Bạn Đọc Hỏi - Lý Tứ Trả Lời

Bạn đọc hỏi - Lý Tứ trả lời Số 41 Đến Hết Năm 2022

MB 857 Lý Diệu Sinh 01.01.2022

41 BĐH-LTTL.41. Bài Kệ Của Thần Tú Và Huệ NăngXem chi tiết
42 BĐH-LTTL.42. Thiền Định Và Giải ThoátXem chi tiết
43 BĐH-LTTL.43. Phật Tại Tâm Hay Tâm Tại PhậtXem chi tiết
44 BĐH-LTTL.44. Pháp Môn Là Gì?Xem chi tiết
45 BĐH-LTTL.45. Đạo Là Gì?Xem chi tiết
46 BĐH-LTTL.46. Phước Đức - Ác Đức - Công ĐứcXem chi tiết
47 BĐH-LTTL.47. Lý Tứ Và Các Tác Phẩm Của Lý TứXem chi tiết
48 BĐH-LTTL.48. Nhất TâmXem chi tiết
49 BĐH-LTTL.49. Chân Lý Là Của Ai?Xem chi tiết
50 BĐH-LTTL.50. Thiền Của Phật GiáoXem chi tiết
51 BĐH-LTTL.51. Mục Kiền Liên Cứu MẹXem chi tiết
52 BĐH-LTTL.52. Chuyện Tro CốtXem chi tiết
53 BĐH-LTTL.53. Trực Chỉ Nhân TâmXem chi tiết
54 BĐH-LTTL.54. Giúp Người Nhận Ra Chân LýXem chi tiết
55 BĐH-LTTL.55. Thiền Tịnh Song TuXem chi tiết
56 BĐH-LTTL.56. Bát Nhã Tâm KinhXem chi tiết
57 BĐH-LTTL.57. Hết Thảy Chúng Sanh Đều Có Phật TánhXem chi tiết
58 BĐH-LTTL.58. Bàn Về Việc Đốt Nhang (Trầm)Xem chi tiết
59 BĐH-LTTL.59. Lặng Lẽ - Quan Sát - Không Kết LuậnXem chi tiết
60 BĐH-LTTL.60. Giác Ngộ Như Thế Nào?Xem chi tiết
61 BĐH-LTTL.61. Nhiều Hay Ít Công Đức?Xem chi tiết
62 BĐH-LTTL.62. Phản Hồi Từ Bạn ĐọcXem chi tiết
63 BĐH-LTTL.63. Bốn Cấp Độ Quán 12 Nhân DuyênXem chi tiết
64 BĐH-LTTL.64. Tam Muội Là Gì?Xem chi tiết
65 BĐH-LTTL.65. Tự Tâm - Tự TánhXem chi tiết
66 BĐH-LTTL.66. Phát Bồ Đề Tâm Là Gì?Xem chi tiết
67 BĐH-LTTL.67. Các Thứ Trí Trong Phật ĐạoXem chi tiết
68 BĐH-LTTL.68. Bắc Tông - Nam Tông - Chay Mặn - Tu ThiềnXem chi tiết
69 BĐH-LTTL.69. Người Thợ Săn Lành NghềXem chi tiết
70 BĐH-LTTL.70. Tầm Quan Trọng Của Giác MônXem chi tiết
71 BĐH-LTTL.71. Sách Lý Tứ Bán Ở Đâu?Xem chi tiết
72 BĐH-LTTL.72. Tu Ba La Mật Và 18 Pháp KhôngXem chi tiết
73 BĐH-LTTL.73. Ý Nghĩa Quả Vị Trong Phật ĐạoXem chi tiết
74 BĐH-LTTL.74. Tâm Tình Của Người LạXem chi tiết
75 BĐH-LTTL.75. Phật Đạo Và Chuyện Sanh Tử Xem chi tiết
76 BĐH-LTTL.76. Sự Khác Nhau Giữa Nghĩ Suy Và Vọng TưởngXem chi tiết
77 BĐH-LTTL.77. Pháp Giới Và Tam Giới Hình Thành Như Thế Nào?Xem chi tiết
78 BĐH-LTTL.78. Giác Ngộ Là Hạt Nhân Làm Nên Đạo Quả?Xem chi tiết
79 BĐH-LTTL.79. Các Nghĩa Không Trong Phật ĐạoXem chi tiết
80 BĐH-LTTL.80. Bố Thí Vô Úy Và Bố Thí Ba La MậtXem chi tiết
81 BĐH-LTTL.81. Làm Thế Nào Để Tâm Thức Có Cơ Hội Nổ Big Bang?Xem chi tiết
82 BĐH-LTTL.82. Lý Tứ Được Mời Ăn UốngXem chi tiết
83 BĐH-LTTL.83. Tánh Giác - Bổn Tâm - Bản GiácXem chi tiết
84 BĐH-LTTL.84. Người Tại Gia Có Đạt Được Mục Đích Cuối Cùng Của Phật ĐạoXem chi tiết
85 BĐH-LTTL.85. Làm Thế Nào Để Được Bình An Trong Tâm HồnXem chi tiết
86 BĐH-LTTL.86. Chủ Đề: Xin Một Lời Khuyên !!!Xem chi tiết
87 BĐH-LTTL.87. Chủ Đề: Những Thắc Mắc Vừa Nhận Được !!!Xem chi tiết
88 BĐH-LTTL.88. Bốn Cấp Bậc Tứ ĐếXem chi tiết
89 BĐH-LTTL.89. Giác Ngộ - Như Lý Tác ÝXem chi tiết
90 BĐH-LTTL.90. Tự Mình Có Thể Kiểm Chứng Đã Giác Ngộ Hay Không?Xem chi tiết
91 BĐH-LTTL.91. Bốn Bệnh Của Viên GiácXem chi tiết
92 BĐH-LTTL.92. Bốn Pháp Giới !!!Xem chi tiết

Tags:

Tác Phẩm Lý Tứ

Lời Kết

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Phàm ở đời, cái gì có khởi đầu thì phải có kết thúc. Những bài “Vô đối môn” cũng không ra ngoài thông lệ này.

 

Tags:

Tác Phẩm Lý Tứ

Vì Sao Tứ Niệm Xứ Là Cội Nguồn Của Đạo Pháp???

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Muốn thành tựu Thiền Định, Tứ Đế, các quả vị của Phật Đạo cho đến các thứ Niết Bàn cùng Thật Trí, “người tu hành không thể tìm kiếm những thứ này ngoài Tứ Niệm Xứ”

Hỏi: Dựa trên cơ sở nào để người tu hành thành tựu các đạo quả trong Phật Đạo. Cụ thể, đó là Thiền Định, Tứ Diệu Đế và các loại Niết Bàn?

Đáp: Thông thường, người đời chạy ra bên ngoài để tìm kiếm thành công. Người tu hành trong Phật Đạo thì ngược lại, muốn thành công trong Đạo Pháp, phải quay trở về cội nguồn của Đạo. Đó là Tứ Niệm Xứ để tìm thấy Thiền Định, thành tựu Tứ Diệu Đế và chứng thực các loại Niết Bàn.

Hỏi: Vì sao Tứ Niệm Xứ là cội nguồn của Đạo Pháp?

Đáp: Đạo Phật là Đạo Diệt Khổ, là Đạo Giác Ngộ, là Đạo Giải Thoát và là Đạo Trí Tuệ.

  • Tứ Niệm Xứ chính là Khổ Đế.

  • Tứ Niệm Xứ chính là Thiền Xứ.

  • Tứ Niệm Xứ chính là Tập Đế và Dứt Tập Đế.

  • Tứ Niệm Xứ chính là Khổ Diệt Đế và Dứt Khổ Diệt Đế.

  • Tứ Niệm Xứ chính là Khổ Đạo Đế và Tứ Trí Đế.

  • Tứ Niệm Xứ chính là Trung Đạo để Chư Phật mở Từ Bi Tâm khai phát Chân Giáo.

Vì thế, muốn thành tựu Thiền Định, Tứ Đế, các quả vị của Phật Đạo cho đến các thứ Niết Bàn cùng Thật Trí, “người tu hành không thể tìm kiếm những thứ này ngoài Tứ Niệm Xứ”.

Hỏi: Xin nói rõ, như thế nào gọi là lấy Tứ Niệm Xứ để thành tựu các món nói trên?

Đáp: Có năm giai đoạn, người tu hành phải dựa trên Tứ Niệm Xứ, để lần lượt thành tựu viên mãn các thứ nói trên.

− Muốn diệt khổ: Người tu hành phải biết rằng, do xưa nay ta mê lầm Thân, mê lầm Thọ, mê lầm Tâm, mê lầm Pháp nên mới có sự khổ xảy ra đối với chính ta. Nếu không mê lầm bốn món trên, thì sự khổ sẽ không xuất hiện.

Giống như trong bóng tối, người ta lầm sợi dây thành con rắn, nên chịu khổ não. Nếu người này thấy hoặc biết rõ con rắn đó chỉ là sợi dây thì mọi nỗi khổ và sợ hãi sẽ tức thì chấm dứt. Thấy được như vậy, tâm vị này an vui, thân vị này nhẹ nhàng. Mọi thứ khổ não sẽ tịch diệt, nhường chỗ cho an vui chân thật của Thiền Định xuất sinh.

Từ đây mới biết rằng, mỗi chúng sanh tự sẵn đủ Thiền Định chỉ do ngộ nhận Bốn Niệm Xứ mà Thiền Định bị khổ não che lấp. Phật Đạo gọi việc làm này là “người thấy Khổ”.

- Muốn Giác Ngộ: Người tu hành phải thấy cho được nhân duyên thành tựu Thân này, nhân duyên hình thành các cảm Thọ, nhân duyên phát sinh hư vọng Tâm, nguyên nhân sinh khởi cấu pháp và bất tịnh Pháp.

Thấy được những nguyên nhân như vậy, sẽ không bị bốn món trên mê hoặc. Một khi không còn bị mê hoặc, người này tức thì có được sự an lạc, có được thảnh thơi khi cộng trú với bốn món này. Có nghĩa rằng, cộng trú chứ không cộng sinh. Do không cộng sinh với bốn Niệm Xứ nên ngã không sanh, ngã không sanh Kiết Sử không sanh.

Giống như trong đêm tối, trước một con rắn dữ, người này thắp lên ngọn đèn thật sáng. Dưới ánh sáng của ngọn đèn, con rắn bây giờ hiện nguyên hình là sợi dây. Mọi hoài nghi, mọi hãi sợ về con rắn hoàn toàn biến mất, nhường chỗ cho an lạc, thảnh thơi và vĩnh viễn sự nhầm lẫn từ sợi dây thành con rắn không thể hiện khởi. Thấy được như vậy, mọi trói buộc và sai sử từ Tứ Niệm Xứ không còn nữa. Một khi bốn món trên không còn trói buộc và sai sử. Có nghĩa rằng, thân phận của kẻ làm nô lệ cho các Niệm Xứ được giải thoát thì các Kiết Sử cũng tự giải phóng ra khỏi chính họ.

Trong sự giải phóng hoàn toàn Kiết Sử này, Phật Đạo gọi đó là “Người Dứt Tập”.

- Muốn Giải Thoát rốt ráo: Người tu hành phải thấy cho được bản chất của bốn món Thân, Thọ, Tâm, Pháp. Khi thấy đúng bản chất của bốn món trên, bây giờ người tu hành mới vỡ lẽ ra. Xưa nay, bản chất của Thân không cột không mở (không phược không thoát). Bản chất của Thọ chẳng khổ chẳng vui (bất khổ bất lạc). Bản chất của Tâm chẳng thường chẳng vô thường. Bản chất của Pháp chỉ do quan niệm mà thành, tự nó không chân lý nên chẳng thể trở thành thiện ác.

Giống như người ta thấy được bản chất của sợi dây, tự nó không cột không mở, tự nó không là hiểm họa của khủng bố hay bình an (nên được vô bố úy), tự nó không có những tính chất của sợ hãi hay an vui, tự nó không có ngã cùng vô ngã (nên chẳng thiện chẳng ác).

 Thấy được như vậy, người này sẽ thành tựu “cứu cánh rốt ráo không”, tức là không thấy tánh, không thấy tướng, không thấy hữu vi, không thấy vô vi. Thân chứng “Tất Cánh Không của Diệt Đế”.

  • Muốn có Trí Tuệ: Người tu hành sau khi dùng Chánh Tư Duy để biết rõ bản chất của Thân, Thọ, Tâm, Pháp mới lặng lẽ quan sát bốn Niệm Xứ.

Lặng lẽ quan sát Thân, Thọ, Tâm, Pháp đến một lúc nào đó, vị tu hành “trực nhận ra bản lai của bốn món này. Chừng ấy, trong sự trực nhận, vị tu hành mới thấy biết đích thực Thật Tướng của bốn món này lìa giả, lìa chân. Tức là, nơi Thật Tướng không có sự dự phần của khái niệm giả hay chân. Chỉ khi nào, hai phạm trù giả chân không còn một mảy may bóng dáng thừa sót trong tâm thức này, chừng ấy vị tu hành mới biết rằng, thế nào là Đạo Đế của Phật Đạo. Thấy như vậy, Phật Đạo gọi đó là “vị có Trí Tuệ”!

  • Thành tựu Đạo Đế rồi, để phát khởi Thật Trí: Vị này quan sát hết thảy chúng sanh, thấy rằng các hữu tình kia cũng đồng nguồn đạo như ta, chỉ vì họ lầm nhận bốn Niệm Xứ, nên bị bốn món này làm cho điên đảo.

Thấy như thế, vị tu hành này phát khởi Đại Bi Tâm, tìm học các món phương tiện, lúc dùng quyền, lúc dùng thật, lúc nói Ấm, lúc nói Uẩn, lúc nói Xứ, lúc nói Giới, lúc nói Giác, lúc nói Quán.

Để khiến hết thảy chúng sanh cũng được thấy biết như mình, gọi là “thể nhập Thật Trí”. Thể nhập Thật Trí chính là Trung Đạo.

“Trung Đạo chính là con đường Chư Phật, Chư Bồ Tát đã đi, đang đi và sẽ đi”.

Hỏi: Như thế nào gọi là Chư Phật là Chân mà không Đế?

Đáp:

  • Thấy thân này tịnh cùng bất tịnh là Đế.

  • Thấy cảm Thọ này là khổ hay lạc là Đế.

  • Thấy tâm này là thường hay vô thường là Đế.

  • Thấy pháp kia là ngã hay vô ngã là Đế. Khi nào trực nhận ra rằng:

  • Thân này bản chất chẳng tịnh chẳng bất tịnh, thấy như vậy gọi là Chân Tịnh.

  • Thọ này bản chất ra ngoài khổ lạc, gọi là Chân Lạc.

  • Thấy rằng, tâm này bản chất chẳng thường chẳng vô thường, gọi là Chân Thường.

− Thấy rằng, bản chất của các pháp chẳng phải ngã chẳng phải vô ngã, gọi là Chân Ngã.

Chân Thường, Chân Ngã, Chân Lạc, Chân Tịnh là “Chân mà không có Đế” của Chư Phật.

Chân mà không có Đế, chính là sự “trực nhận Thật Tướng”. Sự trực nhận này, không phải thông qua một cơ sở (Đế) nào hết. Ví như chẳng thông qua Thiền, chẳng thông qua Giác, chẳng thông qua Giáo, chẳng thông qua Đạo.

Sự trực nhận mà không thông qua bất kỳ một lăng kính nào hết, gọi là Chân mà không Đế. Nó còn có nghĩa rằng, chẳng nương tựa bất kỳ một thứ gì trên đời để có được thấy biết này.

Hỏi: Phần lớn người tu hành, luôn miệng bảo rằng tu tâm nhưng lại chạy ra bên ngoài để tìm cầu, phân tích, so sánh, suy lường mong có được một sự thành tựu nào đó. Xin hỏi, làm như vậy có thể đạt được điều gì trong Phật Đạo hay không?

Đáp: Xin thưa, những người như vậy, chỉ có thể thành tựu danh tướng mà không thể thành tựu Đạo Tâm.

Có nghĩa rằng, người này nhất định sẽ thành tựu phiền não, mà không thể thành tựu an vui của Niết Bàn.

Hỏi: Không bốn tướng, không tứ cú, không bốn bệnh. Có phải là chỗ tột cùng của Đạo hay không?

Đáp: Những thứ này, là chỗ tột cùng của Đạo. Nhưng chưa phải là chỗ tột cùng của Trí.

Hỏi: Như vậy, Đạo khác Trí hay chăng?

Đáp:

Đạo không khác Trí. Nhưng Đạo chưa phải là Trí. Khi nào có Thật Trí mới biết rằng, Đạo và Trí chẳng phải hai. Nếu ai bảo rằng hai thứ này là một, nhất định lời nói đó đang sai..

 

 

Tác Phẩm Lý Tứ

Tâm Lãnh Chỉ Thú Của Đạo Là Như Thế Nào?

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Nếu người có kiến thức rộng, mà biết bỏ kiến thức xuống, hồi quang phản chiếu để tự Giác Ngộ Bổn Tâm. Sau khi Giác Ngộ, vị này sẽ như hổ mọc thêm cánh, chẳng những nhân cái rộng của kiến thức, đào đến cái thậm thâm của Đạo, vị lai sẽ vô cùng ích lợi cho Đạo Pháp. 

Hỏi: Người tu hành trong Phật Đạo có cần “kiến thức rộng sâu” hay không?

Đáp: Cũng như bất kỳ sự học tập nào trên đời, kiến thức bao giờ cũng cần thiết. Kiến thức càng rộng, người ta càng dễ ứng dụng để đạt thành tựu và phát huy hiệu quả học tập. Tuy nhiên, muốn ứng dụng tốt kiến thức vào việc tu hành, người này phải coi lại những kiến thức mà ta đang sở hữu đã chuẩn, chánh thống và có chánh lý hay chưa. Nếu kiến thức rộng mà không chuẩn, không chánh thống, chưa chánh lý sẽ không giúp ích cho người tu hành thành tựu đạo quả, thậm chí nó trở thành tà kiến khiến người này rơi vào “tà tinh tấn” mà không tự biết.

Hỏi: Làm sao có thể nhận biết kiến thức nào chánh thống và kiến thức nào không chánh thống?

Đáp: Có hai điều để người tu hành nhận ra kiến thức mình đang có là chánh thống hay không.

  • Thứ nhất: Như trong Kinh Di Giáo, Phật đã nhắn nhủ cho đời Một kiến thức được coi là chánh thống, phải căn cứ vào hai điều, đó là Giới Luật và Nghĩa Kinh (lấy Tứ Niệm Xứ làm thầy).

  • Thứ hai: Kiến thức này có giúp ta thối mòn Kiết Sử, có phân định được chánh tà hay không.

Nếu kiến thức nào thỏa mãn được hai điều nêu trên thì tạm coi là chánh thống trong Phật Đạo. Còn cái nào đi ngược lại giới luật, ngược lại tinh thần kinh điển, không giúp người tu hành thối mòn dẫn đến chấm dứt kiết sử thì phải coi lại.

Hỏi: Có khi nào, một người được trang bị đầy đủ kiến thức được coi là chánh thống, có chánh lý lại rơi vào lối tẻ, thậm chí phát sanh tà kiến hay không?

Đáp: Cũng có thể có trường hợp này, ngay dưới thời Phật còn tại thế, chúng ta không nên loại trừ điều này.

Ví dụ như trường hợp Thiện Tinh Tỳ Kheo, Đề Bà Đạt Đa hoặc một vài Tỳ Kheo đệ tử của Phật, ngồi tư duy về mười phạm trù siêu hình rồi phát sinh “tà kiến”

Tuy nhiên, phần lớn người tu hành, nếu được trang bị tốt kiến thức chánh thống, có chánh lý... Kiết Sử dần dần sẽ thối mòn và dẫn đến chấm dứt… người này cảm nhận được một ít thanh tịnh...

Cái còn lại là, nếu không biết rằng kiến thức chỉ giúp họ có được nhận thức ban đầu, nó thuộc về Giác, công dụng dứt Tập... Người đó chấp chặt kiến thức, và coi đây là đạo quả, thì kiến thức bây giờ trở thành tà tinh tấn và vô tình rơi vào lối tẻ, chạy theo tà nẻo mà không tự biết...

Kinh gọi điều này là, “lấy thức làm ta, làm ngã của ta, làm tự ngã của ta”. Có nghĩa rằng, vì chấp chặt nên kiến thức trở thành thức ấm (lấy thức làm ta), kiến thức trở thành uẩn (lấy thức làm ngã của ta), kiến thức trở thành đạo quả (lấy thức làm tự ngã của ta).

Kinh Đại Thí Dụ Lõi Cây 1, Phật cũng nhắc nhở rằng, không được coi tri kiến có được là sự thành tựu tối thượng, ví như người đi tìm lõi cây mà chỉ đem về giác cây.

Vì thế, cho dù đó là kiến thức chuẩn, chánh thống, có chánh lý. Nhưng kiến thức luôn luôn là con dao hai lưỡi, nếu biết vận dụng, kiến thức sẽ giúp ích rất nhiều trong việc tu học và giáo hóa. Còn nếu, không thấy được một số mặt hạn chế của kiến thức, chấp chặt kiến thức, hoặc vận dụng sai, kiến thức bây giờ trở thành “tảng đá bít lối vào cửa đạo”.

Câu nói của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn với Đại Sư Thần Tú, được coi là tiếng chuông cảnh báo cho người sau:

“Ông làm kệ này cũng chưa thấy Tánh, chỉ đến ngoài cửa, chưa vào trong, đem kiến thức để kiến giải như thế, hầu tìm Vô Thượng Bồ Đề chẳng thể được. Vô Thượng Bồ Đề phải là, khi vừa nghe nói liền nhận ra Bổn Tâm (không dùng kiến thức để suy hiểu), thấy rõ Bản Tánh, chẳng sanh chẳng diệt. Trong tất cả các thời, niệm niệm tự thấy, chẳng kẹt vào vạn Pháp (kiến thức), nhứt chân nhứt thiết chân. Đối trước cảnh duyên tâm tự như, cái tâm như như mới là chân thật. Nếu thấy như thế, tức Vô Thượng Bồ Đề của Tự Tánh. Nay ông tạm đi ra, suy nghĩ một vài ngày nữa, làm bài kệ khác cho ta xem, nếu kệ ông vào được cửa thì ta sẽ truyền trao y Pháp”.

Xét về kiến thức, Lục Tổ Huệ Năng không bằng một phần nhỏ của Đại Sư Thần Tú. Tuy từng là một giáo thọ, từng giảng thuyết cho nhiều người tu hành trong nhiều năm tháng, lại có tiếng văn hay chữ tốt, nhưng Thần Tú không qua được cái ải “bỏ kiến thức xuống” để quay lại tâm này, mà chỉ chạy rong trong mớ kiến thức, cuối cùng cũng chỉ là “người đứng ngoài cửa đạo”.

Hỏi: Như vậy có thể nói, người ít kiến thức dễ Giác Ngộ hơn người nhiều kiến thức hay không?

Đáp: Giác Ngộ, không luận kiến thức ít hay nhiều. Mà, Giác Ngộ thuộc về những ai “tâm lãnh chỉ thú của Đạo”. Không tâm lãnh được chỉ thú của Đạo, cho dù kiến thức nhiều hay ít đều phải dừng lại ở cửa tâm vậy.

Hỏi: Xin hỏi “tâm lãnh chỉ thú của Đạo” là như thế nào?

Đáp: Tâm lãnh chỉ thú của Đạo là vị này phải biết “nhất thiết Phật ngữ tâm” tức là, tất cả Giáo Pháp chỉ nói đến tâm này.

Người có kiến thức, hãy bỏ kiến thức xuống. Người chưa có kiến thức, mau mau tìm hiểu, để biết rằng thế nào là tâm, thế nào là pháp, thể nào là cảnh, thế nào là vật.

Một lòng một dạ quay lại tâm này, không nương tựa bất kỳ một thứ gì trên đời để sinh ngã, không nương tựa bất kỳ một thứ gì trên đời này để sinh tâm, không tìm cầu nơi thế gian để sinh pháp.

Không chạy ra bên ngoài, không chạy theo kiến thức, chỉ quay lại tâm này suy xét đến cùng tột, coi xem vì đâu hư vọng phát sanh, vì đâu cái ngã nó hiện. “Phản Quan Tự Kỷ” đến cùng tột như vậy, nhất định sẽ thấy cái cần thấy.

Hiểu và thực hành như thế, gọi là người “tâm lãnh chỉ thú của Đạo”.

Hỏi: Một người không Giác Ngộ, chỉ toàn kiến thức và kiến thức. Có giúp ích gì nhiều cho bản thân và Đạo Pháp hay không?

Đáp: Tất nhiên là có, nhưng lợi ích không nhiều. Như đã nói ở các phần trước, kiến thức thuộc về Giác, nó chỉ giúp người tu hành thối mòn kiết sử, thấy được một chút thanh tịnh.

Người kiến thức nhiều nếu không Giác Ngộ chỉ dừng lại ở chừng mực cái biết của kiến thức, người này khó có thể tiến xa hơn trong Đạo Pháp. Giống như người biết trong vườn nhà có khối vàng lớn mà không ra công đào bới để lấy khối vàng làm lợi cho mình, cho người, như vậy chẳng phải là việc đáng tiếc hay sao?

Ngược lại, nếu người có kiến thức rộng, mà biết bỏ kiến thức xuống, hồi quang phản chiếu để tự Giác Ngộ Bổn Tâm. Sau khi Giác Ngộ, vị này sẽ như hổ mọc thêm cánh, chẳng những nhân cái rộng của kiến thức, đào đến cái thậm thâm của Đạo, vị lai sẽ vô cùng ích lợi cho Đạo Pháp

Hỏi: Có thể nói, người kiến thức nhiều mà không Giác Ngộ Bổn Tâm có phải chỉ dừng lại ở khả năng của một Giáo Thọ?

Đáp: Người có kiến thức nhiều mà không Giác Ngộ Bổn Tâm, chỉ dừng lại trong chừng mực của một giáo thọ.

Vì rằng, người không Giác Ngộ Bổn Tâm, không thể thành một Pháp Sư do chẳng thấy tâm người. Một khi không biết tâm người, “các pháp được thuyết ra dễ phát sinh lỗi lầm, mang tính dàn trải, không có trọng tâm, đánh bao vây, thiếu thực tế, làm cho người nghe tán tâm hơn là nhứt tâm”.

Hỏi: Cũng kiến thức đó, nếu vào tay người Giác Ngộ, thì nó sẽ như thế nào?

Đáp: Cũng kiến thức đó, nếu vào tay người Giác Ngộ, sẽ có ba điều lợi lớn:

  • Thứ nhất: Người có Giác Ngộ thấy được Thật Tướng nên từ những kiến thức đã có, vị này nhân thấy Thật Tướng nhất định sẽ đào sâu kiến thức đến vô tận. “Biến kiến thức trở thành Chân Giáo” gọi là “từ bi”. Giống như người có tài sản lớn lại biết dùng tài sản đó giúp đỡ người nghèo khó, vĩnh viễn thoát khỏi đói nghèo.

  • Thứ hai: Người có Giác Ngộ biết rõ tâm người. Chiều rộng kiến thức và chiều sâu Thật Tướng sẽ giúp người này tuyên thuyết “không phi thời”. Nhờ tuyên thuyết không phi thời nên người nghe mau chóng Giác Ngộ. Giống như người giàu có lại thêm trí tuệ, biết giúp người nghèo phát huy sở trường của mình, để thành công trên đời bằng chính năng lực của họ.

  • Thứ ba: Người Giác Ngộ lại có kiến thức nhiều... Người này có năng lực giáo hóa mọi tầng lớp, mọi giai cấp... Giống như người đã giàu, lại thêm địa vị .. Có thể khiến nhiều người quy thuận...

Tóm lại, yêu cầu của Phật Đạo là: “Người tu hành phải mở cho được cánh cửa Đạo Pháp”. Khi nào mở được cánh cửa Đạo bước vào trong đó, bây giờ mới có thể biến mọi kiến thức trở thành Phật Pháp, đúng như tinh thần Kinh Kim Cang “Nhất thiết pháp, giai thị Phật Pháp”.

Chừng nào, chưa mở được cửa này thì cho dù có bao nhiêu kiến thức cũng chỉ là kiến thức. Ngoài kia, người ta giàu kiến thức đời, ở đây giàu kiến thức Đạo. Xét ra, không khác xa nhau là mấy.

Hỏi: Tôi nghiền ngẫm lời dạy của Ngũ Tổ với Đại Sư Thần Tú nhiều ngày tháng. Lời dạy thật là thắm thiết, tuy có chút trách móc, “nhưng trong lời dạy này, Ngũ Tổ vẫn mong muốn cho đồ đệ của mình nhận ra điều gì đó đích thực của Đạo”. Ngặt nỗi, Thần Tú không thể vượt qua cái ải kiến giải của bản thân, mà lấy kiến giải khóa chặt cửa Đạo.

Xin hỏi, ông có cảm nhận gì về những điều Ngũ Tổ đã nói?

Đáp: Cầu mong, mọi người tu hành đều có thể “lãnh hội chỉ thú của Đạo”, Đạo pháp đang cần những người như thế.

Hãy “mau chóng Giác Ngộ”, Giác Ngộ là vì tất cả mọi người, chứ không phải vì bản thân này.

“Yết đế, Yết đế, Ba la yết đế, Ba la tăng yết đế, Bồ đề Tát bà ha.”

---------------------

  1. Kinh Đại Dụ Lõi Cây: là bài kinh Phật chỉ cách đi tìm lõi cây “giải thoát bất động”.
Tác Phẩm Lý Tứ

Vì Sao Nói Rằng Bất Thức Bổn Tâm Học Pháp Vô Ích?

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Học pháp, hay tu hành trong Phật Đạo là để chấm dứt tâm mê, một khi chưa thấy Bổn Tâm thì tâm mê chưa dứt. Giống như người ngủ chưa thức giấc thì sẽ chưa hoàn toàn hết chiêm bao. Tu học mà không giải quyết được điều cần giải quyết đó là dứt mê, dứt suy lường thì sự tu học này vô ích.

Hỏi: Vì sao nói rằng, cái biết của suy lường thuộc về tri, chỉ: “Quan trọng ở giai đoạn chưa ngộ (chưa thấy Bổn Tâm, Bổn Tánh)”?

Đáp: Như trên đã nói, cái biết của tri chỉ đưa đến chấm dứt Kiết Sử, giúp người phân định chánh tà, thoát khỏi tà kiến, tạm thấy một chút thanh tịnh. Giống như nước đã lóng trong bởi phèn. Nếu ta tiếp tục cho phèn vào nước, nước này chẳng những không thêm trong mà trở thành nước nhiễm phèn, không thể dùng được.

Khi người ta dùng Giác để tri, đến giai đoạn tối hậu, Kiết Sử không còn hiện khởi. Nếu người này không chịu dừng tri, chấm dứt suy lường, tịch diệt suy hiểu, cứ tiếp tục Giác Quán, chẳng khác nào cho phèn vào nước đã trong.

Bây giờ, những hiểu biết đã có chính là sở tri, thành chướng đạo, gọi là “Sở Tri Chướng”. Một khi chướng này chưa dứt, sẽ không có cơ hội thấy được Bổn Tâm. Mà Bổn Tâm không thấy thì sẽ như điều Ngũ Tổ dặn dò Lục Tổ: “Bất thức bổn tâm, học đạo vô ích”.

Gọi là Sở Tri Chướng, ngoài việc chướng này che khuất Bổn Tâm, nó còn là nguyên nhân sanh ngã, vì lầm tưởng “kiến thức là đạo” và cho rằng, đạo nằm ở kiến thức. Thứ nữa, đây là giai đoạn mà người tu hành dễ bị đánh lừa bởi Tri và Trí. Do lầm nhận hai thứ này nên tâm không thể dừng, pháp không thể đoạn và ngã không thể tịch diệt.

Hỏi: Vì sao thấy Bổn Tâm lại quan trọng trong Phật Đạo đến như vậy?

Đáp: Giống như người đi tìm vàng, tìm được vàng là quan trọng nhất.

Hỏi: Thấy Bổn tâm khác với biết Bổn Tâm như thế nào?

Đáp: Người tu hành biết rằng, ta có một Bổn Tâm, cái biết này chỉ thuần túy là cái biết. Biết này thuộc về sở tri, tức là người này do nghe nói rồi suy hiểu về một Bổn Tâm nào đó đang hiện hữu trong ta.

Giống như nghe nói trong vườn nhà mình có khối vàng lớn do cha ông chôn giấu, người này tìm hiểu, suy luận, để biết về khối vàng trong vườn nhà mình là có thật mà không tự khai quật, để sở hữu khối vàng kia.

Vì thế, người này chỉ biết rằng có, mà trong tay chưa thật sự cầm nắm. Chính chưa thật sự sở hữu khối vàng nên người này vẫn tiếp tục suy lường về khối vàng.

Đây là lý do vì sao “người chưa thật sự Giác Ngộ Bổn Tâm, không thể dừng Giác Quán”.

Người thấy được Bổn Tâm, giống như người đã sở hữu khối vàng. Khi đã sở hữu được rồi, nhất định mọi suy lường về khối vàng sẽ tự tịch diệt trong lòng người đó. Thấy được Bổn Tâm giống như người sở hữu khối vàng, mọi suy hiểu, mọi Giác Quán, sẽ tự tịch diệt.

Hỏi: Câu nói của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn: “Bất thức bổn tâm, học pháp vô ích” chỉ đề cập đến biết (thức) Bổn Tâm, chứ không nói đến thấy Bổn Tâm. Vì sao, nay lại yêu cầu người tu hành phải thấy (kiến) Bổn Tâm?

Đáp: Khi nói rằng: “Bất thức bổn tâm, học pháp vô ích”. Chữ thức ở đây phải hiểu đó là cái biết của thấy rõ, còn gọi là ngộ chứ không phải chỉ thuần túy là cái biết do nghe nói. Vì rằng do nghe nói mà biết chứ không thực thấy, cái biết này không có giá trị tu hành. Hết thảy người tu hành đều nghe nói mình có Bổn Tâm, có Phật Tánh, nhưng chỉ nghe nói không thôi và chỉ biết như thế. Cái biết này không được coi là một thành tựu trong Phật Đạo. Vì cái biết như thế, chẳng thể giải quyết mê tâm và sanh tử khổ.

Hỏi: Vì sao lại nói rằng “Bất thức Bổn Tâm, học pháp vô ích”?

Đáp: Học pháp, hay tu hành trong Phật Đạo là để chấm dứt tâm mê, một khi chưa thấy Bổn Tâm thì tâm mê chưa dứt. Giống như người ngủ chưa thức giấc thì sẽ chưa hoàn toàn hết chiêm bao. Tu học mà không giải quyết được điều cần giải quyết đó là dứt mê, dứt suy lường thì sự tu học này vô ích.

Hỏi: Câu “nhược thức tự bổn tâm, kiến tự bổn tánh, tức danh trượng phu, thiên nhân sư, Phật” hàm chứa ý nghĩa gì?

Đáp: Câu này nhằm chỉ ra rằng, vị tu hành nào sau khi Giác Ngộ Bổn tâm có thể dùng Bổn Tâm (chứ không dùng suy hiểu) để biết. Dùng Bổn Tánh (Tánh Giác) chứ không dùng nhãn kiến để thấy. Vị này được gọi là trượng phu.

Hỏi: Dùng Bổn Tâm để biết, dùng Bổn Tánh để thấy khác với cái biết của suy hiểu và cái thấy của nhãn kiến như thế nào?

Đáp: Hai thứ thấy biết này khác nhau rất xa. Thấy biết của Giác Ngộ là thấy biết từ sự trực nhận tức thì của Trí Tuệ, còn cái biết của người chưa

Giác Ngộ là cái biết của suy lường, suy hiểu và kinh nghiệm.

Vì thế khi yêu cầu đệ tử trình kệ, Ngũ Tổ nói rằng:

“Sanh tử là việc lớn, các ngươi suốt ngày chỉ cầu phước điền, chẳng cầu lìa khỏi biển khổ sanh tử, tự tánh nếu mê, phước làm sao có thể cứu được? Các ngươi mỗi người hãy tự xem trí huệ, dùng bổn tâm để biết, dùng Bát Nhã của tự tánh để thấy, mỗi người làm một bài kệ trình cho ta xem, nếu ngộ được đại ý, thì ta sẽ trao truyền y bát cho làm Tổ thứ sáu; hãy mau lên không được chậm trễ, hễ lọt vào suy lường thì chẳng dùng được. Người kiến tánh vừa nghe phải liền thấy (và biết) nếu được như vậy thì khi ra trận giữa đao kiếm cũng phải thấy được”.

Hỏi: Trước đây có nói, người Giác Ngộ Bổn Tâm, thấy Bổn Tánh, có thể trực nhận để biết tâm người, vì thế vị này có năng lực “truyền tâm”. Xin hỏi, dựa trên cơ sở nào để có sự trực nhận này?

Đáp: Bổn Tâm là cơ sở tham chiếu. Bổn tánh là công cụ tham chiếu. Hồ tâm giống như hồ nước. Hồ bên này có trong thì mới biết hồ bên kia trong hay đục. Hồ bên này có tĩnh lặng thì mới biết hồ bên kia còn nổi sóng hay không. Hồ bên này có thật sâu thì mới biết hồ bên kia sâu hay cạn.

Tâm và Tánh chính là cơ sở tham chiếu để có một trực nhận tức thì và chuẩn xác. Cơ sở tham chiếu này không giống cách đánh giá từ suy lường hay kinh nghiệm của người chưa Giác Ngộ.

Hồ nước trong dụ cho Bổn Tâm thanh tịnh. Hồ tĩnh lặng dụ cho bất động tịch diệt, chấm dứt suy lường. Hồ sâu cạn dụ cho sức chiếu của Bổn Tánh (Tánh Giác). Muốn thấy biết tâm người từ một sự trực nhận tức thì và chuẩn xác phải hội đủ ba điều kiện nêu trên.

Hỏi: Đối với tâm người, trực nhận như thế... Còn đối với ý nghĩa kinh điển và giáo pháp... có dùng sự trực nhận này hay phải dùng suy luận để hiểu?

Đáp: “Nhất thiết Phật ngữ tâm” có nghĩa hết thảy kinh điển và giáo pháp, Phật đều nói đến tâm, chứ không nói việc khác. Vì thế đối với kinh điển hay giáo pháp, người Giác Ngộ đều dùng Bổn Tâm Bổn Tánh để hiểu, để biết, để thấy, không phải thông qua suy lường hay suy luận. Vì rằng, chỉ cần khởi một niệm suy lường, một thoáng suy luận, thì tâm và tánh liền bị chướng bởi sở tri, không thấy được ý nghĩa đích thực của đoạn kinh hay lời pháp.

Hỏi: Muốn Giác Ngộ Bổn Tâm, Kiến Bổn Tánh, người tu hành có cần học tập kinh điển hoặc giáo pháp hay không?

Đáp: Chưa thành Đẳng Chánh Giác thì nhất định phải học. Nhưng, nếu muốn thật sự Giác Ngộ, vị này phải là người không chấp chặt kiến thức, không để kiến thức trở thành Sở Tri Chướng. Tức là, vị này phải biết xả bỏ kiến thức, phải thật sự nhận ra rằng, kiến thức chẳng phải là đạo, đạo chẳng từ nơi kiến thức.

- Không nương tựa vào kiến thức để suy luận về các đạo quả trong Phật Đạo.

- Cần nhất là từ bỏ suy lường, xa rời suy luận, tịch diệt đối đãi, trong lòng không có ngã nhân. Một lòng một dạ dấn thân thành tựu cho bằng được các đạo quả đó.

Tác Phẩm Lý Tứ

Kiến Giải Giác Trí Huyễn Trí Thật Trí Giác Ngộ Diệt Đế, Thành Tựu Hai Vô Ngã Là Gì?

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Giác Trí, Huyễn Trí và Thật Trí là ba thứ Trí tuần tự, đại diện cho ba tầng bậc tu hành trong Phật Đạo... Người chứng Diệt đế viên mãn thay Giác bằng Chánh Kiến, tức một cái thấy chân thật, thay Quán bằng Chánh Tư Duy có nghĩa như cái thật thấy kia mà sinh hiểu biết.

Hỏi: Trong Phật Đạo, để chỉ cho thấy (kiến) và biết (tri), ta hay gặp những từ ngữ thuộc về tri như Giác Tri, Tưởng Tri, Tuệ Tri. Những từ ngữ thuộc về kiến như Kiến Bổn Tâm, Kiến Bổn Tánh, Kiến Phật Tánh. Có những từ ngữ gồm cả hai từ này như Phật Tri Kiến, Bồ Tát Tri Kiến. Xin hỏi, ba nhóm từ này giống hay khác nhau, nó có ý nghĩa gì đại diện cho sự tu tập?

Đáp: Về hai từ tri và kiến, ta có thể hiểu, đây là hai từ ngữ nhằm chỉ cho các cấp độ tu học trong Phật Đạo.

  • Chữ tri (biết), nhằm chỉ chung cho thấy biết của những người đang trên đường hướng về Giác và thuộc về Giác. Tri, là cái biết được hình thành do nhận thức, do học tập, do kinh nghiệm, do khả năng suy hiểu. Kết quả cao nhất của tri, là đưa người tu hành đến bờ mé (gần) của Diệt Đế.

Vì thế, ta thường hay bắt gặp những từ ngữ liên hệ đến tri trong Kinh Nikaya. Ví dụ như: Tưởng Tri, Thắng Tri, Tuệ Tri, Liễu Tri.

  • Chữ kiến (thấy), phần lớn được sử dụng trong các Kinh Đại Thừa. Chữ kiến (thấy) ở đây, được chỉ cho một “cái thấy” đặc biệt nào đó của những người tu tập đã Giác Ngộ Diệt Đế trở lên... Chữ kiến (thấy) trong Kinh Đại Thừa, không phải là sự kế thừa của kinh nghiệm, của học tập, của suy hiểu (để biết) như tri mà còn là một “khả năng đặc biệt của sự trực nhận tức thì”. Ví dụ như Thấy Bổn Tâm, Thấy Bổn Tánh, Thấy Tánh, Thấy Phật Tánh.

  • Chữ Tri Kiến (thấy biết) để chỉ chung cho hai khả năng thấy và biết xảy ra đồng thời, hoặc nhân thấy mà biết, hoặc nhân biết mà thấy của những vị tu hành sau khi rốt ráo chứng Diệt Đế hoặc bước vào Đạo Đế.

Giống như một người “với đôi mắt sáng” có ba trường hợp thấy biết xảy ra.

  • Thứ nhất, thấy biết rất rõ một đối tượng (cảnh giới) trước mắt. Chỉ cho người Giác Ngộ rốt ráo, thấy Phật Tánh (Pháp Thân, Phật Trí).

  • Thứ hai, thấy rõ một đối tượng (cảnh giới) từ xa, sau đó đến gần mới biết cụ thể. Chỉ cho người thấy Tánh Giác (hay Bổn Tâm, Tự Tánh).

  • Thứ ba, vị này biết rõ có một đối tượng (cảnh giới) nào đó, ở một vị trí nào đó, và người này đi về phía đối tượng để thật thấy đối tượng này. Giống như các A La Hán (đã chứng hóa Niết Bàn) được khai Phật Tri Kiến trong Kinh Pháp

Cả ba trường hợp này đều thuộc về những người sáng mắt, tức đã chứng hoặc thấy Diệt Đế, chấm dứt hai thứ vô minh là Nhuận Chi Vô Minh và Căn Bản Vô Minh. Và hoàn toàn không thuộc về những người tu tập còn trong giới hạn của biết (tri).

Hỏi: Như vậy có thể nói rằng, Tưởng Tri, Thắng Tri, Tuệ Tri, Liễu Tri là các tầng hiểu biết thuộc về quá trình Giác. Muốn chấm dứt cái biết của tri, để thật sự thấy rõ bằng cái thấy của kiến, người này phải thật sự Giác Ngộ Diệt Đế, thành tựu hai Vô Ngã?

Đáp: Đúng như vậy. Muốn chấm dứt cái biết của tri, người này phải thật sự Giác Ngộ.

Vì rằng, chỉ sau khi Giác Ngộ, vị này thấy rõ (thật kiến), bây giờ mọi suy luận để biết mới chấm dứt và cái biết nhân thấy được (tri kiến) mới là một thấy biết tường tận.

Ví dụ, khi thấy rõ cái đèn trước mặt, người này không cần suy luận (tuệ tri) hay hình dung ra (tưởng tri) để kết luận (liễu tri) cái đèn đó là như thế nào.

Từ Tưởng Tri đến Thắng Tri rồi Tuệ Tri và cuối cùng là Liễu Tri là quá trình hình thành thông qua nhận thức, học tập và kinh nghiệm để biết. Cái biết này do học tập, do hình dung, do suy luận, để có một kết luận như thật chứ nó chẳng phải là thật.

Vì thế, trong Kinh Nikaya hay có cụm từ “như thật tuệ tri”, hay “vị ấy liễu tri”. Điều này có nghĩa rằng, vị tu hành này, nhân học tập, nhân nghe nhiều đọc nhiều, nhân giỏi suy luận, nhân hình dung (tưởng trong thiền định) mà biết chứ chưa thật thấy biết.

Ngài A Nan khi chưa thật sự Giác Ngộ, không được tham dự kết tập kinh là một ví dụ minh họa cho những gì thuộc về tri mà không kiến (còn nhiều lỗi lầm đối trước chân lý vì chưa thấy rõ).

Trong Phật Đạo, để chỉ cho sự biết mà chưa thấy, người ta dùng hai từ “Kiến Giải”.

Tức là lấy ý kiến (hiểu biết, kinh nghiệm) cá nhân để giải thích một vấn đề, chứ không phải y cứ vào chân lý (cái thấy như thật) để giải thích vấn đề đó. Cho nên, có thể nói, những gì thuộc về Kiến Giải phần lớn mang nặng chiều rộng nhưng không sâu, tức là cái gì cũng biết, nhưng không cái nào biết thấu đáo. Vì thế, cái biết của Kiến Giải thường đưa đến tranh luận, không thống nhất.

Hỏi: Cái biết của Kiến Giải thuộc về tri. Cái biết của thực chứng thuộc về thấy. Hai cái biết này khác nhau cụ thể như thế nào?

Đáp: Kiến Giải dùng kiến thức, chiều rộng để chứng minh, rồi sau đó mới đưa đến kết luận. Thực chứng “thấy sự việc (cảnh giới) trước”, sau đó (nếu cần) mới chứng minh để khẳng định rằng, cái thấy này là đúng.

- Trong tu tập, Kiến Giải hay hiểu biết của tri, chỉ là những hiểu biết gần giống với chân lý, chứ chưa phải là chân lý, vì không thật thấy nên những người tu tập còn trong phạm vi này, “tâm chưa thật sự dừng, pháp chưa thật sự dứt, ngã chưa thật sự tịch diệt”. Vì thế, không đưa đến nhiều lợi ích thiết thực cho mình, cho người. Cụ thể, họ chỉ có thể dùng sức rộng để “truyền pháp”, chứ không thể ứng dụng chiều sâu để “truyền tâm”.

- Đôi khi, chính sức rộng làm hỏng tâm người do không biết cách hộ trì. Tức là tuyên thuyết những điều không thật sự lợi ích trong “một tâm cơ đặc biệt” vào một thời điểm đặc biệt.

Vì thế, xưa nay trong Phật Đạo, những người vừa mới Giác Ngộ, thường phải chịu sự giám sát đặc biệt của người khai thị. Người vừa Giác Ngộ không được gần gũi hoặc chung sống trong chúng, để tránh bị hư tâm do nghe được các Kiến Giải không hợp thời và bị các Kiến Giải này chi phối. Ta thường hay nói nôm na là uống lộn thuốc.

֎ Bậc thấy rõ (thực chứng) sẽ lần lượt thấy những điều cần thấy. Đến mức độ tu tập nào đó, vị này có năng lực thấy được tâm người, vì thế họ có khả năng “khai thị để truyền tâm” và biết cách phòng hộ cho người tu tập. Khi truyền pháp, những pháp họ thuyết ra, giống như thuốc chữa bệnh, khiến người dừng tâm cho đến tịch diệt vĩnh viễn tâm, pháp, ngã.

- Tóm lại, tri và kiến là hai thứ hiểu biết có khoảng cách rất xa với nhau trong Phật Đạo. Và những vị tu hành chỉ thành tựu tri thì không thể biết được những hiểu biết của một bậc đã kiến thấy gì, hiểu gì. Ngược lại, vị thành tựu kiến thấy rất rõ hiểu biết của hàng tri. Và cứu cánh cuối cùng của Phật Đạo tức là “cái thấy của Trí Tuệ” chứ không phải sự suy luận của Tuệ Tri hay cao hơn là Liễu Tri để đưa đến một Tuệ Trí hay Giác Trí của Giác.

Hỏi: Như vậy có phải Giác Trí, Huyễn Trí và Thật Trí là ba thứ Trí tuần tự, đại diện cho ba tầng bậc tu hành trong Phật Đạo?

Đáp:

  • Giác Trí thuộc về tri, một loại nhận thức thông qua sở tri để biết, tức lấy sở làm năng.

  • Huyễn Trí thuộc về năng tri, năng này không sở, và chưa viên.

  • Thật Trí tự thân không năng sở nhưng vì Từ Bi nên lấy sở (mê) làm năng (giác), nên gọi là Đại Giác.

Hỏi: Biểu hiện của ba thứ Trí này là như thế nào?

Đáp:

Thành tựu Giác Trí: Vị này cảm thấy thanh tịnh, trong lòng không hiện khởi Kiết Sử có sức tự tại về ngôn thuyết trong chừng mực của Kiến Giải, không thể hiện được chân lý.

Thành tựu Huyễn Trí: Biết được Bổn Tâm, Kiến được Bổn Tánh, có chút Trí Tuệ. Có thể từng bước khai thị giúp người cho đến viên mãn Diệt Đế, nhưng chưa thể dạy người Đạo Đế.

Thành Tựu Thật Trí: Giúp người thành tựu Đạo Đế và Thật Đế.

Hỏi: Có khi nào, người tu hành nhầm lẫn giữa tri và kiến hay không?

Đáp: Đây là sự nhầm lẫn thường xuyên của những người thành tựu tri. Giống như người nhầm lẫn mặt trăng dưới nước là mặt trăng thật. Trừ người thấy rõ mặt trăng thật trên trời mới không có sự nhầm lẫn này.

Hỏi: Sự nhầm lẫn này, có hại gì trong việc tu tập?

Đáp: Như trên đã trình bày, người chỉ thành tựu tri, lấy sở làm năng, nên không thể Giác Ngộ chân thật, do lỗi tưởng đủ, biết khắp. Bao giờ vị này không còn nương tựa nơi sở pháp để sinh tâm, sinh ngã. Biết rõ sở kiến này chỉ là thứ “trăng trong nước”, chấp nhận từ bỏ sở kiến, ngước mặt nhìn lên trời, để một phen thấy được “mặt trăng thật” không giống như “mặt trăng của Kiến Giải”. Một lần nữa, đoạn kinh sau chỉ ra tất cả:

“Pháp Thân (Phật Tánh, Phật Trí) chẳng thể dùng kiến văn giác tri để cầu... Vì Pháp Thân chẳng thuộc về sở kiến của nhục nhãn, vì Pháp Thân là vô sắc... Nó cũng chẳng phải sở kiến của thiên nhãn, vì vô vọng... Chẳng phải sở kiến của huệ nhãn, vì lìa tướng... Chẳng phải sở kiến của pháp nhãn, vì lìa chư hành... Chẳng phải sở kiến của Phật nhãn, vì lìa chư thức... Nếu chẳng dùng những cái thấy kể trên để tìm cầu, thì người tu hành (may ra) có thể cảm nhận Pháp Thân qua Phật Tri Kiến (tức là những gì mà văn tự, ngữ ngôn có thể hiển bày)...”.

Hỏi: Như vậy, cái biết của Giác (thuộc về tri) có quan trọng trong Phật Đạo hay không?

Đáp: Quan trọng ở giai đoạn chưa ngộ (chưa thấy Bổn Tâm, Bổn Tánh). Vì sau khi thấy được Bổn Tâm, thấy được Bổn Tánh, vị này sẽ “lấy cái thấy để biết” chứ không còn suy luận để biết.

Vì thế mới nói, người thành tựu Diệt Đế, vĩnh viễn chấm dứt Giác Quán”.

Người chứng Diệt đế viên mãn thay Giác bằng Chánh Kiến, tức một cái thấy chân thật, thay Quán bằng Chánh Tư Duy có nghĩa như cái thật thấy kia mà sinh hiểu biết.

Điều này, vượt quá sức suy hiểu của Giác Tri.

Tác Phẩm Lý Tứ

Nhận Biết Vô Minh Trụ Địa, Tám Tánh Chất Thường Hằng Của Phật Tánh Như Thế Nào?

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Còn một điều gì chưa biết, chưa thấy, chưa chứng thì biết chắc rằng Vô Minh Trụ Địa còn lẩn khuất đâu đó trong tâm và trí này. 

Hỏi: Nếu bảo rằng, thấy Thật Tướng gần như cái thấy sau cùng của Phật Đạo thì học Nhất Thiết Trí để thấy cái gì?

Đáp: Thấy Thật Tướng gần như cái thấy sau cùng của Phật Đạo có nghĩa rằng cái thấy này “chỉ gần như sau cùng”, chứ chưa phải là cái thấy sau cùng.

Vì sao gọi là gần như sau cùng?

Giống như một người trong đêm tối, phát hiện ra ngọn đèn đằng xa. Tuy rằng, vị này có nhìn thấy ngọn đèn nhưng thực chất còn cách ngọn đèn rất xa. Vì thế bóng dáng của ngọn đèn đã thấy, nhưng cụ thể ngọn đèn như thế nào thì vị này chưa biết chắc, cho nên tạm gọi đây là cái thấy sau cùng, chứ chưa phải cái thấy chân thật.

Học Nhất Thiết Trí chính là từng bước tiến về gần cây đèn hơn. Người này tiến dần đến bao giờ “cầm ngọn đèn Thật Tướng” trên tay, bây giờ mới gọi là “rốt ráo thấy Thật Tướng”.

Trước đây có nói “dùng Tánh Giác để thấy Thật Tướng”. Câu nói này ngụ ý giống như một người từ xa thấy ngọn đèn, chứ chưa phải thật sự sở hữu ngọn đèn. Cách nói này trong Phật Đạo gọi là “từ nhân nói về quả”, giống như thấy người gieo mạ, nói rằng có lúa, mặc dù trong hiện tại, người này chưa gặt lúa.

Vì sao lại nói như vậy? Vì rằng Tánh Giác là nhân, Phật Tánh là quả, nên người thấy được nhân là Tánh Giác, vị lai sẽ thấy được quả là Phật Tánh.

Hỏi: Những gì thuộc về Vô Minh Trụ Địa?

Đáp: Còn một điều gì chưa biết, chưa thấy, chưa chứng thì biết chắc rằng Vô Minh Trụ Địa còn lẩn khuất đâu đó trong tâm và trí này.

Hỏi: Xin cho biết cụ thể những gì người tu hành cần biết, cần thấy, cần chứng để chấm dứt Vô Minh Trụ Địa?

Đáp: Có rất nhiều điều trong Phật Đạo mà người tu hành chưa biết, chưa thấy, chưa chứng.

Có thể đơn cử như: Thật Pháp chưa biết, Thật Tướng chưa thấy, Thật Trí chưa chứng.

Vì sao chỉ đơn cử ba điều này? Vì rằng:

  • Nếu biết Thật Pháp, vị này sẽ thông thuộc Phật Tri Kiến.

  • Nếu thấy Thật Tướng, vị này đồng cái thấy của Chư Phật.

  • Nếu chứng Thật Trí, thì vị này sẽ tuyên thuyết như Chư Phật.

Nói chung có vô số cái “thật” của Phật Đạo, mà một người tu hành khó có thể thấu suốt hết.

- Vì thế mới nói: “Còn một điều gì chưa biết, chưa thấy, chưa chứng thì biết chắc rằng Vô Minh Trụ Địa còn lẩn khuất đâu đó trong tâm và trí này.”

Hỏi: Vì sao nói, tám tính chất Từ, Bi, Hỷ, Xả, Thường, Ngã, Lạc, Tịnh là quả của Phật Tánh?

Đáp: Nói tám tánh chất này là quả của Phật Tánh bởi vì chỉ có Phật Tánh mới có đầy đủ tám tánh chất thường hằng này. Ví như mặt trời mới có đầy đủ những tánh chất đặc biệt thường hằng của nó, còn các thứ ánh sáng khác không đầy đủ những tánh chất như vậy. Vì thế, Kinh Niết Bàn mới nói, “Bồ Tát chỉ thấy một số phần trong tám phần này.”

Hỏi: Những dấu hiệu nào cho thấy đây là những tính chất của Phật Tánh?

Đáp: Giống như khi nào người ta chạm tay vào lửa, thì mới biết thật rằng, các tính chất của lửa là như thế nào.

Hỏi: Phật Tánh có đầy đủ tám tính chất thường hằng của nó như đã nêu trên. Như vậy, một người tu hành trong Phật Đạo khi thấy một vài tính chất hiện lên trong lúc tu hành có phải đó là những tính chất của Phật Tánh hay không?

Đáp: Phật dạy: “Hết thảy chúng sanh đều có Phật Tánh”. Lời dạy này chứa hàm ý, bất kể một chúng sanh nào, có tu hành cùng không tu hành, trong sâu thẳm của họ đều có đầy đủ những tính chất như một Đức Phật. Nhưng vì sao những tính chất này không hiện? Nếu ta suy xét tận cùng của nguyên nhân này thì người tu hành sẽ biết cách làm thế nào để những tính chất tốt đẹp đó hiện lên.

- Tu hành trong Phật Đạo chính là làm cho sự nhiễm ô trong tâm tánh một chúng sanh ngày một giảm đi để đến lúc nào đó, nhiễm ô không còn nữa, chừng ấy Phật Tánh sẽ hiện rõ.

 Vì thế, trong bất chợt nào đó, bất kỳ một chúng sanh nào hư vọng tâm, hư vọng tánh bỗng dưng tịch diệt, lúc đó người này sẽ tự nhận ra vài tính chất tốt đẹp từ tâm tánh bản nhiên hiện khởi.

Nhưng vì sao, tâm tánh bản nhiên không hiện khởi thường xuyên?

Chỉ vì tính chất vô thường trong tâm tánh của một chúng sanh chưa tịch diệt hoàn toàn.

Giống như bầu trời mùa đông, thi thoảng có một vài giây phút mặt trời ló ra, rồi lại bị mây mù che khuất.

Vì thế, đôi khi người tu hành cảm nhận mình rất Từ Bi. Nhưng sau đó, Từ Bi này lặn mất, nhường chỗ cho chúng sanh tánh, cá tánh, hư vọng tánh, đấu tranh tánh, thánh tánh làm chủ.

- Để tránh người tu hành ngộ nhận rằng, mình cũng thấy Phật Tánh. Đức Phật đã đưa ra tám tính chất tiêu biểu của Phật Tánh, tám tính chất đó là: Từ, Bi, Hỷ, Xả, Thường, Ngã, Lạc, Tịnh. Chừng nào tám tính chất này hiện lên đầy đủ và thường hằng, chừng ấy người tu hành sẽ biết chắc rằng, những điều tốt đẹp đang hiện trong ta chính là Phật Tánh vậy.

Còn khi nào, chỉ một vài tính chất lóe lên rồi vụt tắt, người tu hành phải biết rằng, những tính chất mà ta bất chợt nhìn thấy chỉ là sự loé sáng từ một “Phật Tánh ở cõi xa xăm nào đó”, lẩn khuất trong hư không tâm thức, vô tình chiếu xuyên qua khe hở của đám mây hư vọng, chứ chưa phải Phật Tánh đích thực. Giống như bầu trời mùa đông, mặt trời bất chợt chiếu vài tia sáng yếu ớt xuyên qua khe hở của đám mây rồi vụt tắt. Người này phải tự biết, tia sáng mà ta thấy được, chưa phải đích thực là mặt trời.

Như đã nói, Phật Tánh có những tính chất đặc biệt thường hằng của nó, giống như mặt trời có những tính chất đặc biệt thường hằng của mặt trời. Những tính chất này không thể dùng kiến văn giác tri suy lường, không thể dùng các thứ nhận thức để nhận thức, mà nó là sự cảm nhận đặc biệt như người chạm tay vào lửa. Cảm nhận này, vượt khỏi năng lực trình bày của ngôn ngữ.

Để tránh ngộ nhận, để tránh suy lường, để tránh cảm nhận từ những nhận thức cùng các nhãn quan trong Phật Đạo hầu suy nghiệm về Phật Tánh, về Pháp Thân, về Phật Trí. Đoạn Kinh Đại Bảo Tích sau đây sẽ nói rõ:

“Pháp Thân (Phật Tánh, Phật Trí) chẳng thể dùng kiến văn giác tri để cầu... Vì Pháp Thân chẳng thuộc về sở kiến của nhục nhãn, vì Pháp Thân là vô sắc... Nó cũng chẳng phải sở kiến của thiên nhãn, vì vô vọng… Chẳng phải sở kiến của huệ nhãn, vì lìa tướng... Chẳng phải sở kiến của pháp nhãn, vì lìa chư hành... Chẳng phải sở kiến của Phật nhãn, vì lìa chư thức... Nếu chẳng dùng những cái thấy kể trên để tìm cầu, thì người tu hành (may ra) có thể cảm nhận Pháp Thân qua Phật Tri Kiến (tức là những gì mà văn tự, ngữ ngôn có thể hiển bày)...”

* Tóm lại, trong Phật Đạo có những thứ người tu hành có thể dùng suy lường để hiểu, có những thứ dùng chiêm nghiệm để lãnh hội, có những thứ dùng Chánh Tư Duy để sáng tỏ, có những thứ dùng sức giác (nhận thức) để cảm nhận, có những thứ phải dùng lặng lẽ quan sát để thấy và có những thứ chỉ là một sự trực nhận nào đó trong một cơ duyên chín muồi

- như người ta trực nhận về sức nóng của lửa. Và Phật Tánh thuộc về thứ mà người tu hành chỉ có thể trực nhận trong một cơ duyên chín muồi của Phật Đạo!

Trong tám tính chất của Phật Tánh, hai tính chất “Thường và Ngã” là hai tính chất đặc biệt mà chỉ duy Phật Tánh là có được.

Khi nào, ta chưa thấy, chưa biết, chưa trực nhận, chưa thể nhập đầy đủ hai tính chất này, có nghĩa rằng một khi tâm tánh còn “sáng nắng chiều mưa”, Trí Huệ hãy còn “chưa toả sáng ánh sáng chân lý bất biến vô hạn”.

Thì phải biết rằng, những tính chất mà thi thoảng ta bắt gặp chỉ là sự ảnh chiếu của một Phật Tánh từ phía xa xăm nào đó, bất chợt lóe lên giữa khe hở của đám mây hư vọng, vẫn đang che kín bầu trời tâm thức của chính ta.

Tác Phẩm Lý Tứ

Mục Tiêu Tu Phật Là Gì? Sự Khác Biệt Cơ Bản Của Giáo Dục Tu Phật Và Giáo Dục Thế Gian?

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Mục tiêu của Phật Đạo ra đời nhằm giúp cho bản thân người tu hành có được đời sống an vui và sau đó giúp cho mọi người cũng được an vui. Vì thế, người tu tập trong Phật Đạo ngoài việc tu tập để mình được an vui, sau đó phải nỗ lực giúp cho mọi người cũng được an vui như mình.

Hỏi: Trước có nói: Muốn ngã không sanh, người này phải suy xét thấu đáo mục tiêu ra đời của Phật Đạo là vì việc gì, và ta tu hành là vì cái gì.. Xin hỏi, như thế mục tiêu ra đời của Phật Đạo là vì việc gì, và người tu hành trong Phật Đạo là vì cái gì?

Đáp: Cũng giống như phần lớn các học thuyết thế gian, mục tiêu của Phật Đạo ra đời nhằm giúp cho bản thân người tu hành có được đời sống an vui và sau đó giúp cho mọi người cũng được an vui. Vì thế, người tu tập trong Phật Đạo ngoài việc tu tập để mình được an vui, sau đó phải nỗ lực giúp cho mọi người cũng được an vui như mình.

Hỏi: Chỉ cần đưa đến an vui là đủ, việc gì Phật Đạo phải có quá nhiều kinh điển? Đôi khi chính sự dồi dào về kinh điển làm người tu hành lúng túng, khó hiểu hết ý nghĩa đích thực của Phật Đạo. Xin hỏi, có cần thiết phải nhiều kinh điển đến như vậy không?

Đáp: Cũng cần thiết và cũng không cần thiết.

Kinh điển của Phật giống như thuốc chữa bệnh, mỗi người bệnh, chỉ cần một vài thứ thuốc là có thể chữa lành, không cần uống nhiều. Nhưng thế gian thì có quá nhiều bệnh nên Phật Đạo phải có rất nhiều loại thuốc để chữa trị cho hết tất cả bệnh trong thế gian.

Và quan niệm an vui của Phật Đạo không chỉ gói gọn trong ý nghĩa an vui thế pháp mà Phật Đạo còn đưa sự an vui này qua nhiều cung bậc khác nhau, từ thấp lên cao. Đó là an vui của “thế gian”, an vui của “xuất thế gian” (xuất thế) và an vui của “xuất thế gian thượng thượng”.

Vì thế, Phật Đạo mới có nhiều kinh điển. Mỗi loại kinh điển bao gồm một số cơ sở lý luận giúp người tu hành nâng nhận thức lên một tầng cao hơn và an vui ở những tầng nhận thức sau có sự thắng diệu hơn an vui trước đó.

Do vậy, Phật Đạo mới có Tứ Đế. Tứ Đế chính là bốn tầng bậc đưa đến an vui từ thấp lên cao của Phật Đạo. Và kinh điển của Đức Phật thuyết ra tuy ta thấy nhiều nhưng không ngoài việc xây dựng cho người tu hành lần lượt trải qua và thành tựu rốt ráo bốn Đế này.

Điều này cũng giống như việc học của thế gian, mỗi bậc học cho người học một số hiểu biết nhất định, bậc học sau cao hơn bậc học trước. Càng học lên, người học sẽ hiểu biết cao hơn. Chính hiểu biết cao hơn, sẽ giúp cho người này giải quyết đời sống tốt hơn.

Vì thế, tùy vào địa vị tu hành và tùy vào nguyện lực mà kinh điển nhiều là cần thiết hay cũng không cần thiết.

Hỏi: Xin hỏi, mỗi tầng bậc của Tứ Đế giúp người an vui như thế nào?

Đáp:

  • Thứ nhất, thấy khổ mà được vui: Thấy khổ thuộc về Khổ, và vui thuộc về Đế.

Giống như khi thấy được sự khổ của việc không biết chữ, một người sẽ tìm cách học tập để biết chữ. Đây sẽ là nhân tố giải quyết một phần nào đó của cái khổ ban đầu do không biết chữ.

Để chấm dứt một phần khổ trước mắt, Phật Đạo nói rằng trong đời người có tám sự khổ. Tám sự khổ này chung quy cũng từ “nhân quả”. Để giải quyết tính nhân quả của sự khổ, Phật Đạo có các kinh giáo thế gian như Thập Thiện, Nhân Quả. Thập Thiện, Nhân Quả là Đế của hết Khổ.

  • Thứ hai là dứt Tập mà vui: Dứt Tập thuộc về Tập được vui thuộc về Đế.

Dứt tập, giống như một người đã học hết bậc tiểu học, đọc thông viết thạo. Người này bây giờ sẽ vui mừng khi tự thân giải quyết được vấn nạn đọc viết.

Cơ sở lý luận của Phật Đạo giúp người dứt Tập, chính là những Giáo Pháp căn bản chỉ cho người tu hành biết rõ thế nào là thân, thế nào là cảm thọ, thế nào là tâm, thế nào là pháp, thế nào là vật, thế nào là thế giới, thế nào là hữu vi, thế nào là vô vi, thế nào là nhân duyên,... Khi nào biết rõ những điều trên và có một nhận thức đúng đắn về bản chất của chúng, chừng ấy người tu hành sẽ tự chọn lựa cho mình một thái độ sống phù hợp.

Chính đời sống phù hợp với những nhận thức này, Phật Đạo gọi là Giác. Giác sẽ chặn đứng những trói buộc và sai sử mà trước đây họ bị khổ bởi những thứ này, chấm dứt trói buộc và sai sử, Phật Đạo gọi là dứt Kiết Sử.

Một người trong lòng không còn các Kiết Sử, nhất định người này sẽ an vui trước thấy biết và nghĩ suy. An vui trước thấy biết và nghĩ suy chính là Đế của Tập.

  • Thứ ba là chứng Diệt mà vui: Chứng Diệt thuộc về Diệt, mãi vui gọi là Đế.

Chứng Diệt giống như một người đã học hết chương trình phổ thông trung học. Người học hết phổ thông trung học sẽ tự giải quyết tất cả những bài toán căn bản. Người tu tập chứng Diệt cũng giải quyết những bài toán căn bản của cuộc đời. Chính giải quyết rốt ráo bài toán cuộc đời nên mọi nơi, mọi lúc, người này an vui.

Cơ sở lý luận để giúp người chứng Diệt, chính là ý nghĩa của vô ngã, không tâm, không pháp, không tánh, không tướng, không đây, không kia,… Người tu hành, nhận thức được bản chất của các thứ trên, tâm và pháp sẽ tự tịch diệt.

Một khi tâm và pháp tịch diệt, vị này hoát nhiên hiểu ra, cái gì là chân, cái gì là vọng. Thấy rõ chân vọng, vị tu hành này xây dựng một đời sống đúng với bản chân. Xây dựng được một đời sống đúng với bản chân, không cầu Niết Bàn cũng hiện, không mong Giải Thoát cũng đến.

Đây chính là sự an vui tột bậc của một hữu tình. Niết Bàn và Giải Thoát chính là Đế của Diệt.

  • Thứ tư là tu Đạo mà được vui: Tu Đạo thuộc về Đạo. Có Trí mà an vui, Trí này là Đế của Đạo.

Người tu hành thành tựu Đạo Đế giống như người đi học thành tựu các bậc học cao của thế gian. Do hiểu biết chuyên sâu về ngành nghề của mình nên vị này giải quyết tận gốc mọi vấn đề liên quan đến ngành nghề và có thể dạy người những gì liên quan đến ngành nghề đó. Chính việc giải quyết tận gốc và có năng lực dạy người nên vị này ngoài sự an vui còn có thêm sức tự tại.

Kinh Phương Quảng, chính là cơ sở lý luận cấp cao của Phật Đạo giúp người thông suốt “Bồ Tát Đạo” và thành tựu “Bồ Tát Nghiệp”. Ta thường gọi là học Bồ Tát Đạo và tu Bồ Tát Hạnh. Bồ Tát Đạo và Bồ Tát Hạnh cũng là Đế của Đạo.

* Tóm lại, Phật Đạo sở dĩ có nhiều kinh điển là vì hệ thống lý luận của Phật Đạo nâng dần từ thấp lên cao, đưa người tu hành từ khổ đến hết khổ, từ hết khổ đến an vui, từ an vui đến mãi vui, từ mãi vui đến tự tại.

Sở dĩ phần lớn người tu hành lúng túng trước khối lượng đồ sộ của kinh điển là vì những người này không biết chọn đúng cho mình các bài kinh phù hợp với trình độ để ứng dụng.

Giống như người học trò học cấp một lại đi đọc và nghiên cứu sách vở của những bậc học cao hơn thì túng túng là chuyện đương nhiên.

Hỏi: Theo nhận xét cá nhân, Phật Đạo loay hoay cũng chỉ gồm những vấn đề được lặp đi lặp lại như: Tứ Đế, Ba Mươi Bảy Phẩm, Ngã, Tâm, Pháp, Căn, Trần, Thức. Như thế, có gì là cao siêu?

Đáp: Phật Đạo không luận đến cao siêu hay tầm thường. Vì, Phật Đạo biết rõ các pháp tự nó chẳng có tánh cao siêu hay tầm thường.

Và, những điều như Tứ Đế, Ba Mươi Bảy Phẩm, Tâm, Pháp, Căn, Trần, Thức là những pháp thiết thân khiến người khổ hay vui. Vì thế, Phật Đạo chính là thứ Đạo giải quyết các pháp thiết thân của chúng sinh, chứ không phải là thứ đạo đi tìm sự cao siêu bởi vọng tưởng hư ảo.

Giống như âm nhạc và bảy nốt căn bản, tự bảy nốt nhạc chẳng có tánh cao siêu hay tầm thường. Và những người nhạc sĩ, cho dù có viết đến bao nhiêu bản nhạc, cũng không rời mấy nốt này.

Cũng bảy nốt đó, vào tay người tầm thường thì chỉ là những âm thanh vô nghĩa nhưng vào tay một nhạc sĩ tài hoa lại khiến lòng người lay động. Thành ra cao siêu hay tầm thường là do người, chứ chẳng phải do pháp.

Hỏi: Sự khác biệt cơ bản giữa giáo dục của Phật Đạo và nền giáo dục thế gian là gì?

Đáp: Khác biệt cơ bản của giáo dục thế gian và Phật Đạo là:

  • Thế gian: Để nguyên một chúng sinh, cụ thể là con người, và dạy cho các con người ấy những điều tốt đẹp hơn. Sau khi dạy xong, cho dù có học được bao nhiêu điều tốt đẹp, nhưng bản chất của một chúng sinh không mất. Vì thế, chính bản chất (chúng sinh) đôi khi đã làm cho điều tốt đẹp trở thành không tốt đẹp.

  • Phật Đạo: Đầu tiên, dạy người tu hành mất đi chất chúng sinh trong họ. Sau đó, mới dạy những điều tốt đẹp của Phật Đạo, gọi là tu. Vì thế, Đạo Đế đi sau Tập Đế và Diệt Đế. Tập Đế và Diệt Đế, chính là liều thuốc tăng dần để triệt tiêu (tịch diệt) chúng sanh chủng tánh.

Ví như những người mù, cách dạy của thế gian là để nguyên sự mù lòa và giảng nói cho họ về các khái niệm của ánh sáng cùng màu sắc; còn cách dạy của Phật Đạo là chữa cho những người mù sáng mắt rồi sau đó đưa họ đến nơi có ánh sáng, để tự họ nhận diện thế nào là sắc màu.

- Vì thế, tất cả những cách giáo dục nào, cho dù nhân danh là dạy Phật Pháp, mà không nhằm chữa cho người hết mù (vô minh) trước, giảng nói Phật Pháp sau, thì cách giáo dục này đồng với cách giáo dục thế.

Hỏi: Vì sao, đồng một Phật Pháp mà mỗi nơi giảng nghĩa một khác, không có sự thống nhất?

Đáp: Giống như năm anh mù sờ voi. Mỗi anh nhìn con voi bằng cảm nhận của riêng mình. Có anh kết luận, con voi như cột đèn. Kết luận này không sai với (cái chân) con voi là mấy. Ngặt nỗi, khi ra đường sờ trúng cây cột đèn, anh ta kết luận đây là con voi, kết luận này đã đi quá xa so với thực tế của một con voi. Và anh này tiếp tục dạy người, muốn tìm con voi, hãy đi theo các sợi dây điện. Ha ha ha!

Hỏi: Thế gian có đa thần. Phật Giáo có đa Vô Vi Bồ Tát. Điều này có gì sai khác giữa Phật Đạo và thế gian đạo?

Đáp: Khi người ta chưa thật sự Giác Ngộ, thần thánh luôn là nơi nương tựa về mặt tinh thần của con người. Vì thế, thế gian mới có đa thần.

Để làm nơi nương tựa chân chánh cho người chưa Giác Ngộ, Phật hóa hiện ra vô số Bồ Tát Vô Vi để giúp cho những người này có nơi nương tựa tinh thần, đồng thời các Vô Vi Bồ Tát này là một trong những nhân tố quan trọng giúp người Giác Ngộ.

Cho nên, Vô Vi Bồ Tát làm đến hai nhiệm vụ, một nhiệm vụ là Vô Vi, một nhiệm vụ là Bồ Tát.

Cho đến khi nào, người tu hành Giác Ngộ rốt ráo, chừng ấy họ sẽ tự biết: “hết thảy do tâm này, không một pháp có được”.

Tác Phẩm Lý Tứ

Nhận Biết Thực Chứng Tâm Không Pháp Không; Khoa Học và Phật Đạo Khác và Giống Nhau Chỗ Nào?

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

Phật Đạo nói đến “nghĩa không” hay “rốt không” hay “rốt ráo không” là nói đến cảnh giới của người thực chứng rằng không có tâm này và cũng không có pháp kia.

Hỏi: Theo nhận xét cá nhân, tôi thấy phần lớn người tu hành trong Phật Đạo, sau một thời gian tu học, lẽ ra phải mất đi cái ngã, theo như tinh thần Giáo Pháp. Nhưng ngược lại, với những gì quan sát được thì có những người chẳng những cái ngã không mất đi mà ngày càng hưng thịnh, thậm chí hẫy hừng hơn lúc chưa tu. Xin hỏi, nguyên nhân vì sao?

Đáp: Thực tế điều này có xảy ra trong số ít người tu hành, chứ không phải hết thảy mọi người tu hành đều như vậy. Nguyên nhân của nó thì có rất nhiều.

- Thứ nhất: Tự thân của những cá nhân này không phải là người Giác Ngộ chân chánh. Vì rằng, Giác Ngộ đầu tiên của Phật Đạo là Giác Ngộ một hữu tình không có ngã, trong đó bản thân mình cũng vô ngã. Thành ra, nếu tu tập một thời gian mà cái ngã thêm lớn, có lẽ vị tu hành này cũng nên xem lại ta đã đi đúng đường hay chưa.

- Thứ hai: Do sức tinh tấn mà sinh ngã. Có số người, sau một thời gian tu học, người ấy lấy sự tinh tấn làm niềm tự hào, chính tự hào này là mầm mống để sinh ngã mà không tự biết.

Tinh tấn đúng nghĩa của Phật Đạo là càng tinh tấn càng vô ngã, càng mất đi cái tự hào của riêng mình.

Giống như con bò ăn cỏ là chuyện tự nhiên, không có gì đáng tự hào. Con nào tự hào về việc mình ăn cỏ, chắc chắn con đó không phải là con bò.

- Thứ ba: Do học được nhiều mà sinh ngã. Một số người tu hành sau thời gian dài tu tập, tri kiến tăng trưởng, đã hiểu lầm tri kiến là sự thành tựu, vì vậy cái ngã sẽ sinh khởi theo sự hiểu lầm này.

Phải biết rằng tri kiến như thức ăn, tu tập để biến tri kiến thành đời sống, giống như tiêu hóa thức ăn để nuôi thân. Nếu ăn vào mà không tiêu hóa được, lâu ngày sanh bệnh. Trong trường hợp này, ngã là bệnh của (thức ăn) tri kiến chưa tiêu hóa hết.

- Thứ tư: Do say mê giảng nói mà sinh ngã. Có một số người, bình thường thì không có ngã nhưng khi giảng nói Phật Pháp, người này hăng say giảng nói đến độ quên mất điểm dừng.

Do quên mất điểm dừng nên từ một người không ngã trở thành có ngã.

- Thứ năm: Muốn chứng minh mà sinh ngã. Một số người tu hành, tuy có thành tựu vài điều trong Phật Đạo, nay muốn cho người thấy điều tốt đẹp của bản thân đã đạt được (có khi để làm gương).

Nhưng mải mê chứng minh cái tốt của mình trong Phật Đạo thành ra ngã sanh. Điều này giống như người cầm một ngọn đuốc đang cháy trên tay, mong rằng ngọn đuốc này sẽ soi sáng cho người khác. Chỉ lo tìm cách làm cho cây đuốc soi sáng để người khác thấy đường, mà quên rằng, cây đuốc trên tay đang táp vào bộ râu.

- Thứ sáu: Lo cho người khác bị bệnh mà sinh ngã. Có những vị nhìn đâu cũng thấy người tu hành có bệnh, đi đâu cũng vác theo cái ống nghe và máy đo huyết áp. Bất kể người lành kẻ bệnh, nhào vô là bắt mạch, kê toa. Cuối cùng bệnh mình còn nguyên, và bệnh của thiên hạ cũng… còn nguyên.

Nói chung, nguyên nhân sinh ngã thì vô số, khó có thể nói hết. Nhưng, cho dù sinh ngã từ bất kỳ nguyên nhân gì, đối với Phật Đạo đều là điều không tốt, không muốn nói đó là lực cản lớn nhất trên bước đường tu hành.

Vì thế, người tu hành trong Phật Đạo, để giữ cho bản thân hết cái ngã, có lẽ phải thường xuyên hô khẩu hiệu: “Đả đảo cái ngã, hoan hô vô ngã”.

Hỏi: Làm thế nào để trong những hoàn cảnh như vậy, ngã không sanh?

Đáp: Muốn ngã không sanh, người này phải suy xét thấu đáo mục tiêu ra đời của Phật Đạo là vì việc gì, và ta tu hành là vì cái gì. Nếu xét rõ hai điều này và luôn luôn tự cảnh giác chính mình, dần dần cái ngã sẽ không sanh.

Hỏi: Phật Đạo thường tuyên nói đến “nghĩa không”. Xin hỏi câu nói ấy nhằm chỉ điều gì?

Đáp: Muốn biết “nghĩa không” nhằm chỉ cho điều gì, trước nhất phải biết đối tượng của Phật Đạo nhắm đến là cái gì. Nếu không biết thì sẽ không thể nào hiểu được Phật Đạo tuyên thuyết nghĩa không, nhằm chỉ cho cái gì.

Hỏi: Xin hỏi, đối tượng của Phật Đạo nhắm đến là cái gì?

Đáp: Chính là “tâm này”.

Hỏi: Xin hỏi “nghĩa không” đối với tâm này là như thế nào?

Đáp: Phật Đạo nói đến “nghĩa không” hay “rốt không” hay “rốt ráo không” là nói đến cảnh giới của người thực chứng rằng không có tâm này và cũng không có pháp kia.

Hỏi: Thực chứng “rốt ráo không” là như thế nào?

Đáp: Thực chứng “rốt ráo không” là sau một thời gian tu hành, vị này Giác Ngộ rằng bản lai một hữu tình không tâm. Một hữu tình bản lai không tâm, nên nay ta cũng không tâm. Tức là, không có tâm tham, không có tâm sân, không có tâm si, không có tâm làm chủ thể sinh ngã (mình), không có tâm vọng đối đãi có nhân (người), không có tâm là tác giả (sinh pháp), không có tâm là thọ giả (sinh tâm); không có tâm có, không có tâm không, không có tâm hơn, không có tâm thua, không có tâm được, không có tâm mất; không có tâm thương, không có tâm ghét; không có tâm phải, không có tâm quấy; không có tâm đắc, không có tâm chẳng đắc; không có tâm tịnh, không có tâm bất tịnh.

Nói chung, không thể có một cái tâm hiện khởi, đó gọi là “rốt ráo không”.

Hỏi: Không tâm rồi, pháp là có hay không?

Đáp: Pháp sở dĩ có là do tâm mê sanh. Tâm hết mê (rốt ráo không) pháp cũng tự tịch diệt. Giống như thị trường không còn nhu cầu, nhà sản xuất sẽ ngưng cung cấp sản phẩm.

Hỏi: Như vậy, vì sao Nhị thừa đã không tâm rồi còn phải tu cho không pháp?

Đáp: Nói Nhị thừa không tâm là nói đến Nhị thừa do yểm ly nên tâm không sanh khởi. Còn những người tu hành (kể cả Nhị thừa) một khi Giác Ngộ rốt ráo không tâm thì cũng đồng thời Giác Ngộ rốt ráo không pháp. Vì nguyên lý cái này có nên cái kia có, cái này không nên cái kia không”.

Hỏi: Nếu tu hành thành tựu rốt ráo không làm sao Từ Bi tâm hiện khởi.

Đáp: Nói “rốt ráo không” là nói đến không có những thứ tâm của thế gian đạo, chứ chẳng phải không có Phật Đạo. Vì thế, nếu vị tu hành nào thật sự thành tựu rốt ráo không, Từ Bi tâm sẽ sanh khởi. Giống như mặt trời tự có sức nóng.

Hỏi: Vì sao thật sự thành tựu rốt ráo không, Từ Bi tâm sẽ sanh khởi?

Đáp:

  • Từ Bi tâm chính là Phật Tâm.

  • Phật Tâm là quả của Phật Tánh.

  • Phật Tánh là quả của Tánh Giác.

  • Tánh Giác là quả của rốt ráo không.

  • Rốt ráo không là quả của vô ngã.

  • Vô ngã là quả của vì hết thảy chúng

  • Vì hết thảy chúng sanh chính là Phật Đạo. Vì thế, người tu hành trong Phật Đạo nếu sự tu hành này là vì hết thảy chúng sanh, sẽ chứng hai vô ngã.

  • Người chứng hai vô ngã, sẽ thấy được rốt ráo không.

  • Người thành tựu rốt ráo không, sẽ thấy được Tánh Giác.

  • Người thấy được Tánh Giác, sẽ thấy được Phật Tánh.

  • Người thấy được Phật Tánh, sẽ có được Phật Tâm.

  • Người có được Phật Tâm, sẽ đủ bốn đức Từ Bi Hỷ Xả.

Điều này cũng bắt nguồn từ nguyên lý “cái này có nên cái kia có, cái này không nên cái kia không”.

Hỏi: Rốt ráo không là không... Theo nguyên lý “cái này không nên cái kia cũng không”.. thì vì sao đã rốt ráo không, lại có các thứ nhân để đưa đến Từ Bi? Lẽ ra, rốt ráo không là phải đoạn dứt tất cả mới đúng với nguyên lý đã nói ở trên?

Đáp: Như trước đã nói, rốt ráo không là rốt ráo không có tâm mê, rốt ráo không có tâm đời, rốt ráo không có tâm tích chứa kiết sử, rốt ráo không có tâm phải quấy thị phi, rốt ráo không có tâm đấu tranh hơn thua, rốt ráo không có tâm đây đúng kia sai.

Tóm lại, rốt ráo không là rốt ráo không có thế gian đạo. Chứ không phải rốt ráo không là không có Phật Đạo và không vì hết thảy chúng sanh. Cho nên, đến chừng nào, không có những thứ của thế gian đạo hiện ra, Từ Bi tâm và sáng suốt tâm mới hiện. Giống như một hồ nước, rốt ráo không bị nhiễm ô, rốt ráo không bị vẩn đục, rốt ráo không bị động lay (nên nói là rốt ráo không) thì chừng đó, các tính chất tốt đẹp của hồ nước sẽ tự hiện.

Phật Đạo nói rốt ráo không cũng giống như hồ nước hoàn toàn tinh sạch, chứ không phải nói rốt ráo không là một sự hủy diệt tất cả đến đỗi hồ cũng không, mà nước cũng không. Chớ có hiểu lầm nghĩa không theo kiểu cực đoan, hay chấp không.

Hỏi: Nếu người phát tâm tu hành mà không vì “hết thảy chúng sanh” có đạt được cứu cánh rốt ráo của Phật Đạo hay không?

Đáp: Người phát tâm tu hành mà không vì hết thảy chúng sanh sẽ không thể thành tựu rốt ráo các cứu cánh trong Phật Đạo. Trước mắt, người này “không thể thành tựu hai vô ngã để đạt cứu cánh rốt ráo không”.

Vì rằng, bất kỳ người nào còn có chút gì đó “vì mình, của mình” thì không thể vô ngã. Đây là lý do vì sao Nhị thừa ra đời và đây cũng là lý do vì sao Kinh Phương Đẳng xuất hiện.

Hỏi: Hệ quả của vì mình là như thế nào?

Đáp: Năm sáu lý do khiến người tu hành sinh ngã được nói ở phần đầu là hậu quả tai hại của vì mình. Ngoài ra, sinh ngã cũng còn do những nguyên nhân khách quan khác khiến người tu hành khi mới phát tâm là vì hết thảy chúng sanh.

Nhưng sau một thời gian, người này lại quên mất mục tiêu tốt đẹp ban đầu trở thành người tu hành chỉ vì mình, thành ra cái ngã lại xuất hiện.

Hỏi: Nguyên nhân khách quan đó như thế nào?

Đáp: Giống như có những người đi học. Mục tiêu tốt đẹp ban đầu của sự học tập đối với họ là “học để giúp đời”. Nhưng khi bước vào học đường, vì thành tích vì ganh đua với bạn đồng học, vì muốn có một vị trí xứng đáng trong xã hội, vì muốn bản thân được hưởng thụ, vì không muốn thua kém ngoài xã hội, vì danh, vì lợi. Có vô số, vô số nguyên nhân khách quan, đã biến mục tiêu tốt đẹp ban đầu là học vì mọi người, trở thành học chỉ vì mình.

Nguyên nhân khách quan sanh ngã của người tu hành trong Phật Đạo đôi khi cũng có những nét như vậy.

Tất nhiên, ngoài đời những nguyên nhân biến mục tiêu tốt đẹp vì người trở thành mục tiêu vì mình thì có thể được xã hội chấp nhận. Nhưng trong Phật Đạo, người tu hành do bất kỳ nguyên nhân gì biến mục tiêu vì chúng sanh thành vì bản thân mình thì Giáo Pháp không thể chấp nhận, và người này nhất định không thể thành tựu rốt ráo mọi cứu cánh của Đạo Pháp.

KHOA HỌC VÀ PHẬT ĐẠO KHÁC VÀ GIỐNG CHỖ NÀO?

Hỏi: Có nhiều người so sánh giữa Phật Đạo và khoa học để tìm điểm tương đồng, hoặc đem khoa học để chứng minh Phật Giáo. Điều này có hợp lý hay không?

Đáp: Đem Phật Đạo để so sánh với khoa học. Theo tôi, việc làm này, cũng hợp lý, cũng không hợp lý.

- Thứ nhất: Khi thực hiện phép so sánh đó, người so sánh phải là người am tường hai thứ mình sắp so sánh.

Nếu chỉ am tường một trong hai điều, hoặc không am tường cả hai mà vội đưa hai điều mình chưa biết rõ để so sánh, thì kết quả của sự so sánh này không thể tin cậy được. Mà thông thường trong đời, một người rất khó am tường hai thứ. Ví như, người tu hành thông suốt Phật Đạo thì không chuyên sâu về khoa học. Ngược lại, người chuyên sâu về khoa học thì khó thấu suốt Phật Đạo.

- Thứ hai: So sánh về mặt nào của Phật Đạo và khoa học? Vì sao phải nêu ra câu hỏi này? Vì rằng đối tượng nghiên cứu của Phật Đạo và đối tượng nghiên cứu của khoa học gần như đối lập.

  •  

    • Một bên chuyên nghiên cứu, khảo sát, cũng như lý giải về hoạt động của tâm và pháp (thuộc về tinh thần).

    • Một bên chuyên nghiên cứu, tìm hiểu, khảo sát hoạt động của vạn vật và thế giới tự nhiên (thuộc về vật chất).

Cho nên, khó có thể so sánh để tìm điểm tương đồng giữa hai đối tượng nghiên cứu này. Giống như người ta không thể so sánh giữa một trái bí và một con gà để tìm sự khác biệt hay đồng nhất.

- Thứ ba: Nếu có so sánh giữa Phật Đạo và khoa học, người ta chỉ có thể so sánh trên bình diện giáo dục, phương pháp nghiên cứu, may ra còn có một chút gì đó tương đồng.

Ngoài ra, những điểm khác thì không nên đem ra so sánh, vì như đã nói ở trên, đối tượng nhắm đến của hai thứ này hoàn hoàn khác biệt.

Hỏi: Nhưng thỉnh thoảng, người ta vẫn có sự so sánh rồi phát biểu “Phật Đạo cũng giống khoa học” hoặc “khoa học cũng có thể lý giải Phật Đạo”?

Đáp: Người thông hiểu Phật Đạo thì nhất định không so sánh rằng Phật Đạo giống hay không giống khoa học, vì những vị này biết rõ, đối tượng nghiên cứu của mình được giới hạn từ đâu và nên nói điều gì.

Ngược lại, các nhà khoa học chân chánh nhất định sẽ không đem khoa học kỹ thuật để đo lường Niết Bàn, vì họ biết rõ mục tiêu nghiên cứu của mình là cái gì và phục vụ cho yêu cầu nào.

Hỏi: Nhưng, phần lớn người tu hành, đều nói gần nói xa rằng “Phật Đạo giống với khoa học”?

Đáp: Được nói là quyền tự do của mỗi con người. Còn nói đúng hay không, lại là chuyện khác.

Hỏi: Người tu hành trong Phật Đạo có nên sợ rằng ngoài kia người ta chê “Phật Đạo là mê tín, là không khoa học”?

Đáp:

  • Các nhà khoa học chân chánh, sẽ hiểu rất rõ khác biệt giữa Phật Đạo và khoa học. Vì thế, đừng sợ họ chê các bạn.

  • Các vị thông suốt Phật Đạo, cũng biết rất rõ khác biệt giữa Phật Đạo và khoa học. Cho nên, các vị này cũng không khởi khen chê hay bị chi phối bởi khen chê như ở ngoài đời.

Vì thế, đừng có lo chuyện khen chê, chỉ nên lo tu tập cho thông suốt, nhất định sẽ biết rõ và hết sợ khen chê.

Trên đời, có hạng người, khoa học thì không rành, Phật Đạo cũng không thông. Vì không thông nên thường hay lo sợ bị khen chê. Để lấp đi nỗi hãi sợ, việc tìm cách chứng minh gượng ép con gà và trái bí có điểm tương đồng cũng là điều tự nhiên của những người đó vậy.

Tác Phẩm Lý Tứ

Thực Hành Lặng Lẽ Quan Sát Không Kết Luận Như Thế Nào?

MB 857 Lý Diệu Sinh 17.02.2023

“Lặng lẽ quan sát” chính là cách ứng dụng tuyệt vời của Xuất Thế Gian Xa Ma Tha. Và Quan Sát (trong tĩnh lặng), chính là cách phát huy triệt để tinh hoa của Tỳ Bà Xá Na. Không kết luận chính là cách bỏ ngỏ để “Tánh Giác có cơ hội trực nhận ra vấn đề”.

Hỏi: Giữa Giác Quán và hai phép tu Chỉ (Xa Ma Tha) Quán (Tỳ Bà Xá Na) có mối liên hệ nào không?

Đáp: Ở mặt nào đó, giữa Chỉ Quán và Giác Quán có mối liên hệ.

Chỉ và Giác, nếu khảo sát nguyên nhân phát sinh hai phép tu này thì ta có thể thấy Giác và Chỉ có cùng một nguyên nhân. Nguyên nhân đó là, vì nhận thức được rằng phải đưa tâm này về đúng với “bản nguyên tĩnh lặng của nó” nên người tu hành dùng phép tu Chỉ để dừng vọng tâm.

Tuy nhiên, nếu xét về thủ thuật sử dụng hai phép tu này, ta sẽ thấy có một vài điểm khác biệt, đó là:

  • Thủ thuật sử dụng phép tu Chỉ (trong trường hợp chưa Giác Ngộ), mang tính cực đoan, quyết tâm đoạn dứt, không cho sanh khởi.

  • Trong khi đó, thủ thuật sử dụng phép tu Giác có phần nhẹ nhàng hơn, đặt nặng yếu tố Giác Ngộ. Nhân nhận thức mà hướng tâm đến chứ không cực đoan bắt tâm phải dừng hẳn, và luôn luôn trong Giác có đi kèm phép Quán để hỗ trợ. Nhờ sự hỗ trợ này mà Giác Tâm hoàn toàn tương ưng với nhận thức.

Thông thường, Chỉ và Quán là hai phép tu gần như riêng lẻ. Trong khi đó Giác và Quán luôn luôn song hành, làm nhân quả cho nhau.

Chính tính chất cực đoan trong cách tu Chỉ của những người không Giác Ngộ nên nhiều khi, người tu hành sử dụng phép tu này trở thành đối nghịch với ý nghĩa Giải Thoát, hoặc ứng dụng phép tu làm đóng bít nẻo Giác Ngộ. Vô hình trung, một người tu hành trong Phật Đạo lại có cùng cách dụng công (để định) gần giống một ngoại đạo (tìm cầu cứu cánh nơi một sở pháp hoặc giới).

Để cố gắng dừng tâm, dừng ý, phần lớn người tu hành dụng công bằng cách “bức tử hoặc cột trói tâm ý bởi một sở pháp”.

Hệ quả của hành động cực đoan này sẽ khiến người tu hành, sau nhiều ngày tháng dụng công “tâm xơ cứng, ý thui chột”, năng lực tư duy không được phát huy. Vì thế, không thể cho ra ý nghĩa Giải Thoát hoặc đưa đến Giác Ngộ.

Chính điều này đã làm cho người tu hành không tự biết rằng, mình đã hành động ngược với tôn chỉ của Phật Đạo là Giác Ngộ và Giải Thoát.

Vì rằng, Giải Thoát không thể có từ một cái “nhân cột trói”, không thể đến trong một “ý thức mất năng lực tư duy”.

Thông thường, hai phép tu Chỉ và Quán trong Phật Đạo chỉ dành cho người đã Giác Ngộ. Nó thuộc về Xuất Thế Gian Chỉ Quán. Vì sao gọi là Xuất Thế Gian Chỉ Quán? Vì rằng, người đã Giác Ngộ nhận ra cái gì là Bổn Tâm mới có thể ở yên nơi Bổn Tâm, gọi là Xuất Thế Gian Xa Ma Tha.

Khi có điều không như ý xảy ra, vượt quá giới hạn chịu đựng của Xa Ma Tha, với sự thấu suốt của mình, vị này dùng Huệ Trí để quan sát cái không như ý và trực nhận ra rằng, bất như ý này cũng chỉ là huyễn pháp. Quan sát như vậy, huyễn pháp tự tịch diệt, trả lại bản nguyên an lạc, bất động cho nguồn tâm. Ứng dụng trong trường hợp như vậy của đối tượng như vậy nên phép tu này gọi là Xuất Thế Gian Tỳ Bà Xá Na.

Tất nhiên, đối với một vị đã hoàn toàn thành tựu Bất Động, đã viên mãn ý nghĩa Giải Thoát, Chỉ và Quán của họ nếu xuất hiện thì sẽ xuất hiện bằng chức năng của Tánh Giác. Vì thế, Chỉ Quán bây giờ mang ý nghĩa của hình thức lặng lẽ quan sát hơn là một khởi tâm theo kiểu Chỉ Quán hay Giác Quán của thế gian. Vì thế, trước đây mới nói, người chứng Diệt Đế, thành tựu Giải Thoát Bất Động vĩnh viễn chấm dứt Giác Quán.

Tóm lại, bất kỳ một phép tu nào, dù mang tên gọi là gì, đều phải biết phép tu này chỉ dùng cho những vị tu hành chưa thật sự chứng Diệt Đế. Và kết quả của nó chỉ mang tính chất hỗ trợ, giúp nhanh chóng Giác Ngộ. Chứ bản thân một phép tu, một dụng công không thể là công cụ để đưa đến Giác Ngộ hoặc Giải Thoát.

Còn đối với những vị tu hành đã chứng Diệt Đế, thành tựu Bất Động Tâm, thấy Thật Tướng,... họ có cách của họ. Đôi khi, dù nghe tên gọi giống với phép tu hoặc cách dụng công thế gian, nhưng ý nghĩa và sự tu tập hoàn toàn khác hẳn những người chưa Giác Ngộ hành động và suy nghĩ. Phần lớn nói là tu, nhưng đối với họ, cái gọi là tu, cái gọi là quán chỉ là kết quả của một sự trực nhận tức thì của Tánh Giác, chứ chẳng phải một hình thức dụng công hay suy xét. Chính vì nét đặc trưng của Tánh Giác nên trong khi yêu cầu đệ tử trình kệ thấy Tánh, Ngũ Tổ đã dặn dò với đại ý: “Nếu thấy là thấy liền, không phải ngồi đó suy lường (của ý thức) mới thấy”.

Hỏi: Người tu hành sau khi Giác Ngộ Bổn Tâm, thấy Tánh rồi mới thấy Thật Tướng hay thấy Thật Tướng rồi mới thấy Tánh? 

Đáp: Thật Tướng là cái thấy gần như cuối cùng của Phật Đạo. Vì thế, thấy Tánh trước, thấy Thật Tướng sau.

Hỏi: Dùng cái gì để thấy Thật Tướng?

Đáp: Dùng Tánh Giác để thấy Thật Tướng.

Hỏi: Vì sao phải dùng Tánh Giác mới thấy được Thật Tướng?

Đáp: Cái thấy của tiền ngũ thức là cái thấy của nghiệp. Cái thấy của ý thức là cái thấy của pháp. Hai cái thấy này chỉ cho ra hư vọng tướng. Vì thế muốn thấy Thật Tướng, phải đoạn dứt cái thấy thông qua sáu thức. Khi đã đoạn dứt sáu thức, bây giờ Tánh Giác mới hiện. Sau khi Tánh Giác hiện, người tu hành dùng Tánh Giác lặng lẽ quan sát… Trong cái lặng lẽ quan sát, một lúc nào đó, người tu hành sẽ thấy được Thật Tướng.

Hỏi: Thấy Thật Tướng mang ý nghĩa thế nào trong Phật Đạo?

Đáp: Dứt tiền ngũ thức hết ngu, dứt ý thức hết mê, thấy Thật Tướng hết lầm. Có hết ngu, hết mê, hết lầm người tu hành mới có cơ may thành tựu Thật Trí.

Hỏi: Chỉ cần ba điều này, người tu hành có thể thành tựu Thật Trí thì cần gì phải học Huyễn Trí?

Đáp: Học Huyễn Trí là học cách từng bước tiếp cận Thật Trí. Giống như một người đi từ A đến Z, người này vượt qua B, C, D để đến gần với Z hơn.

Hỏi: Dùng công cụ gì để học Huyễn Trí?

Đáp: Dùng Tánh Giác để học Huyễn Trí. Vì rằng học Huyễn Trí là học cách “trực nhận một vấn đề” thông qua Tánh Giác. Cho nên, nếu dùng ý thức hay phép suy luận thế gian để cầu thấy được tinh túy của Huyễn Trí sẽ là việc làm không cho ra kết quả như ý.

Vì sao nói như vậy? Giống như một người đi từ A đến Z, người này chưa từng biết con đường này như thế nào. Đã chưa từng biết thì cho dù có vận dụng hết thảy trí khôn hiểu biết ở đời, hoặc có cất công suy luận, cũng không thể biết được điều mà bản thân chưa từng biết được, cho dù đó là trong tưởng tượng. Nhưng, chỉ cần người này có tấm bản đồ trước mặt và trực nhận ra con đường nào là con đường mình cần đi thì lúc đó, người này chỉ cần nhìn con đường trước mắt trong thực địa để đi tới.

Ví dụ như Thiện Tài đi cầu Nhất Thiết Trí trong Kinh Hoa Nghiêm. Các Tam Muội Môn, các Giải Thoát Môn được nói lên bởi những nhà Thiện Tri Thức. Đây chính là tấm bản đồ họ vạch ra mà Thiện Tài là người cần phải trực nhận con đường đã vẽ trên tấm bản đồ này để tìm ra con đường đi tới trong thực địa. Vì thế, khi tuyên nói các Tam Muội Môn hay Giải Thoát Môn, ta không nghe các Thiện Tri Thức này giải thích hay tìm thấy một chút suy luận từ ý thức của Thiện Tài. Hoặc câu chuyện Tát Đà Ba Luân cầu Bát Nhã Trí nơi Đại Sư Đàm Vô Kiệt cũng cùng chung một hình thức như vậy.

Hỏi: Muốn trực nhận một vấn đề thuộc về Huyễn Trí của Phật Đạo người tu hành phải làm gì?

Đáp: “Lặng lẽ quan sát” - Lặng lẽ quan sát chính là chiếc chìa khoá để “mở cánh cửa trực nhận”.

Hỏi: Vì sao “lặng lẽ quan sát” là chiếc chìa khoá để mở cánh cửa của trực nhận?

Đáp: Người đời có thói quen, khi xúc đối một sự việc, tiếp theo đằng sau sự xúc đối này là một kết luận.

- Kết luận chính là chấp nhận đóng bít cánh cửa Trí Tuệ. Sau khi có được kết luận là sự phán xét chủ Phán xét chủ quan chính là hình thức sinh ngã. Và cuối cùng là, nêu lên quan điểm của mình. Nêu lên quan điểm của mình chính là hình thức sinh pháp.

Đối trước một sự việc mà người này tự đóng sập cánh cửa Trí Tuệ để rồi sau đó sinh ngã, sinh pháp thì làm sao có cơ hội thấy được Huyễn Trí cũng như Thật Tướng. Vì thế “lặng lẽ quan sát” chính là chiếc chìa khóa để mở cánh cửa Huyễn Trí.

Hỏi: “Lặng lẽ quan sát” có phải là hình thức phát huy triệt để tinh túy của Xuất Thế Gian Xa Ma Tha và Xuất Thế Gian Tỳ Bà Xá Na hay không?

Đáp: “Lặng lẽ quan sát” chính là cách ứng dụng tuyệt vời của Xuất Thế Gian Xa Ma Tha. Và Quan Sát (trong tĩnh lặng), chính là cách phát huy triệt để tinh hoa của Tỳ Bà Xá Na. Không kết luận chính là cách bỏ ngỏ để “Tánh Giác có cơ hội trực nhận ra vấn đề”.

Hỏi: Nếu có thể, xin giải thích rõ ràng cách thực hiện ba điều trên (lặng lẽ, quan sát, không kết luận)?

Đáp: Những gì cần giải thích, đã giải thích rồi, bây giờ là lúc ứng dụng để đưa đến một trực nhận. Bất kỳ một giải thích nào cũng không giúp ích nhiều bằng chính tự thân: “Lặng lẽ, quan sát và không kết luận”.

Một thành tựu rực rỡ, đang chờ đón đằng sau ba điều này! Chúc may mắn!

Subscribe to