Tác Phẩm Lý Tứ

Khái Niệm Đế

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Cùng bàn về khái niệm Đế trong Phật Đạo. 

Đế (nghĩa 1): Là sự hiểu biết thấu đáo về căn nguyên sinh khổ hoặc vui.  

a) Phàm phu không biết “Đế” tức không biết rõ căn nguyên sinh khổ. Chỉ biết có khổ mà không biết căn nguyên sinh khổ, nên Phật nói: “Phàm phu có khổ không đế”. Phàm phu có tập tức là có căn nguyên sinh khổ mà không biết căn nguyên này từ đâu, nên Phật nói: “Phàm phu có tập không có đế”.

b) Bồ tát hiểu khổ, tức hiểu phàm phu có khổ, tự mình không thấy khổ, biết chúng sanh có tập nhân sinh khổ (khổ này không tự có, chỉ do huân tập mà có). Do biết tập nhân này trước không, nay mới có nên Bồ Tát thanh tịnh các đế. Phật dạy: “Bồ tát hiểu khổ… hiểu tập, không có tập mà có chơn đế (đế thanh tịnh)”.

c) Do Bồ Tát thanh tịnh các đế (Thân, Thọ, Tâm, Pháp) nên bốn món trở thành đạo quả và đạo quả này y cứ (dựa) trên đế mà có nên Phật nói: “Bồ Tát có đạo, có chơn đế”.

Đế (nghĩa 2): Là cái mà cái khác nương cậy để tồn tại. Tất cả chúng sanh đều có "đế", nhưng không giác ngộ nên không biết cái gì là "đế". Vì không biết cái gì là "đế" nên gọi là phàm phu.

Biệt ly chỉ khổ khi nào có mối liên hệ với chủ thể sinh khổ, chủ thể này là “Ái”. Nếu biệt ly mà không có ái thì không khổ…

(06-2010)

Tác Phẩm Lý Tứ

Ngũ Ấm Xí Thạnh

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Năm món: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức vượt khỏi sự kiểm soát của trí tuệ, thoát ra khỏi bản chất tự nhiên của nó... Chính sự vượt quá giới hạn tự nhiên này mà phát sinh ưu bi khổ não... Nên gọi là “ngũ ấm xí thạnh khổ”.

- “Ngũ ấm xí thạnh” là năm điều gì?

1. Ngũ ấm.

Trong Phật pháp, có năm món, đại diện cho thân và tâm của một hữu tình (tạm gọi là chúng sanh), đó là:

Sắc: Chỉ cho thân.

Thọ: Chỉ cho các cảm thọ như khổ vui, nóng lạnh...

Tưởng: Chỉ cho các thứ tưởng, tưởng quá khứ, tưởng vị lai và tưởng hiện tiền…

Hành: Chỉ cho sự luân chuyển của tâm thức...

Thức: Chỉ cho sự hiểu biết...

Năm món này nếu để nó cột trói, ngăn che, y vào nó để sinh ngã... gọi là ngũ ấm (năm ấm).

Nếu năm món nói trên, cho mỗ̃i món một giá trị nào đó để làm tiêu chuẩn mà so sánh, suy lường...

thì bây giờ, các thứ giá trị này trở thành nguyên nhân phát sanh phiền não. Lúc này, ngũ ấm có tên gọi là ngũ uẩn... Chữ ấm có nghĩa trói buộc, che mờ... Chữ uẩn có nghĩa tích chứa nguyên nhân phát sinh phiền não...

- Năm món nói trên, nếu không để cho nó cột trói, che mờ, gọi là “năm món giải thoát” (sắc giải thoát,...). Nếu năm món kia không làm nguyên nhân để sinh tâm, gọi là “sắc thanh tịnh” (tịnh sắc)…

- Năm món này, tự nó không có nghĩa ấm hay uẩn, bản chất như hư không... Chỉ khi nào mê, bị nó trói buộc, hoặc làm cho phiền não, mới gọi là ngũ ấm hay ngũ uẩn...

2. Xí thạnh.

Đây là chữ Hán-Việt, từ này có nghĩa là sung mãn, là hẫy hừng, là quá cái bình thường…

Ngũ ấm xí thạnh là cụm từ nhằm chỉ cho năm món nói trên vượt khỏi sự kiểm soát của trí tuệ, thoát ra khỏi bản chất tự nhiên của nó... Chính sự vượt quá giới hạn tự nhiên này mà phát sinh ưu bi khổ não... Nên gọi là “ngũ ấm xí thạnh khổ”.

(06-2010)

Tác Phẩm Lý Tứ

Khái Niệm Bốn Tướng và Tập Khí

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Bốn​ tướng gồm tướng nhân, tướng ngã, tướng chúng sanh, tướng thọ giả.

1. Hỏi: Những gì là bốn tướng?

 Trả lời: Bốn​ tướng gồm tướng nhân, tướng ngã, tướng chúng sanh, tướng thọ giả.

 - Tướng nhân: Thấy có niết bàn để chứng.

 - Tướng ngã: Thấy mình có sở đắc và người khác thì không.

- Tướng chúng sanh: Dù trong thanh tịnh mà vẫn còn sanh dị tướng. Ví dụ, thấy con thằn lằn sinh tâm ghê sợ (mặc dù đã thanh tịnh). Ghê sợ này là chúng sanh tướng (đã là Thánh mà vẫn còn tập khí ghê sợ). Hoặc thấy mình là Bồ tát và kẻ khác là chúng sinh hay ngược lại.

- Tướng thọ giả: Tức nơi hư không mà thấy có hoa đốm, tức không thấy thiệt tướng của vạn pháp là “không tướng”.

Thọ giả là người nhận. Còn thấy mình cho (ngã), có pháp cho (nhân) còn thấy kẻ nhận (thọ giả), như vậy còn chúng sanh tướng. Còn thấy chủ thể (ngã), còn thấy khách thể (thọ giả).

Hai tướng đầu (tướng nhân, tướng ngã sẽ dứt khi thanh tịnh bản tâm). Hai tướng sau (tướng chúng sanh, tướng thọ giả) sẽ dứt khi giác các pháp vô ngã. Kinh gọi là, “Giác nhân pháp vô ngã, hay nhân không và pháp không”.

 2. Hỏi: Tại sao đã là thánh mà vẫn còn tập khí?

Trả lời: Thói quen của một người, thường không liên hệ nhiều đến giác ngộ. Khi nào thành Phật thì tánh tình, thói quen và giác ngộ mới là một, kinh gọi là: “Thân, khẩu, ý hành động theo trí tuệ”.

Người còn trong địa vị tu hành thì, giác ngộ và tánh tình (hay những thói quen) vẫn là hai thứ, chính vì vậy mà thuật ngữ “tập khí” có mặt trong Phật Giáo. Không phải giác ngộ rồi là mọi thứ đều trở thành thánh, vì thế mới có chuyện một số A La Hán vẫn còn những thói quen như hồi chưa chứng thánh. Nhưng nếu chưa giác ngộ thì biết gì mà tu, nhiều kiến thức mà không giác ngộ thì kiến thức lại trở thành “hòn đá cản đường” của giác ngộ.

Tập khí là thứ thói quen khó trừ, cứ tu tập rồi sẽ giảm dần. Chỉ có Phật (thân, khẩu, ý) hành động theo trí huệ mới hết tập khí. Đừng ngại chuyện này, chỉ cần tinh tấn đoạn trừ là sẽ được.

(06-2010)

Tác Phẩm Lý Tứ

Khái Niệm Kiết Sử

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Kiết Sử là những món cột trói và sai sử, bắt con người (chúng sanh) làm nô lệ cho nó. Kiết sử cũng có các tên khác như: Thập phiền não, thập hoặc, thập tùy miên...

Kiết là kết (cột trói) giống như người ta xâu kết các hạt thành chuỗi tràng hạt; Sử là sai sử.

Kiết Sử là những món cột trói và sai sử, bắt con người (chúng sanh) làm nô lệ cho nó. Giống như con trâu, bị người ta cột cái dây vào lỗ mũi dắt đi, không tự chủ được. Kiết sử cũng có các tên khác như: Thập phiền não, thập hoặc, thập tùy miên...

Trong Phạt Đạo, Kiết Sử thường được chia làm hai phần, gồm năm độn sử và năm lợi sử.

1. Năm “độn sử” hay “Lỗi hành vi , (Lý Tứ)”

Là những món trói buộc căn bản, mỗ̃i chúng sanh đều có. Gọi là độn, vì năm món này làm cho người mê muội, chậm Giác Ngộ.

  • Tham: Ham muốn, đắm mê những thứ phiền não, hạ liệt của ba cõi (dục, sắc và vô sắc) không thể Giác Ngộ.

  • Sân: Sân hận, giận dữ, não hại mình, não hại người.

  • Si: Mờ tối, mê mờ, không thấy được ánh sáng Giác Ngộ.

  • Mạn(1): Thấy mình hơn hoặc thua người (tự tôn hoặc tự ti).

  • Nghi: Nghi ngờ (hoài nghi) có 3 món gồm:

          - Nghi mình: Nghi bản thân không thể Giác Ngộ;

          - Nghi người: Nghi bậc Đạo sư không thể dạy đạo Giác Ngộ;

          - Nghi pháp: Nghi Giáo Pháp ta đang tu tập không đưa đến Giác Ngộ.

2. Năm “lợi sử ” hay “Lỗi nhận thức, (Lý Tứ) ”.

Là những món cột buộc thuộc về nhận thức (sai lệch), nó chỉ có đối với hạng người lanh lợi. Vì thế năm lợi sử còn gọi là “ngũ kiến” hay “ác kiến”, tức các thấy biết đi ngược tinh thần Giác Ngộ.

  • Thân kiến: Chấp thủ những hiểu biết sai lầm về thân.

  • Biên kiến: Chấp chặt một bên, nắm giữ một định kiến.

  • Kiến thủ kiến: Nắm giữ các quan niệm, các thấy biết phi chân lý.

  • Giới cấm thủ kiến: Không hiểu rõ giới, chấp chặt. Hy vọng giới có thể thành tựu cứu cánh nào đó trong Phật Đạo.

  • Tà kiến: Hiểu biết sai lệch về Giáo Pháp, không như chân lý mà giúp mình cùng người Giác Ngộ.

Để giáo hoá Nhị Thừa thoát ra khỏi ba cõi, thành tựu đạo quả Giải Thoát, trong kinh tạng Nikaya, Phật liệt kê Kiết Sử gồm mười món như sau:

– Thân kiến (sakkàya-ditthi); – Hoài nghi (vicikicchà); – Giới cấm thủ (silabata-paràmàsa); – Tham đắm vào cõi dục (kàma-ràga); – Sân hận (vyàpàda);

– Tham đắm vào cõi sắc (rùpa-ràga); – Tham đắm vào cõi vô sắc (arùpa-ràga); – Mạn (màna); – Trạo cử vi tế (uddhacca); – Si vi tế (avijjà).

3. Với hai loại Kiết Sử nêu trên, để giúp Bồ Tát (Giác Ngộ) và Nhị Thừa (Giải Thoát), ta thấy có một vài khác biệt cơ bản. Vì thế, việc tu tập “đoạn kiết” cũng sai khác.

Đối với Bồ Tát Đạo, quá trình đoạn trừ Kiết Sử tự thân, là quá trình Giác Ngộ từ cạn đến sâu, bắt đầu từ Phát Tâm Bồ Đề gọi là Sơ Giác, đến Minh Tâm Bồ Đề mới có thể dứt hoàn toàn. Năm giai đoạn từ phát tâm đến viên mãn Bồ Đề của Bồ Tát gồm: Phát Tâm, Phục Tâm, Minh Tâm (ba giai đoạn này lần lượt Giác Ngộ để dứt phàm tình cho đến thấy được Bổn Tâm), Kiến Đáo và Xuất Đáo Bồ Đề (hai giai đoạn này gồm học Trí Tuệ đến chứng Thật Trí).

Đối với Nhị Thừa, muốn ra khỏi Kiết Sử chứng đạo quả Giải Thoát, phải tuần tự vượt qua Tứ Thánh Quả. Tứ Thánh Quả gồm: Dự lưu (Sotàpanna, Tu-đà-hoàn), Nhất lai (Sakadàgàmi, Tư-đà-hàm), Bất lai (Anàgàmi, A-na-hàm), A-la-hán (Arahat, Ứng cúng). Nhị Thừa sau khi chứng đạo quả Giải Thoát, muốn thành tựu Phật Địa, phải Phát Tâm Bồ Tát, vào Đạo Đế để thành tựu Kiến Đáo Bồ Đề và Xuất Đáo Bồ Đề giống như một Bồ Tát.

 (06-2010)

-----------------------

Mạn: Là suy nghĩ hoặc lời nói quá cái mình đang có (quá: là hơn hoặc thua; nói cách khác… là lời nói, suy nghĩ không trung thực). Để hình thành kiết sử, trong Phật giáo có 7 loại mạn (thất chủng mạn; thất mạn chủng; hay thất chủng ngã mạn…) gồm: Mạn; Quá Mạn; Mạn quá Mạn; Tăng thượng Mạn; Ty liệt Mạn; Ngã Mạn và Tà Mạn).

Tác Phẩm Lý Tứ

Khái Niệm Bố Thí

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Phật Giáo có pháp Bố Thí, đối với người trên gọi là “Cúng Dường”, với người dưới gọi là “Bố Thí”.

Phật Giáo có pháp Bố Thí, đối với người trên gọi là “Cúng Dường”, với người dưới gọi là “Bố Thí”.

Ở đời khi cho ai (bố thí) điều gì người ta luôn kèm điều kiện. Điều này không có gì sai trong thế gian, nhưng với Phật pháp thì không phải vậy. Phật pháp có môn Bố Thí Ba La Mật, một trong sáu điều tu học của Bồ Tát gọi là Lục Độ Ba La Mật. Đó là: Bố Thí, Trì Giới, Kham Nhẫn, Tinh Tấn, Thiền Định và Trí Tuệ Ba La Mật.

Bố Thí Ba La Mật nghĩa là khi thí không có chủ thể thí, không có đối tượng thí, không có vật (hay pháp) thí và không có quả báo bố thí, còn gọi là Thanh Tịnh Thí hay Giải Thoát Thí (Ba La Mật nghĩalà Đáo Bỉ Ngạn).

Cho nên khi bố thí, chỉ cầu thành tựu tâm bố thí. Mong thành tựu tâm bố thí mà không nhìn ngó, phán xét người được thí là ai… và họ xin để làm gì… Khi thành thục điều này sẽ thành tựu Bố Thí Ba La Mật.

(06-2010)

Tác Phẩm Lý Tứ

Khái Niệm Ý Căn

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Sáu căn hay sáu giác quan, là công cụ chính yếu để con người dùng nó mà giao tiếp với thế giới bên ngoài (năm căn trên thân), hoặc giao tiếp với thế giới nội tâm (ý căn)...

Như thế nào được gọi là “Căn”, là “Ý”? Và cái “Ý căn” này nó có hại gì hay không?

1. Căn.

Một người có sáu căn (lục căn) hay còn gọi là sáu giác quan. Sáu căn gồm: Nhãn căn (con mắt), nhĩ căn (lỗ̃ tai), tỷ căn (lỗ̃ mũi), thiệt căn (cái lưỡi), thân căn (cái thân), và một căn bên trong, đó là ý căn (cái ý)...

Sáu căn hay sáu giác quan, là công cụ chính yếu để con người dùng nó mà giao tiếp với thế giới bên ngoài (năm căn trên thân), hoặc giao tiếp với thế giới nội tâm (ý căn)...

- Sáu căn này tự nó thanh tịnh, không có nhận thức thiện ác, tốt xấu, v.v… gọi là “không tánh”...

2. Ý.

Là một căn trong sáu căn... Chức năng của ý là nghĩ suy... Nghĩ suy chân chánh, theo đúng Chánh Pháp gọi là Chánh Tư Duy... Nghĩ suy tà vạy, không dựa vào cơ sở của Chánh Pháp gọi là Tà Tư Duy...

3. Ý căn.

Như phần sáu căn đã nói ở trên, mỗ̃i căn có một chức năng riêng biệt. Tự mỗ̃i căn chỉ là công cụ giao tiếp với thế giới bên ngoài hay thế giới nội tâm... Ý căn cũng chỉ là một công cụ như thế... Tự thể các căn này không có chức năng gây hại... Giống như con dao, cái búa, cây viết, ống dòm, tai nghe điện thoại… Các món này không tánh, tức không có tánh thiện, không có tánh ác, không thể tự gây hại, v.v…

Hại hay lợi, đúng hay sai, thiện hay ác... là do người sử dụng các căn (công cụ) này vào mục đích như thế nào... Nếu sử dụng nó vào mục đích thiện thì nó là thiện công cụ, ngược lại sử dụng vào mục đích ác thì nó biến thành ác công cụ...

(04-2010)

Tác Phẩm Lý Tứ

Khái Niệm Diệu Đế, Thánh Đế, Diệu Trí

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

“Tứ đế”, “Tứ thánh đế” và “Tứ diệu đế” có liên quan gì với nhau?

“Tứ đế”, “Tứ thánh đế” và “Tứ diệu đế” có liên quan gì với nhau?

1. Tứ DIỆU ĐẾ.

Là tên gọi để chỉ chung cho bốn điều cơ bản, bốn nền tảng, bốn chân lý, bốn cấp học của hệ thống giáo pháp... Từ bốn món này (Tứ Đế), Phật Giáo lấy đây để sản sinh các thiện phương tiện giúp người từ mê thành giác, từ khổ thành vui, từ sanh diệt đến Niết Bàn, từ ngu thành trí... Sự biến đổi mầu nhiệm này gọi là “Diệu” nên Tứ Đế còn có tên Tứ Diệu Đế, gồm có bốn điều là: Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế và Đạo Đế...

 2. Tứ THÁNH ĐẾ.

Là bước khởi đầu thành tựu thánh quả từ Tứ Diệu Đế... Tứ Diệu Đế có bốn bước để một người tu hành lần lượt thành tựu các loại đạo quả, đó là: Tục Đế, Thánh Đế, Chân Đế, Thiệt Đế.

3. Tứ DIỆU TRÍ.

Phật và Bồ Tát, thấu suốt triệt để bốn thứ này gọi là thành tựu “Tứ Diệu Trí”... Gồm Khổ Trí, Tập Trí, Diệt Trí và Đạo Trí...

(04-2010)

Tác Phẩm Lý Tứ

Ngũ Triền Cái

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Ngũ triền cái làm chướng giải thoát, nếu không đoạn trừ năm món này thì không được giải thoát.

1. Những gì là “Ngũ Triền Cái”? Năm món này chướng thiền và giải thoát như thế nào?

Năm món triền cái là:

 -​ Hôn trầm: Ngủ gục, hoặc cảm giác thân tâm nặng nề, chìm đắm (gọi là trầm một).

 -​Thụy miên: Ngủ say không muốn thức dậy.

 -​Trạo cử: Rạo rực, bức xúc ngồi không yên, muốn làm cái gì đó.

 -​ Hối quá: Hối hận chuyện làm đã qua, tâm bất an…

 - Nghi: Không tin vào chính mình, không tin là mình có thể được thiền, thanh tịnh và giải thoát…

Ngũ triền cái (năm món) trong lúc tu thiền, nếu không vượt qua thì không được thiền. Ngũ triền cái làm chướng giải thoát, nếu không đoạn trừ năm món này thì không được giải thoát. Năm món này có khi làm chướng thiền, có khi làm chướng giải thoát. Ví như khi đi xa, không mua vé xe giống như năm triền cái làm chướng thiền, không có tiền bạc giống như năm triền cái chướng giải thoát.

2. Làm sao vượt qua được “Ngũ Triền Cái”?

Bất kỳ người tu hành nào cũng “khổ thân” vì ngũ triền cái, vì chính ngũ triền cái là cản trở rất lớn, không cho người ta vào các cõi thiền. Muốn vượt qua, chỉ có quyết tâm. Thông thường, lúc đầu người tu hành thường khó có thể vượt qua được nó, nhưng sau một thời gian thì hoàn toàn ngược lại.

Một số kinh nghiệm cho thấy, muốn vượt qua ngũ triền cái, trước lúc ngồi thiền không được ăn quá no, bụng đói càng tốt, và phải ngồi thiền với quyết tâm thật cao trên tinh thần “không được thiền thì không đứng dậy”.

Nên nhớ, cách sống hằng ngày quyết định việc khi ngồi có được thiền hay không. Nếu không tự ngăn ngừa các lỗ̃i thì tâm sẽ hối quá. Nếu ưa tranh đấu hơn thua thì tâm sẽ trạo cử. Nếu làm việc quá mệt nhọc thì dễ hôn trầm thụy miên. Nói chung, thường hộ trì các căn đừng rong ruổi theo trần cảnh bên ngoài. Điều cốt lõi là, “bằng lòng với việc ngồi thiền này, tâm không mong cầu một cái gì khác, không chấp mắc một thứ gì trên đời.”

Có rất nhiều cảm nhận của chuyển biến thân tâm trong lúc ngồi thiền, đừng chú ý đến nó. Sau thời gian, những cảm giác như vậy sẽ tự mất, nhường chỗ̃ cho hỷ lạc khinh an và sự sung mãn thân tâm.

Nguyên lý để được thiền là khi ngồi thiền, người ta:

1) Bằng lòng với hiện tại đang có, hoặc đưa tâm vào Thanh Tịnh (gọi là Tầm hay Giác).

2) Dùng ý quở trách lỗ̃i lầm của Ngũ Dục (gọi là Tứ hay Quán).

Đưa tâm ý vào giác quán (tầm tứ) nhẹ nhàng, thiền sẽ hiện. Đừng sợ sai… giống như mình ngồi bình thường suy ngẫm về chuyện ngũ dục và thấy được lỗ̃i lầm của nó thì có gì là sai… hoặc đâu có làm gì ức chế tâm lý nên không bị căng thẳng.

(Chú ý: Không tạo áp lực hoặc tự làm cho mình căng thẳng. Thả lỏng cảm giác, chuyên tâm quở trách ngũ dục và bằng lòng với chỗ̃ ngồi, không móng vọng nơi khác, không ham muốn gì thêm. Nói chung không khởi tâm hy vọng, nhưng cũng không tuyệt vọng…)

Phật dạy: “Hy vọng là tâm chúng sanh”. (Chúng: gom nhóm các hy vọng không thật; Sanh: sanh khởi vọng tâm). “Chúng sanh” có thể hiểu là các hữu tình gom nhóm những hy vọng không thật để sanh khởi vọng tưởng nơi tâm.

Muốn không trở thành chúng sanh, người trí nên biết làm gì trong tinh thần của khái niệm này… Khi ngồi thiền, tâm lý phải thật thoải mái. Nếu chưa thoải mái thì chưa ngồi và tốt hơn nên tìm cách thư giãn.

 (02-2010)

Tác Phẩm Lý Tứ

Xa Ma Tha (Chỉ); Tỳ Bà Xá Na (Quán)

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Trong bốn oai nghi (đi, đứng, ngồi, nằm), người mới tu hành, "ngồi" dễ lắng tâm và sanh thiền

Người đã giác ngộ, biết được bản tâm thanh tịnh thì “đi, đứng, ngồi, nằm” (bốn oai nghi) đều có thể tu hành được.

Khi đi, đứng (hoạt động) người ta hạn chế chạy theo tiền cảnh (cảnh trước mặt) bằng cách dùng Tỳ Bà Xá Na (Huệ Quán) để quở trách thấy nghe.

Khi ngồi, nằm người ta có thể sử dụng Xa Ma Tha để ở yên nơi thanh tịnh. Hoặc âm thanh (tiếng động) đến người ta có thể sử dụng Tam Ma Đề để dừng phân biệt. Pháp Tam Ma Đề là chú (trụ) tâm nơi (lỗ̃ tai) hoặc một nơi nào đó để dừng phân biệt. Khi phân biệt không hiện khởi người ta ở yên nơi đó, gọi là Xa Ma Tha (Tu Chỉ). Khi vào sâu trong Xa Ma Tha, thân tâm nhẹ nhàng là lúc Thiền xuất hiện.

Trong bốn oai nghi (đi, đứng, ngồi, nằm), người mới tu hành, "ngồi" dễ lắng tâm và sanh thiền. Giống như người ngồi một mình nơi thanh vắng dễ hưởng sự thanh nhàn hơn là nơi ồn náo.

Thiền là những cảm nhận tinh tế sự chuyển biến nhẹ nhàng trong tĩnh lặng của thân tâm. Khi vọng động thân tâm cũng chuyển biến, nhưng bị tiền cảnh chi phối vì thế khó nhận biết. Giống như tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ, ban ngày nó vẫn kêu nhưng vì nhiều thứ âm thanh lẫn lộn và tâm không chuyên chú nên không nghe được, càng về khuya tiếng đồng hồ càng nghe rõ vì thanh vắng và tâm có chú ý (lắng tâm).

Bản chất của thân và tâm này tự có Thiền, tức tự có khinh an, hỷ lạc và thanh tịnh, nhưng ban ngày chạy theo tiền cảnh nên không thấy. Khi ngồi yên, thân tâm có khuynh hướng bất động thì cảm nhận rất rõ sự chuyển biến và bản chất hỷ lạc của nó. Sự cảm nhận đặc biệt này tạm gọi là Thiền chi. Thiền Chi không hiện khi bị một trong năm món Ngũ Triền Cái (hôn trầm, thùy miên, trạo cử, hối quá, nghi) ngăn che, cản trở.

Năm món này xuất hiện trong lúc ngồi thiền. Mỗ̃i người tự tìm cho mình cách vượt qua Ngũ Triền Cái.

(06-2010)

Tác Phẩm Lý Tứ

Thay Lời Tựa… Chăm Bón Sự Nghiệp Tu Tập

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Muốn có kết quả tốt ở ngày sau, phải biết chăm bón “sự nghiệp tu tập” từ hôm nay!!!

Các bạn!!! (1)

Tu tập, là đi trên con đường rất dài và nhiều thử thách... Con đường này dài cả suốt cuộc đời!!! Mà đã là cuộc đời, thì có vô số lối tẻ và trở ngại... Nếu không phải một người có “đủ bản lãnh và trí tuệ”, rất dễ bị cuộc đời đẩy đưa sang một lối tẻ nào đó hoặc dừng bước!!! Chuyện này xảy ra đối với người tu hành xưa nay không hiếm!!!

Vì sao nó lại như vậy???

 Có rất nhiều lý do để người tu hành trong Phật đạo dừng bước... Nó giống như người ta gieo trồng một cái cây, từ lúc bỏ hạt giống xuống đất, để hạt giống nảy mầm và đơm hoa kết trái, nó phải chịu rất nhiều tác động... Từ tác động thổ nhưỡng, môi trường, thời tiết, kỹ thuật chăm sóc, sâu bệnh, v.v...

Nói chung, có vô số nguyên nhân từ lúc gieo giống đến thu hoạch làm cho cây trồng không cho ra kết quả như mong muốn!!!...

Muốn thu hoạch như ý, người nông dân phải bỏ ra rất nhiều công sức... Từ khâu chọn giống, đến kỹ thuật canh tác, phòng ngừa sâu bệnh, mọi thứ đều phải chăm sóc từng li từng tí... Chỉ cần lơ là trong một thời gian ngắn, thậm chí chỉ cần qua một đêm không có biện pháp phòng ngừa... Cả ruộng lúa chỉ còn trơ gốc!!!

 Vì thế, tự chăm sóc bản thân trong việc tu tập, là việc làm thường xuyên giống như người ta chăm sóc cây trồng!!!

Có những tác động khiến cho cây trồng không tươi tốt chúng ta có thể thấy được và phòng trừ dễ dàng, nhưng cũng có rất nhiều tác động khó thấy, hoặc tưởng chừng như vô hại, nhưng nó lại đưa đến kết quả tồi tệ... Ví như, sáng ra ta chỉ thấy đám ruộng kế bên có vài con sâu, nhưng sau một đêm, cả cánh đồng đều bị sâu bệnh lây lan phá hoại... Chỉ có những người làm ruộng chuyên nghiệp và đủ sức hiểu biết, mới có thể ngăn ngừa những loại dịch bệnh như vậy!!!

Cách hộ trì trong tu tập

Như đã nói ở trên, tu tập là thực hiện một cuộc hành trình suốt cả cuộc đời, mà cuộc đời có vô vàn trở ngại...

Giống như gieo trồng có bao nhiêu loại dịch bệnh, thì trong tu tập có bấy nhiêu, thậm chí nhiều hơn vô số lần sâu bệnh phá hoại...

Muốn cây trồng không bị sâu bệnh phá hoại, người ta phải phòng trừ, che chắn thật kỹ để khỏi lây lan...

 Trong tu tập, muốn đạo tâm không bị phá hoại, người tu hành phải biết phòng trừ, yểm ly...

 - Che chắn bằng cách

 Tự thoát ra khỏi những tác động làm thối chuyển, như lánh xa bạn xấu, gần gũi Thiện Tri Thức, thường xuyên đọc tụng kinh sách (Văn)!!!

 - Phòng trừ bằng cách

 Dập tắt nguồn lây lan bằng thứ thuốc "trí tuệ"!!! 

Thường xuyên ngồi xuống, chiêm nghiệm ý nghĩa Giáo Pháp đã học, cho đến khi thấu suốt… còn gọi là Thiền Tư (Ngồi Thiền; Tư). 

- Chăm sóc bằng cách 

Quay về với tự tâm, không nhìn ngó bên ngoài, không để tâm rong ruổi nơi thấy nghe khiến tâm ý tán loạn dẫn đến sinh tâm, sinh pháp!!!

Ứng dụng lời dạy của Phật, của Thiện Tri Thức vào đời sống đến khi thuần thục, sống đời sống như pháp (Tu)

Các bạn!!!(1)

Muốn có kết quả tốt ở ngày sau, phải biết chăm bón “sự nghiệp tu tập” từ hôm nay!!! Không ai có thể cho ta an vui và trí tuệ hơn chính chúng ta!!!

Phải tự nỗ lực rèn luyện để trở thành một người có bản lãnh trong Phật đạo!!!

Chỉ cần thiếu một chút bản lãnh, ngọn gió cuộc đời sẽ thổi các bạn chìm sâu trong ba cõi, và nó sẽ biến các bạn trở thành “một người tầm thường” như bao người tầm thường giữa cuộc thế!!!

Lý Gia.

-------------------

(1) Trích email của Tác giả Lý Tứ gửi cho các Huynh Đệ Tỷ Muội (HĐTM)

Subscribe to