Tác Phẩm Lý Tứ

Ba Vị Huynh Đệ Luận Về..Phật Tánh

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 23.02.2023

B: Thưa SH! Hôm qua sau khi chia tay, những điều SH dạy về “ngã và vô ngã” đã giúp cho con mắt của SĐ thêm sáng ra!

Đúng là từ xưa đến nay, đệ và mọi người đã diễn giải chữ ngã trong Phật đạo đi quá xa gốc của nó! Việc diễn giải sai, dẫn đến hệ quả là, tự cho rằng mình có một cái ngã tai hại nào đó, muốn trừ khử, nhưng chẳng thể nào trừ khử được! Đúng như những gì SH ví dụ, “cái mà cung thủ nhắm bắn, cái ấy lại không phải mục tiêu!”

Đệ cũng cả đêm trằn trọc không ngủ được bởi hai chữ ngã và vô ngã! Nếu trước đây, biết nó chỉ là mạn, một trong các kiết sử thì, không phải nhọc công “tu cho nó vô ngã”! Vì rằng, đem cái ngã (năng tu) tu cho vô ngã (biến năng thành vô năng), chẳng khác nào người mong lấy lửa làm cho tắt lửa! Người mong lấy nước làm cho khô nước!

Nhưng, rồi cũng chuyện ngã và vô ngã! SĐ lại có một thắc mắc: Phật dạy: “Hết thảy chúng sinh đều có Phật tánh”! Mà, Phật tánh là thường, Phật tánh là ngã! Lẽ ra, hết thảy chúng sanh phải là thường, là ngã chứ! Tại sao lại nói chúng sanh vô thường, vô ngã?

Điều này, giống như người có một núi vàng, có núi vàng là người giàu nhất thiên hạ, ăn đến trăm ngàn đời cũng không hết, chưa nói chuyện núi vàng kia là thường, là không thể cạn kiệt! Sao lại bảo người ấy là kẻ nghèo cùng, là người chạy ăn từng bữa, đói no thất thường! Những lời như vậy! Có phải vô lí lắm hay không?

Xin SH cắt nghĩa cho đệ thông suốt nghi vấn này!

A: Ha ha ha ha!!! Lời Sư Đệ rất có lí! Nhưng cái lí của người nghèo nằm mơ thấy mình có núi vàng! Hoặc cái lí của người nghe ai đó kể chuyện tổ tiên của mình để lại cả một núi vàng! Nhưng trong thực tế, chính bản thân mình chẳng có một chút vàng nào!

B: SĐ vẫn chưa hiểu! Xin SH giải thích cụ thể!

A: Mình xin đưa ra một ví dụ, nhân ví dụ này, SĐ có thể hiểu ra cái núi vàng kia là gì, hiện nó ở đâu!

Giống như một người nghèo đói, ngày kia có người mách bảo rằng: “Tổ tiên của ông là người giàu nhất thiên hạ, có cả một núi vàng! Hiện tại núi vàng đó vẫn còn trong thế gian, vàng ấy được chôn dấu trong bốn nơi chốn mà ông đang sở hữu. Nếu khai thác được, số vàng ấy nhất định thuộc về ông! Chừng ấy! Đời đời ông sẽ không còn nghèo đói”!

Mình hỏi đệ! Nếu đệ chỉ nghe câu chuyện đó, cũng như tin chắc núi vàng của tổ tiên để lại là sự thật! Liệu chỉ dựa vào câu chuyện, dựa vào niềm tin từ câu chuyện, cuộc đời của đệ có thay đổi, có giàu lên hay không!

B: Thưa SH! Tất nhiên là chỉ dựa vào câu chuyện, chỉ dựa vào niềm tin từ câu chuyện! Cuộc đời của đệ đâu có vì thế mà thay đổi, đâu có vì thế mà giàu lên!

A: Thế thì! Nếu câu chuyện ấy là thật! Muốn cuộc đời thay đổi, muốn trở thành người giàu có bậc nhất, người có trí nên làm gì?

B: Trong hoàn cảnh này! Người có trí bằng mọi cách tìm và khai thác núi vàng do tổ tiên để lại! Khai thác xong, nhất định cuộc đời sẽ thay đổi và giàu lên!

A: Thì đó! Thì đó! Phật tánh cũng như vậy đó!

Giống như người có trí nghe chư Phật bảo rằng: “Trong các ông, mỗi người đều có Phật tánh! Phật tánh ẩn sâu dưới bốn lớp u tối mà các ông đang sở hữu là thân, thọ, tâm, pháp (hay năm lớp u mê là sắc, thọ, tưởng, hành, thức)! Nếu các ông khai thác ngay tại bốn lớp u tối đó, khi bốn lớp u tối không còn che chướng, Phật tánh sẽ hiện dần! Từ lúc bắt đầu hiện, đến khi thật sự hiện rõ, các ông sẽ là người, từ nghèo khó khổ sở đến hết nghèo khó khổ sở, từ hết nghèo khó khổ sở đến giàu có an vui, từ giàu có an vui trở thành người giàu có an vui nhất thiên hạ, và cuối cùng là đại thí chủ bố thí an vui khắp thiên hạ mà của cải không hề giảm sút!”

Qua câu chuyện trên! SĐ đã hiểu ra điều gì?

B: Thưa SH! SĐ hiểu! SĐ hiểu rất rõ!

Muốn thấy được Phật tánh! Muốn có được an vui vĩnh hằng! Phải đi tìm người có chuyên môn, nhờ họ sắm công cụ và hợp tác khai thác! Theo đệ! Khai thác như thế nào để “thấy Phật tánh” mới quan trọng, chứ chỉ “nghe nói có Phật tánh”, chỉ nghe nói không thôi, chẳng thể giúp mình an vui!

Trên đời! Khai thác khoáng sản là hữu vi, là vật chất mà còn phải nhờ đến các nhà chuyên môn giúp đở! Hà huống đây là việc khai thác vô vi, vô lậu, thuộc thế giới tâm thức... đâu có thể tự mình dùng kiến thức hữu vi, hữu lậu mà khai thác được! Đệ nhận thức rất rõ điều này!

Thực tế trong đời! Đệ đã từng chứng kiến không biết bao người, dùng kiến thức hữu vi, công cụ hữu lậu để khai thác núi vàng vô vi, vô lậu! Và, cuối cùng là gì?! Vàng đâu chẳng thấy! Mà chỉ thấy đem về toàn “đất đá hằm bà lằng, lỡ cười lỡ khóc”!

Vì sao “lỡ cười lỡ khóc”? Vì anh không chuyên môn, nghe nói bản thân mình cũng có Phật tánh, bèn bỏ công khai thác, cũng hí hửng đem về nào bị, bao, xe này xe nọ! Nhưng, khi đem đi bán, sau khi được các nhà chuyên môn thẩm định! Những thứ anh ấy cho là vàng thì, chỉ có tên là vàng mà tính chất của nó là tính chất của đất đá hằm bà lằng! An vui đâu không thấy! Chỉ thấy phiền não khi nhận ra giá trị thật của cái mình đang có!

A: Vậy đó! Vậy đó! Phàm ở đời, làm việc gì cũng phải có chuyên môn! Việc càng khó, đòi hỏi chuyên môn càng cao! Muốn thành công phải hiểu biết đến nơi đến chốn!

Không có chuyên môn! Hiểu biết lộn lạo! Hiểu biết không đến nơi đến chốn! Mà mong thành công! Là chuyện không thể!

B: Xin SH chỉ cho đệ và Lã Muội cái cách khai thác Phật tánh đi?

A: Thì, từ ngày gặp nhau đến giờ! Đâu có bữa nào mình không chỉ cho các bạn cách khai thác Phật tánh!

Những dấu hiệu mà các bạn đã bắt gặp trong tâm thức của mình, chính là dấu hiệu từ Phật tánh phát ra, tuy nó chưa hoàn hảo, nhưng các bạn thử nghiệm lại, những cảm giác các bạn hưởng dụng có đủ hai tính chất “lạc và tịnh” hay không?

Phật tánh có bốn tính chất cơ bản, đó là: “Thường, ngã, lạc, tịnh”! Người khai thác đúng, sẽ nhận được hai tính chất đầu tiên là “lạc và tịnh”, hai tính chất này, sẽ hiện ngày một rõ nét hơn! Đến khi nào, khai thác được chừng 80% kho báu Phật tánh, hai tính chất “thường và ngã” sẽ xuất hiện!

Hai tính chất lạc và tịnh, chính là hai tính chất cơ bản của Niết Bàn, một trong những thành quả đầu tiên từ nhân Phật tánh sản sinh! Hai tính chất thường và ngã là hai tính chất của trí tuệ, đây là thành quả cuối cùng của Phật tánh!

Vì thế, trong kinh Phật mới dạy: “Phật tánh là nhân, nhưng nó là liễu nhân! Niết bàn là quả, nhưng nó là quả quả”! Nếu chúng ta khai thác không đúng kho tàng Phật tánh, lấy đó làm nhân thì, làm gì có cái quả lạc tịnh mà các bạn hưởng dụng mấy bữa nay!

LM! Thưa hai vị SH! Lã Muội “lặng lẽ quan sát” tâm thức của mình khi nghe hai SH trao đổi! Quả đúng như vậy!

Tuy Lã Muội chưa thấy biết thế nào là thường là ngã, nhưng chính cảm giác “an lạc thanh tịnh” đang hiện hữu trong tâm thức ngày một sâu đậm. Chính sự sâu đậm đó, đã cho Lã Muội niềm tin rằng: “SH đã giúp muội khai thác đúng kho tàng vô giá mà chư Phật đã để lại”!

Chẳng những tâm thức của Lã Muội hiện tại có đủ hai tính chất lạc và tịnh! Mà, thường được nghe SH giảng giải đạo lí, Lã Muội cũng cảm thấy mình sáng ra, điều gì đã biết, biết đến nơi đến chốn, không còn mơ hồ như trước đây! Do không còn mơ hồ, nên chấp nhất cũng vơi đi rất nhiều! Đúng là chẳng thấy tu mà nghi ngờ, phiền não, kiết sử, lậu hoặc tự tan biến!

Bây giờ, muội mới thấm thía câu nói: “Đạo của ta, không nhọc công tốn sức, chẳng phái cái làm ra”!

Xin đội ơn chư Phật đã cho con biết rằng: “Trong con, có kho tàng Phật tánh vô giá”!

Xin đội ơn SH! Người đã giúp SM: “Từng bước khai thác kho tàng ấy một cách hiệu quả và nhanh nhất”!

Gửi tin nhắn đến người dùng

Thông báo bài viết mới

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 05.10.2026

Xin chào Quý Đọc Giả,

Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.

https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/ba-vi-huynh-de-luan-venga-va-vo-nga

Trân trọng,

Tags:

Tác Phẩm Lý Tứ

Ba Vị Huynh Đệ Luận Về.."Ngã" ..Và "Vô Ngã"

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 23.02.2023

A: Các vị HĐ[1]! Lần gặp hôm nay, mình muốn chia sẻ với hai vị HĐ một vấn đề mà người tu hành nào cũng quan tâm, đó là chữ “ngã” trong Phật đạo!

Nói đến chữ ngã, không một người tu hành nào trong đời lại chưa một lần để ý, không ưu tư hay đề cập đến, thậm chí ngã và vô ngã còn là đề tài dẫn đến tranh luận!

Và “vô ngã” là cảnh giới mà hầu hết người tu hành đều ước mong bản thân đạt đến! Tuy nhiên, muốn hay không muốn nói ra, dù rất nổ lực, nhưng phần lớn đều tự cảm thấy: “bản thân ta vẫn còn cái ngã”!

Vì thế, cái ngã luôn là một trong những “vật cản” rất lớn trên con đường tiến tu! Để giải quyết vấn nạn này, chúng ta cần xem xét chữ “ngã” và “vô ngã” trong Phật đạo nhằm chỉ cho điều gì! Và, làm thế nào để có thể chạm vào cảnh giới vô ngã!

Khi thấu đáo hai khái niệm trên, theo mình chuyện “có ngã” hay “không ngã”, không còn là vấn đề!

Khi người tu hành luận về chữ “ngã” trong Phật đạo, hầu hết đều mặc nhiên hiểu chữ “ngã của Phật đạo” theo khái niệm “ngã hay bản ngã của Triết học hoặc Phân tâm học”! 

Người tu hành thường hiểu chữ ngã nằm trong các nghĩa: Cái tôi, cái ta, chủ thể đón nhận những gì xảy ra trong chính mình (bản ngã), hoặc hành vi hay sự nhận biết khi các căn xúc đối với ngoại trần, trong đó nó hàm chứa những “đặc tính” để phân biệt, ứng phó với những “cái tôi” khác, v.v...!!!

Theo nhận xét chủ quan của mình, khi người tu hành hiểu về khái niệm ngã như những gì đề cập ở trên, cái hiểu này không sai, nhưng nó không phải là khái niệm “ngã” mà Phật đạo muốn nói đến!

Nếu chúng ta cứ mặc định “ngã trong Phật đạo” có những ý nghĩa như Triết học hoặc Phân tâm học, sự mặc định này vô hình trung “chúng ta tự làm khó chúng ta”! 

Chính sự “tự làm khó” này, chẳng thể nào giúp chúng ta “giác ngộ thật nghĩa vô ngã của Phật đạo”!

Để làm sáng tỏ vấn đề, mình cùng các bạn thử khảo sát ba khái niệm “ngã” theo ba quan điểm sau:

● Trong triết học, “ngã hay cái tôi” được hiểu là cái tôi ý thức hay đơn giản là tôi, bao hàm trong đó những đặc tính để phân biệt tôi với những cá nhân khác.

● Trong phân tâm học, “cái tôi” (ego) là phần cốt lõi của tính cách liên quan tới thực tại và chịu ảnh hưởng của tác động xã hội. Theo Sigmund Freud, "cái tôi" cùng với "nó" (id) và "cái siêu tôi" (superego) là ba miền của tâm thức.

"Cái tôi" được hình thành ngay từ khi con người sinh ra và qua tiếp xúc với thế giới bên ngoài, "cái tôi" học cách cư xử sao cho kiểm soát được những ham muốn vô thức không được xã hội chấp nhận. "Cái tôi" có vai trò trung gian hòa giải giữa những ham muốn vô thức và những tiêu chuẩn nhân cách và xã hội.

● Trong triết lý Phật giáo, "cái tôi", thường gọi là “ngã”, là "cái tôi" được thiết thuyết với một thể tính trường tồn, không bị ảnh hưởng của tụ tán, sinh tử. (nguồn Wikipedia)

֎ Theo Lã Thị, chữ ngã trong Phật đạo, nếu dịch thành “cái tôi” như thế này (đoạn văn dẫn), rất dễ dẫn đến hiểu nhầm thành cái tôi của Triết học. Có thể! Cứ giữ nguyên từ Hán-Việt là “ngã” như các bản dịch của kinh, việc giữ nguyên (chữ ngã) như thế, hy vọng người tu dễ cảm nhận hơn!

A: Hai bạn! Theo những giải thích trên, chúng ta thấy rất rõ một điều, phần lớn người tu hành đang hiểu nhầm chữ “ngã của Phật đạo” trở thành khái niệm “ngã hay bản ngã” của Triết học hoặc Phân tâm học!

Chính sự hiểu nhầm nói trên, đã đưa chúng ta đi quá xa khái niệm “ngã và vô ngã” của Phật đạo! Cũng chính sự đi quá xa về khái niệm, nó đã không giúp chúng ta giác ngộ (hiểu rõ và thấy đúng) bản chất đích thực của cảnh giới vô ngã trong Phật đạo!

B: Thưa SH[2]!  Như vậy, trong Phật đạo có những khái niệm nào tương đối giống “khái niệm ngã của Triết học và Phân tâm học”?

A: Theo mình thì có, có nhiều! Chữ ngã mà người tu hành đã hiểu theo nghĩa Triết học, thực chất nó gần giống với chữ “mạn” của Phật giáo!

Cũng có khi, người tu hành đánh đồng khái niệm bản ngã của Phân tâm học thành khái niệm “cái biết” hay “tánh giác” trong Phật đạo! Mình xin tạm giải thích các điều trên như sau:

● Khi nào người tu hành hiểu chữ ngã của Triết học, thành chữ “mạn” trong Phật đạo?

Đó là khi, người tu hành hiểu chữ ngã của Phật đạo có các nghĩa như: Cái tôi, cái ta, sự phân biệt, sự chấp chặt, một hình thức đối kháng hay đồng tình trước một đối tượng hay các quan điểm trái ngược, v.v...  Những nghĩa kể trên, chính là các nghĩa mang trong nó những tính chất thuộc về “thất chủng mạn” của Phật đạo! Thất chủng mạn gồm: Mạn, quá mạn, mạn quá mạn, tăng thượng mạn, ti liệt mạn, tà mạn, ngã mạn!

Mạn: Chủ thể mê lầm (có hình thái) đại diện, là căn bản phát sinh sáu thứ mạn kia, khi chủ thể này bị chấp chặt, người tu hành không thể thoát khỏi những định kiến mà bản thân huân tập trước đó!

Mạn là một trong mười kiết sử! Mười kiết sử, gồm: Năm độn sử: Tham, sân, si, mạn, nghi. Năm độn sử thuộc về lỗi hành vi, những hành vi nói trên không tự có, mà nó xuất phát từ nhận thức sai lệch, nhận thức không như pháp (tức nhận thức phi pháp)!

Có năm thứ nhận thức sai lệch, năm kiến chấp phi chân lí (phi pháp), trở thành nhân tố làm nên các lỗi hành vi, gọi là năm lợi sử, gồm: Thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến và tà kiến!

Nói chung, chữ ngã của Triết học, theo mình thì, có “một số nét tương đồng” với chữ mạn của Phật đạo!

B!  Xin SH cho biết, khi nào người tu hành tịch diệt mười kiết sử, trong đó có “mạn kiết sử”, mà người tu hành hiểu thành chữ ngã?

A: Như đã trình bày ở trên, mạn (bao gồm thất chủng) thuộc lỗi hành vi (độn sử)! Mà độn sử (các lỗi bị ngu mê sai sử) sở dĩ xuất hiện, là do nhận thức sai lầm. Khi nào người tu hành có được một số kiến thức cơ bản chuẩn và đúng đắn (gọi là giác), cũng như áp dụng triệt để những kiến thức này vào đời sống, áp dụng đến thuần thục, các kiết sử sẽ tự dừng, trong đó “thất mạn cũng dừng theo”! Phần tu tập này thuộc về Tập đế của Tứ đế!

Vì thế, người tu hành thành tựu quả vị đầu tiên của Phật đạo là Tu Đà Hoàn, người này chỉ dứt được ba kiết sử, đó là: Thân kiến, giới cấm thủ kiến và nghi! Trong ba kiết sử trên, có đến hai kiết sử thuộc về nhận thức (lợi sử) là thân kiến và giới cấm thủ kiến, chỉ một thuộc về độn sử là nghi!

Nói khác đi, tu tập để dứt phiền não kiết sử, chính là quá trình thay đổi nhận thức! Do nhận thức thay đổi, hành vi sẽ thay đổi! Mạn (hay cái ngã theo quan điểm của Triết học) sẽ tự chấm dứt khi, người đó thật sự giác ngộ đúng như chánh pháp!

B: Xin hỏi! Còn khái niệm bản ngã được hiểu theo Phân tâm học là những gì? Và nó sẽ tịch diệt khi nào?

A: Chữ ngã (hay bản ngã) được hiểu theo Phân tâm học, gồm các khái niệm như: Tôi cảm nhận, tôi biết, tôi nhận thức, v.v...  Các đặc tính này, chính là tánh biết, hay tánh giác trong Phật đạo! Phân tâm học hình thành khái niệm này, trong quá trình tánh giác đã bị tri thức (xã hội, luân lí, nhận thức) làm nhiễm ô!

Khi tánh giác (cái biết) không còn nhiễm ô! Cái được người tu hành gọi là “bản ngã” theo quan niệm của Phân tâm học, sẽ trở về nguyên trạng của nó là tánh giác.

Tánh giác là một trong những tính chất cơ bản của “tự tánh” (tánh bản nhiên). Nó chính là “nhân Phật”! 

Tánh giác hay “thỉ giác” (cái biết bản nhiên) là cơ sở tốt nhất, là “điều kiện ắt có” để người tu hành dùng nó như một công cụ không thể thiếu để tiếp thu “bản giác” (cội nguồn giáo pháp) do chư Phật chiếu ra! Vì thế kinh dạy: “Chư Phật từ bản giác (chiếu) đi ra, người tu hành từ thỉ giác (thể nhập, học tập) đi vào, chỗ gặp nhau gọi là đẳng (nhận thức, thấy biết không sai khác)!”

B: Xin hỏi SH! Như vậy, khái niệm ngã và vô ngã đích thực của Phật đạo nhằm nói lên điều gì?

A: Chữ ngã (hay khái niệm ngã) của Phật đạo, hoàn toàn không giống khái niệm ngã hay bản ngã của Triết học và Phân tâm học!

− Khái niệm ngã của Phật đạo, nhằm chỉ cho cái gì đó, hay một nền tảng nào đó, mà trong ấy gồm đủ tính chất thường hằng, tức không bị chi phối bởi thời gian, không gian hay các pháp (quan niệm)!

Nói khác đi, chữ ngã của Phật đạo, là thuật ngữ nhằm chỉ cho: Đại Niết Bàn, Phật tánh, Phật trí, hay Phật pháp, tức thứ chân lý tuyệt đối mà chư Phật đã giác ngộ! 

Trong kinh Phật cũng thường dạy: “Phật tánh là ngã, ngã là Phật tánh”, hoặc “Đại Niết Bàn là thường”, hay “Phật trí là thường, Phật trí là ngã”!

Nói chung, hai đức tính “ngã và thường” của Phật đạo, chính là hai mặt của một vấn đề, ta có thể hiểu ngã và thường là hai tính chất thuộc về chân lí, tức cái này có nên cái kia có, nếu cái này không cái kia cũng sẽ không! Có nghĩa rằng, cái gì có tính chất thường hằng, cái đó luôn là ngã! Cái gì thuộc về ngã, cái đó luôn thường hằng! Hai thứ thuộc về chân lí nêu trên, vĩnh viễn không chịu sự chi phối hay tác động bởi bất kì một nguyên nhân nào!

● Về vô ngã: Ngày xưa (có thể cả hôm nay), có rất nhiều trường phái tu hành! 

− Có trường phái chủ trương tu luyện để thân này (tức sắc ấm) trở thành thường hằng (ngã)! 

− Có trường phái chủ trương tu luyện để thọ ấm trở thành thường hằng! 

− Có trường phái chủ trương tu luyện để tưởng ấm trở thành thường hằng! 

− Có trường phái tu luyện để hành hoặc thức ấm trở thành thường hằng! 

Họ hy vọng rằng, với sự tôi luyện này, ngũ ấm sẽ trở thành nơi nương cậy vĩnh cữu gọi là ngã hay thần ngã!

● Phật, sau khi tự thân chứng ngộ, bèn tuyên thuyết chân lí do mình tìm thấy, đó là: “Cái gì vô thường, cái ấy không bền chắc! Cái gì vô thường, cái ấy tự không thể là ngã (sự bền chắc, thường hằng)!”

Phật cũng chỉ ra rằng: “Ngũ ấm và trong ngũ ấm tự nó không có ngã! Không có ngã vì nó vô thường!”

Phật cũng lại chỉ ra rằng: “Cái gì thuộc về tạo tác, do tạo tác mà thành, cái đó không thể là ngã, và nó chịu quy luật của sanh, trụ, dị, diệt!”

Phật cũng dạy: “Các quan niệm (pháp), không thể trở thành ngã, không thể trở thành trú xứ vĩnh cữu cho một hữu tình, vì các quan niệm sẽ đổi thay theo năm tháng!” Cho nên Phật dạy: “Quán pháp vô ngã”!

Nói tóm lại, khi Phật tuyên thuyết vô ngã, là tuyên nói một sự thật! Người biết sự thật này, sẽ không phải mất công đi tìm chân lí từ những thứ hư vọng nêu trên!

Nói khác hơn! Vô ngã là một sự thật, người tu hành giác ngộ được sự thật này, cơ hội tìm thấy chân lí đích thực, cơ hội tìm thấy an lạc vĩnh hằng, sẽ trở thành hiện thực ngay trong hiện tại này khi nhận thức sai lầm về ngã đã bị cởi bỏ!

Tóm lại, Phật tuyên thuyết ngã hay vô ngã, ý nghĩa của nó không giống như hai khái niệm ngã hay bản ngã của Triết học và Phân tâm học mà người tu hành hiện nay đang hiểu!

Nếu chúng ta không biết thật nghĩa của ngã và vô ngã của Phật đạo, lấy những khái niệm của Triết học hay Phân tâm học làm cơ sở lí luận, coi như đây là quan điểm chính thống của Phật đạo, hoặc dùng nó để tiến tu, nhất định sẽ không thể nào thấu suốt cảnh giới vô ngã của Phật đạo!

B! Xin hỏi SH! Như vậy, người tu hành hiểu sai thật nghĩa chữ ngã và vô ngã trong Phật đạo, hậu quả của nó là gì?

A: Phật đạo là một nền giáo dục! Vì thế, nó luôn có những từ ngữ chuyên môn! Trong giáo dục, hiểu sai từ ngữ, sẽ không thể thành tựu các mục tiêu do nền giáo dục đó đề ra!

Phật đạo cũng như thế! Nếu hiểu đúng hai chữ ngã và vô ngã, các bạn đã thâm nhập cảnh giới vô ngã từ lâu rồi, đâu nhất thiết phải đợi đến hôm nay! Một khi, dù đã rất cố gắng mà ta không thể nhập được, xin hãy coi lại hiểu biết của mình đã thật sự đúng hay chưa! Giống như một cung thủ, miệt mài nhắm bắn, mà không có phát nào trúng mục tiêu, phải xem lại, mục tiêu mà ta định bắn có phải là cái mà ta đang thấy hay không!

֎ Kết luận! Phật tuyên thuyết ngã hay vô ngã, không nhằm để chỉ đến cái tôi hay cái ta như mọi người đã hiểu mà, nhằm chỉ ra rằng: Anh không thể dùng thân tâm (ngũ ấm) hư vọng này, hay các quan niệm hư vọng kia để tu luyện, mong nó trở thành chỗ nương cậy vĩnh hằng!

● Lời dạy này, cũng chính là cảnh báo, nhằm điều chỉnh những hiểu biết sai lầm về ngã hay thần ngã, xuất phát từ những định kiến sai lầm mà thế gian thường biết đến!

● Có một điều rất khó là, khi người ta đã hiểu sai một điều gì đó, mà điều đó lại được số đông đồng tình, thậm chí cái sai trở thành văn hoá. Sự hiểu sai này rất khó sửa chữa! Khi đó, cái đúng chẳng những không được chấp nhận, đôi lúc còn bị cái sai chỉ trích, thậm chí ném gạch đá lung tung!

Tạm biệt hai bạn! Lần gặp nhau kế tiếp, chúng ta sẽ luận bàn phần khác                                         

  (28-07-2019)


[[1]] HĐ: Huynh Đệ

[[2]] SH: Sư Huynh

Gửi tin nhắn đến người dùng

Thông báo bài viết mới

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 05.10.2026

Xin chào Quý Đọc Giả,

Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.

https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/ba-huynh-de-ban-chuyendoc-kinh

Trân trọng,

Tags:

Tác Phẩm Lý Tứ

Ba Huynh Đệ Bàn Chuyện..Đọc Kinh

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 23.02.2023

A: Xin chào hai vị! Hai vị có khoẻ không? Tình hình tu tập thế nào?

B: Chào SH! Đệ và Lã Muội đến đây trước SH chừng ba mươi phút, cùng bàn về việc tu tập trong mấy ngày qua để trình SH giúp đở! Xin cảm ơn! Hai đứa đệ đều khoẻ!

A: Hai vị thảo luận những gì? Có điều chi không ổn?

B: Thưa SH! Về mặt tu tập! Đệ và Lã Muội vâng lời SH, suốt mấy ngày qua chỉ quay lại tâm này, không nhìn ngó ra bên ngoài! Nhờ thế! Tâm luôn luôn an ổn, hỉ lạc khinh an tràn đầy! Lúc nào cũng thấy tâm tư nhẹ nhàng, như người đã đặt gánh nặng xuống! Cảm ơn SH đã giúp cho hai đứa đệ có những phút giây thực sự là chính mình!

Theo lời SH dặn dò, ngoài việc thủ hộ chỗ đã giác ngộ! Hai đứa đệ thường dùng các bài kinh SH chỉ định, đọc tụng để hộ trì!

Có một điều, cả đệ và Lã Muội cùng có chung một cảm giác, đó là càng đọc các bài kinh này, tâm thức càng thanh tịnh! Nhưng cả hai đứa dù rất muốn nhớ lời kinh, nhưng chẳng thể nào nhớ được! Điều này, khiến hai đứa đệ có chút nghi ngờ về bản thân! Không lẽ giác ngộ rồi, đầu óc cứ ngây ngô, chỉ có lời mấy bài kinh mà không nhớ nổi! Trong lúc đó, mỗi khi đề cập đến kinh điển thì SH phân tích giảng nói như thuộc lòng!

Xin hỏi SH! Có phải SH đã cất công học thuộc kinh điển hay không? Làm thế nào để hai đứa đệ có được khả năng nhớ và hiểu kinh điển như SH?

A: Hai bạn! Đây là tâm trạng chung của người sơ ngộ! Hai bạn đừng quá lo lắng về việc này! Dần dần, rồi các bạn cũng sẽ có được những gì mình có hôm nay!

● Về đọc kinh: Theo mình biết, kinh Phật có rất nhiều! Mình tin rằng với sức một con người, không ai trên đời có thể học thuộc hết kinh điển nhà Phật!

Vả lại, Phật đạo không chủ trương dạy người học thuộc văn tự kinh, mà chỉ đề cao phương pháp giúp người hiểu rõ điều mình đã đọc. Một khi thấu tỏ điều mình đã học, ứng dụng nhuần nhuyễn vào đời sống, lúc ấy không cần thuộc lời kinh, các bạn cũng có thể mô tả lại ý nghĩa lời kinh đó thông qua cách trình bày của mỗi người. Vì thế! Phương châm “y nghĩa bất y ngữ” từ xưa đến nay luôn là phương pháp tu học được người tu hành đặt lên hàng đầu!

Thấu tỏ và ứng dụng nhuần nhuyễn điều mình đã học, cũng chính là việc làm, nhằm giúp nghĩa kinh trở thành thường trong ý nghĩa “pháp bảo thường trụ”. Việc ứng dụng mỗi mỗi nghĩa kinh tương ưng với từng cảnh giới giác ngộ, biến nghĩa kinh trở thành hơi thở, trở thành máu thịt, trở thành đời sống, chính là việc thai nghén để thân này vị lai trở thành “sắc giải thoát”, “sắc thường trụ” và cuối cùng, cũng từ nghĩa kinh mà thành tựu “pháp thân thường trụ”! Vì thế! Bài kinh đầu tiên Phật thuyết cho năm anh em Kiều Trần Như mới có câu nói với đại ý: “Này Kiều Trần Như! Diệt sắc vô thường, sẽ được sắc giải thoát, sắc thường trụ”!

Còn, nếu chúng ta chỉ chú trọng đến việc cố học thuộc lòng tất cả lời kinh mà không hiểu ý nghĩa, cũng như chẳng thể ứng dụng vào đời sống! Điều này sẽ dẫn đến hệ quả, “tẩu hoả nhập ma” do bội thực văn tự kinh điển! 

Vả chăng, trí nhớ của con người có hạn, bạn có thể học thuộc một điều gì đó, nhưng qua năm tháng sẽ làm bạn quên điều đó, giả sử sau nhiều ngày không quên, nhưng lúc già, ngủ mê, chết giấc hoặc gặp một sự cố ngoài mong muốn có thể bạn sẽ quên!

Còn, nếu bạn ứng dụng điều gì đó đến thuần thục, không cần nhớ nghĩ, nhưng nhất định bạn sẽ không quên! Ví dụ như, khi ăn cơm, bạn cầm đũa tay trái, động tác này được lặp đi lặp lại từ nhỏ đến lớn, khi thuần thục rồi, lúc ngồi vào bàn ăn, bạn không cần nhớ nghĩ mình nên cầm đũa tay nào, nhưng nhất định bạn sẽ không cầm lộn tay! 

Thậm chí trong giấc mơ, bạn cũng không thể cầm đũa bằng tay mặt! Điều này, Phật đạo gọi là “huân tập thành chủng tử, thành tánh, thành tập quán”, kinh gọi sự tình này là: “Pháp vô vong thất, tánh hằng tự xả”! Vì thế, từ sơ ngộ đến rốt ráo giác ngộ, là quá trình người tu hành “huân tập như pháp” (khác huân tập phi pháp) để thành tựu “lục chủng tánh Anh Lạc”. Tức mỗi giai đoạn giác ngộ là quá trình huân tập để tâm thức trở thành một chủng tử (hạt giống). Chủng tử này sẽ là hạt giống, khi đủ duyên sẽ nảy mầm ở vị lai!

● Về chuyện tiếp nhận ý nghĩa kinh điển: Người tu hành từ sơ ngộ đến rốt ráo giác ngộ, phải trải qua rất nhiều giai đoạn tu tập với rất nhiều bộ loại kinh khác nhau. Thông thường, mỗi giai đoạn, được bậc Đạo Sư chỉ định một vài bộ kinh nào đó tương ưng với cảnh giới giác ngộ, để vị đó đọc tụng, giống như các bài kinh mình vừa chỉ định cho hai bạn!

Vì sao nó lại như vậy? Chúng ta có thể hiểu nôm na, Kinh Phật như thuốc chữa bịnh, mỗi giai đoạn điều trị sẽ có một số thuốc thích hợp, việc tăng giảm liều lượng cũng như thời điểm uống thuốc, nhất nhất đều do thầy thuốc chỉ định, người bệnh không được tự ý sử dụng thuốc theo kiến thức của mình! Thực tế trong đời, không thiếu những người tự ý bốc thuốc, tự ý chữa trị, hoặc nghe theo người không hiểu biết mách bảo. Điều này dẫn đến hệ quả, “tiền mất tật mang”, bệnh tình không hết lại còn nghiêm trọng hơn! Đến khi phát hiện ra sự nhầm lẫn tai hại này, coi như “cận địa viễn thiên”!

● Về việc lãnh hội kinh điển: Trong mỗi giai đoạn giác ngộ, người tu hành khi đọc kinh điển sức lãnh hội sẽ chuyển biến theo từng giai đoạn:

─ Giai đoạn sơ ngộ: Khi đọc đúng các loại kinh điển do Đạo Sư chỉ định, vị tu hành này có cảm giác lời kinh như thứ thuốc an thần, như dòng nước mát trong cơn nóng bức! Càng đọc càng thấy thanh tịnh, càng đọc càng thấy hỉ lạc sung mãn! Nhưng khi buông cuốn kinh, các cảm giác ấy mất dần, cố nhớ lời kinh nói gì cũng không thể nhớ được! Đây là trường hợp của các bạn khi đọc kinh trong thời điểm hiện tại!

Vì sao nó lại như vậy! Giống như một người mê âm nhạc, nhưng kiến thức âm nhạc chưa chuyên sâu, hiểu biết về âm nhạc không nhiều! Khi người đó nghe một bản nhạc nước ngoài, với âm điệu của bản nhạc, người đó cảm thấy thích thú, cảm thấy vui vẻ, v.v... Nhưng khi nghe xong, cái cảm giác ấy mất dần và họ cũng không hiểu nội dung bản nhạc nói gì!

─ Giai đoạn kế tiếp: Trải qua giai đoạn sơ ngộ, đến tầng giác ngộ sâu hơn, ngươi tu hành đọc một bài kinh nào đó cộng với sự giảng giải của Đạo Sư, ngoài việc có những cảm giác như giai đoạn đầu, họ còn có thêm một cảm nhận nửa, đó là khi đọc kinh, từng chữ, từng câu, từng lời kinh tương ưng với tâm họ, họ cảm giác như Phật thuyết lời kinh này cho riêng mình! Đối với lời kinh, họ có nhớ được một vài phần cốt lõi, nhưng khi trình bày, đầu đuôi lộn lạo, giống như trẻ con tập trình bày một sự việc với người lớn!

Vì sao như vậy? Giống như người mê âm nhạc nói trên! Từ thích thú bản nhạc nước ngoài đã được nghe, họ tìm hiểu ý nghĩa bản nhạc đó nói gì, biết được ý nghĩa, những đoạn nhạc tương ưng với tâm tình hiện tại sẽ được người đó hát lên trong bất cứ hoàn cảnh nào, hay khi làm việc gì!

─ Giai đoạn giác ngộ thứ ba, sau hai giai đoạn trên, ngoài những cảm nhận trước, trong một lúc bất chợt nào đó, người tu hành phát hiện ra, bản thân có thể thấu suốt ý nghĩa một số kinh điển, có thể tuyên thuyết, giảng nói một số điều trong Phật đạo mà không cần nhớ lời kinh! Và họ cũng tự tin rằng, điều mình tuyên thuyết không thể sai với lời Phật ở một số cảnh giới nhất định!

Vì sao nó như vậy? Giống như người mê âm nhạc, người ấy miệt mài học tập về âm nhạc, nhờ thế khả năng cảm thụ và chuyên môn âm nhạc tiến triển rõ rệt! Nhờ cảm thụ tốt, nhờ chuyên môn giỏi, một bất chợt nào đó, họ nhận ra bản thân mình cũng có thể viết được những bản nhạc đơn giản, hoặc khi nghe một bản nhạc mới, họ có thể đàn và hát theo một cách dễ dàng!

─ Giai đoạn cuối cùng: Sau một thời gian miệt mài tu tập, tuy rằng có hiểu kinh điển, tuy rằng có thể giảng nói, có thể giúp người thành tựu một số tầng bậc giác ngộ đầu tiên! Nhưng, trong lòng của vị ấy, tự biết chắc rằng, còn có điều gì đó sâu thẳm nhất của Phật đạo mà bản thân chưa thể khám phá ra! Cái vướng bận cuối cùng này chính là “Khổ Chân Đế”. Phật đạo có bốn giai đoạn khổ là: Khổ tục đế, Khổ thánh đế và Khổ chân đế, khi nào cơ duyên đủ, mình sẽ trình bày!

Trong cái day dứt của điều gì đó còn vương vướng trong lòng, trải qua nhiều năm tháng ưu tư, trải qua bao nhiêu trăn trở, trải qua nhiều đêm không ngủ, trải qua công hạnh giáo hoá dày sâu vì hết thảy chúng sinh! 

Một phút giây bất chợt, vị ấy hoát nhiên hiểu ra mọi sự, bài toán cuối cùng của Phật đạo đã được giải xong! Câu hỏi, “Phật đạo đích thực là gì?” nay tự sáng tỏ! Mọi thứ như “trái a ma lặc nằm trong lòng bàn tay”! Vị ấy là kinh, kinh là vị ấy! Vụ nổ Big Bang tâm thức đã giúp vị này hoàn thành đạo nghiệp! Bây giờ, công hạnh là đời sống, còn duyên hoá độ thì còn tồn tại, hết duyên như “vệt nắng cuối ngày”!

Hai bạn! Thế đó! Thế đó! Tu tập và lãnh hội kinh điển trải qua những giai đoạn như thế! Các bạn còn thắc mắc điều chi không?

B: Thưa SH! Vậy mà, khi nghe SH nói chuyện, nghe SH khai thị, nghe SH cắt nghĩa kinh điển, v.v... Chúng đệ cứ tưởng SH học thuộc kinh, rồi nói trở lại!

A: Nếu mình mà học để thuộc tất cả kinh Phật, chắc cái đầu của mình đã bể từ lâu rồi chứ làm gì nó còn trên cần cổ để đi tới đi lui đến ngày hôm nay! Nếu không bể đầu, với lượng kinh điển đồ sộ như thế, học thuộc từng bài, không chết cũng “tửng tửng ở nhà thương điên Biên Hoà” chứ làm sao mà tỉnh táo để ngồi nói chuyện với hai bạn nơi đây!

B: Như vậy, nếu có một ai đó giảng giải sai kinh điển, nhất định vị có được giác ngộ, tuỳ tầng bậc sẽ phát hiện ra chỗ sai của họ?

A: Người giác ngộ chân chánh trong Phật đạo, chính là người đi xa nhiều năm tháng, nay trở về và sống trong căn nhà giáo pháp!

Tuỳ thời gian sống, sự hiểu biết về căn nhà sẽ cho ra mức độ thông thuộc như: Hình dáng, kết cấu, màu sắc, sự bài trí và các con đường dẫn về căn nhà của mình!

Cho nên, có một ai đó chỉ nghe hoặc học thuộc những gì về căn nhà mà chưa từng sống ở đó, khi nói lại, nhất định họ chỉ có thể mô tả theo trí tưởng tượng, nói theo kiến thức đã học, còn những gì thuộc về thực tế như, sự sắp xếp, kết cấu, các con đường, v.v...thì không thể mô tả rành mạch! Chỉ có người chủ nhà đích thực, mới mô tả không sai từng ngóc ngách trong nhà! Những ai chưa từng đến đó, chưa từng ở đó, khi mô tả về căn nhà, lập tức chủ nhà sẽ phát hiện ra các sai sót mà không cần suy nghĩ!

Giác ngộ và Niết Bàn cũng như thế! Kinh điển chính là các kiến thức cơ bản về ngôi nhà chung Giác Ngộ! Nào là cái nóc hướng lên trên trời, nào là cái cửa lớn phía trước, nào là nhà bếp phía sau, nào là ngói đỏ tường xanh, v.v... Những ai đã từng đọc kinh điển, đã từng nghe nói đến Niết Bàn đều biết các đặt tính chung của Niết Bàn như thanh tịnh, không động, hết kiết sử, v.v... Nhưng, làm thế nào để thanh tịnh, kiết sử sơn xanh hay đỏ, bất động làm bằng gạch hay ván, nhất định họ sẽ tha hồ mà tưởng tượng và giải thích theo những gì mình tưởng tượng ra!

Còn người chủ nhà, khi mô tả về căn nhà, hay chỉ đường cho một ai đó muốn đến căn nhà của mình, người chủ có thể nào mô tả hoặc chỉ dẫn lộn lạo, sai lệch được không? Sự khác biệt của tri thức và thực chứng trong Phật đạo, giống hệt như vậy!

Ngay bản thân mình, cũng không hiếm trường hợp, nghe thiên hạ bàn luận về căn nhà giác ngộ! Thấy không hợp lí, mình chỉ ra những điều bất hợp lí của họ như, cái này hiểu thành cái kia, màu xanh hiểu thành màu đỏ, v.v... Một số vị khi nghe xong, bèn phán như đinh đóng cột: “Ông là người học thuộc kinh điển, nhưng không giác ngộ”! Chao ôi! Giác ngộ phải chăng là sự nhập nhằng, lộn lạo, hiểu cái này thành cái kia giống như các vị ấy đã từng hiểu hay sao?

Tóm lại, từ “sơ giác” đến “liễu giác”, chính là quá trình chuyển biến, là sự bắt gặp, rồi đi đến, sống và cuối cùng là thông thuộc căn nhà chung của Phật đạo!

Từ quá trình này, sẽ cho ra bốn điều đặc trưng của văn hoá Phật giáo, đó là: “Từ vô ngại, nghĩa vô ngại, pháp vô ngại và biện tài vô ngại!”

Từ vô ngại, chính là biết rõ màu sắc, vị trí của ngôi nhà và các món đồ trong đó. Nghĩa vô ngại, chính là nắm vững vật liệu xây dựng ngôi nhà, cũng như chất liệu làm nên từng vật dụng riêng biệt trong ngôi nhà. Pháp vô ngại, chính là thấu suốt xuất xứ các món đồ, đơn vị thi công, thời gian thi công, cũng như giá trị thật của căn nhà. Biện tài vô ngại, chính là những hiểu biết chắc thật, sự thông tuệ khi mô tả về căn nhà, cũng như hướng dẫn các bước để người khác có thể đi đến đến ngôi nhà của mình bằng các con đường khác nhau một cách chính xác nhất và mau chóng nhất!

Tóm lại, Tứ Vô Ngại Biện kể trên, chính là bốn nét thông tuệ tiêu biểu của những ai đã từng đến và sống trong ngôi nhà chung Giác Ngộ, mà chư Phật đã lập nên!

Câu chuyện đã quá dài! Tạm biệt hai vị HĐ thân yêu! Ngày mai chúng ta sẽ trao đổi tiếp!!!!

Gửi tin nhắn đến người dùng

Thông báo bài viết mới

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 05.10.2026

Xin chào Quý Đọc Giả,

Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.

https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/ba-vi-huynh-de-ban-chuyenxuat

Trân trọng,

Tags:

Tác Phẩm Lý Tứ

Ba Vị Huynh Đệ Bàn Chuyện..Xuất Thế

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 23.02.2023

B: Thưa SH (Sư Huynh)! Hôm nay cho phép Tôi và Lã Muội chính thức gọi Sư Huynh bằng danh xưng tốt đẹp là Sư Huynh!

Mặc dù đệ và Lã Muội chưa được gặp Thầy như SH đã hứa, chưa chính thức làm môn hạ! Nhưng bài pháp hôm qua, công ơn khai trí của SH hôm qua, đã giúp cuộc đời của hai đứa tôi có sự thay đổi lớn! Thay đổi này, là sự khởi đầu hoàn hảo, là bước ngoặt về nhận thức, là sự tiếp nhận nguồn ánh sáng đầu tiên của kẻ bao nhiêu năm cam chịu cảnh mù loà giáo pháp!

Thưa SH! Lời khai thị của SH hôm qua, đã giúp chúng tôi nhìn ra, thế nào mới là đạo xuất thế, thế nào là con đường đưa đến vô lậu, thế nào là bước chân đầu tiên, bước chân đích thực giúp đi vào con đường chuyển hoá để một phàm phu vô văn trở thành kẻ có trí trong Phật đạo! Hay nói khác hơn, SH đã giúp chúng tôi đặt một chân vào cảnh giới xuất thế!

Suốt đêm, những gì SH đã nói hôm qua, cứ lãng vãng trong tâm trí của mình! Trằn trọc, trăn trở với những nhận thức mới, với những tư duy mới, giống như lần đầu tiên con nòng nọc từ giã cái đuôi của mình để trở thành loài lưỡng cư!

Tuy không ngủ được, nhưng lại không thấy mỏi mệt, thân tâm nhẹ nhõm! Càng tư duy, hỉ lạc khinh an càng hiện! Cái phàm tâm, cái chấp nhất, không cần xua đuổi mà nó tự rơi rụng! Đúng là, không thấy tu mà lại thay đổi đến không ngờ! Đúng là không thấy chứng, mà biết rõ nơi đâu mới là cảnh giới xuất thế! Xin vạn lần tri ân SH!

A: Về chuyện danh xưng! Các bạn gọi thế nào tuỳ thích! Mình đã không còn coi trọng danh tướng từ lâu rồi!

Với mình, các bạn hiểu gì, nhận thức như thế nào, đời sống thay đổi ra sao mới là việc quan trọng! Cho dù các bạn có gọi mình là ông trời, mà nhận thức không thay đổi như pháp, đời sống vẫn cũ kĩ như hòn đá bên đường, hiểu biết chẳng khác chi người đời, tâm trí không chuyển biến, cứ khư khư ôm giữ những quan niệm hư ảo coi đó là lẽ sống thì, danh xưng ông trời cũng chỉ là thứ đối đãi phàm tình, chỉ là những câu nói đầu môi chót lưỡi, ve vuốt theo thói thường nhằm lấy lòng nhau, ích lợi không nhiều!

Hai bạn thấy đó! Thế gian hay xuất thế không phải là thứ người tu hành đi tìm trên non cao hay ngoài đảo hoang, mà nó ở ngay trong tâm trí này!

Cái được gọi là chúng sinh hay thế gian! Theo Phật đạo, không phải là điều gì ghê gớm! Mà thực chất, nó chính là văn hoá, là những quan niệm, nhận thức, lề thói đối đãi hằng ngày mà ta đã học tập và cưu mang hết đời này sang đời khác! Chính những thứ đó bắt ta làm nô lệ, trói buộc ta như con tằm nhã ra những sợi tơ để tự trói mình!

Đạo xuất thế, không phải là thứ có thể tìm kiếm ở một chân trời xa xăm nào đó! Mà nó ở ngay trong tâm thức này!

Muốn biết đạo xuất thế là gì! Phải tìm thấy cho bằng được cái gì được gọi là đạo thế gian! Chừng nào chưa nhận rõ cái gì là đạo thế gian, chừng ấy chưa thể tìm thấy cái gì là đạo xuất thế!

Thế gian hay xuất thế, giống như bóng tối và ánh sáng! 

Bóng tối và ánh sáng không phải là hai thực thể đối lập! Mà nó chỉ là hiệu ứng của có đèn cùng không đèn! 

Cũng nơi ấy, cũng không gian ấy, có đèn gọi là sáng, không đèn gọi là tối! Thế gian và xuất thế cũng như vậy, chỉ là hiệu ứng tâm trí của mê và giác, của vô minh và sáng suốt!

Nếu, cứ để cho các pháp thế gian che mờ! Nếu cứ chạy theo và sống bởi các quan niệm hư dối! Nếu chưa một lần biết dừng những thứ ấy! Nếu chưa có một phút giây quay lại để nhìn ngắm bản chất thật sự tâm này, v.v... thì, con đường giác ngộ hãy còn xa lắm! Khi nào còn chưa biết tâm là gì, pháp là gì, cứ mãi chạy theo ghét thương, phải quấy, thiện ác, hơn thua, thì hai chữ xuất thế chỉ là văn tự, chỉ là những ngôn âm nói cho vui tai!

Thực chất của cái được gọi là giác ngộ, giải thoát và trí tuệ... Chính là quá trình học tập như pháp, tư duy như pháp và ứng dụng như pháp để cho tâm và trí này sáng ra! Quá trình này bao gồm nhiều bước, từ loé sáng đến sáng dần, từ sáng dần đến toàn sáng, và cuối cùng là cực sáng!

Tu hành trong Phật đạo, chính là quá trình biến một người từ cực đoan chấp nhất trở thành kẻ minh triết! Do tính chất minh triết mà với người ấy, mọi thứ đều sáng suốt, mỗi mỗi đều phân minh, đời đạo không thể lẫn lộn! Nó giống như một người có thể chẻ sợi tóc làm hai, làm tư, làm tám, làm mười sáu... khi cần thiết, nhưng trong lòng chẳng bận tâm về sự chia chẻ ấy!

Tu hành trong Phật đạo là quá trình thăng hoa tính nhân văn trong mỗi con người, chứ không phải huỷ diệt sự tốt đẹp của trần gian! Giống như một nghệ sĩ siêu hạng, với tài năng diễn xuất, với đạo cụ và sân khấu, họ có thể biến vở kịch, tuồng hát thành những gì tốt đẹp nhất trong đời mà khán giả đang chờ đợi!

Nói tóm lại, tu hành trong Phật đạo, chính là quá trình huân ướp để vật thể được ướp cân bằng, bảo hoà với chất liệu dùng để ướp! Nó giống như người ta dùng muối để ướp cá. Nhờ được ướp thường xuyên, con cá sẽ thấm dần vị mặn của muối, nhờ thế trong suốt thời gian huân ướp con cá không bị ươn thối! Đến bao giờ, cá và muối bảo hoà, giữa cá và muối không còn sai khác về độ mặn, chừng ấy “cá tức thị muối, muối tức thị cá”!

Những gì mình trao đổi với hai bạn từ hôm qua đến giờ! Cũng chỉ là công việc vạch bèo trong ao để bóng trăng có thể hiện ra, không khéo giữ gìn, bèo sẽ tụ trở lại, và bóng trăng sẽ mất!

Những gì mình trao đổi với hai bạn từ hôm qua đến giờ! Cũng chỉ là những hạt muối nhỏ bé đầu tiên chạm vào lớp da bên ngoài con cá! Nếu không được huân ướp thường xuyên, nếu không biết tăng thêm lượng muối cần thiết, con cá sẽ sình thối theo thời gian! Một khi con cá đã sình thối, cho dù có đem hết muối của trần gian để ướp, con cá kia khó có thể giữ được hương vị đặc trưng ban đầu của chính nó!

B: Thưa SH! Cả hai chúng tôi, đã gặp được thứ muối xuất thế từ SH ban tặng! Nguyện từ nay trở đi, sẽ tiếp nhận thứ muối đó, nguyện ngày ngày huân ướp để đến bao giờ “cá tức thị muối, muối tức thị cá” như SH đã dạy! Đệ thầm nghĩ! Không thể để cho con cá tâm thức này bị ươn thối, khi trước mặt mình là một biển muối xuất thế!

A: Phật đạo như đại hải! Bao nhiêu năm rồi, ngày ngày tôi đã được Thầy của mình dùng muối xuất thế huân ướp, thế mà giờ này vẫn chưa thể ngừng! Theo mình biết, sau khi dùng muối xuất thế huân ướp đến khi con cá không thể bị ươn thối trở lại. Người tu hành còn phải mất một thời gian dài huân ướp bởi một thứ hương mới, đó là mùi hương “Xuất Thế Gian Thượng Thượng”. Chừng ấy, con cá xuất thế mới có có đủ cả “hương lẫn vị”! Khi đó, mới có thể đem con cá trở lại trần gian để bán cho những ai đủ duyên (gọi là nhập thế)!

Phật đạo còn dài lắm! Chẳng phải như những hạt muối nhỏ bé mà tôi và hai vị đã đàm luận bấy lâu nay! Hai bạn có bao giờ nghe đến năm thứ hương vô lậu xuất thế hay chưa! Đó là vô lậu giới hương, vô lâu định hương, vô lậu tuệ hương, vô lậu giải thoát hương và vô lậu giải thoát tri kiến hương! Chỉ có hương vô lậu xuất thế mới có thể bay ngược gió, mới có thể lan toả khắp mười phương!

Một chút ánh sáng ban đầu, chẳng phải là gì ghê gớm so với mặt trời! Một chút giác ngộ nhỏ bé chưa nói lên được điều gì so với biển trí chư Phật! “Trường đồ tri mã lực”! Đường xa mới biết sức ngựa! Phật đạo có trên năm mươi quả vị, có sáu chủng tánh Anh Lạc, có đến bốn đế, có trí hữu sư và vô sư! Chưa đến được đích cuối cùng, chưa thể nói chắc rằng, trong đời này, con ngựa giác ngộ có dừng bước hay không!

Hai vị hãy về, tư duy những gì đã nghe hôm nay! Hi vọng không có kẻ “trốn học giữa chừng”! Ha ha ha ha!!!

LM! Hai SH ơi! Theo muội biết: “Không có việc gì khó! Chỉ sợ... tiền... không... nhiều!” Lã muội là dân làm ăn! 

Từ hôm qua đến giờ, Lã muội đã biết cách làm thế nào để có nhiều tiền, cũng như biết cách sử dụng đồng tiền tâm thức hầu mua muối xuất thế, lẫn hương vị xuất thế gian thượng thượng mà ướp cho con cá tự tâm! Hai SH yên chí! Muội quyết không để cho con cá Lã Muội ươn thối vì thiếu muối xuất thế!

A: Tạm biệt hai bạn! Ngày đến gặp lại!

Bài viết Lý Tứ

Tản Mạn Một Bài Thơ

MB 857 Lý Diệu Sinh 22.02.2023

Những ngày lang thang trên đường về quê !!! Ghé lại Thành Phố Tuy Hoà bên cốc cà phê và cơn mưa đầu hạ chợt đến !!! Đi qua Phú Yên, ngọn núi cô độc… Xa xa trên đỉnh là hòn đá chơ vơ, lẽ loi, chênh vênh, thánh thiện như đang trông ngóng ai đó theo tháng năm !!! Rồi kỉ niệm một thời ùa về…!!! Tất cả những thứ ấy, là nguồn cảm hứng của bài thơ Giọt Mưa Đầu Mùa !!! Hoàng Phương đang phổ nhạc !!!

GIỌT MƯA ĐẦU MÙA

Giọt mưa đầu mùa rơi trên ngàn lá
Vừa quen vừa lạ từ cõi chênh vênh
Giọt mưa đầu mùa chiều nao xa em
Nghiêng nghiêng má hồng tóc phơi lối nhỏ

Giọt mưa đầu mùa mây giăng tháng hạ
Phượng rơi đâu đó vọng lại cõi xa
Giọt mưa đầu mùa khe khẽ tiếng ca
Phập phù gió lọt trước mái hiên nhà

Giọt mưa đầu mùa cho ai khép lại
Hai hàng mi ướt một thuở chờ người
Trên ngọn non cao ngàn năm chơi vơi
Thương ai một đời con tim thánh thiện

Chiều nay ta đi ngang qua phố biển
Con đường hun hút từng giọt mưa buồn
Ai có hay chăng bao hạt mưa tuôn
Nhớ vùng trời cũ dáng xưa ngập hồn !!!

Phú Yên, 02/05/2021

LÝ TỨ 

Subscribe to