Bài viết Lý Tứ

Lã Thị Áng Hề

MB 857 Lý Diệu Sinh 22.02.2023

Cả cái Tết Nguyên Tiêu (Rằm tháng Giêng), mà các cửa hàng của Lã Thị chỉ bán được vài chiếc ô tô, chục cái điện thoại, dăm căn nhà trệt, vài thùng đô la Âm Phủ! Nhìn cảnh chợ chiều ế ẩm, khác xa mấy năm trước, không đủ tiền trả nhân công phụ việc! Thất vọng! Em quyết đi tìm sự thật, vì mô ra nông nổi ni! Thì ra, chuyện như ri:

Thành phố của Em, gần đây có mấy bác “độc mồm, độc miệng”, tuyên truyền như ri, người tu hành mà đốt vàng mã, là loại mê tín, chỉ nên cúng hương đèn chuối bánh, mới là người có chánh tín!

Trời ơi! Người tu đa số vốn dĩ đã mang trong mình “dòng máu mê tín” (kể cả các bác đấy, chỉ khác nhau cách thức mê vì chưa Giác Ngộ), nhưng họ rất sợ bản thân bị liệt vào hàng mê tín. Giống như bọn ác rất sợ người khác phát hiện ra mình là bọn ác. Nên khi nghe rứa, họ bỏ rơi Em! Các Bác thấy đó, sự đời éo le, có chết Em không chớ!

Em không dám nói các bác nớ nói sai mô, nhưng nghiệm mãi, nghiệm đến sói cái trọt, mà Em cũng chưa thông cái vụ tà chánh của các bác lí giải: “Hỏi O, O cũng lắc đầu. Hỏi Mệ, Mệ cũng rầu rầu chào thua!” Chao ôi! Cúng hương đèn chuối bánh là chánh, còn xe cộ vàng mã là tà! Không hiểu các bác nớ có nói lộn không? Ngược ngạo như ri, mà cũng có người nghe, đời răng u não rứa!

Nếu lí sự rằng, cúng vàng mã là lãng phí. Các bác hình như “dư hơi”! Lãng phí của Em, chứ có lãng phí của ai mô? (trong khi luật pháp không cấm, ngũ giới không cấm, thằng chồng chưa cưới của Em cũng không cấm) Thì nó sai ở chỗ mô hỉ?
Một năm đằng đẳng, tặng các Cụ ở dưới vài chiếc ô tô bằng giấy, mấy cái điện thoại đời mới, vài thùng đô la Âm Phủ, gọi là báo hiếu. Xin các Cụ phù hộ giữa cõi đời ác độc ni, nhờ rứa làm ăn phát tài. Các bác nghĩ xem, có đáng là bao, so với biết bao thứ lãng phí chung quanh hỉ (sờ sờ trước mắt). Ngay như các bác, sự lãng phí xảy ra hàng ngày từ trên côi đến dưới trủng, các bác có thấy không hỉ? Các bác ngày đêm hì hục theo kiểu các bác (vọng tưởng) đến nay có được chi mô? Rứa chẳng phải thứ lãng phí (thời gian và chất xám) đáng sợ hay răng? Các bác có dám đối diện với lòng mình, rằng ôn chưa từng lãng phí cuộc đời, đã hết mê tín rồi chăng?
Còn nếu xét bản chất, hương đèn hay vàng mã cũng đều là quan niệm. Mà cái chi thuộc về quan niệm, đều chẳng phải chân lí (Phật giáo gọi thứ ni là pháp). Nơi không chân lí, thì đâu thể kết luận là chánh hay tà! Mà, tất cả quan niệm của thế gian ni, theo Em biết “đều do mê sanh”! Hi hi hi hi! Mê hương đèn “chê” mê vàng mã. Mê chi cũng mê, các bác thấy có nực cười không? Chuyện nực cười như rứa, nhưng nó làm Em thất thu! Hu hu hu hu! Các bác thấy có tức không?
Bác mê hương đèn, Em mê vàng mã. Giống như hai đứa con nít chưa thôi vú mẹ, đứa mê nắm vú giả màu xanh, đứa mê nắm vú giả màu đỏ. Xanh hay đỏ, âu cũng là “cái thói” của mê! Nếu là người lớn, ai lại đi chê nắm vú xanh, tôn vinh nắm vú đỏ như rứa? Răng không dạy cho chúng trưởng thành, để khi đứa bé từ bỏ vú mẹ, sẽ thôi không ngậm bất kì xanh hay đỏ nửa! Các bác không biết, con nít ngậm nắm vú giả, sẽ hát bài “Hãy yên lòng mẹ ơi !!!” Rứa là…hết…khóc…nhè, chớ xấu chỗ mô?

Có bác bảo, chánh đạo chẳng giống tà! Nói răng ngược ngạo rứa, chánh tà ở tâm và trí hay ở nén hương cùng xấp đô la Âm Phủ?

Còn nếu bảo rằng, chánh đạo cốt ở tâm trí, không dụng hình tướng. Thì, thứ chánh đạo đó, mắc phải lỗi “tận hữu vi” (Kinh Phật nói rứa)! Cơm thơm nơi nước Chúng Hương còn làm Phật sự được mà, Kinh dạy như rứa, các bác chưa từng đọc qua răng? Phật Thích Ca còn phải thị hiện 32 tướng tốt để nhiếp phục người đời! Cái hình tướng biết dụng cùng không, là ở ngu hay trí, chớ tự nó chẳng có lỗi chi? A Nan theo Phật là vì cái chi?

Các bác ơi! Hình như các bác và cháu đây, hãy còn ngậm cái vú giả! Răng lại, vì cái vú giả ni mà đi bài xích cái vú giả nớ một cách cực đoan (biên kiến) như rứa! Nếu, các bác cho rằng mình đã lớn khôn hỉ! Làm ơn chỉ cho cháu, cùng những bọn ngu mê như cháu: CON ĐƯỜNG GIÁC NGỘ THẬT SỰ (không phải cái thứ các bác ra rã tối ngày, nhưng thực tế vô dụng, trong thẩm sâu các bác cũng thấy như rứa, nhưng không dám nói ra)! Nhất định, Giác Ngộ rồi, khi làm người lớn khôn, cháu và cả bọn mê tín ni tự biết mình nên làm cái chi cho phải đạo! Chao ôi! Cái chấp nhất nó hại người như rứa các bác ạ! Đến đồ Âm Ti cũng bị cái cớ sự chấp nhất nó phá hỉ! Hi hi hi hi! Phen ni, Âm Ti cũng chào thua Dương Ti!
Bác nào giải cho Em thông cái vụ ni, Em xin tặng vài chiếc ô tô, mấy chục điện thoại, một căn biệt thự, mấy tỉ đô la (phòng thân khi xuống dưới). Còn không thông, đem cái nắm vú giả của mình đi chê cái nắm vú giả người, Em phục răng được! Các bác thử nghiệm xem, bản thân hiện tại đã ngậm bao nhiêu nắm vú giả mà các bác đã nhận ra chưa hỉ!

Chưa Giác Ngộ, thì phải cầu, dùng thứ ni không được phải dùng thứ tê, không thì làm răng? Biết mình còn ngu, phải luồn cúi, khẩn cầu, đút lót để được yên thân, sai chỗ mô hỉ?

Em còn có thông tin, mấy bác ăn phải của đút lót của mấy mệ bán hương, nên bày chuyện như rứa, chứ Phật mô đi dạy tào lao như ri, vì thông tin chưa được kiểm chứng, nên Em cũng chưa chắc lắm.

Bác gái ngày xưa cùng thầy me vác vàng mã lên Chùa Hương: “Em cầu xin Giời Phật/Sao cho em lấy chàng”. Còn nay, Em bán vàng mã để: “Em cầu xin Giời Phật/Sao cho hết háng ề”….!!! Cổ kim khác chỗ mô! Hỉ!

Kính tặng các bác, bài thơ Em Đi Chùa Hương của Nhà Thơ Nguyễn Nhược Pháp…
Hôm nay đi Chùa Hương,
Hoa cỏ mờ hơi sương.
Cùng thầy me em dậy,
Em vấn đầu soi gương.
Khăn nhỏ, đuôi gà cao,
Em đeo dải yếm đào;
Quần lĩnh, áo the mới,
Tay cầm nón quai thao.
Me cười: “Thầy nó trông!
Chân đi đôi dép cong,
Con tôi xinh xinh quá!
Bao giờ cô lấy chồng?”
– Em tuy mới mười lăm
Mà đã lắm người thăm
Nhờ mối mai đưa tiếng,
Khen tươi như trăng rằm.
Nhưng em chưa lấy ai,
Vì thầy bảo người mai
Rằng em còn bé lắm,
(Ý đợi người tài trai).
Em đi cùng với me.
Me em ngồi cáng tre,
Thầy theo sau cưỡi ngựa,
Thắt lưng dài đỏ hoe.
Thầy me ra đi đò,
Thuyền mấp mênh bên bờ.
Em nhìn sông nước chảy
Đưa cánh buồm lô nhô.
Mơ xa lại nghĩ gần,
Đời mấy kẻ tri âm?
Thuyền nan vừa lẹ bước,
Em thấy một văn nhân.
Người đâu thanh lạ thường!
Tướng mạo trông phi thường.
Lưng cao dài, trán rộng.
Hỏi ai nhìn không thương?
Chàng ngồi bên me em,
Me hỏi chuyện làm quen:
“Thưa thầy đi chùa ạ?
Thuyền đông, giời ôi chen!”
Chàng thưa: “Vâng, thuyền đông!”
Rồi ngắm giời mênh mông,
Xa xa mờ núi biếc,
Phơn phớt áng mây hồng.
Dòng sông nước đục lờ.
Ngâm nga chàng đọc thơ.
Thầy khen: “Hay! Hay quá!”
Em nghe rồi ngẩn ngơ.
Thuyền đi. Bến Đục qua.
Mỗi lúc gặp người ra,
Thẹn thùng em không nói:
“Nam vô A-di-đà!”
Réo rắt suối đưa quanh,
Ven bờ, ngọn núi xanh,
Nhịp cầu xa nho nhỏ:
Cảnh đẹp gần như tranh.
Sau núi Oản, Gà, Xôi,
Bao nhiêu là khỉ ngồi.
Tới núi con Voi phục,
Có đủ cả đầu đuôi.
Chùa lấp sau rừng cây.
(Thuyền ta đi một ngày)
Lên cửa chùa em thấy
Hơn một trăm ăn mày.
Em đi, chàng theo sau.
Em không dám đi mau,
Ngại chàng chê hấp tấp,
Số gian nan không giàu.
Thầy me đến điện thờ,
Trầm hương khói toả mờ.
Hương như là sao lạc,
Lớp sóng người lô nhô.
Chen vào thật lắm công.
Thầy me em lễ xong,
Quay về nhà ngang bảo:
“Mai mới vào chùa trong.”
Chàng hai má đỏ hồng
Kêu với thằng tiểu đồng
Mang túi thơ bầu rượu:
“Mai ta vào chùa trong!”
Đêm hôm ấy em mừng!
Mùi trầm hương bay lừng.
Em nằm nghe tiếng mõ,
Rồi chim kêu trong rừng.
Em mơ, em yêu đời!
Mơ nhiều… Viết thế thôi!
Kẻo ai mà xem thấy,
Nhìn em đến nực cười!
Em chưa tỉnh giấc nồng,
Mây núi đã pha hồng.
Thầy me em sắp sửa
Vàng hương vào chùa trong.
Đường mây đá cheo veo,
Hoa đỏ, tím, vàng leo.
Vì thương me quá mệt,
Săn sóc chàng đi theo.
Me bảo: “Đường còn lâu,
Cứ vừa đi ta cầu
Quan Thế Âm bồ tát
Là tha hồ đi mau!”
Em ư? Em không cầu,
Đường vẫn thấy đi mau.
Chàng cũng cho như thế.
(Ra ta hợp tâm đầu).
Khi qua chùa Giải Oan,
Trông thấy bức tường ngang,
Chàng đưa tay, lẹ bút
Thảo bài thơ liên hoàn.
Tấm tắc thầy khen: “Hay!
Chữ đẹp như rồng bay.”
(Bài thơ này em nhớ,
Nên chả chép vào đây).
Ô! Chùa trong đây rồi!
Động thẳm bóng xanh ngời.
Gấm thêu trần thạch nhũ,
Ngọc nhuốm hương trầm rơi.
Me vui mừng hả hê:
“Tặc! Con đường mà ghê!”
Thầy kêu: “Mau lên nhé!
Chiều hôm nay ta về.”
Em nghe bỗng rụng rời
Nhìn ai luống nghẹn lời!
Giờ vui đời có vậy,
Thoảng ngày vui qua rồi!
Làn gió thổi hây hây,
Em nghe tà áo bay,
Em tìm hơi chàng thở!
Chàng ôi, chàng có hay?
Đường đây kia lên giời,
Ta bước tựa vai cười.
Yêu nhau, yêu nhau mãi!
Đi, ta đi, chàng ôi!
Ngụn ngút khói hương vàng,
Say trong giấc mơ màng
Em cầu xin Giời Phật
Sao cho em lấy chàng.

Chú thích: Áng hề, háng ề…v…v… Là chữ Congo (République Démocratique du Congo) không thể dịch ra Việt ngữ một cách thoả đáng… Kẻ khôn chỉ nên thầm…hội…!!!

Bài viết Lý Tứ

Ba Vị Huynh Đệ Bàn Về Ngũ Nhãn

MB 857 Lý Diệu Sinh 22.02.2023

Ba Vị Huynh Đệ Bàn Về Ngũ Nhãn

Ngũ nhãn hay năm con mắt trong Phật đạo, là năm tầng nhận thức, năm mức độ ảnh hưởng tâm trí của năm cảnh giới từ phàm phu đến Phật khi xúc đối cảnh duyên!

B: Thưa SH! Trong Phật đạo, cụ thể là kinh Kim Cang có nói về ngũ nhãn!

Xin SH giải thích thế nào là ngũ nhãn theo tinh thần Phật đạo! Và tu hành như thế nào, để từng bước thành tựu những con mắt này?

A: Trong Phật đạo có nói đến ngũ nhãn hay năm con mắt, gồm: Nhục nhãn, thiên nhãn, pháp nhãn, huệ nhãn và Phật nhãn!

Thật ra, ngũ nhãn hay năm con mắt mà Phật đạo nói đến, không phải là hình ảnh người ta mọc thêm con mắt thứ ba, thứ tư, thứ năm...v..v...trong quá trình tu hành như chuyện thần thoại! Mà ngũ nhãn của Phật đạo, chính là “năm tầng nhận thức” hay “năm lớp nhãn quan”! Các thứ nhãn quan, các tầng nhận thức nêu trên có được, là do quá trình tu tập và giác ngộ như pháp mà hình thành!

Có nghĩa rằng, cùng một sự việc xảy ra, nhưng do nghiệp quả sai khác, nhận thức sai khác, văn hoá sai khác, tâm trí sai khác..v..v... nên hình thành những thấy biết sai khác, gọi là nhãn quan!

Khi một sự việc xảy ra, người đời nhìn sự việc theo quan điểm thế gian, và đánh giá, kết luận sự việc ấy theo quan điểm của họ! Còn người có giác ngộ, tuỳ theo tầng bậc, tuỳ theo cảnh giới thực chứng, họ sẽ có cách nhìn sự việc, cũng như đánh giá, kết luận sự việc tương ưng với cảnh giới đã chứng!

Mình xin đưa ra một ví dụ, để làm sáng tỏ vấn đề:

Giả sử, đứng trước một thiên tai, từ người đời cho đến người tu hành khi chứng kiến, tình cảm, tâm tư, trí tuệ, ứng xử của những người ấy rất khác nhau!

-Đối với người đời: Trước thiên tai, họ đau khổ, oán trách, người thì cho rằng đây là nghiệp quả phải cam chịu, người thì bảo rằng đây là hậu quả do con người không biết trân trọng, tàn phá thiên nhiên, có người mê tín bảo rằng do ông trời nổi giận...v..v...

Nói chung, người đời khi đối trước một sự việc, tuỳ vào nhận thức, tuỳ vào văn hoá, tuỳ vào tâm tư, tình cảm, tuỳ vào mức độ thiệt hại...v..v...mà họ nhìn nhận sự việc, rồi đánh giá theo chủ kiến của mình! Phật đạo gọi sự nhìn nhận và đánh giá theo cách như vậy là nhục nhãn!

-Đối với những người đắc thiền định: Với nhãn quan của một thiên chúng, vị ấy do sức huân tu thiền định, tác động của thiên tai lên tâm ý của họ là như thế nào, còn tuỳ thuộc vào thiền thú vị ấy đạt được! Từ đó hình thành nhãn quan, dẫn đến tâm tư, tình cảm, trí tuệ của vị ấy tương ưng với thiền thú hiện có mà an trú tâm! Thấy biết như vậy, Phật đạo gọi là người có thiên nhãn!

Đây là lí do vì sao, một số bài kinh có đề cập đến việc người được sơ thiền, hoả tai không thể bách hại! Người được nhị thiền, thuỷ tai không thể bách hại! Người được tam thiền, phong tai không thể bách hại..v..v... Không thể bách hại ở đây là, khi an trú trong thiền thú, với sức thiền định vững chắc, những thứ hoạ tai ấy không thể xâm nhập tâm trí của họ, chứ không phải thân xác họ không bị chết cháy, chết chìm hay gió cuốn!

-Đối với những vị có giác ngộ: Do sức giác ngộ, cho dù đứng trước thiên tai, hoàn cảnh hay bất cứ sự việc như thế nào, tâm trí các vị ấy cũng thanh thản, vắng lặng, bất động! Phật đạo gọi thấy biết và tâm cảnh như vậy là người đắc pháp nhãn!

Tất nhiên, tuỳ thuộc vào cảnh giới giác ngộ, mức độ thanh thản, vắng lặng, bất động sẽ sâu hay cạn! Vì rằng, từ sơ ngộ đến thành tựu viên mãn pháp nhãn, người tu hành phải trải qua nhiều cảnh giới tu chứng khác nhau từ thấp lên cao! Ta có thể hiểu, đó là quá trình thành tựu của tứ thánh quả Thanh Văn, hay sự tiếp nối các địa vị của thập trụ Bồ Tát! Tâm từ bi của pháp nhãn trong hoàn cảnh này, được thể hiện thông qua “Pháp Duyên Từ”!

-Đối với những vị có trí tuệ thì: Trước thiên tai hay hoàn cảnh bất kì! Ngoài việc vị này biết rõ ba thứ nhãn trên cảm nhận sự việc đó như thế nào, vị ấy còn thấy rõ bản chất sự việc, cũng như thật biết mức độ thành tựu của các thứ nhãn kia có được là do huân tu những pháp lành nào! Thấy biết này, Phật đạo gọi là thấy biết của huệ nhãn!

Với những thấy biết như vậy! Do nguyện lực, do từ bi lực, do phương tiện lực... Dưới ánh sáng của trí tuệ, lập tức các phương tiện thù thắng sẽ được vị có huệ nhãn dùng bốn nhiếp pháp tiếp cận, khiến các nhãn kia có những thành tựu vi diệu hơn! Từ bi tâm của huệ nhãn trong hoàn cảnh này, được khai phát từ chủng tử “Chúng Sanh Duyên Từ”!

-Đối với Phật nhãn: Phật nhãn là cái thấy của “Vô Duyên Từ” nên, ở đâu có Phật nhãn rọi đến, dữ biến thành lành, nguy biến thành an!

Điều này được thể hiện qua những câu chuyện: Năm trăm con voi say, chuyện tăng đoàn và khu rừng bị cháy, chuyện bà Vi Đề Hi chứng vô sanh, chuyện Ương Quật Ma La và người phụ nữ vượt cạn, chuyện chim cắt và bồ câu, chuyện Thế Tôn và tăng đoàn bị ngoại đạo dùng chiến thuật huỷ diệt, chuyện Phật nhiếp phục Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp cùng 1200 đồ chúng, chuyện lúa ngựa...v..v...

Tóm lại, ngũ nhãn hay năm con mắt trong Phật đạo, là năm tầng nhận thức, năm mức độ ảnh hưởng tâm trí của năm cảnh giới từ phàm phu đến Phật khi xúc đối cảnh duyên!

Để có thể cảm nhận các thứ nhãn, đoạn kinh Đại Niết Bàn sau, sẽ giúp các bạn hiểu ra nhãn lực trong Phật đạo là thấy những gì! “Phật dạy! Ta dùng Phật nhãn, quán sát hết thảy đại địa, nhật nguyệt, tinh tú, núi non, sông ngoài, hữu tình, vô tình...v..v... Tất cả không một pháp có được”! Lời kinh trên hàm ý rằng, dưới ánh sáng của Phật nhãn, từ vũ trụ cho đến nhân sinh, tự các thứ ấy chẳng phải là pháp, và bản chất của nó không từng là một pháp!

B: Thưa SH! Còn việc tu tập như thế nào để thành tựu từng loại nhãn?

A: Về việc tu tập như thế nào, để thành tựu các loại nhãn, cũng như thân chứng đến đâu mới có thể phát huy nhãn lực! Chúng ta tạm sơ lược như sau:

1)Về nhục nhãn: Nhục nhãn hay thế gian nhãn, là thấy biết của một người bình thường! Nhãn quan của thế gian tuỳ thuộc vào: Nghiệp quả, văn hoá, xã hội, giai cấp, tôn giáo, tín ngưỡng...v..v... Nhãn quan này mọi người đều có, đều biết! Vì thế, không cần thiết phải bàn luận!

2)Về thiên nhãn: Muốn có được thiên nhãn, phải là người chuyên tu “Tứ Thiền Bát Định”! Và, vị ấy phải thành tựu viên mãn ít nhất một thú, trong tám thú của bốn thiền hoặc bốn định!

3)Về pháp nhãn: Muốn thành tựu pháp nhãn, phải là người giác ngộ trong Phật đạo! Từ sơ giác khai pháp nhãn tịnh, đến viên mãn diệt đế thành tựu rốt ráo nhãn lực của pháp nhãn, vị này phải lần lượt trải qua các giai đoạn hết khổ, dứt tập và chứng diệt! Trong quá trình vượt qua ba đế trên, nhãn lực sẽ thăng tiến theo từng giai đoạn! Nếu là Nhị Thừa, nhãn lực ở giai đoạn này có tên là huệ nhãn!

4)Về huệ nhãn: Có ba cấp độ!
-Cấp độ thứ nhất: Bồ Tát đăng địa, huệ nhãn có được là do tu hành sanh, nhãn lực của cấp độ này đồng với hư không nhãn! Nếu là nhãn lực của Nhị Thừa và Bồ Tát Quyền Thừa, nhãn lực này sẽ có tên là pháp nhãn!

-Cấp độ thứ hai: Bồ Tát vào Như Lai Địa, huệ nhãn có được do trí tuệ sanh, nhãn lực của cấp độ này tương đương với Nhất Thiết Trí Lực!

-Cấp độ thứ ba: Bồ Tát vào Phật địa, huệ nhãn có được do công hạnh sanh, đồng với Phật Lực!

5)Về Phật nhãn: Có hai cấp độ!
-Cấp độ thứ nhất: Phật nhãn của Bồ Tát thị hiện hậu biên thân! Tương đương nhãn lực của Pháp Vân Địa!

-Cấp độ thứ hai! Phật nhãn của Đẳng Chánh Giác thuộc tối hậu thân! Đồng Phật nhãn của ba đời chư Phật!

B: Thưa SH! SH có thể cho biết, đối với Phật đạo, công dụng của các thứ nhãn trên dùng vào mục đích gì?

A: Như đã nói ở phần trên, ngũ nhãn là năm tầng nhận thức, tương ưng với năm cảnh giới tu tập!

Giống như người đời, khi đối trước một sự việc bất kì, nhận thức và văn hoá của một người sẽ cho ra thấy biết và nhận định của người đó về sự việc! Chỉ cần nghe quan điểm, chỉ cần nhìn cách ứng xử của họ, ta có thể biết một số nét cơ bản về con người đó!

Trong Phật đạo cũng như thế! Trước một sự việc, trước một lời kinh, trước một nạn vấn...v..v...nhận thức của mỗi cảnh giới tu chứng, sẽ cho ra những kiến giải, cũng như cung cách ứng xử tương ưng với cảnh giới người đó thành tựu!

Vì thế, ta có thể tạm coi, nhãn lực chính là tướng của tu chứng! Nhãn lực thế nào, tu chứng sẽ như thế ấy! Giống như mỗi loài chim, đều có tiếng hót riêng, mỗi loài thú có dấu chân riêng! Nhờ vào đó, người săn thú, bẫy chim biết chắc con vật ta đang đối diện thuộc chủng loại nào! Bồ Tát tiếp cận và đánh giá đối tượng sắp được giáo hoá cũng như thế, giống như người săn thú bẫy chim, từ đó sẽ có những phương tiện thù thắng và tức thì được đưa ra, gọi là đương cơ!

B: Thưa SH! Người có nhãn lực thấp, có thể biết được tâm cảnh của người có nhãn lực cao hơn hay không?

A: Tuyệt đối không! Trong Phật đạo, nhục nhãn vô lượng lần không thể biết tâm cảnh của thiên nhãn! Thiên nhãn vô lượng lần chẳng thể biết tâm cảnh pháp nhãn! Pháp nhãn vô lượng lần không thể biết tâm cảnh huệ nhãn! Huệ nhãn vô lượng lần không thể biết tâm cảnh Phật nhãn!

Ngược lại, người có nhãn lực cao hơn, sẽ biết rất rõ tâm cảnh của người có nhãn lực thấp hơn! Những điều như thế, trong kinh nói rất rõ! Về ngũ nhãn, mọi người còn thắc mắc điều gì không?

LM: Mọi thứ SH đã giải thích cặn kẽ, muội không còn gì thắc mắc!

Nghe SH giải thích, muội so sánh với tâm ý của mình! Đúng như những điều SH vừa cắt nghĩa về nhãn lực, cũng một sự việc xảy ra, trước đây muội thấy khác, sau khi giác ngộ muội thấy khác...và bây giờ, cũng sự việc đó, trong lòng muội thấy khác!

Thấy biết và tâm trí của muội đã thay đổi theo từng giai đoạn tu tập, muội nhận ra điều này rất rõ, nhưng không biết các thay đổi đó là sự thay đổi nhãn lực của người tu tập đúng chánh pháp! Nào ngờ, nhãn lực trong Phật đạo là như thế!

Hèn chi! Nhờ nhãn lực cao thâm, khi nghe một câu chuyện, đọc một bài viết, nhìn qua một lời bình...v..v...tức thì SH liền chỉ ra cái sai, cái không thấu tình đạt lí, lời nào của người thực chứng, lời nào của kẻ dùng thức suy lường, lời nào của kiến giải, lời nào tương ưng cảnh giới nào, mà SH không cần suy nghĩ! Việc này trước đây Lã Muội thắc mắc vì sao SH tài thế, nay đã được giải toả!

Điều này phù hợp với câu nói của SH lúc tiểu muội mới quen! “Người thông thuộc Phật đạo, khi đọc một đoạn văn, nghe một câu chuyện..v..v... có liên quan đến Phật pháp, giống như người ta ăn cơm, chỉ cần trong cơm lộn một hạt sạn dù nhỏ, lúc nhai người đó sẽ phát hiện ra tức thì, mà không cần suy nghĩ”! Hi hi hi hi !!! Thì ra bí mật của SH có một phần của nhãn lực! Cho nên, lời văn nào kẹt tứ cú, lời văn nào bị bốn bịnh, lời văn nào dính bốn tướng, lời văn nào của thế pháp, lời văn nào thuộc thánh pháp...v..v...tất cả đều bị nhãn lực của SH soi thấu!

Chúng đệ muội xin đê đầu cảm tạ SH đã bao lần khai nhãn lực cho chúng muội! Muội nguyện phải tu hành để có thể thành tựu nhãn lực cao thâm, nhờ đó khi nghe, đọc...có thể nhận ra lời nào là chánh kiến, lời nào là tà luận! Muội suy nghĩ, nếu không có được một nhãn lực như thế, thật khó phân biệt vàng thau lẫn lộn trong mớ hỗn độn luận giải, hay những câu chuyện có liên quan đến Phật đạo! Xin vạn lần tri ân bài pháp hôm nay !!!

Bài viết Lý Tứ

Kỷ Niệm Một Đoạn Sớ Kinh

MB 857 Lý Diệu Sinh 22.02.2023

(13) CHUYỆN BÊN LỀ

Tối nay, ngồi kiểm tra số lượng kinh và người đăng kí thỉnh từ Nhóm Lý Gia xem thiếu đủ như thế nào, đọc được bình luận của Anh Khánh: “Kinh quý sao con mê quá...! Sợ người khác bảo tham..!? Chứ kinh sách con quý lắm lắm” !!! Mình chợt nhớ đến những ngày đầu tu tập của bản thân vào những năm 80 của thế kỉ trước !!!

Những năm đó, đất nước cực kì khó khăn, việc tu tập cũng chẳng dễ gì, để tránh dòm ngó, nhà vách lá trống hươ trống hoắc, mình phải dùng các bộ võ phục cũ để ngồi thiền hàng đêm cho thiên hạ tưởng Lý Tứ đang luyện nội công !!! Ha ha ha ha !!! Mình đã ngồi đến rách mấy bộ như thế các bạn có biết không !!!???

Một trong những ngày tết của khoảng thời gian đó (mình không còn nhớ rõ) hồi ấy mình còn rất trẻ, mình có quen thân và thường đàm đạo với một người bạn già hơn mình khoảng 30 tuổi, gọi là Chú Hai Phụng, theo lời Chú Hai, Ông ta hồi trước là cận vệ của Đức Huỳnh Giáo Chủ Phật Giáo Hoà Hảo... Tết năm ấy, nể tình, ông cho mình mượn cuốn kinh Trường Bộ do HT Thích Minh Châu dịch, ĐH Vạn Hạnh xuất bản, và bảo: “Sau tết chú phải trả lại cho tôi, tôi không cho ai mượn ngoại trừ chú” !!!

Ba ngày tết, gia đình mình không có gạo để ăn !!! Thế là, mình và bà xã thay phiên nhau đọc bài kinh Sa Môn Quả cho nhau nghe để...đở...đói !!! Thỉnh thoảng, có vài bạn đạo tới rủ đi uống cà phê và cho vài lon gạo (họ cũng chẳng khá hơn là mấy), thế là ngồi nhâm nhi li cà phê đen, mình lại giảng giải kinh Sa Môn Quả cho họ nghe, coi như có qua có lại !!! Và như thế, cái tết cũng vui vẻ đi qua trong nước mắt, đói nghèo và lời kinh Sa Môn Quả !!!

Trong lúc đói gạo lẫn đói kinh, may mắn, mình và Lão Trương Tam (Thầy của mình) lại gặp được hai người bạn quý (cũng lớn hơn mình chừng 30 tuổi), đó là Chú Năm O và Chú Út Danh !!! Hai vị này hàng tháng lên Sài Gòn, bán máu để in kinh... Nhờ thế, HT Thích Trí Tịnh dịch được cuốn Đại Bảo Tích nào, tức thì mình có cuốn kinh đó để đọc mà không phải chờ đợi hay tìm kiếm !!! Hai vị ấy và Lão Trương bảo: “Hoà Thượng dịch kinh Đại Bảo Tích là để cho chú đọc đấy” !!! Bây giờ, Chú Hai Phụng, Lão Trương, Chú Út Danh, Chú Năm O...không còn nữa !!!

Cũng trong thời gian đó, mình có viết bản sớ giải kinh Lăng Già, cuốn sớ dày khoảng 600 trang viết tay, cuốn tập (vở) để sớ do một người bạn mướn hiệu sách Thế Hùng đóng thật dày tặng mình...

Ngôi nhà lá 12,4 mét vuông của mình, nhìn ra thấy đường hẻm, nhìn lên thấy trời xanh, lúc ấy nhà dột, không có tiền mua lá, mình phải dùng giấy báo Liên Sô lấp những chỗ trống, ngày đi làm kiếm ăn, đêm về ngồi chồm hổm trên sàn nhà sớ kinh, hoặc ngồi thiền đến gần sáng, những đêm trời mưa, giấy báo Liên Sô không chịu nổi, đổ ập nước xuống, thế là cuốn tập dùng để sớ lại ước mèm !!!

Sớ xong cuốn kinh, mình chuyền cho vài bạn đạo đọc, mọi người đều khen !!! Nhưng rồi, vật đổi sao dời, cái đói khiến mình bươn chải, cuốn sớ bạn bè chuyền tay nhau đọc và mình cũng quên mất theo thời gian !!!

Cách đây bảy năm, một người đệ tử của mình khoe: “Con có một đoạn sớ kinh Lăng Già viết tay rất hay, do con chép lại từ một người bạn” !!! Khi nghe nói như vậy, trực giác mách bảo cho mình biết, đó là bản sớ của mình từ mấy chục năm về trước, mình bảo vị HĐ đó về lấy cho mình xem !!! Không ngờ, một phần bản sớ của mình năm xưa, nay còn mấy chục trang được đệ tử chép lại, đúng là quả...đất...rất...tròn !!!

Các bạn ơi !!!

Ngày xưa khó khăn là thế, mình và các bậc tiền bối của mình đã “tìm và đọc kinh bằng nước mắt, lẫn cả máu trong đó” !!! Khó khăn đến độ Lão Trương nói đùa với mình: “Bồ Tát gì...mà...nghèo...thấy...mẹ” !!!

Ngày nay, kinh điển dồi dào, lại được tặng không, lẽ nào các bạn không thỉnh về mà đọc !!! Trí tuệ ở trong đó các bạn ạ !!! Đạo quả ở trong đó các bạn ạ !!! An vui ở trong đó các bạn ạ !!!

Lão Trương, Chú Hai Phụng, Chú Út Danh, Chú Năm O...!!!! Ngày nay Lý Tứ trưởng thành trong Phật đạo là nhờ cái “nghèo thấy mẹ của Lão Trương”, và nhờ “những giọt máu đổi thành kinh” của các vị !!!

Viết lên những dòng này, như những lời tri ân muộn màng để tạ ơn các vị, những người đã giúp Lý Tứ có cơ duyên thấy được đạo pháp !!! Ước gì các vị còn sống trên đời, để Lý Tứ này lạy tạ muôn ngàn lạy !!!

O3/08/2019

LÝ TỨ

(13) CHUYỆN BÊN LỀ

(13) CHUYỆN BÊN LỀ

Bài viết Lý Tứ

Một Số Câu Hỏi Chung Quanh Vô Đối Môn

MB 857 Lý Diệu Sinh 22.02.2023

Các câu hỏi và trả lời trong Vô Đối Môn, được sắp xếp từ dễ đến khó, từ cạn đến sâu... được coi là những gì cơ bản nhất, giúp người tìm hiểu Phật pháp có thể hiểu rõ và định hướng cho bản thân các bước đi cần thiết trong từng giai đoạn tu tập!

Vừa rồi, có một vị khách quý đã đặt một số câu hỏi chung quanh cuốn Vô Đối Môn. Theo mình, đây là những câu hỏi thú vị và thực tế !!! Xin chuyển đến các bạn, nội dung cuộc hỏi đáp lí thú này:

1. Khách:
Tác phẩm Vô Đối Môn được trình bày theo hình thức hỏi đáp. Xin hỏi cư sĩ, ông có thể cho biết hoàn cảnh ra đời cũng như nhân duyên làm nên các câu hỏi trong Vô Đối Môn? Việc sắp xếp hàng trăm câu hỏi xoay quanh chủ đề Phật đạo trong Vô Đối Môn liệu đã đủ kiến thức cho Phật tử muốn tìm hiểu sâu về Phật đạo?

LÝ TỨ:
Thưa quý khách:
-Vào năm 2015, có hai vị khách trẻ là vợ chồng đều là Bác Sĩ, đi cùng một người học trò của mình đến thăm mình. Trong lúc nói chuyện, hai vị khách có hỏi mình một số câu hỏi về Phật pháp, mình trả lời cụ thể từng câu, và hai vị khách rất hài lòng với những gì mình đã trình bày (đó là những câu hỏi nằm ở phần đầu cuốn Vô Đối Môn)!

Sau khi hai vị khách ra về, mình suy nghĩ, tại sao ta không ghi lại những câu hỏi và trả lời về Phật pháp mà mình đã trao đổi với mọi người trong thời gian qua thành một cuốn sách. Nhân duyên Vô Đối Môn ra đời trong hoàn cảnh như thế. Sau khi Vô Đối Môn in thành sách, hai vợ chồng vị Bác Sĩ trẻ ấy là những người đầu tiên đã được mình gởi tặng họ một cuốn, coi như lời tri ân trước một nhân duyên lành để cuốn Vô Đối Môn ra đời!

-Về câu hỏi: Việc sắp xếp hàng trăm câu hỏi xoay quanh chủ đề Phật đạo trong Vô Đối Môn liệu đã đủ kiến thức cho Phật tử muốn tìm hiểu sâu về Phật đạo?

Mình xin trả lời câu hỏi này như sau:
Như mọi người đều biết, Phật đạo như biển lớn, các câu hỏi và trả lời trong Vô Đối Môn chỉ là những giọt nước nhỏ nhoi trong biển lớn ấy, nên bảo rằng các câu hỏi đó đã đủ kiến thức giúp một Phật tử hiểu sâu về Phật đạo là không thoả đáng.

Nhưng có thể nói, các câu hỏi và trả lời trong Vô Đối Môn, được sắp xếp từ dễ đến khó, từ cạn đến sâu... được coi là những gì cơ bản nhất, giúp người tìm hiểu Phật pháp có thể hiểu rõ và định hướng cho bản thân các bước đi cần thiết trong từng giai đoạn tu tập!

2-Khách:
Một cuốn sách ra đời có thể gây nhiều tranh cãi. Với Vô Đối Môn là cái tên sách: Cửa Vô đối và thông điệp của cuốn sách: Cửa lớn mở tâm trí. Với 30 năm nghiên cứu Phật đạo, điều gì cư sĩ muốn gửi gắm đến độc giả trong lần xuất bản tác phẩm Phật đạo đầu tiên này?

LÝ TỨ:
-Không riêng gì cuốn Vô Đối Môn, mà theo mình, bất kì một sản phẩm nào ra đời, việc tranh cãi về sản phẩm ấy là chuyện tự nhiên. Với mình, Vô Đối Môn cũng chỉ là một sản phẩm, và sản phẩm này tốt hay xấu, có ích hay không...v..v... xã hội và người đọc là những vị Thầy thông tuệ, nghiêm khắc và là Quan toà công tâm nhất, vì thế mọi đánh giá, phán xét về Vô Đối Môn sẽ được người Thầy và vị Quan toà ấy (dư luận xã hội và người đọc) đưa ra kết luận sau cùng!

-Khi viết Vô Đối Môn, mình chỉ có một tâm niệm, đó là: Những ai có nhân duyên đọc Vô Đối Môn, hi vọng sẽ tìm thấy trong đó một chút lợi ích thiết thực từ cuốn sách, trong quá trình tìm hiểu Phật pháp!

3-Khách:
Với mục tiêu cho người học đạo là Giác ngộ - Giải thoát - Trí tuệ ... ông có sợ mục tiêu này của mình có cao siêu quá không dù ông đã bỏ ra 30 năm nghiên cứu. Ông có thể giải thích cho độc giả hiểu thấu chân lý: Giác ngộ - Giải thoát - Trí tuệ?

LÝ TỨ:
-Giác ngộ, Giải thoát và Trí tuệ là ba mục tiêu của Phật đạo, chứ không phải của mình tự đề ra, cho nên Phật đạo còn có tên là Đạo Giác Ngộ, Đạo Giải Thoát và Đạo Trí Tuệ!

-Việc mục tiêu này có cao siêu quá hay không? Xin thưa, không riêng gì Phật đạo, mà bất kì nền giáo dục nào cũng có những mục tiêu của nó, và bổn phận của giáo dục là bằng mọi cách giúp người học hoàn thành các mục tiêu đã đề ra! Theo mình, việc hoàn thành mục tiêu của giáo dục đề ra không liên hệ đến chuyện cao siêu hay tầm thường, mà nó là kết quả tất yếu của quá trình dạy và học!

-Về ba phương châm Giác ngộ - Giải thoát - Trí tuệ, mình xin tóm tắt ý nghĩa của nó như sau:
*Giác ngộ, là thấy biết và thấu suốt điều mình đang học, đang hướng đến.
*Giải thoát, là không còn bị ràng buộc bởi những quan niệm (các pháp) hư vọng từ thân tâm đến thế giới.
*Trí tuệ, là biết cách giúp mình và người thành tựu rốt ráo hai phương châm Giác ngộ và Giải thoát.

4-Khách:
Tâm và Pháp là 2 vấn đề ông nhấn mạnh trong cuốn sách. Nếu có thể nói ngắn gọn hơn cho một người học đạo Phật thấu hiểu để vận dụng vào thực tế cuộc sống, ông sẽ tóm tắt 2 ý trên như thế nào?

LÝ TỨ:
-Phật đạo đề ra bốn nơi chốn mà người tu hành phải giải quyết tận gốc nếu muốn được an vui, bốn nơi chốn đó là Tứ niệm xứ, gồm: Thân niệm xứ, Thọ niệm xứ, Tâm niệm xứ và Pháp niệm xứ.

Trong Vô Đối Môn, mình chỉ đề cập nhiều đến Tâm niệm xứ và Pháp niệm xứ mà ít đề cập đến hai niệm xứ còn lại là vì: Trong các mẩu đối thoại mà mình đã trao đổi, toàn bộ là cư sĩ, và phần lớn họ chỉ đề cập đến những khúc mắc trong phạm vi của tâm và pháp, cho nên người đọc chỉ thấy Vô Đối Môn nói nhiều đến tâm và pháp là lý do như vậy!

Về tâm và pháp mình xin sơ lược như sau:
-Chữ “Tâm” trong Phật đạo, nhằm chỉ một hiệu ứng tình cảm khi các giác quan xúc đối với trần cảnh rồi chấp chặt, mê mờ và sinh các quan niệm hư dối từ nơi trần cảnh ấy, để rồi cuối cùng một hiệu ứng tình cảm khởi lên.

Ví dụ: Một bức tranh, tự thân nó không có ý nghĩa đẹp xấu, nhưng khi ta tiếp cận bức tranh, tuỳ vào góc nhìn, tuỳ vào quan điểm, tình cảm...v..v...ta sẽ thấy bức tranh đó đẹp hay xấu (theo quan điểm riêng của ta). Nếu ta mê mờ, chấp chặt quan điểm này, trong lòng sẽ sinh các hiệu ứng tình cảm như thương hay ghét (bức tranh), thương thì khởi tâm tham (muốn có được), chán ghét thì sẽ sân hận (muốn xa lánh), những hiệu ứng như vậy, Phật đạo gọi là Tâm hay phàm tâm (khi phàm tâm hay hư vọng tâm rốt ráo tịch diệt, chơn tâm hay bổn tâm thanh tịnh sẽ hiện)!

-“Pháp”, là đối tượng của ý căn, nó là những nhận thức, quan niệm, khái niệm, quan điểm...v..v...Phật đạo chỉ ra rằng, các pháp hay nhận thức, quan niệm, khái niệm như thế không có chân lý, chỉ đúng với nơi này, người này, văn hoá này...không đúng với nơi khác, người khác, văn hoá khác...

Vì thế một pháp tự nó không có những tính chất nhất định, không bền chắc vì không đại diện cho chân lí, Phật đạo gọi là không tánh. Nếu ta mê say các quan niệm ấy, sẽ bị các quan niệm ấy trói buộc, làm cho u tối và phát sinh phiền não cũng như các thứ kiết sử là tham, sân...v..v...(khi ý thức không mê say các pháp, thức mê sẽ chuyển thành trí)!

-Về ứng dụng, nếu trong cuộc sống, ta tỉnh táo trước mọi cảnh duyên, không mê mờ để cho tâm và pháp hư vọng chế ngự hay làm chủ bản thân, nhất định trước mọi hoàn cảnh ta không động lay hay bị cám dỗ bởi bất kì việc gì (Phật giáo tạm gọi là Định Vô Lậu)... Từ đó, đời sống sẽ an vui! Một khi không bị cảnh duyên làm vướng bận trong lòng, không phân tâm bởi những tác động bên ngoài, người ta mới có thể toàn tâm toàn ý cho công việc, lao động hay học tập, nhờ đó khi làm việc sẽ cho ra hiệu quả cao!

5-Khách:
Văn - Tư - Tu là điều kiện cần và đủ để nuôi dưỡng con đường của một người tu hành. Không một bậc Thầy cao siêu nào có thể dạy được học trò nếu học trò không chịu trải qua con đường rèn luyện trên. Xin cư sĩ cho hỏi, Văn - Tư - Tu trong giáo lý ông dạy học trò có khác Phật tử tu học từ các tăng ni trên chùa không?

LÝ TỨ:
-Bản thân là một Phật tử, thấm nhuần lời dạy của Phật: “Kính Tăng như kính Phật”, do đó việc làm, việc dạy, và học của Tăng, Ni, Phật tử như thế nào, mình không can dự và cũng không có ý kiến (khi chưa nhận được yêu cầu từ các vị tôn túc)! Vả chăng, việc so bì, phê phán chuyện đúng, sai, hay, dở...v.v..của người, không phải là tác phong của Lý Tứ!

Vì thế, mình xin mạn phép trả lời những gì có liên hệ đến mình và bạn bè cùng tu học với nhau!

Theo mình:
*Văn: Tiếp nhận kiến thức.
*Tư: Suy nghĩ thấu đáo kiến thức đã tiếp nhận.
*Tu: Ứng dụng triệt để những nghĩa lí đã thấu đáo vào thực tiễn cuộc sống.

Ví dụ: Phật dạy: “Tham là giềng mối của khổ, phiền não”. Nghe được lời dạy này gọi là Văn. Nghe xong, suy nghĩ thấu đáo ý nghĩa: Vì sao tham là giềng mối của khổ phiền não, vì sao tham lại hiện hữu trong ta, hiện hữu bằng cách gì, làm sao để nó tịch diệt vĩnh viễn...v..v... Suy nghĩ như thế gọi là Tư (tức tư duy quan sát, thuật ngữ hay dùng là Thiền tư). Suy nghĩ thấu đáo rồi, ứng dụng triệt để hiểu biết này vào đời sống, đến khi nào tham không còn hiện khởi trong ta gọi là Tu! Chữ tu theo mình, là hình thức dùng chính giác ngộ của tự thân để biến hữu lậu tâm, hữu lậu trí thành vô lậu tâm, vô lậu trí ngay trong cuộc sống này!

6-Khách:
Học trò ông rất nhiều tầng lớp, người già nhất năm nay đã 102 tuổi, người trẻ nhất vẫn đang là sinh viên. Người là nông dân, kỹ sư, cán bộ, kinh doanh vv... nhưng đều theo học ông như một con đường giúp họ thấu hiểu rõ hơn chân lý nhà Phật. Ông có điều gì căn dặn học trò khi học pháp của mình không?

LÝ TỨ:
Mình có bốn phương châm học tập và hành xử thường căn dặn bạn bè của mình, đó là:
1) Phải xây dựng thái độ học tập.
2) Phải siêng năng, nỗ lực học tập.
3) Phải nắm vững phương pháp học tập, và thấu đáo những điều mình đã học.
4) Phải biết mang yêu thương và ước mơ đến những nơi xa nhất!

7-Khách:
Ông có lời khuyên nào cho người học đạo Phật? Lời nói đầu ông viết về hình ảnh tráng sĩ là thái tử Tất Đạt Đa trên con đường đi tìm con đường giác ngộ. Ông muốn gửi gắm điều gì trong khúc tráng ca đầy cảm xúc ấy?

LÝ TỨ:
-Nếu có lời khuyên cho người học đạo, chắc mình cũng chỉ gởi gắm bốn điều đã nêu ở trong câu hỏi số 6!

-Bài Tráng Ca mình viết với một cảm xúc đặc biệt khi gặp phải một sự việc khó giải quyết, mình có ghi lại hoàn cảnh ra đời của bài ca ấy trong Chuyên Mục Chuyện Bên Lề số 09, được đăng trong Fanpage Lý Tứ.

Khi đưa Bài Tráng Ca Bất Tử vào Vô Đối Môn, mình muốn gởi gắm đến bản thân và bạn đọc, khi gặp một chuyện khó xử trên đời, hình ảnh đi tìm con đường giác ngộ của thái tử Tất Đạt Đa, sẽ cho ta một giải pháp tốt nhất, đó là không giải quyết sự việc theo hướng cực đoan... Vì rằng, giải quyết cực đoan sẽ là con đường đưa mọi thứ đến bế tắc và rời xa chân lí !!!

-Xin cảm ơn cư sĩ!
-Xin cảm ơn quý khách, chúc quý khách an vui, thành công trong cuộc sống !!!
LÝ TỨ

Bài viết Lý Tứ

Ba Vị Huynh Đệ Bàn Về Ngã Và Vô Ngã

MB 857 Lý Diệu Sinh 22.02.2023

Cái ngã luôn là một trong những “vật cản” rất lớn trên con đường tiến tu! Để giải quyết vấn nạn này, chúng ta cần xem xét chữ “ngã” và “vô ngã” trong Phật đạo nhằm chỉ cho điều gì! Và, làm thế nào để có thể chạm vào cảnh giới vô ngã!

A: Các vị HĐ! Lần gặp hôm nay, mình muốn chia sẻ với hai vị HĐ một vấn đề mà người tu hành nào cũng quan tâm, đó là chữ “ngã” trong Phật đạo!

Nói đến chữ ngã, không một người tu hành nào trong đời lại chưa một lần để ý, không ưu tư hay đề cập đến, thậm chí ngã và vô ngã còn là đề tài dẫn đến tranh luận!

Và “vô ngã” là cảnh giới mà hầu hết người tu hành đều ước mong bản thân đạt đến! Tuy nhiên, muốn hay không muốn nói ra, dù rất nổ lực, nhưng phần lớn đều tự cảm thấy: “bản thân ta vẫn còn cái ngã”!

Vì thế, cái ngã luôn là một trong những “vật cản” rất lớn trên con đường tiến tu! Để giải quyết vấn nạn này, chúng ta cần xem xét chữ “ngã” và “vô ngã” trong Phật đạo nhằm chỉ cho điều gì! Và, làm thế nào để có thể chạm vào cảnh giới vô ngã!

Khi thấu đáo hai khái niệm trên, theo mình chuyện “có ngã” hay “không ngã”, không còn là vấn đề!

Khi người tu hành luận về chữ “ngã” trong Phật đạo, hầu hết đều mặc nhiên hiểu chữ “ngã của Phật đạo” theo khái niệm “ngã hay bản ngã của Triết học hoặc Phân tâm học”! Người tu hành thường hiểu chữ ngã nằm trong các nghĩa: Cái tôi, cái ta, chủ thể đón nhận những gì xảy ra trong chính mình (bản ngã), hoặc hành vi hay sự nhận biết khi các căn xúc đối với ngoại trần, trong đó nó hàm chứa những “đặc tính” để phân biệt, ứng phó với những “cái tôi” khác..v..v...!!!

Theo nhận xét chủ quan của mình, khi người tu hành hiểu về khái niệm ngã như những gì đề cập ở trên, cái hiểu này không sai, nhưng nó không phải là khái niệm “ngã” mà Phật đạo muốn nói đến!

Nếu chúng ta cứ mặc định “ngã trong Phật đạo” có những ý nghĩa như Triết học hoặc Phân tâm học, sự mặc định này vô hình trung“chúng ta tự làm khó chúng ta”! Chính sự “tự làm khó” này, chẳng thể nào giúp chúng ta “giác ngộ thật nghĩa vô ngã của Phật đạo”!

Để làm sáng tỏ vấn đề, mình cùng các bạn thử khảo sát ba khái niệm “ngã” theo ba quan điểm sau:

-Trong triết học, “ngã hay cái tôi” được hiểu là cái tôi ý thức hay đơn giản là tôi, bao hàm trong đó những đặc tính để phân biệt tôi với những cá nhân khác.

-Trong phân tâm học, “cái tôi” (ego) là phần cốt lõi của tính cách liên quan tới thực tại và chịu ảnh hưởng của tác động xã hội. Theo Sigmund Freud, "cái tôi" cùng với "nó" (id) và "cái siêu tôi" (superego) là ba miền của tâm thức. "Cái tôi" được hình thành ngay từ khi con người sinh ra và qua tiếp xúc với thế giới bên ngoài, "cái tôi" học cách cư xử sao cho kiểm soát được những ham muốn vô thức không được xã hội chấp nhận. "Cái tôi" có vai trò trung gian hòa giải giữa những ham muốn vô thức và những tiêu chuẩn nhân cách và xã hội.

-Trong triết lý Phật giáo, "cái tôi", thường gọi là “ngã”, là "cái tôi"được thiết thuyết với một thể tính trường tồn, không bị ảnh hưởng của tụ tán, sinh tử.
(nguồn Wikipedia)

*Theo Lã Thị, chữ ngã trong Phật đạo, nếu dịch thành “cái tôi” như thế này (đoạn văn dẫn), rất dễ dẫn đến hiểu nhầm thành cái tôi của Triết học. Có thể! Cứ giữ nguyên từ Hán là ngã như các bản dịch của kinh, việc giữ nguyên (chữ ngã) như thế, hy vọng người tu dễ cảm nhận hơn!

A: Hai bạn! Theo những giải thích trên, chúng ta thấy rất rõ một điều, phần lớn người tu hành đang hiểu nhầm chữ ngã của Phật đạo trở thành khái niệm ngã hay bản ngã của Triết học hoặc Phân tâm học!

Chính sự hiểu nhầm nói trên, đã đưa chúng ta đi quá xa khái niệm “ngã và vô ngã” của Phật đạo! Cũng chính sự đi quá xa về khái niệm, nó đã không giúp chúng ta giác ngộ (hiểu rõ và thấy đúng) bản chất đích thực của cảnh giới vô ngã trong Phật đạo!

B: Thưa SH! Như vậy, trong Phật đạo có những khái niệm nào tương đối giống “khái niệm ngã của Triết học và Phân tâm học”?

A: Theo mình thì có, có nhiều! Chữ ngã mà người tu hành đã hiểu theo nghĩa Triết học, thực chất nó gần giống với chữ “mạn” của Phật giáo!

Cũng có khi, người tu hành đánh đồng khái niệm bản ngã của Phân tâm học thành khái niệm “cái biết” hay “tánh giác” trong Phật đạo! Mình xin tạm giải thích các điều trên như sau:

-Khi nào người tu hành hiểu chữ ngã của Triết học, thành chữ “mạn”trong Phật đạo?

Đó là khi, người tu hành hiểu chữ ngã của Phật đạo có các nghĩa như: Cái tôi, cái ta, sự phân biệt, sự chấp chặt, một hình thức đối kháng hay đồng tình trước một đối tượng hay các quan điểm trái ngược...v..v... Những nghĩa kể trên, chính là các nghĩa mang trong nó những tính chất thuộc về “thất chủng mạn” của Phật đạo! Thất chủng mạn gồm: Mạn, quá mạn, mạn quá mạn, tăng thượng mạn, ti liệt mạn, tà mạn, ngã mạn!

Mạn: Chủ thể mê lầm (có hình thái) đại diện, là căn bản phát sinh sáu thứ mạn kia, khi chủ thể này bị chấp chặt, người tu hành không thể thoát khỏi những định kiến mà bản thân huân tập trước đó!

Mạn là một trong mười kiết sử! Mười kiết sử, gồm: Năm độn sử: Tham, sân, si, mạn, nghi. Năm độn sử thuộc về lỗi hành vi, những hành vi nói trên không tự có, mà nó xuất phát từ nhận thức sai lệch, nhận thức không như pháp (tức nhận thức phi pháp)!

Có năm thứ nhận thức sai lệch, năm kiến chấp phi chân lí (phi pháp), trở thành nhân tố làm nên các lỗi hành vi, gọi là năm lợi sử, gồm: Thân kiến, biên kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến và tà kiến!

Nói chung, chữ ngã của Triết học, theo mình thì, có “một số nét tương đồng” với chữ mạn của Phật đạo!

B! Xin SH cho biết, khi nào người tu hành tịch diệt mười kiết sử, trong đó có “mạn kiết sử”, mà người tu hành hiểu thành chữ ngã?

A: Như đã trình bày ở trên, mạn (bao gồm thất chủng) thuộc lỗi hành vi (độn sử)! Mà độn sử (các lỗi bị ngu mê sai sử) sở dĩ xuất hiện, là do nhận thức sai lầm. Khi nào người tu hành có được một số kiến thức cơ bản chuẩn và đúng đắn (gọi là giác), cũng như áp dụng triệt để những kiến thức này vào đời sống, áp dụng đến thuần thục, các kiết sử sẽ tự dừng, trong đó “thất mạn cũng dừng theo”! Phần tu tập này thuộc về Tập đế của Tứ đế!

Vì thế, người tu hành thành tựu quả vị đầu tiên của Phật đạo là Tu Đà Hoàn, người này chỉ dứt được ba kiết sử, đó là: Thân kiến, giới cấm thủ kiến và nghi! Trong ba kiết sử trên, có đến hai kiết sử thuộc về nhận thức (lợi sử) là thân kiến và giới cấm thủ kiến, chỉ một thuộc về độn sử là nghi!

Nói khác đi, tu tập để dứt phiền não kiết sử, chính là quá trình thay đổi nhận thức! Do nhận thức thay đổi, hành vi sẽ thay đổi! Mạn (hay cái ngã theo quan điểm của Triết học) sẽ tự chấm dứt khi, người đó thật sự giác ngộ đúng như chánh pháp!

B: Xin hỏi! Còn khái niệm bản ngã được hiểu theo Phân tâm học là những gì? Và nó sẽ tịch diệt khi nào?

A: Chữ ngã (hay bản ngã) được hiểu theo Phân tâm học, gồm các khái niệm như: Tôi cảm nhận, tôi biết, tôi nhận thức..v..v... Các đặc tính này, chính là tánh biết, hay tánh giác trong Phật đạo! Phân tâm học hình thành khái niệm này, trong quá trình tánh giác đã bị tri thức (xã hội, luân lí, nhận thức) làm nhiễm ô!

Khi tánh giác (cái biết) không còn nhiễm ô! Cái được người tu hành gọi là “bản ngã” theo quan niệm của Phân tâm học, sẽ trở về nguyên trạng của nó là tánh giác.

Tánh giác là một trong những tính chất cơ bản của “tự tánh” (tánh bản nhiên). Nó chính là “nhân Phật”! Tánh giác hay “thỉ giác” (cái biết bản nhiên) là cơ sở tốt nhất, là “điều kiện ắt có” để người tu hành dùng nó như một công cụ không thể thiếu để tiếp thu “bản giác”(cội nguồn giáo pháp) do chư Phật chiếu ra! Vì thế kinh dạy: “Chư Phật từ bản giác (chiếu) đi ra, người tu hành từ thỉ giác (thể nhập, học tập) đi vào, chỗ gặp nhau gọi là đẳng (nhận thức, thấy biết không sai khác)!”

B: Xin hỏi SH! Như vậy, khái niệm ngã và vô ngã đích thực của Phật đạo nhằm nói lên điều gì?

A: Chữ ngã (hay khái niệm ngã) của Phật đạo, hoàn toàn không giống khái niệm ngã hay bản ngã của Triết học và Phân tâm học!

-Khái niệm ngã của Phật đạo, nhằm chỉ cho cái gì đó, hay một nền tảng nào đó, mà trong ấy gồm đủ tính chất thường hằng, tức không bị chi phối bởi thời gian, không gian hay các pháp (quan niệm)!

Nói khác đi, chữ ngã của Phật đạo, là thuật ngữ nhằm chỉ cho: Đại Niết Bàn, Phật tánh, Phật trí, hay Phật pháp, tức thứ chân lý tuyệt đối mà chư Phật đã giác ngộ! Trong kinh Phật cũng thường dạy: “Phật tánh là ngã, ngã là Phật tánh”, hoặc “Đại Niết Bàn là thường”, hay“Phật trí là thường, Phật trí là ngã”!

Nói chung, hai đức tính “ngã và thường” của Phật đạo, chính là hai mặt của một vấn đề, ta có thể hiểu ngã và thường là hai tính chất thuộc về chân lí, tức cái này có nên cái kia có, nếu cái này không cái kia cũng sẽ không! Có nghĩa rằng, cái gì có tính chất thường hằng, cái đó luôn là ngã! Cái gì thuộc về ngã, cái đó luôn thường hằng! Hai thứ thuộc về chân lí nêu trên, vĩnh viễn không chịu sự chi phối hay tác động bởi bất kì một nguyên nhân nào!

-Về vô ngã: Ngày xưa (có thể cả hôm nay), có rất nhiều trường phái tu hành! Có trường phái chủ trương tu luyện để thân này (tức sắc ấm) trở thành thường hằng (ngã)! Có trường phái chủ trương tu luyện để thọ ấm trở thành thường hằng! Có trường phái chủ trương tu luyện để tưởng ấm trở thành thường hằng! Có trường phái tu luyện để hành hoặc thức ấm trở thành thường hằng! Họ hy vọng rằng, với sự tôi luyện này, ngũ ấm sẽ trở thành nơi nương cậy vĩnh cữu gọi là ngã hay thần ngã!

Phật, sau khi tự thân chứng ngộ, bèn tuyên thuyết chân lí do mình tìm thấy, đó là: “Cái gì vô thường, cái ấy không bền chắc! Cái gì vô thường, cái ấy tự không thể là ngã (sự bền chắc, thường hằng)!”

Phật cũng chỉ ra rằng: “Ngũ ấm và trong ngũ ấm tự nó không có ngã! Không có ngã vì nó vô thường!”

Phật cũng lại chỉ ra rằng: “Cái gì thuộc về tạo tác, do tạo tác mà thành, cái đó không thể là ngã, và nó chịu quy luật của sanh, trụ, dị, diệt!”

Phật cũng dạy: “Các quan niệm (pháp), không thể trở thành ngã, không thể trở thành trú xứ vĩnh cữu cho một hữu tình, vì các quan niệm sẽ đổi thay theo năm tháng!” Cho nên Phật dạy: “Quán pháp vô ngã”!

Nói tóm lại, khi Phật tuyên thuyết vô ngã, là tuyên nói một sự thật! Người biết sự thật này, sẽ không phải mất công đi tìm chân lí từ những thứ hư vọng nêu trên!

Nói khác hơn! Vô ngã là một sự thật, người tu hành giác ngộ được sự thật này, cơ hội tìm thấy chân lí đích thực, cơ hội tìm thấy an lạc vĩnh hằng, sẽ trở thành hiện thực ngay trong hiện tại này khi nhận thức sai lầm về ngã đã bị cởi bỏ!

Tóm lại, Phật tuyên thuyết ngã hay vô ngã, ý nghĩa của nó không giống như hai khái niệm ngã hay bản ngã của Triết học và Phân tâm học mà người tu hành hiện nay đang hiểu!

Nếu chúng ta không biết thật nghĩa của ngã và vô ngã của Phật đạo, lấy những khái niệm của Triết học hay Phân tâm học làm cơ sở lí luận, coi như đây là quan điểm chính thống của Phật đạo, hoặc dùng nó để tiến tu, nhất định sẽ không thể nào thấu suốt cảnh giới vô ngã của Phật đạo!

B! Xin hỏi SH! Như vậy, người tu hành hiểu sai thật nghĩa chữ ngã và vô ngã trong Phật đạo, hậu quả của nó là gì?

A: Phật đạo là một nền giáo dục! Vì thế, nó luôn có những từ ngữ chuyên môn! Trong giáo dục, hiểu sai từ ngữ, sẽ không thể thành tựu các mục tiêu do nền giáo dục đó đề ra!

Phật đạo cũng như thế! Nếu hiểu đúng hai chữ ngã và vô ngã, các bạn đã thâm nhập cảnh giới vô ngã từ lâu rồi, đâu nhất thiết phải đợi đến hôm nay! Một khi, dù đã rất cố gắng mà ta không thể nhập được, xin hãy coi lại hiểu biết của mình đã thật sự đúng hay chưa! Giống như một cung thủ, miệt mài nhắm bắn, mà không có phát nào trúng mục tiêu, phải xem lại, mục tiêu mà ta định bắn có phải là cái mà ta đang thấy hay không!

Kết luận! Phật tuyên thuyết ngã hay vô ngã, không nhằm để chỉ đến cái tôi hay cái ta như mọi người đã hiểu mà, nhằm chỉ ra rằng: Anh không thể dùng thân tâm (ngũ ấm) hư vọng này, hay các quan niệm hư vọng kia để tu luyện, mong nó trở thành chỗ nương cậy vĩnh hằng!

Lời dạy này, cũng chính là cảnh báo, nhằm điều chỉnh những hiểu biết sai lầm về ngã hay thần ngã, xuất phát từ những định kiến sai lầm mà thế gian thường biết đến!

Có một điều rất khó là, khi người ta đã hiểu sai một điều gì đó, mà điều đó lại được số đông đồng tình, thậm chí cái sai trở thành văn hoá. Sự hiểu sai này rất khó sửa chữa! Khi đó, cái đúng chẳng những không được chấp nhận, đôi lúc còn bị cái sai chỉ trích, thậm chí ném gạch đá lung tung!

Tạm biệt hai bạn! Lần gặp nhau kế tiếp, chúng ta sẽ luận bàn phần khác!

Bài viết Lý Tứ

Con Chiên Lạc Bầy

MB 857 Lý Diệu Sinh 22.02.2023

“Hãy hết lòng giúp đỡ mọi người trong khả năng có được... Hãy mang yêu thương và ước mơ đến những nơi xa nhất!!!”

Vừa qua, HĐ Lý Gia đón nhận một “con chiên[1] lạc bầy” đã trở về trong vòng tay yêu thương, qua câu chuyện thú vị sau:

− Xin phép gia đình Lý Gia, “X” muốn biết rõ về Lão Sư Lý Tứ, không biết có được chăng? Tôi muốn quý vị chia sẻ hình ảnh, người thật việc thật của Lão Sư, vì có duyên gặp trực tiếp, không giao lưu ảo mất thời gian. Mình muốn nói chuyện giao lưu trực tiếp, quý vị có người đại diện chính thức không, cảm ơn quý vị!

− Chào “X”!!! Xin cảm ơn bạn!!!

Lý Gia cũng đang lên kế hoạch để Lý Tứ giao lưu trực tiếp với mọi người trong thời gian tới... Mọi thứ đang trong quá trình chuẩn bị!!! Thân!!!

− Chúc mừng quý vị, từng bước thành công, gặt hái được nhiều hoa quả tâm linh, giúp ích được nhiều linh hồn thăng hoa giải thoát, trân trọng! Xin lỗi, mình muốn biết người đang trực tiếp trò chuyện với mình thật sự là ai, mình rất thật nên mình cần sự thật.

− Bạn ơi!!! … Mình, chính là Lý Tứ đang tiếp chuyện với

bạn đây...

− Cảm ơn đã trả lời, không biết phải xưng danh thế nào hợp lí nhất, Ngài là Lão Sư phải không, năm nay bao nhiêu xuân để giao tiếp thích hợp. “X” sinh năm 1981, cảm ơn Ngài đã nhẫn nại trả lời tin, chắc hẳn cũng là một tâm hồn cao thượng, tài hoa, vinh hạnh được hầu chuyện cùng Ngài. Ngài đang ở đâu ạ? Vì trước đến giờ, “X” cũng chuyên tâm tu hành, có quán chay phục vụ, đường tu hành cũng nhiều thử thách gian nan, khắp thế gian không dễ được người tri kỉ. Xin lỗi, nếu đã phiền lòng người đức độ thanh tâm.

− Cảm ơn “X”!!!.. Mình chính là Lý Lão Sư!!! Ha ha ha ha!!!

Mình năm nay đã 65, tuổi Giáp Ngọ, mình đang ở nhà... Xin lỗi “X”, khi nào đủ duyên, mình sẽ cho bạn địa chỉ cụ thể, còn bây giờ, chúng ta tạm trao đổi dưới hình thức này!!! Bạn đồng ý không???

À bạn có quán chay!!! Hay lắm, bạn có thể cho biết nó ở đâu, khi nào đi ngang qua, mình sẽ ghé thăm bạn!!!

− “X” đang rất thật tâm xuất gia bên trong, chuyên tâm tu hành, rất cần người chia sẻ. Vâng, cảm ơn Lão Sư, đã nhẫn nại tiếp chuyện.

− Cần gì, bạn có thể chia sẻ với mình...

− Tuổi đời, tuổi đạo cũng vừa xưng con với ngài, hay dùng thế nào, xin ngài chỉ giáo!

− Danh xưng với mình không quan trọng... Bạn thích thế nào, cứ gọi như thế ấy!!!

− Nhà con ở.., có đất đai, quán chay... Vừa rồi, thấy mọi người đăng tiệc liên hoan VÔ ĐỐI MÔN thật vui. Quý vị ở ĐăkLăk?

− HĐ của mình ở đó, thỉnh thoảng mình mới đến đó ghé thăm bằng hữu... Nếu bạn muốn làm quen với các bạn ấy, mình sẽ giới thiệu, biết đâu lại có chuyện hay!!!

− Bao nhiêu năm, con ăn chay tu hành, hết lòng chia sẻ những gì có thể với nhân duyên thế gian, giờ gặp chút khó khăn thì tất cả đều quay lưng lại.

− Ha ha ha ha!!! Thế gian vẫn thường như thế, đâu có gì lạ!!!

− Hai chữ HĐ là gì vậy ạ!

− Là viết tắt của hai chữ Huynh Đệ... HĐ mình tính giới thiệu với bạn, là những người của Nhóm Lý Gia, những người này đã được mình giáo hoá trực tiếp!!!

− Có phải các vị ấy là đệ tử ruột của Ngài, thế nào mới là đệ tử thật của Lão Sư, xem ra thì Ngài có nhiều đệ tử thông thái rồi, quý vị ấy rất giỏi, am hiểu nhiều về tâm linh và xã hội. Thầy giỏi thì trò giỏi, “minh sư xuất cao đồ”.

− Mình không phân chia “ruột hay da”, nhưng những người ấy có nhân duyên gặp gỡ mình ngoài đời, và đích thân mình giáo hoá trực tiếp các bạn ấy!!! Chỉ tại nhân duyên nó như vậy!!!

− Ngài dạy họ thần thông phải không? Có truyền mật pháp?

− Ha ha ha ha!!! Thần thông là thế nào??? Mật pháp là cái gì??? Hai thứ này mình không biết!!!

− Vâng, 84000 pháp môn đều là Phật pháp. Lão Sư ơi! Ngài có tin con không, con không phải là người xấu.

− Theo mình, trên đời không có người xấu... Chỉ có người giác ngộ và người chưa giác ngộ mà thôi!!!

− Dạ, chỉ có người thật sự giác ngộ mới nói những lời này. Bậc chân tu mới thấu hiểu càn khôn, kính phục, kính phục. Lão Sư ơi! Con muốn trình bày với Lão Sư một việc, Lão Sư có thì giờ để nghe con nói không?

− Mình đang sẵn sàng nghe bạn nói đây!!!

− Con đang ở... (nước ngoài), gặp chút sự cố ngoài ý muốn, rất cần được giúp đỡ, về tới Việt Nam xin hậu tạ đền ơn. Con không gạt Ngài đâu.

− Bạn ơi! Những gì trong khả năng của mình, mình rất sẵn lòng!!!

− Chuyện như thế này... nên tạm thời gặp khó khăn. Lão Sư có học trò bên đây không?... Cảm ơn Ngài, nếu Ngài có thể giúp con, xin đa tạ! Hiện giờ con đang ở chỗ này, đây là một sân bay quốc tế, con xin gởi hình để Lão Sư xem, nếu con không xoay sở được, không khéo sẽ ảnh hưởng đến người Việt Nam. Con không nói dối Ngài đâu.

− Ha ha ha ha!!! Mình có bảo bạn nói dối đâu! Vả chăng, có nói dối với Lý Tứ, thì cũng... đâu... có... sao!!!

Ha ha ha ha!!! Nhưng mà, làm thế nào để có thể liên lạc trực tiếp với bạn???

− Con sẽ gởi cho Lão Sư số ĐT bên này, con vừa mới mua ở phi trường.

− ... …

− ... …

Ba ngày sau, mình nhận được một tin nhắn: “Lý Lão Sư ơi! Con đã nhận được sự trợ giúp, con cảm ơn Ngài!!!”

Một buổi tối cách đây bốn bữa, mình nhận được ĐT của một người lạ:

− Chào Lão Sư! Con vừa xuống sân bay Tân Sơn Nhất, hiện đang ở nhà của... Con đến thăm Ngài được không???

− Chào “X”! Bạn về Việt Nam rồi hả! Xin chúc mừng! Nếu thấy tiện, bạn có thể đến gặp mình, mình đang rảnh đây!!!

− Con đến ngay Thầy ạ!

− ... …

Và, không ngờ, từ câu chuyện trao đổi trên mạng mười ngày trước, hôm nay “X” đã trở thành HĐ của Lý Gia!!!

− P/s: Khi trao đổi với “X” trên mạng, có một số HĐ theo dõi, sinh tâm ái ngại cho mình, vì đường đời không đơn giản và khó có thể tin một người chưa từng quen biết!!!...

─ Mình trấn an các HĐ ấy: Hãy giúp đỡ người bạn trẻ này, tuy chưa biết bạn ấy là ai, tốt xấu thế nào, nhưng mình coi bạn ấy như con của mình, phải giúp bạn ấy thôi... Và, không thể để hình bóng người Việt Nam chúng ta xấu đi trong con mắt người nước ngoài!!! Ha ha ha ha!!! Nếu mình như các bạn, lo sợ, không dám giúp người chưa quen, chẳng xứng đáng là... Lý... Tứ!!!

─ “X”!!! Cho phép mình ghi lại câu chuyện này và gởi đến mọi người... Mình muốn nói với các bạn trẻ của Lý Gia rằng: “Hãy hết lòng giúp đỡ mọi người trong khả năng có được... Hãy mang yêu thương và ước mơ đến những nơi xa nhất!!!”                                                      

(23-07-2019)

[[1]] con chiên: Cách gọi khác là con trừu, con cừu..
Tác Phẩm Lý Tứ

Hai Anh Quảng Nôm Bàn Chuyện ..Tu Sửa

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 22.02.2023

B: Bữa ni tau phải tâm sự với mi, quyết nói hết nỗi lòng của mình, sau nhiều đêm trằn trọc! Mi có thể ngồi nghe tau nói hay không?

A: Chỗ bạn bè với nhau, mi đừng ngại! Nhưng tau chỉ nghe mi nói những chuyện liên quan đến tu hành. Còn chuyện đời, chuyện gia đình, mỗi người một hoàn cảnh, có nói đến chết cũng không rồi. Có nghe, tau cũng chẳng giúp gì được cho mi trong tư thế một thằng xe thồ! Nói thiệt với mi, chuyện đời, chuyện riêng tư của người, chuyện đúng sai, thị phi, thế sự, tau đã bỏ ngoài tai nhiều năm rồi! Cho nên tau chỉ nghe mi nói điều chi liên quan đến tu học, điều ni tau có thể giúp mi. Ngoài chuyện nớ ra, tau không thể ngồi đây mà nghe mi tâm sự!

B: Tau biết tánh mi mà! Tau cũng chỉ tâm sự đến chuyện tu hành!

A: Như rứa! Tau sẳn sàng nghe đây! Mi cứ nói đi!

B: Mi biết đó! Tau với mi thân nhau hồi còn đi học, lớn lên mỗi thằng một ngã, một năm trở lại đây gặp mi, mi không còn là thằng... ngày xưa! Quả thiệt! Mi là một con người khác, khác đến không ngờ! Khác từ cách ứng xử đến nhận thức!

Một thực tế không thể phủ nhận, nói đến chuyện học hành bằng cấp, mi đừng buồn, tau đủ sức dạy mi. Nói đến xuất thân, mi biết tau là thằng xuất thân từ gia đình khoa bảng của đất miền Trung. Nói đến kinh tế, gia sản của mi không bằng tiền lẻ con tau tiêu vặt. Nói đến địa vị, ngày tau còn làm việc, thành phố ni có bao nhiêu người ao ước. Nói đến đạo đức ở đời, tau xuất thân là “con nhà gia phong lễ giáo”, từ đó tau không ngừng rèn giũa bản thân, chắc những điều ni không nói mi cũng biết. Nói đến đạo pháp, gia đình tau thuộc loại truyền thống của Phật giáo miền Trung. Nói đến kiến thức từ đời đến đạo, tau là con mọt sách không ngừng nghiên cứu... Nhìn chung, tau hơn mi mọi mặt!

Nhưng, sau nhiều lần gặp nhau, nhiều lần trao đổi, được nghe mi phân tích, nghe mi nhận định, nghe mi đánh giá, nghe mi giảng giải chuyện tu hành, v.v... Có thể nói, tau nhìn thấy sức tự tại, sự thông tuệ, nét tự tin, cái trực tâm, tính nhân văn, tính quyết đoán, sự minh bạch trong con người mi! Một thay đổi đến ngạc nhiên! Nói khác hơn, tau hơn mi mọi thứ trên đời, nhưng những thứ trong hiện tại mi có, chính là ước ao cháy bỏng mà tau đi tìm cả cuộc đời ni, thì lại không có!

Tau biết rằng, tu là sửa! Tau nói thiệt! Bản thân tau đã sửa và sửa! Sửa từ trong tận cùng sâu thẳm của lòng mình, đến cách thể hiện ra bên ngoài! Nhưng rồi tau thầm nghĩ, mình phải sửa đến chừng mô mới xong! Thậm chí Bổn Sư của tau, theo tau đánh giá, sự thiện lương, lòng thương người, quyết tâm tu hành, ông ta không thua bất kì ai. Nhưng chính ông ta từng thú nhận với tau, Thầy đã sửa đến tận cùng của hiểu biết, nhưng đạo xuất thế là thứ chi thì chưa thể bắt gặp!

Tau hỏi mi! Theo nhận xét của mi, tau cần phải sửa điều chi để có được những cái mi có?

A: Chỗ thâm tình, tau hỏi mi: “Có thể nào, người ta sửa một chiếc xe hơi, với hi vọng chiếc xe hơi đó trở thành chiếc tàu bay, bay lên trời được hay không?”

B: Mi nói chi lạ rứa! Người ta chế chiếc xe hơi để chạy dưới đất, chiếc tàu bay để bay lên trời, hai chiếc ni vận hành hoàn toàn khác nhau về nguyên lí và cấu tạo, v.v... Thì mần răng mà sửa, mà độ để chiếc xe hơi trở thành chiếc tàu bay! Chiếc xe hơi mới còn không bay được, chớ nói chi đến chiếc xe hơi cũ!!!!!!!

A: Như rứa là, mi đã tự trả lời những thắc mắc của mình rồi!

B: Không lẽ nào! Bảo rằng “tu là phải sửa”, lời ni sai hay răng?

A: Tu là sửa! Lời ni hoàn toàn không sai! Nhưng, như một chiếc xe hơi, người chỉ có thể sửa để một chiếc xe hơi khiếm khuyết trở thành một chiếc xe hơi hoàn hảo, chứ không thể sửa để nó trở thành chiếc tàu bay!

B: Mi có thể giải thích cụ thể hơn hay không?

A: Tu là sửa, điều này rất đúng, nhưng chỉ đúng với đạo thế gian! Sửa để từ một người không tốt trở thành người tốt, sửa để một người không có đạo đức trở thành người có đạo đức trong đời, sửa để từ một người keo kiệt, trở thành kẻ biết thương người, sửa để một người không có đạo lí trở thành kẻ có đạo lí ở đời, v.v... 

Nói chung, người ta sửa để trở thành một con người hoàn hảo trong đạo thế gian! Sự sửa chữa ni, không thể biến một người tốt của thế gian thành tựu đạo xuất thế!

Con đường (đạo lí) của thế gian cho dù có tốt đẹp cách mấy, cũng không thể đưa đến cửa ngõ xuất thế! Phương tiện của thế gian, dù ưu việt đến không còn phương tiện mô ưu việt hơn, cũng không thể chở người đến Niết Bàn! Nói chung, chìa khoá thế gian, không thể mở ổ khoá xuất thế! Đây được coi là nguyên tắc bất di bất dịch, cũng là bí mật của đạo pháp!

Đúng hơn, giữa đạo thế gian và đạo xuất thế hoàn toàn khác nhau về con đường cũng như bản chất! Cho nên, người xưa mới nói: “Quy căn đắc chỉ, tuỳ chiếu thất tông.”! Đạo thế gian dạy người thành kẻ tốt để hướng ra ngoài mà đối nhân xử thế, đạo xuất thế dạy người chỉ nên quay trở về cái căn bản của đạo chính là “bổn tâm không đạo”! Mi có hiểu tau nói chi không?

B! Không lẽ đạo xuất thế, không giống đạo lí thế gian?

A: Hiện tại, chưa phải là lúc, mi với tau bàn đến chuyện giống hay khác, khi mi chưa biết đạo xuất thế là cái chi!

Chừng mô, mi giác ngộ, biết rõ đạo xuất thế là cái chi, lúc đó hai đứa mình bàn cũng không muộn! Thậm chí, chính mi sẽ tự trả lời sự giống hay khác đó!

B: Nhưng, mi có thể nói để tau có một chút khái niệm sơ sơ về đạo xuất thế được không?

A: Những khái niệm đơn giản giữa đạo thế gian và xuất thế, tau có thể chia sẻ cho mi!

Thế gian, dạy người tu sửa, để từ một con người xấu trở thành con người tốt! Đạo xuất thế, dạy người lìa bỏ, vượt thoát ra khỏi hai khái niệm tốt xấu của thế gian!

Thế gian, dạy một người mang ác tâm, tu sửa để thành người có thiện tâm! Đạo xuất thế, dạy người siêu quá hai pháp thiện ác!

Thế gian, dạy người theo đạo ni, phải học tập lề thói của đạo ni, không được theo đạo khác, vì đạo ni mới là số một! 

Đạo xuất thế, dạy người: “Không tâm, không đạo mới chính là đạo”! Vì rằng “hết thảy chúng sinh đều có Phật tánh”! 

Khi mê thấy có đạo ni khác đạo kia! Hết mê, người ở đạo mô cũng có thể thành Phật! Những ai còn mê, cho dù có nhân danh đạo chi, cũng không thể thoát khỏi phiền não, trói buộc của đạo thế gian!

Nói tóm lại, có vô số sự khác biệt giữa thế gian đạo và xuất thế gian đạo! Ở đây chúng ta không bảo rằng đạo thế gian tốt hay đạo xuất thế tốt! 

Chúng ta cũng không nên bảo rằng, định nghĩa: “Tu là sửa” là sai hay đúng! Mà chỉ nên nói rằng: “Những ai thích đạo thế gian, thì hãy tu sửa để trở thành một người tốt như đạo thế gian mong muốn! Còn những ai ham thích đạo xuất thế thì, định nghĩa tu là sửa theo kiểu thế gian, không phải con đường đưa người đến bến bờ xuất thế!”

Điều ni, giống như người ta không thể sử dụng tri thức, kĩ thuật, công nghệ, v.v... của việc chế tạo một chiếc xe hơi để sản xuất một chiếc tàu bay! Vì rằng, mỗi thứ đều có tri thức, kĩ thuật, công nghệ riêng của mình! Mà mỗi một thứ tri thức, công nghệ, kĩ thuật, v.v... đều có tính ưu việt đặc trưng của nó! Sử dụng sai, vô hình trung, tự huỷ hoại tính ưu việt của loại công nghệ, kĩ thuật đó!

B: Tau hiểu! Tau hiểu! Cảm ơn mi! Chỉ riêng điều ni, mi đã là bậc Thầy của tau về phương diện giáo pháp! Tau hiểu ra sức tự tai, sự thông tuệ, tính nhân văn trong con người mi có được hôm nay, là do mi đã áp dụng đúng “tri thức, kĩ thuật, công nghệ của giáo pháp”! Còn tau, kẻ tự cho mình là người trí, mà lại lấy tri thức, công nghệ, kĩ thuật thế gian để mong thành tựu đạo xuất thế! Tau đã bỏ gần cuộc đời để mong chiếc xe hơi cũ kĩ có thể bay lên trời! Tau biết mình đã sai rồi! Đã sai rồi!

Bây chừ! Mi là Thầy của tau về phương diện ni rồi! Nhưng mà, tau phải làm răng? Mi nhận tau làm đồ đệ đi!

A: Tau không đủ sức làm Thầy của mi! Tau còn Thầy của tau! Hiểu biết của tau chỉ là con đom đóm, Thầy tau mới là mặt trời! Nếu mi muốn, tau sẽ xin phép để mi với tau cùng làm huynh đệ, học chung một Thầy”!

LM: Hai huynh cho muội theo với!

A: Con nhỏ mắm ruốc ni cũng muốn học tri thức, kĩ thuật, công nghệ xuất thế hả?

LM: Từ ngày gặp huynh, trong lòng tiểu muội đã coi huynh là Sư Huynh của mình!

A: Trước khi dẫn hai đứa bay đi gặp Thầy của tau, tau hỏi hai đứa một câu, câu ni không khó nếu chịu tư duy! Phật đạo là đạo trí tuệ! Tư duy như pháp chính là con đường khai mở trí tuệ!

Hai đứa bay từ xưa đến chừ, quen thói tư duy theo lối mòn, tư duy theo đạo thế gian, lấy tri thức thế gian để hiểu về đạo xuất thế, thành ra không thể thấu suốt ý nghĩa của đạo xuất thế! Bữa ni, hai đứa bay phải tập tư duy theo cách tư duy của đạo xuất thế, tập thành thục tư duy sẽ nhạy bén, từ đó hiểu ra nhiều điều bí ẩn của cái được gọi là đạo xuất thế!

Câu hỏi như ri: “Một người bình thường (như hai đứa bay) muốn bước vào con đường xuất thế. Điều đầu tiên, phải mần (làm) cái chi?”

Đứa mô tư duy không ra, tau không dẫn đi!!!!!!

Cháy chén! Cháy chén! Hào Huynh Tí! Cháy chén!!!!!!

Gửi tin nhắn đến người dùng

Thông báo bài viết mới

TN 1145 Nguyễn Toàn Thắng 05.10.2026

Xin chào Quý Đọc Giả,

Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.

https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/hai-anh-quang-nom-ban-chuyentanh-khong

Trân trọng,

Tags:

Bài viết Lý Tứ

Cảm hứng Viết "Bài Tráng Ca Bất Tử"

MB 857 Lý Diệu Sinh 22.02.2023

Tương lai của một con người, không phải chỉ có ở bằng cấp, mà nó ở ngay chính mình, ta đã học được điều gì trong cái “trường đời đầy khắc nghiệt” này!!!

Sáng nay, như thường lệ...

Bên bình trà, đọc & trả lời emails của HĐ, đánh giá các câu trả lời TRÒ CHƠI TRÍ TUỆ mà BQT (Ban Quản Trị FanPage) LÝ GIA đã nhận được, nghe và trả lời điện thoại...

Trong các emails, có một HĐ hỏi mình về hoàn cảnh ra đời của BÀI TRÁNG CA BẤT TỬ đăng trong VÔ ĐỐI MÔN...

Thay vì trả lời riêng cho bạn ấy, nhân đây mình xin kể lại hoàn cảnh ra đời của bài ca này, coi như một chút kỉ niệm của tám năm trước!!! (Bài Tráng Ca được biến tấu từ một thể văn cổ)

Sáng hôm ấy (2011), đang ngồi trong văn phòng, có hai người bạn trẻ đến gặp... Thoạt nhìn, mình ngờ ngợ bởi cái vừa lạ vừa quen của hai người khách!!!

− Chào Thầy! Thầy có nhớ hai đứa em không???

− Mình đeo kiếng, bắt tay và hỏi:  Rất lạ, hai đứa đen thui, chút xíu nữa là mình không nhận ra, có khoẻ không!!!

Thế là ba Thầy trò ôm nhau mừng rỡ!!!

− Hai bạn có thù mình không???

− Hiện tại thì không thưa Thầy!!! Lúc mới buộc thôi học, tụi em rất thù Thầy, nhưng sau khi lăn lộn với đời, tụi em đã cảm ơn và nhớ Thầy nhiều lắm!!! Thầy đã cho hai đứa em biết thế nào là giá trị đích thực của học tập, sau khi hai đứa rời trường!!!

− Thế hiện giờ các bạn làm gì???

− Tụi em đi khai thác gỗ ở cao nguyên!!!

Cả ba dẫn nhau ra Căn Tin của Trường uống cà phê và tâm sự!!!

Sau chầu cà phê, mình không trở lại cơ quan mà đi thẳng về nhà trong tâm trạng một... người... Thầy!!!

Mười năm trước (2009) hai bạn trẻ ấy đã bị mình đề nghị đưa ra hội đồng kỉ luật, buộc thôi học, trả về địa phương vì vô kỉ luật, do giáo dục nhiều lần nhưng không sửa đổi, để giữ kỉ cương mình không thể làm khác!!!

Lúc đó, tương lai của một con người và trách nhiệm công việc, mình không thể làm khác, quyết định đưa ra hội đồng kỉ luật buộc thôi học đối với một SV, là một quyết định khó khăn với chính mình, bao đêm trằn trọc, giữa yêu thương và luật lệ, ta phải chọn điều gì???

Thế Tôn ơi!!! Hãy giúp con một lựa chọn sáng suốt nhất, vì những người bạn trẻ!!!

Về đến nhà, buổi nói chuyện với hai bạn trẻ ở Căn Tin đã cho mình cảm hứng viết Bài Tráng Ca Bất Tử...

Không biết giờ này, hai bạn ấy đang ở đâu và làm gì nhỉ??? Mong rằng, hai đứa tìm ra con đường tốt nhất để đi, sau khi đọc được những dòng tâm sự này!!!

Hai bạn ơi!!! Tương lai của một con người, không phải chỉ có ở bằng cấp, mà nó ở ngay chính mình, ta đã học được điều gì trong cái “trường đời đầy khắc nghiệt” này!!!

21/7 của tám năm trước (2011) viết Bài Tráng Ca...

21/7 của tám năm sau (2019)!!! Ha ha ha ha!!!

Một Lý Tứ của Lý Gia với thông điệp: “Mang yêu thương và ước mơ đến những nơi xa nhất”!!!

 

BÀI TRÁNG CA BẤT TỬ

Khi Người Tráng Sĩ dứt áo ra đi hề, con Kiền Trắc bị ghìm cương không còn cơ hội ngoảnh lại.

Người Tráng Sĩ năm xưa chán cái vui hề, chán đến kẻ tóc chân tơ. 

Anh lên tận non cao, nơi không có tiếng khóc và tiếng cười.

Như con chim bay lưng trời, như con cá lội giữa ngàn khơi...

Và ở đó anh nghiệm ra, đây cũng không phải ước mơ của một thời trai tráng.

 

Anh mơ một ngày, một ngày của người đi tìm chân lý mong đâu là ánh sáng.

Ánh sáng cuối đường hầm, anh kiêu hãnh bước đi...

Chân lý đưa đến những hột mè qua ngày đoạn tháng.

Chân lý xô đẩy bằng cái kham khổ sáu năm tóc rụng da nhăn.

Bất chợt nhận ra chán cái vui, tìm cái khổ như con nai khát nước chạy lung tung.

Chỉ uổng một đời, bỏ cái ngu này tìm cái ngu khác trong đêm dài ba cõi...

Lại một lần nữa, Người Tráng Sĩ dứt áo ra đi trước mỉa mai khổ hạnh.

Đau đớn tột cùng, đâu là hạnh phúc... giữa trời xanh!

Anh ngồi xuống, bởi cái thân ốm o không thể chở nổi ý chí kiên cường.

Quơ vội nắm cỏ khô bên đường, dựa lưng vào gốc cây đa già, cố thắp ngọn đèn trong đêm dài tăm tối.

 

Người Tráng Sĩ hiểu ra, cái giá phải trả cho một đời người bởi cực đoan từ hai phía.

Bỏ tất cả bên đường đặt gánh nặng xuống, cây đa già phút chốc hóa thành ánh sáng mặt trời.

Người Tráng Sĩ vui mừng, hết thảy tự tâm này chỉ do ngu mê và lầm lẫn.

Chân lý không đâu xa, không phải thứ ánh sáng chờ đợi cuối đường hầm.

Bóng tối và ánh sáng, không phải hai mặt đối lập của một vấn đề như ở đời thường hiểu...

Chỉ tại không đèn nên sáng tối nhầm nhau.

 

Người Tráng Sĩ đã chết từ khi ngồi xuống, đốm lửa được thắp lên. 

Con chim thứu từ nay vĩnh viễn không cất tiếng u buồn, con dế hết kêu rên.

Con cá dưới nước hóa thành rồng trong phút chốc ngỡ ngàng niềm vui òa vỡ.

Người Tráng Sĩ năm xưa hát Bài Tráng Ca trước bạn bè ngày cũ.

 

Tất cả chắp tay!

Một đời Tráng Sĩ hóa thành bất tử. 

“À ơi! Ấu biến thành sen,

Lời ru còn đó, nghe quen thuở nào...”

10:08 Ngày 21 tháng 7 năm 2011

LÝ TỨ

Bài viết Lý Tứ

Có Mấy Thứ Thiền?

MB 857 Lý Diệu Sinh 22.02.2023

Kinh Lăng Già, Phật dạy có bốn thứ thiền như sau: Ngu phu sở hành thiền; Quán sát nghĩa thiền; Phan duyên như thiền; Như Lai thiền.

Mới tản sáng, vừa pha xong bình trà, đã có người gọi cho mình...

-A lô! Mình nghe đây !!!
-Thầy có xem các bài viết trên mạng không ???
-Không! Rất ít khi đọc các bài viết trên ấy, vì quá bận...
-Có người phong thêm cho Thầy thêm một danh xưng nữa là “Thiền Sư Lý Tứ” !!!
-Ồ! Có việc đó nữa hay sao ??? Thiền Sư !!! Ha ha ha ha !!! Theo bạn, có nên mời mọi người một chầu cà phê để “rửa cái danh xưng mới toanh” này hay không ???
-Tốn tiền vô ích bởi cái “tào lao danh”, mà Thầy đâu có dạy thiền, vì Thầy biết quá rõ đường đi của các loại thiền mà !!!
-Thì đó! Thì đó! Vậy mới ghê chớ !!! Vậy mới phải rửa “cái cục nực cười” này chớ !!!
-Nhưng mà con thắc mắc một điều !!!
-Điều gì ???
-Bài Yếu Chỉ Thiền Na, Thầy nói đến Thiền Na... Có người mắt nhắm mắt mở, đọc ba sồn ba sực, rồi hiểu thành Thiền Tông... Sau đó bình loạn lung tung !!!
-Ha ha ha ha !!! Chuyện này sao giống mấy cụ chuyên làm quân sư quạt mo, dạy HLV Pak Hang-seo cách đá bóng trên mạng quá vậy ta !!! Theo mình, các cụ ấy mở to mắt lắm chớ, săm soi từng chữ, nhưng vì chẳng hiểu nỗi Thiền Na là gì, nên tưởng nó cũng giống Thiền Tông đấy thôi, bài này thì mình có đọc, nhưng không để tâm tới những chuyện vớ vẩn ấy !!!
-Thưa Thầy, như vậy các HĐ chúng ta không tu thiền, có thành tựu Thiền Na như thầy viết trong bài Yếu Chỉ Thiền Na hay không ???
-Bạn có thấy hỉ lạc, khinh an, sáng suốt...thường xuyên xảy ra trong bạn hay không ???
-Có, sau khi hiểu ra vấn đề, đi đứng nằm ngồi gì trong con cũng an vui và hỉ lạc tràn đầy, thấy nghe rất sáng suốt, lao động rất hiệu quả !!!
-Đó !!! Đó !!! Thiền Na ban sơ là như vậy đó !!! Nhưng sau một thời gian, đến khi tâm thức bão hoà, bạn sẽ không còn cảm nhận đó nữa...mà chỉ thấy một nguồn tâm an lạc, thanh tịnh (hai đặc tính cơ bản của Niết Bàn) !!! Giống như người nghèo, bỗng dưng có được một món tiền cực lớn, lúc đầu rất vui, nhưng sau một thời gian, cái vui tự mất chỉ còn lại an lạc tự tại của một người giàu có !!! Thiền Na hay còn gọi là Xuất Thế Gian Thiền là như thế, nó là kết quả của Trí Tuệ, của Giác Ngộ, chứ không phải sản phẩm do một thứ công phu nào đó làm ra !!!
-Thưa Thầy! Trên đời có mấy thứ thiền ???
-Kinh Lăng Già, Phật dạy có bốn thứ thiền như sau:

“Lại nữa, Đại Huệ! Có bốn thứ thiền. Thế nào là bốn? Nghĩa là: Ngu phu sở hành thiền; Quán sát nghĩa thiền; Phan duyên như thiền; Như Lai thiền.

-Thế nào là Ngu phu sở hành thiền? Nghĩa là Thanh văn, Duyên giác, ngoại đạo tu hành, quán tánh nhân vô ngã, tự tướng, cộng tướng, các lóng xương, vô thường, khổ, tướng bất tịnh, chấp trước làm đầu. Tướng như thế chẳng quán khác, trước sau chuyển tiến, tướng chẳng trừ diệt. Ấy gọi là Ngu phu sở hành thiền.

-Thế nào là Quán sát nghĩa thiền? Nghĩa là nhân vô ngã, tự tướng, cộng tướng và ngoại đạo tự, tha, đồng, không tánh rồi, quán pháp vô ngã, nghĩa tướng địa kia thứ lớp tăng tiến, ấy gọi là quán sát nghĩa thiền.

-Thế nào là Phan duyên như thiền? Nghĩa là vọng tưởng về hai vô ngã vẫn là vọng tưởng, chỗ như thật chẳng sanh vọng tưởng, ấy gọi là phan duyên như thiền.

-Thế nào là Như Lai thiền? Nghĩa là (giác ngộ), vào đất Như Lai được tướng tự giác thánh trí, ba thứ lạc trụ, thành tựu việc bất khả tư nghì cho chúng sanh, ấy gọi là Như Lai thiền…”

Bạn thử suy nghĩ, thứ thiền mà HĐ mà chúng ta giác ngộ rồi tự được, chẳng do dụng công, là loại thiền nào trong bốn thứ thiền (chính thống) mà Thế Tôn đã dạy ở trên !!! Ha ha ha ha !!! Tạm biệt !!! Mình đi làm công chuyện đây !!!

Subscribe to