Tán Thán Vô Đối Môn - Tánh Giác

Trước tiên xin chân thành cảm ơn tác giả LÝ TỨ.
Nhân duyên lành, mình được một số người bạn tu tập, giới thiệu và cho mượn quyển sách có tựa đề là VÔ ĐỐI MÔN của tác giả LÝ TỨ.
Khi mình đọc quyển VÔ ĐỐI MÔN, cảm xúc rất dâng trào và hoan hỷ!!! Hoan hỷ là văn tự gần gũi, rất dễ hiểu dễ cảm nhận. Đặc biệt khi đọc lần thứ nhất, đến lần thứ hai, mình có cảm giác tác giả đang viết cho mình, và đang giải quyết những vướng mắc của mình. Và còn điều nữa, càng đọc, mình càng thấy trong lòng sự nhẹ nhàng, thoải mái.
Đến thời gian sau, cũng những người bạn ấy, lại giới thiệu tiếp những quyển khác cũng của tác giả LÝ TỨ đó là. PHẬT GIÁO VÀ THIỀN, TÂM PHÁP, ANH LẠC LUẬN…. Quyển nào cũng hay, và để lại trong lòng mình điều gì đó rất khó diển tả. Đọc được một thời gian, thói quen lười đọc sách mất đi lúc nào mình cũng không hay.
Mình nguyện những ai đủ duyên, đọc được những quyển sách này, sẽ đặt được những gánh nặng, làm mình mê mờ bấy lâu nay.
Cũng thêm niềm hân hoan, mình biết được là quyển VÔ ĐỐI MÔN, sắp được lên kệ trong các nhà sách cả nước. Mình rất háo hức, được chiêm ngưỡng được sở hữu và đọc nó ở diện mạo mới.
Tánh Giác
Cảm Nhận Khi Đọc Tâm Pháp - SH Lý Thái Đăng

Tâm Pháp ra đời, nhất thời Phật tại!
Đây là loại công phu “tối thượng thừa”, “tối bí yếu”, nên có tên là TÂM PHÁP. Bởi: “Ai biết lý duyên khởi sẽ biết được pháp; Ai biết được pháp sẽ biết được không pháp; Ai biết được không pháp sẽ thấy được nghĩa không; Ai thấy được nghĩa không sẽ thấy được thật pháp; Ai thấy được thật pháp sẽ thấu suốt Phật pháp”.(Lý Tứ).
Dựa trên “Đạo Lộ Tối Thượng” này mà các tác phẩm của Ngài Lý Tứ lần lượt phát hành, hiển bày Diệu Pháp.
Cuốn sách “Vô Đối Môn” (của Ngài Lý Tứ) phát hành (tháng 7/2019) đã lan nhanh và tạo ra một hiệu ứng vô cùng tích cực, như ban hành kịp thời một Pháp Lệnh giáo dục về Phật Đạo trong giai đoạn hiện nay, đề ra “Chủ trương, đường lối” khai thông bế tắc, chỉ rõ mục tiêu tu hành, cách thức tu tập… đã làm bừng tỉnh nhiều người tu hành đang ngụp lặn trong đêm dài của ba cõi, mà chưa tìm được lối ra.
Tiếp theo “Vô Đối Môn”! Hai cuốn “Phật Giáo Và Thiền”, “Tâm Pháp” đã liên tiếp phát hành trong tháng 10/2019, như thổi vào đời sống người tu hành một luồng gió mới, lan tỏa Ngũ Phần Hương (Giới hương, Định hương, Huệ hương, Tri kiến hương và Tri kiến Giải thoát hương) đến với mọi mọi người và tới những nơi xa nhất.
Thật vi diệu thay!
“Như người dựng đứng những gì đã bị quẳng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người lạc hướng, đem đèn sáng vào trong tối để những ai có mắt có thể thấy sắc, cũng vậy, chánh pháp đã được Ngài Lý Tứ! dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích nhằm đưa người tu hành tiến tới mục đích đã đề ra là Giác ngộ Giải thoát và Trí tuệ” (Trích lời kinh)
“Nếu như Vô Đối Môn với văn phong khai thị – hỏi đáp, Phật Giáo và Thiền với lối viết luận chặt chẽ thì TÂM PHÁP lại có cách tiếp cận khác hẳn. Dẫn dắt bạn đọc bằng những câu chuyện nhẹ nhàng, đầy ý vị của đạo pháp. Người đọc TÂM PHÁP thường có cảm nhận tác giả viết riêng cho mình, từ đó nhận ra rất nhiều điều trên con đường tu tập của bản thân…”(Trích bài viết về Tâm Pháp của Diệu Hiền)
Theo Thái Đăng!
Tâm Pháp được ví như trái tim của Phật Đạo; người tu hành thấu rõ Tâm Pháp như người có trái tim khỏe mạnh; ngược lại nếu ai tu hành mà không hiểu rõ Tâm Pháp chẳng khác nào người đang đau bệnh tim…
Tâm Pháp có vô số điều ĐẶC BIỆT! bởi nghĩa của những điều (đặc biệt này) nhiều người hiện nay, chưa từng được nghe, chưa từng được biết, chưa từng được thấy…!!!
Xin trích dẫn giới thiệu ba đoạn “tối bí yếu”, trong Tâm Pháp để minh chứng:
“Quyết nghi” trong TÂM PHÁP là điều ĐẶC BIỆT đầu tiên, có thể ví như ngòi nổ của trái phá TÂM PHÁP! Người học nào mà tỏ rõ được “Quyết nghi” này, cũng có thể xưng tán là thầy của Trời Người!!!
(Xin trích một đoạn) Quyết nghi:
(− Sao không nói lưỡng nhĩ, lưỡng tỷ… mà chỉ nói đến lưỡng mục, có ý chỉ gì chăng…?
Do nhân duyên mà đặt tên, vì đau con mắt… nếu đau lỗ tai sẽ gọi lưỡng nhĩ…
Người trí khi nghe một căn biết nói đến sáu căn, một đại biết nói bảy đại, một cõi nói đến 25 cõi…
Ví như khi nghe “kiến” phải biết kiến này tiêu biểu “kiến, văn, giác, tri”, không nên chấp nhất “kiến” chỉ duy cái thấy của con mắt….
− Vì sao chỉ nói mục (nhãn) mà tiêu biểu cho các căn? Nói một đại tiêu biểu cho bảy đại?
Bởi thể đồng vậy!
− Thế nào thể đồng?
Phân biệt có bảy.
− Sao nói bốn đại còn nói bảy đại?
Bốn đại (địa, thủy, hỏa, phong) vô tri, như ngói đá cỏ cây.
Có không đại nên có thịnh suy tụ tán.
Có thức đại nên có tri.
Có kiến đại nên có giác.
Vì thế hữu tình có tri có giác, lại còn có tụ có tán.
− Căn thân và thế giới sai khác thế nào?
Thế giới năm đại (địa, thủy, hỏa, phong, và không).
Thế giới không căn, tự nó không giới, vô tri.
Thân đủ bảy đại sáu căn.
Năm đại thành thân.
Thức đại thành thức.
Kiến đại thành căn.
Thức để biết, căn để giác.
− Sao kinh chỉ nói thân tứ đại mà không nói năm đại?
Vì từ bi, bởi nói đến không đại, người đời mê sảng.
− Thức đã biết rồi, sao còn phải giác.
Thức biết theo nghiệp nên trái đạo, Giác bổn lai tự biết nên vô sanh.
− Khi nào biết của thức, khi nào biết của giác? Cái biết bản nhiên là giác, biết cái bị biết là thức.
− Sao gọi “mầm danh sắc”?
Danh thuộc về tâm (thọ, tưởng, hành, thức). Sắc thuộc về thân (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân).
− Những món này từ đâu ra?
Từ hư không mà ra.
− Hư không không tự sanh?
Hư không không tự sanh, nhưng mê sẽ sanh.
− Xin nói rõ?
Như giường nằm không có đô thị, ngủ mơ sẽ hiện.
− Mê từ đâu sanh?
Nếu biết bóng tối từ đâu sanh, thì sẽ biết mê từ đâu sanh.
− Làm sao dứt mê?
Đốt nhà trong mộng.
− Làm sao dứt mê?
Chỉ cần dừng mê.
− Làm sao dừng mê?
Biết rõ (giác ngộ) không mê.
− Lấy gì biết rõ?
Lấy giác không thức.
− Giác làm sao lấy?
Bất động giác hiện.
− Hiện như thế nào?
Không hiện tức hiện.
− Không hiện sao biết?
Rời cái biết của ngã, sẽ tự biết.
− Giác biết cái gì?
Giác biết cái ngu tự chẳng ngu.
− Sao gọi là ngu?
Ngu là tướng của chấp.
− Chấp cái gì?
Sanh pháp chấp pháp.
− Vì sao sanh pháp?
Vì mê sáu trần.
− Sao mê sáu trần?
Chỉ vì nghiệp thức.
− Làm sao dứt thức?
Phải dứt cái ngu.
− Hết chấp hết ngu?
Hết chấp còn ngu, không chấp không ngu…
− Làm sao không chấp?
Bản nhiên chưa chấp, tự chẳng làm sao, nếu có làm sao, làm ấy là chấp…).
Một nội dung cũng đặc biệt quan trọng khác để xây dựng nên toàn bộ cốt truyện Tâm Pháp là THẬP NHƯ THỊ.
(Các vị! Thập Như Thị được Phật đề cập đến trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa… Sau khi ngài Xá Lợi Phất ba lần thưa thỉnh… Phật im lặng một hồi rồi nói: “Thôi đi Xá Lợi Phất, không nên hỏi nữa. Vì sao? Vì pháp mà chư Phật đã chứng khó thấy khó biết, không phải dùng cái biết của phàm phu mà biết được… Chỉ có Phật với Phật mới thấu suốt thiệt tướng của vạn pháp… Vì sao? Vì các pháp thành tựu được không ngoài mười phạm trù đó là: Nhân, duyên, quả, báo, tánh, tướng, thể, lực, tác, bổn mạc cứu cánh như vậy…”
Các vị! Nếu mười phạm trù này mà hiểu theo ý nghĩa thế gian thì các pháp sở dĩ có được là bởi nhờ có hạt nhân ban đầu, giống như có hạt giống mới có cây trái. Hạt giống này muốn thành tựu phải đầy đủ duyên lành.
− Nhờ duyên lành mà cho ra kết quả gọi là quả.
− Trong cái kết quả đó sẽ có ý vị của nó, ý vị này gọi là báo…
− Nơi báo kia tùy nghiệp hiện các tính chất gọi là tánh. Ví như trái khổ qua, người ăn thấy ngọt kẻ ăn thấy đắng.
− Từ tánh chất ngọt đắng mà sinh các thứ tướng ghét ưa, ưa thì vui vẻ, ghét thì nhăn nhó, ‘vui vẻ’, ‘nhăn nhó’ gọi là tướng…
− Thể của ưa là mong cầu, thể của ghét là xa lánh…
− Do mong cầu hay xa lánh nên xuất ra các ý tưởng hoặc tham hoặc sân gọi là lực.
− Lực này vô hình nhưng có thể tạo nghiệp lành dữ nên gọi là tác.
− Một khi tác rồi thì cứu cánh khổ vui trước sau không thể tránh khỏi…
Phật tuyên nói Thập Như Thị theo trình tự trên, là có nguyên nhân của nó… Vì bởi người đời khổ vui sanh diệt không ra khỏi mười phạm trù này, và nằm trong một quy luật nhất định… Nếu chẳng có nhân, thì duyên kia vô nghĩa… giống như không có hạt giống thì cấy cày phân bón không có chỗ dùng…
Sở dĩ chúng sanh hiện tướng khổ vui tham sân vì trong lòng có tích chứa hạt giống tham sân, giống như đứa bé mới sinh ra, không ai dạy mà tự biết dỗi hờn… Hạt giống vô hình này Phật đạo gọi là “Tập Nhân”… Trong lòng đứa bé đã tích chứa tập nhân khổ vui nên nay vừa sinh ra tự biết biểu lộ tình cảm…
Các duyên thấy nghe Phật gọi là giao báo… Tập nhân tích chứa trong lòng thông qua giao báo của thấy nghe… cho ra cõi nước tức là các thứ tướng khổ vui. Biểu hiện của tướng khổ vui đó là mười kiết sử. Các kiết sử này chính là quả của nhân kia gọi là quả báo… Và từ đó biện biệt cùng trói buộc dẫn dắt hữu tình luống sâu vào phiền não…
Tánh, tướng, thể, lực, tác, rốt ráo trước sau hiện khởi… như con tằm nhả tơ tự trói…
Các vị! Tu hành trong Phật đạo là làm sạch tập nhân vô hình đó… Một khi trong tâm không còn tập nhân, nhân đã không thì mười phạm trù kia tự không. Có nghĩa tâm thanh tịnh thì kiết sử sẽ không hiện khởi. Kiết sử không hiện khởi thì cõi nước cũng thanh tịnh. Cõi nước thanh tịnh thì tánh, tướng, lực, tác đồng đưa người đến thanh tịnh. Nhân quả bây giờ sai khác, như cõi Cực Lạc cây vàng sanh trái bạc, cây lưu ly sanh trái mã não, tiếng chim lại kêu thành tiếng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng… chẳng như quả báo ba cõi.
Vì thế Phật đạo có thể biến “Quả người mà báo thánh, quả ác thành báo lành”. Quả báo vô lậu không như quả báo thế gian người đời thường hiểu… Giống như mặt trời lên thì nỗi ám ảnh hãi sợ bóng ma tự dứt… Nỗi ám ảnh không còn thì tánh tướng và các mối đe dọa vô hình từ con ma không còn. Cũng cảnh đó mà thể, lực, tác bây giờ là an vui chứ không phải đau khổ sợ hãi…
Tóm lại Thập Như Thị chính là nguyên lý hình thành khổ vui ba cõi, và Thập Như Thị cũng chính là nguyên lý để bậc Thánh thoát ra khỏi trói buộc ba cõi… Vì thế Thập Như Thị được Phật đề cập đến trong giáo trình giảng dạy Phật tri kiến. Có nghĩa là học Phật tri kiến hay học Nhất thiết trí, là một giáo trình Phật giảng dạy cho Bồ Tát gồm nhiều thứ, trong đó có Thập Như Thị.
Thập Như Thị chính là một học phần trong toàn bộ giáo trình nhiều học phần này… Học Thập Như Thị cơ bản là học nguyên lý hình thành ba cõi và nguyên lý thoát ra khỏi trói buộc ba cõi. Thành tựu cơ bản này mới có thể học các học phần khác. Đó là học thêm các thứ phương tiện thiện xảo, giúp hữu tình hết phiền não và tiến đến Phật quả…)
Điều ĐẶC BIỆT thứ ba xin giới thiệu, là ba chiêu thức của “Kim Cang thần công”:
(Để cho lão Hòa Thượng dứt tiếng cười mãn nguyện… Lý Tứ không nói lời nào, quay mình về phía sau, vận chỉ lực vào ngón tay viết ngay lên vách mấy chữ:
“Tận Hữu Vi Kim Cang chỉ lực”. Ngón tay Lý Tứ đưa đến đâu, từng cụm bụi đá rơi xuống đó. Nét chữ hằng sâu hơn một đốt tay…
Lý Tứ lại viết tiếp:
“Trụ Vô Vi Kim Cang chỉ lực”. Ngón tay Lý Tứ ấn đến đâu, nét viết lún sâu đến đó nhưng cái lạ là không một hạt bụi rơi ra. Nét chữ hằng sâu vào đá hơn nét chữ đã viết ở trước…
Lý Tứ lại viết:
“Phi Hữu Vô Kim Cang chỉ lực”. Lần này nét chữ của Lý Tứ giống như đứa trẻ dùng nhánh cây viết trên nền gạch, nét chữ nhạt nhòa…
Viết xong ba câu trên vách đá, tiếng rào rào ngoài miệng hang vọng vào… Tuy xa nhưng nhờ thính lực của hai cao thủ nên tiếng bụi rơi nghe rõ mồn một…
Lão Hòa Thượng chưa kịp nhận định những gì Lý Tứ thi triển, bằng thói quen giang hồ lão nói lớn:
− Lý Đệ! Ngoài kia có tiếng động!!! Coi chừng có điều chẳng may. Nói xong lão dùng khinh công nhanh như chớp đứng chắn ngay lối vào hang…
− Đại Ca! Tiếng động vừa nghe, không phải biến cố, mà nó là tiếng rơi của lớp đá bụi do Tiểu Đệ viết mấy câu hồi sáng ngoài cửa động.
“Phi Hữu Vô Kim Cang chỉ lực” có tác dụng như thế. Đây là thức thứ ba và là thức cuối cùng của “Kim Cang thần công”. Thức này còn có tên “Y Báo thần công”, tức là thần công này chỉ hiện khi giao thoa giữa một tâm thức hữu tình đang phân biệt thị phi…
Đại Ca! Chính mối nghi và tâm so sánh cao thấp của Đại Ca, tâm này làm chánh báo, nên chỉ lực kia phát huy tác dụng. Khi phát huy tác dụng nó trở thành y báo hiện tiền. Lúc nãy, thần công đệ thi triển ngoài kia giao cảm với tâm Đại Ca nên đá trên nét chữ buồn tình mà rơi xuống đất!!!…
Câu: “Tứ bất kiến thị phi” bây giờ chắc Đại Ca hiểu ra rồi chứ!
Tiện đây, Tiểu Đệ sơ lược mấy điều về thần công này cho Đại Ca hay:
− Người bị thần công này đả thương, bề ngoài không thấy dấu vết hay đau đớn. Nhưng khi người đó bất giác hiện trong tâm, thần công liền phát huy tác dụng. Tác dụng của nó đến đâu còn tùy vào mức độ đảo điên của người bị đả thương…
Tác dụng của nó chỉ chấm dứt khi nào người này bình tâm trở lại. Khi bình tâm, cơ thể người này trở về nguyên trạng. Nhưng nếu không biết ăn năn sám hối, lại nổi phàm tình thì thần công phát huy hiệu quả nặng hơn. Chừng ấy người này đau khổ phiền não đến mất hẳn khí lực…
Đại Ca! Thần công này còn có tên “Hóa Độ Kim Cang thần công”… Nó không sát thương người, không hủy diệt như hai thức kia, nhưng có tác dụng răn đe dạy dỗ rất lớn.
Vì thế, nó còn có tên “Từ Bi chỉ lực”…
Hòa Thượng Đại Ca! Giang hồ xưa nay không biết rằng: Đồng một “Kim Cang thần công” nhưng lại có ba thức dành cho ba hạng người thành tựu khác nhau.
Giang hồ cao thủ bậc nhất, cao lắm chỉ luyện được “Tận Hữu Vi Kim Cang chỉ lực”, nó là loại thần công mà Đại Ca sử dụng…
Còn “Trụ Vô Vi Kim Cang chỉ lực” là loại thần công chỉ dành cho hàng tu luyện đến mức tâm như hư không. Thành tựu thần công này, người sử nó hết thấy đúng sai hơn thua phải quấy, nên còn có tên “Bất Nhị thần công”, lại có tên “Tịnh Danh tâm pháp”…
Thần công thứ ba “Phi Hữu Vô Kim Cang chỉ lực” là thần công của hàng thấu đạt Trí Tuệ tối thượng. Thần công này còn gọi là “Tam Muội Đại Hải Trí lực”.
Người thành tựu thần công này thấu suốt tam tạng kinh điển thánh giáo, nên nó còn có tên “Liễu Nhất Thiết Chư Pháp Đà La Ni”…
Hai thứ thần công sau, hầu như thất truyền cả ngàn năm nay… Ha ha ha ha!!!! Đại Ca! Đại Ca còn thắc mắc gì không?
Lão Hòa Thượng nghe xong những điều Lý Tứ vừa nói, hai mắt lão như hai luồng điện hướng về phía Lý Tứ. Lão nói lớn:
− Mô Phật! Mô Phật! Lời Lý Đệ đã đưa lão nạp này đến chỗ bất động rỗng rang, tâm như hang trống…
Ha ha ha ha!!! Xưa nay lão nạp mang trong lòng chủng tử “Hoại hữu vi” mà không tự biết! Ha ha ha ha!!!! “Tận Hữu Vi Kim Cang chỉ lực” chỉ có công dụng phá hòn đá kiết sử mà không biết kiết sử kia chỉ là kết quả của tập nhân… Ha ha ha ha!!!
Lý Đệ! Lão như người sáng mắt… “Sắc tức thị không, không tức thị sắc…” Từ nay Lý Đệ là bậc thầy của lão nạp rồi… Nhưng đạo tăng tục không cho phép, lão nạp chỉ thờ trong lòng vậy! Ha ha ha ha!!!!
Lý Tứ hướng về phía Hòa Thượng chắp hai tay vào nhau xá Hòa Thượng ba xá nói lớn:
− Chúc mừng Hòa Thượng Đại Ca đã đặt hòn đá ngã nhân xuống dưới chân mình…
Tiểu Đệ là Lý Tam Đao, Lý Cư Sĩ… xin đảnh lễ Hòa Thượng Đại Ca. Xin xưng tán công đức thành tựu Đệ Nhị Kim Cang Thần Công…
Nói xong Lý Tứ lại khom mình xá lão Hòa Thượng ba xá rồi tiếp:
− Phật Pháp Tăng thường trụ, Tam Bảo thường trụ. Ngày nay có tăng thành tựu đại pháp, nhân quả đồng thời, Chánh Pháp chẳng lo diệt mất…
Ha ha ha ha!!! Đại Ca xứng đáng là “Đệ nhất nghĩa tăng”. Mô Phật! Mô Phật! Mô Phật! Mô Phật!!!!)
Khi trích dẫn đoạn văn này con rất cảm động trước lời chơn thiệt của Ngài Lý Tứ:
“Phật Pháp Tăng thường trụ, Tam Bảo thường trụ. Ngày nay có tăng thành tựu đại pháp, nhân quả đồng thời, Chánh Pháp chẳng lo diệt mất…”.
Đúng là: Nhật Quang thường chiếu; Chánh Pháp hiện tiền; Tứ chúng đồng tu; Nhân Sa Môn đồng thời chứng Quả Sa Môn; Có hạnh phúc nào hơn khi Chánh Pháp hưng thịnh trong thời mạt pháp !!!
Con xin đảnh lễ Ngài Lý Tứ ba lễ!!!
Con, Lý Thái Đăng
Tâm Pháp Ngoại Truyện - Tâm Tình Của Lý Anh Lạc

Con kính chào Thầy !!!
Kính chào toàn thể đại gia đình Lý Gia cùng tất cả chú bác, anh chị và các bạn đang theo dõi trang Lý Gia.
Mình là Lý Anh Lạc, còn gọi là Tịnh Hiền, Tịnh Hiền năm nay 49 tuổi và Tịnh Hiền vào gia đình Lý Gia đã hơn 10 năm.
Lúc Tịnh Hiền vào Lý Gia gần hai năm thì Thầy bắt đầu viết Tâm Pháp. Bây giờ sức cuốn hút của Tâm Pháp đối với Huynh Đệ Lý Gia thật mãnh liệt… Văn phong trong Tâm Pháp vừa lạ vừa gần gũi thân quen như những lời tâm sự của những thâm tình, vừa dí dõm hài hước khiến người đọc đôi khi phải bật cười một mình vì thế không thấy chán trong học tập, vừa như bản hùng ca thôi thúc nhiệt huyết của người cầu đạo theo từng mạch văn, đồng thời Tâm Pháp cũng giải đáp bao nhiêu thắc mắc về giáo pháp mà trước đây không thể tìm kiếm ở bất cứ nơi đâu. Điều quan trọng là Tâm Pháp đã thổi một luồng gió mới vào cơ sở lý luận và phương pháp học tập, giúp người đọc mau chóng nhận ra thật nghĩa của mỗi pháp để ứng dụng vào thực tiễn đời sống hơn là chỉ học thuộc văn tự rồi chạy theo văn tự…
Mình nhớ khi Thầy viết Tâm Pháp, đến đoạn nói về tâm bất động, ý giải thoát thì mình rất thích, vì đã thấy được những điều này.
Nhờ điều đã thấy mà một hôm mình trình bày cái thấy của mình về bài kệ Phật truyền cho Ca Diếp lên thầy. Đại khái bài kệ như sau: “Ta có chánh pháp nhãn tàn, Niết Bàn diệu tâm, thiệt tướng vô tướng, nay ta truyền cho ông”. Lúc đó Thầy đã nói với mình “Phải chi Tịnh Hiền là con trai thì hay biết mấy…”
Rồi Thầy bảo mình đọc Trung Quán Luận, khi đọc Trung Quán Luận đến đoạn: “Chư pháp bất tự sanh, diệc bất tùng tha sanh. Bất cọng bất vô nhân, thị cố tri vô sanh”. Khi đọc đến đoạn này, mình đã trực nhận Phật Pháp là không pháp…
Sau khi trực nhận ra điều này, mình quay lại đọc Tâm Pháp, lần đọc này quyển Tâm Pháp đã lấy của mình rất nhiều nước mắt. Bây giờ mình mới thật sự hiểu Tâm Pháp gởi gắm điều gì, từ đó giúp mình trân trọng hơn tấm lòng của Thầy, hiểu hơn tiến trình của Phật đạo ẩn chứa trong Tâm Pháp, về cách thức trả lời, hay khai thị trước một đương cơ thông qua những mẫu chuyện mộc mạc nhưng sâu thẳm…
Nhớ lại cảm giác mong đợi và sự vui mừng mỗi khi đọc được Tâm Pháp từ các bài Thầy gởi… Những khoảnh khắc đó Tịnh Hiền cảm thấy hạnh phúc vô cùng…
Có một điều mà Tịnh Hiền không thể quên trong lúc Thầy viết Tâm Pháp, đó là lúc Huynh Đệ Lý Gia phần lớn không đủ điều kiện sắm cho mình một điện thoại thông minh để đọc, hay nhận bài qua email khi Thầy gởi. Nhiều Huynh Đệ phải đợi pho to ra tờ A4, rồi chuyền tay nhau để đọc, thời điểm đó để pho to những bài viết về Phật Pháp cũng rất khó khăn… Nhìn những gương mặt rạng ngời khi nhận những tờ A4 có bài viết của Thầy trong đó mới thấy giá trị của Tâm Pháp đối với Huynh Đệ Lý Gia là thế nào… Những tờ A4 được đóng thành quyển, chính là quyển Tâm Pháp đầu tiên mà Huynh Đệ đã kết tập từ những bài viết nhận được qua emails…
Thấm thoát mà Lý Gia đã ra đời được 13 năm… Trong 13 năm đó, Tâm Pháp đã giúp rất nhiều Huynh Đệ Lý Gia tiếp cận Phật pháp dễ dàng, hiểu giáo pháp sâu hơn thông qua những mẫu chuyện Thầy kể, từ đó Tâm Pháp trở thành thức ăn nuôi lớn trí tuệ, nuôi lớn từ bi tâm…
Tuy đã bước sang tháng 2 của năm 2021 nhưng con vẫn muốn chúc Thầy năm mới luôn luôn khoẻ, bút lực không giảm để chúng con nhận được nhiều bài học giáo pháp giá trị như Tâm Pháp…
Chúc đại gia đình Lý Gia luôn an vui, tinh tấn, thành tựu những điều cần thành tựu trong Phật đạo…
Chúc tất cả các bạn đang theo dõi trang Lý Gia luôn khoẻ, thành công cả đời lẫn đạo…
Lý Anh Lạc
Tâm Pháp Ngoại Truyện - Tâm Tình Của Lý Lục Nhật
Lý Lục Nhật đến với Lý Gia vào một dịp rất tình cờ khi mình ra Hà Nội vào năm 2019 !!!
Trước lúc chuẩn bị lên xe để ra sân bay về lại miền Nam, mình và HĐ Lý Gia miền Bắc ngồi cùng nhau tâm sự phút chót ở Diệu Pháp Đường, phía dưới có hai vợ chồng trẻ lạ hoắc cũng ngồi nghe !!! Đến giờ khởi hành, đôi vợ chồng trẻ ngỏ ý muốn được làm HĐ Lý Gia…Và Lý Lục Nhật, Lý Diệu Huỳnh trở thành HĐ Lý Gia từ hôm ấy với nghi lễ vô cùng gấp gáp để kịp giờ bay !!!
Bẳng đi gần một năm, Lý Lục Nhật một thân một mình cùng chiếc Limousin từ Hà Nội đến miền Nam thăm mình, với quyết tâm “không giác ngộ không về” !!!
Ngày thứ sáu, Lý Lục Nhật hoàn thành tâm nguyện !!! Cái tên Lý Lục Nhật ra đời từ đó !!! Và rồi, mấy tháng sau, Lý Diệu Huỳnh cũng giác ngộ nhờ những thay đổi của Lý Lục Nhật !!!
Có thể nói ở đời, Lý Lục Nhật là một doanh nhân trẻ thành đạt !!! Quyết tâm, tài trí của bạn ấy đã giúp bạn ấy thành công rất sớm !!! Khi đến với giáo pháp, Lý Lục Nhật cũng mang cả quyết tâm cộng với những ý tưởng tuyệt vời của một doanh nhân !!!
Vừa rồi, bạn ấy đã viết cho mình như sau:
“Thầy ơi !!!
Giờ con đã tìm được chìa khoá trong mỗi bài Thầy viết !!! Giờ con phải học cách tra khoá vào ổ cho đúng, để mở được tất cả các ổ khoá của Phật đạo !!!
Thầy ơi!!!
Con đã từng được ngồi với nguyên thủ quốc gia trong ngày mừng Xuân 2013, được Phó Chủ Tịch Nước khen: “Tuổi trẻ, đẹp trai lại nhiều ý tưởng khởi nghiệp hay”.
Con đã từng ngồi bàn định chiến lược “Trăm Hoa Đua Nở” với Tỷ Phú Đài Loan khi làm cho Tập đoàn quốc tế Tất Hoàng được Tỷ Phú Đô La khen: “Ý tưởng rất thực tế nhưng lại rất khác biệt”.
Nhưng, những lời ngợi khen ở đời chỉ khiến Cái Tôi ngày càng to, để cái Anh Mạt Na Thức phô diễn. Ha ha ha …rồi mê chồng thêm mê, lầm chồng thêm lầm !!!
Vậy mà, chỉ lời khen ngắn gọn của Thầy hôm nay, bậc Thế Tôn trong lòng con: “Hay, ý tưởng rất hay, đây mới là ý tưởng của người Trí”. Lời thầy là Phạm âm! Cách nói chuyện cà rặc cà rặc, tưng tửng kiểu ông Quảng Nôm miền Trung, lại rất thiệt tình trong từng lời nói của Anh Hai Nam Bộ và cái Uyên Bác, Thâm Thuý khuất phục mọi loại anh hào trí thức Bắc Bộ…khiến con được Thiền rồi sanh hỉ lạc !!! Trí Huệ thầy đúng là thần thông hoá hiện khắp nơi, để cứu độ chúng sanh…” !!!
Sau hai ngày đọc Tâm Pháp !!! Lý Lục Nhật đã nói lên tâm sự của mình trong video sau, mời các bạn cùng nghe !!!
01/03/2021
LÝ TỨ
Làm Thế Nào Để Không Sinh Tâm
Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp Số 03.2023 trả lời thắc mắc của bạn đọc về chủ đề Sinh Tâm
Các bạn !!!
Trong tuần, chuyên mục bạn đọc hỏi Lý Tứ trả lời có nhận được câu hỏi của bạn đọc có tên Tỉnh Thức…Nội dung câu hỏi như sau:
"Kính chào thầy!
Xin chúc thày và các huynh đệ tỷ muội ngày càng tinh tấn trên con đường Phật đạo.
Con có biết Phật pháp đã lâu nhưng không biết đường lối tu tập mong thầy và các bạn chỉ dạy thêm.
Câu hỏi 1: Câu “ưng vô sở trụ, nhi sanh kì tâm". Qua câu nói này con chỉ hiểu có vế đầu: Có nghĩa là dựa vào sắc thanh hương vị xúc pháp sanh tâm, mà sanh tâm không có chỗ trụ. Nhưng con không hiểu: Sanh tâm không có chỗ trụ như thế nào mà không lệ thuộc vào cái thức, suy nghĩ bộ não hiểu biết của thế gian? nghĩa là sanh tâm như thế nào mà không lìa tự tánh.
Câu hỏi 2: Cũng như trên, xin thầy cho một ví dụ cụ thể để phân biệt?“ 16/02/2023 9:42:49 - Tỉnh Thức
Bạn đọc và Tỉnh Thức thân mến !!!
Mình xin lần lượt trả lời các câu hỏi như sau:
Hỏi:
Câu “ưng vô sở trụ, nhi sanh kì tâm". Qua câu nói này con chỉ hiểu có vế đầu: Có nghĩa là dựa vào sắc thanh hương vị xúc pháp sanh tâm, mà sanh tâm không có chỗ trụ?
Trả lời:
Câu “ưng vô sở trụ, nhi sanh kì tâm”, là lời Phật dạy ngài Tu Bồ Đề trong kinh Kim Cang !!!
Nguyên văn chữ Hán:
“Thị cố Tu-bồ-đề, chư Bồ Tát ma-ha- tát ưng như thị sanh thanh tịnh tâm: Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm. Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.”
Tạm dịch:
Tu-bồ-đề! Vì vậy mà các vị đại Bồ Tát nên sanh tâm thanh tịnh như thế này: Chẳng nên trụ nơi hình sắc mà sanh tâm, chẳng nên trụ nơi âm thanh, hương thơm, mùi vị, cảm xúc, các pháp mà sanh tâm. Nên ở nơi không chỗ trụ mà sanh tâm.
Hỏi:
Nhưng con không hiểu: “Sanh tâm không có chỗ trụ như thế nào mà không lệ thuộc vào cái thức, suy nghĩ bộ não hiểu biết của thế gian? nghĩa là sanh tâm như thế nào mà không lìa tự tánh?”
Trả lời:
Sanh tâm có chỗ trụ (hư vọng tâm, tâm bất tịnh) mới lệ thuộc vào thức vào bộ não cùng các pháp thế gian…Còn tâm thanh tịnh là thứ tâm không do chỗ trụ mà sanh, nên tâm đó không lệ thuộc vào các thứ mà bạn đã nêu…Vì thế Phật mới dạy: “Không nên trụ nơi nào để mà sinh tâm” !!! Một khi, tâm thanh tịnh đã sanh thì, tâm ấy không lìa tự tánh… Vì tâm ấy (tâm thanh tịnh) và tự tánh (thanh tịnh) chẳng phải hai (bất nhị)…!!!
Hỏi:
“Cũng như trên, xin thầy cho một ví dụ cụ thể để phân biệt?”
Trả lời:
Tâm hư vọng (không thanh tịnh) như một hồ nước bị vẩn đục, nổi sóng…vv…lúc ấy, các tính chất tự nhiên (tự tánh) như trong suốt, chiếu soi, bất động…vv… không hiện !!! Khi nào tâm đó hết vẩn đục, hết nổi sóng…vv…(thanh tịnh), thì các tính chất tự nhiên (tự tánh thanh tịnh) như vắng lặng, trong suốt, chiếu soi, bất động…vv…sẽ tự hiện…!!!
Tóm lại:
Tâm hư vọng (không thanh tịnh)…là thứ tâm do trụ nơi thấy nghe ngửi nếm…vv…mà sanh !!! Tâm thanh tịnh là thứ tâm do không trụ nơi nào hết mà sanh…!!! Thành tựu tâm thanh tịnh, tự tánh thanh tịnh sẽ xuất hiện !!!
Hy vọng các giải thích ở trên, có thể giúp Tỉnh Thức và bạn đọc tìm thấy nguồn tâm thanh tịnh sau khi không còn chạy theo hay trụ chấp nơi thấy nghe..vv…để sanh các thứ tâm bất tịnh…!!!
Rất mong nhận được các câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!! Chúc mọi người an vui, tinh tấn !!!
19/02/2023
LÝ TỨ
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: [http://bit.ly/2K0aWfn]
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn !!!

Phiền Não Trụ Địa Và Vô Minh Trụ Địa !!!
Vô minh có ba phần gồm: Nhuận chi vô minh, Căn bản vô minh và Vô minh trụ địa !!! Người tu hành thành tựu Bất động (chứng Diệt đế), chỉ giải quyết Nhuận chi vô minh và Căn bản vô minh…Đến khi nào, người này thành tựu viên mãn Nhất thiết trí (viên mãn Đạo đế) mới giải quyết xong Vô minh trụ địa…!!!
Các bạn !!!
Chỉ còn vài giờ nữa, giây phút chuyển mình từ Nhâm Dần sang Quý Mão lại đến !!! Như vậy là, tất cả chúng ta sắp chào đón năm mới !!!
Năm mới Quý Mão, thay mặt BQT Lý Gia và Fanpage Lý Tứ…Xin chúc bạn đọc, HĐTM Lý Gia và gia đình an vui, tinh tấn, thành ở đời, đạt ở đạo !!!
Cũng trong giờ phút cuối cùng của năm con Cọp, mình nhận được thắc mắc của bạn đọc Như Nguyện !!! Bạn ấy viết như sau:
“Thưa thầy Lý Tứ!
Trong kinh có nói: “Phiền não tương ưng tâm. Vô minh thì không tương ưng tâm". Vậy một người tu hành giải quyết nguồn tâm rốt ráo bất động đã giải quyết được vô minh chưa. Tu hành đến mức nào mới có thể giải quyết được vô minh..??? Xin thầy giải đáp thắt mắc của tôi. Tôi cảm ơn thầy..!" 17/01/2023 - 20:37:35 - Như Nguyện.
Như Nguyện thân mến !!!
Để có thể giải đáp thắc mắc của bạn, đầu tiên chúng ta phải thấu suốt lời dạy từ kinh Thắng Man: “Phiền não tương ưng tâm. Vô minh bất tương ưng tâm” !!!
- Tại sao phiền não tương ưng tâm ???
Phiền não thuộc về tâm !!! Là hiệu ứng hư dối tuỳ tâm sinh khởi khi sáu căn xúc đối trần cảnh từ nhận thức mê muội !!! Do đó, khi nhận thức không còn mê muội, tâm hư dối thôi hiện khởi, hiệu ứng phiền não hư dối sẽ tịch diệt !!! Đây là lí do vì sao kinh dạy: “Phiền não tương ưng tâm” !!!
Kinh Tương Ưng dạy như sau: “Này các Tỷ-kheo, dục tham đối với mắt là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với tai là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với mũi là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với lưỡi là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với thân là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với ý là tùy phiền não của tâm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào vị Tỷ-kheo đối với sáu xứ này, đoạn tận được tùy phiền não, thời tâm vị ấy hướng về ly dục. Do biến mãn với ly dục, tâm vị ấy được xem là kham nhẫn, chứng tri đối với các pháp cần phải giác ngộ” (Trích kinh Tương Ưng) !!!
Phiền não trụ địa có bốn món: Kiến nhất thiết xứ phiền não trụ địa; Dục ái phiền não trụ địa; Sắc ái phiền não trụ địa; Vô minh ái phiền não trụ địa !!!
Kinh Thắng Man dạy: “Thế nào là bốn? Kiến nhất xứ trụ địa, dục ái trụ địa, sắc ái trụ địa và vô minh ái trụ địa. Bạch thế Tôn! Bốn thứ trụ địa này có thể sanh tất cả biến khởi phiền não.
Bạch Thế Tôn ! Lực của bốn trụ địa có thể làm sở y cho biến khởi phiền não, song so với Vô minh trụ địa thì tính đếm thí dụ chẳng thể bì được”. (Trích kinh Thắng Man) !!!
- Tại sao vô minh bất tương ưng tâm ???
Vô minh thuộc về trí !!! Người tu hành cho dù đã tịch diệt tất cả tuỳ phiền não, nhưng chưa thấy thiệt tướng vạn pháp, chưa thấu suốt tất cả pháp lành, chưa thành tựu Nhất thiết trí, chưa chứng chân thật tuệ thì chưa được coi là hết vô minh !!! Đây là lí do vì sao kinh dạy: “Vô minh bất tương ưng tâm” !!!
Kinh Thắng Man dạy như sau:
“Cũng vậy, vô minh trụ địa đối với hữu ái trụ địa, lực của nó rất lớn. Thí như sắc, lực, oai đức và quyến thuộc của ma vương thì hơn hẳn chư thiên ở cõi Tha Hóa Tự Tại. Cũng vậy, vô minh trụ địa hơn cả bốn trụ địa, làm chỗ nương cho hằng hà sa số phiền não, cũng làm cho bốn trụ địa phiền não tồn tại lâu dài. Vô minh này, trí của Thanh văn và Độc giác chẳng thể đoạn, chỉ có trí của Như Lai mới có thể đoạn.
Bạch Thế Tôn ! Hữu ái trụ địa chẳng đồng với Vô minh trụ địa nghiệp. Vô minh trụ địa khác với bốn trụ địa. Khác với bốn trụ địa chỉ Phật mới đoạn được. Vì sao? Vì A La Hán và Bích Chi Phật đoạn được bốn trụ địa mà đối với lực lậu tận chẳng được tự tại, chẳng thể hiện chứng.
Vì sao? Bạch Thế Tôn, nói lậu tận là lời nói thừa. Cho nên, A La Hán, Bích Chi Phật và chư Bồ tát tối hậu hữu vì bị Vô minh trụ địa che mờ nên với mọi pháp chẳng biết, chẳng thấy. Vì chẳng biết chẳng thấy đối với mọi pháp nên thứ cần đoạn thì chẳng đoạn, thứ cần tận thì chẳng tận. Đối với mọi pháp chẳng đoạn chẳng tận nên được hữu dư giải thoát mà chẳng phải là tất cả giải thoát, được hữu dư thanh tịnh mà chẳng phải là tất cả thanh tịnh, được hữu dư công đức mà chẳng phải là tất cả công đức. Bạch Thế Tôn! Vì được hữu dư giải thoát mà chẳng phải là tất cả giải thoát … Cho đến được hữu dư công đức mà chẳng phải là tất cả công đức, nên chỉ biết hữu dư KHỔ, đoạn hữu dư TẬP, chứng hữu dư DIỆT, tu hữu dư ĐẠO.
Thắng Man lại bạch Phật rằng:
- Thế Tôn! Nếu chỉ biết HỮU DƯ KHỔ, đoạn HỮU DƯ TẬP, chứng HỮU DƯ DIỆT, tu HỮU DƯ ĐẠO thì gọi là diệt độ được ít phần, chứng được ít phần Niết bàn, hướng về Niết bàn giới. Nếu biết TẤT CẢ KHỔ, đoạn TẤT CẢ TẬP, chứng TẤT CẢ DIỆT, tu TẤT CẢ ĐẠO thì người đó ở nơi thế gian vô thường bại hoại này chứng được Niết bàn thường tịch thanh lương. Bạch Thế Tôn! Ở nơi thế gian không chỗ che chở, không chỗ y tựa, người đó sẽ làm chỗ che chở, làm chỗ y tựa”. (Trích kinh Thắng Man) !!!
Về Phiền não trụ địa và Vô minh trụ địa, sách Tâm Tông Và Trò Chơi Trí Tuệ giải thích như sau:
“….Người tu hành có hai thứ cần phải loại ra khỏi tâm và trí, đó là “Phiền não trụ địa” và “Vô minh trụ địa”. Phiền não trụ địa thuộc về tâm, Vô minh trụ địa thuộc về trí...!!!
Có một số Luận giả gộp hai thứ trụ địa này thành năm món, gọi là Ngũ trụ địa phiền não. Cũng có Luận giả cho rằng, Vô minh trụ địa của xuất thế gian, thuộc về hoặc giới ngoại, phải trải qua Bất tư nghì biến dịch sanh tử mới chấm dứt...!!!
Theo mình thì, để riêng hai món, gộp chung thành năm, hay phân thành bốn hoặc giới nội, một hoặc giới ngoại... tất cả đều không quan trọng. Mà, làm thế nào có thể tống khứ, không cho hai món này cư trú bất hợp pháp trong tâm trí của người tu hành mới là điều quan trọng nhất !!!
Ta có thể hiểu, Vô minh trụ địa như bóng tối, Phiền não trụ địa như ma quỷ... Tất nhiên, theo quan niệm thế gian, ở đâu tối tăm ở đó ma quỷ cư trú !!! Và, chúng ta cũng biết, trí tuệ như mặt trời, tâm thức như thế giới... Mặt trời lặn, thế giới tối tăm !!! Mặt trời mọc, thế giới sáng tỏ !!! Bây giờ, chúng ta thử điểm qua hai thứ trụ địa này, và tìm xem Phật đạo dùng cách gì để làm cho thế giới sáng soi, xua tan bóng tối, quét sạch "phiền ma não quỷ" !!!
- Phiền não trụ địa là gì ??? Là nơi cư trú của hết thảy phiền não, trụ địa này thuộc về Phiền não chướng. Có bốn nơi để phiền não cư trú đó là: Kiến nhất thiết xứ phiền não trụ địa, Dục ái phiền não trụ địa, Sắc ái phiền não trụ địa và Vô minh ái phiền não trụ địa !!!
• Kiến nhất thiết xứ phiền não trụ địa: Thấy nghe phân biệt, phiền não phát sinh. Dứt phân biệt, phiền não này chấm dứt !!!
• Dục ái phiền não trụ địa: Năm căn thân ham mê năm trần mà sinh phiền não. Sơ thiền đoạn phiền não này !!!
• Sắc ái phiền não trụ địa: Mê sắc thân mà sanh phiền não. Tứ thiền dứt phiền não này !!!
• Vô minh ái phiền não trụ địa: Tham đắm nghĩ suy, ham ưa vọng tưởng mà sinh phiền não. Thành tựu Tứ không định dứt chín phần, chứng Diệt thọ tưởng định chấm dứt toàn phần !!! Phiền não trụ địa gọi là Pháp tương ưng... Có nghĩa rằng, phiền não dứt thì tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh thì phiền não dứt !!!
- Vô minh trụ địa !!! Gồm ba phần, hai phần của hoặc giới nội, một phần của hoặc giới ngoại !!!
• Vô minh trụ địa của hoặc giới nội gồm Nhuận chi vô minh và Căn bản vô minh, hai thứ vô minh này thuộc về Sở tri chướng !!!
• Vô minh trụ địa hoặc giới ngoại là Vô minh trụ địa của Bất tư nghì biến dịch sanh tử, thuộc về Sở trí ngu !!!
Để dễ hiểu các thứ vô minh nói trên, ta có thể lấy ví dụ về quả trứng. Quả trứng gồm có ba phần cơ bản: Vỏ trứng, lòng đỏ và lòng trắng. Nhuận chi vô minh như lòng đỏ, Căn bản vô minh như lòng trắng, lòng đỏ và lòng trắng bị hư, quả trứng không thể nở ra con gà. Một chúng sanh, do hai thứ vô minh này làm cho tăm tối, hai thứ này chấm dứt, tăm tối của chúng sanh chấm dứt, tăm tối của chúng sanh chấm dứt Thánh trí sẽ hiện !!!
Thánh trí đã hiện nhưng chưa thể thoát ra khỏi cái ngu ba thừa... Giống như quả trứng đã hư, nhưng bản thân cái vỏ hãy còn, cái vỏ hãy còn chính là Vô minh trụ địa hoặc giới ngoại, chính cái vỏ này là lớp ngăn che bên ngoài làm cho ba thừa không thấy được thiệt tướng vạn pháp...!!! Đây là hình ảnh, "con ếch mắt sáng" ngồi dưới đáy giếng, thế giới đối với con ếch không lớn hơn cái giếng, muốn biết tướng chơn thật của thế giới, con ếch phải ra khỏi cái giếng !!! Thánh trí muốn thoát ra khỏi cái hạn hẹp của ba thừa để thành tựu Phật trí, phải phá bỏ lớp vỏ cuối cùng của Sở trí ngu, gọi là ra khỏi “Vô minh trụ địa hoặc giới ngoại” !!!
• Nhuận chi vô minh: Tiền ngũ thức mù tối. Dứt tập, hết vô minh này !!!
• Căn bản vô minh: Ý thức mù tối. Chứng diệt, hết vô minh này !!!
• Vô minh trụ địa: Trí tuệ bị che lấp bởi Sở trí ngu. Thành tựu Đạo đế, hết cái ngu này !!! (Trích Tâm Tông Và Trò Chơi Trí Tuệ - Lý Tứ - NXB Dân Trí - HaNoiBooks phát hành 2022) !!!
Về câu hỏi của Như Nguyện:
“Vậy một người tu hành giải quyết nguồn tâm rốt ráo bất động đã giải quyết được vô minh chưa. Tu hành đến mức nào mới có thể giải quyết được vô minh..???”
Mình xin trả lời như sau:
Vô minh có ba phần gồm: Nhuận chi vô minh, Căn bản vô minh và Vô minh trụ địa !!! Người tu hành thành tựu Bất động (chứng Diệt đế), chỉ giải quyết Nhuận chi vô minh và Căn bản vô minh…Đến khi nào, người này thành tựu viên mãn Nhất thiết trí (viên mãn Đạo đế) mới giải quyết xong Vô minh trụ địa…!!!
Kinh Thắng Man dạy: “Bạch Thế Tôn! Hằng hà sa số pháp mà Bồ đề Như Lai và Trí Kim Cang của Phật nên đoạn, tất cả đều y trì nơi Vô minh trụ địa mà kiến lập. Thí như tất cả hạt giống và rừng cây đều y nơi đại địa mà được sanh trưởng. Nếu đại địa hoại thì những thứ kia cũng hoại theo. Cũng vậy, hằng hà sa số tất cả pháp mà Bồ Đề và Trí Kim Cang của Phật nên đoạn, tất cả đều y nơi vô minh trụ địa mà sanh trưởng. Nếu vô minh trụ địa ấy đoạn thì hằng hà sa số tất cả pháp mà Bồ Đề và Trí Kim Cang của Phật nên đoạn cũng đoạn theo”. (Trích kinh Thắng Man) !!!
Như vậy ta có thể hiểu:
Thanh văn, Duyên Giác và Bồ tát quyền thừa muốn đoạn dứt Vô minh trụ địa, phải phát tâm Vô thượng Bồ đề vào Nhất thừa (Phật thừa) cầu học trí tuệ !!! Đoạn kinh sau nói rõ điều này như sau:
“Vì Thanh văn và Độc giác đều nhập Đại thừa, mà Đại thừa chính là Phật thừa. Cho nên Tam thừa chính là Nhất thừa. Chứng Nhất thừa thì được A Niệu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. A Niệu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề chính là Niết bàn. Nói Niết bàn tức là pháp thân Như Lai thanh tịnh. Chứng pháp thân chính là chứng Nhất thừa, không khác Như Lai, không khác pháp thân. Nói Như Lai chính là pháp thân. Chứng cứu cánh pháp thân là chứng cứu cánh Nhất thừa. Chứng cứu cánh Nhất thừa thì lìa tương tục”. (Trích kinh Thắng Man) !!!
Như Nguyện và bạn đọc thân mến !!!
Trình bày ở trên, chỉ là những gì được coi cơ bản nhất của bốn phiền não và ba vô minh !!!
Để hiểu hết các thứ ấy, để đoạn trừ tận gốc, để đạt được Trí tuệ tối hậu…vv…cần có cơ sở giác ngộ vững chắc, nền tảng tri kiến thâm sâu và công hạnh giáo hoá dài lâu !!! Hy vọng, phần trả lời sẽ là món quà cuối năm, giúp Như Nguyện và bạn đọc nghiền ngẫm đêm trừ tịch, đón giao thừa, chào năm mới Quý Mão nhiều niềm vui cùng thành tựu như nguyện !!!
Rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!! Chúc mọi người an vui, tinh tấn !!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau:
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn !!!
21/01/2023
LÝ TỨ
- CHỢ LONG XUYÊN SÁNG 30 TẾT QUÝ MÃO !!!












Tam Giải Thoát Môn
Chuyên mục Lý Tứ Hỏi Đáp Số 01.2023 trả lời câu hỏi của bạn đọc liên quan tới chủ đề Tam Giải Thoát Môn.
Các bạn !!!
Trong tuần, BQT Website LyTu.Vn có nhận được câu hỏi của bạn Lã Trọng Khiêm từ địa chỉ: yunotc@gmail.com !!! Nội dung câu hỏi như sau:
Người hỏi: Lã Trọng Khiêm
Email: yunotc@gmail.com
Câu hỏi:
Thưa thầy Lý Tứ, tôi thường xuyên nghiên cứu giáo pháp và đã nhiều lần đọc qua trang của thầy, trong một số bài viết tôi có thấy nhắc đến khái niệm "Tam giải thoát môn" gồm: Không, Vô tướng, Vô tác. Nhưng khi đọc tụng kinh điển, nhiều lúc tôi lại thấy khái niệm: "Không, Vô tướng, Vô nguyện". Thưa thầy, hai khái niệm trên giống nhau đến 2/3 chỉ khác ở chỗ tác và nguyện. Vậy "Vô Tác" và "Vô Nguyện" khác nhau hay giống nhau. Nếu giống nhau tại sao lúc Phật dạy "Vô tác" lúc thì lại nói "Vô nguyện". Kính mong thầy từ bi giảng nói cho !!! Trân trọng ./-
Trọng Khiêm thân mến !!!
Trong Phật đạo, người tu hành muốn thành tựu cảnh giới giải thoát, phải mở ba cánh cửa sau:
- Không môn (Srt. Sunyata)
- Vô tướng môn (Srt. Animittata)
- Vô tác môn/ Vô nguyện môn (Srt. Apranihitata)
Vì đây là các “cánh cửa xuất thế” nên, chỉ cần mở một cánh trong ba cánh cửa nói trên, lập tức hai cánh cửa còn lại sẽ tự mở do “tính chất vô vi” của “đạo xuất thế” !!! Vì rằng, cho dù ba hay nhiều cánh cửa hơn thế, cũng chỉ xuất phát từ một nguồn tâm mê hay ngộ mà thôi !!! Người xưa minh hoạ điều này bằng câu nói mang tính quyết định: “Nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất”… Câu này có nghĩa, một (giải thoát) là tất cả (giải thoát), tất cả (giải thoát) là một (giải thoát)…!!!
Trong ba cánh cửa ấy, cửa thứ ba có khi được dịch (hay viết) là Vô tác môn, có khi được dịch là Vô nguyện môn !!! Theo thiển ý của mình, về mặt văn tự ta thấy hai cách dịch này có chút sai khác, nhưng trong sâu thẳm lại có chỗ tương đồng về ý nghĩa, hay khác hơn đây chính là “hai biểu hiện trong một cảnh giới” !!!
Vô tác là không tạo tác, không làm (ra) điều gì !!! Vô nguyện là không mong cầu, không ham muốn !!! Nói rằng hai cách nói trên có sự tương đồng về ý nghĩa, bởi lẽ khi tâm ý đạt đến cảnh giới an nhiên Vô tác (không còn thi vi tạo tác) thì đó cũng là lúc tâm ý chẳng còn mong cầu (Vô nguyện) !!! Hoặc ngược lại, khi tâm ý đã Vô cầu vô nguyện thì cũng là lúc tâm ý Vô tác vô hành !!! Theo mình, hai cách nói được Trọng Khiêm đề cập trong email chỉ là việc “khác ngữ nhưng đồng nghĩa” !!!
Hy vọng, giải thích vừa rồi có thể giúp Trọng Khiêm và bạn đọc thích thú hơn trong cách mô tả cảnh giới qua ngôn ngữ của người xưa !!!
Rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!! Chúc mọi người an vui, tinh tấn !!!
- Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau: [http://bit.ly/2K0aWfn]
- Hoặc đặt câu hỏi trực tiếp từ Website LyTu.Vn !!!
16/01/2023
LÝ TỨ

Đầu Năm 2023 Nói Chuyện Bố Thí !!!
Mấy hôm nay, mình nhận được một số thắc mắc về “bố thí” trong Phật đạo của một vài huynh đệ. Những thắc mắc này cũng là tâm trạng chung của nhiều người. Mình xin đặt thắc mắc này thành câu hỏi gởi đến các bạn, để mọi người trao đổi thảo luận.
Các bạn !!!
Tối hôm nay, trong buổi sinh hoạt trực tuyến đầu tiên của năm 2023... Mình sẽ trao đổi với các bạn một số nội dung chính sau đây:
1) Chào mừng năm mới, gởi lời thăm hỏi đến một số HĐ Lý Gia bệnh nặng (Chị Bốn, Chị Thịnh Sen, Anh Khánh) !!!
2) Sơ lược quá trình phát triển Lý Gia từ 2009 đến nay (báo cáo mức độ tăng trưởng) !!!
3) Lên kế hoạch cho năm 2023, trong đó chú trọng đến nhân sự và công tác đào tạo trên tinh thần "số lượng phải đi đôi với chất lượng"!!!
4) Trao đổi, phân tích, đánh giá... các câu hỏi và trả lời của HĐ trong hai bài viết đăng trên Fanpage Lý Tứ gồm Trà Đàm Ngày Chủ Nhật và Các Câu Hỏi Lí Thú !!!
5) Một vài góp ý về việc học tập !!!
6) Bắt đầu triển khai nội dung cuốn Vô Đối Môn !!!
7) Thảo luận chung !!!
Trong lúc soạn đề cương cho buổi sinh hoạt, mình đọc được bài viết của Lý Thu Thuỷ đăng trên trang Lý Gia nói về việc bố thí...Bài viết này được in trong cuốn Tâm Tông Và Trò Chơi Trí Tuệ do Thuỷ đánh máy và đăng lại...!!!
Xét thấy, đây là đề tài hay, mình xin chuyển đến mọi người toàn văn bài viết này !!!
03/01/2023
LÝ TỨ
Các bạn !!!
Mấy hôm nay, mình nhận được một số thắc mắc về “bố thí” trong Phật đạo của một vài huynh đệ. Những thắc mắc này cũng là tâm trạng chung của nhiều người. Mình xin đặt thắc mắc này thành câu hỏi gởi đến các bạn, để mọi người trao đổi thảo luận. Các câu hỏi như sau:
Câu hỏi TCTT 2016/04 – Luận về … “Bố Thí”.
1) Kinh nói đại ý: “Bồ tát không trụ tướng khi thực hành bố thí thì phước đức nhiều vô kể”. Tại sao kinh không nói khi Bồ Tát bố thí như thế, công đức nhiều vô số mà lại nói phước đức nhiều vô số ???
2) Nếu bồ tát không thấy trụ bốn tướng (ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả) thì làm sao biết được có người xin mà bố thí ???
3) Kinh dạy: “Nếu có những kẻ nam người nữ lòng lành, thọ trì dù chỉ bốn câu kệ trong kinh này, vì người khác giảng nói, phước đức này hơn cả phước đức bố thí kia.” Xin hỏi, do nghĩa nào mà Phật nói điều trên ??? (giảng nói kinh Kim Cang thù thắng hơn bố thí các thứ khác)
Rất mong nhận được câu trả lời minh bạch của HĐ (04-06-2016)
- Gợi ý TCTT 2016/04 – Luận về “Bố thí”
Các bạn !!!
Thông thường khi nói đến công đức và phước đức, người tu hành hay nghĩ đến công đức cao hơn phước đức. Điều này chỉ đúng với thế gian pháp.
Trong đạo xuất thế, công đức và phước đức đồng thanh tịnh vô vi như nhau, nên công đức và phước đức không phải là hai pháp (bất nhị). Phật là đấng có đầy đủ hai món phước đức và trí tuệ, Phật là đấng tôn quý nhất trong các loài có hai chân (chư thiên và loài người) về phước đức và trí tuệ nên gọi là Lưỡng Túc Tôn. Vì thế, phước đức có “phước đức hữu lậu” và “phước đức vô lậu”.
- Phước đức hữu lậu do trụ tướng mà bố thí, nên nó nằm trong hạn lượng của cân, đong, đo, đếm.
- Phước đức vô lậu do không trụ tướng bố thí, tức bố thí ba la mật nên nó chính là công đức, gọi là phước đức xuất thế. Phước đức này thanh tịnh vô vi, ra ngoài hạn lượng, suy lường của thế gian, vì thế kinh nói vô số kể, hoặc không thể toán số thí dụ.
Trong kinh Kim Cang, phần lớn nói về phước đức vô lậu mà không nói nhiều đến công đức. Theo ý kiến cá nhân của mình, có lẽ đây là điều cốt lõi của kinh này, một trong những hình thức xóa bỏ quan niệm cao thấp về công đức và phước đức của Nhị Thừa cùng thế gian, để tiến về Bồ Tát Đạo, mà điển hình là ngài Tu Bồ Đề, một vị thánh tăng có danh hiệu Đệ Nhấ Nghĩa Không (lấy nghĩa không làm cứu cánh).
Nhị thừa chỉ lo tu hành để thành tựu công đức mà quên nghĩ đến chuyện bố thí pháp tức pháp thí để thành tựu phước đức vô lậu như các Bồ Tát. Bởi lẽ, thí pháp là đầu mối phát sanh trí tuệ, nó là lực dụng của cỗ xe Đại Thừa, trí tuệ càng cao, phước đức càng lớn, như Phật và các đại Bồ Tát là ví dụ, vì thế kinh nói “phước đức này hơn cả phước đức bố thí kia”. Các bạn có thể tìm thấy điều này trong phần nói về ngài Đại Thông Trí Thắng của kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Các bạn !!!
Đọc một số kiến giải trả lời từ một số HĐ làm mình phấn khởi. Giác ngộ đã giúp các bạn có một đôi mắt sáng, từ đó thấy rõ thâm ý của kinh và nhìn ra được sự khác biệt giữa thế gian và đạo xuất thế. Khi nào chưa có đôi mắt sáng, chưa thấy được chỉ thú cũng như thâm nghĩa của kinh, chừng ấy hãy còn mò mẫm trong bóng tối mù lòa … không thể ra khỏi sự lẫn lộn nhập nhằng giữa thế gian và xuất thế (đời và đạo).
(06-06-2016)
(Tham khảo) Cảm nhận TCTT 2016/04 – Luận về “Bố Thí”
(01) Cảm nhận TCTT 2016/04 – Luận về “Bố thí”. (Lý Anh Lạc)
Thưa thầy! Con xin trả lời ba câu hỏi:
Trả lời câu hỏi 1: Một vị tu hành trong phật đạo khi đã giác ngộ vô lậu tâm, đối với vị này phước đức và công đức không phải là hai. Vì sao không phải là hai? Vì phước đức vô lậu và công đức là pháp không hai. Phước đức, có phước đức thế gian và phước đức xuất thế gian.
- Phước đức thế gian: Trụ nơi thiện thế gian (tướng) mà hành bố thí, nên phước đức đó là hữu hạn và hữu lậu (có phiền có não, không thanh tịnh)
2. Phước đức xuất thế gian: Không trụ tướng khi thực hành bố thí, nên gọi là bố thí Ba La Mật. Vì không trụ tướng khi thực hành bố thí, nên phước đức là vô hạn, vô lậu, vô vi. Vì vô hạn nên gọi là phước đức nhiều vô số kể. Cho nên khi Bồ Tát thực hành Bố Thí Ba La Mật, luôn xuất phát từ Tâm Ba La Mật (công đức). Vì thế nên nói công đức và phước đức không phải là hai.
Trả lời câu hỏi 2: Ví như mặt hồ một khi không bị lay động người mắt sáng sẽ nhìn thấy rất rõ bóng cây, ánh mặt trời soi trên mặt hồ. Bồ tát không trụ bốn tướng, tâm ví như mặt hồ không lay động, tánh biết như đôi mắt sáng, nhất định nhìn thấy mọi vật. Vì thế, bồ tát không trụ bốn tướng sẽ thấy rất rõ, không sanh các quan niệm dựa vào tướng mạo để bố thí mà thôi, chứ không phải không thấy không biết.
Trả lời câu hỏi 3: Phước Đức thế gian: Bố thí nhiều thì được phước báo nhiều, bố thí ít thì được phước báo ít, gọi là có hạn lượng.
Phước Đức xuất thế gian: Bồ tát bố thí pháp, giúp người thanh lọc thấy nghe, ra khỏi mọi quan điểm trói buộc, thành tựu giải thoát, đưa đến trí tuệ, được Kim Cang Tâm. Vì thế kinh nói: “Phước Đức này hơn cả phước đức bố thí kia”.
Kinh này cũng nói: “Hết thảy chư Phật và giáo pháp Vô thượng Đẳng Chánh Giác của các ngài đều từ kinh này mà ra”. Vì thế, thấu suốt kinh này rồi “vì người” mà giảng nói là thù thắng bậc nhất, là tối thượng thí trong các loại bố thí.
Kính thầy chỉ dạy thêm, con chúc Thầy luôn khỏe luôn vui. Con.
(02) Cảm nhận TCTT 2016/04 – Luận về “Bố Thí” (Lý Thiện Huệ)
Thầy kính! Con xin trình bày thấy biết của con về câu hỏi.
Trả lời câu hỏi 1: Trong Phật đạo, Phước Đức có hai: Phước Đức hữu lậu, Phước Đức vô lậu.
- Phước Đức hữu lậu: Là những lời nói, việc làm phước thiện mang lại lợi ích, an vui hạnh phúc cho người cho chúng sanh: Như bố thí, cúng dường, giúp đỡ người nghèo, thương yêu động vật, bênh vực người tốt, chỉ ra chỗ sai của kẻ xấu. Tâm, ý hành động theo thiện nghiệp, bao gồm biệt nghiệp và cộng nghiệp. Tất cả hành động như thế đều cho ra kết quả chung là phước đức.
- Phước Đức vô lậu (công đức): Là tất cả việc làm của vị tu hành được phát sinh từ một nguồn tâm trong sạch, tịch diệt, thanh tịnh, giải thoát, vô sở trụ mà thành việc bố thí. Tâm Ba La Mật sẽ phát sinh công đức, có trí tuệ là có công đức.
- Vì vậy đoạn kinh: “Bồ Tát không trụ tướng khi thực hành bố thí, thì phước đức nhiều vô số kể” cho chúng ta hiểu ý nghĩa của Phước Đức mà Phật muốn tuyên thuyết là “Phước Đức vô lậu hay cũng được gọi là Công Đức”. Vì Công Đức không có hạn lượng nên không thể cân đong đo đếm được (nhiều vô số kể).
- Trả lời câu hỏi 2: Nếu tâm vị bồ tát còn thấy trụ bốn tướng (ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả) mà làm việc bố thí thì chẳng thể gọi là Bồ Tát, vì trong Tâm còn vướng mắc bốn hành tướng hay còn gọi là hữu lậu tâm. Vì vậy, Bồ Tát khi làm việc bố thí tâm nên vô sở trụ, tức chẳng trụ nơi sắc, thanh, hương vị xúc pháp mà … thí.
- “Tâm vô lậu”, điều này có nghĩa rằng “Tâm” vị này hoàn toàn trong sạch, thanh tịnh, sáng suốt, giải thoát không có vướng mắc nơi các quan niệm về sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà làm việc bố thí … Chứ không phải không thấy người thí, không biết vật, việc mình sắp thí. Bồ Tát làm việc gì đều thấy rõ, biết rõ nhưng tâm không hề có quan niệm chấp trước, không vướng mắc vào tướng, pháp tướng, phi pháp tướng.
- Trả lời câu hỏi 3: Theo con, do nghĩa xuất thế gian mà Phật nói “phước đức này hơn cả phước đức bố thí kia”. Vì nếu có người nam người nữ lòng lành, nghe được bốn câu kệ, hoặc nhiều hơn ứng dụng tu hành như nghĩa, thành tựu như Pháp, thì công đức người đó vô lượng vô biên, không thể tính đếm được. Vị tu hành này từ bi, vì người giảng nói thì Công đức này còn hơn nhiều Phước đức bố thí của thế gian.
- Xin thầy từ bi chỉ dạy thêm! Con chúc thầy thật nhiều sức khỏe, trụ thế dài lâu để cho chúng con thêm nhiều lợi ích. Vạn lạy tạ ân đức thầy dạy dỗ chúng con. Con!
(Trích sách Tâm Tông, thầy Lý Tứ).






Bốn Pháp Giới !!!
Phật đạo chỉ nói đến mười pháp giới của hữu tình…
Các bạn !!!
Trong tuần, chuyên mục “Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời” nhận được câu hỏi của bạn đọc Thành Tân !!! Bạn ấy thắc mắc như sau:
"Xin thầy từ bi giảng giải rõ nghĩa:
Bốn Pháp Giới: Lý pháp giới - sự pháp giới - lý sự vô ngại pháp giới - sự sự vô ngại pháp giới ?
Xin tri ân Thầy.” 20/11/2022 - 23:59:05 - Thành Tân
Bạn đọc Thành Tân thân mến !!!
Bốn pháp giới mà bạn nêu trong câu hỏi, là cách phân tích, làm rõ mối liên hệ giữa sự (hiện tượng) và lý (bản chất) của thế giới tự nhiên theo quan điểm của Hoa Nghiêm Tông mà cụ thể là, do Đại sư Đỗ Thuận (558-640), tổ sáng lập ra Hoa Nghiêm tông đề xướng, chứ không phải giáo pháp của Phật giáo chính thống !!!
Vì rằng, bốn pháp giới chỉ là quan điểm của một tông phái chứ không thuộc giáo pháp chính thống, nên ở đây mình không luận bàn chuyện đúng sai, sâu cạn của vấn đề… Vì, mình không phải là người của Hoa Nghiêm Tông, cũng không chịu ảnh hưởng của tông này !!! Cho nên, chúng ta chỉ căn cứ vào “câu từ” của các điều trên (4 pháp giới) để giải thích ý nghĩa của các câu từ đó trên bình diện văn tự theo quan điểm giáo pháp chính thống !!! Mong Thành Tân thông cảm !!!
Trước khi phân tích “ý nghĩa văn tự” của bốn pháp giới là lý pháp giới, sự pháp giới, lý sự vô ngại pháp giới và sự sự vô ngại pháp giới… Thiết nghĩ, chúng ta cũng nên tìm hiểu ý nghĩa của hai từ pháp giới theo quan điểm của Phật đạo !!!
“Pháp giới: Tiếng Phạn là Dharma-dhãtu. Tiếng Pãli là Dhamma-dhãtu. Âm Hán là Đạt ma đà đô, chỉ cho tất cả đối tượng (cảnh giới sở duyên) của Ý Thức, một trong 18 giới…” (theo Wikipedia) !!!
Như vậy ta có thể hiểu, pháp giới hay cảnh giới là "giới hạn nhận thức" khi căn, trần tiếp xúc (ba duyên hoà hiệp)…!!! Chính sự sai khác trong nhận thức khi căn trần phối ngẫu, nên Phật đạo đã chỉ ra sự sai khác từ nhận thức này có đến mười cảnh giới (pháp giới, quan niệm, nhận thức…) khác nhau, ta hay gọi nôm na là mười pháp giới gồm: Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh, A tu la, Người, Trời, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, Phật….!!!
Điều này có nghĩa, cùng một sự vật, sự việc, hình tướng…vv…do nhận thức sai khác, nên khi căn trần xúc đối, lại cho ra mười loại nghĩ suy, quan điểm, quan niệm, nhận thức, thấy biết khác nhau…!!! Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Phật cũng dạy: “Đồng một sông Hằng, ngạ quỷ thấy đó là lửa, chư thiên thấy đó là lưu ly, người thấy đó là nước…” Chính sự thấy biết cùng nhận thức sai khác này nên tâm thức mỗi loài cũng thọ nhận khổ vui khác nhau theo pháp giới hay cảnh giới của riêng loài đó…!!!
Căn cứ vào những giải thích ở trên, ta có thể tạm hiểu bốn pháp giới mà bạn hỏi như sau:
-Sự pháp giới: Sự là sự vật hiện tượng, sự việc, hình tướng, thế giới, quan niệm…vv…những thứ do sáu giác quan gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý xúc đối !!!
Những đối tượng này, tự thể không phải là một pháp, và cũng không tự sinh pháp nên bản chất của nó rỗng không, đủ duyên thì thành, hết duyên thì hoại (không tánh)… !!! Kinh Đại Niết Bàn, Phật dạy: “Ta dùng Phật nhãn quán sát hết thảy địa đại, sông ngòi, tinh tú, nhật nguyệt, hữu tình, vô tình…vv…không một pháp có được…” !!! Theo lời dạy này và những phân tích ở trên thì, cái được gọi là “sự” vĩnh viễn sẽ "không là pháp giới” vậy !!!
-Lý pháp giới: Lý là lý tính, là bản chất của các sự (hiện tượng) ấy !!! Theo quan điểm của Phật giáo, thế giới do duyên hình thành, hết duyên tự hoại theo quy luật “thành, trụ, hoại, không”…Tâm và các pháp vô thường, vô ngã… chỉ do ba duyên hoà hiệp, thay đổi theo quy luật “sanh, trụ, dị, diệt”…Thiệt tướng của nó là không tánh, không tướng, không pháp...!!! Vì thế, cái được gọi là “lý” không phải là “pháp giới”, và vĩnh viễn không thể trở thành “pháp giới” !!!
Xét tột cùng ý nghĩa của hai thứ “sự và lý”, ta mới thấy rằng: Do bản chất không tánh, không tướng, không pháp…vv…trong tận cùng sâu thẳm “lý” !!! Nhưng, sở dĩ ta thấy có “sự” là do quá trình ba duyên “căn, trần, thức” phối ngẫu trong điều kiện mê muội, nên lầm tưởng rằng các thứ ấy là “pháp giới”… Từ đó, ta có thể suy ra: “Lý sự vô ngại” và “Sự sự viên dung vô ngại” là tính chất tự nhiên của thân tâm và thế giới thành, hoại, hợp, tan theo quy luật “duyên sinh” chứ không phải “pháp sinh” bởi bản chất không tánh, không tướng, không pháp…!!! Cho nên, vĩnh viễn bốn món “lý, sự, lý sự vô ngại và sự sự viên dung vô ngại” không phải là “pháp giới” !!! Khi nào, thấy lí và sự “là pháp giới”, cần coi lại cái thấy này !!!
Tóm lại, Phật đạo chỉ nói đến mười pháp giới của hữu tình…Vì rằng, tâm thức mỗi loài sai khác nên cho ra nhận thức (pháp giới) sai khác….Còn bản chất của thế giới, sự vật, sự việc, hiện tượng…vv…(vô tình) tự nó không phải là một pháp nên không có cái được gọi là “pháp giới” trong chính nó !!!
Hy vọng các giải thích ở trên có thể giúp Thành Tân và bạn đọc nhận ra điều gì đó ở “thế giới tự nhiên” (sự) và bản chất hay thiệt tướng (lý) từ thế giới tự nhiên ấy theo quan điểm Phật giáo chính thống !!!
Rất mong nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!! Chúc mọi người an vui, tinh tấn !!!
Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau
28/11/2022
LÝ TỨ
- THẾ GIỚI TỰ NHIÊN BẢN CHẤT KHÔNG PHÁP VÀ KHÔNG TỰ SINH PHÁP NÊN VĨNH VIỄN KHÔNG TRỞ THÀNH PHÁP GIỚI !!!

Bốn Bệnh Của Viên Giác
Con đường Giác ngộ là con đường không có bóng dáng của bốn thứ bệnh: nhậm, tác, chỉ, diệt!
Các bạn !!!
Rất lâu rồi, chuyên mục “Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời” không nhận được bất kì một câu hỏi nào của bạn đọc gởi về !!!
Chiều nay, rất bất ngờ, mình nhận được câu hỏi của một bạn đọc có tên là Tĩnh Thức !!! Theo thời gian hiển thị trên máy, câu hỏi được gởi đi vào lúc 12:24:40 ngày 20/10/2022, mãi đến hôm nay là ngày 14/11/2022 mới nhận được !!! Có nghĩa, phải mất đến 24 ngày, việc gởi nhận mới hoàn thành !!! Trục trặc kĩ thuật này không biết vì lí do gì, mặc dù trước đây chỉ cần các bạn bấm nút gởi là mình nhận được ngay !!! Thành thật cáo lỗi vì sự chậm trễ nói trên !!!
Nội dung các câu hỏi, bạn đọc Tĩnh Thức viết như sau:
“Chào thầy Lý Tứ
Tôi xem qua mục bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời của các bạn Minh Quân, Ngọc Tới về bốn bệnh: Nhậm, tác, chỉ, diệt mà trong kinh Viên Giác có đề cập tới. Tôi xem kinh Viên Giác cũng có nhắc tới nhưng tôi cũng không hiểu mấy, vậy tôi xin thầy giải thích rõ hơn làm thế nào để trị bốn bệnh nêu trên !!!
Kính thầy và rất mong sự hoan hỷ của thầy phản hồi sớm!" 20/10/2022 - 12:24:40 - Tĩnh Thức
Tĩnh Thức thân mến !!!
Để có thể trả lời câu hỏi của bạn, đầu tiên chúng ta cần xác định hai vấn đề quan trọng của Phật đạo đó là:
1) Mục tiêu của Phật đạo là gì ???
2) Làm thế nào để đạt được mục tiêu đó ???
Như mọi người đều biết, mục tiêu của Phật đạo nhằm giúp người thoát ra khỏi mọi trói buộc của Thế gian đạo (giải thoát) và thành tựu Trí tuệ tối thượng (của Phật đạo) !!! Để có thể đạt được hai mục tiêu này, người học tập trong Phật đạo phải thông qua con đường Giác ngộ !!! Giác ngộ đến khi nào không còn gì để Giác ngộ nữa, Phật đạo gọi cảnh giới này là Viên Giác (Giác ngộ viên mãn) !!!
Muốn Giác ngộ viên mãn, phải thực hành viên mãn hai phần việc quan trọng là Tự giác (Giác ngộ cho mình) và Giác tha (giúp người Giác ngộ) !!! Như vậy, ta có thể hiểu, mọi cảnh giới (hay mọi đạo quả) trong Phật đạo đều hình thành từ Giác ngộ và kết thúc bằng Giác ngộ, không có con đường khác !!! Đây là lí do vì sao Phật đạo có tên là Đạo Giác Ngộ !!! Và Phật lại có danh xưng là Bậc Đại Giác hay Chánh Đẳng Chánh Giác !!!
Nói như vậy, để thấy rằng, Giác ngộ đóng vai trò quan trọng trên con đường học tập !!! Giác ngộ chính là ngọn đèn giúp người học tập soi sáng đường đi của mình !!! Do đó, tự mình Giác ngộ (Tự giác) và giúp người Giác ngộ (Giác tha) chính là hai công cụ đặc biệt của Phật đạo, là hai cung đường dẫn người tu học thành tựu ba mục tiêu của Phật đạo đề ra, đó là: GIÁC NGỘ - GIẢI THOÁT - TRÍ TUỆ !!!
Tuy con đường dẫn đến cảnh giới Viên Giác là như thế, tức phải do Giác ngộ chứ không do bất kì con đường nào khác !!! Thế nhưng, vì lí do nào đó, có rất nhiều vị tu hành không thể tìm thấy “ánh sáng Giác ngộ” để tự giúp mình và giúp người !!! Từ đó, họ dùng các loại phương tiện không bắt nguồn từ sự Giác ngộ để mong chiếm lĩnh cảnh giới Giác ngộ !!! Tất nhiên, con đường này sẽ không thể giúp ta thành tựu mục tiêu kia vì tính nhân quả của nó !!!
Để cảnh báo “các lối rẽ không đưa đến Giác ngộ” mà một số người học tập Phật pháp mắc phải, Kinh Viên Giác đã chỉ ra “bốn thứ bệnh” người tu hành “cần phải tránh xa” nếu muốn thể nhập Viên Giác của Chư Như Lai, bốn thứ bệnh đó là:
1- Bệnh nhậm: Nhậm hay “mặc kệ” !!! Bệnh của những người lười tư duy, không có ý chí tiến thủ, phó mặc cho số mệnh… Người mắc bệnh này, có suy nghĩ gần giống với “Tự nhiên luận” của ngoại đạo… !!!
2- Bệnh tác: Tác là tạo tác, làm ra !!! Bệnh của những người “nương nhờ vào một sở pháp” hay “lập một hạnh” để điều phục tâm ý !!! Họ mong muốn với sở pháp hay hạnh này có thể giúp ta thành tựu điều gì đó trong Phật đạo !!!
3- Bệnh chỉ: Đình chỉ, dừng mọi duyên !!! Bệnh của những người dùng ý chí hoặc cố tình xa lánh ngoại duyên để “đình chỉ thấy nghe”, bằng cách “phong bế các căn”…!!!
4- Bệnh diệt: Dứt, diệt !!! Bệnh của những người huỷ diệt ý thức, triệt tiêu niệm khởi…!!!
Tóm lại, Phật đạo là đạo Giác ngộ !!! Mọi cảnh giới trong Phật đạo đều bắt nguồn từ Giác ngộ và kết thúc bằng Giác ngộ !!! Muốn Giác ngộ phải học tập và thể nhập các cảnh giới đã giác hiện hữu trong chính tâm trí này thông qua “sự bùng vỡ” tâm thức (gọi là ngộ), chứ chẳng phải tìm kiếm các cảnh giới ấy từ một biện pháp nào đó !!!
Vì thế, chúng ta không cần phải “trị bốn bệnh” vừa nêu như những gì Tĩnh Thức đã hỏi, mà cần nhất là, chúng ta mau mau tìm cho mình con đường Giác ngộ !!! Và, con đường Giác ngộ là con đường không có bóng dáng của bốn thứ bệnh nêu trên !!!
Hy vọng, những gì đã trả lời có thể giúp Tĩnh Thức và bạn đọc nhận ra trong quá trình học tập có mắc phải một bệnh nào đó trong bốn bệnh nhậm, tác, chỉ, diệt hay không !!!???
Chúc mọi người an vui, tinh tấn !!! Rất mong nhận được nhiều câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!!
Các bạn có thể gửi câu hỏi theo đường link sau
14/11/2022
LÝ TỨ
