Hai Anh Quảng Nôm Bàn Về .. Xây Dựng

B: Tau hỏi mi, cái mà mi gọi là cành nhánh của giáo pháp như, chùa to, Phật lớn, người tu đông đúc, lễ lạt hoành tráng, v.v... Có lợi ích chi cho giáo pháp hay không?
A: Theo nhận xét của tau, những thứ nớ chẳng những có nhiều lợi ích, mà là lợi ích không nhỏ trong giáo pháp?
B: Những lợi ích đó là thứ chi? Mi có thể kể ra được không?
A: Nhìn vào những thứ nớ, mình có thể thấy, xã hội đã gởi gắm niềm tin không nhỏ vào giáo pháp. Niềm tin ni, không phải dể kiếm mô!
B: Trước niềm tin như rứa, ta phải làm chi?
A: Người ta đã gởi cho mình niềm tin, mình phải có bổn phận biến niềm tin đó thành lợi ích thật sự cho họ. Nếu không làm được điều ni, một ngày không xa, khi niềm tin phai lạt, chính những người gởi gắm niềm tin, sẽ là những người quay lưng bỏ đi đầu tiên!
Giống như người bệnh, tin ông thầy thuốc. Sau một thời gian chữa trị, bệnh tình không thuyên giảm, liệu bệnh nhân có còn tin ông thầy hay không? Vả lại, niềm tin là thứ có thể đổi thay, đổi thay vì nhiều lí do. Trong đó, lý do chính, vẩn là lợi ích! Giống như một ông thầy thuốc nổi tiếng, tất nhiên vì có tiếng nên nhiều người đến trị bịnh, nhưng nếu ông thầy đó chữa trị không như tiếng tăm đồn thổi, quảng cáo, người ta sẽ đi kiếm ông thầy khác. Đây là đạo lí tự nhiên ở đời!
B: Muốn làm được như rứa, phải thực hiện điều chi trước?
A: Phải xem người ta đến với mình là vì cái chi?
B: Theo mi, người đời đến với Phật giáo là vì cái chi?
A: Người đời đến với Phật giáo bằng nhiều lí do.
− Thứ nhất, họ đến với Phật giáo vì biết rằng giáo pháp của Đức Phật giải quyết được khổ đau cho họ.
− Thứ hai, họ đến với Phật giáo, vì trong thực tế cuộc sống có nhiều việc mà tự thân họ bất lực. Có khi, hiểu nhầm nổi khổ do một thế lực siêu nhiên nào đó tạo nên, chỉ có Đức Phật mới giúp họ được. Do hiểu biết như rứa mà họ đến với Phật giáo!
− Thứ ba, có nhiều người coi Phật như một đấng thần linh. Họ đến để cầu tài lộc, cầu bình an, cầu thay đổi thời vận, v.v...
Nói chung, khó có thể kể hết lí do người ta đến với Phật đạo. Nhưng cho dù người ta hiểu như thế nào, họ đến với Phật giáo với lí do gì, tất cả đều có mong ước được Phật giáo đáp đền niềm tin đó. Và Phật giáo có bổn phận, phải đáp đền xứng đáng niềm tin đó mới là Phật giáo! Còn không đáp đền được, vô hình trung Phật giáo chẳng khác chi đời!!!!!!!!!!
B: Nhưng, họ đến không bằng hiểu biết mà đến bằng niềm tin mù quáng, họ gởi gắm niềm tin mù quáng, không lẽ ta cũng giải quyết cho họ hay răng?
A: Theo tau, không thể bảo rằng họ mù quáng! Bởi rằng, đối với Phật đạo, khi chưa hết u mê, chưa được giác ngộ thì phải như rứa. Nếu họ là những người giác ngộ, sáng suốt, thông tuệ, thì họ đến với ta mà làm gì? Ngược lại ta phải đến với họ để cầu học mới phải chớ! Họ mù quáng, ta phải giải thích, điều chỉnh hiểu biết của họ, giúp họ trở thành sáng suốt, giúp họ giác ngộ đúng với tinh thần giáo pháp chớ! Đâu có thể để nguyên cái mù quáng, hay lợi dụng cái mù quáng của họ!
B: Theo mi, để giải quyết hết mớ bòng bong nguyên nhân nói trên. Phật giáo phải làm chi?
A: Phải không phụ niềm tin của xã hội và chính những người đã đến với Phật giáo! Muốn làm được điều ni không phải chuyện dể! Nhưng cũng theo tau, không dể không có nghĩa là không làm được!
Muốn làm được điều ni, phải sáng suốt, phải tỉnh táo, phải bỏ cái cá nhân xuống, bỏ tư lợi, phải biết đó không phải là chuyện của một ai, phải biết chuyện ni không thể giải quyết một lúc là được! Mà nó là cả một quá trình, nhiều giai đoạn, nhiều nổ lực của nhiều người!
Cụ thể hơn, những ai còn tâm huyết với Phật đạo, còn tự coi mình là con Phật, bất kể Tăng hay tục, phải đồng lòng, phải học tập, phải tìm cho ra những phương thuốc hữu hiệu, phải thấy cho được hạn chế của bản thân. Nói chung, phải biết lắng nghe, phải quyết chí tu học và phải giác ngộ!
Tau nghĩ, nếu Phật giáo không giải quyết được cái ni, sớm hay muộn người ta cũng sẽ bỏ đi. Vì rằng, những thứ như mi kể mình làm được, đạo khác cũng làm được, những thứ nớ, thuần tuý là pháp thế gian, ai cũng có thể làm.
Vì thế, những người có tâm huyết với Phật đạo, phải học tập, phải nhìn cho ra cái ưu việt của Phật pháp là gì! Một khi nắm vững tính ưu việt của Phật đạo! Theo tau, chẳng những cái cây giáo pháp cành lá sum suê, mà cái gốc của nó cũng vững chãi hơn!
B: Nhưng mạt pháp là quy luật, làm răng thay đổi quy luật?
A: Quy luật chỉ có giá trị với đạo thế gian. Phật đạo là đạo xuất thế, đạo xuất thế không chịu quy luật thế gian. Cho nên, nếu thấu suốt được tính ưu việt của đạo xuất thế, ngay tại thời điểm mà thế gian cho là mạt pháp, những ai thấu suốt chân lí sẽ tự biết rằng Phật pháp không có mạt!
Phật pháp không mạt thì, chuyện làm cho cái gốc của cây giáo pháp ngày thêm vững chãi là chuyện có thể thực hiện được!
B: Ví dụ như tau với mi, những người tiếng nói nhỏ bé, không có trách nhiệm trong chuyện ni, nên làm việc chi cho phải?
A: Tau với mi, tiếng nói nhỏ bé là đúng, nhưng bảo rằng không có trách nhiệm trong chuyện ni là không đúng! Vì rằng, đã là Phật tử, mọi người đều có trách nhiêm. Giống như con một nhà, đứa lớn hay đứa bé đều có trách nhiệm với gia đình, chỉ khác ở vai trò và vị trí mà thôi!
B: Rứa, theo mi thì làm răng?
A: Mình làm theo sức của mình! Mình không làm được việc lớn, không có quyền quyết định thì có quyền phản biện! Có quyền chỉ cho những người có trách nhiệm thấy cái sai để họ điều chỉnh! Giúp họ tìm ra nguyên nhân, v.v...
Chỉ cái sai không đồng nghĩa với phá hoại, phản biện không đồng nghĩa với chỉ trích! Tất nhiên, phản biện, chỉ ra cái sai trên tinh thần xây dựng, là liều thuốc tuy có đắng, nhưng sẽ bổ ích! Tìm ra nguyên nhân, nhất định có cách chữa! Khi mô rảnh, mình sẽ nói chuyện tiếp! Tau về làm công chuyện nhà đây!
Có một điều mi cần ghi nhớ, đó là: “Cây mô cành nhánh sum suê, mà cái gốc không vững, sớm muộn chi cái cây nớ cũng ngả đổ”!!!
(08-05-2019)
Thông báo bài viết mới
Xin chào Quý Đọc Giả,
Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.
https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/hai-anh-quang-nom-luan-ban-nghia-mat-phap
Trân trọng,
Tán Thán Vô Đối Môn

Kính thưa NGÀI LÝ TỨ – Tác giả cuốn sách VÔ ĐỐI MÔN!
Kính thưa QUÝ ĐẠO HỮU!
Một duyên lành hy hữu và được coi là may mắn nhất trong cuộc đời tu tập của con, là bắt gặp được DIỆU PHÁP từ cuốn sách VÔ ĐỐI MÔN!
Quả thật! Diệu Pháp từ VÔ ĐỐI MÔN có thể giúp người “Dập tắt phiền não, soi sáng vô minh, chuyển biến tâm thức, thẳng đến Niết Bàn, Minh Tâm Kiến Tánh, dứt mê đặng Giác, quạt gió Giải Thoát, khai thông Trí Tuệ, biến ngu thành trí, ra khỏi trầm luân, đi vào Chánh Đạo…”(LT)
Đọc Vô Đối Môn, quán theo Vô Đối Môn, ứng dụng Vô Đối Môn, con như kẻ đói được ăn, kẻ khát được uống, kẻ mù được sáng, một hạnh phúc vượt thế gian đã đến với con từ khi con gặp được ánh sáng trí tuệ của Ngài Lý Tứ (Tác giả của cuốn sách).
Điều kỳ diệu của Vô Đối Môn là, nếu tu tập theo đúng quy trình (Văn – Tư – Tu), Vô Đối Môn có khả năng giúp người sơ cơ dứt được tâm chúng sanh, xa lìa ba cõi, Giác ngộ, Giải thoát và thành tựu Trí tuệ của bậc Thánh.
Một người từ chỗ không biết tâm là cái gì? Ở đâu? Đều được Vô Đối Môn dẫn dắt, từng bước thấu hiểu, quay về giải quyết nguồn tâm với cách chỉ dẫn rõ ràng, minh bạch. Đưa người từ tán tâm trở về với đa tâm, từ đa tâm đến thiểu tâm, từ thiểu tâm đến nhất tâm, từ nhất tâm đến thanh tịnh tâm, từ thanh tịnh tâm đến không tâm, từ không tâm đến trí tuệ vô lậu. Giải quyết từ nhuận chi vô minh cho đến rốt ráo căn bản vô minh, sau đó ra khỏi vô minh trụ địa.
Vô Đối Môn đã thể hiện kỹ năng thiện xảo, tự đáo cảnh giới của bậc trí tuệ, nhằm điều phục tâm và dẫn tâm vào đạo, cho đến Vô thượng Bồ đề.
Mỗi bài giảng của Vô Đối Môn là tấm bản đồ dẫn đạo, có cấu tạo đủ TỨ ĐẾ, là kim chỉ nam cho mọi hành động, hành trang quý báu cho người tu tập.
Mỗi câu khéo hỏi và khéo trả lời (trong Vô Đối Môn) chứa đựng sức mạnh của Thánh ngôn lượng, chuyển được tâm cảnh người học, tùy nhân duyên mà đều có lợi lạc ở mức độ khác nhau.
Vô Đối Môn là công cụ chuẩn về đo lường sự tinh tấn, giúp người tu tập tự kiểm tra đánh giá kết quả, là ánh sáng soi rọi vào vùng tối tâm thức để giải tỏa kịp thời, những khó khăn, vướng mắc, của người tu tập. Đọc Vô Đối Môn, người đọc có thể biết mình đang ở giai đoạn tu tập nào, và hành trang cần thiết là gì, để thành tựu mục tiêu đề ra ở các bước tiếp theo.
Vô Đối Môn là cẩm nang của người hoằng pháp, là bậc thầy của thuyết pháp và khai thị cho người tu tập đạt được mục tiêu đề ra là Giác ngộ – Giải thoát – Trí tuệ. Mỗi người đọc Vô Đối Môn đều cảm nhận được cảnh giới tương ưng, như bài pháp Thầy dành riêng cho mình.
Vô Đối Môn là pháp lạc, đọc càng nhiều, lợi lạc càng tăng và trở thành pháp thực vi diệu hàng ngày của người trì tụng.
Học và ứng dụng Vô Đối Môn càng chăm chỉ, thì đưa đến kết quả tâm bất động, ý giải thoát, thành tựu định giác chi, xả giác chi, an nhiên tiến vào bát chánh đạo với môi trường văn hóa vô lậu… và từ đây, điều kỳ diệu lần lượt xảy ra ở quanh ta, kể cả trong tu tập cũng như trong đời sống.
49 bài VÔ ĐỐI MÔN là những lời vàng được chắt lọc từ 49 năm thuyết pháp của Thế Tôn.
Vô Đối Môn ra đời thể hiện nghĩa vụ cao thượng của các Phật tử chân chính, trong việc “Hoằng Dương Chánh Pháp” mà Thế Tôn truyền trao:
“Dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc…”
Sự ra đời của VÔ ĐỐI MÔN còn làm rạng danh đất nước, có nhiều ngàn năm Lịch Sử Văn Hiến… Ngày nay “Con Rồng Cháu Tiên” đã đủ duyên lành để làm nên đại sự, đúng là:
Con Rồng gặp gỡ cháu Tiên
Nhân duyên hội đủ khí thiêng đất trời
“Vô Đối Môn” – Ngọc cho đời!
Lời vàng trích lọc từ nơi cội nguồn!
Nguyện cho tất cả chúng sanh có nhiều công đức, đảnh lễ Tam bảo, thấm được những bài pháp vi diệu của Vô Đối Môn. Tư duy thấu rõ được ý nghĩa sâu sắc của Vô Đối Môn và ứng dụng thành tựu Diệu Pháp Vô Đối Môn!
Con xin đảnh lễ NGÀI LÝ TỨ ba lễ!!!
Con, Trở Về Cội Nguồn
Sách Báu Của Mình - Lý Phương Anh

Mình từng là một bà mẹ 3 con đam mê giáo dục, đọc nhiều sách, tìm hiểu nhiều các triết lý, quan điểm giáo dục, các cách thực hành từ tây đến ta từ xa xưa cho đến hiện đại, từng sống ở nước ngoài nhiều năm, từng tích cực tham gia cộng đồng và chia sẻ nhiều giá trị.
Rồi cũng như rất nhiều bà mẹ khác cùng thế hệ ấy, quá trình đồng hành với con đã giúp mình nhìn nhận ra những vấn đề sâu và xa hơn, mình nhận ra rằng con cái chẳng phải của mình, nếu chỉ thấy cái phần ngọn là con mà không thấy phần gốc là mình thì cho đến sau cùng chúng cũng lớn lên trở thành những người lớn như chính chúng ta chỉ là ở một phiên bản tốt hơn còn thì vẫn những câu hỏi ấy, những nỗi băn khoăn lớn ấy của cuộc đời: tôi là ai, mục đích sống của tôi là gì, thế nào là hạnh phúc, sao tôi buồn tôi đau khổ, làm thế nào để tôi hạnh phúc, tôi tự do?
Bắt đầu từ đó con cái dẫn mình đến hành trình quay vào và lặn ngụp sâu thẳm bên trong. Mình đến với đủ các dòng sách tây ta, sách chữa lành bản thân, sách phát triển năng lực, sách thay đổi quan niệm sống, tìm hiểu và thực hành theo tâm lý học …. và cuối cùng hữu duyên với Phật pháp. Nhờ Phật pháp mình hiểu ra rằng trước giờ mình lăng xăng mà vẫn vướng mắc là vì mình chưa nhìn thấy cái chân lý. Đã là chân lý thì nó luôn đúng ở bất cứ đâu và với bất cứ lĩnh vực nào, nhìn thấy cái chân lý và đi theo chân lý giải quyết từ lõi rồi thì vấn đề nào cũng không còn vướng mắc. Nhờ Phật pháp khai mở trí tuệ mà mình bắt đầu được nếm vị an lạc, hạnh phúc bình an ngay tự thân này. Các mối quan hệ của mình với chính mình, với con cái gia đình công việc đều như bình minh thức giấc. Sinh nhật 30 tuổi, mình thấy mọi thứ nở hoa, mình phải thốt lên rằng mình được sinh ra một lần nữa, giờ mới là người trưởng thành.
Bắt đầu từ đó, mình chẳng quy y cũng chưa lên được chùa nhưng trong tự tâm đã khởi nguyện tu tập. Mình chăm chỉ nỗ lực đọc, học các sách phật pháp, nghe các bài giảng, luận kinh trong khoá tu của các Thầy. Thế nhưng chao ôi sao mà ma trận, phần nhiều thì mình chẳng hiểu gì. Phần ít mình hiểu được thì những tưởng hiểu ra bao nhiêu thì phải sáng ra bấy nhiêu, hoá ra càng sáng ra lại càng như sợi dây trói mình, đời sống uh thì đúng là khá hơn một chút nhưng rồi lại trồi sụt, lên xuống, trôi lăn lúc thế này lúc thế khác, vẫn phải nương vào cái này tựa vào cái kia. Cho đến khi mình may mắn hữu duyên gặp được Lý lão sư Lý Tứ, đọc những cuốn sách của Thầy, mình cứ trào nước mắt, một mình mới được tái sinh từ những cuốn sách ấy. Nhờ Thầy mình mới hiểu vì sao trước đây mình bị hoang mang mắc kẹt trong mớ kiến thức, trong rừng kinh biển luận, vì sao những bài giảng pháp kia nghe tuyệt vời vậy mà khi ứng dụng thì mình không thể được rốt ráo. Mỗi cuốn sách của Thầy là một hệ thống giáo dục logic, đầy đủ lớp lang tầng bậc, dẫn dụ hết sức đơn giản, thực tế mà thông minh, đi thẳng vào tâm trí công phá khai mở tư duy, theo đó đời sống nhanh chóng thay đổi một cách hết sức tự nhiên, nhẹ nhàng và đặc biệt vững chắc. Mình biết vì sao làm cái này mà không làm cái kia, làm cái này thì được ích lợi gì làm cái kia thì hại gì, mình biết đi từ đâu đi tới đâu.
Thời điểm này, mình vẫn yêu thích giáo dục, hàng ngày mình vẫn sát sao việc trường lớp học hành của con, chia sẻ với mọi người nhưng giờ mình thấy khác, mình biết là một người lớn khiêm nhường, mình nhìn thấy mình, mình nhìn thấy con và mình nhìn thấy mọi người. Vẫn là tình yêu tình thương nhưng không còn chiếm hữu áp đặt, vướng mắc vọng tưởng mà là tình yêu thôi theo một kiểu chậm rãi và nguyên thuỷ. Lâu rồi trong đầu mình không còn những từ như kiềm chế cơn tức giận hay đi tìm hạnh phúc bình an … Là sự tự do, thật chẳng biết từ ngữ nào nói cho hết cái sự tự do ấy, cái sự tự do từ trong ruột mà ra.
Giờ đây, một trong những cuốn sách của Lý lão sư Lý Tứ là VÔ ĐỐI MÔN đã được xuất bản rộng rãi cho công chúng, mình xin hoan hỉ chia sẻ thông tin cùng bạn bè. Mình mong thật nhiều những người sắp làm mẹ, đang làm mẹ đã hướng tâm về Phật có thể được đọc cuốn sách này để có thể hiểu rõ, định hướng cho bản thân và tiến tới giác ngộ, giải thoát, trí tuệ.
Cuốn sách được trình bày dưới dạng câu hỏi và trả lời, từ dễ đến khó từ cạn đến sâu, giản dị hóm hỉnh nhưng trí tuệ giúp người đọc hiểu rõ đạo phật, tìm được sự thảnh thơi, lợi lạc ngay trong chính cuộc sống của mình. Cuốn sách được bán trên Tiki với giá 79k.
Lý Phương Anh
Tán Thán Tâm Pháp - Lý Tường Vi

ần đầu đọc cuốn Tâm Pháp của Lý Lão Sư, mình ấn tượng nhất là câu Ngài nói với Thất Muội Cô Nương: Thiện tâm cũng phải bỏ. Mình suy tư rất nhiều về câu nói này. Vì sống thiện tâm là đời sống của mình trước nay. Nếu bỏ nó, cuộc đời mình sẽ đi về đâu? Ôi! Một phen đình chỉ các duyên thấy nghe mới biết thế nào là đời sống đích thực. Bây giờ mình mới cảm nhận rõ ràng thế nào là chân, thế nào là hư vọng… Lại nữa, mình đang trong giai đoạn trải nghiệm rất rõ sự không ràng buộc của thân và tâm. Trước đây thân thể mình rất hay đau. Vì làm việc máy tính nhiều nên gần như vai phải của mình luôn trong tình trạng căng cứng, nhức mỏi. Hôm qua người bấy bấy như sắp cúm. Mà kỳ lạ! Mấy ngày nay, Mình dường như chỉ còn biết là thân đang thế nào thôi chứ không còn cảm thấy mệt mỏi như trước. Sự thanh tịnh, hỉ lạc, không thay đổi, hình như mình không còn bị tác động bởi cái thân này. Có những lúc mình thấy mình không còn thân, chẳng còn tâm, chỉ hiện lên một cái biết bản nhiên. Mình thấy lạ quá còn thử bằng cách lấy tay cấu cấu vào da thịt xem còn cảm giác không. Giờ mới thực sự biết thế nào là khổ, thế nào là khổ khổ, Mới biết thân và tâm câu sanh lưỡng chấp nó ra làm sao. Sự an lạc này là tính chất tự nhiên, đúng đường thì tự nhiên nó hiện trở lại. Dùng sở pháp, ngồi thiền tối ngày, có thể cho ra một chút an lạc nào đó. Nhưng cái gì do 1 pháp làm ra thì nó sẽ mất. Trước đây, mình cũng đi 1 khoá Vipassana 10 ngày. Về đúng là có chút yên ổn 1 thời gian ngắn vì do… quán tính của hít thở với cường độ cao. Nhưng liền sau đó, mình lại trở lại … điên đảo với đời. Thậm chí… có phần hơn. Cái này! Tự thân tự biết! Không thể chối cãi!!!
Từ ngày đến với Thầy, mình chỉ ăn với chơi rồi tự nhiên… GIÁC NGỘ
Lúc nào mình cũng nhớ đến Ân Sư, người đã từ bi chìa tay kéo mình ra khỏi biển khổ trầm luân. Nguyện cho mọi người, ai ai cũng biết đến Thầy để một phen biết thế nào mới đích thực là cuộc sống. Đúng như lời chú Bình nói. Học trò Lý Tứ chẳng biết làm gì hơn ngoài quỳ sụp xuống, bò ra mà lạy Thầy.
Hôm qua đến nay, được nghe thầy giảng về con đường đi rõ ràng từ thấp đến cao của Phật Đạo. Những ngày này, huynh đệ khắp nơi hộ trì cho chúng mình, giúp đỡ chúng mình “bảo toàn giác ngộ” Mình cảm thấy mình thật may mắn quá đi!
Đọc Vô Đối Môn, TÂM PHÁP và nghe thầy giảng giải, mình đã hiểu CHẤP NHẬN CHÂN LÝ, VỨT BỎ CHẤP NHẤT là cánh cửa dẫn đến cứu cánh. Sai thì sửa, nhầm đường thì quay đầu lại. Đó chính là “tâm ý của một trượng phu”. Lời thầy đối với con luôn là ÁI NGỮ. Thầy đã chặt đứt hết những chấp nhất, hạ liệt trong con. Con xin kính lễ Thầy con ngàn lạy.
Be Bot, Lý Tường Vi
———————————-
P/s: Be Bot cũng rất biết ơn Đại Ca Mai Văn Sách đã kéo chúng em đến với bác Xuân Mai Đào. Người đã gỡ bỏ các học thuyết linh tinh rắc rối trong đầu con. Biết ơn anh Nguyễn Ngọc Sáu dẫn cả nhóm ĐƯỜNG VỀ chúng em về với Thầy. Bột em biết ơn tất cả các huynh đệ, tỉ muội trong gia đình Lý Gia luôn giúp đỡ, hộ trì để chúng em ngày một trưởng thành hơn.
Cảm Nhận Chữ "Đế" Trong "Phật Giáo Và Thiền" - Trí Minh

Khi đọc cuốn PHẬT GIÁO VÀ THIỀN người đọc sẽ thấy những đoạn trích dẫn, in đậm và lặp đi, lặp lại nhiều lần, bởi ý nghĩa sâu thẳm trong từng chữ, từng câu và từng đoạn…như sau:
Phật dạy: “Do nghĩa trên đây, hàng phàm phu có khổ, không đế. Hàng Thanh Văn Duyên Giác có khổ đế mà không chơn thật. Các vị Bồ Tát hiểu khổ không có khổ mà có chơn đế.
Hàng phàm phu có tập không có đế. Hàng Thanh Văn Duyên Giác có tập có tập đế. Các vị Bồ Tát hiểu tập không có tập mà có chơn đế.
Hàng Thanh Văn Duyên Giác có diệt mà chẳng phải chơn. Bồ Tát có diệt có chơn.
Hàng Thanh Văn Duyên Giác có đạo mà chẳng phải chơn. Bồ Tát có đạo có chơn.” (Trích kinh Hoa Nghiêm – HT Thích Trí Tịnh dịch)
Chữ “ĐẾ” trong đoạn kinh (nêu trên); trong cuốn PHẬT GIÁO VÀ THIỀN được xuất hiện rất nhiều lần bởi ý nghĩa đặc biệt của nó…
Có thể nói “Thấu chữ ĐẾ đến đâu, thấu Phật đạo đến đó”! Không hiểu hoặc hiểu sai chữ ĐẾ thì đó, chính là “KHỔ ĐẾ”!
Chữ “ĐẾ” trong Phật đạo, tưởng chừng như khó khăn, làm đau đầu nhiều người từ trước đến nay, như vòng xoáy nhấn chìm tất cả những ai tu hành, mà còn hiểu sai chữ “ĐẾ”. May thay! Vấn nạn này, đã được tác giả LÝ TỨ khai thông bế tắc! Xứng danh với lòng tôn kính của những người giác ngộ xưng tán “Lý viên dung Diệu Pháp; Tứ thâm đạt Tâm tông”!
Đối với tác giả, mọi vấn đề đưa ra trong cuốn PHẬT GIÁO VÀ THIỀN đều được cắt nghĩa rõ ràng, giảng giải thấu thoát, biện tài vô ngại, như bàn về “Trái A Ma Lặc trong lòng bàn tay” nhờ vậy mà, cuốn PHẬT GIÁO VÀ THIỀN đã đưa người đọc từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, nhất là khi (tâm người đọc) bắt gặp cảnh giới tương ưng với những lời khai thị bát nhã, khai mở tâm trí, của đạo xuất thế.
Thực tế chứng minh, nhiều người nhờ đọc, tu học theo cuốn PHẬT GIÁO VÀ THIỀN mà đã vào được cảnh giới sơ ngộ… không nhọc công tốn sức, hỷ lạc xuất hiện, khinh an trong lòng, quả là DIỆU PHÁP.
Bàn về chữ “ĐẾ”, tác giả viết:
“Bốn đế là: Khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế. Tại sao không đặt tên bốn món là khổ tập diệt đạo, mà phải thêm ĐẾ vào?”
Câu hỏi này chính là những khái niệm đầu tiên cần thấu suốt để làm cơ sở đi sâu vào bốn đế. Bởi lẽ, nếu chỉ nói có bốn danh tự khổ, tập, diệt, đạo mà không nói đến ĐẾ, thì bốn danh tự kia chỉ có tên gọi mà không có thực thể.
Tiếng khổ là “sự cọ xát của môi lưỡi răng họng… Và hơi phóng ra…,” tự thân danh tự này không khổ và cũng không có tính chất của khổ. Nếu chỉ nói riêng danh tự khổ, như tử khổ chẳng hạn, thì hằng ngày biết bao nhiêu người chết, tuy vậy không phải mọi người đều khổ vì danh tự chết kia. Thực tế chỉ những cá nhân nào liên quan đến cái chết nói trên, mới cảm nhận có khổ. Những người không khổ hay không thấy khổ chỉ vì không có mối liên hệ nào hoặc chưa dự phần vào tử sự. Sự không liên hệ này Phật giáo gọi là không có ĐẾ.
Từ nơi một pháp, chúng sanh không thấy khổ vì pháp này không có ĐẾ, tức nơi thân tâm không có mối liên hệ đến pháp kia (như con nít không biết hiểm nguy của cọp dữ, trẻ nhỏ vui đùa trong nhà lửa).
Sở dĩ chúng sanh có khổ bởi thân tâm có chủng tử sinh khổ, chủng tử sinh khổ này là những món như: Tham, dục, ái, vô minh. Ví dụ: Ái biệt ly khổ, bản chất biệt ly chưa phải là nguyên nhân sinh khổ, bao giờ biệt ly này có ÁI, thì ái mới là nguyên nhân làm cho biệt ly sinh khổ. Sự liên hệ này Phật giáo gọi là ĐẾ.
Do đó, ĐẾ là mối liên hệ, chỗ y cứ, là chỗ dựa, là nhân tố quyết định chúng sanh đau khổ hay an vui. Nếu tự thân hoặc quyến thuộc chết thấy có khổ, là bởi vì khổ này có ĐẾ, tức trong tâm còn mối liên hệ của ái, dục, tham luyến.
Như vậy có thể khái niệm ĐẾ là chỗ y cứ, chỗ dựa nương để KHỔ và TẬP phát triển, giống như đất là nơi chốn để hữu tình vô tình nương cậy phát sinh. Nếu hữu tình vô tình không nương nơi đất để sinh tồn thì hữu tình vô tình tự diệt.
Thì cũng vậy, KHỔ và TẬP đều nương nơi ĐẾ để phát triển, ví như phiền não sanh tử nương nơi kiết sử mà hiện, kiết sử nương nơi thân tâm mà trú, nếu không có Thân Thọ Tâm Pháp thì kiết sử y vào đâu để KIẾT và SỬ; hoặc ví dụ như ma quỷ và nỗi sợ hãi nương nơi bóng tối mà hình thành, nếu bóng tối trở thành ánh sáng thì ma quỷ và nỗi sợ hãi ma quỷ không xuất hiện.
Như vậy có thể kết luận sanh tử phiền não là KHỔ, mê lầm, kiết sử là TẬP, thân thọ tâm pháp là ĐẾ. Nếu tu tập yểm ly thân thọ tâm pháp đến rốt ráo thì tập khởi sẽ không còn, tập khởi không còn thì khổ đau chấm dứt.
Thân tâm thoát ly khỏi khổ đau và mọi nguyên nhân sanh khởi chấm dứt gọi là giải thoát. Đây là phương tiện tu hành và cách nhìn nhận vấn đề cốt tuỷ của Thanh Văn thừa gọi là tứ thánh đế.
Nhu cầu của Thanh Văn là giải thoát, cho nên việc yểm ly để giải thoát theo đúng quy trình bốn đế được Thanh Văn thực hiện nghiêm ngặt.
Cắt ái ly gia để yểm ly ái cộng nghiệp ta quen gọi là xuất thế tục gia.
Thọ nhận giới cụ túc để viên mãn yểm ly năm ấm gọi là xuất ngũ ấm gia.
Tìm nơi thanh vắng tu hành hộ trì các căn thoát ly khỏi trói buộc năm dục đối với năm căn để ra khỏi dục giới, thăng tiến vượt qua cảm thọ và giác quán gọi là xuất ly sắc giới.
Phân chia ý thức đến tột bờ mé vượt qua các tưởng ra khỏi vô sắc giới gọi là xuất tam giới gia.
Nhất tâm thiền định diệt trừ cảm thọ và giác tưởng cuối cùng, rốt ráo giải thoát vào Diệt Thọ Tưởng định hoàn thành sứ mạng tu hành.
Ở đây có người cho rằng giai đoạn thứ hai là xuất phiền não gia; điều này không hợp lý, bởi lẽ phiền não chỉ là hiệu ứng của vô minh. Vô minh chưa dứt nên vọng sinh phiền não, giống như con mắt bệnh phát sinh hoa đốm, không ai đi diệt hoa đốm. Người trí chỉ nên chữa lành con mắt thì hoa đốm tự diệt. Vì thế yểm ly ngũ ấm là việc làm cần thiết để vô minh tiêu trừ, vô minh tiêu trừ phiền não tự diệt.
Cũng là những căn bản này nhưng Bồ Tát có cách nhìn nhận vấn đề khác hơn. Thân thọ tâm pháp sở dĩ là nền tảng để tham sân hiện khởi chỉ vì tâm mê bốn món này.
Vì bởi một khi đã mê muội thì người ta sẽ lầm tính chất và giá trị của nó, giống như trẻ con chơi trò chiến tranh. Những chiến binh và vũ khí của đám trẻ chưa từng là chiến binh và vũ khí. Cũng chẳng có sự chết chóc do vũ khí gây nên, cũng như chẳng có sự hơn thua trong cuộc chiến tưởng tượng này, nhưng khi đã lao vào cuộc chơi thì buồn vui đau khổ được thể hiện như thật. Hoặc ví như ảo sư chặt đầu ảo nhân, ở đây không hề có các giá trị đích thực, chỉ vì mê muội trong các sự việc trên mà lầm nhận in tuồng có tích chứa các giá trị không thực kia rồi phát sanh phiền não.
Bồ Tát nhìn nhận giá trị thực của bốn niệm xứ bổn lai thanh tịnh nên hết mê. Hết mê thân thọ tâm pháp thì vọng tưởng không phát sanh, vọng tưởng không phát sanh ngay đấy chân giá trị của bốn niệm xứ xuất hiện đó là sự tự tịnh của bốn món. Thấy được ý nghĩa này Bồ Tát không vọng cầu, không mê muội, bây giờ các ĐẾ trở về bổn chơn gọi là chơn đế. Một khi bốn đế đã chơn thì khổ và tập tự chơn, ngay đây là Niết Bàn an tịnh.
Như vậy, ta đã xét KHỔ và chỗ dựa nương của khổ là ĐẾ, nếu khổ không có đế thì khổ không thể là khổ, khổ bây giờ chỉ còn là văn tự, kinh dạy: Tiếng khổ chỉ là âm thanh cộng hưởng giữa môi lưỡi răng họng cằm nướu và hơi phát ra, không có thực thể.”
Đối với người đọc, nếu khéo vận dụng vào tu học thì chỉ một câu kết luận của tác giả thôi, cũng phát sinh bao điều lợi lạc, ví dụ:
“Như vậy có thể kết luận sanh tử phiền não là KHỔ, mê lầm, kiết sử là TẬP, thân thọ tâm pháp là ĐẾ.”
Bởi mê lầm bốn món Thân, Thọ, Tâm, Pháp mà chúng sanh đau khổ. Muốn hết mê lầm phải giác ngộ, “ĐẾ” là chìa khóa để mở ra cánh cửa giác ngộ, nhưng có một điều đặc biệt là những ai lấy công nghệ xử lý đầu vào trên THÂN (lấy thân làm đế) để giác ngộ sẽ cho ra sản phẩm của Thanh văn; ai lấy công nghệ xử lý trên THỌ để giác ngộ sẽ cho ra sản phẩm của Duyên giác; ai lấy công nghệ xử lý trên TÂM để giác ngộ sẽ cho ra sản phẩm của Bồ tát; ai lấy công nghệ xử lý trên PHÁP để giác ngộ sẽ cho ra sản phẩm của Bồ tát nhất thừa.
Tứ niệm xứ, là NIỆM trên bốn chỗ “ĐẾ” Thân, Thọ, Tâm, Pháp. Tại mỗi chỗ, người tu hành trong Phật đạo gửi gắm vào đây sự nhớ nghĩ, tư duy quán chiếu của mình, dùng sức giác tác động vào tâm ý nhằm thay đổi sự nhận thức mê lầm của tâm trên 4 “ĐẾ” (gọi là giác ngộ), từ đó nhận ra cho được cách giải thoát, khỏi sự trói buộc trên từng “ĐẾ”.
Khi chọn một “ĐẾ” làm món chính, thì ba món còn lại là pháp hỗ trợ cho pháp tu chính; điều này thực hiện được, bởi bốn món có quan hệ chặt chẽ, mật thiết và ràng buộc lẫn nhau, có thể gọi đó là công nghệ xử lý cho ra sản phẩm 4 trong 1.
Tại phần VI: CHÁNH KIẾN, tác giả lại nâng nhãn lực lên một cấp độ cao hơn.
“Chánh kiến là sự thấy biết đúng đắn làm cơ sở quyết định lựa chọn phương tiện phù hợp.
Tứ diệu đế được coi là công thức giải bài toán khổ thì 37 phẩm là phần ứng dụng công thức để cho ra kết quả diệt khổ và đế là những ẩn số.
Ẩn số x y được thay bằng thân, thọ, tâm, pháp. X y chỉ ra cái gì là khổ niệm xứ và phương thức giải quyết x y.
Niệm xứ gọi là đế, tức là dựa trên nguyên lý cái gì kiết sử nương vào để làm khổ đau thì giải quyết tận gốc cái đó. Bốn món thân, thọ, tâm, pháp là mảnh đất để kiết sử dựa vào làm nhân sinh khổ.
Mỗi thừa thấy nhân sinh khổ khác nhau, vì thế ba thừa ra đời và mỗi thừa giải quyết tận gốc một căn nguyên sinh khổ. Khi căn nguyên đã diệt thì thứ nguyên tự diệt. Giống như rễ cái của một gốc cây đã bị chặt đứt thì rễ con không thể giữ vững và chỉ cần một tác động nhỏ nhất định thân cây ngã đổ.
Thân, thọ, tâm, pháp chính là bốn chiếc rễ cái. Khi niệm xứ này là rễ cái thì ba món còn lại sẽ là rễ phụ. Mỗi thừa tìm cách diệt chiếc rễ cái của mình thì cây đại thụ khổ não không còn.
Chánh kiến chính là nhắm thẳng vào niệm xứ chính và đề ra phương cách giải quyết. Phương cách giải quyết là tổng thể 37 phẩm trợ đạo, tức là toàn bộ hệ thống kinh điển cho một thừa. Mỗi thừa trên con đường tiến về Vô Thượng Bồ Đề có nhiều địa vị, mỗi địa vị lại có một nhận thức mới về nguyên nhân sanh khổ và bây giờ chánh kiến lại phải thay đổi.
Cứ như vậy Phật tri kiến là chánh kiến cuối cùng của người tu hành, nên Phật giáo mới có tục đế, thánh đế, chân đế, và chân. Chân tức là sự thật này không dựa vào một cái gì hết, có nghĩa tự chân hay còn gọi là thiệt tướng.”
Chữ “ĐẾ” của tác giả Lý Tứ được hiển bày như viên ngọc quý trong vô số của quý nằm trong kho báu “PHẬT GIÁO VÀ THIỀN”. Thấu suốt mỗi chữ “ĐẾ” cũng có thể để xưng tán là “Thiên Nhân Sư”
Thấu suốt chữ “ĐẾ”; có thể xưng “VƯƠNG”; Chẳng “ĐẾ” chẳng “VƯƠNG”; Diệu Hương lan tỏa.
Kính mong người tu học sớm có được kho báu “PHẬT GIÁO VÀ THIỀN” để cứu mình và giúp người Giác ngộ, Giải thoát và có Trí tuệ.
Xin kính lễ tác giả LÝ TỨ!!!
TRÍ MINH
Hai Anh Quảng Nôm Luận Bàn... Nghĩa "Mạt Pháp"
Mạt pháp là giáo pháp đến hồi suy vong, chữ mạt ở đây có nghĩa là cái ngọn, thời kì cuối cùng, giáo pháp tuy còn đó, nhưng không còn ý vị như hồi chánh pháp. Kinh có ví dụ như cây thuốc Dược Vương trên núi tuyết, khi Chuyển Luân Vương cai trị, cây thuốc ni có thể dùng chữa bách bệnh

Các bạn !!!
Hôm trước đọc bản thảo cuốn Chuyện Trên Mây... Mình muốn giới thiệu đến mọi người một số bài viết trong cuốn này nhưng chưa có dịp !!!
Hôm nay đến kì Chuyện Bên Lề nhưng chưa có đề tài hấp dẫn...Vậy là, mình xin giới thiệu đến các bạn bài viết: HAI ANH QUẢNG NÔM LUẬN BÀN VỀ MẠT PHÁP từ cuốn sách CHUYỆN TRÊN MÂY sắp xuất bản !!!
18/12/2020
LÝ TỨ
HAI ANH QUẢNG NÔM LUẬN BÀN VỀ MẠT PHÁP
(Trích Chuyện Trên Mây - Lý Tứ)
Mấy lần được nghe hai anh Quảng Nôm luận bàn đạo lí. Lã muội lân la làm quen, nghĩ tình đồng đạo, cùng là người tu, ham thích học hỏi...v..v...
Hai anh Quảng Nôm đồng ý cho Lã Muội nhập bọn, được ngồi chung mâm để nghe ké hai anh luận bàn, lại còn hứa, ngày nào có gặp nhau uống cà phê, sẽ điện thoại báo trước để Lã Muội chuẩn bị.
Theo suy nghĩ của Lã Muội, việc hai anh Quảng Nôm luận bàn Phật pháp, chắc chắn là CHUYỆN DÀI NHIỀU TẬP. Vì thế, những lần kể lại sau này, Lã Muội chỉ viết phần nội dung, không nhất thiết có những giới thiệu như những lần trước.
Xin chân thành cảm ơn hai anh Quảng Nôm, đã không chê Tiểu Muội là phận “nữ nhi thường tình”, cho phép trở thành bằng hữu, được ngồi chung mâm cà phê, được phép ghi lại những gì mình nghe thấy! Xin cảm ơn hai anh! Chân thành cảm ơn!!!
B: Người ta thường nói, thời ni là thời mạt pháp! Nhưng răng tau thấy: Chùa to, Phật lớn, người tu tăng tục đông đúc, lễ lạt hoành tráng, thuyết pháp dậy trời..v..v... Như rứa mà mạt chỗ mô, mi nói tau nghe coi?
A: Kinh nói, thời ni là mạt pháp, chớ có nói mấy thứ mi vừa kể mạt mô?
B: Thì giống như nhà kia đến hồi mạt vận, gia sản hao mòn, nhà cửa rách nát, mọi thứ suy vong..v..v... Cái ni thì ngược lại, ngày càng hưng thịnh chớ có thấy mạt chỗ mô?
A: Mạt pháp là giáo pháp đến hồi suy vong, chữ mạt ở đây có nghĩa là cái ngọn, thời kì cuối cùng, giáo pháp tuy còn đó, nhưng không còn ý vị như hồi chánh pháp. Kinh có ví dụ như cây thuốc Dược Vương trên núi tuyết, khi Chuyển Luân Vương cai trị, cây thuốc ni có thể dùng chữa bách bệnh. Khi Chuyển Luân Vương băng hà, bọn ác cướp lấy cây Dược Vương, nhưng nó không còn dược tính vì thế công dụng chữa bệnh cũng hết. Chừng mô có bậc Chuyển Luân Vương ra đời, cây Dược Vương lại có công dụng như cũ! Mi có biết Chuyển Luân Vương ám chỉ cái chi không? Đừng có vọng tưởng hình ảnh một ông vua bay trên trời, đầy đủ bảy báu nghe không!
Hay nói khác hơn, mạt pháp là, đến hồi người ta chỉ biết tung hô cành nhánh, chạy theo hoa lá màu mè, mà không biết đến cái gốc của đạo nó nằm ở mô!
B: Mi có thể nói cụ thể hay không?
A: Câu chuyện kinh trên, ngầm bảo rằng: Ở thời mạt pháp, kinh điển, giáo pháp còn đó, nhưng tác dụng tu chứng không có? Giống như cây thuốc Dược Vương thì còn, mà tác dụng chữa trị thì không!
B: Theo mi, tại răng lại như rứa?
A: Muốn lí giải chuyện ni, phải dài dòng một chút. Tau đưa một ví dụ, mi có thể hiểu vấn đề. Một cái cây, ta tạm chia thành bốn phần gồm: Căn là cái rễ, bổn là cái gốc, chi là cái nhánh, mạt là cái ngọn. Gốc rễ người ta gọi là căn bổn, chi mạt là cành ngọn, tức những thứ đã xa gốc rễ. Mà cành ngọn đã xa gốc rễ thì không có tác dụng như gốc rễ!
Giáo pháp của Đức Phật cũng như rứa, ngày Phật còn tại thế, lời dạy của Ngài như gốc rễ của một cái cây, có học có thành, có tu có chứng. Sau một thời gian, cái cây lớn lên, người ta chỉ nhìn thấy cành lá mà không thấy gốc rễ. Từ đó, khi mô tả hoặc sử dụng, người ta chỉ chú trọng đến cành lá mà không biết giá trị thật ở nơi gốc rễ. Những thứ mi nhìn thấy như chùa to, Phật lớn, người tu đông đúc, lễ lạt hoành tráng..v..v... Là phần cành lá của cái cây giáo pháp! Mà trọng tâm của giáo pháp là giúp người thành tựu đạo quả, chớ không phải như những gì ta thấy!
Để cảnh báo điều ni, Phật cũng đã có dự ngôn, những dự ngôn của Phật, chỉ ra một cách có hệ thống con đường đi của ba thời kì, từ chánh pháp đến tượng pháp và rốt sau là sự suy tàn của mạt pháp như một hệ quả tất yếu. Hệ quả ni, đều do người tu hành làm ra, chớ chẳng phải tự nhiên từ trên trời rơi xuống. Kinh Đại Bảo Tích, Phật phân giáo pháp từ hưng thịnh đến suy tàn, trải qua năm thời kì như sau: Thời kì thiền định kiên cố, thời kì giải thoát kiên cố, thời kì lí luận kiên cố, thời kì đấu tranh kiên cố và cuối cùng là thời kì chùa am kiên cố.
B: Mi có thể giải thích cho tau về năm thời kì đó không?
A: -Thời kì thiền định kiên cố: Theo chủ kiến của tau, dưới thời Phật, tuy là chánh pháp, nhưng phần lớn đồ đệ của mình là những người chuyên tu thiền định từ ngoại đạo chuyển sang, sau đó trở thành Nhị thừa (cho rằng đạo quả A La Hán là chỗ chứng cao nhất, mà không biết hoặc không muốn biết rằng, trong giáo pháp còn có Bồ Tát đạo, Bồ Tát là những vị thành tựu trí tuệ siêu việt, vô tu vô chứng).
Vì thế, tuy có nghe những pháp thâm sâu của Bồ Tát, nhưng phần lớn nghe mà không hiểu, hoặc nghe rồi để đó, không thể thấu suốt nên không thể ứng dụng giúp người, ngày ngày chỉ thích tìm nơi vắng vẻ hưởng lạc thú thiền định. Nếu có đọc kinh, mi sẽ thấy hình ảnh này rất rõ ràng. Đây cũng là lí do vì sao, khi thuyết kinh đại thừa, Phật phải vân tập các Hoá Phật cùng vô vi Bồ Tát, Nhị thừa chỉ là thành phần dự thính. Khi mô có thời gian, tau sẽ nói cho mi biết thế nào là Hoá Phật và vô vi Bồ Tát! Theo tau, hiện tượng ni, là lời cảnh báo con đường đi xuống của giáo pháp đã mở ra, vấn đề chỉ còn tuỳ thuộc vào việc Phật trụ thế bao lâu!
-Thời kì giải thoát kiên cố: Sau khi Phật nhập Niết Bàn, hai phái Thượng Toạ Bộ và Đại Chúng Bộ ra đời. Phái Thượng Toạ Bộ chiếm ưu thế, họ tự coi là những người theo "giáo lý của người xưa", chú trọng đến việc tu hành để tự thân giải thoát. “Thera trong tiếng Pali hay sthavira trong tiếng Sanskrit nghĩa là cũ, cổ xưa, lâu năm và đồng thời được dùng để chỉ một tì kheo đã tu hành lâu năm. Vì thế, được dịch sang Hán-Việt là Thượng tọa. Còn veda (pali) hay vadin (Sanskrit) nghĩa là giáo lý, quan điểm.” Nguồn Wikipedia.
Sự chia rẽ, phân hoá ngay trong lòng những người được coi là có tu có chứng, chỉ là việc củng cố và mở rộng thêm con đường đi xuống của giáo pháp mà thôi! Theo mi, nguyên nhân là vì cái chi? Nếu tinh ý một chút, tìm ra căn nguyên của sự việc ni không khó!
-Thời kì lí luận kiên cố: Theo quan điểm cá nhân của tau, Thượng Toạ Bộ chủ trương không sai nhưng chưa hẳn đã đúng, thậm chí có phần cực đoan. Chủ trương của bộ ni chỉ chú trọng đến việc giải thoát tự thân, không có nhu cầu học rộng để giúp người. Vả lại, phép tắc tu hành của Thượng Toạ Bộ không thể áp dụng cho quảng đại quần chúng vì những điều kiện khắt khe của nó. Đến đây, thất bại của giáo pháp hẳn đã rõ!
Chính chủ trương ni đã bị ngoại đạo chỉ trích là yếm thế, về cơ bản giáo pháp của Thượng Toạ Bộ không đủ sức thuyết phục, cũng như không thể đáp ứng nhu cầu thực tiển của toàn xã hội, xét trên bình diện xã hội học. Cho nên, trong thời kì Thượng Toạ Bộ lên ngôi, Phật giáo thường bị lấn át bởi các thứ nguỵ luận của những người học rộng, của hạng người được coi là minh triết, từ đó người tu hành trong Phật đạo hoang mang, do bởi ngoại đạo dùng các dị thuyết lung lạc, điều ni tiềm ẩn nguy cơ phe ta thua ngay trên sân nhà. Mi có thể tìm thấy những điều đó trong các tư liệu lịch sử Phật giáo!
Để cứu nguy Phật giáo, các Bồ Tát như Long Thọ, Vô Trước, Thế Thân...v..v..ra đời, từ đó những bộ luận lớn như Đại Trí Độ, Trung Quán, Duy Thức..v..v...có mặt, cùng các bộ kinh đại thừa được biên chép một cách chính danh (hạn chế từ giới cầm quyền đã được dở bỏ). Những bộ luận ni có công năng trấn áp tà thuyết, dẹp tan dị luận, cũng như phân tích đến cùng tột thức mê (đây là cách ám chỉ luận thuyết của ngoại đạo không ra khỏi thức mê). Kinh đại thừa có công dụng xiển minh đại thừa giáo bằng nội dung liễu nghĩa. Kinh và luận ra đời trong thời kì ni chỉ ra rằng, Phật đạo không dừng lại ở phạm vi tu hành để tự cứu, mà nó còn là một học thuyết ưu việt đứng trên mọi học thuyết, nếu hiểu thấu, có thể dùng để cứu vớt hết thảy chúng sinh ra khỏi khổ đau, sinh diệt!
“Hầu như có vẻ ngài Long Thọ trưởng thành trên những tranh biện triết lý kinh viện mới đang có mặt phổ cập khắp miền bắc Ấn Độ trong và giữa các nhà tư tưởng Bà La Môn và Phật Giáo. Phật Giáo ở thời kỳ này có lẽ đã có thế giới quan mang tính hệ thống cạnh tranh cổ nhất đối với hoàn cảnh bấy giờ, nhưng rồi các trường phái Vệ Đà như Số Luận (Samkhya), phân chia vũ trụ thành thực thể tâm linh và vật chất, Du Già (Yoga), thực hành thiền định, và Thắng Luận (Vaisekika), hay học thuyết về nguyên tử cũng được thành lập. Nhưng các sự việc mới và hiện có đang xảy ra trong những hội trường tranh biện. Một trường phái Vệ Đà mới là Phái Chánh Lý (Nyaya) ra mắt tác phẩm văn học, xây dựng học thuyết duy thực tinh vi được xếp loại là nhận thức căn bản trên thế gian, xây dựng lý thuyết nhận thức để sử dụng như là căn bản cho tất cả luận thuyết về chân lý, và đưa ra học thuyết phát triển toàn diện về luận chứng đúng và sai. Song song với điều đó, trong phía Phật Giáo, các trường phái của những nhà siêu hình học nổi lên với giáo thuyết về vi trần và các phân loại cơ bản về thực thể. Ngài Long Thọ tham gia mạnh mẽ cả hai phong trào Bà La Môn và Phật Giáo mới này, một nỗ lực tri thức chưa từng có tới lúc đó.” Theo Douglas Berger, giáo sư Đại Học Southern Illinois University, tiểu bang Illinois, Hoa Kỳ.
-Thời kì đấu tranh kiên cố: Đây là thời kì đầu mạt pháp, cuối tượng pháp. Khi Phật giáo với tinh thần đại thừa lan toả, tinh thần ni được một số quốc gia có tư tưởng phóng khoáng chấp nhận. Để tồn tại trên vùng đất mới, để cạnh tranh với các tôn giáo bản địa, để hoà nhập với các loại văn hoá sai khác, để thu hút nhiều tín đồ...v..v...Phật giáo đại thừa cùng một lúc, gặp phải hai pháp nạn, đó là:
Một là, phải đấu tranh ngay trong nội bộ, chống bị đồng hoá bởi tôn giáo và văn hoá bản địa. Nhưng rồi, tư tưởng đại thừa quá cao siêu, người thông đạt không nhiều, từ đó các tông phái ra đời (nhất là sau thời y bát thất truyền), ý nghĩa đại thừa được diễn giải lung tung, thô thiển, thiếu thực tế và không thể giúp người tu hành thành tựu như pháp (Cước tùng lẫn lộn, tơ rối bòng bong....Nhầm lẫn chữ Ô, chữ Yên thành chữ Mã !!!! Xem Hàm Thị, Tông Tào Động - Kinh Lăng Già - HT Thích Thanh Từ Dịch). Theo tao, đây là hồi chuông cảnh báo nguy cơ giáo pháp suy vong của thời mạt pháp xuất hiện. Phật giáo đại thừa coi như đã bị giặc nội xâm, đòn “hồi mã thương” của những người không giác ngộ, đã làm hư nát tính ưu việt của giáo pháp.
Hai là, để cạnh tranh tín đồ, người ta đẻ ra nhiều thứ hình tướng, dạy các thứ công phu tạp nhạp, làm tầm thường giáo pháp, đánh đồng Phật pháp với các pháp thế gian (thậm chí còn là nơi để trốn lính). Đây là hình thức “nối giáo cho giặc”, dùng thế gian pháp tiêu diệt Phật pháp (Xem bố cáo của Thạch Liêm, cùng với PGVN sử lược - HT Thích Mật Thể). Hiện tượng ni, là chỉ dấu cho thấy, cái hoạ mạt pháp không còn trước mắt, mà nó đã xâm nhập vào xương tuỷ người tu hành! Đây là thứ giặc ngoại xâm, do những người không giác ngộ, cùng với ngoại đạo, đã vô tình hay cố ý, pha trộn (có tính chất phá hoại) chân giả, biến giáo pháp trở thành thứ luân lí giáo khoa ở đời như bao đạo giáo khác! Đòn “gậy ông đập lưng ông” lần ni, là quả đấm trí mạng, đưa giáo pháp về đúng với cái ngọn của nó!
-Thời kì chùa am kiên cố: Tất nhiên ở đời, trong ruột không có chi, thì phải tô vẻ cái bên ngoài, chuyện ni tau không giải thích thì mi cũng hiểu!
B: Như rứa, muốn tìm về chánh pháp, muốn hưởng được lợi ích từ giáo pháp thì phải mần răng?
A: Thì còn mần răng, muốn có thành quả tốt đẹp, đừng chạy theo hình tướng, đừng xu nịnh kiểu văn hoá đám đông. Lấy kinh điển để trước mặt, ngày ngày đọc tụng, nghiền ngẫm xem Phật dạy ta điều chi, biết rồi cứ y như rứa mà thực hành, chớ phải làm răng? Giáo pháp hay kinh điển là cái gốc, muốn tìm về chánh pháp phải bám cái ni thôi!
B: Nhưng theo tau biết, trong đời có nhiều vị chân tu, không màn thế sự, xa rời hình tướng, giới luật nghiêm minh, chuyên tâm tụng đọc kinh điển, nhưng chính họ cũng thú nhận (hoặc vô tình biểu lộ), lợi ích không nhiều, không như mong muốn. Điều ni giải thích ra răng?
A: Tới đây, lại thêm hai vấn đề cần bàn:
Một là, đọc tụng là một chuyện, hiểu hay không là một chuyện. Đọc mà không hiểu, có khác chi “muỗi đeo trâu sắt”! Muốn hiểu kinh, kiến thức Phật pháp của anh phải chuẩn, kinh nói gà anh hiểu thành vịt thì có cố gắng cũng trở thành công cốc, lợi ích chi mô. Hiểu như thế, có đọc thủng kinh sách cũng khác chi người “gãi ngứa ngoài hia”! Làm răng mà tu, làm răng mà chứng?
Hai là, cái gốc cây thời mạt pháp, bị người ta viết bậy, vẽ tào lao, dán quảng cáo lên đó hàng hàng lớp lớp, từ đời ni sang đời kia... Ôi thôi! Hết lớp ni chồng lớp khác, muốn thấy cái gốc cây thiệt, phải biết cách bóc gở mấy thứ đó, còn cứ ngây thơ tưởng mấy thứ đó là gốc cây, thì có tu luyện vạn kiếp cũng chỉ là người “khát nước uống phải muối” mà thôi! Đây là hình ảnh của sửa bị mấy con buôn hám lợi, pha đến 50 lần mà trong kinh Phật đã đề cập. Anh mô không biết những thứ ni, gặp chi cũng hốt, đọc nhiều, tụng nhiều chỉ thêm bịnh, chớ ích lợi chi mô!
Nói tóm lại, Phật pháp không có chánh hay mạt. Mạt hay chánh là do tâm trí của người. Ngay tại thời điểm ni, nếu mi biết tìm đúng cội gốc của giáo pháp, đừng chạy theo những thứ hư ảo huyễn hoặc. Mi sẽ tìm thấy lợi ích của chánh pháp không khác gì thời Phật còn tại thế từ cái gốc kinh điển! Thôi, tau phải đi câu cơm đây!
B: Cho tau hỏi câu chót! Theo nhận định của mi, cái gốc mô mới bị dán quảng cáo, viết bậy, vẽ tào lao, cái gốc mô không? Mi có thể đơn cử?
A: Tau thấy anh mô cũng bị, anh mô cũng tùm lum. Mi có nghe chuyện người xưa thấy bản kinh quý trong hoàng cung, lén chép lại rồi mổ đùi dấu trong nớ đặng đem ra ngoài hay không? Nếu chuyện ni là đúng, tau hỏi mi, cuốn kinh nớ bữa ni nó dày lên, dày như rứa, để trong bụng bò, bò cũng chết chớ đừng nói chuyện mổ đùi người mà bỏ vô! Từ một vài trang, biến thành vài trăm trang, rứa mấy thứ nớ ở mô mà lòi ra?
Hoặc những phép tu hành, ngày xưa Phật đi tìm đạo, tu sáu năm không giác ngộ, bèn từ bỏ nó như nhổ bãi nước bọt. Răng lại sau khi giác ngộ, đem mấy thứ nớ dạy lại đồ đệ của mình? Đến mi với tau còn không ác ôn kiểu nớ, chẳng lẽ Phật mà lại ác ôn như rứa hay răng! Cứ cắm đầu cắm cổ tu kiểu nớ, mà đòi giác ngộ, có khác chi ếch ngồi đáy giếng mong thấy cả bầu trời xanh! Phật bỏ đi để tìm con đường giác ngộ, chẳng phải là cái gương chưa đủ sáng hay răng?
Nếu mi là người có trí, chỉ cần nghe qua là hiểu rồi, cần chi bàn cho nhiều! Bóc lớp quảng cáo để lòi gốc cây, lấy sửa trong nước đã bị pha loãng..v..v... là một nghệ thuật, chớ có phải như việc chạy xe thồ, trộn hồ, bốc vác mô mà anh tay ngang nào nhảy vô cũng làm được!!! Thôi! tau đi câu cơm đây !!!!!!!!!
27/02/2019


Cảm Nhận Khi Đọc "Phật Giáo Và Thiền" - SH Lý Thái Đăng

Kính lễ Ngài LÝ TỨ – Tác giả của cuốn PHẬT GIÁO VÀ THIỀN!
Kính thưa các bạn đọc!
Vào khoảng đầu tháng 4 năm 2014, một duyên lành đã đến với con, đó là bắt gặp cuốn PHẬT GIÁO VÀ THIỀN (bản photocopy – trên giấy A4) do một người bạn giới thiệu. Sau khi đọc khoảng 10 trang, con đã có một cảm xúc rất khó tả, thôi thúc muốn gặp ngay tác giả.
Khoảng vài tuần sau, mong ước của con đã trở thành hiện thực. Được gặp Ngài, sau đó nghe Ngài thuyết giảng về những điều liên quan đến tu tập trong Phật đạo, con đã tâm phục, khẩu phục về trí tuệ và quyết định đảnh lễ để trở thành học trò. (Hôm đó trên tờ lịch có ghi là “Ngày sách Việt Nam” 21/4/2014).
Đã hơn 5 năm theo Ngài tu học, cho đến nay cuốn PHẬT GIÁO VÀ THIỀN con đọc đi, đọc lại rất nhiều lần, nhưng chưa bao giờ giảm đi tính hấp dẫn, ngược lại sự cuốn hút của cuốn sách càng mãnh liệt hơn, sâu thẳm như tuần tự bước ra biển lớn. Bên cạnh đó nhờ chánh kiến soi đường mà con có niềm tin vững chắc (bất thối chuyển) và ngày càng tinh tấn trên đạo lộ “Thấy khổ mà được vui, dứt tập mà được an vui, chứng diệt được mãi vui, tu đạo (có trí tuệ) mà ung dung tự tại”.
Cuốn sách PHẬT GIÁO VÀ THIỀN! được trình bày có cấu trúc như một luận văn khoa học về Phật đạo, giúp người đọc đi từ cạn đến sâu, từ tổng quan đến chi tiết, giảng giải, cắt nghĩa rất rõ ràng làm sáng tỏ nhiều khái niệm, bởi văn tự bát nhã, đi thẳng vào vấn đề liên quan, cần thiết… Giúp người đọc sớm nhận ra bức tranh toàn cảnh về tu tập Phật đạo từ trước đến nay một cách chân thực về Lịch sử Phật giáo và thiền của Việt Nam qua các thời kỳ… và người đọc được trang bị những lý luận cơ bản, chân lý, nhất là những sự khác biệt… mà nhiều người chưa từng nghe, chưa từng biết, chưa từng xuất hiện (trên mạng xã hội, kể cả ý tưởng luận giải từ những người khác…) nhưng khi bắt gặp trong cuốn PHẬT GIÁO VÀ THIỀN thì vô cùng lợi lạc bởi diệu pháp này có thể cởi trói cho mình, cho người, nhằm “Đoạn mê khai giác; tồi tà hiển chánh” và thành tựu trí tuệ!
Phần cuối cuốn sách CHÁNH KIẾN thay cho tổng kết, có lẽ là mục tiêu tối thượng của tác giả, nhằm gửi gắm tâm nguyện đến người đọc mong muốn sự thay đổi căn bản về nhận thức Chánh kiến, có như thế mới đủ điều kiện để đi tiếp trên con đường CHÁNH PHÁP.
Xin phép được ghi lại một vài cảm nhận của bản thân khi được Ngài chỉ dạy (thông qua đề tài TỨ NIỆM XỨ) và “Chánh Kiến” từ cuốn sách PHẬT GIÁO VÀ THIỀN soi đường.
Một người mới bắt đầu tu tập trong Phật đạo có thể ví như đang bị lạc lối ở trong rừng sâu đêm tối. Ánh sáng giác ngộ là điều kiện vô cùng quan trọng và rất cần thiết để dẫn dắt người này ra khỏi rừng rậm của vô minh. Tu hành trong Phật đạo thấu tỏ được tứ niệm xứ cũng ví như người có được nguồn sáng dẫn đường. Điều cực kỳ quan trọng này đã được Thế Tôn thuyết như sau:
“Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn Niệm xứ”.
Tu hành đúng sẽ cho ra kết quả “đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn”.
Ngược lại, hệ quả của việc tu hành sai tất yếu cho ra kết quả sai. Phiền não ngày càng tăng, tam độc phát tác càng mạnh là việc khỏi bàn cãi, cũng giống như trung tâm điều khiển máy tính (CPU) mắc lỗi từ hệ thống. Không biết điều này, vẫn chấp chặt với nó mà không gặp phải rắc rối, mới là chuyện lạ.
Đứng trước thực trạng tu tập hiện nay, mục tiêu giữ gìn Tam bảo là nghĩa vụ cao thượng của các Phật tử chân chính, ngay trong lúc này, cần phải học tập và làm theo tấm gương của Thế Tôn thông qua nội dung, ý nghĩa lời bạch của du sĩ Vekhanassa.
“Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng” (Kinh Vekhanassa).
Có thể thấy quy trình để giác ngộ, giải thoát và thành tựu trí tuệ, người tu hành phải thông qua bốn đế và 37 phẩm, như sợi dây xuyên suốt toàn bộ hệ thống tư tưởng, làm cho quy trình hoạt động được trơn tru, hiệu quả thì chính đó là Tứ niệm xứ. Nếu NIỆM nào xa rời bốn chỗ (thân, thọ, tâm, pháp) thì phép tu đó là không chính thống.
Tứ diệu đế được ví như nền móng của ngôi nhà Phật đạo, bốn món Khổ, Tập, Diệt, Đạo diễn ra trên bốn chỗ Thân, Thọ, Tâm, Pháp hình thành nên Tứ diệu đế, vì thế Tứ diệu đế và Tứ niệm xứ không thể tách rời nhau, hay nền móng Tứ diệu đế không thể hình thành, nếu không có sự tham gia cuả Tứ niệm xứ.
Người mới bắt đầu tu tập trong Phật đạo cũng giống như người lính ra trận, cần biết rõ “giặc phiền não” đang ở đâu, do đâu mà sanh, làm sao mà diệt? … Thấu tỏ được những điều này mới có cơ may dành thắng lợi.
Phát hiện được Tứ niệm xứ cũng có thể ví như người đang ngụp lặn dưới đáy của hầm sâu vô minh, bỗng giác ngộ được rằng, nơi đây, ngay chỗ đang đau khổ này, cũng có 4 sợi dây (thân, thọ, tâm, pháp) dẫn lối.
Người đang đau khổ chỉ cần lần theo một trong bốn sợi dây đó cũng có khả năng thoát ra khỏi hang tối.
Người mới bắt đầu tu tập trong Đạo Phật, đang đứng trước một thực tế, Tam tạng kinh điển được giảng thuyết, nhân rộng, tạo thành những núi sách đồ sộ, mà không cẩn thận cũng sẽ bị sách đè, còn muốn đọc cho hết tất cả, thì phải làm di chúc cho con cháu mang theo, khi tiễn ra nghĩa trang. Đó chỉ là nói đến số lượng.
Còn về chất lượng, kinh dạy rằng (đại ý): Chỉ có con Nga Vương mới thẩm định được đâu là “sữa” đâu là “nước lã” trong đó, chưa nói đến trong nước có “độc” do vô tình, nhầm lẫn hay cố ý.
Trừ con Nga Vương khi đưa mỏ vào thì hút được sữa, còn các giống khác như Cò, Cuốc, Le le, Vịt trời đưa mỏ vào mà uống, nếu không trúng độc mất mạng, thì cũng phình bụng đi cấp cứu vì uống quá nhiều nước vô bổ. Đây cũng là tình trạng phổ biến, nhất là đối với những người (không giác ngộ) nhưng tự cho mình có trí thức (lấy thức làm tri) để tu hành.
Mặt khác, để chỉ sự tu hành lộn ngược hay còn gọi là điên đảo, trong các bản kinh Phật thường ví việc làm đó như “nấu cát mà đòi thành cơm”. Đây thực sự mới là vấn nạn nguy hiểm nhất hiện nay.
Tình trạng tu tập “điên đảo” là chuyên dài nhiều tập. Chỉ cần nêu một số điển hình về tình trạng tu tập hiện nay… cũng đủ trả lời cho câu hỏi tại sao người tu theo kinh Tứ niệm xứ, đã trên bảy năm, thậm chí 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa mà “cục ngu” vẫn còn nguyên, lại còn phát tác đủ thứ tham, sân, si, như bị bệnh ung thư giai đoạn cuối. Muốn khắc phục được tình trạng này ta phải làm rõ nguyên nhân.
Ngu – Mê – Lầm trên bốn chỗ (thân, thọ, tâm, pháp) là nguyên nhân căn bản.
Bệnh của ba cõi cũng từ đây mà sanh khởi.
Nhưng đối với người mới tu tập ta có thể chỉ rõ hơn, chi tiết hơn.
Nguyên nhân khách quan: Đó là chân, giả lẫn lộn, đúng sai không rõ ràng, thông tin nhiễu loạn, làm người mới tu tập mất phương hướng, tự mình không thẩm định được.
Ngày xưa dân cư thưa thớt, vắng vẻ tìm được tìm người hỏi đường có vẻ khó khăn. Ngày nay ồn ào náo nhiệt, chưa kịp hỏi đường đã đã có nhiểu người đến giúp, chỉ phân vân một điều là mỗi người lại chỉ cho một hướng khác nhau, không biết đâu mà lần.
Nguyên nhân chủ quan: Người mới tu tập không đủ sáng suốt để xử lý thông tin nhằm đưa ra kết quả đúng dẫn đến tu mù hay tu theo ai đó.
Điều này cũng giống như người bệnh tự đoán bệnh rồi mua thuốc uống liều, hoặc mượn đơn thuốc hàng xóm về uống theo.
Đề ra giải pháp, làm sao cho phàm phu hết ngu, người giác hết mê, người trí hết lầm trên bốn chỗ, biết rút ra bài học quý giá từ những người đã trải qua hoặc đã từng vấp ngã là giải pháp tối ưu nhất dành cho người mới bắt đầu tu tập.
Muốn hết ngu phải giác ngộ, biết mình ngu được coi là sự kiện giác ngộ đầu tiên, bởi Kinh Pháp cú dạy:“Người ngu biết mình ngu. Nhờ vậy mà có trí. Người ngu tưởng có trí. Đích thị là chí ngu”.
Sau khi giác ngộ được điều này, người khôn ngoan biết tìm đến Nga Vương mà đảnh lễ. Lễ thứ nhất bẻ gãy cờ kiêu; lễ thư hai văng hết ngu si; lễ thứ ba phát sanh trí tuệ. Sau khi được thọ nhận rồi thì không những “sữa” được uống thỏa thích mà lạc, tô, đề hồ cũng được Nga Vương ban phát rộng rãi. Các kho báu chứa những món ăn thượng diệu bồi dưỡng trí tuệ, có tên (Phật giáo và thiền, Tâm pháp, Vô đối môn, Anh lạc luận…) ví như lạc, tô, đề hồ được Nga Vương luyện thành, đã mở rộng cánh cửa. Gã cùng tử sau khi đảnh lễ, được nhận làm con, một bước vào nhà, bỗng thành giàu có. Từ nay, kiếp thân cò lặn lội bờ ao để kiếm sống qua ngày được chấm dứt, những mối nguy hiểm về thức ăn được loại trừ. Thân cò đã hóa kiếp, sư tử con đã được sinh ra.
Sự thật này có thể chứng minh bằng phép thử, bởi rồng sinh ra bảy ngày đã biết làm mưa, sư tử con mới biết tập gầm thì chồn, cáo, dã can quanh đó cũng phải so đầu rụt cổ, nháo nhác tìm nơi ẩn nấp.
Giác ngộ trong Đạo Phật có thể ví như người tỉnh giấc sau một giấc mơ dài việc tiếp theo là phải học tập để có trí tuệ mới giúp được mình cứu được người.
Việc đầu tiên của kẻ trí là phải phân biệt được thế nào là các loại trí.
Trí thế gian lấy thức làm trí gọi là trí thức do hư vọng tâm mà có.
Trí để điều phục tâm từ loạn động trở về thanh tịnh gọi là giác trí do thanh tịnh tâm mà sanh, lìa mê, lìa giác thật trí mới hiện.
Nhận biết điều này rất cần thiết giúp người mới bắt đầu tu tập luôn luôn cảnh giác, giữ được chánh niệm, tránh được lỗi lấy trí thế gian để làm công cụ thanh tịnh tâm. Việc làm này là điên đảo, cũng như người mù đang giảng giải, bàn về màu sắc.
Cuốn sách PHẬT GIÁO VÀ THIỀN được phát hành, như phát pháo, báo hiệu mệnh lệnh tổng tấn công trên khắp chiến trường đánh “giặc phiền não”, là tiếng còi báo hiệu sự rời bến của con tàu Bát Nhã. Là vầng thái dương báo hiệu mặt trời xuất hiện.
Con đường giác ngộ, giải thoát và trí tuệ đã được xác định rõ ràng Ngôi nhà Bát chánh đạo đã được khai móng và làm lễ đặt đá. Ngũ căn đã sanh, ngũ lực đã chuyển, những búp hoa trên chi cành giác ngộ đang tiếp tục hé nở trong vườn Lý Gia, khoe sắc, tỏa hương chào đón một mùa xuân an lạc đang xuất hiện trên thế gian này.
Có hạnh phúc nào hơn, khi những lời nguyện cao thượng đang trở thành hiện thực./.
Con cung kính đảnh lễ Ngài Lý Tứ!!!
Con, LÝ THÁI ĐĂNG
Cảm Nhận Khi Đọc Sách Vô Đối Môn - Trí Minh

Kính thưa: Tác giả NGÀI LÝ TỨ!
Kính thưa: các Huynh đệ!
Tác phẩm “Vô đối môn” chỉ gói gọn trong 49 bài luận nhưng (bản thân tôi) cảm nhận đó là tuyệt tác, là DIỆU PHÁP để lại cho đời! Qua thực tiễn học tập và ứng dụng, bản thân mạnh dạn viết ra một vài cảm nhận, từ những trải nghiệm của mình.
49 bài luận cô đọng, súc tích VÔ ĐỐI MÔN, tác giả Lý Tứ đã triển khai đầy đủ chân lý của Đức Phật thuyết pháp trong vòng 49 năm và được sắp xếp như 4 cấp học, đó là: Hết khổ; Dứt tập; Chứng diệt; Tu đạo và sau khi tự mình Giác ngộ thì Hành Bồ Tát đạo cứu độ chúng sanh.
Giống như thấu tỏ được bản chất của nắm lá trong tay thì việc tìm hiểu lá của cả rừng cây, không còn là việc khó khăn!
Tác phẩm “Vô đối môn” được tác giả xây dựng trên nền móng của Tứ Đế!
Tứ Đế, hay còn được gọi là Tứ Diệu Đế bởi công nghệ xử lý vi diệu thông qua 37 phẩm, được tác giả trạch pháp, bắt đầu từ bốn chỗ (Thân, Thọ, Tâm, Pháp). “Nguyên liệu đầu vào gồm có: Thân; thọ; tâm; pháp đang bị nhận thức sai lầm, chứa đầy nhiễm ô bất tịnh, mang nặng khổ đau phiền não trong một chúng sinh… Sản phẩm cuối cùng của Phật Đạo cho ra là, một Siêu Nhân Loại, có đủ các đức tính cao đẹp của trí tuệ, thuần khiết, bất tử, thanh tịnh Niết Bàn.
Mục tiêu xuyên suốt của VÔ ĐỐI MÔN đề ra là GIÁC NGỘ, GIẢI THOÁT và TRÍ TUỆ. Do vậy VÔ ĐỐI MÔN còn có tính định hướng trong tu tập Phật đạo như một Pháp lệnh về Giáo dục.
Thuyết thông và tông thông, là tiêu chuẩn của người học phải thành tựu, là yêu cầu chất lượng sản phẩm đầu ra, của cả quy trình đào tạo.
Tác giả khẳng định “Sức mạnh của chân lý nằm ở trong thuyết thông, ở đâu có chân lý ở đó có tông thông, ở đâu có tông thông ở đó có thuyết thông, ở đâu có thuyết thông ở đó có Phật pháp, ở đâu có Phật pháp ở đó là chánh pháp, chánh pháp ở đâu ở đó có Phật”
Để đạt được các mục tiêu đề ra, 49 bài Diệu Pháp của VÔ ĐỐI MÔN đã chỉ rõ mục tiêu đào tạo, phương pháp đào tạo, nhằm làm sáng tỏ là TỨ ĐẾ; BA MƯƠI BẢY PHẨM; LÝ DUYÊN KHỞI… đúng như pháp.
Ngoài ra tác giả đã triển khai có nhiều môn học CAO CẤP TRONG PHẬT ĐẠO, như kỹ thuật thực hiện đoạn mê khai giác, “Tồi tà hiển chánh môn, đoạn mê khai giác môn”, kỹ thuật khai thị đưa người hết NGU – MÊ – LẦM bằng các phương thuốc chữa trị đặc hiệu, như GIÁC NGỘ (chữa hết cái ngu của chúng sanh), GIẢI THOÁT (chữa hết mê của bậc Thánh) và thành tựu TRÍ TUỆ (thành tựu 11 thứ trí, giải quyết hết lầm lẫn trong Phật đạo, của các vị Bồ Tát).
Những bài kinh Phật có các nội dung như Tứ đế; Ba bảy phẩm; 12 nhân duyên; Thủ lăng nghiêm; Bát nhã…vv, thật ra không còn xa lạ đối với người tu hành…Thậm chí có người còn đọc thuộc vanh vách. Nhưng mục tiêu GIÁC NGỘ, GIẢI THOÁT, TRÍ TUỆ thì vẫn còn xa vời, nhiều trường hợp rơi vào bế tắc, thậm chí cực đoan, tà kiến.
Việc nhiều người dấn thân tu tập với thời gian dài 5 năm, 10 năm, 20 năm, thậm chí dành cả cuộc đời, đến khi quay lại tự đánh giá bản thân, thì hỡi ôi ??? Ba món cột trói (tham, sân si) của chúng sanh, vẫn đeo đuổi, không dứt ra được, thậm chí còn tăng, là nỗi trăn trở khổ sở day dứt không nguôi của người tu hành???.
Đây là bài toán tu hành có rất nhiều đáp án khác nhau, gây nhiều tranh cãi nhất trong thực tế tu tập, ai cũng cho mình đúng và sẵn sàng chỉ ra chỗ sai của người khác, nhưng để có lời giải, hay phương pháp nào, cho ra đáp số đúng thuyết phục và cho ra sản phẩm trình làng, thì quả thật tôi chưa có vinh hạnh bắt gặp (ngoại trừ VÔ ĐỐI MÔN).
Một sự thật hiển nhiên là, khi có lời giải đúng, minh bạch, rõ ràng và đáp số cho ra là (Giác ngộ, giải thoát và trí tuệ) đạt được qua từng chặng, thì việc nhận ra, chỉ ra phương pháp tu tập sai, kết quả sai, không còn là việc khó!!! Như người liếm được vị ngọt của mép đĩa mật thì cũng nhận ra được hương vị (không khác) của người dùng cả đĩa mật!
Để có tác phẩm “Vô đối môn” ra đời! Huynh đệ Lý gia, dưới sự hướng dẫn của Lý Lão Sư phải trải qua một chặng đường hơn 10 năm tôi luyện, may mắn ngộ ra nghĩa TRUNG ĐẠO, nhờ đó mà có những lời giải rõ ràng minh bạch, và đã được trải nghiệm thành công trong thực tế, trên nhiều người, ở nhiều vùng miền, thuộc nhiều tầng lớp và đối tượng tu tập, được sơ kết, tổng kết nghiêm túc (trước khi công bố rộng rãi).
Phật dạy “Đạo của ta không nhọc công tốn sức”! Quả thật, tu hành không khó như người ta tưởng tượng, chỉ có những người hiểu sai, giảng giải sai, tất yếu cho ra kết quả sai, rơi bế tắc rồi chính họ quay lại đồn thổi, gây ra bao nhiêu khó khăn, làm nản chí người tu hành, không những thế còn bày ra các loại tu hành không đưa đến thành tựu như pháp.
Dưới cái nhìn của tác giả thì “Chí đạo vô nan, duy hiềm giản trạch” (Đạo chẳng khó, chỉ vì giảng giải, phân tích sai… mà thành khó).
Ví như gốc cây (căn bổn) bị dán chồng đè, quá nhiều quảng cáo (như giảng giải sai, mê lầm nhiều lớp…) che kín gốc cây (căn bổn), nay chỉ thấu suốt vấn đề, việc biết rõ thứ gì là quảng cáo (hư vọng, không thật…) thì ngay đó (chẳng phải nhọc công tốn sức) gốc cây (căn bổn) xưa nay tự hiện ra gọi là giác ngộ, giải thoát…vv…(giống như thức dậy thì hết mộng mơ)
Sau đây là một số ví dụ về sự khác biệt:
Chữ “Tâm”: Là hiệu ứng tình cảm xảy ra khi tam duyên (căn, trần, thức) hòa hợp, nó khác hoàn toàn với “Tấm lòng” mà người đời thường dùng.
Chữ “PHÁP” trong phật đạo: Là quan điểm, quan niệm, kết luận… thuộc sản phẩm nghĩ suy, của Ý CĂN bị ô nhiễm mà thành Ý THỨC…vv, như người nhặm mắt thấy hoa đốm… nhận thức Pháp này (do tâm tạo, như mộng, huyễn, bào, ảnh…), nó khác hoàn toàn với một số người hiểu rằng PHÁP (là vật ngoài tâm) như Núi non, sông ngòi, nhật nguyệt, nhà cửa, xe máy…vv…
Chữ “XẢ” trong Phật đạo xuất hiện ở (Thất giác chi) và (Tứ vô lượng tâm).
Là quả vị trong từng chặng đường tu tập (Kiến đạo) và (Tu đạo) thuộc (PHÁP XUẤT THẾ) nó khác hoàn toàn với hai chữ “BUÔNG + XẢ” được giảng giải theo nghĩa của người đời thuộc (PHÁP THẾ GIAN)…
Ngoài ra, còn rất nhiều vấn đề còn liên quan đến PHƯƠNG PHÁP tu tập, để không mắc vào bốn bệnh (TÁC, NHẬM, CHỈ, DIỆT), không ba thời…, không kẹt tứ cú…vv…
Nói chung con đường thế gian không dẫn tới NIẾT BÀN, Chìa khóa ba cõi không mở được cánh cửa XUẤT THẾ (VÔ ĐỐI MÔN). Hiểu sai (văn tự hay ngữ nghĩa) đều dẫn đến ứng dụng sai và cho ra kết quả (trái ngược với mong muốn) là phiền não…, dấu hiệu dễ nhận biết là, tam độc (THAM SÂN, SI) không những không giảm mà còn phát tác mạnh mẽ, hẫy hừng…
Với chỉ 49 bài luận Vô Đối Môn, nhưng chứa đựng đầy đủ các môn học cần thiết, không khác hệ thống giáo khoa trong ngành giáo dục Phật Đạo. Do vậy, một học trò (cầm trong tay bộ sách giáo khoa) mấy ai tự nghiên cứu thành tài nếu không có Thầy chỉ dạy, giảng giải để hiểu thật nghĩa những ngữ nghĩa trong đó? Vì vậy các vị Bồ Tát ra đời có một vai trò quan trọng, như những giáo viên truyền thụ kiến thức từ sách giáo khoa đến người học.
Bên cạnh đó, tác giả cũng đã cho ra đời những tập sách, tổng hợp những bài luận chuyên đề, đào sâu nhiều lĩnh vực thâm u của Phật đạo, hòng làm lợi lạc cho chúng sanh như cuốn “TÂM PHÁP”, chuyên bàn về “tâm” và “pháp”, cuốn “Anh Lạc Luận…I, II”, luận về những chuyên đề sâu thẳm, như Hữu Vô sơ yếu luận; chuyển thức thành trí; Nghĩa không trong Phật Đạo. Luận tiền tế, trung tế, hậu tế của 12 nhân duyên, …vv…
Khi viết những dòng cảm nhận này, bản thân tôi biết rằng 49 năm Phật thuyết pháp, số lượng ví nhiều như lông của một rừng voi, 49 bài luận của tác giả ví như số lượng lông của một con voi, còn những lời cảm nhận này ví như đầu một cọng lông voi mà thôi!
Tuy vậy, vẫn mong cho những ai đó…, đang miệt mài tu tập, cầu “Giác ngộ, Giải thoát và Trí tuệ” được “Hữu cầu tất ứng”.
“Nhật Quang thường chiếu, Chánh Pháp hiện tiền”!!!
Còn ai tò mò, muốn biết tác giả Lý Tứ là ai…??? Thì có thể tìm hiểu qua 4 câu kệ của tác giả:
“Thầy hay là Phật cũng danh thôi !!!
Vạn loại hữu tình “chỉ nói chơi”!!!
Cái thật ra ngoài danh và tướng…
Ai người biết được “cái kỳ khôi” !!!
Ha ha ha ha !!! (Lý Tứ) ”
Xin đảnh lễ tri ân tác giả đã cho ra Diệu Pháp thời hiện đại!!!
Người viết cảm nhận, TRÍ MINH
Cảm Nhận Khi Đọc "Vô Đối Môn" - Minh Nguyệt Chu

Kính thưa tác giả Lý Tứ!
Sau thời gian dài theo dõi Vô Đối Môn, bản thân Minh Nguyệt Chu học hỏi được rất nhiều điều bổ ích từ các bài VĐM do huynh Binh.Tram đăng trên facebook!
Song song với điều đó, Minh Nguyệt Chu tư duy, ứng dụng các cách thức tu tập từ Vô Đối Môn. Nhờ thế, tâm thức của Minh Nguyệt Chu cũng an ổn rất nhiều, một kết quả tu tập không ngờ!
Hôm nay, nghe thông báo Vô Đối Môn sắp lên kệ… Tin này làm MNC dấy lên trong lòng một chút nôn nao, chờ đợi! Nôn nao, chờ đợi vì sắp cầm được quyển Vô Đối Môn trên tay…
Xin cảm ơn những bài viết tuyệt vời từ Vô Đối Môn của tác giả Lý Tứ!
——————————————
Khi đọc những bài viết về lĩnh vực Phật Pháp thì theo tôi, những bài viết trong Vô Đối Môn của tác giả Lý Tứ thật là thấu tình đạt lí…
Dể hiểu, dể ứng dụng… Và tự thân tuy chỉ ứng dụng một phần nhỏ lời dạy trong Vô Đối Môn. Nhưng đã giúp tôi sống, và làm việc trong an vui hơn, tốt đẹp hơn, và có lợi ít hơn…
Bên cạnh đó, những bài viết trong Vô Đối Môn cho thấy tính nhất quán, và mang tính hướng nghiệp cao… giúp tôi nhận ra rằng: “Phật Đạo là một nền giáo dục toàn diện “.
Nếu bảo rằng :” Sách là người Thầy số 1″ thì Vô Đối Môn của tác giả Lý Tứ…đúng là số 1, đúng là bất khả tư nghì đối với những ai muốn tìm hiểu, học tập, và ứng dụng tu hành… Cảm ơn tác giả rất nhiều… Và tôi rất mong đến ngày, được cầm quyển sách Vô Đối Môn trên tay.
Bạn đọc: Minh Nguyet Chu
Tháng Tám 3, 2019