Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Phát Bồ Đề Tâm Là Gì?

MB 857 Lý Diệu Sinh 20.02.2023

Phát Bồ đề tâm hay phát tâm Vô thượng Bồ đề là cách nói khác của việc người tu hành phát tâm nguyện để bản thân được giác ngộ trong chánh pháp và sau đó thành Phật !!!

Các bạn !!!
Trong tuần, mình nhận được hai câu hỏi của bạn đọc có tên là Sol !!! Sol chính là bạn đọc đã đặt câu hỏi ở chuyên mục kì 65… Lần này bạn ấy viết như sau:

“Mỗi tuần một câu hỏi. Mình lại xin góp câu hỏi vào fanpage Lý Gia.
1- Phát Bồ đề tâm là gì. Vì sao cần phải phát Bồ đề tâm?
2- Làm thế nào để lời phát Bồ đề tâm kia là chân thật. (Không phải lời nói gió bay như người đời)?
Mình cảm ơn Lý Gia” – 24/01/2021 7:26:26 – Sol

Sol và bạn đọc thân mến !!!
Bất kì người tu học nào trong Phật đạo cũng đã từng ít nhất một lần trong đời nghe nói đến việc “phát Bồ đề tâm” !!! Và cũng không ít người thắc mắc về những điều giống như bạn đã nêu !!! Mình xin được trả lời như sau:

1- Phát Bồ đề tâm là gì. Vì sao cần phải phát Bồ đề tâm?

a) Bồ đề tâm là gì ???
Trả lời:
Phát Bồ đề tâm hay phát tâm Vô thượng Bồ đề là cách nói khác của việc người tu hành phát tâm nguyện để bản thân được giác ngộ trong chánh pháp và sau đó thành Phật !!!

Bồ đề tâm hay giác tâm là một thứ tâm của người đã giác ngộ, tâm này hoàn toàn không giống tâm đời !!!

Bồ đề tâm có các đặc tính siêu việt của nó như: Không khổ, không phiền não, không kiết sử, không lậu hoặc (mờ tối), thường tịch tĩnh, thường bất động, thường an vui, không đấu tranh, không hơn thua, không đố kị, không ghét ganh, không thị phi, không nhân ngã, không chiếm hữu, không cố chấp, không ngã mạn, biết yêu thương muôn loài (từ bi), thường vì người mà làm điều lợi ích (hỷ xả)…v..v…!!! Nói khác hơn Bồ đề tâm chính là Phật tâm, một thứ tâm mà trong đó gồm đủ bốn tính chất cao thượng là: Từ, bi, hỉ, xả !!!

b) Vì sao cần phải phát Bồ đề tâm ???
Trả lời:
Mục tiêu của người tu hành trong Phật đạo là giác ngộ và thành Phật !!! Vì thế, phát Bồ đề tâm chính là phát lên tâm nguyện của mình để quyết thành tựu cho bằng được mục tiêu này !!!

Sở dĩ người tu hành cần phát Bồ đề tâm là vì: Tâm đời hay phàm tâm là thứ tâm hay phát sinh khổ, phiền não, thường sanh diệt và không sáng suốt… Tâm này không thể giúp ta an vui và thành tựu Vô thượng Bồ đề quả !!! Vì thế, để tịch diệt phàm tâm, người tu hành phải phát Bồ đề tâm… Có phát Bồ đề tâm, có nuôi dưỡng Bồ đề tâm thì phàm tâm mới có cơ hội thối lui !!!

Giống như một lu nước đục, mỗi ngày ta đổ vào đó một ít nước trong, lâu dần nước trong lu hết vẩn đục lúc nào không hay !!! Hoặc biết đó là lu nước đục, nước này ẩn chứa nhiều hiểm nguy, ta mạnh dạn đổ bỏ nước đó và thay thế bằng nước tinh khiết !!!

Tóm lại, phát Bồ đề tâm chính là hành động, là quyết tâm thay đổi tâm thức theo con đường đức Phật đã vạch ra !!! Khi tâm thức thay đổi đến rốt ráo, Phật tâm sẽ thành tựu gọi là thành tựu Vô thượng Bồ đề !!!

2- Làm thế nào để lời phát Bồ đề tâm kia là chân thật. (Không phải lời nói gió bay như người đời) ???

Trả lời:
Phàm tâm, hư vọng tâm hay chúng sinh tâm…bản chất không chân thật, tức luôn sinh diệt, thay đổi không ngừng, u tối, lúc nhớ lúc quên… !!! Để có thể phát Bồ đề tâm chân thật. Hàng ngày, hàng giờ người phát Bồ đề tâm phải cố gắng ghi nhớ tâm nguyện của mình !!! Để tránh tình trạng lúc nhớ lúc quên, phải thường xuyên phát tâm !!! Lúc nào nhớ là phải phát tâm !!!

Phát tâm có nhiều cách, cụ thể gồm các cách sau:

– Đối trước tam bảo phát tâm: Tức đứng trước hình tượng Phật, Bồ tát, Tỳ kheo tăng, hoặc ông bà tổ tiên phát tâm !!!
– Đối trước bạn đồng tu, người khác hoặc quyến thuộc phát tâm: Tức đối trước một người nào đó ta phát tâm !!!
– Đối trước muôn loài phát tâm: Tức phát tâm trước các chúng sinh !!!
– Đối trước tự tâm phát tâm: Tức ta tự phát tâm với chính ta !!!

Mục tiêu của việc thường xuyên phát tâm trong những hoàn cảnh, những đối tượng khác nhau như trên là để lời phát tâm của ta thành tâm nghiệp, thành khẩu nghiệp và không quên trong ý nghiệp… Cũng như nhờ người chứng minh, nhắc nhở khi ta không nhớ tâm nguyện của mình !!!

Chính các nghiệp lành này và trước sự chứng minh của nhiều Thiện tri thức khác nhau, sẽ giúp Bồ đề tâm thêm kiên cố, không thối chuyển !!! Các Thiện tri thức nghe ta phát tâm, sẽ hộ trì tâm nguyện của ta, giống người thân, cha mẹ, thầy cô nhắc nhở con em siêng năng học tập và không quên mục tiêu đã hứa !!!

Để giúp Bồ đề tâm mau chóng trở thành chân thật, ngoài việc phát tâm, người tu hành còn phải mau chóng tìm cầu các bậc Thiện tri thức để học tập giáo pháp chân chính !!! Vì rằng, nếu chỉ phát Bồ đề tâm mà không học tập giáo pháp chân chính thì chẳng khác nào người hô khẩu hiệu suông, nói rồi để đó mà không thực hiện !!!

Học tập giáo pháp cho đến khi giác ngộ đến một tầng bậc nhất định nào đó, Bồ đề tâm mà ta đã phát trước kia bây giờ trở thành chân thật !!!

Hy vọng, những trả lời ở trên có thể giúp Sol và các bạn hiểu ra phát Bồ đề tâm là gì và phát bằng cách nào !!! Rất mong, nhận được những câu hỏi lý thú và bổ ích từ các bạn !!!

Chúc Sol và bạn đọc an vui, tinh tấn !!!
29/01/2021
LÝ TỨ

Phát Bồ Đề Tâm Là Gì?

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Tự Tâm - Tự Tánh

MB 857 Lý Diệu Sinh 20.02.2023

Tự tâm hay bổn tâm là cái tâm bổn nhiên (hay bản nhiên) của tất cả hữu tình !!! Có nghĩa là, khi một hữu tình có mặt trên đời, cái tâm ấy đã sẵn có !!!

Các bạn !!!

Mình và mọi người về đến nhà lúc 19 giờ 30 tối !!!

Mấy ngày ở Hà Nội bận rộn… Sau khi về, lại phải giải quyết một số công việc tới tận khuya nên không xem các câu hỏi từ link bạn đọc… Mãi đến sáng nay mình mới có thời gian ghé thăm và nhận được ba câu hỏi của một bạn đọc có tên là Sol gởi vào đường link từ hôm 15/01, bạn Sol không ghi địa chỉ nên mình cũng không biết bạn ấy ở đâu !!! Nội dung các câu hỏi như sau:

“BQT cho mình gởi câu hỏi như sau:

1-Tự tâm là gì?

2-Tự tánh là gì?

3-Trong quá trình tu học làm thế nào người tu hành biết mình đã thấy được tự tâm. Làm thế nào để biết mình thấy được tự tánh. Và từ cái thấy tự tâm trải qua những cách tu hành nào để thấy được tự tánh.?” 15/01/2021 15:23:16 – Sol

Sol và bạn đọc thân mến !!!

Về ba câu hỏi của bạn, hầu như các đề tài bạn thắc mắc, mình đã đề cập rất nhiều trên Page Lý Tứ thông qua những chủ đề khác nhau… Tuy nhiên, để giúp mọi người hiểu rõ hơn, lần này mình lại xin được tiếp tục giải thích !!!

1-Tự tâm là gì?

Trả lời:

Tự tâm hay bổn tâm là cái tâm bổn nhiên (hay bản nhiên) của tất cả hữu tình !!! Có nghĩa là, khi một hữu tình có mặt trên đời, cái tâm ấy đã sẵn có !!!

Nhưng do không thực hành đời sống như pháp, các hữu tình ấy bị ba món lậu hoặc gồm dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu che mờ tâm trí !!! Từ đây, thấy nghe hay biết của họ là thấy nghe của lậu hoặc vì thế tâm thức bị nhiễm ô và động lay !!! Do đó, “bổn tâm thanh tịnh” trở thành “vọng tâm bất tịnh”, từ không pháp trở thành có pháp !!!

Giống như một hồ nước, gốc của hồ nước ấy là trong sạch, nhưng do những tác động từ bên ngoài, hồ nước ấy đang trong sạch vắng lặng dần dần trở nên dơ bẩn và nổi sóng !!! Hồ nước trong sạch dụ cho bổn tâm thanh tịnh, hồ nước vắng lặng dụ cho tự tánh an nhiên bất động !!! Hồ nước dơ bẩn dụ cho hư vọng tâm, hồ nước nổi sóng dụ cho tâm thức động lay !!!

2-Tự tánh là gì?

Trả lời:

Tự tánh hay bổn tánh là những tánh chất tự nhiên từ tâm thức vô lậu (tâm thức không bị che lấp) của một hữu tình !!! Nói khác hơn, tự tánh hay bổn tánh chính là những tính chất tự nhiên của bổn tâm !!!

Khi bổn tâm không bị tác động, bổn tâm có những tính chất đặc thù như: Vắng lặng, thanh tịnh, bất động, an vui…v..v…!!! Khi bổn tâm bị một tác động nào đó, các tính chất này không còn như trước nữa mà tự chuyển biến thành những tính chất hư vọng như giận hờn, tham lam, tật đố…v..v…!!! Giống một con suối nước trong, khi có đàn gia súc lội qua, dòng nước trong của con suối ấy trở nên khuấy động, vẩn đục..v..v… !!!

3-Trong quá trình tu học làm thế nào người tu hành biết mình đã thấy được tự tâm. Làm thế nào để biết mình thấy được tự tánh. Và từ cái thấy tự tâm trải qua những cách tu hành nào để thấy được tự tánh?

Trả lời:

a)Trong quá trình tu học, khi nào người tu hành đối trước mọi cảnh duyên, “nhận thức rõ ràng cảnh duyên” trước mắt mà không sanh các thứ tâm hư vọng !!! Đối trước đẹp xấu, sang hèn, thiện ác..v..v…”nhận thức rõ ràng các pháp thế gian ấy”, mà tâm trí không bị mê mờ hay động lay !!! Lúc đó, người tu hành sẽ nhận ra đây chính là bổn tâm hay tự tâm !!!

b)Sau khi thấy được tự tâm, người tu hành “lặng lẽ quan sát” bổn tâm, sẽ phát hiện những tính chất đặc thù của tự tâm như: Thanh tịnh, an vui, bất động, giải thoát…v..v…Các tính chất đặc thù này chính là tự tánh !!! Vì thế, khi Lục Tổ Huệ Năng phát hiện ra những tính chất đặc thù của tự tánh bèn la lớn: “Nào dè tự tánh vốn tự thanh tịnh, nào dè tự tánh vốn không sanh diệt, nào dè tự tánh vốn không động lay, nào dè tự tánh có thể liễu tri muôn pháp…v..v…” !!!

c)Muốn thấy tự tâm và tự tánh phải giác ngộ !!! Không giác ngộ, cho dù có tu suốt kiếp cũng không thể thấy được hai thứ này !!! Vì rằng, “tu” là pháp làm ra, tu là nhân duyên tạo tác, tu là hành vi khởi niệm…v..v…Nói chung, khi ta “khởi lên niệm tu” chính là lúc ta ném vào hồ tâm (bổn tâm) một vật gì đó (tạm coi là vật của sự tu)… Chính tác động từ việc ném này, bổn tâm đang thanh tịnh vắng lặng bất động, bỗng dưng trở thành vọng động nhiễm ô và sanh diệt !!!

Đây là lí do vì sao Phật đạo lại có danh xưng là “đạo giác ngộ”, chứ không có danh xưng là “đạo tu hành” !!! Và đây cũng là lí do vì sao Phật đạo lại đề ra ba mục tiêu mà người tu hành cần phải đạt đến là GIÁC NGỘ – GIẢI THOÁT – TRÍ TUỆ !!! Chính vì thế mà người ta thường xưng tán đức Phật là bậc “đại giác ngộ” chứ người ta không gọi Phật là bậc “đại tu hành” !!!

Trong quá trình giác ngộ, người tu hành lần lượt giác ngộ ba thứ cơ bản là: Tánh giác, tự tâm và tự tánh !!! Giống như ba giai đoạn để một hồ nước trở về tính chất nguyên thuỷ của nó phải gồm: Không khuấy động (thấy tánh giác), nhận ra tổng thể cái hồ nguyên thuỷ (thấy tự tâm) và thấy được các tính chất của cái hồ nguyên thuỷ (thấy tự tánh) !!!

Vì thế, giác ngộ chính là tiêu chí đầu tiên giải quyết những vấn đề cơ bản đã ngăn che tự tâm tự tánh của một chúng sanh gồm: Khổ, phiền não, kiết sử, lậu hoặc !!! Khi giải quyết rốt ráo những vấn đề cơ bản nêu trên thông qua con đường giác ngộ, tự tâm và tự tánh mới có cơ hội hiện ra !!! Giống như bầu trời hết mây mù, mặt trời mới hiện !!!

Hy vọng bài viết có thể giúp Sol và bạn đọc tìm thấy cơ hội giác ngộ bổn tâm và bổn tánh !!!

Chúc mọi người an vui, tinh tấn !!!

19/01/2021

LÝ TỨ

Tự Tâm - Tự Tánh

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Tam Muội Là Gì?

MB 857 Lý Diệu Sinh 20.02.2023

Hai chữ Tam muội của Phật đạo được nói đến trong các kinh Đại thừa, nhằm chỉ cho một hình thái dừng lặng tâm thức do trí tuệ thấu suốt mà được !!! Đây là sự khác biệt về ý nghĩa rất lớn đối với khái niệm Tam muội giữa cách hiểu của thế gian và xuất thế gian !!!

Các bạn !!!

Mình vừa nhận được email của Nguyên !!! Trước giờ vẫn thế, điều gì chưa thông, tư duy chưa thấu đáo, bạn ấy quyết tìm hiểu đến nơi đến chốn !!!

Đạo Phật là đạo trí tuệ, muốn thành tựu trí tuệ, không có con đường nào khác hơn là phải học tập, tích luỹ kiến thức, tư duy tận nguồn cơn để thấu suốt ý nghĩa của các kiến thức ấy và ứng dụng thuần thục vào đời sống, nhằm biến kiến thức trở thành thành văn hoá, trở thành lẽ sống…Tức, ta và kiến thức đồng nhất thể, ta là kiến thức, kiến thức là ta, ta và kiến thức không hai (bất nhị, năng kiến sở kiến đồng tịch diệt)… Các việc làm trên, chính là thực hiện ba pháp “văn, tư, tu” của Phật đạo !!!

Xin tán thán thái độ học tập, tinh thần tư duy của Nguyên !!! Trong email, Nguyên đã viết như sau:

“Thầy kính !

Vừa rồi Thầy đã chỉ dạy cho con về bốn cấp độ quán 12 nhân duyên. Con đã thông suốt được rất nhiều điều. Nhưng có đoạn sau đây, con chưa hiểu rõ:

– Khi quán thấu suốt nội lục nhập, Bồ tát giác ngộ: Một hữu tình bản lai không có cái gọi là tâm (tạm gọi là vô sanh tâm) !!!

– Khi quán thấu suốt ngoại lục nhập, Bồ tát giác ngộ: Một hữu tình bản lai không có cái gọi là pháp (tạm gọi là vô sanh pháp) !!!

Thầy cho con hỏi, quán thấu suốt nội lục nhập và ngoại lục nhập là quán như thế nào? Tại sao khi quán thấu suốt điều này, Bồ tát giác ngộ: Một hữu tình bản lai không có tâm (tạm gọi là vô sanh tâm), không có pháp (tạm gọi là vô sanh pháp).

Thầy cho con hỏi thêm:

Trong Kinh Đại Bát Nhã, Kinh Hoa Nghiêm và Kinh Đại Bát Niết Bàn. Trong các Kinh này đề cập rất nhiều, rất nhiều Tam Muội. Tại sao lại nói nhiều Tam muội như vậy? Nói như vậy với mục đích gì? Tam muội nào quan trọng ? Nên chọn các Tam muội nào để ứng dụng Tu tập?

Con cảm ơn Thầy rất nhiều!!!

Nguyên và bạn đọc thân mến !!!

Trước khi trao đổi hai phép quán nội lục nhập và ngoại lục nhập (thập nhị nhập), mình xin khái quát ý nghĩa của hai thứ nhập này !!!

Theo quan điểm của Phật đạo trên tinh thần Thập nhị nhân duyên (12 nhân duyên) thì, sau khi nghiệp thức từ bỏ thân nghiệp cũ và tìm được một thân nghiệp mới có cùng nghiệp quả… Chờ cho thân nghiệp mới tạm hoàn hảo, thức nghiệp tức thì nhập vào các căn của thân nghiệp mới, chiếm hữu các căn và làm “chủ nhân ông” của thân nghiệp đó…Từ đây, “thân nghiệp mới” trở thành một “thực thể sống” có tri giác…Gọi là nội lục nhập !!!

Bản chất của thức là “thường minh”, tức muốn biết, muốn nghe, muốn thấy, muốn phân biệt…v..v…Để thoả mãn bản chất thường minh, thức nghiệp điều động sáu căn là nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý tìm đến sáu đối tượng của nó gồm sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp…Gọi là ngoại lục nhập !!!

– Quán nội lục nhập là: Quán quá trình chiếm hữu thân nghiệp mới và nhập vào sáu căn của thức nghiệp !!! Khi quán như thế, hành giả lập tức nhận ra “bản chất của một hữu tình không có cái được gọi là tâm” !!!

Sở dĩ hữu tình có tâm là vì: Khi thức trở thành chủ nhân ông, nhập vào các căn, bắt các căn nhận thức theo chủ ý đảo điên của mình (của nghiệp quả), thuận theo nghiệp thì vui mừng, trái với nghiệp thì buồn khổ…Các hiệu ứng tình cảm vui buồn nói trên, Phật đạo gọi là “hư vọng tâm” !!! Khi quán thấu đáo như vậy, hành giả phát hiện ra “bản lai hữu tình không tâm” (không có vui buồn hư dối) !!! Từ đó thực chứng “Vô sanh tâm” !!!

– Quán ngoại lục nhập là: Quán quá trình điều động các căn tìm đến trần cảnh của thức nghiệp !!! Khi quán thấu đáo điều này, hành giả lập tức nhận ra “bản chất của một hữu tình không pháp” !!!

Sở dĩ hữu tình có pháp là vì: Sau khi thức trở thành chủ nhân ông, bắt sáu căn đối trước thấy nghe phát sinh những nhận thức đảo điên theo chủ ý của mình thông qua lục thức (nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức)… Nhận thức đảo điên này chính là các pháp !!! Khi quán thấu đáo như thế, hành giả lập tức nhận ra “bản lai hữu tình không pháp” (không có quan điểm quan niệm đảo điên) !!! Từ đó thực chứng “Vô sanh pháp” !!!

* Vô sanh tâm và vô sanh pháp còn có tên là hai vô sanh, tâm không pháp không, hai vô ngã…v..v…!!! Đây là cảnh giới rất quan trọng của Phật đạo…Người tu hành thực chứng hai cảnh giới này, cơ hội viên mãn Diệt đế là rất gần…Từ Diệt đế, hành giả lặng lẽ quan sát bổn tâm và bổn tánh sẽ thực chứng thật nghĩa thế nào là “minh tâm kiến tánh”…Vì bởi, chỉ khi nào không còn sanh tâm hư vọng, mới cho phép thấy bổn tâm !!! Chỉ khi nào, không còn sanh pháp hư dối, mới cho phép thấy bổn tánh !!! Có minh tâm kiến tánh mới có thể thành tựu Nhất thiết trí ở vị lai !!! Đây là lí do vì sao Ngũ Tổ nói: “Bất thức bổn tâm, học pháp vô ích” !!!

Nguyên hỏi:

“Trong Kinh Đại Bát Nhã, Kinh Hoa Nghiêm và Kinh Đại Bát Niết Bàn. Trong các Kinh này đề cập rất nhiều, rất nhiều Tam Muội. Tại sao lại nói nhiều Tam muội như vậy? Nói như vậy với mục đích gì? Tam muội nào quan trọng ? Nên chọn các Tam muội nào để ứng dụng Tu tập” !!!

“Tam muội, tiếng Sanskrit là Samadhi; Còn gọi là Tam ma đề, Tam ma địa…Tiếng Hán có nghĩa là Nhất tâm hay Định tâm. Phật giáo dùng phương pháp định tâm hay nhất tâm để đối trị với tâm tán loạn, hay bay nhảy, chạy theo dục vọng của con người bình thường” (theo Wikipedia) !!!

Đối với Phật đạo, định hay chánh định là cảnh giới mà bất kì người tu hành nào nếu muốn tâm thức an yên, nhất định phải đạt đến !!! Chính vì đây là cảnh giới cần phải đạt đến của đạo pháp… Từ đó, người tu hành căn cứ vào nghĩa lí của giáo pháp, rồi ứng dụng các nghĩa lí đó vào đời sống giúp tâm thức không bị dao động trước cảnh duyên gọi chung là “định” !!!

Mà, giáo pháp thì có nhiều tầng nghĩa, cho nên mỗi một chủng tánh trong Phật đạo lại hiểu ý nghĩa giáo pháp theo tầng nghĩa của mình !!! Vì thế, cùng một giáo pháp lại cho ra nhiều loại định khác nhau, cụ thể như sau:

– Đối với Nhị thừa: Sau khi nghe giảng giải giáo pháp, người trong thừa này dùng Thiền định làm cơ sở yểm li tâm thức !!! Trong quá trình dùng Thiền định yểm li tâm thức, tâm thức của Nhị thừa nhờ sức Thiền định nên không bị động lay, không động lay trong trường hợp này, Nhị thừa gọi là định hay Thiền định (dhyāna = chánna = 禪那) !!!

– Đối với Bồ tát thừa: Sau khi nghe giảng giải giáo pháp, người trong thừa này nhận ra, tất cả chỉ từ một niệm mê…Thấy được đầu mối loạn động của tâm thức là do bất giác, Bồ tát giác ngộ vô niệm…Lấy vô niệm tổng nhiếp tâm và pháp, từ đó tâm thức không bị loạn động… Không loạn động Bồ tát gọi là định, định này có được là do hành giả lấy giác ngộ làm “sức tổng trì” để tổng nhiếp tâm và pháp (vạn pháp quy tâm, vạn thù quy nhất, trì thiện bất thất, trì ác bất sanh)… Vì thế định của Bồ tát còn có tên là Tổng trì (Dharani = Dhāraṇī = 總持) !!!

Để giúp tổng trì viên mãn, Bồ tát dùng ba pháp hộ trì:

1) Vô niệm tổng trì, còn gọi là Pháp tổng trì (Dharma Dharani) !!!

2) Vô trụ tổng trì, còn gọi là Nghĩa tổng trì (Meaning Dharani) !!!

3) Vô tướng tổng trì, còn gọi là Nhẫn tổng trì (Patience Dharani) !!!

Thực chất ba pháp hộ trì nói trên của Bồ tát chính là phép “lấy không hộ trì để hộ trì” mà các kinh giáo Bồ tát thường hay đề cập đến !!! Về sau, khi Phật giáo sang Tây Tạng, người ta dùng thần chú để hộ trì tâm. Từ đây, có thêm phép Chú tổng trì (Mantra Dharani) !!!

– Đối với Phật thừa (Nhất thừa): Sau khi nghe pháp, Bồ tát quán thiệt tướng của pháp vừa nghe…Với trí tuệ siêu thắng Bồ tát liền thấu suốt thiệt tướng của pháp đó… Do thấy thiệt tướng, Bồ tát tạm gọi chỗ thấy này là định hay Tam muội (三昧 = Samadhi) !!!

Như những gì đã phân tích ở trên, ta thấy đồng một nguồn giáo pháp nhưng ba thừa có ba thứ định lực khác nhau: Định lực của Nhị thừa do Thiền định mà thành gọi là Thiền định; Định lực của Bồ tát do giác ngộ mà thành gọi là Tổng trì; Định lực của Phật thừa do Trí tuệ mà thành nên có tên là Tam muội !!!

* Như vậy: Thật nghĩa hai chữ Tam muội của Phật đạo được nói đến trong các kinh Đại thừa, nhằm chỉ cho một hình thái dừng lặng tâm thức do trí tuệ thấu suốt mà được !!! Đây là sự khác biệt về ý nghĩa rất lớn đối với khái niệm Tam muội giữa cách hiểu của thế gian và xuất thế gian !!!

Phật đạo là đạo trí tuệ, vì thế chỉ “loại định nào” thành tựu từ trí tuệ, định đó mới được coi là rốt ráo định hay Chánh định !!! Và, chỉ có Chánh định (hay Tam muội) mới cho ra quả vị Chánh giác !!! Đây là lí do vì sao các kinh Đại thừa giáo Bồ tát như Đại Bát Nhã, Hoa Nghiêm, Đại Bát Niết Bàn rất hay đề cập đến các Tam muội !!!

Nói khác hơn, Tam muội chính là “Thấu thị lực và Thẩm sát lực” của Bồ tát !!! Từ sức thấu thị thẩm sát này, Bồ tát thâm nhập thật nghĩa giáo pháp… Đây là tiền đề để Bồ tát thấu suốt vô lượng Tam muội môn cùng Giải thoát môn của chư Phật sau này !!! Do thấu suốt vô lượng Tam muội môn và Giải thát môn, Bồ tát mới có thể giúp mình và người thành tựu đạo quả Vô thượng !!! Chính tầm mức quan trọng này, Tam muội (hay Chánh định) là mục tiêu cao nhất mà các Bồ tát phải thành tựu trong quá trình tu hành !!! Cũng bởi do trí lực siêu việt, nên kinh thường dạy: “Trong một niệm, Bồ tát có thể thâm nhập muôn ngàn Tam muội” !!! Chính nhờ trong một niệm Bồ tát thâm nhập muôn ngàn Tam muội, nên Bồ tát thành tựu Nhất thiết trí !!!

– Về ứng dụng tu tập: Đối trước một lời kinh, một pháp bất kì nếu có thể “dùng trí bén” quán chiếu để thấu suốt thật tướng của lời kinh hay pháp đó thì, đây được coi là Tam muội mà Bồ tát ứng dụng vào đời sống tu tập !!!

Tóm lại, Thiền định, Tổng trì, Tam muội của Phật đạo đều cùng có chung mục đích giúp người tu hành dừng hư vọng tâm hư vọng pháp để tâm trí không vọng động trước cảnh duyên !!! Tuy nhiên, do căn trí sai khác nên khi nghe pháp, ý nghĩa cùng thành quả tu tập từ lời pháp đó cũng trở nên sai khác… Chính điều này mà từ một Phật thừa lại phát sinh ba thừa… Từ thật nghĩa lại cho ra vô lượng nghĩa…Từ không pháp trở thành có pháp…Từ không đạo trở thành có đạo…!!!

Hy vọng, bài viết có thể giúp Nguyên và bạn đọc nhận ra những nghĩa lí sâu thẳm của giáo pháp thông qua các Tam muội môn cùng các Giải thoát môn của chư Phật !!!

Rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!!

Chúc mọi người an vui, tinh tấn !!!

04/01/2021

LÝ TỨ

Tam Muội Là Gì?

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Bốn Cấp Độ Quán 12 Nhân Duyên

MB 857 Lý Diệu Sinh 20.02.2023

Khi chúng ta xét đến hai yếu tố “tâm nguyện và xu hướng tu hành” của các căn trí, chính là chiếc chìa khoá đầu tiên giúp ta giải mã những ẩn số đầu tiên trong đoạn kinh, vì sao cùng là 12 nhân duyên mà bốn loại căn trí hạ, trung, thượng và thượng thượng khi tu tập lại cho ra những kết quả sai khác !!!

Các bạn !!!

Mình vừa nhận được email của BS Nguyên !!! Chắc các HĐ Lý Gia thuộc “hàng trưởng lão” không lạ gì vị HĐ hiền khô này !!!

Sau một thời gian dài không sinh hoạt do bận tu nghiệp tại Hoa Kỳ… Hôm nay, bạn ấy đã email cho mình, nội dung email như sau:

Kính chào Thầy !

Con là Nguyên, ở Thốt nốt. Dạo này Thầy khỏe không? Mắt Thầy dạo này có khá hơn không?

Con kính chúc Thầy thật nhiều sức khỏe, trụ thế lâu dài để dạy bảo đệ tử chúng con.

Con đọc đoạn kinh sau trong Đại Niết Bàn, nhưng chưa thông suốt, nhờ Thầy chỉ dạy cho con. Đoạn kinh như sau:

“Nầy Thiện nam tử! Trí quán mười hai nhơn duyên có bốn hạng: Một là hạ, hai là trung, ba là thượng, bốn là thượng thượng.

Quán trí bực hạ chẳng thấy Phật tánh, vì chẳng thấy nên chứng được đạo Thanh văn. Trí quán bực trung chẳng thấy Phật tánh, vì chẳng thấy nên chứng đặng đạo Duyên Giác. Trí quán bực thượng thấy Phật tánh chẳng rõ ràng, vì thấy chẳng rõ ràng nên trụ bực thập trụ. Trí quán bực thượng thượng thấy Phật tánh rõ ràng nên chứng được vô thượng Bồ Đề.

Do nghĩa đây nên mười hai nhơn duyên gọi là Phật tánh. Phật tánh chính là đệ nhứt nghĩa không. Đệ nhứt nghĩa không gọi là trung đạo. Trung đạo đó gọi là Phật. Phật đây là Niết Bàn”.

Con cảm ơn Thầy rất nhiều!

Nguyên và các bạn thân mến !!!

Đọc lướt qua đoạn kinh, hầu như mọi người đều có cùng nhận định, đây là đoạn kinh không có gì khó hiểu, gần như bạch văn, chỉ liệt kê các loại căn trí khi quán 12 nhân duyên !!!

Thế nhưng, nếu ta dừng lại ở từng phân đoạn và chiêm nghiệm, sẽ nhận ra trong bài bạch văn này lại chứa quá nhiều ẩn số như:

1) Vì sao cùng 12 nhân duyên, mà bốn hạng căn trí sai khác sau khi quán lại cho ra bốn kết quả sai khác ???

2) Căn cứ vào đâu để ta có thể biết rằng, do căn trí sai khác, sau khi quán 12 nhân duyên lại cho ra bốn kết quả không giống nhau ???

3) Cơ chế vận hành của 12 nhân duyên như thế nào ??? Tại sao cùng cơ chế vận hành mà các giá trị sẽ sai biệt khi ta vận dụng cơ chế vận hành này để điều phục tâm thức ???

4) Phật tánh là gì ??? Đệ nhất nghĩa không là gì ??? Trung đạo là gì ??? Phật là gì ??? Niết bàn là gì ??? Vì sao kinh lại nói: “Mười hai nhơn duyên gọi là Phật tánh. Phật tánh chính là đệ nhứt nghĩa không. Đệ nhứt nghĩa không gọi là trung đạo. Trung đạo đó gọi là Phật. Phật đây là Niết Bàn” !!!???

Các bạn !!!

Theo mình, nếu chúng ta giải quyết thoả đáng những câu hỏi trên, nhất định những ẩn số trong đoạn kinh sẽ không còn là ẩn số nữa, và thâm ý từ đoạn kinh sẽ được giải mã !!! Bây giờ, xin mời Nguyên và các bạn cùng mình mổ xẻ những khúc mắc trên !!!

1) Vì sao cùng 12 nhân duyên, mà bốn hạng căn trí sai khác, sau khi quán lại cho ra bốn kết quả sai khác ???

Để giải quyết câu hỏi này, trước tiên chúng ta thử tìm hiểu xem “tâm nguyện” và “xu hướng” tu hành của bốn căn tánh mà Phật đã nêu là như thế nào !!!

– Như mọi người đều biết, Thanh văn và Duyên giác (kinh gọi là căn trí bậc hạ và căn trí bậc trung) tuy là hai thừa riêng biệt, nhưng người trong hai thừa này giống nhau ở tâm nguyện, đó là: “Tu hành để tự cứu bản thân, không có ước vọng giúp người” !!!

Chẳng những tâm nguyện giống nhau, xu hướng tu hành của họ cũng giống nhau, ở chỗ: “Chán khổ tìm vui, chán sanh tử cầu Niết bàn” !!! Chính tâm nguyện và xu hướng tu hành này, nên Thanh văn và Duyên giác có danh xưng chung là Nhị thừa hay Tiểu thừa… Tiểu thừa có nghĩa là “cổ xe nhỏ”, xe nhỏ là thứ xe chỉ đủ để chở bản thân !!! Vì thế, Phật dạy: “Từ bi của Nhị thừa chỉ đủ để tự cứu” hay “Sức từ bi của Nhị thừa không lớn hơn cái thân của họ” !!!

– Bồ tát gồm: Bồ tát quyền thừa và Bồ tát nhất thừa (kinh gọi là căn trí bậc thượng và căn trí bậc thượng thượng) !!!

Bồ tát là những người có tâm nguyện rộng lớn muốn độ thoát hết thảy chúng sanh… Xu hướng tu hành của thừa này là thành tựu cho bằng được Vô thượng Bồ đề quả, không chấp nhận dừng lại ở những quả vị nhỏ nhoi !!! Chính hoài bão và ước nguyện to lớn này, mà những người tu học trong đạo Bồ tát có danh xưng là Đại thừa !!! Đại thừa là cỗ xe lớn, những người trong thừa này có thể gánh vác công việc của chư Phật, xe Đại thừa có năng lực chuyên chở hết thảy chúng sanh đến bến bờ an vui !!!

Tâm nguyện và xu hướng là như vậy, nhưng do công đức tích luỹ sai khác nên trí tuệ hiện đời của các Bồ tát cũng trở nên sai khác… Đây là lí do vì sao Bồ tát thừa lại chia thành hai bậc, đó là Bồ tát quyền thừa (căn trí bậc thượng, thuộc hàng Thập trụ) và Bồ tát nhất thừa hay Phật thừa (căn trí bậc thượng thượng, thuộc hàng Thập địa trở lên) !!!

Đến đây, có lẽ các bạn sẽ hỏi: Thế thì, tâm nguyện và xu hướng tu hành có mối liên hệ gì đến công việc quán 12 nhân duyên (hay các pháp) để cho ra các đạo quả sai khác ???

Giống như người đi học, tâm nguyện và xu hướng học tập sẽ quyết định đến vận mệnh học tập của người đó, ví dụ:

– Một người học trò có tâm nguyện chỉ học để mai này kiếm đủ tiền nuôi thân (không có ước vọng cao xa) !!! Do tâm nguyện như vậy, nên xu hướng học tập của họ là tìm đến các trường nghề… Thế là, kết quả học tập cao nhất của những người này chỉ là công nhân lành nghề !!!

– Nhưng nếu, một người học trò có tâm nguyện phải học thành tài để sau này giúp người !!! Do tâm nguyện như vậy, nhất định xu hướng học tập của họ sẽ tìm đến những ngôi trường dạy các cấp học cao nhất… Thế là, kết quả học tập của những người này sẽ là thành tựu các học vị cao nhất trong xã hội !!!

Vì thế, khi chúng ta xét đến hai yếu tố “tâm nguyện và xu hướng tu hành” của bốn căn trí nêu trên, chính là chiếc chìa khoá đầu tiên giúp ta giải mã những ẩn số đầu tiên trong đoạn kinh, vì sao cùng là 12 nhân duyên mà bốn loại căn trí hạ, trung, thượng và thượng thượng khi tu tập lại cho ra những kết quả sai khác !!!

2) Căn cứ vào đâu để ta có thể biết rằng, do căn trí sai khác, sau khi quán 12 nhân duyên lại cho ra bốn kết quả không giống nhau ???

Sau khi xét yếu tố thứ nhất là tâm nguyện và xu hướng… Bước thứ hai, chúng ta tìm xem bốn loại căn trí hạ, trung, thượng và thượng thượng quán 12 nhân duyên như thế nào !!!

Do tâm nguyện cũng như xu hướng của Thanh văn và Duyên giác là tự cứu và chán khổ tìm vui, chán sanh tử cầu Niết bàn… Vì thế, để đáp ứng tâm nguyện và xu hướng này, Nhị thừa nhắm thẳng vào những nguyên nhân trước mắt nào gây ra khổ, nguyên nhân trước mắt nào không được yên vui để tịch diệt mà Nhị thừa cho là phù hợp với mục tiêu của mình !!!

– Đối với Thanh văn thừa, để tịch diệt các nguyên nhân nói trên, học thuyết yểm li chính là thứ triết lí đáp ứng mọi yêu cầu của họ !!!

Vì thế, yểm li gia đình, yểm li quyến thuộc, yểm li tài sản, yểm li ngũ ấm, ham thích độc cư thiền định, lấy giới luật làm hàng rào cấm ngăn và quán hậu tế của 12 nhân duyên (hữu, sanh, lão, tử) là những phần việc mà Thanh văn thừa học tập và ứng dụng triệt để vào đời sống… Sau khi học tập và ứng dụng triệt để những điều trên, Thanh văn thừa có được đạo quả cao nhất của thừa này (A la hán quả) !!!

– Riêng, đối với Duyên giác thừa, được coi là bậc trung căn vì căn trí của thừa này có khá hơn Thanh văn một chút !!! Giống như Thanh văn, Duyên giác thừa cũng lấy học thuyết yểm li làm trọng tâm tu tập… Nhưng vì tạm coi là có trí tuệ, và căn bản Duyên giác thừa nhận ra nguyên nhân của các món khổ là do những “xúc đối bất như ý” và “cảm thọ yếu mềm”, vì thế thừa này không quán hậu tế của 12 nhân duyên, mà quán trung tế (gồm xúc, thọ, ái, thủ)… Tức quán những nguyên nhân hiện tiền phát sinh khổ não dựa trên nền tảng xúc đối giữa căn và cảnh từ đó cho ra ái thủ, trói buộc (nguyên nhân của mọi khổ đau) !!! Thành tựu phép quán “luân chuyển” hay “hoàn diệt” từ trung tế của 12 nhân duyên, Duyên giác thừa thành tựu đạo quả Duyên giác (hay chứng Bích chi Phật quả) !!!

Đây là lí do vì sao, hai đạo quả của Nhị thừa gồm A la hán và Bích chi Phật quả chỉ có thể thành tựu từ những vị “xuất gia chuyên chính”… Tức những người đã từ bỏ gia đình, sống không gia đình, không quyến thuộc, không tài sản, ham ưa độc cư thiền định, ngày ăn một bữa, khất thực để nuôi thân, ba y một bát như con chim với đôi cánh… Mà không thể thành tựu đối với hàng cư sĩ tại gia !!! Gần đây, mình biết có một số cư sĩ tại gia ham ưa học tập, bắt chước công phu, cũng như tập tành hành xử theo cung cách của các vị xuất gia, vì thế thành quả tu tập của họ rất chi mơ hồ, không muốn nói là vô vọng !!!

– Đối với Bồ tát thừa, là những người có hoài bão lớn, chỉ vì lợi ích của tất cả chúng sanh mà tu tập… Chính hoài bão này là cơ sở trọng yếu để Bồ tát không dùng học thuyết yểm li nhằm điều phục bản thân, xa lánh khổ não… Mà với họ “có trí tuệ, hết mê mờ” mới chính là chìa khoá để mở tất cả các cánh cửa của đạo pháp !!! Từ đó, hai học thuyết “tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” và “sanh tử tức Niết bàn, phiền não tức Bồ đề” chính là hai thứ triết lí đáp ứng yêu cầu học tập của thừa này !!!

Để có thể thấu suốt hai học thuyết “tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” cũng như “sanh tử tức Niết bàn, phiền não tức Bồ đề”… Các Bồ tát phải tìm cho được căn nguyên sinh tâm, sinh pháp và căn nguyên hình thành chúng sanh giới !!!

Về căn nguyên sinh tâm, sinh pháp… Bồ tát phải thấy cho được thiệt tướng của tâm và thiệt tướng của pháp !!! Để thấy thiệt tướng của tâm, thiệt tướng của pháp… Bồ tát phải thấu suốt “nội lục nhập” và “ngoại lục nhập”, đây là hai yếu tố quyết định mê ngộ, được hình thành từ cuối giai đoạn tiền tế và đầu giai đoạn trung tế của 12 nhân duyên (Tiền tế gồm vô minh, hành, thức, danh sắc; Trung tế gồm nội lục nhập, ngoại lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ) !!!

– Khi quán thấu suốt nội lục nhập, Bồ tát giác ngộ: Một hữu tình bản lai không có cái gọi là tâm (tạm gọi là vô sanh tâm) !!!

– Khi quán thấu suốt ngoại lục nhập: Bồ tát giác ngộ một hữu tình bản lai không pháp (tạm gọi là vô sanh pháp) !!!

Giác ngộ như thế, thiệt tướng của tâm và pháp hiện rõ như trái a ma lặc trong lòng bàn tay… Từ đây, Bồ tát “lờ mờ” cảm nhận bốn đức tính ưu việt của Phật tánh là “thường, ngã, lạc, tịnh” đã sẵn có trong hữu tình, chỉ vì một niệm mê nên các đức tính ấy không hiện !!!

Thấy được điều này, Bồ tát hoàn thành công việc tự độ, thành tựu đạo quả cuối cùng của Thập trụ, quả chứng cao nhất của Bồ tát quyền thừa !!! Đây là lí do vì sao kinh nói: “Căn trí bậc thượng, khi quán 12 nhân duyên thấy Phật tánh không rõ ràng nên trụ bậc Thập trụ” !!!

Nhưng, Bồ tát là những vị có hoài bão lớn, nên họ không bằng lòng dừng lại ở các địa vị nhỏ nhoi của Thập trụ chỉ đủ tự cứu bản thân !!! Bây giờ Bồ tát phát khởi đại bi, quyết tìm xem vì sao chúng sanh luân hồi trong sanh tử khổ !!!

Để giải quyết nan đề này, Bồ tát quán căn nguyên luân chuyển của một chúng sanh và đường đi của họ !!! Để có thể quán căn nguyên luân chuyển một chúng sanh, Bồ tát “quán tiền tế” của chúng sanh đó !!!

Tiền tế là một loạt các chi từ khi chúng sanh từ bỏ thân nghiệp cũ để đến với một thân nghiệp mới gồm: Vô minh, hành, thức, danh sắc !!! Khi quán thông suốt tiền tế, Bồ tát nhận ra tất cả những gì được gọi là luân chuyển, đường đi, cũng như hồi kết của một hữu tình chẳng khác gì trong tảng băng lớn đang trôi nổi trên biển cả lại chứa hạt minh châu vô giá, băng tan minh châu hiện !!! Băng vô thường, minh châu vô diệt !!! Tảng băng trôi ấy chính là tình tưởng (hay thiện ác) vô thường, viên minh châu vô diệt chính là Phật tánh thường trụ trong mỗi hữu tình !!!

Thấy như thế, từ bi tâm của Bồ tát phát khởi không khác từ bi tâm của Phật vì biết rằng “tất cả chúng sanh đồng có những đức tính cao đẹp như chư Như Lai”. Do thấy biết như vậy, bốn đức tính siêu việt còn lại của Phật tánh là từ, bi, hỉ, xả hiện khởi đầy đủ trong lòng !!!

Thấy đến đây, Bồ tát được coi là đã hoàn thành công đoạn tu tập cuối cùng, chỉ còn chờ đủ duyên, chứng Vô thượng Bồ đề quả !!! Đây là lí do vì sao kinh dạy: “Trí quán bực thượng thượng thấy Phật tánh rõ ràng nên chứng được Vô thượng Bồ Đề”.

3) Cơ chế vận hành của 12 nhân duyên như thế nào ??? Tại sao cùng cơ chế vận hành mà các giá trị sẽ sai biệt khi ta vận dụng cơ chế vận hành này để điều phục tâm thức ???

Về cơ chế vận hành của 12 nhân duyên… Ta thấy 12 nhân duyên vận hành qua ba giai đoạn gồm:

– Giai đoạn 1: Thức nghiệp từ bỏ thân nghiệp cũ, gọi là tiền tế !!! Tiền tế gồm các chi: Vô minh, hành, thức, danh sắc !!!

– Giai đoạn 2: Thức nghiệp tìm được thân nghiệp mới và chung sống, gọi là trung tế !!! Trung tế gồm: Lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ !!!

– Giai đoạn 3: Thức nghiệp nhận chịu quả nghiệp, gọi là hậu tế !!! Hậu tế gồm: Hữu, sanh, lão, tử kết thành một khối đầy những ưu bi khổ não !!!

Để có thể quán ba giai đoạn nêu trên, bậc hạ căn hạ trí chỉ có thể quán quả nghiệp, tức quán những ảnh hưởng khổ đau tác động trực tiếp lên thân nghiệp này, gọi là quán hậu tế !!! Bậc trung căn trung trí có thể quán trung tế để chấm dứt khổ đau hiện tiền khi thân căn xúc đối !!! Bậc thượng căn thượng trí quán giai đoạn tiếp giáp giữa trung tế và hậu tế !!! Bậc căn trí thượng thượng mới có thể quán tiền tế… Vì tiền tế là cái đã qua, không thực có trong hiện tại, không đủ trí tuệ không thể xuyên thấu !!!

Điều này giống như cùng ngành nông nghiệp !!! Nhưng, các bác nông dân chỉ biết cặm cụi cấy cày trên mảnh ruộng của mình theo truyền thống, giá trị lao động không cao (Thanh văn) !!! Các vị có hiểu biết về chuyên môn kĩ thuật nông nghiệp, cũng cày xới trên mảnh ruộng đó, nhưng giá trị lao động sẽ cao hơn vị kia (Duyên giác) !!! Những vị có tri thức tốt, biết chuyên môn kĩ thuật, biết chế biến bảo quản, biết trao đổi hàng hoá, sau khi thu hoạch giá trị lao động nhất định sẽ cao hơn hai vị trên (Bồ tát Thập trụ) !!! Và cuối cùng, những người có năng lực nhìn xa trông rộng, am tường chuyên môn kĩ thuật, biết chế biến bảo quản, biết trao đổi hàng hoá, biết cơ chế thị trường, biết giá trị sản phẩm, nắm vững thời vụ cùng nhu cầu hàng hoá…v..v…Sẽ là những người nhận được giá trị lao động cao nhất (Phật thừa) !!!

4) Phật tánh là gì ??? Đệ nhất nghĩa không là gì ??? Trung đạo là gì ??? Phật là gì ??? Niết bàn là gì ??? Vì sao kinh lại nói: “Mười hai nhơn duyên gọi là Phật tánh. Phật tánh chính là đệ nhứt nghĩa không. Đệ nhứt nghĩa không gọi là trung đạo. Trung đạo đó gọi là Phật. Phật đây là Niết Bàn” !!!???

Phật tánh là những tính chất siêu việt tiêu biểu trong vô lượng tính chất siêu việt của một đức Phật gồm: Từ, bi, hỉ, xả, thường, ngã, lạc tịnh !!! Vì đây là những tính chất siêu việt, nên không thể dùng hữu vi tâm hữu vi trí tìm cầu, vì không thể dùng hữu vi tâm hữu vi trí tìm cầu nên tạm gọi là đệ nhất nghĩa không !!! Tuy nói rằng đệ nhất nghĩa không, nhưng lại đầy đủ tính chất siêu việt, mà đã là siêu việt nên ra ngoài hai phạm trù có và không, ra ngoài hai phạm trù có và không nên nó chính là trung đạo !!! Trung đạo là thứ đạo chẳng thuộc thế gian, chẳng thuộc xuất thế… Trí nào hiểu được ý nghĩa của đạo chẳng thuộc thế gian, chẳng thuộc xuất thế, trí đó là Phật trí, Phật trí chính là Phật !!! Nơi nào có Phật nơi ấy là Đại Niết Bàn… Vì thế Phật, Niết bàn, đệ nhất nghĩa không, trung đạo..v..v… không hai !!!

Như đã nói ở phần trên, Phật tánh trong chúng sanh như tảng băng trôi trong đó có chứa hạt minh châu vô giá !!! Tảng băng chứa hạt minh châu trôi nổi từ biển khổ này qua biển khổ khác nhưng hạt minh châu trong nó vô diệt, thường an vui, thường chiếu sáng !!! Kẻ trí thấy tảng băng trôi, biết ngay trong tảng băng có hạt minh châu, nên nói hạt minh châu…đang…trôi…!!! Vì thế, kinh dạy: “Mười hai nhơn duyên gọi là Phật tánh. Phật tánh chính là đệ nhứt nghĩa không. Đệ nhứt nghĩa không gọi là trung đạo. Trung đạo đó gọi là Phật. Phật đây là Niết Bàn”

Nguyên và các bạn !!!

Sau khi xét những gì cần xem xét, chúng ta sẽ thấy, không riêng gì 12 nhân duyên mà tất cả các pháp tự thân không có những tính chất của đại tiểu (to nhỏ), hạ trung thượng (cao thấp), chậm mau (đốn tiệm), hay một quả chứng bất kì nào (mê ngộ)…!!! Mà đại hay tiểu, thượng hay hạ, đốn hay tiệm, mê hay ngộ, quả này hay quả kia sở dĩ ta tạm thấy có là do căn trí, tâm nguyện, xu hướng, động cơ học tập hình thành khi người ta quán sát một pháp bất kì !!!

Vì thế, sẽ rất nhầm lẫn khi có một ai đó cho rằng tôi tu pháp cao, người kia tu pháp thấp; Tôi tu pháp lớn, người kia tu pháp nhỏ; Tôi tu pháp đốn, người kia tu pháp tiệm…v..v…!!! Lục Tổ nói: “Pháp không có đốn tiệm, mê ngộ có chậm mau” chẳng phải đã minh định bản chất các pháp không tánh, không tướng, không mê, không ngộ là một thực tế hiển nhiên..!!!??? Cho nên, căn trí, tâm nguyện, xu hướng, động cơ tu hành…v..v…mới chính là những cơ sở quan trọng để chúng ta có được lời giải đầy đủ nhất và đáp án tốt nhất từ “bài toán quán pháp” !!!

Có lẽ đến đây, Nguyên và mọi người có thể giải mã phần nào đó đoạn kinh Đại Bát Niết Bàn mà Nguyên đã đặt thành câu hỏi !!! Do giới hạn của văn tự ngữ ngôn, thật nghĩa của Phật đạo lại siêu quá những gì văn tự ngữ ngôn có thể thể hiện !!! Hy vọng, một ngày đẹp trời nào đó, Nguyên hay một bạn đọc bất kì có thể thốt lên: “Thì ra Phật tánh là như vậy và 12 nhân duyên là như vậy”… !!! Nhất định ngày đó sẽ là ngày hoa Ưu Đàm Bát La xuất hiện ở cõi thế này !!!

Chân thành cảm ơn Nguyên đã gởi đến câu hỏi mà theo đánh giá của mình, đây là câu hỏi được coi là hay nhất mà Lý Tứ đã nhận được trong năm 2020 !!!

Chúc Nguyên và tất cả bạn đọc an vui, tinh tấn !!!

Rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!!

29/12/2020

LÝ TỨ

Bốn Cấp Độ Quán 12 Nhân Duyên

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Phản Hồi Từ Bạn Đọc

MB 857 Lý Diệu Sinh 20.02.2023

"Tôi và bao nhiêu người xưa nay chỉ biết chạy theo danh tướng, chỉ biết nghe họ giảng nói rồi tin tưởng làm theo. Cứ nghĩ Phật đạo là những thứ mờ mờ ảo ảo, như sương như khói, như thơ như nhạc, du du dương dương, nửa mộng nửa tỉnh, xướng xướng hoạ hoạ như những kẻ say, mà không tự xem mục tiêu của giáo pháp là gì, ta đã đạt được đến đâu..."

Các bạn !!!

Mình vừa nhận được tâm sự của Thượng Nhân và của KT !!!

Thượng Nhân là bạn đọc đã gởi một số câu hỏi, và được mình trả lời trong chuyên mục kì thứ 60...Bẳng đi hơn nửa tháng, hôm nay bạn ấy mới phản hồi !!!

Thượng nhân viết như sau: “Thưa thầy Lý Tứ! Đọc trả lời của thầy, tôi phải nghiền ngẫm mất nhiều ngày. Đúng như những gì thầy viết, không hẳn những người nổi tiếng là người giác ngộ và những điều họ nói ra nhất nhất đều đúng. Cũng như thời gian tu học không phải là đơn vị dùng để quy chiếu xem xét thành quả giác ngộ. Mà tu hành như pháp, đạt được các mục tiêu giáo pháp đề ra, mới là hệ quy chiếu của giáo pháp.

Những điều thầy viết, tuy đơn giản nhưng là chân lý. Tôi và bao nhiêu người xưa nay chỉ biết chạy theo danh tướng, chỉ biết nghe họ giảng nói rồi tin tưởng làm theo. Cứ nghĩ Phật đạo là những thứ mờ mờ ảo ảo, như sương như khói, như thơ như nhạc, du du dương dương, nửa mộng nửa tỉnh, xướng xướng hoạ hoạ như những kẻ say, mà không tự xem mục tiêu của giáo pháp là gì, ta đã đạt được đến đâu.

Tôi xin cảm ơn trả lời của thầy. Nguyện trong đời này sẽ được thọ giáo!”

Còn KT cũng là một bạn đọc, cách đây hơn một tháng, KT có trình bày với mình bài viết dài qua messenger về những điều bạn ấy đã học tập ở đâu đó, đồng thời thắc mắc một số ngữ nghĩa của Phật đạo, mình cắt nghĩa rành mạch...Thế là KT muốn được trở thành HĐ Lý Gia thực thụ để được học tập như các HĐ khác !!!

Nhưng, để có thể trở thành HĐ Lý Gia thực thụ, KT phải được một HĐ Lý Gia đi trước liên hệ, hướng dẫn những điều cơ bản của giáo pháp, đồng thời xem xét bạn ấy có phải là người thật sự ham thích tu tập, cũng như cách giáo dục của Lý Gia có phù hợp với tâm cơ của bạn ấy hay không...v..v...sau đó mới được chấp nhận để nhập bọn !!!

Hiện tại, KT vẫn chưa chính thức làm HĐ Lý Gia, nhưng có vẻ như sau một thời gian được HĐ cũ hướng dẫn, bạn ấy bắt đầu hiểu ra tu tập trong Phật đạo là làm những gì, chứ không còn hiểu chung chung như hồi trước !!!

KT vừa viết cho mình như sau: “Muốn đi xa cần có ngân lượng. Khi bắt đầu một chuyến đi, cần phải biết đích đến. Sau đó phải tìm người dẫn đường hoặc người nào đó biết đường. Và rồi ngân lượng là thứ chúng ta phải chuẩn bị nhiều nhất. Ngân lượng này là trực tâm............(đoạn văn của KT còn dài mình chỉ lược ghi).”

Bạn ấy viết tiếp: “Đầu tiên hãy nói về không tánh, không tánh chứ không phải tánh không. Tánh không là cái tánh nó là không. Người tu hành nếu cố hiểu như vậy thì lại cố nhìn sự việc cho nó ra là không. Còn không tánh là sự việc nó vốn không có tánh. Tánh của nó do ta - chủ thể định đặt cho nó.......... ”.

KT lại viết như sau: “Chúng ta hay có thói quen đặt một cái tánh nào đó cho sự vật rồi bám vào nó mà sinh khổ. Giống như người bơi ngược dòng rồi bảo sao khó thế. Khó vậy bơi xuôi dòng đỡ vất vã hơn không?.........” Vậy là quán sắc, thọ, tưởng, hành, thức đã xong. Lúc này tâm không còn bị trói buộc. Họ tiếp tục tịch diệt đến rốt ráo thì sẽ dứt tập.......”

Bạn ấy lại viết: “Thưa thầy, vậy em thiền cả ngày cũng được. Chỉ sợ làm cho người chung quanh lo ngại. Đang rất bình thường thì tự nhiên đơ mất vài giây để trầm ngâm. Mọi người nhìn em vậy cũng thành quen rồi.”

Thượng Nhân, KT và các bạn !!!

Mình rất đồng cảm với những gì Thượng Nhân đã viết: “Cứ nghĩ Phật đạo là những thứ mờ mờ ảo ảo, như sương như khói, như thơ như nhạc, du du dương dương, nửa mộng nửa tỉnh, xướng xướng hoạ hoạ như những kẻ say, mà không tự xem mục tiêu của giáo pháp là gì, ta đã đạt được đến đâu.”

Vâng, hiện tượng này không hiếm gặp, chỉ cần lang thang trên mạng là sẽ thấy ngay !!! Bản thân mình, khi đọc một vài “tự bạch” về cảnh giới mà người tu hành cho là đắc dụng, tỉnh thức... Đôi khi mình cũng tự thốt lên: “Các bạn ấy đang tỉnh hay mơ” !!!

KT thân !!!

Hy vọng một ngày thật gần, với đà tinh tấn này, KT sẽ trở thành HĐ Lý Gia thực thụ !!!

Chúc mọi người an vui, tinh tấn !!!

22/12/2020

LÝ TỨ

Phản Hồi Từ Bạn Đọc

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Nhiều Hay Ít Công Đức?

MB 857 Lý Diệu Sinh 20.02.2023

Điều kiện, để một người biết bản thân “có nhiều hay ít tiền” là: “Người đó phải có tiền” !!! Cho nên, để bản thân biết mình có nhiều hay ít công đức, điều kiện tiên quyết là: “Phải có công đức” !!!

Các bạn !!!

Hôm qua, mình nhận được 10 câu hỏi của bạn Thích Không Không từ Trang Lý Gia !!!

Bạn ấy viết: “Thưa Thầy Lý Tứ. Tôi có một số thắc mắc rất mong được Thầy chỉ giáo ạ.” Và 10 câu hỏi, mình sẽ tuần tự trả lời như sau:

1: Thầy Lý Tứ đã làm theo Phật pháp nguyên thủy hay Đại thừa…hay là gì?

– Trả lời:

Mình không làm theo Phật pháp nguyên thuỷ hay đại thừa…mà “làm theo lời Phật dạy” !!!

2: Làm sao để biết bản thân có nhiều Công đức hay ít Công đức.

– Trả lời:

* Điều kiện, để một người biết bản thân “có nhiều hay ít tiền” là: “Người đó phải có tiền” !!!

* Cho nên, để bản thân biết mình có nhiều hay ít công đức, điều kiện tiên quyết là: “Phải có công đức” !!!

3: Thầy Lý Tứ có thể mô tả một cách sơ qua về Cảnh giới mà Thầy đã chứng được không?

– Trả lời:

Khi nào “đủ duyên” nhất định mình sẽ trả lời cho bạn điều này… Còn bây giờ thì, xin được phép…khất… lại…!!!

4: Có phải tới cảnh giới nào đó thì dễ nhưng để giữ được mình ở cảnh giới đó mới thực sự khó phải không? Vì tôi có lần rơi vào trạng thái an lạc, trạng thái rỗng khi thiền. Nhưng tôi lại chưa thể giữ được trạng thái đó mỗi ngày.

– Trả lời:

*Nếu thật sự giác ngộ một cảnh giới nào đó của Phật đạo thì, chuyện giữ nó sẽ không khó (thậm chí không cần giữ)… Vì rằng, các cảnh giới trong Phật đạo là “thường”, vô vi, bất thối… !!!

* Còn nếu, cảnh giới mà ta bắt gặp chỉ là cảnh giới của thế gian, do thế gian pháp làm ra, nhất định sẽ chóng mất và không bền chắc, có cố giữ cũng sẽ không tồn tại theo thời gian do tâm ý sanh diệt không dừng… Cho nên, tất cả các cảnh giới của thế gian, do thế gian pháp làm ra (thuộc hữu vi) đều “vô thường” (giữ cũng không được) !!!

5: Liệu một người có thể vừa Giác ngộ vừa kiếm nhiều tiền không ạ? Vì tôi muốn có tiền để từ thiện, hoặc xây Chùa…

– Trả lời:

Một người giác ngộ cũng có thể kiếm nhiều tiền !!! Phật sử từng ghi lại, rất nhiều Bồ tát giác ngộ thâm sâu, nhưng đồng thời cũng là những người rất giàu có !!! Kinh Kim Cang cũng dạy: “Ai trì tụng kinh này, phước đức nhiều vô số kể” !!!

6: Việt Nam có quá nhiều Thầy, nhiều vị sư…làm sao để tôi biết vị sư ấy đã đi đúng hướng và sẽ giác ngộ hoặc đã giác ngộ để mình có thể bái làm sư.

– Trả lời:

Nếu trong đời có một ai đó, có thể biết những điều sau: Người khác tu hành đúng hướng hay không, vị lai chừng nào sẽ giác ngộ hoặc đã giác ngộ đến đâu…v..v..thì, người đó “không cần đi tìm người để bái sư” mà, chờ người đủ duyên tìm đến để: “Bái…vị…đó…làm…thầy” !!!

Tuy vậy, mình cũng xin “mách cho bạn” một mẹo nhỏ: Muốn tìm một người có thể dạy mình đạo pháp, đầu tiên phải xác định mục tiêu tu học của mình là gì, nếu người nào đáp ứng được mục tiêu của mình đề ra, thì nên nhận người đó làm thầy !!!

7: Tu tại gia khó đắc đạo hơn Tu ở Chùa phải không ạ? Vì tu tại gia vẫn phải lo cơm áo gạo tiền, lo con cái…

– Trả lời:

Tại gia hay xuất gia đều có thể đắc đạo !!! Vì, đắc đạo (của Phật đạo) là do…ở…cái…đầu (không phải ở nơi chốn) !!! Cho nên bất luận tại gia hay xuất gia, ở đâu mà thấu suốt giáo pháp đều có thể đắc đạo !!!

8: Thầy nghĩ thế nào về Thiên Chúa.

– Trả lời:

Mình “chưa từng có nhu cầu” nghĩ đến điều bạn vừa hỏi !!!

9: Dấu hiệu nào để người ấy biết đã tới lúc mình cần xuất gia?

– Trả lời:

* Chán nhà thích chùa !!!

* Chán tục thích tăng!!!

* Chán karaoke thích chuông mõ !!!

* Chán ăn nhậu thích tu hành !!!

* Chán thời trang hàng hiệu, thích pháp phục nâu sồng !!!

*…v..v….

Đây “tạm coi” là “các dấu hiệu” để một người biết rằng “đã tới lúc” nên xuất gia !!!

10: Nếu bản thân khi đã Giác ngộ, mà người thân bố mẹ đã qua đời, vậy người ấy có thể độ cho người thân Giác ngộ khi mà họ đã chết hay không?

– Trả lời:

Khi nào:

* Thầy giáo, có thể dạy cho cha mẹ học tập sau khi qua đời !!!

* Thầy thuốc, có thể chữa lành bệnh cho cha mẹ sau khi song thân tạ thế !!!

* Nghệ sĩ, có thể biểu diễn cho người đã chết thưởng thức nghệ thuật…v..v…!!!

Chừng ấy:

* Người giác ngộ có thể độ cho người thân giác ngộ sau khi họ đã chết !!!

Hy vọng, những giải đáp vừa rồi có thể giúp Không Không và bạn đọc giải toả những gì đã thắc mắc !!!

Chúc mọi người an vui, tinh tấn !!!

Rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!!

16/12/2020

LÝ TỨ

Nhiều Hay Ít Công Đức?

Nhiều Hay Ít Công Đức?

Nhiều Hay Ít Công Đức?

Nhiều Hay Ít Công Đức?

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Giác Ngộ Như Thế Nào?

MB 857 Lý Diệu Sinh 20.02.2023

Nếu đúng là chánh pháp thì, những người tu học trong chánh pháp ấy nhất định phải giác ngộ… Có nghĩa, giác ngộ là điều hiển nhiên của giáo pháp !!! Giống như đi học là phải thành tựu việc học tập !!!

Các bạn !!!

Vừa qua, mình nhận được tâm sự cùng một số thắc mắc của bạn đọc có nickname là Thượng Nhân gởi từ messenger !!! Bạn ấy viết như sau:

“Thưa thầy Lý Tứ, tôi có vào trang của thầy cũng đọc các bài viết từ Lý Gia. Tôi thấy xưa nay sách vở ghi lại, giác ngộ là chuyện rất hiếm có, nhưng các bài viết từ thầy cũng như các đệ tử của thầy thì chuyện giác ngộ rất dễ, điều này làm cho tôi có đôi phần nghi ngờ.

Nghi ngờ vì tôi là người có thời gian tu học khá dài, lại có nhân duyên gần gũi với nhiều bậc có tiếng tăm, đông đệ tử, thuyết giảng nhiều nơi cả trong lẫn ngoài nước. Nhưng khi đề cập đến chuyện giác ngộ, bản thân các vị ấy không quả quyết mình đã giác ngộ hay chưa chứ chưa nói đến đệ tử của họ.

Chính bản thân tôi tuy tu học lâu rồi, kinh điển cũng biết ít nhiều, thời gian tham thiền nhập định tạm gọi là niêm mật nhưng nói thật là tôi tin bản thân chưa giác ngộ. Để làm rõ những thắc mắc của mình, tôi xin hỏi thầy một vài câu, mong thầy trả lời thật lòng để tôi còn tin trên đời này còn có người giác ngộ Phật pháp.

1) Làm sao thầy biết mình giác ngộ, ai ấn chứng cho thầy?

2) Đệ tử của thầy giác ngộ là giác ngộ như thế nào? Thầy có thể giới thiệu địa chỉ những đệ tử của thầy đã giác ngộ để mọi người tham vấn hay không?

3) Tôi thấy trang của thầy có mục bạn đọc hỏi Lý Tứ trả lời, tôi đã đọc kĩ rất các câu trả lời của thầy, tôi cũng công nhận những điều thầy trả lời là chánh lí đúng pháp. Xin hỏi, trong cuộc đời của thầy, có câu hỏi nào làm cho thầy bí hay không?

4) Nếu thầy là người giác ngộ, tại sao không mở trường hay học viện để mọi người biết mà đến học?

Nếu các câu hỏi trên có gì không hợp ý, xin thầy lượng thứ. Thượng Nhân kính bút.

Thượng Nhân thân mến !!!

Đọc những gì bạn đã viết, mình rất cảm kích công việc tu học, sức đọc tụng tham cứu, cũng như ngưỡng mộ sự thân quen của bạn với các bậc cao đức trong đạo pháp như bạn đã giới thiệu !!!

Về những gì bạn và bạn đọc thắc mắc, Lý Tứ rất hoan hỉ lắng nghe, cũng như sẵn sàng trả lời trong phạm vi hiểu biết của mình !!! Mình xin được trả lời những thắc mắc của bạn như sau:

1) Việc bạn bảo rằng: “Sách vở ghi lại chuyện người giác ngộ là rất hiếm”…Theo mình, điều này không hoàn toàn như vậy !!!

Nếu là người đọc nhiều kinh điển, bạn sẽ nhận ra hầu như đệ tử của Phật là những người đã giác ngộ… Chưa nói đến việc trong kinh có kể lại, sau một thời Phật thuyết pháp, có rất nhiều đệ tử chưa rời chỗ ngồi đã giác ngộ cảnh giới này hay cảnh giới kia…!!!

Thành ra theo mình, nếu đúng là chánh pháp thì, những người tu học trong chánh pháp ấy nhất định phải giác ngộ… Có nghĩa, giác ngộ là điều hiển nhiên của giáo pháp !!! Giống như đi học là phải thành tựu việc học tập !!! Số lượng người không thành tựu những gì đã học phải ít hơn người thành tựu mới hợp lí… Vì rằng, thành tựu việc học là lẽ tất nhiên của giáo dục… Giác ngộ là lẽ tất nhiên của giáo pháp !!! Chính vì điều này, việc trong Lý Gia có rất nhiều người giác ngộ cũng đâu có gì là lạ !!!

2) Bạn viết: “Nghi ngờ vì tôi là người có thời gian tu học khá dài, lại có nhân duyên gần gũi với nhiều bậc có tiếng tăm, đông đệ tử, thuyết giảng nhiều nơi cả trong lẫn ngoài nước. Nhưng khi đề cập đến chuyện giác ngộ thì bản thân các vị ấy không quả quyết mình đã giác ngộ hay chưa chứ chưa nói đến đệ tử của họ”.

Về thắc mắc này, mình xin được trình bày như sau:

– Có thời gian tu học dài là một chuyện, tu học có như pháp hay không (đúng tinh thần giáo pháp, như lí tác ý) lại là một chuyện !!! Thành ra thời gian tu hành không phải là đơn vị dùng để quy chiếu nhằm xem xét thành quả giác ngộ… Mà, tu hành như pháp, đạt được các mục tiêu của giáo pháp đề ra…mới là hệ quy chiếu của đạo pháp !!!

– Nhân duyên bạn: “Gần gũi với các bậc có tiếng tăm, đông đệ tử, thuyết giảng nhiều nơi trong và ngoài nước…v..v… Nhưng khi đề cập đến chuyện giác ngộ thì bản thân các vị ấy không quả quyết mình đã giác ngộ hay chưa chứ chưa nói đến đệ tử của họ” !!!

Về việc này, mình cũng xin được phép trình bày như sau:

* Người có danh tiếng không đồng nghĩa với việc giác ngộ… Danh tiếng là một chuyện, giác ngộ là một chuyện !!! Người trí không nên nhầm lẫn hai thứ này !!!

* Thuyết giảng là một chuyện, thuyết giảng có như pháp hay không lại là một chuyện !!! Người không hoặc chưa giác ngộ, không thể thuyết giảng như pháp… Vì thế, thuyết giảng nhiều nơi, không đồng nghĩa với “thuyết giảng như pháp” của bậc giác ngộ !!!

* Bạn viết: “Nhưng khi đề cập đến chuyện giác ngộ thì bản thân các vị ấy không quả quyết mình đã giác ngộ hay chưa chứ chưa nói đến đệ tử của họ” !!!

Trả lời:

Lý Tứ rất cảm phục sự “không quả quyết mình đã giác ngộ hay chưa” của các vị ấy !!! Trực tâm chính là giềng mối để các vị ấy giác ngộ ở vị lai !!! Lý Tứ cầu mong các vị ấy sớm “thật sự giác ngộ” để nhân tiếng tăm mà các vị ấy đã gầy dựng được sẽ đem đến “lợi ích thật sự” cho nhiều người !!!

3) Làm sao thầy biết mình giác ngộ, ai ấn chứng cho thầy?

Trả lời: Về câu hỏi này, mình xin đặt một câu hỏi khác, khi trả lời xong, Thượng Nhân sẽ tự trả lời câu hỏi của bạn !!! Câu hỏi như sau: Làm thế nào, một người bị bệnh sau một thời gian dùng thuốc, biết mình đã hết bịnh hay chưa ??? Ai là người xác chứng bản thân người ấy đã hết bệnh ???

4) Đệ tử của thầy giác ngộ là giác ngộ như thế nào? Thầy có thể giới thiệu địa chỉ những đệ tử của thầy đã giác ngộ để mọi người tham vấn hay không?

Trả lời:

– Phật đạo là một nền giáo dục, vì thế có những mục tiêu nhất định của nó… Những người trong quá trình tu học đạt được một số mục tiêu cơ bản của giáo pháp đề ra một cách như pháp (khác hành vi đạt được theo cách phi pháp, phi chân lí), Phật đạo gọi sự “đạt được như pháp” đó là giác ngộ… Và, đệ tử Lý Gia cũng không ngoại lệ !!! Vì thế, đệ tử của mình trong quá trình tu học, cũng có ba mục tiêu cơ bản phải đạt được hay giác ngộ theo đúng tinh thần giáo pháp như sau (chậm mau tuỳ căn cơ):

* Một, mục tiêu hết Khổ, dứt Tập (tịch diệt phần lớn tám món khổ nhân sinh, phiền não, kiết sử, lậu hoặc): Đệ tử Lý Gia hoàn thành hai mục tiêu này được coi là người hoàn thành giác ngộ lần thứ nhất !!!

* Hai, mục tiêu chứng Diệt (minh Tâm, kiến Tánh): Đệ tử Lý Gia hoàn thành chứng diệt, coi như thành tựu mục tiêu giác ngộ thứ hai !!!

* Ba, học Đạo đế thành tựu Nhất thiết trí (nắm vững các Tam muội môn, các Giải thoát môn của chư Phật. Đồng thời thấu suốt nhân sinh quan và vũ trụ quan của Phật đạo. Lại còn biết đâu là căn, là cơ, là thời..v..v…): Đệ tử Lý Gia thành tựu những điều trên, được coi hoàn thành mục tiêu thứ ba của giáo pháp đề ra !!!

– Về việc bạn hỏi: “Thầy có thể giới thiệu địa chỉ những đệ tử của thầy đã giác ngộ để mọi người tham vấn hay không”?

Trả lời: Tuy mình là thầy, nhưng mình cũng đâu được phép cho người khác số điện thoại, địa chỉ…(thông tin cá nhân) của một người nào đó khi chưa có sự đồng ý của chủ nhân các thông tin ấy, kể cả họ là đệ tử của mình (nhất là trên mạng xã hội) !!!

Tuy nhiên theo mình biết, một số HĐ Lý Gia đã giác ngộ đều có facebook… Nếu hữu duyên, bạn có thể tìm và kết bạn với các vị ấy và sau đó trao đổi, điều này không khó tìm khi vào trang của mình hay trang Lý Gia (địa chỉ FB từ những bài các bạn ấy đã đăng) !!! Chúc Thượng Nhân sớm tìm gặp họ !!!

5) “Tôi thấy trang của thầy có mục bạn đọc hỏi Lý Tứ trả lời, tôi đã đọc kĩ rất các câu trả lời của thầy, tôi cũng công nhận những điều thầy trả lời là chánh lí đúng pháp. Xin hỏi, trong cuộc đời của thầy, có câu hỏi nào làm cho thầy bí hay không”?

Trả lời: Cho đến hiện giờ, mình chưa bắt gặp câu hỏi nào “liên quan đến giáo pháp” mà mình không thông suốt !!! Còn vị lai thế nào, thì chưa biết !!! Tất nhiên, chỉ các câu hỏi liên quan đến giáo pháp, còn các câu hỏi khác ngoài giáo pháp thì mình cũng như mọi người, có điều biết có điều không !!!

6) Nếu thầy là người giác ngộ, tại sao không mở trường hay học viện để mọi người biết mà đến học?

Trả lời: Đối với mình, Lý Gia là quá đủ !!! Thành ra mình không có tham vọng, và cũng chưa từng suy nghĩ đến những thứ “lớn lao” như bạn đề cập !!! Dân gian có câu: “Hữu duyên thiên lí năng tao ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng” !!! Mình chọn “hữu duyên” vậy !!!

Hy vọng, những trả lời trên có thể giúp Thượng Nhân giải toả các thắc mắc trong lòng !!! Chúc Thượng Nhân và bạn đọc an vui, tinh tấn !!!

08/12/2020

LÝ TỨ

Giác Ngộ Như Thế Nào?

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Lặng Lẽ - Quan Sát - Không Kết Luận

MB 857 Lý Diệu Sinh 20.02.2023

Để giúp huynh đệ thay đổi nhãn lực, thành tựu trí tuệ…Một phương châm tu học khác có tính chất nâng cao, nhưng mang tính kế thừa từ hai nền tảng cốt lõi trước…Đó là, “lặng lẽ quan sát không kết luận”

Các bạn !!!
Thật bất ngờ !!! Tuần vừa qua, mình nhận được một số câu hỏi cũng như một đoạn tâm sự từ ba bạn đọc… Các câu hỏi cùng đoạn tâm sự của những bằng hữu có đường lối tu học khác nhau, nhưng tất cả đều quan tâm đến chủ đề LẶNG LẼ QUAN SÁT !!! Và, những thắc mắc của các bạn ấy đều gởi đến mình thông qua tin nhắn, chứ không thông qua đường link của chuyên mục như thường lệ !!!

Mặc dù, khi nhận được các câu hỏi, mình đã trả lời riêng cho từng vị qua messenger…Nhưng, xét thấy đề tài “Lặng Lẽ Quan Sát” được đông đảo bạn đọc quan tâm…Vì thế, mình đưa những thắc mắc ấy trở thành trả lời chung cho chuyên mục kì này !!!

Để bảo đảm tính riêng tư của người hỏi, chuyên mục kì này mình không nêu tên tác giả câu hỏi…Đồng thời, sẽ tóm tắt những ý chính rồi trả lời chung cho mọi người !!! Những ý chính từ các câu hỏi như sau:

1) Tôi đã ứng dụng phương pháp “lặng lẽ quan sát” vào đời sống, nhưng không thành công !!! Xin chỉ rõ phương pháp này ứng dụng như thế nào mới đưa đến thành công ???

2) BQT có thể chia sẻ kinh nghiệm về việc thực hành “lặng lẽ quan sát” ???

3) Xin cho biết sự khác biệt giữa “lặng lẽ quan sát không kết luận” của Lý Gia… Và, “lặng lẽ quan sát, không dán nhãn, không kết luận” do thầy của tôi (LT xin giấu tên) dạy chúng tôi thời gian gần đây !!!???

Bạn đọc thân mến !!!
Trước khi trao đổi cụ thể những thắc mắc trên, mình xin khái quát về hoàn cảnh ra đời và phương pháp ứng dụng phép “lặng lẽ quan sát” của Lý Gia !!!

I- TỔNG QUAN
Cách đây trên mười năm, để giúp HĐ Lý Gia dùng Tứ Gia Hạnh bảo vệ thành quả tu tập… Mình đã yêu cầu các HĐ của mình thực hành phương châm “sống lặng lẽ” !!! Mục đích của yêu cầu này, nhằm khuyến khích các HĐ tránh những tác động ngoại duyên không cần thiết đối trước thấy nghe !!! Đây chỉ là một trong những yêu cầu mang tính nghiệp vụ, giúp các bạn ấy tự hộ trì và tự yểm ly tâm thức !!!

Sau khi vị HĐ này đã hoàn thành công việc tự hộ trì và tự yểm ly…Một yêu cầu khác cao hơn, dựa vào nền tảng cốt lõi của yêu cầu trước được đưa ra nhằm giúp vị này thấy được điều cần thấy đó là “lặng lẽ quan sát” !!!

Và, cuối cùng, để giúp HĐ thay đổi nhãn lực, thành tựu trí tuệ…Một phương châm tu học khác có tính chất nâng cao, nhưng mang tính kế thừa từ hai nền tảng cốt lõi trước…Đó là, “lặng lẽ quan sát không kết luận” được yêu cầu các HĐ Lý Gia thực hiện !!!

Từ đây, phương châm thực hành “lặng lẽ quan sát không kết luận” trở thành câu nói cửa miệng của hầu hết HĐ Lý Gia… Và, phương châm này, được đề cập trong rất nhiều bài viết của mình, cũng như được mổ xẻ trong hầu hết các buổi thảo luận của HĐ Lý Gia !!!

II- Ý NGHĨA ĐÍCH THỰC VÀ SỰ KHÁC BIỆT CỦA BA PHƯƠNG CHÂM: LẶNG LẼ SỐNG – LẶNG LẼ QUAN SÁT – LẶNG LẼ QUAN SÁT KHÔNG KẾT LUẬN

II.1- Lặng lẽ sống: Từ một “phàm phu vô văn” (khái niệm trong Phật đạo nhằm chỉ cho người tu hành chưa giác ngộ) sau khi được trang bị những kiến thức cơ bản của Phật đạo… Người ấy bắt đầu có những “thay đổi cơ bản về nhận thức” !!!

Từ những thay đổi cơ bản về nhận thức, nếu xét thấy cơ duyên đã đến… Vị HĐ này sẽ được khai thị để có được giác ngộ ban sơ (ta tạm gọi là sơ ngộ) !!! Để trưởng dưỡng hạt giống hay cái phôi giác ngộ ban sơ, người ấy phải ứng dụng triệt để Tứ Gia Hạnh vào đời sống tu hành để giúp hạt giống, cái phôi này thành quả !!! Giống như con gà ấp trứng đến khi nở ra con mới thôi !!!

Muốn ứng dụng thành công Tứ Gia Hạnh !!! Yểm ly tâm thức để tránh những tác động ngoại duyên không mong muốn làm hư cái phôi ấy, là việc làm bắt buộc… Phương châm “sống lặng lẽ” thực chất là cách ứng dụng khác của phép Xa Ma Tha xuất thế !!!

Mọi người biết rằng, từ một phàm phu vô văn muốn hoàn thành đạo lộ của bậc hữu học…Người này phải thấu suốt ba học pháp vô lậu (gọi là Tam Vô Lậu Học) và để tiếp nối hành trình tu học, vị đó phải được khai thị để thành tựu sơ ngộ (nếu Nhị thừa là hướng Tu Đà Hoàn, Tu Đà Hoàn và các quả vị hữu học tiếp theo) !!!

Khi tâm thức được soi sáng bởi ngọn đuốc sơ ngộ, người này mới có thể ứng dụng phép Xa Ma Tha xuất thế !!! Vì thế, vị sơ ngộ khi nghe khẩu quyết “SỐNG LẶNG LẼ”… Vị ấy hiểu ngay ý nghĩa đích thực của khẩu quyết này là gì, và phép tắc ứng dụng như thế nào !!!

Nếu chưa thấu suốt ba học pháp vô lậu, chưa được khai ngộ, chưa đặt chân vào “ĐẠO LỘ CỦA BẬC HỮU HỌC” (tức còn ở địa vị phàm phu vô văn), khi nghe câu “sống lặng lẽ” nhất định người ấy không hiểu hết ý chỉ của câu nói đó, và không thể ứng dụng nhuần nhuyễn tính cách lặng lẽ vào đời sống !!! Đây là lí do vì sao các bạn nêu lên thắc mắc: “Cũng tập lặng lẽ quan sát mà không thành công” !!!

Vị tu hành chuyển giai đoạn từ phàm phu vô văn sang đạo lộ bậc hữu học, giống như nước đục đã được lóng phèn…Xa Ma Tha xuất thế, chính là phương pháp không khuấy động (sống lặng lẽ) giúp nước đục mau chóng trở thành nước trong được xúc tác bởi thứ phèn giác !!!

II.2: Lặng lẽ quan sát:
Đạo lộ của bậc hữu học của Nhị thừa có bảy giai đoạn, đó là: Hướng Tu Đà Hoàn đến hướng A La Hán Quả !!! Đạo lộ của bậc hữu học thuộc Bồ Tát thừa có hai giai đoạn gồm: Phát tâm Bồ Đề, phục tâm Bồ Đề (tương đương Sơ phát tâm trụ đến Phương tiện cụ túc trụ) !!!

Để giúp người tu hành hoàn thành “đạo lộ hữu học”, chuẩn bị bước vào cảnh giới vô học của đạo quả xuất thế… Một trong những yêu cầu bắt buộc, người này phải quan sát tự tâm !!! Quan sát tự tâm trong hoàn cảnh này, giống như sau khi lóng phèn, nước đục đã biến thành nước trong… Một người mắt sáng, đứng trước nguồn nước trong ấy, người mắt sáng có thể quan sát xuyên qua nguồn nước để thấy rõ những gì dưới đáy hồ và cảm nhận các tính chất đặc thù của một hồ nước trong !!!

Yêu cầu “lặng lẽ quan sát” trong thời điểm này, tức trước khi được khai ngộ lần thứ hai để thấy được bổn tâm bổn tánh (minh tâm kiến tánh), chính là một trong những cách ứng dụng phép Tỳ Bà Xá Na xuất thế !!!

Vì thế, một người chưa bước những bước cuối cùng của đạo lộ hữu học… Nhất định sẽ không thể tiếp nhận khẩu quyết “lặng lẽ quan sát” và nhất định cũng không thể ứng dụng yêu cầu kĩ thuật thuộc loại nâng cao này vào đời sống !!!

Vì rằng, tâm thức của một người chưa giác ngộ, chưa hoàn thành đạo lộ của bậc hữu học giống như một nguồn nước bị vẩn đục do nhiễm ô nặng nề, vừa bị gió cảnh thổi gây nên trùng trùng sóng mòi… Một tâm thức như vậy, không thể lặng yên, cũng không thể quan sát những gì phía dưới lớp nước đục ấy !!! Đây là lí do vì sao các bạn nêu lên thắc mắc: “Cũng tập lặng lẽ quan sát mà không thành công” !!!

Tóm lại, “lặng lẽ quan sát” trong giai đoạn này, chính là một trong những biến thể của phép Tỳ Bà Xá Na xuất thế… Giúp người tu hành hoàn thành đạo lộ hữu học để có thể “minh tâm kiến tánh” và thành tựu đạo quả vô học của cảnh giới xuất thế !!!

Đây là hình ảnh một nguồn nước đã trong (tinh), nhưng còn một số mầm bệnh tiềm ẩn… Để giúp nguồn nước này sau khi đã trong còn phải làm cho sạch !!! Lặng lẽ quan sát chính là một trong những hình thức dùng “tương tợ Bát Nhã” (thuật ngữ kinh Bát Nhã) để sạch hoá nguồn tâm (khiết)… Đạo quả vô học hay cảnh giới xuất thế chính là thứ nước vừa trong vừa sạch (vừa tinh vừa khiết) được tinh khiết hoá bằng công nghệ Bát Nhã !!! Các bạn có thể tìm thấy phương pháp tinh khiết hoá này được mô tả trong kinh Đại Bát Nhã khi Phật thuyết cho các Bồ Tát quyền thừa và Nhị thừa, kinh gọi là tương tợ Bát Nhã !!! “Tương tợ Bát Nhã” hoàn toàn không giống “Bát Nhã chơn thiệt” khi Phật thuyết cho các Đại Bồ Tát !!!

II.3- Lặng lẽ quan sát, không kết luận:
Sau khi hoàn thành đạo quả vô học thuộc cảnh giới xuất thế… Để giúp vị tu hành này “mọc mầm trí tuệ”, một yêu cầu khác cao cấp và chuyên nghiệp hơn được đưa ra, đó là “LẶNG LẼ QUAN SÁT, KHÔNG KẾT LUẬN” !!!

Như mọi người đều biết, trí tuệ của Phật đạo là môn học đặc thù của Đạo Đế, gồm tám môn học là, Thấu thị môn, thẩm sát môn…v..v…tương ưng với Chánh kiến, Chánh tư duy…Muốn học các môn học này, người ấy phải khai phát mầm trí tuệ !!!

Để khai phát mầm trí tuệ, những việc căn bản phải thực hiện là: Dùng Tam Muội Giác Gia Trì để gia trì; Thấy thiệt tướng của tâm thức; Thiệt tướng các pháp và Thiệt tướng thế giới !!! Thiệt tướng siêu quá nhãn lực của Nhục nhãn, Thiên nhãn và Pháp nhãn… Vì thế, việc khai Huệ nhãn trong giai đoạn này là không thể thiếu !!! Huệ nhãn tuy siêu quá cái thấy của ba nhãn trước, nhưng cũng không rời cái thấy của ba nhãn trước… Cho nên yêu cầu “KHÔNG KẾT LUẬN” là yêu cầu quan trọng để mầm trí tuệ hình thành qua con đường Trung Đạo !!!

Thật ra, Trung Đạo chính là sự tìm thấy chân lí ngay nơi hữu và vô (thế gian và xuất thế) !!! Có nghĩa Trung Đạo không lìa hữu, chẳng trụ vô… Ở nơi hữu mà chẳng kẹt hữu, ở nơi vô mà chẳng kẹt vô !!! Nói khác hơn, hữu vô đồng vô…và hữu vô cũng phi hữu phi vô !!! Các bạn có thể tìm thấy cách giải quyết thú vị này của Thế Tôn trước 108 câu hỏi của Bồ Tát Đại Huệ (Đại Huệ là Bồ Tát thông thuộc Đại thừa) trong kinh Lăng Già !!!

Như vậy có thể thấy, lặng lẽ quan sát không kết luận là một loại hình thực hành cấp cao để giúp “tâm trí quân bình chỉ quán” !!! Hệ quả của “quân bình chỉ quán” chính là hành hoạt thuần khiết của Thiền Na xuất thế…Thiền Na xuất thế hoàn toàn không giống Ngu phu sở hành thiền, Phan duyên như thiền và Quan sát nghĩa thiền !!! Thiền Na xuất thế, thực chất là thứ Thiền Na được mô tả trong kinh Viên Giác, hay Như Lai thiền mô tả trong kinh Lăng Già !!! Đây là loại thiền vừa mang tính chất một Tam Muội Môn của trí tuệ, vừa mang tính chất một Giải Thoát Môn của Phật tâm tông !!!

III- Kết luận:
LẶNG LẼ – QUAN SÁT – KHÔNG KẾT LUẬN là một tổ hợp tự nhiên được hình thành bởi ba tầng giác ngộ như pháp được mô tả từ các phần trên… Nó chính là sự kết hợp siêu thắng của ba pháp Xa Ma Tha xuất thế, Tỳ Bà Xá Na xuất thế và Thiền Na xuất thế !!!

“Lặng lẽ, quan sát, không kết luận” là những gì cô đọng nhất từ quy trình học tập của HĐ Lý Gia hơn 10 năm qua !!! Mà, đã là quy trình học tập, nhất định nó phải được xây dựng từ kiến thức chuẩn, thông hiểu, phương thức tiếp cận thông qua khai thị và sự ứng dụng hoàn hảo !!!

Vì thế, một người nào đó chỉ đơn thuần nghe nói “lặng lẽ quan sát không kết luận” mà không từng được học tập để kinh qua những bước kể trên, thất bại trong việc thực hành là điều hiển nhiên !!! Điều này giống như người mù nghe người sáng nói: “Âm thầm vượt qua bên kia sông là bình yên”… Người mù chưa được chữa sáng, chưa được học bơi…v..v… vội vàng lao xuống sông… Nhất định kẻ ấy sẽ phải chết chìm, làm mồi cho Hà Bá trước khi đến được vùng đất yên bình !!!

Hơn mười năm qua, là những chuỗi ngày toàn bộ HĐ Lý Gia học tập không ngừng nghĩ… Mỗi giai đoạn học tập, được trang bị những kiến thức tương ưng, dùng kiến thức đã học ứng dụng vào đời sống… Trong từng mỗi giai đoạn, để dễ nhớ, dễ thực hành, khẩu quyết LẶNG LẼ – QUAN SÁT – KHÔNG KẾT LUẬN được nêu lên… Khẩu quyết này bao gồm những gì được coi là tinh tuý nhất, cô đọng nhất của Phật đạo, đã giúp mọi người trong Lý Gia lần lượt thành tựu những điều cần thành tựu trong giáo pháp !!!

Về thời gian !!! Cũng ba giai đoạn ấy, cũng ba khẩu quyết ấy… Có người phải vất vả nhiều năm, có người vừa nghe qua liền thành tựu !!! Phật đạo không luận lâu mau !!! Tất cả đều tuỳ thuộc vào công đức lực của từng người !!!

Bạn đọc thân mến !!!
Những gì vừa trình bày ở trên, khi đọc xong, nhất định các bạn có thể tự trả lời các thắc mắc của bản thân về việc ứng dụng khẩu quyết “lặng lẽ quan sát không kết luận” của Lý Gia !!! Và chắc chắn các bạn cũng nhận ra “kinh nghiệm” của việc thực hành này là gì !!!???

Riêng về câu hỏi thứ 3: Xin cho biết sự khác biệt giữa “lặng lẽ quan sát không kết luận” của Lý Gia… Và, “lặng lẽ quan sát, không dán nhãn, không kết luận” do thầy của tôi dạy chúng tôi thời gian gần đây !!!??? Mình xin góp một vài ý nhỏ như sau:

Phật đạo là lương dược trị tâm bệnh !!! Muốn trị được bệnh, muốn làm thầy thuốc phải rành y học… Muốn rành y học phải được học tập từ một trường chuyên về y khoa !!! Nếu chỉ lượm lặt vài ba toa thuốc, xào nấu lung tung, thêm mắm dặm muối, rồi mở phòng mạch trị người !!! Nói theo kiểu dân gian: “Hiểu biết như rứa, anh ni chữa trâu cũng chết” !!!

Câu “lặng lẽ quan sát, không dán nhãn, không kết luận” mới nghe có vẻ có lí… Nhưng nhìn chung, câu này phạm nhiều sai lầm thuộc đệ nhất nghĩa cần coi lại…!!!

Không dãn nhãn là lời khuyên dành cho phàm phu vô văn… Phàm phu vô văn được khuyên không dãn nhãn để đừng sinh tâm lung tung… Khuyên như vậy đến khi nào họ thực hiện xong việc không dãn nhãn, tạp tâm không còn hiện bởi danh tướng thế gian, mới có thể giúp họ lặng lẽ bước vào đạo lộ hữu học !!! Sự chống trái, đặt lộn lạo các khái niệm trong một trình tự giáo dục như trên, cho thấy câu nói này có vấn đề từ người nói !!! Sự lộn xộn, chống trái ở câu nói ấy, giống như thầy giáo tuyên bố: “phải biết làm văn rồi mới học chữ”… !!! Tuyên bố như thế, chẳng khác gì lấy dây thắt họng (cổ) học trò mong cho nó sớm…thành…tài !!!

Các bạn !!!
Bài viết cũng đã dài !!! Lại thêm một phần khó hiểu vì mang tính chuyên môn kĩ thuật !!!

Phật đạo là con đường có nhiều hoa, đầy đủ sắc hương !!! Sắc và hương trong vườn hoa Phật đạo chính là những triết lí, khoa học, mĩ thuật và kĩ thuật hoà quyện cùng nhau để tạo nên nét đặc thù riêng của giáo pháp…!!! Vì thế, khi luận về các vấn đề ấy, khó hiểu là điều tự nhiên đối với những ai chưa từng hoặc ít khi tiếp cận triết lí, khoa học, mĩ thuật và kĩ thuật của Phật đạo !!!

Thói quen hiểu chung chung, kết luận chung chung của một số người cũng sẽ trở trở thành khó hiểu khi đọc các bài luận khúc triết, mang nặng tính chất kĩ thuật của Phật đạo !!!

Sự đời là như vậy !!!
Phật đạo chẳng giống sự đời cũng là như vậy !!!
Chúc tất cả bạn đọc an vui, tinh tấn !!!

BQT rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!!
04/05/2020
LÝ TỨ

Lặng Lẽ - Quan Sát - Không Kết Luận

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Bàn Về Việc Đốt Nhang (Trầm)

MB 857 Lý Diệu Sinh 20.02.2023

Lý Gia không bắt buộc người đốt hay không đốt một thứ gì trên đời, và cũng không đưa ra bất kì một quan điểm nào về những việc như thế… Có nghĩa rằng, anh thấy thích, thấy có ích thì cứ đốt, bằng ngược lại thì thôi !!!

Các bạn !!!

Trong tuần, BQT không nhận được một câu hỏi chính thức nào từ chuyên mục… Nhưng, lại có một số thắc mắc được bạn đọc hỏi từ bình luận, tin nhắn hoặc trao đổi trực tiếp !!!

Chuyên mục Bạn Đọc Hỏi – Lý Tứ Trả Lời hôm nay, xin ghi lại những thắc mắc và trả lời của mình trong tuần vừa qua để mọi người cùng tham khảo !!! (Có một số trả lời từ mục bình luận được viết ngắn gọn cho phù hợp với dung lượng một bình luận, các bạn thông cảm) !!!

Nội dung các câu hỏi và trả lời:

1) Một bạn đọc ở Hà Nội:

Chào tác giả,

Hôm qua ở Hà Nội tôi đi uống trà và có đọc vài cuốn sách về Phật pháp của tác giả. Tôi không tu hành nên chẳng hiểu nhiều lắm về các điều trong sách. Tuy nhiên tôi có chú ý đến 3 trang sách về giác ngộ.

Xin hỏi tác giả là người không tu hành có thể giác ngộ hay không ? Trong 10 dấu hiệu thì cần có từ bao nhiêu dấu hiệu mới có thể coi là có khả năng giác ngộ ?

Một điều nữa là xin hỏi lỡ có giác ngộ rồi có cách để chữa cho mình khỏi bị giác ngộ không vậy?

Xin chân thành cảm ơn tác giả rất rất nhiều !!!

Trả lời:

Hy vọng ba câu hỏi sau của mình, sẽ giúp bạn tự trả lời ba câu hỏi của bạn:

1) Người không học chữ, có biết chữ hay không ???

2) Có bao nhiêu dấu hiệu để có thể coi là người biết chữ ???

3) Người biết chữ rồi, có cách gì chữa cho mình khỏi bị biết chữ ???

Chúc bạn an vui, thành công và có nhiều cơ hội uống cà phê để đọc sách Phật pháp !!!

Hỏi:

Tại sao Trong CHÙA hay đốt NHANG ?

Sư Đốt hay ai ĐỐT ?

Đốt cho ai và đốt để làm gì ?

Mong tác giả chỉ bảo .

Tôi đốt cocktail TRẦM có ảnh hưởng gì không ?

Trả lời:

Đốt nhang là một trong những nghi thức của một số tôn giáo, tín ngưỡng…Việc đốt nhang có một số ý nghĩa do tôn giáo, tín ngưỡng (có đốt nhang) đặt ra !!! Và những người trong tôn giáo, tín ngưỡng đó lấy việc đốt nhang để bày tỏ tấm lòng, nơi chốn đốt nhang bất luận ở chùa hay ở nhà, người xuất gia hay tại gia !!!

Việc bạn đốt trầm ảnh hưởng gì hay không về phương diện sức khoẻ thì mình không biết (vì không chuyên môn)… Còn ý nghĩa về phương diện tâm linh thì tuỳ thuộc vào quan niệm của bạn hoặc của tín ngưỡng hay tôn giáo mà bạn đang theo !!!

Chúc an vui, thành công !!!

Hỏi:

Nếu tôi theo Lý Gia thì có đốt trầm hay không ?

Ý nghĩa của trầm đối với Lý Gia là gì ?

Xin cảm ơn tác giả !

Trả lời:

Lý Gia không bắt buộc người đốt hay không đốt một thứ gì trên đời, và cũng không đưa ra bất kì một quan điểm nào về những việc như thế… Có nghĩa rằng, anh thấy thích, thấy có ích thì cứ đốt, bằng ngược lại thì thôi !!!

Lý Gia chỉ giúp người thành tựu các mục tiêu mà Phật đạo đã đề ra, đó là: Hết khổ, chấm dứt phiền não, xa rời những quan niệm u tối, có đời sống an vui..v..v…Tạm gọi là Giác Ngộ, Giải thoát, Trí tuệ !!!

2) Một bạn ở Tây Nguyên sau khi đọc các bài viết của HĐ Lý Gia nhân ngày 20/11, đã hỏi như sau:

Hỏi:

Thầy dạy HĐTM (Huynh, Đệ, Tỷ, Muội = Anh Chị Em) mình Pháp gì mà HĐTM mình tán thán thầy dữ vậy thầy. Con cũng muốn học nữa ạ.

Trả lời:

Các bạn ấy đọc các bài viết của mình, thỉnh thoảng nghe mình trao đổi…rồi hiểu ra điều gì đó nên họ tán thán, chứ mình chẳng dạy riêng một pháp nào !!! Chúc an vui, tinh tấn !!!

3) Một bạn ở TP Hồ Chí Minh hỏi:

Hỏi: Con ở TP HCM, muốn được quy y tam bảo. Xin hỏi, liên hệ với HĐ nào của Lý Gia ở TP HCM để được quy y?

Trả lời:

Lý Gia không có chức năng cho người quy y tam bảo !!! Nếu muốn quy y, bạn có thể liên hệ bất kì một vị Tăng nào bạn biết, hay đến một ngôi chùa nào đó mà bạn thấy hợp duyên để xin quy y… Các vị Tăng ở nơi đó sẽ giúp bạn !!!

4) Trao đổi với một HĐ!

Hỏi:

Thưa thầy !!!

Xin thầy giảng giải cụ thể về ý nghĩa cũng như cách thức của phép yểm ly ???

Trả lời:

Yểm ly là một trong những phép tắc tu hành quan trọng của Nhị thừa (Thanh văn, Duyên giác) !!! Phần lớn, đạo quả xuất thế của Nhị thừa đều dựa trên nền tảng yểm ly mà thành tựu !!!

Sau đây là một số phép tắc quan trọng làm cơ sở để Nhị thừa thành tựu pháp yểm ly!

– Cát ái ly gia: Từ bỏ gia đình, sống không gia đình… Xuất gia, tìm đến một trú xứ xa xôi, chung sống với các đồng phạm hạnh và nương tựa dưới bóng của đạo sư !!!

– Từ bỏ quyến thuộc: Từ bỏ quyến thuộc gần, từ bỏ quyến thuộc xa…Sống độc cư, học giáo pháp và chuyên tâm thiền định !!!

– Từ bỏ tài sản: Từ bỏ tài sản lớn, từ bỏ tài sản nhỏ…Không tích chứa tài sản riêng, trừ những món thiết thân được Phật cho phép gọi là bát khí… Khất thực để nuôi thân, trên mình chỉ có ba y với một bát như con chim với đôi cánh !!!

Nhị thừa, nếu muốn thành tựu đạo quả xuất thế phải áp dụng triệt để ba điều nêu trên… Chỉ cần khiếm khuyết một điều, nhất định đạo quả xuất thế sẽ không thành tựu !!!

5) Một bạn ở Qui Nhơn hỏi:

Hỏi: Xin thầy Lý Tứ giải thích câu “Vô minh thật tính tức Phật tính. Huyễn hoá không thân tức Pháp thân” trong Chứng Đạo Ca. Cảm ơn!

Trả lời:

Mời bạn đọc bài viết từ chuyên mục (36) BẠN ĐỌC HỎI – LÝ TỨ TRẢ LỜI đã đăng trên trang nhà !!! CHỦ ĐỀ: BÀN VỀ MỘT VÀI ĐIỂM TRONG CHỨNG ĐẠO CA !!!

Các bạn !!!

Nửa năm qua, HĐ chúng ta tập làm quen với hai môn học quan trọng của Nhất Thiết Trí là Thẩm Sát Môn và Thấu Thị Môn… Cũng như tập phân tích các lỗi thuộc về Tứ Cú, Tam Cú, Nhị Cú, Nhất Cú và Phi Cú của Bát Nhã Môn !!!

Thế nhưng, các đề tài có liên quan đến những môn học này tương đối hiếm… Và tìm kiếm một đương cơ tạm coi là thù thắng, nhằm triển khai để giúp các bạn học tập lại càng hiếm !!! Vì rằng, muốn giảng nói, phân tích một nội dung nào đó liên quan đến các món trên, phải đợi một đương cơ thích hợp !!!

Hồi tối, mình nhận được thắc mắc của bạn V.D. Long từ link Bạn Đọc Hỏi – Lý Tứ Trả lời… Xét thấy các câu hỏi của bạn V.D. Long là một trong những đương cơ tốt… Vì thế, mình tạm gác những chuyên mục khác của Trang để trả lời V.D. Long !!! Hy vọng sau bài viết này, các HĐ chúng ta có thêm cơ hội để thể nhập những gì chúng ta đang học !!!

V.D. Long thân mến !!!

Từ ngày Chuyên Mục Bạn Đọc Hỏi – Lý Tứ Trả Lời khai trương đến nay đã là 36 kì !!! Có thể nói, đề tài bạn hỏi đã tạo cho mình nhiều cảm hứng… Bây giờ, mình xin trao đổi với bạn về những gì bạn thắc mắc !!!

Bạn V.D. Long đã viết như sau:

“Xin chào Ban quản trị trang và Lý gia.

Tôi có thắc mắc xin được làm sáng tỏ.

Trong Thập nhị nhân duyên, thì Vô minh đứng đầu, vô minh là đầu mối tạo thành vòng tròn luẩn quẩn, khiến con người bị cuốn trôi trong vòng luân hồi sinh tử…

Nhưng trong Chứng Đạo ca lại có câu: “Vô minh thực tánh tức Phật tánh”. Lý gia có thể làm rõ chỗ này không?

Vô Minh trong Thập nhị nhân duyên và Vô Minh trong Chứng đạo ca có nghĩa thế nào? Xin cho ví dụ minh họa. Tôi xin cảm ơn”. 11/04/2020 16:47:20 V.D. Long

V.D. Long và bạn đọc thân mến !!!

Nói đến Chứng Đạo Ca của Ngài Huyền Giác thì chắc rằng người tu tập nào cũng một vài lần nghe nói đến… Vì bởi, Chứng Đạo Ca là một áng văn nổi tiếng trong giới tu hành sau thời y bát thất truyền !!!

Bài Chứng Đạo Ca là một tài liệu Phật học được nhiều nơi đưa vào chương trình giảng dạy chính thức cho môn đồ… Vì thế, tác phẩm này trong giới nghiên cứu cũng như tu hành rất coi trọng !!!

Tuy nhiên, dù gì Chứng Đạo Ca cũng chỉ là một bài văn của người đời sau sáng tác (không phải Tổ có y bát)… Mà những gì người sau viết về Phật đạo chưa chắc đã hoàn toàn thấu thoát !!!

Chúng ta tôn trọng các áng văn ấy… Nhưng, chúng ta tôn trọng không có nghĩa những gì trong ấy nói ra chúng ta nhất nhất phải nghe theo…!!! Nhân đương cơ bạn V.D. Long có một vài thắc mắc liên quan đến vài phần nhỏ trong Chứng Đạo Ca của Ngài Vĩnh Gia Huyền Giác !!! Lý Tứ cũng xin góp một vài phân tích, trước làm sáng tỏ những điều V.D. Long thắc mắc… Sau đó, cũng nhân cơ hội này, giúp HĐ Lý Gia thâm nhập một số học phần của Nhất Thiết Trí mà các bạn ấy đang học !!!

Thắc mắc của V.D. Long mình xin tạm chia thành hai phần để trả lời:

* Phần 1:

Tôi có thắc mắc xin được làm sáng tỏ.

Trong Thập nhị nhân duyên, thì Vô minh đứng đầu, vô minh là đầu mối tạo thành vòng tròn luẩn quẩn, khiến con người bị cuốn trôi trong vòng luân hồi sinh tử…

Nhưng trong Chứng Đạo Ca lại có câu: “Vô minh thực tánh tức Phật tánh”. Lý gia có thể làm rõ chỗ này không?

V.D. Long thân !!!

Trước khi phân tích, làm rõ vấn đề… Mình xin chép lại đoạn văn có liên quan đến điều bạn hỏi trong Chứng Đạo Ca !!!

Chứng Đạo Ca viết:

無明實性即佛性

幻化空身即法身

Vô minh thật tính tức Phật tính

Huyễn hoá không thân tức Pháp thân

Tạm dịch:

Tính thật vô minh tức Phật tính

Huyễn hoá không thân tức Pháp thân.

* Về Phật tánh và Vô minh:

– Mọi người đều biết, Phật tánh là thường, và Kinh Đại Niết Bàn cũng dạy như vậy !!!

– Mọi người đều biết, Vô minh là vô thường, vì thế Kinh cũng dạy: “Vô vô minh diệc vô vô minh tận” !!!

Một bên là thường (có thực tánh), một bên vô thường (không thực tánh)… Vì thế, câu “Vô minh thật tính tức Phật tính” xét về Đệ Nhất Nghĩa, câu ấy bị lỗi Phi Cú (mệnh đề hay một câu không thể thành lập được dưới cú pháp Bát Nhã) !!!

Nếu câu ấy viết lại như sau: “Vô minh không tánh đồng pháp tánh” có thể tạm chấp nhận… Vì rằng, Vô minh và pháp tánh bổn lai đều không tánh, hai thứ ấy chỉ do mê sanh !!! Còn đằng này, Vô minh và Phật tánh là hai thứ hoàn toàn khác nhau về bản chất, cho nên chẳng thể “tức” được !!!

* Về Huyễn hoá và Pháp thân:

– Pháp thân là thường…Vì pháp thân là thường nên ra ngoài hai khái niệm Huyễn và Phi Huyễn !!!

– Cái gì (pháp nào) mang trong nó tính chất Huyễn hoá hay Phi huyễn đều vô thường !!!

– Pháp thân là không thân… Đã là “không thân” sao lại có chuyện Huyễn hoá trong đó !!!??? Huyễn là thuật ngữ của Phật đạo nhằm chỉ cho một nhận thức hữu vi (có thân)… Còn pháp thân là vô vi, ra ngoài nhận thức có không… Vì thế, Pháp thân cũng siêu quá hai khái niệm Huyễn cùng Phi huyễn !!!

Cho nên câu: “Huyễn hoá không thân tức Pháp thân” xét về Đệ Nhất Nghĩa, câu ấy bị lỗi Phi Cú (mệnh đề hay một câu không thể thành lập được dưới cú pháp Bát Nhã) !!!

Nếu câu ấy viết lại như sau: “Huyễn hoá không thân tựa Hoá thân”… Câu này tạm chấp nhận được… Vì rằng, Hoá thân cũng thường cũng vô thường… Nên nó cũng có thân cũng không thân !!!

Tóm lại, hai câu: “Vô minh thật tính tức Phật tính. Huyễn hoá không thân tức Pháp thân” trong Chứng Đạo Ca của Ngài Vĩnh Gia Huyền Giác biểu hiện sự không thấu đáo về các nghĩa: Vô minh, Phật tánh, Pháp tánh, Pháp thân và Hoá thân, Huyễn, Phi Huyễn !!! Vì rằng, nếu thấu đáo, nhất định khi tuyên thuyết về cảnh giới Đệ Nhất Nghĩa sẽ không phạm vào những “lỗi cơ bản của Bát Nhã văn tự” được nêu ở trên !!!

Phần 2:

* “Vô Minh trong Thập nhị nhân duyên và Vô Minh trong Chứng đạo ca có nghĩa thế nào? Xin cho ví dụ minh họa”.

Trong Phật đạo, chỉ có một chữ Vô minh và đồng mang ý nghĩa u tối, không sáng suốt !!! Tuy vậy, tuỳ tầng bậc giác ngộ, người tu hành có thể nhìn thấy “tướng trạng của Vô minh” qua các thứ nhãn quan như sau: Mê thấy Vô minh là Vô minh; Đại ngộ thấy không có Vô minh cũng không làm cho hết Vô minh; Liễu ngộ thấy Phi minh phi vô minh !!!

Giống như người ngủ mê thấy chiêm bao là chiêm bao… Người thức giấc thấy chẳng có chiêm bao cũng chẳng có làm cho hết chiêm bao… Người biết chuyện bảo rằng: Chiêm bao cũng có cũng không có !!!

Để có thể hiểu Phật tánh và Vô minh là tức hay chẳng tức… Ví dụ sau có thể làm sáng tỏ vấn đề:

– Mặt trời ví như Phật tánh, Pháp thân = Thường !!!

– Ngày và đêm ví như Vô minh và minh = Vô thường !!!

Nếu ai đó bảo rằng: “Đêm ngày huyễn hoá tức mặt trời” thì…thì…thì có “Ô hô ai tai” không các bạn !!!???

Các bạn !!!

Không phải tất cả những gì người xưa nói ra đều là chân lý !!! Không phải điều gì được nhiều người xưng tụng, giảng dạy hay thuộc về truyền thống đều đúng hết !!!

Khi phân tích những điều trên, mình biết chắc có rất, rất, rất nhiều người không vừa ý !!! Họ không vừa ý vì những phân tích vừa rồi đã chạm đến thứ mà người ta tôn thờ, giảng dạy cho người khác !!!

Thế nhưng, những điều họ tôn thờ có phải là chân lý chưa ??? Những điều họ giảng dạy như Phật tánh, Pháp thân chính họ đã thấy đã thành tựu các thứ ấy hay chưa ??? Hay là họ tôn thờ, giảng dạy vì người khác đã tôn thờ giảng dạy điều ấy nên nay họ cũng phải làm thế !!!??? Đời là như thế mà !!! Đời là như thế nên Đạo mới xuất hiện !!!

Hy vọng rằng, với những phân tích đơn sơ ở trên, sẽ là nhân duyên giúp các bạn bình tĩnh hơn, nhận xét khách quan hơn, không choáng ngợp trước hào quang của một ai đó rồi nhất nhất phải nghe theo !!!

Giác ngộ có nhiều tầng bậc… Mỗi một thuật ngữ, mỗi một khái niệm trong Phật đạo luôn luôn tương ưng với một cảnh giới giác ngộ nào đó…Vì thế, chuyện cảnh giới này sử dụng sai khái niệm của cảnh giới kia là chuyện thường thấy ở người tu hành (chưa giác ngộ rốt ráo) !!!

Nếu ta không nắm vững vấn đề !!! Nếu ta không bình tâm suy xét !!! Nếu ta chỉ biết tin mà không đủ năng lực phản biện khoa học !!! Nhất định những thuật ngữ, những khái niệm, những áng văn mà ta đã đọc đôi lúc dẫn ta vào mê trận ngữ ngôn… Điều ấy, nhất định không giúp ta thấy được thật nghĩa của Phật đạo, đôi khi khiến ta đi vào mê lộ mà không tự biết !!!

Ha ha ha ha !!!

Mình đố các bạn:

Nếu bảo rằng hai câu trong bài Chứng Đạo Ca mắc lỗi Phi Cú…Như vậy, các câu như: “Sanh tử tức Niết Bàn, phiền não tức Bồ Đề” có mắc lỗi Phi Cú hay không ??? Vì sao lỗi, vì sao không ??? Đề nghị phân tích thấu đáo và thuyết phục !!! Trả lời trong mục bình luận dưới bài viết này !!!

Chúc mọi người an vui, tinh tấn !!!

BQT rất mong, nhận được những câu hỏi lí thú và bổ ích từ các bạn !!!

23/11/2020

LÝ TỨ

Bàn Về Việc Đốt Nhang (Trầm)

Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Hết Thảy Chúng Sanh Đều Có Phật Tánh

MB 857 Lý Diệu Sinh 20.02.2023

Nhận thức quan trọng nhất của Phật đạo là “hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh”, có nghĩa rằng, mọi người, mọi loài đều có khả năng thành Phật, nếu họ quyết tâm học tập… Vì rằng, chủng tử Phật tánh đã có sẵn trong mọi chúng sanh !!!

Các bạn !!!

Hôm qua, mình có cuộc trao đổi với một HĐ của chúng ta, cuộc trao đổi xoay quanh nhiều đề tài Phật pháp… Trong đó, có một số đề tài mà theo mình, có lẽ còn nhiều HĐ thắc mắc !!!

Để giúp mọi người cùng nắm vững, bổ sung kiến thức trong quá trình học tập cũng như làm công hạnh… Mình xin ghi lại nội dung một số thắc mắc và trả lời như sau !!!

Hỏi:

Thưa thầy !!! Vì sao đã nói tám món khổ nhân sinh, lại nói đến ba món khổ của tam giới và ba món khổ của tứ đế ???

Trả lời:

Trong quá trình học tập trí tuệ của một Bồ tát, để có thể “thống lý đại chúng”. Ngoài việc giúp nhân sinh hết khổ, Bồ tát còn phải nhận dạng các món khổ của ngoại đạo và người tu hành !!!

Vì rằng, trong thực tế cuộc sống, ngoài tám món khổ nhân sinh mà bất kì một người nào sinh ra trong cõi đời này đều cũng phải trải qua, đó là: Sinh, lão, bệnh, tử khổ, ái biệt li, cầu bất đắc, oán tắng hội, ngũ ấm xí thịnh khổ… Các món khổ này, có một số người đã tìm cách vượt qua, và họ đã vượt qua được như: Chuyên tâm tu tập thiền định, có đời sống u nhàn lấy việc tham cứu kinh điển làm niềm vui, người có phước lớn mạng lớn..v..v…những người như vậy, tuy không giác ngộ, nhưng tám món khổ nhân sinh không bức ngặt họ được !!!

Nhưng cũng chính việc bản thân họ đã tự vượt qua tám món khổ nêu trên, những người ấy có khi tự cho là đã đủ, không tinh tấn cầu học !!! Để giúp những người ấy nhận ra thành tựu của họ đối với Phật đạo là chưa đủ, Bồ tát phải chỉ cho họ các món khổ vi tế mà một người chưa giác ngộ, chưa đủ trí tuệ không thể nhìn thấy trong hiện tại, đó là: Ba món khổ thuộc ba tầng bậc của ba cõi là khổ khổ, hoại khổ và hành khổ !!! Khi họ quan sát trở lại thực tế từ thân tâm của mình, nhận ra các tầng khổ ấy còn tồn tại, họ sẽ hồi tâm và tinh tấn cầu học !!!

Lại có những người, tuy đã sơ ngộ, tám món khổ nhân sinh, ba món khổ ba cõi tuy không còn, đã vượt qua khổ tục đế nhưng chưa thấy bổn tâm, chưa chứng bất động… Phật đạo gọi những người ở cảnh giới như thế là “khổ thánh đế” !!!

Có những người tuy đã thành tựu đạo xuất thế, chứng diệt đế, đã thành tựu đạo quả giải thoát nhưng chưa có trí tuệ, phần tự độ đã xong nhưng chưa thấu suốt tất cả các cảnh giới của Phật đạo vì thế chưa thể tự tại giúp người…v..v…Phật đạo gọi những người ở cảnh giới này là “khổ chân đế” !!!

Tóm lại: Sanh, lão, bệnh, tử, ái biệt li, cầu bất đắc, oán tắng hội, ngũ ấm xí thịnh thuộc về lớp khổ nhân thừa !!! Ba món khổ khổ, hoại khổ, hành khổ thuộc về ba lớp khổ thiên thừa !!! Khổ thánh đế, khổ chân đế thuộc về hai lớp khổ của tam thừa !!! Bồ tát trong quá trình học trí tuệ, phải thân chứng để vượt qua và thấu suốt các lớp khổ nêu trên, sau này mới có thể nhận diện để giúp các hạng người chưa thật sự hoàn toàn hết khổ theo quan điểm Phật đạo, thành tựu tất cả các mục tiêu của Phật đạo đề ra…. Đây là một trong những yêu cầu mà Bồ tát phải học tập mới có thể thành tựu tam tự quy, trong đó có tự quy thứ ba là “thống lí đại chúng” !!! Vì thế, Phật dạy: “Không thấu suốt tứ đế, chính là khổ đế” !!!

Hỏi:

Trong quá trình tiếp xúc với người được giáo hoá, khi nhận ra một tri kiến không đúng đắn từ người được giáo hoá, con thường có thói quen “điều chỉnh hiểu biết của họ”… Sau những lần như thế, con tự thấy “cái ngã” của mình vẫn còn và con tự quở trách bản thân !!! Thưa thầy, con phải làm gì để vượt qua trở ngại này ???

Trả lời:

Có băm nát bạn ra, cũng không tìm thấy một chút ngã nào trong bạn !!! Vì rằng, Phật thuyết “ngũ ấm vô ngã” là chân lý… Chân lý này chỉ ra một thực tế, thân tâm hữu tình không hề có ngã, tức: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức tự nó vô ngã !!!

Nhưng, ngoại đạo lầm nhận thân tâm này có ngã, từ lầm nhận đó, họ nhắm vào một trong năm ấm ấy tu luyện, những mong tìm thấy “cứu cánh vĩnh hằng” (tự ngã) nào đó từ nơi năm món này !!! Để chỉ cho họ nhận ra sai lầm từ quan điểm nêu trên, Phật mới tuyên thuyết ngũ ấm vô ngã…!!! Sau khi các ngoại đạo đủ duyên nghe tuyên thuyết “ngũ ấm vô ngã”, họ từ bỏ cách tu sai lầm cũ, xin quy y Phật và trở thành Thanh văn đệ tử !!! Đây là lí do vì sao tứ pháp ấn hay tam pháp ấn của nhị thừa lại là “vô thường, khổ, không, vô ngã”, hoặc “vô thường, khổ, vô ngã” !!!

Trong khi đó, với Bồ tát thì lại khác !!! Bồ tát giác ngộ “cái gì vô thường, trong nó không ngã”, thân tâm này cũng không ngoại lệ !!! Đây là lí do vì sao, các pháp giáo Bồ tát và tam pháp ấn của Bồ tát chỉ gồm ba món “không, vô tướng, vô tác”… Trong ba pháp ấn này, ta không thấy đề cập đến ngã hay vô ngã !!!

Đối với Bồ tát, khi tuyên thuyết giúp người, chỉ nên căn cứ vào những điều sau: Lời tuyên thuyết đó có đủ từ bi, có đúng chánh lý, có thật sự vì người, có phi thời, có hợp căn cơ hay không (gọi chung là tuyên thuyết như pháp) ??? Nếu lời tuyên thuyết thoả mãn các yêu cầu trên, khi tuyên thuyết như pháp, ta không ngại những tuyên thuyết đó có ngã hay vô ngã !!! Đây là lí do vì sao mình vẫn nói với các bạn: “Giả sử có ngã mà lợi người, mình sẵn sàng chấp nhận… Còn vô ngã mà chẳng có lợi ích gì cho người, mình xin “bye bye” thứ chủ trương vô ngã vô ích đó” !!! Trong kinh, các Bồ tát cũng thường ta thán với Phật: “Bạch Thế tôn !!! Xưa nay, chúng con thường bị vô ngã làm ngại” !!!

Sau khi trao đổi xong đề tài “ngã và vô ngã”, vị HĐ của chúng ta vui mừng, hoát nhiên nhận ra những điều khó nhận ra trong Phật đạo !!! Thế đấy các bạn, khi nào nói có ngã, khi nào nói vô ngã bao hàm cả một nghệ thuật của Trung đạo !!! Nói có ngã mà giúp người giác ngộ thì hãy nói có ngã !!! Tuyên thuyết vô ngã mà giúp người nhận ra chân lí thì hãy nói vô ngã !!! Bằng ngược lại, cứ chấp nhất, mở miệng là vô ngã hay có ngã mà chẳng giúp gì cho người thì thà rằng “cấm khẩu” lại có nhiều lợi ích hơn !!!

Hỏi:

Thưa thầy !!! Ý nghĩa của ba lần chuyển Pháp luân là gì ???

Trả lời:

Trong cuộc đời hoằng hoá của Đức Phật, hay để giúp đệ tử viên mãn quá trình tiến tu trong đạo… Phật có ba lần nâng nhận thức của đệ tử lên một tầng khác cao hơn, ta thường hay gọi là chuyển pháp luân !!!

Cứ một lần chuyển pháp luân, nội dung các pháp thuộc đề tài của lần chuyển đó được Phật giảng nói nhiều năm tháng… Đến khi nào số đông đệ tử thâm nhập và thực chứng nhận thức này, Phật lại triển khai chuyển pháp luân tầng bậc kế tiếp !!!

Theo những gì lịch sử ghi lại, trong cuộc đời hoằng hoá của Đức Phật có ba lần chuyển pháp luân như sau !!!

1) Lần thứ nhất tại thành Ba la nại (Varanasi): Phật tuyên thuyết ngũ ấm vô ngã, lập các phương tiện giúp người hết khổ, phiền não, kiết sử, lậu hoặc…chứng đạo quả vô lậu và thánh quả xuất thế gian !!!

2) Lần thứ hai tại núi Linh thứu thuộc thành Vương xá (Rajagriha): Lần này, sau khi các đệ tử đã chứng thánh !!! Phật chỉ ra thánh quả chưa phải là đạo quả sau cùng của Phật đạo, mà trí tuệ mới là cốt lõi của Đạo trí tuệ !!! Để giúp các thánh đệ tử nhận ra trí tuệ trong Phật đạo là như thế nào và khiến họ hồi tâm từ bỏ Niết bàn quyền tiểu của thánh quả, phát tâm Vô thượng Bồ đề, phát nguyện độ sanh…Phật đã “giới thiệu” sức rộng sâu không thể nghĩ bàn của Phật tri kiến !!! Ta quen gọi là “khai, thị, ngộ, nhập” Phật tri kiến !!! Đây là lí do vì sao trong hội Pháp Hoa, các đệ tử chưa chứng thánh phải bỏ pháp hội ra đi khi nghe Phật tuyên thuyết Diệu Pháp Liên Hoa (vì ở lại cũng không thể lãnh hội nổi) !!!

3) Lần thứ ba tại thành Câu thi na (Kushinagar): Sau khi ba thừa (Thanh văn, Duyên Giác, Bồ tát) đồng vào Nhất thừa để học Phật tri kiến… Trước thời gian nhập Niết bàn, Phật tuyên thuyết cảnh giới của Đại niết bàn và tuyên thuyết “hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh” !!!

Hai tuyên thuyết quan trọng nêu trên, nhằm chỉ rõ cảnh giới Đại niết bàn là cảnh giới tự chứng của chư Phật…Cảnh giới này thường hằng, siêu quá hai khái niệm tu và không tu, vượt khỏi mọi nghĩ bàn của chúng sanh và tam thừa (bất cộng nhân, thiên, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) !!! Chỉ có cảnh giới Đại niết bàn mới viên mãn Phật tánh, Phật tánh bao gồm đầy đủ tám tánh chất siêu việt là: Thường, ngã, lạc, tịnh, từ, bi, hỉ, xả !!! Phật tánh hay tám tính chất siêu việt này, tất cả chúng sanh đều có (nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh) !!!

Có thể nói, ba lần chuyển pháp luân hay ba lần tuyên thuyết về ba tầng nhận thức trong Phật đạo từ thấp lên cao, chính là ba cấp học quan trọng mà một người tu hành muốn thành tựu địa vị sau cùng của Phật đạo nhất định phải trải qua !!! Và nhận thức quan trọng nhất của Phật đạo là “hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh”, có nghĩa rằng, mọi người, mọi loài đều có khả năng thành Phật, nếu họ quyết tâm học tập… Vì rằng, chủng tử Phật tánh đã có sẵn trong mọi chúng sanh !!!

Chúc mọi người sớm thành tựu viên mãn Phật tánh !!!

13/11/2020

LÝ TỨ

Hết Thảy Chúng Sanh Đều Có Phật Tánh

Hết Thảy Chúng Sanh Đều Có Phật Tánh

Hết Thảy Chúng Sanh Đều Có Phật Tánh

Subscribe to