui vào bụi gai mây mà trốn. Đến sáng mọi thứ yên bình, người này la làng cho hàng xóm đến chặt gai để chun ra vì không thể nào tự ra khỏi bụi gai mây.
Đây là câu chuyện có thật trăm phần trăm (100%). Khi bình tâm, mọi người hỏi làm sao lúc đó ông có thể chun vào bụi gai mây um tùm được, người này chỉ biết lắc đầu không hiểu nổi.
Sự đời như vậy đó, sự đạo có khi không khác. Ngồi trong quán cà phê, giả sử nghĩ đến chuyện sanh tử hoặc nghe kể chuyện người xưa vượt qua khó khăn về thân, đâm ra ngán ngẫm. Thậm chí không biết mình có làm như vậy được không, và thề quyết là làm không được. Tự nhiên bắt người ta làm những cớ sự éo le đáng sợ kia, nhất định như tôi đây cũng phải rụt đầu thè lưỡi. Nhưng biết đâu sanh tử hoặc một việc gì ghê gớm đến bất kỳ, vận may chợt đến, tự thân làm được rồi sao. Nếu có làm được trong hoàn cảnh này cũng đâu có gì hay ho!!!
Đạo pháp cũng như vậy, tu hành, thiền định, trí tuệ gì gì đó... không phải để ngồi tưởng tượng có người chém mình rồi mình có đau không, cái này hình như Phật Giáo gọi là vọng tưởng, tức cái chưa có, cái chưa đến mà tưởng tượng ra để làm khó mình khó người. Mà thiền định, trí tuệ… trong Phật đạo là tu hành, tư duy tích lũy công đức để đến khi sự việc thật xảy ra đối với tự thân thì “cái hên” nó đến, nhảy vào bụi gai mây trốn cho khỏi chết đặng sáng mai la làng, hàng xóm đến cứu cho nó quê chơi.
Huệ Năng nói tài “định huệ quân bình, không hai, trong ngoài giống nhau gì gì đó…” Nhưng khi Trần Đạo Minh rượt để giựt y bát, thì chạy vắt giò lên cần cổ, định huệ trốn biệt ngàn. Đến núi Đại Dũ, thốn quá hết đường chạy (nếu còn đường chắc còn chạy tiếp, chớ dừng lại chẳng những bị chúng đánh chết lại mất cái y thì sao). Chạy hết đường, Huệ Năng bèn ngồi xuống, đúng tác phong của một vị Tổ, lim dim hai con mắt (hình như ông ta niệm Phật cầu vãng sanh Tây Phương) chờ chúng đến giựt y bát. Nhưng cái may lại đến, quá hên Trần Đạo Minh nhấc chiếc y và cái bát không lên, có lẽ lão này chạy quá hết xíu quách, Đạo Minh lầm tưởng Huệ Năng có thần thông, sợ quá lão bèn sụp lạy nhờ khai thị. Lão này thiệt tráo trở, mới rượt người ta giựt đồ, giựt không được quay lại xin làm học trò. Cái chuyện lạ đời!!! Không biết anh em mình có ai đã gặp tình cảnh này hay chưa, chứ tôi đây thì chưa. Bất nhơn như Đạo Minh vẫn được Huệ Năng từ bi khai thị… Thiền của Phật Giáo hình như là thế!!!
Thế đấy! Phật Giáo là như thế, vọng tưởng chạy vắt giò như Ngài Huệ Năng là cùng, nhưng đụng chuyện biết đâu định tuệ lại quân bình. Thoát cơn hiểm nguy, về nhà kể lại cho vợ con nghe, thêm mắm dặm muối cho mấy chị em ghê chơi, chắc là oai lắm. Nhớ chỉ kể chuyện thần thông quảng đại, “phàm phu như Đạo Minh làm gì giở nổi cái y của tôi”, còn chuyện chạy vắt giò lên cần cổ thì nên dấu kín, như chưa từng xảy ra mới đáng là người trí!!!
- Thứ hai: Người đời thường nói: “Phật làm cái gì thì tôi làm cái đó, bắt chước y hệt Phật nhất định trăm phần thành Phật”; câu này nghe cũng lọt lỗ tai, nhưng lọt vô rồi thì nó kêu o... o… bèn móc trở ra.
Làm như mình là bạn của ông Phật hoặc đồng môn với ông Phật không bằng, chú mi làm được cái gì thì tớ đây cũng làm được cái đó chớ bộ… Xin thưa còn lâu!!! Có vô số điều Phật làm được mà mình thì chẳng thể nào làm được. Nếu cố làm giống hệt như vậy mà chẳng hiểu “mô tê” gì ráo, thì có người sẽ nói mình ba trợn, hình như cái đầu có vấn đề!!!
Cho nên, khôn ngoan nhất phải nói như thế này: “Phật dạy làm gì, thì tôi cố gắng làm như vậy. Giả sử làm chưa được, tôi sám hối để vị lai có thể thực hiện trọn vẹn lời dạy này”. Câu này có vẻ lọt lỗ tai và trí tuệ hơn!!!
- Thứ ba: Tỳ Kheo Hải Tràng gì đó ngồi nhịn thở 6, 7 tháng là tại ổng muốn nhịn thở chơi cho vui, Phật đâu có dạy mình, hoặc biểu Thiện Tài Đồng Tử phải học nhịn thở. Biết đâu (nói biết đâu là chưa chắc đúng), Thiện Tài gặp lão nhịn thở này, để học cái khác chớ không phải học cái phép nhịn thở, coi chừng lầm, bắt chước nhịn thở là bỏ mạng đó!!!
- Thứ tư: Mình bàn thiền của Phật Giáo hay Tứ thiền? Hình như hai hệ này khác nhau thì phải. Nếu huỡn[[1]] quý vị gẫm lại xem, bạn nào luận ra được điều này, khác hay giống, lời luận phải có tính thuyết phục cao mới được, thì hay đấy!!! (10-2010)
2. “THIỀN ĐỊNH”
Các bạn!!!
- Đây là bài viết căn bản, giúp các bạn tham khảo, dùng làm cơ sở để chiêm nghiệm khi tu thiền định, và có thêm hiểu biết về thiền chi.
3. Có thể tóm tắt về thiền định như sau.
Cho dù là thiền của thừa nào, cũng dựa trên nền tảng giúp điều phục thân và tâm. Vì thế, tất cả người tu hành đều phải có thiền định, tức là phải giải quyết hai vấn đề mấu chốt của đạo, đó là thân và tâm. Sở dĩ các thừa phương tiện vào thiền sai khác là do nhìn nhận vấn đề sai khác, nhưng đồng giải quyết hai vấn nạn này.
4. Tổng quát về thiền và định.
- Quá trình điều phục thân và căn được gọi là thiền. Cho nên bốn thiền ra đời để giải quyết dục giới, sắc giới. Tức giải quyết nhiễm ô của căn và thân.
- Quá trình điều phục tâm ý gọi là định. Nên tứ không định là quá trình điều phục tâm, ý thức, gọi là vô sắc.
- Một chúng sanh, thân tâm luôn luôn câu sanh với nhau trên cơ sở nghiệp, thuật ngữ Phật Giáo gọi là “câu sanh lưỡng chấp”. Vì câu sanh, nên tâm sẽ vui khi thân mạnh khoẻ, và sẽ buồn khi thân bệnh hoạn, hoặc ngược lại khi tâm hưng phấn thân sẽ rạng rỡ, tâm phiền não thân sẽ tiều tuỵ!!!
- Khi nhiếp tâm, rời xa nghiệp câu sanh, người tu hành có thể cảm nhận những món dị thường từ thân và tâm… Ví dụ như cảm giác mất trọng lượng, không bị giới hạn không gian… người đời gọi là thần thông. Vì thế, khi ngoại đạo luyện tập nhiếp tâm nơi một sở pháp đến triệt để, thì xuất hiện dị pháp.
- Trong tu hành, khi tâm ý bị nhiếp bởi sở giác. Lúc đó, tâm tạm thời không nhiếp thân, nghiệp câu sanh chuyển biến. Chính chuyển biến này, thân và tâm trở về tính chất đồng hư không của nó. Cho nên, người nhiếp tâm cảm thấy thân nhẹ nhàng, tâm an lạc...
- Hỷ lạc, khinh an là cảm nhận đầu tiên khi thân và tâm không nhiếp nhau, nhưng vẫn còn ý thức, tức tầm và tứ. Đến khi tầm tứ tịch diệt, cảm nhận hỷ lạc khinh an cũng lặn mất, trạng thái này chỉ mất đi sự nhận biết của ý thức, chứ không phải tính chất hỷ lạc khinh an diệt mất. Các thiền chi xuất hiện rồi tịch diệt, chính là kết quả của nỗ lực "tách rời tâm, ý, ý thức ra khỏi thân" của người tu thiền.
(10-2010)
[[1]] huỡn: rảnh rỗi (tiếng địa phương Nam Bộ VN.)
Luận về Giá Trị Của Công Đức. Làm Thế Nào Để Phát Sinh Công Đức
Công đức là thành quả cao nhất của việc tu học trong Phật đạo. Các quả vị trong Phật đạo được tính bằng công đức, công đức càng nhiều, quả vị càng cao, quả vị càng cao, trí tuệ càng lớn.

Các bạn! ... Công đức là thành quả cao nhất của việc tu học trong Phật đạo. Các quả vị trong Phật đạo được tính bằng công đức, công đức càng nhiều, quả vị càng cao, quả vị càng cao, trí tuệ càng lớn. Đức Phật là đấng đầy đủ công đức bậc nhất trong Phật đạo. Vì thế, trí tuệ của Đức Phật rộng lớn và cao tột, vượt ra ngoài suy lường, nên không thể nghĩ bàn hay tính đếm!
Công đức cao quý là như vậy, nhưng để có được công đức không phải chuyện dễ dàng. Muốn có được công đức, phải biết cách làm thế nào để phát sinh công đức. Chừng nào chưa biết được điều này, chừng nào chưa biến hiểu biết này thành đời sống, chừng ấy, dù có làm gì, tu tập như thế nào cũng không thoát ra khỏi quy luật của trói buộc ba cõi, đó là phước đức hay ác đức. Các câu hỏi sau, nếu thấu suốt, sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn, thấm nhuần ý nghĩa việc "làm thế nào để phát sinh công đức".
CÂU HỎI TCTT 2016/05 − Làm Thế Nào Để Phát Sinh Công Đức
1) Một tạo tác nào đó của thân, khẩu, ý (hành động, nghĩ suy, nói năng), bản thân (bản chất) của tạo tác đó là công đức, phước đức hay ác đức?
2) Làm thế nào để một tạo tác của thân, khẩu, ý trở thành: Công đức, phước đức hay ác đức? (Sau khi giải thích, hãy cho ví dụ để làm rõ nghĩa...)
3) Lịch sử kể rằng: Ngày xưa vua Lương Võ Đế tạo chùa, độ Tăng nhiều vô số kể. Sau đó ông ta đem điều này hỏi Tổ Đạt Ma: • “Trẫm một đời tạo chùa, độ Tăng nhiều vô số kể, có công đức gì chăng"? − Tổ trả lời: "Không có công đức gì hết”!
Ngày sau, có người cũng đem điều này hỏi Lục Tổ Huệ Năng, Tổ cũng trả lời "không có công đức gì hết"! Xin hỏi: Theo bạn, vì sao vua Lương Võ Đế làm những việc to lớn như thế, mà vẫn bị các bậc cao đức trong Phật đạo cho là: "Không có công đức gì hết"?
Yêu cầu trả lời phải dứt khoát, rõ ràng, nói được cái gốc của vấn đề vì sao nó như vậy, không kiến giải hay suy luận dài dòng. Rất mong nhận được những trả lời bổ ích từ các bạn. (09-06-2016)
GỢI Ý... TCTT 2016/05 − Làm Thế Nào Để Phát Sinh Công Đức
Các bạn! ... Trong Phật đạo, công đức giống như ánh sáng từ đôi mắt sáng của người giác ngộ. Phước đức và ác đức giống như bóng tối của kẻ mù loà. Người mắt sáng làm gì cũng sáng tỏ, người mù loà làm gì cũng tăm tối. Vì thế, muốn có công đức, người tu hành trong Phật đạo cần phải giác ngộ...
Và, chỉ có người đã giác ngộ, mới biết hình dáng của công đức như thế nào, ý vị nó ra sao, còn kẻ chưa giác ngộ, dù cố hiểu về công đức, giống như người mù cố hiểu về ánh sáng, đây là việc chắc chắn không thể… Đó là lý do vì sao vua Lương Võ Đế dù đã tạo chùa độ Tăng nhiều vô số, mà không thể biết được việc làm này của mình có công đức hay không!
Luận Về Bố Thí
Thông thường, khi nói đến công đức và phước đức, người tu hành nghĩ ngay đến công đức cao hơn phước đức. Điều này chỉ đúng với thế gian pháp! Trong đạo xuất thế, công đức và phước đức đồng thanh tịnh vô vi như nhau, nên công đức và phước đức không phải là hai pháp (bất nhị).

Các bạn! ... Mấy hôm nay, mình nhận được một số thắc mắc về “bố thí” trong Phật đạo của vài HĐ. Những thắc mắc này cũng là tâm trạng chung của nhiều người. Mình xin đặt những thắc mắc này thành các câu hỏi gởi đến các bạn, để mọi người đồng trao đổi, thảo luận! Các câu hỏi như sau:
CÂU HỎI TCTT 2016/04 − Luận Về… “Bố Thí”
1) Kinh nói đại ý: "Bồ Tát không trụ tướng khi thực hành bố thí, thì phước đức nhiều vô số kể". Tại sao kinh không nói khi Bồ Tát bố thí như thế, công đức nhiều vô số mà lại nói phước đức nhiều vô số?
2) Nếu Bồ Tát không thấy (trụ) bốn tướng (ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả) thì làm sao biết có người xin mà bố thí?
3) Kinh dạy: "Nếu có những kẻ nam người nữ lòng lành, thọ trì dù chỉ bốn câu kệ trong kinh này, vì người khác giảng nói, phước đức này hơn cả phước đức bố thí kia". Xin hỏi, do nghĩa nào mà Phật nói điều trên? (giảng nói kinh Kim Cang thù thắng hơn bố thí các thứ khác)
Rất mong nhận được câu trả lời minh bạch của HĐ. (04-06-2016)
** GỢI Ý TCTT 2016/04 − Luận Về “Bố Thí”
Các bạn! ... Thông thường, khi nói đến công đức và phước đức, người tu hành nghĩ ngay đến công đức cao hơn phước đức. Điều này chỉ đúng với thế gian pháp!
Trong đạo xuất thế, công đức và phước đức đồng thanh tịnh vô vi như nhau, nên công đức và phước đức không phải là hai pháp (bất nhị). Phật là đấng có đầy đủ hai món phước đức và trí tuệ, Phật là đấng tôn quý nhất trong các loài có hai chân (chư thiên và loài người) về phước đức và trí tuệ nên gọi là Lưỡng Túc Tôn. Vì thế, phước đức có “phước đức hữu lậu” và “phước đức vô lậu”.
− Phước đức hữu lậu do trụ tướng mà bố thí, nên nó nằm trong hạn lượng của cân, đong, đo, đếm.
− Phước đức vô lậu do không trụ tướng bố thí, tức bố thí ba la mật nên nó chính là công đức, gọi là phước đức xuất thế. Phước đức này thanh tịnh vô vi, ra ngoại hạn lượng, suy lường của thế gian, vì thế kinh nói là vô số kể, hoặc không thể toán số thí dụ.
Trong Kinh Kim Cang, phần lớn nói về phước đức vô lậu mà không nói nhiều đến công đức. Theo ý kiến cá nhân của mình, có lẽ đây là điều cốt lõi của kinh này, một trong những hình thức xoá bỏ quan niệm cao thấp về công đức và phước đức của Nhị Thừa cùng thế gian, để tiến về Bồ Tát đạo, mà điển hình là ngài Tu Bồ Đề, một vị Thánh Tăng có danh hiệu là Đệ Nhất Nghĩa Không (lấy nghĩa không làm cứu cánh).
Nhị thừa chỉ lo tu hành để thành tựu công đức mà quên nghĩ đến chuyện bố thí pháp tức pháp thí để thành tựu phước đức vô lậu như các Bồ Tát. Bởi lẽ, thí pháp là đầu mối phát sanh trí tuệ, nó là lực dụng của cỗ xe Đại Thừa, trí tuệ càng cao, phước đức càng lớn, như Phật và các Đại Bồ Tát là một ví dụ, vì thế kinh nói "phước đức này hơn cả phước đức của bố thí kia”. Các bạn có thể tìm thấy điều này trong phần nói về ngài Đại Thông Trí Thắng của kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Các bạn! ... Đọc một số kiến giải trả lời từ một số HĐ làm mình phấn khởi. Giác ngộ đã giúp các bạn có được đôi mắt sáng, từ đó thấy rõ thâm ý của kinh và nhìn ra được sự khác biệt giữa thế gian và đạo xuất thế... Khi nào chưa có đôi mắt sáng, chưa thấy được chỉ thú cũng như thâm nghĩa của kinh, chừng ấy hãy còn mò mẫm trong bóng tối mù loà… không thể ra khỏi sự lẫn lộn nhập nhằng giữa thế gian và xuất thế (đời và đạo)! (06-06-2016)
** (Tham khảo) CẢM NHẬN TCTT 2016/04 – Luận Về “Bố Thí”
(01) Cảm Nhận TCTT 2016/04 − Luận Về “Bố Thí” (Lý Anh Lạc)
Thưa Thầy! Con xin trả lời ba câu hỏi:
Trả lời câu hỏi 1: Một vị tu hành trong Phật đạo khi đã giác ngộ vô lậu tâm, đối với vị này phước đức và công đức không phải hai. Vì sao không hai? Vì phước đức vô lậu và công đức là pháp không hai. Phước đức, có phước đức thế gian và phước đức xuất thế gian.
− Phước đức thế gian: Trụ nơi thiện thế gian (tướng) mà hành bố thí, nên phước đức đó là hữu hạn và hữu lậu (có phiền có não, không thanh tịnh).
− Phước đức xuất thế gian: Không trụ tướng khi thực hành bố thí, nên gọi là Bố thí Ba La Mật. Vì không trụ tướng khi thực hành bố thí, nên phước đức là vô hạn, vô lậu, vô vi. Vì vô hạn nên gọi là phước đức nhiều vô số kể… Cho nên, khi Bồ Tát thực hành Bố Thí Ba La Mật, luôn luôn xuất phát từ Tâm Ba La Mật (công đức). Vì thế nên nói phước đức và công đức không phải hai.
Trả lời câu hỏi 2: Ví như mặt hồ một khi không bị lay động, người mắt sáng sẽ nhìn thấy rất rõ bóng cây, ánh mặt trời soi trên mặt hồ. Bồ tát không trụ bốn tướng, tâm ví như mặt hồ không lay động, tánh biết như đôi mắt sáng, nhất định nhìn thấy mọi vật. Vì thế, Bồ Tát không trụ bốn tướng sẽ thấy biết rất rõ, chỉ không sanh các quan niệm dựa vào tướng mạo để bố thí mà thôi, chứ không phải không thấy, không biết.
Trả lời câu hỏi 3: • Phước Đức thế gian, bố thí nhiều thì được phước báo nhiều, bố thí ít được phước ít, gọi là có hạn lượng... • Phước đức Xuất thế gian, Bồ Tát bố thí pháp, giúp người thanh lọc thấy nghe, ra khỏi mọi quan niệm trói buộc, thành tựu giải thoát, đưa đến trí tuệ, được Kim Cang tâm. Vì thế kinh nói: "Phước đức này hơn cả phước đức bố thí kia".
Kinh này cũng nói: "Hết thảy chư Phật và giáo pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của các ngài đều từ nơi kinh này mà ra". Vì thế nên, thấu suốt kinh này rồi “vì người” mà giảng nói là thù thắng bậc nhất, là tối thượng thí trong các thứ bố thí.
Kính Thầy chỉ dạy thêm, con chúc Thầy luôn khoẻ, luôn vui. Con.
(02) Cảm Nhận TCTT 2016/04 − Luận Về “Bố Thí” (Lý Thiện Huệ)
Thầy Kính! Con xin trình bày sự thấy biết của con về câu hỏi.
Trả lời câu hỏi 1: Trong Phật đạo Phước Đức có hai: Phước đức hữu lậu và Phước đức vô lậu.
− Phước đức hữu lậu: là những lời nói, việc làm phước thiện mang lại lợi ích an vui hạnh phúc cho người cho chúng sanh: Như bố thí, cúng dường, giúp đỡ người nghèo, thương yêu động vật, bênh vực người tốt, chỉ ra chỗ sai của kẻ xấu. Tâm, ý hành động theo thiện nghiệp, bao gồm biệt nghiệp và cộng nghiệp, tất cả hành động như thế điều cho ra kết quả chung là phước đức.
− Phước đức vô lậu (= Công đức): Là tất cả việc làm của vị tu hành được phát sinh từ một nguồn tâm trong sạch, tịch diệt, thanh tịnh, giải thoát, vô sở trụ mà hành việc bố thí. Tâm Ba La Mật sẽ phát sinh công đức, có trí tuệ là có công đức.
− Vì vậy đoạn Kinh: "Bồ Tát không trụ tướng khi thực hành bố thí, thì phước đức nhiều vô số kể" cho chúng ta hiểu ý nghĩa Phước Đức mà Phật muốn tuyên thuyết là “Phước Đức Vô Lậu hay cũng được gọi là Công Đức”. Vì Công Đức không có hạn lượng nên không thể cân đo đong đếm được (nhiều vô số).
Trả lời câu hỏi 2: Nếu tâm vị Bồ tát còn thấy (trụ) bốn tướng (ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả), mà làm việc bố thí thì chẳng thể gọi là Bồ Tát, vì trong tâm còn vướng mắc bốn hành tướng hay còn hữu lậu tâm. Vì vậy, Bồ Tát khi làm việc bố thí tâm nên vô sở trụ, tức chẳng trụ nơi sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà thí...
“Tâm vô lậu”, điều này có nghĩa rằng “Tâm” vị này hoàn toàn trong sạch, thanh tịnh, sáng suốt, giải thoát không có vướng mắc nơi các quan niệm về sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà làm việc bố thí... Chứ không phải không thấy người thí, không biết vật hoặc việc mình sắp thí. Bồ tát làm việc gì điều thấy và biết rất rõ, nhưng tâm không hề có quan niệm chấp trước, không vướng mắc vào tướng, pháp tướng và phi pháp tướng.
Trả lời câu hỏi 3: Theo con, do nghĩa xuất thế gian mà Phật nói “phước đức này hơn cả phước đức bố thí kia”. Vì nếu có người nam người nữ lòng lành, nghe được bốn câu kệ, hoặc nhiều hơn, ứng dụng tu hành như nghĩa, thành tựu như Pháp, thì công đức của người đó vô lượng vô biên, không thể tính đếm được. Vị tu hành này từ bi, vì người giảng nói thì Công đức này còn hơn rất nhiều phước đức bố thí của thế gian.
Xin Thầy từ bi chỉ dạy thêm! Con chúc Thầy thật nhiều sức khỏe! Trụ thế dài lâu cho chúng con thêm nhiều lợi ích! Vạn lần lạy tạ ân đức Thầy dạy dỗ cho chúng con! Con.
Về Ba Hành Tướng Chúng Sanh
Phật tuyên nói ba hành xứ thuộc về tướng trong một chúng sanh để người tu hành không còn chấp mắc nơi tướng (hình dáng bên ngoài), không còn chấp mắc vào những quan niệm của tướng (pháp tướng), và không còn chấp mắc vào những quan điểm đúng sai của pháp tướng rằng phải thế này hay chẳng phải như thế kia (phi pháp tướng).

Các bạn! ... Sau khi gởi bài Kinh Kim Cang, mình nhận được email của Lý Anh Lạc (Tịnh Hiền). Trong email, Tịnh Hiền có trích một đoạn kinh và thắc mắc ý nghĩa của ba từ: Tướng, pháp tướng và phi pháp tướng.
Đoạn trích kinh Kim Cang như sau: “Vì sao vậy? Những chúng sinh ấy nếu tâm chấp giữ "tướng", tức mắc vào ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả. Nếu giữ lấy "pháp tướng" tức mắc vào ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả. Vì sao vậy? Nếu giữ lấy "phi pháp tướng", tức mắc vào ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả."
Từ lúc nhận được thắc mắc, trong đầu mình hình thành hai câu hỏi để gởi đến các bạn. Khi ý tưởng về hai câu hỏi đã xong, mình lên giường tính đi ngủ nhưng chẳng làm sao ngủ được. Tính hấp dẫn của hai câu hỏi làm mình trạo cử, đành phải lồm cồm ngồi dậy gởi hai câu hỏi đến các bạn, may ra mới ngủ yên!
Đây là hai câu hỏi thuộc dạng không dễ, nếu trả lời được, nó sẽ giúp các bạn thói quen phân tích từ ngữ, giản trạch một pháp, thấy rõ ý nghĩa, nhìn vào tự tâm có thể soi thấu tâm ý thức của chúng sinh, cuối cùng là hình thành phương pháp trả lời bằng cách lập luận để làm sáng tỏ ý nghĩa của từng từ ngữ những điều nêu trong câu hỏi giúp các bạn rất nhiều lợi ích. Hai câu hỏi như sau:
CÂU HỎI TCTT 2016/03 − Về “Ba Hành Tướng Chúng Sanh”
1) Bạn hãy giải thích các từ sau (theo tinh thần đoạn kinh trích dẫn ở trên). − Thế nào là tướng? − Thế nào là pháp tướng? − Thế nào là phi pháp tướng?
2) Bạn hãy “điền vào những chỗ trống” có gạch chấm (.......) trong đoạn văn dưới đây, phỏng theo văn phong của kinh để lập luận, phân tích, nhằm làm sáng tỏ ý nghĩa của ba từ ngữ: Tướng, pháp tướng, phi pháp tướng mà bạn vừa giải thích ở trên.
Đoạn văn như sau: “Này Tịnh Hiền! Nếu bạn thấy một cái ly uống nước để trước mặt. Khi nào bạn ......... gọi là chấp giữ tướng, bạn ......... gọi là giữ lấy pháp tướng, nếu bạn ......... gọi là giữ lấy phi pháp tướng. Khi nào trong lòng bạn còn nắm giữ ba điều này (tướng, pháp tướng, phi pháp tướng), bạn phải biết rằng trong tâm mình hãy còn bốn tướng (tướng nhân, tướng ngã, tướng chúng sinh, tướng thọ giả). Còn kẹt mắc bốn tướng này, chưa thể gọi là người thành tựu Kim Cang tâm”.
Rất mong nhận được các câu trả lời thú vị của các bạn, những câu trả lời xuất sắc sẽ được chia sẻ và tuyên dương trước đại chúng. (30-05-2016)
GỢI Ý… TCTT 2016/03 − Về “Ba Hành Tướng Chúng Sanh”
Các bạn!... Đây là một gợi ý nhỏ, để các bạn làm cơ sở tư duy ý nghĩa của ba chữ “phi pháp tướng”.
Chữ phi trong cụm từ phi pháp tướng, mang ý nghĩa phủ định ý nghĩa pháp tướng (trước đó). Chữ “phi” có thể tạm dịch là “chẳng phải” hay “không phải”. Như vậy, phi pháp tướng được hiểu là chẳng phải pháp tướng đó. Kinh Kim Cang, Phật hay dùng chữ phi. Ví dụ: Chúng sanh, chúng sanh giả, Như Lai thuyết phi chúng sanh, thị danh chúng sanh (tạm dịch: Chúng sanh, chúng sanh đó, Như lai nói chẳng phải chúng sanh, chỉ tạm gọi là chúng sanh). Hy vọng, gợi ý sẽ giúp các bạn tư duy để có thể trả lời đúng khái niệm “phi pháp tướng” trong đoạn kinh đã dẫn. (31-05-2016)
Các bạn!... Hầu hết các HĐ nhầm lẫn “phi pháp tướng” thành “phi pháp”. Phật dạy:"Phi pháp như sừng thỏ lông rùa". Và sừng thỏ lông rùa không có tướng nên chẳng thể gọi là “phi pháp tướng”, cho nên nó thuộc “phi pháp” (tức là cái chẳng thể sinh ra nhận thức nghĩ suy, chỉ có danh mà không có tướng).
Pháp gồm có: Pháp danh, pháp tướng, pháp giới, pháp vị, pháp tánh (một số HĐ nhầm khái niệm pháp tướng thành pháp tánh).
“Tánh” là tính chất bên trong.
“Tướng” là hình dáng bên ngoài, chấp tướng là chấp “hình dáng bên ngoài”. Chấp pháp tướng là chấp vào những “quan niệm về hình dáng bên ngoài”. Chấp phi pháp tướng là chấp rằng, “hình tướng của nó chẳng thể cố định, có thể thế này, có thể thế kia”. Tức là, “nó chẳng phải nhất định phải là tướng đó”.
Chấp tướng, chấp pháp tướng, chấp phi pháp tướng là căn bệnh cố hữu của chúng sinh. Chính ba căn bệnh này là đầu mối của đấu tranh, đúng sai, phiền não và nhân ngã. Kinh Kim Cang ra đời, nhằm giúp người tu hành tịch diệt vĩnh viễn các thứ chấp ấy!
Chữ phi trong Kinh Kim Cang thông thường dùng để phủ định, chối bỏ, phản bác một pháp (cố định) trong hiện hữu (chẳng phải như thế này, chẳng phải như thế kia). Ví dụ: Cái ly chẳng phải tròn mà nó có thể mang một hình tướng khác, nó đi ngược quan điểm về tướng và pháp tướng. Vì thế người chấp vào phi pháp tướng, tức chấp tướng của nó chẳng phải thế này hay chẳng phải thế kia (chẳng cố định). Chấp này cũng rơi vào bốn tướng, không thể giải thoát.
Các bạn! ... Trong Phật đạo, ngoài việc tu tâm còn phải tu trí. Tư duy là một trong những hình thức rèn luyện trí tuệ. Tâm và trí phải được rèn luyện và thành tựu song song với nhau. Nếu chỉ thành tựu tâm mà không có trí, giống như người chỉ có một chân, chẳng thể tiến xa trong đạo pháp. Thuyết thông và tông thông là đôi chân, là hai cánh để người tu hành đi xa, bay cao. Hy vọng, trong tương lai gần, chúng ta sẽ thành tựu đầy đủ hai mặt tâm và trí. (02-06-2016)
Các bạn! ... Có lẽ giờ này mọi người đã hiểu được ba hành xứ thuộc về tướng trong một chúng sanh, đó là hành xứ trụ tướng, hành xứ trụ pháp tướng và hành xứ trụ phi pháp tướng. Phật tuyên nói ba hành xứ này để người tu hành không còn chấp mắc nơi tướng (hình dáng bên ngoài), không còn chấp mắc vào những quan niệm của tướng (pháp tướng), và không còn chấp mắc vào những quan điểm đúng sai của pháp tướng rằng phải thế này hay chẳng phải như thế kia (phi pháp tướng).
Một khi trong lòng không còn ôm giữ những quan điểm dựa vào hình tướng, vị tu hành này sẽ được giải thoát, ra khỏi mọi quan niệm cột trói của thế gian thường tình. Chừng ấy mới có thể phát sinh trí tuệ.
Khi hiểu được ba điều nói trên, việc trả lời câu hỏi số 2 là rất dễ dàng, chỉ cần điền vào chỗ trống là hoàn tất. Việc làm này, nhằm giúp các bạn làm quen với cách trình bày một vấn đề của Phật đạo được trôi chảy, gãy gọn, đúng trọng tâm, giống như phong cách văn kinh. Trôi chảy, gãy gọn, đúng trọng tâm chính là nguồn nước, là dẫn dược đưa Pháp Âm đến tâm người nghe! (04-06-2016)
Thay lời Tựa "Tu Đúng Hay Tu Sai ???"

− Hỏi:
Thưa Thầy Lý Tứ !!! ... Làm thế nào để biết rằng hiện tại ta đang tu đúng hay tu sai ???
(01-08-2019; Bửu Thiện)
֎ Đáp: Một chữ tu, chưa nói được điều gì !!!... Trong đời có rất nhiều phép tu, cách tu... Mỗi phép tu, cách tu đều có con đường (đạo lộ) và đích đến (cứu cánh) riêng của nó... Tất nhiên, con đường này không thể dẫn đến mục tiêu kia !!!... Ví dụ: Muốn đến ngôi làng ở hướng Tây, không thể đi trên con đường dẫn đến hướng Đông, không thể dùng thuốc đau bụng trị nhức răng... và biết rằng, trên đời không hề có một thứ thuốc chữa lành mọi căn bệnh, đây là lí do vì sao Phật đạo có rất nhiều phương tiện !!! ...
Vì thế, chỉ khi nào người ta đưa ra mục tiêu tu tập của bản thân là gì, sau đó mới có thể xét đến con đường người ấy đang đi (đang tu) là đúng hay sai !!!... Giống như (thầy thuốc) có biết người ấy bệnh gì, mới nói rằng thứ thuốc mà bệnh nhân đang uống là đúng hay sai !!!...
Trường hợp câu hỏi của bạn có nội dung, chủ đích thật sự là: Tôi muốn thành tựu các mục tiêu của Phật đạo, làm thế nào để biết rằng những điều tôi đang tu tập trong hiện tại (so với mục tiêu của Phật đạo) là đúng hay sai ???
֎ Mình xin trả lời:
Phật đạo có bốn mục tiêu, hay bốn điều cơ bản ta quen gọi là bốn đế, đó là Khổ đế; Tập đế; Diệt đế và Đạo đế... Người tu hành muốn biết ta tu đúng hay sai, phải căn cứ vào bốn mục tiêu nêu trên !!!... Bốn đế chính là mực thước, là giáo trình tu học từ thấp lên cao của Phật đạo !!!
Nếu trong quá trình tu hành, những phương tiện nào giúp ta lần lượt thành tựu các mục tiêu nêu trên (hết khổ, dứt tập, chứng diệt, tu đạo), giúp ta nắm vững giáo trình tu tập của từng giai đoạn, ...v..v... thì biết chắc rằng, con đường ta đang đi là đúng !!!
Ngược lại, con đường nào, không giúp ta thành tựu một hay những điều đã nêu, không giúp ta thông suốt giáo trình tu tập trước mắt, nhất định bản thân phải coi lại phương tiện mình đang tu học !!!... Cụ thể bốn mục tiêu của Phật đạo như sau:
Mục tiêu thứ nhất, hết Khổ.
Mục tiêu này khi đạt được, tám món khổ nhân sinh là: Sanh khổ; Lão khổ; Bệnh khổ; Tử khổ; Ái biệt ly khổ; Oán tắng hội khổ; Cầu bấc đắc khổ và cuối cùng là Ngũ ấm xí thịnh khổ... Sẽ giảm thiểu đến mức thấp nhất, hoặc chấm dứt vĩnh viễn !!! (Bạn có thể tìm hiểu ý nghĩa của tám món khổ này trên Google).
Mục tiêu thứ hai, dứt Tập.
Sau khi hết khổ, người tu hành trong Phật đạo phải tinh tấn giải quyết mục tiêu thứ hai, đó là chấm dứt phiền não, kiết sử, lậu hoặc !!!... Thành tựu mục tiêu này, “Vô Lậu Quả” sẽ xuất hiện !!!
− Vô lậu là: Phiền não, kiết sử và ngu si không còn rỉ chảy làm che mờ tâm trí !!!
− Phiền não gồm bốn món là: Kiến nhứt thiết xứ phiền não trụ địa; Dục ái phiền não trụ địa; Hữu ái (hay Sắc ái) phiền não trụ địa và Vô minh ái phiền não trụ địa !!!
− Kiết sử gồm mười món là: Tham; sân; si; mạn; nghi; thân kiến; biên kiến; kiến thủ; giới cấm thủ và tà kiến !!!
− Lậu hoặc gồm ba cảnh giới: Dục lậu; hữu lậu và vô minh lậu !!!
− Ngu si hay vô minh thế gian gồm: Nhuận chi vô minh và Căn bản vô minh; Vô minh xuất thế có Vô minh trụ địa !!!
Mục tiêu thứ ba, chứng Diệt.
Mục tiêu này thuộc về Xuất Thế gian... Có nghĩa, sau khi đã thanh toán hai mục tiêu trên, tâm và trí người tu hành lúc này không còn u tối, như trời hết mây, như người hết mù !!!... Bây giờ sẽ được Thiện Tri Thức khai thị để vị ấy thấy được Bổn Tâm và Bổn Tánh, nói nôm na là “minh tâm kiến tánh”!!! ... Sau khi thấy hai thứ ấy, vị tu hành hoàn thành mục tiêu tự độ, gọi là chứng Diệt đế hay thành tựu Xuất Thế Gian Pháp !!!
Mục tiêu thứ tư, tu Đạo.
Sau khi phần tự cứu đã xong... Vị tu hành tiếp tục tinh tấn để đạt được mục tiêu còn lại của Phật đạo, đó là: Học trí tuệ để giúp người, ta quen gọi là học Nhất Thiết Trí hay học Bát Nhã Trí, giống Thiện Tài Đồng Tử hay Tát Đà Ba Luân ngày xưa đi học được ghi lại trong kinh !!!... Học xong Đạo đế, người này thành tựu đạo quả Xuất Thế Gian Thượng Thượng (Xem kinh Đại Niết Bàn) !!!
Ta có thể hiểu sự học của giai đoạn này giống như người đã học xong Phổ Thông Trung Học, nay tiếp tục học Sư Phạm để có thể đi làm Thầy giáo !!!... Hoặc giống như người đã tìm được một khối vàng cực lớn, nay đi học nghề Kim Hoàn để tự thân có thể làm thành các món trang sức như cà rá, dây chuyền, ...v..v... đem ra nhân gian bố thí theo sở thích của từng người !!!
Hy vọng, những giải thích trên, có thể giúp bạn tự nhận biết con đường mình đang đi là đúng hay sai !!!...
Các bạn !!!... Hỏi và đáp là một nghệ thuật, Phật thường hay khen ngợi người khéo hỏi và kẻ khéo trả lời... Vì thế, nếu ta đưa ra câu hỏi không cụ thể, chủ đích không rõ ràng, câu hỏi chung chung, ...v..v... sẽ khó nhận được câu trả lời thoả đáng !!!
Chúc các bạn an vui, tinh tấn !!!
(01-08-2019)
LÝ TỨ