Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời số 36.2026 với chủ đề: Giải Thích Một Vài Điểm Trong Sách Phật Giáo Và Thiền !!!
Các bạn !!!
Mình nhận được thắc mắc của bạn đọc Dương Việt Dũng ở Bắc Ninh liên quan đến cuốn Phật Giáo Và Thiền đã hai ngày rồi...Nhưng bận quá, hôm nay mới trả lời được, mong Việt Dũng thông cảm...!!!
Việt Dũng thân mến !!!
Sách Phật Giáo Và Thiền được viết vào những năm 2010 dùng làm tài liệu học tập cho HĐ Lý Gia, vì thế nội dung mang tính giáo khoa cũng như thiên về kĩ thuật và chuyên môn hoá các vấn đề...Do đó, để có thể hiểu và ứng dụng thông suốt các kiến thức trong sách, rất cần được hướng dẫn, giải thích đến nơi đến chốn...!!!
Việc tự đọc Phật Giáo Và Thiền, đòi hỏi cần có một nền tảng Phật học vững chắc...Nếu không, rất dễ rơi vào bẫy rập ngữ ngôn thế tục bởi người đọc chủ quan, dùng tri thức thế gian soi chiếu đạo xuất thế...Việc mà, ta vẫn thường bắt gặp từ đa số người tu hành...!!! Đây cũng là lí do vì sao chuyên mục thường xuyên nhận được thắc mắc từ độc giả liên quan đến cuốn sách này...Đơn cử là, phản biện của học giả Chân Thiền cách đây không lâu...!!!
Sau ba năm ròng rã (đầu 2023-cuối 2025) của lớp Giáo Pháp Tổng Hợp (Lý Gia), mình đã triển khai, thảo luận sách Vô Đối Môn cho HĐ Lý Gia...!!! Theo kế hoạch, khoảng hạ tuần tháng Giêng năm 2026, mình và HĐ Lý Gia bắt đầu triển khai, thảo luận cuốn Phật Giáo Và Thiền...Thời gian dự kiến cũng từ hai đến ba năm...!!! Nêu những điều này, để Việt Dũng và bạn đọc thấy rằng, việc học tập một tài liệu nào đó của HĐ Lý Gia kĩ lưỡng đến chừng nào...Nếu thấy thích thú với việc sinh hoạt như vậy, Việt Dũng và bạn đọc có thể tham gia học tập cùng chúng mình để không còn thắc mắc về cuốn sách cũng như các vấn đề khác trong Phật đạo...!!!
Sau đây là nội dung thư của Việt Dũng:
"Kính gửi tác giả Lý Tứ,
Sau khi đọc một số bài trong "Phật Giáo và Thiền", con xin được thầy chỉ dạy các vấn đề sau:
1. Xin thầy giải thích rõ hơn vì sao Thiền là "thuộc tính" duy nhất của giáo lý Phật giáo so với các pháp môn khác?
2. Những trạng thái an tịnh khi hành giả tọa thiền lúc chưa giác ngộ thực chất là gì, nếu Thiền chỉ là "hệ quả của giác ngộ"?
3. Làm sao để dung hòa giữa việc "dựa trên kinh điển" như Thầy nhấn mạnh và tinh thần "bất lập văn tự" của Thiền tông?
4. Phân biệt rõ sự khác nhau giữa "Biết" (thức) và "Thấy" (trí) trong tiến trình nhận thức đúng đắn?
5. Nguyên nhân sâu xa của việc phân chia tông phái sau thời Đức Phật và con đường nào để tiếp cận phương pháp "Thiền" gốc của Ngài?
Kính chúc Thầy Lý nhiều sức khỏe!
20/01/2026 - 14:46:18 - Dương Việt Dũng - Bắc Ninh" (Hết thư)
Về các thắc mắc của Việt Dũng, mình xin được trả lời như sau:
- Hỏi:
1. "Xin thầy giải thích rõ hơn vì sao Thiền là "thuộc tính" duy nhất của giáo lý Phật giáo so với các pháp môn khác?"
- Trả lời:
Phật dạy trong kinh Lăng Già, đại ý có bốn loại Thiền gồm: Ngu Phu Sở Hành Thiền; Phan Duyên Như Thiền; Quán Sát Nghĩa Thiền và Như Lai Thiền...!!!
* Ngu Phu Sở Hành Thiền và Phan Duyên Như Thiền là hai loại Thiền thế gian...Tức người thế gian (không giác ngộ) chấp một sở pháp hoặc cảnh giới (hay văn tự) để tu Thiền...Cho nên, hai loại Thiền này trong quá trình công phu tuy có "được thiền", nhưng không thể thành tựu các mục tiêu của đạo pháp (vô lậu, xuất thế)...Giống như, một người không thể tự nắm tóc của mình để nhấc bản thân lên khỏi mặt đất...!!!
* Quán Sát Nghĩa Thiền và Như Lai Thiền là hai loại Thiền chính thống của đạo pháp, tạm gọi Xuất thế gian thiền...!!! Quán Sát Nghĩa Thiền là loại Thiền, người học giáo pháp sau khi thấm nhuần nghĩa lí, có được Giác lực và Huệ lực...Vị này dùng Huệ lực xuyên phá tâm thức, xuyên phá thành công, tự được Thiền (hỉ lạc, khinh an, định tĩnh..vv...)...!!! Như Lai Thiền là loại Thiền...Người tu hành từ quá trình học tập, trong một cơ duyên đặc biệt nào đó, được đạo sư khai thị, tâm thức bừng sáng, Thiền tự sanh...!!!
Thất Giác Chi là một nhánh trọng yếu của Quán Sát Nghĩa Thiền !!! Bất lập văn tự của Thiền môn xuất phát từ Như Lai Thiền...!!!
Đây là lí do vì sao, sách Phật Giáo Và Thiền nói rằng: Thiền của Phật đạo là thuộc tính của giáo lý...Nói khác hơn, Thiền của Phật đạo là hệ quả tất yếu của giác ngộ...Thiền này khác hẳn Thế gian thiền (Các loại Thiền từ công phu)...!!!
- Hỏi:
2. "Những trạng thái an tịnh khi hành giả tọa thiền lúc chưa giác ngộ thực chất là gì, nếu Thiền chỉ là "hệ quả của giác ngộ"?"
- Trả lời:
An tịnh khi toạ thiền của người chưa giác ngộ, giống bệnh nhân uống thuốc giảm đau, tạm thời không thấy đau nhức...!!! An tịnh của người giác ngộ được thiền, giống như an vui khi bệnh nhân đã hoàn toàn hết bệnh...!!!
- Hỏi:
3. "Làm sao để dung hòa giữa việc "dựa trên kinh điển" như Thầy nhấn mạnh và tinh thần "bất lập văn tự" của Thiền tông?"
- Trả lời:
Xem hai loại thiền là Quán Sát Nghĩa Thiền và Như Lai Thiền ở câu hỏi số một (1)...!!!
- Hỏi:
4. "Phân biệt rõ sự khác nhau giữa "Biết" (thức) và "Thấy" (trí) trong tiến trình nhận thức đúng đắn?"
- Trả lời:
a) Biết của thức: Suy lường, hữu lậu, hữu vi, phiền não, trói buộc, sanh diệt, vô thường...!!! Thấy của trí: Trực nhận, vô lậu, vô vi, an vui, giải thoát, bất động, thường hằng...!!!
b) Nhận thức đúng đắn (như pháp), thức chuyển thành trí...Suy lường (phân biệt) của mê chuyển thành trực nhận, sáng suốt của tuệ...!!!
- Hỏi:
5. "Nguyên nhân sâu xa của việc phân chia tông phái sau thời Đức Phật và con đường nào để tiếp cận phương pháp "Thiền" gốc của Ngài?"
- Trả lời:
a) Không thật sự thấu suốt giáo pháp...!!! Giống như không thật sự rành y học để tuỳ bệnh cho thuốc, buộc phải dùng thuốc gia truyền...đau...gì...cũng...dán...!!!
b) Phải học tập chánh pháp và giác ngộ...!!!
Hi vọng, những trả lời vừa rồi, có thể giúp Việt Dũng và bạn đọc giải toả những thắc mắc đã nêu...!!! Chúc mọi người an vui, tinh tấn...!!!
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
22/01/2026
LÝ TỨ

GIẢI THOÁT LỰC LÀ GÌ ???
Người thành tựu Giải thoát lực sẽ sở hữu hai thứ lực, đó là nội lực và ngoại lực! Nội lực, người này không bị trói buộc bởi nghiệp, ngũ ấm, ba cõi và các pháp! Ngoại lực, người này có sức ảnh hưởng đến người khác bằng Giải thoát hương!

Các bạn!
Buổi sinh hoạt trực tuyến vừa rồi, có bốn câu hỏi được đặt ra:
1) SĐ Lý Chánh Bảo đã hỏi như sau: “Người tu hành thành tựu địa vị Sanh Quý Trụ, có được coi là một Phật tử hay chưa? Và, địa vị này thuộc về đế nào của Tứ Đế?”
2) SH Lý Vĩnh Hưng đã đặt câu hỏi: “Người tu hành giải quyết hết 70% đến 80% Khổ Đế và Tập Đế, có được coi là người giác ngộ trong Phật đạo hay không?”
3) SĐ Lý Giác Quyền hỏi: “Xin đại chúng giải thích ý nghĩa câu: Ai biết lý duyên khởi, sẽ biết được pháp?”
4) ST Lý Thiện Hoan hỏi: “Giải thoát lực là gì? Điều kiện để người tu hành thành tựu giải thoát lực?”
Về bốn câu hỏi trên, các câu hỏi của Lý Chánh Bảo, Lý Giác Quyền, Lý Vĩnh Hưng đã được đại chúng trả lời thỏa đáng! Riêng câu hỏi của ST Lý Thiện Hoan cũng đã được đại chúng mổ xẻ tích cực! Tuy nhiên, mình xin đóng góp thêm một vài ý kiến nhỏ như sau:
1. a) Giải thoát lực là gì?
Trả lời:
Một người tu hành đúng chánh pháp, trong quá trình tiến về Vô thượng quả sẽ cho ra năm thứ lực đó là:
Giác lực, Định lực, Huệ lực, Giải thoát lực và Bát nhã lực... Các lực này tương đương với năm phần hương vô lậu là: Giới vô lậu hương, Định vô lậu hương, Huệ vô lậu hương, Giải thoát hương và Giải thoát tri kiến hương!
- Giác lực: Là một loại sức mạnh từ tâm thức do “Chánh pháp nhiếp thọ” làm nên! Người thành tựu lực này, sẽ không còn mê mờ trước cảnh duyên... Từ đó, tám món khổ nhân sinh và phiền não, kiết sử, lậu hoặc giảm thiểu đến mức thấp nhất!
- Định lực: Đây là loại lực do Giác lực làm nên! Người thành tựu lực này, tâm thức không còn rong ruổi theo tiền cảnh!
- Huệ lực: Người thành tựu lực này, biết rõ con đường nào đưa đến hữu lậu, con đường nào đưa đến vô lậu! Viên mãn Huệ lực, thành tựu đạo quả Vô lậu, đặt một chân vào Đạo xuất thế!
- Giải thoát lực: Là loại sức mạnh tâm trí được hình thành sau khi viên mãn Huệ lực! Sử dụng Huệ lực như một công cụ tối ưu để phân tích đến tận nguồn cơn một pháp bất kì nhằm tiến về Đạo giải thoát! Người thành tựu Giải thoát lực sẽ sở hữu hai thứ lực, đó là nội lực và ngoại lực! Nội lực, người này không bị trói buộc bởi nghiệp, ngũ ấm, ba cõi và các pháp! Ngoại lực, người này có sức ảnh hưởng đến người khác bằng Giải thoát hương!
- Bát nhã lực: Lực này thành tựu trong quá trình học Nhất thiết trí và viên mãn sau khi đăng cửu địa (Thiện huệ địa), thiện xảo khi thị hiện Pháp vân địa! Người viên mãn Bát nhã lực cũng thành tựu hai thứ lực gồm nội lực và ngoại lực! Nội lực (thành tựu Tông thông), thấu suốt các Tam muội môn và Giải thoát môn của chư Phật! Ngoại lực (thành tựu Thuyết thông), có thể dùng thần thông ngôn thuyết đưa người tu hành du hí qua tất cả các cảnh giới trong một niệm, và khiến họ thành tựu trí tuệ như mình!
1. b) Điều kiện để thành tựu Giải thoát lực?
Trả lời:
- Đối với Nhị thừa: Muốn thành tựu Giải thoát lực, người này phải xả bỏ những thành tựu có được của bản thân như: Xuất gia, giữ giới, thiền định, tri kiến! Sau khi xã bỏ những thành tựu đó, cơ hội chứng “Giải thoát Bất động” mới hiện! Thành tựu Giải thoát Bất động, Giải thoát lực sẽ tự được! [xem kinh Lõi Cây]!
- Đối với Bồ tát thừa: Phải thành tựu viên mãn Giác lực, Định lực và Huệ lực, sau đó thêm một lần giác ngộ Bổn tâm Bổn tánh [Minh tâm kiến tánh]!
Các bạn!
Mình xin lược ghi một vài ý kiến bổ sung sau phần trả lời của đại chúng từ buổi sinh hoạt!
Chúc mọi người an vui, tinh tấn!
28/08/2021
LÝ TỨ

SÁCH NÓI - PHẬT GIÁO VÀ THIỀN - PHẦN 2 - TÁC GIẢ LÝ TỨ !!!

SÁCH NÓI - PHẬT GIÁO VÀ THIỀN - PHẦN 2 - TÁC GIẢ LÝ TỨ !!!
Xuất bản: NXB Dân Trí !!!
Phát hành: MinhThangBooks !!!
Đọc: Lý Lê Anh !!!
GIỚI THIỆU SÁCH MỚI ANH LẠC LUẬN - TẬP 2 - LÝ TỨ

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI
ANH LẠC LUẬN - TẬP 2 - LÝ TỨ
TU PHƯƠNGTIỆN BA LA MẬT
(Trích Anh Lạc Luận 2 - Sắp xuất bản)
Các bạn!!!
Thỉnh thoảng, trong lúc rỗi rảnh, ngồi xem truyền hình trực tiếp đưa tin và hình ảnh tranh tài Sea Game 28 được tổ chức tại Singapore. Trong khi xem các vận động viên thi đấu, mình liên tưởng đến nhiều điều trong Phật Đạo.
Theo mình biết, để trở thành một VĐV đến thi đấu tại cuộc tranh tài này, bản thân mỗi VĐV đó phải "khổ luyện" không dưới mười năm, điều này khiến mình nghĩ đến con đường tu hành. Để tham dự một trò chơi nhân gian, người ta phải khổ luyện như vậy, chẳng lẽ con đường hàng phục tự thân dẫn đến trí tuệ trong Phật Đạo lại có thể một sớm một chiều. Vì thế, có thể nói, để thành công trong một lãnh vực bất kỳ nào đó, khổ luyện là một trong những điều không thể thiếu.
Tất nhiên, khổ luyện cơ bắp để trở thành một VĐV thể thao không giống khổ luyện trí tuệ. Một bên rèn luyện thân thể, một bên rèn luyện tâm trí, hai lãnh vực này hoàn toàn khác nhau về cách thức và phương pháp. Nhưng cho dù khác nhau về cách thức và phương pháp rèn luyện, hai thứ này đều có một mẫu số chung đó là: Phải "khổ luyện" mới thành công.
Bản thân mình ngày xưa, phải mất trên 20 năm âm thầm tu tập, rèn luyện tâm trí. Ngày đó, có những nan đề trong Phật Đạo phải đầu tư mất nhiều năm trời. Để giải quyết những điều như vậy, mình nỗ lực không ngừng nghĩ, với niềm tin sâu sắc, với ý chí kiên cường, vùi đầu vào khổ luyện. Và điều gì đến nhất định phải đến, sau thời gian dài rèn luyện, cho đến lúc hoát nhiên và tự biết rằng: “Phật Đạo không còn gì bí ẩn đối với tự thân, bây giờ mới bước ra làm quen với các HĐ” !!!
Ngày xưa, mình không được may mắn như các bạn hôm nay, mọi thứ phải "tự thân vận động". Trước mặt là vô số kinh điển, trước mặt là một mớ hổn tạp giữa thế gian và Đạo Pháp, bản thân phải tự vượt qua những thứ này.
Mình nhớ lại, trên hai mươi năm như vậy, ngày cũng như đêm, Phật Pháp và những câu hỏi về Phật Đạo không rời khỏi tâm trí, bất kỳ thức hay ngủ. Thậm chí trong lúc mệt quá thiếp đi, những câu hỏi về Phật Đạo cũng hiện lên trong giấc mơ. Nói như vậy, để các bạn có thể tạm hình dung ra thế nào là "sự khổ luyện" trong Đạo Pháp, nhờ khổ luyện như vậy mà hiện tại bản thân mới có được một vài thành tựu nhỏ nhoi của ngày hôm nay.
Hiện tại, các bạn có thể coi là may mắn hơn mình ngày trước. Mọi nan đề, mọi ý nghĩa của Phật Đạo đã được mình chia sẻ với các bạn gần như tất cả. Các bạn không cần phí nhiều thời gian mất công tìm hiểu ý nghĩa, chỉ cần lật tài liệu, hoặc trực tiếp gặp là đã có lời giải đáp. Điều này giúp các bạn đốt giai đoạn rèn luyện mà vẫn thấu hiểu, điều này giúp các bạn không phải "chạy loanh quanh" trong những ý nghĩa vô bổ mất thời gian như mình ngày xưa.
Bây giờ phần việc còn lại của các bạn chỉ là, ứng dụng những ý nghĩa đã trao đổi với nhau vào đời sống tu hành để thành tựu cho tự thân. Đây là phần việc, theo mình thì: Rất đơn giản, chỉ cần gắng sức là thành công!!! Nếu có khổ luyện thì không phải gian nan như mình ngày ấy.
Mọi thứ đã có sẵn, mọi ý nghĩa đã có lời giải đáp.
Mấy hôm nay, trong những lần trao đổi với HĐ. Một số đề tài được đem ra thảo luận, trong đó có hai đề tài được chia sẻ nhiều nhất. Đó là:
1) Phương pháp tiếp cận đối tượng và phương pháp tu phương tiện Ba La Mật !!!
Để tiếp cận thành công một đối tượng. Ngoài việc phải có một số vốn kiến thức về đời và đạo nhất định, kế đến tự thân phải thành tựu chiều sâu nội tâm cần thiết... Bản thân cũng phải khéo léo trong ứng xử, biết quan sát và đánh giá đúng đối tượng. "Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng" lời đúc kết của người xưa không phải vô cớ.
Phần lớn HĐ chúng ta đã bỏ qua yếu tố "biết mình biết người". Không quan sát và đánh giá đúng mức đối tượng, không nắm vững trong thâm sâu người kia cần gì??? Vì thế, các cuộc nói chuyện phần lớn là những buổi nói chuyện dàn trải, không có trọng tâm, không đạt yêu cầu. Nó giống như trong kinh tế, ta bán thứ mình có mà không bán cái thị trường cần, kinh doanh như thế, phá sản là chuyện tự nhiên.
Mình nhớ hình như trước đây hai năm, trong một loạt emails nào đó, chúng ta có bàn luận về đề tài "Phục Tâm Chế Mạng". Nếu nghiền ngẫm loạt bài này, nhất định các bạn sẽ tự tìm ra phương pháp tốt nhất để tiếp cận một đối tượng.
2) Bán cái thị trường cần !!!
Trong kinh doanh, một vấn đề cơ bản được coi là tất yếu để tiến đến thành công. Đó là, người bán phải bán cái thị trường đang cần. Phần lớn chúng ta lại làm ngược quy luật này, đó là: Cái mà người cần mua thì ta lại không có, điều này đồng nghĩa với việc "thất bại trước khi bước ra chợ".
Để có nguồn hàng dồi dào cung ứng cho thị trường, người kinh doanh phải đi tìm và sở hữu tối đa nguồn hàng đó. Trong Phật Đạo, nhằm giải quyết yêu cầu hoằng pháp, cũng như giúp Bồ Tát hoàn thành tâm nguyện, Phật dạy các Bồ Tát phải tu "Phương Tiện Ba La Mật". Phương Tiện Ba La Mật, chính là phương thức sản xuất, chính là đi tìm nguồn cung ứng, chính là tận tay sở hữu các mặt hàng mà thị trường đang có nhu cầu.
Nếu đọc các Kinh Giáo Bồ Tát các bạn sẽ thấy, Thế Tôn và vô số vô vi Bồ Tát vân tập ở một địa điểm nào đó, tuyên thuyết, mổ xẻ, thảo luận các đề tài trong Phật Đạo. Hình ảnh này, chính là Thế Tôn đang dạy cho các Bồ Tát tu tập Phương Tiện Ba La Mât.
3) Tu phương tiện Ba La Mật bằng cách !!!
Bồ Tát đặt ra các câu hỏi, đưa ý nghĩa một đoạn kinh, lập một tình huống giáo hoá giả định... Tự thân tập trả lời các câu hỏi đó, tập phân tích và cắt nghĩa đoạn kinh đó như pháp. Tập và phản biện đến bao giờ không còn một phản biện nào có thể bẻ gãy lập luận cũng như ý nghĩa mà Bồ Tát tuyên thuyết. Khi đó, mới được coi là thành tựu một Phương Tiện Ba La Mật. Và tiến trình tu tập này chỉ dừng lại, khi nào tất cả mọi vấn đề trong Phật Đạo được giải quyết rốt ráo và thoả đáng.
Tất nhiên, muốn thành tựu pháp tu này. Vị Bồ Tát phải có một chiều rộng nhất định và một chiều sâu cần thiết. Chiều rộng nhất định, giống như nguồn nguyên liệu dồi dào, chiều sâu cần thiết giống như một nhà máy tối tân. Có được hai điều này, việc cho ra một sản phẩm như ý không còn là vấn đề.
Trong lúc tu Phương Tiện Ba La Mật, chính là lúc ta có đủ thời gian để "tập hợp các kiến thức" biến thành một kiến thức tốt nhất. Nó giống như trong vô số mũi khoan, ta chọn một mũi khoan tốt nhất, đạt yêu cầu nhất để khoan thủng một vật. Nếu không làm như vậy, thì với vô số kiến thức đã có, ta không biết chọn kiến thức nào để trao cho người. Điều này giống như một người đem nhiều mặt hàng ra chợ, có người hỏi mua, người bán không biết mặt hàng nào để mà bán.
Trong lúc tu Phương Tiện Ba La Mật, chính là lúc thực tập kỹ năng truyền đạt kiến thức, thực tập kỹ năng "đánh mạnh thắng gọn". Thiếu các kỹ năng này, giống như người dùng lạt yếu buộc trâu, dùng dây thừng trói gà... sẽ vô tác dụng!!!
Trong lúc tu Phương Tiện Ba La Mật, chính là lúc ta thực tập kỹ xảo ứng xử, kỹ xảo biến hoá. Giống như nơi hư không mà Thế Tôn có thể biến hoá ra vô lượng pháp lành. Thiếu các kỹ xảo này, giống như nhà ảo thuật đem lửa thật đốt nhà, đem cưa máy cưa một người, sẽ là rất vô lý và thất bại trong nghề nghiệp.
Các bạn!!!
Đối với Phật Đạo, mọi thứ đang nằm trong tay các bạn. Cho đến giờ này, hầu như các bạn đã được trang bị không thiếu một thứ gì: Từ giáo trình (PG&T), kiến thức (ALL1&2), phương pháp đã được viết trong Tâm Pháp (TP). Cái còn lại có thể giúp các bạn thành công, đó là ý chí và sự khổ luyện. Chỉ có ý chí kiên cường và sự khổ luyện không mệt mỏi, mới thật sự là chiếc chìa khoá đưa các bạn đến thành công.
Thế gian có câu nói, có lẽ chúng ta nên suy gẫm: "Con đường đưa đến thành công không có dấu chân của những kẻ lười biếng và không ý chí"!!!
13-06-2015
LÝ TỨ
- LÝ HƯƠNG GIANG VÀ LÝ ANH TUẤN MỜI HĐ LÝ GIA KHI NÀO HẾT DỊCH NGAO DU HẠ LONG VÀI NGÀY !!!

KINH GIẢ KINH THẬT
Các bạn !!!
Trong hai lần sinh hoạt vừa rồi, mình đã trao đổi với mọi người một số vấn đề liên quan đến quá trình phát triển của Phật đạo trong suốt hơn 2500 qua, cũng như câu chuyện mà phần lớn người tu hành quan tâm hiện nay, thậm chí dẫn đến những tranh luận gay gắt đó là “kinh thật kinh giả” !!!
Như mọi người đều biết !!! Giáo pháp mà chúng ta đang học tập hôm nay, là thứ chân lí đã được Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni phát hiện và tự chứng ngộ cách đây trên 2500 năm !!! Sau khi tự chứng ngộ, giáo pháp siêu việt ấy đã được Đức Bổn Sư tuyên thuyết, và chính tính chất ưu việt đó, giáo pháp của Đức Phật chẳng những không bị đào thải theo quy luật thời gian, mà lại phát triển rực rỡ theo tháng năm !!! Thậm chí, nó đã trở thành thức ăn tinh thần, một loại văn hoá, một nền giáo dục, một tôn giáo có bản sắc riêng..vv.. đối với một bộ phận rất lớn nhân loại trên thế giới này !!!
Nhưng, cũng chính sự phát triển nêu trên, điều tất yếu đã xảy ra đối với giáo pháp theo quy luật tự nhiên, như quy luật phát triển của một cái cây, ban đầu chỉ một hạt giống được gieo trồng, sau thời gian, cây ấy phát triển, cành nhánh sum sê…và ngày cành nhánh càng xa gốc rể của nó…Và, sự phát triển rồi suy tàn này cũng đã được Đức Thế Tôn đưa ra dự ngôn, đó là ba thời kì của giáo pháp gồm chánh pháp, tượng pháp và mạt pháp !!!
Ngày Thế Tôn tự chứng ngộ giáo pháp, ngày ấy ta tạm coi như không thừa !!! Nhưng, để lan truyền giáo pháp một cách rộng lớn, giáo pháp rất cần những con người am tường chân lí để làm cây cầu nối giữa đạo và đời, Phật thừa lại xuất hiện… Bây giờ Thế Tôn phải đảm nhận hai vai trò vừa là một Bồ tát giáo hoá chúng sanh, vừa là một Đẳng chánh giác như một hình mẫu để chúng sanh chiêm ngưỡng, kinh Hoa Nghiêm đã khái quát hình ảnh này bằng lời dạy bất hủ: “Tinh tấn là Bồ tát, viên mãn là Phật” !!!
Nhưng rồi, chỉ với giáo pháp của một Phật thừa, không thể truyền tải hết tinh tuý của giáo pháp ấy đến với những căn cơ sai biệt… Từ đây, ba thừa là Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát thừa xuất hiện !!! Sự xuất hiện của ba thừa cho thấy tính linh hoạt của giáo pháp và sức thiện xảo của Thế Tôn, câu nói: “Như lai dùng một thứ ngôn thuyết, nhưng mỗi thừa lại hiểu theo nghiệp riêng của mình” đã minh chứng cho sự khác biệt về cách hiểu giáo pháp qua tâm trí từng thừa !!!
Và, không dừng lại ở ba thừa !!! Trong quá trình “xã hội hoá Phật giáo”, để đáp ứng yêu cầu hoằng truyền, để xoa dịu nổi đau và giúp chúng sanh hướng đến sự thiện lương… Bây giờ, Nhân và Thiên thừa có mặt trong hệ thống giáo dục của giáo pháp như một lẽ tất yếu !!! Tuy rằng, Nhân thiên thừa mang dáng dấp của Thế gian đạo, nhưng nó là những hoa trái cuối mùa, làm tăng nét lung linh của giáo pháp trên thân Bồ đề thọ !!!
Cũng chính sự phát triển rộng lớn, một khác biệt khác không thể không nhắc đến là, những thực vật dị chủng đang kí sinh trên thân Bồ đề thọ… Như một cái cây khi phát triển, khó tránh khỏi những thực vật dị chủng kí sinh trên nó !!! Đó là năm chủng tánh vô gián kí sinh trong giáo pháp !!! Năm chủng tánh kí sinh gồm: Thanh văn thừa vô gián chủng tánh, Duyên giác thừa vô gián chủng tánh, Bồ tát thừa vô gián chủng tánh, Ngoại đạo vô gián chủng tánh và Bất định chủng tánh !!!
Cuối cùng, năm thừa và năm chủng tánh vô gián nêu trên, trở thành nhân tố làm cho hệ thống giáo dục Phật giáo vốn nhất quán trở nên dị biệt, vốn thuần tuý minh triết trở thành thần bí, vốn đầy đủ tính chất lí trí trở thành thứ công phu vận luyện mang tính cơ bắp…!!! Đây cũng là lí do vì sao, Phật và chư Hiền Thánh xưa chỉ mất một vài tháng, một vài năm là có thể chứng ngộ giáo pháp, còn hôm nay, chúng ta bỏ công một đời mà sự chứng ngộ ấy tưởng chừng chuyện của ai đó chứ chẳng phải của chúng ta….!!!
Như mọi người đều biết, ngày Thế Tôn còn tại thế, những lời dạy của Ngài chủ yếu là truyền miệng !!! Mà đã là truyền miệng thì khó đảm bảo rằng một mẫu chuyện, một triết lí được giáo huấn bởi người Thầy đầu tiên, sau năm ba thế hệ nghe và kể lại, câu chuyện ấy, triết lí ấy còn trung thực với ý nghĩa ban đầu !!! Chưa nói đến chuyện sức lãnh hội của người nghe, sự thể nhập của đa số quần chúng được nghe thông qua lỗ tai và tâm trí của năm thừa cùng năm chủng tánh sai biệt !!!
Căn cứ vào những gì lịch sử ghi lại !!! Kinh điển của Phật giáo ít nhất được kết tập đến sáu lần, dưới sự bảo trợ của giới cầm quyền vào những thời kì lịch sử khác nhau và gồm những thể chế chính trị khác nhau !!! Sự bảo trợ từ giới cầm quyền, xét đến cùng, cho dù thể chế đó có yêu thích, kính trọng Phật đạo đến thế nào đi nữa thì những gì được tuyên thuyết, biên chép lại nhất định cũng phải phù hợp với thể chế chính trị đó, phải phù hợp với chủ trương “trị quốc an dân” của thời kì lịch sử đó !!! Chưa nói, xu hướng tu tập, mức độ thân chứng, khả năng ghi nhớ, khách quan trong biên tập..vv…của những vị tham dự đại hội là như thế nào ???!!! Ngoài hai việc trên, sự xuất hiện rải rác các bộ kinh do những cá nhân ghi lại qua các chuỗi thời gian khác nhau cùng sự thêm bớt một cách chủ quan, có ý đồ… của người biên tập, cũng khó tránh khỏi những thiên lệch đối với những gì đã được biên chép !!!
Ta thấy:
“Một trăm năm sau Cuộc Kết Tập Lần Thứ Nhất, một cuộc hội họp lớn của Phật Giáo được triệu tập. Có một số tài liệu cho rằng cuộc hội họp nầy xảy ra 110 NĂM sau khi Phật nhập diệt. Dù thế nào, vào khoảng thời gian ấy, Tăng Ðoàn Phật Giáo chia làm hai nhánh chính, một nhánh được gọi là Theravada hay Thượng Tọa Bộ và nhánh thứ hai là Mahasanghika hay Ðại Chúng Bộ…” (theo Wikipedia) !!! Phật giáo đã phân hoá từ đây !!!
Hay:
“Vua Ajatasattu (A-xà-thế) bảo trợ kỳ kiết tập lần thứ nhất. Kỳ kiết tập này được triệu tập vào 544 (tr.TL) tại động Satiapanni nằm bên ngoài Rajagaha (Vương Xá) ba tháng sau Đức Phật diệt độ. Một miêu tả chi tiết về hội nghị lịch sử này có thể tìm thấy ở trong Cullavagga (Tiểu phẩm) của Luật tạng. Theo tài liệu này, sự việc khiến Trưởng lão Mahakassapa triệu tập hội nghị này là ngài nghe được một nhận xét đáng buồn về luật lệ sống nghiêm khắc dành cho Tăng sĩ…” (theo Wikipedia) !!!
Và:
-“Kỳ kiết tập thứ hai được tổ chức 100 năm sau Đức Phật nhập Niết-bàn để giải quyết một tranh cãi nghiêm trọng về “mười điều”. Điều này đề cập đến một số tu sĩ phạm phải mười giới khinh. Chúng được liệt kê như sau:
1. Chứa muối trong ống bằng sừng.
2. Ăn sau ngọ.
3. Ăn một lần rồi và sau đó lại đi đến một ngôi làng khất thực.
4. Thực hiện lễ Bố-tát (Uposatha) cùng với các vị Tăng ở cùng một trú xứ.
5. Nghị quyết pháp sự khi hội chúng không đầy đủ.
6. Thực hành một số việc mà chúng được Hòa thượng hay giáo thọ sư trước đó làm.
7. Ăn sữa chua/ sữa hòa nước sau giờ ngọ.
8. Uống thức uống (nước trái cây) lên men (để trị bệnh).
9. Sử dụng tọa cụ không đúng kích cỡ.
10. Sử dụng vàng bạc….” (Theo Wikipedia) !!!
-“Kỳ kiết tập thứ 3 được tổ chức chính yếu để tẩn xuất những tu sĩ suy thoái và giả dối, nhưng người theo quan điểm dị giáo. Kỳ kiết tập được triệu tập vào năm 326 (tr. TL) dưới triều Vua Ashoka ở Pataliputta. Trưởng lão Moggaliputta Tissa chủ trì hội nghị này và 1.000 vị Tăng dưới sự bảo trợ của Hoàng đế Ashoka….” (Theo Wikiapedia) !!!
-“Kỳ kiết tập thứ tư được tổ chức ở Tambapanni (Sri Lanka) vào năm 29 (tr.TL) dưới sự bảo trợ của Vua Vattagamani. Lý do chính cho việc triệu tập là do nhận thấy rằng bấy giờ đối với đại đa số các Tăng sĩ, họ không thể nhớ được toàn bộ Tam tạng bằng trí nhớ như trường hợp Tôn giả Mahinda và những người theo ngài ngay sau đó. Do đó, khi việc viết chữ, vào thời điểm đó, về cơ bản đã được phát triển, người ta nghĩ rằng có một bộ đầy đủ trọn vẹn giáo pháp của Đức Phật được viết thành chữ là điều thích hợp và cần thiết. Vua Vattagamani ủng hộ ý kiến của chư Tăng và một hội nghị được tổ chức để rút gọn lại toàn bộ Tam tạng nhằm viết thành văn bản. Do đó, để Pháp chân thực có thể được giữ gìn lâu dài, Tôn giả Maharakkhita và 500 vị Tăng đã tụng đọc lại những lời của Đức Phật và sau đó viết chúng trên lá cọ…” (theo Wikipedia) !!!
-“Kỳ kiết tập thứ 5 được tổ chức ở Mandalay, hiện nay là Miến Điện, vào năm 1871 dưới triều vua Mindon. Chủ đề chính của kỳ hội nghị này là để tụng đọc lại tất cả những lời dạy của Đức Phật và xem xét kỹ lưỡng để xem có điều nào trong đó bị thay đổi, xuyên tạc hay đánh mất không. Hội nghị được chủ trì bởi ba vị Trưởng lão: Mahathera Jagarabhivamsa, Narindabhidhaja và Mahathera Sumangalasami, cùng với khoảng 2.400 vị Tăng. Việc cùng tụng đọc Pháp của họ kéo dài 5 tháng. Cũng chính công việc của hội nghị này đã giúp toàn bộ Tam tạng được viết xuống cho hậu thế ở trên 729 phiến đá bằng chữ Miến sau khi việc tụng đọc được hoàn tất và được mọi người đồng thuận. Công việc vĩ đại này được thực hiện bởi khoảng 2.400 vị Tăng uyên bác và nhiều thợ thủ công thiện xảo…” (theo Wikipedia) !!!
-“Kỳ kiết tập thứ sáu được triệu tập tại Kaba Aye ở Yangon (trước đây là Rangoon) vào năm 1954, 83 năm sau kỳ kiết tập thứ 5 được tổ chức ở Mandalay. Nó được Chính phủ Miến Điện đứng đầu là Thủ Tướng U Nu bảo trợ. Ông cho phép xây dựng Maha Passana Guha, “Đại động”, một động nhân tạo giống như động Sattapanni nơi kỳ kiết tập lần thứ nhất được tổ chức. Kỳ kiết tập được tổ chức vào ngày 7-5-1954. Như trường hợp của những kỳ hội nghị trước, mục đích trước hết của nó là xác quyết và giữ gìn Pháp và Luật chân thật. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là chư Tăng tham gia kỳ kiết tập đến từ 8 quốc gia. Có 2.500 Tăng sĩ quảng học theo truyền thống Theravāda đến từ Miến Điện, Cam Pu Chia, Lào, Tích Lan, Thái Lan và Việt Nam. Cố Hòa thượng Mahasi Sayadaw được chỉ định nhiệm vụ cao quý là đặt những câu hỏi thiết yếu về Pháp cho Hòa thượng Bhadanta Vicittasarabhivamsa, người đã trả lời tất cả một cách tinh thông và làm mọi người hài lòng….” (theo Wikipedia) !!!
Như những gì trích dẫn ở trên, tất cả Kinh Phật mà ta có được hôm nay, cũng đã trải qua sáu lần đại hội !!! Cái được gọi là Nguyên thuỷ cũng chỉ ra đời sau khi Phật nhập Niết bàn hơn 100 năm !!! “Phật giáo Thượng tọa bộ hay Phật giáo Theravada, là một nhánh lớn của Phật giáo hiện đại. Một số tài liệu thường gọi Thượng tọa bộ bằng danh xưng không hoàn toàn chính xác là Phật giáo Nam truyền, Phật giáo Nam tông hay Phật giáo Nguyên thủy. Phật giáo Thượng tọa bộ xuất hiện đầu tiên ở Sri LanKa rồi sau đó được truyền rộng rãi qua nhiều xứ ở Đông Nam Á. Ngày nay, Thượng tọa bộ Phật giáo vẫn rất phổ biến ở Sri Lanka và Đông Nam Á, đồng thời cũng có nhiều tín đồ Phương Tây. Thượng tọa bộ ở Việt Nam còn được gọi là Phật giáo Nguyên thủy dù trong thực tế Thượng tọa bộ chỉ hình thành từ khi Phật giáo phân chia thành các bộ, phái từ Hội nghị kết tập lần thứ hai sau khi Đức Phật nhập diệt khá lâu…” (theo Wikipedia) !!! Vâng, ra đời sau 100 năm lúc Phật nhập diệt, với bao nhiêu thế hệ truyền thừa, có còn được gọi là nguyên thuỷ chăng ???!!!
Có xét đến quá trình hình thành và phát triển, ta mới thấy rằng, kinh điển của Đức Phật để lại, cho dù những bản kinh được coi là nguyên thuỷ hay những bản kinh được coi là của Phật giáo phát triển, ít nhiều cũng đã bị thêm bớt hoặc biên chép sai lệch từ người sau !!! Và một điều chắc chắn, không có một bản kinh nào chính kim thân Đức Thích Ca Mâu Ni viết ra được định hình bởi một văn bản chính thống, cũng không có bản kinh nào không bắt nguồn từ giáo pháp của Đức Bổn Sư cho dù của người sau kể lại !!! Vấn đề là các bản kinh đó xuất hiện vào thời kì lịch sử nào, biên chép theo tinh thần nào, và tinh thần đó có phù hợp cho công cuộc “trị quốc an dân” của thể chế chính trị trong thời kì lịch sử ấy !!!???
Đứng trước thực trạng nêu trên, chúng ta là những người học tập giáo pháp siêu việt của Đức Phật !!! Liệu chúng ta có nên phân biệt, tranh biện kinh nào mới là kinh của Phật, kinh nào là kinh giả hay không !!!???
Phật dạy: “Trong thời mạt pháp, giáo pháp của ta như sữa nguyên chất đã bị bọn con buôn hám lợi pha nước lã đến 50 lần” (Kinh Niết Bàn) !!! Chiếu theo lời dạy trên, một lít sữa giáo pháp nguyên chất của Thế Tôn để lại, hôm nay đã trở thành 51 lít !!! Trong một hổn hợp bị pha loãng như thế, để tìm ra đâu là sữa, đâu là nước lã là chuyện không hề dễ dàng !!! Nhưng rồi, cũng trong kinh Niết Bàn, Phật đã dạy: “Nhưng có loài Nga vương, đứng trước hổn hợp sữa pha nước lã như thế, khi con Nga vương đưa mỏ vào hút, nó chỉ hút sữa còn nước lã thì để lại…” !!! Như vậy, đứng trước rừng kinh điển bị pha tạp của ngày hôm nay, tại sao ta không hút lấy tinh tuý như con Nga vương hút sữa, mà lại đi tranh biện thùng nào mới là sữa nguyên chất, thùng nào là nước lã !!!???
Các bạn !!!
Bản chất mọi con đường, tự thân nó không hề có đúng sai !!! Bản chất của các pháp cũng như thế !!! Một con đường nào đó chỉ đúng hay sai khi người đi đặt ra mục tiêu mình cần đến… Nếu con đường nào đưa ta đến mục tiêu, con đường đó là đúng !!! Như vậy, ta nên ngồi đó phê phán các con đường là đúng hay sai, hay ta nên đặt ra mục tiêu cần đến trước, rồi sau đó chọn con đường phù hợp !!!???
Mục tiêu cao nhất của Phật đạo là gì ??? Để đến được mục tiêu cao cả ấy ta cần bao nhiêu bước ??? Khi các bạn tìm thấy các bước đi của đạo và mục tiêu cao cả của giáo pháp là gì ??? Mình tin rằng, lúc ấy nhất định các bạn sẽ tìm thấy thứ sữa giáo pháp nguyên chất được pha loãng trong những thùng sữa từ tay các con buôn hám lợi !!!
Đối với HĐ Lý Gia, mình hi vọng sau những buổi trao đổi vừa rồi, các bạn sẽ có được sự tự tin nhất định trong tu tập, biết rõ mục tiêu mình cần đến, biết rõ con đường nào ta cần phải đi !!! Khi biết được như thế, sự thực chứng của bản thân chính là thước đo tốt nhất, là công cụ kiểm chứng tối ưu để biết rằng con đường ta đang đi là đúng hay sai trong những con đường được ghi lại trong rừng giáo pháp mà ta có trong tay hôm nay !!!
Và, với sự tự tin đã có, nhất định chúng ta sẽ không tốn công sức vào vòng xoáy tranh biện vô bổ về chuyện kinh nào mới là thật, kinh nào là kinh giả !!! Hãy làm một con Nga vương thông tuệ thực thụ như lời Đức Phật đã dạy đi các bạn !!!
06/09/2021
LÝ TỨ









Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời số 37.2026 với chủ đề: Thư Từ Hắc Mộc Nhai !!!
Các bạn !!!
Mình đã nhận được hai thư...Một của người bạn trẻ Phạm Hoài Nam ở Châu Đức - TP HCM...Một của Lão Đệ Ngã Hành ở Hắc Mộc Nhai...!!!
- Về thư của Phạm Hoài Nam:
Sau khi liệt kê 12 phẩm thuộc Tư Lương Vị, bạn ấy viết tiếp:
"Kính bạch thầy,
Con tự xét thấy các pháp thuộc Tư lương vị con đã học và thực hành, hành trang dường như đã chuẩn bị tương đối đầy đủ.
Nhưng khi đối diện với Kiến đạo vị, con lại không thể thâm nhập, không thể tiến xa hơn. Tâm con như bị vướng mắc, đứng lại một chỗ, không biết điểm then chốt nằm ở đâu để phá nghi và tiến bước.
Đã nhiều tháng nay con loay hoay, không biết nên bắt đầu từ đâu, không biết chỗ nào còn sai lệch trong nhận thức hay trong công phu thực hành.
Kính mong thầy từ bi khai thị, chỉ ra mối chấp vi tế hoặc nhân duyên còn thiếu, để giúp con gỡ rối, phá nghi, tiếp tục tiến bước trên con đường học đạo và hành đạo.
Con thành tâm đảnh lễ và tri ân thầy.
Thứ 5 ngày 22 tháng 1 2026 TPHCM - 11:50:26
Phạm Hoài Nam
Kính gửi thầy Lý Tứ"
Hoài Nam thân mến !!!
Mỗi phẩm của Tư Lương Vị là một pháp lành khai đạo, người học phải lấy đó quán chiếu và ứng dụng vào thực tế cuộc sống, chứ không chỉ thuộc lòng, tư duy qua loa rồi kể lại...Vì bởi, đây là pháp thực hành chứ không thuần là lí thuyết...!!!
Thông thường, sau khi thực hành rốt ráo Tư Lương Vị, tâm thức hành giả sẽ tự dừng, như người bệnh nặng uống đúng thuốc, đã có dấu hiệu thuyên giảm...!!!
Dấu hiệu của tâm thức tự dừng là, các căn không còn rong ruổi theo tiền cảnh, đời sống thảnh thơi hơn, thanh tịnh an vui bắt đầu xuất hiện...Những vị ngọt ban đầu từ giáo pháp mà hành giả có được này là nền tảng giúp Tín tâm trở thành Tín căn...Tín căn có được mới đủ điều kiện tiếp tục hướng đến Kiến Đạo Vị...!!!
Trong quá trình học tập mà, những dấu hiệu nêu trên chưa xuất hiện...Hoài Nam nên coi lại phương pháp tiếp cận cũng như cách thức ứng dụng Tư Lương Vị của mình...!!!
Hi vọng một ngày không xa, Hoài Nam sẽ trở thành HĐ Lý Gia để được học tập bài bản hơn...!!! Chúc Hoài Nam an vui, tinh tấn !!!
- Về thư của Ngã Hành:
Lão Đệ Ngã Hành thân mến !!!
Lão Ca rất vui khi nhận được thư và biết rằng cả Hắc Mộc Nhai đang bừng bừng khí thế Vô Thanh...!!! Ha ha ha ha !!!
Viết đến đây, Lão Hủ lại sực nhớ đến bài thơ Mùa Xuân Chín của Hàn Mặc Tử...!!! Hôm nay, cũng những ngày tháng Chạp, bắt đầu cho một mùa xuân...Hi vọng xuân đến, Hắc Mộc Nhai "sẽ chín" trong ngữ nghĩa Vô Thanh...Để rồi biết đâu: Ngày mai trên đỉnh Mộc Nhai ấy...Có kẻ ngộ ra nghĩa Vô Thanh...!!!
Lão Đại Ca đang chờ tin vui từ Hắc Mộc Nhai (tất nhiên có khảo đính) !!! Hi vọng Lão Đệ và môn đồ những ngày xuân Bính Ngọ tìm thấy "Mùa Xuân Chín" từ Vô Thanh Luận để "cơ duyên hội ngộ thêm ý vị"...Nếu chẳng được thế, cái ngông một đời, phỏng có trở thành nước ốc chăng...!!!???
Lão Ca cảm ơn bài thơ VÔ THANH TÁN TỤNG của Lão Đệ...Chúc Lão Đệ và môn hạ an vui !!!
Sau đây là thư của Ngã Hành:
"Kính gửi Lý Lão Đại Ca,
Đệ Ngã Hành hôm nay ngồi trên đỉnh Hắc Mộc Nhai, gió núi lặng, lòng người an, trên tay nâng quyển Vô Thanh Luận vừa nhận được, trong dạ bỗng sinh niềm hoan hỷ khó giấu. Nghĩ đi nghĩ lại, nếu không viết đôi dòng gửi Lão Đại Ca thì e rằng lòng vui ấy không có chỗ gửi gắm, nên mạo muội đề bút.
Vô Thanh Luận đến tay đệ, không chỉ là một quyển sách, mà là kết tinh của tâm huyết, trí tuệ và đạo học lâu năm của Lão Đại Ca. Từng trang lật mở, chữ nghĩa lặng lẽ mà sâu, không ồn ào mà thấm thấu. Đệ đọc, có lúc phải dừng lại rất lâu, không phải vì chưa hiểu, mà vì không nỡ đọc tiếp khi ý vị còn đang ngân vang trong lòng.
Đệ đã cho toàn thể môn đồ tại Hắc Mộc Nhai cùng đọc Vô Thanh Luận. Kẻ thì trầm ngâm suy ngẫm, người thì bàn luận sôi nổi, mỗi người một cách cảm nhận, nhưng tựu trung đều khởi lên tâm kính trọng và tán thán. Những cuộc đàm luận nối tiếp nhau không dứt, đặc biệt mọi người ấn tượng bởi những câu trả lời trực chỉ của Đại Ca đã giúp nhiều bạn đọc khai ngộ. Hắc Mộc Nhai lâu rồi mới có được bầu không khí như vậy.
Qua đó, đệ càng thấm thía rằng Vô Thanh Luận không chỉ dành cho một người đọc, mà là một tác phẩm có khả năng khơi dậy đối thoại, đánh thức suy tư, và dẫn dắt người hữu duyên tự soi lại chính mình.
Đệ xin cúi đầu cảm tạ Lão Đại Ca đã không ngại nhọc công, gom góp tinh yếu một đời, hết lòng trả lời bạn đọc mà thành nên quyển sách này. Đệ tin rằng Vô Thanh Luận rồi đây sẽ không dừng lại ở một giai đoạn, mà sẽ còn được nhắc đến lâu dài, như một dấu mốc đáng nhớ trong hành trình tư tưởng và đạo học.
Riêng phần đệ, được góp một chút duyên nhỏ ở một chương sách, trong lòng cảm thấy an vui và mãn nguyện. Đó là điều mà đệ luôn trân quý.
Thư viết trong niềm kính trọng và hoan hỷ.
Kính chúc Lão Đại Ca thân tâm thường an, đạo nghiệp viên tiến.
Chúc Vô Thanh Luận được lan truyền đúng với giá trị chân thật của nó.
26/01/2026 - 17:13:37
Kính bút,
Ngã Hành
Hắc Mộc Nhai
Tái bút: Đệ xin có bài thơ tán thán Vô Thanh Luận
VÔ THANH TÁN TỤNG
Hắc Mộc Nhai mây vờn đỉnh núi
Gió bạt phong lay bụi trần ai
Vô Thanh cầm chặt trên tay
Lệ nhòa trang giấy, tâm này sáng soi.
Chữ không tiếng mà vơi phiền não
Ý không hình mà đạo cao siêu
Sách hay hiển lộ Pháp màu
Bạn đọc bừng ngộ, bao nhiêu cho vừa.
Nhìn đám trẻ say sưa đàm đạo
Bỗng thấy mình rũ áo phong sương
Hóa ra ở cuối con đường
Lời không tiếng ấy là phương quay về.
Ơn khai ngộ chẳng hề phai nhạt
Nghĩa Lý Gia bát ngát trùng khơi
Dẫu cho vật đổi sao dời
Sách này còn mãi giữa trời sử xanh.
Thật hạnh phúc đồng hành góp sức
Thấy Vô Thanh hiển thực rạng ngời
Ngàn thu soi sáng muôn nơi
Một pho kinh báu, đời đời không quên.
Ngã Hành kính bút" (Hết thư)
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
26/01/2026
LÝ TỨ

SÂN CHƠI TRỰC TUYẾN LÝ GIA Chủ đề: TƯỞNG NIỆM NGÀY LÃO SƯ TRƯƠNG TAM TẠ THẾ !!!
Các bạn !!!
Trong buổi sinh hoạt trực tuyến vừa rồi có chủ đề Tưởng Niệm Ngày Lão Sư Trương Tam Tạ thế đã bắt đầu vào lúc 20 giờ 15 phút đêm 14/09/2021 và kết thúc lúc 23 giờ 16 phút… Có 147 HĐ tham gia…!!!
Buổi sinh hoạt trực tuyến đặc biệt nêu trên, do SĐ Lý Giác Thư làm chủ toạ kiêm diễn giả với đề tài thuyết trình: Khảo Sát Bài Đại Kinh Thí Dụ Lõi Cây (Mahasaropama-sutta) !!! Bài Đại Kinh Thí Dụ Lõi Cây, trong hơn 10 năm qua đã được HĐ Lý Gia học tập và đem ra thảo luận nhiều lần !!!
Đại Kinh Thí Dụ Lõi Cây là một trong những bài kinh được coi là quan trọng trong quá trình tu tập, nhằm giúp chúng ta biết đâu là một lõi cây đích thực của người đi tìm lõi cây “giải thoát bất động”… Theo lời dạy của bài kinh: “Giải thoát bất động mới chính là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh” !!!
Tất nhiên nội dung bài kinh chỉ giúp người tu hành tìm thấy mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh, chứ chưa phải mục tiêu cuối cùng của Đạo trí tuệ !!! Để có thể thành tựu mục tiêu cuối cùng của Đạo trí tuệ, người tu hành sau khi tìm được một lõi cây đích thực, người ấy phải biết làm gì với cái lõi cây mà mình đã có !!! Về việc này, giống như người thợ hoặc học trò người thợ điêu khắc đã có lõi cây trong tay, để cái lõi cây trở thành những vật phẩm có giá trị tuyệt đối nhằm cống hiến cho đời… Người thợ điêu khắc hoặc học trò người thợ điêu khắc chắc chắn còn rất nhiều phần việc phải làm….!!!
Với thời lượng 45 phút trình bày của SĐ Lý Giác Thư, mình và đại chúng tham dự buổi sinh hoạt đánh giá cao bài thuyết trình của bạn ấy !!! Bài thuyết trình được biên soạn rất công phu, cô đọng, có trọng tâm, đã truyền tải một khối lượng kiến thức không nhỏ đến người nghe…Và, điều quan trọng là, diễn giả đã thể hiện được sức rộng và chiều sâu trong học tập thông qua những gì bản thân đã thực chứng…!!!
Trong phần thảo luận đề tài, có hai câu hỏi được đưa ra…Nội dung hai câu hỏi như sau:
1) Căn cứ vào giáo pháp, người xuất gia khi thực hành bốn điều cơ bản: Xuất gia, giữ giới, thiền định, học tập giáo pháp (tri kiến)…!!! Mục đích của việc thực hành bốn điều này, nhằm giải quyết những giá trị cốt lõi nào (trên tinh thần giáo pháp), để sau đó người xuất gia mới có cơ may thành tựu “mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh” là “giải thoát bất động” ??? Xin giải thích cụ thể, lập luận phải thuyết phục ???
2) Theo tinh thần kinh Lõi Cây, có bốn điều người xuất gia thường hãnh diện và nhầm lẫn…cho đó là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh gồm: Xuất gia, giữ giới, thiền định, học tập giáo pháp… nên không thể tìm thấy lõi cây “giải thoát bất động” !!!
Một cư sĩ (người tu tại gia), hoàn cảnh, môi trường, đời sống và chí nguyện không giống người xuất gia !!! Xin hỏi các bạn, người cư sĩ cần bốn (4) điều kiện cơ bản nào được coi là thích đáng nhất để có thể tìm thấy lõi cây “minh tâm kiến tánh” (giác ngộ bổn tâm, thấy được bổn tánh) trong quá trình dấn thân tu hành…??? Xin giải thích cụ thể, lập luận thuyết phục ???
Về hai câu hỏi được đưa ra, có đến 15 HĐ đăng kí trả lời, đó là các HĐ: Lý Thiện Cảnh, Lý Thiện Hậu, Lý Diệu Tâm, Lý Phương Anh, Lý Trừng Quyến, Lý Thiện Huệ, Lý Kim Thoa, Lý Diệu Âm, Lý Thái Đăng, Lý Ngọc Hỷ, Lý Ngọc Uyên, Lý Nhuận Thảo, Lý Trần Hồng, Lý Song Hà, Lý Anh Lạc…!!!
Với thời lượng 10 phút cho hai câu trả lời đối với một HĐ, hầu hết những HĐ có câu trả lời đều bảo đảm thời gian quy định !!! Về nội dung các câu trả lời: Có nghe 15 vị HĐ chúng ta trả lời, mới thấy rằng mức độ đồng đều trong việc học tập của HĐ chúng ta…!!! Và, có nghe các HĐ trả lời, mới thấy sức rộng, sâu và sự thấm nhuần giáo pháp của HĐ Lý Gia là như thế nào !!!
Thay mặt BQT, mình xin tán thán tất cả HĐ đã tham dự buổi sinh hoạt !!! Một buổi sinh hoạt tuyệt vời, thể hiện đầy đủ tính cách của Văn Hoá Vô Lậu, của văn minh, lịch sự, tương kính, lục hoà trong HĐ Lý Gia…Tuy đầy đủ những điều ấy, nhưng buổi sinh hoạt không kém phần sôi nổi, hấp dẫn, hào hứng đặc thù của một buổi sinh hoạt trực tuyến mang tính truyền thống của Lý Gia !!!
Xin tán thán bài thuyết trình đặc sắc của SĐ Lý Giác Thư !!! Xin tán thán 15 vị HĐ đã trả lời câu hỏi, mỗi một câu trả lời như những dấu hiệu đơm hoa kết trái trong quá trình học tập của HĐ chúng ta…!!!
Chúc mọi người an vui, tinh tấn !!!
15/09/2021
LÝ TỨ






Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời số 38.2026 với chủ đề: Thư Của Bằng Hữu Vô Danh !!!
Các bạn !!!
Lý Tứ vừa nhận được thư của bằng hữu Vô Danh !!!
Chân thành cảm ơn những lời chúc tốt đẹp của bằng hữu...Rất mong bằng hữu sớm nhận được Vô Thanh Luận và tìm ra ý vị thanh lương từ cuốn sách trong những ngày xuân...!!!
Khi nào có phản hồi từ Hắc Mộc Nhai...Lý Tứ sẽ mời chư vị làm trọng tài cho cuộc khảo đính thú vị này...!!!
Chúc bằng hữu nhiều sức khoẻ, an vui, tinh tấn...!!!
Sau đây là thư của bằng hữu Vô Danh:
"Kính gửi Thầy Lý Tứ,
Mùa xuân Bính Ngọ đang về, gió lạnh vẫn còn phảng phất nhưng lòng người hữu duyên đã thấm chút hơi ấm của đạo vị. Hôm nay, kẻ hành khất Vô Danh này ngồi nơi góc Quán Trần Gian, bỗng nhận được tin Thầy đã xuất bản “Vô Thanh Luận” – một tác phẩm mà từ lâu nhiều người đã ngóng đợi. Lòng tôi bỗng dâng lên niềm tán thán khó tả, vội vàng viết mấy dòng gửi đến Thầy, dẫu biết rằng chữ nghĩa khó lòng diễn hết ý.
Đọc những dòng Thầy trả lời Lão Đệ Ngã Hành và Hắc Mộc Nhai, tôi như thấy trước mắt một khung cảnh núi rừng hùng vĩ, nơi mây vờn đỉnh Mộc Nhai, gió thổi bụi trần, mà trong cái tịch lặng ấy, tiếng “vô thanh” lại vang vọng khắp chốn. Bài thơ “Vô Thanh Tán Tụng” của Ngã Hành Lão Đệ càng làm rõ hơn ý vị thâm sâu của tác phẩm: “Chữ không tiếng mà vơi phiền não – Ý không hình mà đạo cao siêu”. Thật đúng là pháp bảo giữa đời thường!
Tôi càng thấy tò mò và thú vị khi biết Thầy đang “khảo đính” Ngã Hành và môn đệ Hắc Mộc Nhai về bí mật “Vô Thanh” trong sách. Dường như, ngoài những dòng chữ in trên giấy, vẫn còn một lớp nghĩa nào đó chưa được nói ra – một “mật ý” chỉ người hữu duyên mới thấu tỏ. Không biết cuộc khảo đính ấy đang tiến triển thế nào? Liệu Hắc Mộc Nhai đã tìm thấy “Mùa Xuân Chín” trong ý nghĩa Vô Thanh? Kẻ hành khất nơi Quán Trần Gian này mong sớm được nghe tin tức từ Hắc Mộc Nhai, như chờ một cơn gió mới thổi về từ núi cao.
Riêng tôi, ngay khi biết tin sách xuất bản, đã vội đặt mua một bản. Giờ đây, chỉ còn chờ sách về, sẽ nghiên cứu thật kỹ từng trang, từng chữ. Tôi tin rằng “Vô Thanh Luận” không chỉ là một quyển sách, mà là một “kho tàng mở” – ai chịu khó đào sâu, ắt sẽ tìm thấy chìa khóa giải thoát cho riêng mình. Tôi cũng nguyện sẽ dùng tâm thành và trí tuệ hạn hẹp của mình, cùng quyết tâm tìm ra bí mật “Vô Thanh” ẩn giấu trong từng câu chữ.
Cuối cùng, xin được chân thành tri ân Thầy – người đã dày công đúc kết tinh hoa một đời vào tác phẩm này. “Vô Thanh Luận” chắc chắn sẽ là ngọn đuốc sáng cho nhiều thế hệ bạn đọc, một “pháp khí” giúp người hữu duyên vượt qua mê lộ, trở về với bản tâm thanh tịnh. Dẫu biết rằng đạo lớn vô ngôn, nhưng nhờ có những dòng chữ “vô thanh” này, kẻ hậu học chúng tôi mới có cơ duyên bước gần hơn đến cửa đạo.
Kính chúc Thầy thân tâm thường an, đạo nghiệp viên mãn. Mong một ngày không xa, được hội ngộ Thầy nơi đất Lý Gia, hoặc giữa chốn trần gian tĩnh lặng này.
28/01/2026 - 14:37:50
Vô Danh kính bút
Quán Trần Gian, một ngày tháng Chạp" (Hết thư)
Chúc tất cả bạn đọc an vui, tinh tấn, thành ở đời, đạt ở đạo...!!!
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
28/01/2026
LÝ TỨ



LÀM SAO ĐỂ BIẾT BẢN THÂN CÓ NHIỀU HAY ÍT CÔNG ĐỨC !!!
Điều kiện, để một người biết bản thân “có nhiều hay ít tiền” là: “Người đó phải có tiền” !!! Cho nên, để bản thân biết mình có nhiều hay ít công đức, điều kiện tiên quyết là: “Phải có công đức” !!!
Các bạn !!!
Hôm qua, mình nhận được 10 câu hỏi của bạn Thích Không Không từ Trang Lý Gia !!!
Bạn ấy viết: “Thưa Thầy Lý Tứ. Tôi có một số thắc mắc rất mong được Thầy chỉ giáo ạ.” Và 10 câu hỏi, mình sẽ tuần tự trả lời như sau:
1: Thầy Lý Tứ đã làm theo Phật pháp nguyên thủy hay Đại thừa…hay là gì?
– Trả lời:
Mình không làm theo Phật pháp nguyên thuỷ hay đại thừa…mà “làm theo lời Phật dạy” !!!
2: Làm sao để biết bản thân có nhiều Công đức hay ít Công đức.
– Trả lời:
* Điều kiện, để một người biết bản thân “có nhiều hay ít tiền” là: “Người đó phải có tiền” !!!
* Cho nên, để bản thân biết mình có nhiều hay ít công đức, điều kiện tiên quyết là: “Phải có công đức” !!!
3: Thầy Lý Tứ có thể mô tả một cách sơ qua về Cảnh giới mà Thầy đã chứng được không?
– Trả lời:
Khi nào “đủ duyên” nhất định mình sẽ trả lời cho bạn điều này… Còn bây giờ thì, xin được phép…khất… lại…!!!
4: Có phải tới cảnh giới nào đó thì dễ nhưng để giữ được mình ở cảnh giới đó mới thực sự khó phải không? Vì tôi có lần rơi vào trạng thái an lạc, trạng thái rỗng khi thiền. Nhưng tôi lại chưa thể giữ được trạng thái đó mỗi ngày.
– Trả lời:
*Nếu thật sự giác ngộ một cảnh giới nào đó của Phật đạo thì, chuyện giữ nó sẽ không khó (thậm chí không cần giữ)… Vì rằng, các cảnh giới trong Phật đạo là “thường”, vô vi, bất thối… !!!
* Còn nếu, cảnh giới mà ta bắt gặp chỉ là cảnh giới của thế gian, do thế gian pháp làm ra, nhất định sẽ chóng mất và không bền chắc, có cố giữ cũng sẽ không tồn tại theo thời gian do tâm ý sanh diệt không dừng… Cho nên, tất cả các cảnh giới của thế gian, do thế gian pháp làm ra (thuộc hữu vi) đều “vô thường” (giữ cũng không được) !!!
5: Liệu một người có thể vừa Giác ngộ vừa kiếm nhiều tiền không ạ? Vì tôi muốn có tiền để từ thiện, hoặc xây Chùa…
– Trả lời:
Một người giác ngộ cũng có thể kiếm nhiều tiền !!! Phật sử từng ghi lại, rất nhiều Bồ tát giác ngộ thâm sâu, nhưng đồng thời cũng là những người rất giàu có !!! Kinh Kim Cang cũng dạy: “Ai trì tụng kinh này, phước đức nhiều vô số kể” !!!
6: Việt Nam có quá nhiều Thầy, nhiều vị sư…làm sao để tôi biết vị sư ấy đã đi đúng hướng và sẽ giác ngộ hoặc đã giác ngộ để mình có thể bái làm sư.
– Trả lời:
Nếu trong đời có một ai đó, có thể biết những điều sau: Người khác tu hành đúng hướng hay không, vị lai chừng nào sẽ giác ngộ hoặc đã giác ngộ đến đâu…v..v..thì, người đó “không cần đi tìm người để bái sư” mà, chờ người đủ duyên tìm đến để: “Bái…vị…đó…làm…thầy” !!!
Tuy vậy, mình cũng xin “mách cho bạn” một mẹo nhỏ: Muốn tìm một người có thể dạy mình đạo pháp, đầu tiên phải xác định mục tiêu tu học của mình là gì, nếu người nào đáp ứng được mục tiêu của mình đề ra, thì nên nhận người đó làm thầy !!!
7: Tu tại gia khó đắc đạo hơn Tu ở Chùa phải không ạ? Vì tu tại gia vẫn phải lo cơm áo gạo tiền, lo con cái…
– Trả lời:
Tại gia hay xuất gia đều có thể đắc đạo !!! Vì, đắc đạo (của Phật đạo) là do…ở…cái…đầu (không phải ở nơi chốn) !!! Cho nên bất luận tại gia hay xuất gia, ở đâu mà thấu suốt giáo pháp đều có thể đắc đạo !!!
8: Thầy nghĩ thế nào về Thiên Chúa.
– Trả lời:
Mình “chưa từng có nhu cầu” nghĩ đến điều bạn vừa hỏi !!!
9: Dấu hiệu nào để người ấy biết đã tới lúc mình cần xuất gia?
– Trả lời:
* Chán nhà thích chùa !!!
* Chán tục thích tăng!!!
* Chán karaoke thích chuông mõ !!!
* Chán ăn nhậu thích tu hành !!!
* Chán thời trang hàng hiệu, thích pháp phục nâu sồng !!!
*…v..v….
Đây “tạm coi” là “các dấu hiệu” để một người biết rằng “đã tới lúc” nên xuất gia !!!
10: Nếu bản thân khi đã Giác ngộ, mà người thân bố mẹ đã qua đời, vậy người ấy có thể độ cho người thân Giác ngộ khi mà họ đã chết hay không?
– Trả lời:
Khi nào:
* Thầy giáo, có thể dạy cho cha mẹ học tập sau khi qua đời !!!
* Thầy thuốc, có thể chữa lành bệnh cho cha mẹ sau khi song thân tạ thế !!!
* Nghệ sĩ, có thể biểu diễn cho người đã chết thưởng thức nghệ thuật…v..v…!!!
Chừng ấy:
* Người giác ngộ có thể độ cho người thân giác ngộ sau khi họ đã chết !!!
Hy vọng, những giải đáp vừa rồi có thể giúp Không Không và bạn đọc giải toả những gì đã thắc mắc !!!
Chúc mọi người an vui, tinh tấn !!!
Rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!!
16/12/2020
LÝ TỨ




Chuyên mục Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời số 39.2026 với chủ đề: Thư Của Bạn Đọc Chánh Huy Toàn !!!
Các bạn !!!
Chiều nay, trong lúc ngồi xem lại tài liệu học tập lớp Giáo Pháp Nâng Cao của buổi học cuối cùng năm Ất Tỵ vào sáng mai...Mình nhận được thư của bạn đọc Chánh Huy Toàn ở Hà Nội...!!!
Buổi học sáng mai là buổi học thứ 14 của lớp Giáo Pháp Nâng Cao...Có thể nói, chỉ sau 14 buổi học thôi, mà lớp chúng ta đã đi được một đoạn đường khá dài trong hành trình thể nhập Thấu thị, Thẩm sát và Đẳng ngữ môn...Đây là ba môn học cơ bản của Đạo đế thông qua các bản kinh như Sa Môn Quả, Duy Ma Cật, Giải Thâm Mật...vv...!!! Những bản kinh mà lớp học đòi hỏi các bạn phải đào bới bằng công cụ thực chứng chứ chẳng phải phân tích, lí giải trên văn tự hay sao chép tư liệu...!!!
Theo đánh giá cá nhân của mình, lớp có trên 200 thành viên...Nhưng tỷ lệ có thể lãnh hội trọn vẹn những gì đã học đến thời điểm này chỉ đạt chừng 20%...Con số 20% của giai đoạn đầu tuy khiêm tốn, nhưng không phải là tỷ lệ đáng lo ngại...Bởi lẽ, đa số các bạn vừa từ bầu sữa quyền tiểu Giáo tông bước ra, chưa sẵn sàng thích nghi với cái thênh thang, rộng lớn, sâu thẳm của Tâm tông là điều dễ hiểu...!!! Con số 20% này, không ngoài dự kiến trước khi mở lớp...!!! Cũng theo dự kiến của mình, ra tết Nguyên Đán, bắt đầu từ buổi thứ 15 trở đi, nhất định tỷ lệ tiếp thu của lớp sẽ tăng lên...!!!
Để có thể lãnh hội ba môn học của Đạo đế, việc tham khảo tư liệu từ các kênh thông tin bên ngoài chỉ là thứ yếu...Điều quan trọng vẫn là ở ngay chính nội lực của các bạn...Nếu chỉ dựa vào tài liệu tham khảo mà thiếu năng lực kiểm chứng hoặc thẩm định để sau đó phát huy thông qua thực chứng, nhất định sẽ khó đạt được mục tiêu học tập...!!! Ha ha ha ha !!! Lão Lý có tay nghề thẩm sát thượng thừa, nếu không trả lời bằng thực chứng, cho dù các bạn có khéo vùng vẫy, tô vẽ kiểu gì Lão ta cũng nhận ra...!!!
Chánh Huy Toàn và bạn đọc thân mến !!!
Những ngày cuối năm, nhận được tâm thư của bạn, Lý Tứ cảm thấy ấm lòng...!!! Ấm lòng vì bởi, chuyên mục đã phát huy rất tốt tác dụng của nó...Ấm lòng vì bởi, Vô Thanh Luận đã được bằng hữu cùng bạn đọc đón nhận, quan tâm...Điều này làm cho món quà năm mới trở nên có nhiều ý vị...!!!
Chân thành cảm ơn bài thơ MÙA XUÂN VỀ - VÔ THANH ĐẾN cùng những lời chúc tốt đẹp của Chánh Huy Toàn...!!! Chúc Chánh Huy Toàn và bạn đọc an vui, tinh tấn, thành công trong học tập...!!!
Sau đây là thư của Chánh Huy Toàn:
"Kính thưa Tác giả Lý Tứ,
Giữa tiết trời xuân miền Bắc những ngày này, khi những cơn mưa phùn bắt đầu giăng mắc trên những nhành đào Nhật Tân và không khí Tết đã len lỏi vào từng con phố nhỏ của Hà Nội, lòng con lại trào dâng một cảm xúc khó tả. Trong sự tĩnh lặng của buổi sớm mai, con đang ngồi đây bên ly cà phê, nâng niu trên tay cuốn Vô Thanh Luận.
Cầm cuốn sách, con không khỏi bồi hồi nhớ về cái duyên kỳ ngộ khi bài thơ "Song thất lục bát muộn màng" của con được bác đón nhận. Với con, việc được bác cho phép "mở gói" để đứng vào mục "Những Tâm Tình Đặc Biệt" là một niềm hạnh phúc lớn lao. Con viết những dòng này trước hết để bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới bác - người tác giả đã dành trọn tâm huyết để thắp lên ngọn đuốc trí tuệ cho những hậu học như con.
Thưa Tác giả Lý Tứ, càng lật giở những trang sách, con càng thấy mình nhỏ bé trước cái mênh mông của "Vô Thanh". Làm sao để giữa thế gian đầy rẫy âm thanh tạp loạn này, người ta có thể nghe được cái "âm thanh không lời" ấy? Bí mật của Vô Thanh dường như là một cánh cửa huyền vi mà con vẫn đang khao khát được bác chỉ dạy thêm để có thể chạm tới phần nào "ý vị thanh lương" mà bác thường nhắc đến.
Con cũng vừa đọc được những dòng thư của bạn đọc Ngã Hành từ Hắc Mộc Nhai và bạn đọc Vô Danh ở Quán Trần Gian. Nghe bác nhắc đến việc "khảo đính" đầy thú vị với Hắc Mộc Nhai, lòng con không khỏi tò mò. Phải chăng Hắc Mộc Nhai là nơi thử thách những tâm hồn cầu đạo, và việc khảo đính của bác chính là cách bác gạn đục khơi trong, giúp chúng con định hình lại con đường tu tập giữa muôn vàn mê lộ?
Nhân dịp xuân Bính Ngọ sắp về, con kính chúc Tác giả Lý Tứ pháp thể khinh an, luôn là bóng cây đại thụ che chở và soi sáng cho chúng con. Con xin kính dâng bác mấy vần thơ lục bát thay cho lời tán thán chân thành:
MÙA XUÂN VỀ - VÔ THANH ĐẾN
Vô Thanh vang vọng đất trời
Lời vàng ý ngọc rạng ngời tâm can
Người ngồi dưới bóng thời gian
Dắt dìu hậu thế bước sang bến bờ.
Xuân về dệt những vần thơ
Vô Thanh Luận đến ước mơ diệu kỳ
Hắc Mộc Nhai, mở cuộc thi
Khảo thư hành giả vô vi cõi trần.
Âm thanh không tiếng trong ngần
Đánh thức chân lý, xoay vần tử sinh
Lòng thành kính, dâng tâm tình
Ơn sâu tác giả, tuệ vinh rạng ngời.
Ngàn năm di sản cho đời
Sen vàng nở rộ, thảnh thơi bước về
Xua tan đi những u mê
Nguồn tâm thanh tịnh giữa bề trần gian.
Đào hồng khoe sắc ngút ngàn
Tết này có sách, bình an ngập lòng
Chúc Người tự tại thong dong
Vô Thanh tỏa ngát, rạng dòng chân như.
31/01/2026 - 14:05:54
Kính thư - Chánh Huy Toàn - Hà Nội" (Hết thư)
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú, bổ ích từ mọi người...!!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: https://forms.gle/HooJiZeXLBNokpUx8
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn
31/01/2026
LÝ TỨ
