Cứ Bước Tới Gánh Nặng Sẽ Không Còn
Nhìn lại quá trình tu tập của chính con, con đường đi của con cứ mở dần, mở dần ra, điều quan trọng là mình duy trì việc đi trên con đường đó. Có những khi con đọc sách thầy đến đoạn kinh văn khó hiểu, con lại lần tìm về những điều mình đã hiểu để cố gắng lý giải cho chỗ vướng mắc đó.

Tâm sự huynh đệ số 19
Các bạn !!!
Mình nhận được bài viết của Lý Diệu Tâm vào ngày 11/04/2020 (cách đây gần một tháng)...Nhưng mãi đến hôm nay mới có cơ hội đưa lên chuyên mục để giới thiệu đến mọi người !!!
Một tháng đối với đời người chẳng là bao nhiêu !!! Một tháng đối với hành trình tu tập của phần lớn người tu hành lại không là gì hết !!! Nhưng, một tháng với HĐ Lý Gia là quãng thời gian rất dài để thay đổi mọi thứ !!! Cứ mỗi sát na trôi qua là một chuyển biến mới !!! Cứ thế, cứ thế HĐ Lý Gia với ngọn đuốc giáo pháp trên tay, ung dung bước đi và gánh nặng lần lượt thoát khỏi đôi vai của mình !!!
Có lẽ, bây giờ Diệu Tâm đọc lại cũng cảm thấy “sự lạc hậu” trong bài viết !!! Cách đây hai tuần (sau bài viết này nửa tháng), mình gặp lại Diệu Tâm trong một buổi sinh hoạt... Những gì Diệu Tâm thể hiện, từ phong cách phát biểu, sắc diện, chiều sâu tâm thức, thành quả đạt được, mức độ tự tại...v..v...hoàn toàn không giống thời điểm bạn ấy viết bài này !!!
Trong hành trình tu tập của mình, như một người lạc giữa khu rừng đêm !!! HĐ Lý Gia không ngồi đó tự trấn an bằng cách ê a những câu thơ đạo tự sáng tác (hoặc copy của ai đó) với lời lẽ cao siêu (nhưng thiếu thực tế, thậm chí sai nghĩa, ngô nghê), như người ta lớn tiếng ca hát để che giấu, đánh lừa bản thân nỗi hãi sợ, buồn khổ trong lòng... Không thu mình trong một phép tu nào đó, như người ta bó gối dưới gốc cây để cố quên đi hay lảng tránh bóng đêm và rừng rậm đang bủa vây... Cũng không cầu Trời khấn Phật, xin một chút ân huệ của đấng cao xanh để được một tí xíu bình an nhỏ nhoi giữa muôn ngàn nguy khốn... Không chạy rong tìm kiếm, dáo dác dòm ngó bên ngoài rồi kiếm cách chê bai, phê phán, chỉ trích người khác cho thoả mãn cái ngã mà sự ngu dốt cùng u tối của chính ta thì...hãy...còn...nguyên...vẹn !!!
Mà, HĐ Lý Gia được học tập và thấm nhuần kĩ năng mưu sinh thoát hiểm !!! Lại được trang bị ngọn đuốc giáo pháp sáng rực, trên tay với tấm bản đồ và một la bàn định hướng !!! Trước mặt, sau lưng là lời động viên, chỉ bảo, dặn dò, cứu hộ, trợ giúp cần thiết, chia sẻ kinh nghiệm, thương yêu, đùm bọc của những người anh em đi trước !!! Từng bước, từng bước...Cứ thế, HĐ Lý Gia thong dong thẳng tiến trên hành trình tu tập, chiếm lĩnh hết mục tiêu này đến mục tiêu khác của đạo pháp !!!
Xin chuyển đến mọi người, bài viết của Lý Diệu Tâm mô tả một chặng đường tu tập của bạn ấy !!!
08/05/2020
LÝ TỨ
Thưa thầy,
Lời đầu tiên con gửi lời hỏi thăm sức khỏe thầy, con mong thầy luôn giữ gìn sức khỏe.
Từ hôm được nghe lại buổi sinh hoạt của các huynh đệ và những giải đáp của Thầy về chủ đề Tứ gia hạnh, con cảm thấy mình sáng tỏ ra rất nhiều điều.
Có lẽ con cũng như các huynh đệ khi mới đọc sách của thầy, mới ra nhập Lý Gia thường hay tự hỏi rằng mình đang ở đâu trong giai đoạn tu tập, giai đoạn tiếp theo mình phải làm gì? Mình cần học tu học như thế nào? Cần hộ trì điều gì? Trong nhiều lần nói chuyện với thầy, con cũng cố gắng để gặng hỏi thầy điều đó nhưng cũng chẳng thu được câu trả lời nào cho thỏa đáng, nhiều khi con cũng thấy hơi hụt hẫng vì chẳng biết tiếp theo mình phải làm gì nữa.
Khi nghe Thầy và các huynh đệ trao đổi về chủ đề Tứ gia hạnh con mới ngộ ra một điều là thực chất việc tu là không cần phải làm gì, bởi vì chính việc đọc, tư duy và thấu hiểu lời dạy trong Kinh và trong sách đưa đến giác ngộ là kết quả của quá trình tu tập, hóa ra tu tập là vô tác có nghĩa là như vậy.
Nhưng cũng như lời thầy dạy, giác ngộ rồi thì cần phải giữ gìn hộ trì chỗ giác đó để không thối chuyển. Quá trình hộ trì này dần dần đưa chỗ giác đó trở thành đời sống của người tu hành, cho đến khi không cần dùng sức giác nữa mà mọi thứ diễn ra tự nhiên như chính hơi thở của người đó.
Nhìn lại quá trình tu tập của chính con, con đường đi của con cứ mở dần, mở dần ra, điều quan trọng là mình duy trì việc đi trên con đường đó. Có những khi con đọc sách thầy đến đoạn kinh văn khó hiểu, con lại lần tìm về những điều mình đã hiểu để cố gắng lý giải cho chỗ vướng mắc đó. Hoặc có khi chính trong cuộc sống con gặp những vấn đề vướng mắc, con cũng cố gắng vận dụng những điều mình đã học để có thể lý giải. Quá trình đó có thể khiến con giác được ngay vấn đề của mình, nhưng cũng có lúc còn tồn đọng lại đó chưa giải quyết được, thậm chí có những chủ đề trao đổi với thầy xong con thấy vẫn chưa thỏa mãn. Nhưng rồi vì cứ duy trì việc đọc, học và tư duy nên một lúc nào đó, tự dưng vấn đề lại được mở ra, cắt nghĩa rõ ràng và con nhìn rõ mọi thứ một cách sáng tỏ.
Ví dụ như gần đây con có băn khoăn về việc những tập khí còn thừa sót mà mình chưa thể giải quyết được. Đôi khi trong hành động cũng như trong lời nói con vẫn còn nhiều những thói quen xấu, những hốt hoảng hay những biểu hiện cảm xúc không nên có. Con rất băn khoăn về điều này và tự hỏi đến khi nào mới có thể giải quyết được vấn đề. Con có hỏi thầy nhưng thầy nói cứ để nó đấy, dần dần nó sẽ hết. Mặc dù thầy nói vậy nhưng con vẫn tự tìm đọc rất nhiều trong sách của thầy về vấn đề này, con đọc trong phần Bốn tướng thầy có nói đến tập khí, phần tâm và ngã thầy cũng nói đến tập khí nhưng khó hiểu với con quá, con không thể áp dụng để xử lý vấn đề của mình. Đến khi con nghe thầy và sư tỉ Tịnh Hiền giải thích về mối quan hệ giữa A lại da thức và Mạt na thức, con giật mình nhận ra vấn đề mà mình đang băn khoăn. Hóa ra chính những hành động hay cảm xúc mà con đang có là do Mạt na thức chỉ đạo các căn khi đối trần.
Trước đây khi giác ngộ về vai trò của nghiệp thức, con mới để ý đến A lại da thức, biết sắp xếp lại những gì vốn có trong kho của mình để hiểu rằng vấn đề của mình là do thức nào có sẵn trong kho quy định việc đó. Nhưng con đã quên mất vai trò của Mạt na thức và Lưu chú thức. Những tập khí mà con đang trăn trở đó thực chất chỉ là cách thức và con đường quen thuộc mà Lưu chú thức cung cấp cho Mạt na thức mà thôi, con đường đó đi lại nhiều lần đến nỗi trở thành lối mòn, đến giờ mỗi khi đối trần gặp vấn đề tương tự, Lưu chú thức lại nhanh nhảu vận chuyển những nghiệp thức sẵn có trong A lại da đến cho Mạt na thức sử dụng. Giác đến đây thì con thấy bao nhiêu gánh nặng trăn trở về tập khí được đặt xuống một cách nhẹ nhàng.
Nhưng thưa thầy, giác này chỉ là giác thôi nếu như không sử dụng vào cuộc sống và tình huống cụ thể thầy ạ. Hôm qua, khi con và chồng xảy ra một chút mâu thuẫn, con ngồi lặng yên lắng nghe tiếng nói bên trong mình, ồ ạt những lời nói vang lên trong đầu con (ý căn), con chợt nhận ra đó đúng là lúc Lưu chú thức đang đưa thông tin từ A lại da đến rồi, con mỉm cười và tự nói: “Ô, mình chẳng dùng đâu, mình chẳng cần những thứ này”, thế rồi những tiếng nói đó lặng dần, lặng dần và không còn đến nữa, con cảm nhận rõ cái thanh vắng ở trong tâm, con quan sát khắp nơi bên trong mình mà không còn gợn lên một chút gì dù là xao động nhỏ. Đấy đúng là lúc con ngộ được thầy ạ. Vì chẳng còn chút xao động nên lời nói chẳng còn nặng nhẹ, ý tứ chẳng còn đôi co, thái độ chẳng còn chút được thua nào.
Con biết rằng chỗ giác ngộ này vẫn còn đơn sơ lắm, nhưng điều ngộ được này khiến con hiểu và biết cách làm thế nào để mỏng nhẹ đi tập khí của mình. Đúng là con đường tu tập chẳng phải “tác” điều gì cả thầy ạ, vô tác mà tác dụng vô cùng, chỉ có giác ngộ, giác và ngộ thầy ạ.
Một vài lời chia sẻ của con trên đây, con mong được thầy chỉ dạy thêm cho con ạ!
Đệ tử, Lý Diệu Tâm
Tán Thán Khích Lệ Để Giúp Người Tăng Trưởng Đạo Tâm
Tuỳ hỉ, tán thán, khích lệ như pháp... để giúp người tăng trưởng đạo tâm, ham thích học tập... Là bài học nhập môn của HĐ Lý Gia !!! Phật dạy: “Công đức của người tuỳ hỉ, tán thán... Ngang bằng công đức của người thành tựu...” !!!

Tâm sự huynh đệ số 18
Các bạn !!!
Tuỳ hỉ, tán thán, khích lệ như pháp... để giúp người tăng trưởng đạo tâm, ham thích học tập... Là bài học nhập môn của HĐ Lý Gia !!! Phật dạy: “Công đức của người tuỳ hỉ, tán thán... Ngang bằng công đức của người thành tựu...” !!!
Trong những năm qua, tất cả HĐ Lý Gia thấm nhuần bài học nhập môn này... Nhờ thế, những thứ tâm bất thiện như: Đố kị, ganh ghét, bè phái, chia rẽ, hơn thua, không biết khen pháp lành...v..v...dần dần được loại bỏ trong từng thành viên !!!
Chính nhờ các “ác bất thiện pháp” không còn chế ngự tâm trí, từ đó HĐ Lý Gia ngày một tăng ích pháp lành, việc học tập cũng theo đó mà thành tựu như pháp !!!
Xin chuyển đến các bạn, tâm sự của Lý Hoàng Nhi và Lý Ngọc Thuý !!! Đây là hai vị còn rất trẻ của HĐ Lý Gia, nhưng đạo pháp không hề trẻ !!!
29/04/2020
LÝ TỨ
Thầy kính !!!
Đến hôm nay, cũng đã hơn 2 tháng kể từ ngày trong đương cơ nói chuyện, Thầy hỏi con: “Đạo Xuất Thế là gì?”. Ngay khi con định mở miệng trả lời, Thầy cũng không quên căn dặn: “Bỏ kiến thức xuống, quay lại ngay từ chính thực tế bản thân em thấy, tập nói một câu từ chính cái thấy của mình. Không dựa vào bất kỳ kiến thức nào từ trước đến giờ !!!”. Và thế là, con ôm lấy câu hỏi ấy mãi đến hôm nay xin được trình Thầy !!!
Con đã tự đưa ra rất rất nhiều khái niệm về ĐẠO XUẤT THẾ nhưng cũng biết bao lần con cố gắng tìm câu trả lời khác, vì bản thân con không thể tự dối mình, rằng các câu trả lời ấy đều dựa trên kiến thức mà con học được từ Thầy !!!
Con đã tự cho mình vào một cái thế, đó là ngồi gỡ rối các mớ kiến thức con học được mong rằng tìm ra câu trả lời… càng cố gỡ bao nhiêu lại càng thêm rối bấy nhiêu… Con rất thất vọng, nhận ra từ trước đến giờ, những kiến thức con học được lại biến nó thành sở tri chướng – tự mình trở ngại mình, không tài nào thoát ra được !!!
Trên fanpage LÝ TỨ, Thầy từng viết bài Chuyện bên lề - chủ đề ĐẠO XUẤT THẾ, con đã ngỡ đây là đáp án !!! Các khái niệm Thầy đưa ra đã rất rõ ràng và cặn kẽ,… một bài viết quá là hoàn hảo rồi, con biết trả lời sao đây ?!!! Ngộ thiệt, Thầy hỏi để nghe cái mà con cảm nhận được, con thì tìm cách trả lời để trả bài cho Thầy hu hu hu !!!
Chính vì đặt cái đề bài sai – tìm câu trả lời trong mớ kiến thức để trả bài nên kết quả là con đã bế tắc trong suốt thời gian qua !!! Thầy ơi !!! Đúng là, mê gì cũng là mê !!! Dù kiến thức đó là chánh pháp mà mê nó cũng là MÊ !!! Cái mê nào cũng như cái mê nào, chỉ khác cách thức mê, mê cái gì !!!
Thầy kính !!! Con xin được trích một đoạn trong Vô Đối Môn và cũng chính là đề bài đúng mà con hướng đến:
�“Chưa thành Đẳng Chánh Giác thì nhất định phải học. Nhưng, nếu muốn thật sự Giác Ngộ, vị này phải là người không chấp chặt kiến thức, không để kiến thức trở thành Sở Tri Chướng. Tức là, vị này phải biết xả bỏ kiến thức, phải thật sự nhận ra rằng, KIẾN THỨC CHẲNG PHẢI LÀ ĐẠO, ĐẠO CHẲNG TỪ NƠI KIẾN THỨC.
− Không nương tựa vào kiến thức để suy luận về các đạo quả trong Phật Đạo.
− Cần nhất là từ bỏ suy lường, xa rời suy luận, tịch diệt đối đãi, trong lòng không có ngã nhân. Một lòng một dạ dấn thân thành tựu cho bằng được các đạo quả đó.” (LÝ TỨ)
Và điều con cần ngay lúc này, chính là THAY ĐỔI NHẬN THỨC !!! Con thực sự rất tâm đắc câu nói của Thầy: “Phật Đạo là một hệ thống Giáo Dục từ thấp lên cao – thay đổi nhận thức tư duy của một con người từ Phàm thành Thánh !!!” và quy trình biến một con người từ Phàm thành Thánh, đó là: “Nhận thức thay đổi - Hành vi thay đổi, Hành vi thay đổi – Đời sống thay đổi, Đời sống thay đổi như pháp, gọi là Niết Bàn (an vui tự hiện)” !!!
Con cũng nghiệm ra rằng, Thầy đang giúp con nâng dần nhận thức bằng cách tập nói lên một câu do chính bản thân mình cảm nhận, chứng thực được !!! Đúng vậy, con đang tập… để ngay bản thân con, cũng phải nhận ra rằng CÒN NẮM GIỮ MỘT PHÁP NÀO DÙ CÓ LÀ CHÁNH PHÁP NẾU KHÔNG KHÉO XẢ BỎ CŨNG TRỞ THÀNH TÀ PHÁP !!!
Trên con đường tiến đến vô thượng Bồ Đề, chắc chắn con sẽ không tránh khỏi những lúc bế tắc như thế này… nhưng không sao, qua lần này con sẽ không còn hoang mang, mơ màng trong mớ kiến thức này nữa, Thầy ạ !!! Con sẽ bình tĩnh hơn, quay lại xem mình đặt đề bài đã đúng chưa, tập kham nhẫn với chính bản thân khi tư duy và giải quyết vấn đề !!!
Thầy và HĐTM ơi !!! Tâm sự của Hoàng Nhi 2 năm trước đã từng rất ngỡ ngàng vì, không ngờ mình có thể hiểu những điều trong Phật Đạo mà trước đây chưa từng nghĩ đến !!! Thì Hoàng Nhi của 2 năm sau quyết không tiếp tục biến những điều đã biết thành sở tri, che chướng mà một lòng một dạ dấn thân, thành tựu cho được những điều cần thành tựu trong Phật Đạo cũng như ứng dụng rốt ráo thành đời sống, sau giúp người cũng thành tựu như mình !!!
Một lần nữa, con xin tri ân công ơn giáo dưỡng của Thầy dành cho HĐ chúng con !!! Kính chúc Thầy mạnh khỏe, trụ thế dài lâu để HĐ chúng con tận dụng khoảng thời gian bên Thầy mà học tập, rút kinh nghiệm sau mỗi lần đi chinh chiến, giáo hóa ạ !!!
Con cũng xin biết ơn, trân quý các HĐ Lý gia rất nhiều !!! Những lời động viên, khuyến tấn của các HĐ và đặc biệt là những buổi sinh hoạt đã giúp con học hỏi, mở mang thêm kiến thức, thêm động lực tiến lên và tiến lên !!!
Tái bút: Hi hi hi !!! Con vẫn xin được trả lời, mong Thầy từ bi chỉ bảo thêm ạ !!!
- Đạo Xuất Thế là gì? – Đạo Xuất Thế là thứ đạo của tâm chứng. Nó ra khỏi các khái niệm, định nghĩa về Đạo Xuất Thế trên bình diện văn tự !!!
Con, Lý Hoàng Nhi
Kính Thầy!
Kính HĐ Lý Gia!
Thời gian gần đây, do dịch covid -19 suốt mấy tuần qua, con luôn thực hiện theo chỉ thị số 16 của Thủ Tướng đưa ra. Đó là, cách ly xã hội, cách ly gia đình, không đi ra đường khi không cần thiết. Nên thời gian gần đây, con không được gặp Thầy cùng HĐTM. Hôm nay đủ duyên lành, con rất vui vì con đã gặp đuợc Thầy cùng HĐTM !!!
Niềm vui tiếp theo, là con may mắn được Thầy trao phần thuởng trong Trò Chơi Trí Tuệ-03/2020. Với Chủ Đề Chuyển Thức Thành Trí.
Con biết phần quà Thầy trao cho con, là lời động viên, khích lệ để con cố gắng tinh tấn nhiều hơn, trên buớc đường tu học của con.
Phần thưởng là món quà tinh thần, rất lớn đối với con. Và con luôn hứa với tự thân, luôn tinh tấn và tinh tấn thật nhiều! Để không phụ lòng Thầy đã chỉ dạy.
Qua Trò Chơi Trí Tuệ của Thầy đặt ra, con học và cảm nhận thêm rất nhiều điều. Khi con nhận được câu hỏi, con phát hiện trong con đó là, cảm giác đã hiểu. Tuy nói là đã hiểu, nhưng khi viết để trả lời lại rất khó, cứ loay hoay như gà mắc tóc hu hu hu hu! Thế là con phát hiện, nếu không quyết tâm vượt qua, thì cũng chỉ dừng lại chỗ cảm giác đã hiểu.
Và con cảm nhận, chỉ khi nào tự thân đứng vào vị trí nội dung câu hỏi đặt ra, và y vào tâm chứng để trả lời. Từ đó, tự thân mới có thể khắc phục những thiếu sót, mọi thứ sẽ sáng tỏ hơn và việc ứng dụng dễ dàng hơn.
Khi Thầy Tổng Kết Trò Chơi Trí Tuệ -03/2020. Với Chủ Đề Chuyển Thức Thành Trí. Khi con đọc những bài viết tiêu biểu của HĐTM. Con chỉ biết tán thán và tán thán thôi !!!
Các bài viết của HĐTM, thật tuyệt vời minh bạch, rõ ràng, dễ hiểu...Và, khi đọc những bài viết của HĐ, con mới thấy tự thân con, còn rất nhiều hạn chế như cách tư duy, cách triển khai, cách viết, cách ví dụ ..v..v.. Nói chung là, có rất nhiều điều con cần phải học từ HĐTM !!!
Con xin cảm ơn Thầy rất nhiều !!!
Con xin cảm ơn SH Ngân, SH Liêm, SH Tánh Giác và cùng tất cả HĐTM đã có mặt hôm nay. Để có một bữa ăn thật hoành tráng.
Những lời cảm nhận của con, kính mong Thầy cùng HĐTM hoan hỉ và chỉ dạy!
Con kính chúc Thầy luôn luôn khỏe !!!
Chúc HĐ luôn an vui, tinh tấn !!!
Con kính lễ Thầy!!!
Con, Lý Ngọc Thuý
Cảm Nhận Của Lý Phạm Thùy Khi Đọc Kinh Đại Bảo Tích
Phật pháp thật nhiệm màu và kì diệu thầy ơi, con phải à ồ rất nhiều khi nhận ra những điều đó, để ở nơi cái gì đó lại tiếp tục đào sâu không ngừng nghỉ... Chắc chắn chỉ khi nào chạm mạch nguồn trí tuệ thì mọi thứ được hoàn toàn sáng rõ đúng không thầy.

Tâm sự huynh đệ số 17
Các bạn !!!
Chuyên mục Tâm Sự Của HĐ Lý Gia kì này, mình xin tiếp tục giới thiệu đến mọi người bài viết của Lý Phạm Thuỳ... Một HĐ cũng còn rất trẻ của HĐ Lý Gia !!!
Có thể nói, những HĐ trẻ của chúng ta chỉ sau một thời gian ngắn học tập, đã có những bước đi vững chắc... Có được như thế là nhờ, tất cả HĐ Lý Gia khi nhập môn, luôn được trang bị những kiến thức cơ bản nhưng chuẩn mực về Phật đạo... Từ những kiến thức cơ bản ấy, các HĐ của chúng ta từng bước được hướng dẫn chiếm lĩnh những đạo quả cần thiết trước mắt liên quan đến tâm thức... Sau khi giải quyết xong tâm thức, vị HĐ này lại tiếp tục được trang bị những kiến thức cao hơn, và thành tựu những đạo quả sâu thẳm về trí tuệ... Cuối cùng, vị này mới tụng đọc, tham khảo kinh điển Đại Thừa để đối chiếu điều mình đã thành tựu so với các cảnh giới mà người xưa từng thành tựu được ghi lại trong kinh điển !!! Yêu cầu này của Lý Gia nhằm hạn chế việc chỉ học suôn, học vẹt trên văn tự mà thiếu phần thực chứng... Tránh chuyện “người mù luận về màu sắc”...v..v...như chúng ta thường thấy !!!
Mình gặp Thuỳ cách đây ba năm tại Tây Nguyên !!! Đó là thời gian Thuỳ về quê để tập trung cho luận văn tốt nghiệp cao học của bạn ấy !!!
Sau khi tốt nghệp cao học... Thuỳ đã có công việc ổn định tại TP HCM...Sau khi công việc ổn định, Thuỳ bắt đầu nghiên cứu tu tập !!! Chỉ trong một thời gian ngắn, Thuỳ đã trưởng thành kì diệu trong Đạo Pháp !!!
Ngày xưa, không hiếm những vị nữ lưu trong Phật đạo đã khiến cho bao nhiêu Thánh đệ tử của Phật một lòng kính nể như: Long Nữ, Thiên Nữ trong nhà Ngài Duy Ma Cật, Vô Uý Đức, Thắng Man Phu Nhân..v..v... Tất cả đều còn rất trẻ !!! Ngày nay, các HĐ trẻ của Lý Gia cũng bắt chước người xưa, thâm nhập các cảnh giới cao tột của trí tuệ bằng chính đạo lực và sự thông hiểu của mình... Điều này minh chứng rằng: Đối với Phật đạo chân chánh: “Xưa và nay không hề sai khác”... Vì: “Phật đạo là thường” !!!
Sau đây là tâm sự, khác hơn là những luận giải đầu tiên của Thuỳ khi thâm nhập Kinh Đại Bảo Tích !!!
Đại Bảo Tích là bộ kinh liễu nghĩa Giáo Bồ Tát Pháp... Một bộ kinh tuyên thuyết về các “cảnh giới bất khả tư nghì” thật sự không “dễ nuốt” trong giới tu hành !!!
20/04/2020
LÝ TỨ
GHI CHÚ:
- Các câu trong ngoặc kép (“...”) và dấu hoa thị (*) là lời kinh !!!
- Các câu có gạch ngang (-) ở đầu, là phần luận giải của Thuỳ !!!
Kính thầy!
Thầy ơi, hôm nay con đọc lại phần Pháp Hội Vô Uý Đức Bồ Tát - Kinh Đại bảo Tích. Đọc xong, con chỉ thốt lên được "Quá Tuyệt vời !!!" Thôi thầy ạ, ngày trước đọc phẩm này trong "Phật Giáo và Thiền" con chẳng hiểu mô tê, hoạ chăng là mấy phần đầu còn rõ nghĩa, lúc Bồ tát Vô Úy Đức và các vị đệ tử Phật hỏi đáp thì con mập mờ, như lạc vào bóng tối...Hôm nay con nhận ra được nhiều điều kì diệu rồi thầy ơi.
Con xin trình lên thầy một số phần con đã liên kết với kiến thức con học tập thời gian qua mà ứng dụng vào kinh điển. Chỗ nào con hiểu sai mong thầy chỉ dạy cho con ạ!
* “Hỏi: Nếu như vậy thì cô an trụ thừa nào mà có thể sư tử hống như vậy”? Trích Kinh Đại Bảo Tích.
- Bồ tát trụ nơi không chỗ trụ nên mới có thể sư tử hống như vậy, còn trụ ở nơi nào thì chỉ có thể thuyết pháp ở nơi mình trụ, thuyết ra những cái thấy, cái nghe, cái hay, cái biết ở cái nơi mà mình đang trụ vào. Nhưng vị bồ tát trụ nơi không chỗ trụ, tâm như hư không mới có thể dung chứa vạn pháp. Từ đó, lời thuyết pháp vô cùng tận, có thể ung dung tự tại du hý tới các cảnh giới rồi thuyết lại các cảnh giới mà không động chỗ ngồi.
* “Tôn giả Xá Lợi Phất đáp: Pháp tôi được chứng không có tướng thừa chẳng phải thừa sai khác, vì là nhứt tướng, nghĩa là vô tướng vậy...” Trích Kinh Đại Bảo Tích.
- Các pháp vốn bình đẳng không có sai khác, không có pháp nào tối thắng, vi diệu hơn pháp nào chỉ vì tâm chúng sanh phân biệt nên thấy có sai khác, có cao thấp.
* “Vô Uý đức nói: Nếu pháp vô tướng thì thế nào cầu được...” Trích Kinh Đại Bảo Tích.
- Rời lìa tất cả tướng phân biệt sẽ thấy được thiệt tướng các pháp là vô tướng vậy... Các pháp không tánh, không tướng, không sinh, không diệt, không tăng không giảm, không cấu không tịnh...hiểu được nghĩa ấy không cần tìm cầu nơi khác, tự khắc không còn tìm cầu nơi pháp.
* “Vô Uý Đức nói: Thưa ngài Ca Diếp! Như Lai có thể thấy được chăng? Vì thân Như Lại là pháp thân, pháp chẳng thấy nghe thì làm sao thấy nghe được. Tùy phương tiện nào mà chúng sanh ham thích thì Phật vì họ mà thị hiện, thân Phật không chướng ngại vì an trụ phương tiện vậy...” Trích Kinh Đại Bải Tích - Phẩm Pháp Hội Vô Uý Đức.
Thầy kính!
Đọc đến đây con thực sự cảm động vì sự từ bi của Đức Phật thật vô lượng, báo thân của ngài không còn, nhưng hoá thân (lời pháp) của ngài từ trí tuệ (pháp thân) vô ngại lúc nào cũng ở bên chúng sanh. Chỉ là chúng sanh đó có muốn giải thoát hay không, muốn được an vui thực sự hay không? Mà phát tâm tìm cầu học hỏi...huhuhu con đã có thời kì u tối, mê lầm nay đã được thầy - bậc đại thiện tri thức chỉ bảo từng bước hết ngu - mê - lầm. Con ngàn lần cảm tạ...thực sự muốn khóc thầy ơi, nhưng là khóc vui sướng và khóc vì không biết cảm tạ công ơn thầy sao cho đủ.
* “Thưa ngài Đại Ca Diếp tôi thấy đức Phật ấy chẳng phải là nhục nhãn thấy vì chẳng phải là sắc được thấy bởi nhục nhãn; chẳng phải thiên nhãn thấy vì không có thọ; chẳng phải huệ nhãn thấy vì rời lìa tưởng tướng, chẳng phải pháp nhãn thấy vì rời lìa các hành, chẳng phải Phật nhãn thấy vì rời lìa thức thấy vậy. Tôi thấy Như Lai cũng như chỗ thấy của Đại Ca Diếp vì đã diệt trừ tâm vô minh ái kiến vậy... lại còn thấy ngã, ngã sở...” Trích Kinh Đại Bảo Tích.
- Dứt trừ tâm vô minh ái kiến tức thì thấy Như Lai (trí tuệ) nhưng nếu trong cái thấy này vẫn còn ngã và ngã sở, tức thấy cái ta được trí tuệ và cái trí tuệ là đối tượng thấy của cái ngã. Dứt ngã và ngã sở là mục tiêu cuối cùng để hoàn thành diệt đế.
* “Tôn giả hỏi: Nếu pháp không hẳn tại sao phát khởi vô minh ái và tướng ngã, ngã sở, vì tất cả chúng sanh chẳng thấy được vậy”? Trích Kinh Đại Bảo Tích.
- Chẳng thể thấy được vì chúng sanh còn chìm đắm trong ngu - mê- lầm, ngũ dục thế gian...Muốn dứt ngu - mê - lầm phải tự tìm cầu học hỏi mà trước hết là thấy được bản chất của sắc (thân) và tâm là gì? (Giác) Sau đó mới có thể thấy cái cần thấy (ngộ).
* “Tôn giả hỏi Vô Uý Đức: Thế nào là khéo tịnh tự tâm?
Vô Uý Đức nói: Như tự thân chơn như và tất cả pháp chơn như, nếu tin nơi ấy chẳng tạo tác chẳng vong thất, thấy như vậy thì tự tâm thanh tịnh”. Trích Kinh Đại Bảo Tích.
- Ở đây đã rõ ràng, nhưng nếu ngược lại hỏi vì sao tâm không thanh tịnh thì sẽ biết cách làm cho tâm thanh tịnh
- Tâm không thanh tịnh là do chưa nhận rõ được bản chất tâm vốn tự thanh tịnh, chỉ vì trước thấy nghe hay biết mà hay phát khởi thức phân biệt, từ cái thức phân biệt này sẽ có các quan điểm phân biệt gọi là các pháp, chấp vào các pháp sinh ngã và ngã sở. Ngoài thức phân biệt thì còn có tưởng điên đảo hay tìm cầu về quá khứ, tương lai rồi đem hết tất cả về hiện tại. Rồi có hành tâm rong ruổi nơi tiền trần, nhận tiền cảnh làm tâm mà quên đi bổn tâm. Lại có sắc thân vô thường, mê nơi sắc, chấp nơi các cảm thọ thì cũng lại có ngã sanh.
- Phải rồi khi hiểu rõ vấn đề tự nhiên hết mê, tâm tự ngừng lặng, thanh tịnh, bao nhiêu pháp kia, bao nhiêu sắc thọ tưởng hành thức không chấp trước vào nó để tạo tác, để vọng động, để sinh ngã cùng ngã sở thì còn lại gì chăng?
* “Vô Uý Đức nói: Thưa ngài Đại Ca Diếp! Nếu cùng chư Bồ Tát thuyết pháp đồng sự mà chẳng phát khởi tướng chúng sanh. Bồ Tát nội quán như vậy thì gọi là thành tựu nội quán.
Tất cả các pháp đầy đủ bổn tế trung tế và hậu tế, vì tất cả pháp lấy chơn như làm thể vậy. Vì tất cả pháp hiện tại chơn như thế vậy, nếu quán như vậy, Bồ Tát nầy gọi là thành tựu nội quán...” Trích Kinh Đại Bảo Tích.
- Điều này con nhớ có một lần thầy đã dạy rằng: “Sau này, khi các bạn thuyết một pháp nào đó, cho bất kì ai nghe... Thì, đừng nhìn vào xuất thân của họ, đừng nhìn vào hình dáng bên ngoài của họ mà thuyết pháp cao thấp, thuyết pháp ít hay thuyết pháp nhiều". Chỉ khi nào thuyết vượt ra ngoài chấp trước, lời thuyết ấy mới thật là bất khả thuyết, bất khả tư nghì, mới khiến người nghe trực nhận vấn đề như pháp đúng không thầy? Chính sự chấp vào hình tướng chúng sinh mà lời thuyết đó bị bó hẹp, tâm người thuyết đã bị trụ nơi hình tướng thì trí không còn sáng rõ để thuyết cái cần thuyết nữa.
- Vì tất cả pháp tự chơn nên bồ tát thuyết pháp không cùng tận, vì nghĩa chơn của pháp mà pháp thuyết ra đều chơn thật.
* “Tôn giả nói: Cô an trụ pháp ấy thế nào?
Vô Uý Đức nói: Phải làm như vầy: Như chơn như ấy thấy không phược, không giải...” Trích Kinh Đại Bảo Tích.
- Theo chơn như mà thấy thì cái thấy này là do trực nhận mà thấy, không phải là cái thấy đã qua phân biệt, suy lường hay so đo.
* “Tôn giả hỏi: Thấy như nào gọi là chánh kiến?
Vô Uý Đức nói: Nếu rời lìa sự thấy hai bên, chẳng làm chẳng phải chẳng làm, thấy mà chẳng thấy như vậy gọi là chánh kiến. Thưa ngài Đại Ca Diếp! Pháp ấy chỉ có danh tự, mà vì ly danh tự, vì vĩnh viễn chẳng chứng vậy...”. Trích Kinh Đại Bảo Tích.
- Con đọc đến điều này con thấy quá tuyệt vời thầy ơi...con liên hệ đến câu đức Phật nói: “Trong 49 năm ta chưa hề nói một câu, một chữ, một lời nào". Bởi vì sao như vậy? Chẳng phải vì rời lìa cái thuyết và chẳng thuyết sao! Thuyết nhưng không chấp vào cái đã thuyết, với với cái tâm thanh tịnh, vô phiền như vậy mới mới thật là thuyết... Do đó chẳng phải thuyết nhưng không phải là không thuyết.
- Bảo rằng có ngã hay không ngã: Nếu rời sự thấy hai bên sẽ thấy cũng có cũng không có vậy.
* “Vô Uý Đức nói: Thưa ngài Tu Bồ Đề! Tất cả pháp thể tánh chẳng sanh...” Trích Kinh Đại Bảo Tích.
- Tất cả các pháp vô tướng vô tánh vì có sanh ư? Chỉ vì chúng sanh mê lầm mà thấy có tánh tướng sai khác, đó chỉ là hư vọng tánh, hư vọng tướng mà thôi.
- Tất cả các pháp do duyên sanh, do ngoại duyên các căn tiếp xúc với trần mà khởi phân biệt hay do nội duyên, tự tâm tạo tác vọng động nghĩ nhớ suy luận mà thành.
* “Vô Uý Đức nói: Tất cả chư Phật như lai đều là pháp giới tánh tướng” Trích Kinh Đại Bảo Tích.
- Pháp giới: Giới hạn ý thức có thể đến được, bao gồm tất cả mọi sự vật, sự việc xảy ra bên trong hay bên ngoài mà ý thức đến được mà suy lường nên pháp giới ấy có tánh như vậy, có tướng như kia, khi còn thấy như này như khác, thì biết rằng vẫn đang bị kẹt mắc trong pháp giới tánh tướng đó.
* “Vô Uý Đức nói: Bao nhiêu lời được nói, ngôn ngữ vô tánh, mà nói hằng sa chư Phật sẽ thành Chánh Giác, lời nói nầy có nghĩa gì. Tại sao? Vì pháp giới bất sanh bất diệt nên tất cả thuyết chẳng phải thuyết vì cứu cánh thanh tịnh vậy, vì kia chẳng phải sự chẳng thể ngôn thuyết được, vì rời lìa nơi thiệt tế...” Trích Kinh Đại Bảo Tích.
- Chỉ có thể rời lìa nơi pháp giới tánh tướng mới biết được thật nghĩa của giải thoát thanh tịnh.
* “Vô Uý Đức nói: Thưa ngài Tu Bồ Đề, chư bồ tát không có giữ lấy, nghe hay chẳng nghe, tại gia hay xuất gia mà có biện tài. Tại sao? Vì tâm thanh tịnh vậy, do tâm tịnh nên trí hiển, do trí hiển nên hiện biện tài....” Trích Kinh Đại Bảo Tích.
Thưa thầy!
Đọc đến đây con đã hiểu tại sao thầy không nói đến bát chánh đạo của Bồ Tát và chư Phật như thế nào, vì vượt ra ngoài ngôn thuyết vậy.
Con đã hiểu vì sao lại có câu: "Vô trụ, vô niệm, vô tướng, vô tác". Bồ tát lấy vô trụ làm chỗ trụ, vô niệm làm chỗ nghĩ nhớ, vô tướng thường không phân biệt, không tạo tác nghĩ suy.
Rồi câu: "Vị ấy sống không nương tựa, không chấp vào bất kì điều gì"- Vì còn nương tựa tức là còn trụ vào cái gì đó, nếu còn chấp vào điều gì đó sao gọi là “bất động giải thoát”.
Phật pháp thật nhiệm màu và kì diệu thầy ơi, con phải à ồ rất nhiều khi nhận ra những điều đó, để ở nơi cái gì đó lại tiếp tục đào sâu không ngừng nghỉ... Chắc chắn chỉ khi nào chạm mạch nguồn trí tuệ thì mọi thứ được hoàn toàn sáng rõ đúng không thầy.
Con xin ké vào đây câu trả lời cho câu hỏi bữa trước con hỏi thầy nhưng thầy nói hãy tự tư duy đó là: Câu bố thí không thấy kẻ thí, không thấy vật thí, không thấy người nhận thí và không thấy công đức thí... Thì, với bố thí ba la mật thế gian, bố thí ba la mật xuất thế gian và bố thí ba la mật xuất thế gian thượng thượng khác nhau như thế nào: Và thầy hỏi lại con là đều có ý nghĩa như vậy nhưng cái đằng sau là gì? Con cảm nhận rằng: Cùng là bố thì nhưng sự bố thí ấy khác nhau bởi mê hay ngộ, có trí hay không có trí... Nói chung, tùy vào điều ấy mà có thế gian, xuất thế gian, hay xuất thế gian thượng thượng.
Thôi con xin dừng bút tại đây.
Con, Lý Phạm Thùy
Con Đường Đưa Đến An Vui Trí Tuệ
Con đường đưa đến an vui, con đường đưa đến trí tuệ phải được hiểu đúng, thực hành đúng và mong ước đúng...

Các bạn !!!
Trẻ con thường thích nghịch nước, có dịp là bọn chúng tìm đến nước để đùa nghịch !!! Thuở nhỏ, mình cũng như thế !!!
Sinh ra ở nông thôn, quê mình chung quanh toàn là đồng ruộng, vì thế không thiếu những con mương cạn, những vũng lầy trâu nằm, những đám ruộng trũng, hàng năm lũ lụt kéo về là nước trắng đồng...Trẻ con thích lắm !!! Cứ có cơ hội người lớn không để ý, lập tức chúng nhào vô mấy chỗ ấy để đùa nghịch...Thế là, không thiếu đứa bị đuối nước, dân mình gọi là chết đuối !!!
Ngày ấy Bà Ngoại của mình còn sống, để răn đe cái tội ham nghịch nước, Bà đã kể cho mình câu chuyện:
“Có đứa nhỏ nọ, hàng ngày ra mấy cái mương, vũng trâu nằm nghịch nước...Một con đỉa đã chui theo đường lỗ tai rồi chạy lên óc làm ổ, sinh sôi nảy nở trong đó !!! Đỉa mẹ, đỉa con nhong nhóc trong đầu, thỉnh thoảng một vài con theo mắt, mũi, lỗ tai bò ra... Gia đình nhà đỉa ăn mòn vỏ não của thằng nhỏ, vì thế cái đầu của nó rất ngứa ngáy !!!
Cứ mỗi lần cha mẹ đi làm đồng, đứa nhỏ ở nhà nấu cơm...Mỗi khi cơm sôi, đứa nhỏ lấy nắp vung đang nóng đội trên đầu cho đã ngứa !!!
Một hôm, người mẹ đi làm đồng về sớm, thấy đứa bé dùng nắp vung nóng đội trên đầu, người mẹ mắng đứa bé và lấy chiếc đũa bếp gõ vào đầu thằng con !!!
Không ngờ, vỏ não của thằng bé bị đỉa ăn mòn lâu ngày mõng như vỏ trứng, nghe một cái bụp, đầu thằng bé thủng một lỗ, những con đỉa sống chật chội trong đó lúc nhúc bò ra” !!!
Câu chuyện của Bà Ngoại kể cho nghe từ khi mình bốn, năm tuổi !!! Nhưng không hiểu làm sao cho dù đã hơn sáu mươi tuổi đầu, câu chuyện ấy vẫn đeo đuổi !!! Bây giờ già, biết rằng đấy chỉ là câu chuyện do người lớn tưởng tượng ra để răn đe mấy đứa nhỏ nghịch nước, nhưng mỗi khi ngứa lỗ tai, ngứa con mắt, ngứa lỗ mũi...v..v...mình lại suy nghĩ đến câu chuyện, có lúc vừa ngoáy lỗ tai, vừa cảm giác một con đỉa nó thò ra !!! Ha ha ha ha !!! Ngẫm nghĩ như thế, mình lại tức cười !!!
Mấy hôm nay, tứ đại không điều thích, HĐ thương nên không gọi để tâm sự ban đêm, dành thời gian cho mình nghỉ ngơi...Thế nhưng, cái thói quen một đêm ngủ vài ba tiếng có lẽ đã thành tánh rồi chăng !!!??? Hồi tối, mình quyết tâm đi ngủ sớm !!! Mười giờ lên giường, thề quyết ngủ một giấc đến sáng để lấy lại sức...Nhưng rồi, 01 giờ 30 mình lại bò dậy, uống một chung trà nguội, mở email ra đọc và lại lang thang trên mạng !!!
Lướt qua một vài bài viết, đọc một vài bình luận, hình ảnh những đứa trẻ nghịch nước và con đỉa làm ổ trên đầu lại hiện lên trong suy nghĩ của mình !!!
Đúng là có một số người đến với Phật pháp như trẻ con thích nước, miễn ở đâu có nước là chúng nhảy vô lặn hụp một cách thoả thích mà không hề lo sợ ở đó có những con đỉa sẽ chui vô lỗ tai, lỗ mũi rồi leo lên đầu làm ổ !!! Và, quả thật là, có những cái đầu đã bị dòng họ nhà đỉa sinh sôi nãy nở trong đó !!! Nó trào ra tai, nó trào ra mắt...v..v...ngo ngoe trong những bài viết, trong những dòng comment mình vừa đọc được !!! Thú thật, trước tình cảnh này, cười không xong, mà khóc cũng chẳng đặng !!!
Để đã ngứa, đứa trẻ úp nắp vung nóng lên đầu !!! Để giảm bớt cái khó chịu khi những con đỉa ngọ nguậy trong tâm thức, người ta buộc phải nói, phải viết, phải bình luận...Mà không hề biết những thứ mình đang viết, đang nói, đang bình luận là đúng hay sai, có chân lí hay không, luận cứ đã thuyết phục hay chưa !!!???
Mình lại suy nghĩ !!! Vì sao trên đời, không thiếu những người rất khôn ngoan lanh lợi, tính toán chẳng thua kém một ai !!! Thế nhưng, khi đối trước giáo pháp họ lại ngây thơ đến tội nghiệp !!! Ai nói gì cũng tin, ai dạy gì cũng học, tin mà không cần dựa vào một cơ sở nào hết !!! Học mà chẳng bao giờ tự hỏi rằng: Vì sao tôi học điều này ??? Học điều này để được cái gì ??? Căn cứ vào cơ sở nào để chứng minh rằng, điều tôi học khi thực hiện sẽ cho ra kết quả như đã hứa !!!???
Ôi thôi !!! Có vô số câu hỏi gần như bắt buộc (để cảnh báo tự thân) trước khi học tập hay hành động một điều gì đó lại bị phần lớn người tu hành bỏ qua !!! Giống như đứa trẻ thấy nước là nhào vô mà không hề biết, chính hành động này, là một trong những nguy cơ con đỉa theo tai, mũi chui vô làm ổ trên đầu, để rồi ngứa quá lại lấy cái nắp vung...mà...đội !!!
“Tôi cứ thực hành, mà không đem tâm mong cầu, đến ngày nào đó sẽ thành tựu đạo quả” !!! Ô hay !!! Chúng ta có tự gạt gẩm chính mình bằng kết luận vu vơ do vỏ não đã bị mõng vì đỉa ăn mòn hay không !!!???
“Thắp đuốc lên mà đi” !!! Có nghĩa rằng, phải đi theo ánh sáng được soi rọi từ ngọn đuốc, chứ chẳng phải đi trong tăm tối !!! Phật đạo là một nền giáo dục, có một giáo trình từ thấp lên cao mang trong mình đầy đủ tính khoa học cũng như viên mãn về mặt học thuật, dựa trên cơ sở lý luận vững chắc, có tính thuyết phục cao !!! Vì nó là đạo trí tuệ !!! Đạo trí tuệ hay đạo của cơ bắp, của mê muội đây ???!!!!
“All roads lead to Rome” !!! “Đường nào cũng về La Mã” !!! Không chắc như vậy đâu các bạn ui !!! Đây là câu chuyện của ngày xưa, câu chuyện của những tấm bản đồ Peutinger vẽ trên cuộn giấy, câu chuyện của hệ thống giao thông ở La Mã ngày ấy !!! Câu nói này “xưa rồi Tám” !!! Nay đã “lỗi thời rồi...Tám...ui” !!!
Các bạn ơi !!!
Con đường đưa đến an vui, con đường đưa đến trí tuệ phải được hiểu đúng, thực hành đúng và mong ước đúng...chứ chẳng phải thứ mà ta tự gạt gẩm chính mình bằng kết luận vu vơ là “làm mà không mong cầu, một ngày nào đó sẽ được” !!! Trong các bạn, có một ai đã đạt được điều gì trong cái cách học tập tăm tối ấy chưa !!!??? Hãy tự trả lời cho chính mình, không cần la lên cho thiên hạ biết !!!
Làm mà không mong cầu thì làm để làm gì ???!!! Các bạn thử tự trả lời cho bản thân đi !!!??? Đành rằng Phật đạo có đề cập đến vô sở đắc, vô sở cầu...v..v...là nói đến cứu cánh, nói đến quả chứng, chứ chẳng phải nói đến phương tiện, nói đến con đường mà ta đang đi !!! Thui rùi !!! Nhầm rồi Cuội...ui !!!
Muốn được an vui, muốn có trí tuệ...mà ta không đi bằng con đường được soi sáng bởi ngọn đuốc trí tuệ thì, mọi con đường của tối tăm, cả tin, thiếu cơ sở, vô căn cứ, không khoa học...v..v... nhất định đều dẫn đến “cái tổ đỉa trên đầu” !!!
03 giờ 32 - 05/01/2020
LÝ TỨ
Tâm sự Của Huynh Đệ Lý Gia Về "Trò Chơi Trí Tuệ"
Xin giới thiệu đến các bạn, bài viết của Lý Ngọc Thuý, Lý Ca Ca, Lý Thiện Huệ, Lý Viết Uyên, Lý Nhạn Ảnh và Lý Vũ Tuấn !!!

Các bạn !!!
Lẽ ra, hôm nay (24/12) là ngày BQT công bố bài viết hay nhất của Trò Chơi Trí Tuệ - 05/2019 !!! Nhưng, sau khi đọc kĩ trả lời của mọi người, BQT quyết định dời thời hạn công bố kết quả vào ngày mai (25/12)...!!!
Lý do là, BQT muốn chuyển đến mọi người thêm một số bài viết tiêu biểu, để các bạn làm tư liệu tham khảo trước khi xem bài viết được chọn là hay nhất cũng như đáp ứng các yêu cầu các câu hỏi đặt ra !!!
Có thể nói, hầu như tất cả 18 bài viết mà BQT nhận được, đều có giá trị không hơn kém nhau là mấy, mọi trả lời về phần kĩ thuật cơ bản đều rất đáng để chúng ta trân trọng...Tuy nhiên, giới hạn của một trang, cũng như thời gian không cho phép, nên BQT chỉ đăng một số bài, không thể đăng hết !!! Mong các bạn thông cảm !!!
Sau đây, xin giới thiệu đến các bạn, bài viết của Lý Ngọc Thuý, Lý Ca Ca, Lý Thiện Huệ, Lý Viết Uyên, Lý Nhạn Ảnh và Lý Vũ Tuấn !!!
BQT LÝ GIA
* Tâm sự của HĐ LÝ GIA về TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ !!!
Kính thưa Thầy!
Kính thưa HĐTM!
THẦY ƠI! Những ngày qua, con luôn dành thời gian để tư duy về các nội dung câu hỏi TCTT-05/2019. Có những phần câu hỏi, con như đã bế tắc. Nhưng, có lẽ nhờ sức hộ trì của Thầy, và tình thương của các SH, ST đã làm động lực nên con cố gắng hơn. Tuy vậy, cho dù con đã tư duy thật nhiều...nhưng...vẫn chưa có kết quả hu hu hu hu !!!
Đến hôm nay, khi con đọc bài viết của THẦY, có nội dung về Thuyết Thông và Tông Thông. Bỗng dưng con phát hiện ra, hình như bài viết đã giúp con tìm ra câu trả lời, à thì ra nó là như vậy!!! Tuy con chưa biết kết quả có đúng không, nhưng con rất vui. Con đã hướng về Tam Bảo kính lạy Phật, con đã hướng về Thầy kính lạy THẦY với tất cả tấm lòng biết ơn của con !!!
THẦY ƠI! Khi con đọc bài viết của Thầy sáng nay, và con đọc lại nội dung câu hỏi TCTT- 05/2019. Nước mắt con lại rơi, con cảm thấy thương THẦY rất nhiều. Với tấm lòng từ bi của THẦY vô bờ bến, THẦY luôn dùng mọi phương tiện hộ trì để giúp chúng con thẳng tiến trên con đường Đạo, và hoàn thành ba mục tiêu đã đề ra, đó là: Giác Ngộ, Giải Thoát và Trí Tuệ.
Trong nội dung TCTT- 05/2019, con cảm nhận rằng Thầy đang giúp HĐ chúng con biết rõ và nắm vững hơn về tiến trình tu tập mà chúng con đang và sẽ đi, cách chinh phục ngọn núi của Ba Mươi Phẩm.
Không chỉ như thế, mà Thầy còn đang khai pháp nhãn cho chúng con, để chúng con có con mắt sáng hơn. Từ đây, chúng con biết cách quan sát, nhận ra tâm một hữu tình như thế nào? Đang ở trong ba cõi, hay đã thành tựu đạo xuất thế gian. Biết đâu là chánh đâu là tà trong Phật Đạo? Cách nhận biết như thế nào mới là một vị Phật, không phải mù mờ, dễ tin như người đời.
Con kính chúc Thầy thật nhiều sức khỏe, ngưỡng mong Thầy trụ thế dài lâu !!!
Con kính lạy Thầy !!!
Con, Lý Ngọc Thuý
Kính thưa Thầy !
Sau khi nhận được câu hỏi trong TCTT - 5/2019. Con bắt đầu tư duy từng câu hỏi Thầy đặt ra, sau đó tìm hiểu thêm những điều chưa hiểu để bổ khuyết theo cách mà mình sẽ trả lời.
Đọc lại 1 lượt hết 4 quyển Phật Giáo và Thiền, Vô Đối Môn, và Anh Lạc Luận 1, 2,...Con bắt đầu tập viết sau một thời gian rất dài không cầm bút (ngày xưa đi học con rất dốt môn Văn).
Con thấy trong 37 phẩm Trợ Đạo, cứ phẩm nọ lại liên quan đến phẩm kia, viết không hết lại không thấy đủ ý, viết đủ ý thì khi đọc lại thì lại thấy câu văn lủng củng không hợp lý. Mang tư duy của mình để viết ra khi đọc thấy xuôi quả thật không dễ (đoạn này con cảm phục Trí Tuệ nơi Thầy), thế là Con lại viết lại để cô đọng hơn, bỏ dần đi những câu rườm rà. Nhưng khi chỉnh sửa xong Con đọc lại thì ..ôi..thôi... giống y như kiểu trả bài...mà con tạm ví dụ như từ (Kinh Chuyển), nên Con định không trả lời nữa mà để chờ đến lúc xem những bài trả lời của các Sư Huynh, Sư Tỷ rồi học hỏi thêm.
Nghĩ vậy, nên con buông hết những tư duy về câu hỏi. Cầm cuấn sách Tâm Pháp lên và đọc thả mình vào những nhân vật như (Lão Trượng, Trung Nguyên Cửu Tuyệt và Huyền Không Đại Sư) mà Thầy đã viết như một cuốn Tiểu Thuyết. Các chiêu thức là những bài Pháp ẩn dụ có thể chặt đứt phàm tình, đọc lần này những ẩn ý trong đó con lại hiểu thêm được chút ít...Hoá ra xưa nay con cứ nghĩ tu (Ba La Mật Tâm) là sau khi Giác Ngộ mới tu, chứ không nghĩ là từ sơ phát Tâm đã tu học, mà chính hàng ngày chúng con đang hành trì.
Thưa Thầy: Sau khi gấp sách lại, các câu hỏi trong TCTT lại hiện lên trong con như một món nợ chưa trả, nên con ngồi viết theo tư duy của mình. Hơn một giờ ngồi viết xong gửi đi, Con thấy Tâm dừng lặng như mình vừa đặt được gánh nặng trên vai xuống. Con thấy sức nhiếp phục của TCTT rất lớn, và cũng giúp cho HĐ chúng con có được những hiểu biết thấu đáo hơn về con đường mình sẽ phải bước tới trên con đường Bồ Đề .
Con xin đảnh lễ Thầy 3 lạy.
Con, Lý Vũ Tuấn - Quảng Ninh
* Các câu trả lời tiêu biểu !!!
Con kính lạy Thầy vô lượng lạy!
Sau đây là phần trả lời trò chơi trí tuệ số 05/2019 của con:
Câu 1:
Các bạn đều biết, Ba Mươi Bảy Phẩm được chia thành ba phần, đó là: Tư Lương Vị, Kiến Đạo Vị và Tu Đạo Vị !!! Xin hỏi:
Câu 1a:
Đối với Tư Lương Vị: Theo bạn, phẩm nào là trọng yếu nhất ??? Vì sao bạn cho rằng, phẩm đó là trọng yếu nhất ??? Nếu không thành tựu phẩm ấy, điều gì sẽ xảy ra trên bước đường tu học ???
Trả lời:
Trong tư lương vị thì theo con nhất tâm như ý túc là phẩm trọng yếu nhất bởi vì:
Một hữu tình vốn dĩ sống trong đạo thế gian cho nên mọi thấy biết đều do nghiệp thức chi phối (tạm gọi là tâm thức chúng sanh) muốn tu hành vào đạo xuất thế gian (không chung cùng nghiệp thức) người này sau khi tìm hiểu cặn kẽ hành trang cần thiết (các phẩm thuộc tư lương vị) để vào đạo xuất thế gian thì sự nhất tâm như ý để dừng hiện nghiệp hay một lòng một dạ là không thể thiếu (người tu hành hướng tâm ý vào những điều tốt đẹp, thời gian sẽ làm cho tâm ý bớt lăng xăng quên đi tính nết xưa của mình, nhất tâm dừng các quan niệm đúng sai, phải trái, tốt xấu, thiện ác... tạm gọi là dừng các cặp đối đãi nhị nguyên trong lòng) nếu còn một chút lưu luyến nơi thế gian pháp sẽ khó lòng rời xa ba cõi.
Ví dụ: Một người sau khi tìm hiểu và chuẩn bị hành trang đầy đủ để lên xe đi đến một nơi hoàn toàn mới. Nhưng sau đó người này lại do dự và không chịu cất bước lên xe (nhất tâm) thì người này cũng không thể đến được nơi cần đến.
Nếu không thành tựu phẩm này coi như người tu hành chấp nhận làm thành viên trung thành của ba cõi.
Câu 1b:
Đối với Kiến Đạo Vị: Theo bạn, phẩm nào là phẩm quyết định để người tu hành có thể căn cứ vào đó sử dụng Thất Giác Chi phân tích một pháp đúng với tinh thần vô lậu ??? Nếu không thành tựu phẩm ấy, điều gì sẽ xảy ra khi người tu hành cố sức dùng Thất Giác Chi để phân tích một pháp bất kì ??? Vì sao nó như vậy ???
Trả lời: Đối với kiến đạo vị thì phẩm Huệ Lực là phẩm quyết định để người tu hành căn cứ vào đó sử dụng Thất Giác Chi phân tích một pháp đúng với tinh thần vô lậu.
Nếu không thành tựu phẩm Huệ lực người tu hành cố sức dùng Thất Giác Chi để phân tích một pháp bất kỳ thì điều xảy ra đó là việc trạch pháp này không có ý vị giác ngộ, chỉ là kiến giải, suy lường lầm lộn, câu trúng, câu trật không thấu đáo, như người đứng ngoài ngôi nhà mà mô tả các đồ vật trong nhà do người khác kể.
Vì bởi người này không thực chứng, không biết được Huệ Lực chính là hệ quả có được do ứng dụng như pháp các đạo phẩm trước đó (biết rõ con đường nào là con đường dẫn tới Giới, Định, Huệ vô lậu) và Huệ Lực chính là nhân để xuyên phá Trạch pháp giác chi (các chi phần còn lại trong Thất Giác Chi chỉ là hệ quả tất yếu xảy ra khi đã trạch pháp thấu suốt) đến thấu suốt các phẩm trong Thất Giác Chi
Câu 1c:
Đối với Tu Đạo Vị: Về cơ bản, Bát Chánh Đạo có mấy tầng bậc ??? Đó là những tầng bậc nào ??? Bạn có thể chỉ ra các dấu hiệu căn bản giúp nhận biết một người tu tập đang ở một tầng bậc nào đó của Bát Chánh Đạo ???
Trả lời:
Về cơ bản Bát Chánh Đạo có ba tầng bậc đó là:
- Bát Chánh Đạo giúp người giác ngộ dứt Tập Đế (dứt kiết sử, lậu hoặc và phiền não).
- Bát Chánh Đạo giúp người thấy được bổn tâm, giải thoát chứng Diệt Đế.
- Bát Chánh Đạo giúp người có được trí tuệ (Đạo Đế)
* Các dấu hiệu cơ bản giúp nhận biết một người tu tập đang ở một tầng bậc nào đó của Bát Chánh Đạo:
- Người tu hành đang ở trong giai đoạn tập đế: Người tu hành này có những đổi thay như tâm ý bớt lăng xăng, có sự an vui nhất định nào đó, đoạn bớt phiền não, thích gần bạn đồng tu, ưa nghe pháp Phật, tuy nhiên thi thoảng vẫn còn phan duyên ra ngoài bàn chuyện thế gian làm mất sự thanh tịnh do bất giác không kiểm soát được tâm ý.
- Người tu hành ở trong giai đoạn Diệt Đế: Thường lặng lẽ, độc cư thiền định, không muốn tham gia chuyện thế gian trừ khi bất đắc dĩ, khi nói chuyện về đạo lấy chỗ thực chứng trình bày nên văn tự ngắn gọn không dài dòng, nhân, ngã trong lòng không hiện khởi nên ngữ ngôn không có mùi trói buộc phiền não người, phiền não mình.
- Người tu hành ở trong giai đoạn Đạo Đế: Người này phát khởi từ bi tâm, phát nguyện cầu Vô thượng bồ đề nên ham ưa đọc tụng tư duy nghĩa lý kinh điển, cầu học nơi Đại Thiện tri thức mong thấu suốt phật pháp để chia sẻ phật pháp một cách tốt nhất có thể đến hết thảy hữu tình với mong muốn hết thảy hữu tình hết khổ, phiền não, giải thoát và thành toàn trí tuệ.
2) Đối với Lục Chủng Tánh Anh Lạc: Xin bạn cho biết chủng tánh nào tương ưng với đế nào trong Tứ Đế ??? Có chủng tánh nào không nằm trong quá trình học tập của Tứ Đế ??? Vì sao chủng tánh ấy không nằm trong quy trình học tập của Tứ Đế ??? Xin giải thích cụ thể !!!
Trả lời:
Tập chủng tánh tương ưng với Tập đế trong Tứ Đế.
Thánh chủng tánh và Tánh chủng tánh tương ưng với Diệt Đế trong Tứ Đế.
Đạo chủng tánh tương ưng với Đạo Đế trong Tứ Đế.
Đẳng giác chủng tánh và Diệu giác chủng tánh không nằm trong quy trình học tập của Tứ Đế vì đối với người đã có một hoặc cả hai Chủng tánh này có nghĩa người này đã hoàn thành 4 cấp học (Tứ Đế) hay còn gọi là học xong Nhất thiết trí, người này với trí tuệ thấy biết như Phật (điều gì Phật biết vị này biết, điều gì Phật chứng vị này chứng). Cũng có thể nói người này thấu suốt Phật đạo hay còn gọi vị này được Vô sư trí (không ai có thể dạy- trí tuệ viên mãn trong Phật đạo)
3) Ba nghiệp phần hữu lậu là Khí Phần, Tướng Phần và Thắng Khí khi viên mãn, sẽ hình thành điều gì trong tâm thức một hữu tình ???
Trả lời: Ba nghiệp phần hữu lậu là khí phần, tướng phần và thắng khí khi viên mãn sẽ hình thành các cảnh giới cõi nước trong tâm thức một hữu tình.
Một chúng sanh do tập nhân nhiều đời tích chứa trong lòng như thế nào thì nay thông qua các căn (giao báo) sẽ chiêu cảm ra thấy biết như thế ấy. Cái thấy này không thật, chỉ do tâm nghiệp hoá hiện, nơi hư không mà sanh hoa đốm. Một phen thức dậy, như người hết nhậm mắt tất cả chỉ là hư không.
Kính xin Thầy chỉ dạy thêm cho con.
Kính lạy Thầy!
Con, Lý Viết Uyên
Thầy kính!!!
Con xin đảnh lễ Thầy ba lạy!!!
Con Xin trả lời các câu hỏi:
1) Các bạn đều biết, Ba Mươi Bảy Phẩm được chia thành ba phần, đó là: Tư Lương Vị, Kiến Đạo Vị và Tu Đạo Vị !!! Xin hỏi:
a) Đối với Tư Lương Vị: Theo bạn, phẩm nào là trọng yếu nhất ??? Vì sao bạn cho rằng, phẩm đó là trọng yếu nhất ??? Nếu không thành tựu phẩm ấy, điều gì sẽ xảy ra trên bước đường tu học ???�Trả lời:
- Thưa Thầy, trong 12 phẩm tư lương vị bao gồm: Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần và Tứ như ý túc. Theo con thì phẩm “Nhất tâm như ý túc” là quan trọng nhất. Vì rằng, ở đời, thường khi ta làm việc gì mà không nhất tâm, thì sự việc đó rất khó thành tựu. Việc đời như thế thì trong tu hành cũng không khác.
- Trong đó Tứ niệm xứ: “Thân, Thọ, Tâm, Pháp”, đây là bốn nơi chốn làm cho chúng sanh khổ. Vì vậy, Người tu hành muốn chấm dứt khổ đau, phiền não, kiết sử và lậu hoặc, thì cũng từ bốn nơi chốn này tu tập. Ngoài bốn niệm xứ này, không thể tìm cầu niệm xứ thứ năm để có thể khiến mình và người hết khổ.
- Sau khi thấy được nguyên nhân sanh khổ, Vị tu hành này muốn được dứt khổ, phải luôn tinh tấn không dừng, lựa chọn cho mình một hướng đi tốt nhất để có thể tiến đến thành công trên con đường mình đã chọn. Và Tứ chánh cần xuất hiện trong tình huống này, là phương tiện tu tập tối ưu nhất để vị tu hành thành toàn mục tiêu tu tập. Bằng cách tăng thiện giảm ác. Vì rằng thiện pháp dễ xã, ác pháp khó trừ.
Ví như cho người mượn tiền (thiện pháp) rất dễ xã. Nhưng thiếu nợ một người (ác pháp) thì rất khó để quên.
- Thấy được nguyên nhân sanh khổ, có phương pháp tối ưu, việc còn lại để đi đến thành công như mong đợi, đòi hỏi người tu hành phải nhất tâm. Tức là một lòng một dạ thực hiện con đường mình đã chọn, và trong tư duy, luôn tin chắc rằng con đường này là đúng nhất, sẽ giúp tôi vượt qua bể khổ. Nhất tâm để hiện nghiệp dừng, khi hiện nghiệp dừng, thì hỷ lạc khinh an sẽ hiện hữu, ví như có ánh sáng thì u tối tan…Đến đây, một chân vị tu hành bước vào thành Niết Bàn an lạc. Đây là hành trang tối thiểu cần và đủ để vị tu hành chuẩn bị bước vào Kiến Đạo.
- Vì vậy, nếu ở giai đoạn này, vị tu hành không được nhất tâm, thì mọi công sức bỏ ra đều vô nghĩa. Giống như việc ấp trứng, chỉ cần lơ là trong những điều kiện nhảy cảm, chẳng hạn như về nhiệt độ, hơi nước…đều khiến quả trứng chẳng nở thành gà con. Trong tu hành cũng như vậy, đây là giai đoạn quyết định thành tựu tu tập của một người, một chút nghi ngờ đối với Bậc Đạo Sư…cũng khiến người tu hành không thể như pháp mà Giác Ngộ.
b) Đối với Kiến Đạo Vị: Theo bạn, phẩm nào là phẩm quyết định để người tu hành có thể căn cứ vào đó sử dụng Thất Giác Chi phân tích một pháp đúng với tinh thần vô lậu ??? Nếu không thành tựu phẩm ấy, điều gì sẽ xảy ra khi người tu hành cố sức dùng Thất Giác Chi để phân tích một pháp bất kì ??? Vì sao nó như vậy ??? �Trả lời:
- Theo con, trong 17 phẩm Kiến Đạo bao gồm “Ngũ Căn, Ngũ Lực va Thất Giác Chi”, thì phẩm “Huệ Lực” là phẩm quyết định để người tu hành có thể căn cứ vào đó sử dụng Thất Giác Chi phân tích một pháp đúng với tinh thần vô lậu. Nếu không thành tựu phẩm nầy, người tu hành cố dùng Thất Giác Chi để phân tích một pháp bất kì, thì người ấy chỉ thành tựu tri kiến hữu lậu, hay nói khác hơn là kiến giải thế gian, thành quả mà vị này đạt được chỉ là kiến thức, thuộc về hữu vi pháp, vì chẳng biết thế nào là “con đường đi đến vô lậu” của một pháp. “Huệ lực” tức là biết rõ con đường đưa đến vô lậu pháp của một pháp. Sự việc này theo con hiểu như sau:
- Ngũ căn gồm: “Tín căn, tấn căn, Niệm căn, Định căn và Huệ căn”. Căn là cái “rễ”, tức niềm tin bất thối, đã mọc rễ trong tâm thức của vị tu hành trên con đường mình đã chọn. Sở dĩ có được niềm tin này, là vì vị này đã hưởng được lợi ích thiết thực từ Phật Pháp. Chính từ kết quả nhất tâm như pháp mà được an lạc, nên đối với vị này niềm tin không còn lay chuyển. Và Ngũ lực “Tín, Tấn, Niệm, Định lực” là hệ quả tất yếu, là “động lực” giúp vị tu hành thành tựu kế tiếp con đường tu tập, từ Sơ Ngộ đến Giác Ngộ Viên mãn. Trong đó “Huệ lực” là phẩm quan trọng nhất, tức là biết rõ con đường đưa đến vô lậu, để người tu hành có thể căn cứ vào đó sử dụng Thất Giác Chi phân tích một pháp đúng với tinh thần vô lậu. Sau khi biết được như vậy rồi, vị này có động lực để tiến đến thất giác chi, phấn tích một pháp (Trạch pháp) đưa đến vô lậu, phân tích một pháp để đưa đến Giải Thoát, hay phân tích một pháp để Giác Ngộ và rồi phân tích một pháp để thành tựu “Đạo quả vô lậu” trong Phật Đạo.
c) Đối với Tu Đạo Vị: Về cơ bản, Bát Chánh Đạo có mấy tầng bậc ??? Đó là những tầng bậc nào ??? Bạn có thể chỉ ra các dấu hiệu căn bản giúp nhận biết một người tu tập đang ở một tầng bậc nào đó của Bát Chánh Đạo ???�Trả lời:
Theo con, về cơ bản, Bát Chánh Đạo có ba tầng bậc: “Thế gian, Xuất thế gian, và Xuất thế gian thượng thượng”. Tùy vào mục tiêu thành tựu của vị tu hành mà Bát Chánh Đạo của vị ấy có ý nghĩa sai khác.
Bát Chánh Đạo: “Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định”. Là tám điều chân chánh trong Phật Đạo, là kết quả thành tựu của vị tu hành trong mục tiêu nhất định nào đó, tùy vào cảnh giới, tùy vào trình độ nhận thức, tuy thuộc vào đạo quả...mà Bát Chánh của Vị ấy có ý nghĩa tương ưng.
VD: Kiến hữu, kiến vô… Bát chánh của vị này thuộc thế gian pháp.
Lìa hữu, lìa vô…Bát chánh của vị thành tựu đạo quả xuất thế.
Cảnh giới Xuất thế gian thượng thượng là phi hữu, phi vô…
2) Đối với Lục Chủng Tánh Anh Lạc: Xin bạn cho biết chủng tánh nào tương ưng với đế nào trong Tứ Đế ??? Có chủng tánh nào không nằm trong quá trình học tập của Tứ Đế ??? Vì sao chủng tánh ấy không nằm trong quy trình học tập của Tứ Đế ??? Xin giải thích cụ thể !!!�Trả lời:
Lục chủng tánh bao gồm: Tập chủng tánh, Tánh chủng tánh, Thánh chủng tánh, Đạo chủng tánh, Đẳng Giác Chủng tánh và Diệu Giác chủng tánh. Trong đó Diệu Giác chủng tánh, không thuộc về Tứ Đế.
- Tập chủng tánh và Tánh chủng tánh thuộc về Tập Đế.
Vì Tập chủng tánh chỉ mới dứt trừ được một vài phần của tập nhân kiết sử, ví dụ như thánh quả Tu đà hườn, đã trừ được ba kiết “thân kiến, giới cấm thủ và nghi”, vị tu hành cần đến bảy lần Giác ngộ nữa mới viên mãn Diệt đế.
Hai quả vị kế tiếp “Tư Đà Hoàn, A na Hàm” thuộc về Tánh chủng tánh, tức là từ đa chủng tánh quy về một tánh, chỉ còn một lần để Giác Ngộ.
- Thánh chủng tánh thuộc về Diệt Đế.
Vì vị này đã tịch diệt được hoàn toàn kiết sử, thành tựu Niết Bàn Vô Vi, xong phần tự độ. Tương ưng với các quả vị trong Phật Đạo như ALa Hán, Bích Chi Phật quả, và Bát Địa Bồ Tát.
- Đạo chủng Tánh và Đẳng Giác chủng tánh thuộc về Đạo đế. Phần này thuộc về độ tha, tức là sau khi viên mãn Diệt Đế, vị này vì thương tưởng đến chúng sanh còn trong nhà lữa ba cõi, nên phát Nguyện độ sanh, gọi là cầu học Nhất Thiết Trí. Trong quá trình học Nhất Thiết Trí và thực hành công hạnh giáo hóa, hai tánh này lần lượt thành tựu đến viên mãn, tương ưng với Cửu Địa và Thập Địa Bồ Tát.
- Diệu Giác chủng tánh là Phật Tánh, Tánh này làm Phật, tánh này là Phật, nên không thuộc về Tứ Đế. Vì Phật chẳng do Tánh gì làm nên, phi thế gian, phi xuất thế.
3) Ba nghiệp phần hữu lậu là Khí Phần, Tướng Phần và Thắng Khí khi viên mãn, sẽ hình thành điều gì trong tâm thức một hữu tình ???
Trả lời:
Theo con, ba nghiệp phần hữu lậu là Khí Phần, Tướng Phần và Thắng Khí khi viên mãn, sẽ hình thành “Chúng sanh tánh” trong tâm thức một hữu tình. Tức làm thành một cái tánh hay sanh khởi các thứ tâm thức “đa sầu đa cảm”, nên thường hay khổ đau và phiền não, hay còn gọi là “Tâm mê”.
Khí phần chính cái lao lự ban sơ của nghiệp thức, nhận thức sai lệch về thân tâm và thế giới, từ nhận thức (khi mê) này cho ra các quan niệm, quan điểm sai lầm nó gọi là tướng phần. Nắm giữ quan niệm trong tâm thức, không muốn từ bỏ, lấy đây làm đời sống phân biệt hơn thua, ai chung cùng với quan điểm này thì sinh thích, trái lại sẽ sanh muộn phiền đau khổ, tâm ngã từ đây lập bày, một đời sống chúng sanh đa tâm tánh hiện hữu, giai đoạn này được gọi là thắng khí…Tóm lại, nói chúng sanh đa tâm nhưng chỉ một niệm mê, dứt mê mọi thứ chấm dứt. Muốn dứt mê phải Giác ngộ cho được bổn lai chúng sanh không tâm, trước không nay cũng không, chỉ như vậy mới hy vọng thoát ra mọi triền phược…
Trên đây là những gì hiểu biết của con. Kính Thầy chỉ dạy thêm cho con!!!
Con chúc Thầy thật nhiều sức khỏe, trụ thế dài lâu nơi thế gian, cho HĐTM chúng con và hữu tình được hưởng nhiều lợi ích!!!
Con, Lý Thiện Huệ
Kính Thầy!!!
Kính HĐ Lý Gia!!!
Con xin phép trả lời câu hỏi lần hai:
Hỏi:
a) Đối với Tư Lương Vị: Theo bạn, phẩm nào là trọng yếu nhất ??? Vì sao bạn cho rằng, phẩm đó là trọng yếu nhất ??? Nếu không thành tựu phẩm ấy, điều gì sẽ xảy ra trên bước đường tu học ???
Trả Lời:
Tư Lương Vị phẩm Nhất Tâm Như Ý Túc là trọng yếu nhất, vì nó là con đường độc đạo sớm khiến người tu học, mau chóng giác ngộ...
Để minh định điều này thông qua đoạn Kinh sau, cho thấy lợi ích từ sự nhất tâm, là bà Vi Đề Hi do sự khổ bức bách nên cầu Phật xin chuyển cho cõi an lạc thoát khổ, trong quá trình nhất tâm một lòng một dạ hướng đến cõi an lạc, với sự khéo léo đức Phật đã chuyển đổi tâm thức qua từng phép quán, liền đó bà chứng được vô sanh pháp nhẫn.
Mới thấy nhất tâm là vai trò quan trọng rất cần thiết đối với người tu hành, nếu như trên bước đường tu học mà ta không thành tựu tâm này (nhất tâm), sẽ dễ dàng dẫn đến sự giãi đãi, trì trệ..., chính sự giãi đãi, trì trệ này sẽ rất khó đưa ta đến con đường giác ngộ và giải thoát...
VD: Mục tiêu ta đề ra là đi từ A đến Z, trên đoạn đường B, C, D... cho dù trở ngại, tâm vị này không nản chí, không thối lui, mà một lòng một dạ luôn luôn nghĩ nhớ, để hoàn thành mục tiêu của mình cần đến một cách như ý là Z, Z dụ cho giác ngộ..., trên bước đường tu học người tu hành ít nhiều không thể tránh khỏi một số rào cản, như cơm, áo, gạo, tiền, thân bệnh hay những chuyện trong nhà ngoài phố... cho dù chướng đạo như vậy, nhưng vẫn không làm trở ngại, không lay chuyển, cũng không lười mõi..., và luôn nhất tâm nhớ nghĩ đến đạo quả giác ngộ, giải thoát... chính tâm chuyên nhất như vậy sẽ dễ dàng thành tựu những mục tiêu Phật đạo đề ra một cách như ý...
Hỏi:
b) Đối với Kiến Đạo Vị: Theo bạn, phẩm nào là phẩm quyết định để người tu hành có thể căn cứ vào đó sử dụng Thất Giác Chi phân tích một pháp đúng với tinh thần vô lậu ??? Nếu không thành tựu phẩm ấy, điều gì sẽ xảy ra khi người tu hành cố sức dùng Thất Giác Chi để phân tích một pháp bất kì ??? Vì sao nó như vậy ???
Trả Lời:
Kiến Đạo Vị phẩm Huệ Lực là phẩm quyết định để người tu hành có thể căn cứ vào đó sử dụng Thất Giác Chi phân tích một pháp đúng với tinh thần vô lậu, nếu ta không thành tựu Huệ Lực, mà cố dùng Thất Giác Chi để phân tích một pháp bất kỳ, thì ta không đủ sáng suốt để phân tích một pháp đúng theo giáo pháp, đúng theo tinh thần vô lậu mà Phật đạo đề ra, sẽ rất dễ đưa ra những quyết định sai lệch với đạo pháp, vì sao như vậy??? vì Huệ Lực là hướng đúng đắn và rõ ràng để đưa đến vô lậu quả, là nhân tố giúp thể nhập đạo xuất thế, cũng là sức mạnh không thể thiếu đối với người tu hành khi phân tích hay giảng trạch một pháp như pháp...
Thông qua Kinh Đại Bảo Tích, “Pháp Hội Vô Ngôn Bồ Tát” (trang 606) Phật dạy đoạn Kinh như sau: “Nầy Vô Ngôn! Tin Phật pháp đây gọi là tín lực, vì Bồ đề mà tu hành đây gọi là tấn lực, được nhu thuận nhẫn đây gọi là niệm lực, được vô sanh nhẫn đây gọi là Huệ Lực”.
Hỏi:
c) Đối với Tu Đạo Vị: Về cơ bản, Bát Chánh Đạo có mấy tầng bậc ??? Đó là những tầng bậc nào ??? Bạn có thể chỉ ra các dấu hiệu căn bản giúp nhận biết một người tu tập đang ở một tầng bậc nào đó của Bát Chánh Đạo ???
Trả Lời:
Tu Đạo Vị cơ bản có ba tầng bậc Bát Chánh Đạo, thứ nhất Bát Chánh Đạo thế gian, thứ hai Bát Chánh Đạo xuất thế, thứ ba Bát Chánh Đạo xuất thế thượng thượng.
- Bát Chánh Đạo thế gian: Là tích thiện lìa ác, ăn ngay ở thẳng, đời sống phải đạo đức hiền lành, hoà thuận...
- Bát Chánh Đạo xuất thế: Là lìa thiện lìa ác thế gian, trong tâm tịch diệt hai pháp, không tâm, không pháp, tịch diệt khái niệm, quan niệm thế gian không chân lý... thể nhập niết bàn vô lậu, vô vi...
- Bát Chánh Đạo xuất thế thượng thượng: Là thấy thiệt tướng của các pháp, phi thiện phi ác, phi hữu phi vô, nhất thiết pháp giai thị Phật pháp... viên mãn trí tuệ.
Tóm lại để dễ dàng nhận ra các tầng bậc của Bát Chánh Đạo, căn cứ trên những cơ sở như sau:
- Bát chánh đạo thế gian, là đề cao tích thiện lìa ác, tâm luôn hướng thiện... lấy khái niệm, quan niệm thế gian làm đời sống... bị các khái niệm, quan niệm không chân lý trói buộc...
- Bát chánh đạo xuất thế đề cao ra khỏi pháp trói buộc thiện ác thế gian, vì các khái niệm, quan niệm thế gian không chân lý, không tích chứa hai pháp, đời sống không tâm, không pháp.
- Bát chánh đạo xuất thế thượng thượng là đề cao thấy thiệt tướng của các pháp, vì bản chất của các pháp là không pháp, phi thiện phi ác... nhất thiết pháp giai thị Phật pháp, thành tựu trí tuệ siêu việt.
Hỏi:
2) Đối với Lục Chủng Tánh Anh Lạc: Xin bạn cho biết chủng tánh nào tương ưng với đế nào trong Tứ Đế ??? Có chủng tánh nào không nằm trong quá trình học tập của Tứ Đế ??? Vì sao chủng tánh ấy không nằm trong quy trình học tập của Tứ Đế ??? Xin giải thích cụ thể !!!
Trả Lời:
Lục chủng tánh Anh Lạc gồm: Tập chủng tánh, Tánh chủng tánh, Thánh chủng tánh, Đạo chủng tánh, Đẳng Giác chủng tánh, Diệu Giác chủng tánh.
- Tập chủng tánh tương ưng với Tập đế (niết bàn tập đế)
- Tánh chủng tánh và Thánh chủng tánh tương ưng với Diệt đế (niết bàn diệt đế)
- Đạo chủng tánh tương ưng với Đạo đế (niết bàn đạo đế).
Diệu Giác chủng tánh là vô sư trí, trí này không nằm trong quy trình học tập của Tứ đế, vì quy trình học tập Tứ đế gọi là học nhất thiết trí, viên mãn tứ đế gọi là thành tựu nhất thiết trí (cửu địa) trí tuệ đã viên công hạnh chưa viên gọi là Đẳng Giác, tức trí này do học mà được còn gọi là hữu sư trí.
Vị Đẳng Giác chủng tánh tiếp tục con đường hoá độ chúng sanh, trong thời gian hoá độ vị này bùng vỡ hay đại ngộ một lần nữa, thành tựu thân rốt sau (pháp thân) thể nhập Diệu Giác chủng tánh, trí này không do học mà được (vô sư tự ngộ), gọi là vô sư trí, tự nhiên trí hay Phật trí...
Tóm lại Đẳng Giác chủng tánh vẫn còn nằm trong quy trình học Tứ Đế, Diệu Giác chủng tánh vượt thoát quy trình học Tứ Đế.
Hỏi:
3) Ba nghiệp phần hữu lậu là Khí Phần, Tướng Phần và Thắng Khí khi viên mãn, sẽ hình thành điều gì trong tâm thức một hữu tình ???
Trả Lời:
Ba nghiệp phần hữu lậu là Khí Phần, Tướng Phần, Thắng Khí khi viên mãn, sẽ hình thành cõi nước, ba cõi (dục giới, sắc giới, vô sắc giới)... trong tâm thức một hữu tình.
Đây là những gì hiểu biết của Con, xin Thầy dạy bảo đa ta ân Thầy...
Con, Lý Ca Ca
Kính Thầy!!!
Kính HĐTM Lý Gia!!!
Con xin trả lời câu hỏi TCTT 05- 2019.
Câu 1:
a) Đối với phẩm tư lương vị, theo con phẩm nhất tâm như ý túc là phẩm trọng yếu nhất. Vì hai từ nhất tâm cũng đã nói lên tất cả, tức là đã một lòng một dạ hướng đến mục tiêu nào đó thì mục tiêu ấy nhất định sẽ thành công. Khi người tu hành tinh tấn quán thấu đáo tứ niệm xứ thì không còn lầm chấp thân tâm này nữa. Một lòng một dạ rời thị phi của thế gian thì các món khổ, phiền não, lậu hoặc cũng được dừng như trong kinh Phật có dạy "nhất tâm dừng hiện nghiệp"
Nếu không thành tựu phẩm nhất tâm như ý túc thì con đường tìm đến an vui trong Phật đạo không thể có được. Giống như một người nghèo khổ muốn giàu có thì phải đi làm ăn xa mà không nhất tâm rời nơi đang ở để đến nơi mới làm ăn thì cơ hội làm giàu là không thể có được.
b) Đối với kiến đạo vị, theo con phẩm huệ lực là phẩm quyết định để người tu hành có thể căn cứ vào đó sử dụng thất giác chi phân tích một pháp đúng với tinh thần vô lậu.
Nếu không thành tựu phẩm huệ lực, mà người tu hành cố sức dùng thất giác chi để phân tích một pháp bất kỳ thì sự phân tích chỉ dừng lại ở kiến giải thế gian, rồi làm lớn tự ngã chứ không giúp mình có được tâm vô lậu và các đạo quả sau này. Điều quan trọng nữa là người tu hành không có được huệ lực thì không thể hiểu và ứng dụng được tứ y và tứ bất y của Đức Thích Ca để lại. Vì chỉ có người thành tựu vô lậu tâm mới có thể hiểu được đời sống văn hoá vô lậu. Giống như con nai không thể sống được ở dưới nước và không thể hiểu được loài cá sống và bơi lội như thế nào trong môi trường của biển cả.
c) Đối với tu đạo vị, về cơ bản bát chánh đạo có ba tầng bậc gồm: Tục đế, thánh đế và chân đế.
Các dấu hiệu căn bản giúp nhận biết một người tu tập đang ở tầng bậc của bát chánh đạo:
Bát chánh đạo của tục đế: Những người thường tham gia làm việc từ thiện, giúp người khó khăn, phóng sanh, cúng dường làm chùa...
Bát chánh đạo của thánh đế: Những người tu hành này không thích nơi đông người, chỉ thích độc cư, ít nói, làm việc không suy lường, thường hoan hỉ, xưng tán khi thấy người khác thành tựu...
Bát chánh đạo của chân đế: Đời sống của những vị này là của những bậc thị hiện, sống chỉ vì muốn giúp người giác ngộ, giải thoát và có trí tuệ như mình.
Câu 2: Đối với lục chủng tánh Anh Lạc thì tập chủng tánh tương đương với khổ đế và tập đế, thánh chủng tánh và tánh chủng tánh tương đương với diệt đế và đạo chủng tánh tương đương với đạo đế.
Đẳng giác chủng tánh và diệu giác chủng tánh không nằm trong qui trình học tập của tứ đế.
Vì học ba đế đầu để thành tựu tâm và đạo đế là quá trình học nhất thiết trí còn đẳng giác chủng tánh là cảnh giới của bậc vô tu vô chứng, tức vị này không còn gì để học, không còn gì để chứng, cảnh giới của bậc diệu giác chủng tánh là cảnh giới của các vị đại bồ tát làm công hạnh giúp người cũng không còn gì phải học nữa.
Quá trình học đạo đế của đạo chủng tánh giống như người sinh viên sư phạm trong giảng đường đại học, còn vị đẳng giác và diệu giác chủng tánh giống như người học xong đại học, đã có bằng tốt nghiệp và những thầy giáo thực sự trong sự nghiệp trồng người.
Câu3: Ba nghiệp phần hữu lậu là khí phần, tướng phần và thắng khí khi viên mãn, sẽ hình thành cõi nước trong tâm thức một hữu tình.
Trên đây là phần trả lời của con, có điều gì thiếu sót mong Thầy từ bi chỉ dạy.
Con, Lý Nhạn Ảnh
Trò Chơi Trí Tuệ - 05/2019
Mời các bạn xem một số trả lời tiêu biểu TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ - 05/2019...

Các bạn !!!
Đến giờ này, BQT đã nhận các câu trả lời TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ - 05/2019 của: Lý Ca Ca (Cần Thơ), Lý Ngọc Thuý (Cần Thơ), Lý Hậu Vệ (Cần Thơ), Lý Anh Tị (Quảng Nam), Lý Nhạn Ảnh (Quảng Nam), Lý Thái Đăng (Buôn Ma Thuột), Lý An Lạc (Houston), Lý Giác Thư (Hà Nội), Lý Thiện Huệ (An Giang), Tống Viết Uyên (Buôn Ma Thuột), Phạm Thuỳ (Sài Gòn), Lý Liêm (An Giang), Lý Đại Hiệp (Cần Thơ), Lý Ngộ Tuấn (An Giang), Lý Vũ Tuấn (464 Quảng Ninh), Lý Ngọc Hỉ (Buôn Ma Thuột), Lý Nguyên Trang (Khương 471 Hà Nội), Lý Hoàng Nhi (Hà Nội)...!!!
Có thể nói, với 18 bài trả lời cho TCTT lần này, là con số không nhiều so với các lần TCTT trước !!! Nhưng, chất lượng từ các bài viết, được BQT đánh giá là tốt lên rất nhiều !!! Điều này cho thấy, HĐ chúng ta đã có thể ứng dụng những kiến thức đã học vào đời sống một cách tương đối nhuần nhuyễn...Vì thế, khi các bạn thể hiện trả lời qua văn tự, còn rất ít bóng dáng của trói buộc !!! Đây được coi là một trong những thắng lợi của HĐ chúng ta !!!
Về nội dung các câu trả lời:
- Trò Chơi Trí Tuệ - 05/2019 có ba câu hỏi thì, có đến 99% HĐ trả lời đúng hai ý “a” và “b” của câu hỏi 1 (câu 1 có 3 ý gồm a, b, c); Đúng hoàn toàn câu hỏi 2 !!!
- Riêng ý “c” của câu 1; Và câu 3 thì có đến 99% HĐ trả lời không sai phần kĩ thuật cơ bản, nhưng chưa đáp ứng các yêu cầu câu hỏi đặt ra !!!
Điều này không ngoài tiên liệu của BQT khi đặt câu hỏi...Vì ý “c” của câu 1, và toàn bộ câu 3 là các câu hỏi mang ý đồ phân loại, nên hầu hết HĐ chúng ta “chủ quan mất cảnh giác” dẫn đến “sụp hầm” là chuyện tự nhiên...đây chính là lí do vì sao mọi người trả lời không sai phần kĩ thuật cơ bản, nhưng lại chưa đáp ứng tất cả các ý từ câu hỏi đặt ra !!!
Tuy vậy, sau lần sụp hầm này, mọi người sẽ học được “bài học cảnh giác”, để các lần tới, cái hầm của BQT cho dù có nguỵ trang khéo léo đến mấy, cũng không còn làm khó mọi người được nữa !!! Mình nghiệm ra, “bài thuốc rắn” trong Tâm Pháp các bạn thuộc như cháo, nhưng khi gặp rắn cắn, các bạn vẫn cứ chạy thục mạng để tìm thuốc giải ở...trên...mây !!! Ha ha ha ha !!!
Các bạn !!!
Tuy nói như vậy, nhưng mình cũng phải khen tất cả các câu trả lời của mọi người, trong đó hai anh lính mới của Lý Gia là Tuấn (464) và Khương (471) cũng tham gia sôi nổi...!!!
Theo mình nghĩ, nếu không có “cái bẩy lắt léo” được BQT bố trí ngoạn mục thì, trên đời này chẳng có gì có thể làm khó được các bạn !!! Hu hu hu hu !!! Giả sử, ai cũng trả lời đúng hết chơn hết chọi các câu hỏi, thì phải mất bao nhiêu hộp trà King’s Oolong Tea 313, cùng bao nhiêu cái bình để trao thưởng đây...hả...chời !!!??? Cái bẩy cò ke của BQT thiệt là...xáng...xuốt !!!
Thứ Ba, ngày 24 tháng 12 năm 2019...Sẽ công bố bài viết được đánh giá là hay nhất, cũng như thoả mãn tất cả các yêu cầu của những câu hỏi đặt ra !!!
LÝ TỨ
* Mời các bạn xem một số trả lời tiêu biểu TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ - 05/2019...Thử coi Anh nào trả lời...nghe...lọt...lỗ...tai và xứng đáng nhận quà của BQT !!! Các bài viết tiêu biểu, sẽ được lần lượt đăng trong những ngày tới !!!
Thầy kính yêu !!!
Sau buổi ra mắt sách ngoài Hà Nội, Thầy và các HĐTM trở vào Miền Nam, công việc của con cuối năm khá bận. Mục TCTT số 5, Thầy đưa ra hơn một tuần rồi mà đến hôm nay con mới viết bài trả lời được mong Thầy thông cảm dùm con.
Thưa Thầy ! Mục trò chơi trí tuệ mà Thầy triển khai với con thật là bổ ích. Nó giúp con tư duy, miệt mài đọc tụng và tìm hiểu tư liệu Phật Pháp, và các tài liệu do Thầy viết. Khi con viết và trả lời, có những phần chưa thấu suốt, Thầy đã từ bi bổ khuyết, giảng giải.
Có thể nói từng chữ, từng câu khi thầy viết và nói ra không thừa, không thiếu, hàm súc và ẩn chứa nhiều ý vị thâm sâu. Trong đó thể hiện sức mạnh của Từ Bi, khiến người đọc, nghe có được hoan hỉ tâm. Sau đó biết mình đã hiểu, giúp mình nhận biết được đã ở tầng bậc nào trong Phật Đạo. Mỗi lần Thầy viết, hoặc sửa bài của chúng con, mới thấy sự nhất tâm và thông tuệ của Thầy. Thầy có thể ngồi đó, viết nhiều giờ liền, không suy nghĩ. Bài viết chưa xong, không đứng lên, cho dù đã quá giờ ăn cơm.
Thầy ơi ! Con còn nhớ ngày đầu tiên con gặp Thầy, qua Facetime và đọc sách do Thầy viết, con mới biết Thầy là một cư sĩ tại gia, nhưng đã tái hiện đường lối của Phật dạy ngay trong hiện đời này, Thầy đã chỉ rõ ý nghĩa đích thực của Tứ Đế, Ba Mươi Bảy Phẩm, thế nào là Tam Giới Duy Tâm, thế nào là Văn, Tư, Tu ..và làm thế nào để thể nhập những thứ này...
Lúc đầu con cũng có những trăn trở cho đến khi được gặp Thầy và nhận con làm đệ tử, đời sống của con đã mở ra một chân trời mới. Thầy khai thị giúp con tự giải đáp những thắc mắc của mình, rồi hướng dẫn tu tập, Thầy đã mang đến cho con ánh sáng Giác Ngộ, định hướng cho con thấy được những gì cần thấy, biết được những gì cần biết để rồi có thể đến những nơi cần đến của Phật Đạo.
Thưa thầy ! Từ khi con được vào Đai Gia Đình Lý Gia, trong con đã bớt đi bao nhiêu phiền não, kiết sử... Với con, bây giờ mọi tác động của trần cảnh không còn quan niệm đúng sai, phải trái, hơn thua... Cái tôi trong người đã rơi rụng mất từ lúc nào cũng chẳng biết.
Thầy đã dạy cho con hiểu thế nào là văn hóa Vô Lậu, vì thế những thứ mà ngày xưa được coi là Tánh, bây giờ trong con không còn nữa, thay vào đó là hướng đến Từ Bi và Trí Tuệ.
Thầy ơi ! Càng ngày con càng biết ơn công sức của Thầy dành cho con, lòng Từ Bi của Thầy thật vô lượng, trí tuệ của Thầy thật vô biên. Nếu không có Thầy thì kho tàng Mật giáo của Phật ai có thể lãnh hội nổi. Công đức tán thán này con không thể dùng từ ngữ hay hành động nào để diễn tả được. Câu nói mà chắc con gọi là Sư Tỷ ở bên Mỹ mà Thầy gọi là chị Ba nói hôm Thầy giảng thứ sáu tuần trước : “Thầy quá tuyệt vời, Thầy giảng rất hay, con ngưỡng mộ Thầy, và con sẽ cố gắng tu tập không làm Thầy thất vọng để không phụ lòng Thầy” đã nói hộ cho tất cả chúng con.
Con xin đê đầu đảnh lễ Thầy, vị Đại Thiện Tri Thức, bậc Siêu Tam giới, bậc Bất Khả Tư Nghì trong lòng con ba lạy !!!
Con xin chúc Thầy mạnh khỏe, trụ thế dài lâu để làm lợi cho hữu tình.
Con, Lý Giác Thư
Con xin gửi bài trả lời TCTT số 5, mong thầy bổ khuyết và chỉ dạy cho con.
Câu hỏi 1) Các bạn đều biết, Ba Mươi Bảy Phẩm được chia ra thành ba phần, đó là: Tư Lương vị, Kiến Đạo Vị và Tu Đạo Vị !!! Xin hỏi:
a) Đối với Tư Lương Vị: Theo bạn, phẩm nào là trọng yếu nhất ??? Vì sao bạn cho rằng, phẩm đó là trọng yếu nhất ??? Nếu không thành tựu phẩm ấy, điều gì sẽ xảy ra trên bước đường tu học.
Trả lời:
Đối với Tư Lương Vị: Theo con, trong 12 phẩm của Tư Lương Vị thì phẩm Nhất Tâm Như Ý Túc là trọng yếu nhất. Tức là người tu hành sẽ một lòng một dạ hướng đến mục tiêu mà người này đã chọn, một lòng một dạ quyết thực hiện cho được điều người này đề ra. Như vậy trong 12 phẩm của Tư Lương Vị, thì nhất tâm này xây dựng trên Tứ Niệm Xứ và nhất tâm trên theo phương hướng tăng thiện giảm ác. Vì trong thế gian pháp có hai pháp là ác và thiện, mà đặc biệt thiện pháp thì xả được còn ác pháp không xả được. Nên khi người ta nhất tâm đến độ toàn bộ tâm thức này là thiện pháp, thì do nhu cầu tiến vào đạo xuất thế phải xả bỏ cả thiện pháp lẫn ác pháp, mà ác không còn, chỉ còn thiện thì xả đi rất dễ. Khi người tu hành bỏ đi được cái quan niệm thiện ác trong lòng, cái chấp nhất thiện ác trong tâm, thì an vui, và thành quả của Đạo Xuất Thế ban sơ sẽ hiện.
Còn người tu hành không nhất tâm thì rất nhiều cản trở sẽ xảy ra, vì còn hai pháp trong lòng gọi là nhị nguyên đối đãi tức là có thiện có ác, có đúng có sai, có phải có trái, có anh có tôi, có giàu có nghèo. Nếu ta còn giữ bất cứ những điều nào trong những điều này thì rất khó đi vào đạo xuất thế, vì đạo xuất thế là đạo không có hai pháp trong kinh gọi là Bất Nhị tức là không còn hai pháp trong lòng nữa. Như thế muốn vào đạo xuất thế người tu hành phải gom tất cả các tâm về một tâm gọi là nhất tâm, rồi từ nhất tâm sẽ tiến vào không tâm tức là không còn tâm thiện ác, đúng sai, phải trái ...thì ngay hiện tại sẽ vô niệm mà khi vô niệm, mà không đem vào tâm thức chuyện thiện ác, đúng sai, phải trái ...thì trong lòng an vui, thanh thản, nhẹ nhàng. Như vậy trong trong 12 phẩm Tư Lương Vị thì nhất tâm như ý túc là phẩm quan trong nhất và là phẩm gần như quyết định của Tư Lương Vị.
b) Đối với Kiến Đạo Vị: Theo bạn, phẩm nào là phẩm quyết định để tu hành có thể căn cứ vào để sử dụng Thất Giác Chi phân tích một pháp đúng với tinh thần vô lậu ??? Nếu không thành tựu phẩm ấy, điều gì xảy ra khi người tu hành cố sức dùng Thất giác Chi để phân tích một pháp bất kỳ ??? Vì sao như vậy ???
Trả lời:
Đối với Kiến Đạo Vị theo con phẩm Huệ lực là phẩm quyết định để người tu hành có thể căn cứ vào để sử dụng Thất Giác Chi, phân tích một pháp đúng vơi tinh thần Vô Lậu. Vì Huệ Lực chính là sức mạnh do người này tu tập, nên biết được con đường nào đưa đến Hữu Lậu và con đường nào đưa đến Vô Lậu. Chính vì người này biết rõ con đường nào là Hữu Lậu, và con đường nào là Vô Lậu do vị này dùng chính cái sức mạnh này, hiểu biết này tư duy một pháp, có nghĩa là tư duy pháp ấy theo con đường đường dẫn về đạo quả Vô Lậu.
Ở Thất Giác Chi nhờ Huệ Lực, nhờ tác động biết được sức mạnh của con đường Vô Lậu, người tu hành tư duy một pháp đến Vô Lậu, thì tất cả các pháp người này đều tư duy đến Vô Lậu. Như vậy Huệ Lực là hệ quả của Giác Ngộ ban sơ hay Sơ Ngộ, từ Huệ Lực sẽ thúc đẩy thành tựu Thất giác Chi một cách hiệu quả. Khi ngươi tu hành đã giải quyết một vấn đề hiệu quả thì hệ quả tất yếu của nó là nhẹ nhàng, vui vẻ, an lành, ổn định, và điều đó không còn vấn vương trong lòng nữa gọi là Xả, hệ quả này chính là các thiền chi của Đạo Giải Thoát xuất hiện gọi là Thiền Giải Thoát hay Xuất Thế Gian thiền.
Còn nếu người này không có Huệ Lực thì rất khó xâm nhập Vô Lậu Quả, khó xâm nhập vào Đạo Xuất Thế. Trong Thất giác Chi có 7 món thì Huệ lực chính là hạt nhân để xây dựng Thất giác Chi. Do người này biết con đường nào đưa đến Vô Lậu, thì người này dùng sức mạnh của sự hiểu biết này thẩm định kinh điển, phân tích kinh điển. Nếu người này không có Huệ Lực, người này không thể phân tích kinh điển , không thể phân tích giáo pháp một cách như pháp được mà người tu hành chỉ phân tích suy lường của Thế Gian. Không có Huệ Lực thì không mong người này hiểu gì, mà có hiểu gì thì cũng chỉ trong ba cõi không biết cách suy nghĩ thế nào để tiến về cảnh giới Vô Lậu. Và nếu người này đã có Huệ Lực thì người này biết phân tích như thế nào để đưa đến Giác Ngộ, phân tích thế nào để đưa đến Xuất Thế.
Như vậy Thất Giác Chi là hệ quả tự nhiên khi giải quyết một pháp bằng Huệ Lực và ta thấy tầm quan trọng của Huệ Lực. Nếu không có Huệ Lực không thể nào người tu hành làm được Thất Giác Chi hiện trong ta, không thể nào thành tựu Đạo Qủa Giải Thoát được.
c) Đối với Tu Đạo Vị : Về cơ bản , Bát Chánh Đạo có mấy tầng bậc ??? Đó là những tầng bậc nào ??? Bạn có thể chỉ ra các dấu hiệu căn bản giúp nhận biết một người tu tập đang ở một tầng bậc nào đó của Bát Chánh Đạo ???
Trả lời :
Trong Bát chánh đạo gồm tám điều là:
- Chánh Kiến là thấy biết một cách chân chánh
- Chánh Tư Duy là suy nghĩ một cách chân chánh
- Chánh Ngữ là lời nói chân chánh
- Chánh Nghiệp là khi nào các căn đốn nhận sự việc mà thanh tịnh , vô lậu thì gọi là Chánh Nghiệp
- Chánh Mạng là đời sống Chân Chánh
- Chánh Tinh Tấn là tinh tấn theo đúng đạo vị của người đó tu hành thì gọi là Chánh Tinh Tấn
- Chánh Niệm là tùy theo các đạo quả mà niệm khác nhau
- Chánh Định là cái định nào phù hợp với đạo quả của người tu hành thì gọi là Chánh Định.
Về cơ bản Bát Chánh Đạo chia ra làm ba tầng bậc đó là:
- Bát Chánh Đạo thế gian
- Bát Chánh Đạo xuất thế gian
- Bát Chánh Đạo Chánh Đạo xuất thế gian thượng thượng.
Bát Chánh có nhiều giai đoạn, nhưng có ba giai đoạn cơ bản người tu tập phải tuần tự thâm nhập để nhận biết mình đang ở tầng bậc nào đó trong Bát Chánh Đạo ...
Giai đoạn một: Bát Chánh Đạo giúp người giác ngộ dứt Tập Đế ... như sau
- Thấy biết nào, giúp ta Giác Ngộ, chấm dứt vĩnh viễn Kiết Sử gọi là Chánh Kiến...
- Suy nghĩ nào, giúp ta giác ngộ , thấy rõ nguồn gốc phát sinh tham, sân, gọi là Chánh Tư Duy ...
- Lời pháp nào, khiến ta giác ngộ, không còn ngu si, ra khỏi tham đắm pháp thế gian gọi là Chánh Tư Duy ...
- An lạc nào, từ những giác ngộ nói trên, khiến Kiết Sử hoàn toàn tịch diệt gọi là Chánh Định ...
Giai đoạn hai: Bát Chánh giúp người Giải Thoát , thấy được bản tâm, chứng Diệt Đế ... Bát Chánh giai đoạn này như sau:
- Thấy Biết nào giúp ta không trôi nổi trong ba cõi, thấy biết nào giúp ta không bị cột trói bởi ngũ ấm, thấy biết nào giúp ta nhận ra rằng năm uẩn bản chất nó là không, thấy biết nào giúp ta Giác Ngộ thân tâm này bản lai tự tịnh, gọi là Chánh Kiến ...
- Suy nghĩ nào, giúp ta thấu đáo Chánh Kiến, vĩnh viễn Giải Thoát khỏi mọi cột buộc, chấm dứt hết thảy khổ đau, gọi là Chánh Tư Duy ...
- Lời nói nào, giúp ta thực hiện được những điều trên, gọi là Chánh Ngữ...
- Bất Động Thanh Tịnh nào, do Giải Thoát, do Giác Ngộ bản lai tự tịnh mà có, gọi là Chánh Định.
Giai đoạn ba: Bát Chánh Đạo giúp người có được Trí Tuệ, Trí Tuệ này, biết rõ mọi con đường đưa chúng sanh đến khổ đau, gọi là Biết Khổ Tục Đế ...
- Nhận ra thế nào là trở ngại của Bậc Thánh, gọi là biết Khổ Thánh Đế ...
- Thấu hiểu thế nào mới là “chân lý tối thượng” và cũng biết rằng trong Đạo Bồ Tát, có những vị chưa hoàn toàn biết được “chân lý tối thượng” này để có thể tiến về Đạo Qủa Vô Thượng, gọi là biết Khổ Chân Đế ...
Trí tuệ trong giai đoạn này có năng lực giúp các thừa trong Phật Đạo vượt qua mọi khó khăn, thể nhập Nhất Thừa ... Bát Chánh ở giai đoạn này như sau:
- Người thấy được thiệt tướng của vạn pháp, gọi là Chánh Kiến ....
- Người biết ba thừa đồng như huyễn mộng không thật, gọi là Chánh Tư Duy ...
- Người có thế tuyên thuyết, giúp người lần lượt thành tựu Tứ Đế, vượt qua từng phẩm một của Ba Mươi Bảy Phẩm tùy theo địa vị của họ, để có thể thành tựu ba gia đoạn Bát Chánh nói trên, gọi là Chánh Ngữ ....
- Đời sống và trí tuệ không hai gọi là Chánh Định ..
Trên đây là một số điều chân chánh cơ bản và từ những điều cơ bản người tu hành có thể suy biết những thứ chánh còn lại .
Nói tóm lại Bát Chánh Đạo có tám điều, chia ra làm ba tầng bậc, ba giai đoạn để người tu hành phân định thế nào là chánh thế nào là tà trong Phật Đạo, và người tu hành phải tuần tự vượt qua các giai đoạn kể trên để nhận biết mình đang ở một tầng bậc nào đó của Bát Chánh Đạo.
2) Câu 2: Đối với Lục Chủng Tánh Anh Lạc: Xin bạn cho biết chủng tánh nào tương đương với đế nào trong Tứ đế ??? Có chủng tánh nào không nằm trong quá trình học tập của Tư Đế ??? Vì sao chủng tánh ấy không nằm trong quy trình học cảu Tứ Đế ??? Xin giải thích cụ thể !!!
Trả lời:
Sáu Chủng Tánh Anh Lạc trong Phật Đạo là sáu hạt giống mà người tu hành phải tôi luyện như thế nào đó, để thành tựu một cho đến sáu Chủng Tánh. Vì sao gọi là hạt giống vì nó là hạt nhân để thành cái Qủa Bất Thối. Người tu hành nào được một trong sáu cái quả này sẽ không thối trở về phàm phu nữa, và sáu hạt giống này giúp người tu hành tiến về Vô Thượng Bồ Đề.
Sáu Chủng Tánh gồm: Tập Chủng Tánh, Tánh Chủng Tánh, Thánh Chủng Tánh, Đạo Chủng Tánh, Đẳng Giác Chủng Tánh và Diệu Giác Chủng Tánh.
- Tập Chủng Tánh, là người này thành tựu Khổ Đế và Tập Đế, tức là những gì thuộc về Khổ Đế và Tập Đế hoàn toàn không còn hiện hữu trong lòng người này nữa, kể cả trong giấc mơ .
- Tánh Chủng Tánh, Thánh Chủng Tánh, nếu là Nhị Thừa (Thanh Văn , Duyên Giác) thành tựu Thánh Chủng Tánh, tức là thành tựu A La Hán quả và người này đương nhiên không bao giờ trở lại Phàm Phu. Nếu là Bồ Tát thành tựu Tánh Chủng Tánh, tức là thành tựu Diệt Đế chứng được cái bất động giải thoát tương đương với Bát Địa Bồ Tát tức là Bất Thối Bồ Tát.
- Đạo Chủng Tánh, tức là người này vì hết thảy chúng sanh phát tâm học Đạo Pháp, học trí tuệ thành tựu Đạo Đế.
- Đẳng Giác Chủng Tánh là về mặt trí tuệ, hiểu biết người này bình đẳng với tất cả Chư Phật nhưng mới bằng về mặt trí tuệ, nhưng chưa bằng về mặt công đức.
Diệu Giác Chủng Tánh là người này dùng trí tuệ này, tri thức này, đi giáo hóa chúng sanh thì trong quá trình giáo hóa đó, gọi là Diệu Giác Chủng Tánh. Chữ Diệu này có thể biến tất cả các pháp thành Phật Pháp, tới khi nào đủ công đức người này trở thành Phật.
Như vậy trong Lục Chủng Tánh Anh Lạc, thì Tập Chủng Tánh tương đương với Khổ Đế và Tập Đế . Tánh Chủng Tánh, Thánh Chủng Tánh tương đương với Diệt Đế. Đạo Chủng Tánh tương đương Diệt Đế. Còn lại Đẳng Giác Chủng và Diệu Giác Chủng Tánh không nằm trong quá trình tu tập quả Tư Đế.
3) Câu 3: Ba nghiệp phần hữu lậu là Khí Phần, Tướng Phần và Thắng Khí khi viên mãn, sẽ hình thành điều gì trong tâm thức của hữu tình ???
Trả lời:
Ba nghiệp hữu lậu là Khí Phần, Tướng Phần và Thắng Khí khi viên mãn sẽ hình thành các Tập Nhân và Giao Báo trong tâm thức một hữu tình.
Vì sao gọi là Tập Nhân, vì đây là các thú (cảnh giới) tích tụ lâu ngày là nguyên ủy phát sinh các tưởng, niệm tưởng đầu tiên gọi là Khí Phần, nó chỉ là ý tưởng nhỏ nhiệm nào đó giống như hơi gió thoảng qua trong tâm. Khi các niệm liên tục nhớ nghĩ, Khí Phần tăng trưởng thành Tướng Phần, Tướng Phần như bức họa, chỉ mới phát thảo một vài đường nét cơ bản, Tướng Phần viên mãn thành nghiệp, nghiệp giống như bức tranh hoàn hảo. Nghiệp cô kết thành Thắng khí chính là cõi nước do Giao Báo chiêu cảm với các căn mà chúng sinh thấy nghe hay biết được.
Như vậy Ba nghiệp hữu lậu là Khí Phần, Tướng Phần và Thắng Khí khi viên mãn sẽ thành những Tập Nhân và Giao Báo. Tập Nhân này là những thứ tập quán hay thói quen tích chứa nhiều đời trong tâm. Khi tâm tích chứa những điều này thì tâm điên đảo, tâm điên đảo nhiễu loạn các căn cho ra những hình ảnh không thật thì gọi là Giao Báo. Nếu trong tâm không hề tích chứa điều gì thì ngay hiện tiền đã hưởng một giao báo an lạc không cần đến viên mãn báo thân.
Trên đây là những hiểu biết của con, còn nhiều điều chưa đúng, chưa đủ, mong Thầy và các HĐTM bổ khuyết và chỉ dạy cho con.
Con xin đảnh lễ Thầy 3 lễ !!!
Kính chúc Thầy luôn mạnh khỏe, trụ thế thật lâu !!!
Con, Lý Giác Thư
Kính gởi Thầy.
Kính gởi BQT Lý Gia.
Con xin tham gia trả lời TCTT kỳ 5 - 2019 như sau:
Câu hỏi 1: Các bạn đều biết, Ba Mươi Bảy Phẩm được chia thành ba phần, đó là: Tư Lương Vị, Kiến Đạo Vị và Tu Đạo Vị !!! Xin hỏi:
a) Đối với Tư Lương Vị: Theo bạn, phẩm nào là trọng yếu nhất ??? Vì sao bạn cho rằng, phẩm đó là trọng yếu nhất ??? Nếu không thành tựu phẩm ấy, điều gì sẽ xảy ra trên bước đường tu học ???
Trả lời:
Trong 37 phẩm, Tư lương vị có 12 phẩm gồm : Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần và Tư như ý túc. Trong đó phẩm Nhất tâm như ý túc là trọng yếu nhất.
Người tu hành, tủy theo căn cơ chọn cho mình một niệm xứ phù hợp trong bốn niệm xứ ( Thân niệm xứ, Thọ niệm xứ, Tâm niệm xứ, Pháp niệm xứ ) lấy niệm xứ đã chọn để nhớ nghỉ, tư duy, quan sát và giác ngộ.
Sau khi đã chọn một niệm xứ phù hợp để tu, thì phương pháp tu như thế nào để đạt được kết quả cũng không kém phần quan trọng, lúc này Tứ chánh cần là việc làm tiếp theo mà người tu hành cần thực hiện.
Tứ chánh cần gồm bốn điều thuộc về tinh tấn gồm:
- Pháp ác chưa sanh không làm cho sanh.
- Pháp ác đã sanh phải mau trừ diệt.
- Pháp thiện chưa sanh mau làm cho sanh.
- Pháp thiện đã sanh làm cho tăng trưởng.
Trong Tứ chánh cần những gì làm chướng ngại trên đường đến cứu cánh là ác, những gì thuận theo dòng giác đạt được mục tiêu đề ra là thiện.
Tứ Như ý Túc gồm: Dục Như ý Túc, Tinh Tấn Như ý Túc, Nhất Tâm Như Ý Túc, Niệm Như Ý Túc.
Trong bốn món như ý này, thì Nhất Tâm Như Ý Túc là quan trọng nhất, vì nếu có tinh tấn nhớ nghĩ mà không nhất tâm thì kết quả cũng khó đạt được như ý.
Mục đích của Tư lương vị là đưa người tu hành, từ một chúng sanh bước vào dòng thánh, muốn vào dòng thánh, người tu hành đã tìm được nơi chốn để tu, phương pháp hành trì, việc đến mục tiêu có đạt được không phụ thuộc rất lớn vào sự nhất tâm của người đó, nếu không nhất tâm, một lòng một dạ tinh tấn tu hành, thì không đến đích được. Nên trong Tư lương vị, Nhất tâm như ý túc là trọng yếu nhất.
Nếu không thành tựu Nhất Tâm Như Ý Túc thì người này được công nhận là “ thành viên trung kiên” của ba cõi, không ra khỏi phiền não, khổ đau.
Câu hỏi b: Đối với Kiến Đạo Vị: Theo bạn, phẩm nào là phẩm quyết định để người tu hành có thể căn cứ vào đó sử dụng Thất Giác Chi phân tích một pháp đúng với tinh thần vô lậu ??? Nếu không thành tựu phẩm ấy, điều gì sẽ xảy ra khi người tu hành cố sức dùng Thất Giác Chi để phân tích một pháp bất kì ??? Vì sao nó như vậy ???
Trả lời:
Đối với Kiến Đạo Vị, phẩm Huệ Lực là phẩm quyết định để người tu hành có thể căn cứ vào đó sử dụng Thất Giác Chi, phân tích một pháp đúng với tinh thần vô lậu. Vì chính Huệ Lực mới có khả năng giúp người tu hành biết rõ những pháp nào đưa đến hữu lậu cần phải xả bỏ, và những pháp nào đưa đến vô lậu để thực chứng.
Nếu không thành tựu phẩm ấy, khi người tu hành cố sức dùng Thất Giác Chi để phân tích một pháp bất kì, thì chỉ hiểu theo sự nhận biết của thức chứ không phải thực chứng của tâm và trí. Vì đạo Phật là đạo Giác Ngộ, nếu người tu hành chưa Giác thì không Ngộ được. Chưa Giác, chưa Ngộ thì Giải Thoát ra khỏi ba cõi bằng cách nào đây??? Vì chìa khoá thế gian không mở được cửa xuất thế!!!!!!
Câu hỏi c: Đối với Tu Đạo Vị: Về cơ bản, Bát Chánh Đạo có mấy tầng bậc ??? Đó là những tầng bậc nào ??? Bạn có thể chỉ ra các dấu hiệu căn bản giúp nhận biết một người tu tập đang ở một tầng bậc nào đó của Bát Chánh Đạo ???
Trả lời:
Đối với Tu Đạo Vị; về cơ bản Bát Chánh Đạo có ba tầng bậc, gồm: Bát Chánh Đạo thế gian, Bát Chánh Đạo xuất thế gian và Bát Chánh Đạo xuất thế gian thượng thượng.
Để nhận biết một người tu tập trong Phật đạo đang ở tầng bậc nào đó của Bát Chánh Đạo, cần phải căn cứ vào chánh kiến của người đó để nhận biết.Cụ thể như sau:
- Với Bát Chánh Đạo thế gian: Chánh kiến của người tu hành còn thấy có thiện, thấy có ác, muốn đạt được đạo quả, người này cho rằng phải tích thiện, diệt ác.
- Với Bát Chánh Đạo xuất thế gian: Chánh kiến của người tu hành không thấy có thiện, không thấy có ác, đời sống của họ thanh tịnh hầu như không sinh tâm, không sinh pháp.
- Với Bát Chánh Đạo xuất thế gian thượng thượng: Chánh kiến của người tu hành là phi thiện, phi ác. Đó là các Đại Bồ Tát đã đạt cảnh giới vô tu vô chứng, khi gặp người thính pháp đang dính mắc nơi thiện hay ác, vị này đều có thể đưa người đến giác ngộ giải thoát.
Câu hỏi 2: Đối với Lục Chủng Tánh Anh Lạc: Xin bạn cho biết chủng tánh nào tương ưng với đế nào trong Tứ Đế ??? Có chủng tánh nào không nằm trong quá trình học tập của Tứ Đế ??? Vì sao chủng tánh ấy không nằm trong quy trình học tập của Tứ Đế ??? Xin giải thích cụ thể !!!
Trả lời:
Trong sáu Lục Chủng Tánh Anh Lạc, Tập Chủng Tánh tương đương với thành tựu Khổ Đế và Tập Đế.
Tánh Chủng Tánh và Thánh Chủng Tánh tương đương với thành tựu Diệt Đế.
Nhị Thừa do nương vào Thánh pháp để tu nên thành tựu Thánh Chủng Tánh, Bồ Tát thừa thấy được Bổn Tâm, kiến được Bổn Tánh thành tựu Tánh Chủng Tánh.
Đạo Chủng Tánh và Đẳng Giác Chủng Tánh tương đương với thành tựu Đạo Đế.
Diệu Giác Chủng Tánh không nằm trong quá trình học tập của Tứ Đế vì chủng tánh này chỉ cho Phật và các Đại Bồ tát đã đạt cảnh giới “vô tu, vô chứng”, đi làm công hạnh, chờ ngày đủ công đức thành Phật với mười danh hiệu.
Câu hỏi 3: Ba nghiệp phần hữu lậu là Khí Phần, Tướng Phần và Thắng Khí khi viên mãn, sẽ hình thành điều gì trong tâm thức một hữu tình ???
Trả lời:
Ba nghiệp phần hữu lậu là Khí Phần, Tướng Phần và Thắng Khí khi viên mãn, sẽ hình thành “ Thức nghiệp” trong tâm thức một hữu tình.
Một hữu tình ban sơ chưa có phiền não khổ đau, khi Khí Phần bắt đầu hình thành, hữu tình này chạy theo, đủ duyên Tướng Phần xuất hiện, lúc này chúng sanh bắt đầu thay thế cho hữu tình, đến khi Thắng Khí viên mãn Thức nghiệp bắt đầu hình thành trong tâm thức chúng sanh. Lâu ngày kho tri thức cất giữ càng nhiều thông tin, đối duyên xúc cảnh, Thức làm chủ, đem tri kiến của mình ra so sánh, phân biệt đúng sai, phải trái.... từ đó ba cõi lập bày, chúng sanh bây giờ chìm đắm trong phiền não khổ đau, chịu luân hồi sanh tử trong ba cõi khổ.
Trên đây là những kiến giải của con, xin Thầy chỉ dạy thêm.
Con, Lý Ngọc Hỷ
Kính thầy !!!
Kình HĐTM Lý Gia !!!
Con xin được trình bày các câu trả lời trong TCTT 05/2019 !!!
1) Các bạn đều biết, Ba Mươi Bảy Phẩm được chia thành ba phần, đó là: Tư Lương Vị, Kiến Đạo Vị và Tu Đạo Vị !!! Xin hỏi:
a) Đối với Tư Lương Vị: Theo bạn, phẩm nào là trọng yếu nhất ??? Vì sao bạn cho rằng, phẩm đó là trọng yếu nhất ??? Nếu không thành tựu phẩm ấy, điều gì sẽ xảy ra trên bước đường tu học ???
Trả lời:
Thưa thầy !!!
Theo con, đối với Tư Lương Vị, phẩm trọng yếu nhất là Nhất Tâm Như Ý Túc !!!
Vì sao phẩm Nhất Tâm Như Ý Túc là trọng yếu nhất và tại sao phải nhất tâm???
Xét kỹ, ta có thể thấy phẩm Nhất Tâm Như Ý Túc xuyên suốt quá trình của Tư Lương Vị:
Tứ Niệm Xứ, gồm: Thân, Thọ, Tâm, Pháp. Đây là 4 nơi chốn mà Phật dạy người tu hành phải luôn luôn nhớ nghĩ, vì đây là 4 món làm con người ta khổ và cũng chính từ 4 món này giúp người tu hành giác ngộ !!!
Vậy, trong suốt quá trình tư duy, luôn luôn nhớ nghĩ, quyết tâm thấu suốt 1 trong 4 niệm xứ làm bản thân phải khổ chẳng phải là đang nhất tâm đấy sao?!!!
Tứ Chánh Cần thuộc về tinh tấn, gồm:
- Pháp ác chưa sanh không làm cho sanh;
- Pháp ác đã sanh phải mau trừ diệt;
- Pháp thiện chưa sanh mau làm cho sanh;
- Pháp thiện đã sanh làm cho tăng trưởng.
Để tính tấn trên con đường tăng thiện, giảm ác và dần xa rời quan niệm Thiện, Ác thế gian để bước vào cõi xuất thế. Người tu hành vẫn rất cần Nhất Tâm Như Y Túc – quyết tâm hướng đến mục tiêu ra khỏi ba cõi !!!
Tứ Như Ý Túc, gồm:
Dục như ý túc;
Tinh Tấn như ý túc;
Nhất Tâm như ý túc;
Quán (Niệm) như ý túc.
Với ham muốn ra khỏi ba cõi, người tu hành tinh tấn trên con đường mình đề ra với quyết tâm không bao giờ từ bỏ - một lòng một dạ thực hiện để hoàn thành mục tiêu và luôn luôn nhớ nghĩ đến sự quyết tâm của mình để từ đó thoát hẳn 3 cõi !!!
Tóm lại, Nhất Tâm như ý túc là phẩm trọng yếu, tuy là phẩm gần như sau cùng của Tư Lương Vị nhưng cũng là phẩm quyết định trên bước đường tu học !!!
Phàm ở đời, muốn làm việc gì cũng cần sự quyết tâm và tập trung đâu ra đó !!! Phật đạo cũng không khác, nếu không “Nhất tâm dừng hiện nghiệp” để hướng đến mục tiêu mà “đa tâm” lúc như này, lúc như kia thì gặp một tí trắc trở cũng dễ dàng chùn bước và mãi là cư dân trung thành của Ba Cõi !!!
b) Đối với Kiến Đạo Vị: Theo bạn, phẩm nào là phẩm quyết định để người tu hành có thể căn cứ vào đó sử dụng Thất Giác Chi phân tích một pháp đúng với tinh thần vô lậu ??? Nếu không thành tựu phẩm ấy, điều gì sẽ xảy ra khi người tu hành cố sức dùng Thất Giác Chi để phân tích một pháp bất kì ??? Vì sao nó như vậy ???
Trả lời:
Thưa thầy !!!
Theo con, đối với Kiến Đạo Vị, phẩm Ngũ lực là phẩm quyết định để người tu hành có thể căn cứ vào đó sử dụng Thất Giác Chi phân tích một pháp đúng với tinh thần vô lậu !!!
Người tu hành, bằng tư lương vị đặt một chân vào cõi xuất thế. Từ lúc bắt đầu bước vào cõi xuất thế cho đến lúc viên mãn đạo xuất thế, gọi là Kiến đạo vị với 17 phẩm: Ngũ Căn, Ngũ Lực và Thất Giác Chi.
Sau khi bước một chân vào cõi xuất thế, người này cảm nhận được sự an lạc, thấy được mục tiêu trước mắt, niềm tin chắc thật từ tín tâm (ở thế gian) chuyển sang tín căn (xuất thế gian) song song theo đó là tín lực – là sức mạnh từ niềm tin chắc thật, không còn gì có thể lung lay niềm tin này, người tu hành vững bước trên con đường mình đã chọn !!!
Ví như người bệnh, sau khi được lương y kê thuốc khiến bệnh tình dần thuyên giảm… Người bệnh từ đây tin chắc vào vị lương y này (tín căn), nên siêng năng uống thuốc (tấn căn). Thứ thuốc chữa khỏi căn bệnh, người này không bao giờ quên (niệm căn) và người này bằng lòng với cách chữa bệnh này (định căn) chính điều này tạo nên sự hiểu biết nhất định cho người bệnh về phương thức điều trị này (huệ căn).
Từ những hiểu quả sau thời gian ngắn điều trị bệnh, làm động lực cho người bệnh để việc điều trị ngày một tốt hơn và biết rõ hơn về cách thức cũng như phương thuốc mình được điều trị, như thế nào để hết bệnh (ngũ lực).
Cũng vậy, người tu hành sau khi quán (niệm) như ý túc như pháp, tức là nhớ nghĩ con đường, mục tiêu mình hướng đến. Đặt chân vào cõi xuất thế, thấy được mục tiêu trước mắt từ đó phát sinh tín căn !!! Tín căn sanh, đồng thời theo đó là Tấn căn (tinh tấn trên con đường mình chọn), Niệm Căn (luôn luôn nhớ nghĩ về mục tiêu), Định căn (bằng lòng, yên tâm trên con đường này) và Huệ căn (dần phát sinh sự hiểu biết trong quá trình tu hành).
Song song với Ngũ Căn là Ngũ Lực. Ngũ Lực là sức mạnh do người tu hành hưởng dụng từ thành quả tu tập. Mỗi thành phần trong Ngũ Lực là động lực rất lớn, thúc đẩy người tu hành dấn thân tu tập không mệt mỏi !!! Bởi, với Huệ lực, người tu hành có khả năng biết rõ con đường nào đưa đến hữu lậu, biết rõ con đường nào đưa đến vô lậu và mình đang đi trên con đường vô lậu là đúng !!!
Huệ lực chính là hạt nhân xây dựng Thất Giác Chi, do người này biết con đường nào đưa đến vô lậu !!! Nhờ sự hiểu biết này, người này bắt đầu xâm nhập kinh điển, phân tích giáo pháp bằng Thất Giác Chi!
Thất Giác Chi, gồm: Trạch Pháp giác chi, Niệm giác chi, Hỷ giác chi, Khinh An giác chi, Tinh Tấn giác chi, Định giác chi và Xả giác chi.
Người tu hành Trạch Pháp giác chi đến tận nguồn cơn, hiểu được điều mình cần hiểu, ngộ được cái mình cần ngộ thì lần lượt xuất hiện các chi phần sau là hệ quả tự nhiên cho đến xả giác chi !!!
Hệ quả tự nhiên này chỉ xảy ra, khi người tu hành sử dụng Trạch Pháp giác chi để phân tích một pháp bằng Huệ Lực !!!
Vì thế, để đúng với tinh thần vô lậu, người tu hành cần phải thành tựu phẩm Huệ Lực mới có thể căn cứ vào đó sử dụng Thất Giác Chi phân tích một pháp đúng với tinh thần vô lậu !!!
Nếu không thành tựu Huệ lực, thì việc cố sức sử dụng thất giác chi để phân tích một pháp bất kỳ là vô ích !!! Vì Huệ Lực cũng như Ngũ Lực, là thành quả mà người tu hành hưởng dụng được sau thời gian tu tập như pháp !!! Người không thành tựu Huệ lực khi phân tích một pháp bất kỳ chỉ là sự suy lường theo thế gian !!!
c) Đối với Tu Đạo Vị: Về cơ bản, Bát Chánh Đạo có mấy tầng bậc ??? Đó là những tầng bậc nào ??? Bạn có thể chỉ ra các dấu hiệu căn bản giúp nhận biết một người tu tập đang ở một tầng bậc nào đó của Bát Chánh Đạo ???
Trả lời:
Thưa thầy !!!
Đối với Tu Đạo Vị: về cơ bản, Bát Chánh Đạo có 3 tầng bậc, đó là:
Thế Gian, Xuất Thế Gian và Xuất Thế Gian Thượng Thượng.
Dấu hiệu:
- Thế Gian: tăng Thiện, giảm Ác. Ví dụ, như: làm phước, bố thí, không trộm gà hái bí,…
- Xuất Thế Gian: xả Thiện, xả Ác. Là những vị đã giác ngộ, bắt đầu vào dòng thánh.
* Dấu hiệu của người đã Giác Ngộ: (trích Anh Lạc Luận – tác giả: Lý Tứ)
Kiết sử tự mất, không còn tham sân si.
Không dụng công mà thiền vẫn tự được, thường sinh hỷ lạc, thường thấy khinh an, không còn sợ hãi.
Các thứ tiểu tâm bỗng dưng biến mất, như trời không mây (..Đố kỵ, ganh ghét, bè phái, phiền não...).
Thích độc cư thiền định, chẳng ưa bầy đàn, chẳng ham tranh đấu.
Không thích chuyện đời, tránh xa thị phi phải quấy, chỉ thích tụng đọc, nghe thuyết, trao đổi Phật Pháp.
Có tâm ít muốn biết đủ, không có tâm mong cầu.
Thường sinh tâm vui mừng khi biết được có người vừa mới giác ngộ, giống như loài sư tử vui mừng khi biết rằng đang có sư tử con ra đời... Nếu, khi nghe có người giác ngộ mà sinh tâm muộn phiền tật đố, phải biết cái tâm mèo chó hãy còn, nếu giữ tâm này, rất khó giác ngộ.
Không có tâm làm Thầy, vì chẳng ưa danh tướng.
Tôn trọng chân lý, thường hay sinh trí tuệ, chẳng khởi niệm vô minh.
Niết Bàn an vui chính là ngôi nhà, là nơi người giác ngộ an trú.
- Xuất Thế Gian Thượng Thượng: phi Thiện, phi Ác. Nhân cái Thiện này, mà bậc Đạo Sư giúp người Giác Ngộ. Nhân cái Ác kia, mà bậc Đạo Sư khiến người giải thoát.
2) Đối với Lục Chủng Tánh Anh Lạc: Xin bạn cho biết chủng tánh nào tương ưng với đế nào trong Tứ Đế ??? Có chủng tánh nào không nằm trong quá trình học tập của Tứ Đế ??? Vì sao chủng tánh ấy không nằm trong quy trình học tập của Tứ Đế ??? Xin giải thích cụ thể !!!
Trả lời:
Thưa thầy !!!
Toàn bộ câu 2 này, con xin được nương theo và trích dẫn bài Lục Chủng Tánh Anh Lạc - trích Anh Lạc Luận, tác giả: Lý Tứ !!! Mong thầy hoan hỷ !!!
Lục Chủng Tánh Anh Lạc, gồm: Tập chủng tánh, Tánh chủng tánh, Thánh chủng tánh, Đạo chủng tánh, Đẳng giác chủng tánh và Diệu giác chủng tánh !!!
Tập chủng tánh tương ưng với Khổ đế và Tập đế.
Tánh chủng tánh và Thánh chủng tánh tương ưng với Diệt Đế. Trong đó:
- Thánh chủng tánh chỉ cho Nhị thừa viên mãn diệt đế...
- Tánh chủng tánh chỉ cho Bồ Tát thừa thấy được bổn tâm, kiến được bổn tánh
Đạo chủng tánh tương ưng với Đạo đế.
Đẳng giác chủng tánh và Diệu giác chủng tánh không nằm trong quá trình tu tập của Tứ Đế !!! Vì:
- Đẳng Giác chủng tánh:
Sau khi thành tựu Nhất thiết trí, vị này lặng lẽ quan sát mười pháp giới... Quan sát xong, mới biết rằng sở dĩ có các pháp giới sai biệt là vì, hữu tình trong thập phương thế giới do nhận thức sai biệt, nên có các pháp giới sai biệt !!! Thấy như vậy rồi, Bồ Tát này y chỗ sai biệt của hữu tình, tuỳ tâm lượng từng hữu tình, mỗi mỗi dùng thiện xảo phương tiện khiến họ đồng được những điều cần được của Phật đạo, gọi là Đại Bồ Tát phát khởi đại từ đại bi !!! Vị Bồ Tát thực hành công hạnh của mình, đến khi đầy đủ công đức, thấy điều Phật thấy, biết điều Phật biết, chứng điều Phật chứng gọi là Đẳng giác Bồ Tát... Giống như người học thành thục nghề kim hoàn, thiện xảo làm ra các món trang sức như dây chuyền, vòng xuyến, bông tai..v..v... Tất cả chúng sanh có nhu cầu trang sức, khi đủ duyên, đều được Bồ Tát cấp thí đúng như mong ước !!! Đẳng giác chủng tánh, chính là người thợ điêu khắc tài ba... Mỗi mỗi lõi cây, đều có thể tạc thành những bức tượng thù thắng theo ý nguyện của khách hàng... Chính sức thiện xảo của Bồ tát này, từ đây danh xưng tốt đẹp Đại Bồ Tát ra đời !!!
- Diệu Giác chủng tánh:
Đây là chủng tánh cuối cùng của người tu hành trước khi thành Đẳng Chánh Giác đủ mười danh hiệu...Diệu giác chủng tánh có được là do quá trình giáo hoá chúng sanh... Chủng tánh này, chính là Pháp Vân Địa trong Thập Địa Bồ Tát !!! Trong quá trình giáo hoá của Đẳng Giác, phút giây bất chợt nào đó, tâm thức bùng vở lần cuối cùng, vị Bồ Tát ấy thoát khỏi huyển trí, thành tựu thật trí... Với thật trí, vị ấy biết rõ ba đời Chư Phật và phép tắc lập nên một Liên Hoa Đài Tạng... Vị ấy thị hiện vai trò một Hậu Biên Thân, chờ ngày thành tựu Tối Hậu Thân như Chư Phật xưa !!! Đây là hình ảnh một Di Lặc Bồ Tát thị hiện ở cõi thế trước khi thành Đẳng Chánh Giác đủ mười danh hiệu !!!
3) Ba nghiệp phần hữu lậu là Khí Phần, Tướng Phần và Thắng Khí khi viên mãn, sẽ hình thành điều gì trong tâm thức một hữu tình ???
Trả lời:
Thưa thầy !!!
Theo con, ba nghiệp phần hữu lậu là Khí Phần, Tướng Phần và Thắng Khí khi viên mãn, sẽ hình thành kiết sử và phiền não trong tâm thức một hữu tình !!!
Trên đây là phần trình bày của con, không tránh khỏi thiếu sót. Mong thầy từ bi chỉ dạy để con có thể hiểu biết thấu đáo hơn !!!
Con kính chúc thầy luôn mạnh khỏe !!!
Chúc HĐTM Lý Gia luôn an vui, tinh tấn !!!
Con, Lý Hoàng Nhi
Một Buổi Trao Đổi Phật Pháp Của Huynh Đệ Lý Gia Miền Nam
Trong mỗi giai đoạn tu tập cụ thể, phải được Đạo Sư chỉ rõ điều gì là như lí, điều gì là phi lí !!!

Các bạn !!!
Hồi tối, hân hạnh được tham dự buổi trao đổi Phật pháp của Lý Gia do HĐ Miền Nam tổ chức, mình rất hoan hỉ !!!
Tuy nói rằng, đây là buổi sinh hoạt, trao đổi của HĐ Lý Gia Miền Nam, nhưng theo những gì đã quan sát, mình thấy có đầy đủ HĐ khắp mọi miền đất nước, cũng như HĐ nước ngoài !!! Sự tham gia đông đủ, cho thấy buổi sinh hoạt của các bạn là thật sự lợi ích và mọi người hưởng ứng !!!
* Về nội dung đề tài: Đề tài NGŨ TRƯỢC được diễn giả là LÝ NGỌC HỈ trình bày rất minh bạch...Theo đánh giá của mình, có thể nói mọi người nắm rất vững (từ diễn giả đến các HĐ tham dự), mặc dù (theo mình biết) đây là đề tài không dễ hiểu đối với nhiều người tu hành !!!
Do nắm vững đề tài, các bạn có thể dùng những hình ảnh thực tế trong cuộc sống để minh hoạ, làm sáng tỏ ý nghĩa của Ngũ Trược !!! Chính sự linh hoạt này mà, sau buổi sinh hoạt, những ai trước đây còn mơ hồ về Ngũ Trược sau khi nghe xong, biết rõ Ngũ Trược gồm những gì và vì sao nó xuất hiện trong đời sống của một người chưa giác ngộ, cũng như cách tịch diệt các nhiễm ô, trả tâm trí về với bản nguyên vô cấu, vô trược của nó !!! Những ai đã hiểu về Ngũ Trược, nay có dịp đào sâu, mở rộng đề tài để có thể thấy được bản chất của Ngũ Trược là gì !!!
* Về các câu hỏi do khách tham dự đặt ra để chất vấn diễn giả xoay quanh đề tài: Với các câu hỏi như:
- Do đâu Ngũ Trược hình thành ??? Đâu là khác biệt giữa tâm trược và trí trược ???
- Làm thế nào để thoát khỏi Ngũ Trược, có mấy cách để tâm trí không còn bị trược ???
- Người thành tựu Tập Đế đã hoàn toàn thoát khỏi Ngũ Trược hay chưa ??? Tu tập đến giai đoạn nào mới được coi là vĩnh viễn không bị chi phối bởi Ngũ Trược !!!
- Trong Lục Chủng Tánh Anh Lạc, chủng tánh nào đã tịch diệt vĩnh viễn Ngũ Trược !!!
-.........???
Theo đánh giá của mình, những câu hỏi do các bạn nêu lên trong buổi sinh hoạt là bám sát đề tài và không xa rời giáo pháp !!! Điều này, cho thấy HĐ chúng ta đã học tập, tư duy, ứng dụng một cách nhuần nhuyễn từng đề tài theo phương châm:
- Điều gì đã biết, biết đến nơi đến chốn, không mơ hồ, lẫn lộn !!!
- Điều gì đã tư duy: Tư duy đến tận nguồn cơn bằng chính Huệ Lực mà bản thân đã thành tựu !!!
- Điều gì đã ứng dụng: Ứng dụng triệt để vào thực tế cuộc sống !!!
* Về các câu trả lời: Theo nhận xét cá nhân, diễn giả đã làm rất tốt vai trò người “đăng đàn” !!! Trả lời thấu tình đạt lí từng câu hỏi !!! Sau khi được nghe diễn giả trả lời, người hỏi và đại chúng đều hoan hỉ, không còn thắc mắc gì thêm !!!
* Về phần trao đổi ngoài đề tài chính: Các câu hỏi của bạn đọc đăng trong Trang Lý Gia (tuy không nằm trong nghị trình) cũng được các bạn đem ra mổ xẻ và giải quyết thoả đáng !!! Ví dụ như:
- Trong quá trình tu tập, trường hợp nào phải sử dụng như lí tác ý: Theo các bạn, như lí tác ý được sử dụng trong suốt quá trình tu tập !!! Tuy nhiên, để biết được điều gì là như lí, điều gì là phi lí...Trong mỗi giai đoạn tu tập cụ thể, phải được Đạo Sư chỉ rõ điều gì là như lí, điều gì là phi lí !!! Vì rằng, bản thân người tu hành (chưa giác ngộ đến nơi đến chốn) không tự biết được hai điều trên, đôi khi nhầm tưởng phi lí là như lí dẫn đến tác ý sai, không thể thành tựu đạo quả trong giai đoạn đó !!!
- Chân tâm của tôi ở đâu ??? Với một người chưa giác ngộ, khi đặt câu hỏi như vậy, không thể trả lời trực tiếp !!! Giống như người mù hỏi “ánh sáng ở đâu”, ta không thể trực tiếp chỉ cho người mù thấy ánh sáng !!! Mà công việc đầu tiên là, “phải chữa cho người ấy hết mù”, nếu người ấy vẫn còn nuôi dưỡng quyết tâm “muốn biết ánh sáng ở đâu” !!! Theo đánh giá của mình, trả lời của Lý Hư Không (Houston) là thoả đáng !!!
- Ý căn ở đâu trong thân thể này: Có hai loại căn là, sắc căn và vô sắc căn...Ý căn thuộc về vô sắc căn nên không thể chỉ ra nó ở đâu trong sắc căn hay sắc thân !!! Chỉ khi nào, một tư duy hiện khởi, hay một pháp hiện diện trong tâm thức...Chừng ấy vô sắc căn là ý căn mới hiện hữu và lúc ấy mới có thể nhận diện đâu là ý căn...Giống như người ta chỉ có thể nhận diện thế nào là gió, thông qua hình ảnh lay động của hàng cây khi bị gió tác động !!!
* Kết luận: Theo đánh giá chủ quan của mình !!! Buổi sinh hoạt, trao đổi Phật pháp của các bạn là vô cùng lợi ích !!! Xin tán thán chung !!!
* Đề xuất: Duy trì các buổi sinh hoạt như thế này trong mỗi tuần là thật sự cần thiết đối với toàn thể HĐ LÝ GIA !!! Nhưng phải nhớ: “Cho mình tham dự với (sẽ tắt video và micro để không ai thấy có đấng bề trên đang dòm ngó)...Được nghe ké các HĐ đàm luận là một vinh dự...Và, Lão Lý cũng học hỏi được rất nhiều điều từ các bạn !!! Nhớ làm ơn làm phước” !!! Ha ha ha ha !!!
18/12/2019
LÝ TỨ











Tâm Sự Của Lý Thu Sang: Đợi Đến Già Mới Tu .. Là ... Sai .. Lệch
Mỗi người trong chúng ta đều có những hoàn cảnh khác nhau, mỗi độ tuổi sẽ có những thứ phiền não khác nhau. Đều này có nghĩa phiền não thế gian không chừa một ai khi chưa biết tu tập, dù tuổi trẻ đi chăng nữa

Tâm sự huynh đệ số 16
Các bạn !!!
Mình quen Thu Sang cách đây ba năm tại Huế trong một dịp về thăm HĐ miền Trung !!! Lúc đó, Sang là SV năm cuối của một trường Đại Học !!!
Mình và các HĐ miền Trung ngồi nói chuyện ở một bãi cỏ bên ngoài khu di tích cố đô Huế... Sang cũng tò mò đến nghe !!! Không nhớ lúc đó mình nói những gì, nhưng sau câu chuyện, Sang xin làm HĐ Lý Gia !!! Thế là Sang được “đặc cách” nhập bọn ngay tại bãi cỏ ấy !!! Và, câu giáo hoá đầu tiên của mình với Sang là: “Hãy lấy bằng tốt nghiệp trước, rồi mọi chuyện tính sau” !!!
Sau lần đó, mình không gặp lại Sang !!! Đến lần ra Hà Nội năm ngoái, Sang xin phép được từ Huế ra đó để gặp mình !!! Và, lời giáo huấn thứ nhì của mình với sang: “Hãy tìm một công việc phù hợp” !!!
Bây giờ, Sang đã có công việc ổn định...Rất siêng năng tu học và đã đạt được một số thành quả nhất định !!! Nhờ biết ứng dụng những thành quả đó vào đời sống...Thu Sang hoà nhập vào cuộc sống nhanh hơn và thích nghi với công việc dễ dàng hơn !!!
Xin giới thiệu đến các bạn, bài viết của LÝ THU SANG... Một trong những HĐ rất trẻ của LÝ GIA !!!
16/04/2020
LÝ TỨ
TB: Ba mẹ của Sang cũng là HĐ của Lý Gia !!! Ha ha ha ha !!! SH Ba; ST Mẹ và SM Con !!!
Kính gửi Thầy và HĐTM Lý Gia!!!
Sau những tuần sinh hoạt bàn về Tâm, Pháp, ba duyên hòa hợp và cách thực hành ứng dụng trong đời sống, Con cũng muốn viết ra đôi lời tâm sự của mình ạ!!!!!!!!!
Thưa Thầy, Thưa HĐTM, có lẽ HĐTM chúng ta đến với Phật pháp nói chung và đại gia đình Lý Gia nói riêng đều có câu chuyện riêng của mình. Đa phần mọi người đều trải qua muôn vàng thứ khổ của thế gian với một độ dày tập nhân nhất định. Riêng bản thân con – một người vô lo vô nghĩ, chỉ biết ăn và học, chưa va chạm nhiều – lần đầu tiên đến với Lý Gia vì chỉ sự “tò mò” không biết “phép thần thông” nào đã làm nên sự thay đổi từ cách suy nghĩ đến lối sống của Gia đình con. Và với sức hút của Thầy trong lần đầu gặp gỡ, con muốn được là một trong những người thừa kế tài sản của trí tuệ của Người liền, ngay và lập tức. ^^ Rồi con gia nhập Lý Gia theo lẽ tự nhiên ^^
Tuy nhiên, con cũng có một giai đoạn dài “bất thiện pháp” bởi đề tài nghiên cứu tốt nghiệp, bởi những định hướng tương lai trong độ tuổi 23 đầy chông chênh. Cái suy nghĩ “còn trẻ, chưa cần thiết phải tu tập” đã làm con ở trong một mớ hỗn độn phiền não của thế gian. Những phiền não lúc đó chỉ quanh quẩn việc thi cử, học hành, tưởng chừng như chẳng đáng là gì so với các vị HĐTM của Lý Gia chúng ta, nhưng với con, nó lại làm con căng thẳng và mệt mỏi hơn bao giờ hết.
Thưa HĐTM, ngay lúc con khá suy sụp vì sau nhiều lần không đạt được mục tiêu, SH “Ba” và ST “Má” giúp con lấy lại sự tinh tấn trong con đường tu tập của mình. Chuyến đi Hà Nội năm ngoái đã giúp con ngộ ra nhiều điều. Con còn nhớ lúc đó con hỏi Thầy nên làm gì trong những bước tu tập tiếp theo và rồi con nhận được một câu trả lời chẳng mấy liên quan: “Tìm một công việc trước đã con ạ”. Sau nhiều đêm suy ngẫm lại câu nói ấy^^, thiết nghĩ nếu như con cứ tiếp tục dưới sự bao bọc của thầy cô, cha mẹ thì biết bao giờ mới trưởng thành, biết bao giờ mới có cơ hội đem những “vũ khí” mà Thầy đã trang bị bấy lâu ra thực hành, chinh chiến với thế gian đây?
Đầu năm 2020, con bắt đầu công việc mới, môi trường mới, những con người mới và một lối sống mới. Nhưng, môi trường công việc nảy sinh ra nhiều vấn đề hơn con nghĩ, nó làm cho một đứa vô tư như con phải suy nghĩ nhiều hơn, rồi lắm lúc sinh tâm, sinh pháp.
Lắm lúc đêm về con cứ tự thắc mắc về những đồng nghiệp xung quanh, tại sao họ lại hành động như thế này? Câu nói, ánh mắt đó ám chỉ điều gì?? Bản thân mình có làm điều gì sai, làm phật lòng họ hay không? Hay họ có thực sự tốt như mình nghĩ hay không?? Sau một vài lần rơi vào phiền não như thế, con mới nhớ lại câu chuyện về nhân vật nhặt rác rồi đêm đến lại phân loại rác của Thầy.
Con chợt bừng tỉnh, thử hỏi, suy nghĩ như vậy có mang lại ích lợi gì cho mình hay cho người không??? Có giúp bổn tâm này thanh tịnh hơn không??? Bản chất của họ có thay đổi theo những suy nghĩ của con không??? Câu trả lời tất nhiên là không rồi ạ!!!! Vậy thì việc gì con phải gom nhặt nhưng nghĩ suy ấy để rồi mang hư vọng tâm.
Những lúc như vậy, châm ngôn “Lặng lẽ, quan sát, không kết luận” – của Thầy hiện lên trong đầu con. Nó giúp con dừng lại, quay lại bổn tâm của mình. Thực ra, bản chất của sự việc nó không có đúng sai phải trái, mà bởi thế gian chạy theo đúng sai phải trái nên bị trói buộc, làm con sanh ra hư vọng tâm.
Sau nhiều lần sinh tâm, quán tâm, con rút ra một số kinh nghiệm của bản thân. Trong trường hợp manh nha sinh pháp, hay đã sinh pháp rồi, nhưng mọi chuyện có thể nằm trong tầm kiểm soát của bản thân, con mở “Tâm Pháp” lên nghe. Giọng đọc truyền cảm của tỉ Diệu Hiền, âm nhạc du dương, cùng những lời đạo lý của Tâm Pháp làm con thấy an lạc hơn. Cảm giác như đạo tràng thanh tịnh trong con nó được xây dựng lên vậy ạ, chỉ mình ta với ta, suy ngẫm và thấm nhuần đạo lý hihi.
Còn trong trường hợp, bản thân con không giải quyết được không ngừng sinh pháp của mình, con tìm cách gần gũi, tâm sự với huynh đệ để tìm kiếm sự thoát ly. Cụ thể là con gọi về cho Sư Huynh “Ba”, Sư Tỉ “Má”, cùng mổ xẻ vấn đề của bản thân con. Các bậc huynh đệ từng trải nắm rõ vấn đề con đang gặp phải, nên mọi chuyện dễ dàng hơn. Ngoài cảm giác được tâm an lạc hơn, con rất trân trọng khoảnh khắc này bởi gia đình con lại gần gũi, và thấu hiểu nhau hơn. Một công đôi việc. Nói tới đây, con xin cảm ơn Lý Lão Sư một lần nữa hihi.
Thưa Thầy, thưa quý HĐTM, con chợt nhận ra, có lẽ mỗi người trong chúng ta đều có những hoàn cảnh khác nhau, mỗi độ tuổi sẽ có những thứ phiền não khác nhau phải không ạ?? Đều này có nghĩa phiền não thế gian không chừa một ai khi chưa biết tu tập, dù tuổi trẻ đi chăng nữa. Con xin đính chính lại suy nghĩ “con trẻ, chưa cần thiết tu tập” lúc trước là sai lệch, hihi.
Cuối cùng, con tin với tâm mong cầu giải thoát giác ngộ và đi theo con đường chánh đạo, HĐTM Lý Gia sẽ thành tựu để giúp mình giúp người!!!!!
Đệ tử, Lý Thu Sang
Bất Tư Nghì Huân Biến
Khi tâm bình đẳng, ngã và ngã sở đều không, trong ngoài đều tịch diệt, thì ý căn liền thanh tịnh

Bạn đọc thân mến !!!
BQT đọc Bản Dự Thảo Anh Lạc Luận I đến bài này, thấy hay quá và muốn chia sẻ ngay đến bạn đọc !!! Mặc dù đây là cái nhìn chủ quan nhưng BQT rất mong bạn đọc hoan hỷ !!!
BQT Lý Gia.
BẤT TƯ NGHÌ HUÂN BIẾN
Các bạn!!!
Kinh dạy: "Hiện thức lấy sự biến hóa bất tư nghì huân làm nhân cho nhau”, có nghĩa rằng: Những gì một hữu tình thấy; nghe; hay; biết... đều do sự huân biến của tâm thức thành kinh nghiệm phán xét. Sự huân biến này theo dòng nghiệp thức, không tự làm chủ được nên gọi là: Bất tư nghì huân biến. Phật Giáo ra đời giúp chúng sanh thoát khỏi sự huân biến không tự làm chủ của thức (của mình), đây là loại tập nhiễm tự nhiên của nghiệp.
Muốn chấm dứt huân biến hư vọng này, người tu hành phải giác ngộ thật sự, có nghĩa chỉ căn cứ vào bản tâm thanh tịnh không nghiệp, không y cứ vào thấy nghe thường tình. Trung đạo (Sunya) chính là cơ sở để chấm dứt huân biến một chiều này, kinh thường gọi là hữu biên luận, tức là hiểu biết và y cứ một chiều. Hiểu biết và y cứ này không giải thoát vì không căn cứ vào giác ngộ mà huân. Người giác ngộ thay thế sự huân biến này bằng huân biến của tự giác, tức là chỉ huân biến trong thanh tịnh. Bát Nhã là công cụ làm sạch nhân bất tư nghì huân này.
Thức có ba thứ là: Hiện thức, nghiệp thức và chuyển thức.
− Hiện thức là thấy biết hiện tiền.
− Nghiệp thức là y theo thấy biết này mà hồ đồ phán xét sự việc.
− Chuyển thức là sau khi tiếp nhận sự việc và hồ đồ phán xét, thức sẽ y cứ vào đây để làm nhân cho nhận thức sau này (đây chính là Bất tư nghì huân biến). Thức này sẽ trở thành Tàng thức, chữ Phạn gọi là A Lại Da thức, một trong tám thức.
Mạt Na thức (ngã) là nhân của huân biến, A Lại Da thức là phần tích chứa và nuôi lớn ngã. Muốn chấm dứt ba thứ thức này phải giác ngộ vô ngã.
Xả bỏ mọi thứ kiến chấp, thì ba thứ thức trở thành ba thứ trí. Đó là: “Hiện thức” thành “Diệu Quan Sát Trí”, “Nghiệp thức” trở thành “Bình Đẳng Tánh Trí” (hết ngã), “Chuyển thức” trở thành “Đại Viên Cảnh Trí”, tự tâm thanh tịnh, không tích chứa và làm nhân cho đời sau. Gọi là Bất tư nghì huân biến của Trí.
Khi tâm bình đẳng, ngã và ngã sở đều không, trong ngoài đều tịch diệt, thì ý căn liền thanh tịnh. Khi ý căn thanh tịnh (không bị vọng thức làm mê mờ chạy theo vọng cảnh), chỉ huân những gì thanh tịnh thì ý thức biến thành Diệu quan sát trí. Từ đây, ý thanh tịnh chủ đạo mọi hoạt động huân biến của năm căn còn lại. Do đó, năm căn chỉ theo mệnh lệnh thanh tịnh của ý căn (Diệu quan sát trí) mà huân những gì thanh tịnh. Vì chỉ huân những gì thanh tịnh do ý thanh tịnh chủ đạo, nên năm thức đầu tiên (có tên là tiền ngũ thức) trở thành Thành sở tác trí, năm công cụ hành hoạt của Bát Nhã trí vậy.
Khi đáp kệ ngài Ngoại Luân, Tổ Huệ Năng nói, “...Đối cảnh tâm liền sanh...” là nói khi đối cảnh tâm ngài y nơi Bát Nhã trí, tiền ngũ thức sanh Thành sở tác trí, Ý thức sanh Diệu quan sát trí, Mạt Na thức sanh Bình đẳng tánh trí và A lại da thức sanh Đại viên cảnh trí. Viên thủy thanh châu giác ngộ đã biến tám thức thành Bát Nhã. Kinh Lăng Già Phật dạy, “...Giác cảnh thức là Phật...” Câu này có nghĩa rằng, khi giác ngộ triệt để thì thức chính là trí vậy.
(06-2010)
LÝ TỨ
Thuyết Thông Và Tông Thông
Sức mạnh của chân lý nằm trong thuyết thông, ở đâu có chân lý ở đó có tông thông, ở đâu có tông thông ở đó có thuyết thông, ở đâu có thuyết thông ở đó có Phật pháp, ở đâu có Phật pháp ở đó là chánh pháp, chánh pháp ở đâu ở đó có Phật!!!

Các bạn !!!
Tối nay, nhận được Bản Dự Thảo Anh Lạc Luận I từ email của Anh Phúc !!!
Thế là, mình phải đọc thật kĩ từng bài, duyệt lần cuối để cuốn sách dự tính phát hành chính thức vào đầu năm Canh Tý (2020) !!! Công việc cần tỉ mỉ, soi từng dấu chấm, dấu phẩy, từng câu, từng chữ...với mục tiêu tìm ra các thứ lỗi để khắc phục !!!
Mình đọc một lèo, từ 19 giờ 19 phút đến 21 giờ 22 phút...giải quyết được 194 trang, bỗng dưng cảm giác trong bụng có vấn đề !!! Ha ha ha ha !!! Phát hiện ra, mải miết đọc, quên ăn tối !!! Thế là, bèn nấu nước sôi để chơi một gói mì !!!
Chế nước sôi vào gói mì xong, để đó và tiếp tục đọc !!! Có thể nói, đối với mình, những bài viết trong Anh Lạc Luận bài nào cũng hay, đọc đến đâu thấm đến đó... Mỗi bài, mỗi bài đều chứa trong nó chiếc chìa khoá mở cánh cửa đạo pháp, mình đọc say sưa đến quên cả trời đất !!! Hu hu hu hu !!! Đọc một tăng, gói mì nở tét lét !!! Nhưng đói bụng quá, ăn cũng...rất...ngon...lành !!!
Tất nhiên đây chỉ là cảm nhận cá nhân !!! Có thể do mình quá hiểu những gì đã viết, nên thấy nó hay !!! Do quá hiểu những gì đã viết, nên bài nào cũng bắt gặp chiếc chìa khoá mở cửa đạo pháp trong đó !!! Còn người khác đọc, chưa chắc đã có cảm nhận như vậy !!!
Đọc đến bài Thuyết Thông Và Tông Thông, tâm trí mình thiệt cao hứng !!! Bài viết đã chỉ cho người tu hành cách nhận diện thế nào mới là ngôn thuyết của chánh pháp !!! Thế là, mình quyết định copy bài viết gởi đến các bạn trong Chuyên Mục Chuyện Bên Lề (45) đăng vào sáng hôm nay, coi như bước khởi đầu cho kế hoạch năm 2020 !!!
Mình chân thành cảm ơn Anh Phúc !!! Vị HĐ đáng kính của LÝ GIA, hầu như không hề biết mệt mỏi là gì !!! Bên chiếc máy tính, chẳng quản ngày đêm, đã dốc lòng trau chuốt... để bản dự thảo mình đang đọc hiện tại chưa tìm thấy một lỗi nhỏ nào !!!
03 giờ 57 phút 16/12/2019
LÝ TỨ
THUYẾT THÔNG VÀ TÔNG THÔNG
Trong Pháp Bảo Đàn Kinh, Lục Tổ Huệ Năng có để lại bốn câu kệ bất hủ. Đó là:
“Thuyết thông và tông thông
Như nhật treo hư không
Duy truyền pháp kiến tánh
Xuống thế phá tà tông”.
Chiêm nghiệm bốn câu này, sẽ thấy chỗ sâu thẳm của đạo. Bốn câu kệ ngắn, nhưng hàm chứa tôn chỉ, mục đích cũng như tinh hoa của Phật đạo.
Phật Đạo trước sau không khác nhau, ngày trước Thế Tôn dạy "Duy Tuệ Thị Nghiệp" và thể hiện thông điệp này bằng câu nói:
"Ta có hai thứ thông
Thuyết thông và tông thông
Thuyết dạy kẻ đồng mông
Người tu hành dạy tông thông".
Sau 33 đời truyền thừa, vị Tổ cuối cùng đã đúc kết bằng bốn câu kệ trên, điều này nói lên tôn chỉ bất di bất dịch và nhất quán của Phật đạo, đó là giúp mình và giúp người thành tựu hai thứ thông.
Tông thông và thuyết thông của Phật đạo, vừa là cứu cánh tối thượng, vừa là phương tiện chính thống. Tông thông là chỗ thấu đạt, thuyết thông là phương tiện truyền cái thấu đạt đó đến người nghe.
Bốn câu kệ của Lục Tổ, còn là lời mách bảo để đời sau biết đâu là dấu vết để tìm về với đạo, đồng thời cũng là lời cảnh báo cho những ai còn mơ hồ, hoặc không thấy được mục tiêu chân chính của Phật đạo.
49.1. Thế nào là thuyết thông ???
Thuyết là ngôn thuyết, suốt cuộc đời hoằng hoá của Đức Phật, là bốn mươi chín năm miệt mài thuyết pháp. Ngôn thuyết là công cụ chính, là kênh truyền dẫn thông tin chủ yếu từ Phật đến người tu hành. Nếu kênh này trục trặc, hoặc ngôn thuyết không thông, nhất định mọi sự tu hành của đệ tử bị bế tắc.
Thuyết thông, là thứ ngôn thuyết đưa người nghe từ kẹt mắc đến thông suốt, đưa người từ u mê ra ánh sáng, đưa người từ khổ phiền não đến an vui, đưa người từ bị cột trói thẳng đến Niết Bàn, đưa người từ nô lệ cho thức nghiệp trở thành làm chủ trí tuệ, đưa người từ phàm phu lên địa vị bậc thánh, đưa bậc thánh đến vô thượng quả.
Do tính chất đưa người như vậy, nên Bát Nhã Trí, Bát Nhã Âm được ví như một con thuyền, gọi là "Thuyền Bát Nhã". Văn tự Bát Nhã hay ngôn thuyết Bát Nhã là công cụ duy nhất có năng lực đưa người từ bờ mê đến bến giác.
Trong những giai đoạn đưa người kể trên, mỗi giai đoạn đòi hỏi ngôn thuyết phải thông suốt. Ngôn thuyết thông suốt, giống như tấm bản đồ hoàn hảo, mọi thứ được phơi bày cụ thể ở đó và ghi chú rõ ràng. Giống như kỹ thuật nhận dạng hay chỉ đường, muốn giúp nhận dạng về một ai đó, thông tin của đối tượng cần tìm phải được cung cấp đầy đủ, càng cụ thể, càng chi tiết, càng minh bạch, việc tìm kiếm sẽ rất dễ dàng.
Ngôn thuyết trong Phật đạo chính là tấm bản đồ biết nói, là khoa học nhận dạng, là kỹ thuật tìm kiếm, giúp người tu hành đến nơi cần đến, loại bỏ những gì cần loại bỏ, tránh xa ngộ nhận, thông suốt các giai đoạn tu tập, phá bỏ những cản ngại không cần thiết trên con đường tu hành.
Ngôn thuyết thông suốt, là biểu hiện của tâm trí thông suốt, tâm trí không thông suốt nhất định ngôn thuyết không thông suốt. Giống như mô tả căn nhà của chính mình với một người nào đó, không thể có chuyện người chủ không thể mô tả đầy đủ, hoặc có điều gì đó không hiểu biết về căn nhà của mình. Thuyết thông của Phật đạo, chính là việc mô tả từ cạn đến sâu của một thứ tâm đã được giác ngộ rốt ráo thông qua sự thấu hiểu của trí tuệ, sự mô tả này giúp người nhận dạng và hướng người tìm đến thứ tâm trí thông suốt ấy.
Hay nói khác hơn, thuyết thông là một trong những công cụ giao tiếp và truyền đạt của văn hoá vô lậu.
Cho nên, thấu suốt Phật pháp để có được thuyết thông là yêu cầu bắt buộc đối với người học, là điều kiện không thể thiếu của một người thầy. Đây là lý do vì sao Phật giáo có đến tam tạng kinh điển với số lượng đồ sộ nhất, so với bất kỳ một tôn giáo nào trên đời.
Kinh điển chính là sách giáo khoa, là công cụ giảng dạy, giúp người học trò thấu đạt môn học của mình. Kinh điển chính là những quyển sách ghi lại lời dạy của Thế Tôn, được chuyển từ ngôn ngữ sang văn tự. Nói khác hơn, kinh điển chính là lời dạy của Phật. Vì thế, thông suốt kinh điển tâm trí mới thông suốt, tâm trí thông suốt ngôn thuyết sẽ thông suốt.
49.2. Thế nào là tông thông ???
Tông hay tôn là chủ, tức cái chủ đạo, cái gốc của mọi vấn đề, cái chính để mọi thứ quay về đó nương tựa. Trong Phật đạo, chữ tông được hiểu đó là tâm và trí, gọi là Phật Tâm Tông. Tông thông chính là tâm và trí thông suốt.
Nếu như chúng sanh, tâm và thức là hai thứ không thể tách rời nhau. Trong Phật đạo tâm và trí cũng là hai món không thể tách rời nhau gọi là không hai. Trí giống như đèn, tâm giống như ánh sáng, đèn lớn ánh sáng mạnh, đèn nhỏ ánh sáng yếu. Phật trí và Phật tâm giống như mặt trời và ánh sáng, cái này có thì cái kia có, thấy ánh sáng biết có mặt trời, có mặt trời tất nhiên có ánh sáng. Để có thể giúp người tu hành thành tựu, ngôn thuyết chính là phương tiện chủ yếu từ Đạo sư đến người tu hành, bậc Đạo sư tâm trí có thông thì ngôn thuyết mới thông.
Nếu, tâm và trí là nguồn sáng, ngôn thuyết là ánh sáng, thì ngôn thuyết chính là biểu hiện của "chữ tuệ" trong Phật đạo. Tuệ là sự phát sáng, là năng lực làm ảnh hưởng người khác bằng lời nói, là sức nóng từ lời nói phát ra làm khô héo phiền não, đây là lý do vì sao trong Phật đạo có hai từ "trí tuệ". Điều này, kinh Đại Bát Nhã gọi là Bát Nhã lực, Bát Nhã Âm, Tuệ Bát Nhã...v.v... Tức sức mạnh của trí
tuệ thông qua ngôn thuyết!!!
Như vậy có thể kết luận, để đánh giá mức độ thành tựu của một người trong Phật đạo, ngôn thuyết của người ấy chính là biểu hiện của tâm và trí. Sự chứng ngộ được thể hiện qua ngôn thuyết chính là dấu hiệu nhận biết cụ thể nhất.
Trong kinh Phật cũng dạy, "trong các thứ thần thông, thần thông ngôn thuyết là tối thắng nhất". Mọi thứ trên đời đều có thể giả mạo, thần thông ngoại đạo cũng có, hình tướng ma quỷ có thể biến hoá, chỉ trừ thứ ngôn thuyết của trí tuệ là không thể giả mạo. Nếu một ai đó giả mạo được thứ này, vị giả mạo đó đáng được người tu hành cung kính lễ lạy. Vì rằng, giả được tâm và trí của thánh của Phật, vị đó chính là thánh là Phật vậy. Giống như một người làm giả ngọn đuốc, ngọn đuốc giả có ánh sáng và sức nóng không khác gì ngọn đuốc thật. Ngọn đuốc giả bây giờ chính là ngọn đuốc thật, vì nó làm được những điều hoàn hảo của một cây đuốc!!!
Điều này được thể hiện trong bài kinh kể chuyện người Bà La Môn đi tìm Phật, người Bà La Môn trên đường đi tìm Phật để cầu học, đêm đến Phật và tăng đoàn ngủ trong lò gốm, vị Bà La Môn cũng đến đó xin ngủ nhờ và người đó không biết Phật là ai, cũng như không biết Phật đang ở nơi đây. Trước khi ngủ, người Bà La Môn nghe Phật nói chuyện và nhận ra chân lý, người này sụp lạy, cho rằng đây mới là Phật, không cần tìm Phật ở nơi khác. Câu chuyện cho thấy, không phải bằng một thứ gì khác, mà chính thuyết thông đã giúp vị Bà La Môn kia nhận ra đấng Thế Tôn đang ở trước mặt.
Sức mạnh của chân lý nằm trong thuyết thông, ở đâu có chân lý ở đó có tông thông, ở đâu có tông thông ở đó có thuyết thông, ở đâu có thuyết thông ở đó có Phật pháp, ở đâu có Phật pháp ở đó là chánh pháp, chánh pháp ở đâu ở đó có Phật!!!
49.3. Những dấu hiệu của tông thông và thuyết thông!!!
Bước đầu tu học trong Phật đạo, là đi tìm học các pháp vô lậu để dứt phiền não lậu hoặc, pháp vô lậu sẽ được tìm thấy thông qua dấu hiệu của ngôn thuyết vô lậu.
Vì thế, văn hoá vô lậu mà đại diện là thuyết thông là nét riêng của Phật đạo, giúp người cầu đạo không bị nhầm lẫn với một loại đạo khác. Giống như người lạc giữa rừng ban đêm, muốn nhận diện các loài thú, phải phân biệt qua tiếng kêu, mỗi loài có một tiếng kêu riêng, không thể loài này kêu tiếng loài kia. Đây là cách nhận dạng tối ưu để có thể phân biệt giữa thông và không thông trong Phật đạo.
49.4. Các đặc điểm của thuyết thông !!!
a) Khi tuyên thuyết có bốn thứ vô uý, đó là: Thuyết đạo khổ vô uý, thuyết đạo diệt khổ vô uý, thuyết lậu tận vô uý và thuyết nhất thiết trí vô uý.
b) Khi tuyên thuyết, luôn luôn đầy đủ bốn thứ vô ngại, đó là: Từ vô ngại, nghĩa vô ngại, pháp vô ngại và biện tài vô ngại.
c) Trong ngôn thuyết không kẹt tứ cú, đó là: Chẳng dính mắc nơi đồng, chẳng dính mắc nơi dị, chẳng dính mắc nơi có, chẳng dính mắc nơi không, chẳng dính mắc nơi chẳng phải có, chẳng dính mắc nơi chẳng phải không.
d) Trong ngôn thuyết không làm nhiễm ô tâm người bởi bốn thứ bịnh, đó là: Bịnh nhậm, bịnh tác, bịnh chỉ, bịnh diệt.
e) Trong ngôn thuyết không có biểu hiện của bốn tướng, đó là: Tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sinh, tướng thọ giả.
Năm thứ vừa kể trên, là các dấu hiệu nhận biết của ngôn thuyết được xuất phát từ tâm trí vô lậu, gọi là tông thông và thuyết thông. Năm thứ này giống như tiếng gầm rống của sư tử chúa, không một loài nào có thể bắt chước được.
49.5. Thế nào là tà tông ???
Tà là thiên lệch, là không đúng với chánh. Tà tông là những tôn chỉ không phù hợp với chánh tông, không bắt nguồn từ gốc rễ của đạo trí tuệ, cũng không thành toàn cho người sự nghiệp trí tuệ.
Tà là tà kiến, tức những kiến giải không giúp người thành tựu vô lậu tâm và vô lậu trí.
Nói chung, tà tông là những tôn chỉ, những phương pháp tu tập không được dẫn đạo bởi hai thứ thông nói trên.
49.6. Kết luận !!!
Thuyết thông và tông thông là nét đặc trưng của Phật đạo. Nó là thứ thần thông ngôn thuyết có thể khiến kẻ mê dứt mê, khiến kẻ chưa giác ngộ sớm giác ngộ, khiến kẻ đã giác ngộ thành tựu trí tuệ, khiến người thành tựu trí tuệ có được đạo quả vô thượng.
(11-09-2013)
* BQT chỉ mới nhận được 2 bài viết trả lời TCTT - 05/2019 của Cảnh (Cần Thơ) và của Khương (Hà Nội)...Ngày 23/12/2019, TCTT - 05/2019 chính thức khép lại !!!
