Người Bạn Mới Quen Từ "Fanpage Lý Tứ"
Nếu chỉ dựa vào sức mạnh cơ bắp để giải quyết khối đá, có khi lao động hết một đời, khối đá không sứt mẻ bao nhiêu... Nhưng, với sức mạnh trí tuệ, người ta có thể giải quyết khối đá đó trong tích tắc, vừa không nhọc công tốn sức, vừa mang lại hiệu quả cao!!!

Cách đây hai hôm, mình có trao đổi bằng điện thoại với một người bạn chưa quen (chỉ thông qua vài tin nhắn trên FB)!!!
Cuộc trao đổi khoảng một tiếng đồng hồ gồm nhiều đề tài, ở đây, mình xin sơ lược một vài nội dung của cuộc trao đổi ấy, coi như một chút mua vui cho mọi người đang xem trang!!! (vì chưa được phép, nên tên người bạn kia, mình tạm gọi là Anh “X”!!!
− A lô!!! Có phải anh “X” không??? Tôi là Lý Tứ đây!!!
− Chào Ngài!!! Tôi là “X”, rất hân hạnh được nghe điện thoại của Ngài!!!
− Ha ha ha ha!!! anh cứ xưng hô bình thường để buổi nói chuyện thân mật và gần gũi... Tôi chẳng phải là ngài hay bướm gì hết!!!
− Thế cho tôi gọi bằng Thầy vậy!!!
− Ha ha ha ha!!! Tuỳ anh!!! Xin lỗi, Anh năm nay bao nhiêu??? Biết tuổi của nhau dễ xưng hô hơn!!!
− Tôi, tuổi con ngựa!!!
− Ồ! Tôi cũng con ngựa, anh với tôi bằng tuổi!!! Cùng thế hệ, dễ thông cảm nhau hơn!!!
− Thầy là người xuất gia hay tại gia???
− Tôi cũng là người tại gia như anh!!!
− Tôi trước học Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, có học Đại Học Vạn Hạnh... Về tu hành, cũng có thời gian dài tu tập, nghiên cứu Phật Pháp... Vừa qua, vô tình đọc được bài của Thầy trên mạng, cách viết của Thầy đã mê hoặc tôi từ bài đầu tiên...!!! Làm thế nào để Thầy viết được những điều như thế???
− Cảm ơn anh!!! Có gì đâu, tôi chỉ kể chuyện trong nhà của mình, kể chuyện nhà của mình không khó!!! Chỉ khi nào kể chuyện nhà người mới có điều đúng, điều sai, thậm chí vắt óc suy nghĩ, hay thêm mắm dặm muối, màu mè chút đỉnh cho tăng phần hấp dẫn, nhưng khi đọc lên nghe cũng không thông!!!
− Tôi theo dõi trang của Thầy, nhận thấy HĐ Lý Gia phần lớn còn rất trẻ, làm các ngành nghề như mọi người trong xã hội, có người chưa từng gặp mặt Thầy... Nhưng, theo đánh giá của tôi, HĐ Lý Gia hiểu Phật Pháp rất sâu, bài bản!!! Làm thế nào để Thầy giúp họ được như vậy???
− Họ đọc các bài viết của tôi, điều gì không hiểu, tôi cắt nghĩa, giải thích cho họ, nhờ thế các bạn ấy hiểu ra vấn đề nhanh chóng!!!
− Tôi chưa từng thấy ở đâu, các đệ tử thương yêu và xưng tán Thầy của mình như HĐ Lý Gia... Điều này, làm tôi ngạc nhiên!!!
− Chúng tôi thương yêu nhau, thường xưng tán điều tốt của nhau, không rao lỗi người khác, không dòm ngó nhà người (đây được coi là điều đại kị của Lý Gia), tránh xa thị phi, chỉ nói lời khiến chúng hoà hiệp, v.v... Phật dạy, muốn thành tựu Văn Hoá Vô Lậu, phải học tập và thực hành như thế, HĐ Lý Gia thấm nhuần lời dạy đó, coi Văn Hoá Vô Lậu là sức mạnh tinh thần, và là linh hồn làm nên Lý Gia!!!
− Thế Thầy có dạy cho HĐ Lý Gia ngồi thiền hay công phu gì không???
− Không!!! Có rất nhiều HĐ Lý Gia không biết ngồi thiền là gì!!! Hai từ công phu không có trong từ điển Lý Gia!!! Ha ha ha ha!!!
− Không ngồi thiền, không công phu, v.v... làm sao Thầy có thể giúp cho họ thành tựu những điều cần thành tựu trong Phật đạo???
− Điều này, tôi xin đưa ra một ví dụ, nhân ví dụ, Anh có thể hiểu cách giải quyết vấn đề của chúng tôi:
“Giống như trên con đường lớn, có một khối đá thật to chắn ngang, bít hết lối đi... Để giải quyết khối đá đó, thông thường có hai cách!!!
─ Cách thứ nhất: Người ta dùng sức mạnh cơ bắp để giải quyết khối đá...!!!
─ Cách thứ hai: Người ta dùng sức mạnh trí tuệ để giải quyết khối đá...!!!”
Theo tôi, nếu chỉ dựa vào sức mạnh cơ bắp để giải quyết khối đá, có khi lao động hết một đời, khối đá không sứt mẻ bao nhiêu... Nhưng, với sức mạnh trí tuệ, người ta có thể giải quyết khối đá đó trong tích tắc, vừa không nhọc công tốn sức, vừa mang lại hiệu quả cao!!! Tôi chọn giải pháp thứ hai cho các HĐ của mình!!!
− Thầy có thể nói cụ thể một chút được không???
− Theo tôi, mỗi con người sinh ra trên thế gian này, đều tiềm ẩn trong họ sức mạnh trí tuệ...!!!
Vấn đề ở đây là, ta có biết cách khai thác sức mạnh trí tuệ đó hay không mà thôi!!!
Đối với HĐ Lý Gia, tôi khai thác tối đa sức mạnh trí tuệ của từng người, dùng trí tuệ của chính người đó để giải quyết khối đá nhân ngã, vô minh, lậu hoặc, v.v... trong tâm thức của họ, chứ không yêu cầu các bạn ấy dụng công!!!
Nhờ thế, chỉ sau vài câu nói, dăm bảy ngày học tập, phiền não, lậu hoặc, v.v... trong họ giảm thiểu đến mức thấp nhất, và an vui tức thì hiện khởi... Chỉ còn đợi thời cơ chín muồi, tôi giúp họ thành tựu những điều cần thành tựu tiếp theo!!!
Đây cũng là lí do vì sao, các bạn ấy tuổi đời còn rất trẻ, giác ngộ sớm, hiểu Phật Pháp đến nơi đến chốn, nhưng lại có bạn không... biết... ngồi... thiền!!!
− Thế Thầy có biết được chính Thầy hay không???
− Ha ha ha ha!!! Tôi biết về mình rất rõ!!!
− Thầy biết về mình như thế nào???
− Tôi biết, bản thân là một người bình thường như bao nhiêu người bình thường trên cõi thế, chẳng có gì đặc biệt, thậm chí hơi nhà quê một chút vì ít tiếp xúc (nhiều năm rồi, tôi sống gần như ẩn dật)!!! Chỉ có một điều, tánh tình hơi cổ quái, tư duy vấn đề cũng quái không giống ai, ứng xử có chút quái quái... Nên HĐ thương tình, đặt thêm cho tôi “xú danh” là Lý Tam Quái!!!
− Thầy có biết rõ (cảnh giới) học trò của mình hay không???
− Tôi biết rất rõ từng người, nhờ biết như vậy mới có thể giúp họ vượt lên cảnh giới tâm thức hiện tại, để thành tựu những bước cao hơn ở vị lai!!!
− Thầy có biết chữ Hán hay không???
− Để có thêm phương tiện nghiên cứu giáo pháp, ba mươi năm trước, tôi có học tiếng Hoa, gom lại chừng vài cái lá mít... Nhưng bây giờ, vì ít sử dụng nên: “Nó nhớ tôi, mà tôi không nhớ nó”!!! Ha ha ha ha!!!
− Tôi cũng như thế!!! Ngày còn học Văn Khoa, có học Hán Nôm, nhưng bỏ lâu, bây giờ cũng quên...muốn...hết!!!
− Tạm biệt!!!
"Vô Đối Môn'' Và "Vàng"
Viết lên điều này, mình muốn nhắn nhủ với các bạn trẻ đã ra trường, có công ăn việc làm: “Hãy sống bằng trái tim yêu thương với thế hệ đàn em” !!!

Hôm nay, mình xin kể với các bạn hai câu chuyện... Một câu chuyện xảy ra cách đây mười năm, và một câu chuyện xảy ra cách đây mấy tiếng đồng hồ !!!
*Câu chuyện của mười năm trước:
Hôm đó, mình và một vài vị bằng hữu đàm đạo ở Quảng Nam... Có một bà chị hỏi mình:
-Thầy ơi! Những ngày cúng đám, tôi thường hay đốt vàng bạc, hàng mã cho người đã khuất, không biết ở dưới đó các cụ có hưởng được các thứ ấy, và tôi cúng như vậy, các cụ có nhận được hay không ???
Mình trả lời:
-Về câu hỏi thứ nhất của chị, tôi chưa từng xuống dưới, nên không biết ở dưới có xài mấy thứ đó hay không... Cho nên, tôi không thể trả lời câu hỏi này !!!
-Về câu hỏi thứ hai, theo tôi biết, việc gởi nhận một món quà bất kì, phải tuân thủ nguyên tắc sau: Người gởi phải viết tên và địa chỉ người nhận rõ ràng, địa chỉ càng cụ thể, món quà càng ít thất lạc (có số ĐT càng tốt)... Nếu chị gởi những món đồ đó cho các cụ mà tuân thủ nguyên tắc trên, chắc các cụ nhận được !!!
-Chị ấy !!!!!!?????
*Câu chuyện thứ hai:
Chiều nay, có một bạn trẻ đến thăm... Bạn ấy thời còn SV (nhà nghèo) được mình tài trợ học phí suốt các năm học đại học... Vì thế, dù đã ra trường, có công việc hẳn hoi, thỉnh thoảng bạn ấy khi về phép, cũng thường ghé thăm mình !!!
Bạn ấy kể:
-Em có vào trang của Thầy, và rất thích những bài thầy viết !!!
Mình hỏi bạn ấy:
-Thế em có đọc Vô Đối Môn hay không ???
Bạn ấy trả lời:
-Em có đọc và cũng tập ứng dụng những điều thầy dạy !!!
Sẵn mấy cuốn Vô Đối Môn còn thơm mùi giấy để trên bàn, mình nói với bạn ấy !!!
-Nếu em thích, tôi tặng em một cuốn !!!
Bạn ấy trả lời:
-Em rất mong, đợt này về đây trước thăm thầy, sau xin thầy một cuốn !!!
Mình đưa cuốn sách, và hỏi:
-Em thấy cuốn sách thế nào ???
-Thầy ơi! Em quý nó hơn vàng !!!
Mình buộc miệng nói với bạn ấy:
-Cảm ơn em đã cho Vô Đối Môn một giá trị mà tôi không ngờ !!! Nhưng giả sử, tôi để một bên là Vô Đối Môn, một bên là cục vàng... Em chọn món nào ???
-Bạn ấy, nhoẻn...miệng...cười...bẽn...lẽn !!!!????
*P/S: Mình xin bật mí với các bạn trẻ:
Con của mình là giảng viên, mình đã cho cậu ấy một mệnh lệnh của trái tim: “Con không được phép để SV của mình nghỉ học vì nghèo... Nếu gặp trường hợp như vậy, cho ba biết, ba sẽ tìm cách giúp các bạn ấy” !!!
Viết lên điều này, mình muốn nhắn nhủ với các bạn trẻ đã ra trường, có công ăn việc làm: “Hãy sống bằng trái tim yêu thương với thế hệ đàn em” !!!
*Có một số bài viết gởi về Nhóm Lý Gia yêu cầu đăng, nhưng chỉ có tên bài mà không thấy nội dung... Do không đọc được nội dung, vì thế mình phải từ chối (đăng) các bài đó !!!
Khi gởi bài, đề nghị các bạn xem lại bài viết đặt ở “chế độ nào” (từ dấu ba chấm bên góc phải phía trên bài viết) ??? Hay các bạn đã “chặn” mình, nên mình không đọc được !!! Ha ha ha ha !!
Hai Anh Quảng Nôm Bàn Chuyện..Tánh Không

B: Cả tuần ni không gặp mi, ở nhà tau nghiền ngẫm mấy cuốn sách nói về “tánh không”. Thú thiệt với mi, dù cố gắng hết sức, tau cũng không thể lãnh hội ý nghĩa của tánh không, thậm chí nếu cố áp đặt rằng mình hiểu một chút gì đó về cái tánh quỷ quái ni, thì cũng như cố hiểu về ông kẹ! Mi có thể cắt nghĩa tánh không là thứ tánh chi hay không, triết lí của nó ra răng?
A: Răng mi không hỏi những vị tuyên thuyết về cái nớ! Mi thấy hồi mới quen tới chừ, có khi mô tau đề cập đến tánh không mô mà mi biểu tau cắt nghĩa. Nói khác hơn, tau chỉ có bổn phận giải thích những gì mình nói, vì tau có trách nhiệm về những gì mình nói ra, còn người khác nói, biết họ nói với ý chi, biết họ nói đúng hay sai mô mà a đầu vô cắt nghĩa! Họ nói đúng, mình cắt nghĩa, giải thích còn chấp nhận được! Lỡ họ nói sai, mình cũng làm tài khôn, nhảy vô bàn luận, giải thích, cắt nghĩa, v.v... có phải đi làm trò cười cho người hiểu biết hay không? Thành ra, cái người ta nói, mình biết rõ điều nó là đúng, may ra tham gia chút chút, còn cái chi mình còn mơ hồ, thì thôi im cái miệng là khôn ngoan nhứt! Mi có đồng ý với tau điều ni không?
B: Đồng ý! Hoàn toàn đồng ý cả hai chưn (chân) hai tay! Nhưng có hồi mô mi nghe nói đến hai chữ tánh không hay chưa?
A: Có! Có nhiều! Đầy lỗ tai! Nhưng bản thân tau, không đồng ý với quan điểm cho rằng “tánh của các pháp là không” hoặc “các pháp tánh không”!
B: Răng mi không đồng ý! Không đồng ý chỗ mô!
A: Theo tau biết, các pháp không tánh, chớ không phải tánh không!
Nếu bảo rằng các pháp có một thứ tánh hay tính chất của nó là không, thì pháp ni không thể thay đổi, bởi cái chi có tánh thì cái đó là thường. Mà Phật dạy: “Hết thảy các pháp hữu vi, đều vô thường biến hoại”, như rứa ai bảo rằng, các pháp có tánh, cho dù đó là tánh không hay tánh có, lời ni ngược với lời Phật!
B: Mi có thể cắt nghĩa cụ thể hay không?
A: Pháp là đối tượng của ý căn, tức pháp là các thứ nghĩ suy, quan niệm, nhận thức, v.v... Mà, nghĩ suy, quan niệm, nhận thức, v.v... tự nó không có tánh.
Như thế nào là không tánh? Ví dụ:
− Khi mi nghĩ về nóng, cái suy nghĩ ni nó không có tánh nóng. Nếu nghĩ suy có tánh nóng, trời lạnh chỉ cần nghĩ đến nóng sẽ hết lạnh và sẽ không phải mặc áo len!
− Hoặc giả, mi khởi lên quan niệm giờ này tôi no, nếu quan niệm của mi có tánh no, thì lúc đói mi không cần ăn, chỉ cần khởi quan niệm no là sống thoải mái, sống dai nhách, sống bền vững, không phải đi làm chi cho mệt!
− Khi mi nhận thức con trâu ni bự, con gà nớ nhỏ. Hai nhận thức về trâu và về gà trong cái đầu của mi không có tánh (hay tướng) lớn nhỏ. Nếu mi nhận thức con trâu nó lớn, mà nhận thức đó lớn như con trâu thiệt ở ngoài, thì cái đầu mi bể từ khuya rồi, mô còn đến bữa ni mà đi uống cà phê với con nhỏ mắm ruốc ni!
Tau đưa ra ba ví dụ về ba loại pháp nêu trên, để cho mi thấy rằng “các pháp không tánh”. Tức trong nhận thức, nghĩ suy, quan niệm, v.v... tự nó không hề có tánh!
Từ những ví dụ trên, mi có thể hiểu ra các pháp chẳng những không có tánh, mà nó cũng không có tướng, cho nên Phật dạy: “Các pháp tự nó bình đẳng!” Tức trong suy nghĩ tự nó không có tánh trâu hay tánh gà, cũng không có tướng trâu tướng gà, vì không có tánh tướng như rứa, nên hai nghĩ suy (trâu, gà) bình đẳng!
− Còn về thế giới, theo tau biết, thế giới cũng không tánh chớ không phải tánh không! Ví dụ như, trên trái đất ni, vì không tánh nên khi đủ duyên mi cất nhà, hết duyên cái nhà thành đống gạch vụn. Nếu thế giới tánh không, thì chẳng thể làm nhà, đào ao, hay làm thứ chi được hết, vì tánh chất nó là không. Đã là không thì, có làm cái chi cũng thành không, bởi bản chất nó như rứa mà!
− Về hữu tình, tau cũng biết rằng, hữu tình cũng không tánh. Do không tánh, nên khi mê, hữu tình đó là chúng sinh. Hết mê, hữu tình đó là thánh! Nếu hữu tình tánh không, tức tính chất nó là không, thì không thể có người trí kẻ ngu, không thể có kẻ mê người ngộ, nói chung không thể giáo dục, tu hành chi ráo nạo! Tau nói những điều như rứa, mi có hiểu tau nói chi không?
B: Sau khi nghe mi nói, tau hiểu! Đúng là các pháp không tánh chớ không phải tánh không! Nhưng tau vẫn thắc mắc, rứa tại răng xưa ni, người ta luôn giảng nói và luận giải về tánh không? Không lẽ họ hiểu sai?
A: Họ hiểu sai hay đúng, tau không dám kết luận, muốn rõ ràng hơn mi đi hỏi họ, tau chỉ biết như rứa!
B: Theo mi, giữa hai nghĩa tánh không và không tánh, nghĩa mô ưu việt hơn?
A: Theo nhận định chủ quan của tau, khi thấu suốt thật nghĩa “vạn pháp không tánh”, nghĩa ni rất thực tế, dễ ứng dụng tu tập. Vì rằng, vì khi biết rõ các quan niệm, nghĩ suy, nhận thức, căn thân, thế giới, v.v... đều không có tánh, người tu hành sẽ không mê mấy thứ đó. Người trí, biết nó không tánh, không tướng thì mê mà làm chi? Mà đạo Phật, dứt mê là cơ sở quan trọng đầu tiên đưa người đến giác ngộ, thành ra pháp mô giúp người mau chóng dứt mê, mau chóng giác ngộ, pháp nớ theo tau là ưu việt nhứt! Là number one!
B: Nhưng tau nghe thiên hạ đồn, Bồ Tát Long Thọ giảng như rứa mà?
A: Tau hỏi mi, Bồ Tát Long Thọ giảng như rứa, hay mấy anh sau này hiểu như rứa! Giống như anh mũi lõ nói Ô Kê, anh mũi tẹt hiểu thành Kê Ô. Từ chữ OK là tốt, chấp thuận, chấp nhận, đồng ý... biến thành Kê Ô là con gà đen, chuyện ni xảy ra cũng có lạ chi mô!
Tau cũng biết một số người, hể gặp nhau là họ bàn luận tánh không, thậm chí còn giảng nói triết lí tánh không gì gì đó! Nhưng, theo nhận xét của tau, mấy anh ni gặp nhau triết lí chưa xong, anh mô cũng ôm cục giận đi về, chẳng anh mô giải quyết thoả đáng cho anh mô!
Có một sự lạ là, bàn đến chuyện ni là mấy ảnh giận nhau, nhưng ngày mô mấy ảnh cũng gặp cũng bàn! Mi thấy cái “triết lí tánh không” chi chi đó, nó có lạ không rứa! Tau khuyên mi! “Củi tre dễ nấu, vợ xấu dễ xài”. Triết lí tánh không chi chi đó, cao siêu quá, biết mình không đủ sức lãnh hội mà cố học, cố tư duy, có ngày đi Biên Hoà như chơi!
Hai chữ “không tánh” tuy xấu xấu một chút, chẳng bằng mấy em hoa hậu, bình dân học vụ, nhưng dễ hiểu, dễ giác ngộ, dễ xài! Mi cứ xài đi, không giác ngộ thì cũng hết mê, khỏi tốn tiền mua Ích Tâm Khang, Abilify, Clozaril, Depakote, Geodon, hay Klonipin!!!!!!
Thông báo bài viết mới
Xin chào Quý Đọc Giả,
Website Lý Tứ vừa có bài đăng mới, vui lòng nhấn vào liên kết bên dưới để theo dõi.
https://lygia.net.vn/tac-pham-ly-tu/hai-anh-quang-nom-ban-chuyendao-phat-vaphat-phap
Trân trọng,
Hai Anh Quảng Nôm Bàn Chuyện..Đạo Phật Và..Phật Pháp

B: Bữa trước tau có nghe mi nói: “Với mi, Đạo Phật và Phật pháp là hai thứ. Mi đi chùa vì mi là tín đồ của Đạo Phật, còn nghiên cứu Phật pháp là để tự thay đổi bản thân, hai thứ ni phân minh!” Mi có thể giải thích để tau hiểu rõ được không?
A: Mi muốn hiểu rõ điều chi trong hai thứ nớ?
B: Tau muốn biết, Đạo Phật và Phật pháp khác nhau ở chỗ mô?
A: Theo tau, Đạo Phật là một tôn giáo, cũng giống như bất kì tôn giáo mô ở đời, tức cũng có giáo chủ, giáo luật, giáo lễ (nghi thức, lễ hội), giáo hội, giáo quyền, giáo chúng, giáo sở, v.v... Và, tín đồ của họ đều coi giáo chủ là đấng tối cao cũng như đặt niềm tin trọn vẹn vào giáo chủ. Nói chung, về mặt tâm linh, về mặt hình thức, về mặt đức tin, theo cái nhìn chủ quan của tau, các tôn giáo không khác nhau là mấy!
Còn Phật pháp! Theo tau, đây là một nền giáo dục, một thứ triết lí, một loại văn minh, một hình thức văn hoá, v.v...
Phật pháp chủ yếu khai thác tối đã sức mạnh trí tuệ trong mỗi con người, hay khác hơn là, dùng chính trí tuệ của người đó để giải quyết vấn đề tâm thức, nhằm đạt đến mục tiêu được coi là hoàn hảo nhất của nền giáo dục đó đề ra.
Vì thế, Phật pháp không chú trọng nhiều đến các hình thức bên ngoài hay tâm linh như tôn giáo!
Theo tau biết, ngày còn tại thế, Đức Phật là một vị thầy, các môn đồ là những học trò, họ cùng tụ tập dưới gốc cây, bãi đất trống, v.v... để nghe Phật giảng thuyết về triết lí của mình gọi là văn, nếu trong lúc nghe giảng chưa thấu đáo, các đệ tử tìm nơi vắng vẻ chiêm nghiệm lời dạy gọi là tư (thiền tư), hiểu xong họ ứng dụng lời dạy đó vào đời sống cho đến khi nào thuần thục gọi là tu.
Đề khỏi quên lời Phật dạy, họ chia thành từng nhóm nhỏ, đứng đầu là các trưởng lão, họ thường xuyên tụng lại các lời giảng vừa nghe như một hình thức ôn bài (tụng đọc để không quên, là cách giải quyết vấn nạn chưa có văn bản ghi chép sự kiện). Kèm theo đó, họ cùng nhau mổ xẻ, trao đổi, đào sâu ý nghĩa lời dạy gọi là luận! Ở những nơi cách xa Phật, các vị hiểu biết nhiều, học cao hơn các vị còn lại, thay mặt Phật giảng nói những điều Phật đã dạy, gọi là Bồ Tát!
Về nghi thức, họ có cách ứng xử riêng giữa thầy và trò, giữa huynh trưởng với người dưới, v.v... Như đi nhiễu, quỳ xuống hôn chân Phật, chắp tay cung kính với người trên. Theo tau, đây là một loại văn hoá ứng xử thời đó, quỳ lạy là phép cung kính tối cao, chứ không mang nặng ý nghĩa van xin!
Về luật lệ, để bảo đảm tính ổn định của một tổ chức, họ có những luật lệ riêng, mọi người trong tổ chức phải tuân thủ nội quy đề ra, luật lệ đó chính là giới luật ngày nay. Giới luật với họ: Về đối nội, đây là biện pháp nhằm ổn định tổ chức, giúp cho việc học tập không bị xáo trộn, hoặc đời sống giảm thiểu rắc rối (giống như nội quy trường lớp). Về đối ngoại, giới luật giúp tăng uy tín, tạo sức ảnh hưởng to lớn, và hình thành nét đẹp cao quý trong con mắt xã hội! Vì thế, Phật chỉ chế giới, khi trong tổ chức có người vi phạm làm mất tính ổn định của tổ chức, hoặc bị xã hội phê phán!
Về tu học, Phật trình bày thế giới quan và nhân sinh quan do bản thân giác ngộ và nêu bật lợi ích thiết thực của nó, gọi chung là Phật pháp. Từ thế giới quan và nhân sinh quan đó, người tu hành thấu triệt và thấm nhuần đến khi không còn u mê, gọi là thành tựu vô lậu giới. Từ vô lậu giới đã thành tựu, tâm ý tự an định gọi là định vô lậu. Do biết rõ con đường mô hữu lậu con đường mô vô lậu, gọi là tuệ vô lậu. Theo tau, đây là nét đặt trưng của giáo pháp, và chỉ khi nào người tu hành thấm nhuần nhân sinh quan và vũ trụ quan do Bậc Đại Giác tìm ra mới đạt đến hiệu ứng tuyệt vời ba (3) trong một (1) ni.
Vì thế, vô lậu giới không giống hữu lậu giới (một hình thức của nội quy, ngăn cấm)! Tu tập đầy đủ ba thứ giới, định, tuệ hữu lậu (của thế gian), chỉ cho ra đạo quả thế gian (hữu lậu), đạo quả đó cao nhất là giúp người tu hành trở thành một người có đạo đức trong đời, chớ không thể vượt thoát ra khỏi ba cõi hữu lậu!
Ngược lại, thấu suốt những gì gọi là vô lậu giới và thành tựu giới ni, nhất định người đó sẽ thành tựu định và tuệ vô lậu! Đây là nét đặc trưng, là hệ quả tất yếu do tính chất siêu việt của giáo pháp, và nó chính là con đường duy nhất dẫn đến một trong ba cánh cửa giải thoát, gọi là tam giải thoát môn, tức cửa không, cửa vô tướng và cửa vô tác! Mi có thể thấy đặc điểm ni ở thời kì đầu của giáo pháp, lúc đó Phật chưa chế giới (hữu lậu) nhưng người chứng thánh quả rất nhiều!
B: Nói như mi, thời Phật như một trường học. Mần răng mà Phật pháp lại biến thành Đạo Phật?
A: Do quá trình phát triển, do tác động lịch sử, do niềm tin của người, do thuận theo nhu cầu xã hội, do Phật pháp siêu quá tư duy bình thường, do năm thời kì dẫn đến chánh pháp suy vong như tau nói với mi hôm trước, v.v... Nói chung, có vô số lí do từ chủ quan đến khách quan, mà lí do chủ yếu vẫn là “pháp nhĩ nó như vậy”!
Mi thấy đó, ví như Đạo Khổng! Ngày xưa Khổng Tử là người thầy, mở trường dạy môn hạ của mình đạo lí do ông ta tìm ra gọi là Nho giáo. Đến hôm nay, vì trân trọng bậc thầy, người ta lập Khổng Miếu (miếu thờ Khổng Tử), lẽ ra Khổng Miếu là nơi thờ phụng, tri ân và là nơi học tập tư tưởng Khổng gia. Nhưng trái lại, hầu như trong hiện tại, người ta đã biến những nơi ấy thành chỗ cúng bái, cầu xin (một hình thức tín ngưỡng, tôn giáo), coi Khổng Tử như một vị thần linh. Như rứa ta có thể thấy, thịnh suy và biến thể là quy luật gần như muôn đời đối với các hệ tư tưởng phương Đông!
B: Theo mi, Đạo Phật xuất hiện trong đời, ích lợi có nhiều hay không?
A: Nói đến lợi ích, thì Đạo Phật hay bất kì tôn giáo mô cũng có những lợi ích nhất định của nó, đây là điều hiển nhiên không thể chối cãi. Vì tôn giáo đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tâm linh của những người theo đạo đó! Và phần lớn, tôn giáo, tín ngưỡng ra đời phát xuất từ nhu cầu có thật của xã hội, chứ chẳng phải bỗng dưng mà thành! Nói chung, khi nào con người còn chưa thật sự giác ngộ, thì tôn giáo hay tín ngưỡng vẫn là chỗ dựa tinh thần không thể thiếu!
Nhưng mà, nếu người tu hành trong Phật đạo chỉ biết có một Đạo Phật, không tìm hiểu, tu học đúng với tinh thần giáo pháp thì, lợi ích không nhiều như mong muốn của giáo pháp! Thậm chí, chỉ sa đà vào chức năng tôn giáo, chính Đạo Phật đôi lúc lại đi ngược tinh thần giáo pháp!
B: Tau thấy nơi chùa am, người ta cũng đề ra khẩu hiệu “Duy Tuệ Thị Nghiệp”, tức là nơi đây ngoài việc đáp ứng yêu cầu của một tôn giáo, họ còn chú trọng đến việc dạy người giáo pháp!
A: Tau cũng thấy như rứa! Biện pháp lồng ghép ni theo tau là đúng, không có gì để bàn! Nhưng, như tau nói hôm trước: “Đạo giác ngộ, phải được giảng dạy bởi những người giác ngộ, bây giờ người học mới có cơ may giác ngộ! Còn ngược lại, thì hòn than mô cũng đen thui như hòn than mô!”.
Thành ra, trước khi dạy người đạo giác ngộ, bản thân phải giác ngộ. Nếu chưa giác ngộ, khi dạy người chỉ nên giảng dạy những điều căn bản của giáo pháp, không nên dạy những gì mà ta chưa thật sự thấu đáo, hoặc những thứ giáo pháp không có yêu cầu. Nhưng, phần lớn người dạy, sợ người nghe chê mình dốt, cao hứng, tỏ ra mình hiểu biết, nói những thứ mình chưa biết, chưa nắm vững, việc ni theo tau, chẳng những không đem lại lợi ích, mà có khi hại cả đôi bên! Vì rằng, trong giáo dục, dạy sai, dạy người cái mình không hoặc chưa biết, hoặc dạy ngoài giáo trình, là điều không thể chấp nhận!
B: Theo mi, những điều như rứa đã xảy ra hay chưa?
A: Theo những gì tau biết, những điều như rứa xuất hiện nhan nhản! Tất nhiên theo tau nghĩ, “không phải mọi nơi đều như rứa”, nhưng cái “không phải mọi nơi đều như rứa” thì bản thân tau chưa thấy! Cũng như bản thân mình không thể thấy hết mọi nơi là điều chắc chắn! Nhưng, những gì tau thấy, tau nghe, tau chứng kiến thực tế là như vậy!
Tau chỉ cầu mong, trên cõi đời này, còn có những nơi Đạo Phật vừa mang hình thức tôn giáo nhằm giải quyết nhu cầu tâm linh cho người, vừa là nơi giúp người giác ngộ đúng như tinh thần giáo pháp là, “giải quyết sự u tối, triền phược của tâm thức!”.
Có làm được như thế, chuyện thịnh suy của giáo pháp, mới không còn là trăn trở của những người như tau, mi và con nhỏ ni!
Khoá Học Hạnh Phúc Quanh Ta K01 - Buổi 16 Chủ Đề: Tổng Quan 37 Phẩm ; Tầm Quan Trọng Của Tư Lương Vị
Khoá học Hạnh Phúc Quanh Ta - K01 - Giọt Mưa Đầu Mùa - Buổi 16
Chủ đề: Tổng quan 37 phẩm ; Tầm quan trọng của Tư lương vị
Diễn giả: Lý Lục Nhật
Khóa Học Hạnh Phúc Quanh Ta K01 - Buổi 15 - Ngũ Trược - Chánh Báo Và Y Báo
CHƯƠNG TRÌNH HỌC TẬP LÝ GIA MỞ RỘNG !!!
LỚP HẠNH PHÚC QUANH TA - K01 - GIỌT MƯA ĐẦU MÙA - BUỔI 15 !!! 20/02/2023 !!!
Chủ đề: Ngũ trược - Chánh báo và Y báo !!!
Diễn giả: Lý Giác Thư !!!
Tam Muội Là Gì ???

֎Hỏi
Các bạn!!! ... Mình vừa nhận được email của Nguyên!!! ... Trước giờ vẫn thế, điều gì chưa thông, tư duy chưa thấu đáo, bạn ấy quyết tìm hiểu đến nơi đến chốn!!!
Đạo Phật là đạo trí tuệ, muốn thành tựu trí tuệ, không có con đường nào khác hơn là phải học tập, tích luỹ kiến thức, tư duy tận nguồn cơn để thấu suốt ý nghĩa của các kiến thức ấy và ứng dụng thuần thục vào đời sống, nhằm biến kiến thức trở thành thành văn hoá, trở thành lẽ sống... Tức, ta và kiến thức đồng nhất thể, ta là kiến thức, kiến thức là ta, ta và kiến thức không hai (bất nhị, năng kiến sở kiến đồng tịch diệt) ... Các việc làm trên, chính là thực hiện ba pháp “văn, tư, tu” của Phật đạo!!! ... Xin tán thán thái độ học tập, tinh thần tư duy của Nguyên!!! Trong email, Nguyên đã viết:
“Thầy kính!
Vừa rồi Thầy đã chỉ dạy cho con về bốn cấp độ quán 12 nhân duyên. Con đã thông suốt được rất nhiều điều. Nhưng có đoạn sau đây, con chưa hiểu rõ:
− Khi quán thấu suốt nội lục nhập, Bồ tát giác ngộ: Một hữu tình bản lai không có cái gọi là tâm (tạm gọi là vô sanh tâm)!!!
− Khi quán thấu suốt ngoại lục nhập, Bồ tát giác ngộ: Một hữu tình bản lai không có cái gọi là pháp (tạm gọi là vô sanh pháp)!!!
Thầy cho con hỏi, quán thấu suốt nội lục nhập và ngoại lục nhập là quán như thế nào? Tại sao khi quán thấu suốt điều này, Bồ tát giác ngộ: Một hữu tình bản lai không có tâm (tạm gọi là vô sanh tâm), không có pháp (tạm gọi là vô sanh pháp).
Thầy cho con hỏi thêm: Trong Kinh Đại Bát Nhã, Kinh Hoa Nghiêm và Kinh Đại Bát Niết Bàn. Trong các Kinh này đề cập rất nhiều, rất nhiều Tam Muội. Tại sao lại nói nhiều Tam muội như vậy? Nói như vậy với mục đích gì? Tam muội nào quan trọng? Nên chọn các Tam muội nào để ứng dụng Tu tập?
Con cảm ơn Thầy rất nhiều!!!"
֎ Đáp:
Nguyên và bạn đọc thân mến!!! ... Trước khi trao đổi hai phép quán nội lục nhập và ngoại lục nhập (thập nhị nhập), mình xin khái quát ý nghĩa của hai thứ nhập này!!!
Theo quan điểm của Phật đạo trên tinh thần Thập nhị nhân duyên (12 nhân duyên) thì, sau khi nghiệp thức từ bỏ thân nghiệp cũ và tìm được một thân nghiệp mới có cùng nghiệp quả...
● Chờ cho thân nghiệp mới tạm hoàn hảo, thức nghiệp tức thì nhập vào các căn của thân nghiệp mới, chiếm hữu các căn và làm “chủ nhân ông” của thân nghiệp đó... Từ đây, “thân nghiệp mới” trở thành một “thực thể sống” có tri giác... Gọi là nội lục nhập!!!
● Bản chất của thức là “thường minh”, tức muốn biết, muốn nghe, muốn thấy, muốn phân biệt, v.v... Để thoả mãn bản chất thường minh, thức nghiệp điều động sáu căn là nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý tìm đến sáu đối tượng của nó gồm sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp... Gọi là ngoại lục nhập!!!
64.1. Quán thấu suốt nội lục nhập như thế nào?
● Quán nội lục nhập là: Quán quá trình chiếm hữu thân nghiệp mới và nhập vào sáu căn của thức nghiệp!!! Khi quán như thế, hành giả lập tức nhận ra “bản chất của một hữu tình không có cái được gọi là tâm”!!!
Sở dĩ hữu tình có tâm là vì: Khi thức trở thành chủ nhân ông, nhập vào các căn, bắt các căn nhận thức theo chủ ý đảo điên của mình (của nghiệp quả), thuận theo nghiệp thì vui mừng, trái với nghiệp thì buồn khổ... Các hiệu ứng tình cảm vui buồn nói trên, Phật đạo gọi là “hư vọng tâm”!!! Khi quán thấu đáo như vậy, hành giả phát hiện ra “bản lai hữu tình không tâm” (không có vui buồn hư dối)!!! Từ đó thực chứng “Vô sanh tâm”!!!
64.2. Khi quán thấu suốt ngoại lục nhập như thế nào?
● Quán ngoại lục nhập là: Quán quá trình điều động các căn tìm đến trần cảnh của thức nghiệp!!! Khi quán thấu đáo điều này, hành giả lập tức nhận ra “bản chất của một hữu tình không pháp”!!!
Sở dĩ hữu tình có pháp là vì: Sau khi thức trở thành chủ nhân ông, bắt sáu căn đối trước thấy nghe phát sinh những nhận thức đảo điên theo chủ ý của mình thông qua lục thức (nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức) ... Nhận thức đảo điên này chính là các pháp!!! Khi quán thấu đáo như thế, hành giả lập tức nhận ra “bản lai hữu tình không pháp” (không có quan điểm quan niệm đảo điên)!!! Từ đó thực chứng “Vô sanh pháp”!!!
● Vô sanh tâm và vô sanh pháp còn có tên là hai vô sanh, tâm không pháp không, hai vô ngã, v.v...!!! Đây là cảnh giới rất quan trọng của Phật đạo... Người tu hành thực chứng hai cảnh giới này, cơ hội viên mãn Diệt đế là rất gần... Từ Diệt đế, hành giả lặng lẽ quan sát bổn tâm và bổn tánh sẽ thực chứng thật nghĩa thế nào là “minh tâm kiến tánh” ... Vì bởi, chỉ khi nào không còn sanh tâm hư vọng, mới cho phép thấy bổn tâm!!! Chỉ khi nào, không còn sanh pháp hư dối, mới cho phép thấy bổn tánh!!! Có minh tâm kiến tánh mới có thể thành tựu Nhất thiết trí ở vị lai!!! Đây là lí do vì sao Ngũ Tổ nói: “Bất thức bổn tâm, học pháp vô ích”!!!
64.3. ... Tại sao lại nói nhiều Tam muội...? Nói nhiều... với mục đích gì?
“Tam muội, tiếng Sanskrit là Samadhi; Còn gọi là Tam ma đề, Tam ma địa... Tiếng Hán có nghĩa là Nhất tâm hay Định tâm. Phật giáo dùng phương pháp định tâm hay nhất tâm để đối trị với tâm tán loạn, hay bay nhảy, chạy theo dục vọng của con người bình thường” (theo Wikipedia)!!!
Đối với Phật đạo, định hay chánh định là cảnh giới mà bất kì người tu hành nào nếu muốn tâm thức an yên, nhất định phải đạt đến!!! Chính vì đây là cảnh giới cần phải đạt đến của đạo pháp... Từ đó, người tu hành căn cứ vào nghĩa lí của giáo pháp, rồi ứng dụng các nghĩa lí đó vào đời sống giúp tâm thức không bị dao động trước cảnh duyên gọi chung là "định"!!!
Mà, giáo pháp thì có nhiều tầng nghĩa, cho nên mỗi một chủng tánh trong Phật đạo lại hiểu ý nghĩa giáo pháp theo tầng nghĩa của mình!!! Vì thế, cùng một giáo pháp lại cho ra nhiều loại định khác nhau, cụ thể như sau:
● Đối với Nhị thừa: Sau khi nghe giảng giải giáo pháp, người trong thừa này dùng Thiền định làm cơ sở yểm li tâm thức!!! Trong quá trình dùng Thiền định yểm li tâm thức, tâm thức của Nhị thừa nhờ sức Thiền định nên không bị động lay, không động lay trong trường hợp này, Nhị thừa gọi là định hay Thiền định (dhyāna = chánna = 禪那)!!!
● Đối với Bồ tát thừa: Sau khi nghe giảng giải giáo pháp, người trong thừa này nhận ra, tất cả chỉ từ một niệm mê... Thấy được đầu mối loạn động của tâm thức là do bất giác, Bồ tát giác ngộ vô niệm... Lấy vô niệm tổng nhiếp tâm và pháp, từ đó tâm thức không bị loạn động... Không loạn động Bồ tát gọi là định, định này có được là do hành giả lấy giác ngộ làm “sức tổng trì” để tổng nhiếp tâm và pháp (vạn pháp quy tâm, vạn thù quy nhất, trì thiện bất thất, trì ác bất sanh) ... Vì thế định của Bồ tát còn có tên là Tổng trì (Dharani = Dhāraṇī = 總持)!!!
Để giúp tổng trì viên mãn, Bồ tát dùng ba pháp hộ trì:
1) Vô niệm tổng trì, còn gọi là Pháp tổng trì (Dharma Dharani)!!!
2) Vô trụ tổng trì, còn gọi là Nghĩa tổng trì (Meaning Dharani)!!!
3) Vô tướng tổng trì, còn gọi là Nhẫn tổng trì (Patience Dharani)!!!
Thực chất ba pháp hộ trì nói trên của Bồ tát chính là phép “lấy không hộ trì để hộ trì” mà các kinh giáo Bồ tát thường hay đề cập đến!!! Về sau, khi Phật giáo sang Tây Tạng, người ta dùng thần chú để hộ trì tâm. Từ đây, có thêm phép Chú tổng trì (Mantra Dharani)!!!
● Đối với Phật thừa (Nhất thừa): Sau khi nghe pháp, Bồ tát quán thiệt tướng của pháp vừa nghe... Với trí tuệ siêu thắng Bồ tát liền thấu suốt thiệt tướng của pháp đó... Do thấy thiệt tướng, Bồ tát tạm gọi chỗ thấy này là định hay Tam muội (三昧 = Samadhi)!!!
Như những gì đã phân tích ở trên, ta thấy đồng một nguồn giáo pháp nhưng ba thừa có ba thứ định lực khác nhau: Định lực của Nhị thừa do Thiền định mà thành gọi là Thiền định; Định lực của Bồ tát do giác ngộ mà thành gọi là Tổng trì; Định lực của Phật thừa do Trí tuệ mà thành nên có tên là Tam muội!!!
● Như vậy: Thật nghĩa hai chữ Tam muội của Phật đạo được nói đến trong các kinh Đại thừa, nhằm chỉ cho một hình thái dừng lặng tâm thức do trí tuệ thấu suốt mà được!!! ... Đây là sự khác biệt về ý nghĩa rất lớn đối với khái niệm Tam muội giữa cách hiểu của thế gian và xuất thế gian!!!
64.4. Tam muội nào quan trọng?
Phật đạo là đạo trí tuệ, vì thế chỉ “loại định nào” thành tựu từ trí tuệ, định đó mới được coi là rốt ráo định hay Chánh định!!! Và, chỉ có Chánh định (hay Tam muội) mới cho ra quả vị Chánh giác!!! Đây là lí do vì sao các kinh Đại thừa giáo Bồ tát như Đại Bát Nhã, Hoa Nghiêm, Đại Bát Niết Bàn rất hay đề cập đến các Tam muội!!!
Nói khác hơn, Tam muội chính là “Thấu thị lực và Thẩm sát lực” của Bồ tát!!! Từ sức thấu thị thẩm sát này, Bồ tát thâm nhập thật nghĩa giáo pháp... Đây là tiền đề để Bồ tát thấu suốt vô lượng Tam muội môn cùng Giải thoát môn của chư Phật sau này!!! Do thấu suốt vô lượng Tam muội môn và Giải thát môn, Bồ tát mới có thể giúp mình và người thành tựu đạo quả Vô thượng!!! Chính tầm mức quan trọng này, Tam muội (hay Chánh định) là mục tiêu cao nhất mà các Bồ tát phải thành tựu trong quá trình tu hành!!! Cũng bởi do trí lực siêu việt, nên kinh thường dạy: "Trong một niệm, Bồ tát có thể thâm nhập muôn ngàn Tam muội"!!! Chính nhờ trong một niệm Bồ tát thâm nhập muôn ngàn Tam muội, nên Bồ tát thành tựu Nhất thiết trí!!!
64.5. Nên chọn các Tam muội nào để ứng dụng Tu tập
● Về ứng dụng tu tập: Đối trước một lời kinh, một pháp bất kì nếu có thể “dùng trí bén” quán chiếu để thấu suốt thật tướng của lời kinh hay pháp đó thì, đây được coi là Tam muội mà Bồ tát ứng dụng vào đời sống tu tập!!!
Tóm lại, Thiền định, Tổng trì, Tam muội của Phật đạo đều cùng có chung mục đích giúp người tu hành dừng hư vọng tâm hư vọng pháp để tâm trí không vọng động trước cảnh duyên!!! Tuy nhiên, do căn trí sai khác nên khi nghe pháp, ý nghĩa cùng thành quả tu tập từ lời pháp đó cũng trở nên sai khác... Chính điều này mà từ một Phật thừa lại phát sinh ba thừa... Từ thật nghĩa lại cho ra vô lượng nghĩa... Từ không pháp trở thành có pháp... Từ không đạo trở thành có đạo...!!!
Hy vọng, bài viết có thể giúp Nguyên và bạn đọc nhận ra những nghĩa lí sâu thẳm của giáo pháp thông qua các Tam muội môn cùng các Giải thoát môn của chư Phật!!!
Chúc mọi người an vui, tinh tấn!!!
(04/01/2021)
P/s: Đầu năm 2021, mình có câu hỏi vui muốn gởi đến các bạn, câu hỏi như sau:
(1) Đối trước một pháp bất kì, Bồ tát làm thế nào để có thể nhìn thấu (thấu thị) “tính chất giải thoát” từ pháp đó??? (2) Tam muội môn và Giải thoát môn khác biệt ở những đặc điểm cơ bản nào???
Các bạn có thể trả lời ngắn gọn trong phần bình luận!!! ... Cà phê của Lão Lý đang chờ HĐ có câu trả lời hay nhất!!! ... Ha ha ha ha!!!
Bốn Cấp Độ Quán 12 Nhân Duyên

- Hỏi
Các bạn!!! ... Mình vừa nhận được email của BS Nguyên!!! ... Chắc các HĐ Lý Gia thuộc “hàng trưởng lão” không lạ gì vị HĐ hiền khô này!!! ... Sau một thời gian dài không sinh hoạt do bận tu nghiệp tại Hoa Kỳ... Hôm nay, bạn ấy đã email cho mình, nội dung email như sau:
“Kính chào Thầy! ... Con là Nguyên, ở Thốt nốt. Dạo này Thầy khỏe không? Mắt Thầy dạo này có khá hơn không? ... Con kính chúc Thầy thật nhiều sức khỏe, trụ thế lâu dài để dạy bảo đệ tử chúng con.
Con đọc đoạn kinh sau trong Đại Niết Bàn, nhưng chưa thông suốt, nhờ Thầy chỉ dạy cho con".
Đoạn kinh như sau: “Nầy Thiện nam tử! Trí quán mười hai nhơn duyên có bốn hạng: Một là hạ, hai là trung, ba là thượng, bốn là thượng thượng.
Quán trí bực hạ chẳng thấy Phật tánh, vì chẳng thấy nên chứng được đạo Thanh văn. Trí quán bực trung chẳng thấy Phật tánh, vì chẳng thấy nên chứng đặng đạo Duyên Giác. Trí quán bực thượng thấy Phật tánh chẳng rõ ràng, vì thấy chẳng rõ ràng nên trụ bực thập trụ. Trí quán bực thượng thượng thấy Phật tánh rõ ràng nên chứng được vô thượng Bồ Đề.
Do nghĩa đây nên mười hai nhơn duyên gọi là Phật tánh. Phật tánh chính là đệ nhứt nghĩa không. Đệ nhứt nghĩa không gọi là trung đạo. Trung đạo đó gọi là Phật. Phật đây là Niết Bàn”.
Con cảm ơn Thầy rất nhiều!
- Đáp
Nguyên và các bạn thân mến!!!
Đọc lướt qua đoạn kinh, hầu như mọi người đều có cùng nhận định, đây là đoạn kinh không có gì khó hiểu, gần như bạch văn, chỉ liệt kê các loại căn trí khi quán 12 nhân duyên!!!
Thế nhưng, nếu ta dừng lại ở từng phân đoạn và chiêm nghiệm, sẽ nhận ra trong bài bạch văn này lại chứa quá nhiều ẩn số như:
1) Vì sao cùng 12 nhân duyên, mà bốn hạng căn trí sai khác sau khi quán lại cho ra bốn kết quả sai khác???
2) Căn cứ vào đâu để ta có thể biết rằng, do căn trí sai khác, sau khi quán 12 nhân duyên lại cho ra bốn kết quả không giống nhau???
3) Cơ chế vận hành của 12 nhân duyên như thế nào??? Tại sao cùng cơ chế vận hành mà các giá trị sẽ sai biệt khi ta vận dụng cơ chế vận hành này để điều phục tâm thức???
4) Phật tánh là gì??? Đệ nhất nghĩa không là gì??? Trung đạo là gì??? Phật là gì??? Niết bàn là gì??? Vì sao kinh lại nói: “Mười hai nhơn duyên gọi là Phật tánh. Phật tánh chính là đệ nhất nghĩa không. Đệ nhất nghĩa không gọi là trung đạo. Trung đạo đó gọi là Phật. Phật đây là Niết Bàn”!!!???
Các bạn!!! ... Theo mình, nếu chúng ta giải quyết thoả đáng những câu hỏi trên, nhất định những ẩn số trong đoạn kinh sẽ không còn là ẩn số nữa, và thâm ý từ đoạn kinh sẽ được giải mã!!! ... Bây giờ, xin mời Nguyên và các bạn cùng mình mổ xẻ những khúc mắc trên!!!
63.1 Vì sao cùng 12 nhân duyên, mà bốn hạng căn trí sai khác sau khi quán lại cho ra bốn kết quả sai khác???
Để giải quyết câu hỏi này, trước tiên chúng ta thử tìm hiểu xem “tâm nguyện” và “xu hướng” tu hành của bốn căn tánh mà Phật đã nêu là như thế nào!!!
Như mọi người đều biết, Thanh văn và Duyên giác (kinh gọi là căn trí bậc hạ và căn trí bậc trung) tuy là hai thừa riêng biệt, nhưng người trong hai thừa này giống nhau ở tâm nguyện, đó là: “Tu hành để tự cứu bản thân, không có ước vọng giúp người”!!!
Chẳng những tâm nguyện giống nhau, xu hướng tu hành của họ cũng giống nhau, ở chỗ: “Chán khổ tìm vui, chán sanh tử cầu Niết bàn”!!! Chính tâm nguyện và xu hướng tu hành này, nên Thanh văn và Duyên giác có danh xưng chung là Nhị thừa hay Tiểu thừa. Tiểu thừa có nghĩa là “cổ xe nhỏ”, xe nhỏ là thứ xe chỉ đủ để chở bản thân!!! Vì thế, Phật dạy: “Từ bi của Nhị thừa chỉ đủ để tự cứu” hay “Sức từ bi của Nhị thừa không lớn hơn cái thân của họ”!!!
Bồ tát gồm: Bồ tát quyền thừa và Bồ tát nhất thừa (kinh gọi là căn trí bậc thượng và căn trí bậc thượng thượng)!!!
Bồ tát là những người có tâm nguyện rộng lớn muốn độ thoát hết thảy chúng sanh... Xu hướng tu hành của thừa này là thành tựu cho bằng được Vô thượng Bồ đề quả, không chấp nhận dừng lại ở những quả vị nhỏ nhoi!!! ... Chính hoài bảo và ước nguyện to lớn này, mà những người tu học trong đạo Bồ tát có danh xưng là Đại thừa!!! ... Đại thừa là cổ xe lớn, những người trong thừa này có thể gánh vác công việc của chư Phật, xe Đại thừa có năng lực chuyên chở hết thảy chúng sanh đến bến bờ an vui!!!
Tâm nguyện và xu hướng là như vậy, nhưng do công đức tích luỹ sai khác nên trí tuệ hiện đời của các Bồ tát cũng trở nên sai khác... Đây là lí do vì sao Bồ tát thừa lại chia thành hai bậc, đó là Bồ tát quyền thừa (căn trí bậc thượng, thuộc hàng Thập trụ) và Bồ tát nhất thừa hay Phật thừa (căn trí bậc thượng thượng, thuộc hàng Thập địa trở lên)!!!
Đến đây, có lẽ các bạn sẽ hỏi: Thế thì, tâm nguyện và xu hướng tu hành có mối liên hệ gì đến công việc quán 12 nhân duyên (hay các pháp) để cho ra các đạo quả sai khác???
Giống như người đi học, tâm nguyện và xu hướng học tập sẽ quyết định đến vận mệnh học tập của người đó, ví dụ:
Một người học trò có tâm nguyện chỉ học để mai này kiếm đủ tiền nuôi thân (không có ước vọng cao xa)!!! ... Do tâm nguyện như vậy, nên xu hướng học tập của họ là tìm đến các trường nghề... Thế là, kết quả học tập cao nhất của những người này chỉ là công nhân lành nghề!!!
Nhưng nếu, một người học trò có tâm nguyện phải học thành tài để sau này giúp người!!! ... Do tâm nguyện như vậy, nhất định xu hướng học tập của họ sẽ tìm đến những ngôi trường dạy các cấp học cao nhất... Thế là, kết quả học tập của những người này sẽ là thành tựu các học vị cao nhất trong xã hội!!!
63.2. Căn cứ vào đâu để ta có thể biết rằng, do căn trí sai khác, sau khi quán 12 nhân duyên lại cho ra bốn kết quả không giống nhau???
Sau khi xét yếu tố thứ nhất là tâm nguyện và xu hướng... Bước thứ hai, chúng ta tìm xem bốn loại căn trí hạ, trung, thượng và thượng thượng quán 12 nhân duyên như thế nào!!!
Do tâm nguyện cũng như xu hướng của Thanh văn và Duyên giác là tự cứu và chán khổ tìm vui, chán “Sanh Tử” cầu “Niết bàn”.
Vì thế, để đáp ứng tâm nguyện và xu hướng này, Nhị thừa nhắm thẳng vào những nguyên nhân trước mắt nào gây ra khổ, nguyên nhân trước mắt nào không được yên vui để tịch diệt mà Nhị thừa cho là phù hợp với mục tiêu của mình!!!
Đối với Thanh văn thừa, để tịch diệt các nguyên nhân nói trên, học thuyết yểm li chính là thứ triết lí đáp ứng mọi yêu cầu của họ!!! ... Vì thế, yểm li gia đình, yểm li quyến thuộc, yểm li tài sản, yểm li ngũ ấm, ham thích độc cư thiền định, lấy giới luật làm hàng rào cấm ngăn và quán hậu tế của 12 nhân duyên (hữu, sanh, lão, tử) là những phần việc mà Thanh văn thừa học tập và ứng dụng triệt để vào đời sống... Sau khi học tập và ứng dụng triệt để những điều trên, Thanh văn thừa có được đạo quả cao nhất của thừa này (A la hán quả)!!!
Riêng, đối với Duyên giác thừa, được coi là bậc trung căn vì căn trí của thừa này có khá hơn Thanh văn một chút!!! Giống như Thanh văn, Duyên giác thừa cũng lấy học thuyết yểm li làm trọng tâm tu tập... Nhưng vì tạm coi là có trí tuệ, và căn bản Duyên giác thừa nhận ra nguyên nhân của các món khổ là do những “xúc đối bất như ý” và “cảm thọ yếu mềm”, vì thế thừa này không quán hậu tế của 12 nhân duyên, mà quán trung tế (gồm xúc, thọ, ái, thủ)... Tức quán những nguyên nhân hiện tiền phát sinh khổ não dựa trên nền tảng xúc đối giữa căn và cảnh từ đó cho ra ái thủ, trói buộc (nguyên nhân của mọi khổ đau)!!! Thành tựu phép quán “luân chuyển” hay “hoàn diệt” từ trung tế của 12 nhân duyên, Duyên giác thừa thành tựu đạo quả Duyên giác (hay chứng Bích chi Phật quả)!!!
Đây là lí do vì sao, hai đạo quả của Nhị thừa gồm A la hán và Bích chi Phật quả chỉ có thể thành tựu từ những vị “xuất gia chuyên chính” ... Tức những người đã từ bỏ gia đình, sống không gia đình, không quyến thuộc, không tài sản, ham ưa độc cư thiền định, ngày ăn một bữa, khất thực để nuôi thân, ba y một bát như con chim với đôi cánh... Mà không thể thành tựu đối với hàng cư sĩ tại gia!!! Gần đây, mình biết có một số cư sĩ tại gia ham ưa học tập, bắt chước công phu, cũng như tập tành hành xử theo cung cách của các vị xuất gia, vì thế thành quả tu tập của họ rất chi mơ hồ, không muốn nói là vô vọng!!!
Đối với Bồ tát thừa, là những người có hoài bảo lớn, chỉ vì lợi ích của tất cả chúng sanh mà tu tập... Chính hoài bảo này là cơ sở trọng yếu để Bồ tát không dùng học thuyết yểm li nhằm điều phục bản thân, xa lánh khổ não... Mà với họ “có trí tuệ, hết mê mờ” mới chính là chìa khoá để mở tất cả các cánh cửa của đạo pháp!!! Từ đó, hai học thuyết “tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” và “sanh tử tức Niết bàn, phiền não tức Bồ đề” chính là hai thứ triết lí đáp ứng yêu cầu học tập của thừa này!!!
Để có thể thấu suốt hai học thuyết “tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” cũng như “sanh tử tức Niết bàn, phiền não tức Bồ đề” ... Các Bồ tát phải tìm cho được căn nguyên sinh tâm, sinh pháp và căn nguyên hình thành chúng sanh giới!!!
Về căn nguyên sinh tâm, sinh pháp... Bồ tát phải thấy cho được thiệt tướng của tâm và thiệt tướng của pháp!!! Để thấy thiệt tướng của tâm, thiệt tướng của pháp... Bồ tát phải thấu suốt “nội lục nhập” và “ngoại lục nhập”, đây là hai yếu tố quyết định mê ngộ, được hình thành từ cuối giai đoạn tiền tế và đầu giai đoạn trung tế của 12 nhân duyên (Tiền tế gồm vô minh, hành, thức, danh sắc; Trung tế gồm nội lục nhập, ngoại lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ)!!!
− Khi quán thấu suốt nội lục nhập, Bồ tát giác ngộ: Một hữu tình bản lai không có cái gọi là tâm (tạm gọi là vô sanh tâm)!!!
− Khi quán thấu suốt ngoại lục nhập: Bồ tát giác ngộ một hữu tình bản lai không pháp (tạm gọi là vô sanh pháp)!!!
Giác ngộ như thế, thiệt tướng của tâm và pháp hiện rõ như trái a ma lặc trong lòng bàn tay... Từ đây, Bồ tát “lờ mờ” cảm nhận bốn đức tính ưu việt của Phật tánh là “thường, ngã, lạc, tịnh” đã sẵn có trong hữu tình, chỉ vì một niệm mê nên các đức tính ấy không hiện!!!
Thấy được điều này, Bồ tát hoàn thành công việc tự độ, thành tựu đạo quả cuối cùng của Thập trụ, quả chứng cao nhất của Bồ tát quyền thừa!!! Đây là lí do vì sao kinh nói: “Căn trí bậc thượng, khi quán 12 nhân duyên thấy Phật tánh không rõ ràng nên trụ bậc Thập trụ”!!!
Nhưng, Bồ tát là những vị có hoài bảo lớn, nên họ không bằng lòng dừng lại ở các địa vị nhỏ nhoi của Thập trụ chỉ đủ tự cứu bản thân!!! Bây giờ Bồ tát phát khởi đại bi, quyết tìm xem vì sao chúng sanh luân hồi trong sanh tử khổ!!!
Để giải quyết nan đề này, Bồ tát quán căn nguyên luân chuyển của một chúng sanh và đường đi của họ!!! Để có thể quán căn nguyên luân chuyển một chúng sanh, Bồ tát “quán tiền tế” của chúng sanh đó!!!
Tiền tế là một loạt các chi từ khi chúng sanh từ bỏ thân nghiệp cũ để đến với một thân nghiệp mới gồm: Vô minh, hành, thức, danh sắc!!! Khi quán thông suốt tiền tế, Bồ tát nhận ra tất cả những gì được gọi là luân chuyển, đường đi, cũng như hồi kết của một hữu tình chẳng khác gì trong tảng băng lớn đang trôi nổi trên biển cả lại chứa hạt minh châu vô giá, băng tan minh châu hiện!!! Băng vô thường, minh châu vô diệt!!! Tảng băng trôi ấy chính là tình tưởng (hay thiện ác) vô thường, viên minh châu vô diệt chính là Phật tánh thường trụ trong mỗi hữu tình!!!
Thấy như thế, từ bi tâm của Bồ tát phát khởi không khác từ bi tâm của Phật vì biết rằng “tất cả chúng sanh đồng có những đức tính cao đẹp như chư Như Lai”. Do thấy biết như vậy, bốn đức tính siêu việt còn lại của Phật tánh là từ, bi, hỉ, xả hiện khởi đầy đủ trong lòng!!!
Thấy đến đây, Bồ tát được coi là đã hoàn thành công đoạn tu tập cuối cùng, chỉ còn chờ đủ duyên, chứng Vô thượng Bồ đề quả!!! Đây là lí do vì sao kinh dạy: “Trí quán bậc thượng thượng thấy Phật tánh rõ ràng nên chứng được Vô thượng Bồ Đề”.
63.3 Cơ chế vận hành của 12 nhân duyên như thế nào??? Tại sao cùng cơ chế vận hành mà các giá trị sẽ sai biệt khi ta vận dụng cơ chế vận hành này để điều phục tâm thức???
Về cơ chế vận hành của 12 nhân duyên... Ta thấy 12 nhân duyên vận hành qua ba giai đoạn gồm:
Giai đoạn 1: Thức nghiệp từ bỏ thân nghiệp cũ, gọi là tiền tế!!! Tiền tế gồm các chi: Vô minh, hành, thức, danh sắc!!!
Giai đoạn 2: Thức nghiệp tìm được thân nghiệp mới và chung sống, gọi là trung tế!!! Trung tế gồm: Lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ!!!
Giai đoạn 3: Thức nghiệp nhận chịu quả nghiệp, gọi là hậu tế!!! Hậu tế gồm: Hữu, sanh, lão, tử kết thành một khối đầy những ưu bi khổ não!!!
Để có thể quán ba giai đoạn nêu trên, bậc hạ căn hạ trí chỉ có thể quán quả nghiệp, tức quán những ảnh hưởng khổ đau tác động trực tiếp lên thân nghiệp này, gọi là quán hậu tế!!! Bậc trung căn trung trí có thể quán trung tế để chấm dứt khổ đau hiện tiền khi thân căn xúc đối!!! Bậc thượng căn thượng trí quán giai đoạn tiếp giáp giữa trung tế và hậu tế!!! Bậc căn trí thượng thượng mới có thể quán tiền tế... Vì tiền tế là cái đã qua, không thực có trong hiện tại, không đủ trí tuệ không thể xuyên thấu!!!
Điều này giống như cùng ngành nông nghiệp!!! Nhưng, các bác nông dân chỉ biết cặm cụi cấy cày trên mảnh ruộng của mình theo truyền thống, giá trị lao động không cao (Thanh văn)!!! Các vị có hiểu biết về chuyên môn kĩ thuật nông nghiệp, cũng cày xới trên mảnh ruộng đó, nhưng giá trị lao động sẽ cao hơn vị kia (Duyên giác)!!! Những vị có tri thức tốt, biết chuyên môn kĩ thuật, biết chế biến bảo quản, biết trao đổi hàng hoá, sau khi thu hoạch giá trị lao động nhất định sẽ cao hơn hai vị trên (Bồ tát Thập trụ)!!! Và cuối cùng, những người có năng lực nhìn xa trông rộng, am tường chuyên môn kĩ thuật, biết chế biến bảo quản, biết trao đổi hàng hoá, biết cơ chế thị trường, biết giá trị sản phẩm, nắm vững thời vụ cùng nhu cầu hàng hoá, v.v... Sẽ là những người nhận được giá trị lao động cao nhất (Phật thừa)!!!
63.4. Phật tánh là gì? Đệ nhất nghĩa không là gì? Trung đạo là gì? Phật là gì? Niết bàn là gì?
Vì sao kinh lại nói: “Mười hai nhơn duyên gọi là Phật tánh. Phật tánh chính là đệ nhứt nghĩa không. Đệ nhứt nghĩa không gọi là trung đạo. Trung đạo đó gọi là Phật. Phật đây là Niết Bàn”!!!???
“Phật tánh” là những tính chất siêu việt tiêu biểu trong vô lượng tính chất siêu việt của một đức Phật gồm: Từ, bi, hỉ, xả, thường, ngã, lạc tịnh!!! Vì đây là những tính chất siêu việt, nên không thể dùng hữu vi tâm hữu vi trí tìm cầu, vì không thể dùng hữu vi tâm hữu vi trí tìm cầu nên tạm gọi là “đệ nhất nghĩa không”. Tuy nói rằng đệ nhất nghĩa không, nhưng lại đầy đủ tính chất siêu việt, mà đã là siêu việt nên ra ngoài hai phạm trù có và không, ra ngoài hai phạm trù có và không nên nó chính là trung đạo!!! “Trung đạo” là thứ đạo chẳng thuộc thế gian, chẳng thuộc xuất thế... Trí nào hiểu được ý nghĩa của đạo chẳng thuộc thế gian, chẳng thuộc xuất thế, trí đó là “Phật trí”, Phật trí chính là “Phật”!!! Nơi nào có Phật nơi ấy là “Đại Niết Bàn” ... Vì thế Phật, Niết bàn, đệ nhất nghĩa không, trung đạo, v.v... không hai!!!
Như đã nói ở phần trên, Phật tánh trong chúng sanh như tảng băng trôi trong đó có chứa hạt minh châu vô giá!!! ... Tảng băng chứa hạt minh châu trôi nổi từ biển khổ này qua biển khổ khác nhưng hạt minh châu trong nó vô diệt, thường an vui, thường chiếu sáng!!! ... Kẻ trí thấy tảng băng trôi, biết ngay trong tảng băng có hạt minh châu, nên nói hạt minh châu... “đang...trôi” ...!!! Vì thế, kinh dạy: “Mười hai nhơn duyên gọi là Phật tánh. Phật tánh chính là đệ nhứt nghĩa không. Đệ nhứt nghĩa không gọi là trung đạo. Trung đạo đó gọi là Phật. Phật đây là Niết Bàn”
Nguyên và các bạn!!!
Sau khi xét những gì cần xem xét, chúng ta sẽ thấy, không riêng gì 12 nhân duyên mà tất cả các pháp tự thân không có những tính chất của đại tiểu (to nhỏ), hạ trung thượng (cao thấp), chậm mau (đốn tiệm), hay một quả chứng bất kì nào (mê ngộ)!!! Mà đại hay tiểu, thượng hay hạ, đốn hay tiệm, mê hay ngộ, quả này hay quả kia sở dĩ ta tạm thấy có là do căn trí, tâm nguyện, xu hướng, động cơ học tập hình thành khi người ta quán sát một pháp bất kì!!!
Vì thế, sẽ rất nhầm lẫn khi có một ai đó cho rằng tôi tu pháp cao, người kia tu pháp thấp; Tôi tu pháp lớn, người kia tu pháp nhỏ; Tôi tu pháp đốn, người kia tu pháp tiệm, v.v...!!! Lục Tổ nói: “Pháp không có đốn tiệm, mê ngộ có chậm mau” chẳng phải đã minh định bản chất các pháp không tánh, không tướng, không mê, không ngộ là một thực tế hiển nhiên...!!!??? Cho nên, căn trí, tâm nguyện, xu hướng, động cơ tu hành, v.v... mới chính là những cơ sở quan trọng để chúng ta có được lời giải đầy đủ nhất và đáp án tốt nhất từ “bài toán quán pháp”!!!
Có lẽ đến đây, Nguyên và mọi người có thể giải mã phần nào đó đoạn kinh Đại Bát Niết Bàn mà Nguyên đã đặt thành câu hỏi!!! ... Do giới hạn của văn tự ngữ ngôn, thật nghĩa của Phật đạo lại siêu quá những gì văn tự ngữ ngôn có thể thể hiện!!! Hy vọng, một ngày đẹp trời nào đó, Nguyên hay một bạn đọc bất kì có thể thốt lên: “Thì ra Phật tánh là như vậy và 12 nhân duyên là như vậy” ...!!! ... Nhất định ngày đó sẽ là ngày hoa Ưu Đàm Bát La xuất hiện ở cõi thế này!!!
Chân thành cảm ơn Nguyên đã gởi đến câu hỏi mà theo đánh giá của mình, đây là câu hỏi được coi là hay nhất mà Lý Tứ đã nhận được trong năm 2020!!!
Chúc Nguyên và tất cả bạn đọc an vui, tinh tấn!!!
(29/12/2020)
Tâm Sự Của Anh Sinh Viên Học Nghề
Con khắc cốt ghi tâm lời Thầy chỉ dạy “NHÂN DIỆU LÝ CHỈ CHO NGƯỜI THẤY DIỆU NGHĨA, NHÂN DIỆU QUAN SÁT KHIẾN NGƯỜI THÀNH TỰU DIỆU MINH.”

Tâm sự huynh đệ số 15
Các bạn !!!
Mình vừa đăng Trò Chơi Trí Tuệ - 03/2020 thì nhận được emails của Phương Anh và Diệu Tâm !!! Theo thông lệ, sau hai ngày mình mới đăng một bài viết mới lên trang để các bạn có thời gian đọc, có thời gian suy gẫm !!!
Thế nhưng, sau khi đọc emails của Diệu Tâm và của Phương Anh, mình “nổi gai ốc đầy mình” !!! Vì thế, hôm nay nhất quyết “phá lệ” đăng thêm bài viết của Phương Anh !!! Thôi thì, mọi người ráng đọc thêm một chút !!!
Các bạn ui !!!
Phương Anh và các bạn chính là những viên ngọc quý mà chư Phật đã ưu ái ban tặng cho Lý Gia trong thời mạt pháp !!! Đọc bài viết của Phương Anh, mình “cầm lòng không đặng”, nhất quyết phải chuyển tốc hành món quà vô giá mà chư Phật đã ban tặng cho Lý Gia đến mọi người, coi như “lợi hoà đồng quân” !!!
Phương Anh ui !!!
Xin cảm ơn Em !!! Cảm ơn sự thấu suốt mà theo mình, sự thấu suốt này rất xứng đáng với câu nói của người xưa: “Thế gian hi hữu” !!! Vườn hoa hi hữu của Lý Gia lại nở thêm một bông hoa mới, bông hoa đó có tên: “Lý Nữ Phương Danh Lý Phương Anh” !!!
Xin chuyển đến mọi người, tâm sự của Phương anh !!!
11/04/2020
LÝ TỨ
Thầy kính,
Tối qua con nói chuyện với mấy bạn tới tận nửa đêm, rồi nằm một mình suy ngẫm lại toàn bộ quãng đường mình đã đi. Cuối cùng ... thức tới sáng và giờ con viết thư gửi Thầy, trình bày với Thầy những thấy biết của con thời gian qua.
Ngày 8/7/2019 con chính thức bái sư xin Thầy thu nhận về làm đệ tử. Tới nay được đúng 9 tháng !!! 9 tháng - là quãng thời gian một đứa trẻ nằm trong bụng mẹ, được nuôi dưỡng cho đến khi đủ cứng cáp, chui ra ngoài tự mình khám phá thế giới. Thì con cũng như vậy, 9 tháng được Thầy dưỡng nuôi bằng dòng nước Pháp, chữa cho khỏi bệnh phiền não, khoẻ mạnh an vui, chui ra khỏi quả trứng, bước những bước đầu tiên của kẻ tự tại, thảnh thơi giữa đời.
Nhớ lại lúc ấy và ngay cả giờ, con tự thấy bản thân mình chẳng còn thích chuyện thế gian, chẳng ưa hội nhóm, chẳng ham tranh luận để được cái hơn thua, chỉ thích một mình, đọc tụng nghe thuyết, không dụng công mà thiền vẫn tự được, thường sinh hỷ lạc, an yên, chẳng còn phiền não.
Tuy nhiên, nghĩ tới công ơn Chư Phật ba đời đã sanh ra giáo pháp, con cứ nhớ mãi câu kinh “nếu như Chư Phật ba đời không quyết định nơi Đại thừa ...”, không quay bánh xe pháp mà chỉ hưởng thụ an vui một mình thì đến đời mình, lượt mình có được cái an vui này không? Mình được an vui nhưng ngoài kia bao chúng sanh còn đang mê mờ, trầm luân trong bể khổ phiền não. Nghĩ suy như vậy mà con thành tâm phát nguyện: Trên cầu thành tựu Phật quả, dưới thệ nguyện độ thoát chúng sanh !!!
Quán thấy cái an vui, tự do, tự tại mình đã có được thật bất khả thuyết, ngữ ngôn thường tình chẳng thể nào đến được. Bất khả thuyết nhưng vẫn cần phải đăng đàn vẫn cần phải thuyết, gọi là tạm thuyết. Bởi nói về mình vậy nhưng chẳng phải vì cầu tôn trọng vì tự đề cao, mà thực chất chỉ là nguyện đem cái thân tâm này làm đóm điếu, làm dầu thắp, nhằm lan toả ngọn đèn Chánh Pháp. Các chúng sanh vì tín tâm, vì tò mò nên hướng tới cây đèn, gần gũi cây đèn mà sau cũng có thể sẽ được sáng, được an vui như mình vậy.
Khi đã có cái tạm gọi là một cộng đồng tín tâm, tò mò quanh mình, thời gian đầu, bản thân con thấy gặp phải nhiều vấn đề. Nổi cộm nhất là “sở tri chướng”, hay tuy đã được Hai vô sanh (vô sanh tâm vô sanh pháp) nhưng chưa được Hai vô ngã (Tâm vô ngã, Pháp vô ngã). Khi gặp một đối tượng mới, luôn luôn mở đầu bằng một chuỗi kiến thức, một tràng các kinh nghiệm tự chứng của bản thân. Mặc dù những kiến thức này là Chánh pháp, những chỗ tự chứng này là chân thật, nhưng rốt cuộc đối tượng nghe xong, tẩu hoả nhập ma, ồ à vài lời khen ngợi tán thán rồi ... vuột khỏi bàn tay!!!! Một khi sự gần gũi không được thiết lập, niềm tin đã suy giảm thì rất khó để có thể xâm nhập lại với cái uy ban đầu này.
Con tự quở trách, quán sát mình, thấy rằng: Ôm lấy những kiến thức mình có, ôm lấy chỗ mình chứng mà nghĩ rằng mình vậy, người khác ai cũng phải như vậy ... chẳng phải là sang sông vẫn đội chiếc bè, mà Thầy đã nhiều lần nhắc nhở. Không tương thông tâm ý, xuống nước nói chuyện thuỷ cung lại cứ diễn thuyết chuyện núi non mây trời, thật không tẩu hoả nhập ma mới là chuyện lạ ??!!! Gặp cây nào cũng chỉ đem đúng một con dao ấy thì cù cưa kéo xẻ mãi khúc gỗ vẫn không đứt lìa âu cũng là chuyện thường tình không có gì khó hiểu !!!!
Đúng như trong bài “Đoạt tâm chế mạng”, Thầy đã viết:
“Giống như một người muốn đi bắt một con thú dữ và họ trình bày cách thức làm thế nào để bắt con thú, nghe xong ta liền BỔ KHUYẾT cho người nhiều cách thức tốt hơn để bắt con thú, hoặc bổ sung các phương tiện thù thắng, dùng để bắt thú. Người kia với số vốn được trang bị mới này, lại tiếp tục đi bắt thú như những lần trước. Và cuối cùng, họ lại thất vọng, vì rằng: Đi mà chẳng biết đi đâu??? Và, làm gì đối với mớ phương tiện này !!!
Tại sao sự tình lại như vậy??? Các bạn, chỉ vì cả hai đều chú ý đến phương tiện, mà không rõ cứu cánh.
Bây giờ chúng ta thử đặt vấn đề: Tại sao khi nghe người kia nói đến chuyện đi bắt thú, chúng ta không hỏi ngược lại họ: “Con thú đó ở đâu, hình dáng màu sắc như thế nào, thời gian xuất hiện, tập tính của con thú ???”
Có nêu những vấn đề này, người đi săn thú mới có dịp tìm hiểu đối tượng cần bắt. Về nguyên tắc, có hiểu biết cụ thể đối tượng, hiểu biết càng nhiều, càng chính xác, nhất định bất kỳ ai, cũng có phương cách để bắt con thú. Khi nào, người đó hết cách, chúng ta mới trao cho họ phương tiện cũng không muộn. Đằng này, cả ta và người chỉ bàn luận chuyện săn thú, mà không hề biết con thú cần bắt là con nào ??? Thì phỏng, bao nhiêu phương tiện đưa ra có hữu ích gì ???” (Trích Anh Lạc Luận I)
Vậy là, con ngộ ra: “TRƯỚC NHẤT PHẢI CHỈ TÂM, SAU MỚI DÙNG PHƯƠNG TIỆN ĐỂ ĐIỀU PHỤC” !!!
Nhưng chỉ Tâm nào đây??? Người đời đa tâm là thế, Nguồn Tâm chảy ào ạt như một dòng thác lũ lượt chồng chất rối rắm là thế, chọn Tâm nào là Quyết định Tâm ???!!! Chỉ thế nào để Chỉ là người phục, thấy được điều cần thấy đây ???!!!
Câu trả lời là LẶNG LẼ QUAN SÁT. QUAN SÁT THẬT KĨ, LẮNG NGHE THẬT KĨ. Giống như người thợ săn lần theo dấu chân của con thú, cúi xuống chăm chú quan sát hình dạng kích cỡ dấu chân, cách thức di chuyển từ đâu tới đâu để hiểu nó ... Khi chú tâm vào lắng nghe và quan sát, những ý niệm về chỗ chứng chỗ hiểu biết của bản thân, cái ham thích nói cái phản xạ nói theo một cách tự nhiên và tất yếu tự tịch diệt. Con cảm thấy trong mình toàn bộ ý thức này bỗng như chuyển dịch, “nhập dòng” vào thác Tâm ấy ... Và rồi bằng trực nhận, con thấy thấu, thấy cảm được cái gì đang làm cho người này hành tâm, cái gì là mạch nước chính giữa muôn vàn tia nước đang phun trào, chỗ nào là cửa vào. Thấy cửa vào rồi, vào bằng cách nào đây? Vào bằng chính con đường của họ, mà lội ngược dòng lại thôi!!! Bằng chính câu chuyện ấy, ngôn từ ấy, suy nghĩ ấy, lật ngược lại, đặt ra vấn đề để dẫn dắt họ tự tư duy!!! Bằng cách ấy, họ sẽ thấy được Phật pháp không phải cái gì xa xôi khó hiểu, mà hết sức gần gũi khoa học, gắn chặt với đời sống của họ, từ ngay chính đời sống này mà thấy vấn đề và cũng từ đời sống này mà thấy con đường giải quyết vấn đề.
Con khắc cốt ghi tâm lời Thầy chỉ dạy “NHÂN DIỆU LÝ CHỈ CHO NGƯỜI THẤY DIỆU NGHĨA, NHÂN DIỆU QUAN SÁT KHIẾN NGƯỜI THÀNH TỰU DIỆU MINH.”
Từ đây, con cảm nhận được rất rõ sự khác biệt giữa: Kiến thức, tri kiến và trí tuệ. Biến kiến thức thành tri kiến, sau đó có được tri kiến rồi mới biến tri kiến này thành trí tuệ, biết phương tiện thích hợp để giúp người. Giống như nguyên liệu thực phẩm và các món ăn: Nguyên liệu thực phẩm dụ cho kiến thức cũng chỉ có một kho như vậy, nhưng các món ăn dụ cho tri kiến và trí tuệ thì vô lượng, không giới hạn tuỳ sức sáng tạo của người đầu bếp. Vị của thức ăn khi đã được hoà trộn, nấu lên thành món, rất khác với vị của nguyên liệu thực phẩm ban đầu. Thì cũng như vậy, tri kiến và trí tuệ chẳng liên quan, rất khác kiến thức. Tuy nhiên nếu không có cái nền móng kiến thức thì cũng không thể có đủ nguyên liệu để ra được thành phẩm tri kiến và trí tuệ. Do vậy, con lại tự dặn mình, phải tinh tấn đọc, học, tư duy, tăng nền tảng kiến thức của mình lên, gắng sức thâm nhập giáo pháp. Có những trường hợp, do kiến thức còn mỏng, kinh nghiệm chưa dầy, để thấy được tri kiến và phương tiện thích hợp, con phải dùng hết sức mình ôm ấp vấn đề, nghĩ suy tư duy trong đầu, nhiều khi giấc ngủ còn chập chờn. Tuy nhiên, khi đã thấy thì rất đã, có Trí mà an vui hi hi hi hi !!!!
Có những đối tượng mà sự thuận lợi đến ngay. Nhưng cũng có những đối tượng mà mọi chuyện không phải dễ dàng và suôn sẻ ngay từ đầu như thế. Nhưng cũng chính vì sự đa dạng của các tình huống mà con học được:
*Từ những điều rất nhỏ như sự uyển chuyển: Tại sao cứ phải là mình thẩm sát thấu thị, hãy để đối tượng tự thấu thị bản thân hoặc khéo léo theo một cách thế nào đó để họ tự khám phá ra, tự xác định một cái đích ở thời điểm hiện tại mà họ mong muốn. Cứ đạt được sự đồng thuận, cứ được cái thoả mãn gần gũi tin tưởng này đã, rồi từ từ trên đường đồng hành sẽ lựa cơ mà điều hướng, chuyển dịch.
*Đến những điều rất lớn như về Sự kham nhẫn: “Kham nhẫn chờ thời cơ, chưa đúng thời thì không tuyên thuyết, chưa biết rõ căn cơ không tuyên thuyết, chưa hiểu rõ câu hỏi chưa nắm vững vấn để không tuyên thuyết, chưa biết chỗ kẹt của người không tuyên thuyết, chưa thấy chìa khoá mở tâm người không tuyên thuyết, chưa đạt được sự đồng thuận giữa người nói và người nghe không tuyên thuyết, chưa thấy lợi ích của sự tuyên thuyết không tuyên thuyết ... “ (trích Luận về bốn Ba la mật- Anh Lạc luận.)
*Về Tứ trí (khổ trí, tập trí, diệt trí, đạo trí): Con nhận ra quá trình tự độ của bản thân chính là nhờ có Tứ đế dẫn đường thì nay để độ tha, có diễn nói gì, chỉ bày chi cho người cũng phải bám thật chặt, không tách rời, không ra ngoài Tứ đế, lần lượt theo tiến trình Tứ đế. Như Thầy đã chỉ dậy chúng con rất rõ ràng từ khổ đến-> tập đế -> diệt đế-> đạo đế: “Tất cả các pháp muốn trở thành Phật pháp phải diễn nói thuyết minh trên ý nghĩa bốn đế. Có nghĩa rằng: Phải chứng minh cho được pháp đó chính là khổ, phải chứng minh cho được pháp đó là nguyên nhân sinh ra kiết sử, phải chứng minh cho được vì pháp đó che chướng mà chơn tâm không hiện, phải chứng minh cho được pháp đó bản lai tự Niết bàn...” (trích bài Luận về tứ trí, Anh Lạc Luận I). Cái vi diệu ở đây là cách thức chứng minh, sự uyển chuyển trong phương tiện. Với người nặng Tâm thì nói lời này, với kẻ trói buộc bởi Pháp thì nói lời kia. Với người cần cầm tay chỉ việc thì hộ trì cách này, với kẻ nhanh nhậy thì hộ trì cách kia. Với đối tượng này, thời cơ này, nói về một thứ có thể tuyên thuyết “không”. Với một đối tượng khác, thời cơ khác, cũng nói về thứ đó mà có thể tuyên thuyết “có”. Các pháp chẳng vọng, chẳng chơn, người trí đối trước các pháp không chơn cũng chẳng vọng. Chơn hay vọng, “dùng” hay “bỏ”, “có” hay “không” cũng chỉ vì lợi ích chúng sanh, dứt mê được giác ngộ thanh tịnh, an vui ngay hiện tiền. Chính từ quá trình thực hành độ tha này mà một cách tự nhiên con thấy cảm nhận được thật nghĩa của Trung đạo. Trung đạo là sự hoạt dụng, khéo léo uyển chuyển để sinh ra các phương tiện giúp người. Trung đạo là Bát Chánh đạo, Trung đạo là Đạo Đế. Bồ tát hạnh là Đế của Đạo. Đạo là Bàn cờ, là Trò chơi Trí Tuệ !!!!
Như trong bài Hữu sơ vô yếu luận, thầy đã khéo minh hoạ cho chúng con thấy:
“Như một con nhện, nó giăng thành cái mạng nhện để bắt mồi và làm chỗ đi lại. Tất cả các con vật bay qua mạng nhận này đều bị mắc kẹt lại và có thể trở thành con mồi !!! Nhưng riêng con nhện, nó tự tại chạy khắp mọi nơi trên mạng, con nhện đứng ở mép rìa mạng nhện, hay đứng đi ở chính giữa mạng đều yên ổn, vô ngại ...!!! Con nhện dụ cho vị tu hành thông tuệ, mạng nhện dụ cho giáo pháp, sự vướng vào dụ cho chúng sanh và ba cõi, con mồi dụ cho vô minh. Nơi con nhện đến và đi dụ cho Trung đạo !!!! Ha ha ha ha !!!! Con nhện thông tuệ, sẽ ăn nuốt vô minh, và vô minh là thức ăn của nó!!!”
Nhìn lại tất cả những bước tiến trong thấy biết ở giai đoạn này, con thấy nó được căn cứ, khởi nguồn từ nhiều thứ, nhưng cơ bản có thể liệt kê những điều sau:
1-Thứ nhất là phải từ quá trình thực chứng chắc thật. Con rất may mắn là thời kì con thực chứng, Thầy liên tục đặt ra các câu hỏi cũng như trò chơi trí tuệ, để con có thể quay lại, đặt cái chỗ chứng của mình lên bàn, nhìn lại, ngắm nghía nó, từ đó con hiểu ra thêm, sâu chuỗi rất nhiều điều.
2-Thứ 2 là kiến thức, từ Thầy, từ kinh tạng Chư Phật. Quá nhiều châu báu Thầy rải khắp trong các cuốn sách, các bài viết, các buổi sinh hoạt. Đọc đi đọc lại, nghe đi nghe lại, tư duy thấu đáo, thấy được rất nhiều điều.
3-Thứ 3 là thực hành và thực hành. Chỉ có thực hành mới có thể biến kiến thức thành tri kiến, từ tri kiến mới phát sinh trí tuệ sản sinh ra phương tiện. Bồ tát đạo là cái đạo thực hành. Đạo trí tuệ là cái đạo “lấy ba cõi làm nhà” không cầu đoạn kiết sử, cũng chẳng nhàm chán sanh tử. Chứ chẳng phải cái đạo ngồi đó, nơi Niết bàn tự thân, mà suy luận trên lý thuyết, từ văn tự. Những suy luận từ lý thuyết, từ văn tự chỉ có thể là sản phẩm của ý căn, chẳng phải mầm Trí tuệ.
4-Thứ 4 là mọi nguồn: Từ chính câu nói câu chuyện của chúng sanh, từ những bài viết những kinh nghiệm cá nhân được các huynh đệ chia sẻ, từ một nhân duyên nào đó trên đời. Tựu trung lại, giống như lời Thầy đã dạy, đại ý: Cái xe nó cứ đi, đi đến đâu gặp cái gì nó cũng dùng cái đó làm nguyên liệu được, thì cái xe ấy cứ chạy, chạy đến khi nào banh xác thì thôi, chứ chẳng có quy tắc hay ngăn ngại gì !!!
Thầy kính,
Con tự thấy mình như anh sinh viên vừa học vừa làm. Chân đã bước đi, tay này đã cuốc nên con đường cũng gọi là bắt đầu được khai phá. Tuy nhiên, bàn tay này còn thô vụng, trí tuệ này còn non trẻ nên chẳng tránh được những cái lọc cọc, ổ gà, ổ trâu. Con trình bày những thấy biết trong thời điểm hiện tại của con, kính mong được Thầy, được các HĐTM chỉ dạy thêm, để con sớm thấy điều cần thấy, thành tựu những điều cần thành tựu!!!
Con chân thành tri ân Thầy và kính lạy Thầy muôn ngàn ức lạy,
Con, Lý Phương Anh